T-Từ Điển Đạo Uyển

Tá Trợ

Từ Điển Đạo Uyển

佐助; C: zuǒzhù; J: sajo;
Người phụ tá; giúp đỡ, hỗ trợ, ủng hộ (p: sāhāyya; theo kinh Niết-bàn 涅槃經)

Tác

Từ Điển Đạo Uyển

作; C: zuò; J: sa.
Có các nghĩa: 1. Tạo ra, sáng tạo, làm, kiến lập. Viết văn, soạn nhạc, sáng tạo các tác phẩm nghệ thuật. Thuật ngữ Sanskrit là īhate, karoti; 2. Sự hoạt động, sự tạo tác (s: karman, kriyā); 3. Sự việc được tạo tác, được làm ra, đặc biệt là từ nhân duyên (s: krtā-katva, kṛtā). Là thứ (đặc biệt là phiền não) được tạo ra do tâm phân biệt, khác với những gì xảy ra một cách ngẫu nhiên (nhậm vận) hoặc bẩm sinh (câu sinh); 4. Hành vi, công hạnh; 5. Nghề nghiệp, thiên hướng; 6. Người tạo tác; 7. Hành động chỉ nhắm đến bề ngoài; 8. Một trong Mười như thị đề cập trong kinh Pháp Hoa. Thập như thị (十如是).

Tác Bệnh

Từ Điển Đạo Uyển

作病; C: zuòbìng; J: sabyō.
Bệnh do tin rằng mình có thể dụng công trù liệu mà được giác ngộ. Một trong 4 bệnh (Tứ bệnh 四病, được hiểu là vọng kiến) được mô tả trong kinh Viên Giác.

Tác Chứng

Từ Điển Đạo Uyển

作證; C: zuòzhèng; J: sashō.
Kinh nghiệm chứng ngộ rốt ráo riêng của một người. Thành tựu công phu tu đạo. Sự ấn chứng trạng thái giác ngộ cho một người (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).

Tác Dụng

Từ Điển Đạo Uyển

作用; C: zuòyòng; J: sayū.
Có các nghĩa sau: 1. Chức năng, sự hoạt dụng (s: vyāpāra, kāritra, pravartate); 2. Căn nguyên chủ yếu của các pháp, sự khích lệ, lực thúc đẩy, nguyên nhân; 3. Sự sinh khởi và tịch diệt của thật thể; 4. Công phu tu tập thật tế.

Tác đắc

Từ Điển Đạo Uyển

作得; C: zuòdé; J: sakutoku.
Có được do dụng công, sáng tạo ra. Đối lại là “sinh đắc” (生得), nghĩa là có do bẩm sinh.

Tác Phạm

Từ Điển Đạo Uyển

作犯; C: zuòfàn; J: sabon.
Làm các việc ác, vi phạm giới luật.

Tác Phật

Từ Điển Đạo Uyển

作佛; C: zuòfó; J: sabutsu.
“Làm Phật”, có nghĩa là trở thành một vị Phật, đạt được sự giác ngộ rốt ráo. Như biểu thị “Thành Phật” (成佛; theo Nhị chướng nghĩa 二障義).

Tác Tập Pháp

Từ Điển Đạo Uyển

作集法; C: zuòjífǎ; J: sashūhō.
Hội nghị các tăng sĩ Phật giáo để minh định chính pháp. Kết tập (結集).

Tác Trì

Từ Điển Đạo Uyển

作持; C: zuòchí; J: saji.
Làm các việc thiện; thực hành các thiện pháp, tương phản với hạnh “chỉ trì,” (止持), không làm các việc ác.

Tác Tứ đế

Từ Điển Đạo Uyển

作四諦; C: zuòsìdì; J: sashitai.
Thuật ngữ trong kinh Thắng Man (s: śrī-mālā-sūtra), nghĩa là “Tứ đế được tạo tác”, đối nghịch lại là Vô tác tứ đế.

Tác ý

Từ Điển Đạo Uyển

作意; C: zuòyì; J: sakui.
1. Để ý đến, chú ý, nhận biết, chú tâm (s: manasi-karoti); 2. Tập trung tâm ý, ngăn ngừa tâm tán loạn, tập trung vào một đối tượng(s: manas-kāra); Một trong 10 Đại địa pháp (十大地法) trong luận A-tì-đạt-ma, tương đương với Tư (s: cetanā); 3. Một trong 5 loại biến hành (五遍行) trong Tâm sở pháp (心所) của Du-già hành tông (theo Du-già luận).

Tắc-Kiện-đà

Từ Điển Đạo Uyển

塞建陀; C: sāijiàntuó; J: saikenda;
Phiên âm chữ skandha trong tiếng Phạn. Xem Uẩn (蘊).

Tắc-Kiện-đà-La

Từ Điển Đạo Uyển

塞建陀羅; C: sāijiàntuóluó; J: saikendara;
Có 2 nghĩa: 1. Skandhila. Một vị tăng Ấn Độ, tác giả của Nhập A-tì-đạt-ma luận (入阿毘達磨論, s: abhidharma-āvatāra-prakaraṇa); 2. Phiên âm chữ Uẩn (蘊; s: skandha) trong tiếng Phạn.

Tai

Từ Điển Đạo Uyển

哉; C: zāi; J: sai;
Có các nghĩa sau: 1. Dùng trong câu hỏi – Chẳng phải vậy sao?; 2. Nghi vấn từ; 3. Từ diễn đạt sự ngạc nhiên, thán phục, hay thương cảm; 5. Bắt đầu.

Tai-Lô-Pa

Từ Điển Đạo Uyển

S: tilopa, tailopa;
Một trong những vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahā-siddha) và là người đầu tiên truyền phép Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā). Sư là người thống nhất các phép tu Tan-tra của Ấn Ðộ và truyền cho đệ tử là Na-rô-pa (t: nāropa). Dưới tên Na-rô-pa (Na-rô lục pháp; t: nāro chodrug), giáo pháp này được truyền bá rộng rãi tại Tây Tạng và đóng vai trò quan trọng trong phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa). Tên “Tai-lô-pa” có nghĩa là “người làm dầu mè” vì Sư từng ép dầu mè kiếm sống.
Tai-lô-pa là vị Ðạo sư (s: guru; xem A-xà-lê) đầu tiên được biết đến trong lịch sử Phật giáo: không phải là một Pháp sư (người tinh thông và thuyết giảng Tam tạng), không phải là Luận sư (người chuyên tranh luận và viết luận) mà chỉ là một người siêng năng tu tập, thực hành Phật pháp. Với Tai-lô-pa, trong lịch sử Phật giáo xuất hiện một hạng Ðạo sư mới.

H 50: Tai-lô-pa (tilopa)
Sư sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn tại Śāliputra (Hoa Thị thành?). Mặc dù Long Thụ được xem là thầy của Sư nhưng Sư không theo tông phái nào, chỉ thí nghiệm nhiều phương pháp tu mật và trong lúc nhập định, Sư chứng kiến được các vị Không hành nữ (s: ḍākinī) và A-đề Phật, ngộ sự nhất thể của mình với họ. Hộ Thần (s: sādhita) của Sư là Cha-kra sam-va-ra (s: cakrasaṃvara). Về cuộc đời giáo hoá của Sư sau đó thì có nhiều tài liệu khác nhau. Tương truyền rằng, Sư trụ trì tại một tịnh viện tại Odantaputra và nơi đây Sư truyền pháp lại cho Na-rô-pa. Phật tử Tây Tạng rất tôn thờ Sư, mặc dù Sư không bao giờ bước chân đến đây. Ðại tạng của Tây Tạng còn giữ lại chín tác phẩm của Sư và dòng Ca-nhĩ-cư (kagyupa) xem Sư là Sơ tổ.
Trong hệ thống 84 vị Ma-ha Tất-đạt Ấn Ðộ, Tai-lô-pa là Ðạo sư của nhà vua xứ Viṣṇunagara. Ngày nọ, bỗng nhiên Sư cảm nhận cuộc đời vô thường, vô vị và ngay tối hôm đó lẳng lặng ra đi về miền Nam. Sư được môn đệ là Na-rô-pa tận lòng phục vụ. Sau mười năm tu tập, Sư đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa. Tranh tượng hay trình bày Sư tay không bắt cá. Kệ tụng của Sư như sau:
Chim đậu núi Tu-di,
hầu như làm bằng vàng.
Thánh nhân, kẻ đã biết,
tất cả đều khả dĩ,
bỏ thế gian vật chất,
bám đậu vào đất Phật.

Tâm

Từ Điển Đạo Uyển

心; C: xīn; J: shin; S: citta, hṛdaya, vijñāna;
Thuật ngữ quan trọng của đạo Phật, có nhiều nghĩa:
1. Tâm được xem đồng nghĩa với Mạt-na (s: manas, thức suy nghĩ phân biệt) và Thức (s: vijñāna). Tâm chỉ toàn bộ sinh hoạt và hiện tượng của tâm trí.
2. Trong luận A-tì-đạt-ma câu-xá, tâm được xem như một thể riêng biệt, trên thể đó thế giới hiện tượng xuất hiện.
3. Trong Duy thức tông, tâm được xem là A-lại-da thức (s: ālayavijñāna; còn được gọi là Tạng thức), gốc của tất cả mọi hiện tượng tâm trí. Theo quan điểm này, thì toàn bộ vũ trụ này chính là “tâm thanh tịnh.” Nhiều quan điểm cho rằng tâm này chính là “vô thuỷ vô minh”, vô minh nguyên thuỷ của Phật tính và là thật tại tối thượng của mọi hiện tượng nhị nguyên.
Tổng quát lại, người ta có thể phân biệt sáu loại tâm: 1. Nhục đoàn tâm (肉團心), trái tim thịt; 2. Tinh yếu tâm (精要心), chỉ cái tinh hoa cốt tuỷ; 3. Kiên thật tâm (堅實心), chỉ cái tuyệt đối, cái Chân như của các Pháp – ba loại tâm trên được dịch từ danh từ Hṛdaya của Phạn ngữ (sanskrit); 4. Tập khởi tâm (集起心; citta), là thức thứ 8 – A-lại-da thức (ālayavijñāna); 5. Tư lượng tâm (思量心), là thức thứ 7, Mạt-na (manas); 6. Duyên lự tâm (緣慮心), là thức thứ sáu, Ý thức (s: manovijñāna).

Tam A-Tăng-Kì Kiếp

Từ Điển Đạo Uyển

三阿僧祇劫; C: sān āsēngqí jié; J: sana-sōgikō;
“Ba vô lượng kiếp” (A-tăng-kì). Năm mươi hai cấp bậc tu tập của một vị Bồ Tát được chia thành ba a-tăng kì kiếp. Thập tín (十信), Thập trú (十住), Thập hạnh (十行) và Thập hồi hướng (十迴向) thuộc về đại kiếp thứ nhất. Từ địa vị thứ nhất đến thứ bảy của Bồ Tát thập địa kéo dài một đại kiếp, đại kiếp thứ hai, và địa thứ tám đến mười được thực hiện trong đại kiếp thứ ba.

Tam ái

Từ Điển Đạo Uyển

三愛; C: sānài; J: san’ai;
Ba loại luyến ái: 1. Dục ái (欲愛), Sắc ái (色愛, cũng gọi là Hữu ái 有愛) và Vô sắc ái (無色愛 hoặc Vô hữu ái 無有愛); 2. Ba loại ái, đặc biệt trở nên mạnh mẽ khi giờ phút lâm chung đến gần: a. Tự thể ái (自體愛), lưu luyến thân thể đang có, b. Cảnh giới ái (境界愛), lưu luyến gia quyến, vật sở hữu, c. Đương sinh ái (當生愛), lưu luyến những cảnh tượng đã trải qua trong cuộc sống.

Tâm ấn

Từ Điển Đạo Uyển

心印; J: shin-in;
Là dấu hiệu của tâm. Truyền tâm ấn có nghĩa là sự truyền yếu chỉ Phật pháp của thầy cho đệ tử. Ai được truyền tâm ấn là người đó được Ấn khả, được phép hoằng hoá nối pháp của thầy.

Tam Bảo

Từ Điển Đạo Uyển

三寶; C: sānbăo; J: sanbō; S: triratna; P: tiratana; “Ba ngôi báu”;
Ba cơ sở chính của Phật giáo: Phật, Pháp, Tăng, tức là bậc giác ngộ, giáo pháp của bậc giác ngộ và bạn đồng học. Người có niềm tin kiên cố nơi Tam bảo được gọi là bậc Dự lưu (vào dòng). Người Phật tử biểu lộ sự tin tưởng bằng cách quy y Tam bảo (Ba quy y). Trong mười phép quán Tuỳ niệm (p: anussa-ti), ba đối tượng đầu tiên là Tam bảo.
Ý nghĩa của Tam bảo được hiểu rộng hơn theo truyền thống Ðại thừa. Trong các buổi giảng dạy về Thiền, đặc biệt sau các chương trình Tiếp tâm (j: sesshin), quán Công án, các thiền sinh được hướng dẫn vào lối nhìn Tam bảo của Ðại thừa. Theo cách nhìn này thì người ta có thể phân ý nghĩa Tam bảo ra ba tầng cấp: a) Nhất thể tam bảo (j: ittai-sambō), b) Hiện tiền tam bảo (j: genzen-sambō) và c) Trụ trì tam bảo (j: juji-sambō).
Nhất thể tam bảo (一體三寶; cũng được gọi là Ðồng thể tam bảo; 同體三寶) bao gồm: 1. Ðại Nhật Phật, hiện thân của Pháp thân (s: dharmakāya), biểu hiện của sự bình đẳng vô vi, sự thông suốt tính Không (s: śūnyatā) và Phật tính của vạn vật; 2. Pháp (s: dharma), được hiểu là luân lí của toàn thể vũ trụ và theo đó thì tất cả những pháp hiện hữu đều theo nhân duyên mà sinh, đều phụ thuộc vào nhau; 3. Sự xuyên suốt giữa hai điểm 1. và 2. nêu trên và từ đó xuất phát ra một sự thật, một sự thật mà chỉ một bậc Giác ngộ mới có thể trực chứng được.
Hiện tiền tam bảo (現前三寶; cũng có lúc được gọi là Biệt thể tam bảo; 別體三寶) gồm có: 1. Ðức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni (s: śākyamuni), người sáng lập Phật giáo qua sự giác ngộ của chính mình và là người đã thực hiện được Nhất thể tam bảo; 2. Pháp, ở đây được hiểu là giáo lí của đức Phật, được Ngài thuyết giảng và 3. Các vị đệ tử của Ngài.
Trụ trì tam bảo (住持三寶) bao gồm: 1. Những tranh tượng của đức Phật được truyền lại đến ngày nay; 2. Những lời dạy của chư vị Phật trong kinh sách và 3. Chư Phật tử hiện nay, những người đang tu học và thực hiện Chính pháp.

Tam Bảo Kỉ

Từ Điển Đạo Uyển

三寶紀; C: sānbăojì; J: sanbōki;
Lịch đại tam bảo kỉ (歴代三寶紀).

Tâm Bất Khả đắc

Từ Điển Đạo Uyển

心不可得; J: shin fuka toku; nghĩa là “không thể nào nắm bắt được tâm”;
Một cách trình bày của Thiền tông để chỉ những biến chuyển vô cùng của các Pháp trong Tâm; nghĩa là chúng luôn luôn biến đổi như một dòng nước chảy, không có thật theo ý nghĩa dài lâu và cũng vì vậy, người ta cũng không thể nào nắm giữ được “Tâm” hay hiểu một cách khác, “Tâm” vượt qua mọi định nghĩa thông thường, vượt qua mọi ngôn ngữ diễn bày (Bất khả tư nghị, Bất khả thuyết).

Tam Bất Thiện Căn

Từ Điển Đạo Uyển

三不善根; C: sān bùshàngēn; J: san fuzengon;
Ba cội nguồn bất thiện là tham (貪), sân (瞋) và si (癡). Chúng tương đương với Ba độc (tam độc 三毒; theo Du-già luận 瑜伽論)

Tám Báu Vật

Từ Điển Đạo Uyển

S: aṣṭamaṅgala; Hán Việt: Bát cát tường (八吉祥);
Tám vật tượng trưng cúng dường “Chúa tể thế gian” (ám chỉ Phật). Tám vật này hay được trưng bày trước tượng Phật trong các chùa Trung Quốc. Ðó là:
1. Dù trắng (s: sitāpatra): tượng trưng cao quý, trừ tà; 2. Hai con cá (s: matsyayugma): biểu tượng của chúa tể thế gian, sự giàu sang, thịnh vượng; 3. Tù-và (s: śaṅkha): sự toàn thắng; 4. Hoa Sen (s: padma): sự tinh khiết; 5. Bình Cam lộ (s: amṛta-kalaśa): chứa nước bất tử; 6. Ngọn cờ cuốn lại (s: dhvaja): sự chiến thắng; 7. Gút thắt vô tận (s: granthi): chỉ đời sống vô tận); 8. Pháp luân (s: dharmacakra).

Tam Bình Nghĩa Trung

Từ Điển Đạo Uyển

三平義忠; C: sānpíng yìzháng; J: sampei gichū; tk. 8/9;
Thiền sư Trung Quốc dòng Thạch Ðầu Hi Thiên, môn đệ của Ðại Ðiên Bảo Thông.
Sư họ Dương, quê ở Phúc Châu. Ban đầu Sư đến tham vấn Thạch Củng Huệ Tạng. Thạch Củng dương cung bảo: “Xem tên đây!” Sư bèn vạch ngực thưa: “Ðây là mũi tên giết người, đâu là mũi tên cứu người?” Thạch Củng gảy dây cung ba cái, Sư liền làm lễ. Thạch Củng bảo: “Ba mươi năm một phen dương cung, một hai mũi tên chỉ bắn được nửa người thánh.”
Sư đến tham vấn Ðại Ðiên thuật lại việc trên, Ðại Ðiên bảo: “Ðã là mũi tên cứu người, vì sao nhằm trên dây cung mà biện?” Sư đáp không được. Ðại Ðiên bảo: “Ba mươi năm sau cần người nhắc câu này cũng khó được.” Sư hỏi: “Chẳng cần chỉ Ðông vẽ Tây, thỉnh thầy chỉ thẳng.” Ðại Ðiên bảo: “Cửa sông U Châu người đá ngồi xổm.” Sư bảo: “Vẫn là chỉ Ðông vẽ Tây” Ðại Ðiên bảo: “Nếu phượng hoàng con không đến bên này bàn.” Sư làm lễ, Ðại Ðiên bảo: “Nếu chẳng đặng câu sau thì lời trước khó tròn.”
Sư dạy chúng: “Các ngươi! Nếu chưa gặp trí thức thì chẳng nên, nếu từng gặp trí thức rồi phải nhân ngay ý độ ấy, đến trên chót núi, hóc đá, ăn cây, mặc lá, thế ấy mới có ít phần tương ưng. Nếu chạy cầu hiểu biết nghĩa cú, tức là trông quê hương muôn dặm xa vậy.”
Không biết Sư tịch nơi nào, năm nào.

Tam Bộ Kinh

Từ Điển Đạo Uyển

三部經; C: sānbùjīng; J: sanbukyō;
Ba bộ kinh căn bản, thay đổi tuỳ theo truyền thống: I. Pháp Hoa tam bộ kinh (法華三部經); 2. Di-lặc tam bộ kinh (彌勒三部經); 3. Tịnh độ tam bộ kinh (淨土三部經); 4. Đại Nhật tam bộ kinh (大日三部經); 5. Trấn hộ quốc gia tam bộ kinh (鎮護國家三部經).

Tam Ca-Diếp

Từ Điển Đạo Uyển

三迦葉; C: sān jiāyè; J: sankashō;
Ba anh em họ Ca-diếp: 1. Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp (優楼頻螺迦葉; s: uruvilvā-kāśya-pa); 2. Na-đề Ca-diếp (那提迦葉; s: kāśya-pa); 3. Già-da Ca-diếp (伽耶迦葉; s: gayā-kāśyapa). Họ nguyên là Pháp sư chuyên thờ thần lửa với hơn ngàn đệ tử. Khi được đức Phật chuyển hoá, họ gia nhập tăng-già với chúng đệ tử của họ. Ba anh em này sau là những người góp phần trong việc quản lí, tổ chức tăng-già sau này.

Tam Căn

Từ Điển Đạo Uyển

三根; C: sāngēn; J: sankon;
1. Chỉ ba căn cơ của con người: Thượng, trung và hạ; 2. Ba nguồn gốc bất thiện là Tham, sân và si.

Tam Chi Tác Pháp

Từ Điển Đạo Uyển

三支作法; C: sānzhī zuòfǎ; J: sanshi sahō;
Ba thành phần của Tam đoạn luận pháp (e: syllogism) trong tân phái của Nhân minh học Phật giáo. Ba thành phần này là: Tông (宗; s: pratijñā), là tông chỉ; Nhân (因; s: hetu), nguyên nhân; và Dụ (喩; s: udāharana), thí dụ cụ thể. Các cựu phái thường sử dụng luận pháp với năm thành phần (Ngũ chi tác pháp 五支作法), nhưng kể từ thời Trần-na, năm thành phần như vậy được xem là thừa và thay vào đó, Tam chi tác pháp được sử dụng.

Tam Chủng Duyên Sinh

Từ Điển Đạo Uyển

三種縁生; C: sānzhǒng yuànshēng; J: sanshu enshō;
Ba loại nhân duyên, nguyên do của một sự tái sinh: 1. Cùng sinh tử duyên sinh (窮生死縁生): nhân do đã đến giới hạn của sinh tử; 2. Ái phi ái đạo duyên sinh (愛非愛道縁生): nhân do không còn luyến ái và cũng không không luyến ái và 3. Thụ dụng duyên sinh (受用縁生): Đã đạt được một thân hưởng thụ (Thụ dụng thân; theo Nhiếp đại thừa luận 攝大乘論).

Tam Chủng Huân Tập

Từ Điển Đạo Uyển

三種熏習 (薰) 習; C: sānzhǒng xūnxí; J: sanshu kunshū;
Ba loại Huân tập (chữ Huân cũng được viết 熏 thay vì 薰): I. 1. Danh ngôn huân tập (名言薫習): Sự huân tập của danh ngôn; 2. Sắc thức huân tập (色識薫習), huân tập của sắc thức và 3. Phiền não huân tập (煩惱薫習), sự huân tập của những loại phiền não. II. 1. Huân tập của ngôn thuyết (言説); 2. Huân tập của Ngã kiến (我見) và 3. Huân tập có liên hệ đến sự tồn tại của chính mình (有分), tỉ như ở trong một trong Tam giới hoặc Lục thú (theo Nhiếp đại thừa luận 攝大乘論).

Tam Chủng Phiền Não

Từ Điển Đạo Uyển

三種煩惱; C: sānzhǒng fánnăo; J: sanshu bonnō;
Ba loại phiền não: 1. Những phiền não xảy ra trên Kiến đạo (見道), Tu đạo (修道), và những phiền não không xuất sinh trên hai con đường trên (theo Nhị chướng nghĩa 二障義). 2. Lục căn (六根), Lục cảnh (六境) và Lục thức (六識).

Tam Chủng Tất-địa Phá địa Ngục Chuyển Nghiệp Chướng Xuất Tam Quả Bí Mật đà-La-Ni Pháp

Từ Điển Đạo Uyển

三種悉地破地獄轉業障出三界祕密陀羅尼法; C: sānzhǒng xīdì pòdìyù zhuàn yèzhàng chū sānjiè mìmì tuóluónífǎ; J: sanshu shicchi hajigoku ten gosshō shutsu sangai himitsu daranihō;
“Bí mật đà-la-ni của ba loại thành tựu, tiêu diệt địa ngục, chuyển biến nghiệp chướng trong tam giới”. Một tác phẩm bao gồm một quyển, tác giả được xem là Thiện Vô Uý (善無畏; s: śubhākarasiṁha). Quyển này có những đoạn đề cập đến sự tương quan giữa Ngũ tự (五字) và Ngũ bộ (五部) của Mật giáo đạo Phật và Ngũ Hành thuyết (五行説) của Đạo giáo và chính những đoạn văn này cũng thường được trích dẫn làm một ví dụ – xuất phát từ phía Trung Hoa –, là biểu trưng của một sự tổng hợp tư tưởng Ấn Hoa.

Tam Duyên

Từ Điển Đạo Uyển

三縁; C: sānyuàn; J: san’en;
Ba loại nhân duyên (điều kiện). I. 1. Chung sinh (終生): Nhân duyên chấm dứt cuộc sống; 2. Đoạn hoặc (斷惑): Nhân duyên cắt đứt lậu hoặc, phiền não; 3. Thụ sinh (受生): Nhân duyên thụ sinh (thụ thai, tái sinh). II. Tà sư, tà giáo và tà kiến. III. Theo Thiện Đạo (善導) thì có ba nhân duyên thiện hảo được khởi dẫn trong lúc niệm Phật: 1. Thân duyên (親縁): Hành giả trở nên thân thiện hơn với Phật A-di-đà trong lúc xưng tán hồng danh của ngài, quán tưởng công đức của ngài cũng như tỏ vẻ cung kính tuỳ thuận; 2. Cận duyên (近縁): Hành giả nhờ lòng thành tha thiết yết kiến Phật mà được ngài cảm ứng; 3. Tăng thượng duyên (増上縁): Vì lòng thành xưng tán danh hiệu Phật nên hành giả tiêu diệt được nghiệp chướng, đạt được một cấp bậc tái sinh tốt hơn.

Tam đại

Từ Điển Đạo Uyển

三大; C: sāndà; J: sandai;
Là ba sự huyền diệu to lớn đã có sẵn trong tâm bồ-đề của chúng sinh, được dạy trong luận Đại thừa khởi tín. Sự huyền diệu lớn đầu tiên là Thể đại (體大), có tương quan đến chất lượng căn bản của tâm thức là Chân như. Thứ hai là Tướng đại (相大), có liên hệ đến muôn vàn hiện tượng kì diệu xuất phát từ Như Lai tạng (如來藏; s: tathāgatagarbha), và thứ ba là Dụng đại (用大), liên hệ đến những chức năng có thể thấy được trong việc nỗ lực tu tập để trực chứng tâm bồ-đề. Đại thừa khởi tín luận viết như sau:
云何爲三一者體大謂一切法眞如平等不增減故二者相大謂如來藏具足無量性功徳故三者用大能生一切世間出世間善因果故
Vân hà vi tam? Nhất giả Thể đại vị nhất thiết pháp chân như bình đẳng bất tăng giảm cố. Nhị giả Tướng đại vị Như Lai tạng cụ túc vô lượng tính công đức cố. Tam giả Dụng đại năng sinh nhất thiết thế gian xuất thế gian thiện nhân quả cố.

Tam đạo

Từ Điển Đạo Uyển

三道; C: sāndào; J: sandō;
I. Ba thánh đạo (ba con đường lấy giác ngộ làm cơ sở) trong Du-già hành tông: Kiến đạo (見道), Tu đạo (修道) và Vô học đạo (無學道). II. Ba ác đạo, Tam ác đạo (三惡道). III. Hoặc (惑), Nghiệp (業), Khổ (苦).

Tam đế

Từ Điển Đạo Uyển

三諦; C: sāndì; J: sandai;
“Ba chân lí” hoặc “Chân lí ba phần”. Một thuật ngữ của tông Thiên Thai để giải thích hiện thật qua ba khía cạnh: 1. Không đế (空諦), sự thật của Tính không, nghĩa là tất cả những hiện hữu đều trống không, không có một bản chất nào; 2. Giả đế (假諦), tất cả đều là giả hợp tạm thời. Tất cả những hiện hữu đều do nhân duyên hợp lại mà thành; 3. Trung đế (中諦), sự thật không thể được diễn bày qua phủ định hoặc xác định, mà nằm ở khoảng giữa.

Tam đế Viên Dung Quán

Từ Điển Đạo Uyển

三諦圓融觀; C: sāndì yuánróng guān; J: sandaienyūkan;
Sự quán sát nguyên tắc hiện thật, giúp hành giả nhận thức được tính viên dung thông suốt của Tam đế: Không, Giả và Trung.

Tam địa

Từ Điển Đạo Uyển

三地; C: sāndì; J: sanchi;
Địa vị thứ ba trong Thập địa; được gọi là Phát quang địa (發光地; theo Nhị chướng nghĩa 二障義.)

Tam đức

Từ Điển Đạo Uyển

三徳; C: sāndé; J: santoku;
Ba khía canh công đức của một vị Phật: 1. Công đức của lòng bi; 2. Công đức của sự đoạn diệt phiền não và 3. Công đức của trí huệ.

Tâm Ðịa Giác Tâm

Từ Điển Đạo Uyển

心地覺心; J: shinchi kakushin; 1207-1298;
Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Lâm Tế, đắc pháp nơi Thiền sư Vô Môn Huệ Khai. Sư là người mang tập Công án quan trọng Vô môn quan sang Nhật và phổ biến phương pháp quán công án tại đây.
Sư sinh trưởng tại Nagano, xuất gia năm 14 tuổi và thụ giới cụ túc năm 28 tuổi. Ban đầu Sư tu tập theo Chân ngôn tông trên núi Cao Dã (kōya) và cũng nơi đây, Sư tiếp xúc với Thiền tông lần đầu qua một vị đệ tử của sư Minh Am Vinh Tây (myōan eisai) là Thối Canh Hành Dũng (退耕行勇; j: taikō gyōyū). Sau đó, Sư tham học với nhiều vị Thiền sư đương thời, trong đó có cả Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền (dōgen kigen). Năm 1249, Sư cất bước sang Trung Quốc du học, một cuộc hành trình kéo dài gần sáu năm (1249-1254).
Ðến Trung Quốc, Sư có nguyện vọng tham học nơi Thiền sư Vô Chuẩn Sư Phạm nhưng vị Thiền sư danh tiếng này đã qua đời và vì thế, Sư cất bước chu du khắp nơi. Trong cuộc hành trình này, Sư cũng có dịp tiếp xúc với các Thiền sư thuộc Phổ Hoá tông và học cách thổi sáo Xích bát (尺八; j: shakuhachi) của họ – một cách nhiếp tâm khác thay vì tụng kinh Niệm Phật. Ðược một bạn đạo đồng hương khuyên, Sư đến Thiền sư Vô Môn Huệ Khai – vị Thiền sư danh tiếng nhất đương thời – cầu học yếu chỉ Thiền. Cuộc gặp gỡ này xảy ra một cách rất thân mật. Khi thấy vị khách hiếu học từ Nhật đến, sư Huệ Khai hỏi ngay: “Chẳng có cửa nào để vào đây, ngươi vào thế nào được?” Sư đáp: “Con đến từ nơi không cửa (vô môn).” Huệ Khai hỏi tiếp: “Ngươi tên gì?” Sư thưa: “Giác Tâm.” Sư Huệ Khai liền làm ngay bài kệ:
Tâm chính là Phật
Phật chính là Tâm
Quá khứ, hiện tại
Phật Tâm như nhau
Chỉ sau sáu tháng tu tập, Sư được Huệ Khai Ấn khả. Trước khi rời thầy, Sư được Huệ Khai chính tay trao cho ca-sa, một bức chân dung và một bản của Vô môn quan.
Sau khi trở về Nhật, Sư lưu lại một thời gian tại núi Cao Dã và không bao lâu, Sư sáng lập một thiền viện tại Wakayama với tên Tây Phương tự (saihō-ji) – sau được đổi tên là Hưng Quốc tự (kōkoku-ji) – nơi Sư trụ trì 40 năm sau đó. Sư được các vị Nhật hoàng mời đến Kinh Ðô (kyōto) nhiều lần thuyết pháp và được phong danh hiệu Pháp Ðăng Viên Minh Quốc sư (hottō emmyō kokushi).
Sư truyền dòng Thiền Lâm Tế hệ phái Dương Kì (yōgi-ha) tại Nhật và được xem là một trong những Ðại Thiền sư nơi đây. Sư sử dụng phương pháp quán công án để hướng dẫn các đệ tử trên đường Giác ngộ và công án thường được Sư sử dụng nhất là công án thứ nhất, “Vô” của Vô môn quan. Ngoài phương pháp quán công án, Sư cũng chú trọng đến việc thực hành các nghi lễ theo Chân ngôn tông. Ngoài các việc nói trên, Sư cũng được xem là người truyền tông Phổ Hoá sang Nhật, một tông phái tồn tại đến thời cận đại.
Sư và các môn đệ sau vài thế hệ thành lập một hệ phái trong tông Lâm Tế tại Nhật Bản, được gọi là Pháp Ðăng phái (hottō-ha). Thành tựu lớn của Sư được xem là việc đem tập Vô môn quan sang Nhật. Không bao lâu sau đó, tập công án quan trọng thứ hai của tông Lâm Tế là Bích nham lục (j: hekigan-roku) cũng được truyền sang đây và như vậy, hai tác phẩm căn bản của tông này đã có mặt, việc truyền bá Thiền đã đứng vững.

Tam Giác Sơn

Từ Điển Đạo Uyển

三角山; C: sānjueshān; J: sankakusan; K: samgaksan.
Một ngọn núi nằm ở quận Cao Dương (高陽郡; k: koyanggun), Hàn Quốc, nổi danh vì những chùa chiền ở đây.

Tam Giai Giáo

Từ Điển Đạo Uyển

三階教; C: sānjiē-jiào; J: sankaikyō;
“Giáo lí dành cho ba giai cấp”. Một phong trào Phật giáo được khởi dẫn bởi Tín Hành (信行, 540-594). Tam giai tương ưng với căn cơ khác nhau của chúng sinh, bao gồm: 1. Căn cơ tu hành theo Nhất thừa, dành cho những người căn cơ tuyệt đỉnh; 2. Căn cơ thực hiện Tam thừa, dành cho những người tuy không thực hiện được Nhất thừa, nhưng vẫn có khả năng phán đoán chân chính, phân biệt đúng sai, và 3. Không có căn cơ, khả năng gì, hoặc căn cơ thấp kém nhất, phá giới, ôm ấp tà kiến. Giáo lí dành cho hai giai cấp đầu được gọi là Biệt pháp (別法), giáo lí phân tích, phân biệt được chân nguỵ và giáo lí dành cho giai cấp cuối cùng được gọi là Phổ pháp (普法), lấy nguyên tắc “tất cả đều là Pháp thân” làm cơ sở, đặc biệt dành cho những chúng sinh căn cơ thấp kém, mù quáng từ lúc sinh ra (sinh manh 生盲), không có khả năng phân biệt thiện ác, chân nguỵ.
Phái này chia giáo pháp đức Phật ra ba giai đoạn: 1. Giai đoạn Chính pháp, là lúc mọi người đều tuân thủ giáo pháp Phật, kéo dài khoảng 500 năm kể từ Phật nhập diệt; 2. Giai đoạn Tượng pháp, là lúc pháp bị lẫn lộn đúng sai, kéo dài khoảng 1000 năm; 3. Giai đoạn Mạt pháp, là lúc giáo pháp không còn ai tin và bị huỷ diệt, giai đoạn này kéo dài 10.000 năm. Thời mạt pháp được xem là bắt đầu từ năm 550 sau Công nguyên và hiện nay còn kéo dài.
Tín Hành và các môn đệ cho rằng, chỉ môn phái của mình mới giữ đúng giáo pháp. Phái Tam giai chủ trương giữ nghiêm khắc Giới luật (s: śīla), ép xác, khổ hạnh, chỉ ăn mỗi ngày một bữa. Giáo phái này công kích các phái khác, gọi các nhà cầm quyền là “chệch hướng” nên bị cấm năm 600, và khoảng năm 845 mới thật sự biến mất.
Theo Tín Hành thì Nhất thừa (s: ekayāna) hay Phật thừa được giảng trong giai đoạn thứ nhất. Trong giai đoạn thứ hai thì Ba thừa (Thanh văn, Ðộc giác, Bồ Tát thừa) được truyền bá. Theo tông này, cả hai giai đoạn này đều có giới hạn. Giai đoạn thứ ba dành cho thời kì mạt pháp. Giáo lí phải thật toàn triệt và Tam giai giáo là đại diện.
Thời kì mạt pháp có đặc tính là con người chê bai giới luật, ngã theo tà đạo, không phân biệt tốt xấu, đúng sai. Theo phái này thì con người như thế nhất thiết phải tái sinh ở địa ngục, và một đời sống thiền định, phạm hạnh trong tu viện cũng không cứu được con người trong thời mạt pháp. Tông này chủ trương tu sống khổ hạnh, rời tu viện và sống với sự nghèo khổ của quần chúng. Quan điểm của phái này là mọi hiện tượng đều do Phật tính biến hiện ra, tất cả chúng sinh là “Phật sẽ thành”. Nhằm biểu hiện quan điểm này, đệ tử phái này hay quì lạy những người chẳng quen biết ngoài đường ngoài chợ, thậm chí quì lạy cả chó mèo và vì vậy hay bị cười đùa. Ðệ tử của Tam giai giáo tu phép bố thí và vì thế, hay nhận được của bố thí. Nhờ vậy với thời gian, phái này có nhiều của cải, có nhiều phương tiện làm việc thiện xã hội. Họ tổ chức những hoạt động từ thiện, ban phát quần áo, thức ăn cho người nghèo khổ hay bỏ tiền sửa chữa chùa chiền, tổ chức nghi lễ.

Tam Giai Phật Pháp

Từ Điển Đạo Uyển

三階佛法; C: sānjiē fófǎ; J: sankai buppō;
Tam giai Phật pháp là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của Tam giai giáo trong thời kì Tuỳ-Đường; người ta đã tìm thấy lại nhiều bản ở cả hai nước, Nhật Bản và Trung Hoa.

Tám Giải Thoát

Từ Điển Đạo Uyển

S: aṣṭavimokṣa;
Phép thiền định giúp hành giả vượt tám cấp thiền và giải thoát các vướng mắc về sắc và vô sắc. Tám giải thoát là: 1. Ở trong sắc giới, quán nội sắc và ngoại sắc, nhằm bỏ tâm ham thích sắc thể (nội hữu sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát 内有色想觀外色解脱); 2. Không quán nội sắc, quán ngoại sắc, nhận ngoại sắc là ô nhiễm (nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát 内無色想觀外色解脱); 3. Quán tưởng về thanh tịnh nhưng không bám giữ (tịnh thân tác chứng cụ túc tác giải thoát 淨身作證具足作解脱); 4. Vượt qua sắc thể, nghĩ “hư không là vô biên” (Không vô biên xứ giải thoát 空無邊處解脱); 5. Ðạt “thức là vô biên” (thức vô biên xứ giải thoát 識無邊處解脱); 6. Ðạt tâm “không có vật gì” (vô sở hữu xứ giải thoát 無所有處解脱); 7. Ðạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ (phi tưởng Phi phi tưởng xứ giải thoát 非想非非想處解脱); 8. Ðạt cấp Diệt thụ tưởng xứ (diệt tận định giải thoát 滅盡定解脱). Cấp 1 của Tám giải thoát liên hệ với cấp 1, 2 của Tám thắng xứ, cấp 2 liên hệ với cấp 3, 4. Cấp 4-7 của Tám giải thoát đồng nghĩa với Bốn xứ.

Tam Giáo

Từ Điển Đạo Uyển

三教; C: sānjiào; J: sankyō;
Có hai cách phân loại thường gặp: I. Ba truyền thống Đạo học lớn tại Đông á: 1. Phật giáo (佛教), 2. Nho giáo (儒教) và 3. Đạo giáo (道教); II. Theo Thiền sư Khuê Phong Tông Mật trong bài chú giải Viên Giác kinh (圓覺經) thì cách phân chia Tam giáo trong Phật giáo như sau: 1. Đốn giáo (頓教) được trình bày trong kinh Hoa nghiêm (華嚴經), 2. Tiệm giáo (漸教) trong thời kì Phật giảng dạy ở Lộc Uyển cho đến khi nhập niết-bàn tại Sa-la thụ viên, và 3. Bất định giáo (不定教), dạy về tính viên mãn vô khiếm, vĩnh hằng của Phật tính.

Tam Giới

Từ Điển Đạo Uyển

三界; C: sānjiè; J: sangai; S: triloka;
Ba cõi hiện hữu trong Vòng sinh tử: 1. Dục giới (欲界), nơi chúng sinh chỉ đắm say vào những khoái lạc thân thể; 2. Sắc giới (色界), nơi chúng sinh đã vượt khỏi những khoái lạc thân thể nêu trên, nhưng vẫn còn cảm nhận thân sắc vi tế. Đây là cõi của Tứ thiền thiên (四禪天); 3. Vô sắc giới (無色界), là cõi tối cao của Luân hồi, chúng sinh đã thoát khỏi sự tồn tại vật chất, hoàn toàn không có sắc tướng. Đây là cõi của Tứ vô sắc định (四無色定).
Theo A-tì-đạt-ma Câu-xá luận của Thế Thân, Tam giới nêu trên còn được phân thành nhiều cõi khác nhau. Dục giới bao gồm 20 cõi. Gồm có: Tứ đại châu (四大洲), Bát nhiệt địa ngục (八熱地獄), và sáu cõi trời của Dục giới – Lục dục thiên (六欲天). Ngoài Lục dục thiên ra còn có 17 cõi trời của Sắc giới – Sắc giới thập thất thiên (色界十七天). Bên trên Sắc giới là Vô sắc giới, nơi vật chất, sắc tướng không còn tồn tại. Ba thế giới

Tam Giới

Từ Điển Đạo Uyển

三戒; C: sānjiè; J: sankai;
Ba loại giới luật. Giới luật dành cho cư sĩ, cho tăng sĩ và giới luật dành chung cho cả hai nhóm này.

Tam Giới Tạng

Từ Điển Đạo Uyển

三界藏; C: sānjiècáng; J: sankaizō;
Ba cõi hiện hữu được xem như là xuất xứ của tất cả những phiền não, nghiệp chướng (Nhất thiết chúng sinh phiền não bất xuất tam tạng giới 一切衆生煩惱不出三界藏, theo Nhân vương kinh 仁王經).

Tam Hạnh

Từ Điển Đạo Uyển

三行; C: sānxíng; J: sangyō;
1. Ba hạnh tạo nghiệp của thân, khẩu và ý; 2. Ba hạnh: thiện, ác và không thiện không ác; 3. Ba hạnh theo kinh Kim Cương: Hành động theo tình thế, hành động theo tâm thức và hành động tuỳ theo Chân như.

Tam Hiền

Từ Điển Đạo Uyển

三賢; C: sānxián; J: sangen;
1. Trong A-tì-đạt-ma của Tiểu thừa, Tam hiền đây là Ngũ đình tâm quán (五停心觀), Biệt tướng niệm trú (別相念住), và Tổng tướng niệm trú (總相念住). 2. Trong Pháp tướng tông, Tam hiền gồm ba nhóm Thập trú, Thập hạnh và Thập hồi hướng.

Tam Hoặc

Từ Điển Đạo Uyển

三惑; C: sānhuò; J: sanwaku;
Ba sự mê hoặc, ba phiền não. Có hai cách phân loại: 1. Ba loại phiền não căn bản là Tham dục (貪欲), Sân khuể (瞋恚), và Ngu si (愚癡). Chúng tương đương với Ba độc (Tam độc 三毒); 2. Trong Thiên Thai tông, ba loại hoặc chính là là Kiến tư hoặc (見思惑) – Phiền não xuất phát từ những kiến giải, những mối tư duy sai –, Trần sa hoặc (塵沙惑) – phiền não cản trở trí huệ và nhiều như số cát sông Hằng –, và Vô minh hoặc (無明惑), những phiền não gây chướng ngại cho việc thấu hiểu sự vật. Loại hoặc đầu được phá huỷ bởi hành giả Tiểu cũng như Đại thừa. Hai loại hoặc sau chỉ được tiệt đoạn bởi những vị Bồ Tát.

Tam Học

Từ Điển Đạo Uyển

三學; C: sānxué; J: sangaku;
Chỉ ba việc thực hành Phật pháp: Giới (戒; s: śīla), định (定; s: dhyāna) và Huệ (慧; s: prajñā). Ba môn học.

Tam Huệ

Từ Điển Đạo Uyển

三慧 (惠); C: sānhuì; J: san’e;
Ba loại trí huệ, Văn tư tu.

Tam Hữu

Từ Điển Đạo Uyển

三有; C: sānyǒu; J: san’u;
1. Ba cách tồn tại: Cách tồn tại trong Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới; 2. Đồng nghĩa với Tam giới (三界), Ba thế giới.

Tam Khổ

Từ Điển Đạo Uyển

三苦; C: sānkǔ; J: sanku;
Ba loại khổ: 1. Khổ khổ (苦苦): Khổ não khi phải chạm trán những sự việc không hay; 2. Hành khổ (行苦): Khổ não vì sự biến chuyển; 3. Hoại khổ (壞苦): Khổ não vì sự hoại diệt.

Tam Khoa

Từ Điển Đạo Uyển

三科; C: sān kē; J: sanka;
Cách phân chia tất cả các pháp thành ba loại: Ngũ uẩn (五蘊), Thập nhị xứ (十二處) và Thập bát giới (十八界).

Tam Không

Từ Điển Đạo Uyển

三空; C: sānkōng; J: sankū;
1. Ba loại tính Không được mô tả trong Kim cương tam-muội kinh (金剛三昧經): Tướng không (相空), Không không (空空) và Sở không (所空); 2. Theo Kỉ Hoà trong tác phẩm Ngũ gia giải thoát nghị (五家解説誼; k: o ka hae sǒrǔi) thì Tam không bao gồm Ngã không (我空), Pháp không (法空) và Không không (空空); 3. Ngã không (我空), Pháp không (法空) và Ngã pháp không (我法空), tính không của cả hai, Ngã và Pháp; 4. Không (空), Vô tướng (無相) và Vô nguyện (無願); 5. Trong khi thực hiện hạnh bố thí thì Tam không gồm Tính không của người bố thi, của người nhận và Tính không của vật được bố thí; 6. Vô tính không (無性空), Dị tính không (異性空) và Tự tính không (自性空).

Tam Kiến

Từ Điển Đạo Uyển

三見; C: sānjiàn; J: sanken;
Ba kiến ở đây có nghĩa là ba kiến giải sai lầm sau hai tà kiến đầu là Thân kiến (身見) và Biên kiến (邊見), tất cả đều hệ thuộc vào hệ thống Thập hoặc (十惑). Chúng là: Tà kiến (邪見), Kiến thủ kiến (見取見) và Giới cấm thủ kiến (戒禁取見).

Tam Kiếp

Từ Điển Đạo Uyển

三劫; C: sānjié; J: sankō;
Ba kiếp, ba giai đoạn rất dài: 1. Là lối viết tắt của Tam a-tăng-kì kiếp (三阿僧祇劫); 2. Trong Chân Ngôn tông, thuật ngữ này chỉ những vướng mắc, trói buộc mù quáng; 3. Ba thời kiếp: Dĩ vãng, hiện tại và tương lai.

Tam Kinh

Từ Điển Đạo Uyển

三經; C: sānjīng; J: sangyō;
Ba bộ kinh được xem là căn bản của mỗi truyền thống Phật giáo. Tam bộ kinh (三部經).

Tâm Kinh

Từ Điển Đạo Uyển

心經
Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh

Tam Lậu

Từ Điển Đạo Uyển

三漏; C: sānlòu; J: sanro; S: traya-āsravāh.
Ba loại ô nhiễm, rỉ chảy: I. 1. Dục lậu (欲漏), sự ô nhiễm của tham dục; 2. Hữu lậu (有漏), ô nhiễm của sự tồn tại và 3. Vô minh lậu (無明漏), ô nhiễm của vô minh (theo Du-già luận 瑜伽論). II. Sự nhiễm ô của ba giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.

Tam Li Dục

Từ Điển Đạo Uyển

三離欲; C: sānlíyù; J: sanriyoku;
Ba dạng li dục. Theo Du-già sư địa luận thì Tam li dục bao gồm: 1. Vị li dục (未離欲), chưa rời bỏ dục vọng; 2. Bội li dục (倍離欲), thoát khỏi khát vọng gấp đôi bình thường và 3. Dĩ li dục (已離欲), đã thoát khỏi dục vọng hoàn toàn.

Tam Loại Cảnh

Từ Điển Đạo Uyển

三類境; C: sān lèijìng; J: san ruikyō;
“Ba loại cảnh giới”. I. Theo thuyết Duy thức (唯識), các cảnh giới tâm thức được phân loại tuỳ theo bản chất của chúng. Bao gồm: 1. Tính cảnh (性境): Cảnh giới xuất phát từ những chủng tử trong A-lại-da thức; 2. Độc ảnh cảnh (獨影境): là những cảnh giới xuất phát một cách tạm thời từ một quan điểm chủ quan; và 3. Đái chất cảnh (帶質境): Cảnh giới hiển hiện tuỳ thuộc vào cả hai trường hợp vừa nêu trên.

Tam Luận

Từ Điển Đạo Uyển

三論; C: sānlùn; J: sanron;
Ba bộ luận. Chỉ ba bộ luận quan trọng, được xem là cơ sở của một tông phái Phật giáo Trung Quốc có cùng tên: Tam luận tông (三論宗). Ba bộ luận này là 1. Trung quán luận (中觀論), 2. Thập nhị môn luận (十二門論) với tác giả là Long Thụ (龍樹) và 3. Bách luận (百論) của Thánh Thiên (聖天). Cả ba bộ luận này được Cưu-ma-la-thập (鳩摩羅什; s: kumārajīva) dịch sang Hán văn. Tông Tam luận góp phần quan trọng trong lĩnh vực luận lí Tính không. Trung quán luận dạy Tám phủ định (Bát bất 八不): Bất sinh bất diệt, bất thường bất đoạn, bất nhất bất nhị, bất lai bất xuất (不生不滅,不常不斷,不一不異,不來不出). Tám phủ định này được dùng để đả phá tất cả những khái niệm, tất cả những quan điểm về Hữu, Vô, và như vậy thì ý nghĩa của “Trung đạo” nằm ở chỗ: Tất cả các pháp đều được xem là tồn tại, nhưng lại không mang một bản chất, một tự ngã nào. Thập nhị môn luận giảng giải Tính không của tất cả các pháp trong mười hai chương, và Bách luận giảng giải Tính không để đả phá luận cứ của những triết gia ngoại đạo.
Cưu-ma-la-thập truyền ba bộ luận này đến ba đại đệ tử của mình là Đạo Sinh (道生), Tăng Triệu (僧肇) và Tăng Lãng (僧朗). Tăng Lãng là người nhấn mạnh sự khác biệt của tông Tam luận và tông Thành Thật và vì vậy, có thể được xem là người sáng lập tông môn Tam luận đích thật. Trong thế kỉ thứ 6, những đại biểu quan trọng nhất là Pháp Lãng (法朗), Cát Tạng (吉藏) và lúc này cũng là thời hoàng kim của giáo lí Tam luận. Trong thế kỉ thứ 7, giáo lí Tam luận được truyền sang Hàn Quốc bởi Huệ Quán (慧觀), một đệ tử của Cát Tạng. Sau khi tông Pháp Tướng xuất hiện, tông Tam luận ngày càng rơi vào quên lãng.

Tam Luận Huyền Nghĩa

Từ Điển Đạo Uyển

三論玄義; C: sānlùn xuányì; J: sanron gen-gi;
“Ý nghĩa sâu sắc của Tam luận”, một tác phẩm của Cát Tạng (吉藏).

Tam Luận Tông

Từ Điển Đạo Uyển

三論宗; C: sānlùn-zōng; J: sanron-shū; K: samnon chong.
Tông phái Ðại thừa của Phật giáo Trung Quốc. Danh xưng này xuất phát từ ba bộ luận căn bản của tông này: Trung quán luận tụng (中觀論頌; s: madhyamaka-kārikā), Thập nhị môn luận (十二門論; s: dvā-daṣadvāra-śāstra hoặc dvādaśanikāya-śās-tra) của Long Thụ (龍樹; s: nāgārjuna) và Bách tuận (百論; s: śata-śāstra) của Thánh Thiên (聖天; s: āryadeva). Các bộ luận này được Cưu-ma-la-thập dịch và chú giải trong thế kỉ thứ 5. Cưu-ma-la-thập (鳩摩羅什; s: kumārajīva) truyền cho đệ tử là Ðạo Sinh (道生), Tăng Triệu (僧肇), Tăng Duệ (僧叡) và Ðạo Dung (道融). Các vị này vạch rõ sự khác nhau giữa tông phái mình với Thành thật tông và có thể xem là những người sáng lập Tam luận tông.
Trong thế kỉ thứ 6, Tam luận tông rất thịnh hành và những Cao tăng thời này là Pháp Lãng (法朗) và đệ tử là Cát Tạng (吉藏). Trong thế kỉ thứ 7, Tam luận tông được Cao tăng Huệ Quán (慧灌; ekwan), đệ tử của Cát Tạng truyền qua Nhật. Tam luận tông dần dần mất ảnh hưởng sau khi Pháp tướng tông ra đời.
Tam luận tông bắt nguồn từ Trung quán tông của Ấn Ðộ nhưng cũng có những nét đặc thù của Trung Quốc: Tam luận tông cho rằng đức Phật đã chỉ dạy hai phép tu: Thanh văn thừa và Bồ Tát thừa, và Tam luận tông thuộc về Bồ Tát thừa. Tông này cho rằng có ba thời giáo: kinh Hoa nghiêm là thời giáo thứ nhất. Kinh này chứa những lời khai thị cho Bồ Tát nhưng các đệ tử Phật thời đó chưa đủ sức lĩnh hội. Vì vậy thời giáo thứ 2, kéo dài giữa thời kinh Hoa nghiêm và kinh Diệu pháp liên hoa, trong đó mọi giáo pháp của Phật bao gồm cả Tiểu thừa lẫn Ðại thừa, có giá trị cho Thanh văn thừa, Ðộc giác thừa và Bồ Tát thừa. Thời kì thứ 3 là thời kì mà mọi đệ tử đã sẵn sàng để nghe kinh Diệu pháp liên hoa, đó là thời Phật thừa, chỉ một pháp duy nhất.
Tam luận tông Nhật Bản (j: sanron-shū) được đưa từ Trung Quốc qua năm 625 do Cao tăng Huệ Quán (慧灌; ekwan), người Triều Tiên truyền lại. Huệ Quán có hai đệ tử chính và Tam luận tông Nhật Bản cũng vì vậy mà có hai bộ phái (Thành thật tông). Tam luận tông không có mấy ảnh hưởng tại Nhật, mặc dù nhiều trường phái khác cũng tham khảo giáo pháp của tông này để hiểu thêm kinh điển Ðại thừa.
Tam luận tông tại Nhật có ảnh hưởng lớn lên hoàng thân Thánh Ðức (shotoku, 574-622), người đã thống nhất nước Nhật. Trong thiền viện của vị hoàng thân này thời đó có ba vị luận sư Triều Tiên của Tam luận tông giảng dạy. Trong “hiến pháp” của Nhật Bản mà Thánh Ðức soạn thảo, người ta thấy có vài yếu tố của Tam luận tông.

Tam Lượng

Từ Điển Đạo Uyển

三量; C: sānliáng; J: sanryō;
Ba cách suy lượng theo cựu phái của Nhân minh học: 1. Hiện lượng (現量; s: prayakṣa), thấy rõ trực tiếp bằng cặp mắt; 2. Tỉ lượng (比量; s: anumāna), biết bằng suy ngẫm; 3. Thánh giáo lượng (聖教量), biết được qua giáo lí của những bậc thánh hiền.

Tam Minh

Từ Điển Đạo Uyển

三明; C: sānmíng; J: sammyō; S: tisrovidyā;
I. Ba “Nhận thức”, “Hiểu biết”: 1. Nhận thức được nhân duyên, những nghiệp còn lại của những cuộc sống trước đây (để rồi qua đó đoạn diệt Thường kiến); 2. Nhận thức được những gì xảy ra trong tương lai (để rồi qua đó diệt trừ Đoạn kiến); 3. Một sự hiểu biết vô cấu (giúp diệt trừ những kiến hoặc trong thâm tâm). II. Ba trong sáu loại thần thông (Lục thần thông 六神通): 1. Thiên nhãn thông (天眼通; s: divyācakṣurjñānasākṣat-kriyāvidyā), có thể thấy được chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi; 2. Túc mệnh thông (宿命通; s: pūrvanivāsānusmṛtijñāna-sākṣatkriyāvidyā) hoặc Túc trú thông (宿住通), biết được những gì xảy ra trong những cuộc sống của chính mình trước đây, trong những kiếp trước đây cũng như cuộc sống của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi (Lục đạo 六道, Lục thú 六趣); 3. Lậu tận thông (漏盡通; s: āśravakṣayajñānasākṣatkriyāvi-dyā), biết được là mình đã đoạn diệt tất cả những ô nhiễm, lậu hoặc, sẽ không phải tái sinh trong Tam giới.

Tam Nghi

Từ Điển Đạo Uyển

三疑; C: sān yí; J: sangi;
Ba mối nghi ngờ cản trở việc tu hành nghiêm túc bất động: Nghi ngờ chính mình, nghi ngờ bậc thầy, nghi ngờ Phật pháp.

Tam Phân Biệt

Từ Điển Đạo Uyển

三分別; C: sānfēnbié; J: sanfunbetsu;
Sự phân biệt với ba thành phần; xảy ra giữa giác quan, đối tượng, và nhận thức hệ thuộc phát sinh qua sự tiếp xúc (theo Biện trung biên luận 辯中邊論).

Tam Pháp

Từ Điển Đạo Uyển

三法; C: sānfǎ; J: sanhō;
Ba loại pháp: I. 1. Giáo (教), nghĩa là giảng dạy; 2. Hành (行) với ý nghĩa thực hành và 3. Chứng (證) với ý nghĩa chứng ngộ, trực chứng; II. Chỉ ba bộ phần trong tam tạng là Kinh (經), Luật (律) và Luận (論); III. Chỉ ba loại pháp: 1. Chân pháp (真法), giáo lí chan thật; 2. Giả pháp (假法), pháp giả tạo và 3. Mạt pháp (末法), pháp trong lúc suy tàn.

Tam Pháp ấn

Từ Điển Đạo Uyển

三法印; C: sānfǎyìn; J: sanbōin;
Ba dấu ấn của pháp, ba đặc tính của nguyên tắc. Chỉ ba khía cạnh đặc thù của Phật pháp, hoàn toàn khác biệt những giáo lí ngoại đạo: 1. Chư hành vô thường (諸行無常), tất cả đều vô thường; 2. Chư pháp vô ngã (諸法無我), tất cả đều không có một cơ sở tự tồn và 3. Niết-bàn tịch tĩnh (涅槃寂靜), tức là niết-bàn là sự an tĩnh tuyệt đối.

Tắm Phật

Từ Điển Đạo Uyển

Hán Việt: Dục Phật (浴佛)
Một buổi lễ phổ biến tại Trung Quốc, được tổ chức vào ngày Phật đản sinh, mùng 8 tháng 4 âm lịch. Trong buổi lễ này, một pho tượng nhỏ của đức Phật Thích-ca – được trình bày dưới dạng liên hoa toạ (Phật toạ), tay phải chỉ trời, tay trái chỉ xuống đất – được đem ra tắm và cúng lạy. Toàn thể Tăng-già đều tham dự buổi lễ tắm Phật này.
Truyền thống tắm Phật vốn xuất xứ từ Ấn Ðộ, bắt nguồn từ sự tích rằng, sau khi sinh ra tại Lam-tì-ni (lumbinī), đức Phật được chín con rồng đến phun nước tắm rửa.

Tam Phiền Não

Từ Điển Đạo Uyển

三煩惱; C: sānfánnăo; J: sanbonnō;
Trong luận Du-già sư địa (瑜伽師地論; s: yogācārabhūmi-śāstra), Vô minh (無明), Ái (愛) và Thủ (取) là ba nhánh nghiệp quan trọng trong Thập nhị chi (十二支).

Tam Quả

Từ Điển Đạo Uyển

三果; C: sānguǒ; J: sanka;
1. Là quả vị thứ ba của bốn thánh quả (Tứ quả 四果) được dạy trong Tiểu thừa: quả vị Bất Hoàn (不還), hoặc ba quả vị đầu của Tứ quả; 2. Ba loại hậu quả hoặc ba loại (cách) tái sinh; 3. Trong Thiên Thai tông, đây là quả vị của Tạng (藏, với ý nghĩa Đại tạng), Thông (通) và Biệt (別).

Tam Quán

Từ Điển Đạo Uyển

三觀; C: sānguān; J: sangan;
I. Ba cách quán sát. Ba cách thiền quán được dạy đầu tiên trong Anh lạc bản nghiệp kinh, sau được chiếu rọi tường tận bởi Trí Khải (智顗). Chúng là: 1. Không quán (空觀), phủ nhận những cảm thụ, nhận thức hiện thật một cách sai lạc; 2. Nhân duyên quán (因緣觀), giúp diệt trừ kiến giải chấp không; 3. Trung quán (中觀), dung nhiếp cả hai lối quán trên nhưng không chấp trước, vướng mắc vào chúng. II. Ba phương pháp thiền định được dạy trong kinh Viên Giác: 1. Xa-ma-tha (奢摩他; s: śamatha), một dạng thiền định mà trong đó, tâm thức của hành giả được lắng đọng qua sự tập trung vào một đối tượng; 2. Tam-ma Bát-để (三摩鉢提; s: samāpatti), quán sát một chân lí Phật pháp, ví như nguyên lí Duyên khởi, và 3. Thiền-na (禪那; s: dhyāna), không dựa vào hai cách Thiền quán trên. Ba phương pháp thiền này gần giống như ba phương pháp nêu bên trên.

Tam Quốc Di Sự

Từ Điển Đạo Uyển

三國遺事; C: sānguó wèishì; J: sankoku yuiji;
Một tác phẩm bao gồm năm quyển của Cao tăng Hàn quốc Nhất Nhiên (一然; k: iryǒn, 1206-1289), với những mẩu chuyện nói về sự truyền bá và phát triển đạo Phật tại Hàn quốc, đặc biệt chú trọng đến thời kì Tam quốc và Tân La. Tác phẩm này là nền tảng của việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo Hàn quốc, đã được dịch sang Anh ngữ năm 1972.

Tam Quy Y

Từ Điển Đạo Uyển

三歸依; S: triśaraṇa; P: tisaraṇa;
Ba quy y

Tam Sinh

Từ Điển Đạo Uyển

三生; C: sānshēng; J: sanshou;
Ba đời sống, ba kiếp sống. I. Kiếp sống trước, hiện tại và tương lai. II. Ba cấp bậc chính trong thời gian thực hiện Phật quả: 1. Phát nguyện, quyết định trở thành một Phật-đà; 2. Tu tập và tích luỹ công đức; 3. Chứng ngộ Phật quả, thành Phật. III. Ba cấp bậc (cuộc sống) được dạy trong tông Thiên Thai, cơ bản cũng như ba cấp bậc trước đây: 1. Chủng (種, cũng gọi là Phát tâm 發心); 2. Thục (熟, chín muồi, có thể gọi là Tu hành 修行) và 3. Giải thoát (解脱). VI. Ba cuộc sống theo Hoa Nghiêm tông: 1. Kiến văn sinh (見聞生), thấy và nghe Phật thuyết pháp trong kiếp sống trước đây; 2. Giải hành sinh (解行生), nghĩa là tu tập đạt giải thoát đời nay và 3. Chứng nhập sinh (證入生), tức là chứng ngộ và nhập đạo trong cuộc đời tương lai.

Tâm Sở

Từ Điển Đạo Uyển

心所; S, P: cetasika; hoặc Tâm sở hữu pháp (s: caitta-dharma);
Là những yếu tố phụ thuộc vào tâm, gắn liền với một nhận thức (s: vijñāna) – nhận thức đây cũng được gọi là Tâm vương (s: citta-rāja), là hoạt động tâm thức chủ yếu – đang sinh khởi và khởi lên đồng thời với nhận thức đó. Việc phân tích và hệ thống hoá các tâm sở là một kì công của các Ðại luận sư Ấn Ðộ. Chúng mô tả tất cả những khía cạnh tâm trạng mà ai cũng có thể tự khám phá, tìm được nơi chính mình – có thể gọi là bản đồ tâm lí của con người.
Trong khi Kinh tạng tóm thâu mọi hiện tượng của sự sống dưới Ngũ uẩn sắc, thụ, tưởng, hành, thức thì A-tì-đạt-ma của Thượng toạ bộ đề cập 3 khía cạnh triết lí, phân tích tâm lí khi bàn đến những gì hiện Hữu (s: bhava): Tâm (citta), Tâm sở và Sắc (rūpa). Tâm sở bao gồm Thụ (vedanā), Tưởng (saṃjñā) và 50 Hành (saṃskāra), tổng cộng là 52 tâm sở. Trong số này, 25 có tính chất cao cả (thiện và trung tính về phương diện nghiệp), 14 là Bất thiện (akuśala) còn 13 bất định, nghĩa là có thể thiện, bất thiện hay trung tính tuỳ thuộc vào tâm (thức) mà chúng tương ưng.
Nhất thiết hữu bộ (sarvāstivāda) chia các tâm sở thành sáu loại theo luận A-tì-đạt-ma câu-xá (abhidharmakośa) của Thế Thân (vasubandhu) và A-tì-đạt-ma phát trí luận (abhidharmajñānaprasthāna-śāstra) của Già-đa-diễn-ni tử (kātyāyanīputra), tổng cộng là 46 tâm sở:
I. 10 Ðại địa pháp (大地法; s: mahābhūmikā-dharma); chỉ mười tác dụng tâm lí tương ưng và đồng sinh khởi với tất cả Tâm vương: 1. Thụ (受; vedanā), thụ, lĩnh nạp. Có ba loại thụ, đó là: khổ thụ, lạc thụ, phi khổ phi lạc thụ; 2. Tưởng (想; saṃjñā), tưởng, tưởng tượng, đối cảnh mà chấp tướng sai biệt; 3. Tư (思; cetanā), ý định, ý muốn, tâm tạo tác; 4. Xúc (觸; sparśa): xúc, sự xúc đối do căn, cảnh và thức sinh ra; 5. Dục (欲; chanda), mong cầu vì đối ngoại cảnh; 6. Huệ (慧; prajñā, mati), trí huệ phân tích, đối với các pháp có sự phân biệt, chọn lựa; 7. Niệm (念; smṛti), tâm niệm, ghi nhớ không quên; 8. Tác ý (作意; mānaskāra), tỉnh táo cảnh giác hay khiến cho tâm cảnh giác; 9. Thắng giải (勝解; adhimokṣa), sự hiểu biết thù thắng, đối cảnh sinh ra tác dụng ấn khả, thẩm định; 10. Tam-ma-địa (三摩地) hoặc Ðịnh (定; sa-mādhi), chính định, đẳng trì, tức là định tâm chuyên chú vào một cảnh, một đối tượng.
II. 10 Ðại thiện địa pháp (大善地法; kuśalama-hābhūmikādharma): 1. Tín (信; śraddhā), lòng tin tưởng chắc chắn; 2. Cần (勤) hoặc Tinh tiến (精進; vīrya), siêng năng tu tập; 3. Xả (捨; upekṣā); 4. Tàm (慚; hrī), cung kính tuỳ thuận người có đức hạnh; 5. Quý (愧; apatrāpya, apatrapā), biết sợ quả báo của tội lỗi, biết xấu hổ; 6. Vô tham (無貪; alobha); 7. Vô sân (無瞋; adveśa); 8. Bất hại (不害; ahiṃsā); 9. Khinh an (輕安; praśrabdhi); 10. Bất phóng dật (不放逸; apramāda).
III. 6 Ðại phiền não địa pháp (大煩惱地法; kle-śamahābhūmikā-dharma) là các pháp gây phiền não, gây khổ, bao gồm sáu loại: 1. Si (癡) hoặc Vô minh (無明; moha, avidyā); 2. Phóng dật (放逸; pramāda); 3. Giải đãi (懈怠; kausīdya), tâm trạng không tinh tiến, biếng nhác; 4. Bất tín (不信; āśraddya); 5. Hôn trầm (昏沉; styāna), tâm chìm đắm, lừ đừ, thiếu linh động, nhạy bén; 6. Trạo cử (掉舉; auddhatya), hồi hộp không yên.
IV. 2 Ðại bất thiện địa pháp (大不善地; akuśa-lamahābhūmikā-dharma): 1. Vô tàm (無慚; ā-hrīkya), không tôn kính, không biết tự hổ thẹn về việc tội lỗi đã làm; 2. Vô quý (無愧; anapatrāpya, anapatrapā), tâm không biết sợ với tội quả, không biết hổ thẹn đối với người khác khi phạm tội.
V. 10 Tiểu phiền não địa pháp (小煩惱地法; parīttabhūmikā-upakleśa): 1. Phẫn (忿; krodha); 2. Phú (覆; mrakṣa), thái độ đạo đức giả, che dấu cái xấu của mình; 3. Xan (慳; mātsarya), xan tham, ích kỉ; 4. Tật (嫉; īrṣyā), ganh ghét; 5. Não (惱; prādaśa), cứng đầu, ngoan cố, làm bực bội; 6. Hại (害; vihiṃsā), tâm trạng muốn hành động ác hại; 7. Hận (恨; upanāha), lòng hận thù; 8. Xiểm (諂; mā-yā), nói xạo, loè người; 9. Cuống (誑; śāṭhya), gian lận, dối gạt, lừa lọc; 10. Kiêu (憍; mada), tự phụ.
VI. 8 Bất định địa pháp (不定地法; anityatābhū-mikādharma), gọi là “bất định” vì chúng có thể thuộc về dạng thiện hoặc bất thiện, tuỳ theo căn cơ của Tâm vương. Ví dụ như Tầm, là tâm sở suy nghĩ phân tích. Nó là tâm sở tốt nếu Tâm vương có gốc thiện – ví dụ như suy nghĩ, chú tâm về giáo pháp của đức Phật, diệt khổ – hoặc xấu, nếu Tâm vương là một pháp bất thiện, như suy nghĩ phân tích cách lừa gạt người… Bất định địa pháp bao gồm tám loại: 1. Hối (悔; kaukṛtya), ăn năn, hối hận; 2. Miên (眠; middha), giấc ngủ; 3. Tầm (尋; vitarka), suy nghĩ, tìm hiểu dạng thô; 4. Tứ (伺; vicāra), suy nghĩ, tìm hiểu dạng tinh tế; 5. Tham (貪; rāga), tham mê, đắm mê; 6. Sân (瞋; pratigha), tức giận; 7. Mạn (慢; māna), kiêu mạn; 8. Nghi (疑; vicikitsā).
Trong Duy thức tông, người ta phân biệt 51 loại tâm sở. Ðại sư Vô Trước (asaṅga) phân chia 51 tâm sở này thành sáu loại trong Ðại thừa a-tì-đạt-ma tập luận (abhidharmasamu-ccaya):
I. 5 Biến hành tâm sở (遍行; sarvatraga), năm loại tâm pháp lúc nào cũng hiện hành xuất phát cùng với một tâm vương, gồm có: 1. Xúc (sparśa); 2. Tác ý (manaskāra); 3. Thụ (vedanā); 4. Tưởng (saṃjñā); 5. Tư (cetanā), tương ưng với tất cả tâm và tâm sở;
II. 5 Biệt cảnh tâm sở (別境; viniyata) năm loại tâm pháp xác định ngoại cảnh: 1. Dục (chanda); 2. Thắng giải (adhimokṣa); 3. Niệm (smṛti);
4. Ðịnh (samādhi); 5. Huệ (prajñā), chỉ duyên (nương) theo các cảnh khác nhau mà sinh khởi.
III. 11 Thiện tâm sở (善; kuśala): 1. Tín (śraddhā); 2. Tàm (hrī); 3. Quý (apatrāpya); 4. Vô tham (a-lobha); 5. Vô sân (adveṣa); 6. Vô si (amoha); 7. Tinh tiến (vīrya); 8. Khinh an (praśrabdhi); 9. Bất phóng dật (apramāda); 10. Xả (upekśā); 11. Bất hại (avihiṃsā).
IV. 6 Căn bản phiền não tâm sở (根本煩惱; mū-lakleśa): 1. Tham (rāga); 2. Hận (pratigha); 3. Mạn (māna); 4. Vô minh (avidyā); 5. Nghi (vicikit-sā); 6. Kiến (dṛṣṭi) cũng được gọi là Ác kiến.
Ðiểm thứ sáu là Kiến cũng thường được chia ra làm năm loại: 1. Thân kiến (身見; satkāyadṛṣṭi): một kiến giải cho rằng thân thể được tạo bằng ngũ uẩn là một cái “ta” (我), là “cái của ta” (我所); 2. Biên kiến (邊見; tagrāhadṛṣṭi): một kiến giải liên hệ đến phiền não, cho rằng cái “ta” được tạo bằng ngũ uẩn là một cái gì đó thường còn, vĩnh viễn [thường kiến] hoặc ngược lại, là một cái gì đó bị đoạn diệt, không có gì tiếp nối giữa hai cuộc sống con người [đoạn kiến]; 3. Kiến thủ kiến (見取見; dṛṣṭiparā-marśa): kiến giải cho rằng một kiến giải bất thiện hoặc ngũ uẩn, cơ sở xuất phát của kiến giải bất thiện này là những điều tuyệt hảo. Kiến giải bất thiện trong trường hợp này là Thân kiến, Biên kiến; 4. Giới cấm thủ kiến (戒禁取見; śīlavrata-pa-rāmarśa): là một kiến giải cho rằng, những quy tắc xử sự sai hoặc những lời hướng dẫn tu tập sai – như tự xem mình như con thú và bắt chước thái độ của nó –, hoặc ngũ uẩn, cơ sở của những việc sai trái trên là điều hay nhất; 5. Tà kiến (邪見; mith-yādṛṣṭi): kiến phủ nhận cái gì thật sự tồn tại, thêu dệt thêm vào những gì thật sự không có.
V. 20 Tuỳ phiền não tâm sở (隨煩惱; upakleśa):
1. Phẫn (krodha); 2. Hận (upanāha), uất ức, tâm thù oán; 3. Phú (mrakṣa), che dấu tội lỗi, đạo đức giả; 4. Não (pradāśa), làm bực bội phiền nhiễu; 5. Tật (īrṣyā), ganh ghét vì thấy người ta hơn mình; 6. Xan (mātsarya), xan tham, ích kỉ; 7. Xiểm (māyā), giả dối, nói mình có những đức tính tốt mà thật ra thì không có; 8. Cuống (śāṭhya), gian lận, dối gạt, lừa lọc; 9. Kiêu (mada), tự phụ; 10. Ác (vihiṃsā); 11. Vô tàm (āhrīkya), không tôn kính, không biết hổ thẹn về việc tội lỗi đã làm; 12. Vô quý (anapa-trāpya, anapatrapā), tâm không biết sợ với tội quả, không biết hổ thẹn đối với người khác khi phạm tội; 13. Hôn trầm (styāna), tâm chìm đắm, lừ đừ, thiếu linh động, nhạy bén; 14. Trạo cử (auddhatya), hồi hộp không yên; 15. Bất tín (āśraddhyā); 16. Giải đãi (kausīdya), tâm trạng không tinh tiến, biếng nhác; 17. Phóng dật (pramāda); 18. Thất niệm (失念; muṣitasmṛtitā), chóng quên, không chú tâm; 19. Tán loạn (散亂; vikṣepa); 20. Bất chính tri (不正知; asaṃ-prajanya), hiểu biết sai.
VI. 4 Bất định tâm sở (aniyata), bất định bởi vì các tâm sở này thay đổi giá trị tuỳ theo các tâm vương. Chúng bao gồm: 1. Hối (kaukṛtya), hối hận; 2. Miên (middha), giấc ngủ; 3. Tầm (vitarka), suy nghĩ, tìm hiểu dạng thô; 4. Tứ (vicāra), suy nghĩ, tìm hiểu dạng tinh tế.
Cách phân chia như trên của Duy thức tông được xem là bước tiến triển cuối cùng trong việc phân tích, phân loại các tâm sở và cũng là bản phân loại tiêu chuẩn cho tất cả những trường phái Ðại thừa tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Tây Tạng.

Tam Sự

Từ Điển Đạo Uyển

三事; C: sānshì; J: sanji;
Có nhiều cách phân loại: 1. Giới, định và huệ; 2. Tham, sân, si; 3. Uống, ăn và quần áo (ẩm, thực, y phục 飲食衣服); 4. Kinh, luật, luận.

Tam Tam-Muội

Từ Điển Đạo Uyển

三三昧; C: sān sānmèi; J: sansanmai;
Ba loại tam-muội (Định): 1. Không tam-muội (空三昧); 2. Vô tướng tam-muội (無相三昧); 3. Vô tác tam-muội (無作三昧; theo Kim cương tam-muội kinh 金剛三昧經)

Tam Tạng

Từ Điển Đạo Uyển

三藏; S: tripiṭaka; P: tipiṭaka;
I. Là ba phần cốt tuỷ của kinh sách đạo Phật, gồm: Kinh tạng (經藏; s: sūtra-piṭaka; p: sutta-piṭaka), Luật tạng (律藏; s, p: vinaya-piṭaka), Luận tạng (論藏; s: abhi-dharma-piṭaka; p: abhidhamma-piṭaka).
Kinh tạng gồm các bài giảng của chính đức Phật hoặc các đại đệ tử, chia làm năm bộ: Trường bộ kinh (p: dīgha-nikāya), Trung bộ kinh (p: majjhima-nikāya), Tương ưng bộ kinh (p: saṃyutta-nikāya), Tăng-nhất bộ kinh (p: aṅguttara-nikāya) và Tiểu bộ kinh (p: khuddaka-nikāya).
Luật tạng chứa đựng lịch sử phát triển của Tăng-già (s, p: saṅgha) cũng như các giới luật của người xuất gia, được xem là tạng sách cổ nhất, ra đời chỉ vài mươi năm sau khi Phật nhập Niết-bàn.
Luận tạng – cũng được gọi là A-tì-đạt-ma – chứa đựng các quan niệm đạo Phật về triết học và tâm lí học. Luận tạng được hình thành tương đối trễ, có lẽ là sau khi các trường phái đạo Phật tách nhau mà vì vậy, nó không còn giữ tính chất thống nhất, mặc dù sự khác biệt giữa các trường phái không đáng kể.
Tam tạng còn được truyền lại trọn vẹn nhất chính là Tam tạng Pā-li, có lẽ xuất phát từ một bản của Trưởng lão bộ (s: sthavira) ở Trung Ấn. Theo truyền thuyết, Kinh tạng và Luật tạng bằng tiếng Pā-li được viết lại trong lần kết tập thứ nhất (năm 480 trước Công nguyên), trong đó Ưu-bà-li nói về Luật và A-nan-đà trình bày giáo pháp. Những lời thuật lại của hai vị đại đệ tử này của Phật (Mười đại đệ tử) đã trở thành cơ sở của hai tạng đó. Theo một số tài liệu thì Luận tạng cũng hình thành ngay sau đó. Ngoài văn hệ Pā-li, ngày nay người ta cũng còn các tạng kinh, luật bằng Phạn ngữ (sanskrit), được Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) lưu truyền, nhất là ở những vùng Tây Bắc Ấn Ðộ.
Kinh sách của các tông phái khác như Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika) và Pháp Tạng bộ (s: dhar-maguptaka) ngày nay chỉ còn trong bản chữ Hán. Các kinh sách quan trọng của Phật giáo Trung Quốc và Nhật Bản phần lớn đều xuất phát từ Pháp Tạng bộ. Các bộ này không xếp thành hệ thống nghiêm khắc như những tạng Pā-li và qua thời gian cũng có thay đổi. Danh mục cũ nhất về các Kinh tạng vào năm 518 (sau Công nguyên) ghi lại 2113 tác phẩm. Toàn bộ kinh sách đó được in lại lần đầu trong năm 972 (Ðại chính tân tu đại tạng kinh, Cam-châu-nhĩ/Ðan-châu-nhĩ).
II. Một danh hiệu dành cho những Cao tăng, những vị Đại sư được xem là tinh thông Tam tạng, như vậy là thông suốt hết tất cả những thánh điển nhà Phật.
III. Một cách gọi kinh điển, giáo lí của hàng Nhị thừa.
VI. Chỉ ba loại hành giả: Hành giả Thanh Văn (聲聞), hành giả Duyên Giác (緣覺) và hành giả Bồ Tát (菩薩).

Tam Tế

Từ Điển Đạo Uyển

三細; C: sānxì; J: sansai;
“Ba tinh tế” hoặc “Ba tướng tinh tế”. Là cách phân chia Vô minh thành ba thành phần tinh tế, được tìm thấy trong luận Đại thừa khởi tín (大乘起信論): 1. Vô minh nghiệp tướng (無明業相), tướng vi tế của nghiệp, được thúc đẩy bởi vô minh; 2. Năng kiến tướng (能見相), là tướng vi tế của kẻ nhìn, tâm thức chủ quan; 3. Cảnh giới tướng (境界相), tướng vi tế của thế giới khách quan. Tuỳ người cảm nhận (năng kiến), cảnh giới trình hiện một cách sai lạc. Chức năng của những khía cạnh nêu trên rất vi tế, đối nghịch với Lục thô (六麁), sáu tướng thô trọng (theo Khởi tín luận 起信論).

Tam Tế

Từ Điển Đạo Uyển

三際; C: sānjì; J: sanzai;
“Ba thời kì”. 1. Trước, giữa, và sau hoặc là dĩ vãng, hiện tại và vị lai; 2. Ba thế giới, thời gian vô hạn lượng.

Tam Tế Lục Thô

Từ Điển Đạo Uyển

三細六麁; C: sānxì liùcū; J: sanzairokuso;
“Ba tướng vi tế và sáu tướng thô thiển” được giảng thuyết trong luận Đại thừa khởi tín (大乘起信論).

Tam Thân

Từ Điển Đạo Uyển

三身; C: sānshēn; J: sanshin; S: trikāya;
Ba thân

Tám Thắng Xứ

Từ Điển Đạo Uyển

Thắng xứ: S, P: abhibhāvāyatana;
Tám phép thiền định để vượt dục giới bằng cách làm chủ các thụ tưởng. Các phép thiền định này được trình bày rất sớm trong các kinh sách đạo Phật. Tám thắng xứ là: 1. Quán nội sắc, quán ngoại sắc có hạn lượng. 2. Quán nội sắc, quán ngoại sắc vô hạn lượng. Hai giai đọạn này giúp hành giả từ bỏ lòng ham muốn các sắc và tương ưng cấp 1 của Tám giải thoát (s: aṣṭavimokṣa). 3. Quán vô sắc ở nội tâm, quán ngoại sắc có hạn lượng. 4. Quán vô sắc ở nội tâm, quán ngoại sắc vô hạn lượng. Hai giai đoạn này giúp hành giả kiên cố chính định và tương ưng với cấp 2 của Tám giải thoát. Trong giai đoạn 5 đến 8, hành giả quán vô sắc ở nội tâm, thấy ngoại sắc màu xanh, vàng, đỏ, nhằm ngăn chận lòng ham muốn sắc thể đẹp xấu. Các giai đoạn 5-8 tương với cấp thứ ba của Tám giải thoát và cấp 5-8 của phép quán biến xứ (p: kasiṇa).
“Quán nội sắc” có nghĩa là lựa một chỗ lớn (vô hạn) hay chỗ bé (có hạn) trên thân và tập trung quán sát nó, sau nhiều lần thấy nó chỉ là phản ánh của tâm. Trong giai đoạn 3. và 4., hành giả lựa một ngoại sắc (thí dụ một cánh hoa). Lựa ngoại sắc thì nên lấy một ngoại sắc nhỏ dành cho người có tâm bất định, ngoại sắc lớn dành cho người có tâm si mê, ngoại sắc đẹp dành cho người hay từ chối, ngoại sắc xấu dành cho người còn tham dục.

Tám Thánh đạo

Từ Điển Đạo Uyển

S: ārya-aṣṭāṅgika-mārga; P: ariya-aṭṭhāṅgika-magga;
Bát chính đạo

Tam Thánh Huệ Nhiên

Từ Điển Đạo Uyển

三聖慧然; C: sānshèng huìràn; J: sanshō enen; tk. 9;
Thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ thượng thủ nối pháp của Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền. Sư cũng là người biên soạn những pháp ngữ của Lâm Tế trong Lâm Tế ngữ lục.
Sau khi được Lâm Tế ấn khả, Sư chu du khắp nơi, tiếng tăm lừng lẫy. Sư thăm viếng nhiều tùng lâm và đến đâu cũng được tiếp đãi trọng hậu. Công án 49 trong Bích nham lục thuật lại cuộc gặp gỡ của Sư với Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Sư hỏi: “Cá vàng thoát lưới lấy gì làm thức ăn?” Tuyết Phong đáp: “Ðợi ông ra khỏi lưới rồi đến đây sẽ nói.” Sư bảo: “Là thiện tri thức của 1500 người mà thoại đầu cũng không biết.” Tuyết Phong bèn nói: “Lão tăng trụ trì nhiều việc.”
Ðến gặp Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn. Hương Nghiêm hỏi: “Từ đâu đến?” Sư đáp: “Từ Lâm Tế đến.” Hương Nghiêm hỏi: “Ðem được kiếm của Lâm Tế đến chăng?” Sư chẳng nói, lấy toạ cụ đánh Hương Nghiêm rồi đi. Hương Nghiêm im lặng mỉm cười.
Ðến viếng Thiền sư Ðức Sơn Tuyên Giám. Vừa thấy Sư trải toạ cụ ra, Ðức Sơn liền bảo: “Chớ có trải cái khăn phủi bụi, nơi đây không có canh cặn cơm thừa.” Sư đáp: “Dù có cũng không có chỗ đổ.” Ðức Sơn liền đánh, Sư chụp gậy và đẩy thẳng đến giường thiền. Ðức Sơn cười to. Sư nói: “Trời xanh!” rồi xuống nhà tham thiền.
Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch rất mến tài hùng biện của Sư. Lúc mới gặp, Ngưỡng Sơn hỏi: “Ông tên gì?” Sư thưa: “Huệ Tịch.” Ngưỡng Sơn ngạc nhiên bảo: “Huệ Tịch là tên của ta.” Sư liền nói: “Huệ Nhiên.” Ngưỡng Sơn cười lớn.
Một ông quan đến thăm, Ngưỡng Sơn hỏi: “Quan ở vị nào?” Quan thưa: “Dẹp quan.” Ngưỡng Sơn dựng phất tử hỏi: “Lại dẹp được cái này chăng?” Ông quan không đáp được và trong chúng cũng không ai trả lời vừa lòng Ngưỡng Sơn. Lúc đó Sư đang nằm tại Niết-bàn đường (nơi nuôi dưỡng bệnh nhân), Ngưỡng Sơn sai thị giả đến trình. Sư đáp: “Hoà thượng có việc.” Ngưỡng Sơn lại sai thị giả hỏi: “Chưa biết có việc gì?” Sư lại đáp: “Tái phạm chẳng tha.” Nghe vậy Ngưỡng Sơn thầm nhận và có ý định truyền Phất tử của Bách Trượng lại cho Sư (Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải trao cho Hoàng Bá Hi Vận thiền bản bồ đoàn, trao cho Quy Sơn Linh Hựu phất tử, Quy Sơn lại truyền cho Ngưỡng Sơn) nhưng Sư từ chối không nhận vì đã có thầy. Ngưỡng Sơn nhân đây mới biết Sư là môn đệ của Lâm Tế.
Sau, Sư trụ trì tại Viện Tam Thánh, học chúng đến rất đông. Không biết Sư tịch nơi nào, năm nào.

Tam Thập Nhị Tướng

Từ Điển Đạo Uyển

三十二相; C: sānshíèr xiāng; J: sanjūni sō; S: dvātriṃśan mahā-puruṣa-lakṣaṇāni.
Ba mươi hai tướng đặc thù của một hóa thân Phật. Có nhiều kinh luận khác nhau miêu tả, trình bày ba mươi hai tướng này khác nhau, nhưng một trong những cách trình bày thường gặp nhất được tìm thấy trong Du-già sư địa luận (瑜伽師地論; s: yogācārabhū-mi-śāstra) bao gồm:
1. Lòng bàn chân phẳng (túc hạ an bình lập tướng 足下安平立相; s: supratiṣṭhita-pāda); 2. Bánh xe pháp dưới lòng bàn chân (túc hạ nhị luân tướng 足下二輪相; s: cakrāṅkita-hasta-pāda-tala); 3. Ngón tay thon dài (trường chỉ tướng 長指相; s: dīr-ghāṅguli); 4. Bàn chân thon (túc cân phu trường tướng 足跟趺長相; s: āyata-pāda-pārṣṇi); 5. Ngón tay ngón chân cong lại (thủ túc chỉ man võng tướng 手足指縵網相; s: jālāvanaddha-hasta-pāda); 6. Tay chân mềm mại (thủ túc nhu nhuyễn tướng 手足柔軟相; s: mṛdu-taruṇa-hasta-pāda-tala); 7. Sống (mu) chân cong lên (túc phu cao mãn tướng 足趺高滿相; s: ucchaṅkha-pāda); 8. Cặp chân dài thon như chân sơn dương (y-ni-diên-đoán tướng 伊泥延踹相; s: aiṇeya-jaṅgha); 9. Đứng thẳng tay dài quá đầu gối (正立手摩膝相; s: sthi-tānavanata-pralamba-bāhutā); 10. Nam căn ẩn kín (âm tàng tướng 陰藏相; s: kośopagata-vasti-guhya); 11. Dang tay ra rộng dài bằng thân mình (thân quảng trường đẳng tướng 身廣長等相; s: nyagrodha-parimaṇḍala); 12. Lông đứng thẳng (mao thượng hướng tướng 毛上向相; s: ūr-dhvaṃga-roma); 13. Mỗi lỗ chân lông có một cọng lông (nhất nhất khổng nhất mao sinh tướng 一一孔一毛生相; s: ekaika-roma-pradakṣiṇāvarta); 14. Thân vàng rực (kim sắc tướng 金色相; s: suvarṇa-varṇa); 15. Thân phát sáng (đại quang tướng 大光相); 16. Da mềm mại (tế bạc bì tướng 細薄皮相; s: sūkṣma-suvarṇa-cchavi); 17. Tay, vai và đầu tròn tương xứng (thất xứ long mãn tướng 七處隆滿相; s: sapta-utsada); 18. Hai nách đầy đặn (lưỡng dịch hạ long mãn tướng 兩腋下隆滿相; s: citāntarāṃsa); 19. Thân người như sư tử (thượng thân như sư tử tướng 上身如獅子相; s: siṃha-pūrvārdha-kāya); 20. Thân thẳng đứng (đại trực thân tướng 大直身相; s: ṛjugātratā); 21. Hai vai đầy đặn mạnh mẽ (kiên viên hảo tướng 肩圓好相; susaṃvṛta-skandha); 22. Bốn mươi cái răng (tứ thập xỉ tướng 四十齒相; s: catvāriṃśad-danta); 23. Răng đều (xỉ tề tướng 齒齊相; s: sama-danta); 24. Răng trắng (nha bạch tướng 牙白相; s: suśukla-danta); 25. Hàm sư tử (sư tử giáp tướng 獅子頰相; s: siṃha-hanu); 26. Nước miếng có chất thơm (vị trung đắc thượng vị tướng 味中得上味相; s: rasa-rasāgratā); 27. Lưỡi to dài (đại thiệt tướng 大舌相; s: prabhūta-tanu-jihva); 28. Tiếng nói tao nhã (phạm thanh tướng 梵聲相; s: brahma-svara); 29. Mắt xanh trong (chân thanh nhãn tướng 眞青眼相; s: abhinīla-netra); 30. Mắt giống mắt bò (ngưu nhãn tiệp tướng 牛眼睫相; s: go-pakṣmā); 31. Lông trắng giữa cặp chân mày (bạch mao tướng 白毛相; s: ūrṇā-keśa); 32. Một khối u trên đỉnh đầu (đỉnh kế tướng 頂髻相; s: uṣṇīṣa-śiraskatā).

Tam Thập Tam Thiên

Từ Điển Đạo Uyển

三十三天; C: sānshísān tiān; J: sanjūsan ten; S: trāyastriṃśa.
Ba mươi ba vị Thiên sống trên đỉnh của núi Tu-di, trong tầng trời thứ hai của sáu tầng trời cõi dục (Lục dục thiên 六欲天). Đế-thích thiên ngự tại trung tâm với tám vị Thiên khác ở mỗi hướng trong bốn hướng xung quanh.

Tam Thập Thất đạo Phẩm

Từ Điển Đạo Uyển

三十七道品; C: sānshíqī dàopǐn; J: sanjū-nanadōhin;
Ba mươi bảy thành phần hỗ trợ con đường giác ngộ, là những cách tu tập giúp hành giả đạt bồ-đề. Chúng bao gồm: Tứ niệm xứ (四念處), Tứ chính cần (四正勤), Tứ thần túc (四神足), Ngũ căn (五根), Ngũ lực (五力), Thất giác chi (七覺支) và Bát thánh đạo (八聖道).

Tam Thất Nhật

Từ Điển Đạo Uyển

三七日; C: sānqī rì; J: sanshichinichi;
1. Một chu kì bao gồm 21 ngày; 2. Ngày thứ hai mươi mốt.

Tam Thế

Từ Điển Đạo Uyển

三世; C: sānshì; J: sansei;
Ba thế giới; ba thời; ba thời dĩ vãng, hiện tại và vị lai (s: try-adhvan, try-adhvahak, loka-traya). Cũng gọi là Tam tế (三祭).

Tam Thiện Căn

Từ Điển Đạo Uyển

三善根; C: sān shàngēn; J: san zenkon;
Có hai cách phân chia: 1. Ba thiện căn của Vô tham (無貪), vô sân (無瞋), và vô si (無癡). Chúng được gọi như vậy bởi gì được xem là những tâm trạng căn bản của thiện lành. Theo Du-già hành tông thì tất cả những nhân tố thiện lành đều xuất phát từ ba thiện căn này. 2. Thí (施), Từ (慈) và Huệ (慧). Chúng được xem là đối nghịch với Tam độc (三毒).

Tam Thiên đại Thiên Thế Giới

Từ Điển Đạo Uyển

三千大千世界; C: sānqiān dàqiān shìjiè; J: sanzen daisen sekai; S: trisāhasra-mahāsāha-sra-loka-dhātu.
Hàng tỉ thế giới, tạo thành một cõi Phật. Là thế giới bao gồm đục giới và tầng thứ nhất của cung trời thuộc Sắc giới. Một ngàn nhân một ngàn nhân một ngàn là một tỉ thê giới, thường được viết ngắn là Tam thiên thế giới (三千世界). Đây là một cách mô tả tính chất rộng mở mênh mông, xuyên suốt của toàn thể vũ trụ theo vũ trụ quan của người Ấn thời xưa.

Tam Thỉnh

Từ Điển Đạo Uyển

三請; C: sānqǐng; J: sanshō;
Ba lời thỉnh cầu. Hỏi ba lần. Trong những bài kinh, đức Phật thường được thỉnh cầu ba lần trước khi ngài thuyết pháp.

Tam Thời

Từ Điển Đạo Uyển

三時; C: sānshí; J: sanji;
Ba thời; cách hệ thống hoá, phân chia giáo pháp của Phật Thích-ca Mâu-ni thành ba thời đoạn, ba chu kì: Chính pháp (正法); Tượng pháp (像法) và Mạt pháp (末法). Chính tượng mạt (正像末).

Tam Thời Giáo Phán

Từ Điển Đạo Uyển

三時教判; C: sānshí jiāopàn; J: sanji kyōhan;
Cách phân loại giáo lí thành ba thời. Chỉ cách phân loại giáo lí của đức Phật Thích-ca Mâu-ni thành ba thời. Pháp tướng tông (法相宗) chủ trương ba thời giáo: Phật thuyết các pháp đều hiện hữu, đều trống không và Phật thuyết trung đạo. 1. Giáo lí của thời kì đầu (hữu) chủ trương tồn tại trên cơ sở nhân duyên, nhưng những thành phần (pháp) của sự tồn tại này thật sự tồn tại. Giáo lí này được giảng dạy trong những bộ kinh A-hàm và những bộ kinh Tiểu thừa khác; 2. Giáo lí thời kì thứ hai, chủ trương nguồn gốc của tất cả vạn vật đều là trống không. Thời kì này cũng được gọi là “thời kì phủ định”, là thời điểm bắt đầu của giáo lí Đại thừa, chuyển đổi dần từ giáo lí Tiểu thừa. Kinh điển hệ Bát-nhã Ba-la-mật-đa là những ví dụ tiêu biểu cho giáo lí thời kì này; 3. Giáo lí thời kì thứ ba được gọi là “Chân không”: Trung đạo được giải thích một cách xác định trong những bộ kinh như Hoa nghiêm và Giải thâm mật. Thời kì này cũng được gọi là “Chân Đại thừa”.

Tam Thụ

Từ Điển Đạo Uyển

三受; C: sānshòu; J: sanju;
Ba cảm thụ, cảm xúc: An vui, đau khổ, và chẳng vui chẳng khổ.

Tam Thừa

Từ Điển Đạo Uyển

三乘; C: sānshèng; J: sanjō; S: triyāna;
Ba thừa

Tam Thừa Thánh Nhân

Từ Điển Đạo Uyển

三乘聖人; C: sānshèngshèngrén; J: sanjō shōnin;
Chỉ ba hàng Thánh nhân của ba cỗ xe: Thanh Văn (聲聞; s: śrāvaka), Duyên Giác (縁覺; s: pratyekabuddha) và Bồ Tát (菩薩; s: bodhisattva).

Tam Tính

Từ Điển Đạo Uyển

三性; hoặc Tam tướng; S: trilakṣaṇa; P: ti-lakkhaṇa;
Ba tính

Tam Trí

Từ Điển Đạo Uyển

三智; C: sānzhì; J: sanchi;
Ba loại trí huệ. Có nhiều cách phân loại trong nhiều kinh luận khác nhau nên mối liên hệ trong mỗi trường hợp phải được chú ý:
I. 1. Pháp trí (法智), trí huệ hiểu biết chư pháp; 2. Tỉ trí (比智), trí hiểu biết, phân biệt vạn vật sai biệt và 3. Đẳng trí (等智), trí thế tục (theo A-tì-đàm Tì-bà-sa luận 阿毘曇毘婆沙論).
II. 1. Nhất thiết trí (一切智), trí huệ hiểu biết tất cả; 2. Đạo chủng trí (道種智), trí biết được những con đường tu tập khác nhau; 3. Nhất thiết trí trí (一切智智), trí thông đạt tất cả những loại trí huệ khác. Ba loại trí này tương quan đến ba Thánh quả Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát (theo Tứ giáo nghi chú 四教儀註).
III. 1. Văn huệ (trí); 2. Tư huệ và Tu huệ (theo Du-già luận 瑜伽論, Tam huệ).
VI. Ba loại trí được dạy trong Đại trí độ luận (大智度論): 1. Nhất thiết trí (一切智) của hàng Nhị thừa (Thanh Văn), là trí hiểu biết tất cả những khía cạnh khác biệt của chư pháp; 2. Đạo chủng trí (道種智) của hàng Bồ Tát, là trí hiểu biết khía cạnh toàn vẹn của chư pháp và 3. Nhất thiết chủng trí (一切種智) của chư Phật, trí huệ toàn hảo biết được tất cả khía cạnh của các pháp.

Tam Trú (trụ)

Từ Điển Đạo Uyển

三住; C: sānzhù; J: sanjū; S: trayo vihārāḥ; P: tayo vihārā.
Ba chỗ trú của tâm: Thiên trú, Phạm trú và Huệ trú. Nói một cách khác: Ba chỗ an trú thiện hảo của tâm (theo Du-già luận 瑜伽論).

Tam Tụ

Từ Điển Đạo Uyển

三聚; C: sānjù; J: sanju;
Ba loại hội tụ, ba nhóm: 1. Chính tính định tụ (正性定聚): Nhóm sẽ theo con đường chân chính; 2. Tà tính định tụ (邪性定聚): Nhóm sẽ theo con đường tà và 3. Bất định tụ (不定聚): Nhóm sẽ theo con đường bất định.

Tam Vật

Từ Điển Đạo Uyển

三物; J: sanmotsu;
Chỉ ba vật mà một vị Lão sư nhận được từ Bản sư của mình sau một thời gian hoằng hoá đạt kết quả tốt đẹp. Ai chính thức được công nhận là Chính sư (j: shōshi) và đã hướng dẫn những người khác trên thiền đạo với kết quả tốt đẹp, người ấy sẽ được trao tam vật trong một buổi lễ. Thời xưa, tiêu chuẩn để được trao tam vật được đặt rất cao, rất nghiêm ngặt.
Trong buổi lễ này, pháp danh của vị được trao tam vật được ghi bằng ba cách khác nhau trên ba tấm giấy (vì vậy mà có tên là tam vật, kích thước khoảng 30×100 cm) và trên ba tấm giấy này, hệ thống truyền thừa từ Phật Thích-ca đến người được truyền trao tam vật được ghi lại.

Tam Vô Lậu Căn

Từ Điển Đạo Uyển

三無漏根; C: sān wúlòugēn; J: san murō-kon;
Ba căn cơ không bị ô nhiễm: 1. Hiểu được nguyên tắc của Tứ đế (四諦) mà trước đó chưa hề biết; 2. Nghiên cứu thực hiện Tứ đế để tiêu diệt phiền não; 3. Biết là mình đã chứng ngộ được tứ đế (theo Câu-xá luận 倶舎論).

Tam Vô Số đại Kiếp

Từ Điển Đạo Uyển

三無數大劫; C: sānwúshǔdàjié; J: sanmushudaikō;
Ba kiếp lớn vô số kể, Tam a-tăng-kì kiếp (三阿僧祇劫).

Tam Vô Tính

Từ Điển Đạo Uyển

三無性; C: sān wúxìng; J: sanmushō;
Ba loại vô tính. Đối nghịch với Tam tính (Biến kế sở chấp tính, Y tha khởi tính và Viên thành thật tính), Ba loại vô tính này được kiến lập trên cơ sở các pháp đều không có một cơ sở tự tồn. 1. Tướng vô tính (相無性): Các tướng, các trình hiện, những gì thấy được đều không thật, ví như một sợi dây thừng trông giống như một con rắn; 2. Sinh vô tính (生無性): Sinh thành, tồn tại không có một cơ sở tự tồn nào. Sinh thành trình hiện tuỳ nhân duyên, và sự tồn tại của nó chỉ tạm thời; 3. Thắng nghĩa vô tính (勝義無性): Sự thật tối thượng cũng vô tính.

Tam Vô Tính Luận

Từ Điển Đạo Uyển

三無性論; C: sānwúxìng lùn; J: sanmushō ron;
Luận nói về thuyết Tam vô tính, được Chân Đế dịch sang Hán văn, gồm hai quyển. Tác phẩm này đặc biệt chú trọng đến thuyết Tam vô tính trong hệ thống Du-già hành. Tác giả được xem là Vô Trước (無著) hoặc Thế Thân (世親).

Tam Xa

Từ Điển Đạo Uyển

三車; C: sānchē; J: sansha;
“Ba cỗ xe”. Một ẩn dụ trong kinh Pháp Hoa, câu chuyện “căn nhà cháy”, cụ thể như sau: Một vài đứa trẻ đang chơi trong nhà, mà không ngờ nó căn nhà đang cháy. Bố của chúng dụ chúng ra khỏi nhà bằng cách nói bên ngoài có ba chiếc xe, một chiếc xe kéo bởi con dê, một chiếc thứ hai được kéo bởi con hưu và chiếc thứ ba được kéo bởi con bò. Và khi những đứa trẻ ra khỏi nhà, chúng chỉ thấy tất cả chỉ là một chiếc xe bò trắng. Ba cỗ xe này là ví dụ cho Tam thừa: Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát thừa. Câu chuyện này được đề ra để giảng giải rằng, mặc dù có Đại thừa Tiểu thừa trong giáo lí nhà Phật, nhưng chung quy thì tất cả những phương tiện đều dẫn đến giác ngộ như nhau. Căn nhà cháy tượng trưng cho biển sinh tử luân hồi, bị vây phủ bởi phiền não vô minh. Những đứa trẻ là hành giả của Tam thừa. Cỗ xe kéo bởi con dê tượng trưng cho Thanh văn thừa, xe với con hưu là Duyên Giác thừa và xe bò tượng trưng cho Bồ Tát thừa. Và khi bọn trẻ ra khỏi nhà thì những cỗ xe bò trắng giống nhau đã được chuẩn bị để trao cho chúng. Đây là những ẩn dụ chỉ lòng đại từ đại bi của đức Phật khi ngài gạt bỏ những phương tiện tam thời, dẫn dắt chúng sinh trở về một Phật thừa duy nhất. Các đại biểu Phật giáo Trung Quốc được chia thành hai nhóm: nhóm thứ nhất với quan điểm xe bò trước khi nhóm trẻ thơ ra khỏi nhà và xe bò trắng to (như vậy là xe thứ tư) là một (và như vậy thì chỉ có ba cỗ xe). Thuộc vào nhóm này là tông Pháp tướng và tông Tam luận. Nhóm thứ hai, với tông Hoa Nghiêm và Thiên Thai là đại biểu, quan niệm rằng, cỗ xe trắng lớn sau này khác cỗ xe bò trước đây. Như vậy thì “Tam thừa gia” quan niệm Bồ Tát thừa và Phật thừa như nhau, trong khi “Tứ thừa gia” lại quan niệm chúng khác nhau.

Tam Y

Từ Điển Đạo Uyển

三衣; S: tricīvara; y phục ba phần, cũng được gọi là “Nạp y” (衲衣; s: kanthā) bộ áo vá chắp;
Y phục của một Tỉ-khâu hoặc Tỉ-khâu-ni. Phần trong (dưới) được gọi là An-đà-hội (安陀會; s: antaravāsaka) là một mảnh vải vá (năm mảnh vải vá lại) cuộn lại dùng làm đồ lót dưới. Phần ngoài là Uất-đa-la-tăng (鬱多羅僧; s: uttarāsaṅga) cũng là một tấm vải vá dùng để khoác ngoài để đi khất thực. Phần thứ ba là Tăng-già-lê (僧伽梨; s: saṅgāti), một tấm vải khoác ngoài, chỉ được dùng trong những ngày lễ và được vá từ 9-25 mảnh vải nhỏ. Màu của nạp y thường là màu vàng nhưng cũng thay đổi tuỳ theo tông phái, theo truyền thống. Tăng, ni tại Trung Quốc thường mang màu xanh, nâu. Tại Tây Tạng người ta chuộng màu đỏ, tại Nhật màu đen. Tất cả những y phục này đều phải được may từ nhiều mảnh vải để nhấn mạnh truyền thống sống cơ hàn, vô sản của một tỉ-khâu.

Tam-Da-Tam-Phật

Từ Điển Đạo Uyển

三耶三佛; C: sānyésānfó; J: sanyasanbut-su;
Tam-miệu Tam-phật-đà.

Tam-Ma-Bát-đề

Từ Điển Đạo Uyển

三摩鉢提; C: sānmóbōtí; J: sanmapattei;
Một cách dịch âm của chữ Phạn samāpatti. Tam-ma-bát-để (三摩鉢底).

Tam-Ma-Bát-để

Từ Điển Đạo Uyển

三摩鉢底; C: sānmóbōdī; J: sanmapattei;
Cách dịch âm của chứ Phạn samāpatti. Một thuật ngữ thiền định. Một trạng thái định. Một tâm thức cân bằng, đạt được qua sự tập trung chuyên nhất, hội tụ những năng lực trong tâm. Được dịch ý là Đẳng chí (等至).

Tam-Ma-đề

Từ Điển Đạo Uyển

三摩提; C: sānmótí; J: sanmaji;
Một cách phiên âm của chữ Phạn và Pa-li samādhi, cũng được phiên âm là Tam-muội (三昧) và Tam-ma-địa (三摩地). Dịch ý là Định.

Tam-Miệu Tam-Bồ-đề

Từ Điển Đạo Uyển

三藐三菩提; C: sānmiǎo sānpútí; J: sammyaku sambodai;
Cách dịch âm từ chữ Phạn saṃyak-saṃbodhi, có nghĩa là “giác ngộ một cách chân chính”, chỉ sự giác ngộ viên mãn của một vị Phật; được Hán dịch ý là Đẳng chính giác (等正覺) và Chính đẳng giác (正等覺). Thuật ngữ này thường được thấy trong biểu thị A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề (阿耨多羅三藐三菩提; s: anuttarā-saṃyak-saṃbodhi).

Tam-Miệu-Tam-Một-đà

Từ Điển Đạo Uyển

三藐三沒馱; C: sānmiǎosānmòtuó; J: san-myakusanbodda;
Tam-miệu Tam-phật-đà (三藐三佛陀).

Tam-Miệu-Tam-Phật

Từ Điển Đạo Uyển

三藐三佛; C: sānmiǎosānfó; J: sanmyaku-sanbutsu;
Tam-miệu Tam-phật-đà (三藐三佛陀).

Tam-Miệu-Tam-Phật-đà

Từ Điển Đạo Uyển

三藐三佛陀; C: sānmiǎosānfótuó; J: san-myaku sambutta; S: samyak-saṃbuddha; P: sammā-sambuddha;
“Một vị Phật giác ngộ viên mãn”. Một trong Mười danh hiệu của một vị Phật. Cũng được dịch âm là Tam-miệu Tam-một-đà (三藐三沒馱), Tam-da Tam-phật (三耶三佛), Tam-da Tam-phật-đà (三耶三佛陀), và dịch nghĩa là Chính Biến Tri (正遍知), Chính Đẳng Giác (正等覺), Chính Đẳng Giác giả (正等覺者).

Tam-Muội

Từ Điển Đạo Uyển

三昧; C: sānmèi; J: sammai, zammai; S, P: samādhi; J: zan-mai; dịch âm, dịch nghĩa là Ðịnh;
Thuật ngữ dịch âm từ chữ Phạn samādhi, có nghĩa là “Gom lại”, “phối hợp tâm”, “Tĩnh lự một cách chuyên chú”, “Hấp thụ toàn hảo”. Một cấp bậc tập trung thiền định cao. Ðịnh.

Tam-Muội Chính Thụ

Từ Điển Đạo Uyển

三昧正取; C: sānmèi zhèngqǔ; J: sanmai-shōju;
1. Hoàn toàn tin tưởng không nghi ngờ giáo lí của một Thánh nhân đã đạt một cấp bậc thiền định thâm sâu; 2. Định, cấp bậc tập trung cao.

Tam-Muội-Da

Từ Điển Đạo Uyển

三昧耶; C: sānmèiyé; J: sanmaiya;
Một cách phiên âm chữ Phạn “samaya”: 1. Thời gian, đặc biệt là một khoảng thời gian đặc thù; 2. Một cuộc hội họp, gặp gỡ; 3. Giáo lí cơ bản của một trường phái.

Tam-Muội-Da Hình

Từ Điển Đạo Uyển

三昧耶形; C: sānmèiyéxíng; J: sanmaiya-gyō;
Một hình ảnh với giá trị biểu tượng. Trong đạo Phật thì đây chính là những biểu tượng tỏ bày lời nguyện ước của chư Phật, chư Bồ Tát như cung, tên, gậy, bình hoặc những thủ Ấn.

Tấn Thuỷ

Từ Điển Đạo Uyển

晉水; C: jìn shuĭ; J: shinsui;
Tên gọi khác của Tịnh Nguyên (淨源), Tăng sĩ tông Hoa Nghiêm trong thời kì Phật giáo phục hưng đời Tống.

Tần-Bà-Sa-La

Từ Điển Đạo Uyển

擒婆娑羅; S, P: bimbisāra;
Vua xứ Ma-kiệt-đà (magadha) trong thời Phật Thích-ca Mâu-ni. Năm 30 tuổi – nhân nghe một bài giảng của Ðức Phật – ông trở thành tín đồ phụng sự đạo pháp. Ông là người tặng đức Phật Trúc Lâm (p: veḷuvana), nơi Ðức Phật và Tăng-già thường dừng chân. Tần-bà-sa-la sau bị con trai là A-xà-thế (p: ajātasattu) giết chết.

Tan-Tê-Pa

Từ Điển Đạo Uyển

S: taṅtepa; “Người mê cờ bạc”;
Một trong 84 vị Tất-đạt (siddha) Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.
Ông ở xứ Câu-thướng-di (s: kauśāmbī), thuộc giai cấp thấp kém, ham đánh bạc. Khi thua hết gia sản, không còn ai cho mượn tiền đánh bạc, ông buồn rầu rút lui sống trên bãi đốt xác. Một vị Du-già sư đi ngang, khuyên ông tu tập, ông trả lời có phép nào tu tập mà vẫn đánh bạc được thì ông mới chịu tu. Vị này liền dạy ông phép quán tưởng, “xem thế giới trống rỗng như túi tiền của mình, nếu có thể phá tan gia sản bằng con súc sắc, thì cũng thể phá tan khái niệm bằng tri kiến. Sự mất mát chính là niềm vui!”
Như ngươi mất hết tiền,
lúc đánh trò súc sắc,
hãy đánh mất tư duy,
về cả ba cõi giới,
hãy chơi trò súc sắc,
của tâm thức vô niệm.
Như bị con nợ đánh,
hãy đánh hạ tư duy,
vào không gian trống rỗng.
Ngồi trên bãi đốt xác,
mà tự hoà tan mình
trong Ðại lạc mênh mông.

H 51: Tan-tê-pa (taṅtepa) đang trình bày tính Không (s: śūnyatā).
Tan-tê-pa nghe lời tu phép quán niệm và đạt tri kiến. Sau khi đạt Tất-địa, ông biến mất vào thế giới của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī). Chứng đạo ca của ông có những dòng sau:
Mọi tư duy, tưởng tượng
đã biến mất tan vào,
trong thức vô biên xứ.
Mọi kinh nghiệm hiện tượng,
tan biến trong tính Không.
Trong 84 vị Tất-đạt, Tan-tê-pa (kẻ đánh bạc) làm ta nhớ đến Khát-ga-pa (khaḍgapa), người ăn trộm và Tha-ga-na-pa (thaganapa), người mang tật nói dối.

Tan-Ti-Pa

Từ Điển Đạo Uyển

S: tantipa; “Người thợ dệt”;
Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong đầu thế kỉ thứ 9.
Ông là một thợ dệt, có nhiều con. Ðến lúc được 89 tuổi, ông bị con cái lại ruồng bỏ, cho vào ở một túp lều trong vườn. Ngày nọ, một vị Ma-ha Tất-đạt là Ja-lan-đa-ra (s: jālandhara) đến nhà ông khất thực, được con cái của ông bố thí thức ăn và mời ở lại nghỉ qua đêm. Ông gặp vị Du-già sư này và than: “Cuộc đời thật bạc bẽo, nuôi con cho lớn khôn rồi chúng nó hổ thẹn với người ngoài vì có ông cha già nua, đem dấu trong vườn để không ai phải nhìn.” Ja-lan-đa-ra khuyên ông: “Tất cả những gì chúng ta làm là một trò chơi, một trò chơi có ngày phải chấm dứt; ai bước vào cõi này đều cũng phải chịu đau khổ; tất cả, và thật là tất cả đều là Ảo ảnh, không có tự tính. Niết-bàn mới là tịch tịnh, là hạnh phúc”, rồi hỏi: “Ông có muốn tu tập chuẩn bị đón cái chết không?” Người thợ dệt nhận lời ngay và Ja-lan-đa-ra truyền cho ông bí mật của Hô Kim cương tan-tra (s: hevajra-tantra) và phép thiền quán. Sau mười hai năm tu tập, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahā-mudrāsiddhi). Về sau con cái tình cờ thấy ông được thiên nhân hầu hạ mới biết cha mình đắc đạo. Nhờ phép thần, ông trẻ lại và sống thêm 16 năm nữa. Trong thời gian này, ông giáo hoá rất nhiều người và sau đó được lên cõi của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī). Thánh đạo ca của Tan-ti-pa như sau:
Căng ngang rồi căng dọc,
là cách dệt thế gian.
Còn ta, với Ðạo sư,
dệt tấm vải chứng thật,
bằng sợi chỉ Năm trí.
Lược là lời Khai thị,
Khung là chính tri kiến,
toàn hảo về tính Không
Dệt chiếc áo Pháp thân,
từ không gian vô tận,
và tri kiến thuần tịnh.

Tan-Tra

Từ Điển Đạo Uyển

S: tantra; cũng được gọi theo âm Hán Việt là Ðát-đặc-la (怛特羅), nguyên nghĩa “tấm lưới dệt”, “mối liên hệ”, “sự nối tiếp”, “liên tục thống nhất thể”, đôi lúc được dịch là Nghi quỹ;
Một danh từ trừu tượng, khó dịch nên phần lớn các ngôn ngữ trên thế giới (Anh, Pháp, Ðức) đều không có từ tương ưng. Trong Phật giáo Tây Tạng, Tan-tra chỉ tất cả các kinh sách về nhiều ngành khác nhau (Tan-tra y học, Tan-tra thiên văn…), nhưng trong nghĩa hẹp Tan-tra chỉ tất cả các sách vở nói về phép tu thiền định của Kim cương thừa và cũng được dùng để chỉ những phép tu thiền định này. Phép tu luyện Tan-tra có tính chất kinh nghiệm cá nhân, và thường dựa trên ba khái niệm: Nhân, Ðạo, Quả. Nhân chính là hành giả, Ðạo là con đường, phương pháp tu luyện, nhằm thanh lọc con người và Quả là tình trạng mà hành giả chứng ngộ. Ba giai đoạn này được Tan-tra chỉ bày trong vô số phương tiện khác nhau. Người ta cho rằng khi Phật Thích-ca thể hiện Phật quả qua dạng Pháp thân (s: dharmakāya) thì Ngài đã hành trì Tan-tra. Vì vậy cũng có người xem đức Phật là người sáng lập Tan-tra.
Truyền thống Tây Tạng chia Tan-tra làm bốn loại để tương ưng với căn cơ của từng người:
1. Tác tan-tra (s: kriyā-tantra): Tan-tra hành động (tác), nghi lễ. Người tu tập Tan-tra này có kết đàn trường, cúng dường, đọc chú, bắt ấn nhưng chưa quán tưởng, tu tập thiền định;
2. Hành tan-tra (s: caryā-tantra): Tan-tra tu luyện qua hành động hằng ngày, dành cho những người tu tập nhưng không cần hiểu rõ lí tột cùng;
3. Du-già tan-tra (s: yoga-tantra): Tan-tra luyện tâm (thiền định);
4. Vô thượng du-già tan-tra (s: anuttarayoga-tantra): phương pháp tu luyện tột cùng, thành Phật trong kiếp này, với thân này.
Sự khác nhau giữa bốn cấp này xuất phát từ căn cơ của hành giả và tính hiệu quả của các phép tu. Các tác phẩm quan trọng của Vô thượng du-già tan-tra là Bí mật tập hội tan-tra (s: guhyasamāja-tantra), Hô kim cương tan-tra (s: hevajra-tantra) và Thời luân tan-tra (s: kālacakra-tantra).
Trường phái Ninh-mã (t: nyingmapa) lại chia Vô thượng du-già tan-tra làm ba loại: Ma-ha du-già (s: mahāyoga), A-nậu du-già (s: anuyoga) và A-tì du-già (s: atiyoga, xem Ðại cứu kính). Những phép Tan-tra này xem tâm thanh tịnh là gốc của mọi phép tu. Ngoài ra, Tan-tra xem việc vượt qua tính nhị nguyên để đạt nhất thể là một nguyên lí quan trọng. Tính nhị nguyên có khi được Tan-tra diễn tả bằng nguyên lí nam tính (s: upāya; khía cạnh Phương tiện) và nữ (s: prajñā; Trí huệ), vì vậy tại phương Tây không ít người hiểu lầm, cho rằng tu tập Tan-tra là thuần tuý liên hệ với tính dục nam nữ.

Tăng

Từ Điển Đạo Uyển

僧; C: sēng; J: sō;
Có các nghĩa sau: 1. Đầu tiên là gọi tắt phiên âm từ Tăng-già (僧伽; s: saṃgha), nghĩa là đoàn thể của Tăng ni; 2. Thuộc về Tăng, hoặc là của Tăng; 3. Về sau, trong cách dùng của người Đông Á, trở thành từ đề cập đến cá nhân Tăng và Ni, nhưng trước đó, từ nầy đã đề cập đến đoàn thể gồm 3 đến 4 vị Tăng ni trở lên.

Tăng

Từ Điển Đạo Uyển

增; C: zēng; J: zō;
Có các nghĩa sau: 1. Nhanh hơn, thêm, mở rộng, nâng cao, tăng thêm (s: vṛddhi, abhyudaya, pravardhita, vivardhana); 2. Cao cả, đề cao. Xuất sắc, cao cấp, khá hơn, ưu tú; 3. Trên, hơn, vượt xa hơn. Thượng hạng, quá mức, thặng dư; 4. Gắn bó, phụ chương, nhận làm chi nhánh; phụ thuộc, bổ trợ; 5. Không bị ngăn trở (tăng thượng 增上); 6. Tám địa ngục càng lúc càng trở nên đau khổ.

Tằng

Từ Điển Đạo Uyển

曾; C: céng; J: sō;
1. Đã, rồi, quá khứ. Có, đã có. Biểu thị cho quá khứ; 2. Trải qua; 3. Rồi, thì; 4. Hơn nữa, thêm vào; 5. Tên dòng họ.

Tăng Chính

Từ Điển Đạo Uyển

僧正; C: sēngzhèng; J: sōjō;
Trách nhiệm lớn nhất trong hàng giáo phẩm Phật giáo, tương đương với Tổng giám mục trong giáo hội Thiên chúa giáo La-mã.

Tăng Chúng

Từ Điển Đạo Uyển

僧衆; C: sēngzhòng; J: sōshū;
Tăng ni thuộc đoàn thể tăng lữ Phật giáo; đoàn thể của những người xuất gia tu đạo (s,p: saṃgha).

Tăng Cương

Từ Điển Đạo Uyển

僧綱; C: sēnggāng; J: sōgō;
Tăng thống (còn gọi là Tăng quan 僧官) – một chức việc hành chính mà thành viên trong hàng Tăng lữ Phật giáo được bổ nhiệm, nguồn gốc phát xuất từ Trung Hoa, và cũng được thành lập dưới nhiều dạng khác nhau ở Hàn Quốc và Nhật Bản. Ba chức danh thông dụng nhất, xếp từ giai vị trên xuống dưới là Tăng chính (僧正), Tăng đô (僧都), Luật sư (律師).

Tăng Cường

Từ Điển Đạo Uyển

增強; C: zēngqiáng; J: sōkyō;
Làm mạnh hơn, gia tăng sức lực.

Tăng đô

Từ Điển Đạo Uyển

僧都; C: sēngdū; J: sōto, sōzu;
Chức danh thứ hai trong 3 chức danh tiêu biểu của vị Tăng coi sóc việc hành chính của tăng đoàn trong hệ thống tổ chức tăng lữ vùng Đông Á. Tăng cương (僧綱).

Tăng Hải

Từ Điển Đạo Uyển

僧海; C: sēnghăi; J: sōkai; 599-654;
Môn đệ của Tín Hành (信行), người sáng lập Tam giai giáo (三階教), trú tại Hoá Độ tự (化度寺) thuộc Trường An.

Tăng Hưu

Từ Điển Đạo Uyển

僧休; C: sēngxiū; J: sōkyū;
Cao Tăng thời Bắc Nguỵ, là thành viên Địa luận tông (地論宗) trường phái phía Bắc. Sư là đệ tử của Đạo Sủng (道寵).

Tăng Hựu

Từ Điển Đạo Uyển

僧祐; C: sēngyòu; J: sōyū; 445-518.
Một trong những vị sớm nhất lập mục lục Tam tạng kinh điển Trung Hoa lưu hành thời đó. Tác phẩm lớn có tên là Xuất tam tạng tập kí (出三藏集記). Tăng Hựu hoàn tất mục lục ngay trước khi tịch diệt, biên soạn một danh mục đồ sộ dựa trên danh mục cũ (hiện nay đã thất lạc) mà sư có được trong suốt quá trình nghiên cứu thời ấy.

Tăng ích

Từ Điển Đạo Uyển

增益; C: zēngyì; J: zōyaku;
1. Gia tăng, mở rộng, nâng cao; 2. Nhận thức sai lầm và thừa nhận vật gì không thật sự hiện hữu. Tự mình dính líu vào một dạng hiện hữu khách quan. Quan niệm cường điệu về sự hiện hữu, đối nghịch với Tổn diệt (損滅); 3. Mang đến vận may, làm cho hưng thịnh, thịnh vượng, sung túc.

Tăng ích Chấp

Từ Điển Đạo Uyển

增益執; C: zēngyìzhí; J: zōekishū;
Chấp vào quan niệm có (hữu 有), hoặc thường (常), là một cực đoan – theo Nguyên Hiểu (元曉, k: wŏnhyo), môn đệ của tông Pháp tướng – rất thường xảy ra.

Tăng Lãng

Từ Điển Đạo Uyển

僧朗; C: sēnglăng; J: sōrō; K: sǔngnang;
Một trong những vị Cao tăng sớm nhất tại Hàn Quốc (Cao Cú Li 高句麗; k: koguryǒ, tk. 6-6) đến Trung Hoa, trải qua một thời gian rất lớn để tham học Tam luận (三論) và Hoa Nghiêm (華嚴) trước khi trở về quê nhà.

Tăng Lữ

Từ Điển Đạo Uyển

僧侶; C: sēnglǚ; J: sōryo;
Thành viên trong Tăng đoàn. Giới tăng lữ (s: saṃgha); còn gọi Tăng chúng (僧衆).

Tăng Nhất A-Hàm Kinh

Từ Điển Đạo Uyển

增一阿含經; C: zēngyī āhán jīng; J: zōichi agonkyō; S: ekottara-āgama-sūtra;
Một trong 4 bộ kinh trong tạng A-hàm; gồm 51 quyển, do Cồ-đàm Tăng-già-đề (瞿曇僧伽提, s: gautama-saṃghadeva) dịch năm 397. Toàn kinh có 52 phẩm, gồm tất cả 451 kinh. Chi tiết các chủ đề được đánh số từ 1 đến 11 và các kinh được tập hợp theo nội dung.

Tăng Phẩm

Từ Điển Đạo Uyển

增品; C: zēngpǐn; J: sōhon;
Hạng, loại vật gì được tinh chế tốt hơn, hay hơn… loại trước.

Tăng Quan

Từ Điển Đạo Uyển

僧官; C: sēngguān; J: sōkan;
Vị coi sóc về mặt hành chính của toàn thể tăng đoàn. Tăng cương (僧綱).

Tăng Thạnh

Từ Điển Đạo Uyển

增盛; C: zēngshèng; J: sōjō; S : udrika; P: vuddhi
Gia tăng, mở rộng, phát triển, đạt được bằng quyền lực, mãnh liệt.

Tăng Thượng

Từ Điển Đạo Uyển

增上; C: zēngshàng; J: zōjō; S: ādhipatya
Có các nghĩa sau: 1. Làm tăng thêm, gia tăng, phát triển; 2. Cao cấp, ưu thế, vượt trội, tột bực; 3. Chủ yếu, không ngăn ngại.

Tăng Thượng Duyên

Từ Điển Đạo Uyển

增上縁; C: zēngshàng yuán; J: zōjōen; S: adhipati-pratyaya.
Là 1 trong 4 duyên theo giáo lí của tông Duy thức. Có nghĩa là “nhân duyên liên quan đến sự thiếu vắng hay có mặt của điều kiện cho phép”. Là tất cả mọi nhân duyên góp thêm vào nhân duyên chính để tạo thành sự hiện hữu (hữu lực 有力), cùng những điều kiện dù không góp phần trực tiếp vào nguyên nhân, cũng đều thuộc về tính chất của vô lực (無力). Do vậy, đối với mọi trường hợp, khi một vật sinh khởi, có vô số yếu tố tác động và chi phối. Những yếu tố nầy được gọi là “nguyên nhân vượt qua các điều kiện ảnh hưởng trực tiếp” hoặc Tăng thượng duyên.

Tăng Thượng Mạn

Từ Điển Đạo Uyển

增上慢; C: zēngshàngmàn; J: sōjōman;
1. Quá tự cao; cực kì kiêu ngạo, quá ngạo mạn (s: adhimāna); 2. Tuyên bố dối trá rằng mìmh đã chứng được chân lí tối hậu và có thần thông; 3. Tự cho rằng mình có đức hạnh lớn trong khi thực không có. Đây là loại thứ 5 trong Thất mạn (七慢).

Tăng Thượng Quả

Từ Điển Đạo Uyển

增上果; C: zēngshàng guŏ; J: zōjōka; S: adhipati-phala
Nguyên nhân phụ thuộc đi cùng với nguyên nhân chính được gọi là “tăng thượng duyên”, và kết quả của việc nầy được gọi là Tăng thượng quả.

Tăng Tiến

Từ Điển Đạo Uyển

增進; C: zēngjìn; J: zōshin;
Mở rộng và phát triển; phát triển và thăng tiến; gia tốc.

Tăng Triệu

Từ Điển Đạo Uyển

僧肇; C: sēngzhào; J: sōjō; 374 hoặc 378-414;
Cao tăng của Tam luận tông, một dạng Trung quán tông truyền từ Ấn Ðộ qua Trung Quốc. Có thể nói rằng, Sư là luận sư xuất sắc nhất của Trung Quốc ở đầu thế kỉ thứ năm và cũng là người đầu tiên trong Phật giáo Trung Quốc nắm vững và trình bày hoàn hảo giáo lí tính Không của Long Thụ. Tác phẩm nổi tiếng nhất là Triệu luận (肇論) và Bảo tạng luận (寶藏論). Sư cũng soạn bài tựa cho kinh Duy-ma-cật, bài tựa cho kinh Trường A-hàm, bài tựa cho Bách luận.
Sư là người Kinh Triệu, xuất thân từ một gia đình nghèo. Sư có nghề viết mướn nên có điều kiện đọc rất nhiều sách và rất chú tâm đến các lời dạy của hai vị Lão Tử, Trang Tử. Sau khi nghiên cứu kĩ quyển Ðạo đức kinh của Lão Tử, Sư tự than: “Hay thì hay lắm nhưng còn trụ nơi hư vô, chưa đến chỗ tột cùng.” Sau khi đọc được kinh Duy-ma-cật sở thuyết (s: vimalakīrtinirdeśa-sūtra) – bản dịch của Cưu-ma-la-thập (s: kumārajīva) – Sư hoan hỉ nói: “Nay mới biết được chỗ về!” Sư nhân đây phát tâm xuất gia, trở thành tăng sĩ và đến với Cưu-ma-la-thập tại Cô Tàng, xin được theo học ý chỉ. Sau khi Cưu-ma-la-thập dời về Trường An, Sư cũng theo thầy về đó để phụ giúp trong việc dịch thuật. Nơi Cưu-ma-la-thập, Sư ngộ được giáo lí Trung đạo, giáo lí tính Không của Long Thụ.
Sư nổi tiếng với tính cách của một tư tưởng gia và văn sĩ là nhờ bốn quyển sách, gọi chung lại là Triệu luận (肇論), bao gồm: Bát-nhã vô tri luận (般若無知論), Bất chân không luận (不真空論), Vật bất thiên luận (物不遷論) và Niết-bàn vô danh luận (涅槃無名論). Trong đó, Sư nêu tính thống nhất của tương đối và tuyệt đối, của hiện tượng và bản thể, chúng vừa không rời nhau, vừa đối nghịch nhau. Tác phẩm của Sư hết sức uyên bác và có trình độ văn chương cao, là những tổng hợp thật sự của tư tưởng Trung Quốc và Ấn Ðộ. Sau khi đọc luận Bát-nhã vô tri, Cưu-ma-la-thập bảo Sư: “Kiến giải ta không hơn ông, vậy nên kính trọng nhau vậy.” Khi bài luận này đến tay Huệ Viễn – Khai tổ của Tịnh độ tông – Huệ Viễn chỉ biết thốt lên: “Chưa từng có!”
Trong luận Vật bất thiên, Tăng Triệu quan niệm rằng, tính “bất biến” của sự vật được biểu lộ bằng: cái đã qua không hề “bất động” và đồng nhất với cái đang là, đồng thời, cái đã qua cũng chẳng vận động để trở thành cái đang là. Theo Sư, vừa không có động cũng chẳng có bất động. Sư viết như sau (bản dịch của Thích Duy Lực):
“… Thật đáng thương xót! Ðã biết vật xưa chẳng đến mà lại nói vật nay có đi; vật xưa đã chẳng đến mà vật nay làm sao đi được? Tại sao? Tìm vật xưa nơi xưa, xưa chưa từng không; tìm vật xưa nơi nay, nay chưa từng có. Nay chưa từng có thì rõ ràng không đến; xưa chưa từng không, nên biết vật chẳng đi…”
Sư nhấn mạnh rằng, Thánh nhân lúc nào cũng sống trong thật tại, hiện tại, sống theo nhịp sống của thời gian nên chính vì vậy, họ thoát khỏi vòng ảnh hưởng, trói buộc của thời gian, ở ngay trong thiên hình vạn trạng mà không bị chúng lay động, ở ngay trong động mà không thấy nó động. Việc gì có giá trị cho hiện tại thì nó chỉ có giá trị cho hiện tại, việc gì có giá trị cho ngày hôm qua thì nó chỉ có giá trị cho ngày hôm qua. Người ta không nên so sánh phân biệt những gì đã xảy ra với những việc đang xảy ra hoặc sẽ xảy ra. Trong trường hợp này, người châu Âu thường sử dụng một câu rất hay là “Ðó chỉ là tuyết của ngày hôm qua” (bởi vì hôm nay tuyết đã tan và trở về với mây khói). Ðể nhấn mạnh điều này, Sư dẫn một ví dụ của một nhân vật xưa tên Phạn Chí. Phạn Chí tuổi trẻ xuất gia, đến lúc đầu bạc trở về thì các người láng giềng trầm trồ: “Người xưa còn sống sao?” Phạn Chí đáp: “Tôi giống người xưa mà chẳng phải người xưa ấy.” Hàng xóm nghe không hội cho rằng ông nói sai.
Về tính Không (s: śūnyatā), Sư cho rằng sự vật vừa tồn tại vừa không tồn tại: tất cả đều phụ thuộc lẫn nhau, một khi nguyên nhân của sự vật mất đi thì sự vật cũng hết tồn tại. Ðối với Sư, trình hiện tồn tại tương tự như một hình ảnh ảo thuật, hình ảnh đó không thật, nhưng có trình hiện tồn tại – trên bình diện ảo thuật – cho nên cũng không thể nói nó không tồn tại.
Trong luận Bát-nhã vô tri – luận quan trọng nhất trong bốn bộ luận – Sư cho rằng Bát-nhã là loại trí mà trong đó, cái tuyệt đối chính là đối tượng nhận thức. Nhưng, cái tuyệt đối lại trống rỗng và phi tính chất nên cái tuyệt đối không thể trở thành đối tượng nhận thức. Thế nhưng cái tuyệt đối đó lại là bản thể của mọi sự vật. Vì vậy, một Thánh nhân vừa an trụ trong Không tính và Vô vi, nhưng vừa lại nằm trong lĩnh vực của hành động (Bất hành nhi hành). Nguyên văn:
“Lại sự chiếu dụng của Bát nhã không cần tác ý cho nên chân tâm của bậc thánh nếu trống rỗng trong sạch được chừng nào thì sự chiếu dụng đầy đủ chừng ấy, do đó suốt ngày tri (biết) mà chưa từng tri vậy. Thật lí chứng bên trong, ánh sáng tiềm ẩn mà quyền trí luôn luôn hiện ra sự ứng cơ hoá độ bên ngoài. Vì vô tri nên tâm được trống rỗng, tự nhiên đạt đến chiếu soi nhiệm mầu, lấp bít tâm trí thông minh mà sự độc giác lại âm thầm cùng khắp nơi, thành ra chẳng có chỗ bất tri là nghĩa đây vậy.”
Triệu luận đã có ảnh hưởng rất nhiều trong nền Phật giáo Trung Quốc, ngay cả Thiền tông, một môn phái không chú trọng nhiều đến văn tự. Tương truyền rằng, khi đọc luận Niết-bàn vô danh – đến chỗ “Bậc chí nhân trống rỗng vô hình mà vạn vật đều do tâm tạo. Ngộ được vạn vật đều quy về tự kỉ, ấy chỉ có bậc Thánh mới chứng được”, Thiền sư Thạch Ðầu Hi Thiên bỗng nhiên có ngộ nhập, cao hứng tự vỗ bàn nói to: “Thánh nhân chẳng có cái ta (Ngã) bởi vì tất cả chính là ta. Còn gì để mà phân biệt ta và người!” Thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích cũng đã nghiên cứu kĩ bộ luận này trước khi đến và ngộ chân lí nơi La-hán Quế Sâm.
Với Tăng Triệu, Ðại thừa hệ phái Trung quán đã đứng vững và đã mang một sắc thái riêng biệt của Trung Quốc – nhưng hoàn toàn không kém đẳng cấp cũ tại Ấn Ðộ với những Ðại luận sư như Long Thụ, Thánh Thiên.

Tăng Trưởng

Từ Điển Đạo Uyển

增長; C: zēngzhăng; J: zōjō;
Có các nghĩa sau: 1. Gia tăng, mở rộng, nới rộng ra (s: vṛddhi); 2. Tăng cường, củng cố, phát triển; 3. Làm phấn chấn; 4. Trở nên khá hơn hay chiềm ưu thế hơn; 5. Nhân duyên để hoàn tất nghiệp báo; 6. Đưa ra, dẫn đến, làm nổi bật; 7. Sự đề cao ảnh hưởng và thế lực, do vậy, cao mạn.

Tăng Trưởng Thiên

Từ Điển Đạo Uyển

增長天; C: zēngchángtiān; J: zōjōten; S: virūḍhaka
Một trong Tứ thiền thiên. Cai quản loài quỷ Cưu-bàn-trà (s: kumbhāṇḍa) và trấn giữ phương Nam.

Tăng Ung

Từ Điển Đạo Uyển

僧邕; C: sēngyōng; J: sōyū; 543-631;
Đệ tử của Tín Hành, người sáng lập Tam giai giáo, trú trì chùa Hoá Độ (化度寺), Trường An.

Tăng Xán

Từ Điển Đạo Uyển

僧璨; C: sēngcàn; J: sōsan; ?-606;
Tổ thứ ba của Thiền tông Trung Quốc, nối pháp của Nhị tổ là Huệ Khả và là thầy của Tứ tổ Ðạo Tín. Sau khi được ấn khả, Sư lang thang đây đó, sống ẩn dật không ai biết. Ngoài Thiền sư Ðạo Tín, Sư có truyền pháp cho Tì-ni-đa Lưu-chi, người sau này đem Thiền tông sang Việt Nam. Sư cũng là tác giả của Tín tâm minh, một tác phẩm trứ danh, rất phổ biến trong giới thiền.

Tăng-Già

Từ Điển Đạo Uyển

僧伽; C: sēng qié; J: sōgya; S, P: saṅgha;
1. Chỉ hội đoàn của các vị Tỉ-khâu (s: bhik-ṣu), Tỉ-khâu-ni (s: bhikṣuṇī) cũng như các Sa-di (s: śrāmaṇera). Trong nhiều trường hợp, các Cư sĩ cũng được liệt vào Tăng-già.
Tăng-già là một trong Tam bảo (s: triratna), là một đối tượng trong Ba quy y của Phật tử. Ðời sống của Tăng-già được quy định trong các giới luật được ghi trong Luật tạng.
2. Chỉ phái Số luận (s: saṃkhya);
3. Con sư tử (s: siṃha).

Tăng-Già Tự

Từ Điển Đạo Uyển

僧伽寺; C: sēngqiésì; J: sōgyaji;
Một ngôi chùa toạ lạc trên núi Tam Giác (三角山), sinh hoạt trong thời đại Cao Li (高麗; k: koryǒ) và Triều Tiên (朝鮮; k: chosǒn).

Tăng-Già-Lợi Y

Từ Điển Đạo Uyển

僧伽利依; C: sēngqié lìyī; J: sōgyarie; S: saṃghha-ārāma.
Nơi tăng chúng tụ tập để tu tập Phật pháp: Chùa hay Tu viện. Thường viết là Tăng-già-lam (僧伽藍) hoặc Già-lam (伽藍).

Tăng-Kì

Từ Điển Đạo Uyển

僧祇; C: sēngqí; J: sōgi;
A-tăng-kì (阿僧祇).

Tăng-Nhất Bộ Kinh

Từ Điển Đạo Uyển

增一部經; S: ekottarāgama; P: aṅguttara-nikāya;
Bộ kinh thứ tư của Kinh tạng. Bộ này gồm 11 tập, thường ngắn hơn các kinh khác và được sắp xếp thứ tự theo pháp số mà chủ đề của mỗi bài kinh được chia ra. Về mặt cấu trúc này thì Tăng-nhất bộ kinh khá giống A-tì-đạt-ma (s: abhidharma).

Tăng-Tắc Ca-La

Từ Điển Đạo Uyển

僧塞迦羅; C: sēngsē jiāluó; J: sōsokukara;
Phiên âm của từ “samskāra” trong tiếng Phạn, thường được diễn đạt qua tiếng Hán là Hành (行). Một trong Ngũ uẩn (五蘊; s: skandha). Sự thúc đẩy.

Tào Ðộng Tông

Từ Điển Đạo Uyển

曹洞宗; C: cáo-dòng-zōng; J: sōtō-shū;
Tông phái Thiền quan trọng tại Trung Quốc được hai vị Thiền sư sáng lập là Ðộng Sơn Lương Giới và đệ tử là Tào Sơn Bản Tịch. Người ta ghép hai chữ đầu của tên hai vị này và gọi là Tào Ðộng.
Mặc dù mục đích tu tập trong hai trường phái Lâm Tế và Tào Ðộng như nhau nhưng phương pháp tu tập cụ thể thì có khác biệt. Tào Ðộng tông chú trọng đến phương pháp Mặc chiếu thiền (j: mokushō-zen), tức là Chỉ quản đả toạ (j: shikan-taza), Lâm Tế tông chủ trương phương pháp Khán thoại thiền (kanna-zen), là quán Công án.
Trong thế kỉ 13, Thiền sư Nhật là Ðạo Nguyên Hi Huyền (j: dōgen kigen) đưa tông này qua Nhật và Tào Ðộng trở thành môn phái Thiền quan trọng, ngày nay vẫn còn. Trong tông Tào Ðộng tại Nhật, phương pháp Ðộc tham (dokusan) – một trong những thành phần tối trọng của Thiền tông – đã thất truyền từ thời Minh Trị (meiji).
Thiền Tào Ðộng được Thiền sư Thông Giác Thuỷ Nguyệt (1636-1704) truyền sang Việt Nam giữa thế kỉ thứ 17. Sư rời Ðại Việt năm 1664, cùng với hai đệ tử sang Trung Quốc, đến Hồ Châu học đạo với Thiền sư Nhất Cú Tri Giáo và ở đó ba năm sau mới về. Thông Giác truyền giáo cho Chân Dung Tông Diễn và phái này hoạt động ở Ðàng ngoài (miền Bắc), rất thịnh hành cuối thế kỉ 17 và đầu 18. Ðàng trong (miền Trung), thiền Tào Ðộng do một Thiền sư Trung Quốc là Thạch Liêm (1633-1704), hiệu Ðại Sán Hán Ông truyền dạy. Năm 1695, theo lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu, Sư đến Thuận Hoá. Sư là người tổ chức giới đàn Thiền Lâm với hàng ngàn người tham dự.

Tào Khê

Từ Điển Đạo Uyển

曹溪; C: caó xī; J: sōkei;
Dòng suối nằm về phía Đông Nam Thiều Châu, tỉnh Quảng Đông, trở thành tên gọi của Lục tổ Huệ Năng.

Tào Khê Chân Giác Quốc Sư Ngữ Lục

Từ Điển Đạo Uyển

曹溪眞覺國師語録; C: caóqī zhēnjué guóshī yŭlù; J: sōkei shinkaku kokushi goroku; k: chogye chin’gak kuksa ŏrok;
Ghi chép những bài thuyết pháp và bài viết ngắn của Huệ Kham (慧諶).

Tào Khê Tông

Từ Điển Đạo Uyển

曹溪宗; C: caóxī zōng; J: sōkei-shū; k: chogye chong.
Tông phái thiền quan trọng nhất trong Phật giáo Hàn Quốc. Được thành lập vào thời kì Koryŏ, nó đã được qua sự thử thách, dưới sự ảnh hưởng chủ yếu của Tri Nột (k: chinul), để hoà nhập hai dòng thiền (sŏn) và giáo (kyo). Tông nầy đã trải qua nhiều thay đổi theo nhiều thế kỉ, Tào Khê tông vẫn còn lưu truyền ở Hàn Quốc đến ngày nay như là một tông phái nổi bật nhất, với vô số tu viện và trung tâm thiền học sinh động khắp Hàn Quốc.

Tào Sơn Bản Tịch

Từ Điển Đạo Uyển

曹山本寂; C: cáoshān běnjì; J: sōzan honjaku; 840-901;
Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Ðộng Sơn Lương Giới và cùng với thầy, Sư thành lập tông Tào Ðộng. Tông Tào Ðộng là một trong hai tông phái Thiền mà ngày nay còn đầy sức sống tại Nhật Bản. Tắc thứ 10 của Vô môn quan có nhắc đến Sư. Ngoài ra sử sách còn lưu truyền các giai thoại của Sư trong Phủ Châu Tào Sơn Bản Tịch Thiền sư ngữ lục.
Sư họ Huỳnh, ban đầu chuyên học Nho giáo, Năm 19 tuổi, Sư lên núi Linh Thạch xuất gia và thụ giới cụ túc. Sư thường đến Ðộng Sơn nghe Thiền sư Lương Giới giảng pháp. Một ngày kia, trong một cuộc Vấn đáp, Ðộng Sơn nhận ra căn cơ của Sư và nhận làm đệ tử. Sư tham thiền với Ðộng Sơn và ngộ yếu chỉ nơi đây.
Sau đó, Sư từ biệt Ðộng Sơn ra đi. Cảnh Ðức truyền đăng lục thuật lại câu chuyện sau: “Ðộng Sơn hỏi: ›Ngươi đi đến chỗ nào?‹ Sư đáp: ›Ði đến chỗ không biến dị.‹ Ðộng sơn lại hỏi: ›Chỗ không biến dị lại có đến sao?‹ Sư đáp: ›Cái đến cũng chẳng biến dị.‹”
Sau khi rời Ðộng Sơn, Sư vân du hoằng hoá. Cuối cùng Sư được mời về Cát Thuỷ và vì ngưỡng mộ Lục Tổ tại Tào Khê, Sư đổi tên núi là Tào Sơn. Về sau Sư cũng trụ trì tại núi Hà Ngọc, học trò cả hai chỗ rất đông. Tắc thứ 10 trong Vô môn quan nhắc lại pháp thoại của Sư với đệ tử là Thanh Thoát: “Tăng thưa: ›Thanh Thoát nghèo nàn đơn chiếc, xin Sư phụ cứu giúp.‹ Sư gọi: ›Thầy Thoát!‹ Tăng ứng đáp: ›Dạ.‹ Sư đáp: ›Ðã uống ba chén rượu Thanh Nguyên và dám nói môi không hề ướt!‹”
Sư là người được Thiền sư Lương Giới truyền dạy Ðộng sơn ngũ vị và cũng là người khai thác và phát triển công thức này triệt để. Mặc dù môn đệ dưới trướng rất đông và tông phong Ðộng Sơn rất thịnh hành – Sư được xem là Nhị tổ – dòng thiền của Sư tàn lụi chỉ sau vài thế hệ. Tào Ðộng chính mạch sau này được Thiền sư Vân Cư Ðạo Ưng và môn đệ thủ trì.
Ðời Ðường niên hiệu Thiên Phục (901), một đêm mùa hạ, Sư hỏi Tri sự: “Hôm nay là ngày tháng mấy?” Tri sự thưa: “Ngày rằm tháng sáu.” Sư bảo: “Tào Sơn bình sinh hành cước chỉ biết 90 ngày là một hạ, sáng mai giờ thìn ta hành cước.” Hôm sau, đúng giờ thìn, Sư thắp hương ngồi yên viên tịch, thọ 62 tuổi, 37 tuổi hạ. Vua sắc phong là Nguyên Chứng Thiền sư, tháp hiệu Phúc Viên.

Táp

Từ Điển Đạo Uyển

匝; C: zā; J: sō;
Đi quanh, xoay quanh, đi vòng quanh, đi chung quanh.

Tập Bộ Kinh

Từ Điển Đạo Uyển

集部經; P: sutta-nipāta;
Một phần của Tiểu bộ kinh, chứa những bài kinh dưới dạng thi kệ.

Tập Khí

Từ Điển Đạo Uyển

習氣; S: vāsanā;
Nguyên nghĩa Phạn ngữ (sanskrit) là “Ấn tượng, tưởng tượng, sự thúc dục.” Tập khí chỉ thói quen, những bản năng, bản tính tiềm tàng có thể hiện lên bất cứ lúc nào.

Tát-Ca Phái

Từ Điển Đạo Uyển

薩迦派; T: sakyapa [sa-skya-pa];
Một trường phái của Phật giáo Tây Tạng, mang tên ngôi chùa Tát-ca – Tát-ca nghĩa là “Ðất xám”. Theo lời khải thị của A-đề-sa, chùa Tát-ca được xây dựng năm 1073 và các cao tăng chùa này tập trung truyền pháp Kim cương thừa với tên Tây Tạng là Lam-dre.
Trường phái này tập trung công sức tu tập và tổ chức lại các kinh sách của giáo pháp Tan-tra, nhưng cũng có nhiều đóng góp cho Nhân minh học Phật giáo và có ảnh hưởng lên nền chính trị Tây Tạng giữa thế kỉ 13 và 14.
Phái này được trở thành độc lập là nhờ công của năm vị Lạt-ma sống từ 1092 đến 1280. Ðó là: Sa-chen Kun-ga Nying-po (1092-1158), hai người con trai là So-nam Tse-mo (1142-1182) và Drak-pa Gyalt-sen (1147-1216), người cháu Sa-kya Paṇ-ḍi-ta (1182-1251) và Chog-yal Phag-pa (1235-1280). Tất cả năm vị này đều được xem là hoá thân của Văn-thù (s: mañjuśrī) và thuộc gia đình Khon. Trong năm vị thì Sa-kya Paṇ-ḍi-ta là có ảnh hưởng lớn nhất, giáo pháp của ông bao trùm nhiều ngành khoa học khác nhau. Khả năng về Phạn ngữ (sans-krit) vang đến Ấn Ðộ và Mông Cổ và sau đó ông được mời đi Mông Cổ thuyết pháp và trường phái Tát-ca lan rộng tại Trung Tây Tạng năm 1249. Trong các thế kỉ sau, phái Tát-ca đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tôn giáo Tây Tạng và gây cả ảnh hưởng đến Tông-khách-ba và tông của Sư là Cách-lỗ (t: gelugpa).
Mười tám bộ kinh, luận quan trọng được giảng dạy trong trường phái này (s: aṣṭadaśa-mahākīrtigran-tha):
1. Ba-la-đề mộc-xoa kinh (s: prātimokṣa-sūtra); 2. Tì-nại-da kinh (vinaya-sūtra); 3. Hiện quán trang nghiêm luận (abhisamayālaṅkāra-śāstra), được xem là của Di-lặc; 4. Ðại thừa kinh trang nghiêm luận tụng (mahāyāna-sūtralaṅkāra-kārikā), Di-lặc; 5. Ðại thừa tối thượng tan-tra luận (mahāyānottara-tantra-śāstra), Di-lặc; 6. Biện trung biên luận tụng (madhyānta-vibhāga-kārikā), Di-lặc; 7. Pháp pháp tính phân biệt luận (dharma-dharmatā-vibhāga), Di-lặc; 8. Nhập bồ-đề hành luận (bodhicār-yāvatāra), Tịch Thiên (śāntideva); 9. Căn bản trung quán luận tụng (mūlamadhyamaka-śāstra), Long Thụ (nāgārjuna) tạo; 10. Tứ bách luận (catuḥśataka), Thánh Thiên (āryadeva) tạo; 11. Nhập trung luận (mādhyamāvatāra), Nguyệt Xứng (candrakīrti) tạo; 12. Ðại thừa a-tì-đạt-ma tập luận (abhidharma-samuccaya), Vô Trước (asaṅga) tạo; 13. A-tì-đạt-ma câu-xá luận (abhidharmakośa), Thế Thân (vasubandhu) tạo; 14. Tập lượng luận (pra-māṇasamuccaya), Trần-na (dignāga) tạo; 15. Lượng thích luận (pramāṇavarttika-kārikā), Pháp Xứng (dharmakīrti) tạo; 16. Lượng quyết định luận (pramāṇaviniścaya), Pháp Xứng tạo; 17. Pramāṇa-yuktinīti; 18. Trisaṃvarapravedha.

Tất-đàn-đa

Từ Điển Đạo Uyển

悉檀多; S: siddhānta; có thể dịch nghĩa là Học thuyết (學說);
Danh từ được dùng tại Tây Tạng chỉ các giáo thuyết, giáo lí được chứng minh và lưu tồn của các bộ phái Phật giáo tại Ấn Ðộ. Trong thời gian Phật pháp được truyền sang Tây Tạng lần đầu người ta đã đem qua những tác phẩm này nhưng khi phái Cách-lỗ (t: gelugpa) thịnh hành thì các loại sách này được hệ thống hoá chặt chẽ.
Tất-đàn-đa được phân ra hai loại, Tất-đàn-đa ngoại đạo và Tất-đàn-đa của nội bộ. Các bộ phái khác nhau của Phật giáo được nghiên cứu tại đây là Tì-bà-sa bộ (s: vaibhāṣika), Kinh lượng bộ (s: sautrāntika), Duy thức (s: vijñānavāda) và Trung quán (s: mādhyamika). Các tác giả nổi tiếng nhất của Tất-đàn-đa là Jam-yang Sha-pa (1648-1721) và Kon-chok Jig-me Wan-gpo (1728-1781). Mục đích của các tác phẩm Tất-đàn-đa là làm cho giáo lí Phật pháp được luận giảng trong các bộ phái dễ hiểu hơn, ít mâu thuẫn và như vậy dễ tiếp thu. Hai đề tài được tranh luận nhiều nhất là tính Không và đặc điểm của các pháp Hữu vi (s: saṃskṛta).

Tất-đạt

Từ Điển Đạo Uyển

悉達; S: siddha; cũng được gọi là Thành tựu giả;
Chỉ người tu tập Tan-tra đã đạt Tất-địa (s: siddhi). Ai đạt một trong những Tất-địa được gọi là Tất-đạt, đạt nhiều Tất-địa thì được gọi là Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha).

Tất-đạt-đa Cồ-đàm

Từ Điển Đạo Uyển

悉達多瞿曇; S: siddhārtha gautama; P: sid-dhattha gotama; Tất-đạt-đa có nghĩa là Nhất thiết nghĩa thành (一切義成), Thành tựu chúng sinh (成就眾生; dịch từ dạng dài của tên Phạn ngữ là Sarvārthasiddha);
Tên của đức Phật lịch sử, từng sống trên trái đất, người sáng lập Phật giáo. Ngài sinh khoảng năm 566 (hay 563) trước Công nguyên trong một gia đình quý tộc thuộc dòng Thích-ca (s: śākya) tại Ca-tì-la-vệ (s: kapilavastu) thuộc Nepal ngày nay. Cha Ngài là vua Tịnh Phạn (s, p: suddhodana), mẹ là Ma-da (s, p: māyādevi) sinh Tất-đạt-đa trong vườn Lam-tì-ni (lumbinī). Sau khi mẹ mất, 7 ngày sau khi sinh, Tất-đạt-đa sống với người dì Ma-ha Bà-xà-bà-đề (mahāpra-jāpatī). Năm 16 tuổi, Tất-đạt-đa cưới Gia-du-đà-la (yaśodharā). Năm 29 tuổi, sau khi sinh La-hầu-la (rāhula), Tất-đạt-đa thoát li, sống không nhà, cùng tu khổ hạnh với nhiều nhóm tăng sĩ khác nhau. Không đạt giải thoát với cách tu khổ hạnh, Tất-đạt-đa từ bỏ phép tu này, chú tâm thiền định và đạt Giác ngộ hoàn toàn năm 35 tuổi. Biết rằng không dễ truyền đạt những gì mình giác ngộ, mới đầu Ngài không định truyền bá giáo pháp. Cuối cùng, được sự thỉnh cầu nhiều nơi, Ngài mới quyết định chuyển Pháp luân. Ngài được mang danh hiệu Thích-ca Mâu-ni – “Trí giả của dòng dõi Thích-ca”. Sống đến năm 80 tuổi, đức Thích-ca từ trần. Qua 45 năm giảng dạy, sợ rằng đệ tử chấp lời mình nói là chân lí, chứ không phải chỉ là phương tiện giác ngộ, Ngài tuyên bố chưa từng nói lời nào. Lời dạy cuối cùng của Ngài là “Tất cả các pháp đều vô thường, hãy tinh tiến tu học”.
Có nhiều truyền thuyết về Tất-đạt-đa: Mẹ Ngài nằm mơ thấy một vị Bồ Tát với dạng một con voi trắng nhập vào người mình. Ngài sinh ra từ hông bên mặt của mẹ, sau đó đi bảy bước, một tay chỉ lên trời, tay kia chỉ xuống đất, nói: “Trên trời dưới đất chỉ có ta là người đáng tôn kính [Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn], đây là lần sinh cuối cùng, ta sẽ chấm dứt Khổ của sinh, lão bệnh tử.” Dưới mỗi bước chân đi của Ngài là một đoá sen. Ngày nay, trong tranh tượng, ta còn thấy tích này.
Ngay lúc sinh ra, Tất-đạt-đa đã có đầy đủ hảo tướng (Ba mươi hai tướng tốt). Các nhà tiên tri cho rằng, Ngài sẽ trở thành hoặc một đại đế hay một bậc giác ngộ. Vua cha Tịnh Phạn muốn con mình nối dõi nên tìm mọi cách dạy dỗ cho con, nhất là không để Tất-đạt-đa tiếp cận với cảnh khổ, xa một cuộc sống tu hành.
Tuy thế, sau bốn lần ra bốn cửa thành và thấy cảnh người già, người bệnh, người chết và một vị tu sĩ, Tất-đạt-đa từ biệt hoàng cung, sống cảnh không nhà. Tương truyền rằng bốn cảnh ngộ vừa kể là những cảnh tượng do các vị thiên nhân tạo ra nhằm nhắc nhở Tất-đạt-đa lên đường tu học Phật quả. Ngài thấy rằng ba cảnh đầu tượng trưng cho cái Khổ trong thế gian và hình ảnh tu sĩ chính là cuộc đời của mình. Ngài quyết tâm tìm cách diệt khổ và tìm mọi đạo sư với các giáo pháp khác nhau. Theo truyền thống Ấn Ðộ bấy giờ chỉ có con đường khổ hạnh mới đưa đến đạt đạo. Các vị đạo sư khổ hạnh danh tiếng thời đó là A-la-ra Già-đa-na (s: ārāda kālāma; p: āḷāra kālāma) và Ưu-đà-già La-ma tử (s: rudraka rāmaputra; p: uddaka rāmaputta). Nhưng Tất-đạt-đa cũng không tìm thấy nơi các vị đó lời giải cho thắc mắc của mình. Ngài quyết tâm tự mình tìm đường giải thoát và có Năm tỉ-khâu cùng đi với Ngài. Sau nhiều năm tu khổ hạnh gần kề cái chết, Ngài nhận ra đó không phải là phép tu dẫn đến giác ngộ, bắt đầu ăn uống bình thường, năm Tỉ-khâu kia thất vọng bỏ đi.
Sau đó Tất-đạt-đa đến Giác Thành, ngồi dưới gốc một cây Bồ-đề và nguyện sẽ nhập định không rời chỗ ngồi cho đến lúc tìm ra nguyên nhân và cơ chế của Khổ. Sau 49 ngày thiền định – mặc dù bị Ma vương quấy nhiễu – Ngài đạt Giác ngộ hoàn toàn ở tuổi 35. Từ thời điểm đó, Ngài biết mình là Phật, là một bậc Giác ngộ, và biết rằng mình sẽ không còn tái sinh. Kinh nghiệm giác ngộ của Phật được ghi lại như sau trong kinh sách theo chính lời của Ngài:
“… Sau khi hoàn lại sinh lực (sau khi tu khổ hạnh vô ích), ta chú tâm giải thoát khỏi những tư tưởng tham ái, bất thiện và đạt được sơ thiền, sau đó nhị thiền, tam thiền và tứ thiền (Tứ thiền), nhưng những cảm giác hỉ lạc này không để lại dấu vết gì trong tâm ta.
Khi tâm (citta) ta được an tịnh, thanh lọc, không bị dục vọng cấu uế, nhạy bén, chắc chắn, bất động, ta hướng nó về những kí ức và nhận thức về các kiếp trước. Ta nhớ lại nhiều tiền kiếp, một, hai, ba, bốn, năm, …, trăm ngàn kiếp trước, nhớ những chu kì của thế giới. ›Nơi đó ta đã sống, tên của ta đã như thế, gia đình của ta là như thế, nghề nghiệp của ta, giai cấp xã hội của ta… Ta đã chết như vầy…‹. Sự hiểu biết (p: vijjā) đầu tiên này ta đã đạt được trong canh đầu (từ 21 đến 24 giờ đêm)…
Sau đó ta chú tâm đến sự sinh thành và hoại diệt của chúng sinh. Với con mắt của chư thiên, trong sáng, siêu việt vượt qua mọi giới hạn nhân thế, ta thấy chúng sinh hình thành và tiêu hoại, …chúng sinh tái sinh theo nghiệp lực. Ta nhận ra rằng ›Chúng sinh tạo nghiệp bất thiện qua ba ải thân khẩu ý đều chìm đắm sau khi chết, tái sinh trong đoạ xứ, địa ngục. Các chúng sinh nào tạo thiện nghiệp bằng thân khẩu ý được tái sinh trong thiện đạo, sau khi chết được lên cõi thiên‹… Sự hiểu biết thứ hai này ta dã đạt được trong canh hai (từ 24 giờ đêm đến 3 giờ sáng).
Sau đó ta chú tâm nhận thức về sự tiêu diệt các Ô nhiễm (漏; lậu; p: āsava) và nhìn nhận như thật: ›Ðây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là phương pháp tiêu diệt khổ, đây là con đường tiêu diệt khổ‹, và khi ta nhận thức được điều này, tâm ta thoát khỏi dục vọng, ham muốn tồn tại, vô minh. Ta tự hiểu chân lí ›Tái sinh ta đã đoạn, cuộc sống tu tập của ta đã hoàn tất, ta đã hoàn thành những gì phải làm. Cuộc sống (khổ đau) này ta đã vượt qua‹… Sự hiểu biết thứ ba này ta đã đạt được trong canh ba (3 đến 6 giờ sáng)…” (Trung bộ kinh 36, tóm tắt).
Bậc giác ngộ lúc đó biết rằng kinh nghiệm giác ngộ của mình không thể dùng ngôn từ hay bất cứ một cách nào khác để truyền đạt nên Ngài tiếp tục yên lặng ngồi thiền định dưới gốc cây Bồ-đề. Sau đó Ngài gặp lại năm vị tỉ-khâu, các vị đó nhận ra rằng Ngài đã hoàn toàn thay đổi. Qua hào quang toả ra từ thân Ngài, các vị đó biết rằng Ngài đã đạt đạo, đã tìm ra con đường thoát khổ, con đường mà các vị đó không thể tìm ra bằng phép tu khổ hạnh. Các vị đó xin Ngài giảng pháp và vì lòng thương chúng sinh, Ngài chấm dứt sự im lặng.
Ðức Phật bắt đầu giảng pháp bằng cách trình bày con đường dẫn đến kinh nghiệm giác ngộ và giải thoát. Trên cơ sở kinh nghiệm giác ngộ của mình, Ngài giảng Tứ diệu đế, Mười hai nhân duyên và quy luật Nhân quả (Nghiệp). Tại Lộc uyển này, Ngài bắt đầu những bài giảng đầu tiên, bắt đầu “chuyển pháp luân”. Năm vị tỉ-khâu đó trở thành năm đệ tử đầu tiên của Ngài và là hạt nhân đầu tiên của Tăng-già. Sau đó Ngài thuyết pháp từ năm này qua năm khác. Ngài hay lưu trú tại Vương xá (s: rājagṛha) và Vệ-xá-li (s: vaiśālī), sống bằng khất thực, đi từ nơi này qua nơi khác. Ðệ tử của Ngài càng lúc càng đông, trong đó có vua Tần-bà-sa-la (bimbisāra) của xứ Ma-kiệt-đà. Vị vua này đã tặng cho Tăng đoàn một tu viện gần Vương xá. Các đệ tử quan trọng của Ngài là A-nan-đà, Xá-lị-phất và Mục-kiền-liên. Cũng trong thời gian này, đoàn Tỉ-khâu-ni (s: bhikṣuṇī) được thành lập.
Ðức Phật cũng có kẻ thù muốn ám hại. Ðề-bà Ðạt-đa, người em họ, thống lĩnh Tăng-già muốn giết Phật nhưng không thành. Tuy thế Ðề-bà đạt-đa thành công trong việc chia rẻ Tăng-già ở Vệ-xá-li. Ngược lại với đức Phật, Ðề-bà Ðạt-đa chủ trương một cuộc sống khổ hạnh.
Theo kinh Ðại bát-niết-bàn (p: mahāparinibbāna-sutta) đức Phật nhập diệt tại Câu-thi-na (s: kuṣi-nagara) năm 486 (hay 483 trước Công nguyên) vì một thức ăn độc. Ngài nằm nghiêng bên mặt, hướng về phía Tây và nhập Niết-bàn. Theo truyền thuyết Pā-li thì Phật diệt độ ngày rằm tháng tư, văn bản Phạn ngữ (sanskrit) cho rằng ngày rằm tháng 11. Trong buổi hoả thiêu xác Phật có nhiều hiện tượng lạ xẩy ra. Xá-lị của Ngài được chia làm 8 phần và được thờ trong các tháp khác nhau.
Mặc dù cuộc đời đức Phật có nhiều huyền thoại bao phủ nhưng các nhà khảo cổ học và nhân chủng học – vốn hay có nhiều nghi ngờ và thành kiến – cũng đều nhất trí công nhận là một nhân vật lịch sử và là giáo chủ của đạo Phật.

Tất-địa

Từ Điển Đạo Uyển

悉地; S: siddhi; nghĩa là “khả năng toàn diện,” “thành đạt,” cũng có thể hiểu là Thần thông;
Chỉ khả năng kiểm soát năng lực của cơ thể và năng lực chinh phục được thiên nhiên. Tất-địa là quả vị của các vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha). Kim cương thừa nêu tám loại Tất-địa bình thường, thuộc vào thế tục: 1. Kiếm bất bại; 2. Mắt nhìn thấu trời; 3. Ði nhanh; 4. Tàng hình; 5. Thuốc chống lão; 6. Bay bổng; 7. Tạo linh dược; 8. Chinh phục ma quỷ.
Tám Tất-địa này vẫn còn nằm trong thế tục, chỉ có Giác ngộ mới được gọi là Tất-địa xuất thế, cũng được gọi là Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi) trong truyền thống Ðại thủ ấn.

Tây Ðường Trí Tạng

Từ Điển Đạo Uyển

西堂智藏; C: xītáng zhìcáng; J: seidō chizō; 734/735-814;
Thiền sư Trung Quốc, đắc pháp nơi Mã Tổ. Sư với Nam Tuyền, Bách Trượng là bạn đạo và là môn đệ xuất sắc của Mã Tổ. Sau khi Mã Tổ tịch, Sư được thỉnh ở lại giáo hoá. Sau Sư đến Tây Ðường trụ trì.
Sư xuất thân từ Kiền Hoá (虔化). Sư xuất gia vào thời niên thiếu, chẳng bao lâu sau hành cước đến Kiến Dương (建陽), làm môn đệ của Mã Tổ Đạo Nhất, cùng được ấn chứng với Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海). Sau đó sư dạy thiền tại Tây Đường tự (西堂寺) ở Kiền Châu. Sư nổi tiếng đã dạy nhiều môn đệ từ nhiều nước khác nhau, bao gồm những cao tăng sau nầy như Đạo Nghĩa (道義, k: toŭi), Hồng Trắc (洪陟, k: hongch’ŏk) và Huệ Triệt (慧徹, k: hyech’ŏl) vào triều đại Tân La, Hàn Quốc. Sư viên tịch năm 814 lúc 80 tuổi.
Có một Cư sĩ (Trương Chuyết Tú Tài) đến hỏi: “Có thiên đường địa ngục không?” Sư đáp: “Có.” Cư sĩ hỏi: “Có Phật, Pháp, Tam bảo không?” Sư đáp: “Có.” và cứ như vậy câu hỏi nào Sư đều trả lời “Có.” Cư sĩ thưa: “Hoà thượng nói thế có lầm chăng?” Sư hỏi lại: “Ông gặp vị Tôn túc nào rồi mới đến đây?” Cư sĩ trả lời là đã đến thăm Hoà thượng Cảnh Sơn và Cảnh Sơn nói tất cả đều không. Sư hỏi: “Ông có vợ không?” Cư sĩ đáp: “Có.” Sư hỏi tiếp: “Hoà thượng Cảnh Sơn có vợ không?” Cư sĩ trả lời: “Không.” Sư bảo: “Hoà thượng Cảnh Sơn nói không là phải.” Cư sĩ lễ tạ.

Tây Lai ý

Từ Điển Đạo Uyển

西來意
Dạng viết ngắn của câu hỏi “Thế nào là ý nghĩa của việc Bồ-đề Ðạt-ma từ bên Tây (Ấn Ðộ) sang” (如何是祖師西來意; “Như hà thị Tổ sư tây lai ý?”). Câu hỏi rất cô đọng này tương đương với những câu như Ðệ nhất nghĩa, Yếu chỉ Phật pháp, Ðại ý Phật pháp, Nghĩa tột cùng, Chí đạo… và được rất nhiều thiền sinh nêu lên trong những cuộc Vấn đáp. Những câu trả lời của các Thiền sư cho câu hỏi này cũng rất “khác biệt” rất thú vị.
Triệu Châu trả lời: “Cây tùng trước ngõ” (庭前柏樹子; “Ðình tiền bách thụ tử”; Vô môn quan 37).
Hương Lâm trả lời: “Ngồi lâu sinh nhọc” (坐久成勞; “Toạ cửu thành lao”; Bích nham lục 17).

Tế

Từ Điển Đạo Uyển

濟; C: jì; J: sai, sei;
1. Qua sông, cứu tế; 2. Chỗ cạn, nơi có thể vượt qua được; 3. Làm, giúp đỡ, cứu giúp; 4. Làm xong, hoàn thành; 5. Gia tăng.

Tế độ

Từ Điển Đạo Uyển

濟度; C: jì dù; J: saido;
“Cứu giúp và độ thoát”. Dẫn dắt chúng sinh mê muội đến nơi tự do giải thoát. Đưa chúng sinh vượt biển khổ đến bờ giải thoát “bên kia”. Sự cứu độ.

Ter-Ma

Từ Điển Đạo Uyển

T: terma [gter-ma]; dịch nghĩa là “báu vật”;
Trong Phật giáo Tây Tạng, Ter-ma là kinh sách của thế kỉ thứ 8, trong thời gian mới đầu lúc truyền bá Phật pháp, phải được dấu kín để được khám phá ra lúc cơ duyên chín muồi. Người khám phá ra kinh sách đó được gọi là Ter-ton, và có trách nhiệm truyền bá và giải thích. Ðặc biệt trong giáo phái Ninh-mã (t: nyingmapa) người ta rất tin tưởng các Ter-ma. Việc cất giữ kinh sách trong một chỗ bí mật thật ra là truyền thống Ấn Ðộ. Người ta còn kể lại rằng, Long Thụ đã nhận được kinh điển từ Long vương (s: nāga) trao cho và có trách nhiệm truyền bá giáo pháp ấy.
Tông phái có nhiều Ter-ma nhất của Tây Tạng là Ninh-mã (nyingmapa), mà phần quan trọng nhất do Liên Hoa Sinh (padmasambhava) và nữ đệ tử là Ye-she Tsog-yel (t: yeshe tsogyel) truyền lại. Các bí lục này không chỉ gồm giáo pháp từ Ấn Ðộ mà của cả xứ Ô-trượng-na (t: orgyen). Tương truyền Liên Hoa Sinh đã dấu các tác phẩm này trong 108 chỗ bí mật tại Tây Tạng, trong các hang hốc hay tranh tượng. Một trong những bí lục quan trọng đó là hồi kí cuộc đời của Liên Hoa Sinh cũng như bộ Tử thư (t: bardo thodol). Ngoài ra các tài liệu về thiên văn và y học cũng được xem là Ter-ma.
Khoảng giữa thế kỉ 10 và 14, nhiều vị nhận được khải thị tìm thấy Ter-ma, thường thường là khải thị trong giấc mộng hoặc linh ảnh. Các vị đó có trách nhiệm tìm kiếm, xếp đặt lại và luận giải thêm về các Ter-ma đó. Trong trường phái Ninh-mã, người ta rất trọng thị các vị Ter-ton (người tìm ra các Ter-ma), nhất năm vị “vua tìm thấy báu vật” mà một trong năm vị đó là Org-yan Pe-ma Ling-pa (1445-1521), được xem là hậu thân của Long-chen-pa. Có khi một Ter-ma vừa tìm ra được lại phải dấu kín lại vì chưa đến lúc công bố. Các Ter-ma đó được gọi là “của báu phải dấu hai lần.”

Tha

Từ Điển Đạo Uyển

他; C: tā; J: ta;
Có các nghĩa sau: 1. Kia, cái khác (s: para); 2. (Một) người khác (s: para-puruṣa); 3. Trong ngôn ngữ Thiền, đó là nhân vật đang được đề cập đến trong cuộc nói chuyện, nhân vậy thứ 3 (ông ấy, cô ấy); 4. Tiếng dùng để chuyển âm tha trong tiếng Phạn (sanskrit).

Tha Hoá Tự Tại Thiên

Từ Điển Đạo Uyển

他化自在天; C: tāhuà zìzài tiān; J: takejizai ten;
Cõi trời nơi mà chư thiên ở đó có thể hưởng được sự khoái lạc nhờ vào việc tạo khoái lạc từ các cõi trời khác, đó cũng là nơi Thiên ma Ba-tuần cư ngụ (s: para-nirmita-vaśa-vartino-devāḥ). Đó là cõi thứ 6 của Lục dục thiên (六欲天).

Tha Lực

Từ Điển Đạo Uyển

他力; C: tālì; J: tariki; là lực từ bên ngoài, lực của người khác;
Tha lực ở đây được hiểu là sức cứu độ của Phật A-di-đà, mà theo quan điểm của Tịnh độ tông là vị sẽ tiếp dẫn những ai cầu xin Ngài. Tha lực được dùng đối ngược lại từ Tự lực (自力). Thiền tông là một môn phái dựa trên tự lực.

Tha Ngộ

Từ Điển Đạo Uyển

他悟; C: tāwù; J: tago;
Được người khác đánh thức; giác ngộ qua sự giúp đỡ của người khác.

Thả Như

Từ Điển Đạo Uyển

且如; C: qiěrú; J: shonyo;
Giống như, như là.

Tha Sự

Từ Điển Đạo Uyển

他事; C: tāshì; J: taji;
Có các nghĩa: 1. Việc khác, chuyện của người khác; 2. Hoạt động của các yếu tố khác.

Tha Tác

Từ Điển Đạo Uyển

他作; C: tāzuò; J: tasa;
Sự tạo tác nhờ vào những yếu tố khác.

Tha Tâm Thông

Từ Điển Đạo Uyển

他心通; C: tāxīntōng; J: tashintsū; S: para-citta-jñāna.
Khả năng siêu nhiên đọc được ý nghĩ của người khác. Một tróng sáu loại thần thông (Lục thần thông 六神通).

Tha Thụ Dụng Thân

Từ Điển Đạo Uyển

他受用身; C: tā shòuyòng shēn; J: taju-yūshin;
Có các nghĩa sau: 1. Thân hiện tại của đức Phật, xuất hiện vì lợi ích của chúng sinh. Một trong bốn thân của một vị Phật-đà. Là phần bổ sung của Tự thụ dụng thân (自受用身); 2. Thân hiện diện của một vị Phật, khiến chúng sinh nhận thức và an lạc nơi Phật pháp; 3. Thân Phật hiển hiện để thuyết pháp cho những vị Bồ Tát từ địa (Thập địa) thứ nhất trở lên. Cũng được gọi là Ứng thân (應身).

Thả ước

Từ Điển Đạo Uyển

且約; C: qiěyuē; J: shaaku;
Theo quan điểm nầy, từ phương diện nầy.

Tha-Ga-Na-Pa

Từ Điển Đạo Uyển

S: thaganapa; “Người bệnh nói dối”;
Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem là sống trong thế kỉ 11.
Tha-ga-na-pa là người mang bệnh nói dối, vì vậy mà mọi người đều tránh xa. Lần nọ, ông gặp một Du-già sư, vị này nghe biết ông nói dối liền khuyên: “Nếu ngươi nói dối thường xuyên và nghiệp báo đến lúc chín muồi, ngươi sẽ tái sinh trong Ðịa ngục. Nói dối nhiều lần sẽ thấy quen và hậu quả là lưỡi bị chẻ làm đôi, hơi thở hôi hám…”. Nghe như vậy ông sợ quá và cũng thú nhận muốn học hỏi nhưng sự dối trá đã trở thành thói quen. Vị Du-già sư dạy ông phép quán tưởng rằng mọi sự trên đời đều là hư dối:
Vì ngươi không hề biết,
hiện tượng là dối trá,
nên ngươi mới dối trá.
Nếu ngươi biết rõ rằng,
vật biết và người biết,
đều cùng giả dối cả,
và sáu căn sáu trần,
đều cũng đang lừa dối,
ngươi tìm đâu sự thật?
Tưởng mê vọng là chân,
nên còn dính sinh tử.
Trẻ không thấy tuồng giả,
tưởng cái giả là thật,
các ngươi quay không nghỉ,
trong bánh xe sinh tử,
chẳng khác bánh xe nước,
đi lên rồi đi xuống.
Hãy quán mọi hiện tượng,
là ảo ảnh, giả tạo.
Mọi sắc thể: giả tướng,
mọi âm thanh: tiếng vọng,
và cuối cùng hãy xem
lòng tin của chính ngươi,
rằng chúng là giả tạo,
lòng tin đó cũng giả!
Sau bảy năm thiền định, vị Du-già sư lại xuất hiện và khuyên ông quán tưởng tự tính mọi sự đều là tính Không (s: śūnyatā). Sau đó Tha-ga-na-pa đạt thánh quả, chứng ngộ được Không. Bài ca ngộ đạo sau của ông bày tỏ phép vận dụng đặc biệt của Kim cương thừa, dĩ độc trị độc:
Muốn nước chảy khỏi tai,
hãy xòt nước vào tai.
Muốn thấy rõ thật tại,
quán hiện tượng đều giả.

Thạch Củng Huệ Tạng

Từ Điển Đạo Uyển

石鞏慧藏; C: shígòng huìcáng; J: shakkyō ezō; tk. 8/9;
Thiền sư Trung Quốc, truyền nhân của Mã Tổ.
Trước khi xuất gia, Sư làm nghề thợ săn. Một hôm nhân đuổi bầy nai qua am Mã Tổ, gặp Tổ đứng trước, Sư hỏi: “Hoà thượng có thấy bầy nai chạy qua đây không.” Tổ không đáp hỏi: “Ông là người gì?” Sư đáp: “Thợ săn.” Tổ hỏi: “Ông bắn giỏi không?” Sư đáp: “Bắn giỏi.” Tổ hỏi bắn một lần được mấy con, Sư giật mình nói mỗi mũi chỉ bắn được một con. Nghe Mã Tổ nói mỗi mũi bắn được một bầy, Sư nói: “Sinh mệnh của chúng, đâu nên bắn một bầy?” Tổ hỏi: “Ông đã biết như thế sao không tự bắn?” Sư thưa: “Nếu dạy tôi bắn tức không chỗ hạ thủ.” Mã Tổ nói: “Chú này phiền não vô minh nhiều kiếp, ngày nay đã đoạn.” Ngay lúc đó, Sư ném cung bẻ tên, tự cạo đầu quy y (xem thêm câu chuyện của Sa-va-ri-pa).
Sư cùng Thiền sư Tây Ðường Trí Tạng đi dạo, Sư hỏi: “Sư đệ biết bắt hư không chăng?” Tạng đáp: “Biết.” Tạng liền lấy tay chụp hư không. Sư thấy thế bảo: “Làm như thế sao bắt được hư không!” Tạng hỏi: “Sư huynh làm sao bắt được?” Sư liền nhéo mũi Trí Tạng một cái mạnh. Tạng đau quá la: “Giết chết lỗ mũi người ta! Buông ngay!” Sư bảo: “Phải như thế mới bắt được hư không.” Trí Tạng về phòng và đến khuya rõ chuyện.
Không biết Sư tịch ở đâu, lúc nào.

Thạch Ðầu Hi Thiên

Từ Điển Đạo Uyển

石頭希遷; C: shítóu xīqiān; J: sekitō kisen; 700-790;
Thiền sư Trung Quốc, đắc đạo nơi Thanh Nguyên Hành Tư. Môn đệ của Sư có ba vị danh tiếng là Dược Sơn Duy Nghiễm, Ðan Hà Thiên Nhiên và Thiên hoàng Ðạo Ngộ.
Sư ở Hồ Nam và Mã Tổ ở Giang Tây là hai vị thầy danh tiếng nhất đương thời. Sử sách ghi lại rằng “Mã Ðại sư hoằng hoá tại Giang Tây, Thạch Ðầu Hoà thượng tại Hồ Nam và Thiện tri thức đều đến hai nơi này. Ai không yết kiến hai vị này là uổng công tu hành”.
Sư họ Trần, quê ở Cao Yếu, Ðoan Châu. Sư mộ đạo từ nhỏ, nhân nghe Lục tổ Huệ Năng giáo hoá tại Tào Khê Sư liền đến. Ðến chưa bao lâu thì Tổ báo tin sắp tịch, khuyên Sư đến Thanh Nguyên Hành Tư tham vấn. Sư đến Thiền sư Hành Tư và nhân đây ngộ đạo. Sau, Sư đến Hoành Nhạc tại Nam Tự cất am tranh ở. Cạnh chùa có đồi đá cao nên thời nhân kính trọng gọi Sư là Hoà thượng Thạch Ðầu.
Có vị tăng hỏi: “Thế nào là giải thoát?” Sư đáp: “Ai trói ngươi?” Tăng hỏi: “Thế nào là →Tịnh độ?” Sư đáp: “Cái gì làm nhơ ngươi?” Tăng hỏi: “Thế nào là →Niết-bàn?” Sư đáp: “Ai đem sinh tử cho ngươi?”
Ðời Ðường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ sáu, ngày rằm tháng chạp Sư viên tịch, thọ 91 tuổi, được 63 tuổi hạ. Vua sắc phong là Vô Tế Thiền sư, tháp hiệu Quy Sơn.

Thạch Liêm

Từ Điển Đạo Uyển

石溓; 1633-1704
Thiền sư Trung Quốc thuộc tông →Tào Ðộng đời thứ 29. Sư là người đầu tiên truyền tông Tào Ðộng sang miền Trung Việt Nam.
Sư quê ở Giang Tây, học vấn uyên bác, rành thiên văn địa lí, thư, thi pháp và cả hội hoạ. Sư sớm xuất gia tu hành và là môn đệ của Thiền sư Giác Lãng thuộc tông Tào Ðộng.
Ðược lời mời của Thiền sư →Nguyên Thiều, Sư sang Việt Nam ngày 15 tháng giêng năm Ất Hợi, niên hiệu Khang Hi thứ 34 (1695). Ngày 28 tháng giêng, Sư đến Thuận Hoá và mồng 1 tháng 2, Sư gặp chúa Nguyễn Phúc Chu.
Chúa Nguyễn thỉnh Sư ở chùa Thiên Mụ để dạy đệ tử và thường đến thưa hỏi đạo lí. Ngoài ra, các Thiện tri thức tham vấn Sư rất nhiều, hoặc trực tiếp thưa hỏi, hoặc gián tiếp qua thư từ. Sư cũng không ngần ngại trả lời những bức thư này với tất cả tấm lòng và nhiều bức thư trả lời của Sư vẫn được lưu truyền đến ngày nay.
Nhưng đáng tiếc là Sư hoằng hoá hai năm ở Việt Nam và sau đó trở về Trung Quốc và viên tịch tại đây. Tông Tào Ðộng do Sư truyền sang không rõ người Việt Nam thừa kế trong phái xuất gia, còn trong giới Cư sĩ thì có chúa Nguyễn Phúc Chu, hiệu Hưng Long và Thiều Dương Hầu, anh thứ ba của chúa. Ðệ tử nối pháp người Trung Quốc thì có ba vị được nhắc đến là Hưng Liên Quả Hoằng (sang Việt Nam trước thầy), Hưng Triệt và Hoàng Thần.

Thạch Sương Khánh Chư

Từ Điển Đạo Uyển

石霜慶諸; C: shíshuāng qìngzhū; J: sekisō kei-sho; 807-888/889;
Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Ðạo Ngô Viên Trí.
Sư con nhà họ Trần, quê ở Tân Cang, Lô Lăng. Ban đầu Sư theo học Luật nhưng cho đây không phải là pháp môn đốn ngộ, bèn đến Quy Sơn Linh Hựu và làm chức giữ kho (tri khố). Một hôm Sư sàng gạo, Quy Sơn đến bảo: “Vật của thí chủ chớ để rơi rớt.” Sư thưa: “Chẳng dám rơi rớt.” Quy Sơn lượm từ dưới đất một hạt gạo lên hỏi: “Chẳng rơi rớt, đây là cái gì?” Sư không đáp được, Quy Sơn lại nói: “Chớ xem thường một hạt này, trăm ngàn hạt đều từ một hạt này sinh.” Sư thưa: “Trăm ngàn hạt từ một hạt này sinh, chẳng biết hạt này từ đâu sinh?” Quy Sơn cười ha hả rồi trở về phương trượng. Buổi chiều, Quy Sơn thượng đường bảo: “Ðại chúng! Trong gạo có sâu, các ngươi hãy khéo xem!”
Sau, Sư đến Ðạo Ngô. Sư hỏi: “Thế nào chạm mắt là Bồ-đề?” Ðạo Ngô gọi: “Sa-di!” Sư ứng: “Dạ!” Ðạo Ngô bảo: “Thêm nước trong tịnh bình”. Im lặng giây lâu Ðạo Ngô lại hỏi Sư: “Vừa rồi hỏi cái gì?” Sư toan thuật lại, Ðạo Ngô liền đứng dậy đi. Sư nhân đây có tỉnh.
Một hôm, Ðạo Ngô nói với chúng: “Ta trong tâm có một vật để lâu thành bệnh, có người nào hay vì ta dẹp?” Sư thưa: “Tâm vật đều không, trừ đó càng thêm bệnh.” Ðạo Ngô nói: “Lành thay! Lành thay!”
Sau đó khoảng hai năm, Sư rời Ðạo Ngô, đến Lưu Dương ở ẩn, sáng đi tối về không ai hay. Sau, Ðộng Sơn Lương Giới nhân lời nói của một thiền khách biết được Sư tại đây và từ đây chúng quanh lại thỉnh Sư trụ trì núi Thạch Sương. Sư trụ ở Thạch Sương 20 năm, dạy môn đệ rất kỉ luật, học chúng thường ngồi chẳng nằm vì vậy người ta thường gọi là “Chúng cây khô” (石霜枯木眾; Thạch Sương khô mộc chúng). Vua Ðường Hiến Tông quý trọng đạo hạnh của Sư, ban cho tử y (ca-sa tía), nhưng Sư từ chối không nhận.
Niên hiệu Quang Khải năm thứ tư (889), ngày 20 tháng 2 năm Mậu Thân, Sư có chút bệnh rồi tịch, thọ 82 tuổi, 59 tuổi hạ. Vua sắc phong là Phổ Hội Ðại sư, tháp hiệu Kiến Tướng.

Thạch Sương Sở Viên

Từ Điển Đạo Uyển

石霜楚圓; C: shíshuāng chǔyuán; J: sekisō soen; 986-1039, còn được gọi là Từ Minh (慈明);
Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế, nối pháp của Thiền sư Phần Dương Thiện Chiêu. Sư có nhiều đệ tử đắc pháp nhưng có hai vị trội hơn hết, sáng lập ra hai hệ phái trong tông Lâm Tế là Hoàng Long Huệ Nam và Dương Kì Phương Hội.
Sư họ Lí quê ở Toàn Châu, xuất gia năm 22 tuổi. Mẹ Sư khuyến khích Sư đi du phương. Nghe danh Phần Dương là thiện tri thức bậc nhất, Sư tìm đến bất chấp mọi khó khăn. Phần Dương thấy Sư liền thầm nhận cho nhập hội.
Sư ở hai năm mà chưa được riêng dạy, mỗi lần vào thưa hỏi chỉ bị mắng chửi, nghe Phần Dương chê bai những vị Tôn túc khác, hoặc dùng những lời thô kệch. Một hôm Sư trách: “Từ ngày đến bây giờ đã hai năm mà chẳng được dạy bảo, chỉ làm tăng trưởng niệm thế tục trần lao, năm tháng qua nhanh việc mình chẳng sáng, mất cái lợi của kẻ xuất gia.” Phần Dương nhìn thẳng vào mặt Sư mắng: “Ðây là ác tri thức dám chê trách ta” và cầm gậy đánh. Sư toan la cầu cứu, Phần Dương liền bụm miệng Sư. Sư bỗng nhiên đại ngộ, nói: “Mới biết đạo Lâm Tế vượt ngoài thường tình.” Sư ở lại hầu hạ thầy bảy năm.
Sau, Sư trụ ở Thạch Sương. Nhân ngài giải hạ, Sư dạy chúng:
Ngày xưa làm trẻ con, hôm nay tuổi đã già, chưa rõ ba tám chín, khó đạp đường ngôn ngữ khéo léo. Tay quét Hoàng hà khô, chân đạp Tu-di ngã, phù sinh thân mộng huyễn, mệnh người đêm khó giữ. Thiên đường địa ngục đều do tâm tạo ra, núi Nam tùng ngọn Bắc, ngọn Bắc cỏ núi Nam. Một giọt thấm vô biên, gốc mầm mạnh khô kháo, tham học vào năm hồ, chỉ hỏi hư không thảo. Chết cởi áo trời hạ, sinh đắp mền trăng đông, rõ ràng người vô sự, đầy đất sinh phiền não.
Sư nói xong hét một tiếng rồi xuống toà.
Sư hoằng hoá tại Thạch Sương, môn phong Lâm Tế rất thịnh hành. Một hôm, sau khi thăm người bạn đạo Lí Công xong, Sư cùng thị giả trở về. Giữa đường, Sư bảo thị giả: “Ta vừa bị bệnh phong.” Nhìn thấy Sư bị bệnh phong giật méo qua một bên, thị giả dậm chân nói: “Tại làm sao lúc bình thường quở Phật mắng Tổ, hôm nay lại như vậy?” Sư bảo: “Ðừng lo, ta sẽ vì ngươi sửa lại ngay”. Nói xong, Sư lấy tay sửa miệng lại ngay như cũ và nói: “Từ nay về sau chẳng nhọc đến ngươi.”
Năm 1041, Sư đến Hưng Hoá. Ngày mùng năm tháng giêng, Sư tắm gội xong từ biệt chúng rồi ngồi kết già an nhiên thị tịch, thọ 54 tuổi, 32 tuổi hạ.

Thái Dương Cảnh Huyền

Từ Điển Đạo Uyển

太陽警玄; C: tàiyáng jǐngxuán; J: taiyō keigen; 943-1027;
Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Tào Ðộng, đắc pháp nơi Thiền sư Lương Sơn Duyên Quán. Môn đệ chính truyền của Sư là Thánh Nham Viên Giám, Hưng Dương Thanh Phẩu và đặc biệt là Phù Sơn Pháp Viễn, một vị Thiền sư thuộc tông Lâm Tế. Phù Sơn – vốn là đệ tử kế thừa Diệp Huyện Quy Tỉnh – được Sư truyền trao y bát, sau lại truyền cho Thiền sư Ðầu Tử Nghĩa Thanh. Trong hệ thống truyền thừa của tông Tào Ðộng tại Trung Quốc và Nhật Bản, Ðầu Tử được xem là người kế thừa trực tiếp của Sư.
Không biết Sư quê quán ở đâu, chỉ biết lúc du phương, Sư đến tham học với Thiền sư Lương Sơn Duyên Quán. Gặp Lương Sơn, Sư hỏi: “Thế nào là đạo trường vô tướng?” Lương Sơn chỉ tượng Quán Thế Âm bảo: “Cái này là do Ngô Xử Sĩ vẽ.” Sư đang suy nghĩ để nói tiếp, Lương Sơn lại nói nhanh: “Cái này có tướng, cái kia không tướng.” Sư nhân đây tỉnh ngộ, liền lễ bái. Lương Sơn hỏi: “Sao không nói lấy một câu?” Sư thưa: “Nói thì chẳng từ, sợ sa vào dấy mực.” Lương Sơn cười bảo: “Lời này vẫn còn ghi trên bia.” Sư trình kệ:
我昔初機學道迷,萬水天山覓見知
明今辨古終難會,直說無心轉更疑
蒙師點出秦時鏡,照見父母未生時
如今覺了何所得,夜放烏雞帶雪飛.
Ngã tích sơ cơ học đạo mê
Vạn thuỷ thiên sơn mích kiến tri
Minh kim biện cổ chung nan hội
Trực tiếp vô tâm chuyển cánh nghi
Mông sư điểm xuất Tần thời cảnh
Chiếu kiến phụ mẫu vị sinh thì
Như kim giác liễu hà sở đắc
Dạ phóng ô kê đới tuyết phi.
*Con xưa học đạo cứ sai lầm
Muôn núi ngàn sông kiếm thấy nghe
Luận cổ bàn kim càng khó hội
Nói thẳng vô tâm lại sinh nghi
Nhờ thầy chỉ rõ thời Tần kính
Soi thấy cha mẹ lúc chưa sinh
Hiện nay giác ngộ đâu còn đắc
Ðêm thả gà đen trong tuyết bay.
Lương Sơn nghe kệ khen: “Có thể làm hưng thịnh tông Tào Ðộng.”
Sau khi rời Lương Sơn, Sư đến núi Thái Dương trụ trì, khai đường hoằng hoá. Sư có tinh thần rất kì lạ, từ nhỏ đến lớn chỉ ăn ngày một bữa và trụ trì tại Thái Dương 50 năm mà chưa bao giờ bước qua khỏi ranh giới.
Có một vị tăng hỏi: “Tùng lâm bát ngát, trống pháp ầm ầm, nhằm trên tông thừa nói bày thế nào?” Sư đáp: “Y không có tin tức, đâu cho phù hợp.” Tăng lại hỏi: “Hôm nay tông thừa đã nhờ thầy chỉ dạy, chưa biết pháp tự ai, nối pháp người nào?” Sư đáp: “Lương Sơn chỉ thẳng thời Tần kính, Trước ngọn Trường Khánh một ngôi ngời.” Tăng hỏi: “Thế nào là cảnh Thái Dương?” Sư đáp: “Hạc côi vượn lão kêu vang dội, tùng gầy trúc lạnh toả khói xanh.” Lại hỏi: “Thế nào là người trong cảnh?” Sư hỏi lại: “Cái gì? Cái gì?” Tăng hỏi: “Thế nào là gia phong Thái Dương?” Sư đáp: “Bình đầy nghiêng chẳng đổ, khắp nơi chẳng người đói.”
Ðời nhà Tống, niên hiệu Thiên Thánh năm thứ năm, ngày 16 tháng 7, Sư từ biệt chúng. Ba hôm sau, Sư viết kệ gửi Thị Lang Vương Thự:
Ngô niên bát thập ngũ
Tu nhân chí ư thử
Vấn ngã quy hà xứ
Ðỉnh tướng chung nan đổ
*Ta tuổi tám mươi lăm
Tu nhân đến thế ấy
Hỏi ta đi về đâu
Tướng đỉnh trọn khó thấy.
Sư viết xong liền tịch.
Thái Nguyên Tông Chân 太源宗真; J: taigen sáshin, ?-1370;
Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Tào Ðộng, một trong năm vị đại đệ tử của Thiền sư Nga Sơn Thiều Thạc (gasan jōseki, 1275-1365).
Sư kế thừa Nga Sơn trụ trì Tổng Trì tự (sōji-ji) và cũng như thầy mình, Sư lấy thuyết Ðộng Sơn ngũ vị làm lí thuyết căn bản của tông phong. Dòng thiền của Sư được truyền bá rất rộng với hơn trăm lần khai sơn lập tự tại Trung và Ðông Nhật Bản. Về cuối đời, Sư trụ tại Vĩnh Quang tự (yōkō-ji) và sáng lập Phật-đà tự (budda-ji) tại tỉnh Kaga.

Thái Nhiên

Từ Điển Đạo Uyển

泰然; C: tàirán; J: taizen;
Thanh thản, điềm tỉnh; ung dung, không lay động.

Thâm

Từ Điển Đạo Uyển

深; C: shēn; J: shin;
Sâu sắc, uyên thâm, không dò được- đặc biệt đề cập đền giáo pháp.

Thâm Mật

Từ Điển Đạo Uyển

深密; C: shēnmì; J: shinmitsu;
Giáo pháp sâu sắc, thâm diệu.

Thâm Mật Giải Thoát Kinh

Từ Điển Đạo Uyển

深密解脱經; C: shēnmì jiĕtuō jīng; J: shin-mitsu gedatsukyō; S: saṃdhinirmocana-sūtra
Tên bản dịch của Bồ-đề Lưu-chi dịch từ Saṃdhinirmocana-sūtra; gồm 5 quyển. Xem Giải thâm mật kinh (解深密經).

Thâm Mật Kinh

Từ Điển Đạo Uyển

深密 (蜜) 經; C: shēnmì jīng; J: shinmikkyō;
Giải thâm mật kinh (解深密經; s: saṃ-dhinirmocana-sūtra).

Tham Thiền

Từ Điển Đạo Uyển

參禪; J: sanzen; nghĩa là “đến với Thiền”, “đi đến Thiền”, hoặc Toạ thiền;
Ðến tham vấn một vị Lão sư để nhận sự chỉ dạy. Trong tông Lâm tế tại Nhật Bản thì Tham thiền đồng nghĩa với Ðộc tham (j: dokusan), theo Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền thì Tham thiền chính là sự tu tập thiền đúng đắn (Tổng tham).

Thẩm Tường

Từ Điển Đạo Uyển

審祥; C: shěnxiáng; J: shinshō; tk. 8;
Cao tăng Trung Quốc thuộc tông Hoa nghiêm, đã đem giáo lí của tông này truyền sang Nhật và được ở đây xem là Sơ tổ (Hoa nghiêm tông).

Thâm Viễn

Từ Điển Đạo Uyển

深遠; C: shēnyuăn; J: shin’on, jinnon;
1. Thâm diệu; thâm diệu và có ảnh hưởng sâu rộng; 2. Trí tuệ sâu mầu.

Thâm-Trập Kinh

Từ Điển Đạo Uyển

深蟄經; C: shēnzhé jīng; J: shinchūkyō;
Một cách gọi khác của Thâm mật kinh (深蜜經), tên gọi tắt của kinh Giải thâm mật (解深密經; s: saṃdhinirmocana-sūtra).

Thán

Từ Điển Đạo Uyển

歎; C: tàn; J: tan;
1. Thán phục, tán thành, khen ngợi; 2. Thở dài, than van.

Thần đạo

Từ Điển Đạo Uyển

神道; J: shintō;
Tôn giáo truyền thống của Nhật Bản bắt đầu từ Công nguyên. Trong thế kỉ thứ 5, 6, Thần đạo chịu ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo Trung Quốc. Từ Phật giáo, Thần đạo thu nhận thêm một số tư tưởng triết học và giới luật. Năm 1868, Thần đạo trở thành quốc giáo, nhà vua được xem là có thiên mệnh. Năm 1945, Thần đạo mất tính chất quốc giáo và kể từ năm 1946, nhà vua không còn tự cho mình có tính thần quyền.
Thần đạo thời nguyên thuỷ tin tưởng đa thần: mỗi con sông, ngọn núi, mỗi hiện tượng thiên nhiên đều do một vị thần (kami) trấn giữ. Các vị thần quan trọng nhất là cha trời mẹ đất, là hai vị đã tạo nên hải đảo Nhật Bản và các vị thần khác. Thần Amaterasu Omikami được xem là vị đại thần quan trọng nhất do cha trời mẹ đất sinh ra, vị này thống lĩnh mặt trời, cho con cháu xuống đất thống lĩnh từng hòn đảo của Nhật và dựng nên vương quốc vĩnh viễn tại đó. Ðó là huyền thoại xây dựng nước Nhật và hoàng gia, trở thành quan niệm của Thần đạo. Ðến năm 1868, Thần đạo vẫn đóng một vai trò phụ thuộc bên cạnh Phật giáo. Hơn thế nữa, Thần đạo chịu ảnh hưởng của Thiên Thai tông (j: tendai), Chân ngôn tông (j: shingon) và các vị thần Thần đạo được xem là hoá thân của chư Phật và Bồ Tát. Từ thế kỉ 16 đến giữa thế kỉ 19, dưới thời Ðức Xuyên (tokugawa), Thần đạo bắt đầu kết hợp với Khổng giáo, một lí do là vì Khổng giáo tôn sùng quyền lực của triều đình. Cũng trong thời gian đó, Thần đạo bị chia thành nhiều bộ phái khác nhau, dựa trên niềm tin mỗi nơi mỗi khác. Người ta tìm thấy 13 khuynh hướng khác nhau với nhiều khía cạnh khác nhau về phong tục, trong đó có cả nhóm chuyên thờ thần núi và thực hành phép chữa bệnh đồng cốt.

Thân Loan

Từ Điển Đạo Uyển

親鸞; J: shinran; 1173-1262;
Cao tăng người Nhật, sáng lập Tịnh độ chân tông (j: jōdo-shin-shū) của Phật giáo Nhật Bản.
Ông là học trò của Pháp Nhiên (法燃; j: hōnen, Tịnh độ tông) nhưng có quan điểm khác thầy. Giáo pháp của tông này không còn giống Phật pháp nguyên thuỷ là bao nhiêu. Ba ngôi báu (Tam bảo; s: triratna) được đơn giản hoá thành lời thệ nguyện của đức Phật A-di-đà (s: amitābha, amitāyus) – nói chính xác hơn là lời nguyện thứ 18 trong 48 lời nguyện của Ngài. Ngôi báu thứ ba của Tam bảo là Tăng-già bị bác bỏ, các đệ tử của ông hoàn toàn là những Cư sĩ, chính ông lập gia đình. Theo Thân Loan thì sự tu tập thuần tuý theo Tự lực vô bổ. Ông quan niệm rằng, mọi người đều cần sự giúp đỡ từ bên ngoài (Tha lực) của đức A-di-đà và giải thoát chỉ có thể đạt được với sự giúp đỡ của Ngài. Ông quy tất cả các phương pháp tu hành về một: là Niệm Phật, niệm danh hiệu của Phật A-di-đà và cho rằng, đó chính là sự báo ân đối với vị Phật này và ngay cả cách niệm Phật này cũng trở thành dư thừa nếu niềm tin của người niệm danh nơi Ngài đủ mạnh, vững chắc.
Thân Loan quan niệm rằng, người tu hành Phật đạo có thể sống tại gia. Ông bị Tăng-già tại Kinh Ðô (kyōto) trục xuất và bị đày đi đến một tỉnh miền Bắc bởi vì sống chung với một phụ nữ. Theo yêu cầu của thầy, ông cưới vợ để chứng minh rằng, Giới luật dành cho tăng chúng không phải là điều kiện chính yếu để đạt giải thoát. Việc này gây sự bất hoà và chia rẽ trong giới đệ tử của Pháp Nhiên vì đa số tăng sĩ muốn giữ giới độc thân.
Sau đó Thân Loan sống bên lề xã hội, cùng với những kẻ mà theo ông là không biết phân biệt thiện ác. Thân Loan cho rằng Phật A-di-đà là vị sẵn sàng hơn cả cứu độ những người “kém cỏi” vì những người này không có gì khác hơn là lòng tin nơi A-di-đà. Còn những người “giỏi giang” hơn thì hay bị rơi vào ý nghĩ – theo ông là mê lầm – là nhờ thiện nghiệp hay Công đức tự tạo mà có thể đạt giải thoát. Ông chỉ biết đến thệ nguyện thứ 18 của Phật A-di-đà và vì vậy có nhiều khác biệt với Tịnh độ tông và Pháp Nhiên.

Thần Nghi

Từ Điển Đạo Uyển

神儀; ?-1216
Thiền sư Việt Nam thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông thứ 13, nối pháp Thiền sư Thường Chiếu.
Sư họ Quách, quê ở Ngoại Trại, xuất thân từ một gia đình mộ đạo. Sau khi xuất gia, Sư đến học với Thiền sư Thường Chiếu.
Lúc Thường Chiếu sắp tịch, Sư hỏi: “Mọi người đến thời tiết này, vì sao đều theo thế tục mà chết?” Thường Chiếu bảo: “Ngươi nhớ được mấy người không theo thế tục?” Sư thưa: “Một mình Tổ (Bồ-đề) Ðạt-ma.” Thường Chiếu hỏi: “Có những đặc biệt gì?” Sư thưa: “Một mình đạp trên sóng mà trở về Tây.” Thường Chiếu hỏi: “Núi Hùng Nhĩ là nhà ai?” Sư thưa: “Chỉ là nơi chôn chiếc gậy trong hòm mà thôi.” Thường Chiếu bảo: “Lừa người lấy lợi, đứng đầu là Thần Nghi.” Sư hỏi: “Ðâu thể nói Tống Vân truyền dối, việc vua Trang Ðế quật mồ thì sao?” Thường Chiếu bảo: “Một con chó lớn sủa láo.” Sư hỏi: “Hoà thượng cũng tuỳ tục chăng?” Thường Chiếu bảo: “Tuỳ tục.” Sư hỏi: “Vì sao như thế?” Thường Chiếu đáp: “Ấy là cùng người đồng đều.” Sư nhân đây bỗng nhiên tỉnh ngộ, lễ bái thưa: “Con đã hiểu lầm rồi.” Thường Chiếu liền hét.
Sau đó Thường Chiếu lấy bản đồ truyền thừa của Thiền sư Thông Biện ra vì Sư giảng nghĩa.
Sau khi Thường Chiếu tịch, Sư về trụ trì chùa Thắng Quang ở làng Thị Trung, Kim Bài. Ðồ chúng theo học rất đông.
Ngày 18 tháng 2 năm Bính Tí, niên hiệu Kiến Gia thứ 6 đời Lí Huệ Tông, Sư gọi đệ tử là Ẩn Không đến lấy bản đồ của Thường Chiếu trao cho và dặn: “Phương này hiện nay tuy loạn, ngươi khéo giữ bản dồ này, cẩn thận đừng để binh lửa làm hại, ắt là tổ phong của ta không mất vậy”. Nói xong, Sư tịch.

Thần Thông

Từ Điển Đạo Uyển

神通; S: ṛddhi; P: iddhi; cũng được gọi là Như ý thông, Thần túc thông;
Thần thông siêu nhiên, một trong Lục thông (sáu thắng trí). Người ta hiểu thần thông với các khả năng như sau: năng lực biến ra nhiều người, lấy dạng hình người khác, tàng hình, xuyên qua đất đá, đi trên nước, rờ mặt trời mặt trăng, đến những tầng trời cao nhất, cứu độ người đang hiểm nguy… Những khả năng này được xem là kết quả phụ của các phép tu thiền định. Tuy nhiên tăng, ni không được dùng các khả năng này để biểu diễn hay lạm dụng. Phạm những quy định này có thể bị loại ra khỏi Tăng-già.

Thần Tú

Từ Điển Đạo Uyển

神秀; C: shénxiù; J: jinshū; ~ 605-706, cũng được gọi là Ngọc Tuyền Thần Tú;
Thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ xuất sắc của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Theo truyền thuyết, Sư thua cuộc trong việc chọn người nối pháp của Hoằng Nhẫn và Huệ Năng được truyền y bát. Sư vẫn tự xem mình là người nối pháp của Hoằng Nhẫn và sáng lập Bắc tông thiền, một dòng thiền vẫn còn mang đậm sắc thái Ấn Ðộ với bộ kinh Nhập Lăng-già làm căn bản.
Sư thuở nhỏ đã thông minh hơn người. Ban đầu, Sư học Nho giáo nhưng không hài lòng, sau đó (năm 46 tuổi) đến núi Hoàng Mai nhập hội của Hoằng Nhẫn. Nơi đây, Sư là môn đệ xuất sắc của Ngũ tổ (Sử sách có ghi lại tên của 11 người đệ tử của Hoằng Nhẫn đã giáo hoá danh tiếng). Sau khi Hoằng Nhẫn viên tịch, Sư rời Hoàng Mai và đi du phương gần 20 năm. Sau, khi Vũ Hậu là Tắc Thiên mời đến kinh đô, Sư chần chừ rồi nhận lời. Nơi đây, Sư giáo hoá rất nhiều người, danh tiếng lừng lẫy.
Năm Thần Long thứ hai (706), Sư viên tịch. Vua sắc phong là Ðại Thông Thiền sư. Ðến giữa thế kỉ 8, vương triều công nhận Sư là người thừa kế Ngũ tổ, nhưng dòng Thiền của Sư tàn lụi sau vài đời, có lẽ vì liên hệ chính trị nhiều với vương triều.

Thản Văn

Từ Điển Đạo Uyển

坦文; C: tănwén; J: tanbun; K: tanmun, 900-975;
Học giả chính của Hoa Nghiêm tông trong thời Cao Li (k: koryŏ).

Thân, Khẩu, ý

Từ Điển Đạo Uyển

身口意; S: kāya-vāk-citta;
Ba khái niệm quan trọng (thân thể, lời nói, ý niệm) trong đạo Phật, có ý nghĩa rất sâu xa. Từ thời Phật giáo nguyên thuỷ, khi luận về Nghiệp (s: karma), người ta đã chia ra ba loại Nghiệp do thân, khẩu, ý sinh ra. Ðến Kim cương thừa, ba thành phần trên đây của con người trở thành ba phép tu luyện thiền định. Mục đích cuối cùng của hành giả qua phương pháp tu tập các Nghi quỹ là chứng được Ba thân Phật (s: trikāya). Hành giả bắt Ấn (s: mudrā) thuộc thân, thực hành Thiền định (s: samādhi) thuộc ý và tụng đọc Man-tra (Thần chú) thuộc khẩu để chứng được ba thân đó. Sau đây là mối liên hệ: Phạm vi Phương pháp Chứng ngộ
Thân Bắt ấn Ứng hoá thân Khẩu Man-tra Báo thân Ý Thiền định Pháp thân
Phép chia ba thành phần này thường được biểu diễn bởi ba âm OṂ ĀḤ HŪṂ. Ba thành phần và ba âm đó đóng vai trò tuyệt đối quan trọng trong các phép hành trì Nghi quỹ (s: sādhana) và là bước đi cần thiết để tạo linh ảnh. OṂ được xem là có sắc trắng, đặt tại trán và đại diện cho Thân. ĀḤ có sắc đỏ, đặt tại cổ, đại diện cho Khẩu và HŪṂ sắc xanh, đặt tại tim, đại diện cho Ý. Ba khuynh hướng xấu ác của ba thành phần này chính là tham, sân và si, là ba nguyên nhân trói buộc trong Luân hồi. Sau khi được chuyển hoá, Thân khẩu ý được biểu diễn bằng ba Kim cương chử (s: vajra; t: dorje) tượng trưng cho thể tính đích thật của ba thành phần. Trong các tranh trình bày đức Phật (Thăng-ka), người ta hay thấy mặt sau bức tranh các âm OṂ ĀḤ HŪṂ đặt tại trán, cổ và tim.
Giáo pháp tu luyện biến Thân khẩu ý thành Ba thân được trình bày trong hệ thống Ðại thủ ấn (s: mahā-mudrā) và trong Ðại cứu kính (t: dzogchen) của Phật giáo Tây Tạng, gồm có bốn phép tu đặc biệt: 1. Quy y tam bảo (t: kyabdro) và phát Bồ-đề tâm (s: bodhicitta); 2. Quán tưởng đến Kim cương Tát-đoá (s: vajrasattva) để rửa sạch thân khẩu ý; 3. Tích tụ phúc đức (s: puṇya) bằng cách quán niệm Man-đa-la (s: maṇḍala); 4. Hoà nhập tự ngã vào một dòng tu dưới sự hướng dẫn của một Ðạo sư (s: guru).
Cần biết thêm rằng rất nhiều phép tu của Phật giáo Tây Tạng đều nằm trong mối liên hệ chung với ba thành phần Thân khẩu ý. Ðặc biệt trong ba thành phần này thì Khẩu đóng một vai trò trung gian giữa Thân và Ý.

Thắng

Từ Điển Đạo Uyển

勝; C: shèng; J: shō;
Có các nghĩa sau: 1. Xuất sắc, đặc biệt, nổi bật, cao cấp, trội hơn, cao cả (s: viśista, viśa-da, parama, agra); 2. Trội hơn, vượt hơn; 3. Khắc phục, chế ngự. Đủ khả năng đáp ứng được, giữ vững được, chống đỡ được; 4. Điểm xuất sắc, điều xuất sắc; 5. Tính ưu việt, trạng thái chiếm ưu thế (s: prādhānya); 6. Chinh phục; 7. Người thông minh thính nhạy khác thường; đức Như Lai.

Thắng Giải

Từ Điển Đạo Uyển

勝解; C: shèngjiĕ; J: shōge; S: adhimukti, adhi-mokṣa; T: mospa;
Theo giáo lí của Du-già hành phái (瑜伽行派; s: yogācāra), tâm hành nhận biết rõ các pháp. Một trong 5 Biệt cảnh của Tâm sở hữu pháp (theo Thành duy thức luận 成唯識論).

Thắng Giải Hạnh địa

Từ Điển Đạo Uyển

勝解行地; C: shèngjiĕxíngdì; J: shōgegyōji; S: adhimukti-caryā-bhūmi.
Thuật ngữ nói đến toàn bộ các giai vị Thập tín (十信), Thập trú (十住), Thập hạnh (十行), và Thập hồi hướng (十廻向; theo Nhị chướng nghĩa 二障義).

Thắng Luận

Từ Điển Đạo Uyển

勝論; C: shènglùn; J: shōron; S: vaiśeṣika-śāstra.
Tên một bộ luận và tông phái triết học Ấn Độ mang tên bộ luận ấy. Thắng Luận tông (勝論宗).

Thắng Luận Sư

Từ Điển Đạo Uyển

勝論師; C: shènglùnshī; J: shōronshi;
Các luận sư hay triết gia của Thắng luận tông.

Thắng Luận Tông

Từ Điển Đạo Uyển

勝論宗; C: shènglùn zōng; J: shōron shū; S: vaiśeṣika-śāstra;
Một tông phái triết học Ấn Độ mang tên bộ luận Vaiśeṣika, phiên âm là Vệ-thế-sư (衛世師), người sáng lập được xem là Ca-na-đà (迦那陀; s: kaṇāda). Là tông phái xưa nhất trong “Sáu tông phái ngoại đạo” của triết học Ấn Độ (lục ngoại đạo 六外道). Vaiśeṣika theo tiếng Phạn có nghĩa là “sai biệt” (差別) và “thù thắng” (殊勝; s: viśeṣa). Tông nầy chia trạng thái đa dạng của bản chất thành 6 phạm trù (lục cú nghĩa 六句義; s: padārtha), hơi có khuynh hướng khoa học. Thắng luận tông giữ quan niệm là thông qua sự thực hành trọn vẹn các bổn phận đặc thù mà con người có thể hiểu được 6 phạm trù (lục cú nghĩa), và sự hiểu biết nầy có thể đưa đến phúc lạc. Ca-na-đà trình bày hệ thống quan điểm của ông trong luận Vaiśeṣika-sūtra, gồm 10 chương.

Thắng Man Kinh

Từ Điển Đạo Uyển

勝鬘經; C: shèngmán jīng; J: shōmangyō; S: śrīmālādevī-sūtra; là tên gọi ngắn của Thắng Man sư tử hống nhất thừa đại phương tiện phương quảng kinh (śrīmālādevī-siṃhanāda-sū-tra);
Kinh Ðại thừa, được hai vị Cao tăng Ấn Ðộ dịch sang Hán văn. Bản thứ nhất của Cầu-na Bạt-đà-la (求那跋陀羅; s: guṇabhadra), được dịch đời Lưu Tống (tk. 5, ~ 435-443) dưới tên trên. Bản thứ hai được Bồ-đề Lưu-chi (bodhruci) dịch (~ 508-535) dưới tên Thắng Man phu nhân hội, bởi vì kinh này cũng là một phần của bộ kinh Ðại bảo tích, hội 48. Một bản dịch cũ của kinh nầy có tên Phu nhân kinh (夫人經). Kinh này tương đối ngắn, bao gồm 15 phẩm. Phẩm thứ nhất nói về đức tính chân thật của Như Lai và sự việc công chúa Thắng Man được Phật thụ kí. Phẩm 2 – 4 nói về việc phát triển Bồ-đề tâm. Nội dung của phẩm thứ 5 – 15 có thể gọi chung là “nhập Như Lai tạng” nói về việc xác quyết Nhất thừa (s: ekayāna), về Như Lai tạng (s: tathagātagarbha), Pháp thân (s: dharmakāya), bản tính thanh tịnh. Vì bản chất nội dung, kinh thường được bàn luận và so sánh với các kinh luận như Bảo tính luận, Lăng-già (楞伽經; s: lankāvatāra-sūtra), Đại thừa khởi tín luận (大乘起信論)… Kinh này đã được Wayman dịch sang Anh ngữ năm 1974.
Công chúa Thắng Man, nhân vật chính trong kinh này có quan điểm rằng, Phật chỉ vì Ðại thừa thuyết pháp và pháp này bao gồm tất cả ba cỗ xe (Ba thừa). Thắng Man nêu ba hạng người có thể đi trên đường Ðại thừa, đó là 1. Hạng người thực hiện được Trí huệ vô thượng một mình; 2. Hạng người nhờ nghe pháp mà đạt trí huệ; 3. Hạng người có Tín tâm (s: śraddhā), tin tưởng nơi Phật pháp, mặc dù không đạt được trí huệ tột cùng.
Thắng Man sư tử hống nhất thừa đại phương tiện phương quảng kinh 勝鬘獅子吼一乘大方便方廣經; C: shèngmán shīzǐ hŏu yīshèng dàfāngbiàn fāng-guăng jīng; J: shōman shishikō ichijō daihōben hōkō kyō; S: śrīmālādevī-siṃhanāda-sūtra;
Tên gọi đầy đủ của kinh Thắng Man.

Thắng Nghĩa

Từ Điển Đạo Uyển

勝義; C: shèngyì; J: shōgi;
Có các nghĩa sau: 1. Nghĩa cao tột; nghĩa vi diệu nhất. Thực tại tối thượng. Nghĩa chân thật (s: pāramārthika, paramārtha); 2. Cõi giới vi diệu. Chân như; 3. Lí sâu mầu từ kinh nghiệm chứng ngộ, khác hẳn cảnh giới của người chưa chứng ngộ.

Thắng Nghĩa đế

Từ Điển Đạo Uyển

勝義諦; C: shèngyì dì; J: shōgitai; S: paramār-tha-satya.
Nguyên lí tột cùng, thực tại tối thượng. Thực tại được nhận biết trên căn bản liễu tri về tính không. Còn gọi là Chân đế (眞諦) và Đệ nhất nghĩa đế (第一義諦). Là một trong hai phương diện của thật tại, phương diện kia là Thế tục đế (世俗諦).

Thắng Nghĩa Giai Không Tông

Từ Điển Đạo Uyển

勝義皆空宗; C: shèngyì jiēkōngzōng; J: shōgikaikūshū;
Giáo lí tối thượng, cho rằng các pháp đều trống không.

Thắng Nghĩa Vô Tính

Từ Điển Đạo Uyển

勝義無性; C: shèngyì wúxìng; J: shōgimushō;
Một trong Tam vô tính (三無性) của Pháp tướng tông. Tính chất vô tự tính của thật tại tối thượng.

Thắng Pháp

Từ Điển Đạo Uyển

勝法; C: shèngfă; J: shōhō;
Có các nghĩa sau: 1. Giáo pháp siêu việt; 2. Giai vị giác ngộ thù thắng (s: śreyas, dharma-netrī); 3. Việc chưa từng xảy ra, chuyện trước đây chưa từng có (vị tằng hữu 未曾有; s: adbhuta).

Thắng Thân Châu

Từ Điển Đạo Uyển

勝身洲; C: shèngshēnzhōu; J: shōshinshū;
Đông thắng thân châu (東勝身洲).

Thắng Tiến

Từ Điển Đạo Uyển

勝進; C: shèngjìn; J: shōshin;
Có các nghĩa sau: 1. Tiến đến tầng bậc kế đến; hành giả đạt mức độ công phu gần đến giai vị kế đến; 2. Xuất sắc, cao cả, ngoại hạng, hoàn hảo, thù thắng (s: vaiśesika); 3. Tiến lên chiều hướng xuất sắc, tiến bộ vĩ đại.

Thắng Tiến đạo

Từ Điển Đạo Uyển

勝進道; C: shèngjìndào; J: shōshindō;
Có các nghĩa sau: 1. Đạo tu tập để tiến đến giai vị kế tiếp; 2. Đạo thăng tiến siêu tuyệt. Một trong 9 pháp Du-già (Cửu Du-già 九瑜伽, theo Du-già luận 瑜伽論).

Thắng Tiến Phần

Từ Điển Đạo Uyển

勝進分; C: shèngjìnfēn; J: shōshinbun;
Một phần trong các giai vị tu đạo (Thập địa 十地 hay Ngũ vị 五位), nơi ấy hành giả đã đạt được giai vị đó rồi và bây giờ tiến lên giai vị kế tiếp. Ngược với Tự phần (自分), là hành giả mới đạt được một giai vị riêng biệt (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).

Thắng Tông

Từ Điển Đạo Uyển

勝宗; C: shèngzōng; J: shōshū;
Thắng luận tông (勝論宗).

Thắng Tông Thập Cú Nghĩa Luận

Từ Điển Đạo Uyển

勝宗十句義論; C: shèngzōng shíjùyì lùn; J: shōshū jūkōgi ron; S: vaiśeṣika-daśapadārtha śāstra;
Luận, được Huệ Nguyệt (慧月; s: mati-candra) soạn, 1 quyển. Huyền Trang dịch tại chùa Hoằng Phúc năm 647. Một bộ kinh của Thắng luận tông Ấn Độ. Cú nghĩa (s: padārtha) là nội dung cơ bản cấu thành Thực tại trong hệ thống triết học Thắng tông. Thắng tông thường đề ra 9, đúng hơn là 6 cú nghĩa.

Thắng Tràng Tí ấn đà-La-Ni Kinh

Từ Điển Đạo Uyển

勝幢臂印陀羅尼經; C: shèng chuáng bì yìn tuóluóníjīng; J: shōtō hiin darani kyō;
Kinh, 1 quyển. Huyền Trang dịch năm 654.

Thắng Tướng

Từ Điển Đạo Uyển

勝相; C: shèngxiāng; J: shōsō;
Tướng tiêu biểu, tướng nổi bật, tướng thù thắng (theo Nhiếp Đại thừa luận 攝大乘論).

Thăng-Ka

Từ Điển Đạo Uyển

T: thaṅ-ka;
Tranh vẽ trong Phật giáo Tây Tạng. Các Thăng-ka thường là vải lụa được cuốn tròn. Tranh này phần lớn lấy nội dung là giáo pháp, hay cuộc đời đức Phật. Vẽ tranh này, người ta phải chú ý đến ba nguyên tắc: sức truyền lên người xem, sự hài hoà và chi tiết bức tranh. Người ta cho rằng việc đặt vẽ Thăng-ka cũng như bản thân vẽ Thăng-ka mang lại rất nhiều phúc đức.
Thăng-ka được vẽ bằng màu lấy trong thiên nhiên và là đối tượng hay phương tiện để thiền định và tạo linh ảnh, như tranh vẽ Vòng sinh tử (s: bhavacakra), cuộc đời và tiền thân đức Phật (Bản sinh kinh). Ngoài ra, Thăng-ka cũng trình bày lại hình ảnh các vị giáo chủ các tông phái để các đệ tử chú tâm lúc quy y. Tuy nhiên, nội dung quan trọng nhất của Thăng-ka chính là phương tiện để thiết tưởng (e: visualize) linh ảnh lúc hành trì các giáo pháp Tan-tra, Nghi quỹ (s: sādhana). Ðến thế kỉ 16 tại Tây Tạng vẫn tiếp tục hình thành các trường phái vẽ Thăng-ka khác nhau, trong đó khuynh hướng vẽ của phái Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kagyu) là nổi tiếng nhất.

Thang-Ton Gyel-Po

Từ Điển Đạo Uyển

T: thangtong gyelpo [thaṅ-ston rgyal-po]; “Vua của miền hoang dã”;
Tên của một vị Lạt-ma Tây Tạng, sống ở thế kỉ 15. Tương truyền Sư sống đến 125 tuổi. Một trong những tác phẩm nổi tiếng của Sư nói về phép Thiền quán về đức Quán Thế Âm (Nghi quỹ). Ngày nay, bộ luận đó vẫn còn được tu học trong phái Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kagyu) và được nhiều Ðạo sư đời sau luận giải thêm. Sư là người xây những chiếc cầu sắt tại Tây Tạng và tông phái của Sư được gọi là “Thiết kiều tông.” Trong tông Ninh-mã (t: nyingmapa), Sư được xem là người chuyên đi tìm các kinh sách được dấu kín (Ter-ma).

Thành

Từ Điển Đạo Uyển

城; C: chéng; J: jō;
Có 2 nghĩa: 1. Thành phố, thành trì, thành luỹ; 2. Ở Ấn Độ, là khu rừng nơi các vị tu khổ hạnh thực hành khất thực.

Thanh Biện

Từ Điển Đạo Uyển

清辯; S: bhāvaviveka, bhavya; C: qīngbiàn; J: shōben;
Một Luận sư quan trọng của tông Trung quán (s: mādhyamika), sống khoảng giữa 490 và 570. Sư sinh tại Nam Ấn Ðộ, theo học giáo lí của Long Thụ (nāgārjuna) tại Ma-kiệt-đà (magadha). Sau đó Sư trở về quê hương và trở thành một luận sư danh tiếng. Trong các tác phẩm được dịch ra chữ Hán và chữ Tây Tạng (phần lớn của nguyên bản Phạn ngữ đã thất truyền), Duy thức tông (s: vijñānavāda, yogācāra) là đối tượng bị Sư chỉ trích. Là người sáng lập hệ phái Trung quán-Y tự khởi (中觀依自起; mādhya-mika-svātantrika, cũng được gọi là Độc lập luận chứng phái 獨立論證派), một trong hai trường phái của Trung quán, Sư cũng đả kích Phật Hộ (s: buddhapālita), người sáng lập hệ phái Trung quán-Cụ duyên (中觀具緣; prāsaṅgika-mādhyamika) bằng một phương pháp suy luận biện chứng trên cơ sở nhân minh học (s: hetuvidyā), Nhận thức học (s: pramāṇavāda). Vào thế kỉ thứ 8, trường phái của Sư được Tịch Hộ (s: śānta-rakṣita) biến thành phái Trung quán-Duy thức (mādhyamika-yogācāra).
Các trứ tác của Sư (trích): 1. Ðại thừa chưởng trân luận (mahāyānatālaratnaśāstra), Huyền Trang dịch; 2. Bát-nhã đăng luận thích (prajñāpradīpa, cũng có tên prajñāpradīpa-mūlamadhyamaka-vṛtti), Ba-la-phả Mật-đa dịch; 3. Trung quán tâm luận tụng (madhyamakahṛdayakārikā), Tạng ngữ; 4. Trung quán tâm quang minh biện luận (madhyamaka-hṛdaya-vṛttitarkajvālā), chú giải Trung quán tâm luận tụng (madhyamakahṛdayakārikā), Tạng ngữ; 5. Trung quán nhân duyên luận (madhyamikapratītya-samutpāda-śāstra), Tạng ngữ; 6. Nhập trung quán đăng luận (madhyamakāvatārapradīpa), Tạng ngữ; 7. Nhiếp trung quán nghĩa luận (madhyamārtha-saṃgraha), còn bản Tạng ngữ và Phạn ngữ; 8. Dị bộ tông tinh thích (nikāyabheda-vibhaṅgavyākhyāna), chỉ còn lưu lại trong Tạng ngữ, nói về các tông phái phật giáo sau khi Phật diệt độ đến thời Thanh Biện, rất giống Dị bộ tông luân luận (samayabhedavyū-hacakraśāstra) của Thế Hữu (vasumitra).

Thanh Biện

Từ Điển Đạo Uyển

清辯; ?-686
Thiền sư Việt Nam thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ tư, nối pháp Thiền sư Huệ Nghiêm.
Sư họ Ðỗ, quê ở Cổ Giao, xuất gia năm 12 tuổi với Thiền sư Pháp Ðăng. Khi Pháp Ðăng thị tịch, Sư chuyên trì tụng kinh Kim cương và lấy đó làm sự nghiệp. Một hôm, một vị thiền khách ghé chùa, hỏi Sư: “Kinh này là mẹ của Phật tam thế (quá khứ, hiện tại, vị lai), thầy hiểu ›mẹ Phật‹ thế nào?” Sư đáp: “Tôi từ trước trì tụng kinh này nhưng cũng chư hiểu ý ấy.” Khách hỏi: “Trì tụng đã bao lâu?” Sư thưa: “Tám năm.” Khách bảo: “Tám năm chỉ trì tụng một kinh mà chưa hiểu ý nghĩa thì dù trì tụng cả trăm năm cũng chẳng có công dụng gì.”
Nghe lời khuyên của thiền khách, Sư đến tham vấn Thiền sư Huệ Nghiêm tại chùa Sùng Nghiệp. Thấy Sư, Huệ Nghiêm hỏi: “Ngươi đến có việc chi?” Sư thưa: “Ðệ tử trong tâm chưa yên ổn.” Huệ Nghiêm hỏi: “Chưa ổn cái gì?” Sư thuật lại cuộc đàm thoại với thiền khách. Huệ Nghiêm bảo: “Ngươi quên hết rồi! Sao ngươi không nhớ câu kinh ›Các Phật tam thế cùng lối pháp Vô thượng chính đẳng chính giác đều xuất xứ ở kinh Kim cương‹, thế chẳng là ›Mẹ của Phật‹ hay sao?” Sư thưa: “Quả thật đệ tử còn mê muội.” Huệ Nghiêm lại hỏi: “Thế kinh ấy ai thuyết.” Sư hỏi: “Chẳng phải là lời thuyết pháp của Như Lai hay sao?” Huệ Nghiêm nói: “Trong kinh nói ›Nếu nói Như Lai có thuyết pháp gì thì phỉ báng Như Lai.‹ Câu ấy người ta không giải được. Cái nghĩa ta vừa nói, ngươi cứ thử nghĩ xem, nếu nói kinh ấy không phải là lời thuyết pháp của Phật thì thế là phỉ báng kinh; nếu lại nói đúng là những lời thuyết pháp của Phật lại là phỉ báng Phật. Sao ngươi lại cứ muốn ta trả lời ngay?” Sư suy nghĩ, muốn hỏi thêm, Huệ Nghiêm bèn cầm Phất tử đánh vào miệng. Sư ngay đây tỉnh ngộ, bèn sụp lạy.
Sau, Sư đến trụ trì chùa Kiến Dương giáo hoá tông đồ. Năm Bính Tuất, niên hiệu Ðường Thuỳ Cung thứ hai (686), Sư quy tịch.

Thánh đạo

Từ Điển Đạo Uyển

聖道; S: ārya-mārga; P: ariya-magga;
Ðạo xuất thế, con đường xuất thế bao gồm bốn cấp bậc. Mỗi cấp lại được phân biệt là: Thánh nhân (s: ārya-pudgala) đi trên đạo và Thánh quả (s: phala) của đạo đó. Bốn cấp của đạo xuất thế là: 1. Dự lưu (s: śrotāpana), người mới nhập dòng; 2. Nhất lai (s: sakṛḍāgāmin), người tái sinh trở lại thế gian này một lần nữa; 3. Bất hoàn (s: anāgāmin), người không bao giờ trở lại thế gian này nữa; và 4. A-la-hán (s: arhat).

Thánh điện

Từ Điển Đạo Uyển

聖殿; S: caitya; P: cetiya;
Nơi các vị Tỉ-khâu ngày xưa hội họp và ngồi thiền. Về sau, Thánh điện này không còn được chú trọng và hoà nhập lại thành Chính điện, nơi thờ tượng của đức Phật.

Thanh Học

Từ Điển Đạo Uyển

清學; C: qīngxué; J: shōgaku; K: ch’ŏnghak, 1570-1654.
Thiền sư Triều Tiên. Tác giả của Vịnh nguyệt đường đại sư văn tập (詠月堂大師文集; k: yŏngwŏldang taesa munjip).

Thanh Lương

Từ Điển Đạo Uyển

清涼; C: qīngliáng; J: shōryō;
Thiền sư Trung Hoa, thường gọi Quốc sư Thanh Lương. Xem Pháp Nhãn Văn Ích.

Thanh Nguyên Hành Tư

Từ Điển Đạo Uyển

青原行思; C: qīngyuán xíngsī; J: seigen gyōshi; 660-740;
Thiền sư Trung Quốc, môn đệ hàng đầu của Lục tổ Huệ Năng. Từ dòng thiền của Sư xuất phát ra ba tông trong Ngũ gia thất tông mặc dù Sư chỉ có một đệ tử đắc pháp là Thạch Ðầu Hi Thiên.
Sư họ Lưu, quê ở Kiết Châu, An Thành, xuất gia từ nhỏ. Nhân nghe Lục tổ dạy chúng ở Tào Khê, Sư đến tham học. Sư được Lục tổ ấn khả và trở về trụ trì chùa Tịnh Cư trên núi Thanh Nguyên ở Kiết Châu.
Thiền sư Hà Trạch Thần Hội đến, Sư hỏi: “Ở đâu đến?” Thần Hội đáp: “Từ Tào Khê đến.” Sư hỏi: “Ý chỉ Tào Khê thế nào?” Thần Hội chỉnh thân rồi thôi. Sư bảo: “Vẫn còn đeo ngói gạch.” Thần Hội hỏi: “Ở đây Hoà thượng có vàng ròng chăng?” Sư đáp: “Giả sử có cho, ông để chỗ nào?”
Sau khi truyền pháp cho Hi Thiên xong, ngày 13 tháng 12 năm Canh Thìn, đời Ðường niên hiệu Khai Nguyên năm thứ 28, Sư từ biệt chúng lên pháp đường viên tịch. Vua Ðường Hiến Tông ban hiệu là Hoằng Tế Thiền sư, tháp hiệu Quy Sơn.

Thánh Nhân

Từ Điển Đạo Uyển

聖人; S: ārya-pudgala; P: ariya-puggala;
Danh từ chỉ người đang đi trên Thánh đạo nhưng cũng thường được dùng cho những người có đạo hạnh xuất chúng.

Thành Phật

Từ Điển Đạo Uyển

成佛; J: jōbutsu;
Một cách trình bày sự chứng ngộ tự tính, Phật tính. Theo Thiền tông thì người ta không thể thành Phật được bởi vì người ta là Phật, nghĩa là chân tính của họ đồng với Phật tính, là Phật tính. Tuy nhiên, phàm phu không tự biết được sự việc tối trọng này và có cảm tưởng như là mình trở thành Phật khi nếm được kinh nghiệm Kiến tính lần đầu. Ðồng nghĩa với “Thành Phật” là “Thành Ðạo”, “Ðạt Ðạo.”

Thanh Quy

Từ Điển Đạo Uyển

清規; J: shingi; nghĩa là “Quy luật rõ ràng”;
Danh từ chỉ những quy luật cho tăng, ni và Cư sĩ trong cũng như ngoài những Thiền viện. Trong những tác phẩm nói về quy luật, người ta thường gắn hai chữ Thanh quy phía sau, ví dụ như Bách Trượng thanh quy của Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải, Vĩnh Bình thanh quy của chùa Vĩnh Bình tại Nhật Bản.

Thành Thật Tông

Từ Điển Đạo Uyển

成實宗; C: chéngshí-zōng; J: jōjitsu-shū;
Tông phái Phật giáo Trung Quốc, xuất phát từ giáo pháp của Kinh lượng bộ (s: sautrān-tika) Ấn Ðộ. Cơ bản của tông phái này là bộ Thành thật luận (s: satyasiddhiśāstra) của Ha-lê Bạt-ma (s: harivarman) trong thế kỉ thứ 4, được Cưu-ma-la-thập (kumārajīva) dịch ra chữ Hán trong thế kỉ thứ 5.
Ðại diện cho tông phái này là Tăng Ðạo (僧導) và Tăng Khải (僧楷), cả hai đều là đệ tử của Cưu-ma-la-thập, là hai vị đã truyền bá Thành thật tông khắp Trung Quốc và vì vậy, tông này trở thành một tông phái mạnh của Trung Quốc ở đầu thế kỉ thứ 6. Tông phái này khác với Tam luận tông vì các vị Tam luận tông cho rằng luận sư của Thành thật tông đã hiểu sai ý nghĩa của biểu đạt tính Không. Các vị Luận sư quan trọng của Tam luận tông như Pháp Lãng và Cát Tạng đã công kích Thành thật tông mạnh mẽ nên ảnh hưởng của phái này giảm dần.
Tông này được xem là Tiểu thừa vì họ chỉ chuyên tâm nghiên cứu những lời giảng của đức Phật. Quan điểm chính của tông phái này là phủ nhận mọi sự hiện hữu. Tâm thức hay vật chất đều không hiện hữu thật sự. Theo tông phái này, có hai loại chân lí: một loại chân lí “thế gian”, chân lí có tính chất quy ước và chân lí kia là chân lí tuyệt đối. Dựa trên chân lí thế gian, tông này chấp nhận sự hiện hữu của các pháp (s: dharma), các pháp này hiện hành tuỳ thuộc lẫn nhau, vô thường và sẽ bị hoại diệt. Trên phương diện tuyệt đối thì mọi pháp đều trống Không (s: śūnyatā). Như thế, Thành thật tông cũng cho rằng cả ngã lẫn pháp đều không (人法皆空; Nhân pháp giai không) nên cũng có khi tông này được xem là Ðại thừa. Tuy thế, khác với các trường phái Ðại thừa khác – vốn cho rằng có một cái Không làm nền tảng, biến hoá ra mọi hiện tượng (真空妙有; Chân không diệu hữu) – Thành thật tông nhìn nhận tính Không một cách tiêu cực hơn, đó chỉ là sự trống rỗng đằng sau các hiện tượng, thấy rõ được qua sự phân tích, phủ nhận, và vì thế tông này cũng có tên Nhất thiết không tông (一切空宗; sarvaśūnyavāda). Quan điểm về tính Không này còn vướng mắc trong trạng thái phủ định, phủ nhận thế gian, khác hẳn quan điểm tính Không của Tam luận tông Trung Quốc.
Thành thật tông Nhật Bản (jōjitsu-shū) được Cao tăng Triều Tiên là Huệ Quán (慧灌; ek-wan), người đã từng học tại Trung Quốc truyền qua Nhật năm 625. Kể từ đó Thành thật tông được nhiều người nghiên cứu, nhưng không trở thành tông phái hẳn hoi, chỉ được xem là một phần của Tam luận tông.

Thánh Thiên

Từ Điển Đạo Uyển

聖天; S: āryadeva; cũng được gọi là Ðề-bà, Ka-na Ðề-bà, Ðơn nhãn Ðề-bà (s: kāṇadeva);
Học trò của Long Thụ (nāgārjuna) và Ðại luận sư của Trung quán tông (s: mādhyami-ka), tác giả của nhiều bộ luận. Người ta cho rằng Thánh Thiên sinh trong thế kỉ thứ 3 tại Tích Lan và là Tổ thứ 15 của Thiền Ấn Ðộ dưới tên “Ðề-bà một mắt” (kāṇadeva). Tương truyền Sư bị ngoại đạo chống đạo Phật giết. Ngày nay, tác phẩm của Sư chỉ còn được giữ lại trong các bản dịch tiếng Hán và Tây Tạng, phần lớn là các luận đề về giáo pháp của Long Thụ. Truyền thống Tan-tra xem Sư là một trong 84 vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha).
Sư sinh ra trong một gia đình quý tộc tại Tích Lan. Thay vì nhận chức làm quan thì Sư lại gia nhập Tăng-già dưới sự hướng dẫn của Hermadeva. Sau khi học xong các thuyết luận, Sư đi hành hương, viếng thăm những thánh tích của Phật giáo tại Ấn Ðộ. Nhân dịp này, Sư gặp Long Thụ và theo hầu học nhiều năm và khi Long Thụ rời Na-lan-đà đi Trung Ấn, Sư cũng theo thầy. Dần dần, Sư được truyền trao trách nhiệm giảng pháp và được xem là người kế vị Long Thụ. Không rõ là Sư lưu lại Trung Ấn bao nhiêu lâu nhưng trong thời gian này, Sư có thành lập nhiều tu viện. Nghe tin một luận sư lừng danh thuộc dòng Bà-la-môn tung hoành tại viện Na-lan-đà và không một Tỉ-khâu nào đủ tài năng đối đầu tranh luận, Sư liền đến Na-lan-đà một lần nữa và chiến thắng vị Bà-la-môn trong ba vòng tranh luận. Sau nhiều năm trụ tại Na-lan-đà, Sư trở về miền Nam và mất tại Raṅganātha, Kiến-chí (kāñcī).
Tác phẩm Tứ bách luận (catuḥśataka) của Sư gồm 400 câu kệ, với suy luận biện chứng phủ định, giải thích giáo pháp Vô ngã và tính Không. Tập Bách luận (śataśāstra) được xem là bản thu gọn lại của Tứ bách luận, cũng gây ảnh hưởng lớn trong Phật giáo. Trong tập Bách luận Thánh Thiên đã đưa nhiều luận giải đối trị các quan điểm bài bác Phật giáo. Bách luận là một tác phẩm căn bản của Tam luận tông tại Trung Quốc.

Thánh Thiên

Từ Điển Đạo Uyển

聖天; S: āryadeva; cũng được gọi là “Ðơn nhãn”;
Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem sống trong đầu thế kỉ thứ 8, đệ tử của Ma-ha Tất-đạt Long Thụ (s: nāgārju-na). Trong thế kỉ thứ hai cũng có vị Long Thụ của Trung quán tông và vị này cũng có đệ tử tên Thánh Thiên.
Thánh Thiên là một Tỉ-khâu tu học tại Na-lan-đà. Một hôm Sư nghe có vị Tất-đạt nổi danh tên Long Thụ sống tại Nam Ấn Ðộ liền bỏ đi tìm, được Quán đỉnh vào Bí mật tập hội (s: guhyasamāja-tantra), và ở lại luyện Nghi quỹ (s: sādhana) chung với thầy. Sư đi khất thực luôn luôn được nhiều thức ăn ngon lạ hơn thầy. Long Thụ lấy làm lạ cho Sư ở nhà, tự mình đi. Khi về nhà thì Long Thụ thấy một thần nữ đã dâng cúng bánh trái cho Thánh Thiên và phê bình là mình chưa hết ô nhiễm hẳn như đệ tử. Long Thụ khâm phục môn đệ mình và đặt tên Thánh Thiên. Bài kệ chứng đạo của Thánh Thiên như sau:
Chư Phật cả ba đời,
duy nhất một Tự tính.
Chứng được tự tính này,
là chứng được tâm thức.
Ðể mọi sự diễn ra,
hoà vào với thật tại,
không hề có cơ cấu.
Chính trạng thái buông thỏng,
là đời sống Du-già.
Sau khi Long Thụ chế tạo được nước trường sinh, ông lè lưỡi liếm và đưa cho Sư làm theo. Sư liền cầm bát nước đổ hết vào một gốc cây, cây này bất chợt đâm tược. Long Thụ quát lớn: “Nếu ngươi phí phạm nước bất tử của ta thì phải hoàn lại!” Sư liền cầm một cái thùng, tiểu tiện vào rồi cầm một nhánh cây quậy đưa Long Thụ. “Nhiều quá” Long Thụ nói. Sư liền đổ nửa thùng vào gốc cây, cây này liền ra lá. Long Thụ nghiêm trang bảo: “Nay ngươi đã chứng Ðạo, đừng lưu lại lâu trong Luân hồi (saṃ-sāra)”. Nghe câu này, thân Sư bay vọt lên cao. Ngay lúc này, một người đàn bà đến gần xin Sư một con mắt. Không một chút chần chừ, Sư móc con mắt phải ra trao cho bà này và từ đây mang tên là “Ðơn nhãn” hay “Ðơn nhãn Ðề-bà”. Sau khi thuyết pháp từ trên không trung, Sư đứng ngược đầu xuống đất, chân đối trời rồi biến mất.

Thanh Tịnh

Từ Điển Đạo Uyển

清淨; C: qīngjìng; J: shōjō; S: pariśuddha
1. Trong sáng, tinh khiết, không bị ô uế. Không có tội lỗi (s: samśuddhi, śauca, viśodhita, viśuddha). Không động niệm; 2. Được làm trong sạch, làm an định; 3. Làm cho thanh khiết, làm cho sạch sẽ; sự lắng trong; 4. Một người thanh tịnh (s: tathāgata). Đối nghịch với nhiễm (染), ô (汚).

Thanh Tịnh Chân Chư

Từ Điển Đạo Uyển

清淨眞如; C: qīngjìng zhēnrú; J: shōjō shinnyo;
Chân như thanh tịnh, đề cập đến chân đế của sự diệt khổ. Là một trong 7 loại chân như (七種眞如).

Thanh Tịnh đạo

Từ Điển Đạo Uyển

清淨道; P: visuddhi-magga; nghĩa là con “Ðường dẫn đến thanh tịnh”;
Tên của một bộ luận cơ bản của Thượng toạ bộ (p: theravāda), được Phật Âm (p: bud-dhaghosa) soạn trong khoảng thế kỉ thứ 5 sau Công nguyên. Thanh tịnh đạo trình bày giáo lí của Ðại Tự (p: mahāvihāra), một trong những trường phái Pā-li.
Bộ luận này gồm có 3 phần với 23 chương: chương 1-2 nói về Giới (p: sīla), chương 3-13 nói về Ðịnh (s, p: samādhi) và chương 14-23 nói về Trí huệ (p: pañña). Phần nói về Ðịnh trình bày rõ các phương pháp và đối tượng quán niệm của Thượng toạ bộ, khả năng phát triển và thánh quả của các phép thiền định. Trong phần Huệ, Thanh tịnh đạo trình bày giáo lí cơ bản của đạo Phật như Tứ diệu đế, Mười hai nhân duyên, Bát chính đạo…
Thanh tịnh đạo là một bộ luận tuyệt hảo, gần như là một bộ Bách khoa toàn thư của Phật giáo và được rất nhiều Phật tử chú trọng đến, không phân biệt Tiểu hay Ðại thừa. Nhà Phật học danh tiếng của châu Âu, Ed-ward Con-ze có lần nói rằng, nếu ông chỉ được mang theo một quyển sách ra một hòn đảo hoang vắng thì đó là quyển Thanh tịnh đạo.

Thanh Tịnh Huệ

Từ Điển Đạo Uyển

清淨慧; C: qīng jìng huì; J: shōjōe;
Tên của 1 trong 12 vị Bồ Tát xuất hiện như là 1 đương cơ trong phẩm thứ 6 trong kinh Viên Giác.

Thanh Tịnh Phẩm

Từ Điển Đạo Uyển

清淨品; C: qīngjìngpĭn; J: shōjōhon;
Phẩm chất thanh tịnh, khác biệt với phẩm chất ô nhiễm.

Thanh Tịnh Pháp Giới

Từ Điển Đạo Uyển

清淨法界; C: qīngjìng făjiè; J: shōjōhōkai;
Pháp giới thanh tịnh. Pháp giới trong trí huệ giác ngộ của chư Phật. Pháp giới bản thể thanh tịnh. Nền tảng của mọi công đức. Chân như.

Thanh Tịnh Pháp Thân Tì-Lô-Giá-Na Tâm địa Pháp Môn Thành Tựu Nhất Thiết đà-La-Ni Tam Chủng Tất địa

Từ Điển Đạo Uyển

清淨法身毘盧遮那心地法門成就一切陀羅尼三種悉地; C: qīngjìng făshēn pílúzhēnă xīndì fămén chéngjiù yīqiè tuóluó ní sānzhŏng xīdì; J: shōjō hosshin birushana shinji hōmon jōju issai darani sanshu shicchi;
1 quyển; Dịch giả khuyết danh (có ý kiến cho là ít nhất kinh được biên soạn hay phiên dịch từng phần do một tăng sĩ Ấn Độ).

Thanh Tịnh Quán Thế Âm Phổ Hiền đà-La-Ni Kinh

Từ Điển Đạo Uyển

清淨觀世音普賢陀羅尼經; C: qīngjìng guānshìyīn pŭxián tuóluóní jīng; J: shōjō kanzeion fugen darani kyō;
Xem Quán tự tại Bồ Tát thuyết Phổ Hiền đà-la-ni kinh (觀自在菩薩説普賢陀羅尼經)

Thanh Văn

Từ Điển Đạo Uyển

聲聞; S: śrāvaka; nghĩa là “người nghe”;
Lúc đầu, Thanh văn có nghĩa là học trò của đức Phật. Dần dần, trong Ðại thừa, người ta cũng dùng từ Thanh văn để chỉ tất cả những ai nhờ nghe pháp và nhờ cố gắng cá nhân mà đạt đến giác ngộ, chứng tri kiến Tứ diệu đế và tính Không của thế giới hiện tượng. Mục đích cao nhất của Thanh văn là đạt Vô dư Niết-bàn (s: nirupadhiśeṣa-nirvāṇa), lúc đó Thanh văn trở thành A-la-hán.

Thanh Văn Thừa

Từ Điển Đạo Uyển

聲聞乘; S: śrāvakayāna;
Dùng chỉ “cỗ xe” đầu tiên của ba cỗ xe (Ba thừa; s: triyāna) có thể đưa đến Niết-bàn. Thanh văn thừa đưa đến thánh quả A-la-hán và được xem là Tiểu thừa.