Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

CHỈ QUÁN PHỤ HÀNH TRUYỀN HOẰNG QUYẾT

SỐ 1912

QUYỂN 01

Sa-môn Trạm Nhiên Tỳ Lăng đời Đường soạn.

PHẦN 1

LỜI TỰA

Có người hỏi: Vì nhân duyên gì mà vội biết soạn bộ sách này? Đáp: Do việc bất đắc dĩ. Nói duyên khởi này gồm có mười ý: Một là vì có người Sư thừa mà chẳng hết lòng với thầy lại trái ý thầy; Hai là vì có người từng sự thừa mà bỏ căn bản để theo cái chưa thấy; Ba là vì đời sau xoay vần tùy sanh hiểu khác, làm mất chỗ nương tựa căn bản; Bốn là vì tin tông tu tập tốt, phương khác không có sư để có thể vâng theo; Năm là vì nghĩa quán đều tu tập tốt dựa vào giáo, hạnh giải đều đầy đủ; Sáu là vì điểm bày quan tiết rộng lược sanh khởi cùng tận văn tông yếu; Bảy là vì kiến lập sư giải chẳng để đọa lạc lợi ích cho đời sau; Tám là vì giúp quán giải để phòng ngừa lầm lẫn mà dễ tìm xét; Chín là vì trình bày chỗ hiểu e có chỗ quên mà cầu cắt bỏ; Mười là thuận theo Phật chỉ vận tâm đại bi làm lợi tha.

Một bộ sách này trước sau ba bản: Bản thứ nhất có hai mươi quyển, bản thứ hai có mười quyển đầu đều đề tên là viên đốn, ấy là khác với thiên tiểu và bất định. Bản thứ hai thì đầu văn là nêu thiết nghĩ. Bản thứ ba đề và ý có chút khác nhau, sẽ nói đủ ở giải thích sau.

Đầu tiên nói chỉ quán minh tịnh, đây là theo bản thứ ba. Người thời ấy truyền nhau phần nhiều cho rằng bản thứ ba là bản lược, cho bản thứ hai là bản rộng. Một khi xem qua thì giống như có rộng và lược. Như tìm kiếm đầu cuối thì số trang đều bằng nhau, phải coi bản thứ ba bản tái trị chẳng nên cho là lược. Từng ở người nghe thiếu thưa hỏi chỗ nghe nên cùng tìm kinh luận mà suy nghĩ tìm chọn thêm, để không đoán mò mà soạn lầm.

Theo tiêu chuẩn giải Thích kinh luận đều chia làm ba phần. Nay văn chánh thuyết còn chưa trọn, tin không có phần thứ ba lưu thông là rõ ràng thôi. Chỉ có trước khai chương Ngài Chương An soạn lời tựa có thể làm phần tựa, từ khai chương trở đi là phần chánh thuyết. Xưa, bản thứ hai đem tựa chánh thuyết hợp lại thành mười chương. Cho nên đầu văn nói “thiết nghĩ” thuật nghe cộng thành mười ý. Nói “thiết nghĩ”, là riêng tôi thầm khởi nghĩ. Tựa có năm ý: một là thương lược, hai là tổ thừa, ba là nói về sai, bốn là dẫn chứng, năm là bày xứ. Nói thuật nghe, nghĩa là ghi chép các điều đã nghe. Chánh thuyết cũng có năm ý: Một là khai chương, hai là sanh khởi, ba là phân biệt, bốn là phân biệt, năm là giải thích. Vì đem chỗ nghe của mình và lời tựa hợp thành mười đoạn, ý vẫn chưa ổn, cho nên tự định mất thứ lớp này, chỉ thành tựa vào chánh thuyết. Lại ở trong tựa chỉ phát khởi mà không có qui kính cho nên biết đây là do sự thuật ghi mà thôi. Nếu căn cứ văn Chánh thuyết của Đại sư thì nghĩa chia ra ba đoạn, tức là sáu chương trước dùng làm phần tựa, chánh quán và quả báo xem là chánh tông. Khởi giáo hóa tha là phần lưu thông, chỉ qui là thôi hóa qui tịch, không phải ba sở nhiếp nghĩa dường như lưu thông. Trong sớ y cứ hạnh còn đối ba học chia làm ba phần. Nay cũng lệ nghĩa ấy mà khai ra ba có gì mà chẳng được? Nay lại y hai đoạn trước làm chánh. Ở trong tựa đầu tiên thêm lời tựa về văn, thời, xứ v.v… các thứ xem là tựa chung, coi Tổ thừa nhân-pháp v.v… các việc là tựa riêng. Tức là tái trị định chánh ý. Chẳng được lại dùng năm thứ Thương lược, v.v… xem là thứ lớp mà phân văn tái trị, thời, xứ v.v…. Cho nên tái trị định trở về Thương lược cũ xem là viên chứng. Cho nên dưới dùng văn Thương lược này nói rằng nay y kinh lại nói viên đốn. Nói y kinh, chánh phải dẫn chứng chứng viên đốn xong. Thỉnh chứng hai thứ kia. Tức là đặt câu hỏi rằng: các Tam-muội khác nguyện nghe thành chứng. Trong bản thứ hai, thiếu câu hỏi này cho nên bản thứ hai văn Thương lược chép: lược dẫn kinh Phật thô bày ý viên. Cho nên biết tên Thương lược chẳng khác dẫn chứng. Cho nên tái trị định mất Thương lược trở về là dẫn chứng. Nếu đem các tên Thương lược v.v… ở bản trước mà thứ lớp đối trị định bản văn thì khiến chỉ. Quán Minh Tịnh các văn liền là đồ thiết, huống chi đem Thương lược để đối “Tổ thừa” là rất chưa thể được. Cho nên phải bỏ thứ lớp chương cũ. Nay tái (lại) trị định thêm tựa chung, là muốn kết tập theo loại truyền thuật lại năm thứ: Pháp thể sở văn, cho nên chẳng đồng với Thương lược cũ ở đầu. Đã thuật mới cũ, có không thứ lớp do đó đổi tên gọi là Ma-ha, là có hai nghĩa: một là đối tục huynh người anh ruột tên Trần châm mà soạn ra tiểu chỉ quán; Hai là giữ nguyên âm tiếng Phạn vì nghĩa phong phú kiêm hàm, cho nên Đại luận chép: Nói Ma-ha là gọi chung ba nghĩa: Đại đa thắng (lớn nhiều hơn) y sở bốn giáo giải thích Tỳ-kheo vị thì chẳng phải ý này. Dùng ba tên này để giải thích viên tam quán chánh là nêu y chỉ. Đại (lớn) là nghĩa không, đa (nhiều) là nghĩa giả, thắng (hơn) là nghĩa trung. Cho nên đổi tên gọi theo kiêm hàm để chỉ trọn bộ nhất tâm tam quán. Nếu thế có gì khác so với viên đốn đổi từ Ma-ha? Đáp: Tên viên đốn tuy khác thiên tiệm nhưng chỉ chung cả ba, cho nên đổi tên cõi này chỉ đơn lẻ mà dùng vốn tiếng Phạn có nhiều nghĩa. Vì thế phải biết hai chữ chỉ quán đều là Ma-ha, tức là nhất tâm tam chỉ tam quán là chỉ quán. Cho nên biết nắm chung một bộ để làm tên sách. Đầu tiên từ đại ý, sau ở chỉ qui đều là chỉ quán của Ma-ha. Cho nên tên đề là chung mười chương là riêng, trong mười chương thì đại ý là chung, tám thứ kia là riêng, cho nên biết chung riêng tự hành , nhân quả hóa tha năng sở đều là Ma-ha Diệu định tuệ.

Vì sao trong giải thích chung phát tâm tu hành nhân tự hành. Kế xé rách lưới lớn là có khả năng hóa tha. Đã có năng hóa thì có sở bị. Văn lược nêu năng để nhiếp sở. Việc năng sở đã xong mà đồng nhập chỉ qui. Trong giải thích riêng, bắt đầu từ giải thích tên, cuối đến chánh quán nhân tự hành. Kế chương quả báo là quả tự hành . Chương khởi giáo là khả năng hóa tha. Nghĩa sở bị là chỗ hóa tha. Ba chương lớn sau văn thiếu nghĩa lược mà ý đồng với ba thứ sau ở trong phần tổng trước. Cho nên văn sau lược qua chẳng nói. Tựa đầu chia làm hai, trong tựa chung tuy giống mà trong tập kinh thông có năm việc. Đã là ghi riêng cho nên thiếu đồng nghe, trong đó có sáu. Bốn chữ đầu nói “Chỉ quán minh tĩnh” sở văn thể (thuật cái được nghe). Hai chữ chỉ quán là bày văn thể (thể được nghe), hai chữ minh tịnh là thán thể đức. Nghĩa là thể chỉ là tĩnh, thể quán là minh. Trước sau mười chương, mười pháp chánh quán đều là thể chỉ quán đều là minh tịnh, là chỉ chung một bộ để làm sở văn (những điều được nghe). Như kinh Pháp Hoa nói Bổn môn Tích môn đều là thể pháp mầu gồm chân thật. Đời trước chưa từng nghe là người hay nghe. Trở lại dùng tha vãng để hiển thành, tôi nghe thuật mình kiêm người khác nói hiện và vãng. Cho nên nói đời trước sau có thể nghe. Nói đời tuy có nghĩa là ba mươi năm, nay dùng đời lại có nghĩa đời khác. Đời khác hoằng pháp đời đời đều có nên nói là đời. Từ thời vua Hán Minh Đế nằm mộng, cho đến đời Trần, các tác phẩm ở đương đời thịnh hành đầy mắt. Dự vào chốn thiền môn y bát truyền trao thì nghe đầy tai, đâu có ai chẳng nghe hai chữ chỉ quán. Chỉ vì chưa nghe, như Ngài Thiên Thai nói bộ này định tuệ đều kiêm mỹ, nghĩa quán song minh mà nhiếp một đời giáo môn, nắm gọn ý kinh Pháp Hoa thành mười thừa mười cảnh không thể nghĩ bàn, dứt đối đãi, dứt hết diệt, thành hạnh tịch chiếu. Đời trước chưa nghe lời này. Cho nên Ngài Nam Sơn khen rằng chỉ Hành Nhạc Thai Nhai song hoằng hóa thiền tuệ lẽ nào Nam Sơn nịnh hót khen dối sao?.

Hai chữ Trí Giả gọi là vương đạo. Đây là do khi mới sanh có điềm lành mà đặt tên. Pháp danh là Trí Khải, Khải Tĩnh tức xuất gia rồi thầy đặt hiệu, theo đức mà đặt tên nên dùng nghĩa Tĩnh. Sau trao giới phẩm Bồ-tát cho Tấn Vương (là Tùy Văn Đế) đặt pháp hiệu cho vua là Đại vương hướng dẫn từng bước các đều thánh cấm gọi tên là Tổng Trì. Vua nói: Sư truyền đèn Phật pháp nên gọi là Trí Giả. Nay đều cho Trí Giả là người nói giáo đời Tùy. Các kinh phần nhiều gọi chung “nhất thời”, tức gọi chung dài ngắn, nhiếp cả tinh thô, nay chỉ một bộ nên chỉ riêng đời Tùy. Nhà Tùy được nhà Chu nhường ngôi cho họ Dương, người ở Hoằng nông, Hoa âm. Trước theo Chu Thái Tổ khởi nghĩa ở Quan Tây, làm đến chức Đại Tư không, phong hiệu là Tùy Quốc công, húy là Kiên, sau lên ngôi đại hiệu là Tùy Quốc (nhà Tùy). Lập niên hiệu là Khai Hoàng, hoàng là lớn. Nhĩ Nhã nói hoàng là uông chánh, là tột, là lớn. Kinh Châu là nói chỗ. Chùa Ngọc Tuyền, đầu đời Lương niên hiệu Thái Bình năm thứ hai Ngụy Chúa cho xây nhà Văn Thái, phá hai muôn quân Lương Nguyên Đế. Lúc đó Sư mới mười tám tuổi, đến chùa Quả nguyện ở Dương Châu, nương người cậu họ Hồ mà xuất gia. Đến niên hiệu Thái Bình thứ ba đời Trần, thì hai mươi tuổi bèn thọ giới cụ túc, nương Luật sư Tuệ Khoáng mà học thông luật tạng. Đến niên hiệu Càn Minh thứ nhất đời Trần, Sư mới vào Quang châu, nương Thiền Tư sư học pháp thiền. Lúc đó Sư hai mươi ba tuổi. Đến niên hiệu Quang Thái thứ nhất đời Trần, giả từ thầy mà vào đất Nghiệp, tuổi đã ba mươi, đến niên hiệu Thái Kiến năm thứ bảy đời Trần. Sư mới đến Thiên thai. Lúc đó đã ba mươi tám tuổi, đến niên hiệu Thái Kiến thứ chín, vua sai xây chùa Tu thiền, đến niên hiệu Thái Kiến thứ mười ba thì vua mời Sư đến đất Nghiệp. Đến Trịnh Minh năm thứ ba tức là niên hiệu Khai Hoàng thứ mười một đời Tùy, Tuyền Hình xây chùa để trả ơn đất, trước tên là Nhất Âm, sau đổi thành Ngọc Tuyền, mầu suối như ngọc do đó đặt tên. Chùa ở Tây trúc gọi là Tăng-già-lam. Trung Hoa gọi là chúng viên, cũng gọi chung là Tinh xá. Xứ này tục gọi nhà của quan Cửu ty là chùa, nghĩa là chỗ có pháp độ. Cho nên lấy tên Pháp độ mà gọi Tịnh xá. Đến niên hiệu Khai Hoàng năm thứ mười bốn, lúc đó Sư năm mươi bảy tuổi trụ ở Ngọc Tuyền mà giảng chỉ quán, kế lại nói về phân tề giới hạn. Trước nói giới hạn về thời gian một hạ là nêu chung từ đầu đến cuối thời hạn định khuyên tu, nói pháp khen ngợi nên gọi là phu dương, hai thời là sớm chiều. Từ chú, tức là từ tâm nói như mưa lớn. Nếu dùng hai duyên sanh pháp nói thì có cùng. Dùng tâm vô duyên từ không nương tựa mặc sức nhạo thuyết biện, cho nên nói không cùng, vị ở năm phẩm, chính là quán hạnh vô duyên từ. Chú là như Đại luận quyển năm phê bình bốn pháp sư nói kệ rằng: Học rộng biện tuệ lời khéo léo, nói hay các pháp chuyển lòng người, tự không đúng pháp hạnh bất chánh. Ví như mây sấm mà không mưa, học rộng nghe nhiều có trí tuệ ấp úng vụng nói chẳng khéo léo, chẳng thể hiển phát kho pháp báu. Ví như không sấm mà mưa nhỏ, chẳng rộng học hỏi không trí tuệ, chẳng thể nói pháp chẳng làm tốt, là Tệ Pháp sư không hổ thẹn, ví như mây nhỏ chẳng sấm mưa. Nghe nhiều trí rộng lời khéo léo, nói giỏi các pháp chuyển tâm người, hành pháp tâm chánh không sợ sệt, như mây lớn sấm sét và mưa to như đại vân lôi chú hồng vũ. Ý kệ lấy nghe nhiều làm mây, nói pháp như sấm, từ hạnh như mưa. Đại sư có đủ ba thứ, tức Pháp sư thứ lớp, tuy lạc thuyết chẳng cùng, luận có bốn, nghĩa là nghĩa pháp từ lạc thuyết, nghĩa là hiển rõ nghĩa các pháp, pháp là nói danh tự của pháp. Từ là lời lẽ nói pháp. Tuy có ba thứ này nhưng phải lạc thuyết ba thứ trước. Nghĩa là đối với một pháp nói tất cả pháp, ở trong một chữ nói tất cả chữ, ở trong một lời nói tất cả lời, đều vào thật tướng mà không sai lầm, cho nên biết đều là năng lực lạc thuyết. Tuy là lời bất tận cũng là lời giúp, tuy là chẳng cùng hạ trọn bảo dứt. Mới đến thấy cảnh bánh xe pháp thường xoay, mới là siêng được, cẩn tất cả cảnh khi ép hạ hết. Tuy thiếu các văn kia nhưng hạnh môn không cần thiết. Trong lược đã nói đầy đủ, biểu thị hẹn tâm. Tức đại chương thứ bảy khai thành mười cảnh đến cảnh thứ bảy kia chẳng nói lại. Ba đại chương sau và ba cảnh kia mượn duyên chẳng trọn. Cho nên trong truyện chép: quán đảnh ghi riêng chỉ quán mười quyển, mới mong nghe lại hết đầu đuôi. Hiểu Trí Giả Niết-bàn không chỗ kính ngưỡng. Các văn khác tuy lược nhưng y theo trên thì có thể hiểu.

Tăng-thượng-mạn là như Thiền Cảnh chép: Không chỗ biết người được đây gọi là Vô sanh nhẫn. Tỳ-kheo Bốn thiền gọi là bốn quả, khởi dứt thấy chuột gặm chim không. Như các văn đó tướng nói chẳng phải một. Hai cảnh sau chỉ là hai giáo Nhị thừa, ba giáo Bồ-tát, đủ tại thể tướng, nhiếp pháp Thiên viên, v.v… các văn, và trong các cảnh bên trong có thể nghĩ bàn. Ba đại chương sau cũng y cứ theo ba lược sau của năm lược. Văn đó tuy thiếu nhưng nghĩa đã đủ. Cho nên mượn cuối hạ để làm thiếu duyên. Tín hạnh Viên thừa ở đây hết nói năng, nên nói bánh xe pháp ngừng chuyển. Bị hạnh lược các thứ còn lại đều không nói. Cho nên nói phần sau chẳng nói. Nhưng ấp lưu tìm nguồn là lời tựa riêng. Trước nói chung là nghĩa chung mà văn riêng. Nói riêng chỉ quán Minh tĩnh v.v…, Nay tựa riêng, là ý riêng mà tồn chung. Bởi chung nói hai mươi ba Sư, v.v… cho nên tuy chung riêng khác nhau mà cũng chẳng ngoài Sư tư nhân pháp thầy trò người pháp. Cho nên trong lời tựa chung chỉ quán chỉ là pháp sở đắc nghe văn sở đắc nói thuyết của thầy trò, kế nêu người năng nghe, năng nói. Kế là nói văn thuyết hoặc thời hoặc xứ. Cho nên nêu pháp sở đắc, nghe văn ty chung như hương (thơm) như lưu (tuôn dòng), sai biết đại giác như cội như nguồn. Lại riêng đây tuy chẳng khác bộ có thể xem là thầy trò nối nhau ba bộ khác nhau đốn đối với hai thứ kia nên gọi là riêng. Lại chỗ nối (thừa) này cùng các thầy khác cũng gọi là riêng. Trong đó trước nói Tổ thừa trao pháp vẫn tiệm. Nếu trước chẳng chỉ Như lai Đại thánh thì không nhờ đầu mà nêu hai mươi ba vị tổ. Nếu chẳng nêu hai mươi ba vị tổ thì không do đâu mà chỉ Sư thứ mười ba. Nếu chẳng chỉ Sư thứ mười ba thì không nhờ đâu mà tin ở Hành nhai Thai Nhạc. Nên trước ví lý do như tìm nguồn tìm gốc. Nay chỉ quán hưng đời tượng mạt như lưu như hương. Kim khẩu Phạm âm như gốc như nguồn. Ấp là châm chước. Thi chép: chỉ ở phương Bắc có Bắc Đẩu nên không thể rót rượu. Rót rượu phải biết chén đầy, biết thơm phải tìm xét nguồn cội, cho nên Đại kinh chép: nghe mùi hương thì biết đất ấy phải có thuốc, thuốc ấy chân vị dừng tại núi cũng như trăng đầy tùy lưu xứ mà có các thứ tên chân vị là thật lý, các tên Mạt giáo trăng đầy ví như thật lý. Ở núi ví như lý tại âm, Như lai y lý tùy cơ mà đặt tên. Tượng các tên là Mạt bốn y hoằng tuyền Phật hóa, thọ giáo hóa bẩm phải tìm xét nguồn cội. Nếu mê nguồn cội thì tăng thượng mạn mà chứng chân. Nếu hương lưu mất hết thì tà thuyết lẫn lộn Đại thừa. Do đó mà biết Thai Hành Tuệ Văn là Tổ sau tổ Long thọ. Hai mươi ba Tổ nối gót ở Kiên Lâm thật có lý do đáng tin. Luận chép: chỉ thứ hương giả là muốn nói trao pháp. Phiếm dẫn giáo nghiệm có Sư không Sư. Nói không Sư là như Đại luận quyển hai nói, ta giữ chí vô Sư một mình không các bạn, chứa nhất hạnh được Phật tự thiên thông đạo ấy. Kinh Tăng nhất A-hàm quyển mười lăm chép: năm người A-nhã v.v… hỏi thầy Phật là ai? Phật đáp: Ta không có thầy, cũng không có bạn, một mình chẳng ai hơn, lạnh mà không ấm. Văn của luật cũng đồng như thế. Kinh Na-tiện chép: Phật không thầy thành đạo tự ngộ tất cả pháp. Kinh Pháp Hoa chép: trí Phật là trí vô sư. Ở Tục Thái sư, Thái Truyện, Thái Bảo đều là Nghĩa sư, kế nói có thầy. Thọ biệt, chữ biệt tức là phái biệt cũng là phân biệt (nhiều sách viết chữ biệt không có bộ thảo. Như kinh Thụy Ứng chép: khi xưa thời Phật Định Quang ra đời, ta làm Bồ-tát tên là Nhu Đồng cho đến mua hoa dâng Phật Định Quang, tung hoa cúng dường, hoa ở trên hư không, Phật ấy biết ý mà khen ngợi rằng: ông vô số kiếp sau sẽ học thanh tịnh, do đó thọ ký rằng: Ông sau chín mươi mốt kiếp, kiếp tên là Hiền, ông sẽ thành Phật hiệu là Thích-ca cho đến thân bay lên hư không được Vô sanh nhẫn. Luận chép: Vô sư kinh gọi là ký biệt. Thư nói khứ lại trích dẫn sách tục cũng có hai nghĩa. Sanh tri như vô sư học thành như ký biệt. Nên Luận ngữ chép: sanh ra đã biết là bậc thượng, học mới biết là bậc kế. Bắt ép mới học là kẻ thường, bắt ép mà không học thì càng thấp kém hơn. Lương là lành, là lớn. Thư tuy không nói nhân quả xa, nay lại dẫn rộng lời nói tương tự để chứng hai nghĩa đối với lý không lỗi. Người đọc văn phải dùng chữ Lương làm cuối câu, ở đời có người chẳng hiểu câu đầu, lấy chữ Lương làm câu đầu rất chưa ổn. Như bản thứ hai câu đầu đầu câu lại có các vị trời, đâu thể đọc bản thứ hai rằng Lương Nhiên pháp môn v.v… ư? Cho nên chẳng thể dùng. Nhưng vô sư và ký biệt là y cứ sự tuy khác nhưng y cứ lý chẳng hai. Ở nhân thì phải nhờ thầy che chở, quả mãn thì gọi là ngộ riêng. Vì nhân quả này gọi là các Sư nối tổ xưa. Kế pháp môn mầu nhiệm mà trong sáng rộng lớn nêu pháp dụ hỏi hai đường trên, người đã chia ra sự lý nhân quả thì chỗ chứng pháp thể cũng chia hai ư? Hạo là nước mênh mông, pháp đã mầu nhiệm là sự hay lý, là thiên chân tỏ sáng. Hỏi pháp Vô Sư là từ lam mà có xanh. Hỏi: học thành pháp lý chẳng phải tạo tác nên gọi là thiên chân, chứng trí tròn sáng nên gọi là riêng sáng. Do thầy thói quen tu tập nên nói từ lam, do học công toại nên gọi mà thanh. Thư rằng xanh có ra từ lam mà xanh hơn lam, nhuộm sai như thế. Nay dẫn nghĩa nhuộm chẳng phải dẫn hơn lam. Người tu nếu nghe đến tông nguyên là đáp chung, tông là tôn, là chủ, là nguyên thủ, là trương. Nếu tìm chỗ truyền pháp xoay vần trao nhau bèn biết lý do tông chữ của người năng truyền. Cho nên biết Phật trong một thời kỳ là lý do mới hiểu Tông sư nay ở Long Thọ. Từ Đại giác đến hàng ma là đáp riêng. Trước đáp chung hai câu hỏi về nghĩa Đại giác thì nghĩa Thiên chân hạnh mãn là thọ ký, nhân và pháp hai ý đều như thế. Hai ý gồm đủ, đạo thầy trò thành. Nên thư chép: Tre chưa cắt thì tiếng phượng chưa bày, tánh tình chưa luyện mà phát cho nên chân lý cũng do học mà thành. Giác thì Thi nói có giác đức hạnh, lại nói giác là đại minh, là hiểu, là ngay thẳng. Nay cũng giống như thế, mười hiệu đầy đủ, chủng trí tròn sáng, ba hoặc dứt nhanh, đêm dài chợt sáng, hai tử dứt trừ, không còn trở lại. Lại giác đầy đủ thì gọi là Đại giác. Bốn giác khác nhau giác trí cũng khác. Lại nhờ tiệm mới thông, nói lược chung là Đại giác. Vì Đại giác là bậc tôn quí trong đời, nhiều kiếp hạnh mãn cũng là nói chung. Cho nên chẳng nói ba A-tăng kỳ cho đến vô lượng A-tăng kỳ. Kiếp Hán dịch là Thời, các luận Câu-xáv.v… thường lấy hai mươi lần tăng giảm làm một Trung kiếp, tám mươi lần tăng giảm là một đại kiếp. Kinh Kim Quang Minh nói: Y trời Thiên nặng ba thù của Phạm thiên ba năm một lần phất qua một tảng đá vuông rộng mỗi bề bốn mươi dậm lấy đó làm một tiểu kiếp, mỗi bề tám mươi dăm xem là một Trung kiếp, rộng một trăm hai mươi dặm là Đại kiếp. Chẳng ở trong kiếp số này mà tu học thì chẳng gọi là Bồ-tát. Lại chép: có một kiếp, một dặm, kiếp dặm, cho đến kiếp muôn dặm. Lại nói có thể thành vuông lớp, chu vi bốn mươi dặm chứa đầy hạt cải. Cứ trăm năm mới lấy ra một hạt gọi là một kiếp, trải qua vô số kiếp gọi là A-tăng kỳ. Xét nghĩa kiếp này không phải là chánh văn nên không nói rộng. Trải sáu năm mới phục kiến cho đến hàng ma. Phục kiến là điều của ngoại đạo, hàng ma là dẹp Thiên ma. Cho nên sáu năm khổ hạnh qua kỳ sở hành, trước đồng sau khác, hóa đạo phải như thế. Cho nên năm người, có hạnh trước ải mà bỏ đi, qua sáu năm bèn ăn lại mà tu thiền, người có hạnh chấp trước lại bỏ đi. Sau Phật hàng Thiên ma ở dưới cội cây chưa thành đạo. Việc hàng ma có nói rộng ở các kinh. Lại Thụy Ứng chép: Thiên ma và Phật hỏi đáp nhau, Phật nói kẻ trượng phu gặp người chiến đấu chết rồi không có thân, bị người hàng phục. Ma nói: Tỳ-kheo cầu gì mà thích ngồi dưới gốc cây trong rừng rậm đầy thú dữ, mây nổi tối mịt mù đáng sợ, Thiên ma vây quanh cũng chẳng sợ. Phật nói: xưa có chân đạo Phật đã làm, điềm đạm là cao nhất trừ chẳng sáng. Đây thật là pháp mãn tạng tối thắng. Ta ngồi đây chiến đấu với Ma vương. Ma nói: Ông làm vua Chuyển luân, bảy báu tự đến, làm khuôn phép bốn phương, năm dục thọ vui không ai bằng. Chỗ này không có đạo, hãy về cung đi! Phật nói: Ta thấy dục đầy như nuốt lửa, bỏ nước như đàm dãi không hề tiếc rẻ.

Làm vua cũng còn buồn già chết nên bỏ đi như thế, không lợi chớ dối bàn. Ma nói: Tại sao ngồi trong rừng mà bảo là vui, bỏ ngôi của cải nói yên nhàn, mà chẳng thấy ta dấy bốn binh, voi ngựa bộ binh, ngàn muôn ức, hiện ra mặt khỉ vượn sư tử, đều cầm dao kiếm và qua mâu, nhảy múa la hét đầy khắp hư không, v.v…

Đại Luận chép: lúc đó trời Tịnh Cư đứng vây ba mặt xem Phật đối đáp chiến đấu với ma. Thiên ma bỏ chạy, chạy đến núi Thiết vi vẫn không thôi. Kinh Đại Tập kinh Quán Phật Tam-muội v.v… chép: Ma vương lúc đầu muốn đến đánh Phật cho nên trước sai dân, thuộc kế sai Thái tử, lại sai ba cô gái đều chẳng phá hoại được, bèn giận dữ chính mình cầm quân. Vừa đến chỗ Phật thì chủ tướng đều té. Trong Đại luận Phật dùng kệ quở ma nữ rằng: Thân ấy dơ uế, vật bất tịnh nhầy nhụa, thật là cầu xí, sao lấy đó làm vui, các cô gái ma hổ thẹn. Lại bảo ma rằng: Ta đã ba A-tăng-kỳ kiếp tu tập khổ hạnh mới được Bồ-đề. Các ngươi chỉ bày một hội vô già bảo là thiên chủ, sao được tranh đấu với ta. Ma nói: lấy gì làm chứng, Phật dùng ngón tay chỉ đất bảo: Người này biết ta. Lúc đó thần đất bảo Không thần truyền cho đến Phạm Thế, Thiên ma bị hàng rồi, Tam-muội bất động thành đạo vô thượng. Bắt đầu ở Lộc uyển cho đến Hạc Lâm, là thành đạo rồi thuyết pháp thì phải có chỗ cho nên lược nêu trong thủy ở đâu ba chỗ ban đầu chẳng giữ và cuối cùng. Do pháp mà nghiệm chứng, có chỗ mà bày pháp. Tức Pháp được truyền chánh chỉ ở đây. Thiên chân từ làm công dụng của lam mà hưng thạnh.

Nói “Lộc uyển”, thì Đại luận chép: Xưa, vua Ba-la-nại vào núi săn bắn, thấy hai bầy nai mỗi bầy có năm trăm con và đều có một nai đầu đàn. Có một con nai đầu đàn thân mầu bảy báu là Bồ-tát Thích-ca, lại có một nai đầu đàn là Đề-bà Đạt-đa. Nai đầu Bồ-tát thấy vua giết bầy nai, bèn khởi tâm đại bi đến trước vua, mọi người tranh nhau bắn tên như mưa. Vua thấy con nai này không sợ sệt, phải có ý gì, bèn bảo đừng bắn nữa. Nai đến chỗ vua quì xuống thưa rằng: Vua vì việc nhỏ mà một lúc sai cả bầy nai chịu khổ, nếu muốn ăn thịt thì mỗi ngày xin dâng một con, vua bằng lòng. Do đó bầy nai theo thứ lớp dâng nạp. Trong bầy nai của Điều-đạt có một nai mẹ thưa với nai đầu đàn rằng: tôi chết cũng cam, nhưng tôi đang có mang, con tôi không thể chết được, xin tìm cách giải quyết, sai người sống không lạm mà kẻ chết đúng thứ lớp. Nai đầu đàn giận du bảo: ai chẳng tiếc thân mạng, đến phiên phải đi. Nai mẹ suy nghĩ nai đầu đàn này không từ bi ưa giận dữ, bèn đến nai đầu đàn Bồ-tát mà thưa rằng: Đại vương nhân từ, như tôi nay đây trời đất rộng xa mà không chỗ kháng cáo trình bày mọi việc. Nai đầu đàn Bồ-tát chép: nếu ta không giải quyết được việc chết oan của con bà ấy và sai theo thứ lớp, chi bằng mình đến thay thế, nghĩ xong bèn đến nộp mình, bảo nai mẹ trở về. Khi nai Bồ-tát đến thành vua mọi người đều lấy làm lạ, thưa lên với vua. Vua hỏi bầy nai hết rồi hay sao mà bỗng tự đến? Nai đầu đàn thưa vua nhân từ, không ai phạm tội, cây cối xinh tươi. Chỉ có bầy nai về bảo tôi, tôi thương xót, nếu đến phiên không dâng nạp thịt thì không được, mà nếu không dâng cứu thì khác nào gỗ đá, thân này không lên cũng chết, từ bi cứu khổ nạn thì phước đức vô lượng. Nếu người không từ bi thì có khác nào cọp sói. Vua nghe lời ấy bèn đứng dậy nói kệ rằng: ta thật là súc sanh gọi là người đầu nai, người tuy là súc sanh gọi là nai đầu người. Lấy lý làm người chẳng do hình thù mà làm người ngày nay ta bắt đầu chẳng ăn các thứ thịt nữa. Ta vì thí vô úy cũng giúp cho người an lòng. Bầy nai được an vua được nhân tín, chỗ ở bầy nai gọi là Lộc uyển. Phật ở đó đầu tiên xoay bánh xe pháp nên gọi là thỉ. Từ cây làm tên nên gọi là Nại uyển. Chỗ hai vị tiên ở nên gọi là vườn Tiên. Núi Đầu thứu, văn nói chim này mầu đen có nhiều con. Hình dáng núi giống như con chim nên lấy chim đặt tên. Lại ở bên núi ấy có rừng Thi-đà, thú ăn thay người chết nên ở rất nhiều trên núi này, nên lấy chim đặt tên. Lại là chỗ nhiều thánh linh ở nên đặt tên là Linh Thứu, cũng gọi là Kê Túc, cũng gọi là Lang Tích. Kinh Tăng nhất quyển ba mươi mốt chép: Phật bảo các Tỳ-kheo: núi này lâu xa gọi là Linh Thứu lại có tên khác, các thầy chẳng biết cũng gọi là núi khoáng phổ, núi Bạch Thiện, núi Tiên Nhân, thường có các La-hán thần thông đắc đạo ở đấy. Lại có năm trăm vị Bích-chi-Phật ở đấy. Phật muốn hạ sanh nên sai trời Tịnh Cư xuống báo trước, rằng kiếp sau năm thứ hai có Phật ra đời ở chốn này. Bích-chi-Phật nghe xong liền thiêu thân nhập diệt, là đời Phật thứ hai. Rừng hạc là ở thành Câu thi, bên sông A-di-laBạt-đề, cây có bốn cặp. Lại nói song thọ bốn phương đều gọi đều gọi song nên gọi là song. Lại nói phần rễ trên hợp nhau nên gọi là Song. Phật ở trong đó mà nhập Niết-bàn. Khi Niết-bàn thì rừng ấy biến thành màu trắng cũng như hạc trắng nên gọi là rừng hạc. Trong kinh A-hàm chép: Ngưu giác Ta-la, hai là lấy thành đặt tên. Thành Câu-thi-na, hán dịch là Giác Thành, vì thành ấy có ba cạnh nên gọi là Giác. Nếu thế thì chỉ gọi là giác soa, gọi là ngưu giác. Biểu thị song là lấy tên cây Ta-la. Ta-la là tiếng Tây trúc, hán dịch là kiên cố, từ ngữ kiên cố (bền chắc) là tên gọi đức của cây. Cho nên biết ngưu giác là biểu thị nghĩa song gồm ba cạnh, đây là nói chỗ Phật Niết-bàn sau cùng. Hai nghĩa trước tự nhiên chứng lý không phải ở đây nói. Thầy trò truyền nhau chính là ý này. Cho nên kế nói pháp trao cho Ca-diếp. Nói Phật diệt độ rồi là người trao pháp. Trong đó trước nói miệng vàng Tổ thừa. Kế nói Sư nay xoay vần truyền nhau. miệng vàng Tổ thừa thì nhân pháp đều nêu, nay Sư Tổ thừa thì chung riêng đều nói. Trong riêng trước nhân kế pháp. miệng vàng đủ ở trao pháp tạng truyền bảy mươi trang giấy, còn rất rườm rà. Nay lược trước y A-hàm và luận Bà-sa nói phần đầu xá-lợi và kết tập ba tạng. Trường A-hàm chép: Ca-diếp từ hang Tất-bát-la ra đến chỗ làm lễ trà-tỳ. Phật hiện ra đôi chân từ Kim quan. Ca-diếp lễ xong đi quanh xá-lợi. Trong truyện phó pháp ở trước có chia xá-lợi làm ba phần cho trời, người và long vương chia làm ba phần gọi là nhân-thiên-hải. Trong nhân có một phần lại chia làm tám, giống như A-hàm. Cho nên A-hàm chép: sau khi Phật Niết-bàn ở nước Câu-thi có chúng Mạt-la, nước Ba-ba có chúng Mạt-lê, nước Già-la có chúng Bạtly, nước Ma-già-đà có chúng Câu-lợi-dân, nước Tỳ-đề có chúng Bà-lamôn, nước Ca-duy-la có chúng dòng họ Thích, nước Tỳ-xá-ly có chúng Ly-xa, nước Ma-kiệt có vua A-xà-thế. Ai nấy đều nghĩ rằng Phật nhập Niết-bàn ở Câu-thi, ta phải đến đó tìm xá-lợi. Lúc đó các nước đều dấy bốn quân binh mạnh mẽ. Liền sai Bà-la-môn Hương Tánh rằng ông đem tên ta đến thành Câu-thi-na hỏi thăm chúng Mạt-la nước Câu-thi có mạnh khỏe không. Tôi rất kính trọng các bậc hiền, nước láng giềng nhân nghĩa chẳng có tranh cãi. Tôi nghe Như lai Niết-bàn ở nước quí vị, nhưng đấng Vô Thượng Tôn là chúa của chúng tôi, nên từ xa đến xin chia phần xá-lợi đem về nước xây tháp cúng dường, nếu cho thì chúng tôi xin đáp lại nhiều châu báu. Hương Tánh nhận lời đến đó cáo bạch. Chúng Mạt-la chép: thật đúng như quí vị nói, chỉ có Phật giáng sanh ở cõi này, rồi diệt độ ở đây, nên trong nước tự phải cúng dường. Cực nhọc quí vị đến xin chia xá-lợi mà không được. Lúc đó vua các nước nhóm họp các Đại thần mà gởi tụng rằng: cúng tôi lễ nghĩa hòa bình từ xa đến câui lạy xin chia ra xá-lợi. Nếu không được thì dấy bốn binh, đấy chẳng tiếc thân mạng. Nghĩa không được thì phải dùng năng lực mà lấy. Lúc đó nước Câu-thi liền nhóm họp các quan cùng dùng kệ đáp rằng: Từ xa cực khổ quí vị chịu nhục câui lạy, di hình Như lai chẳng thể trao cho, bên ấy nói dấy binh, chúng tôi cũng có, liều mạng chống lại, chẳng hề sợ sệt. Lúc đó Hương Tánh bảo mọi người rằng có trưởng giả hiền nghe lời Phật dạy miệng tụng pháp ngôn, tâm lại nhân hóa, tất cả chúng sanh phải nghĩ được an, đâu tranh giành xá-lợi mà giết hại nhau, Như lai để lại hình hài để làm lợi ích rộng rãi. Xá lợi hiện tại chỉ nên chia ra.

Chúng đều khen tốt. Bèn bàn hỏi ai chia ra được? Chúng cử Hương Tánh nhân từ có khả năng chia xá-lợi v.v… Liền chia xá-lợi thành tám phần, bình tháp thứ chín, xây tháp thứ mười. Khi Phật còn sống thì tóc do các vị trời giữ trên cõi trời xây tháp cúng dường. Vua A-xà-thế trước đó đưa thư an ủi khi sao mai mới mọc thì chia ra xá-lợi, xong tự đem về nước mình. Còn các tro khác, người ở thôn Tất-bát-la bảo chúng rằng: con xin chỗ đất đốt thân về xây tháp cúng dường, thì chúng đồng ý cho. Các nước đều xây tháp thờ.

Nói kết tập ba tạng: Ngài Đại Ca-diếp chia ra xá-lợi Phật xong, liền sai A-nan nói ra Tu-đa-la (kinh) sai Ưu-ba-ly nói Tỳ-nại-da (luật) Ca-diếp tự nói A-tỳ-đàm (luận). Hỏi luận ai nói ở Bà-sa nói trước nói tạo luận duyên khởi có hỏi: Ai tạo luận này? Đáp: Thế tôn tạo. Hỏi: ai hỏi ai đáp? Đáp: hoặc nói Xá-lợi-phất hỏi Phật đáp hoặc nói năm trăm Phật. Phật đáp: hoặc nói các pháp sâu xa không thể hỏi. Như lai tự hóa thành Tỳ-kheo hỏi Phật đáp, nếu thế vì sao lại nói Ca-chiên-diên tạo. Đáp: Vì Tôn giả ấy đọc luận này vì người mà nói khiến cho truyền khắp, danh qui về Ngài ấy nên nói Ngài ấy tạo. Có người nói Tôn giả ấy tạo. Hỏi: Đã nói pháp rất sâu xa không thể hỏi, Ca-chiên-diên ấy làm sao tạo được. Đáp: Vì Ngài ấy có lợi trí ba minh sáu thông, đủ tám giải thoát. Năm trăm Phật có nguyện đối với di pháp Phật Thích Ca mà tạo A-tỳ-đàm phải chăng? Thế tôn ở khắp nơi nói pháp giáo hóa, Tôn giả ở trong đó mà lập kiền-độ. Thích-ca diệt độ rồi hơn sáu trăm năm thì ở Bắc Thiên trúc có năm trăm ứng chân cùng soạn tập lời Thế tôn nói. Kế vào bản thứ hai lược nêu trao pháp theo văn của bản truyện lúc đó có khác chút ít, ý ở lược biết ngôn thú. Trước Ca-diếp bộ đã chia ra ba tạng giáo rồi. Sau hai mươi năm hoằng trì chánh pháp. Trước lễ bốn tháp, tức là xuất gia xoay bánh xe pháp, nhập Niết-bàn. Kế lễ tám tháp kế vào cung rồng lễ tháp răng Phật, kế lên trời lễ tháp tóc Phật, đắp y Tăng-già lê và cầm y bát tích trượng của Phật như vào bùn mềm pháp giao cho A-nan, A-nan giữ kinh pháp hai mươi năm nghe một Tỳ-kheo tụng kệ Pháp câu rằng: người sống một trăm tuổi mà chẳng thấy con hạt già không bằng sống một tuổi mà được thấy. A-nan buồn bã bảo đây không phải là kệ của Phật. Kệ Phật nói người sống trăm tuổi không nghe pháp sanh diệt, chẳng bằng người sống một tuổi mà được thấy. Anan than rằng đời ta vô dụng bèn đến từ biệt Xà vương (vua A-xà-thế) người giữ cửa nói vua ngủ. Liền lội qua sông Hằng. Vua ngủ mộng thấy cây lộng gẫy thì thức dậy, người giữ cửa bèn tâu việc A-nan đến. Vua bèn đuổi theo ra đến giữa sông mới kịp A-nan, thỉnh rằng: Thế tôn Niếtbàn, Ca-diếp nhập diệt con đều chẳng thấy. Chỉ biết kính ngưỡng, nay Tôn giả lại bỏ đi con biết nương tựa vào ai. Tôn giả yên lặng liền vào Tam-muội gọi là Phong phấn tấn chia thân ra bốn phái. Phái là phần. Chia cho hai nước trên trời dưới đất. Pháp trao cho Thương-na-hòa-tu, Tu tạo ban già vu sắc. Ở núi Man-đà lập tinh xá hai mươi năm. Nhân đến Câuc-đa ngồi giường Câuc-đa. Có nhiều đệ tử không biết, bèn đưa tay lên hư không mà mưa cam lộ, hiện năm trăm pháp môn, phần nhiều đều chẳng biết, bảo rằng Phật vào mà Mục-liên chẳng biết, Mục-liên vào mà các Tỳ-kheo chẳng biết, ta vào mà Câuc-đa chẳng biết. Ta được bảy muôn bảy ngàn bản sanh các kinh, tám muôn Tỳ-ni, tám muôn Tỳđàm các thầy đều chẳng biết. Nếu ta mất pháp môn cũng mất theo. Các đệ tử mới biết thần dị đều được quả A-la-hán. Độ đệ tử rồi mà vào Niếtbàn. Trao pháp cho Câu-đa, Câu-đa khi còn ở thế tục đã được Sơ quả thấy dâm nữ Đồ-liệt-tấn được ba quả, xuất gia thọ giới được quả thứ tư. Khi nói pháp bị ma làm chướng ngại. Câuc-đa hàng rồi do đó chẳng dám ở Diêm-phù-đề, độ cho vợ chồng được bốn quả, bèn hạ một trù. Trù dài bốn tất đầy nhà trượng sáu dùng trù đốt thân pháp trao cho Đềca-đa. Đa lên đàn được Sơ quả, ba lần yết-ma được bốn quả. Pháp trao cho Di-già-ca. Ca mất thì pháp trao cho Phật-Đà-nan-đề. Đề trao cho Phật-đà Mật-đa, hai Tôn giả trên trong truyện duyên khởi nói việc cũng ít Mật-đa mười hai năm thường cầm cây phướn đỏ đi trước vua. Vua hỏi: là ai? Đáp: người trí. Hỏi: cầu việc gì? Đáp: cầu tranh luận. Vua bèn lập hội mời các Luận sư. Người cạn thì một lời, kẻ sâu thì nói lại một lời nữa (lời thứ hai). Vua luận cũng thua bèn xin thọ ba quy y. Có một Bàla-môn, khéo biết pháp tính toán thường ngầm che chở, ông ấy nói Phật vô thần, Đa chép: bị tội, ông ấy chẳng tin mà bói toán thì biết là bị đọa địa ngục, liền quy y tin Phật. Thường ngầm che chở thì biết là sanh lên cõi trời. Khi Đa nhập diệt thì dời thi thể như tượng bất động, bèn thiêu thân dưới gốc cây, tro thân giúp cây xanh, bèn trao pháp cho Tỳ-kheo Hiếp. Tỳ-kheo ở trong thai suốt sáu mươi năm sanh ra tóc đã bạc. Bèn thề không nằm nữa, nên gọi là Tỳ-kheo Hiếp, cho đến ở trong tối mà tay phát ra ánh sáng để lấy kinh. Bèn trao pháp cho Phú-na-xa. Xa tranh luận với Mã Minh. Minh chấp có ngã. Xa chép: Phật pháp hai đế, thế đế có ngã, chân đế vô ngã. Mã Minh muốn cắt đầu tự tử. Xa bảo cạo tóc làm đệ tử, Minh lại tạo ra hòa-la-kỵ. Trong âm kỵ có nói vô thường, khổ, không, vô ngã. Nghe rồi sẽ ngộ đạo, năm trăm Vương tử nhàm chán cuộc đời đi xuất gia. Vua sợ dẫn đi tu hết, bèn cấm kỵ không cho lưu hành. Bị nguyệt thị đánh đòi chín ức đồng tiền vàng. Vua cầu hòa, 22 liền đem cho chín ức tiền vàng. Vua cầu hòa liền đem bát Phật của Mã Minh và một con gà từ tâm, rồi chuẩn cho chín ức tiền vàng, Nguyệt Thị nhận lấy vui mừng, kéo quân về. Lại làm lễ tháp, tháp bị sụp đổ, đào lên thì được thây Ni-càn. Có thấy cạo tọc đến xin Vương nữ, ba lần như thế. Vua nói: tiểu nhân, đây có ý gì vậy? Minh nói: đất ấy có vàng nên khiến như thế. Đào lên quả nhiên được kho báu. Vua Anh Dũng ba lần biểu đều qui phục, vua giết chín ức người. Minh nói: ta biết pháp sám hối bèn bỏ một khuyến vàng vào vạc nấu sôi trong bảy ngày, hỏi ai có thể lấy? Chẳng có ai. Vua bèn chế nước lã vào rồi lấy ra. Vua do đó mộng bảo rằng: Tội ta phải chịu vạc nước sôi, sám hối như đổ nước lã vào. Minh vì vua nói pháp do đó tội nhẹ làm cá ngàn đầu đội vòng sắt nóng, cắt đầu lại mọc. Nghe tiếng chuông thì dứt đau đớn. Bèn khuyên đánh chuông mãi. Pháp trao cho Tỳ-la. La soạn luận Vô ngã, chỗ nào có luận đến tà kiến đều tiêu. Pháp trao cho Long thọ, Thọ học rộng, vô địch trong thiên hạ, muốn chê bai kinh Phật mà tự làm pháp, nói lên ta không có thầy. Rồng mời Long Thọ xuống thủy cung, một hạ chỉ tụng kinh của bảy Đức Phật. biết pháp Phật vi diệu, nhân dó mà xuất gia, hàng phục Quốc vương, chế phục ngoại đạo. Ngoại đạo hiện thần thông hóa thành ao hoa mà ngồi trên hoa sen. Long Thọ hóa thành voi nhổ hoa sen đánh tát ngoại đạo. Ông soạn ba thứ luận: một là luận Đại Bi Phương Tiện, nói thiên văn địa lý làm báu làm thuốc lợi ích thế gian, hai là luận Đại Trang Nghiêm, nói tu tất nhất nghĩa, luận Trung Quán, đó là một phẩm. Khi soạn luận này xong thì hỏi một vị sư Tiểu thừa là muốn ta đi hay ở. Đáp: Đi bây giờ là tốt nhất. Sư bèn vào phòng mà thoát xác. Pháp trao cho Đề-bà. Bà do đó vào miếu Đại Tự Tai. Miếu có tượng vàng, tượng cao sáu trượng, mắt bằng lưu ly, rất linh nghiệm, ai cầu nguyện gì đều được, mắt giận động con ngươi. Đề-bà bảo: Thần là thần vốn lấy tinh linh dạy vật mà giả mượn vàng ròng lưu ly ra oai ở đời sao tệ như thế? Bèn bắc thang lên móc mắt thần, mọi người đều bảo thần bị làm nhục. Đề-bà bảo muốn biết trí thần vốn không có mạn tâm (tâm hống hách coi thường) thần biết tâm ta sao lại làm nhục. Đêm ấy cúng kiến sáng ra tế thần thì thần hóa thành người thường không có mắt tai, khi tế lễ thì than rằng: ở đây bày cúng thí rất là ít có, nay tôi không có mắt sao chẳng thí mắt. Đề-bà khoét mắt mình mà thí. Chỗ khoét lại có mắt mới, như thế đến muôn mắt. Thần rất vui mừng hỏi muốn cầu điều gì? Đề-bà chép: ta từ chối chẳng nhờ gì khác, chỉ sợ người chưa tin nhận. Thần chép: sẽ đúng như nguyện, rồi biến mất. Thần giao cách cảm đều tin phục. Chỉ có một ngoại đạo ôm lòng sân hận bảo ông lấy đao không mà phá nghĩa ngã, ta dùng dao sắt mà phá bụng ngươi, năm tạng bày ra đất không dứt, lại xin ba y, thì bảo đi mau, rồi lại đi theo mà nói pháp vô thường. Ta vì tạo nghiệp nên nay đối với nghiệp phải chịu, ông chớ lo buồn. Nói xong thì nhập diệt trao pháp cho La-hầu-la. Trước đó có một ngoại đạo soạn sách tên Quỉ danh, sâu kín khó hiểu, Long Thọ đọc qua liền hiểu. Lại vì Đề-bà mà giải thích, lại rộng vì La-hầu-la phân biệt mới hiểu. Ngoại đạo khen rằng Sa-môn Thích Tử thần trí như thế, đọc sách của ta như biết từ xưa. Pháp trao cho Tăng-khư Nan-đề. Đề đạo cao hóa rộng, nói kệ Thử La-hán rằng: Sanh dòng vua Chuyển luân mà nhập vào Niết-bàn, chẳng phải Phật, chẳng phải La-hán, cũng chẳng phải Bích-chi-Phật. La-hán vào Tam-muội suy nghĩ cũng chẳng hiểu. Liền bay lên cung trời Đâu-suất mà hỏi Di-lặc. Di-lặc nói: bùn dính trên bánh xe xem là đồ sành sứ. Sành sứ bể rồi, không phải là Nhị thừa cũng không phải là Phật. Sau thấy Nan-đề vì Đề mà nói. Đề nói là lời Di-lặc. Pháp trao cho Tăng khư Da-xá, xa đến bờ biển thấy có một ngôi thành, đến thành khất thực mà nói kệ rằng. Hành là khổ bậc nhất, đói là bịnh bậc nhất, nếu thấy được pháp thật, thì được đạo Niết-bàn. Chủ thành do đó mời vào cho ăn, thấy hai quỉ xưa là vợ con. Do nó san tham, ta bèn thề rằng: thấy các ngươi chịu báo. Lại thấy một ngôi thành cùng ăn uống tề chỉnh. Ăn xong liền ném bát vào lửa, lửa nổi lên mà thiêu thân. Vì tiếc thức ăn với người khác cho nên bị khổ này. Pháp trao cho Cưu-ma-la-đà. Đà khi còn bé đã hay đoán được việc nên được gọi là Mỹ Danh, một lần xem muôn người cỡi ngựa nên gọi Mã Sắc. Y trượng đều ghi. Pháp trao cho Xà-dạ-na. Na vì chị dâu đưa cơm cho Tỳkheo mà phạm tội trọng. Hóa thành hầm lửa để nhảy xuống sám hối. Nói pháp tội hết được thành La-hán. Lúc đó người gọi là Luật sư Thanh Tịnh. Thấy bên ngôi thành lớn có con quỉ không được ăn đã năm trăm năm. Lại thấy có con quạ con, xưa là con ngăn ta xuất gia, nên suốt năm trăm năm không được đạo quả. Pháp trao cho Bà-tu Bàn-đà. Đà trao cho Ma-nô-la, La cùng Tam tạng phân vùng mà giáo hóa. Từ sông Hằng trở về Nam người Nhị Thiên trúc, người nhiều tà kiến, bèn giao cho Ma-nô-la. Từ sông Hằng trở về Bắc người Tam Thiên trúc, người tin dễ dạy nên giao cho Tam tạng. Pháp giao cho Hạc-lặc-dạ-na. Na trao cho Sư tử. Sư tử gặp vua ác tên là Đàn-di-la phá đập chùa tháp, giết hại chúng tăng, kiếm chém sư tử, máu biến thành sữa, trao pháp sau đó thầy kết, kế nói lợi ích trao pháp.

Nêu chung: Kim khẩu, đây là nói Như lai thân mầu vàng ròng, khẩu nghiệp giảng nói. Hỏi: các Tôn giả này vị hạnh thế nào (vị hạnh nào)? Chuẩn theo bốn y vị, một là y thuộc. Phàm chẳng được tên thánh, trong truyện chẳng phán đúng vị ấy mà gọi chung là bậc Thánh, cho nên phần lớn là y nhân thứ tư, cũng có thể chung cho cả thứ ba, thứ hai. Cho nên văn đều nói bậc Thánh. Xưa vua chẳng lập của cải đầu lâu (sọ người). Đây là nói tướng trao pháp được lợi ích. Cứu là chuồng ngựa, đồ là giết. Trong truyện nêu người trao pháp có chép: gần gũi thiền thiên, lắng nghe chánh pháp lợi ích xa cho đời sau. Như xưa nước Hoa Thị có một con voi rắng khí lực mạnh mẽ diệt được kẻ thù. Nếu có người tội thì cho voi chà đạp. Sau đó chuồng voi bị cháy nên dời đến chỗ khác, gần một tinh xá. Có một Tỳ-kheo tụng kệ Pháp Câu rằng: làm thiện sanh cõi trời, làm ác xuống vực sâu thì tâm liền nhu hòa khởi ý niệm từ bi. Sau trao cho người tội thì voi chỉ nhìn không đạp chết, chỉ ngữi liếm mà thôi. Vua thấy việc ấy tâm rất kinh sợ, bèn mời các quan đến cùng mưu tính việc ấy. Lúc ấy, có một vị quan tâu vua rằng: con voi này vì ở gần tinh xá nên ắt có nghe diệu pháp, nên như thế. Nay nên sai nói ở gần nhà giết mổ, nói thấy voi ở gần chỗ giết mổ. Voi thấy giết hai thì tâm ác lừng lẫy liền giết hại càng dữ. Cho nên phải biết loài chúng sanh tánh nói bất định. Súc sanh còn bởi nghe pháp mà sanh từ, thấy ác thì giết hại, huống chi là người, mà chẳng nhiễm thói quen khi gần thiện tri thức Bà-la-môn, của cải đầu lâu. Truyện nói xưa có Bà-la-môn mang rất nhiều đầu lâu (sọ người) đến bên thành Hoa Thị mà bán, bán rất lâu mà không ai mua. Liền tức giận lớn tiếng mắng rằng: trong thành này nếu không có ai mua ta sẽ khiến cho các ngươi làm ác nổi tiếng, thật các ngươi quá ngu si đần độn. Bấy giờ trong thành các Ưu-bà-tắc, sợ bị chửi chê nên đều đến mua, bèn rót nước đồng sôi vào tai. Người nghe thông thì trả giá nhiều, người nữa nghe thông thì trả giá ít, kẻ điếc đặc thì không trả giá. Khi đó Bà-la-môn hỏi Ưu-bà-tắc rằng: số đầu lâu này chẳng khác nhau, sao giá có khác nhau? Ưu-bà-tắc nói: người thông suốt thì sanh ra có nghe pháp mầu, trí tuệ cao quí nên trả giá nhiều. Người nữa thông suốt tuy có nghe pháp nhưng chưa khéo phân biệt, nên trả giá ít. Kẻ không thông, vì từ xưa người này không hề nghe pháp. Các Ưu-bà-tắc này đem đầu lâu người nghe pháp mà xây tháp cúng dường, nên chết rồi sanh lên cõi trời. Phải biết đại pháp có công năng lớn, đem đầu lâu người nghe pháp mà cúng dường còn sanh lên cõi trời huống chi dốc lòng cúng dường người trì kinh. Nghe pháp đã có ích sâu xa như thế. Cho nên Phật trao pháp khiến ở đời sau, xoay vần được nghe, khiến ở sau Long thọ diệu quán do đây mà có chỉ quán.

Từ “Bộ chỉ Quán này Sư nay nối Tổ, ở đây tức là trước nêu chung người và nhân pháp được truyền. Nói “Thuyết pháp môn mà tự mình đã thực hành trong tâm. Tức là chương An ngầm nói từ Đại sư được pháp sở hành cho nên nêu chỗ làm để hiểu chỗ truyền. Nếu truyền mà chẳng tập, có nói mà không làm thì lấy gì để luận chỗ truyền chẳng không. Cho nên biết chỗ truyền tức là chỗ làm (truyền là để hành), cũng sai đời sau làm chẳng trái lời. Do đó một bộ đều là hành tướng. Có người khác chép: ngoài ba tâm yếu truyền riêng, tức là văn của ba bộ trở thành vô dụng. Nếu có mặt mà trao khẩu quyết, chỉ là sắp đem chứng mà trình riêng với thầy, an tâm quan môn văn này tự đủ, huống kẻ học sau này chẳng mong mặt trao, mà lìa đây thì gọi là gì? Cho nên phải tin đây tức là chỗ truyền, cho nên di chúc rằng: chỉ quán chẳng cần truyền trao cho riêng ghi vì người nói. Riêng ghi là chỉ cho Chương An ghi mười quyển. Y dặn dò chính nói mặt trao, ý nhiều chẳng khắp, ghi riêng là nói ý đầy đủ. Cho nên biết chỉ quán do Đại sư truyền thì tùy cơ mặt trao truyền chẳng phải là cái mà đời sau chỉ kham được vì khi qua đời đã hết lòng dặn dò (di chúc). Nghiệm biết biệt truyền là ở đây nói lầm.

Kế từ khi ngài Trí giả trở đi là biệt nêu người truyền pháp kim khẩu Tổ thừa từ trước hướng sau, nay Sư Tổ thừa thì từ sau hướng trước, là chỉ Sư Tuệ văn sư đã nối Long thọ là văn câu. Trong tựa đầu, Trí Giả trước nói về đức nghiệp. Khi mới sanh ra thì trong nhà sáng rực, nóc nhà, hiên nhà đều rực rỡ các nhà ở gần cũng sáng. các việc mừng theo thế tục đều lửa tắt nước lạnh, mà việc không thành. Mắt sư có tròng mắt có hai con ngươi, cha mẹ giấu nhẹm chẳng muốn người biết mà người tự biết. Sách Ngọc thiên nói đồng là hạt châu nơi mắt, tức hạt châu nhỏ trong tròng đen, soạn Pháp Hoa sám hối phát Đà-la-ni, là Tập Luật tạng rồi đến núi Đại Hiền mà trì kinh Pháp Hoa. Do túc duyên đã huân nên thường thích thiền duyệt rõ ràng Giang Đông không có gì đáng hỏi. Nghe núi Đại Tô ở Quảng châu có Thiền sư Tuệ Tư, xa nghe phong đức như đói khát. Đất ấy là biên giới hai nước Trần Tề, thường xảy ra chiến tranh, nhưng vì trọng pháp, xem thường mạng sống bèn đi theo đường hiểm. Ngày Tuệ Tư mới thấy cười bảo rằng: Xưa cùng ở núi Linh sơn nghe kinh Pháp Hoa, do túc duyên mà mà nay lại gặp nhau, liền bày Phổ Hiền đạo tràng thực hành Tam-muội Pháp Hoa, trải khoảng nửa tháng hành đạo tụng kinh. Đến phẩm Dược Vương, chư Phật đồng khen Bồ-tát Dược Vương rằng: ấy là tinh tấn, chân thật, pháp cúng dường chân thật, rỗng rang vào định, soi rõ Pháp Hoa, đem chứng bạch thầy, thầy bảo: không phải ông chẳng chứng, không phải ta chẳng biết, mà là chỗ phát định phương tiện trước của Tam-muội Pháp Hoa. Chỗ phát trì là sở Tuyền Đà-la-ni, nếu sai văn tự Pháp sư đông ngàn muôn người tìm ông mà luận bàn cũng chẳng thể cùng. Ở trong nói pháp nhân, rất là bậc nhất. Pháp sư Đại thọ, v.v… tức chỉ cho Nam Nhạc là Pháp sư Thọ. Ngài Nam Nhạc tạo kinh Đại Phẩm chữ vàng xong tự mở Huyền Nghĩa sai Sư nhờ giảng thay. Do đó Trí Phương Nhật Nguyệt biện loại huyền hà quyển thư xứng hội, hữu lý tồn yêu. Chỉ có ba Tam-muội, ba quán trí dụng để xét hỏi, ngoài ra đều tự cắt bớt. Tư nói hãy nói pháp phó pháp cho Thần Pháp Vương vô sự. Lúc đó, Luật sư Tuệ Khoáng cũng ngồi trong hội, tự hỏi: Luật sư từng có Hiền Tử giảng chăng? Khoáng đáp: chỗ Thiền sư sanh ra chẳng phải là Khoáng Tử (này). Tư nói Tư cũng không có công năng lực Pháp Hoa. Hai nước Trần Tùy: nhà Trần họ là Quốc. Từ Võ Đế Bá được Lương nhường ngôi đến nay đến Thiếu chủ Thúc Bảo mới đến nhà Tùy. Nhà Trần gồm năm vua. Vua thứ tư Tuyên Đế là em của Văn Đế, tên là Hạng Tự tự là Thiệu Thế, trước Tự bảo Trí Giả rằng: ta ham thích Nam Nhạc đã lâu, tiếc rằng pháp không có chỗ trao, ông có thể truyền đăng hóa độ, chớ làm người sau dứt mất hạt giống Phật, ông ở nước Trần có duyên phải đến đó mà làm lợi ích. Đã nghe lời dặn dò nghiêm khắc bèn cùng hai mươi bảy vị như Pháo Hỷ, v.v… mà đến đất Trần. Nghi Đồng Trầm Quân Lý mời ở chùa Ngõa Quan mở Pháp Hoa kinh đề vua ra lịnh một ngày ngưng việc triều đình, công khanh đều tập hội. Sư ở Ngõa Quan được tám năm giáng luận Đại trí độ nói thứ đệ thiền môn, người mong được lợi ích nói nín khó có thể lược xưng nói. Sau đó, đồ chúng càng nhiều mà người được pháp càng ít, hại đạo tự hành vào hóa tha của ta, rất dễ hiểu. Các hiền đều tùy chỗ mà an. Ta muốn theo chí ta, ta nghe đất Thiên thai có Tiên cung, nên dứt tâm ở đảnh này mà mở chí bình sanh, vua Trần ra lịnh ở đó mãi, có từ bộc xạ tiềm thế khuyến thỉnh. Vua nói Kinh sư Tam tạng, tuy hoằng hóa Phật pháp đều có một đường riêng, hiểm đạo gồm hiển, Trẫm nghe tế tế sâu dụng ủy hoài, phải dừng lại vật đâu sợ độc thiện. Không phải từ vật luận bàn mà chỉ thẳng Đông xuyên. Lúc ấy, là đời Trần Thái Kiến năm thứ bảy, tháng chín mùa Thu, từ Tư Thủy đến Thiên Thái, vua Tuyên Đế ra sắc rằng: Thiền sư Phật pháp tài giỏi, thời tượng đều theo, dạy cả đạo tục, là chỗ cậy nhờ của nước, phải cắt huyện Thủy phong, mà nuôi chúng, quyện hai hộ dân để cung cấp củi nước. Sau ban cho sắc tứ tự bảng ngạch đầy đủ. Tả Bộc Xạ Từ Lăng Khải tâu biết Thiền sư sáng lập Thiên thai ngồi thiền ở núi nổi tiếng đặt hiệu là Tu Thiền. Khi Trần bị thua thì đến đất Tùy, vua Tùy kính trọng. Vua Trần cùng các Vương thư sớ gồm mười hai đạo, vua Tùy cùng các Vương sai thư sớ gồm năm mươi đạo. Bày vật làm tin ở chùa Quốc thanh hơn trăm lục. An thiền mà giáo hóa đến năm phẩm. Đây là trích ra từ Lâm Chung hạnh vị, không trích ra ở thiền định đoan tọa thủ diệt, nên gọi là an thiền mà hóa. Niên hiệu Khai Hoàng, năm thứ mười lăm Sư từ kinh xuống đất Nghiệp đến năm thứ mười sáu mới vào lại Thiên Thai. Niên hiệu Khai Hoàng năm thứ mười bảy, Tấn Vương mời Sư đến Thạch Thành, Sư bảo đồ chúng rằng: Đại vương muốn mời ta đến, ta không phụ lời mà đến, ta biết thân mạng ta ở đây nên không đi nữa. Bèn ở trước tượng đá mà miệng trao di thư rằng hoa sen lò hương tê tiết như ý lưu lại kính biệt Đại vương. Nguyện hương thơm chẳng cùng, thường giữ gìn như ý, chỉ ba y sai giặt rửa. Rồi bảo đọc tên hai bộ kinh Pháp Hoa quán và Vô Lượng thọ, khen ngợi xong. Lúc đó hai mươi lăm người như Nông Châu Thị Quan v.v… thấy tượng đá phát ra ánh sáng rực rỡ đầy núi. Lại dùng nước thơm súc miệng xong thì nói mười như, tám sanh, mười pháp giới, bốn giáo, ba quán, bốn tất, bốn đế, sáu độ, mười hai duyên. Mỗi pháp môn nhiếp tất cả pháp. Ta nay cuối cùng khuyên quán nói thiền, thiện tịnh cuối cùng nay ta sẽ vào. Lúc đó, Trí Minh thỉnh rằng xin từ bi giải thích để lường nghi chẳng rõ ở vị nào, chết rồi sanh về đâu, ai có thể kính nương. Đáp rằng: các thầy kém trồng gốc lành, hỏi công đức người khác, như kẻ mù hỏi sữa, kẻ què hỏi đường, thật có ích gì. Tuy nhiên ta phải vì các thầy mà phá bỏ nghi ngờ. Nếu ta chẳng lãnh chúng thì sẽ thanh tịnh được sáu căn, vì tổn mình mà lợi ích người khác, nên chỉ ở vị Ngũ phẩm. Còn sanh chỗ nào, thì ta và các thầy bạn đều theo Quan Âm cùng đến ry cứ ta, hỏi ai có thể kính ngưỡng. Các ông chẳng nghe hay sao? Ba-la-đề-mộc-xoa (giới luật) là Đại sư của các thầy. Bốn thứ Tammuội là người dẫn đường sáng của các thầy, dạy các thầy bỏ gánh nặng, dạy các thầy hàng phục ba độc, dạy các thầy trị bốn đại, dạy các thầy mở nghiệp buộc, dạy các thầy phá quân ma, dạy các thầy điều thiền vị, dạy các thầy tà tế, dạy các thầy bẻ gãy cờ ngã mạn, dạy các thầy ra khỏi hầm vô vi, dạy các ông lìa nạn đại bi, chỉ nên nương nhờ Đại sư này. Từ bỏ gánh trở đi tức là mười cảnh. Cho nên biết nếu chẳng bày nhân cảnh quán chẳng nhận nương cậy. Do đó dạy Duy-na, rằng mạng người sắp mất tăng thêm chánh niệm, phải đánh chuông dài và lâu đợi dứt hơi thở mới thôi, đâu đợi thân lạnh mới đánh chuông khánh, than khóc đắp y đều chẳng nên làm. Nói xong thì ngồi kiết già đọc tên Tam bảo mà vào Tam-muội. Lúc đó là giờ mùi ngày 2 tháng 11, sư ngồi thẳng nhập diệt. Diệt độ rồi có điềm lành hiện nói đủ như trong Biệt truyện. Tức là trụ ở Quán hạnh vị Thủ-lăng-nghiêm tịnh mà vào diệt.

Nói năm phẩm là rất đáng tin. Nhưng Đại sư khi còn sống thường nguyện sanh lên cõi trời Đâu-suất. Khi qua đời bèn nói Quan Âm đến ry cứ, phải biết quỹ vật tùy cơ thuận duyên nên bày hóa, chẳng thể y theo một thứ. Cho nên nói lúc đi dẫn chứng Đại sư năm phẩm công nhiều. Phẩm Tùy Hỷ chép: Bố thí bốn trăm muôn ức A-tăng kỳ thế giới chúng sanh sáu thú bốn loài mỗi đều cho bảy báu, thấy họ già yếu cho đến chết dạy họ sai được quả khởi sáu thần thông chẳng bằng người mới tùy hỷ gấp trăm ngàn muôn lần. Kinh thứ sáu mới nêu là cuối kinh thứ năm là phầm đầu tùy hỷ trong năm phẩm. Lại dùng người thứ năm mươi mà so sánh người tùy hỷ đầu tiên. Cho nên nay trong văn này trước thuật Tiểu thừa hóa tha sánh với phẩm đầu, đủ như trong văn kinh nói. Lại dùng phẩm đầu mà so với phẩm sau cho nên nói huống năm phẩm chăng. Nêu tối đa Tiểu thừa của huống với cực tiểu của Đại thừa. Phẩm đầu nhỏ nhất công còn nhiều, huống chi là phẩm thứ năm ư? Đây chứng tỏ Đại sư ở phẩm thứ năm là đức rất sâu.

Kế dẫn phẩm Pháp Sư, làm chỗ nương cho đời vì ban truyền ý Phật nên gọi là sứ. Sứ tức là người được sát sử Tuyên nói nhân quả Phật nên gọi là việc của Như lai. Kế dẫn Đại kinh, cũng để chứng minh cho ngôi vị của Đại sư. Kinh chép: Nếu có người có tánh phiền não năng biết tạng bí mật của Như lai, đó gọi là sơ y (người mới nương). Nếu y theo viên vị năm phẩm sáu căn thì đều gọi là sơ y, chưa dứt vô minh thì gọi là có phiền não, cũng gọi là quán hạnh tương tự biết bí mật tạng. Kế Trí Giả trở xuống: Nêu Trí Giả Sở Thừa tức là Nam nhạc. Nam Nhạc đức hạnh trở xuống, nêu là Nam Nhạc hạnh chứng. Truyền vật chí nói tung cao là Trung Nhạc thuộc Dự châu, Hoa sơn là Tây Nhạc thuộc Đồng châu, Thái sơn là Đông Nhạc thuộc Duyễn châu, Hằng sơn là Bắc Nhạc thuộc Ký châu, Hành sơn là Nam nhạc thuộc Kinh châu, sau mở Hành châu là từ núi mà đặt tên. Vì năm núi này trên ứng Thiên tượng đối với năm Đế. Lại núi cao gọi là Nhạc. Đại sư họ Lý, người ở Hạng thành, Võ Tân. Lúc còn bé nằm mộng thấy vị tăng Ấn-độ khuyên vào đạo, lại thường mộng thấy vị tăng dạy trai giới. Khi thấy bạn đọc kinh Pháp Hoa thì tâm rất ưa thích kính trọng. Trước không hề đọc bèn mượn mà ở chỗ nghĩa địa vắng vẻ tự xem một mình, không người dạy trao ngày đêm than khóc. Lại sợ ở nghĩa địa là chỗ ở của phi nhân. Bèn dời đến một ngôi thành xưa đào hang mà ở. Ngày thì khất thực, đêm chẳng ngủ nghỉ, đối kinh mà khóc đảnh lễ mãi không thôi. Mùa hạ mưa nhiều dưới hang ngập nước, toàn thân sưng thủng cục cữa không được, mà tâm đối kinh vẫn mạnh mẽ, bỗng bịnh tiêu hết bình phục như xưa. Lại mộng thấy Phổ Hiền cỡi voi trắng đến xoa đầu mà đi. Văn xưa chưa biết nay tự nhiên hiểu rõ, chỗ đầu được xoa tự nhiên nổi lên như nhục kế. Do đó kinh Pháp Hoa và hơn ba mươi quyển kinh khác trong mười năm tụng không dứt tiếng. Nhân đọc các kinh thấy khen thiền định, lại phát tâm tìm thiện tri thức. Gặp Thiền sư Tuệ Văn mà học pháp thiền. Ngày thì làm việc tăng, đêm thì ngồi thiền đến sáng. Siêng năng động chướng, bèn phản quán nguồn tâm tìm cầu bất khả đắc, bèn động tám xúc phát thiền căn bản. Nhân thấy chỗ ba đời hành đạo, được tướng này rồi càng thêm tinh tấn. Hết hạ thọ lạp xong sắp muốn thượng đường (lên pháp đường) thuyết giảng bèn cảm thán rằng: xưa Phật ở đời chín tuần vừa xong thì người chứng đạo rất nhiều. Nay Ta không quá tuổi pháp dối nhận, trong tâm hổ thẹn, ngả mình tựa vách, lưng chưa đến vách thì sáng suốt liễu ngộ. Tam-muội Pháp Hoa pháp môn Đại thừa cảnh giới đều sáng tỏ, thông minh bối xả đều thành tựu. Từ đó trở đi, biện ngộ rất nhiều, kinh chưa nghe chẳng nghi ngờ mà tự hiểu. Cho nên văn nay chép: pháp môn đại tiểu sáng suốt rỗng phát. Trong truyện chẳng nói bảy năm phương đẳng, là chỗ truyền nghe khác nhau. Kế Ngài Nam Nhạc thờ Ngài Tuệ Văn, là nói Nam Nhạc sở thừa và đức hạnh của văn sư, chưa thấy có bản truyện.

Nói Tề Cao, Tề là nước Tề, Cao là Cao Tổ, là người ở Bột Hải, họ Cao là con cháu của Tề Đại phu Cao Hề. Cao Hoan Kế Trừng Kế Dượng, mới được Ngụy nhường ngôi, kinh đô là Nghiệp ở Tương châu tức là Bắc Tề, không cạnh tranh giáo hóa nên gọi là độc thiệp. Hà là Hà bắc, Chuẩn là Chuẩn Nam. Hành hóa ở đời mà nói đời chẳng biết là nói chỗ chứng đã sâu mà người khác không biết. Nếu y theo chín Sư nối nhau chỗ dụng, người thứ nhất húy là Minh, dùng nhiều bảy phương tiện, e rằng sợ là bảy phương tiện Tiểu thừa. Từ Trí Giả về trước không hề có người lập ở Viên gia bảy phương tiện. Người thứ hai tên là Tôi, thường dùng tâm dung, tánh dung, tướng dung các pháp vô ngại. Người thứ ba tên là Tung, thường dùng bổn tâm ba đời vốn không lui tới chân tánh bất động. Người thứ tư tên Tựu thường dùng tịch tâm. Người thứ năm tên Giám, thường dùng liễu tâm, quán sát nhất như. Người thứ sáu tên Tuệ, thường dùng đạp tâm, trong ngoài khoảng giữa tâm bất khả đắc tiêu tan thanh tịnh năm chỗ dừng tâm (Ngũ xứ chỉ tâm). Người thứ bảy tên Văn, thường dùng giác tâm, trùng Tam-muội quán, Tam-muội diệt tân, Tam-muội vô gián, đối tất cả pháp tâm vô phân biệt. Người thứ tám tên Tư, phần nhiều như tùy tự ý an lạc hạnh. Người thứ chín tên Khải dùng quán thứ đệ như thứ đệ Thiền môn, dùng quán bất định như sáu diệu môn dùng Viên đốn quán như Đại chỉ quán. Vì quán này tuy nói tượng thừa pháp môn mà chuyển đổi. Tuệ Văn xưa nay đã y Đại luận, thì biết là cái trước chẳng phải sở thừa. Nay tán thán pháp sở hành của Tuệ văn, cho nên nói đời không thể biết. Đạp đất rất dày, đây là nói pháp hạnh ở đời của Văn sư như đạp đất chẳng biết là đất dày, đội trời chẳng biết là trời cao. Trí Giả quán tâm luận trở đi dẫn chứng Văn sư (là Sư Tuệ Văn) sở thừa có khác. Nói Cao Tổ. Nếu theo Trí Giả thì phải lấy Ngài Nam Nhạc làm Phụ sư, Ngài Tuệ Văn làm Tổ sư, Ngài Long Thọ làm Tằng Tổ sư, cho nên Nhĩ Nhã Thích Thân chép: cha đã chết là Vương Phụ thêm Vương là Tôn, cha đã chết của Vương Phụ là Tằng Tổ Vương Phụ, thêm Tằng là Trọng, cha đã chết của Tằng Tổ Vương Phụ là Cao Tổ Vương Phụ, thêm cao là trên hết. Ấy là Ngài Chương An so với Long Thọ mới là Cao Tổ. Nếu lấy Tôn thượng làm cao thì khá thông dụng. Như các nhà Hán, Tề, Tùy v.v… đều chỉ Thủy Tổ là Cao Tổ. Nghĩa là thiền kiền lập công đức ích không gì hơn làm cao. Nay ta cũng lấy Long Thọ làm Thỉ Tổ, cho nên Trí Giả chỉ làm Cao Tổ. Có người nghi nói trở đi là giả lập lờ hỏi. Sau trở đi là so sánh đó. Nay lập nghi rằng: đã gọi Tổ thì pháp môn Long Thọ chẳng thể khác nhau. Để lại kiến lập đã khác, nghĩa của Sư Tổ đã yên nhưng Thiên Trúc trở đi là đáp. Trước dẫn người chú luận mà đáp. Nói phàm bảy mươi nhà Phó Pháp truyện chép: Ngài Long Thọ soạn Luận Đại Vô Úy có mười muôn bài kệ, Trung Luận từ đó lược ra đại cương có năm trăm bài kệ, văn xuôi đều do các Sư chú giải. Pháp sư Quan Trung Ảnh chép: có hơn mười nhà chú giải, Trung Luận là sau cùng. Hà Tây Lãng nói có hơn bảy mươi nhà chú giải. Ngài Chân Đế nói phương Tây có hai bản rộng lược, cõi này chỉ truyền bản lược mà thôi. Sư Nguyên Khang chép: ở đây e chẳng phải thế. Cõi này đã có bốn bản: Một là Ngài Thanh Mục chú gọi là Trung luận, sau ngài La-thập đời Tần đã dịch; Hai là Ngài Vô Trước chú gọi là Thuận Trung luận, sau Bồ-đề-lưu-chi đời Ngụy dịch chỉ được hai quyển còn các quyển khác chưa dịch ra; Ba là Pháp sư Lahầu chú cũng gọi là Trung luận, Ngài Chân Đế đời Lương dịch, chỉ được một phẩm Nhân Duyên; Bốn là Bồ-tát Phân Biệt Minh chú gọi là Luận Bát-nhã Đăng. Tam-tạng Ba Phả đời Đường dịch có mười sáu quyển. Hà Tây nói hơn bảy mươi nhà, đâu vì các Sư là không phải, riêng Thanh Mục là đó, Huống chi Thanh Mục là rất kém Di Đãng không thể y nên nói như thế. Lại Luận nói trở đi là dẫn luận văn mà đáp. Bản văn Long Thọ có đãng có lập, nay y theo Long Thọ ý cũng đồng như thế, nên chẳng dùng văn chuyên đãng hình chỉ quán mà kiến lập. Luận câu đầu nói pháp do nhân duyên sanh, tức là kiến lập. Ta nói tức không là khiến dẹp, giả gọi Trung đạo lại là kiến lập. Bốn câu Trung luận ba lập một đãng, chỉ quán trước sau dẫn nhiều văn này. Hai chỗ phù hợp, thầy trò xác lập, tức Quãng Nhã nói là hợp. Nếu y vào đây mà giải thích vẫn giống hai vật hợp nhau mà gọi tên, lý tức cũng kém. Nay vì nghĩa cầu thể chẳng có hai nên gọi là Tức. Tức ba mà một, cùng hợp nghĩa khác (nghĩa khác với hợp). Phần dưới trở đi đều như thế. Từ Thiên Thai trở đi giải thích riêng pháp được sở truyền, tức sở truyền này là hướng sở hành trong đó trước lược sau rộng. Trong phần trước lược nói Thiên thai, Thiên là đỉnh núi, là nguyên khí chưa chia trộn mà là một, Lưỡng Nghi đã phán trong là trời đục là đất. Đây vốn là tục danh lại y tục mà giải thích, Thai là tên sao, đất đó chia dã ứng thiên tam thai nên lấy đó đặt tên. Có người nói tên xưa là Thiên Thê (thang trời) nghĩa là núi cao có thể bước lên mà lên trời. Người sau đọc sai là Thiên Thai. Lại, Chương An Sơn Ký nói rằng: Vốn gọi là Nam Nhạc Châu Linh Vương Thái tử Tử Tấn ở đó hồn là Thần (hồn làm thần ở đấy), sai kẻ hầu đổi là Thiên Thai hoặc theo Tôn Công Phú nói sở dĩ không xếp vào ngũ nhạc quan tái ở thường điển là vì chỗ lập sâu kín, đường đi rộng xa, không biết Chương An trích ở đâu ra. Phong tục phương Tây xưng tên là tôn quí, như tên con gồm cả cha mẹ, Phật đương thời lập ra nghi này sai người mến đức gọi tên. Phong tục cõi này thì giấu tên là kính trọng, cho nên lấy chỗ ở mà đặt tên người, Nam Nhạc cũng thế. Truyền là truyền trao cũng là truyền thọ, thọ nhận cái đượctruyền ấy nên gọi như thế. Kế là nêu ba bày giáo cảnh và tên, đều như lời văn.

 

PHẦN 2

Kế thứ tiệm trở đi, là giải thích hành tướng, trong đó nói tiệm giống như bậc thang. Nên Đại kinh quyển tám nói vì muốn hóa độ các thế gian nên các thứ chỉ bày các lớp khác nhau như bậc thang kia. Đại luận quyển bốn mươi nói: Ví như lên lầu có thang thì dễ. Quyển mươi tám nói: Ví như lên thang phải từ bậc đầu tiên rồi dần dần lên cao, cao cách mấy cũng đến được, nên dùng để ví Tiệm. Như bắt đầu từ trời người rồi cuối cùng đến thật tướng. Báu, kim cương Đại kinh quyển hai mươi nói: Như báu kim cương để dưới ánh sáng mặt trời thì mầu sắc không nhất định. Tam-muội Kim cương cũng giống như thế, như ở giữa đại chúng thì mầu sắc bất định. Đại luận quyển ba mươi nói: Như châu pha lê tùy mầu sắc ở phía trước mà đổi, tự nó mầu sắc không nhất định. Các pháp cũng giống như thế. Hoặc thường hay vô thường. Kinh lấy một hạnh mà tùy các hạnh, luận lấy một lý mà ứng với các lý, lý hạnh tuy khác mà đồng gọi là bất định. Cho nên kim cương và châu pha-lê tên tuy khác nhưng thí dụ về châu là đồng. Đại luận quyển năm mươi chín nói: Báu kim cương Đế-thích cầm cùng đánh nhau mà rơi xuống Diêm phù. Giải thích rằng lý hạnh như châu, giáo pháp như mặt trời, tình như các vật, quán như hiện sắc. Viên đốn, viên là viên dung, viên mãn. Đốn là đốn cực, đốn túc. Lại viên là hoàn toàn tức viên toàn không thiếu sót. Thể chẳng phải tiệm thành (thành dần dần) nên gọi là Đốn. Thể tuy cực đủ nhưng phải lấy hai mươi lăm pháp làm phương tiện trước, mười pháp thành quán mà làm chánh tu. Nay trong tựa lược nói đủ như văn sau. Như người có thần thông bay lên hư không, cận địa thì không cùng muôn nhẫn đồng thể nên nói bất nhị. Người có thần thông ví như người đốn hạnh, đằng ví như tu hành quán lý, không ví như đốn lý bất nhị vì ba căn, đây là ba chỉ quán đối căn khác nhau. Sự tuy khác nhau nhưng đồng duyên đốn lý, lìa ngoài Viên giáo thì chẳng có căn tánh khác. Phải biết ba thứ này đều y theo viên lý, chia ra ba hạnh này gọi là ba căn tánh, Cho nên tiệm thứ khác nhau ở biệt hoặc một ngày một tháng một đời tu thì có thể tu được. Cho nên trong Huyền Văn Phán giáo thứ mười chép: Tiệm quán là từ mới phát tâm làm viên cực cho nên tu A-na-ban-na cho đến Vô tác, cho nên biết người đốn thì hạnh giải đều đốn. Người Tiệm thì giải đốn mà hạnh tiệm, chẳng nhất định giải đốn mà hạnh hoặc đốn tiệm. Có chỗ nói là biệt đều chẳng thấy văn chỉ. Kế trong giải rộng: sơ là kết trước sanh sau. Trước giải thích tiệm, nói tiệm sơ (trước) cũng biết thật tướng, nghĩa là y đốn lý mới khởi đốn giải so với người đốn kia cho nên nói cũng biết. Nương đốn mà khởi giải nên nói là nan giải (khó hiểu), nương giải mà khởi hạnh lại nói là khó hành, tiệm là dễ làm vì dễ hiểu. Văn tuy cùng nói nêu phải gồm cả hai. Vì lý khó hiểu mà khởi tiệm hạnh. Trong phen này chỉ có năm lớp, nghĩa thì mười ba. Nói năm lớp, một là qui giới, hai là thiền định, ba là vô lậu, bốn là từ bi, năm là thật tướng, nghĩa mười ba tức phen đầu có sáu, nghĩa là ba ác ba thiện, phen thứ ba có bốn, nghĩa là hai giáo thừa có sáu nghĩa trước hợp thành mười, ba thứ kia chẳng khai, hợp là mười ba. Trong mười ba thật tướng là cảnh được duyên so với đốn là đồng bất ứng số là hạn khác nhau. Cho nên ở dưới trong hỏi đáp chép: trong tiệm thứ có mười hai thứ khác nhau tức là ý này. Thứ lớp điểm xuất, đến dưới dễ biết bất định đến đốn sau, là tiệm thứ nêu tên ở bất định ở trước, cho nên nói tiệm trước. Viên đốn nêu ở văn sau bất định nên nói là đốn sau. Trong bản thứ hai nêu văn bất định ở sau tiệm đốn, tức nói bất định là y cứ tiệm đốn ở trước, hoặc tiệm hoặc đốn chẳng phải chỉ một pháp nên gọi là bất định. Nếu từ đầu đến cuối chuyên tiệm hoặc đốn thì mới gọi là tiệm đốn. Biết bất định trước cũng biết viên. Từ canh tiền canh lậu trở đi là giải thích tướng bất định. Trước sau chỉ là trước tiệm sau đốn. Hoặc khi quán đốn hoặc khi quán tiệm. Cạn sâu là y cứ năm phen trước cùng nói cạn sâu. Về sự lý, giới nội là sự, giới ngoại là lý. Chân đế tục đế ba thứ đều một, đều lại đắp đổi cũng thế. Trong đây chỉ nêu bốn tất và chỉ quán. Các pháp tuy nhiều, nếu luận về hành tướng thì chẳng ngoài hai thứ này. Như sau an tâm và phá biến, v.v… cũng chẳng ngoài đây cho nên nay nêu ra. Từ hoặc chỉ trở đi là giải thích thể bất định. Văn có hai cặp: một là y cứ bốn tất. Ấm là thế giới như trước quán ấm nhập. Tức quán ấm nhập là Đệ nhất nghĩa, gọi chỉ thế giới này là Đệ nhất nghĩa. Như quán chân lý là chỉ sanh thiện diệt ác mà thôi gọi là chỉ Đệ nhất nghĩa, lấy làm hai tất. Kế y cứ chỉ quán, hoặc chánh dụng quán mà phải dứt quán, hoặc chánh dụng chỉ mà phải chiếu chỉ. Vì chiếu chỉ nên chỉ liền thành quán, vì dứt quán nên liền thành chỉ. Hoặc tuy không (hôn trầm tán loạn) mà tiến đạo công si, phiền hoặc chẳng dứt thì chân lý chẳng mở, đều phải đổi đường hoặc dứt hoặc chiếu, nên quán thành chỗ dứt chỉ thành chỗ chiếu khác nhau với nghi thường. Cho nên nói là bất tịnh. Trong phân biệt ở dưới, bốn trong bất định là chỉ cho hai cặp này. Người nghi nói trở đi là phân biệt văn trước, trong nghi hỏi trước nói giáo cảnh, là đồng giáo Đại thừa, đồng duyên cảnh thật tướng, đồng gọi là chỉ quán, ba thứ này đã đồng vì sao ba hạnh tướng đốn là khác nhau? Kế từ nhiên trở đi là. Đáp: Trước đáp chung, nói đồng và khác nhau v.v… là hành tướng đều khác đâu ngại ba đồng, tuy nói ba đồng đâu ngại hạnh khác. Trong tiệm thứ trở đi là đáp riêng, phải gọi tiệm thứ đối nhau với bất định ở viên đốn để nói dị đồng. Nay văn chỉ giải thích, hành tướng tiệm thứ. Tiệm sau kết rằng vì sao nói bất định, là vì pháp bất định, không có thềm vị, cho nên mượn tiệm sau mà kết bất định. Trong tiệm có mười hai thứ bất đồng như phân biệt trước hai giáo hai thừa là bốn vô lậu. Mà nay chỉ nói chung ba thứ trong vô lậu là sao. Nói riêng là lìa thành bốn người, nếu gọi chung vô lậu thì hợp tức ba người chỉ còn một vị. Nay nêu chung trong một hợp khai gồm ba, nên gọi là trong vô lậu gồm có ba. Nếu mất bản vị lìa khai làm bốn cùng thiện ác đều ba, cho đến thiền định từ bi đều là một, cho nên thành mười hai. Nếu y theo vô lậu thì lìa làm bốn riêng, từ bi cũng phải có ba khác nhau. Văn không lượng là nói từ nhiều, vì tiệm bất định mười hai khác nhau nhiều hành tướng cho nên gọi là tiệm bất định. Y cứ lý thì chẳng phải nhiều chẳng phải ít. Y cứ tướng thì đốn ít hai nhiều, trong tiệm thật tướng cho đến viên đốn, tướng ấy là đồng chẳng cần phải nói khác, cho nên chỉ kết bất đồng ở viên mà dùng để giải thích hướng đồng hay chẳng đồng, v.v… Kế từ chương này đồng Đại thừa trở đi là hỏi lại: hướng tuy nói tiệm bất định khác nhau lại hỏi lại ba phen khác nhau, cho nên hỏi rằng sao gọi là nói sai. Lại câu hỏi đầu, hứa có ba khác, đem đồng mà hỏi khác, cho nên kết văn rằng tướng đốn này khác. Ý câu hỏi sau là do trước đáp khác, đem khác mà hỏi đồng. Cho nên kết rằng vì sao gọi là nói sai. Hai câu hỏi tuy là ba đồng ở trước, mà văn ý thật dùng hai nghĩa đắp đổi mà nêu. Cho nên hai đáp đều nói đồng và chẳng đồng. Lại do trong đáp trước chỉ nêu tướng tiệm để đối với đốn, còn hành tướng bất định thì nhờ tiệm mà nói. Nay muốn nói đủ ba tướng riêng, nên lại dùng ba đồng mà hỏi. Cho nên đáp dưới nêu có hai tướng. Nói chương này trong đây tên cũ là chương biện sai. Đã nói ba đồng vì sao chương này lại nói ba thứ khác nhau. Tên chương tuy bỏ cũng có thương tổn gì. Nhưng trở đi là lại đáp, nghĩa đồng như trước. Chín khác nhau là ở mười hai trước hợp thành ba vô lậu y chung làm một, cho nên chỉ có chín, cùng bốn bất định đối đốn liền thành ba khác nhau. Lý mà nói thì trong tiệm bất định thật tướng sở duyên đồng với đốn lý, là đáp câu hỏi, cho nên đối hai mà nói đều gọi là khác nhau, cho nên nói từ nhiều. Kế tất cả trở đi là chứng đồng khác nhau, vì chứng pháp vô vi nên khác nhau mà đồng, mà có chứng khác nhau nên đồng mà khác nhau. Bởi các thánh chứng pháp vô vi, vì vô vi này mà phân biệt, nên nói khác nhau. Như các vị La-hán được tiểu vô vi còn phân biệt tiểu, nên các Bồ-tát được Đại vô vi nên phân biệt được đại. Do đó phân biệt là dụng của vô vi, cho nên lấy pháp vô vi y vào bản thứ hai mà đáp rằng trong tiệm thứ có mười hai thứ khác nhau, trong bất định có bốn chữ đồng nhau, trong chung có mười ba thứ chẳng đồng. Nếu không sửa lại bản văn thứ ba thì bản văn thứ hai do đâu mà giải, mười hai và bốn nên có mười sáu, mà nói mười ba. Bèn nêu từ khai hội số lần từ họp. Phải biết mười hai y cứ với khai vô lậu, mười ba y cứ với hợp vô lậu, đối bất định mà nói. Hỏi: Vô lậu khai bốn, sao từ bi chẳng khai? Đáp: Khai cũng chẳng trái. Trong Huyền Tiệm quán nêu bốn từ bi, khai họp tùy tiện chẳng thể một chuẩn (theo một). Có người chép: ba trong vô lậu chung, tức là ba quán là vô lậu không. Trong giả trung tự làm tham cúng có hơn một kỷ, thật không hề nghe có giải thích khác ở đây. Trung tức là Thật tướng, thật tướng là đồng, như thế nào số là hạn khác nhau, là một chẳng thật có. Một Tông giáo môn văn không nói giả dùng làm chung là hai chẳng thật có. Trong chín tiệm thứ đã có vô lậu, từ bi và giả nghĩa nó lại đồng, chẳng nên trùng số lấy ba có chín, là ba chẳng thật có. Nhờ sai lấy ba đủ sáu thiện ác, chỉ phải thành chín, nay nói mười hai là bốn chẳng thật có. Dẫu gồm thật tướng chỉ thành mười một, nay nói mười hai, là năm chẳng thật có. Lại văn bản thứ hai không có trong vô lậu nói chung, cũng nói mười hai. Nay phối ba thứ này mà với ba quán lại hợp tiệm thứ cũng chỉ mười hai, là sáu chẳng thật có. Lại nói các phen đạt tức là quán, chỉ tức là chỉ, ba đường vì sao chỉ có chỉ mà không có quán, thường trụ vì sao chỉ quán mà không có quán, thường trụ vì sao chỉ quán mà không có chỉ. Nhờ sai lấy đây làm chỉ quán, là trung gian bốn phen là bốn chỉ bốn quán, trước sau hai phen là một chỉ một quán, thì chỉ có mười. Nếu khai thiện ác đều lập chỉ quán thì chín chẳng đồng với mười tám chỉ quán. Nếu số thường trụ lại làm hiện văn. Văn nói tiệm chín là bảy chẳng thật có. Lại phải suy nghĩ phân biệt tiệm đầu tuy lại biết viên. Chẳng đồng chỉ trung và trong mười hạnh, thời dài hạnh xa. Lược biết hai thứ này đã là giáo khác nhau. Cho nên biết ba thứ này biết viên tánh đồng mà hành tướng hơi khác. Phải biết Ngài Nam Nhạc chỉ trao cho Ngài Thiên Thai Lý Viên Đốn y cứ hạnh phải dùng tiệm bất định mà giúp. Hỏi: Đại sư Nam Nhạc biết bốn giáo chăng? Đáp: Nam Nhạc biết rõ mà chẳng phán kỷ, vì sao. Như Trí Giả giải thích vị mà dẫn Nam Nhạc dùng văn Đại phẩm bốn mươi hai chữ lấy làm viên vị, địa Hoan Hỷ v.v… lấy làm biệt vị, địa Càn Tuệ v.v… lấy làm Thông vị. Lại Nam Nhạc tự giải thích bốn mươi hai tự môn gồm bày văn kinh Đại phẩm. Cũng làm nghĩa ba giáo mà giải thích, đã biết trong văn ba giáo đại phẩm nơi nơi đầu dùng để diễn bày đối tạng làm tiểu. Cho nên biết Nam Nhạc cũng biết bốn giáo. Lại bốn giáo này không phải bắt đầu từ Nam Nhạc. Thiền sư Tuệ Văn đã y theo Đại luận. Đại luận giải thích các kinh nói ba giáo, phải biết giáo này truyền đến đã lâu. Đến Ngài Thiên Thai thì phân biệt mới thạnh hành. Có người chép: bốn giáo là do thần tăng trao cho. Lời nói này không có bằng cớ. Thần tăng chỉ nói từ nay trở đi, tự hành hóa tha ta thường ảnh hưởng Tammuội đã thiên cơ chợt phát, bốn giáo đâu đợi thần tăng. Thừa nhiếp hữu do rất phù hợp thánh chỉ. Cho nên ba quán nhiếp chung bốn giáo. Lại ba tên gọi chỉ quán này tuy giống ba thứ trong tám giáo mà tướng hoàn toàn biệt. Trong tám giáo kia chỉ có Hoa Nghiêm là Đốn, từ Lộc uyển trở đi là Tiệm, bất định gởi tại bốn vị trước trong. Trong phần Liệu giản bên dưới phân biệt sau chỉ là nhờ tên. Vì đem bí mật đối ba làm nạn, không phải ý chánh viên đốn trở đi, là giải thích viên đốn, trong đó trước là y căn cứ chỉ quán. Ban đầu duyên thật tướng đến chân thật, tức là chỉ quán cảnh sở được duyên, duyên nó cũng tạo tuy thuộc năng quán, nhưng ý lại nói được cảnh mầu diệu sở duyên. Từ hệ duyên trở đi, là kế giải thích năng quán, tức niệm làm hệ nên tịch mà thường chiếu, tức hệ làm niệm nên chiếu mà thường tịch. Năng sở còn là một huống chi chỉ quán? Một sắc một hương đều là Trung đạo. Trung đạo tức pháp giới, pháp giới tức chỉ quán, chỉ quán chẳng hai, cảnh trí ngầm một. Sở duyên sở niệm tuy thuộc về cảnh, lại nói năng duyên để làm sáng tỏ tịch chiếu. Từ giáo môn của Sơn gia làm sáng Trung đạo chỉ có hai nghĩa, một là lìa đoạn thường thuộc hai giáo trước. Hai là Phật tánh thuộc hai giáo sau. Ở trong Phật tánh giáo phân ra quyền thật, cho nên có tức và lìa. Nay từ nghĩa tức nên nói sắc hương đều là Trung đạo. Sắc hương này người đời đều xem là vô tình. Nhưng cũng cho sắc hương là Trung đạo. Vô tình Phật tánh mê hoặc tai làm kinh tâm. Nay lại dùng mười nghĩa mà bình luận sai đối với lý chẳng mê hoặc. Các thứ khác lệ theo đây mà biết: một là y cứ thân. Nói Phật tánh là Phật hải có đủ ba thân, chẳng thể nói riêng có tánh ứng thân. Nếu đủ ba thân thì pháp thân cho khắp sao cách vô tình, hai là từ thể ba thân tướng tức chẳng lúc nào tạm rời, đã cho pháp thân ở khắp tất cả mọi nơi. Báo ứng chưa hề lìa pháp thân, huống chi là chỗ pháp thân hai thân thường ở. Cho nên biết ba thân ở khắp các pháp, đâu riêng pháp thân. Pháp thân nếu khắp thì còn đủ ba thân đâu riêng pháp thân, ba là y cứ sự lý, bốn thứ cần dùng chia ra tình và vô tình, từ lý thì vô tình chẳng phải tình khác. Cho nên tình, vô tình cũng thế, bốn là y cứ độ, từ mê là tình cho nên chia ra y chánh. Từ lý là trí cho nên y tức là chánh như thường tịch quang tức là cõi pháp thân, thân độ tương xứng đâu cách vô tình, năm là căn cư giáo chứng, giáo đạo nói hữu tình và phi tình, chứng đạo nói cho nên chẳng thể phân làm hai, sáu là y cứ chân tục, chân cho nên thể là một, tục thì phân ra có không, hai mà chẳng hai suy ra mà biết. Bảy là y cứ nhiếp thuộc, tất cả muôn pháp thuộc về tâm, ngoài tâm không có gì khác, đâu lại cách ngăn. Chỉ nói hữu tình tâm thể đều khắp, đâu cách cỏ cây gọi riêng vô tình, tám là nhân quả, theo nhân theo mê chấp khác thành cách. Theo quả theo ngộ, Phật tánh luôn đồng, chín là tùy nghi, bốn câu phân biệt thuận theo tấtđàn, nói khác nhau loại, phân ra hai khác. Mười là Tùy giáo, ba giáo nói không, viên nói có khắp. Lại kinh Tịnh Danh chép: chúng sanh như nên tất cả pháp như, như không Phật tánh, lý tiểu giáo quyền, giáo quyền lý thật cũng chẳng phải y nay. Lại nếu nói vô tình thì đâu riêng ngoại sắc, nội sắc cũng thế. Cho nên Ngài Tịnh Danh chép: thân ấy không biết như cỏ cây gạch ngói, nếu luận hữu tình đâu riêng chúng sanh, tất cả duy tâm. Ấy thì một trần đầy đủ tất cả Phật tánh chúng sanh, cũng có Phật tánh Chư Phật mười phương. Từ giới mình trở đi là y cứ đế nói Đốn, tức là vô tác đế đến trong bốn hoằng mà nói Tướng đế. Trong đây lược bày quán vô tác. Cho nên bốn niệm xứ giải thích vô tác bốn đế rằng: trong một niệm tâm có đủ khổ mười giới, gọi là Khổ đế, đủ mười giới hoặc gọi là Tập đế, khổ tức Niết-bàn gọi là Diệt đế, hoặc tức Bồ-đề gọi là Đạo đế. Kế từ pháp tánh trở đi là lấy riêng một chỉ quán mà kết vô tác đế. Kế kết thể chẳng hai. Từ tiệm và bất định trở đi là dẫn rộng chứng viên. Trước đã chọn hai, kế chánh dẫn chứng, trước đã giải thích hai lớp rộng lược, nay lại dẫn chứng nên nói là lại nói. Trong bản thứ hai từ đây đến ân Phật pháp đều thuộc về bàn bạc, nay đều trở lại dẫn chứng văn. Xưa gọi bàn bạc mất mà chẳng bày là do đây, kế trong dẫn chứng ở trước dẫn kinh như liễu đạt v.v… là kinh cũ thứ năm trong phẩm Hiền Thủ, Ngài Văn-thù dùng hai kệ mà hỏi nghĩa sâu liễu đạt tịnh đức Bồtát Hiền thủ đem mười lăm hạnh năm lần nói kệ mà đáp. Nay Bồ-tát Văn-thù ở trong sanh tử đến cùng kiếp chẳng thể hết. Lược trong kệ ấy văn hai hạnh lại nói sanh tử là nêu vị thấp nhất, là Bạc địa sơ tâm. Nếu chẳng thế thì vì sao có hiển viên đốn công sâu. Chẳng thể động là lý rốt sự khắp, chẳng bị chỗ động, chẳng phải gọi bất thối là bất động. Nói một niệm là nêu thời gian thật nhỏ công sâu đức rộng, sâu cùng không bến, rộng khắp không bờ. Như lai nói chẳng thể hết, lý đã mầu nhiệm nói chẳng thể cùng, cả người cực vị còn chẳng thể nói há phàm thánh khác nhau mà có thể nói cùng tận. Từ Bồ-tát này trở đi đến kiến lập chúng sanh, là kinh ấy mười lăm hàng kế trước sau. Hiền Thủ lại dùng sáu trăm chín mươi hai hàng bảy lần nói kệ đáp. Trong đó ba mươi hàng trở lại là nói viên tín. Kế sáu mươi hàng nối liền nhau nói về hành tướng tu. Kế nói sáu căn các tướng dùng lẫn nhau. Nay lược y đó khai làm sáu văn lập viên nhân quả. Sao gọi là viên văn kỳ văn, ba chướng tức là ba đức, đến chỉ qui chương và trong đức chung với đủ tướng ấy. Nói viên tín là y lý khởi tín, tín là gốc hạnh. Như pháp là thứ ba nói Xá-vệ, Giang đông nước ấy rộng sâu, hơn năm trăm nhà ngang bướng dối gạt nhau. Phật biết có thể độ đến dưới cây. Có người đến lễ hỏi là có người đến thăm hỏi. Phật hóa thành người từ nước lên, nước đến mắt cá, mọi người kinh ngạc hỏi: Có thấy người từ nước đi lên chăng? Có đạo thuật nào hóa người. Đáp rằng ta là người ngu dốt ở Giang nam đây. Nghe nói Phật ở đây muốn gặp. Người hỏi nước cạn sâu, người khác đáp, nước chỉ đến mắt cá chân. Tin nói mà lỗi không có thuật khác. Phật nói: chấp tin (tin chắc) bèn vượt qua vực sâu sanh tử, vượt qua sông mấy dặm, đâu đáng làm lạ. Người trong làng nghe đều từ Phật hóa, nay cũng giống như thế. Nếu tin ba đạo tức là ba đức, còn có vượt qua hai sông sanh tử huống chi ba cõi, ba đạo nầy chỉ là ba đế, đế đã là cảnh thì phải quán trí, ba quán là nhân, quán thành là trí đủ như giải thích ở sau, ba trí đủ như Đại phẩm. Trong ba trí phẩm ba quán đủ như anh lạc quyển hạ nói. Bấy giờ Bồ-tát Kính Thủ bạch Phật rằng: Những lời Phật đã nói trên hoặc nhân hoặc giả, hoặc hiền hoặc thánh tất cả công đức, nay trong hội này mười bốn ức na-do-tha người ai có thể chẳng từ tòa này đứng dậy học tu tập. Tu đầu đến cuối vào vị Bồ-tát. Lúc đó đỉnh đầu phát ra tất cả ánh sáng, lại nhóm hội Phật và chúng Bồ-tát ở mười phương trăm ức cõi Phật. liền ở trong chúng bảo Văn-thù, Phổ Hiền, Pháp Tuệ, Công Đức Lâm Kim Cương Tràng, Kim Cương Tạng, đồng tử Thiện Tài. Các ông thấy trong chúng ấy Bồ-tát Kính Thủ hỏi về ba quán pháp giới đạo tự tánh thanh tịnh của Chư Phật, pháp môn tu quán của tất cả Bồ-tát? Các ông nên biết trăm muôn đại chúng đều phải tu học pháp môn như thế. Nếu thế, chỉ phải ở thượng địa mà tu ba quán này, có quan hệ gì với phàm hạ. Đáp văn kinh đã nói chỗ hiểu trăm muôn đều phải tu học, đâu riêng gì địa phương. Như ở phẩm Trung đạo của kinh Thủ-lăng-nghiêm có chép: cho đến phàm phu cũng được tin nhận minh, vô minh không ba. Vì không ba cho nên thành trí không ba, làm không ba hạnh cho đến già chết đều nói như thế. Cho nên mười hai chi mỗi chi đều dùng ba quán mà quán, quên mất năng sở nên nói không ba. Kinh Đại Anh Lạc quyển tám nói nhiếp ý vào định, phân biệt ba quán, cũng chẳng thấy ý người nhập định. Đạo tâm vô lượng thế giới ở mười phương thừa sự cúng dường quán tất cả pháp. Ấy gọi là đầy đủ thiền độ. Cho nên phải biết ba quán chưa viên thiền độ chưa mãn, danh từ hiển bày lược như trên dẫn. Nếu dùng nghĩa cầu nhiếp tất cả pháp đủ như văn dưới sẽ nói trong nhiếp pháp. Cho nên ba quán trí, văn lý có bằng chứng. Hỏi nghe trong viên pháp làm thành tên ba đức. Tin phải y nghe, vì sao viên tín làm tên ba quán cho đến giá chiếu rộng sâu v.v… ư? Đáp: ba đức là cảnh, ba quán là hạnh. Hạnh phải nương cảnh, lại từ hạnh nói. Không là Bátnhã, giả là giải thoát, Trung là pháp thân, chiếu là Bát-nhã, giá tức giải thoát, không giá không chiếu là pháp thân, rốt ráo là pháp thân, thanh tịnh tức là Bát-nhã, tự tại tức là giải thoát. Sâu là Bát-nhã, rộng là giải thoát. Chẳng sâu chẳng rộng là pháp thân. Tín sẽ khởi hạnh, Cho nên từ hạnh mà được tên khác nhau. Lại ba quán từ nhân, giá chiếu từ dụng, sâu rộng từ thể. Trong viên hạnh nói một hướng, là nếu chẳng một hướng tức là thuộc hai thứ kia nói vào thẳng Trung đạo, chớ gọi chỉ là Trung. Chỉ là chẳng bị thiên, không thiên giả kéo lôi, nên gọi là bất động bất tịch. Từ hơn làm tên nên gọi vào thẳng. Người chẳng thấy thì gọi là quán trước chỉ trung đều không có lý này. Kế trong Viên vị mà chỉ là ba đế ba đức. Sơ hiểu sơ khai nhập vị sơ trụ, một trụ tất cả trụ, là trong sơ trụ thì đủ tất cả vị, như môn chữ A đầy đủ tất cả công đức Chư Phật. Công đức tuy nhiều mà chẳng ngoài ba đức, nên nói tất cả rốt ráo v.v… Trong viên Trang nghiêm có pháp thí hợp, trong pháp lại dùng một tâm ba đế làm sở trang nghiêm, một tâm ba quán làm năng trang nghiêm. Khi đến vị này ngoại dụng tự tại nên nói Trang nghiêm, chánh thọ không công đức nói ra giả công đức. Công đức trong nhập xuất và bất nhập xuất, trong đó có song già và song chiếu. Đối với đức và dụng so nói rất dễ hiểu. Căn là sáu căn, trần là sáu trần, phương là mười phương, vật là tùy trần đều có các loại, chánh báo v.v… là văn kinh rộng y cứ nam nữ các thân, phương trần vật v.v… tức là y báo. Kế là văn thí dụ. Trong dụ song nhập xuất. Vả thí dụ sáng khởi xuất mà nói, thí dụ chiều nhập chánh thọ, thí dụ nửa đêm là chẳng nhập xuất. Cho nên kinh Trường A-hàm quyển hai mươi hai chép: ở Diêm-Phù-Đề là mặt trời giữa trưa, ở Phất-bà-đề là mặt trời lặn, ở Cù-đà-di là mặt trời mọc, ở Uất-đơn-việt là nửa đêm. Văn kinh thứ lớp bốn phương nói khắp. Kinh ấy lại chép: Diêm-phù-đề là Tây thì Cù-da là Đông, Cù-da là Tây thì Vu Đãi là Đông. Vì mặt trời mọc là Đông nên nay chỉ lấy bốn phương thấy khác làm thí dụ, trong hợp mà nói cũng thế, là phải đem đủ ba đế ba quán trên mà hợp trong đây. Trong kiến lập nói manh cổ là đui mù. Nay vì vô duyên không nạp ánh sáng giáo nên mắt tâm như mù, cho nên nêu Long vương làm thí dụ. Thuyết văn nói rồng hay ẩn hay hiện hay lớn hay nhỏ, xuân chia thì lên trời, thu chia thì xuống vực sâu. Quản Tử nói muốn nhỏ thì như con tằm muốn lớn thì đầy khắp trời đất. (Tha: là Tha Hóa; Lạc: là Hóa Lạc; Đâu: là Đâu Suất; Dạ: là Dạ-ma; Đao: là Đao Lợi; Tu: là Tu-la là tên các trời. Não: là mã não; lê: là pha lê; Diêm: là Diêm phù; Việt: là Uất đơn việt, v.v…). Đây là sáng tục nói chưa biết hết công dụng của rồng. Nay y theo Hoa Nghiêm thì Long vương Ta-kiệt-la làm mưa khắp sáu tầng trời cõi dục, ngang khắp bốn vực. Kim cương rộng nói bắt đầu từ lớp Kim cương, cuối đến trời Tha Hóa, bốn vực là người bốn châu. Sáu trời là sáu tầng trời cõi dục. Tức dụ cho sáu vị đã phá vô minh thấy Đệ nhất nghĩa. Nên gọi là trời bốn mươi vị là bốn, Đẳng giác, Diệu giác là hai. Nếu tu nhân mà nói thì phải từ trụ tiền cho đến Đẳng giác. Pháp thân nói pháp còn sai Đẳng giác dứt phẩm cuối cùng, huống chi là Sơ trụ. Trong đây phải dùng bản tích cao thấp bốn câu mà giải thích, bốn vực ví như bốn cơ, bốn môn, bốn tất, v.v… được ích lợi khác nhau. Cho nên biết sáu phen chỉ đốn bốn cơ thông tiệm. Nói người ở vị này có hai kiến lập. Dụ chung cho bị vật cơ thấy khác nhau. Nổi mây là kinh nói Long vương hiện bày tự tại từ mé Kim cương đến trời Tha Hóa, nổi mây khắp bốn thiên hạ, mây ấy có các mầu trang nghiêm.

Tha vàng, lạc đỏ, Đâu-suất trắng

Dạ Lê, Đao Não, Tứ vương pha.

Trên biển Kim cương, hương hệ-na

Các rồng như hoa, tu như núi.

Diêm xanh, việt vàng, hai châu tạp

Điện cũng tùy cảm đều khác nhau.

Tha Hóa nhật quang, lạc nguyệt quang

Đâu, Diêm-phù vàng, dạ báu trắng.

Đao vàng, Tứ vương mầu tối diệu

Diêm xanh sắc báu, ba châu khác.

Sấm sét khác nhau lại khác nhau,

Tha Hóa Phạm âm, lạc diêu âm.

Đâu kỹ nhạc âm, dạ thiên nữ

Đao hệ la nữ, tứ vương càn.

Loài người hải triều âm đồng khác

Tám bộ chỗ thấy đều khác nhau.

Mưa khác nhau, tướng cũng khác nhau,

Tha hóa hương hoa, nhạc chiêm bậc.

Đâu ma ni báu, dạ cờ lọng.

Đao châu như ý, bốn cam lộ.

Bắc việc anh lạc, hai chiêm-bậc.

Nam Diêm-phù-đề nước thanh tịnh

Các rồng thấy biết đều khác nhau.

Cùng dụ Bồ-tát tự tại dụng.

Mây ví cho hiện thân, sấm ví cho nói pháp, điện ví cho phát ra ánh sáng, mưa ví cho từ bi. Ba nghiệp như thế hay chúng sanh sự thấy biết đều khác. Hỏi trang nghiêm kiến lập có gì khác nhau? Đáp: Đều là không thể nghĩ bàn Một tâm ba trì trang nghiêm pháp thân gọi là Trang nghiêm. Ngoài ích ở nó gọi là kiến lập. Cho nên Pháp Hoa chép: Năng lực Định Tuệ trang nghiêm, dùng đây độ chúng sanh. Độ sanh tức là kiến lập. Hợp như văn. Sơ tâm còn thế v.v… là nêu so sánh. Đây là chỉ cho viên lập sơ phát tâm trụ khác nhau với sáu căn thanh tịnh v.v… ở văn trước. Nhị Trụ trở lên cho đến Đẳng giác gọi là Trung tâm, Diệu giác vị gọi là hậu tâm. Cho nên nêu sơ trụ để so sánh trung hậu. Cho nên Sơ trụ trở lên cũng gọi là sáu căn dùng lẫn nhau. Như kinh Tứ Niệm

Xứ chép: sáu căn dùng lẫn nhau gồm có hai thứ: một là tự, hai là chân. Tự như Pháp Hoa, chân như Hoa Nghiêm. Nay y theo Hoa Nghiêm, Sơ Trụ trở lên tức là chân dùng lẫn nhau. Đây là dẫn Hoa Nghiêm chứng ba trung đốn, vì sao gọi là Tiệm viên. Như lai hết lòng là chánh dẫn pháp bày diệp pháp thể, pháp thể chỉ là đồng thể cảnh trí tức là nói người chẳng khinh cho nên người hiểu, vui mừng là sao, ở đầu phẩm Phương Tiện, có Ký ngôn, tuyệt ngôn khen rộng, khen lược, chẳng nêu quyền thật. Cho nên đầu chương nêu rằng: Chư Phật có trí tuệ sâu xa vô lượng. Sâu xa là khen thật, vô lượng là khen quyền. Cho đến ở cuối chương chỉ có Phật và Phật mới biết rõ hết thật tướng các pháp, các pháp là quyền. Thật tướng là thật. Đây đều là ký ngôn khen quyền thật, chỉ chẳng cần nói tức là bặt ngôn khen. Cho nên nói hết lời khen ngợi pháp này, cho nên cuối văn xuôi Ngài Thân tử thỉnh rằng: Bạch Đức Thế tôn vì sao hết lời khen ngợi là chỉ văn này. Ý khen ngợi bởi có lý do Phật thành đạo đến nay đã bốn mươi hai năm mới hiển chân thật nay muốn nói pháp lại đợi ba lần t hỉnh đã hứa nói xong năm ngàn vị đúng dậy đi, sau mời rộng y cứ chương môn năm Phật mà khai quyền bày thật, cho nên biết khai hiểu đâu dễ được nghe. Cho nên nói Như lai hết lời khen ngợi, đầu quyển hai Ngài Thân Tử hiểu được, vui mừng hớn hở. Cho nên nói người nghe vui mừng. Kế dẫn các kinh nói người cầu chí lớn cho nên chỗ làm pháp mầu đều là giải thích thành pháp được truyền. Nói thường than khóc, tức là vì cầu pháp mà bảy ngày bảy đêm than khóc ở chỗ rừng vắng nên gọi là Thường Đề, tiếng Tây trúc là Tátđề-ba-luân. Kinh Đại phẩm quyển hai mươi sáu nói Phật bảo Tu Bồ-đề rằng Bồ-tát Ma-ha-tát vì cầu Bát-nhã Ba-la-mật thì phải như Tát-đa-ba luân. Bồ-tát này nay ở chỗ Phật Lôi Âm mà thực hành hạnh Bồ-tát. Tu Bồ-đề nói vì sao vị ấy cầu Bát-nhã Ba-la-mật thì chẳng tiếc thân mạng chẳng cầu danh lợi nghe trên hư không có tiếng rằng người thiện nam, từ đây đi về phương Đông chớ màng các việc như: mõi mệt, ngủ nghê, ăn uống, ngày đêm, lạnh nóng, v.v… chớ nhìn ngó hai bên, chớ hoại thân tướng, nếu hoại thân tướng thì ở pháp có ngại. Có ngại cho nên tới lui năm đường chẳng được Bát-nhã Ba-la-mật. Bồ-tát nói con theo lời dạy bảo. Vì cầu Bát-nhã vì chúng sanh vì làm ánh sáng lớn nên cầu Bồđề. Lại nghe trên hư không có tiếng chép: ông nên tin chắc ba không, gần gũi cúng dường các thiện tri thức. Các thiện tri thức nói được ba không, cho đến các trí sai tâm vui mừng. Do đó, Bồ-tát nghe lời dạy đi về phương Đông. Lại nghĩ rằng: chẳng hỏi tiếng trên hư không đi về đâu, đi gần hay xa biết nghe theo ai, bèn than khóc bảy ngày đêm như con chết. Trên hư không có tiếng Phật bảo. Chư Phật quá khứ khi cầu Bát-nhã cũng giống như thế, từ đây đi về phương Đông năm trăm dotuần có ngôi thành tên là Chúng Hương. Thành ấy có Bồ-tát Đàm-vôkiệt, mỗi ngày ba thời nói Bát-nhã, người nghe cúng dường đều không còn lui sụt. Ông nên đến đó mà nghe Bát-nhã, nghe rồi rất vui mừng. Lại nghĩ lúc nào ta được thấy, khi nghĩ thế thì vô lượng trí tuệ, vô lượng Tam-muội đều hiện ra, do đó liền đến, v.v… Thiện Tài Nam Cầu, là Đồng Tử Thiện Tài khi mới gá thai trong nội cung có bảy kho lớn, các kho ấy đều sanh ra lầu các bảy báu tự nhiên vây quanh, có bảy vật. Từ bảy báu sanh ra bảy răng ngà. Thiện Tài sanh rồi ngà cao mười bốn tầm rộng bảy tầm. Lại ở trong nhà có năm trăm hình báu đựng đầy các báu. Lại các hình bảy báu cùng sanh các báu. Vì nhân duyên ấy nên các Bàla-môn giỏi xem tướng đặt tên là Thiện Tài, tìm thiện tri thức đi dần về phương Nam qua một trăm mười thành gặp các thiện tri thức đều bảo rằng tôi trước đã phát, tâm Bồ-đề. Các thiện tri thức đều nói tôi chỉ biết có một pháp môn này. Mới trải đến thành thứ năm mươi mốt thì gặp Di-lặc, thành năm mươi ba thì gặp Văn-thù, Phổ Hiền thì chẳng còn nói chỉ biết một pháp. Cho nên biết là trước tiệm sau đốn. Nay từ sau đốn nên chỉ ra, đủ như trong phẩm Nhập Pháp Giới, v.v… Dược Vương đốt tay là Dược Vương Bồ-tát vốn ở chỗ Phật Bảo Tạng phát nguyện trị hai bệnh thân tâm của chúng sanh. Nên nay gọi tên ông là Dược Vương. Ở chỗ Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức tên là Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Phật ấy diệt độ rồi thì xây tháp cúng dường. Bồ-tát Nhất thiết chúng sanh hỷ kiến vì cúng dường tháp, nên ở trước tháp ấy mà đốt cánh tay trăm phước trang nghiêm suốt trong bảy mươi hai ngàn năm, sai vô lượng A-tăng kỳ người phát tâm Bồ-đề. Sau khi phát thệ thì tay hoàn lại như xưa. Đây cũng là cầu quyền thật diệu thể. Phổ Minh tự cắt đầu, là được tên là Vị Tri. Tên này là từ kinh Nhân Vương. Đại luận gọi là Ma-vương Tu-đà. Nhân vương chép: Xưa vua nước Thiên-la có Thái tử tên Ban Túc khi mới lên ngôi được ngoại đạo Đà-la dạy sai lấy đầu một ngàn vua để tế thần mải, từ khi lên ngôi rồi thì cắt được chín trăm chín mươi chín đầu vua, còn thiếu một đầu. Đi về phía Bắc một ngàn dặm thì được một vị vua tên là Phổ Minh, vua ấy thưa rằng cho tôi còn sống một ngày để cúng cơm cho Sa-môn và lạy Tam bảo. Ban Túc nhận lời. Phổ Minh liền trở về y theo pháp bảy Đức Phật thỉnh một trăm vị Pháp sư, một ngày hai thời giảng Bát-nhã một ngàn bài kệ xong, Pháp sư thứ nhất vì vua và quyến thuộc nói kệ bốn phi thường, quyến thuộc được Pháp nhẫn, vua được Tam-muội không bình đẳng, các tên pháp nhãn v.v… giống Tiểu thừa vì trị vua này, khiến cho bỏ y chánh. Đã nói y theo pháp bảy Đức Phật để giảng Bát-nhã, đâu riêng Tiểu thừa huống chi là cộng bộ, nghĩa không vốn chung. Nay từ bất cộng Cho nên chỉ rõ. Một ngày ba xả là nói Lý viên Pháp Diệu, ân sâu khó đền đáp, kinh Kim cương kia dùng bốn câu kệ để đánh giá xả thân, nay mượn văn kinh ấy mà nêu nhiều so sánh ít. Ngày bỏ ba thân luôn trong trăm ngàn ức mà chẳng thể báo đáp. Một câu Bát-nhã, huống chi như Pháp Hoa đội mang gánh vác tuy nhiều kiếp gánh vác mà thân ấy cũng còn, đâu thể báo đáp đầm Viên thừa, Bát-nhã cộng biệt ý chẳng khác trước. Một kinh một lời là nêu lược, chỉ rộng như trên trích dẫn Thường Đề, v.v… đều là một kinh. Trong một kinh lược, còn một lời, lấy đây mà so sánh các thứ khác rất dễ thấy. Nghi nói trở đi là thỉnh chứng hai thứ kia, đây tức là hỏi. Từ trên đã chứng Tam-muội viên đốn, tiệm cùng bất định thì lấy gì làm bằng. Nhưng kinh luận trở đi là đáp. Trước nói ý đáp, viên là gốc ý ấy nên dẫn trước. Tiệm và bất định cũng đều có bằng cứ, do đây lại chứng (chung) ba nghĩa. Thánh giáo đã nhiều, Khảo Thanh dẫn đủ nên nói là lược nêu. Kế là đáp riêng. Trong đó trước dẫn bốn kinh đều chứng ba nghĩa, kế dẫn vô lượng nghĩa thì chỉ chứng ở tiệm. Kế dẫn sáu kinh chứng riêng ở viên viên là ý chánh nên lại dẫn. Lại dẫn Hoa Nghiêm kết chung, văn trước là dẫn các giáo. Trước dẫn Tịnh Danh nói về Tiệm. Hoa Nghiêm là giáo tiệm trước đốn sau, nghĩa đồng tiệm quán cho nên dẫn ra. Các văn dưới trở đi là chứng tiệm bất định, đều mượn giáo để chứng quán, thế nghĩa giống nhau đâu thể toàn đồng. Nếu khuấy giáo thành quán lại chẳng khác lắm. Cây Phật, cũng gọi cây nguyên cát, cũng gọi là (cây) đạo, cây Bồ-đề. Từ đó mà được đạo nên gọi Thế. Đã hàng ma rồi chứng được trạch diệt, thấy đế lý, lìa pháp sanh tử thì gọi là cam lộ diệt, là đức đoạn thành tựu, đạo Giác thành tựu là phát được trí chân đạo năng đoạn nên gọi giác đạo thành là trí đức thành. Diệt đạo thành cho nên bốn đế đầy đủ, từ thắng (hơn) mà nói nên chỉ nói diệt đạo, ba chuyển v.v… là khuyến chứng. Một chuyển đều sanh mắt trí sáng biết gọi là mười hai hạnh, nói đủ hai nghĩa: một là chuyển đi, hai là dẹp phá. Dùng bánh xe bốn đế mà chuyển độ cùng phá kiết hoặc của người. Như báu Vương Luân làm hoại, làm an, bánh xe pháp cũng giống như thế, hoại oán phiền não mà an trụ Đế lý cho nên người xoay bánh xe pháp này ở Đại thiên. Nói Đại thiên là như luận Câu-xá nói là bốn đại châu mặt trời, mặt trăng, Tô-mê-lô Dục Thiên, Phạm thế đều một ngàn gọi là một tiểu thiên giới, một ngàn Tiểu thiên này là một trung thiên, một ngàn Trung thiên là một Đại thiên đều đồng một ngôi thành một hoại. Đời không có hai Phật cho nên ở một Đại thiên. Kinh Thụy Ứng nói là trung ương của mười hai ngàn trời đất vậ. Bốn Đế lý này thể không kiết hoặc nên gọi là vốn tịnh. Lại nói vốn chẳng thể nói nên gọi là vốn tịnh, vì phá hoặc người không được mà chuyển tám muôn các vị trời được pháp nhãn thanh tịnh. Năm người như Câu-lân, v.v… đều được sơ quả cho nên nói trời người đều được đạo chẳng dối, có thể làm chứng. Thế tôn là Phật bảo, nên gọi là Tam bảo hiện thế gian. Kế chứng bất định tức là nói lên bất định. Nói một âm là gọi chung đại tiểu nay ý ở đại. Nói Tiểu thừa, như Tỳ-đàm chép: Phật vì bốn vua mà dùng lời thánh nói bốn đế, hai đế hiểu, hai đế không hiểu, Phật lại nói tiếng Tỳ-đà-la thì một người hiểu một người không hiểu. Phật lại nói tiếng Lê-xa thì bốn vua đều hiểu. Hỏi nếu lời thánh nói mà hai trời chẳng hiểu. Nếu Phật có tài thì đâu có chẳng hiểu, nếu Phật bất tài thì kệ làm sao hiểu. Kệ chép: Phật dùng một thứ tiếng giảng nói pháp mà hiện ra các nghĩa. Chúng sanh đều bảo Phật vì ta hiểu mà nói các pháp chớ không phải vì người. Đáp: một âm là âm Phạm. Nếu trong đại hội có nhiều người tham, đều bảo Thế tôn chỉ vì riêng ta mà nói vì bốn vua này đều nghĩ khác nhau, nên Phật ba lần nói để đến ý niệm của họ. Lại phá chúng sanh bảo Phật dùng lời thánh mà nói pháp. Lại có chúng sanh phải đổi hình tiếng mà thọ hóa, có loài thì không cần đổi. Cho nên khác nhau một âm Đại thừa. Nay như dẫn luận khởi Tín nói: Viên âm hễ giảng nói thì các loài khác đều hiểu. Lại như trong tám mươi vẻ đẹp, một âm đáp được các thứ tiếng, khác phương loài khác đều được lợi ích. Như lai vốn chẳng phải dùng tất cả tiếng nói mà đến khắp tất cả tiếng nói, là cùng đồng với nghĩa bất định của văn này. Hoa Nghiêm, Lăng-già đều nói Như lai có sáu mươi bốn thứ tiếng, đây là phương tiện chưa phải lý rốt. Nay nói sợ sệt vui mừng là y cứ bốn tất mà nói tướng bất định. Sợ sệt là ba cõi đáng sợ tức là thế giới. Vui mừng là vui có thể làm lành, tức là loài người. Chán lìa là lìa các điều ác, tức là đối trị. Dứt nghi là nghi dứt thấy lý Đệ nhất nghĩa. Kế chứng đốn là chẳng phải có chẳng phải không, chung cả bốn giáo, bỏ ba còn viên vì chứng ở đốn. Lý vốn không nói bốn tất bị cơ nên các pháp sanh vô ngã, v.v… kết thành viên đốn, vô ngã tạo thọ kết chẳng có, thiện ác chẳng mất kết đều chung bốn giản (bỏ) ba cũng như vừa nói. Có người nói vô ngã đạo thọ phá thắng số luận Tam tạng có thể chung nghĩa bất nhiên, cho nên nay chẳng dùng. Trong Đại phẩm trước chứng Tiệm là Đại luận quyển tám mươi hỏi rằng Bồtát Thỉ hạnh tu hành thế nào, ba thứ này có gì khác nhau? Có người chép: có khác vì y cứ đầu giữa cuối, hoặc y cứ ba học để đặt ba tên. Lại Đàn-lê gọi là Hạnh, Thi thiền gọi là Học, Sằn-bát gọi là Đạo. Hỏi vì sao có thứ lớp? Đáp: các pháp tuy không thứ lớp mà được. Bát-nhã cũng giống như thế, vào tất cả pháp bốn thiền cho đến Đệ nhất nghĩa không. Luận Châu-ma-ni nói báo ma-ni ở trong nước sẽ có bất cứ một mầu nào. Như ở trong nước xanh thì màu xanh. Cũng gọi là như ý, giống như Đường Phạm khác nhau. Đại luận Hoa Nghiêm đều gọi Như-ý Ma-ni, giống như nêu hai tiếng, như Pháp Hoa gọi Ma-ni anh lạc, Như ý châu anh lạc, tuy giống nhưng thể khác. Chân tánh như thể của châu, còn tập tánh như vật biểu. Nghe giáo như đặt trong nước, tập phát như hiện sắc. Lý tánh chẳng khác mà hiện sắc các pháp. Phát tâm tức ngồi đạo tràng là nói mới phát tâm, lại nói xoay bánh xe pháp, biết là Sở Trụ, tám tướng thành đạo, chia thân trăm cõi, hiện xoay bánh xe pháp tức là nghĩa viên. Kế dẫn Pháp Hoa, chẳng phải người giáo Hoa Nghiêm, cũng chẳng phải các giáo vào đốn, bắt đầu từ Lộc uyển thiệp hai vị nên gọi là Tiệm. Nói chẳng tin, là nếu chẳng tin Đốn, lại dùng sâu khác. Viên giáo chẳng phải khác mà là sâu, Biệt giáo là khác mà cũng là sâu. Tạng thông là khác mà chẳng phải sâu. Chỉ xưa đốn tiệm đều là dùng ba mà giúp đốn. Xưa chưa bị hội ở khác ở sâu hoặc tin hay chẳng tin, nên gọi là bất định. Tiệm và bất định đều từ xưa nói. Lại đến Pháp Hoa thì lại không hai tên. Nếu vì người từ Tiệm giáo đến thì gọi Pháp Hoa là tiệm đốn, người này cũng từ bất định đến, sao Pháp Hoa chẳng gọi là Bất định đốn? Người tu nhiều đường, Pháp Hoa thường đốn, đều ban là một suy nghĩ rất dễ hiểu. Xả phương tiện là y cứ bỏ quyền. Kế dẫn Đại kinh mươi ba chép: từ trâu ra sữa là ví như từ Phật ra mười hai bộ kinh, cho đến từ bỏ chín ra Đề-hồ là ví như từ Bát-nhã ra Đại Niết-bàn. Trung gian thứ đệ để đối với Tam-muội, lấy thứ đệ nghĩa đồng với Tiệm. Văn Trí Độc ở thứ hai mươi bảy. Nhóm họp liễu nhân gọi là Trí độc, nhờ nay nghe suy nghĩ mà độc phát khác nhau giống như quán bất định nên lại làm chứng. Tuyết sơn Nhẫn Thảo: quyển hai mươi lăm chép: Tuyết sơn ví cho Phật, Nhẫn thảo ví cho tu hành, xuất là ví cho nhập trụ. Đốn cơ hỏi Phật, nói giáo viên đốn, nghe rồi tu hành, phát hiểu vào vi. Trước tu lạc ra, chưa dung luyện lại, gọi là bơ sống, chất tinh diệu của bơ gọi là Đề-hồ. Kế dẫn vô lượng nghĩa, ba thừa thứ lớp nên gọi là Tiệm, đều dùng mưa mà ví cho ba thừa pháp luân, nói thừa kém nhất là mưa nhỏ. Vì mới chuyển nên gọi là mới mưa, phát hoặc ba cõi gọi là chán bụi dục, nghe xoay bánh xe pháp sẽ kiến hết trước, tư hoặc tuy nhiều lấy dục làm gốc, dục chung ba cõi nên gọi là các. Đạo phẩm sau đủ ba Tam-muội nên gọi là khai môn, được hai giải thoát gọi là phiến phong, dứt nóng sanh tử. Chân pháp mát mẻ nương thừa Thanh văn. Kế nhân duyên giáng xuống, nhân duyên mưa rót xuống mà dứt bụi vô minh. Mây tuệ đã nổi làm tắt ánh sáng tà. Đây là Trung thừa, sau mưa Đại thừa tất cả đều mưa. Nếu Phật thừa mở thì khắp đủ các cơ, Đại thừa ý thông nên nói tất cả. Nếu dẫn văn ấy chứng hai thứ kia. Từ một pháp một pháp đốn vậy, hoặc hai hoặc ba tức là bất định. Tiệm văn dứt trừ lại từ hiển mà nói. Kế riêng chứng viên, là Như lai Long vương mưa giáo viên đốn, không mưa ba giáo xuống đất loại thấp. Nhị thừa chẳng nghe cũng chẳng thể nói, cho nên như câm như điếc. Tịnh Danh nhà trống biểu thị cho Thường tịch quang, chư Phật mười phương thường nhóm họp trong đó. Cho nên người vào thì chỉ tôn kính Phật thừa, dẫn kinh Lăng-nghiêm thì lý tánh như hoàn. quán hạnh như đốt, các pháp đốn phát tên đủ các khí. Dẫn Đại phẩm thì như phẩm Quảng thừa muốn được các pháp đều nói phải học Bát-nhã. Dẫn Pháp Hoa thì từ Pháp Hoa trở về trước chưa hề khai quyền, chẳng gọi đầy đủ. Dẫn Đại kinh thì lý đủ các pháp giống như nước biển. Người tu quán hạnh như đang tắm. Hạnh nhiếp tất cả gọi là đã dụng. Hoài Nam Tử nói biển chẳng nhường nước chứa nhỏ thành lớn, bắt đầu từ Long vương, cuối cùng là biển lớn, đều phán sáu tức mới hết lý ấy. Có người chép: đất khác chẳng kịp mưa khắp, chỉ ngữi mà cách mùi khác. Đảo hòa chẳng bằng vốn đủ, tất cả chẳng bằng tức là biển đủ chẳng bằng sông đủ, phải biết người này chẳng ý dụ, hễ người lập dụ đều phải y cứ hiện sự cho nên dẫn cực sự mà dụ cho pháp tối thượng pháp sẽ mau đủ đâu cần phải khó dụ. Núi Tuyết dụ cho voi ý cũng giống như thế. Kế lại dẫn Hoa Nghiêm để kết trước. Núi cao thấy mặt trời mọc trước các nơi khác, chưa nói là phương chung, cho nên tuy đốn mà bỏ hạnh nhỏ, hang sâu được chiếu sáng thì hơn ở đỉnh núi cao mà ẩn kín, không bằng bình xuyên (sông và đất bằng) nên chưa gọi là khắp lợi ích, cho nên chẳng thọ ký, chỉ được thiên chân. Kế ở trên trở đi là biết khen. Đây là y cứ chín đời để khen chân pháp. Cho nên ba đời đều nhắc lại pháp Như Như gọilà thầy của Phật. Hoa Nghiêm quyển ba mươi mối chép: Phật tử có mười thứ ba đời, nghĩa là quá khứ nói quá khứ, quá khứ nói vị lai và quá khứ nói hiện tại. Vị lai nói quá khứ, vị lai nói hiện tại, vị lai nói vô tận, hiện tại nói quá khứ, hiện tại nói vị lai, nói hiện tại bình đẳng, hiện tại nói ba đời bình đẳng. Nói được mười thu này thì nói được tất cả ba đời. Kinh Hoa Nghiêm làm thành mười câu, cho nên ở ngoài chín liền thân bình đẳng. Cho nên đại anh lạc đều nhờ Thiên tử hỏi Phật: ba đời đều có Chư Phật chăng? Phật nói ông hỏi thế nào là ba đời, quá khứ chăng? hiện tại chăng? hay là vị lai? Đây cũng là ý chín đời. Vô thỉ đều là quá khứ, thuộc về quá khứ nên gọi là vô manh. Mầm lúa mới nẩy nở gọi là Manh, đậu mới nhú gọi là câu. Phải biết chỉ quán trở đi là tông kết mà nói. Lý tánh bốn đức tức là thầy của Phật, chỉ chung văn trước như liễu đạt, v.v… kế bày ba văn bộ riêng nơi chốn, pháp được truyền chẳng ngoài ba thứ này. Phàm muốn tu hành thì y theo bộ nào, cho nên phải bày bộ khác nơi chốn. Trước đã tin, v.v… là kết trước sanh sau. Thứ đệ thiền môn, mục lục nói Đại sư ở Ngõa Quan mà nói. Chùa Đại Trang Nghiêm, Pháp thân riêng ghi phần đầu còn chưa trị định, bản thảo mới thành truyền cho Thiền sư Thiên Thai Đảnh. Trị định đã thành mười quyển. Vua trần cũng có thỉnh Đại sư Nam Nhạc giảng kinh Đại phẩm.

Đại sư chép: hai trang Hạ chẳng đủ, lại nói sáu độ, sáu độ lại rộng bèn nói Thiền đệ, đây không có văn chép. Nay Thiên Thai nói thì mở làm mười chương một là đại ý, hai là thích tên gọi, ba là minh môn, bốn là thuyên thứ, năm là tâm pháp, sáu là phương tiện, bảy là tu chứng, tám là quả báo, chín là khởi giáo, mười là qui thú. Chỉ đến tu chứng, ba thứ kia lược không có. Ở trong tu chứng mở làm bốn khác: một là thế gian thiền, hai là thế gian cũng là xuất thế gian, ba là xuất thế gian, bốn là không phải thế gian không phải xuất thế gian. Trong bốn thứ này chỉ đến thứ ba là xuất thế. Xuất thế lại có hai một là đối trị vô lậu, hai là duyên lý vô lậu. Chỉ đến đối trị, đối trị là chín tức chín tưởng, tám niệm, mười tưởng bối xả, thắng xứ, nhất thiết xứ, chín định thứ đệ phần tấn, vượt lên. Giải thích chín thứ này xong thì nói về tướng tu hành đâu thể đủ hết. Nếu ghi hết các văn dưới đây phải ba mươi quyển.

Truyền rằng: Đại sư Thường ở trên tòa cao bảo rằng: nếu nói thứ đệ thiền môn, mỗi năm riêng mới khắp. Nếu lập chương mà sớ (giải thích) thì cũng năm, mười quyển. Văn truyện là do Ngài Chương An soạn ra, mục lục cũng do chúng cùng ghi chép, quyển hoặc lớn nhỏ khác nhau ngại gì. Sáu Diệu Môn cũng là mười chương: một là trải qua các thiền, hai là sanh nhau, ba là tiện nghi, bốn là đối trị, năm là nhiếp nhau, sáu là chung riêng, bảy là toàn chuyển, tám là quán tâm, chín là viên đốn, mười là chứng tướng. Trong mười chương này sáu thứ trước chung cho đại tiểu cho đến lậu và vô lậu. Từ thứ bảy trở đi là pháp riêng của Bồ-tát. Lại bảy thứ trước là y cứ sự, quán tâm chỉ là lý. Lại tám thứ thuộc Thiên, thứ chín là Viên. Lại chín thứ trước là tu, thứ mười là y cứ chứng. Văn gồm sự lý và hữu lậu v.v… tu phát khác nhau nên gọi là bất định. Mười hai thiền tức là bốn thiền, bốn không, bốn vô lượng cho đến sáu độ, dùng mười môn sáu diệu mà trải, nghiệm ra chỗ phát tuy lấy thượng thư lệnh làm thỉnh chủ, tu phát cũng đâu có gián đoạn, ở đạo và tuc. Văn viên đốn, tức là văn này, Chương An tự nói chỗ ghi. Nói về đại phần tuy như vừa nói nhưng trong mỗi bộ đều có bàng chánh hư thứ lớp thiền môn chánh nói thứ lớp, bàng cũng có hai. Văn tuy chưa trọn cũng có ý ấy, chẳng phải lậu, chẳng phải vô lậu tức là đốn văn. Tu phát khác nhau mười sáu câu tức là bất định. Trong sáu Diệu Môn chánh nói bất định, bàng cũng có hai, Viên đốn tức đốn, tương sanh tức tiệm. Nay Viên văn đốn cũng gồm hai thứ kia. Lệ như ba tạng cũng có chung riêng. Từ tuy có trở đi là khuyên răn một là khuyên chớ chấp ba, cho là nhất định có, hai là khuyên chớ chấp, ba là định khác nhau. Tuy có ba khác nhau nhưng đều chung thật tướng, đâu thể chấp nhất định tướng phải trái, cho nên văn sau nói biết văn chẳng phải văn. Bướu la bịnh thịt nổi cao lên, hai là bịnh thịt khuyết lõm. Định có làm bớt, định có làm thêm, cho nên dẫn làm thêm bớt ba chê bai.

Kế dẫn luận: Đại luận quyển hai mươi khen kệ Bát-nhã rằng: nếu chẳng thấy Bát-nhã ấy thì bị trói buộc, nếu người thấy Bát-nhã là được giải thoát. Sự ấy rất hiếm có rất là sâu xa rộng lớn. Dùng hai hạnh trước mà đối ý văn nay. Đối với pháp khởi thấy gọi là cái thấy bị trói buộc. Mê đối với pháp tướng gọi là chẳng thấy trói buộc. Xứng pháp mà khởi thấy thì gọi là thấy được thoát, thấy tướng chẳng thấy gọi là chẳng thấy thoát. Định có ba, ba định khác, gọi là thấy trói buộc. Mê ở ba văn và ý ba băn gọi là chẳng thấy trói buộc. Biết ba không ba đồng khế một cực gọi là thấy được thoát. Kế nghi hỏi trở đi là đặt câu hỏi giải thích nghi. Trước trong câu hỏi nêu chẳng thể nói lấy câu hỏi để chỉ người. Lý vốn không nói sao phải bày ba. Nói chung riêng là chẳng chia lớn nhỏ chỉ nói các pháp, nên gọi là chung. Dẫn sanh sanh, v.v… bốn cái khác nhau đối giáo khác nhau, nên gọi là riêng. Ngài Thân Tử đối Thiên nữ giấu chẳng thể nói. Không nói không bày viên chẳng thể nói. Lược nêu trước sau hai so sánh mà biết tức chung riêng. Chung và riêng đều chẳng thể nói, sao lại lấy ba văn mà chỉ người. Từ nhiên đản dẫn trở đi là lời đáp. Văn có chung hai ý sao lại chỉ dùng chẳng nói khó nói mà hỏi. Nay trong ba văn này tức là nói. Chẳng cho chấp văn tức chẳng thể nói. Vì đâu gọi riêng ba văn là nói, cho nên bác bỏ chung rằng: chỉ thấy một bên chẳng thấy cả hai. Trước dẫn Đại kinh có thể nói để đáp câu hỏi ở trước. Đây là nói chung về có thể nói. Kế dẫn Pháp Hoa vô số phương tiện tức rất có thể nói, vì năm Tỳ-kheo là hỏi có thể nói. Đây là nói riêng có thể nói. Cũng nêu trước sau, hai thứ lệ theo mà biết. Kế dẫn Đại kinh mười hai văn sửa đổi với kẻ mù từ bé thật chẳng thể nói mà cũng có thể dùng bối mạt để chỉ bày. Lý chân như thật chẳng thể nói mà cũng có thể dùng bốn thứ như thường, v.v…. để nói. Nay ba chỉ quán cũng giống như thế. Tổng trì tức là không thể nghĩ bàn. Tục này văn tự cũng chẳng nói được. Tuy chẳng thể nói cũng giả văn tự tục đế nói. Ấy là hai đế đều có thể nói. Chân lý không nói còn nhờ nói mà ngộ, huống chi là tục đế mà nói chẳng nói. Cho nên có nói phải y theo hai đế. Đã dẫn văn nói để đáp chẳng nói. Dẫn Tịnh Danh v.v… dung thông hai đường. Văn trước cho rằng nói và không nói thể tánh tức nhau. Văn tự là sắc pháp, sắc pháp tức thật tướng. Thật tướng đã chẳng khác thì nói tức là không nói. Kế dẫn đại kinh. Như lai vốn không nói đậu vật gọi học rộng, học rộng chẳng lìa lý, nên không nói tức là nói. Kế dẫn kinh Tư ích cũng dung hai đường, cho nên nói thường hạnh. Kế dẫn Pháp Hoa đến thấy Phật, là nhắc lại đáng nói để ngược với câu hỏi trước. Kế dẫn đại kinh về mây sấm v.v… trong hư không, là ý nói đều cảm ứng. Trước nói nhân duyên nghĩa đó còn chung, nay lại riêng lấy thí dụ mà hiển rõ cảm ứng. Thứ tám nói ví như torng hư không sấm sét nổi mây, tất cả trên ngà voi đều nổi vân. Không sấm sét thì chẳng nổi vân cũng không danh tự. Kinh họp thí dụ rằng nghe giáo thường trụ thì thấy Phật tánh. Cho nên này kết rằng: lúc nào một bề không nói. Nói là ứng, nghe là cảm, hình tiếng hai luân đều có cảm ứng, nay để đáp câu hỏi nên cho là nói. Nói ngà voi, là sở có ba giải thích một là tên của ngà voi, hai là súc sanh là trên ngà voi có nổi vân, ba là nói trên ngà voi sanh cỏ hoa. Tuy ba thứ khác nhau mà đều kham ý thí dụ cảm ứng. Ngà voi cũng sấm trời huyền đất khác, còn do sấm trời mà nổi vân, huống chi là thánh nói bị vật tương xứng với cơ mà vô ích ư? Hư không là pháp thân, sấm sét là nói pháp, nổi mây là hiện thân ngà voi là cơ duyên, nổi vân là được ích lợi. Nghĩa là có bốn ích lợi như quán hạnh, v.v… khác nhau. Kế từ nếu còn cho đến Vô gián là nói ý pháp, có pháp thì hợp văn đầu nói pháp như trên đã dẫn hai đường giúp nhau không được tranh nhau mà sanh, tránh hỏi han. Đây là nói mất lý do vì tranh chấp. Kế là nói trở đi là bày lý chẳng nói. Tuy nói không nói nhưng phải có chỗ nương. Kế đại bi trở đi là chánh nói ý nói một là vì phàm sư đại bi mà lợi ích chúng sanh cho nên nói, hai là vì chúng sanh hoặc nặng căn độn nên phải nói. Đã chẳng gặp thánh thì y phàm mà dựa theo giáo. Vì tâm đại bi khiển trước mà nói. Kế như nguyệt trở đi là nêu thí dụ: mặt trăng tánh chân thường ẩn núi phiền não. Phiền não chẳng phải một, nên gọi là nặng. Gió giáo viên âm dứt hóa về tịch. Lý tịch vô ngại cũng như thái hư. Bốn y hoằng giáo như động cây nổi quạt. Cho nên giả ba văn mà bày lý chân thường. Lý chẳng thể bày. Năng lực đại bi huân nhân văn mà so biết, biết gió biết trăng. Thuyết văn nói trăng là thiếu vì có đầy có vơi nên gọi là thiếu, cho nên lấy làm thí lý có nữa có đầy, Quảng nhã nói gương trăng, quạt trăng. Kế từ người nay trở đi là họp. Diệt rồi bẩm giáo nên nói người thời nay. Thân lãnh thừa Phạm âm, dùng tuệ nội chiếu nên nói là huyền lãm. Người nay ý độn, chẳng phải nay huyền chiếu mà biết cho nên nói sẽ khó. Giả văn giúp ý, văn có chỗ cứ sai ý chẳng lầm nên nói là dễ. Từ nhược phong văn trở đi là sai phá phong tình thâu (đoạt) văn thành quán. Nếu chấp văn sanh lỗi thì lấy văn làm cảnh văn tức là pháp giới sao lại có gió. Biết văn chẳng phải văn là quán không, thấu tất cả văn là quán giả, chẳng phải văn hay chẳng văn là quán trung. Quán được văn này ba trí đầy đủ, cho nên nói được tất cả hiểu. Kết vi thứ trở đi là kết chung câu hỏi ở trước. Ba thứ chung là môn thật tướng. Thật tướng là một, ba văn giúp thấu đạt nên ba tức là môn thấu đạt một. Vì sao hỏi rằng đều chẳng thể nói. Đã nói lược duyên khởi, là Chương An viết tựa xong tự kết.

Kế Kim đương trở đi là nói Chánh thuyết, mở thành mười chương. Nay ở đây đại tiểu đều thành chương, lại từ đoạn lớn nên lược mở mười, mỗi đoạn đều là chỉ quán. Chỉ quán đại ý cho đến thứ mười chỉ quán chỉ qui, nói thì đều phải dùng chỉ quán mà tiêu. Mươi là trở đi là nói ý dùng mười số. Nói số là phương, phương cũng là pháp. Như trong Hoa Nghiêm, các pháp môn đều lấy mười làm số. Kế nói mười chương công năng. Thủy thì nêu hẹn tại trà v.v… Thủy là đại ý, trà là nghĩa rốt ráo cho nên Tứ Thập Nhị Tự chép: Vào các pháp biên cảnh xứ chẳng thật có cho nên chẳng chung chẳng sanh, quá trà thì không có chữ để nói. Đại luận quyển năm mươi ba giải thích rằng: đời Tần dịch là Tất. Nếu nghe chữ Trà thì biết các pháp đều (Tất) chẳng thật có. Nếu lại có thì là chi nhánh của chữ Trà. Ấy là đại ý đã nêu Tông cực. Tiêu là chương đầu, kỳ là khắc chung (ở cuối). Vì sao? đại ý năm lược: trước phát đại tâm hẹn tâm đại xứ, đại xứ chỉ quy về ba đức. Ba đức là nghĩa Trà rốt ráo. Chung nghĩa là chỉ qui. Chỉ qui ba đức tức là tự tha muôn hạnh chỗ đến, nên nói là chí cực. Thiện thủy, v.v… là sai cũng thiện. Thủy là đại ý, chung chỉ qui. Tự tha thỉ chung tu chứng pháp mầu, đều ở trong mười chương này. Cho đến bảy thiện đều ở trong đó. Trước giải thích nghĩa sanh khởi. Sanh khởi chỉ là thứ lớp, kế chí lý trở đi là nói chung riêng. Lý vốn vô sanh, cũng không có chủ tể. Vì có việc tự tha nhân quả nên gọi là nhân duyên. Giải thích có chung riêng, chung là mỗi chương đều có hai nghĩa sanh khởi, riêng là sanh ở chương trước, tức là năng sanh ra sau. Khởi ở chương sau nghĩa là sau từ trước khởi. Lý do, v.v… là giải thích có hai tên. Gọi sanh khởi cũng gọi là duyên do thú thứ. Nghĩa là chương trước là lý do của chương sau, chương sau là thú thứ của mỗi chương đều là chuyên do thú thứ, đồng nghĩa với sanh khởi nên nói cũng giống như thế. Cho nên Bàsa hỏi sanh khởi có gì khác? Đáp: hai nghĩa đồng là pháp hữu vi nên không có khác nhau. Nếu làm riêng thì sanh là nhân, khởi là quả. Như từ nhân sanh quả, quả lại làm nhân mà sanh quả sau. Cho nên đại ý này tuy ở đầu tiên, cũng do không rõ vô minh làm nhân, đời này hiểu biết nên nói là khai giác. Đầu từ phát tâm, cuối là đại xứ, ý ở khai giác. Phải biết Bà-sa chung khác với nay. Sở dĩ trở đi là nói tướng sanh khởi. Do đại ý mà biết tên chỉ quán. Đã khái giác rồi chẳng còn cầu Niết-bàn 2 thiên tiểu gọi là bất lưu động, lại chỉ bị hoặc làm nhiễm gọi là Đại tịnh. Bất động gọi là Chỉ, đại tịnh gọi là Quán. Tên này chung cho nhân quả của tự tha. Cho nên chẳng nói nó cạn sâu. Danh là năng thuyên, thể là sở thuyên, do danh này nên biết có sở thuyên cho nên danh là đắc, không phải gọi chứng đắc. Thể là nhiếp pháp. Thể là thật tướng. Thật bao gồm quyền. Cho nên quyền thật nhiếp tất cả pháp, quyền thật sở nhiếp chẳng ngoài thiên viên. Cho nên dùng thiên viên để phán quyền thật, văn khác rất dễ biết. Tuy sanh khởi mười chương, văn lại ở y giải khởi hạnh. Cho nên ba chương sau lược mà chẳng giải thích v.v… Kế kỳ (chỉ) vi trở đi là kết ý sanh khởi, dùng mười chương này mà sanh khởi. Chỉ là chẳng đạt chân thật không sanh khởi. Cho nên nói mười chương sanh khởi chỉ qui, tuy là không sanh không khởi cũng từ sanh khởi đến không sanh khởi. Cho nên không sanh khởi từ chín chương sanh. Nên văn trước nói chung là sanh khởi. Nếu khế lý rồi thì không có mười chương. Chỉ qui còn mất huống chi là chín trước, cho nên chỗ tâm hành diệt v.v… Lại chẳng phải chỉ do có sanh khởi mà được không sanh khởi. Cũng do không sanh mà được có sanh, như khế bí tạng ứng khắp pháp giới. Kế phân biệt trước từ chân tục, cuối đến dọc ngang. Lược dùng mười môn để phân biệt mười chương. Trước nói mười chương công đức v.v… là nói ý phân biệt, nếu không có mười môn phân biệt mười chương thì sợ người chẳng biết mười chương dồi dào. Như báu ở trong túi, v.v… là ý thí dụ phân biệt. Nghĩa mười ý giàu như trong túi có vật báu. Các môn phân biệt như chỉ bày cho người. Đại luận quyển sáu mươi lăm chép: nếu không chấp tướng để không dính tâm, nói có chín thứ, sai người khác đọc giữ, chánh tâm nghĩ nhớ: một là chiếu liễu, là chẳng biết sai biết; Hai là mở ra như mở kho báu tùy ý lấy dùng; Ba là (chỉ bày) như thấy chẳng sáng, chỉ bày tốt xấu. Tiểu thừa mắt trí chẳng sáng thì chỉ bày đạo và chẳng phải đạo; Bốn là phân biệt, tức là thế và xuất thế; Năm là hiển bày, hoặc khi phá bỏ thiện mà giúp bất thiện, quí ở chỗ sai chúng sanh được hiểu rõ; Sáu là nói pháp, là nói ý thú của Phật; Bảy là giải thích như trong túi có vật báu mà người chẳng biết. Nên phải mở túi kinh Phật để giải thích đạo lý; Tám là bỏ nặng sai nhẹ, các thứ thí dụ giúp cho dễ hiểu; Chín là cạn dễ, như nước khó lội qua phải sai dễ qua. Nước Bát-nhã sâu làm cho cạn dễ. Văn nay dắt dẫn thăm túi một văn, ý đều chứa đủ tám nghĩa kia, nói là phải giải thích cả tám ý. Kế phải giải thích phân biệt, trước từ mười chương nay trở đi, là trưng bày, kế từ tám chương đầu trở đi là đáp giải thích. Trong giải thích nói ngay nơi tục là chân, v.v… là phải nói bảy thứ trước đến thứ chín. Từ nhiều theo tiện nên nói tám thứ đầu, tám không phải là chân chứng nên gọi là Tục. Ngay nơi tục này thể tánh là chân, nên nói ngay nơi tục là chân. Quả báo chiêu cảm là giới ngoại tục. Tục do chân chứng, chứng thể khởi dụng, dụng ngay nơi là tục, cho nên nói ngay nơi chân là tục. Quán là thánh pháp, y pháp vào quán. Cho nên nói sự im lặng của bậc Thánh. Nghĩa chung trụ tiền tất cả phàm phu. Chánh quán một phần là định, v.v… Hoặc nói chỉ quán ở nghĩa thật không song cùng nêu chương danh mục không tiện. Trước nêu chương nói chánh tu chỉ quán nay lược tu chỉ, chỉ nói chánh quán, chánh tu chẳng ngoài hai pháp chỉ quán có chỉ thì thuộc định, có quán thì thuộc tuệ. Tuệ gồm các chương kia, trong các chương kia nếu y cứ về giải thì đều là nghĩa, chỉ thuộc về giải, giải tức thuộc về quán. Quả báo ở đấy nên thuộc về giải. Quả báo thuộc quả văn thiếu là mục, là cũng tùy lời tiện, theo lý giải nói năm chương trước và khởi giáo là mục, mục thì thuộc về giải, năm chương trước chỉ cho tự hạnh, khởi giáo một chương sai chỉ cho tha sanh. Phương tiện đến quả báo là đủ. Đủ là thí ở hạnh, phương tiện chánh quán có công dụng hạnh. Quả báo vị ở Sơ trụ trở lên không có công dụng hạnh. Tự nhiên tác ý, dù ít khác nhau, đồng thuộc ở hạnh. Nếu y theo quyển năm ở trước nói sáu lớp trước là giải, ấy là phương tiện cũng thuộc về giải. Nay dùng phương tiện được làm hạnh đầu, lại xếp thuộc về hạnh. Đại ý đến chánh quán là cộng, v.v… là vị tuy ở phàm, nhưng nghĩa chung cạn sâu nên gọi là sông. Vì từ Sở trụ đến Đẳng giác cũng gọi là chánh quán từ thắng mà đặt tên, vì là quả báo và khởi giáo v.v… nên hai thứ này chẳng chung với hạ phàm. Chỉ ở thánh vị nên gọi là bất cộng. Nói chung riêng, chung là chung ở nhân quả mình người, riêng là riêng ở tám chương khác nhau. Nói dọc ngang là thể tướng một chương chánh nói về cạn sâu nên gọi là dọc, tám chương kia so thể một lần là ngang, hương vị nói rõ đều là đồng khác. Chỉ có thích danh một mực là ngang còn các thứ kia thì gồm cả ngang dọc. Như đại ý mỗi lần thì ngang, nếu dùng phát âm mà so quả báo há chẳng phải là dọc sao? Nhiếp pháp sáu môn, mỗi môn so nhau thì là ngang, đương môn vẫn dọc. Phương tiện năm khoa, mỗi khoa so sánh nhau cũng được gọi là dọc, đương khoa vẫn ngang. Như trước đủ duyên kế mới trách dục (muốn). Muốn vào chánh quán phải bỏ cái màng che, cái lui thì đạo tiến tùy bịnh mà chữa trị. Tuy có đủ bốn khoa phải cần năm pháp. Y cứ thứ lớp này nên gọi là dọc. Mỗi trong năm như áo so cơm dùng sắc so tiếng đều không cạn sâu. Các khoa khác cũng Cho nên không gọi dọc. Chánh quán một lần tuy gọi là ngang, bắt đầu từ năm phẩm, cuối cùng ở sáu căn, chung thuộc chánh quán là nghĩa ở dọc. Quả báo đương vi thì tức là ngang. Đầu từ sơ trụ, cuối đến Đẳng giác, đây thì là dọc. Khởi giáo một chương khắp bày lưới giáo, tùy duyên năm vị quá hiện mà vào thì gọi là ngang. Trải qua năm vị quá hiện mà vào thì gọi là dọc kế phân biệt, trước trong hỏi nói lược mà chỉ, v.v… nếu lấy văn này là Đại sư phân biệt, chẳng phải lấy Thương lược mà làm (vì) lược chỉ, vì Thương lược này thuộc tựa Chương An. Vì đối Đại sư Chương đầu đại ý là phân biệt, nghĩa là rất bất tiện huống chi văn trong Thương lược không có bất định. Cho nên văn ấy chép: lược nói kinh Phật thô bày ý viên. Kế dẫn Vô Lượng Nghĩa để nói về tiệm thứ. Nói tiệm thứ xong liền nói nay bỏ tiệm nói đốn cùng đáp văn dưới chép: Riêng thì lược chỉ ba môn nghĩa lại chẳng tiện. Nay nói trong văn tuy không có lời miệng nói, đây là Chương An phân biệt riêng, tức chỉ biện sai lược giải thích ba môn để làm câu hỏi này. Tuy ở trong tựa nghĩa gồm cả chánh. Cho nên bản thứ nhất chưa có văn tựa, cùng ở văn mà trước nêu ba chỉ quán, và trong đại ý các văn phần nhiều dùng ba chỉ quán mà kết. Bản hai trước nêu lý do, tức là tựa trước do thầy trò truyền nhau. Chương An soạn tựa hợp với soạn tựa, cho nên trong phân biệt đối nhau làm câu hỏi. Cho nên hỏi ba lược đồng khác thế nào với đại ý này? Đáp: có chung riêng. Chung thì lược là một với đại ý. Như trong phân biệt nói đại ý lược, tám thứ kia là rộng. Riêng thì chẳng phải như thế. Lược thì ba thứ chỉ, quán khác nhau, đại ý chỉ nói viên đốn chỉ quán, một trong ba thứ nên nói viên đốn chỉ quán, một trong ba thứ nên nói một đốn, chớ bảo ngoài ba riêng. Nếu lập riêng thì có nhiều ngại, một là thành Thiên Thai chẳng bẩm Nam Nhạc; hai là đại ý cùng tám chương thành riêng. Đại ý nhìn tám chỉ có rộng hẹp, chẳng phải là riêng; ba là đương văn tự tướng trái ngại; bốn đế bốn hoằng mười thứ phát tâm chỉ cy cứ bốn giáo vì sao ngoài ba lập một riêng. Nếu đại ý một đốn ở các, vì sao thích danh được có dứt đối đãi viên y ba đức. Trong hiển thể chẳng dạy thứ lớp nhãn trí cảnh giới không thể nghĩ bàn đắc. Thiên viên năm chương, mỗi chương lập hai mươi lăm pháp đốn, mỗi pháp viên giải. Mười cảnh chánh quán đều không thể nghĩ bàn. Vô duyên từ bi, an tâm pháp tánh, chẳng có thứ lớp mà phá một thông bít, đạo phẩm vô tác chánh trợ cùng làm. Lìa ái thì không mê đắm vị lên Sơ địa. Như các văn đó đều nói về đốn vì sao lại gọi là Tiệm ư? Nếu nói đại ý chỉ là một đốn, vì sao trong văn lại nói bốn giáo, đủ như văn bốn hoằng phân biệt sau. Kế các câu hỏi sau đều là phân biệt sở Đại sư truyền. Trước trong hỏi nói y cứ giáo luận như hiển, v.v… vì ba quán cùng ba giáo trong tám giáo tên đồng. Bốn giáo như tạng v.v… thuộc về Tiệm, trừ tạng đẳng bốn chỉ đốn đẳng bốn. Cho nên chỉ dùng Mật giáo đối hỏi ba thứ kia, giáo của ba quán đã là Hiển giáo, Hiển mật đều dạy đều có thể tu quán, cùng phải y cứ bí mà tu Mật quán ư? Cho nên người đọc đến đây phải biết đốn, v.v… ba quán cùng đốn trong tám giáo đều là ba thứ khác nhau. Vì tám giáo kia chỉ ở bốn thời giáo như nhũ, v.v…. Nay ba văn này đều duyên theo lý viên. Đáp: ý chia hai nay chẳng luận mật kế hỏi: chia hiển mật khâu như vừa luận cho nên nói chia môn có thể như thế. Theo lời tôi hỏi phải luận mật quán có được hay chăng? Kế trong đáp trước lập hai môn là được, chẳng được. Kế từ giáo trở đi là chánh đáp, trước chánh y cứ hóa chủ mà nói về được, chẳng được mật thuộc về bậc Thánh, thánh hay song ích. Nay luận phàm sư cho nên thiếu mật, vì thế người tu quán, không có nghĩa. Cho nên nói người nghe nhờ đâu mà làm quán. Kế hoặc lập trở đi là nghĩa lập ở được. Vị tuy ở phàm, phàm sư có nhiều thứ, năm phẩm trở xuống đều gọi là chẳng được, sáu căn tịnh vi tuy không có ích ba luân khẩu mật, nhưng có thể truyền âm mầu cùng khắp Đại thiên giới. Chẳng hỏi về Phật hóa nên nói năng truyền, người bẩm giáo vẫn không thầm được lợi ích. Kế từ nếu người tu quán trở đi là y cứ sở hóa mà nói được, chẳng được. Trước nói chẳng được nên nói phát chỗ tu hiển. Hiển là ba chỉ quán như đốn v.v…. Người bẩm giáo, chẳng được tu mật nên nói chẳng phát người chẳng tu, huống chi cái mà Mật giáo giải thích đồng hiển, thì không có nghĩa lập riêng tu Mật quán, nếu nói chẳng tu. Kế phát túc tập trở đi, là y cứ nghĩa sở hóa mà lập. Như tu sanh diệt mà phát vô tác, hiển bày bất định giống như Mật bất định. Nghĩa lập Mật quán nên nói được luận. Hỏi trước cạn sau sâu là tiệm gồm chung mà luận. Thiện ác cho đến đạt thường trụ lại được gọi chung là tiệm. Đáp là bất định. Lý sâu sự cạn y cứ bốn tất mà nói, cũng có thể y cứ tiệm xoay vần so nhau cùng là sâu cạn. Hỏi: Tiểu thừa cũng là v.v… là lại hỏi đáp trước. Tiểu thừa cũng là Như lai trước nói ý gì mà cho là chẳng phải. Trong đây có hai lớp ý hỏi: một là hỏi đại tiểu đều là Phật nói vì đâu riêng nói ba là chẳng phải tiểu, hai là tiệm của đại, ba đã nói là tiểu, đâu riêng chẳng phải ý đáp là tiểu có hai nghĩa. Nếu y cứ giáo đạo cũng là cách xa, cho nên nói chẳng phải. Pháp ở tiệm sơ người vốn biết là đại, tư vi đến trứ còn nhiếp trời người, y cứ xích cướp lời vì tiểu là chẳng phải. Cứ vào chưa khai quyền mà chẳng biết thật. Cho nên trong tiệm cho đến mảy may điều thiện đều thuộc về đại. Cho nên được gọi là từ Vi đến trứ. Hỏi: bày ba văn giả Đẳng giác. Hỏi trong chỗ bày cho bày ba văn, ba văn này là gì? Trước song định, sắc là môn ấy, sắc là chẳng phải môn. Nếu môn ấy trở đi là song nạn (hai câu hỏi). Trước hỏi môn ấy, môn gọi là năng chung, thất tướng thành sở, sao gọi là Môn. Nếu chẳng phải môn trở đi là kế hỏi chẳng phải môn sắc gọi Trung đạo, đạo gọi năng thông, năng thông tức là môn sao gọi chẳng phải môn. Kế ý trong văn đáp là sắc pháp, sắc cũng là thật tướng. Nếu văn là môn, môn là pháp giới, pháp giới tức thật nên nói đều là. Từ chúng sanh nhiều điên đảo trở đi là giải thích lý do của môn. Vì văn là sắc làm môn năng thông. Chỉ vì chúng sanh mê thật tướng nên gọi văn là môn. Ở văn thấy lý nên văn tức thật tướng, đâu có năng sở. Cho nên xét văn và môn thì đều là ba đế. Văn tức tục đế chẳng phải văn tức thật cả hai đều chẳng đúng, tức là Đệ nhất nghĩa đế. Quán môn làm ba so sánh sẽ thấy. Như thế khi quán văn và môn đâu khác, đều gọi năng thông, đều là sở chí (chỗ đến). Nói điên đảo, điên tức là đảnh, đảnh ngã xuống nên gọi là điên đảo. Kế nói gồm là kết, là lấp, đóng cửa lại. Túi có quát kết thâu ở một túi, chương có đại ý nắm hết đầu cuối. Thích Danh là đầu, chỉ qui là cuối. Cho nên biết đại ý như túi có nấp đựng đầy kết thúc mười chương. Quán đãi trước sau quan là đầu, đải là sau. Đại ý có phát tâm nên quán đầu. Đại ý có chỉ qui nên đải sau. Đã thông suốt trước sau nên nói ý chậm. Có người chép: quán tượng ở trời, đãi tượng ở đất. Chương đại ý này cũng như khoảng trời đất che chở, nếu làm giải thích này thì phải đổi chữ Đãi. Nay từ trước giải thích nên chẳng cần đổi. Nắm chín rộng dưới xem là năm lược. Bày ý chỉ chín chương, nên nói đại ý, cho nên năm lược này đều lấy đại làm tên. Trước giải thích chung, sau giải thích riêng. Hoặc chung hoặc riêng đều dụ cho nang quát. Trong sanh khởi nói làm sao đến hạ hóa là năm chương, tuy là phát tâm đứng đầu, cũng duyên chúng sanh mà làm thệ cảnh. Tối tăm điên đảo chẳng tự thấy biết. Bồ-tát khuyên bỏ nên nói sai ngộ, làm sao đến Tam-muội, là tuy lại hẹn tâm năm trăm do tuần nhìn đường báu mà chẳng chịu tiến đến, cho nên khuyên thực hànhbốn thứ Tam-muội. Vì sao đến tâm ấy, là phát tâm chẳng chỉ cầu quả báo thật, vô minh hết rồi thì quả này tự được. Vì người phát tâm tình nhiều muội chỉ? Cho nên nói quả báo mà làm vui, vì giúp người sơ tâm thêm cố gắng. Cho nên Đại kinh quyển hai, Thuần -đà hỏi Văn-thù làm bần nữ thí dụ rằng: thí như cô gái nghèo không có nhà và ai cứu giúp lại thêm bịnh tật đói khát ép ngặt, đi khắp nơi xin ăn, ngủ tạm nhà người mà sanh một đứa con, lại bị chủ nhà đuổi đi, bị muỗi mòng, ong độc cắn chích. Khi đến bờ sông ôm con lội qua, do đó mẹ con cùng chết. Như thế cô gái nhờ niệm công đức ấy chết rồi được sanh cõi trời Phạm thiên. Tuy chẳng cầu Phạm thiên mà Phạm thiên tự ứng. Chương An giải thích rằng như là dụ vô duyên. Từ, sanh con là dụ viên giải, luận trước sau phải đủ sáu từ. Sanh lên trời tức là phần chân rốt ráo từ Chương An chung lấy từ, v.v… mà đối. Nếu theo ý của Đại kinh ấy, thì mỗi tế hợp thì không có công đức pháp tài nên gọi là nghèo. Lý từ nhu hòa nên gọi là gái, chưa khế thật lý nên nói không nhà ở, chưa có muôn hạnh nên gọi không ai cứu giúp, đầy đủ tám khổ nên nói bịnh khổ lại không có định tuệ nên nói đói khát bức ngặt, năm tuần cầu giải nên gọi đi khắp nơi xin ăn phương tiện mà giải khởi, gọi là ở nhờ nhà người. Nhân phát viên giải gọi là sanh nhờ. Quyền chẳng nhận thật là đuổi đi, cũng có đủ hoặc kiến tư gọi là ruồi muỗi cắn, trải qua hai chết gọi là đến bờ sông Hằng, chẳng bỏ viên giải gọi là ẳm con lội qua. Khi chân giải sanh giống như giải mất trước gọi là đều chết nương năng lực bản giải gọi là Từ công đức. Chân chứng khai phát gọi là sanh Phạm Thiên. Nói báu Diệu là đường chung bắt đầu từ Sơ trụ. Cũng có chúng sanh chẳng nghe báu diệu công đức gọi là uổng chân mất công ấy, nên nói báu diệu mà an ủi cho vui. Thế nào là xé toang lưới, lớn thoát ra khỏi lồng? Phá là xé rách. Đã cảm quả báo nếu dạy lợi người phá lưới nghi người khác, tuy vốn là mở mắt trí cho chúng sanh, nhưng thật là cơ chưa hiển bày. Như trước kinh Pháp Hoa, chúng sanh đối với giáo quyền thật, không hữu, sự lý mê mờ lẫn nhau. Nếu đã phán khai quyền bày thật sai quyền thật chẳng lạm, khiến biết bản ý của giáo. Phá lưới nghi chấp giáo thấu suốt không ngoài lý một, hiểu đại thể pháp môn, biết các giáo có chỗ về, nghe tuyết nghĩa là hạnh đến động là dẫn chứng người chấp giáo mê chỉ, cho nên Đại kinh quyển mười ba chép: Ở trong Phật pháp trộm lấy phần ít luống dối chấp có thường lạc ngã tịnh. Như người mù từ mới sanh chẳng biết mầu sữa. Liền hỏi người rằng sữa giống như cái gì? Người đáp: Mầu trắng như vỏ ốc. Người mù lại hỏi: Mầu sữa có như tiếng vỏ ốc chăng? Đáp: không phải. Lại hỏi giống như cái gì? Đáp như bột gạo. Người mù lại hỏi như bột gạo mềm chăng? Đáp: không phải. Người mù lại hỏi: bột gạo giống như cái gì? Đáp: như tuyết. Lại hỏi có như tuyết lạnh chăng? Đáp: không. Lại hỏi giống như cái gì? Đáp: như con hạc. Lại hỏi giống như hạc động chăng? Đáp: không. Người mù tuy nghe bốn lần nói như thế nhưng trong không thể thấy được mầu thật của sữa. Ngoại đạo cũng thế, tuy nghe bốn tên mà không thể biết thường lạc ngã tịnh, nói chỗ sở qui. Như người mù kia mê nên không biết mầu sữa thật. Nay người không biết giáo so đây mà biết. Nay dung thông v.v… là lý vốn không nói, nói sẽ bị cơ. Bốn tất, bốn môn các quán các đế, thích thời lợi vật chẳng bằng thông phương. Liền chấp một ngung tình chấp chưa phá. Nay vì dung hội trùng nghi đáp nhiên (lại càng nghi), như bị chim nhốt, trong lòng không thỏa thích, tháo kết chấp trệ, mở lồng quyền giáo, như dạo cõi thái hư dẫu rộng mà vô ngại, khiến mù có trí, dẫu chưa biết sữa, lại chẳng chấp vỏ ốc v.v… mà tranh cãi. Làm sao về đại xứ đến tự tại, là hóa vật đã khắp về với Bí tạng. Thể của Bí tạng không có đầu cuối. Không đầu mà đầu, đầu tu ba quán, không cuối mà cuối, cuối đến ba đức, không bít mà bít giả gọi ba chướng, không thông mà thông giả gọi ba đức. Văn trước là lý pháp. Nếu biết rồi trở đi là tu đắc. Nếu được ý này đâu chỉ đến quả tự tại vô ngại? Nhân thời thể mà hiểu đầu cuối chẳng hai. Vì nói đại ý nên bàn chung. Ý văn chỉ tại hai lược trước. Sanh khởi năm lược hiển mười rộng là đối hiển.

Sanh khởi năm lược bày mười thứ lớp. Dù nói, năm mươi chẳng ngoài tự hành nhân quả hóa tha năng sở.

 

 

PHẦN 3

Kế trong phần giải thích rộng mà nói phương ngôn. Hai địa phương Đường, Phạm tiếng nói khác nhau. Kế là trong giản phi thì trước tiên giản tâm. Hữu tình ấy đều có thể phát, cho nên chỉ phân biệt chưa nhóm cỏ cây, hai thứ tuy gọi tâm mà chẳng có phát này. Vì các chúng sanh từ vô thỉ hoành kế, chỉ có hoành kế này sẽ phát. Đạo cũng có trở đi là phân biệt đạo. Tên đạo đã thông phải lấy các phân biệt trái mà khiến cho phải. Nay lược làm mười điều là chỗ phân biệt. Tâm là năng làm, đạo là năng thông, như đường ở thế gian. Người là năng đi, đường là năng thông. Nói chung riêng, chỉ là năng thông đều nói là Đạo. Nay mười thứ chẳng phải tâm gọi chung là Đạo, là đường dài xa cũng có thể đến, như con đường cái chung cả bốn phương kia. Nếu tâm ấy niệm niệm, tức là y cứ mạnh mẽ mà nói thuộc đạo ấy. Trước tham sân si tướng nó rất rõ nên gọi là Chuyên. Dùng chỉ chẳng dứt nên gọi là nhiếp, chẳng còn, dùng quán chẳng phá nên gọi là nhổ chẳng ra. Lại buông lung duyên ngoại cảnh nên nhiếp chẳng lại, nội tâm bay nhảy nên nhổ chẳng ra. Y cứ đại phần nói ngày tháng thêm nhiều, theo lý thì phải nói niệm niệm thêm mạnh. Cảnh mạnh tâm nặng, nói thuộc thượng phẩm. Ý ba hạnh bảy nên thành mười ác. Phần tiếp theo căn cứ vào đâu mà biết.

Nói năm người phiến-đề-la, là kinh Vị Tằng Hữu quyển hạ chép: xưa có năm vị Tỳ-kheo biếng nhác chẳng tu kinh sách. Lúc đó, ở đời lúa gạo rất mắc mỏ, bị người khinh nên chẳng được cúng dường. Năm người bàn nhau rằng người đời thường chấp theo hình dáng bên ngoài, mạng sống rất quí không nên để cho chết, phải cùng xin ăn. Bèn đem giường dây đến chỗ trống, quét trước sạch sẽ, ngồi trang nghiêm theo thứ lớp. Bên ngoài giả ngồi thiền, bên trong thì nghĩ lăng xăng. Người thấy chẳng rằng bậc Thánh, nhờ đó mà được cúng dường đầy đủ có dư.

Có một cô gái tên là Đề-vi, nghe tin thì tâm rất vui mừng sửa soạn đẹp đẽ đến lễ cúng mời về nhà, năm người liền nhận lời. Đề-vi có mười khoảnh vườn rừng ao suối, nhà cửa đầy đủ, mời về cúng dường trọn đời. Năm người lại nghĩ người đời có nhiều cách tìm cầu tài vật, tuy được thí chủ cung cấp thì ngày giàu mà năm nghèo. Bèn sai một người đi khắp xóm làng bảo mọi người rằng: bốn vị Tỳ-kheo kia đã thành A-La-hán, khen ngợi bằng nhiều cách. Mọi người nghe xong đều mang đồ đến cúng dường, cứ như thế trong nhiều năm. Đề-vi tâm ngay thẳng cúng dường cầu phước, vì thế người phải trải qua tám ngàn kiếp đền nợ cho thí chủ. Tuy làm người mà các căn ngu tối, không có Thạch nữ nam căn, nữ căn (bộ phận sinh dục nam nữ). Nên gọi là gái bất dục, trải qua nhiều kiếp như thế mà đền nợ thí chủ. Phật bảo Nặc Vương (vua Ba-tư-nặc) rằng Đề-vi lúc đó nay là Hoàng hậu, năm Tỳ-kheo ấy nay là năm người khiêng kiệu. Vua hỏi: Vì sao nay chỉ có bốn người? Phật bảo: Còn một người kia ở trong cung lo việc nhà cầu. Phu nhân (Hoàng hậu) nghe rồi thì khắp mình nổi ốc. Phu nhân có phước đức nên được như thế. Làm lành thì được báo tốt, làm ác thì bị tai ương. Phật giải thích xong, phu nhân thưa: Khi nào thì hết tội xin Phật nói rõ. Phật bảo gọi năm người, cả người coi cầu xí trong cung đến. Phút chốc họ đến trước Phật, Phật hỏi: Các ông có an ổn vui sướng không khổ chăng? Năm người giận đáp: Phật chẳng biết ngày đêm siêng khổ mà roi đánh chẳng dứt, có vui vẻ gì, Phật há chẳng biết việc như thế hay sao mà còn hỏi. Phật hỏi khổ của thân, nay so với khổ của thân trước tội cũng chưa hết nên phải sám hối tu thiện mà dứt lỗi. Năm người nghe xong giận ghét Phật không chịu nghe lời. Phật biến hóa thân ở trước họ mà an ủi, khuyên bảo, như thế khắp bốn phương tám hướng trên dưới đều thấy Phật, họ liền lớn tiếng gào khóc vì sao ép phải chịu mãi thế này? Phật thâu hóa thân lại bảo mọi người rằng: Tội có hai thứ nghiệp chướng và báo chướng. Vì đầy đủ hai thứ nên chẳng chịu hóa độ. Phu nhân thấy vậy bảo năm người rằng từ nay trở đi mặc tình các thầy đi đâu thì đi. Năm người thưa rằng: chúng con bị tội gì mà đuổi đi? Xin dung thứ mà tiếp tục sai khiến, ba lần như thế đều không chịu đi, Hoàng hậu bạch Phật, Phật bảo: lúc hết họ sẽ đi. La-vân nghe xong liền thưa: Con là trẻ con chẳng dám thọ người cúng dường, muốn bỏ đạo mà về nhà. Phật bảo: không nên như thế. Như ăn no quá độ. Người trí thì đến thầy thuốc, thầy thuốc làm cho ói mửa túc thực bụng ra đồ ăn đêm qua người vô trí thì bảo là quỉ mị tiêu phí gia tài túc thực chẳng tiêu, chết rồi đời sau đọa vào địa ngục chịu các khổ, Phật bảo La-vân: Con sợ tội trở về nhà thì như người vô trí kia, cho nên người trí phải luôn gần gũi bậc thầy sáng suốt, cho nên biết không có đức mà nhận cúng dường thì như bọn Đề-la kia.

Đi đường lửa: như kinh Tứ Giải Thoát gọi ba đường là hỏa, huyết, đao. Đồ là đường, ngục nhỏ thì có nóng và lạnh. Ngục lớn thì chỉ có nóng, lại từ nóng mà nói nên gọi hỏa đồ (đường lửa). Ưa thích nhiều quyến thuộc, là loài súc sanh phần thì nhiều ưa hợp thành đàn bầy. Cho nên phá giới thì gồm quyến thuộc tốt cảm được. Thôn lưu là muốn người khác về với mình như biển nuốt sông suối. Muốn mình nhiếp người khác như lửa đốt củi. Chung đủ ba độc tham dục làm gốc. Nay nói theo chung nên có mười ác, khác văn khác so lời này. Như Điều-đạt là nói đủ như trong Đại kinh, Đại luận và các văn luật. Nay tạm lược y Đại luận mà phụ ý các văn, tức là dạy vua giết cha mà làm vua mới, còn mình hại Phật làm Phật mới. Y-tu-đà được hữu lậu thông mà khuyên bảo vua, hóa thành trẻ con ngồi trên gối vua. Vua do đó mớm cơm cho ăn, hại Ni Liên Hoa, xô đá đè Phật, đủ ba mươi tướng chỉ thiếu hai tướng sợi lông trắng và bánh xe ngàn căm mà thôi. Liền lấy vòng sắt mà đốt thật nóng rồi ấn vào chân để làm tướng bánh xe ngàn căm, chân phỏng sưng đau khổ chịu không nổi. A-nan bạch Phật: Anh con như thế xin Phật cứu giúp. Thế tôn thương xót đến phòng lấy tay xoa thì các đau đớn đều hết. Bảo Thế tôn rằng dòng giống vua Tịnh Phạn có đạo thuật, như thế đủ để nuôi thân. Khi bình phục rồi bèn theo Phật đòi chúng. Phật quở rằng người ngu vô trí, ta còn chẳng giao chúng cho Thân Tử và Mục-liên, huống chi ông là người ngu ăn đàm dãi của người. Do đó mà kết hận, bèn đặt ra năm pháp để dạy chúng của Phật, năm pháp ấy, Bà-sa nói: Một là y phấn tảo: Hai là thường khất thực: Ba là ngồi ăn một bữa: Bốn là thường ngồi ngoài trời: Năm là chẳng ăn muối và năm vị, năm pháp này chẳng đồng với chánh lý. Chánh Lý chép: Một là chẳng ăn năm vị: Hai là bỏ ăn thịt: Ba là bỏ muối: Bốn là chẳng nhận y đã cắt may: Năm là chẳng ở chùa ven làng xóm. Phật ở Vương xá có nhân duyên nhóm họp tăng. Điều-đạt đứng dậy, đưa ra năm pháp Xa-la rằng: Nhận năm việc này là Tỳ-ni. Lúc đo, có năm trăm người mới học vô trí cầm thể, A-nan đứng dậy bảo ai nhận năm điều này là phi pháp, không phải tỳ ni. Điều-đạt nói năm trăm vị này không cần đến Phật và tăng bèn đem đến chùa Gia-da cùng làm Yết ma. Lúc đó các Tỳ-kheo bạch việc này lên Đức Phật, Phật bảo người ngu diệt bỏ tâm lành phải ở trong địa ngục một kiếp không cứu được. Ta chẳng thấy ông ấy có chút tâm lành nào dẫu bằng sợi tóc. Thân Tử và Mục-liên đến núi Già-da, Điều-đạt an ủi nói: Lành thay các đệ tử trước tuy chẳng nhận này đã nhận rồi chăng?

Tuy sau cũng là tốt, bảo Thân Tử hãy nói pháp cho chúng nghe, nay ta đau lưng phải nằm nghiêng bên hông phải. Mục-liên hiện thần thông, Thân Tử nói pháp rồi đem năm trăm người này bay đi. Điều-đạt ngồi dậy, thấy mất chúng thì tức giận, v.v… Nếu nói về tạo tội nghịch phải đọa vào A-tỳ, lại y cứ vào lời dạy chúng nên bảo là tâm súc sanh. Lại như Nan-đà thị hiện dục, Thân Tử thị hiện sân, Điều-đạt thị hiện si. Lại y cứ si nên thuộc về súc sanh. Lại nói lục súc thì lấy sáu mà nhiếp hết các loài nên nói là sáu. Trịnh Huyền chú giải sách lễ nói trâu, ngựa, dê, chó, heo, gà cũng y cứ và nuôi trong nhà mà nói. Từ tướng ăn nuốt lẫn nhau nên gọi là huyết đồ.

Bốn xa, tám phương, Nhĩ Nhã gọi là bốn chỗ rất xa là Đông đến Thái viễn, Tây đến bân quốc, Nam đến Nghiệp bồn, Bắc đến Chúc lật. Đây là nói rất xa. Bác Vật Chí chép: Đông đến chín Di, Nam đến sáu Loan, Tây đến bảy Nhung, Bắc đến tám Địch. Kế là nước Hoang. Chu Lễ nói tám loan, sáu nhung các thứ khác đồng với bác vật. Bốn duy bốn phương là tám hướng cũng gọi là tám cực, cũng gọi là tám mang. Khen tên gọi là xưng, khen đức gọi là dương. Tâm kính gọi là khâm, miệng hứa gọi là vịnh. Biết mình không có đức mà muốn người khác xem là thánh như Ma-kiềm-đề, là Đại luận quyển hai nói người ấy khi sanh làm kệ vặn hỏi Phật rằng: Trong pháp quyết định bỗng sanh các tưởng đều bỏ làm nội diệt vì sao ở đây nói là Đạo. Phật đáp không phải nghe thấy biết chẳng từ giới mà được, cũng chẳng phải chẳng thấy nghe chẳng phải chẳng trì giới mà được. Như thế luận đều bỏ, cũng bỏ ngã và ngã sở. Lại hỏi Phật rằng: nếu không phải thấy nghe v.v… không phải trì giới mà được, hãy như tâm ta quán sát thực hành pháp câm mà được đạo. Phật đáp: ông y theo tà kiến, ta biết ông tu theo đạo ngu si. Nếu chẳng thấy các tướng, khi ấy ông sẽ tự câm. Lại quyển ba chép: Ma-kiền-đề chết, đệ tử dời thây để trên giường đem ra chợ chỗ đông người bảo rằng nếu người có mắt thấy thây của Ma-kiền-đề thì người ấy đều được đạo thanh tịnh, huống chi là bễ bái cúng dường. Lúc ấy có nhiều người tin theo các đệ tử nghe việc ấy liền bạch Phật, Phật bảo: người nhỏ mắt thấy cầu thanh tịnh, như thế không lợi không thật đạo, các kết phiền não đầy trong đêm, làm sao mắt thấy được thanh tịnh? Nếu có mắt thấy được thanh tịnh, thì đâu (cần gì) trí tuệ công đức báu. Từ bị đuổi xô ép bức làm tên nên gọi là đao đồ. Pháp Hoa thí dụ người trẻ mạnh hống hách. Tục giáo còn nói cao lấy thấp làm nền tảng, sang lấy hèn làm gốc, tự ỷ có đức thì sẽ khinh người, huống chi mình không có đức mà muốn hơn người. Cho nên biết đây còn muốn hơn đó há là hạ mình đối với người khác. Tự dẹp đức mình gọi là hạ, há con điêu há bay cao mà hơn chim công? Chẳng vì quí mình sai người khác, đều kém mà bên ngoài khen nhân nghĩa lễ trí tín. Lấy từ nuôi vật là nhân. Lấy đức suy dời là nghĩa, tới lui họp nghi là lễ, quyền nhờ siêu bạt là trí, lời nói có (không) thể lật ngược là Tín. Lão Tử chép: Mất đạo mà sau đức, mất đức mà sau nhân, mất nhân mà sau nghĩa, mất nghĩa mà sau lễ, mất lễ mà sau trí, mất trí mà sau tín. Ý Lão Tử lấy đạo làm gốc, tín chẳng thể quên. Đạo chẳng phải ngoài đời ý còn ở năm đức. Đây là ý văn nội đức đều đủ mới thành đạo người. Khinh mạn mạnh mẽ mà không có đức thì thuộc về tu-la. Lại y cứ vào tâm lành vẫn ở hạ phẩm, ngoài khen năm đức vốn là khinh người. Tu-la có nhiều thứ là ở bờ biển, bờ đê, v.v… như bốn thứ Bà Trĩ, v.v… đều ở dưới biển hai muôn do tuần, vì là một cung tuy ở chỗ ở tốt đẹp, phải gồm nhiều phước mới được sanh lên đó. Trong nhân đạo nói vui người tâm si, hễ nói si là ở trong thiện ác, đã khác nhau ở trong bốn đường ác này chẳng bằng thiện của các trời, lại không có nhân xuất thế thì xếp vào si. Nếu thế thì nào khác súc sanh? Đáp: súc thì gồm mười điều ác hạ phẩm, si gồm dạy chúng làm càn. Nếu không có nhân xuất thế thì sáu đường đều một khác. Thiên đạo, đây là các tầng trời cõi Dục, nếu ở đất thì nghiệp ắt chẳng tu định. Nay nói theo thắng (hơn) thì nói gồm ở trên không, cho nên quan căn trần chẳng để ra vào. Kế ở các tầng trời cõi Dục mở riêng dục chủ là Ma-la-đạo dân và chủ tâm khác nên mở riêng. Cũng như Phạm Vương là riêng có một. Mười thiện Tthượng phẩm gồm một không ngăn báo làm Ma-vương, tánh thường ganh ghét, bất luận việc làm thân khẩu bên ngoài, ý muốn người khác theo, thuộc về đạo này. Nhưng ắt cũng chưa đến định lực mới sanh cảnh ấy để làm dục chủ. Sáu hợp là trời, đất và bốn phương. Ngung ngung là kính ngưỡng, Kinh Thi chép: Vạn nhân ngung ngung, tức là muôn người kính ngưỡng vậy. Ni kiền là tên chung của ngoại đạo. Tam thiền vui như suối đá, Đại luận nói vui có hai thứ: nội lạc và ngoại lạc vui bên trong tức là Niết-bàn, chẳng từ ngoại trần, cũng như nước từ suối đá sanh. Vui của Phạm hạnh cũng giống như thế. Luận văn thí dụ riêng về vui Niết-bàn nay dụ chung vui tam thiền cũng là thọ bên trong. Hỏi: đã nói Sắc, Vô sắc sao miệng chỉ tam thiền? Đáp: Vui trong hai cõi chẳng hơn tam thiền. cầu sanh lên cõi trời là lấy vui làm gốc. Vả nêu cái vui này các thứ khác đều so với đây. Thiện ác xoay vần v.v… là thiện thông đến phi tưởng ác tột là vô gián. Lên rồi lại xuống nên gọi là Bánh xe, vô thỉ vô cùng dụ cho xoay vần. Phá ác do tịnh tuệ, v.v… do nhờ Nhĩ Nhã nói là giúp. Ba pháp xoay vần lại do nhờ nhau. Lấy cạn giúp sâu suy rộng ở giới.

Nhị thừa còn như thế, Bồ-tát càng hơn. Vì hộ người khác cho nên chê bai thì gấp. Tiểu thừa tự độ tánh nặng thì gấp cho nên Bồ-tát nặng nhẹ đều từ giữ, giới tựa nói Thanh Văn tiểu hạnh còn tự quí kính Mộc-xoa, Đại sĩ còn mang, người sao chẳng biết trì giới phẩm. Nay giới là gốc hạnh, cũng là Tiểu thừa bỏ mà chẳng từ thì đại tiểu đều lỗi. Kế hoặc tâm, hoặc đạo trở đi là nêu lược mà bày rộng. Dùng ít nhiếp nhiều trong một đạo không phải tướng vô biên. Cho nên nói rất nhiều. Hoặc khai trên hợp dưới là nói khai hợp. Trên là Nhị thừa, dưới là Tu-la. Từ quỷ súc ra khai trên hợp dưới chuẩn, lời này rất dễ hiểu. Pháp Hoa nói sáu đường, Tịnh Danh nói năm đường vì Tu-la khai hợp nên như thế. Mười là số phương ý như trước nói. Kế nói dùng mười tâm, trong ý ở trước nêu ý, nêu một thứ làm ngữ đoạn v.v… Nói thẳng là nói, luận bàn là ngữ. Nay nói được mất là ngữ. Đoan là đầu mối, đầu từ mạnh mà được tên. Từ mạnh tức không có niệm khác. Khi qua đời chịu báo lại từ mạnh kéo dắt đi. Cho nên khởi một tâm, đều là chín thứ kia. Trong mười theo một nên nói một thứ. Kế như luận trở đi là dẫn chứng, đọa phải từ mạnh. Hoặc trước khởi đi đến chỗ, hòa trộn nhau là đối phải mà nói quấy. Trước là pháp, kế là dụ. Trong pháp nói trước khởi. Nếu chưa phát tâm thì gọi là Trước quấy, sau mới phát tâm gọi là sau phải. Đây chính là thể đang hiển soa được trong thí dụ mà gọi là đều trược; nay đây phân biệt chung phát tâm rồi mới sanh quấy sanh phải. Cho nên nói là thuộc quấy, hai tâm kia lý thuộc về quấy. Lại đã nói trước phải thì có sau quấy. Nếu không có sau quấy thì cũng là một bề hiện tướng của phải. Cũng chẳng phải hạn phân biệt. Lại đều khởi chẳng lẽ có hai tâm đều duyên cảnh ư? Chỉ y cứ tế niệm trước sau đều duyên thì gọi là đều khởi. Nếu thô lậu thì xếp thuộc trước sau, kế dụ tượng trở đi thì trước là dụ, kế là họp. Trong họp có hai thứ. Trước dùng nội ngoại hợp ba dụ trước, nội phải ngoại quấy, nội ngoại đều duyêngọi là đều khởi. Kế dùng ngay tâm quấy mà hợp với nội trước, nghĩa là nội quấy ngoại quấy cho đến đều quấy. Chín buộc một thoát tức là hai bên. Vì hai bên động nên gọi là quấy. Hỏi: hai văn có gì khác? Đáp: Trước tuy nội ngoại chỉ thí dụ nội tâm, sau nói nội ngoại tâm là cảnh đối nhau. Cho nên biết trước nói nội tâm cảnh đối nhau và trước nói nội tâm phải quấy đối nhau, nay một bề quấy, nội ngoại đối nhau. Đây đều một lần từ gượng nói riêng. Rốt ráo mà nói thì phải giả hòa hợp mới thành tướng quấy. Chữ tượng chẳng phải từ người, kế lại chín trở đi là chỉ y cứ bốn đế. Trong đó văn đầu y cứ thẳng bốn đế. Sanh tử Niết-bàn tức là khổ diệt. Kế động và bất động tức là Tập Đạo. Kế hữu vi trở đi là lại y cứ các pháp. Trước nêu, kế theo. Kế chín trở đi là cây, khổ tập đồng với khổ hữu vi hữu lậu. Tuy trước nói nếu đối nhau mà nói thì phải nói hữu vi hữu lậu là khổ đế. Vô vi vô lậu là diệt đế. Văn tuy chẳng nói nhưng ý ắt gồm hai. Khúc tức là chiết trí lòng vòng, truất tức là sanh diệt vụng qua. Thán là thân tro trí diệt, cận là chỉ đến hóa thành. Dưới trở đi là so sánh. Kế hữu vi hữu lậu, v.v… nếu đối nhau mà nói thì phải nói hữu vi vô lậu là đạo đế. Văn tuy nêu riêng nhưng ý phải gồm hai, kế thiện ác nhiễm tịnh v.v… nếu riêng nêu thì phải nói thiện tịnh và tập đối nhau, cho nên nêu cả hai thứ. Văn tuy nêu cả hai mà nghĩa qui về một bên. Kế phược thoát, v.v… là y theo đạo rất dễ hiểu. Đều là tục ngữ tiện, hoặc đơn hoặc phức. Kế là nếu được trở đi là tổng kết ấy thì niệm niệm thường phân biệt phải quấy. Nếu khởi tâm quấy thì phải dùng đương giáo là tâm mà diệt. Phi tâm tức là đường hiểm các hoặc, nếu thấy ý này v.v… là kết khen. Giống như mới đầu hỏi người tu trở đi là y cứ phải phân biệt quấy. Trước ý hỏi, là tuy không có mười quấy. Nếu kể tánh lỗi cũng đồng thuộc quấy. Kế ý đáp là tánh kể có lỗi cho nên nói chẳng thể. Chỉ là trở đi là nhờ đây mà nói phải. Lìa tánh lỗi đã y cứ không thể nghĩ bàn mà luận cảm ứng, nên gọi là phải. Thánh đã chẳng ứng mà ứng để đến bốn cơ. Thọ là chẳng cảm mà cảm ứng. Thiên tánh tương quan nghĩa đồng cảm ứng, kế dẫn hai kinh để chứng cảm ứng. Từ ác cơ mà nói cho nên nói là con bịnh. Rộng như huyền văn ba mươi sáu câu. Động núi của pháp tánh v.v… là kết nghĩa cảm ứng. Pháp tánh bất động như núi, điều ác chúng sanh sâu như biển. Không phải thệ nguyện lớn thì không mưu thiện quyền, làm sao có thể động núi khó động, vào bể khó vào, đồng thiện đồng ác, bày nghịch bày thuận đồng ác nên có hạnh bịnh, đồng thiện nên có hạnh trẻ thơ. Từ bi từ nhân cảm ứng từ quả. Vì có nhân nên quả mới vào được. Thiền kinh nói trở đi là giải thích thành cảm ứng. Cảm ứng chỉ là thuận theo vật cơ, cho nên dùng bốn tùy để giải thích cảm ứng. Đem hộ ý ưa thích ấy mà phụ vào thói quen tiện nghi đời trước. Xem binh nặng nhẹ mà đối trị, đạo (nói?) cơ thời thục đệ nhất nghi. Tùy và tất tên khác mà nghĩa đồng. Cho nên dẫn Đại luận để giải thích Thiền kinh. Năm lại nữa là Đại luận nói trong nói kinh Duyên Khởi. Hỏi rằng: có nhân duyên gì mà nói kinh này? Đáp trong đó có hai mươi mốt lần “Lại nữa”. Nay dẫn năm thứ ấy để chứng bốn tất và năm nhân duyên năm lại nữa này vẫn không phải thứ lớp. Tùy nghĩa tiện cho nên trước là nói các hạnh của Bồ-tát, nên nói kinh Ma-la Bát-nhã Ba-la-mật, là lại nữa nhất, kế là sai Bồ-tát tăng tu Tam-muội niệm Phật là lại nữa hai, ba là nói tướng mạo Bạt Chí là lại nữa sáu, bốn là nhổ hết ác tà của đệ tử là lại nữa năm. Năm là nói Đệ nhất nghĩa, là lại nữa thứ mười. Năm thứ này là hội năm nhân duyên. Lược hội đầu là trong luận nhân nói Đệ nhất nghĩa cho nên giải thích bốn tất. Nay mở ra bốn tất cùng năm lại nữa để làm hai môn và bốn tùy năm lược bốn khoa pháp môn đồng là nghĩa cảm ứng. Nghĩa bốn tất đàn rộng như Pháp Hoa, Duy-ma đã giải thích. Nay bỏ cảm ứng nên chẳng nói đủ. Lăng-già cũng nói Phật bảo Đại Tuệ, đối với tất-đàn của mình phải khéo tu học. Nếu mê chung riêng thì nhà này an tâm sáu mươi bốn phen, tự hành bốn tất làm sao có thể biết được. Tự hành sẽ thành cảm ứng nếu chẳng tùy cơ v.v… là nói ý cảm ứng, năm lần lại nữa bốn tùy bốn tất và năm nhân duyên này đã là pháp cảm ứng xứng cơ, đều là đại bi ích vật. Luận trở đi là dẫn chứng. Chân pháp mà nói là nói diệu ứng khó cảm, thính chúng khó được, diệu cơ khó phát. Khó được cho nên ba chữ kết chung ba thứ diệu pháp, diệu ứng, diệu cơ ở trên. Như thế trở đi là giải thích chân pháp diệu ứng cái gọi là diệu cơ sở cảm đều là Trung đạo, Cho nên chẳng phải chẳng phải có không phải không tức là song phi chân tục. Tuy nói song phi mà ý ở tương tức chẳng khó chẳng dễ cũng hiển bày thể trung. Chẳng phải trí nê hoàn cho nên nói không phải, không phải trí phân biệt nên nói không phải khó. Có ba tất ích, lại dùng bốn tất mà kết thành chân pháp, ý nói bốn tất chỉ là ý hai đế và cảm ứng tức hiển bày Trung đạo xem là chân đế khác với chỉ chân Cho nên song phi. Nên biết cảm ứng chẳng ngoài hai đế. Nên biết duyên khởi trở đi là nói diệu cảm ứng làm được Phật sự. Nhưng bốn tùy bốn tất trở đi là riêng gặp chung. Vì đại bi nên thuận theo vật cơ được tên bốn tùy, vì thương xót nên bày khắp thuốc pháp mà được gọi là bốn tất. Đại bi cùng thương xót là một thể mà khác tên, như một vật chẳng khác. Bên trái thì bảo vật là bên phải, ở bên phải thì bảo vật là bên trái. Nhân duyên tức là năm lược. Hai chữ nhân duyên lại đắp đổi mà lập. Nếu chúng sanh phát tâm mạnh mẽ, tuy giả thánh ứng thì dùng chúng sanh làm nhân còn bậc Thánh làm duyên. Nếu chúng sanh gốc lành yếu kém, bậc Thánh có đốc thúc, tức dùng thánh ứng làm nhân, còn chúng sanh làm duyên. Thân sanh làm nhân, sự trợ làm duyên. Cho nên từ mạnh yếu mà đặt tên bất định. Phải biết trở đi là kết, bốn tùy bốn tất và năm nhân duyên, danh và nghĩa hợp nhau, cho nên phải hội. Nói là tên khác của ngôn giáo, vị là nghĩa vị, là đồng với nghĩa. Danh hợp với nghĩa nên nói hợp nhau. Hán Thư phong công thần lấy trúc dài sáu tấc mà hợp làm tin, cho nên chữ từ trúc. Từ cỏ là tên cỏ mắt quỉ ở đây không dùng. Tùy ưa thích trở đi là tên khác của thứ hội. Trước hội tùy tất, lạc dục là ưa thích, nên nói từ nhân. Thế giới là ấm nhập, nên nói từ quả. Thế giới lấy ngăn cách làm nghĩa, lạc dục tức ưa thích khác nhau, nhân quả tuy khác mà nghĩa là một. Tiện nghi là biện pháp năng phó nghi bị người nào. Vì người là quán người sở bị người thích pháp nào. Quán người sẽ chọn sở nghi, chọn pháp sẽ định khả năng chịu đựng được, năng lân sở phó cùng thành một nghĩa, hai thứ kia tên đồng chẳng cần hội khác. Lại năm nhân duyên trở đi là kế hội nhân duyên nghĩa đồng với tùy tất. Trước nói chúng sanh có tín nhạc v.v…, là ấm nhập là thế giới, tín nhạc là lạc dục (ưa thích), hai thứ này làm nhân cảm Phật nói pháp tánh, pháp giới làm duyên phát tâm, nên phát đại tâm. Thiền kinh lạc dục Đại luận thế giới tên khác mà nghĩa đồng. Chúng sanh có đại tinh tấn, là chúng sanh phải tu bốn pháp Tam-muội cảm Phật nói ra hạnh không thể nghĩ bàn, cho nên tụ đại hạnh. Thiền kinh tiện nghi Đại luận vì người tên khác mà nghĩa đồng. Chúng sanh có đại tuệ bình đẳng, là trí nhất thiết chủng vì nó năng phá. Chúng sanh phải chứng tuệ này làm nhân cảm Phật vì nói, sở bị đều phá khắp hoặc được quả, thông kinh dứt nghi, đều là đối trị. Cho nên đem cảm quả cho đến xé lưới nghi đều là đối trị. Lại cảm quả tự phá tế hoặc thông kinh xé toang lưới nghi cho người, mình người tuy khác mà đều gọi là phá ác. Chúng sanh có mắt Phật trí, là chúng sanh một tâm ba trí ba mắt phải vào bí tạng. Lấy đó làm nhân cảm Phật vì nói chỉ qui ba đức thì tự hành diêu mãn (đầy đủ), hóa tha khéo thành, đều gọi là rốt ráo. Thành mãn này chỉ là cực lý. Cho nên cùng đồng với Đệ nhất nghĩa của kinh luận. Mỗi pháp đều nói nhất thiết đẳng là khác ở năm duyên thiên tiểu. Lại năm duyên trở đi là kế hội năm duyên cùng năm thứ. Trước nói nhánh vốn là phát tâm dắt hạnh, cành phải từ gốc, hạnh vốn ở nguyện, gốc phải nhờ cành. Cành gốc tuy khác nhưng đồng thành cây đạo. Vì bốn Tam-muội thâu hết các hạnh, nên gọi là Chung. Tam-muội niệm Phật trong các hạnh là một nên gọi là riêng. Chung riêng tuy khác nhưng đều là diệu hạnh. Lại bốn Tam-muội chung đều niệm Phật, nên gọi là Chung, chỉ nói niệm Phật nêu riêng một hạnh nên gọi là riêng. Cho nên Bốn niệm xứ nói rằng: bốn đều niệm Phật. Chỉ tùy giáo riêng sở niệm khác nhau, nên gọi là riêng. Ba giáo trước đều niệm một thân nghĩa là sanh ứng báo, viên niệm pháp thân, các thân đầy đủ. Lại bốn Tam-muội chung cho bốn giáo, nên còn gọi là Chung. Có người cãi rằng: bốn Tam-muội riêng niệm Phật là chung, là chưa mất đại ý sao giả trái văn. Kế hôi quả báo cùng bạt trí là đồng. Nói quả báo tức chỉ cho bốn độ, bốn phải có chánh, báo phải có tập. Cho nên quả báo phải gồm hai đôi. Nếu nói bạt trí, bạt trí chỉ là tập quả một lẽ, tập sẽ với báo, chánh sẽ có y, hiện tuy nói lẽ phải đủ đôi, hai văn tuy khác mà chung thành ý một vị vô sanh. Trừ nghi kinh luận, kinh luận là chỗ đệ tử là người. Người khởi tà ác phải nương kinh luận, chỗ có nghi trệ phải do người tà, nhỗ dẹp tà nghi thì không trước sau nên thành một ý. Gốc ngọn rốt ráo, v.v… thì phát tâm là gốc, đồng qui về là ngọn. Cho nên quyển ba nói mình người trước sau đều được tu vào. Tu tức mới phát, vào tức chứng sau. Cùng Đệ nhất nghĩa tên khác mà nghĩa đồng. Cho nên luận lại nữa cùng duyên nghĩa không khác nhau. Mỗi văn dưới đều nói khác mà thôi, là bội nghĩa đã đồng văn cũng là khác. Lại thánh nói, là kết ba chỉ quán. Cảm ứng văn nhiều phải dùng ba kết. Nếu văn nghĩa hẹp thì chỉ dùng một kết. Như bốn hoằng sáu tức sau hoặc chỉ dùng ba kết, đủ như văn dưới hiển bày bốn đế và bốn Tam-muội, hoặc lúc đó ba một đều lược, như ba lược dưới, hoặc lúc đó ba một đều dùng, tức như văn này. Một là chung, ba là riêng, chung nghĩa là chung ba, riêng nghĩa là đều một. Chẳng thấy ý này thì sanh ra nhiều mối lạ. Hỏi vì sao phải lấy chỉ quán mà kết? Đáp: ba pháp này đứng đầu tất cả, nay năm lược này văn thông khắp, cho nên chỗ nào văn cũng dùng ba một mà kết. Lại còn bộ này gọi chung là Chỉ quán. các văn nghĩa đều là Chỉ quán chẳng thể thấy kết tên Chỉ quán này, đều gọi là pháp tu hành. Như trong sáu tức lý và danh tự, đều kết chỉ quán. Nay trong văn này chỉ kết cảm ứng, đâu lại phán ngoài ba có một, ấy là biết lý giáo hạnh quả phát tâm cảm ứng đều là chỉ quán. Lại bộ này gọi chung là Chỉ quán, từ thích danh trở đi thì văn tướng riêng biệt, lại chẳng dùng ba văn mà kết. Nay trong ba kết có nêu có giải thích. Năm chữ trước là nêu ứng, từ hoặc thứ trở đi là nêu ứng. Thứ tức là tiệm, cụ tức là đốn, tạp tức là bất định, chẳng thứ tức là bất định và đốn, đối nhau mà đến. Chẳng cụ chẳng tạp cũng giống như thế. Chúng sanh được lợi ích khác nhau là nêu cảm. Từ hoặc thứ trở đi là nêu cảm. Loại ứng mà nói sẽ được ý. Từ hoặc bốn tất trở đi là giải thích. Kế giải thích trong cảm ứng hai câu đầu là Tiệm, hai câu kế là bất định, hai câu sau là đốn. Bốn tất năm duyên mỗi đối nhau nên gọi là Tiệm. Hoặc một hoặc bốn nhiều ít lẫn lộn nên gọi là bất định. Hễ nêu bất cứ một pháp nào đều đủ tất cả nên gọi là Đốn. Cho nên chỉ kết văn thành ba chỉ quán, đâu được tức lấy tu hành mà giải thích. Như thế v.v… trở đi là nêu tướng các pháp. Y theo trước rất dễ biết. Vừa chỉ kết trước năm duyên bốn tấc, lại nữa bốn tùy tất cả mà so sánh. Kế vì trở đi là một kết chỉ quán. Trong văn đã dùng phát tâm làm quán, tà dứt là chỉ. Phải biết năm duyên, lại nữa, bốn tùy bốn tất đều là phát tâm, tà dứt. Cho nên ba chỉ quán cũng chẳng ngoài phát tâm tà dứt. Vì thế biết ba một chỉ là chung riêng. Năm lược chỉ là mười rộng, là kết chương rộng lược, như văn trước nói sanh khởi năm lược hiển ở mười rộng, dùng lược sanh khởi, hiển rộng sanh khởi. Nay ở đây lại dùng năm chương mà nhiếp mười chương, cho nên nói chỉ là. Nói năm chương đầu gọi là phát tâm, là đại ý năm lược tuy có tu hành cho đến quả báo, chỉ là đường chung chỉ rõ ngọn ngành. Nếu chẳng như thế thì sao gọi là phát tâm. Bốn thứ thích danh sau chính là sở phát, Cho nên năm chương chung thuộc về phát tâm. Phương tiện tuy không phải thân tu chánh hạnh thêm phương tiện chung thuộc về hạnh. Quả báo một chương đến quả báo, là từ quả báo trở đi là rộng lược nghĩa đều, không còn rộng hẹp. Cho nên ngay đó mà hiểu, chẳng còn đối biện, trái tức là thiên không thiên giả, trái ở trung viên nên nói hai bên thuận, nghĩa là viên trung viên Lý Thuận đối với thật tướng nên nói thăng diệu. Vô minh chưa hết đều ở ba độ vì thọ y chánh nên gọi chung là quả báo. Nói báo hai bên là từ không ra giả mà làm có bên, nên cảm độ phương tiện. Nếu vì phàm phu ba tạng Bồ-tát mà làm có bên thì chiêu cảm cõi đồng cư. Thông giáo Nhị địa, người Biệt mười Tín, người viên năm phẩm, cho đến các giáo còn sót thấm nhuần đều chiêu cảm đồng cư. Nếu dùng Nhị thừa chung bảy địa bỏ Biệt, bảy trụ bỏ Viên, bảy Tín cho thông là không biên, thì ở phương tiện. Văn nay lại nói thiên không, thiên giả chiêu cảm quả báo chẳng bằng Sơ trụ, Sơ địa trở lên ở độ quả báo. Nếu nói chung, thì trụ tiền tuy cảm quả báo viên thì cũng ở phương tiện. Khởi giáo v.v… là tự chứng diệu lý, xứng cơ nói pháp. Giáo do cơ sanh nên nói khởi giáo. Đây là y cứ làm chủ đối cơ mà nói. Phật tuy ra đời phải nhờ đại quyền gỏ cơ mà đánh phát. Cho nên nói khởi giáo. Đây là y cứ làm bạn đối chủ mà nói hoặc làm thân Phật v.v… là pháp thân tám tướng đủ như Thích-ca từ đầu đến cuối một đời hóa nghi. Chín giới, v.v… là như trong Hoa Nghiêm, Văn-thù, Phổ Hiền, tám Bộ, v.v… là đối bày ra đốn. Tu bốn A-hàm trở đi cho đến Bát-nhã không sanh Thân Tử, Đế-thích, Văn-thù hàng tám bộ v.v… là đối bày tiệm, như trong Hoa Nghiêm thêm bốn Bồ-tát liền chuyển thành đốn. Khi Phật mới thành đạo sai các Tỳ-kheo nơi nào cũng hóa độ người. Còn trong Phương đẳng thì Văn-thù, Tịnh Danh không sanh Thân Tử, v.v… tức là chuyển thành tiệm. Như các kinh sau được Phật chúc lụy phát thệ hoằng kinh tức là hoằng thông. Văn tuy chẳng nói khai tiêm hiểu đốn nhưng ý cũng rất dễ hiểu. Nhưng trong Pháp Hoa không nói thêm, thiếu nghĩa chuyển. Đây đều nói theo quyến thuộc.

Hỏi: Đại Chương gọi là khởi giáo, năm lược gọi là xé lưới, vì sao đồng được?

Đáp: Đối khen lợi vật nên gọi là khởi giáo giúp người hết nghi gọi là xé lưới. Khởi giáo vốn là dứt lưới nghi cho người cho nên đồng.

Phân biệt quấy xong, kế là nêu lên phải. Trước nói về bốn đế. Bốn thứ bốn đế tức là văn của phẩm Thánh hạnh trong Đại kinh quyển mười một trước dùng tám khổ để giải thích, khổ là khổ sanh diệt. Khổ đế phần cuối văn nói ra y cứ bốn đế phân biệt rằng: phàm phu có khổ mà không có đế, Thinh văn có khổ, có khổ đế. Bồ-tát hiểu khổ là không khổ. Ba thứ kia cũng thế. Tức là Bồ-tát thông giáo đối ba tạng mà phân biệt, quyển mười hai trước dùng thiện, bất thiện, ái và chín dụ, nghĩa là chủ nợ có vợ con La-sát. Vì giải thích tập đế tức sanh diệt tập. Tập đế văn cuối y cứ bốn đế phân biệt rằng phàm phu có khổ, có khổ đế, Bồ-tát hiểu khổ, không khổ mà có chân đế. Ba đế cũng như thế. Sớ rằng: Văn khổ đế ở trước cuối cùng chẳng nói có chân, cho nên biết là thông, nay nói có chân, chân là chân thật, nên biết là thứ lớp, không thứ lớp hai thứ chân thật. Đây là biệt viên đối với ba tạng mà phân biệt. Còn giải thích diệt đế thì văn cuối chỉ chép: thấy dứt phiền não loạn cho nên thường, không phiền não cho nên lạc, Phật Bồ-tát nhân duyên gọi là Tịnh, không có hai mươi lăm hữu nên gọi là Ngã. Đạo đế văn cuối chỉ nói thường, vô thường, hữu vi, vô vi v.v… diệt đạo văn cuối chỉ nói bốn đức. Đã chẳng sánh với Nhị thừa mà quyết, cho nên biết riêng y cứ với biệt viên mà giải thích. Tự không phải một nhà viên hội kinh chỉ. Lời Phật khéo lược nhờ đâu cơ thể thông. Sau lại nhân Văn-thù hỏi, Phật đáp rộng bảy thứ hai đế, kế rộng nói một thật đủ như huyền văn. Nay trước nói bốn đế sanh diệt. Đế nghĩa là đủ như huyền văn thứ ba. Nói ba tướng là chẳng lập trụ tướng cùng dị nói chung vì người phần nhiều ở trụ mà khởi chấp thường. Cho nên Tịnh Danh chép: Tỳ-kheo các thầy nay cũng sanh cũng già cũng diệt mất. Già là đổi khác. Nghĩa trong đây gồm một hẹn niệm niệm hai thứ ba tướng. Nói bốn tâm tức là bốn phần phiền não. Bốn phần tức là ba tướng dời đổi. Cho nên nói lưu động, lưu động tức là sanh diệt. Bốn tướng tuy thuộc bất tương ưng hành tức là phiền não kia là sanh v.v… vì hiển nghĩa sanh diệt trong đây, Cho nên phải nói là sanh v.v… vì thật có đạo trị khổ tập thì không có đạo, nếu khi có đạo thì dứt được khổ tập. Cho nên nói dễ đoạt. Diệt có nhân quả lại qui về vô dư, nên cũng sanh diệt. Cho nên trong kinh A-hàm nói bốn đế nghĩa khắp tất cả pháp. Như nói biết lậu, biết lậu tập, biết lậu diệt, biết lậu diệt đạo, mười hai nhân duyên, mười hai đầu-đà, mỗi pháp đều sanh nghĩa bốn đế. Đủ như trong Pháp Hoa sở giải thích Ca-diếp. Tuy thế xuất thế v.v… chung kết bốn đế đều thành sanh diệt. Nhưng Thông giáo đủ như văn kinh Tư Ích Thích Châm đã dẫn nghĩa riêng. Trước chánh giải thích trong khổ trước nói cảnh. Kế chính là trở đi là nói chung xuất năng lực giả của Bồ-tát. Kế từ vị trở đi là lược nêu một giới để so sánh giải thích. Pha là lột da cắt thịt chặt xương. Như khổ ấy có vô lượng hình tướng. Cho nên chẳng phải dưới, nêu kém hiểu hơn. Ba để sau thì y theo đây mà biết. Hỏi: Trong văn khổ đế y cứ mười pháp giới, trong văn tập đế chỉ nói các thứ. Trong văn đạo đế chia tích thể, v.v… trong văn diệt đế phân ra bốn giáo riêng là sao? Đáp: Khổ tập nghĩa chung, phải y cứ mười giới, là sở trị nên phải chung nói là mười, đạo cũng phải bốn. Lại cứ vào khổ tập năng đoạn nội ngoại cho nên chỉ nói hai diệt, nếu nói hai đối với lý không ngại nhờ giới hạn của giáo phân rõ bốn khác. Đây thì khổ tập đều mười, đạo diệt đều bốn, hai thứ nhân quả đều đồng loại. Trong tập đế nói thân khúc v.v…, là thân như tập, ảnh như khổ, tiếng như tập, vang như khổ. Tang Đạo Đế nói chiết thể khéo vụng chia giới nội ngoại. Phương tiện chỉ chung các vị hiền thánh dứt hoặc dụng trí đều nói phương tiện khác nhau, thẳng cong dài ngắn là hóa thành đảo châu báu đều có cong ngay, năm trăm là dài, ba trăm là ngắn. Nói quyền thật, như quyển ba trong thiên viên nói. Tục giải thích quyền là trái thường thì hợp đạo. Lại nói tích gần mà hạnh xa, hòa quang mà chẳng đồng trần, lại diệt trở đi là trong diệt đế nói chừng ấy chánh trợ, nghĩa chung bốn thứ diệt. Lại như thế trở đi là trong biệt diệt đế nói trần sa vĩ như không biết thì số nhiều, người khác hiểu thì chỉ có hai: một là nhiễm ô, hai là bất nhiễm. Chẳng nhiễm là tập khí. Nay ý tôi thì tập khí Tiểu thừa tức là hoặc riêng, cho nên nay giải thích. Chia giới nội ngoại mười sáu môn biết bịnh biết thuốc và trao thuốc cho. Lại ba tất trở đi là bốn tất đàn phán vô lượng. Biệt giáo thỉ chung lập nghĩa bốn tất tức sơ địa trở lên gọi là Đệ nhất nghĩa. Nay vô lượng này là từ nghĩa bên ba tất Địa tiền của đặt tên vô lượng, nên nói từ nhiều. Trong tứ đế vô tác mà nói, đều là đó, chẳng phải chỉ đạo biệt mà khổ tập cũng thật. Trước sau chẳng hai nên gọi là Vô tác. Khác nhau vô lượng nên gọi là vô phục. Lại chỉ riêng ba tất tức Đệ nhất nghĩa, nên nói vô phục. Ở khắp các kinh chẳng thể ghi hết. Kế đối độ mà nói ngang dọc, dọc là y cứ lập giáo đối cơ, cơ đã thêm bớt khác nhau, nên khuyến giáo có khác. Bốn độ đối giáo hơn kém nhiều ít nên gọi là dọc. Thể của độ đối địch không có hơn kém nên gọi là Ngang. Hỏi: Trong cõi phương tiện đã không có thông hoặc đâu cần Thông giáo, hai nghĩa ngang dọc đều nói dụng chung? Đáp: Đại thừa sơ môn điều cơ vào đốn là biết học cũ chẳng phải dùng đoạn ngắn. Như các Thanh văn đến hội Phương đẳng, bị thiền xích dĩ đều tu tập thông môn. Nếu đến Phương đẳng thì đến Pháp Hoa, ở cõi phương tiện phải cần Thông giáo, đây là y cứ người chẳng đến hội Phương đẳng. Hỏi: Nếu là thật báo đâu cần dùng Biệt giáo ư? Đáp: y cứ giáo đạo nói chứng đạo thì không. Hỏi: Tịch quang đã cùng cực, đâu cần dùng giáo, hai văn ngang dọc đều dùng vô tác. Đáp: trong giáo bị trở đi chẳng bao trùm rốt ráo. Sơ trụ trở lên gọi Tịch quang là hạ, Đẳng giác là trung, Diệu giác là thượng, đây là trích từ Tịnh Danh sớ. Lại nói chung trở đi là dùng riêng mà giải thích chung. Cho nên lìa khổ tập đế làm mười hai chi diệt coi là diệt đế. Cho nên Đại kinh trở đi là dẫn chứng, quyển hai mươi lăm nói quán nhân duyên trí phàm có bốn thứ, đó là hạ, trung thượng và thượng thượng. Hạ trí quán, là chẳng thấy Phật tánh, vì chẳng thấy, nên được Thanh văn Bồ-đề. Trung trí quán, là chẳng thấy Phật tánh, vì chẳng thấy Phật tánh nên được Duyên giác Bồđề. Thượng trí quán là thấy không rõ ràng, chẳng rõ ràng nên trụ vào địa vị Thập trụ. Thượng thượng quán là thấy rõ ràng thì được A-nậu Bồđề. Vì nghĩa ấy nên mười hai nhân duyên gọi là Phật tánh. Phật tánh là Đệ nhất nghĩa không. Đệ nhất nghĩa không gọi là Trung đạo. Trung đạo gọi là Phật, Phật gọi là Niết-bàn. Nhân duyên chẳng khác, bốn quán chẳng giống. Đối với trong hạnh từ trụ vào không, cho đến Thập địa mới vào, đều y cứ giáo đạo. Nếu không có bốn giáo thì văn này khó tiêu. Đến thiền cảnh sẽ lại nói rộng, lại trong luận trở đi, là lìa luận bốn câu để chứng bốn giáo, vì bốn câu nhân duyên này ở cõi. Cho nên đem nhân duyên để đối Sơ giáo. Có hai ý: một là dùng sơ đối sơ, hai là dùng sự đối sự. Lại nhân duyên là gốc các pháp, tùy quán khác nên thành không giả trung, cho nên chứng giáo riêng đồng quán nhân duyên. Kế lại giải trở đi là lại dùng câu đầu để giải thích bốn thứ bốn đế. Trong bốn thứ bốn đế đều quán nhân duyên nên dùng nhân duyên đối bốn khổ tập diệt khổ phương tiện không chia tích thể và giả trung khác nên thành bốn khác. Giải thích trước giống mà đối với văn thì hơi khác, Cho nên lại giải thích. Lại kệ nói trở đi, lại đối với nhân duyên, là trước tuy bốn câu đối bốn nhân duyên, chưa chia ra duyên cho đến sở sanh dụng câu (câu đầu) là sơ quán (quán đầu). Riêng ba câu dưới là dẫn một bộ luận đều quán nhân duyên. Cho nên văn trở đi là dẫn một bộ luận đều quán nhân duyên, y cứ văn trước sau mà phân ra đại tiểu. Đây là y các thầy xưa phán luận giáo rằng: giáo có hai thứ: một là chung, hai là riêng. Chung là trùm khắp trọn vẹn chẳng hai. Riêng như kinh Pháp Hoa ba thừa đều khác. Nay văn luận này chỉ bày Biệt giáo, trong Biệt giáo trình bày Đại thừa tức hai mươi lăm phẩm, bao gồm Nhị thừa tức hai phẩm sau. Nhân duyên bày trung tà kiến bày tiểu. Nay lại dùng nên nói là chỉ. Nhưng nay ý tôi khác với người xưa. Người xưa tuy dùng hai mươi lăm phẩm riêng thuộc Đại thừa mà chẳng biết có gồm chung và riêng, đem phẩm nhân duyên riêng đối Trung thừa mà chẳng biết luận nhân duyên làm tông. Phải biết trở đi là kế kết đế duyên chẳng khác với kệ. Đã phân biệt trở đi là kế y cứ các kinh nói tướng phát tâm. Trước nói bốn đế, bốn đế là lý. Tất cả phát tâm đều y theo lý, cho nên dẫn mười thứ để lý ở đầu. Tùy sự đã nhiều chẳng thể dẫn đủ. Lại đến mười thứ này để làm sự đoan. Trước nêu, kế giải thích. Trong phần nêu, phải biết kinh luận nhiều ít khác nhau, như Thập trụ Bà-sa, chỉ có bảy thứ phát tâm. Trước nói ba thứ: một là Chư Phật sai phát, hai là vì hộ pháp nên pháp, ba là vì đại bi nên phát. Lại có bốn thứ: một là vì Bồ-tát giáo cho nên phát, hai là thấy hạnh Bồ-tát nên phát, ba là thấy phát ra ánh sáng mà phát, bốn là thấy tướng Phật mà phát. Chư Phật dạy sai đồng với nghĩa nghe pháp của văn nầy. Hộ pháp nghĩa đồng với thấy pháp diệt của văn nầy. Nghĩa đồng văn thấy chịu khổ. Thấy hạnh hạnh và tướng đẹp phát ra ánh sáng tên đồng với văn nay. Văn khác cũng thiếu vô lượng thọ, quán báo ân… các kinh cũng có nhiều phát, so với nay cũng thiếu chẳng thể ghi đủ. Giới Ưu-bà-tắc có mười thứ phát: một là chẳng ham gần pháp ngoại đạo mà phát, hai là nội thiện nhân duyên (trong có nhân duyên lành), ba là thấy lỗi sanh tử, bốn là thấy nghe điều ác, năm là tự trách phiền não, sáu là thấy năm thần thông, bảy là muốn biết thế gian, tám là nghe việc mầu nhiệm của Phật, chín là thương xót, mười là yêu mến chúng sanh. Nhìn nay cũng thiếu so đây rất dễ thấy. Kinh Hoa Nghiêm quyển sáu nói Bồ-tát sơ trụ phát tâm khác nhau, hoặc thấy tướng tốt, hoặc thấy thần biến của Phật, hoặc nghe Phật nói pháp, hoặc nghe Phật dạy răn, hoặc thấy chúng sanh chịu khổ, hoặc nghe nói rộng pháp phát tâm Bồ-đề cầu trí nhất thiết. Sơ Trụ cùng với nay tuy có cao thấp khác nhau, nhưng sau phải do trước, lấy trước mà lệ sau. Cho nên nay mười ý này hơi giống với kia. Hỏi: Mười văn trong đây có thứ lớp gì? Đáp: Suy lý đủ cho nên kế được tướng tốt, được tướng tốt nên hay khởi thần biến, đã dùng thân luân hiện thần biến, kế dùng khẩu luân mà khai đạo. Thân miệng hai lợi ích, chỉ là chánh báo, chánh báo phải cần y báo là cõi nước. Đã có y chánh năng bị thân miệng, thì có đồ chúng sở hóa khác nhau, chúng ắt học giáo tu hành chánh pháp, chánh pháp sắp mất thì gặp thời tượng mạt. Pháp dần yếu, chúng sanh gây lỗi, gây lỗi là nhân sẽ chiêu cảm các khổ, thứ lớp tuy thế nhưng phát tâm là theo với mỗi thứ mà sinh bốn thứ giải thích.

 

 

PHẦN 4

Kế giải thích trước nói suy lý. Văn bốn nghĩa hai, ý ở một. Chín pháp sau đều lệ theo đó, mượn cảnh mà phát tâm thì tùy suy tùy phát. Nếu luận tu hành thì sơ môn khác nhau, cho nên Chương An nói Thanh

Văn lấy Khổ đế làm đầu, Duyên giác lấy Tập đế làm đầu, Bồ-tát lấy Đạo đế làm đầu. Đây là y cứ ba tạng ba thừa sanh diệt bốn đế. Thông Bồ-tát lấy giới nội diệt đế làm đầu. Biệt Bồ-tát lấy giới ngoại đạo đế làm đầu. Viên Bồ-tát lấy giới ngoại diệt đế làm đầu. Nay vì thành hiển là bất luận Nhị thừa, lại không phải là hạnh biệt. Toàn nương bốn đế mà làm thứ lớp. Bồ-tát khác nhau nên chia làm bốn khác đều là quán pháp tánh bốn giải khác nhau. Người đời đều chép: suy lý pháp tánh chẳng hề phân biệt. Lý Chân Ngụy phải quấy ở đây ba tạng cũng chép: pháp tánh tự trời như thế, đâu khác với biệt. Cho nên phải phân ra quyền thật pháp tánh. Ba tạng đã chép: Tập chẳng thể nhiễm, cho đến diệt chẳng thể tịnh. Cho nên ngoài bốn đế lập riêng pháp tánh. Phải biết khổ tập chỉ có thể che đậy mà không thể não nhiễm đạo diệt năng hiển mà lý vốn tịnh. Pháp tánh như mặt trăng, khổ tập như mây, đạo như dứt trừ, diệt như dứt thôi. Cho nên dẫn so sánh rằng: diệt còn chẳng phải lý, Bồđề phiền não lại trái nhau nên gọi là sanh diệt. Suy vô sanh, là chẳng khác pháp tánh, tức chẳng có khác. Băng nước mà dụ bỗng giống ở Viên. Nhưng chỉ dùng sáu đường, nhân quả dụ cho băng, chân đế pháp tánh dụ cho nước là khác. Tức tên tuy bằng nhau mà chẳng thấy tâm tánh ba ngàn thế gian lý ba đế. Nêu dẫn kinh đồng khác y theo nói sẽ biết. Suy vô lượng là lý pháp tánh ở hai bên, hai giáo trước còn mất chẳng có. Phật mười dụ phú hiển tự đồng, nhìn ba tạng ấy lý thể rất khác. Suy vô tác, là thực thành pháp còn thế, Thông giáo khổ tập còn thế. Tương tức tự đồng, năng tức sở tức rất khác đế cảnh, nếu chẳng phân biệt thì y theo đâu mà phát, rộng phân biệt dị đồng mới không ngoài, phát tâm vắng lặng, muôn hạnh uổng bày. Nếu suy trở đi là lại bày công năng. Cho nên ở suy lý, v.v… là từ đây cho đến chịu khổ gây lỗi mỗi thứ đều phải phân biệt như nay. Chẳng muốn văn nêu trong đây chỉ rõ tướng trạng ở dưới chỉ nói trên cầu dưới hóa, nói theo suy lý thì ý rất dễ hiểu. Hỏi: Trong suy lý này có gì khác bốn đế? Đáp: Trước nói bốn đế là y theo lời chung, nay nói suy lý là riêng y cứ pháp tánh bốn thứ người tu suy hai pháp tánh. Tỳ-thủ-yết-ma là Đại luận quyển năm giải thích tướng tốt Phật nói ở hai chân cơ, lòng bàn chân có bánh xe ngàn căm, ba sự đầy đủ, tự nhiên thành tựu không đợi thợ làm. Thợ ở đời là Tỳ-thủ-yết-ma chẳng thể làm được. Hỏi: Vì sao không làm được? Đáp: thợ trời là trí chẳng ẩn mất, luân tướng là do báo nghiệp lành mà được, thợ trời do báo mà được. Luân tướng là trí thiện hành. Thợ trời chỉ một đời, luân tướng thì vô lượng kiếp. Cho nên chẳng thể dùng thợ trời mà làm luân tướng. Nay văn lộ đó, ba mươi hai tướng thợ trời chẳng làm được, như kinh A-hàm nói Phật lên cõi trời Đao Lợi dùng năng lực thần túc mà chế, các đệ tử chẳng biết chỗ. Hai vua nhớ Phật, do đó bịnh nặng. Đại thần bạch vua tạo tượng cúng dường. Vua Ưu-điền lấy gỗ chiên đàn thơm mà làm. Vua Ba-tư-nặc dùng vàng ròng mà đúc, tượng đều cao năm thy cứ (x0.=2m). Trước mời thợ khéo hứa trọng thưởng nhưng không làm được. Tỳ-thủ-yết-ma hóa thành người đến tạo tượng cho vua. Tiếng búa đẽo gỗ vang lên đến cõi trời Đao-lợi, người nghe đều giải thoát. Y theo vào đây hai vua tuy cảm được thợ trời nhưng chỉ làm tượng giống như Phật, túc luận thấp nhất còn chẳng thể làm, huống chi làm các tướng khác. Hơn vua Chuyển luân là trong Thụy ứng chép: Tiên A-tư-đà chắp tay tâu rằng: Đại vương nên biết Thái tử Tất-đạt-đa chắc chắn thành Phật, chẳng ở nhà mà làm vua Chuyển luân, tướng rất rõ ràng. Do đó Luân vương đủ mà chẳng sanh, Bạt-âu-cơ thì chẳng đủ. Cho nên biết tướng pháp phương Tây xuất xứ từ Đại quyền tướng tốt trang nghiêm thân, nên nói triền lạc nguyện ta thành Phật, là Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành. Ta độ chúng sanh, là chúng sanh vô biên thệ nguyện độ vì độ sanh nên phải tu tập pháp môn, vì thành Phật đạo phải dứt phiền não. Cho nên trong văn chỉ nêu hai hoằng thệ để thu nhiếp hai nguyện kia. Dưới là lệ theo đó, lại bốn hoằng thệ đắp đổi nhau mà thành. Vì độ chúng sanh nên phải có ba hoằng thệ, vì dứt hoặc nên phải có ba thứ kia. Hai hoằng thệ kia theo nói rất dễ hiểu cho nên biết nêu hai mà thu nhiếp hai thệ kia. Thấy chung tướng Phật, chỉ là thấy ba tạng tướng tốt không thật có. Như lai là sở nghiêm, tướng tốt là năng nghiêm. Sở nghiêm đã không, đâu có năng nghiêm. Năng sở là cảnh biết thuộc người tu. Nói không, là tướng tức phi tướng, phi là vô tướng. Đời lạm dụng nên phải cẩn thận. Triệu chép: các tướng đầy mắt mà chẳng phải hình, các tiếng đầy tai mà chẳng phải tiếng, ứng hóa chẳng phải chân thật, cũng chẳng phải người nói pháp và quán kinh v.v… cũng thuộc về Phật. Tướng tốt thật là vì được pháp tánh thân gương sáng cho nên không tượng nào chẳng hiện. Mỗi tướng tốt phàm thánh chẳng được bên ấy, hai giáo trước là phàm thánh, và đương giáo là Địa tiền đều chẳng ở bên tướng của báo thân. Như Tây Vực Ký chép: xưa có Bà-la-môn dùng một gậy trúc dài một thy cứ sáu muốn đo thân Phật. Vừa đo thân Phật thì trên gậy cũng có Phật nhiều như số lượng gậy lượng đã chẳng chống đất, mà đi thì gậy mọc thành rừng. Sau ở đó mà lập tinh xá gọi là rừng gậy. Phạm Thiên chẳng thấy đảnh đâu, là Phạm ở cõi Sắc, từ cõi trời ấy đến cũng chưa hề thấy tướng đảnh đầu Thế tôn. Như Bồ-tát Ứng trì muốn đo thân Phật. Phật thành đạo rồi đi khắp nước Ba-la-nại, cách rất xa về phương Đông có Phật hiệu Tư Duy Hoa, thế giới tên là Hoài Điều, có Bồ-tát tên Ứng Trì đến lễ dưới chân Phật và đi nhiễu ngàn vòng xong, suy nghĩ muốn đo thân Phật, bèn tự biến thân cao ba trăm ba mươi muôn dặm thì thấy thân Phật cao năm trăm bốn mươi ba muôn triệu cai ức dặm, nhờ thần lực Phật. Ứng Trì lên phương trên cao đến một trăm ức Hằng sa, có thế giới tên là Liên Hoa Trang Nghiêm, Phật hiệu là Liên Hoa Thượng, đến thế giới ấy vẫn không thấy được đảnh đầu của Thế tôn không thấy thân Phật xa gần là bao nhiêu. Bèn đến hỏi Phật ấy. Phật ấy chép: cách Hằng sa kiếp cũng chẳng thấy được đỉnh đầu Thế tôn, trí tuệ ánh sáng lời nói đều như thế, xuất xứ từ kinh Kim cương Mật Tích, đây còn chẳng thấy, huống chi Phạm Thiên, Mục-liên chẳng biết mức dừng của tiếng ấy: là Phật trụ tại Linh thứu, Mục-liên tự nghĩ muốn biết tiếng Phật vang xa đến đâu, bèn đứng dậy lên đỉnh núi Tu-di thì nghe tiếng Như lai nói như ở trước mắt. Bèn dùng thần lực đến đỉnh núi Thiết vi cách Đại thiên mà nghe vẫn chẳng khác. Phật nghĩ Mục-liên muốn thử âm thanh thanh tịnh của ta, nay ta muốn hiện. Lúc đó Mục-liên nương thần lực Phật đi xa đến cõi nước phương Tây cách chín mươi chín Hằng sa cõi Phật. Cõi đó tên là Minh phan, Phật hiệu là Quang Minh Vương, đến cõi ấy thì vẫn nghe tiếng Phật như ở trước mặt. Phật ấy thân cao bốn mươi dặm, thân Bồ-tát cao hai mươi dặm. Bát ăn của Bồ-tát cao một dặm. Mục-liên đi trên miệng bát ấy, Bồ-tát ấy bạch Phật rằng: đây là con sâu gì mà mặc áo

Sa-môn đi trên miệng bát của con như thế? Phật bảo chớ xem thường bậc hiền này, bậc hiền này tên là Đại Mục-liên là đệ tử thần thông bậc nhất của Thích Tôn. Phật ấy bảo Mục-liên rằng: Bồ-tát và Thanh văn cõi này thấy thân ông nhỏ mà sanh tâm khinh mạn, bèn nương năng lực Thích Tôn mà hiện thần lực, ở dưới chân Phật ấy đi nhiễu bảy vòng rồi thôi. Nay con kết già ngồi đấy mà đất chẳng nhận. Phật nói tùy ý, Mụcliên liền bay lên hư không cao trăm ức nhân, hóa ra giường mà ngồi, các thứ châu báu anh lạc sáng rỡ tự trang nghiêm, đều đến ức trăm ngàn. Hiện xong liền đến trước Phật, các Bồ-tát đều ngạc nhiên thấy việc chưa từng có, bạch Phật rằng: Vì sao Mục-liên đến đây? Phật bảo muốn thử tiếng Phật gần xa, Phật bảo Mục-liên rằng: ông chẳng nên thử tiếng Phật gần xa vì sẽ rất sai, dù cho trải qua Hằng sa kiếp mà làm thì cũng chẳng thể biết được. Mục-liên liền lạy dưới chân Phật mà sám hối. Phật bảo Mục-liên: ông đến đây là nhờ thần lực của Đức Thích tôn, nếu muốn trở về thì tự thân ông dẫu một kiếp cũng không về đến được. Mục-liên nói nay con mê lầm chẳng biết chỗ đi. Đức Phật ấy chép: ở phương Đông. Mục-liên khoanh tay trở về và nói kệ rằng: câui mong đấng Thiên Nhân tôn thương xót, xin hiện bày cõi nước sai con sắp trở về. Lúc ấy Thân tử ở Linh Thứu, nghe lời nói lấy làm lạ. A-nan hỏi Phật ai nói kệ như thế. Phật bảo: ấy là Mục-liên đang ở thế giới Quang Minh Phan, Phật bèn phát ra ánh sáng chiếu đến, nhờ ánh sáng ấy mà trở về và sám hối. Thân và tiếng của Phật đã như thế thì các tướng lệ theo mà biết. Đây trích từ Đại luận quyển mười một văn đồng với Kim cương Mật Tích, ngồi đài Liên hoa ở Sắc Cứu Cánh, v.v… đều là tướng này. Luận nói rằng trở đi là tám mươi hàng tụng văn Bát-nhã, vô hình là pháp tánh, trang nghiêm là phước trí, cảnh trí tương xứng ứng khắp pháp giới. Chỉ có đồng loại thấy không phải trang nghiêm. Nay từ giáo đạo bên tha thọ dụng cũng gọi là báo thân, tức là Bồ-tát Đăng Địa thấy được. Trong tướng pháp thân nói biết trí Như lai, thì trí xứng với pháp thân, cho nên gọi là đạt sâu, tức chỉ cho pháp thân là gốc các tướng, cho nên nói pháp thân có ba mươi hai tướng, như trong Hoa Nghiêm nói mỗi tướng tốt bằng với hư không, bốn giáo chủ này chưa khai thành khác, chỉ là một thân bốn thấy đều khác. Cho nên Đại luận quyển mười một dẫn kinh Mật Tích chép: tất cả trời người thấy sắc lượng Phật hoặc như vàng ròng bạc trắng và các báu, v.v… hoặc thấy trượng sáu hoặc thấy một dặm hoặc mười dặm, cho đến trăm ức vô lượng vô biên đầy khắp hư không, ấy gọi là thân mật của Như lai, cơ thấy khác nhau. Vì cảnh thề lớn nên nói nguyện bằng, v.v… mỗi văn đều chép: nếu thấy Như lai, thì đều dùng ba tạng Như lai mà làm cảnh gốc, đối với sắc tướng ở trên bốn thấy khác nhau. Thấy thần biến, là Sử ký nói thức dụng gọi là thần. Dịch nói lợi dụng ra vào gọi là Thần, cho nên biết Tục giáo lời xa mà ý gần cho nên dịch nói âm dương chẳng lường được gọi là thần. Tuy nói chẳng lường và thức dụng, v.v…, nhưng chỉ là thức thứ sáu, người ở trong dục thì âm dương không lường được. Biến cũng là âm dương thay đổi, nóng lạnh kịp đổi, như ý giải thích ở đây thì biến chẳng khác thần, còn chưa bằng trời huống chi là thánh ba tạng. Ba tạng thần biến y vào một tâm căn bản làm một đẳng. Như hóa chủ nói thì hóa sự liền nói, hóa chủ nín thì hóa sự nín, nói nín đã thế, thì các nghi khác cũng như thế. Cho nên không phải nhậm vận chân hóa. Nếu phát ra một luồng ánh sáng, thường ánh sáng một tầm thì chẳng nói là phát ra. Ánh sáng ngoài một tầm (mười trượng?) thì nói là thần biến. Bắt đầu từ A-tỳ cho đến Ni-tra mặt trăng mặt trời là ánh sáng hiều lớp. Nếu Phật phát ra ánh sáng thì khiến cho biến mất chẳng hiện. Kinh Báo Ân nói ánh sáng của Phật như ánh sáng mặt trời, chẳng nói chẳng hiện. Thế gian không có vật để dụ cho ánh sáng của Phật. Ở đây chỉ dụ một phần, cho nên kinh ấy chép: Đức Thế tôn phát ra ánh sáng như ánh mặt trời, rực rỡ che lấp hết các sao, mắt thấy sáng lòa mà hết hồn, nếu Phật phát ra ánh sáng khiến cho tất cả ánh sáng khác không hiện ra (thì không thấy các ánh sáng khác). Đại Luận chép: Muốn so sánh mà biết thì ánh sáng của Cadiếp so với vàng diêm phù giống như các vết đen trên vỏ ốc, còn ánh sáng thân của Ca-diếp so với Tứ thiên vương lần lượt đến các trời Phạm Thiên thì cũng giống như vết đen, nên nói biến mất chẳng hiện. Đại Luận hỏi vì sao Như lai thường phát ra ánh sáng một trượng? Đáp: Căn chẳng chịu nổi, nếu nhiều ánh sáng quả thì hư mắt. Lại hỏi: nếu phát ra ánh sáng có ích, thì sao chẳng phát ra ánh sáng mà nói giới, thiền v.v…? Đáp: Chúng sanh được lợi ích khác nhau, như thành có nhiều cửa vào cửa nào cũng được. Thắng ứng thần biến: trong đây y theo lý cho nên khác ba tạng y thiền căn bản. Không có hai tướng nên khác với ba tạng, tâm là một, đều thấy Phật riêng ở trước, khác nhau đều thấy là tượng Tỳ-kheo già. Kinh Tịnh Danh chép: thấy Thế tôn ở trước mắt như khi Niết-bàn thì thấy Như lai chỉ nhận một mình mình cúng dường. Bát-nhã thường nói ánh sáng. Tịnh Danh nói như núi Tu-di hiện ra trên biển cả, Quán Đảnh thì nói cao vòi vọi (nguy nga đồ sộ) đều là thắng ứng thần biến, báo Phật thần biến. Nói y Như lai tạng, tạng là lý tánh chẳng thể hiện biến, phải đợi Đặng Địa duyên tu đã mãn, chân tu phát rồi thì mới hiện biến được. Chỉ khác căn bản và lý Vô sanh. Tam-muội chánh thọ tức chỉ cho Sơ địa, làm Phật sự ở trăm cõi trong mười phương. Phật pháp thần biến, là pháp Phật Như lai cùng sự thần biến chẳng hai chẳng khác, cho nên nói tương tác. Vô ký hóa hóa v.v… là Đại luận quyển tám hỏi: Đức Thích-ca hóa thành vô lượng ngàn ức các Phật, vì sao nói pháp cùng một lúc được? Như trong Tỳ-đàm nói cùng một lúc không có hai tâm, hóa chủ hóa sự nói nín khác nhau, vì sao cùng lúc mà nói sáu độ? Đáp: Như ở đây nói, là sự biến hóa của ngoại đạo, Thanh văn mà thôi. Còn Như lai biến hóa là năng lực vô lượng Tam-muội không thể nghĩ bàn, cho nên vô lượng trăm ngàn một lúc cùng nói nín. Lại Thanh văn hóa ra người chứ chẳng thể hóa ra làm. Cho nên Thanh văn diệt rồi thì chẳng để lại hóa sự còn Như lai diệt rồi cơ thể để lại hóa sự như chư Phật chẳng khác, cho nên nói hóa lại làm hóa, quyển một văn đồng. Lại thần biến thì không phải chỉ có thân mà tất cả nói năng ý khéo léo đều gọi là thần biến. Cho nên kinh Đại thần biến nói Phật hiện mười tám biến rồi lúc đó có thương chủ Thiên tử bạch Phật rằng: lại có thần biến nào hơn đây chăng? Phật bảo Văn-thù nói rộng biến hóa đủ như trong phẩm bất tư nghì của kinh Tịnh Danh. Văn-thù bạch Phật: Như thế mà (dẹp bỏ) ác ma, cũng khiến cho Bồ-đề ở lâu trên đời. Như thế chưa phải là cao quý. Nếu không tên, không tướng, không tiếng, không chữ, như thế trải qua mười tám giới đều nói như thế, không ba thoát nói ba thoát cho đến sáu độ đều chẳng thật có. Tất cả chúng sanh nói không chúng sanh. Cõi Phật, thân Phật cúng nói như thế. Đó gọi là thần biến. Thương chủ Thiên Tử chép: Nếu thế thì tất cả các pháp đều gọi là thần biến. Thân tử hỏi Thiên Tử rằng: ông nghe thần biến này có sợ hãi không? Thiên tử đáp: Ta tức là thần biến thì còn sợ gì. Văn-thù chép: tất cả thiện ác, động và bất động đều là tướng thần biến. Bất động là pháp tánh, động là sự thần biến. Mỗi văn sau đều phải kết rằng: trên cầu dưới hóa, văn không có là lược. Cho nên biết Phật hiện và Văn-thù nói trước cũng thuộc về thần biến thông biệt. Làm nghĩa bốn hoằng thệ y theo nên biết. Trong nghe pháp có hai: một là chánh nghe pháp, hai là dùng kệ mà kết. Một văn nói hoặc từ Phật, v.v… là nói nghe pháp từ Phật chỉ khi Ngài còn tại thế, hoặc các tri thức thì chung cả hiện tại vị lai. Kinh quyển diệt rồi, nghe sanh diệt trở đi là pháp bốn giáo. Mỗi giáo đều sanh ra bốn giải khác nhau. Chỗ nghe pháp nầy chẳng ngoài bốn đế. Trước nghe sanh diệt trong sanh bốn giải. Sơ sanh sanh diệt là thế và xuất thế chỉ là bốn đế đời đời chẳng thôi nên gọi là mới mới, bốn tướng sở tướng nên gọi là dời đổi, tức là khổ tập. Giới tuệ lược nêu đạo đế, giải thoát lược nêu diệt đế, tức là hai thứ giải thoát hữu vi, vô vi. Tịch tịnh tức là lý diệt được chứng. Được Phật trên cầu nói đạo dưới hóa độ, trong sanh giải vô sanh nói là vô thích. Đây là dẫn Đại kinh quyển hai mươi bảy. Trong pháp tánh không vì sao nói có mũi nhọn khổ tập mà nói khổ dục mà tu đạo diệt ư? Bốn thứ đều vô chủ nên nói là ai. Vô chủ nên không, nên nói là thanh tịnh. Năng tức là đạo diệt, sở tức là khổ tập. Năng sở chẳng hai nên nói tịch nhiên sanh, vô lượng giải, là không phải ở hai bên, giáo đạo chỉ trung. Phiền hoặc chẳng nhiễm nên nói riêng nhổ. Biên chẳng phải tức trung, trung do biên biểu thị. Cho nên ý dụ dưới như hoa Trung đạo, lìa nước hai bên, sanh ra trăng trí triền ở trong khoảng hư không pháp tánh, trong sanh viên giải biến chẳng phải song chiếu, là tuy ba tương tức trung tánh song phi, ba-một tức nhau, bằng với pháp giới, tên khác mà nghĩa đồng. Thường lạc là lược nêu hai thứ trong bốn đức. Đủ tất cả pháp nên nói đầy đủ. Nếu cứ dựa vào ý này thì thấy tướng thần biến, mỗi tướng đều phải sanh bốn giải. Chỉ ở Thanh giáo cõi này phải từ nghe làm tiện lợi, cho nên ở đây nói rõ mười sáu, huống chi là nghe chung cạn sâu, thấy đều chẳng thế. Chấp đá, v.v… là đá độc và thuốc báu tánh vốn chẳng hai tùy người cảm được, đều thấy khác nhau. Các pháp cũng như thế, vốn là pháp giới. Người ba giáo trước gọi là khổ tập, viên đốn trí chiếu nghĩa nó như chấp, tức là pháp giới như thành báu, v.v…, về thuốc độc, đủ như Thích Ma Nam Duyên trong Đại kinh. Kế nghe vô sanh sanh bốn giải, tức nghe Vô sanh sanh sanh diệt. Bồ-tát đồng phàm nên chưa vô sanh, sanh Vô sanh là ba thừa cùng học đều dứt thông hoặc nên đều Vô sanh. Sanh vô lượng là nếu dứt kiến tư nói là vô sanh. Là Nhị thừa có phần, đây là dứt vô minh mới gọi vô sanh, nên nói phi phần. Bồ-tát dứt hoặc thứ lớp trước sau, cho nên hai tử thứ lớp vô sanh. Sanh vô tác, là nghe môn chữ A liền hiểu tất cả, tức là viên giải. Kế nghe vô lượng sanh bốn giải, là đều lấy phục vi và xuất giả vị, gọi là vô lượng. Dứt hoặc chứng chân chẳng phải vô lượng, nên trước sanh sanh diệt, là Nhị thừa phương tiện Bồ-tát ba kỳ, gọi chung là Vô lượng, nên nêu phàm vị mười sáu đế quán. Trong sanh vô lượng chia làm hai câu, câu đầu ở hạnh, câu kế ở hướng. Trong mỗi câu đều nói “cũng” là câu đầu giới nói chưa hết, lại phục nấp giới, ngoại nên nói là cũng. Câu dưới trần sa chưa hết, lại phục (nấp) vô minh, lại nói là cũng cho nên Tứ Niệm Xứ chép: Trụ dứt kiến tư, lại dứt giới ngoại thượng phẩm trần sa. Mười hạnh trung phẩm mười hướng hạ phẩm, nay nói vô lượng, chẳng lấy mười Trụ. Trong sanh vô tác nói phục đoan, là vào trụ chánh đoạn, không phải nghĩa vô lượng. Bốn thứ đều được gọi là vô lượng, như các sông y theo biển đều được gọi là nước ấy vô lượng, mà lượng nước ấy đều có nhiều ít. Trong vô tác sanh bốn giải, câu đầu là nêu chung trước sanh sanh diệt, là Bồ-tát chẳng dứt chẳng chứng vô tác. Trong sanh vô sanh là ba thừa đồng chứng lý Vô sanh. Trong sanh vô lượng, thì địa tiền là quyền, đăng địa là thật. Dứt rồi chẳng làm gọi là Vô tác. Trong sanh vô tác, thì Địa tiền hai đế tức là đăng địa Trung đạo. Cho nên nói quyền thật tức nhau, một nói trở đi là luận kệ mà kết. Đây là nêu chung. Kế nếu nói trở đi là trong mỗi giáo đều được bốn câu, nghĩa ở một giáo mà sanh bốn giải. Trước tuy đầu sanh chưa y cứ pháp mà nói. Cho nên y cứ nói kệ lại biện tướng trạng. Cho nên mượn lời tức nhau của luận văn mà kết bốn giải. Đây là sau này làm nghe một câu sanh ra các thứ pháp giải mà thử. Trước kết trong sanh diệt, sao gọi phương chẳng phải tức không, như người rơi xuống vực sâu tuy chưa đến đất cũng được gọi là chết. Phương là cũng sẽ, thường tu vô thường tuy chưa tức không, nhưng phải là nghĩa không hiện ở trên cảnh, cảnh tức phải không nên nói tức không nhờ duyên gia, nhưng trong bốn giáo đều nhờ duyên lập quyền hai giả, tướng trạng đều khác. Trong không cũng thế, nay đây hư giả nhờ các duyên thành chẳng phải từ không mà ra, bày quyền để lợi vật. Trong lìa đoạn thường Nhị thừa cũng được. Quả Phật là hơn, các đệ tử ba thừa được gọi là Trung. Rộng như nói trong khai hợp thứ ba. Nên hiểu như thế. Dưới là muốn nói giáo sau. Trước là bác bỏ, kế là kết. Như trong kinh A-hàm Vô Tránh Phật bảo Tỳ-kheo chớ tìm dục lạc và đó là pháp thấp kém nhất, cũng chớ khổ hạnh thái quá. Lìa hai bên này thì có Trung đạo. Lại khi Phật ở Xá-vệ, Xá-lợiphất nói rằng con giống như đất, các thứ khạc nhổ ỉa đái trên đó đều không ngại, cho đến như nước, như lửa, như gió. Phật nói: Kinh này tên là Sư Tử Hống. A-nan nói điều thân tử nói là diệu trong diệu. Lại khi Phật ngự tại nhà Lộc Tử Mẫu, Thượng đường tuy không, nhưng có chẳng không chỉ các chúng Tỳ-kheo thường nghĩ một thứ vô sự, nghĩa là không có nhân tưởng nhưng có chẳng không là một vô sự. Trong Bà-sa chỗ nào cũng nói pháp tánh thật tướng và pháp thân bằng nhau, tên bằng nhau như thế, đồng với Đại thừa, cho nên phải dùng nghĩa mà xếp vào loại. Do đó bốn giáo đều không giả trung mà tùy giáo môn nói có khác. Cho nên ở đây chê rằng: ngay không đẳng v.v… còn chẳng thành giải thích tức không, chẳng được trở đi là chê chẳng có pháp tánh diệu quả diệu trung. Từ thiết tác trở đi là cho có thường giáo hai tên giả trung, chưa thấy lý riêng khác, chỉ chỉ cho trung. Trong có tám địa xuất giả hóa vật, một lúc đặt bày chẳng phải nhậm vận hóa, tuy khác nhân người đặt tên Trung đạo, chỉ lìa đoạn thường, cuối cùng trở về lý không. Ba phen này trở đi là kết chê kết trong kết vô lượng. Trước kết, là thật có ba đế, chẳng đồng với tạng thông, cho nên chẳng bác bỏ chỉ chê thứ lớp chưa được gọi Viên. Cũng thuận theo luận văn ba lời tức nhau. Tuy ba đế đều không, đều giả, đều trung thứ lớp rõ ràng. Vô chủ nên nói không là không trong chân đế, đồng với vô chủ không trong ba tạng trước, giả tức không, vì tức không tâm mà sanh ra giả, đối bịnh giả khác giả bày thuốc pháp, Cho nên thuốc bịnh đều tức không. Đây là không trong tục đế. Trung tức không, là trung lý vô biên tức rốt ráo không, đây là không của Trung đạo. Cũng được gọi là một không thì tất cả không. Tuy là ba đế đều được gọi là không mà đều thứ lớp, nên thuộc về biệt. Ba thứ đều trung, giống như một trung thì tất cả đều trung, mà thứ lớp rõ ràng. Quyền đặt tên trung, Cho nên ba đế cũng thành thứ lớp. Lìa đoạn thường nên gọi là Trung chân, vị ở Mười Trụ, với cơ không khác, gọi là Trung cơ, vị ở hạnh tướng. Pháp tánh thật tế gọi là trung thật, vị ở Thập địa. Ba thời đều khác nên cũng khác. Tuy là ba đế đều không giả trung chỉ là tướng thứ lớp ba đế. Kế kết thành viên, là nói bờ đạo nầy đã không thể nghĩ bàn. Lại tức thật tướng nên chẳng có đồng khác, ba thứ đều giả, cũng nói ba đế đồng có tên gọi. Đây ba tức một chỉ có tên ba, hai tên giống đồng mà thể nó rất khác. Phải biết trở đi là kết ý. Pháp tức là cảnh, cảnh là bốn đế. Bốn cảnh mà khởi giải, nương giải mà khởi nguyện. Nguyện nên gọi là phát tâm Bồ-đề. Người đời phần nhiều dùng ngồi thiền an tâm gọi là phát tâm. Người này chưa biết cảnh sở duyên, không quả y cứ hẹn, toàn tìm vô thượng, chẳng biết đại bi không hề có hạ hóa. Cho nên phát tâm từ đại bi mà khởi, nói các thứ chẳng qua là bốn nhân bốn là mười sáu giải. Tịnh độ đồ chúng ấy là mười khoa nói phát rồi giải thích bốn thứ, còn sáu thứ kia lược, chỉ so sánh mà thôi. Nay lại so sánh trước mà bày tướng trạng. Nói tịnh độ, là hoặc từ kinh điển nghe nói các cõi, hoặc ánh sáng hay tiếng Phật sai thấy các độ, hoặc có cơ duyên thấy khác độ này, hoặc được bậc Thánh ngầm che chở mắt thấy các cõi, chẳng thể nói đủ lược thuật giềng mối. Nếu một chất một thấy khác chất khác thấy, đủ như suy lý thấy tướng, v.v… khác chất một thấy một chất khác thấy, đủ như nghe pháp bốn nghĩa, cùng thông đều thành một ý. Như Pháp Hoa hội đầu và trong Tịnh Danh Bồtát Hương Tích đến đây nghe pháp. Đây là thấy đồng cư uế. Trong hội này đại chúng thấy nước Diệu Hỷ và trong pháp ba biến ruộng đất, đây là thấy đồng cư tịnh. Thanh văn Bồ-tát cùng là Tăng, đây là thấy cõi phương tiện. Như trong Tịnh Danh ngay chân ấn đất mà đều tự thấy ngồi hoa sen báu. Và trong Pháp Hoa thấy cõi Ta-bà này toàn là các Bồ-tát. Đây là thấy cõi thật báo. Như trong kinh Tịnh Danh Đại sĩ nhà trống và trong Pháp Hoa ở Phương dưới có tháp báu trong hư không, đây là thấy thường Tịch quang cho đến tượng pháp quyết nghi, đất rừng Tala, bốn cái thấy khác nhau. Cũng như Huyền văn giải thích cõi nước diệu tích có bốn khác, tức là tướng ấy. Thấy tướng các cõi trên cầu dưới hóa. Cõi nước là sở y, chúng sanh và Phật là năng y. chúng sanh và Phật đối nhau cho nên cũng có bốn hoằng thệ. Dưới thấy chúng v.v… là năm khoa khác nhau. Cũng phải nói rõ bốn câu như chất v.v…. Nói thấy chúng là như các kinh trước nêu chúng đồng nghe tùy giáo nhiều ít lớn nhỏ, hơn kém chính là tướng ấy, năng lực mình năng lực người nghe nói ngầm che chở, lệ trước khá biết. Nếu một chất khác thấy một chất một thấy, là thấy đại chúng tụ tán sanh diệt, hoặc thấy đại chúng tụ tán như huyễn, hoặc thấy đại chúng nối tiếp Phật pháp, hoặc thấy đại chúng như Thường Bất Khinh cũng như huyền văn nói quyến thuộc về diệu trung. Kế thấy tu hành cũng bốn thấy, là tu hạnh sáu độ, bốn Tam-muội v.v… đều dùng tâm hẹn cảnh trí mà khen, bốn tướng tự khác. Nếu một chất khác thấy v.v… là tự thấy bỏ thân cắt mình vì chúng sanh, vì đạo phục, hoặc tu hành tạng. Hoặc thấy chỗ bỏ các thông như huyễn hóa, v.v…, vì thường trụ cho nên Biệt, vì pháp giới cho nên Viên. Cũng như huyền văn làm Diệu Trung mà nói. Nếu y theo các bộ kinh luận khác nhau, ba kỳ sáu đồ là tạng. Như kinh Thỉnh Quan Âm, Văn-thù vấn đều có ba thừa cộng hạnh là thông, như Hoa Nghiêm nói Bồ-tát phát tâm chẳng vì một người cho đến Hằng sa, vì độ tất cả mà phát tâm tu hành là Biệt. Đạo tràng Phổ Hiền và hạnh Phổ Hiền trong Hoa Nghiêm là Viên. Y cứ năm vị trải qua nhiều ít khác nhau. Y cứ theo nói rất dễ hiểu. Trên hai dưới ba mà rất dễ thấy. Đồ chúng tu hành thuộc về đạo đế. Đạo là nghĩa trên cầu gồm dưới hóa. Kế trong pháp diệt cũng có bốn là Thập Trụ Bà-sa nói Bồ-tát Ma-ha-tát khi thấy pháp diệt thì khởi tâm hộ pháp, theo lệ phải có bốn thứ Bồ-tát hộ pháp khác nhau. Nếu lập tượng chánh cho đến mạt pháp lưu thông mà hộ trì là tạng thông. Nếu thấy pháp tạng thì ở mười phương hết đời vị lai vì hộ pháp cho nên Biệt. Nếu thấy pháp diệt liền biết pháp giới thường trụ chẳng diệt, hết đời vị lai hộ pháp thường trụ là viên. Một chất khác thấy v.v… so nói rất dễ hiểu. Pháp diệt hộ pháp nghĩa gồm trên cầu dưới hóa v.v… Trong thấy chịu khổ sanh ra bốn giải, là nếu thấy ba cõi sáu đường là luân hồi sanh diệt. Nếu thấy luân hồi không có tướng bức não, là Thông. Mười giới tướng khổ mỗi tướng có vô lượng, là Biệt. Trăm giới ngàn giới khổ ở một niệm, là viên. Nếu một chất khác thấy, v.v…, là như thấy sai sai đánh đạp trói cột cũng sanh bốn giải, phát tâm khác nhau. Cũng như bốn đế bốn khổ khác nhau. Kế trong thấy khởi lỗi mà sanh bốn giải, là trong bốn thứ bốn đế, bốn tập khác nhau, tức là khởi lỗi. Một chất khác thấy so nói rất dễ hiểu. Chịu khổ gây lỗi thuộc nghĩa dưới hóa mà gồm trên cầu. Cũng đủ bốn nghĩa. Người tu sơ tâm rất cần phải có. Nếu phát tâm mà chẳng chân thật là do ở chánh cảnh công đức cũng nhiều. Vì sao? Vì phát tâm Bồ-đề là việc ít có. Như trong Thủ-lăng-nghiêm chép: Phật bảo Kiên Ý rằng sau khi ta diệt độ năm trăm năm có nhiều Tỳ-kheo vì lợi dưỡng mà phát tâm xuất gia, với tâm đùa giỡn mà nghe Tam-muội là phát tâm Bồ-đề. Vì ta biết tâm ấy cũng làm duyên xa cho Bồ-đề huống chi là thanh tịnh phát tâm. Cho nên biết nếu không chánh cảnh dẫn không dối trá cũng chẳng thành giống. Kế dùng ba chỉ quán mà kết, là mười thứ phát tâm suy lý đứng ở hai đầu, cho nên y cứ suy lý, chín thứ kia thì lệ theo. Cho nên văn sau chép: Nếu thấy ý này lệ thấy tướng nghe pháp cho đến khởi lỗi, cho nên mỗi văn đều sanh mười sáu, mỗi thứ đều dùng ba chỉ quán tánh trở đi là chánh giải thích. Trước là giải thích đốn, lý pháp tánh không phải số lượng, nếu chấp nhất định ở ba quán bốn giáo xem là năng phát thì càng thêm mê mờ điên đảo. Từ nay nói trở đi là đến nội, hoặc nên làm sâu dần (tiệm sâu). Pháp trước nói, là nói một hai ba bốn, chỉ ba chỉ quán và bốn giáo thứ lớp càng chồng chất, cho đến bốn nầy là nói lý do của thứ lớp. Kế nói pháp tánh trở đi là nói về tướng bất đồng. Giới nội giới ngoại, hai lý quyền thật đều có hai căn tánh nên bốn thứ khác nhau. Kế từ nếu người giới nội độn trở đi là giải thích có bốn lý do, do mê giải (không hiểu và hiểu) nên có nặng nhẹ, khéo vụng. Chân và pháp tánh là tên khác mà nghĩa đồng. Giới nội lợi độn mê mờ Chân đế, giới ngoại lợi độn mê ở Trung đạo. Mê chân mê trung, sở mê sở giải tuy đồng pháp tánh mà năng mê, năng giải khéo vụng khác nhau, cho nên thành bốn thứ. Mê chân mê trung có hai khổ tập, giải chân giải trung có hai đạo diệt. lợi gọi là tức, độn gọi là lìa. Khéo vụng cũng như thế. Ly nghĩa là lìa pháp tánh có khổ tập riêng. Bốn nghĩa là tức pháp tánh, tức khổ tập. Sở giải là do năng giải vụng. Sở giải tức là do năng giải kheo.

Hỏi mê và giải chỉ phải nói là Tập và Đạo, sao lại nói khổ và diệt? Đáp: Vì nhân vời lấy quả theo nhau mà nói. Giới ngoại nhìn nội chân tuy khác, khéo vụng tức lìa tên ấy chẳng khác. Kế sở dĩ trở đi là nêu thí dụ, chung là giới nội giới ngoại làm thí dụ, dùng người đi đường làm cha con, giáo lý tức, lấy cha con làm người đi đường gọi là lìa. Vì sao thế? Vì thể của khổ tập vốn là pháp tánh cũng giống như cha con. Nếu bảo pháp tánh khác khổ tập thì gọi là người đi đường, cho nên nói khổ tập rất khác pháp tánh để dụ cho người của hai giáo Tạng và Biệt. Thể tánh tuy đồng nhưng việc rất khác tên, chẳng phải cốt nhục nhưng ở người khác mà ép tưởng là cha con thì nói khổ tập tức là pháp tánh, cho nên dụ cho người hai giáo Thông và Viên. Từ thô tế trở đi là dẫn lệ họp thí. Nếu dựa vào văn thí dụ thì trong ngoài phải đều có thô tế và khó dễ. Nay vì sanh sau chẳng có tướng nhất định văn tướng mà đối nói dễ. Nay vì sanh sau chẳng có định tướng nhất, đối nói dễ, chỉ vì giới nội là thô, giới ngoại là tề, nhánh gốc khó dễ v.v… y theo đây sẽ biết. Như thế thô tế đều có các dụ khéo vụng cha con. Nên nói cũng giống như thế. Từ hoặc nói giới nội trở đi là đến chỗ sâu, trong đây hai cặp là giải thích tướng tiệm. Cho nên dưới kết rằng: Nếu làm cạn sâu nặng nhẹ thì là tướng tiệm thứ. Có chỗ nói: Vì không xen lẫn nhau nên chẳng gọi là bất định. Kế từ hoặc nói giới nội trở đi là sáu đối cùng giao nhau mà giải thích tướng bất định. Sau cùng khó dễ tuy không giao nhau, chỉ là văn lược nghĩa suy phải có. Nên nói hoặc giới nội sơ tâm năng phá cho nên dễ dứt, còn giới ngoại hậu tâm mới phá nên gọi là khó dứt. Các câu xen nhau chẳng thể ghi rõ, người đọc chớ coi thường. Từ như thế trở đi là kết thúc bất định trước gồm chỉ rộng. Từ nếu làm trở đi là tổng lược kết bày. Đều nói nếu làm, là ba thứ chỉ quán, tức là tướng riêng, chỉ nói các giáo tức là tướng chung, dùng riêng nói chung nên nói nếu làm. Cạn sâu nặng nhẹ là chỉ hai đối trước, nhất thật bốn đế chỉ cho pháp tánh trước. Lại cùng nặng nhẹ là chỉ cho sáu cặp trước. Kế đều Đại thừa trở đi là khuyên cố gắng. Người phát tâm vì cầu viên thừa. Viên thừa khác nhau, hạnh chia ra ba khác. Khen khuyên hạnh, là chẳng thể chẳng biết. Kế từ hơi thở trở đi là phân biệt, trước hỏi, là hỏi suy lý trước tập đã có bốn quả khổ sao chỉ có hai thứ phần đoạn và biến dịch. Nhân quả phải đồng vì sao bốn nhân chỉ chiêu cảm hai quả? Đáp: Trong ý, một là chánh đáp, hai là nêu ví dụ. Trong một chánh đáp lấy nghĩa mà nói sao quả chỉ có hai mà tập cũng phải hai. Nay nói bốn là y cứ phá mê sanh giải, hai tập đều có hai phá khéo vụng để thành bốn riêng. Hoặc này tùy người giải thích khác nhau, cho nên nói hoặc tùy ở giải. Nếu thuận theo sanh tử bốn tập chỉ chiêu cảm hai thứ khổ quả, cho nên nói giải tùy ở hoặc. Nay lấy giải hỏi mê nên nói bốn tập mà cảm hai quả, lấy thật mà nói giải thì đều có bốn, như bốn đế thì có bổn khổ, mê thì đều hai như hoặc chung riêng chỉ thành hai nhân, đâu cần chỉ y cứ nhân giải mà hỏi quả mê. Kế như trở đi là ví dụ đáp Như, hoặc giới nội tùy ở Tiểu thừa hai giải khác nhau nên gọi là kiến tư. Nếu các phàm phu thuận theo mê tình hai nhân giới nội, chỉ chiêu cảm một quả phần đoạn giới nội. Ví dụ này chưa thiết, tùy mê chỉ chiêu cảm một quả phần đoạn. Đây thì có thể được. Nếu lệ ở giải mà sanh hai tập thì ý ấy chưa bằng nhau. Trước đối với một tập mà sanh ra hai giải, nay đối với tập khai ra thành kiến tư. Lại có văn trước ở một khổ đế giải thích cũng phải hai. Trong đây dẫu chia làm hai thứ kiến tư, thì quả khổ chẳng thể chia làm hai thứ. Nếu thiết yếu mà nói, thì phá kiến hoặc nên lìa ác bốn thú phá tư hoặc nên lìa sanh ba cõi, đều lại từ giải để phân ra hai thứ khác nhau. Kế hỏi khổ tập có thể là nhân duyên, v.v… Hỏi: Trong luận kệ kết trước dùng luận câu đầu đối với bốn đế ba tạng, đều thuộc pháp nhân duyên sanh. Khổ tập là mê có thể cho là từ duyên, còn đạo diệt phá mê vì sao nói cũng từ nhân duyên sanh. Lý ý đáp là chỗ phá khổ tập thể là duyên sanh, nếu chẳng có khổ tập thì không có đạo diệt, tên từ pháp khác mà được nên cũng từ duyên. Do đó bốn thứ ba tạng đều sanh diệt, cho nên Đại kinh trở đi dẫn Đại làm ví dụ. Vô minh là Tập, Bồ-đề là Đạo. Do diệt tập nên mới có Đạo, là ý Biệt Viên. Đạo diệt Biệt viên còn từ duyên sanh, huống chi là ba tạng. Nêu sâu so sánh cạn để đáp câu hỏi trước. Kế hỏi: Trong văn hỏi đối với một pháp tánh làm sao chia làm hai lý quyền thật, lại phân ra tức lý mà làm bốn ư? Đáp ý: Khai quyền hiển thật chỉ một pháp tánh, vì thật bày quyền nên phân ra quyền thật. Đối với quyền thật lấy giải căn làm khác, cho nên sai quyền thật đều có lợi độn, kế là từ nếu thấy ý nàytrở đi là nêu để so sánh chín cái kia. Suy lý đã có ba kết chỉ quán và ba phen hỏi đáp phân biệt. Chín cái kia y theo lệ đều cũng phải thế.

Kế nói bốn hoằng thệ. Hoằng là rộng, thệ là y cứ. Thích danh nói thệ là chế, nay dùng bốn pháp mà chế sơ tâm sai trên cầu dưới hóa cho nên nói phát Tăng-na ở tâm đại bi thỉ chung để phó nạn. Tăng-na là tiếng Tây Trúc, xứ này dịch là Hoằng thệ, Khởi hạnh làm tròn nguyện, nên nói phó nạn. Trước chép: Trước suy lý đi đến bốn hoằng, là kết trước sanh sau, nghĩa đủ hiển kết ở trước, vì chưa hiểu trở đi là sanh sau. trước tuy y cứ đế nói rộng phát tâm, nhưng chưa hiểu chẳng hiểu bốn đế chỉ là cảnh bốn hoằng. Cho nên lại nói hoằng thệ. Lại trong bốn đế kế nói đồng khác. Bốn đế là cảnh, từ cảnh sanh giải, cho nên nói y cứ giải. Bốn hoằng y giải mà sanh nguyện, cho nên nói y cứ nguyện. Lại đế có nhân quả, cho nên chung ba đời, nguyện đều ở đó, cho nên thuộc về vị lai. Lại bốn đế y cứ lý lý chung ba đời, bốn hoằng là nguyện, nguyện vị lai thành, hoằng và đế đều phải trên cầu, có trên cầu mới có dưới hóa. Trong trên cầu vì có Phật đạo, mới có pháp môn, cho nên mỗi đều phải nói Phật. Lại phải y cứ chín đời mà nói. Cho nên trên ba đời đều có nhân quả, đều nói Phật. Lại bốn đế có khổ tập, khổ tập có sáu căn. Hoằng thệ y cứ tâm hẹn, tâm hẹn chỉ ở lý. Lại bốn đế chung cho ba nghiệp, ba nghiệp chung sáu căn. Nguyện không cần phải thân miệng, cho nên chỉ ở ý. Đây y cứ vào phần Đại nếu nói kỹ cũng nên đủ ba. Tâm duyên cảnh, miệng nói lời thệ, thân hiện tướng kính. Lại trong ba phen không phải không có nghĩa khác nhưng lặp đi lặp lại phải vậy thôi. Cho nên đều nói nhiều.

Hỏi: Nếu có khác đây y cứ đế khởi nguyện trước đã gồm đủ đâu cần nói lại? Đáp: Thệ gọi là Đại, Đế chung cho đại tiểu. Diệt khổ tự độ gọi là Tiểu. Bi cứu người khác gọi là gồm đại. Đế tên gọi nhiều có lạm nên nói bốn hoằng. Lại hoằng chung cả thiên viên, tức gọi là chỉ viên. Cho nên bốn hoằng sau lại nói sáu tức. Từ rộng đến hẹp mới hiển được. Cho nên văn dưới nói lần lượt sâu xa. Như thế trở xuống là kết ý. Hỏi: trước nói mười khoa, nay ở đây vì sao chỉ đối Đế mà phân biệt? Đáp: Bốn đế là chung mười khoa y cứ Biệt. Cho nên giải thích mười khoa thì Đế ở đầu, mười khoa chẳng lý sự đồng với ma nói. Cho nên chỉ y cứ nghĩa mà nói, gồm mười thứ kia. Trước trong giải thích sanh diệt bốn hoằng, trước nói thệ cảnh tức là bốn Đế tâm chẳng cô sanh bỏ cảnh tập đế. Trước y cứ Đế trung từ thô đến tế cho nên khổ ở trước. Nay trong bốn hoằng từ tế đến thô, cho nên tập ở trước. Đạo diệt cũng như thế. Lại bốn Đế trước y cứ nhân quả, tướng quả vì thô cho nên trước bày. Nay trong bốn hoằng y cứ ở ý địa, tập ở tại ý cho nên nói trước. Nói tâm chẳng cô sanh, là nói tâm nay khởi pháp sở sanh. Từ căn trần này trở xuống là bày. Chánh bày tâm này thành tướng sanh diệt, Căn là năng sanh thuộc về nhân, trần là sở duyên thuộc về duyên. Nhân duyên hòa hợp thành pháp sở sanh. Nhân duyên sanh ra đều là sanh diệt. Nói ba tướng, tức chẳng lấy trụ, y theo trước mà nói bốn tâm lưu động, cũng có thể nói bốn đường khởi diệt ẩn kín nên gọi là ngầm. Niệm niệm tiếu tục khởi nên nói là mới mới. Viêm thước trở xuống là nêu dụ. Viêm là thấy lóe lên thật nhanh. Thy cứ là sáng, niệm niệm nhanh chóng khởi trong nháy mắt, nên như điện xẹt, sáng lòe mà dụ. Cho nên biết niệm khởi nhanh ở đây. Thuyên là nhanh chóng, là dụ cho sát-na chẳng dừng. Kế sắc bào trở xuống là cảnh khổ đế. Đủ như trong Đại phẩm, Đại luận giải thích rộng. Bọt bèo là trong dụ Tiểu thừa. Diệm là trong dụ của Đại thừa. Đây là cộng bộ (bộ chung) cho nên gồm đủ. Mưa rơi xuống nước nổi bọt gọi là bào nước vỗ vào nước gọi là mạt. Mặt trời ở chỗ trống (sa mạc) thấy có hơi nóng. Thành là Càn thành, tục gọi là thần khí, là buổi sáng ở biển xa thấy như có lầu gác, người vật, mà thật ra không có. Cho nên trong mười dụ khen rằng: Thế pháp trống không như thành quỉ, phàm phu ngu si định đánh chiếm. Thuốc v.v… hòa hợp khiến thấy khác góc cũ nên gọi là huyễn. Đại luận chép: Trong pháp Thanh văn không có dụ thành này, chỉ có các dụ về vô thường. Trong đây tuy dùng cũng thuộc về sanh diệt, đến quyển năm lại nói khác. Một hộp mà khổ riêng, là trong hộp không có vui nên gọi khổ riêng. Đại Kinh quyển hai mươi bốn chép: Rắn độc bốn đại ở đầy trong hộp, người phải nuôi lớn chăm nom, nằm ngồi. Nếu làm cho một rắn giận dữ, thì ta phải theo pháp mà giết chết. Bốn đại thành thân giống như một cái hộp, một đại chẳng điều hòa thì khiến phạm tội trọng nên nói đô thị. Từ nhân khổ lại đến quả khổ nên gọi là riêng.

Bốn núi hợp lại trở xuống là cảnh Đạo đế. Đại Kinh quyển hai mươi tám chép: Phật hỏi Năc Vương (vua Ba-tư-nặc), có bốn núi lớn từ bốn phương đến muốn hại người dân, thì phải làm sao? Vua nói chỉ nên chuyên tâm giới, định, tuệ, Đạo phẩm chẳng ngoài ba pháp này. Nói núi đến, đây là dùng không phải dụ làm du, bốn núi là bốn đại, bốn phương là sanh, già, bịnh chết. Nếu muốn khỏi đây thì chỉ y theo Đạo phẩm. Phá dọc trở xuống là nói cảnh diệt đế, phá dọc điên đảo là diệt tập, cắt ngang biển khổ tức là diệt khổ. Hoặc diệt ắt trước thô sau tế nên nói là phá dọc. Khô mất rồi thì không còn trước sau, nên nói cắt ngang. Khổ phần nặng nhẹ cũng có thể nói dọc. Kiến- tư đều phá cũng có thể nói ngang. Nay từ nhiều phần cho nên lại nói. Đảo nghĩa là thường, v.v… bốn đảo (thường lạc ngã tịnh) khác nhau, trải giới thì có các phẩm cạn sâu, rộng lớn chỉ là phần đoạn mà thôi. Biển dụ cho sanh tử vô biên. Tục giáo chẳng biết tử phải có sanh. Cho nên Thích Danh chép: Thần hết gọi là tử (chết). Ở đây thuộc đoạn kiến của ngoại đạo. Hữu là ba cõi, Lưu là bốn dòng. Ở đây ba chỗ nhân quả chẳng mất nên gọi là Hữu, bốn pháp này nổi chìm chẳng dứt nên gọi là Lưu. Kiến lưu là kiến ba cõi, dục lưu là tất cả các hoặc cõi Dục, trừ kiến và si. Hữu lưu là tất cả các hoặc ở hai cõi trên (Sắc, Vô sắc) trừ kiến và si. Vô minh lưu là si của ba cõi. Kinh nói trở xuống là dẫn chứng. Đại Kinh quyển 1 giải thích Kỳ-dạ rằng: Phật bảo các Tỳ-kheo: Xưa, ta cùng các thầy ngu si không có trí tuệ, chẳng thể thấy bốn chân đế như thật, cho nên chết chìm lâu dài trong biển khổ lớn. Dưới Phật lại dùng kệ đáp Ca-diếp rằng: xưa ta và các thầy. Chẳng thấy bốn chân đế. Cho nên trôi giạt mãi, trong biển khổ sanh tử. Đây là chứng do thấy bốn đế sanh tử đã hết. Nhà lửa trở xuống là quở trách, chẳng thấy đế lý thì chỉ chìm trong khổ tập. Mê đắm kiến gọi là Hỷ, mê đắm ái gọi là Hý. Cho nên dưới là chánh phát thệ. Như Đức Thích-ca trở xuống là dẫn sự làm ví dụ. Đây tức là ví dụ của ba tạng về phát tâm; Canh là cày, tức đất này đã cày bừa từ trước. Dọcy Ứng nói: Thái tử Tất-đạt chán ngấy năm dục, dạo chơi bốn cửa thành. Thiên đế ở cửa Đông hóa thành người bịnh, ở cửa Nam hóa thành người già, ở cửa Tây hóa thành người chết, ở cửa Bắc hóa thành Sa-môn, Tất-đạt thấy rồi bèn hỏi Thiên đế. Thiên đế đều đáp theo ý. Thái tử chép: Như Sa-môn đây thì chỉ là vui. Nửa đêm, Thái tử bèn vượt thành đến ruộng ngồi nghỉ dưới cây, vua cha đuổi theo, thấy bèn đảnh lễ. Thái tử thưa rằng: Con cầu tự nhiên muốn dứt các khổ. Các thứ không thoát con muốn thoát ra, các thứ không hiểu con muốn hiểu rõ, các thứ không yên con muốn được yên, ai chưa được đạo con muốn cho được. Nguyện khi con được đạo thì chẳng quên lời thề này. Vua biết ý của Thái tử bèn trở về cung. Thái tử vẫn ngồi dưới gốc cây, thấy người cày xới làm lộ ra các giun dế chim chóc giành nhau mổ ăn. Cảm thương chúng sanh ăn nuốt lẫn nhau muốn ra mà không thoát. Y cứ vào Văn kinh khi xem cày ruộng thì đã phát thệ rồi. Nhân xem cày bừa mà thương xót chúng sanh, cũng là nhân cảnh mà phát thệ ví dụ như thế dẫn ra. Giống như Di-lặc: kinh Di-lặc thành Phật nói: trước khi chán đời, vua Thương-khư cúng thí ngài Di-lặc, một đài báu. Di-lặc nhân rồi thí cho Bà-la-môn, Bà-la-môn nhận rồi đem phá bỏ mà phân tán. Di-lặc thấy vậy biết tất cả pháp đều sẽ hư hoại, bèn xuất gia học đạo, ngồi dưới cây long hoa, ngay trong một ngày liền thành Phật. Rộng như kinh chép: Đây thì Di-lặc chính do đài hư mà phát tâm. Vì minh liễu trở xuống là phân biệt quấy, hiển bày phải. Kế chỉ quán trở xuống là nói hoằng thệ Vô sanh. Quán sanh ra tâm cùng gieo trồng chẳng khác, Năng quán quán trì tức không là khác. Thế nào là tức không? Vì bốn tánh xem xét, tánh tướng nghĩa không, đến quyển năm có giải thích rõ. Lúc khởi chẳng từ Tự tha, đã không có bốn tánh thì sanh diệt không thật có. Tới lui chỉ là tên khác của sanh diệt. Tâm này chẳng ở trong ngoài, vì không có mình nên chẳng phải trong, không phải người nên không phải ngoài, không phải chung nên không phải hai khoảng. Chẳng phải không nhân nên chẳng phải thường tự có. Chỉ có trở xuống là tánh tướng không. Sanh tức Vô sanh gọi là hữu tịch, cũng không Vô sanh, gọi là vô tịch. Trước là tánh không, cũng chẳng trở xuống là tướng không. Phàm phu chấp thật nên gọi là có, tất cả trí quán nên gọi là Trí giả. Biết tánh tướng không nên nói biết không. Lại, pháp vốn chẳng sanh nên gọi Hữu tịch, nay thì không diệt nên gọi Vô tịch. Kể như trăng trong nước trở xuống là nêu thí dụ. Đại luận chép: Trăng trong nước thì tiểu nhân chấp lấy còn Đại nhân cười. Vì thân kiến nên thấy có các thứ. Lại Luận quyển ba mươi sáu nói: Ví như trẻ con thấy trăng dưới đáy nước, xuống nước mà bắt lấy chẳng được liền khóc. Người trí nói tánh nó như thế, chớ nên buồn giận. Kinh Tư Ích nói trở xuống là dẫn chứng. Thí dụ trước thông chung, dẫn chứng thì riêng. Quyển một chép: Biết khổ mà không khổ gọi là khổ Thánh đế, tập mà không hòa hợp gọi là Tập thánh đế. Trong rốt ráo không chẳng sanh chẳng diệt gọi là Diệt thánh đế, đối với tất cả pháp bình đẳng chẳng hai gọi là Đạo thánh đế. Ở đây thì bốn đế đều Vô sanh. Kế dẫn Đại kinh tức bốn đế trước là văn đầu đã dẫn. Tập trở xuống là dụ riêng bốn đế. Mỗi đế đều trước pháp kế dụ, chỉ thiếu thí dụ về diệt. Trước Tập Dụ nói nai khát nước đuổi theo dương diệm do nóng, khoảng không và bụi ba nhân duyên mà sanh ra diệm. Vì khát nên gọi là nước, trong có si ái ngoài thêm cảnh dục, do năng lực nhân duyên nên khởi tưởng dục. Phàm phu chẳng hiểu gọi là luân hồi dụ về khổ đế như bắt trăng đáy nước. Luật Tăng-kỳ quyển tám nói: Khi Phật ngự tại thành Vương-xá. Các Tỳ-kheo đề cử Điều-đạt làm pháp Yết-ma. Nhóm Tỳ-kheo sáu vị đồng kiến với Điều-đạt, Phật bảo các Tỳ-kheo rằng: Vào đời quá khứ, ở chỗ vắng nọ có năm trăm con khỉ đi khắp chốn nhân gian, có một cây Ni-câu-loại, dưới cây có cái giếng, dưới giếng có ánh trăng. Khỉ đầu đàn thấy rồi bảo các bạn rằng: Trăng chết rơi xuống giếng phải lấy lên để đêm thế gian khỏi tối. Các khỉ hỏi làm sao lấy lên. Khỉ đầu đàn bảo: Ta có cách lấy, ta sẽ nắm cánh cây, chúng bây nắm lấy đuôi ta rồi lần lượt nối nhau mà lấy ra. Các khỉ nghe lời. Vừa đến gần nước thì khỉ nặng cành cây yếu nên gãy và rơi xuống giếng. Khỉ đầu đàn lúc ấy chính là Điều-đạt bây giờ, năm trăm khỉ kia là nhóm Tỳ-kheo sáu vị. Trong rốt ráo không có mặt trăng chân thường, kết nước sử mà sanh ra ảnh ấm nhập. Khỉ ngu phàm phu gọi đó là thật, uổng gọi nói chân mà không hiểu rõ ấm nhập. Vì thầy mê nên dạy nhiều người mê. Cho nên biết đều do chẳng hiểu rõ khổ, luật ấy tuy dụ chủ bạn đồng tà cũng là do chẳng hiểu rõ ấm nhập. Trong đạo đế nói chẳng phải là làm tức không v.v… là tất cả đều không, đâu thể thực hành mà giản bất tức, tức ngoài chẳng khác chẳng tức. Nếu có phân biệt thì như tránh không mà tìm không. Thí dụ nói như Bè, v.v… kinh Trung Ahàm quyển Kinh Dụ Bè chép: vì biết dục này làm chướng đạo và biết pháp này chẳng chịu cực khổ cũng chẳng mệt mỏi. Vì chẳng điên đảo cho nên suốt đêm ta vì các thầy nói kinh Dụ Bè, muốn cho các thầy bỏ chẳng để các thầy nhận. Như nước trong núi rất sâu không có thuyền cầu. Có người từ đây muốn đến bờ kia, nghĩ nước chảy gấp sẽ bị nhận chìm, dùng phương tiện nào mà đến bờ kia. Nay ta sẽ thu nhặt cỏ cây cột làm bè ngồi trên đó mà qua, qua đến bờ kia bèn nghĩ bè này rất có ích, phải mang theo mãi. Rồi cứ vác mà đi. Ý nói làm thế có ích gì chăng? Tỳ-kheo đáp: Không. Người ấy chép: Tôi được bè có ích, nếu bỏ sợ thành vô ích. Phật nói: Ta dụ bè là nói pháp còn bỏ huống chi là phi pháp. Kinh ấy ý dụ nói dục chướng đạo là pháp hay dục là phi pháp. Nay mượn dụ ấy đồng với kinh Kim cương. Tức không còn bỏ huống chi là chẳng tức. Như Dụ Bè, bè còn phải bỏ huống chi không phải bè. Trong Diệt thiếu Dụ. Nếu muốn lập thì phải chép: Diệt đã tức không, chẳng phải ở không hoa kia mà cầu diệt thật. Họa còn không hoa thì diệt chẳng phải diệt. một hẹn gọi là thọ, liền kéo dài gọi là mạng. Chúng sanh vốn không tức khổ Vô sanh, chẳng phải nói có chúng sanh thọ mạng, chỗ khổ tập diệt thì gọi là diệt này, tức chỉ diệt đế gọi là diệt kia. Khổ vốn Vô sanh, nên nói là ai. Vô sanh vốn không, không Vô sanh nên gọi ai chứng diệt ấy. Bút ngữ lại đổi chữ ai. Nếu nói đầy đủ phải là ai ở diệt này, ai chứng diệt kia? Ai là chủ tể, kia đây vốn không thì chủ tể đâu còn. Kinh nói trở xuống là lại dẫn chứng Trung. Nói ta chẳng muốn cho là Đại phẩm chép: Trong pháp Vô sanh nói là ba mươi bảy phẩm tức là đạo đế, xưa nay Vô sanh. Bốn quả là diệt đế, xưa nay Vô sanh. Kế y ví dụ trở xuống tức là Đại sư y theo ví dụ mà chép: Đạo diệt còn không có huống chi có khổ tập. Cho nên nghĩa chép: Chẳng muốn có năm ấm như sắc, v.v…, tức là khổ đế xưa nay Vô sanh. không có sân si tức là tập đế xưa nay Vô sanh. Kinh vì lợi căn nêu hơn gồm kém. Chỉ nêu đạo đế thì biết khổ tập. Đại sư lại so sánh đã không đạo diệt thì không có khổ tập. Chỉ thường xót trở xuống là chánh nói phát thệ. Văn thiếu thệ do đó dùng thương xót mà gồm. Cái gọi là thương xót chúng sanh, chẳng biết đế lý Vô sanh huyễn hóa cho nên khởi thệ, vì văn hẹp nên chẳng phân. Kế vì đạt khổ tập trở xuống là phân biệt quấy hiển bày phải. Khổ tập là không cho nên khác nhau chín phược. Nay lại đạt không, lại khác ba tạng. Ba tạng Nhị thừa tuy là hay đạt, chẳng thể tức không, không chẳng phải không bình đẳng, v.v… Đạo diệt vì không nên chẳng phải thoát. Nay đạt được không lại khác ba tạng. Ba tạng của Bồtát mà chẳng thể đạt đạo diệt tức không. Kế Biệt giáo vô lượng hoằng thệ, trước nói chung Đế cảnh, chiếu biết một tâm, khởi vô lượng tâm. Tâm vô lượng nên mê giải vô lượng. Mê tức mười giới khổ tập, giải tức bốn thứ đạo diệt. Cho nên nói bốn đế có vô lượng tướng. Kinh Lăng-già quyển năm chép:, Như lai tạng là nhân thiện và bất thiện. Tức lý tánh Như lai là gốc thiện ác phải dùng mười giới và làm thiện ác. Đại luận quyển mười một nói như khi voi xuống ao thì nước đục, bỏ châu xuống thì nước trong. Phải biết nước ao là gốc của trong đục, châu và voi là duyên của đục trong. Nhưng riêng bốn đế nhiếp bốn thứ Tứ đế, tự tha thỉ chung phải học khắp. Chỗ học rất nhiều nên nói Vô lượng.

– Kế ba giới không có pháp nào khác trở xuống là nói bốn đế, trước nói khổ tập, kế nói đạo diệt. Trong khổ tập trước là chung, kế là riêng. Trong trước chung tuy chưa giải thích tướng khổ tập, nhưng trong nói đã có riêng khổ tập nói. Ba cõi không có pháp nào khác là khổ. Chỉ là tâm làm tập. Tâm như thợ vẽ là thí dụ tập, tạo mầu sắc là thí dụ khổ. Tâm tạo ra tức là tập, sáu đường tức là khổ. Đã nói các thứ riêng, phải biết sáu đường chỉ là lược nói mà thôi. đầy đủ thì phải nói là mười giới khổ tập. Nghĩa là như thế trở xuống là nói riêng về tập. Như thế sanh tử trở xuống là nói riêng về khổ. Khổ tập là cái bị phá cho nên nói đủ mười giới. Đạo diệt là cái năng phá. Năng phá có hay dỡ trong ngoài thể, v.v… cho nên biết trước chung lược nói sáu đường. Ngược lại trở xuống là nói chung đạo diệt. Lại tâm khổ tập sanh đạo diệt cho nên văn trước nói là gốc của mê giải. Thí như thợ vẽ trở xuống là ví dụ chung. Thợ vẽ là thân Bồ-tát, tay như tâm tánh của Bồ-tát, bút (cọ vẽ) như tâm sở quán các sắc sáu đường nhân quả. Rửa sạch là phá nhân quả, mầu vẽ là đạo diệt. Lại tu Không, giống như rửa sạch, quán giả là như vẽ mầu, cũng là thứ lớp tướng ba đế. Sở vị trở xuống là nói riêng đạo diệt, trong mỗi đế nêu đủ thứ lớp tướng bốn giáo. Trong đạo đế là nói đi vòng thẳng đến hóa thành, tức là sanh và Vô sanh hai thứ đạo phẩm. Hoặc nói Bến báu, cũng gọi là bờ nước. Đạo đế đầy đủ phải nói bảy khoa, lại nói Bốn niệm xứ còn sáu khoa kia thì lược không có. Đi vòng đi thẳng đến hóa thành là phá hoặc kiến tư, trong đi thẳng chẳng nói bất tịnh, lại nói thân không v.v… là vì quán khéo nên khác nhau, vụng trước. Hai thứ đi thẳng đi vòng trong Bến báu. Trước nói đi vòng. Nói đầy đủ thì phải chép: Vô thường và thường, chẳng phải thường chẳng phải vô thường. Trong văn nay nói cho đến, là lược bỏ thường, do đó lại nói vô thường. Vô thường tức không, đây là y cứ môn hóa tha mà nhắc lại đi thẳng đi vòng đến hóa thành ở trước. Chẳng nói bất tịnh, cũng là nêu chung hai pháp quán dầu nhiếp bất tịnh, v.v… đều là vô thường, vô thường là sanh diệt. Vô thường tức là không, Vô sanh, vô lượng vô tác v.v… đối với thỉ chung, phân biệt rất dễ hiểu. Thường là phá trần sa, cùng chẳng sai là phá vô minh cho đến bất tịnh cũng giống như thế. Người ấy thấy diệt trở xuống là nói riêng về diệt đế. Trong văn đều lấy đoạn vị làm diệt. Trong đó cũng có diệt vị của bốn giáo tuy là có tên vô tác diệt vị chỉ là vị Sơ Địa của người Biệt giáo mà thôi. Nếu thế tại sao Đạo đế lại nêu đủ đi thẳng đi vòng đến đảo châu báu? Đáp: Đây là y cứ giáo chứng hai đạo mà nói, cho nên trong bốn niệm xứ hỏi rằng: Người Biệt giáo đã có tứ đế vô tác, vô tác đã hơn, sao chẳng duyên theo mà phát tâm? Đáp: Người Biệt giáo vì vô tác là quả, quả chẳng chung nhân nên chẳng duyên. Tuy trong hạn xa, chánh ý là duyên vô lượng phát tâm. Sơ địa vô tác do đây mà được, nên nói về quả mới thành vô tác. Nếu thế, chỉ nên nêu địa để làm vô tác, vì sao lại nêu đủ viên vị thỉ chung? Đáp: Khi ở giáo đạo chỉ nói là địa thượng, nếu vào chứng đạo tức là Sơ trụ. Địa Tiền tức thành các vị Trụ tiền, cho nên trong đây nêu đủ các vị. Trước là vị sanh diệt. Kế từ người ấy thấy diệt đến Chư Phật là vị Vô sanh. Từ người ấy thấy diệt đến Diệu giác là Biệt vị. Từ người ấy thấy diệt đến Diệu giác là Viên vị. Phân biệt trở xuống là tổng kết bốn đế đều từ tâm sanh. nói mười sáu môn đạo diệt, là bốn giáo bốn môn, mỗi môn đều có bốn đế, cho nên được mười sáu đường diệt và tất cả, tức là tất cả Phật pháp ở các cõi mười phương. Từ quán một tâm này trở xuống là nói y cảnh mà khởi giải, một tâm hay thông tâm chẳng thể nói và pháp chẳng thể nói, là như văn trước chép: Là gốc của mê giải. Nay đây lại dùng xuất giả phân biệt gọi là tâm pháp, chung đến pháp tánh gọi là chẳng phải tâm pháp. Chín phược trở xuống là phân biệt phi. Trong phiền não có Như lai tạng cho nên nói ngồi trong. Phàm phu mù đui đồng với tạng mà chẳng có tri kiến. Vì chẳng thấy cho nên trôi giạt trong sanh tử, tức là biển Tạng nên nói là bị thương. Nhị thừa nhìn xa thiên chân bịnh nóng nên nói tạng là khuôn phép, v.v… bốn thứ là dụ cho bốn trụ hoặc. Chẳng biết bốn trụ thể là quí báu, trái bỏ lênh đênh, cay đắng. Nói hơn năm mươi năm là chỉ do trái báu, phiền não được dịp san khi bỏ Đại thừa thì luân hồi trong năm đường. Tu-la là ở giữa quỉ, súc nên gọi là dư. Tuy phược-thoát, là phàm phu Nhị thừa nổi chìm tuy khác là nghĩa mất tạng. Khởi đại bi trở xuống là chánh phát hoằng thệ ấy là dưới hiện bày phải.

 

 

PHẦN 5

Kế nói hoằng thệ vô tác của Viên giáo. Thể của bốn đế chỉ là ba đế, cho nên dùng ba đế mà nêu chung cảnh thệ, một niệm tâm khởi chẳng khác với trước, năng quán quán trí hoàn toàn khác với trước. Ngay một niệm này tức là ba đế chẳng còn nói gốc mê – giải. Hoặc căn hoặc trần đều là pháp giới. Pháp giới là tên khác của ba đế. Kế đều là trở xuống là ba đế dung chứa lẫn nhau, nên nói đều là. Tạng đủ các pháp tức là Tục. Trong không tin đồng, chẳng cần giải thích riêng, vì sao phải giải thích lại. Đều là duyên sanh, nghĩa là một niệm tâm có đủ trăm giới ngàn như v.v… duyên sanh Như thế đều là vô chủ, vì vô chủ cho nên không. Tức ngàn như này tên là Diệu giả, tức là pháp tánh tên là Diệu trung. Kết qui như văn. Chẳng phải ba mà ba trở xuống là lại sơ ba đế lại thành ba đế. Không phải ba mà ba là giả, ba mà chẳng ba là không. Cũng phải chép: Chẳng phải ba chẳng phải chẳng ba là Trung. Văn không là lược. Chẳng phải hợp chẳng phải tan, Trung đạo cùng chẳng sai mà hợp tức không, mà tan tức giả, chẳng phải chẳng hợp, chẳng phải chẳng tan, chẳng phải cùng chẳng sai ở trên tức là cùng chiếu. Trước nói cùng chẳng sai, sau nói cùng chiếu, trong hai văn mà nói hai đế, vì Văn Viên này chẳng trước sau, cho nên chẳng thể một. Khác tức là Trung, mà một là không, mà khác là giả. Như ba đế này ở căn ở trần Như lai tạng tức là phải giả, há Như lai tạng mà không có Phật tánh. Nghe viên đốn này chẳng phải Tông trọng. Bởi do đời gần đây người tu tập Đại thừa lẫn lộn huống chi đời tượng mạt tình rối, tín tâm ít mỏng, viên đốn giáo pháp tràn đầy kho rương, chẳng tan nghĩ suy liền đến mắt mù, sống suông chết uổng, đau đớn thay! Có người chép: Nghe mà chẳng làm ông định làm gì, đó là do chưa biết được lợi ích sâu xa. Như kinh Thiện Trụ Thiên Tử, Văn-thù bảo Xá-lợi-phất rằng: Nghe pháp mà bác bỏ bai phải đọa địa ngục còn hơn là cúng dường Hằng sa Phật, vì Tuy đọa địa ngục, từ địa ngục ra lại được nghe pháp, ở đây lấy cúng dường Phật chẳng nghe pháp mà xét lường thì nghe mà bác bỏ bai còn là hạt giống xa, huống chi là nghe rồi suy nghĩ siêng năng tu tập ư? Ví như trở xuống là nêu dụ. Phàm dùng sự dụ pháp đều là phần dụ, ở trong dụ gương ý rất thân. Vì sao? Vì khắp gương là sáng, khắp sáng là hình bóng, chẳng cùng chẳng riêng, chẳng dọc chẳng ngang. Có khác chữ y là mắt trời. Chẳng hợp chẳng tan trở xuống là nhắc lại thí dụ đầu, như trước có thể hiểu. Chẳng một, hai, ba là tuy thứ lớp tăng nhưng chỉ là ba đế, ba pháp chẳng thật có gọi là chẳng một hai ba. Hai ba không ngại, đây là tiện theo lời nên lược bỏ chữ một. Người trí nhân dụ lời này có y cứ. Một niệm tâm này trở xuống là hợp thí. Muốn nói lý bình đẳng lại nói chúng sanh và Phật cũng giống như thế. Nay hỏi người đời rằng quán chân như làm sao quán trong thân chúng sanh và Phật và chúng sanh đồng chân như, v.v… Hoa Nghiêm trở xuống là dẫn chứng lý ngang nhau. Nên Hoa Nghiêm khen ngợi tâm Sơ trụ, nói rằng:

Như tâm, Phật cũng như thế,

Như Phật, chúng sanh,

Tâm, Phật và chúng sanh

Ba pháp không khác nhau,

Chư Phật đều hiểu biết,

Tất cả từ tâm chuyển,

Nêu hiểu được như thế,

Người ấy thật thấy Phật,

Thân cũng chẳng phải tâm,

Tâm cũng chẳng phải thân,

Làm tất cả Phật sự,

Tự tại chưa hề có,

Nếu người muốn biết được,

Tất cả Phật ba đời,

Nên hành quán như thế

Tâm tạo các Như lai.

Nếu không có văn ý viên của ta nay thì ý chỉ của kệ kinh kia thật khó hiểu. Dẫn kinh Tư Ích, là chẳng hiểu ấm giới bình đẳng với chúng sanh và Phật thể tức pháp giới, nên gọi là Ngu. Dẫn kinh Tịnh Danh là ba thứ giải thoát, ba thứ Bồ-đề, ba đức Niết-bàn, chẳng lìa chúng sanh, chẳng thể tìm riêng. Cho nên dẫn lại mà hiển thành nghĩa trong Tư Ích. Dẫn Phổ Hiền Quán, Tỳ-lô-giá-na Hán dịch là Biến nhất thiết xứ (ở khắp mọi nơi) phiền não thể tịnh, các đức đầy đủ, thân cõi xứng nhau, khắp tất cả mọi nơi nói lên lý chúng sanh khắp ở hai kinh trước, chẳng hiểu điều đó là còn cách vô tình. Phải biết trở xuống là kết chung không ngoài. Nếu thế trở xuống là giải thích nghi ngờ. Ở đây trước nghi rằng: Nếu đủ ba đức vì sao nghĩa chỉ nói như không và trong Đại Phẩm nói là rốt ráo không. Ở đây nêu trở xuống là giải thích nghi ngờ. Văn Thiên Ý Viên chẳng nên hỏi riêng. Kinh Hoa Nghiêm quyển ba, Bồ-tát Phổ Hiền muốn cho chúng vui mà nói kệ rằng:

Tâm khắp pháp giới như hư không,

Là người biết được cảnh giới Phật.

Tức đã nói Phật giới có đủ cả ba đế, cho nên nay trình bày rằng. Nếu không làm đầu mối. Không tức đủ ba nên nói không tức chẳng không, v.v… sao chỉ không này giả trung cũng như thế cho nên dẫn vi trần và dùng Trung đạo thảy đều đủ ba. Nói trong hạt bụi có quyển kinh lớn bằng cõi đại Thiên thế giới. Luận Bảo Tánh chép: Người có thần thông thấy Phật pháp diệt, đem quyển Kinh to bằng cõi Đại Thiên chứa trong một hạt bụi. Sau có người chẻ hạt bụi mà lấy quyển kinh ra. Phẩm Như lai Tánh trong Kinh Hoa Nghiêm chép: Này Phật tử, ví như có một quyển kinh ghi chép tất cả các việc của thế giới Đại thiên hai ngàn tiểu thiên núi chúa Tu-di cho đến cung trời sắc dục đều ghi chép các việc v.v… Lúc đó có một người ra đời có Thiên nhãn thấy quyển kinh ở trong một hạt bụi, bèn nghĩ rằng: Vì sao quyển kinh ở trong một hạt bụi mà chẳng lợi ích cho tất cả chúng sanh. Ta phải phương tiện phá hạt bụi này lấy kinh ra. Người ấy liền dùng mọi cách lấy kinh ra. Nầy Phật tử! Như lai đầy đủ trí tuệ ở trong thân chúng sanh, bị hoặc che lấp chẳng thấy chẳng biết. Như lai dùng thiên nhãn thấy rồi bảo rằng: Lành thay, lành thay! Vì sao Như lai ở trong thân mà chẳng biết? Ta phải dạy ngươi ấy giác ngộ Thánh đạo, khiến lìa điên đảo, thấy tánh Như lai. Tức thời khiến người ấy tu tám Thánh đạo thấy tánh Như lai. Một đất trồng nhiều giống, một hoàn nhiều khí đều là dụ cho có. Chớ giữ lời,v.v… là khuyên răn chớ giữ lời thiên lệch vì hại cho viên dung. Nếu được giải này trở xuống là nói cảnh bốn đế, tám mươi bốn ngàn chẳng ngoài một tâm. Nói tám muôn bốn ngàn, là kinh Luận Tiểu thừa như Bà-sa thường nói rằng: Phật vì chúng sanh trước sau nói pháp, coi là một tạng, như thế cho đến tám muôn. Có người chép: Một lần ngồi nói pháp được coi là một tạng, lại chép: Nửa tháng nói giới xem là một tạng. Lại nói Phật tự nói sáu mươi sáu ngàn bài kệ là một tạng. Lại nói trần lao có tám muôn, nên nói tám muôn thuốc pháp. Lại nói chẳng có số nên gọi là tám muôn. Đầy đủ phải nói tám mươi bốn ngàn. Như văn đầu Câu-xá chép: Mâu-ni nói pháp uẩn số đến tám mươi ngàn, sau dẫn Bà-sa y cứ tùy miên, v.v… thành tám muôn bốn ngàn. Đây là môn Tiểu thừa không phải chánh ý. Lại kinh Báo Ân quyển sáu cũng có nhiều giải thích: Một là bốn mươi hai chữ xem là một tạng, các thứ khác đồng với nhiều hiện khác. Như kinh Hiền Kiếp từ khi Phật mới phát tâm đến phân chia xálợi phần có ba trăm năm mươi độ môn, mỗi môn đều có sáu độ hợp thành hai ngàn một trăm. Lại đối bốn phần hợp thành tám ngàn bốn trăm, biến là mười họp thành tám muôn bốn ngàn. Kết thứ hai của kinh ấy nói mỗi tên Độ vô cực, kết tên chỉ có một trăm chín mươi sáu, như lưu ba mươi bảy Đạo phẩm, chỉ kết thành một số, nếu đều khai tức là ba trăm năm mươi, cũng chẳng nói riêng đối với sáu độ. Chỉ văn đầu nêu có hai mươi pháp đều lấy sáu làm tên. Xưa nay nêu thích đều phải có đủ sáu. Như Pháp Hoa Sớ chép: Phật Địa ba trăm năm mươi, mỗi địa đều có mười thiện, đối bốn phần sáu căn nên thành tám muôn bốn ngàn. Bà-sa, Lăng-già ý đều đồng, hợp chung tất cả giáo Đại Tiểu thừa thì có nhiều tám muôn bốn ngàn. Họp mà nói thì chẳng ngoài bốn đế. Pháp tạng là khổ, trần lao là tập, đối trị là đạo, Ba-la-mật là diệt. Đại luận quyển hai mươi sáu nói Tam-muội và Đà-la-ni có gì khác nhau? Đáp: Đà-la-ni là tuệ tánh, Tam-muội là Định tánh. Cho nên xếp định tuệ vào đạo đế, tám muôn bốn ngàn số ấy chẳng khác, chỉ vì sở trị cho đến năng trị, sở trị diệt, v.v… thì được gọi là bốn đế. Trước nói Phật pháp giới, v.v… là căn Phật pháp giới đối với trần pháp giới mà khởi thức pháp giới nhưng vốn mê mà nói nên gọi là căn, đồng tên pháp giới liền không khác nhau. Cho nên biết tám muôn đều là sanh tử, gồm cả Niếtbàn. Tập Đạo cũng như thế, cho nên đều là pháp giới. Vô minh chuyển, v.v… là tổng kết bốn đế. Hai đế Khổ, Tập đều là vô minh, tức là pháp giới, tức là bình đẳng, tên chuyển làm minh. Dụ nước và băng rất hợp huyền lý. Dụ châu như ý rất hợp với nước và băng. Chúng sanh ở đây trở xuống là kết trách. Ở trong dung diệu một pháp giới này mà phân biệt, tức là có phàm thánh chân tục, hữu tình vô tình nên nói là tư tưởng. Văn này cũng gọi là lý do khởi thệ. Vì tư tưởng, cho nên trở xuống là chánh phát thệ nói dưới là hiển bày phải, ba trước trở xuống là nói về khác bày tướng, ba văn giáo ở trước là chỉ thẳng bốn đế, nay mỗi đế có tám muôn bốn ngàn, vì thế biết văn này là viên minh. Cho nên nói rõ ràng, thấp trong cao, cao trong thấp nên gọi là uyển, hiển bày rõ ràng rất dễ thấy. Bốn thứ bốn hoằng mỗi thứ đều nói là quán một niệm tâm, chỉ là tâm khởi lên do căn trần đối nhau, chia làm bốn khác, là hai giáo trước khéo dụng tuy khác nhưng đều là diệt tâm, lấy đó làm cực quả. Người Biệt giáo xem là gốc mê giải, người viên giáo liền biết tâm là pháp giới, duyên phát tâm này rõ ràng rất dễ thấy, người đời việc gì mà một bề cố chấp. Kế hỏi trở xuống là phân biệt, là chánh y cứ bốn tất để làm phân biệt. Trước ý hỏi là. Hỏi trước là phân biệt phi, chín phược một thoát đều phân biệt là phi (quấy). Thoát đã gồm Nhị thừa hai giáo nay trong hiển bày phải vì sao bốn giáo cùng nói. Đáp: Trong ý ấy có ý ba tất, cho nên lấy hai thứ trước. Tuy là lấy mà chỉ ở Bồ-tát chẳng ngại hai thứ Nhị thừa trước vẫn là phi, đối với Bồ-tát cho ba giáo là đồng với trên cầu, cần phải ủy tiêu. Tướng trong văn này khiến thuận ba tất chẳng thể ghi nhớ hết. Có người chép: Trong hỏi đáp này, hỏi xếp trước thuộc về phi văn, không đúng như thế, nếu y theo đó mà hỏi, thì phải nói trước đã thị phi đều phi, nay sao thị phi đều phải, theo đáp ý đều chẳng đúng. Đáp ý chỉ đáp lấy ba Bồ-tát, sao lại nói thị phi đều phải, cho nên trong hỏi chung nói đều phi, mà chẳng nói thị phi đều phi. Trong đáp chỉ nói Bồ-tát đều phải, chẳng nói chín phi đều thị. Nếu theo ý khác thì chín phi cũng phải đều thị. Nếu rốt ráo trở xuống là kế xếp quyền thật. Thật tức nghĩa bậc nhất. Cùng ba tất trước tức bốn tất, vì bốn tất nên nói bốn phát tâm. Thí như trở xuống đến rất dễ hiểu là nêu nhiều văn thí để du cho thật, Bí phương dụ cho giáo, Già-đà dụ cho trí, Nhũ mê dụ cho hạnh, Như ý du cho lý, cũng là ý bốn tất. Bí phương là thế giới, Già-đà là đối trị, Nhũ mê là sanh thiện, như ý là nghĩa bậc nhất, cho nên y cứ bốn tất mà khen phát tâm. Kinh Hoa Nghiêm chép: Chúng sanh thấy thuốc A-già-đà thì các bịnh đều hết. Kinh Hoa Nghiêm quyển hai mươi mốt chép: Như Đại ma-ni đầy đủ mười sự, có công năng sanh ra tất cả nên nói đầy đủ: Một là ra khỏi biển lớn, hai là thợ giỏi giũa mài, ba là càng tinh diệu, bốn là dứt các nhơ bẩn, năm là lửa luyện, sáu là trang nghiêm, bảy là xỏ chuỗi các báu, tám là đặt trên cột lưu ly, chín là ánh sáng chiếu bốn bên, mười là thỏa mãn ý vua. Quyền thật là đồng nhau, tức dùng chung bốn giáo đều gồm quyền thật. Đều hiển thì đầy đủ như trong đáp, ý ấy rất dễ thấy. Lại một trở xuống là nói một là tên khác, vì trong hỏi đáp phân biệt hiển bày ba giáo ở trước đồng thành một thật, cho nên nay khác tên chỉ đối với thật mà hiện. Cho nên một thật cũng gọi là đại sự, cũng gọi là không thể nghĩ bàn, cũng gọi là vô tác. Trước giải thích một đại sự. Một thật là lý mầu chẳng dối, một đạo thanh tịnh Diệu Trí Hạnh, tất cả người vô ngại v.v…, người nương ở đạo vì (để) khế lý, nghĩa ở Vị mầu ý gồm ba pháp. Đây là y cứ tự hành nhân quả để giải thích. Kế giải thích đại. Đây là đại của một nhà. Tánh rộng là lý, Trí dứt là hạnh, đại nhân là khế. Sư tử v.v… là mính đã vào vị nói giáo lợi ích người khác, cho nên sư tử gầm thét nói pháp mầu này quả nhân sở thuyết (dẫn người quả nói ra) không phải chỉ lợi ích cho phàm vị bốn giáo cho đến bác địa tất cả phàm phu cũng lợi ích bốn giáo vào địa vị bậc Thánh. Tự hành nhân quả hóa tha chung cực, khai quyền bày thật, thêm đạo tổn sinh đều là việc của đại nhân Chư Phật. Việc của một đại nên nói là Đại sự. Nói nhân duyên tự tha nhân quả đều là nhân duyên. Văn nêu Phật, là Phật hạnh nguyện mãn hóa đạo chưa cùng, kế giải thích không thể nghĩ bàn, là Tự tha đại sự đều là ba đế ba đế đều nói và nghĩ đều dứt, tức là trình bày Đại sự ba đế vô tác. Kế, lại hiển bày trở xuống là giải thích vô tác. Trước Thích Danh chép: Chẳng phải tác pháp cho đến sở tác. Hỏi cái không phải Phật làm khác nhau thế nào với không phải Phật làm trong ba tạng? Đáp: Tên chung mà lý riêng, đâu có gì đáng nghi. Kế Thường Cảnh trở xuống là giải thích thể vô tác, thể tức thật tướng, thật tướng vô tướng, vô tướng cũng không. Thật trí vô duyên vô duyên cũng dứt mất. Vì sao? Cảnh tuy vô tướng thường làm trí duyên, trú tuy vô duyên thường làm cảnh phát. Trí tuy duyên khởi cảnh, xứng cảnh vô tướng, cảnh tuy phát trí khiến trí vô duyên. Không duyên mà duyên chiếu cảnh thường không xen hở. Cho nên nói dùng trí vô duyên mà duyên cảnh vô tướng, không tướng mà tướng phát trí rõ ràng. Cho nên chép: Dùng cảnh vô tướng mà tướng trí vô duyên. Cho nên kinh Kim Quang Minh quyển một chép: Trí như như ấy chẳng thấy tướng và tướng xứ. Cho nên cảnh giới thanh tịnh thì trí cũng thanh tịnh. Xứ tức là cảnh, cảnh trí đều thanh tịnh. Lại nói pháp như như, trí như như tức là Trí cảnh tương xứng. Cảnh như như ở trí, Trí như như ở cảnh, cho nên cảnh trí đều nói như như. Có người đọc rằng: trí Vô duyên là người Trí chưa khéo đọc câu, hỏi người quán tâm, tâm trí như thế nào, gọi là hợp một với cảnh. Người ấy tự đáp. Lại Thị trở xuống là dẫn chứng vô tác gọi là phát tâm. Đây có ba kinh đồng một quyển. Quyển đầu tên là Văn-thù Vấn, quyển kế tên là Già-da Sơn Đảnh, quyển sau tên là Tượng Đầu Sơn, nay văn dẫn phần nhiều là kinh Già-da Sơn Đảnh. Ba kinh đều do Văn-thù Phát Vấn nghĩa lý đồng nhau. Cho nên nay dẫn kinh Văn-thù Phát Vấn. Kinh chép: Phật bảo Văn-thù rằng: Tướng Bồ-đề vượt ngoài ba cõi, các tên gọi nói năng đều dứt, (hơn) tất cả phát, diệt các phát, nên nói là phát tâm trụ Bồ-đề. Cho nên Đại Bồtát vượt (hơn) tất cả phát là phát, tâm trụ Bồ-đề. Vô chướng ngại phát như pháp tánh phát, không phát là phát, không mê đắm tất cả, không phá thật tế, chẳng dời chẳng ích, chẳng khác chẳng một, như hình ảnh trong gương. Mỗi mỗi câu trở xuống đều là nói phát tâm trụ Bồ-đề. Trụ là chỗ nương. Câu đầu ngay nơi phá là lập. Từ pháp tánh trở xuống là chẳng phá chẳng lập mà nói phá lập. Như thế đều gọi là nương cảnh phát tâm, nên nói phát tâm trụ Bồ-đề. Lập tức là Tùy, pháp tánh tức là cùng chẳng sai cùng chiếu. Nay văn chỉ là phụ ý kinh ấy. Văn gồm nghĩa thích, cho nên tiểu khác nhau. Lại kinh ấy chép: Bảo ta tu vô tướng, đây không phải là tu vô tướng, khiển mê dính mắc nói phá nói (hơn), vô tác bốn hoằng thật chẳng phải phá (hơn), như quá phá không nên nói quá phá. Như trong kinh Tịnh Danh chép: Bồ-đề chẳng thể dùng thân mà được, chẳng thể dùng tâm mà được. Trước rộng phá xong, kế là lập rằng: vắng lặng là Bồ-đề, v.v… Lại tùy tức là giả, phá tức là không cùng chẳng sai cùng chiếu tức là Trung đạo. Đây y cứ pháp giới vô duyên đại từ mà phát tâm. Lại y cứ sự lý để đối phá tùy, nghĩa không giả v.v… đều phải hiểu. Kế nếu ví dụ trở xuống là trích dẫn nói rộng. tất cả pháp đều như vừa nói hoặc là hoặc tùy song phá tùy. Lại ba thứ trước trở xuống là thảy đều phân biệt, quyền thật thô diệu. Trong đây chính là bỏ thô khen thật, cũng cách lượng khen, gồm chung mười ba phen ba trước, một sau. Trước thượng trung hạ v.v… là y cứ quán trí nhân duyên để xếp quyền thật. Viên là thượng thượng. Cộng, bất cộng là y cứ vị mà xếp. Biệt trụ hạnh vị và Nhị thừa tạng thông trước là cộng, chỉ viên là bất cộng. Biệt hướng tuy tức cũng quán Trung đạo, nhưng phải phân Biệt giáo, kế cạn gần v.v… là y cứ hạnh để xếp. Hai hạnh trước gần, Biệt hạnh cũng cong vạy, Đại tiểu chí thật y cứ giáo để xếp, Thông, Biệt là đại trong tiểu, Viên là đại trong đại, quả đầu của ba giáo là viên trong thiên, quả đầu của Viên giáo là Viên trong viên. Thông Biệt là mãn trong bán, Viên là mãn trong mãn. Biệt giáo là giáo quyền lý thật, là thật trong quyền. Viên giáo là giáo lý đều thật, là thật trong thật. Vọng trở xuống là Thiên viên năm cặp, chỉ thiếu một cặp tiệm đốn phải nói Biệt giáo Diệu giác là đốn trong tiệm, tức là Sanh Công đã lập nghĩa đốn ngộ. Viên giáo trước sau là đốn trong đốn. Chân trong chân y cứ đế để xếp, tạng thông chân tục nếu đối với giáo sau thì gọi là chân trong tục, cũng đều gọi là tục. Biệt giáo phá tục cũng là chân trong tục. Viên giáo tức tục gọi là chân trong chân. Liễu nghĩa, v.v… y cứ với nghĩa để xếp. Tạng thông nghĩa quyền là bất liễu nghĩa. Biệt đối với giáo đạo mà nói trong đó là liễu trong bất liễu. Viên giáo đối với Biệt gọi là liễu trong liễu. Ba thứ như huyền, v.v… là y cứ tên khen lý để xếp. Biệt lý là huyền, viên lý lại huyền. Biệt y cứ chứng đạo gọi là diệu trong thô. Tiếng tămViên giáo là diệu trong diệu. Thiên lý gọi là không thể nghĩ bàn trong nghĩ bàn. Viên lý gọi là không thể nghĩ bàn trong không thể nghĩ bàn. Cho nên Đại luận quyển 7 chép: Không thể nghĩ bàn cũng không thể nghĩ bàn, ai đáng tin, chỉ không thể nghĩ bàn cũng không thể nghĩ bàn huống chi là không thể nghĩ bàn lại không thể nghĩ bàn ư! Người phát tâm lâu thì có thể tin thọ. Thế nào là lâu? Đối với tất cả pháp chẳng sanh phân biệt gọi là lâu, so với các nghĩa trước đều như thế. Nếu hay trở xuống là kết chung các ý. Chẳng chấp ở quyền lầm cho là thật gọi là thể quyền. Biết quyền là quyền, ngoài quyền không thật gọi là biết thật, gồm mười ba thứ trước, ba thứ trước đều là quyền, một sau là thật y thật phát tâm, sanh ra Chư Phật gọi là hạt giống Phật, cũng lại ở trong giáo viên diệu mà sanh Pháp chủng, Tăng chủng. Cho nên kinh Hoa Nghiêm quyển 7 chép: Phát tâm Bồ-đề để hạt giống Phật chẳng dứt, mở bày pháp tạng để hạt giống pháp chẳng dứt. Trì giới đầy đủ không thiếu oai nghi để hạt giống Tăng chẳng dứt. Lại nói gieo hạt giống Phật xuống ruộng chúng sanh, nẩy mầm Chánh giác để hạt giống Phật chẳng dứt. Chẳng tiếc thân mạng giữ gìn chánh pháp để hạt giống pháp chẳng dứt. Khéo ngự đại chúng tâm không sầu khổ để hạt giống tăng chẳng dứt. Lại chép: Khen ngợi đại nguyện khiến Phật chủng chẳng dứt. Nói mười hai bộ kinh để hạt giống pháp chẳng dứt, thực hành sáu hòa kính để hạt giống tăng chẳng dứt. Một trước gồm tự hạnh, hai sau gồm hóa tha. Nay ý văn này gồm nghĩa ba Phật chủng, chính ở tự hành, vì hạnh tự tha đều giúp cho Tam bảo chẳng dứt. Thí như trở xuống là nêu mười thí dụ khen đức. Đây tức y cứ lý để khen đức sanh thiện ác. Vì tâm Bồ-đề đều y lý như Kim cương, v.v… năm đức sanh thiện, như đàn sư tử v.v… năm đức diệt ác. Trước nói Kim cương từ tánh Kim cương sanh. Đại luận ba mươi sáu chép: Như núi Kim cương từ trên xuyên xuống, đến lớp mé Kim cương tự tánh liền ngưng. Tất cả Kim cương đều lấy lớp Kim cương làm tự tánh. Lại, tòa Kim cương cùng từ tự tánh mé Kim cương mà khởi. Cho nên Phật Bồ-đề Đại Bi làm tánh từ đại bi mà khởi. Thuốc A-bà-la chưa rõ tướng trạng, nếu muốn uống thì trước phải nước trong, muốn phát tâm Bồ-đề thì trước phải vận tâm đại bi, nếu mạng căn còn thì các căn trụ. Luận này hữu lậu dị thục các căn. Nếu Đại bi còn thì tâm Bồ-đề chẳng mất. Có công năng giữ gìn các căn nên gọi là Thắng. Như Thái tử, v.v…, Đại luận bốn mươi chép: Như Luân vương Thái tử tuy chưa thành tựu, phước lực oai đức hơn các vua khác, huống chi là lớn lên nối ngôi Luân vương. Bồ-tát cũng như thế. Tuy chưa thành Phật phước hơn Nhị thừa trụ cực quả. Cho nên kinh Phổ Minh Bồ-tát chép: Thinh văn tuy sanh không phải hạt giống Như lai. Như phu nhân của vua chung với hạ tiện, sanh ra không gọi là Vương tử. Bồ-tát sơ tâm gọi là Phật tử chân thật. Như vua Sát-lợi dẫu thông với giặc nhưng mang thai vẫn là tôn quí nên gọi là Vương tử. Cho nên biết chân tánh phu nhân hợp với giáo Nhị thừa sanh tâm Nhị thừa không phải là đệ tử Phật. Giáo pháp Vô thượng dẫu hợp với phu nhân giặc chúng sanh sanh tâm Bồ-đề thì gọi là thật đệ tử Phật. Sơ tâm Bồ-đề và rốt ráo v.v… gọi là có tướng Vương nghi. Calăng-tần-già trong Đại luận quyển hai mươi tám và bốn mươi chép: Chim này còn trong trứng thì tiếng hót đã hơn các loài chim khác. Đại Bồ-tát cũng giống như thế, chưa ra khỏi vỏ trứng vô minh mà pháp âm đã hơn Nhị thừa. Kế trong diệt ác khảy đờn Viên giáo thì dây đờn thiên lệch dứt mất. Tấu là tấu nhạc. Được sữa Nhất thừa ba bệnh tự tiêu vận chùy chủng trí đập nát ngọn núi Thiên sơn, mũi tên Na-la-diên đâm thấu Thiết-vi, Vô duyên đại bi phá khắp tất cả. Ba trâu xanh lớn nhỏ, phàm dã tám nha. Hương Tuyết sơn thơm trăng xanh vàng đỏ và Ưu-bát, câu-vật, Phân-đà-lợi như thế mười sáu lớp. Đại lực trong loài người tên là Bát-kiện-đề đều mười mười tăng, Na-la-diên sau cùng, như ý ở trước nói phát tâm Đại thừa còn hơn công đức quả địa Nhị thừa. Nói cốt yếu trở xuống là kết yếu khen ngợi. Chư Phật ba đời đâu có vị nào chẳng từ phát tâm Bồ-đề sanh. Nếu giải trở xuống là dùng một chỉ quán mà kết. Cũng kết phát tâm gọi là chỉ quán. Chỉ quán trở xuống là nói tên khác. Tên khác nghĩa đồng cho nên tức nhau. Bảo Lương trở xuống là y cứ sự để nói sanh thiện diệt ác, khen ngợi tâm Bồ-đề. Trước dẫn Bảo Lương tức là sanh thiện. Kinh ấy, phẩm Tỳ-kheo và phẩm Sa-môn chép: Tỳ-kheo có ba mươi sáu cấu, tức là sân nhuế cõi Dục, tự khen mình, bác bỏ người, cầu lợi nhân lợi cầu lợi tổn hại người khác, che giấu tội lỗi, gần gũi kẻ tại gia, gần gũi người xuất gia, thích ồn ào, chẳng kính Tam bảo, v.v… Như thế những không chẳng tu pháp Tỳ-kheo, mà còn làm ô nhục hạnh Tỳ-kheo. Kinh lại chép: Như chẳng phải phạm hạnh nói là phạm hạnh, phá giới nói là trì giới, nhận người giữ giới lễ bái cung kính, chẳng biết xấu ác, là Tỳ-kheo ấy tám pháp khinh gọi là si, ngọng câm, thân xấu xí, bị bịnh cùi, nghèo hèn làm tôi tớ, chết yểu, người chẳng kính bị tiếng ác xấu, chẳng thấy Phật. Người ấy cho đến đất bằng không khạc nhổ, huống chi là tới lui co duỗi. Vì sao? Vì quá khứ đại vương thí đất này cho Tỳ-kheo trì giới, người có đức ở trong đó hành đạo, huống chi lại các vật dụng khác như tăng phòng, bốn thứ cúng dường. Nếu chẻ một sợi lông ra một trăm phần thì người ấy không thể được một phần, vì chẳng thể đền ân thí chủ. Lúc đó, trong chúng. Có hai trăm người có tịnh hạnh lìa sắc dục bạch Phật (nay văn nói sáu mươi, tức là phiên dịch trước sau khác nhau chưa xem các bộ khác) nói rằng chúng con chợt chết đi, chẳng vì không được quả mà thọ nhận người khác thí cho một bữa ăn. Phật nói: Lành thay, lành thay! Như thế là người biết hổ thẹn, sợ tội đời sau. Phật nói có hai hạng người đáng thọ nhận. Một là người siêng năng, hai là người giải thoát. Phật nói nếu được giải thoát làm pháp lành, trì giới bền chắc, quán tất cả là vô thường mà cầu Niết-bàn vắng lặng. Như thế Tỳ-kheo ăn của người cúng thí nhiều như núi Tu-di thì phước cũng có thể báo đáp được ơn thí chủ. Kinh ấy nói đối với một công đức nhỏ còn như thế, huống nay chỉ quán thì sẽ báo được ân thí chủ. Lại như Thần Nghiệm Ký nói có ngoại đạo nghe kinh Phật nói thọ nhận của tín thí sau làm trâu ngựa để đền. Bèn thỉnh năm trăm vị Tỳ-kheo, lúc đó Thượng tọa biết liền bảo năm trăm vị Tỳkheo tụng kệ rồi ăn cơm Xong, ngoại đạo chép: Đền nợ đã xong trâu ngựa nào thấy thì Ngoại đạo liền phát tâm. Thượng tọa chép: Nói một lời pháp có thể tiêu hết núi Tu-di huống gì một bữa ăn. Một lời nói còn thế, huống chi là phát tâm muốn lợi ích tất cả. Nếu không có đức mà thọ nhận cúng thí, như luận nói luống thọ của tín thí sau làm núi thịt, tự xét trong thân làm nấm mốc thì biết của tín thí tiêu hay không tiêu. Như lai Mật tạng trở xuống là đức dứt ác. Văn trước là nói ác được diệt. Kinh ấy Ca-diếp hỏi Phật thế nào là ác trong mười ác. Phật nói: Có một người cha được quả Duyên giác bị con giết là tội giết nặng nhất, trộm của Tam bảo là tội trộm nặng nhất. Nếu người có mẹ xuất gia được quả A-la-hán mà cùng làm việc bất tịnh thì là tội dâm nặng nhất. Dùng việc chẳng thật mà bác bỏ bai Như lai là tội nói dối nặng nhất. Hoặc nói hai lưỡi phá hoại hiền thánh tăng là tội hai lưỡi nặng nhất. Nếu mắng chửi bậc Thánh là tội ác miệng nặng nhất. Nếu nói hoại loạn người cầu pháp là tội nói thêu dệt nặng nhất. Trong năm tội nghịch, nghiệp đầu giận dữ là nặng nhất. Nếu cướp vật của người trì giới là tội tham nặng nhất. Biên kiến là nặng nhất trong tà kiến. Kinh nói năm tội nghịch nghiệp đầu là sân giận nặng nhất, là khi thân miệng chưa làm thì trước đã khởi ý tìm cách giết cha, thì tướng giận này phải nặng nhất. Nếu khởi mười ác ở trong cảnh trung hạ, đã gọi là ác thì đối với ruộng ân đức kia gọi là ác trong ác. Cho nên Đại luận chép: Người đánh mà đánh lại thì gọi là ác, người chẳng đánh mà đánh người thì gọi là đại ác, người có ân với minh mà đánh thì gọi là ác trong ác. Lại trong mười thứ này, bốn thứ ác trước là tâm cảnh lý giáo trong Đại Tiểu thừa thì bốn thứ này đều nặng, huống chi là giết cha lại thêm nghịch thánh, sáu ác sau thì Đại Tiểu thừa có khác, cho nên miệng ba ác và ý sân thì Đại thừa đều nặng. Vì nói lỗi người, khen bác bỏ và bác bỏ bai cùng miệng ba lỗi liên quan nhau Tiểu thừa thì nhẹ, hai lỗi ý kia thì trong Đại Tiểu thừa ba thứ tâm, cảnh, lý đều nặng cả. Chỉ có giáo gọi là nhẹ. Như các tội này chẳng phải ruộng ân đức còn là nặng huống chi gia thêm ruộng ân đức. Nếu hay trở xuống là nói diệt Bồ-đề. Trước pháp kế dụ, trong pháp trước nêu kế xếp. Trước nêu, kinh nói nếu có người đủ mười điều ác trên, nếu biết rõ Như lai nói pháp nhân duyên chẳng có chúng sanh thọ mạng trời người trượng phu, vô ngã vô chủ, không có người làm người thấy, người biết (Sơ giáo), không sanh, không diệt, không hạnh, ấy là tận pháp, không đắm nhiễm, không thiện và bất thiện (Thông giáo), bản tánh thanh tịnh (Biệt giáo), tất cả pháp bản tánh thanh tịnh (Viên giáo) Giải tri tín nhập chẳng nói người ấy tiến đến đường ác. Vì sao trở xuống? Là văn nay giải thích ra nghĩa đầu của tâm Bồ-đề. Như trăm năm trở xuống là nêu dụ diệt ác. Kinh ấy chép: Như trăm ngàn năm ở mãi trong nhà tối chẳng đốt đèn sáng, không có cửa lớn, cửa sổ. Cho đến không có một lỗ nhỏ như kim có ánh sáng mặt trời, mặt trăng và ngọc sáng. Nếu trong nhà tối này mà đốt đèn thì tối trước sẽ không đúng nói trăm ngàn năm ta vẫn ở đây không đi. Này Ca-diếp, nếu khi đốt đèn tối ấy đã đi thì muôn kiếp tội chướng tu ở định tuệ thì đèn vô ngã chiếu sáng đen tối chẳng còn. Ấy là văn kinh lại dụ sơ tâm Bồ-đề mà thôi. Kinh này đủ bốn trở xuống là xếp văn kinh trước để đối bốn giáo như chú văn ở trước. Sơ Bồ-đề trở xuống là nêu cạn so sánh sâu. Khi chưa làm tôi đều chấp ngã nhân, ngã thêm sanh tử, nay quán sanh diệt tìm ngã không thật có, phát bốn hoằng thệ rộng lợi ích cho người, còn đến Bồ-đề sao chỉ có mình diệt tội mà thôi. Sơ giáo vụng độ mà công còn thế huống chi là ba giáo sau giảng môn Bồ-đề. Hành giả trở xuống là khuyên cố gắng. Như chỗ tối trở xuống là nếu thí dụ khuyên gắng. Đại Kinh quyển mười tám nói: Xàvương hiểu rằng: “Y Lan Tử tức là thân (con), không có tín căn “. Phật khen ngợi rằng: Đại vương đã ở thời Phật Tỳ-bà-thi mới phát tâm bình đẳng. Từ đó đến khi ta ra đời không hề đọa địa ngục chịu khổ. Tâm Bồđề có quả báo như thế. Đại vương phải tu tâm Bồ-đề. Vì sao? Vì từ khi được tâm Bồ-đề thì diệt vô lượng tội. Giải thích rằng: Tội thân như y lan, ba ác như chỗ tối, phát tâm như chiên đèn, quán hạnh như ánh sáng. Hỏi: trở xuống là phân biệt. Hỏi: Trong bốn hoằng trước, bốn giáo quán chung nhân duyên mà sanh tâm, vì sao chỉ riêng Mật tạng sơ giáo mà đối nhân duyên? Đáp: Trong hai ý, thì ý đầu đối bốn câu thứ lớp mà đáp, ở đầu trong bốn pháp sanh diệt nhân duyên lại ở đầu trong bốn câu, lấy đầu đối đầu nên chỉ nói tên đầu tiên mà thôi. Kế từ nhân duyên trở xuống là y cứ pháp tướng chung biệt mà đáp. Pháp nhân duyên đã là sự tướng, quán trước quán sự đối đầu là tiện, sự tướng là thông, chung cho bốn giáo là cảnh được quán. Nếu nói trở xuống tức là từ biệt. Sơ giáo cũng do từ biệt mà được tên, ba thông sau lấy nhân duyên làm cảnh. Vô sanh vô lượng cho đến vô tác tức là từ biệt. Kế y cứ sáu tức. Đời có người giảng đều cho Sơ trụ là quả Phật, là cũng do ý mất ở sáu tức. Người giảng còn như thế huống chi là ám thiền. Trước nói lý do sáu tức, cho nên trước hỏi rằng: Đó là sơ tâm hay hậu tâm, trước tức là lý, sau là rốt ráo. Hỏi: Nay phát tâm là y cứ lý cụ gọi là hiển bày hay y cứ rốt ráo mới gọi là hiển bày? Đáp: Trở xuống là y cứ Đại luận mà đáp. Đại phẩm Tu-bồ-đề hỏi Phật là dùng sơ tâm được Bồ-đề hay dùng hậu tâm mà được Bồ-đề. Luận bảy mươi lăm giải thích rằng: vì sao Tu-bồđề hỏi câu này? Đáp: Tu-bồ-đề nghe các pháp trên không thêm không bớt tâm tự sanh nghi. Nếu pháp chẳng thêm bớt vì đâu được Bồ-đề? Chỉ có Phật được như thế, đâu quan hệ gì đến Bồ-tát. Phật dùng nhân duyên sâu đáp rằng: Nghĩa là chẳng chỉ sơ tâm, chẳng lìa sơ tâm. Vì sao? Vì nếu chỉ sơ tâm thì Bồ-tát sơ tâm phải là Phật, nếu không sơ tâm thì làm sao có hai tâm được. Hậu lấy sơ làm gốc, sơ lấy hậu làm hẹn. Phật dùng hiện dụ mà dụ trước sau này. Thí như đốt đèn, chẳng phải sơ mà chẳng lìa sơ, chẳng phải hậu mà chẳng lìa hậu. Đèn dụ cho đạo Bồ-tát, tim dụ cho lửa vô minh, như Sơ địa tương ưng với trí tuệ cho đến Kim Cương Tam-muội tương ưng với trí tuệ. Đốt hoặc vô minh chẳng phải trí đầu mà chẳng lìa trí đầu, chẳng phải trí sau mà chẳng lìa trí sau. Nói chung ba giáo cho nên y cứ đoạn vị. Nay chuyên y cứ viên nên chung phàm thánh. Lý tánh còn được gọi là Bồ-đề và chỉ quán, huống chi danh tự cho đến rốt ráo. Nay nói phát tâm ở tại địa vị danh tự. Đây gọi y lý hẹn tâm quả đầu. Lý quả đầu trước sau chẳng khác, y cứ sự sai phần sáu vị đều giáng, gọi là Lục gọi là Tức, chẳng tức chẳng lìa, nghĩ rất dễ hiểu. Cho nên Bồ-đề chẳng phải sơ chẳng lìa sơ, chẳng phải hậu, chẳng lìa hậu. Kinh luận y cứ đoạn, văn nay thông lý, lý chẳng thể phát gọi là chẳng phải lý, phát ắt y lý gọi là chẳng lìa lý. Phát tâm ở nhân gọi là chẳng phải hậu. Hẹn tâm quả sau gọi là chẳng lìa hậu. Cho nên phát tâm này phải biết sáu tức. Sơ chỉ gọi là lý cho nên chẳng phải sơ, lý tức là cố nên chẳng lìa sơ. Tên sau ở cực cho nên chẳng phải hậu, đến hậu mới cực nên gọi chẳng lìa hậu. Ở đây và đoạn vị nghĩa tuy khác chẳng tức chẳng lìa, ý ấy nhã hợp. Nếu trí tín trở xuống là giải thích ý. Tín sơ tâm đủ chẳng bác bỏ nói không trí cực mới mãn chẳng sơ không phần, thì sơ hậu đều phải, nói là cùng cực ở Phật, phàm phu thì không hẳn gọi là hậu phi, nghĩa là phàm có lý, lý tức là Phật gọi là sơ phi. Lìa sơ hậu phi phải biết sáu tức. Sơ tâm tuy tức nhưng chỉ gọi là lý. Cho nên lìa sơ phi cực quả tuy xa cũng nên có phần, cho nên lìa hậu phi. Nghĩa sáu tức này khởi từ một nhà, rất phù hợp viên chỉ, không bao giờ có các lỗi. Ám thiền là có nhiều Tăng thượng mạn. Văn tự là suy công người trên đều do chẳng hiểu sáu mà lại tức nghĩa, lý trở xuống là nêu tên. Sáu thứ này trở xuống là giải thích tên lìa lỗi. Tức cho nên phàm cũng đủ. Sáu cho nên cực chỉ ở Phật, cho nên thỉ phàm lý đủ mà chẳng nghi, không thú cầu, không khiếp sợ. Trọn thánh ở Phật mà không tăng thượng mạn vì sanh tự đại. Phàm là thường, cũng chẳng phải một, phẩm kế có nhiều. Thánh: Phong tục gọi chung Thánh là tiếng, vì nghe tiếng biết tình thông trời đất, suốt muôn vật. Kinh Dịch chép: bậc Thánh, là hợp với trời đất, đức hợp sáng với nhật nguyệt, hợp thứ lớp với bốn thời, hợp lành dữ với quỉ thần. Nay Thánh ra đời chẳng nghe tiếng ấy, biết chín giới tình thông đế lý, sướng các cơ hợp đức với Phật giáo, hợp sáng với hai trí, hợp tiết với bốn cơ, hợp minh hiển với các thành. Lý tức trở xuống là giải thích sáu tức. Trước giải thích lý tức, y cứ lý Như lai tạng mà giải thích ba đế. Tất cả chúng sanh có Như lai tạng, ba đế không thiếu. Như trong Viên giáo là trên bốn đế, bốn hoằng mà nói, từ vô thỉ lý đủ không hề nghe tên. Lý này không mảy may khác với Phật. Kế cũng là trở xuống là hiểu tên khác. Kế tức Tịch trở xuống là dùng một chỉ quán mà kết. Văn dưới rất giống. Danh tự trở xuống là giải thích tên gọi, tức vì có lý nên có sanh từ. Sanh tử dùng lý, chẳng biết sanh tử tức là lý, cho nên tên nhật dụng chẳng biết, như người đời dùng mặt trời mà chẳng biết ân ánh sáng. Chưa nghe tên gọi nên chẳng biết lý tánh đủ ba đế. Cho nên, chẳng biết Phật pháp ở trong phàm. Như trâu dê trở xuống là nêu thí dụ chẳng biết. Bốn phương gọi là phương, bốn duy gọi là ngung, trâu dê tuy thấy mà không biết rõ. Cho nên biết phàm tiểu chẳng các pháp thật tướng phương ngung. Thật trong thật như phương, quyền trong thật như ngung. Đây là nêu chẳng biết để nói lên biết. Kế hoặc từ nhân sau mà nghe cho nên biết, là biết lý thật tướng ở trên đã nói. nếu chẳng nghe tên thì do đâu mà hiểu. Người đời xem thường giáo là còn lý quán, lầm thay lầm thay. Quán hạnh trở xuống là giải thích quán hạnh, tức trước dùng hơn bác bỏ kém, cho nên làm thắng nghe, nghe ý ở làm, chẳng phải miệng nói. Cho nên nêu thí dụ như mọt đục gỗ. Như Đại Kinh quyển hai nói thầy thuốc bảo vua rằng: nay ông chẳng nên nói như thế, như mọt đục gỗ tình cờ được thành chữ. Sâu này chẳng biết là chữ hay không phải chữ. Người trí chẳng hề nói là mọt biết chữ, cũng chẳng ngạc nhiên. Các ngoại đạo được tên thường lạc mà chẳng hề hiểu nghĩa thường lạc. Nay cũng như thế. Nghe chẳng tu, hạnh chẳng hiểu, văn chỉ như nét mọt ăn, cho nên phải khiến nghe làm đầy đủ. Phải trở xuống là lại khuyên răn. Tâm quán rõ ràng là khuyên hiểu. Phải trước đối với lý mà khởi hạnh, lý tuệ tương ưng, khuyên hạnh phải trước ở lý mà sanh (hiểu), tâm này quán tương ưng với lý, Sở hạnh là y lý khởi quán, Sở ngôn là y hạnh mà nói. Dẫn hoa đầu, là đây trách nói mà chẳng làm, không phải bảo chẳng cần nói. Cho nên lại dẫn luận văn tuệ bốn câu. Đại luận quyển chín mươi ba chép: Có tuệ mà không học rộng thì cũng chẳng biết thật tướng. Ví như trong tối đen có mắt cũng chẳng thấy được học rộng mà không trí tuệ cũng chẳng biết thật tướng. Ví như trong sáng có đèn mà không chiếu không nghe, không trí tuệ, ví như trâu có thân người. Cho nên Đại luận nói như có người sanh ở vùng biên giới nước An Tức, tuy sanh ở giữa nước mà không thể giáo hóa, căn chẳng đủ, chi chẳng trọn, chẳng biết nghĩa lý, chấp tà kiến, v.v… thì đều gọi là trâu thân người. Có nghe có trí tuệ là chỗ nói nên chịu. Danh tự là nghe, quán hạnh là tuệ. Cho nên quán hạnh tức là người câu thứ tư. Nếu nghe thắng chân mà không hiểu ba đế thì nghe này chẳng phải tức. Nếu ở trong tối tăm mà chứng, thì không bằng ở trong tuệ mà không nghe, chẳng phải thứ tư mà sợ là thứ ba. Như mắt được mặt trời, đây là lại nêu thí dụ, thí dụ câu thứ tư. Đây là dẫn kinh Kim cương như người có mắt, ánh sáng mặt trời chiếu sáng. Mặt trời như học rộng, mắt như quán tuệ, văn tuệ đầy đủ, thấy ba đế lý gọi là các thứ sắc, tuy nói thấy sắc mà chẳng phải chứng đắc, tuy chẳng phải chứng đắc mà chứng phải do đây. Nên dẫn kinh Hoa-nghiêm để khuyên tập quán. Như kinh Lăng-nghiêm v.v…, quyển thượng nói rằng: Vì sao phải học Tam-muội ấy? Phật nói: Thí như học bắn tên trước phải tập bắn chuẩn lớn, kế bắn chuẩn nhỏ. Kế học bắn đích, kế học bắn tiền kế học bắn gậy, kế học bắn lông, kế bắn một lông, kế bắn 1/100 của lông. Như thế gọi là học bắn khéo thành. Âm thanh nghe được trong đêm tối, nếu người chẳng phải người không dùng tâm lực mà bắn thì đều trúng. Người tu Tammuội cũng giống như thế. Trước học ái lạc, học ái lạc xong kế học thâm tâm, học thâm tâm xong, kế học tâm đại bi, học tâm đại bi xong thì học bốn vô lượng, học bốn vô lượng xong thì học năm thần thông, học năm thần thông xong thì sẽ tự thành tựu sáu Ba-la-mật. Sáu Ba-lamật xong rồi thì liền thành tựu quán đất thứ ba. Chuẩn là vòng tròn lớn nhỏ bao quanh. Đích là hình con thỏ trong vòng. Văn kinh nói bắt đầu từ ái lạc, cuối đến Ba-la-mật, thành tựu ba địa, phải biết đích dần dần sẽ trúng, giống như vị Thông giáo. Địa quán thứ ba tức là đoạn kiến gọi là một phần thành. Nay mượn dụ ấy mà chẳng dùng pháp ấy. Cho nên người viên tức quán đốn lý. Như lúc đầu bắn trúng đích từ thân sơ, bắn là không hai. Cho nên kinh ấy văn dưới tự nói ý viên. Kiên Chí lại hỏi

Thiên Tử Hiện Ý rằng: Bồ-tát phải tu pháp nào để được Tam-muội ấy. Thiên Tử đáp: Muốn được Tam-muội phải thực hành pháp phàm. Nếu thấy pháp phàm chẳng họp chẳng tan, đó gọi là tu hành Tam-muội Lăng-nghiêm. Lại hỏi: Trong các Phật pháp có hợp tan chăng? Thiên Tử đáp: Pháp phàm còn chẳng hợp tan, huống chi là pháp Phật. Tu tập thế nào? Nếu thấy pháp phàm và pháp Phật chẳng hai, ấy là tu tập. Lại hỏi: Tam-muội ấy đến chỗ nào? Đáp: Đến tâm hạnh chúng sanh, tùy tâm hạnh chúng sanh mà chẳng bị ô nhiễm, tùy đến chỗ Phật là chỗ Tam-muội đến. Đây là tướng Tam-muội viên đốn. Nếu không có sáu tức thì làm sao tu tập mà chẳng lạm, cho nên mượn dụ bắn đích là sáu tức. Tương tự trở xuống là giải thích tương tự tức. Đã nói càng quán càng sàng. Càng chỉ càng tịnh, như bắn đích gần cho nên khác nhau. Trước học bắn chuẩn sau mới học bắn đích, tất cả thế gian trở xuống là dẫn kinh Pháp Hoa, chỉ là thuận theo tương tự thật tướng gọi là chẳng trái nghịch. Chỉ nói tư tưởng đều là trong kinh Phật nói trước mà chẳng được nói cái gọi là kinh. Nếu thế thì phần chân tám tướng thành Phật, tức như kinh Tịnh Danh tuy xoay bánh xe pháp vẫn gọi là hạnh Bồ-tát, tức Sơ trụ trở xuống là hạnh Bồ-tát. Phần chân trở xuống là giải thích Phần chân tức. Vào Đồng Luân, là kinh Bản Nghiệp Anh Lạc quyển thượng ý dùng sáu nhân vị mà dụ cho sáu luân, cho đến sáu tánh, sáu kiên, sáu nhẫn, sáu định, sáu quán, v.v… đều đặt tên Anh Lạc, vì lấy vị này để trang nghiêm pháp thân. Nói sáu Luân, tức là Thiết luân Mười Tín, Đồng luân Mười Trụ, Ngôn luân Mười Hạnh, Kim luân Mười Hướng, Lưu ly luân Mười Địa, Ma-ni luân Đẳng giác. Luân là nghĩa nghiền nát và dẹp bỏ các hoặc. Trước phá một phẩm thấy ba Phật tánh, khai ba đức tạng, hiển một phần lý. Cho đến Đẳng giác dần sâu dần rõ là Tiệm của viên gia. Như từ trở xuống là nêu Nguyệt Dụ Phẩm của Đại Kinh mà dụ cho vị. Như Pháp Hoa Huyền bốn câu phân biệt, khai trước hợp sau, như tầng trời ba mươi ba, khai sau hợp trước như mười bốn Bátnhã, v.v… trước sau đều hợp như khai thị ngộ nhập. Trước sau đều khai như bốn mươi hai chữ. Nếu người phải trở xuống là giải thích phần chứng vị ngoại công dụng. Thân Cõi Phật: cho đến chín giới đủ như Tam-muội Phổ Hiện sắc thân, ba mươi ba thân mười chín nói pháp. Văn kinh đầy đủ ý mười giới. Tám bộ là: trời, quỉ, súc, A-tu-la cho đến đáng dùng địa ngục để độ thì liền ở cõi địa ngục mà độ. Bốn chúng là người và Bồ-tát, Nhị thừa diệu âm thêm Phật mười giới đầy đủ. Nói Phổ Môn, là như Pháp Hoa Sớ mười nghĩa giải thích khắp. Rốt ráo trở xuống là giải thích rốt ráo tức Trí Quang tròn đầy cũng là dụng ý Nguyệt Ái trong Đại Kinh. Bồ-đề thuộc về trí đức, Niết-bàn thuộc về đoạn đức. Cho nên nói Đại Niết-bàn đoạn. Hai đức Trí – Đoạn không còn khác lúc, Bồ-đề dịch là Đạo, phải đặt tên trí, Niết-bàn vắng lặng phải đặt tên đoạn. Chỗ trí đức mãn lại có đoạn đức. Cho nên nói quả và quả quả rốt ráo mà luận. Ba Bồ-đề mãn tức ba đức mãn, quả và quả quả vẫn thành giáo đạo. Quá đồ vô đạo, đạo vốn năng thông cho đến sở thông, sở thông đã rốt thì năng thông cũng hết. Rông như đầu quyển. Lại đạo là nghĩa nhân, vì quả mãn nên chẳng có nhân. Vì bốn mươi hai chữ rốt ráo cùng tột. Lại trong mỗi tức đều nói Bồ-đề cũng gọi chỉ quán, tức lá tên khác. Trong mỗi tức cuối cùng đều dùng một chỉ quán mà kết. Cho nên biết ở lý danh tự và quả đều gọi là chỉ quán. Đều dùng trở xuống là chung làm sáu tức mà nêu thí dụ. Đây là bần Nữ Dụ trong Đại Kinh ý có đủ sáu ý, nhà có kho báu lý tức, tri thức chỉ cho danh tự tức. Làm cỏ dứt các uế là Quán hạnh tức. Dần dần được gần là Tương tự tức. Gần rồi mở kho là Phần chân tức, lấy hết mà dùng là rốt ráo tức. Cho nên thứ tám nói ta tức là nghĩa Như lai tạng. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh tức là nghĩa Ngã. Từ vô thỉ đến nay bị phiền não che lấp chẳng thấy được. Thí như trong nhà cô gái nghèo có kho vàng, người trong nhà lớn nhỏ đều không biết. Lúc đó có người lạ khéo biết cách bảo cô gái rằng: nay ta nghĩ đến cô, cô nên vì ta mà quét sạch các thứ dơ bẩn. Cô gái đáp tôi chẳng thể làm được. Nếu chỉ cho con tôi kho vàng thì tôi mới nhanh chóng làm cho ông. Người ấy đáp: Tôi biết phương tiện có thể chỉ bày cho con cô. Người nữ chép: Nhà tôi lớn nhỏ còn chẳng biết, huống chi ông biết. Người ấy chép: nay ta xét biết. Cô gái đáp: Tôi cũng muốn thấy vậy có thể cùng chỉ cho tôi. Người ấy liền ở trong nhà mà đào kho lấy vàng ra. Cô gái thấy rồi tâm rất vui mừng, nghĩ việc lạ lùng khiến bao gồm khắp nhà. Dụ này trước sau chẳng ngoài sáu tức, là gồm hết ý dụ. Thích Châm quyển năm dẫn sớ giải thích rõ, v.v… Hỏi trở xuống là phân biệt. Có ba lớp hỏi đáp. Một là hỏi: Sáu tức đã được tên sáu Bồ-đề phải biết Bồ-đề cũng dính thỉ chung. Lý chung phàm hạ nên bỏ chẳng nói, năm thứ tức kia gọi là năm Bồ-đề, cùng nói đâu khác. Cho nên luận quyển năm mươi tám chép: Một là phát tâm Bồ-đề, ở trong vô lượng sanh tử thành A-nậu Bồ-đề. Hai là phục tâm Bồ-đề, là đối với các phiền não điều phục tâm ấy, khiến thực hành các Ba-la-mật. Ba là sáng tâm Bồ-đề, là quán pháp ba đời, tướng chung tướng riêng các pháp thật tướng, các Ba-la-mật. Bốn là xuất đáo Bồ-đề, là đối với Bát-nhã chẳng mê đắm Bát-nhã, dứt được các hoặc, thấy Phật mười phương ra khỏi ba cõi, đến Tát-bà-nhã. Năm là Vô thượng Bồ-đề, nghĩa là ngồi ở đạo tràng mà được Bồ-đề. Ý đáp, là trước xếp khác nên nói khác nhau. Kế hiểu nghĩa tuy vốn là khác, nay hiểu khiến đồng là sao, Luận chẳng nói tức cho nên thành khác, lấy năm cặp năm nghĩa hơi đồng. Phát tâm vô hạnh đồng với danh tự, phục tâm chưa dứt, đồng với quán hạnh, sáng tâm trừ tối đồng với tương tự, Xuất đáo tát vân đồng với phần chân, Vô thượng không ai hơn, đồng với rốt ráo. Tìm kỹ luận văn để đối năm tức, từ dung đối đương, lý rõ ràng bằng nhau. Lại dùng trở xuống là dùng năm danh để đối năm tức, nên có thể dùng năm danh mà đối viên vị. Nói viên vị là vị viên đoạn. Trụ đối phát tâm cho đến Mười Địa Đẳng giác để đối xuất đáo, Diệu giác đối Vô thượng. Kế hỏi: Vừa giải thích đối viên vị nghĩa các giáo điều phục trước, dứt sau. Vì sao văn này nói mười trụ dứt sau mà làm đối phục? Đáp: Trong đó nói chân đạo phục là Sơ trụ trở lên, đều là chân đoạn. Sao ngại trụ trở xuống là dứt trước phục sau. Như thế, cho đến Đẳng giác cũng còn phục. Tên gọi Phổ Hiền do đó ở đây. Ví như trở xuống là nêu Tiểu thừa lệ với dứt trước phục sau, thứ lớp riêng đối với đây mà dọc hội (hiểu). Lại từ trở xuống là hội ngang, mỗi vị đủ năm, nên gọi là ngang. Cho nên nghĩa trở xuống là kế dẫn Địa Luận, trong mỗi địa có các công đức, cùng trong các vị có năm nghĩa đồng. Kế hỏi: Sáu đã y cứ vị cũng phải gồm Biệt, sao ý dùng riêng Viên vị mà giải thích. Ý đáp là ba giáo trước các pháp chẳng phải tức, Thông tuy gọi tức chỉ là giới nội. Cho nên tên tức chỉ ở Viên giáo. Như các kinh luận nói sanh tử tức Niết-bàn, nếu không có sáu vị thì đâu khỏi tăng thượng mạn, nếu chẳng sáng thì lấy gì mà nói, Viên khác ba thứ trước nên nói chẳng như thế. Ở giáo ấy trở xuống là từ nghĩa dung mà giải thích, chẳng phải chánh ý của văn. Phải ba giáo trước, mỗi giáo đều đặt tên sáu tức, cái gì mà dung chẳng được, hồ giống như sao. Nói cạn gần, một là sáu nghĩa chẳng phải tức; hai là giáo trước chưa sâu, như trong ba tạng dúng chân đế làm lý tức, thuyên chân là Danh tự, ngoại phàm là Quán hạnh, nội phàm là tương tự kiến đạo là Phần chân, La-hán là rốt ráo. Ba tạng Bồ-tát đến, dưới cây cũng ở tự vị, ba mươi bốn tâm phần chân rốt ráo. Hai giáo Thông, Biệt so sánh, nói rất dễ hiểu. Nhưng từ trên trở xuống là kết thúc hiển bày. Trong phân biệt phi ở trước, chín phược y cứ khổ đế là Trầm, một thoát y cứ khổ đế là Thăng, tuy có thăng trầm mà đều chẳng phải hiển bày. Thị cho nên đều phân biệt chấp y cứ trí bốn đế, là trong bốn thứ bốn đế đều dùng phát tâm, nhìn chung Tiểu thừa đều là cong vạy, v.v… Kế y cứ bốn hoằng, là trước y cứ bốn đế ở cảnh khởi giải đã có hơn kém, phân biệt kém từ hơn để hiển bày. Nay y cứ bốn hoằng từ giải khởi nguyện, biết phải lấp làm. Lại cũng tùy cảnh khác nhau khác nhau. Cho nên y cứ bốn hoằng hạnh nguyện mà phân biệt. Dẫu có hạnh nguyện thì ba trước chẳng phải diệu. Cho nên lại dùng sáu tức mà phân biệt. Cho nên nói xoay vần càng sâu bèn mới hiển bày. Cho nên biết trăng sáng thần châu v.v… là dụ ở văn kết thúc hiển bày. Đại luận quyển thứ chín mươi chín chép: Minh nguyệt ma-ni, châu này phi thường nên gọi Thần châu. Nay nói chín lớp là cùng cực của số dương, cho nên nêu ra để dụ cho rất sâu, cũng chẳng cần dùng văn này mà phối chín. Ly Long là mầu đen chẳng có sừng, là rồng cái. Lại ly ngựa mầu đen, nay vì mầu đen nên gọi là long. Lãnh là xương dưới đầu gọi là lãnh xa cốt. Luận nói châu này ở trong não rồng, người có phước mới được, như đồ tra khảo ở địa ngục, người có tội mới gặp. Châu này bay sanh ra bốn sự, cho đến lửa chẳng đốt cháy v.v… Cho nên biết rồng ở cực châu, châu ở cằm rồng. Rồng ấy lại độc, kẻ bạc đức đâu có được. Như thế hiển bày, trước chỉ y cứ khổ đế, kế y cứ bốn là bốn đế, kế y cứ bốn thứ bốn hoằng, sau y cứ sáu tức. Từ rộng đến hẹp, từ thô đến tế, mới là hiển bày ở viên diệu, chín chỉ hiển bày sâu chẳng nhọc đối riêng. Phàm lập thí dụ đâu cần phải lấy hết. Như đối số (đếm) thì chẳng tiện, huống là đem rồng ở vực mà hợp dụ. Pháp thì nặng ở nghĩa chẳng phải gấp, huống chi sáu tức chẳng khác bốn đế. Lại trong bốn hoằng thứ tư vô tác, nếu khai quyền rồi ba thứ trước đều thật. Cho nên văn cuối bốn hoằng phân biệt rằng: Nay hiển bày vì sao đều nói thị. Khai quyền hiển thật thì bốn thứ đều thị, lấy gì mà phân biệt nên chẳng thật có. Một lần chung lấy phân biệt phi làm một, hai. Bốn là tám hợp thành chín lớp. Sáu tức xem là hiển bày Bồ-đề, dùng ngọc làm dụ có gì chẳng được. Nhưng bốn đế, bốn hoằng, cho đến sáu tức đều là năng hiển, phát tâm Bồ-đề đều là sở hiển, vì mỗi pháp đều hiển bày tâm Bồ-đề, đều là thần châu, cho nên cũng bất tiện. Nói có chí có đức mới được là như Đại luận quyển mười bốn chép: Năng thí Thái tử hay tìm ngọc này để cứu chúng sanh. Trước sanh cung rồng mà làm Thái tử, cha mẹ yêu thương tức dùng thân mình mà nuôi chim cánh vàng, sanh vào cõi Diêm-phù-đề làm Thái tử gọi là Năng thí. Sanh rồi liền đòi vật để bố thí, kho tàng trống rỗng chẳng đủ. Nghe nói châu rồng bèn muốn xuống biển tìm. Cha mẹ chép: Cho con một kho tàng, mặc tình bố thí, v.v… Hẹn ngày, cùng năm trăm người lái buôn ra biển. Có mười người mù từng bảy lần ra biển, v.v… Đến núi bảy báu mọi người muốn lấy. Bồ-tát chép: Chẳng lấy. Các người được rồi đem về, Bồ-tát riêng đi một mình, bảy ngày đi nước đến rún, bảy ngày đi nước đến eo, bảy ngày đi nước đến gối, bảy ngày đi bùn, bảy ngày đi hoa, bảy ngày đi đầu rắn dữ, qua đây thì đến thành bảy báu, có bảy lớp hào rãnh, hào có rắn độc, thấy Bồ-tát bèn nói: Đây không phải là người phàm, ắt là Bồ-tát có phước đức lớn. Trước nghe vào cửa. Rồng này mất con chưa bao lâu cũng than khóc. Thấy Bồ-tát đến, vợ có trí thông minh biết là con mình, hai vú chảy sữa, cho Bồ-tát bú, bảo rằng ngươi là con ta. Bồ-tát cũng biết là cha mẹ mình. Hỏi: Ngươi sanh ở đâu? Đáp: Sanh ở Diêm-phù-đề, làm Vương Thái tử, thương xót chúng sanh tìm ngọc Như ý. Mẹ chép: Trên đầu cha con chỉ có hạt ngọc này để trang năng lực, rất khó thể được. Các kho cứ mặc tình mà lấy. Bồ-tát chẳng chịu liền đến gặp cha. Cha thương con nên nói cứ mặc tình lấy. Ngọc này khó được. Người ở cõi Diêm-phù-đề vì phước mỏng nên chẳng thấy được. Thái tử chép: trước lấy ngọc thí, kế dùng pháp dẫn dắt. Người Cha chép: Khi ngươi chết rồi phải trả ngọc lại cho ta. Đáp rằng xin vâng. Bồ-tát được ngọc bèn bay lên hư không mà trở về trước trường biểu thượng lập thệ mưa báu cho nên ít phước mà chẳng thể phương, nếu chẳng cùng ở trong vực sâu sanh tử rồng độc phiền não, thì do đâu mà được rốt ráo Bồ-đề. Cho nên dùng khổ đế thăng trầm khúc chiết hạnh nguyện sáu tức v.v… mà phân biệt mới hiển bày Viên Thị. Tranh chấp v.v… là lại nêu thí dụ, so sánh. Đại Kinh quyển hai bác bỏ ba tu rằng: Các ngươi phải biết trước chỗ tu tập vô thường, khổ v.v… không phải chân thật. Ví như mùa xuân có nhiều người xuống ao tắm, ngồi thuyền dạo chơi, mất báu lưu ly chìm sâu dưới đáy nước. Khi đó mọi người đều xuống nước, tranh nhau mò lấy ngói đá, gạch sõi đều tự bảo đã được châu lưu ly và vui mừng vớt lên, mới biết là không phải thật. Lúc đó, châu quý vẫn còn dưới đáy nước. Cũng như ngy cứ nhìn trăng trên hư không. Bấy giờ, mọi người dùng năng lực phương tiện từ từ xuống nước, liền lấy được hạt ngọc. Cho nên chẳng cần phải tu vô thường, khổ, v.v… vì là chân thật. Chương An chép: Mùa xuân vui thích là dụ cho cảnh Dục, mọi người là dụ cho đám người chơi bời lêu lỏng. Ao lớn dụ cho sanh tử, tắm dụ cho sân mạn, ngồi thuyền dụ cho các nghiệp, dạo chơi dụ cho ái quả, mất báu dụ cho không hiểu, xuống nước dụ cho Sơ giáo, mò lặn dụ cho kém ba tu, ngói gạch dụ cho chứng kém ba tu, đều nghĩ là mình đã được diệt độ. Trong chấp ấp ủ nên gọi là vui mừng, hướng Phật ngợi khen nên nói đem ra, mới biết chẳng phải thật là dụ cho thường hiểu. Nay lấy ba giáo lệ chung cho ba tu, tức dùng cảnh sở quán của ba giáo gọi là cảnh dục. Các văn khác thứ lớp dùng ý ba giáo mà thay thế ba tu kia, cũng rất dễ hiểu. Nếu lấy chung bốn giáo Bồ-tát, cũng phải bác bỏ ba tu Thanh văn. Thế nên, cùng với ví dụ ao rất là phù hợp. Từ xưa, người giảng nên dụ văn này. Chưa phải đúng lắm, kẻ học thấp học ngoài da. Người đời sau học cạn chẳng biết hiển bày cái đúng chỉ ở viên diệu, cho đến khai hiển trong một tâm, thì sẽ lấy gì làm kỳ hạn cho phát tâm. Kỳ hạn ấy đã không, thì phát hướng về đâu? Phát đại tâm đã xong.

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.