Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

PHÁP HOA VĂN CÚ KÝ

SỐ 1719

QUYỂN 01

Đời Đường Tông Thiên Thai Sa môn Trạm Nhiên thuật

 

(Phần Thượng)

GIẢI THÍCH PHẨM TỰA THỨ NHẤT

“Văn cú”: “Văn” là văn tự, một bộ từ đầu đến cuối, cho nên nói: “Văn” tức là tự, là hai sở y. “Cú”: là cú đậu (là dấu ngắt giọng, tức là dấu chấm phết trong sách), để biết nghĩa thông dài ngắn, cho nên nói: danh thuyên tự tánh, cú thuyên sai biệt. Đây cũng không luận về hình thức cấu trúc và thể loại sáng tác văn thơ. Nay chỉ dùng câu mà phân biệt văn kia, cho nên nói “Văn cú”. Chương sớ xưa thì hoặc riêng đề Sớ hoặc riêng đề Chương. Chương: là văn chương hoa mỹ. Kinh Thi nói: “Văn chương ấy đều do nhân sĩ (người có học vấn) phát ra lời nói thành chương, cũng gọi là chương đoạn. Phân đoạn giải thích thành bao nhiêu chương. Sớ: là lời ý thông suốt, cũng là biên chép. Lại, sớ âm sơ, tức sơ thông sơ điều sơ lũ, nay đều không nói ý như trước nói. Đề dưới giải thích ý trong sáu nạn, đây dùng văn dưới trong phần Pháp thuyết tán thán pháp hy hữu. Chư Phật xuất thế xa xôi khó gặp, dù cho xuất thế nói pháp ấy lại khó, vô lượng vô số kiếp nghe pháp ấy cũng khó, năng nghe pháp ấy người này cũng lại khó. Chương an trí nơi kinh đối với pháp nghe và người năng nghe trong hai việc khó, nghĩa chia làm bốn nghĩa là truyền dịch… hợp thành sáu nạn. Nhưng trong nghe pháp thì tại thời Chánh pháp A-nan nghe trong pháp hội, nghĩa thông đời Tượng pháp Mạt pháp, cho nên nhờ truyền dịch thời có thể được nghe. Đức Phật xuất thế rồi mà người vô duyên vẫn không gặp, cho nên trải qua nhiều kiếp người nghe còn khó huống chi tu hạnh khai ngộ, nói biên chép lưu thông. Khó thứ nhất và hai căn cứ ở chủ và vị, ba, bốn tán thán giáo, hạnh, năm, sáu tự may mắn tỉnh ngộ. Cho nên thứ nhất và hai tại Phật, ba, bốn thuộc Sư, năm, sáu bài xích mình. Trong ba cặp, mỗi một cặp đều là trước chung sau riêng. Vả lại, khó thứ nhất và hai: xuất thế cũng như chung vì chung một đời. Tiếp đến nói riêng, riêng ở kinh này. Tiếp, trong khó thứ ba, bốn, thì đầu tiên là Sư truyền dịch chung tất cả giáo, tiếp Sư dạy bảo riêng cho ta noi theo. Tiếp, trong khó thứ năm, sáu, thì nghe giảng vẫn thông vì chung với người khác. Một lần ghi nhận riêng chỉ thuộc mình cho nên trong ba cặp từ rộng đến hẹp, càng về sau càng hẹp so với trước. Cho nên từ khi đức Phật xuất thế đến nay, cho đến nghe tự ngộ, vì nói một lần ghi nhận, thế nên ghi nhận Phật thừa thật là rất khó!

Nói chủ vị: Chủ hưng khởi không dễ, lại trải qua bốn vị mới diễn nói kinh này, cho nên nói cái thứ nhất và thứ hai thật là không dễ. Nói tán thán Giáo: Truyền dịch không dễ, trải qua núi biển tuy đến cõi này dân chủ đạo hợp, nước không có các nạn mới có thể truyền. Nói tán thán Hạnh: Là vâng lãnh lời dạy của Nam Nhạc: “chứng không (nhờ) do người khác, mà do từ lâu gieo trồng thiện căn diệu ngộ đến nay phát sinh”. Nói tự tỉnh: Là tự vui mừng được nghe thỏa thuê rồi liền nhớ. Cho nên Huyền Tự nói: “Ở Giang Lăng bẩm thọ tôn chỉ mầu nhiệm, ở Kiến Nghiệp mới nghe kinh văn bổ tiếp mới thành một biến mà thôi! Huống chi hai mươi bảy phen nghe, sáu mươi chín phen chữa trị, từ đầu đến cuối hơn bốn mươi năm, chính là tu bổ phục nạn thứ bảy. Lại đối với sự truyền dịch trước cộng thêm nạn kết tập, trở thành tám nạn. Vì khi kết tập cũng nhờ vương thần đại chúng hòa hợp, khiến cho hoặc ma hoặc ngoại đạo không xâm phạm được. Thiêm: là thêm phá bỏ cổ sư và dẫn kinh luận. Nghĩa là bác bỏ nghĩa sai, hiển bày nghĩa đúng. Tước là gọt bỏ sự rườm rà dài dòng cho đến thành văn thể, khiến văn tóm lược mà nghĩa phong phú. Phá Cổ sư không hoàn toàn thuộc về riêng mình, mà còn thêm các ý kiến khác, cho nên chỉ gọi là thêm. Tước là chỉ ở riêng mình, ban đầu ghi chép rườm rà cho nên nói là tước. Huyền Tự nói: “Hoặc dùng kinh luận nói phù hợp với nghĩa sâu xa vi diệu đây, hoặc nêu các kiến giải khác nhau của các sư, nghiệm chứng nghĩa kia sai hay viên mãn”. Lưu tặng hậu hiền nghĩa là: Bài Tựa Huyền Văn nói: “Văn đây nếu rơi mất thì tương lai thật đáng thương!”. Kinh Niết-Bàn nói: “Hoặc cây hoặc đá”. Kinh này nói: “Hoặc ruộng hoặc làng”. Đời sau hạnh giả biết cam lộ môn chính ở nơi đây. “Cùng hy vọng Phật tuệ” là tự mình chẳng phải ở núi Linh Thứu, thân gần đạo tràng khế ngộ, mà tìm tòi một lời giáo chỉ hiển bày tông chỉ tột cùng của năm vị, vả lại làm sao để làm nền móng Phật tuệ cho bậc hiền sĩ đời sau ư! Cho nên nói Phật tuệ cần phải khai mở tam giáo quả đầu Quyền Thật, phát bốn vị bao gồm Đại Tiểu thì Nhân, Lý, Giáo, Hạnh có chỗ quay về, Khai Thị Ngộ Nhập không khác, chính là Phật tuệ của Kinh này.

Hỏi: “Viên giáo trong các kinh có khác gì kinh này, mà cần phải nói “Khai” mới là Phật tuệ”?

Đáp: “Viên thật không khác, chỉ khác ở chổ chưa khai hiển”. Người sơ tâm cho là Viên cách Thiên, nên cần nghe khai hiển thật tướng các pháp.

Nếu đã nhập Thật chỉ luận tăng tiến, thì Quyền nhân ( người) đến kinh này, hoàn toàn cần phải khai (mở). “Ủy Thích”… là, biệt giải tên đề khắp cả bảy, tám quyển. Vì trong phần đầu tên tổng đã có ba pháp, ba pháp từ đầu đến cuối chỉ nêu bày một bộ. Vì sao? Vì trong một bộ chẳng gì qua được bản tích. Tổng, biệt của Bản tích lại vượt qua các thuyết. Ba, một trong Tích công cao hơn một kỳ nói pháp, bởi vì ba trong một vĩnh viễn khác với giáo trước, tức ba là một không đồng các kinh khác. Tức là Tích mà Bản đến phẩm Thọ Lượng mới bàn đến, tức Tích của Bản đầy đủ nói ở đây. Vả lại, như thể trong Tích, chẳng phải nhân quả, mà dựa vào thể đó để biện minh nhân quả, nhân quả nhận lấy thể mới có thắng dụng. Như vậy, ba pháp đều do khai hiển. Nếu không trước hiểu rõ diệu lý năng khai, thì làm sao hiểu rõ sự thô của sở khai, cho nên đối Tích biện rõ lý Bản cần phân định, phán xét, do đó giải thích đề không thể không cẩn thận như vậy. Đề kinh trở xuống, biệt giải thích lý chẳng dễ dàng, vì bởi giải thích đề phần lớn nghĩa thuận theo, nên đến kinh văn chỉ thô phân chương đoạn, đề tên “Văn Cú”, chính lý do này. Cho nên, chỉ phân văn cú thì phần lớn lý không được hiện rõ. Chỉ đàm luận yếu chỉ huyền diệu thì mê nên khởi hết, nếu đeo nhau để nói thì kia đây không có điểm quy tụ, cho nên khiến hiểu rõ mà giải thích (tiêu thích), phàm đến nghĩa Đại đều chỉ huyền văn gọi là Thể, Tông, Dụng ba thứ.

1. Tổng biệt gửi theo hành, căn cứ giáo cho nên biết hoàn toàn mê nơi đại tôn chỉ của huyền văn, mà muốn dùng “Văn cú” để hiểu kinh, cố nhiên che lấp lý quán sâu vi tế mà chỉ dùng sự tướng giải thích nghĩa, nói rộng kinh này thì lại xa. Nay hỏi người hoằng kinh vì danh lợi che tâm hay vì đại bi lợi ích người? Tự hành mờ tối nơi Diệu tông thì đâu khác người mù dẫn lối! Kia, đây đều mê, lợi mình, người đều mất. Lại nữa xướng Diệu Pháp chẳng phải chỉ có chánh tông, mà cả hai mươi tám phẩm đều gọi là Diệu, trong mỗi phẩm đều hàm đầy đủ thể v.v… Trong mỗi một câu thông kết Diệu danh, Giáo, Hạnh, Nhân, Lý kia đây nhiếp giữ với nhau, khiến cho diệu chỉ không mất mà dần tựa như mở ra thông suốt. Áo, tòa, nhà, răn bảo tư duy tự khắc ghi, song liệt kê khắp việc khó không thể thường như vậy. Nay tùy nghĩa tiện rộng lược Thích hợp thời, cho nên các phẩm Phương Tiện, An Lạc, Thọ Lượng, Phổ Môn đều là nguồn gốc của bản tích là điểm trọng yếu của kinh này cần phải xác thật phân biệt, ngoài ra thì tùy nghi.

Tự trở xuống một bộ phần lớn tên đã chỉ ở giải thích trước, gọi riêng một phẩm trở xuống là lược trình bày. Ngài Duệ Công cũng nói có hai mươi tám phẩm sinh khởi thứ lớp, nay tùy các vị giải thích căn cứ ý có thể biết. Nhưng mỗi một phẩm ban đầu đều có bốn ý: Thích danh, Lai ý, Thích phương, Thích văn. Thích danh cần phải có bốn nhân duyên v.v… Lai ý, Thích phương hoặc có hoặc không. Có khi trong Thích danh gồm cả Lai ý, có ngăn ngại nên phải giải thích (Thích phương), đâu có lệ như vậy ư? Lại Thích danh cùng nghĩa xen lẫn có không, cho nên Thích danh một thứ hoặc ở trước nghĩa giải thích riêng, hoặc kèm theo danh để giải thích nghĩa. Dù ở trước nghĩa giải thích riêng, mà tức trở lại đem ý riêng để quán xuyến nghĩa, danh nghĩa nếu hiển thì một phẩm có thể theo. Cho nên, khiến mỗi một phẩm hoàn toàn đồng tôn chỉ của bộ. Giải thích như vậy mới sáng tỏ đường mê tùy mình, kia đây hỗn loạn, nếu hiểu được ý nầy thì đến dưới dễ biết.

Nay ban đầu giải thích danh gọi là Huấn, Tường, Tự. Trước giải thích chữ Huấn, tiếp giải thích chữ Nghĩa, nhưng giải thích trong Huấn lại giống như theo nghĩa. Tường là an tường, Học xá, Dưỡng cung (nhà học, cung nuôi dưỡng) đều chẳng phải ý nay. Bộ Nhĩ Nhã nói: “Vách Đông Tây gọi là tựa, phân biệt trong ngoài”. Đây có thể mượn dùng để giải thích biệt tựa, như do biệt tựa mới khác các kinh. Thông tựa khác ngoài cũng có thể bao gồm dùng, do đó ban đầu dùng chữ Huấn, chính là từ biệt tựa. Cho nên nói: Có cấp bậc… Kiêm dùng an tường tức không phải bỗng nhiên nhảy vượt ý thứ tự, cũng là hai tựa cùng có. Nếu đối biện ắt trước chứng tín sau mới phát khởi, hay trước phát khởi sau mới chứng tín, hay trước hai tựa sau mới chánh tựa, nên hai tựa đều có, trước sau cũng vậy. Cho nên ngài Quang Trạch nói sinh khởi chẳng hoàn toàn sai ý, chỉ thiếu chỉ rõ báo cho nên bác bỏ. Cho nên nói cấp bậc… nghĩa bao gồm Thông, Biệt. Lời hỏi đáp không thiếu nghĩa thông, trước thụy sau vấn, thứ lớp như vậy. Di-lặc, Văn-thù tứ vị khách chủ, hoặc hỏi hoặc đáp đều là Tường tựa, phục nghi, phục nạn khách chủ vẫn còn như vậy. Kinh gia đoạn dưới theo chữ Nghĩa giải thích. Ba nghĩa phân hai, tiếp thông hai biệt, thông trong hai bài tựa thông lại biệt đứng đầu. Hai tựa đều đứng đầu thông thì được tên vị đứng đầu ở dưới. Vậy thì hai mươi bảy phẩm mới gọi là kinh. Do Tựa theo Chánh, Thông gọi là kinh, cho nên nói “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Phẩm Tựa”.

Nói nguyên do thuật: Lý do nghi điềm lành, thuật lời hỏi đáp, trong văn không dùng nghi niệm đối với nguyên do thuật, cũng có thể bao gồm cả hai, nghĩa là phát lời nói bày tỏ nghi cũng gọi là thuật. Tập chúng cũng có thể lấy làm nguyên do xa. Vì ít cho nên lại sắp xếp. Nói “lộng dẫn”: là dùng dụ hiển bày, giảng giải dẫn lộng gia nên gọi là “lộng dẫn”. Cũng có thể chánh lộng cũng được gọi là dẫn, như ca dẫn múa, tựa nghĩa có thể biết. Cho nên Chánh thuyết như lộng, hai tựa như dẫn, cho nên dẫn cũng là ca, nghĩa là đàm thuật, cũng là dẫn phát nghĩa. Chương sớ người xưa lấy âm “Dận” cho thuận tiện để làm “Dận Thích” (giải thích tiếp nối). Lại mê ở “Chương thảo” lấy lộng làm Hô (kêu gọi), lấy Dận làm Triệt. Sự lầm lẫn này từ xưa đã có như thế, chữ Triệt thành chất chồng hai lỗi. Đầy đủ ba nghĩa đây, tức là mỗi phẩm bao gồm thông biệt cho nên phải đầy đủ ba.

Phẩm: Tựa danh ở biệt, nghĩa phẩm thì thông xuống dưới các phẩm để thông theo biệt, không giải thích lại, cho nên chỉ giải thích biệt để sắp xếp nơi thông. Trong đây, trước là dịch tên, tiếp là giải thích nghĩa, sau là nêu nguyên do lập phẩm. Nói nghĩa ấy: Là giải thích nghĩa của chữ Phẩm, chẳng phải nghĩa đề của phẩm, cho nên chữ nghĩa thì thông tên đề theo biệt. Nói nghĩa loại đồng, tức các phẩm đều như vậy. “Tụ” là vì cái gì nên xuất ra người đó, ban đầu phiếm chỉ các kinh khác, như Phẩm Tâm Địa Phật tự xướng. Như Đại Luận tức luận thuật một bộ Đại Phẩm các nhà kết tập xưa chỉ ba phẩm: 1. Tựa. 2. Ma sự. 3. Chúc lụy.

Nói người dịch: Cũng chỉ Đại Phẩm vốn chỉ ba phẩm. Ngài Cưuma-la-thập đời Ngụy Tần năm Hoằng Thủy thứ năm ngày 23 tháng 4 dịch xong. Lại nương bốn ý đại khái thêm thành chín mươi phẩm gọi là Nhân, Nghĩa, Pháp, Sự: Nhân như Lâu-na, Nghĩa như quán không, Pháp như tam giả, Sự như ma sự. Cũng như trong Đại kinh nói Thuầnđà thương tiếc than thở… lại chẳng phải người dịch chỉ hỗ trợ cho người dịch tức phải cảm ơn thêm ngài Cưu-ma-la-thâp; căn cứ đây nên biết các kinh không phải đức Phật tự xướng mà cho đến kẻ kết tập, và người dịch thêm vào.

2. Tiếp chánh nêu kinh này, như phẩm Dược Vương nói: Phật bảo Tú Vương Hoa: “Nếu có người nghe phẩm Dược Vương Bồ-tát Bản Sự này năng tùy hỷ tán thiện”… Lại nói: “Tú Vương Hoa! Vì thế ta đem phẩm Dược Vương Bồ-tát Bản Sự giao phó cho ông”. Cho nên nói: “Nếu có người trì phẩm này, sau khi hết thân nữ không thọ trở lại”. Cuối Phẩm Diệu Âm các nhà kết tập kinh nói: “Lúc nói phẩm Diệu Âm lai vãng này có bốn vạn hai ngàn thiên tử đắc Vô sinh Pháp nhẫn. Cuối phẩm Phổ Môn, kinh gia cũng nói: “Lúc Phật nói phẩm Phổ Môn này có tám vạn bốn ngàn chúng sinh đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng giác”. Cho đến cuối phẩm Đà-la-ni, Diệu Trang Nghiêm Vương khuyến phát đều như vậy cho nên nói “đẳng”. Người dịch chưa nghe thì kinh này không nói, nếu không có các tập gia nói và không có Phật tự xướng nói, thì giống như thuộc về người dịch, do trong văn các phẩm trước đầy đủ, nên biết đều là kết tập sắp đặt, tin rằng không có người dịch là rõ. Cho nên kinh này từ các phẩm khác trở đi, phần nhiều là người kết tập đặt để, do không có nói lợi ích nghe phẩm nên ở sau phẩm không có kết đó thôi. Dùng thông theo biệt nên đầy đủ bốn giải thích, do trong thông tựa mỗi một câu đều có bốn thứ nhân duyên v.v… khi biệt tựa hoặc thiếu một, hai thứ, cho nên giải thích chữ Tựa thiếu bốn nghĩa. Nếu hai bài tựa tương đối thì nghĩa lập cũng có thể, hai tựa không đồng, là nghĩa Thế giới. Biệt tựa phát khởi hâm mộ tức là Vị nhân, thông tựa chứng tín trừ nghi là Đối trị, hai tựa giới thiệu chánh là đệ Nhất nghĩa Tất-đàn. Căn cứ giáo… ba thứ đầy đủ, như giải thích trong ba đoạn. Nếu riêng căn cứ ở thông tựa thì năm nghĩa không đồng là Thế giới, thông đều trừ nghi là Đối trị, thông đều sinh tín là Vị nhân, thông đều Tựa Chánh là đệ Nhất nghĩa. Ba thứ còn lại và biệt tựa, căn cứ đây có thể biết.

Từ “Đức Phật phó duyên” trở xuống, là muốn phân tiết kinh văn, trước biện rõ phân văn có không được mất, trong đó có bốn: Một, rộng dẫn các kinh luận. Hai, xưa giải thích sai lầm. Ba, nêu phẩm chẳng có chương đoạn. Bốn, rộng nêu phân tiết. Đầu văn hoàn toàn chẳng phải phân văn. Tiếp đến lỗi xưa tức là các vị giảng xưa phần nhiều không có phân chia tiết, đến An Công kinh không có Đại tiểu mới bắt đầu phân ba đoạn: Tựa, Chánh, Lưu thông. “Đãi” là nguy vậy, chẳng phải ý chính nay cũng gần như vậy. Tây Kinh Vũ nói: “Đời người bao nhiêu lần mất”. Nói khởi tận: Từ đầu đến cuối chương vậy. Nếu phân tiết rồi thì đại tiểu đều có tổng biệt khởi tận. Phần ba, từ “Lại đức Phật nói” trở xuống, ý nêu rõ lập phẩm, chỉ theo nghĩa loại không theo văn tướng, cho nên xét theo hai tướng “quán, tán” không thể lập phẩm, cũng chẳng phân tiết. Phần bốn, từ “Kinh Tăng Nhất A-hàm” trở xuống, kinh luận cũng có phân tiết, huống chi đời mạt pháp hoằng kinh cần phải hiểu biết khách chủ, cho nên Tiểu thừa tam tạng đều có sở khai. Bài tựa Kinh Tăng Nhất nói: “A-nan nói kinh vô lượng, số nay lại tổng lược làm nhất tụ, ta nay chia làm ba phần: Khế kinh một phần, luật hai phần, A-tỳđàm kinh làm ba phần”. Khế kinh nay sẽ chia làm bốn đoạn: 1. Tăng Nhất A-hàm. 2. Trung. 3. Trường A-hàm, nhiều Anh lạc. 4. Tạp A-hàm. Chính dùng bốn kinh A-hàm, gọi là bốn đoạn, cho nên nay nương theo ý đó chia làm bốn tiết. “Luật khai năm bộ”: Sau khi Phật diệt độ một trăm năm, có ngài Cúc-đa trì pháp giáo hóa chúng sinh, không có tướng thị phi chỉ làm một bộ không có Tỳ-ni tạng, tức Bát Thập tụng luật. Một trăm năm sau, năm đệ tử của Cúc-đa mỗi người có mỗi kiến chấp riêng không thể dung hòa làm một, liền phân một tạng ra làm năm tạng khác, như chẻ gậy vàng mà không mất dụng của vàng. Nay phân chia văn cũng như vậy, tuy phân chia làm nhiều đoạn mà biết đại ý chỉ vốn có một. Vì sự phân ra là đối với bản cũ nên nói là “kịp”. A-tỳ-đàm chia ra Lục túc, trong văn tự dẫn A-hàm lục độ không phải Lục Túc luận. Như kinh Tăng Nhất nói “Bồ-tát phát khởi Đại thừa pháp, Như Lai nói chủng chủng pháp này, người tôn kính nói lục độ vô cực: Bố thí, Trì giới, Nhẫn, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ lực, như trăng bắt đầu rồi đến độ vô cực soi thấy các pháp, Đức Phật nói các pháp không ra ngoài sáu thứ này”. Cũng giống như ý phân chương, nên Lục Túc luận hoàn toàn chẳng phải ý đây, như nói: l. Tập Dị môn túc, một vạn tám ngàn bài kệ do Xá-lợi-phất trước tác. 2. Pháp uẩn túc, có sáu ngàn bài kệ do Đại Mục-kiền-liên tạo. Hai luận này đời Đường ngài Tam Tạng dịch. 3. Thi-thiết túc, một vạn tám ngàn bài kệ do Ca-đa-diễn-ny Tử tạo, Đường Tam Tạng tương lai chưa dịch. Ba luận đây được tạo khi Đức Phật còn tại thế. 4. Thức Thân túc có bảy ngàn bài kệ do Bà-thiết-ma tạo, tức sau khi Phật diệt độ một trăm năm. 5. Phẩm loại túc, sau khi Phật diệt độ ba trăm năm do Thế Hữu tạo. . Giới thân túc, có sáu ngàn bài kệ, cũng do Thế Hữu tạo. Ca-đa-diên-ny tử tạo Phát Trí luận, dùng sáu nghĩa trước ít như chân; Phát Trí nghĩa nhiều như thân, tức chân có trước mà thân có sau, phân nghĩa không tiện, huống chi sáu luận đây đều là đời Đường Tam Tạng tương lai, đời Tùy chưa có nên không hợp chỉ (ngón tay), huống chi không có tướng phân tiết (lóng). Trong đó phá rằng: ba luận trước đã tạo ở thời Phật tại thế, vì sao tiếp cùng luận được tạo sau khi Phật diệt độ làm Túc? Chưa hẳn hoàn toàn như vậy, vì thân nhiếp chân (Túc) đó thôi. Lại Thành Thật luận nói: “Như Lục túc A-tỳ-đàm nói là chỉ Lục túc A-tỳ-đàm luận, cho nên không đối với Phát Trí luận làm thân, nghĩa là căn tánh lược nêu làm Kiền-độ. “Kiền-độ” là âm Tây vực, đây gọi là “Pháp tụ”, vì phân một bộ làm tám tụ: Nghĩa là Nghiệp, Sử, Trí, Định, Căn, Đại, Kiến, Tạp. Văn nói: “Căn tánh đạo định”, căn tánh là Căn, đạo tức là Trí. Chỉ lược nêu ba, ngoài ra như trước nêu.

Đại luận hỏi: “Tám Kiền-độ ai tạo? Lục phần A-tỳ-đàm xuất xứ từ đâu? Đáp: Đức Phật tại thế không mất, sau khi Phật diệt độ một trăm năm vua A-thâu-kha hội các luận sư vì sinh các bộ riêng, có người lợi căn, đọc hết Tam tạng muốn giải kinh Phật làm tám Kiền-độ, sau các đệ tử vì người đời sau không thể giải hoàn toàn mà chỉ lược làm A-tỳđàm. Người làm đầu tiên là Ca-chiên-diên. Ngài Thiên Thân trở đi tiếp dẫn luận nay có bảy công đức năm thị hiện… để liệt phân chương.

Bảy công đức: Luận nói pháp môn đây, đầu tiên phẩm thứ nhất nêu bảy thứ công đức thành tựu: l. Tựa thành tựu. 2. Chúng thành tựu. 3. Từ câu: “Vì các Bồ-tát nói kinh Đại thừa” trở xuống là muốn nói, tức Thời chí thành tựu. Nếu nói kinh Vô Lượng Nghĩa thì muốn nói đến Pháp Hoa, là Thời chí. 4. Từ “Nói kinh này” trở xuống, là pháp sở thuyết, tức Tùy thuận oai nghi trụ thành tựu. Do nhập định nên gọi là oai nghi trụ. 5. Từ “Phóng quang” trở xuống, là y chỉ thuyết Nhân thành tựu, do phóng quang nên thấy thuyết ở các cõi khác. . Từ “Di-lặc niệm nghi” trở xuống, nêu đại chúng muốn nghe pháp, tức Hiện tiền thành tựu. Do hỏi nên đáp, cho nên nói “muốn nghe”. 7. Từ “Văn-thù đáp câu hỏi” trở xuống, gọi là Vấn đáp thành tựu. Luận nói: “Tựa thành tựu lại có hai thứ: Thứ nhất, thù thắng trong tất cả các pháp môn, là các thứ Như thị nghiệm biết luận chủ hoàn toàn chấp nhận một bộ, vì thù thắng trong pháp môn, mới chỉ các thứ Như thị là thù thắng trong tất cả pháp môn, mà tất cả pháp môn tức một đời giáo, nếu không như vậy thì đâu có giải thích nói là tất cả pháp môn. Đã là tối thượng trong một đời giáo hóa, đầy đủ như trong phẩm Dược Vương. Thứ hai, văn tán thán giáo. Còn lại sáu thành tựu dưới đều có phân tiết.

Năm thị hiện: Luận cũng nói có năm phần: l. Tán thán pháp thắng diệu. 2. Từ “Ta thành Phật đến nay” trở xuống, là Tán thán công đức Pháp Sư. 3. Từ “Bấy giờ trong chúng” trở xuống,là Trí chúng định nghi. 4. Từ “Đức Phật bảo Xá-lợi-phất” trở xuống, là Định ký. 5. Từ “Xá-lợiphất! Chư Phật xuất hiện đời ngũ trược” trở xuống, là Đoạn nghi.

Từ “Hà Tây” trở xuống, là chánh nêu phân tiết. Hà Tây như bản truyện, Giang… Diêu tức Ngô hưng Tiểu sơn tự (đầy đủ như biệt truyện). Quang Trạch chuyển tế: Như Đông An pháp sư (đời Đường Đông Dương Vĩnh An Tự Khoáng Pháp Sư) giảng tam luận và các kinh Pháp Hoa… đều biên tập chương sớ, đến ngày mười lăm tháng giêng năm Trinh Quán thứ mười ba thì nhập diệt. Trở lại chịu khuất tam chỉ tức là quả nhân (người) thứ ba, biên chép Pháp Hoa sớ bốn quyển: Đầu nói: từ đời Lương Trần đến nay giải thích Pháp Hoa chỉ lấy theo ngài Quang Trạch riêng chọn nghĩa hay, các học giả sau chỉ đại khái giống như sấm. Sư Vân tuy có xem qua mà văn còn luộm thuộm. Ta suy xét lâu năm chỉ thấy văn cú nhiều lộn xộn chương đoạn trùng lắp, tìm văn nghĩa kia chưa rõ ý chỉ. Nay đối với nghĩa của sư Vân để nghiên cứu pháp thật, đại sư chuyên phá bởi có nguyên do. Cho nên biết sư Vân so với trước càng phức tạp. Nay đây không có hai lỗi kia, chỉ còn đại, chỉ không có sự phiền toái.

Từ “Trùng phân” trở xuống, là chương an bài bác xưa. “Phân”: là tuyết đọng nhiều lớp sương nặng che lấp khí trong xanh của thái hư khiến tam quang ẩn mất sự chiếu sáng, cho nên phân văn lộn xộn làm mất đại đạo của kinh, ba phép tắc ẩn mất mà chẳng dụng. “Tân”: Là bến bờ, nơi cứu vớt. Nếu phân nhỏ đoạn ngắn, thì không thích nghi cho người cầu ý chỉ của kinh, ví như giữa ngã ba đường có người hỏi đường, không đáp câu hỏi mà chỉ rộng luận rộng bàn con đường lớn rộng thông bốn phương tám ngã, đó không phải là điều cần thiết cho người hỏi. Ngài Đàm Loan người Bắc Tề chê rằng: Kinh văn khoa điều phân nhỏ như khói mây… bị gió thổi bay đi. Dương: Là gió bay. Che khuất thái hư rộng lớn lẫn lộn… căn cứ nghĩa trên kia nên dùng chữ “điều lệ”, nghĩa là khoa điều như vi trần, hoặc là chuyển lời nói ấy mượn thế dùng lời chẳng hoàn toàn đồng với kia. Cát đá tinh chất gọi là đá mài, thô gọi là khoáng, tạp vi trần tùy theo gió thổi bay đồng với khói kia che lấp. Nói “nếu quá…” là đem đây so với xưa, tiến thoái đều sai lầm. Vậy thì ngài Đàm Loan cũng chưa hoàn toàn chưa chịu phân tích rõ kinh văn. Lô Sơn Long có hai giải thích: Trước nói thân phương tiện… ý nói từ phẩm Bảo Tháp về trước nói quyền nói thật, cũng do trước Pháp Hoa là pháp Quyền vì nói phương tiện, đến Pháp Hoa là nói chân thật. Từ phẩm Bảo Tháp về sau, cổ Phật hiện toàn thân, nay Phật nhóm tập phân thân. Thân xưa ra lệnh bảo thân nay, thân nay đến thân xưa, hai thân đều ở trong tháp là tiêu biểu pháp xưa nay đồng thân phương tiện. Phẩm Thọ Lượng nói từ lâu đã thành đạo, số kiếp như trần đếm còn gấp bội, trung gian rũ áo ở Già-da chẳng phải chân thật, thân chân thật. Đạo lý ắt như vậy, thiên lập thành sai lầm. Trước có thể không có thân, sau đâu thể không nói! Chỉ dựa vào Quyền Thực Bản Tích tự nhiên đều thu về nói thân. Nếu chỉ nói thân thì Bản Tích sự hôn mê, chỉ luận Bản Tích thì thân nói tự hiển bày. Cho nên trong phẩm Thọ Lượng nói: “Hoặc nói thân mình hoặc nói thân người”, nên thân nói đầy đủ. Từ Phẩm Phương Tiện trở xuống nói ắt có thân, đâu cần phải dẫn đến mê hoặc.

Trong giải Thích thứ hai, Huyền văn rộng phá, do hai môn này mỗi mỗi đều có nhân quả. “Tề Trung Hưng ấn” là: “Chùa Trung Hưng (đầy đủ trong Biệt truyện) Ngài Huyền Sướng lấy phẩm Đề-bà-đạt-đa và Trì làm Tích môn lưu thông, và đem các phẩm Thần Lực v.v… trong phần Lưu thông ở sau phẩm Thọ Lượng của Bản môn, cùng làm phần quả, quả tại Bản môn. Lại phân hộ trì, hộ trì là tên khác của lưu thông cho nên không thể. “Lại có Sư” trở xuống, ý Sư này lấy chánh tông làm thể, chỉ dùng chánh của Tích không biết lấy chánh của Bản môn trở lại làm lưu thông, mà nói thọ trì công đức. Tích cùng giáo xưa dung hợp có thể giống, Bản cùng kinh trước hoàn toàn vĩnh viễn sai khác, trở lại vĩnh viễn sai khác hỗn loạn lưu thông cho nên không thể dùng. Có sư nói bốn đoạn chỉ hợp hai, ba làm chánh, rất phù hợp kinh văn, chỉ thiếu lập hai môn Bản Tích, ý nói đều có ba đoạn đó thôi! Kia danh đã thiếu, thì nghĩa sợ không đủ. “Ngài Quang Trạch nói có hai mươi bốn đoạn, đầy đủ trong lời sớ kia nói v.v…”, là tượng khí phân tán như mây trên trời không thể mất lượng. “Ý nói” trở xuống, là chưa nói còn nhiều như mây. Dưới có liệt nêu ngài Quang Trạch phân văn phần nhiều cùng nay giống nhiều khác ít.

“Lan cúc”: Chương an phá chấp. Đức Phật phó cơ nói đương thời xứng hội, đời sau phân tiết nương đây hiển bày lý, cố chấp thành tranh cãi tiến thoái đều trái, dù có khác đồng lan cúc kia “nhưng vẫn tùy thuận được ý” là nói, dù không hoàn toàn trái với tâm thánh mà cuối cùng chỉ là kiến giải tùy tình của người. Hoặc được thông dụng thô thiển, không nên khổ đấu tranh sợ mất bốn lợi ích. Kinh Dịch nói: “Mùi kia như hoa Lan”. Người xưa đều lấy hơi làm mùi. Thiên Thai: Chương an đối xưa cho nên phân biệt nói. Tên gọi Thiên Thai, nói đủ như Chỉ quán ký. “Nay ký…” tuy lại hiện có hai ý, mà dụng ý ban đầu, cho nên nói “theo trước”.

Hỏi: một kinh có nói những gì? Hỏi: Ý hiện có hai giải thích? Hỏi giải thích sau có ngăn ngại gì? Cho nên trong hai giải thích không chuyên giải thích sau tức là dùng Bản chánh trước lập lưu thông, lại nhất vãng (một phen) đó thôi. Trong phần trả lời nói: “Hoa Nghiêm mỗi mỗi nơi tập chúng”, là xứ hội đầy đủ như dẫn ở Thích Thiêm, mỗi một hội xứ đều trước là Tựa, tiếp theo là Chánh. Do trú xứ trang nghiêm nghĩa sẽ nơi Tựa. Nói tập chúng: Như Phẩm Diệu Nghiêm phẩm Danh Hiệu, phẩm Quang Minh Giác và mỗi một hội, đều trước tiên phải tập chúng. Ý nêu rõ một kinh đầy đủ nhiều biệt tựa. “A-hàm mỗi mỗi thiên như vậy”, đây là nêu rõ một kinh nhiều thông tựa. Bốn kinh A-hàm kia đều hợp với nhiều ít kinh lấy làm một bộ. Mỗi một kinh nhỏ không ra ngoài một tờ giấy nửa tờ giấy, chỉ Trường A-hàm Du Hành kinh văn riêng có hai quyển, lại có Đại bản kinh tự làm một quyển. Mỗi một đầu kinh đều có năm nghĩa, đã dùng A-hàm mà làm thông hiệu, cho nên dùng kinh nhỏ trong một bộ làm thiên. “Đại Phẩm trước sau phó chúc”, là nêu trong một kinh có nhiều lưu thông, cho nên trong quyển hai có phẩm Lũy giáo làm phó chúc trước. Thứ hai mươi bảy có phẩm Chúc Lụy làm phó chúc sau, căn cứ ba kinh hai tựa kia đâu có gì ngăn ngại.

“Nói năm nghĩa của không an” là giải thích phục nạn, nạn rằng: “Nếu vậy thì sao không đồng với A-hàm kia, nay bản tích cũng an như vậy… ư!” Giải thích ý: Tuy trình bày kinh này Bản môn chẳng phải ở đầu, nhưng cần phải giải thích A-hàm phòng ngại. A-hàm nhiều thông tựa, Bản môn cũng như vậy; nhưng A-hàm bao gồm nhiều kinh khác cho nên không phải tiếp phần đầu cũng được an năm việc. Kinh này đồng một kinh cho nên chỉ biệt mà không thông, vì vậy chỉ lấy Hoa Nghiêm để so sánh. Bởi vì A-hàm duyên khởi đều riêng, duyên khởi của kinh này không khác, nên Bản môn không an năm nghĩa. “Tích môn chỉ riêng lưu thông”, là dùng Tích vọng Bản, dùng Bản để ước lệ Tích. Bản môn chẳng phải ở đầu, nên chỉ an biệt tựa. Tích môn chẳng phải sau, nên chỉ riêng lưu thông, nên chỉ có khuyến trì, mà không có chúc lụy. Cho nên từ phẩm Pháp Sư đến phẩm An Lạc Hạnh gồm có năm phẩm nêu rõ hoằng kinh phước sâu để khuyên lưu thông. Nếu trong Bản môn trước dùng năm phẩm sau khi Phật diệt độ xuống ba phẩm rưỡi làm khuyến trì lưu thông thì từ phẩm Thần Lực… xuống gồm có tám phẩm nêu rõ chúc lụy lưu thông, vì sau Tích môn kinh đã chưa xong, chẳng phải lưu thông, tiếp chưa cần phó chúc. “Nói như vậy” , là như sau hiểu rõ văn. “Nói giải thích”: là chỉ nay với cách phổ thông hiểu kinh còn khác các kiến giải, huống chi bộ Pháp Hoa lại khác các kinh, cho nên mỗi mỗi câu bốn ý giải thích cho rõ. Vẫn sợ người đời sau không hiểu thấu bốn ý, nên dự định làm bốn điều quan trọng để giải thích cho rõ bốn ý. “Nói đắc ý”, là đến khi giải thích văn, hoặc bốn ý không đủ, chỉ còn một, hai ngoài ra so sánh biết. Tiếp giải thích nguyên do bốn ý: Ý hỏi thứ nhất: Nếu lược chỉ là một, rộng thì vô lượng, đã chẳng phải rộng lược thì hai đường không thành. “Phỉ” là không phải. Vì sao chỉ làm bốn giải thích này ư? Đáp: Trong một văn đầy đủ có hai ý: l. Tổng nêu nguyên do bốn nghĩa. 2. Nêu trong bốn nghĩa mỗi một đều có nguyên do. Hai nghĩa đều được lấy làm chỗ giữa. l. Chỉ bốn không nhiều không ít. 2. Nhân duyên… nêu rõ mỗi mỗi không sai không lầm. Một tuy ở giữa vẫn cần đến bốn. Bốn nhiếp nghĩa đầy đủ, nên không cần quá. Cho dù hơn đây mà đều nhiếp nơi bốn nghĩa, cho nên bốn và một đều gọi là ở giữa. Như thập diệu… thì trong mỗi một diệu cũng đầy đủ bốn ý. Mười cũng nhập bốn, cũng gọi là ở giữa. Nay chỉ cần bốn thứ này, cho nên được gọi là giữa, cho nên ý đầu nói: “Rộng thì…” Nếu không có ý thứ nhất thì vẫn không khác ngoại chấp, huống chi nhân duyên nói thông, thông nơi “một hóa”. Bắt đầu từ địa ngục, cuối cùng đến Phật giới, trung gian đốn tiệm hoặc giáo hoặc vị, cho nên phải biết việc lớn tứ Tất-đàn chẳng ngoài cảm ứng, khai hiển tứ Tất-đàn Nhất đạo không ngoài. Từ lâu xa các kinh không có tứ Tất-đàn, quán tâm, tứ Tất-đàn, nhất quán biến thâu bốn thứ: nhân lý… chuẩn theo lời nói có thể thấy. Dùng tứ Tất-đàn đây thông từ đầu đến cuối. Căn cứ ba thứ: Giáo… cũng cần thuật khắp. Ý thì có thể biết, nếu không có ý tiếp thì không biện rõ Thiên Tiểu giáo, cho nên dùng tứ giáo hay bát giáo phân chọn khai bỏ… đối với bộ giáo xưa, nay mới chân thật, tất cả giáo lý năng thuyên lại không có khác danh xưng. Cho nên phải nêu rõ điều đó để làm sáng tỏ Diệu Kinh. Không có ý thứ ba thì ai biết tìm ra? Trong một kỳ giáo đã luận đàm thân cõi, trung gian ngày nay không gì không là Tích thiết lập. Chỉ đức Đại Thông kia cũng như tin từ trước, trước đã mật dạy lại mê thân Tích, đến phương này sự cố chấp vẫn còn mê muội. Nếu không có ý thứ tư, thì làm sao để biện rõ công giáo năng thuyên, làm sao cho là từ lâu thành hạnh bản? Cho nên mỗi một câu nhập tâm thành quán. Cho nên nói: “Quán cùng kinh hợp, thì không phải đếm của báu của người khác”. Mới biết một bộ Chỉ Quán là chuyên đề của Pháp Hoa Tammuội. Nếu hiểu được ý này thì mới hội nhập yếu chỉ của kinh. Tổng bốn nghĩa đây thì mới có thể lược hiển bày yếu chỉ quy tụ của một bộ, cho nên nói lược thì ý không cùng khắp. Nên biết hai ba còn lược, thì một đâu có thể bằng, ở giữa đến bốn khiến nghĩa dễ hiểu, cho nên mỗi một câu được bốn nghĩa này thì khiến mỗi một câu đều khác các giáo, thì nghĩa Pháp Hoa thật là không khó cho nên nói dễ hiểu.

“Tiếp nhân duyên…”, nêu mỗi mỗi biệt giải thích, trong đó ban đầu là nhân duyên. Tiếp, “Nếu mười phương…”, là ước về giáo. Tiếp, “Nếu ứng cơ…” là bản tích. Tiếp “Nếu suy tìm…” là quán tâm. Ban đầu nhân duyên: Đầu văn chánh giải thích, ban đầu từ “Như thị…” cuối đến “mà lui”, thì không gì không là chân thật cảm ứng đạo giao, cho nên biết kinh này cảm ứng vi diệu. Pháp Hoa về trước Tiểu thừa và độn căn nhất hướng không có cơ duyên. Lý đúng mà mê, nên nói “tuy gần”. Căn cơ sinh mà chưa khế hợp, nên nói “không thấy”. Từ phô bày từ đầu đến cuối gọi là “thiện căn lực”. Sự lý không đồng, gọi là “xa”. Không mưu mà hội, gọi là “tự thông”. Cho nên trước lúc ấy cảm ứng diệu đạo chưa giao kết, các bộ có khác có đồng, giáo chủ có hơn có kém, lợi vật tiệm đốn thi thiết không đồng, nhất nhất thảy đều là ý cảm ứng. Tuy chung gọi là “cảm ứng”, mà hiển lợi ích chưa cùng khắp, tuy chung gọi là Tứ Tất-đàn mà sâu cạn có sai biệt, hoặc bao gồm hoặc riêng dư thiếu không quen, đến Pháp Hoa mới thành một vị.

Nói “không có căn cơ”: Xét lại vì xưa không có mà giải thích nay có. Từ “Từ thiện căn” trở xuống, là chánh nêu nay cảm cho nên có, nay ứng nêu xa mà thông suốt thời không sai khác, lòng từ vô duyên biến khắp đâu lựa chọn xa gần. Chỉ không có cơ duyên thì gọi là “xa”, có cảm ắt thông. Chư Phật không có đến, chúng sinh không có qua, chỉ cơ ứng tương xứng, gọi là “đạo giao”. “Từ thiện căn lực”: là tương thông sự biệt, sự kia lược như Chỉ Quán quyển thứ sáu ký dẫn, Đại kinh quyển mười bốn phẩm Phạm Hạnh nói: chư Phật thần biến đều lấy Từ làm gốc, cho nên tất cả pháp lập đều do từ. Cho nên kinh nói: Nếu có người hỏi cái gì là căn bản của tất cả pháp, thì nên nói là Từ”. Vì thế, dùng cảm ứng nhiếp tất cả pháp.

Tiếp: “Phàm chúng sinh…” trở xuống, là nghi vấn ý: Đã nói bốn nghĩa rồi nói ở giữa, chỉ một nghĩa nhân duyên mà cơ duyên rất nhiều (chúng), ứng với chúng nghĩa kia lại rộng sao gọi là ở giữa? Nghĩa tợ như vượt quá bốn, nên gọi là lại (cánh). Nói chúng: tức năm thừa chín giới… Tiếp: “Đại Kinh…” trở xuống, là đáp ý, bốn còn ở giữa thì một rộng đâu có sai, cho nên trong nghĩa rộng của Sự cũng gọi là ở giữa. Cho nên dẫn Đại Kinh nói môn tuy vô lượng thần thông nhiếp hết, mà thần thông là tên khác của ứng, đối cảm tức gọi là cảm ứng. Nhưng danh nghĩa thần thông bao gồm Đại Tiểu, nói cảm ứng chỉ hạn cuộc nơi Đại. Trong Đại thông ở Địa, Trụ trở lên. Nay đây chính đang là dụng của cực quả, cho nên một danh xưng thần thông thâu nhiếp tất cả, mà còn được gọi là lược, nghĩa chẳng rộng lược đâu không ở giữa ư! Năng ứng đã vậy, sở ứng chuẩn theo đây, cho nên dù ứng tuy chúng mà không quá nơi Từ, cầu thoát tuy nhiều đâu ngoài nơi cảm, cho nên hai chữ “cảm ứng” ở giữa là rõ ràng vậy.

Tiếp: “Nếu mười phương…” là căn cứ trong giáo trước nêu rộng

thoát ngăn ngại, Tiếp: “Nay luận…” giải thích ra ngoài “ở giữa”. Đầu tiên thoát khỏi ngăn ngại, tức hai tên “Cảm, Ứng” mặc dù là việc ở giữa mà luận chung là Hóa sự, mười phương, sáu trần giáo pháp càng rộng, vậy thì căn cứ giáo “ở giữa” không thành.

Tiếp giải thích: Nay luận về cõi Sa-bà chỉ thọ lãnh Thanh giáo (dùng âm thanh để giáo hóa), tuy có hiển mật hoặc khai hoặc phế mà đối với các cõi kia cũng gọi là “ở giữa”, vậy thì khiến Thanh giáo trước cảm ứng “ở giữa” lại rõ ràng thì cam lộ môn khai tức chính nêu lợi ích của tiếng. Cho nên, thật tướng là cam lồ, các giáo gọi đó là môn, môn không khai mở lý chẳng thông tắc. Cõi đây thích hợp chẳng mượn các trần, do thông lý nên gọi là môn khai. Nói “y giáo”: lẽ ra gọi là thanh giáo, chỉ là nói lược. Tuy có diệt hậu sắc kinh cho đến danh cú hành uẩn sở nhiếp. Trong kinh Tịnh Danh dùng cơm thơm và pháp hành tư duy mà ngộ… đều dùng tiếng từ kim khẩu dạy bảo làm gốc, không ít không nhiều, nên gọi là minh (rõ).

Căn cứ Bản tích: trước nêu rộng biện minh sự ngăn ngại, tiếp từ “thuận phải an trí chỉ” trở xuống, là giải thích thoát khỏi “ở giữa”. Tiếp, “Cho nên Triệu” trở xuống, là dẫn Triệu chứng thành. Đầu văn: Ứng cơ nêu nhân duyên trước, thiết lập giáo nêu trước ước về giáo. Cơ nhiều giáo khác, Tích kia ắt rộng, nên biết Bản tích không gọi là ở giữa. Nếu căn cứ môn khai mà nói, thì chỉ viên ở giữa đã như trước nói, nay đem Bản hướng về Tích là trung gian ngày nay. Thanh giáo cảm ứng khai rồi lại thí, phế xong lại thiết lập, cho nên nói Quyền thật. Một đời còn rộng, huống chi thật thành về sau, ở chặng giữa thi hành giáo hóa đối cơ sai biệt. Nói “cạn sâu”: Quyền thật về lý thì nhất định là nghĩa thông sâu cạn, cho nên nói lập lại. Tiếp nêu “ở giữa”: trước dùng thanh giáo hướng đến cảm ứng, cho nên đem Sa-bà mà đối mười phương thì thanh giáo Sa-bà, nghĩa ở giữa đủ. Nay muốn luận một là Bản cho nên lại đối nhiều là Tích, tích nhiều tuy rộng, như ngón tay chỉ cho thấy một mặt trăng thì các bóng tự trở về, đâu có thể dùng năng chỉ (là bốn ngón tay) là có bốn, để khiến sở chỉ (một mặt trăng) chẳng phải một, cho nên an trí Tích xét tìm Bản thì ở giữa thật rõ ràng.

Tiếp, “dẫn lời Triệu sư”: chỉ mượn lời kia không dùng sự kia. Ngài Triệu dùng chín Triệt dung thông. Chín Triệt chưa thích hợp dẫn thì như thế nào? Cho nên “Bản tích vô sinh Triệt” nói: Đa Bảo chẳng diệt, Thích-ca chẳng sinh, Đa Bảo là Bản Thích-ca là Tích, Bản không diệt, Tích cũng chẳng sinh, bất sinh bất diệt, bản Tích tuy sai khác mà là bất tư nghì Nhất, đâu được dùng Đa Bảo làm bản, thùy tích ở Thích-ca?

Nếu mượn kia hiển nay, lấy lâu làm Bản, hướng về nay là Tích, thì Bản Tích tuy sai khác mà bất tư nghì đều là một.

Tiếp nêu “Quán tâm”: Cũng trước nêu rộng phân biệt lỗi. Tiếp, từ “Chỉ quán…” trở xuống, là chánh nêu ở giữa. Đầu tiên nói tìm Tích v.v… là nói ba ý trước. Có hiểu mà không hành thì đâu có lợi ích tự tha. Tích biến khắp mười phương, cho nên gọi là “rộng”. Bản chỉ cái đầu tiên, cho nên gọi là “cao”. Luống xét tìm quả của người khác là cao rộng, thì có ích gì cho sự sâu rộng của nhân tu của mình. Nếu dùng Tín hành làm thừa và biết thường trú thọ mạng lâu dài, thì xét tìm cao rộng của người khác có gì mà không thể ư! Chỉ thiết lập giáo là để hiển Bản, bản khiến khế hợp với Ly, cho nên không khế hợp lý thì gọi là “đếm báu của người khác”. Kệ trong kinh Hoa Nghiêm đầy đủ như Chỉ Quán Ký và Thích Tiêm. Chỉ quán tâm cho nên thấu đạt tâm mình cao sâu, thấy được Bản của mình. Dùng Lý thâu nhiếp cho nên thấu đạt tâm mình bao quát rộng lớn, thấy được Tích của mình. Nhất niệm tâm khởi thì thấu triệt nguồn gốc thật tướng, cho nên gọi là “cao”, đầy đủ các pháp nên gọi là “rộng”. Lại, tức quyền mà thật cho nên gọi là “cao”, tức thật mà quyền cho nên gọi là “rộng”. Nếu không phải là quán này thì chỉ cảm ba ứng trước. Từ “thì giáo…” trở xuống, là cần khai quả, Quyền thì nên bỏ, cho nên giáo bị hội gọi là “hữu cùng”, quyền quán nên cải đổi, căn cơ chẳng diệu cảm, cho nên cơ thành thân cận, mới có thể cảm, quán thành nhập vị thì lợi mình chẳng phải người. Vì vậy cho nên quán tâm đầy đủ ba ý trên, huống chi nhập vị có Bản thùy Tích thiết lập giáo? Ba nghĩa đầy đủ, đâu được không dùng? Cho nên, quán tâm ở giữa. Tuy là bốn ý mà lần lượt tương sinh, lấy trước trước làm “rộng”, sau sau làm “giữa”, chỉ còn đương phần đều gọi là “giữa”. Cho nên bốn ý này theo sự mà có tên khác, ứng với sau sau chuyển nhập trước trước, luận chung quán ấy không vượt qua cảm ứng. “Chỉ ban đầu gọi là cảm ứng”, nghĩa là: bỏ thông theo biệt, do không có ba thứ dưới, thô diệu chẳng phân biệt, cho nên tứ Tất-đàn sâu cạn chưa phân rõ, nên được Thanh giáo mới biện rõ cảm ứng quyền thật không đồng, là công hội qui viên cực giáo. Tuy biết viên cực đều ở kinh này, mà còn che lấp lâu thành mê bản kia. Nếu rũ Tích ứng đều do Bản hiện, trong khai Tích cảm ứng, tức Bản địa cảm ứng, bản tích chỉ là nhất diệu cao rộng. Tuy biết cao rộng mà cơ thành do quán, quán thành có cảm chân thật cảm ứng. Cho nên biết cảm ứng thông suốt ba thứ dưới, huống lại nhất nhất lần lượt thu nhiếp nhau, về lý tuy tương nhiếp mà sự ắt phân biệt.

Ba dẫn chứng: “Thứ nhất” là dẫn chứng cảm ứng. Từ “Lại nói”

trở xuống là dẫn chứng giáo tướng. Từ “Thọ lượng” trở xuống, là chứng Bản tích. Từ “Thí dụ…” trở xuống, là chứng quán tâm. Văn thứ nhất dẫn chứng cái thứ nhất. Từ “Nếu nhân thiên…” trở xuống, là giải thích. Thứ nhất nói nhân duyên tức tên khác của cảm ứng, tên khác mà nghĩa đồng, cho nên gọi là chứng. Chỉ nhân duyên danh thông, không hạn cuộc năng sở, cho nên sách Chỉ Quán quyển thứ nhất nói: “Hoặc là nhân ở thánh, duyên ở phàm, hoặc là nhân ở phàm, duyên ở Thánh”. Dù không có mạnh yếu cũng có thể đắp đổi. Vì sao? Vì theo cơ thì cơ thân mà ứng sơ, theo ứng thì ứng thân mà cơ sơ, cho nên khiến đắp đổi qua lại, thọ danh không đồng, chỉ gọi là cảm ứng thì không thể đắp đổi lập. Đại sư nhân duyên tuy ở Tích môn, nhưng căn cứ lý thì nên chỉ cả hai Bản tích. Chỉ vì Phật xuất thế chinh là để hiển thật, cho nên lại theo Tích. “Lại nữa, nhường” trở xuống, là vì là Bản tích. Trong giải thích thì trước là nêu “phi” (không phải), tiếp từ “thật tướng” trở xuống, là hiển “thị” (phải). Trong phần đầu nêu “phi”, cho nên không phân biệt Bồ tát tam giáo mà chỉ bài bác nhân thiên Tiểu thừa, đầy đủ thì như Huyền văn. “Tùy theo nạn vấn tùy cốt yếu” trở xuống, là theo lệ như vậy. Nói “không thành cơ cảm”: là bởi chẳng phải kinh này rộng nêu thật tướng nhân duyên. Tiếp, trong phần nêu “thị”: Vì dùng thật tướng nhất Đại đối phân biệt Tiểu lý, nghĩa kia tức đủ cho nên không rỗi để khai và kiêm, mà ược bớt đi. Đã được nói Đại thì cũng nên nói thâm sâu. Nói “Phật chỉ đây là sự”, lý thì không gọi là sự, nhưng Phật muốn dùng lý này để giáo hóa người, cho nên gọi là “sự”. Năng hóa sở hóa nên gọi là nhân duyên. Tiếp, dẫn chứng trong giáo: thứ nhất là chánh dẫn; thứ hai, từ “Nên biết…” trở xuống, là kết ý giáo, thứ ba, “đại kinh” trở xuống, là lập lại dẫn.

Thứ nhất, chánh dẫn: Nói “chủng chủng”, nghĩa là bao gồm một đời, nếu ở bộ khác thì ý chưa hẳn vậy. “Phật đạo”: là riêng chỉ giáo hiện nay, cho nên từ đây về trước ý qui về nơi đây. Tiếp, kết ý: “Vi” là các giáo sơ tâm nhân thiên tiểu thiện. “Trước” là các giáo quả đức. Quyền Thật Vi Trước đều là độc hiển, cho nên nói thuyên đề (cái nơm, bẫy để bắt cá bắt thỏ). Nói “chủng chủng” và dùng “Vi trước” ắt phải dùng tám giáo mới hiển bốn vị làm đề hồ thuyên đề, cho nên thuyên đề đều thí dụ cho năng thông. Quyền giáo quyền bộ đều vì một thật (ví như cá, thỏ) mà thiết lập, hoặc tác đề (bẫy). Thiên Trương Hiệt nói: “Được thỏ là đã đủ”. Trang Tử nói: “Được thỏ quên bẫy”. Dùng chữ “Đề” (bộ túc, nghĩa là chân loài vật, cũng có nghĩa là bẫy để bắt thỏ) như ở đây, là hiện thời theo thế tục mà nói. Sách Thuyết Văn nói chữ “Đề” (bộ võng, là lưới để bắt thỏ). Nếu nói đề là túc (chân), thì năng thuyên không thành. Nếu nói đề là tích, thì nghĩa kia cũng lạ; tìm tích được thỏ, nghĩa há như vậy ư? Nay phải theo nghĩa dùng Đề (bộ võng) là chính. Tiếp, “dẫn Đại kinh”: dẫn Đại kinh kia để mà lần nữa làm chứng cho bộ này, tức là dùng Nhất thật làm Đệ nhất nghĩa. “Thô, nhuyễn” lại chỉ bốn vị quyền thật. Dẫn chứng Bản tích, trong đó chia làm ba: Thứ nhất căn cứ Sư, thứ hai căn cứ đệ tử, thứ ba, kết.

Phần thứ nhất văn lại có hai: Một, là chánh dẫn văn Bản. Hai, từ “Phương tiện…” trở xuống, dẫn văn Tích. Trong văn Tích đây mật bày bản ý. Nếu hiển lộ mà nói thì tức Bản tích trong Tích. Văn dưới hiển rồi thông thì được dụng dẫn. “Đệ tử” cũng là nêu tư cách mật hiển nơi thầy, đệ tử còn chẳng thật, nghiệm một chút thì biết Sư không phải cận thành. Hàng lợi căn dù đã biết, cũng phải đợi Di-lặc mở miệng nói, thấy bản quyến thuộc, nghe thuyết mới không nghi. Nói “v.v…”, là rộng nêu ở văn dưới gồm bài xích các sư xưa nay, còn không biết bản tích nhân quả của Thầy, đặc biệt xuất ra các giáo, huống chi đệ tử ư? Lại bản của đệ tử các kinh đều có, như Văn-thù, Quan Âm… Bản lâu xa của sư thì xuất tự kinh này. Chứng trong phần “Quán tâm”, trước là dẫn. Tiếp từ “Nên biết…” trở xuống là kết ý. Phần đầu, dẫn: Sự luận, chỉ là tin Thântử nói, nghĩa sẽ thấy Phật. “Điều ông nói” ắt nghe từ Phật, người năng nghe ắt là Thanh văn Bồ-tát, cho nên “nghe ông nói tức là thấy Phật”. Tiếp, kết ý: Sở văn là pháp, nơi tâm năng quán tức gọi là Phật, nghĩa sẽ thấy Phật, tâm sở tức là đệ tử…. Tức nơi tâm mình biết Tam bảo nhất thể, lý kia rõ ràng đầy đủ. “Đầy đủ như nghe nói…” trở xuống, như văn. “Chú v.v…” là sắp hướng đến nghĩa quán. Đối với văn “đã nghe nói” trở xuống, chỉ tại nhất niệm. Lại, nếu đầy đủ nên căn cứ nhân duyên, căn cứ giáo Bản tích. Để nêu rõ quán tâm, thì có tam quán đối cảnh nhân duyên. Các giáo lý quán Bản cảnh Tam bảo, quán Tích, và thí khai… tư duy có thể thấy.

“Chỉ bày tướng”: Chỉ căn cứ kinh này chỉ bày bốn thứ tướng, tuy đầu tự như vậy cuối cùng mà thoái lui, đều dùng bốn ý, chỉ thế văn khởi tận dụng và không đồng. Như giải thích thông tựa thì mỗi một câu cần có bốn, thông suốt chánh tông đến lưu thông. Nếu giải thích chánh tông thì Bản tích đều có ba, nghĩa thông suốt bốn thứ. Nếu giải thích lưu thông thì lại phải đầy đủ bốn, chung thu nhiếp chánh tông. Lại, trong chánh tông tích môn đã thiếu Bản tích lâu xa, do đó nhờ dùng thể dụng bản tích thì bốn tên không thiếu. Lại, trong tựa căn cứ giáo phải quán thế văn, hoặc phải dùng “Năm thời phân biệt” thì giáo ở trong đó, hoặc nếu phải dùng các giáo để phân biệt thì đem Thời để phán xét. Trong chánh căn cứ giáo thì nhất hướng nêu rõ khai, trong Bản căn cứ giáo thì không theo giáo để phê phán mà chỉ chỉ điểm Bản xa, diệu xa tự bày rõ. Nếu hiểu được văn này thì một bộ kinh tâm như xem chỉ trong lòng bàn tay. Bốn ý giải thích đã hiểu, không nhọc tư duy lại. Cho nên nay nương vào ba đoạn văn lớn chung chỉ bày tướng kia. Đã hiểu chung rồi lại đem ý đây uyển chuyển thì đều riêng hiểu rõ. Đầu trong nhân duyên chưa nêu rõ phẩm, lại chỉ ba đoạn tức “chủng-thục-thoát”. Nhưng ba thứ chủng v.v… cũng phải căn cứ nơi ba pháp tựa v.v… để biện rõ nhân duyên. Nếu chỉ có các tựa, thì chưa có thềm bực nhân quả quá khứ vị lai. Nếu chỉ có các chủng, thì nghe không biết từ đâu. Dùng ba thứ chủng ở nơi ba thứ tựa thì từ đó được lợi ích không đồng. Lại như Thông tựa trong tựa sau khi Phật diệt độ, Biệt tựa thông quá khứ hiện tại. Nếu Phật tại thế thì biệt tựa trong năm thời mỗi một tiết lợi ích có sai khác, như nói kinh Vô Lượng Nghĩa thì mật đắc ba thứ lợi ích chủng v.v… không đồng. Cho nên, thấy định thấy ánh sáng, giác động, được hoa, cho đến vấn đáp cũng có ba lợi ích chủng v.v… có thể biết. Trong Chánh tông các phẩm Bản Tích không đồng, cho nên Thông tựa Biệt tựa đến sau Phật diệt độ được người lưu thông kinh khuyên trì tụng nói, cũng có các chủng… huống chi là Chánh tông ư? Cho nên nương ba cặp nầy mới hiểu nhân duyên.

Thứ nhất, căn cứ các chủng… phải nương giáo tướng mới phân rõ có không, cho nên các giáo nhân duyên ngắn dài không đồng. Như người tu theo Tam tạng giáo trải qua ba A-tăng-kỳ, trăm kiếp, chỉ nói tự tu lục độ nuôi công đức thân, tướng hảo trang nghiêm cùng Phật kết duyên làm “chủng thục thoát”. Thông giáo sơ tâm tự hành, gần thì từ thất địa lưu hoặc nhuận sinh, cùng vật kết duyên nói “sơ hạ chủng”. Hai giáo nhập diệt không có vị lai hóa, chỉ khi thành Phật mà thục thoát. Giáo quyền lý quyền, thì không phải là ý kinh này. Biệt giáo sơ địa còn có thể đầy đủ, huống chi quả mãn. Biệt giáo tuy đủ giáo mà cuối cùng là quyền, huống lại năng có bản nhân viễn chủng. Kinh này hai môn bản tích thi hóa đều khác với các kinh khác. Văn đây bốn tiết vốn có nguyên do, cho nên trong bốn tiết chỉ hai tiết đầu gọi là bản quyến thuộc. Tiết thứ nhất tuy thoát hiện tại mà đầy đủ vượt lên bản chủng cho nên gọi là bản quyến thuộc. “Nay không gọi là bản” bởi vì đồng tại nay mới thoát. “Bản chủng, cận thoát”, là do Di-lặc không hiểu phát sinh nghi, cho nên mới được gọi một cách thiên lệch là bản. Nhưng người hiện thoát, nếu chưa đắc Phật trí thì vẫn chưa biết chủng. Nay nêu ra ý kia đó thôi! Trong đó chia làm hai phần: Đầu, nêu ba thứ chủng, tiếp, nêu ba thứ tựa. Phần đầu văn có bốn: 1. Chánh nêu nhân duyên. 2. Tiếp, từ “Tuy chưa” trở xuống, là giải thích nghi. 3. Từ “Trong đó…” là căn cứ ba đời chín đời để giải thích nhân duyên. 4. Từ “Vì sao vậy” trở xuống, là dẫn chứng nhân duyên ba đời, chín đời.

Phần đầu: tức bốn tiết chỉ bày tướng. Tiết đầu, là bản nhân, quả chủng, quả về sau mới chín (thục) Vương Thành mới thoát được. Tiết hai, từ “Lại nữa…” trở xuống, là bản nhân quả chủng, quả về sau cận thuần thục thích hợp đời quá khứ thoát. Chỉ đất vọt hiện lên nói bổn quyến thuộc chính là bản chủng cận đời mới thoát. Di-lặc đã không biết chẳng phải rất gần (cận). Tiết thứ ba, trung gian chủng, xưa giáo thục, ngày nay thoát. Tiết thứ tư, từ “Lại nữa” trở xuống, là ngày nay chủng, vị lai thục, vị lai thoát. Bốn tiết này lại chọn đại khái. Bản nhân bản quả đều đến trung gian cận thế ngày nay. Dọc sâu ngang rộng đâu chỉ có bốn tiết, cho đến vị lai vĩnh viễn không dứt. Nếu không như vậy, thì hiện quả không nhân, hiện nhân không quả, mà còn đồng với đốt nhục thân thành tro, dứt bặt tâm trí (khôi đoạn), biến thành không có bắt đầu không có kết thúc. Cho nên biết tiết tiết trùng trùng không cùng cực. Như thế cuối cùng dùng Phật thừa tam đoạn làm căn bản, dùng nhân thiên tam giáo trợ giúp hiển bày.

Phần hai: từ “Tuy chưa…” trở xuống, là giải thích nghi. Nay nêu nhân duyên căn cứ văn thứ lớp, lại hợp tại Tích. Xét căn cứ bản địa trung gian chính là bao gồm Bản tích chỉ bày tướng một bộ, lấy ý văn sau, lấy ý nghi thức hóa độ.

Phần ba: căn cứ ba đời chín đời, đầy đủ thì như trong Chỉ Quán quyển một ghi dẫn các kinh Hoa Nghiêm, Anh Lạc. Cho nên biết tận đời vị lai ba đời chín đời “chủng thục thoát” ba thứ: Vậy thì niệm niệm tam mật, niệm niệm ba đời chín đời, niệm niệm ba đoạn, niệm niệm thuận nghịch, niệm niệm thân độ, mỗi mỗi không đồng, mỗi mỗi nhập thật.

Phần bốn: dẫn văn Bản làm chứng, chứng ba đời. Nếu có ba đời thì có chín đời. Chín chỉ là ba, cho nên thông chứng đại thể ba đời. Niệm niệm ba đời, căn cứ theo lệ có thể biết. Thần thông thuộc quá khứ, thông nghĩa kỳ thật thông ba đời, đối hai thứ còn lại biệt. “Sư tử” là hiện tại, “oai mãnh” là vị lai. Vì khiến cho biết đức Phật hóa duyên xa cho nên lại dẫn văn Bản. Nêu xa nhiếp gần để chứng minh bốn tiết.

Phần nêu ba thứ chủng xong.

Bây giờ là phần nêu ba thứ tựa. Từ “Do như vậy…” trở xuống, là

căn cứ ba thứ tựa. Đầu văn trước là Thông tựa chỉ hai tựa cho nên nói tựa phần, thông không thể nêu. Từ “Chúng thấy…” trở xuống là biệt, chỉ biệt tựa làm nguyên do sinh phần Chánh tông, cho nên nói: “chúng thấy hy hữu”. “Ngung ngung” là có vẽ ngưỡng mộ.

Từ “Căn cơ Phật thừa…” trở xuống, là Chánh tông. Từ “Chẳng những…” trở xuống, chính là nêu Chánh tông làm căn bản cho lưu thông. Ba đoạn kia đã đều sinh các chủng…, thì biết câu câu chữ chữ hội hội vị vị, thế thế niệm niệm thường vì chúng sinh mà tác nhất Phật thừa chủng thục thoát. Văn đây lại từ bộ này phân biệt sâu rộng. Như nay khi đức Thích-ca nói kinh này thông năm, biệt năm đều là nhân duyên, tức nhân duyên chứng tín, nhân duyên phát khởi. Lại, thông năm nhân duyên hòa hợp, biệt năm nhân duyên theo thứ lớp, cho nên từ Tựa đến Chánh đều được thoát, cho nên nói “khai thị ngộ nhập”. Ngoại trừ các thứ đây ra, thì đều là chủng thục. Người chưa thoát thì lợi ích ở lưu thông, cho nên nói “xa thấm diệu đạo”, đều là cảm ứng của kinh này.

Nói “Năm trăm năm về sau”: Nếu căn cứ luận Tỳ-ni Mẫu, đặc biệt nêu năm trăm năm nói rằng: trăm năm thứ nhất là Giải thoát kiên cố, trăm năm thứ hai là Thiền định kiên cố, trăm năm thứ ba là Trì giới kiên cố, trăm năm thứ tư là Đa văn kiên cố, trăm năm thứ năm là Bố thí kiên cố. Nói năm trăm năm về sau là trăm sau cùng vậy. Có người nói: “Căn cứ trong kinh Đại Tập có năm thứ Năm trăm: Thứ nhất cho đến thứ tư, thì đồng như trước, chỉ có thứ năm gọi là Năm trăm năm đấu tranh kiên cố”. Nói “Năm trăm năm về sau”: là năm trăm năm sau cùng. Hoặc riêng luận Năm trăm còn tại chánh pháp. Tuy rút trong văn luận, lý kia dần dần che lấp, nhưng năm trăm năm thứ năm lại từ nhất vãng (một phen): Đầu thời mạt pháp, chúng sinh lợi độn không thể không có, lại căn cứ thời gian mà Đại giáo có thể lưu hành, cho nên nói Năm trăm năm. Cho nên ba thứ tựa v.v… không đâu không cảm ứng.

Chỉ bày giáo tướng: Tướng giáo gia, nên gọi là giáo tướng. Năm vị phân biệt là hiển đề-hồ, luận chung thì lời thánh vì chúng sinh… đều gọi là giáo. Nay giáo đặc biệt có công hiển thật, cho nên gọi là tướng. Lại riêng căn cứ ba đoạn chỉ bày tướng đề-hồ, cho nên gọi là tướng, cho nên ba đoạn đều lựa chọn thiên về tiểu, đây lại thông làm một thứ ba đoạn, khiêm nhượng bản tích nên nói chưa phân hai thứ ba đoạn.

Hỏi: Nếu vậy thì cùng hướng nhân duyên ba đoạn có gì sai biệt?

Đáp: Trước trực tiếp nương ba thời đối người cảm ứng để nêu các chủng… Nay thuận theo biện minh các dụng pháp sâu cạn đã thuyết, cho nên lược căn cứ bốn giáo để phân biệt ba đoạn. Nói tóm lại, vẫn là nhân duyên diệu ba đoạn đó thôi! Huống chi Quán tâm Bản tích đều thuộc nhân duyên, thuận theo phân chọn giáo tướng đầy đủ như Huyền văn. Trước, căn cứ tướng đối đãi để phân biệt thô; tiếp, căn cứ dứt đối đãi để biện rõ diệu.

Hỏi: Thông tựa năm nghĩa, biệt tựa hoa địa, những thứ này là Sự, đâu được ba đoạn đều gọi là chỉ bày giáo?

Đáp: Luận chung thì đều là chánh thuyết tướng trước, luận riêng thì chỉ vấn đáp là giáo. Lại từ thuyết chung, không gì không tiêu biểu giáo. Cho nên văn phân biệt nói: chẳng phải vì nhân thiên làm tựa… Nhị thừa tam tạng, tức Không, là Thông, riêng Bồ-tát là Biệt.

Chánh trực… là khai quyền giáo. Chánh và lưu thông căn cứ đây có thể biết thấy. “Huỳnh quang” (ánh sáng đom đóm): kinh Đại Phẩm nói: “Bồ-tát hành Bát-nhã một ngày, như mặt trời chiếu thế gian hơn ánh sáng lửa đom đóm”. Đây là chê Tam tạng, cho nên dùng đèn đuốc để thí dụ Thông giáo. Đèn như Nhị thừa, đuốc như Bồ-tát, tuy đồng Bátnhã mà có sáng tối. Đạo chủng trí là Biệt. “Như trăng sao”: Địa tiền như “sao”, đăng Địa như “trăng”, bởi vì “sao” tuy có ánh sáng mà không chiếu xa được bằng “trăng” khiến xa thấy. Phàm trí tuy chiếu mà không sáng tỏ bằng Thánh trí, tâm Thánh sâu xa hơn. Mặt trăng không bằng mặt trời, bởi vì có vẻ giáo đạo. Cũng nên làm rõ lại ba trí, ba đế, theo thứ tự, không theo thứ tự v.v… để hiển giáo tướng, nơi đây chẳng gấp. “Dương diệp (lá cây dương)”: là ý của Đại Kinh phẩm Anh Nhi Hạnh nói: Văn nay lược xuất nhân thiên: nói “Anh nhi” (đứa trẻ con) là nghĩa Tiểu thừa thông các giáo, lại từ cực tiểu cho nên chỉ nhân thiên, chỉ vì kinh kia dụ từ đốn đến tiệm. Đầu tiên nói: không thể đứng dậy đến đi nói năng, là Viên Anh nhi. Chữ “Đại” là Tạng vậy. Không biết khổ lạc, là Thông. Hạ mình xuống làm các việc đại tiểu… là Biệt. Kêu khóc… là nhân thiên. Kinh đã thông dùng Tiểu thiện làm “Anh nhi”, cho nên Viên nhân vị cũng gọi là Anh nhi. Kinh nói: “Bán tự, nghĩa là chín bộ. Mãn tự, nghĩa là luận Tỳ-già-la”. Trung Hoa dịch là Tự Bản. Hà Tây nói: “Căn bản của văn tự thế gian, tuy là ngoại luận mà không phải tà pháp, chẳng phải do Bồ-tát làm, cho nên Thí dụ Diễn môn mười hai bộ kinh. Người xưa chỉ biết Diễn môn Nhất đại. Nay thì không như vậy, lựa chọn cùng Biệt sau chỉ dùng Viên môn mà làm Mãn. Y nghĩa, không y ngữ, chính là đây.

 

(Phần Trung)

Tiếp, chỉ Bản tích chia làm hai phần: Trước pháp, sau dụ. Phần pháp chia làm năm:

  1. Chỉ Bản nhân nhận được.
  2. Từ “Chỉ có đức Phật…” trở xuống, là chỉ bản quả sở thuyết.
  3. Trung gian hành hóa.
  4. Ngày nay sở thuyết.
  5. Vị lai sở thuyết.

Từ bản nhân thọ lãnh chẳng gì không chân thật, ba đoạn tuy đều chân thật mà Bản không thể nhiều. Cho nên, ba văn dưới đều đồng một bản nhân quả chân thật ba đoạn giáo tướng. Trong đây chinh là sơ lược cái chân thật vốn có từ lâu, cho nên nói vậy. Nhưng vì bản nhân nhận được cũng là cái mà Đức Phật kia tích nói, sợ lý không cùng, cho nên chỉ tại nhân quả đức Phật nay làm bản, căn cứ lý thì chẳng phải không thọ lãnh các đức Phật khác hóa. Nhân duyên căn cứ giáo đã chỉ đức Phật nay, cho nên nêu Bản tích. Lại phế bỏ nơi khác, cho nên nêu Thọ lượng ở kinh này là Bản của Phật Thích-ca, không được lại chỉ sở thuyết của Đức Phật trước. Phật trước lại có Phật trước nữa, cho nên nói không cùng, chỉ một đức Phật thì không có lỗi này. Chiếu cố ở đây một Bản, còn lại đều là Tích.

Hỏi: Sợ rơi vào lỗi không cùng, chỉ luận đức Thích-ca, nay muốn luận về giáo lần lượt nhận được từ Chư Phật. Rốt cuộc có một đức Phật vào thời đầu tiên (tại sơ) không có giáo, không có giáo làm Bản thì có gì không cùng. Nếu chấp nhận có cùng thì rơi vào lỗi không nhân?

Đáp: Rũ tích cầu bản, bản cầu sở thuyết để thâu hoạch lợi “Thật”. Dù có đầu tiên hết (tối sơ) không đồng với đầu tiên hiện tại (kim sơ), thì Hành và giải có ích lợi gì?

Hỏi: Nếu chấp nhận có tối sơ không có giáo, thì đâu cần bẩm thọ giáo Phật nay?

Đáp: Thời không có giáo thì bên trong huân tu tự ngộ, ngày có giáo thì đâu được chấp mê? Như trăm người mê mù đều không biết đường. Một người mê thông suốt trước dùng dạy các người mê khác, các người mê khác chấp ngu, không nhận lời dạy trước, thì ai có lỗi ư?

Lại nữa nghiệm đức Thích-ca một phen hóa được lợi ích khó nghĩ bàn, huống chi lại như trước lúc ấy lợi ích khó xứng biên chép? Đâu thể không bẩm thọ giáo, nhưng cuối cùng thành bàn luận vô ích! Không thể lấy đây làm cùng; đo không có ích đối với sự bẩm thọ giáo, cho nên lại ở mười phương thế giới cũng có ngửi mùi hương, giác biết xúc, thấy sáng mà được ngộ, đâu dùng thanh giáo cầu sơ kia ư?!

“Sư tử phấn tấn vị lai vĩnh vĩnh”: Phấn tấn đầy đủ hai nghĩa: Tả hữu như hiện tiền trở lại, như vị lai. Sớ văn dưới nói: “Giải thích câu đây, nên đủ hai cách: tức hiện tại và vị lai”. Nay theo cách sau, cho nên nói vị lai; trước theo cách trước, cho nên nói hiện tại. “Ví như đại thọ”, tổng thí dụ ba tiết trước là Bản tích trong dạo chơi. Nói “v.v…”, là dễ hiểu nên không hợp dụ nữa.

Tiếp, chỉ bày tướng Quán tâm: Đầu tổng, sau biệt. Trong tổng có hai lớp: 1. Căn cứ tu hành. 2. Căn cứ pháp môn. Hành là pháp sở hành, tức sở dụng. Hành thì đầu giới, tiếp định, sau tuệ. Dụng thì đầu dùng tuệ để chọn lựa, sau mới định giới. Định là gốc của giới, cho nên giới lại ở sau. Lại, Quán tâm như trong Huyền Văn nói: hoặc căn cứ hành tướng hoặc căn cứ pháp môn, hoặc theo quán cảnh, cho nên hiểu văn liệt bày ra, cũng đối ba phần nghĩa sẽ quán tâm. Tiếp, biệt ý: ba phần đều có ba: Đầu tiên, giới có ba tức là phương tiện như Tựa, “bạch tứ Yết-ma” như Chánh, kết xong như Lưu thông. Nói “tiền phương tiện”: Đơn bạch về trước, đều là phương tiện. Định ba phần: Hai mươi lăm phương tiện làm Tựa, nhập quán oai nghi ngồi làm Chánh, đi đứng trải qua duyên làm Lưu thông. Cũng có thể coi tập học là Tựa, tự hành là Chánh, dạy cho người là Lưu thông. Hai thứ còn lại đều như vậy.

Tiếp, lại căn cứ “khéo nhập, xuất, trụ…”: đây là y kinh nêu bày. Nếu theo ba phần thì nhập là Tựa, trụ là Chánh, xuất là Lưu thông. Ba phần Tuệ cũng như vậy. Theo văn theo nghĩa thứ lớp đều không đồng. Ba phần nên nói: Không là Tựa, Trung là Chánh, Giả là Lưu thông. Nói “mà thoái lui”: Cuối kinh chỉ nói “mà lui”, lui chỉ là thoái. “Chỉ chuẩn theo hướng về bình đẳng”, là khiến dùng hết bốn ý, tức lời nói kia là khó, mà chỉ muốn cho không lầm tông chỉ. Như cùng dấu vết “hàm”(mặn) hiểu chữ “hàm”, sợ lầm, chỉ nên làm nghĩa riêng. Hoặc sợ hiểu nghĩa như dòng chảy vào biển đồng một vị mặn, văn thể nói ngược, cho nên biết không hẳn đều dùng bốn ý. Lại một chữ “quán tâm”, trừ trong An lạc hạnh tu nhiếp tâm kia…, ngoài ra đều là nghĩa lập. Lại Bản môn, tuy Bản chỉ một chữ Thọ lượng, Chánh nêu Bản tích, ngoài ra cũng nghĩa lập. Lại trước, Tích môn chuẩn theo bộ là có, cho nên nghĩa lập. Về sau trong Bản môn trừ Thọ lượng xong, thì lý hợp có, cho nên nghĩa lập. Lại quán tâm, văn Tựa và Lưu thông là căn cứ theo Chánh tông, lý cần nghĩa lập. Ở trong Chánh tông chỉ có An lạc hạnh lý nhất định cần, cho nên còn lại đều là nghĩa lập. Tích môn thì phần Chánh thuyết đã nói “khai hội”. Nếu mê, thì quán cảnh khai quyền hiển thật, trong Bản môn thì tăng niệm Phật quán, tăng đạo tổn sinh, trong lưu thông thì Tùy Hỷ Bất Khinh, chỗ y cứ của Tam-muội, chỗ nương nhờ của các hạnh, tất cả không thành. Dùng tên gọi “Quán tâm” chung cho các pháp quán. Trung gian quán “tam tức” (tức Không, tức Giả, tức Trung), là pháp quán thông dụng của chúng đương cơ và chúng kết duyên, là công hóa độ của chúng ảnh hưởng và chúng phát khởi. Nếu thành, thì thành phần chứng quán, do đó một chữ “Quán tâm” người ta sẽ cho là rất rộng, đối với lý rất trọng yếu. Huống chi nay Đại sư lại làm thành đối với học giả sơ tâm! Bắt đầu từ “Như thị” cho đến “mà lui”. Thấy văn khác biết một quán, cũng biết kinh văn xưa đồng mà quán khác và văn quán đều khác, cũng biết đương giáo văn quán đều đồng. “Kiêm” v.v… “Khai” v.v… theo lệ có thể biết. Vì vậy nên, cần phải quán tâm để giải thích. Giải thích theo nhân duyên, thì tùy thế của nghĩa kia cần phân ra xưa, nay. Trước, giải thích trong phần Tựa trên biện minh thông biệt, tiếp, chánh giải thích Thông tựa.

Phần đầu, văn lại có hai: Trước chia làm hai văn, tiếp chánh biện sai khác. Trong đó nói: Thông tựa thông các giáo, cũng có thể nói Thông tựa chung các bộ. Biệt tựa riêng một bộ. Cũng có thể nói Thông tựa chung các kinh, Biệt tựa riêng một giáo. Bộ giáo kinh này chỉ tại một giáo cho nên lại dùng giáo đối kinh mà nói. Lại, Thông tựa thì danh thông mà thể biệt; Biệt tựa thì sự biệt mà nghĩa thông. Nghĩa thông cho nên thông có biệt tựa. Thể biệt cho nên biệt tại kinh này. Cho nên biết kinh này thông biệt đều biệt, biệt tại Phật thừa. Do các “Như thị” không liên quan đến các kinh, mới có thể được gọi là Tựa của các Chánh văn. Chánh văn được gọi là Chánh văn của các Tựa. Thế nên, một và nhiều nương nhau, ba đoạn có thể biết. Cho nên, giải thích như vậy xong một bộ rõ ràng. Nếu không như vậy, thì đâu có Tựa tiễn khách mà trình bày du sơn, văn bia thiền tổ mà luận bàn luật tụng. Cho nên, phải nghiền ngẩm từ đầu đến chân đều là một thân, đâu dùng cách thông thường nói mà có thể hiểu rõ hai Tựa thông biệt. Nếu không khác, thì chúng phát khởi chẳng dùng. Ở trong đó, trước nêu ly hợp nói: hoặc năm hoặc sáu hoặc bảy. Năm thì như văn hợp Phật và xứ. Sáu thì tách lìa Phật và xứ. Bảy thì tách lìa “Ngã” và “văn”. Phần đầu Thông tựa vốn khởi nguyên do là A-nê-lâu-đậu khiến A-nan hỏi Phật, đầy đủ như trong Chỉ Quán quyển sáu chép.

Tiếp lược giải năm nghĩa: “Nghĩa là thể của pháp…”, lược ý giải thích hiển bày, cho nên trước nêu như thế. Dưới trong phần giải thích rộng dù có giải thích bao gồm cũng chỉ bên cạnh nghĩa chung thôi! Phần đầu, nói “Thể của pháp được nghe”, bốn giải thích ở văn dưới chỉ thông một bộ, Biệt ở chánh tông, lưu thông cũng có thể bao gồm Biệt tựa, thì hoài nghi đáp hỏi và vô lượng nghĩa, chung gọi là “nghe”. “Mưa hoa, động đất”, là tiêu biểu lời nói, chung đều là tiêu biểu “nghe”, cho nên từ đầu đến cuối một kinh là thể của pháp được nghe. Nói “Văn trì hòa hợp v.v…”, là nhân duyên hợp. Luận chung năm nghĩa đều là nhân duyên, như trước đã nói trong phần Thông biện bốn ý. Bên dưới tổng kết năm nghĩa, nói: “đều là nhân duyên”. Nay lại từ Biệt căn cứ nghĩa “Thời” mạnh, riêng nêu hòa hợp. Nói “văn, trì” chỉ ở A-nan, nói “hòa hợp” nghĩa thông hai hướng, do cơ hội nên “văn trì hòa hợp”.

“Thứ đệ tương sinh”: lại căn cứ nhất vãng. Nếu nghe “Như thị v.v…” và hóa chủ ở phần đầu cũng có thể thông dụng. Tiếp, “Lại, như vậy…” là rộng giải thích. Trước giải thích như thị. Đầu trong nhân duyên, thế giới tức là hoan hỷ cho nên nói “không tránh”, chư Phật đều như vậy chưa đủ biệt hiển. Nếu căn cứ kinh này, thì trước thi thiết, tiếp khai, mới gọi là “không tránh”. Sự thì căn cứ giáo cho nên ở đây chưa luận. Nay dẫn chư Phật dùng khác để hiển đồng, cũng là nghĩa thế giới. Nêu thời phương: “Như vậy” là có thể tin, bởi có thời phương, tức nói “như vậy” được lợi ích thời xứ. Phương: là núi Kỳ-xà-quật cũng như chung với xưa. Thời: hiển biệt vị khiến xứ không phải chung, tức là sinh thật tín. Phương là kinh này Vị nhân Tất-đàn. “A Âu”: A là không, Âu là có. Tất cả các kinh ngoại của ngoại đạo đều đặt hai chữ này lên đầu, vì chấp hai chữ này là gốc; trong bộ nêu rõ không ngoài sở chấp. Cho nên lập hai chữ “Như thị”, để đối phá ngoại đạo là bất như, bất thị. Chuẩn theo bên dưới ước về giáo, thì ngoại điển hoàn toàn không, cho nên nói phá ác. Bách luận nói: Ngoại đạo hỏi: Ông chỉ cho biết thiện pháp là gì? Nội đạo nói: Dừng ác, làm thiện. Ngoại đạo nói: Kinh ông có lỗi, ban đầu không tốt lành; kinh tôi không như vậy, từ đầu đến cuối đều tốt lành. Nội đạo nói: Phàm tất cả pháp có ba thứ là: tự, tha, cộng. Bởi vì pháp tốt lành của ông không có tự…, cho nên tôi trước phá hữu, vô, tự sinh và tha cộng… Bởi vì chấp hữu vô làm tự tha…, gọi đó là ác, cho nên kinh tôi trước nói Chỉ (dừng). Nếu vậy Trung luận phá đủ bốn câu, kia vì sao không phá tự nhiên ư ? Đáp: Chấp tự nhiên là thuộc về hữu vô. Cũng có tự nhiên chẳng thuộc về hữu vô. Lại, theo một con đường, cho nên Trung luận nói: Từ nhân duyên sinh còn không thể, huống lại không nhân duyên, tự nhiên dễ phá cho nên chỉ so sánh thì biết, chỉ bốn chấp nghĩa thông. Nếu chỉ phá ngoại, thì vẫn chưa lìa Tiểu, đâu hợp với kinh này. Vả lại, dẫn luận văn thành nghĩa “phá ác”. Nếu y kinh này, còn phá cả các cái ác của “Kiêm, Đãn, Đối, Đới” (tức là bốn thời giáo trước trong năm thời phán giáo của Tông Thiên Thai), đâu riêng gì ngoại điển ư? Trong đệ nhất nghĩa lại thông chỉ đạo biên, chưa phân sâu cạn cho nên biết văn gồm tứ Tất-đàn, chẳng phải không riêng phá các giáo cạn sâu, mà ý ở chỗ nêu hoan hỷ… bốn thứ, cho nên lại cần căn cứ giáo để phán xét đồng và khác. Lại trong phần giải thích Tựa thì ba Tất-đàn trước phần nhiều căn cứ sự, trong đệ nhất nghĩa thì hoặc đã nhập thật hoặc lại thông phương. Lại ba Tất-đàn trước thì hướng về biên hạn của Viên thật, gọi đó là sự, đối với ba giáo trước có lúc cũng tại lý. Nếu trong chánh tông đều tùy bản văn, thì văn tứ Tất-đàn đây tại Đại luận. Đầu tiên nói trong duyên khởi kinh tổng có hai mươi ba. Lại nữa, trong đó trước hỏi: “Có nhân duyên gì mà nói kinh này?”. Đáp: “Trong đó nói Đệ nhất nghĩa”, là biệt chỉ Diễn môn làm đệ nhất nghĩa, nhân liền giải thích ngoài ba Tất-đàn trước. Lại chỉ Tam Tạng luận nói: Tứ Tất-đàn nhiếp tám vạn bốn ngàn pháp tạng, cho nên nay thông dụng, đầy đủ như Huyền văn dùng khai mười môn. Lại, “Tịnh Danh Tiền Huyền” tổng có mười quyển, nhân vì Tấn vương biên soạn Tịnh Danh sớ, riêng chế lược huyền, mới tách “Tiền huyền” chia làm ba bộ, riêng lập đề mục gọi là Tứ giáo sáu quyển, Tứ tất hai quyển, Tam quán hai quyển. Trong hai quyển kia văn rất bề bộn. Nói “rất rộng”: 1. Lời Đại sư nói. 2. Thu nhiếp nhiều ý, huống gì kinh này như vậy. Phải trải qua tám giáo để nêu rõ tứ Tất-đàn mới hiển bày kinh này duy nhất Như thị Đệ nhất nghĩa Tất-đàn, cho nên nói “rất rộng”. Lại, các nhà khác giải thích động tức ba, bốn như bản, phần nhiều ở nghĩa nhân duyên mà Đệ nhất nghĩa còn ít, huống lại căn cứ giáo Bản tích… ư? Căn cứ trong giáo đầu kinh nói: Ở trong Phó Pháp Tạng, đây cũng gọi là Kinh Phó Pháp Tạng, trong đó chia làm ba: Đầu thông giải, tiếp biệt trách, sau từ “Lại y…” trở xuống là chánh giải thích.

Văn phần đầu lại có bốn: 1. Nêu chung kinh Phật ba đời làm gốc, 2. Dẫn tám giáo của Phật xưa. 3. Dẫn giáo của Phật nay đồng. 4. Nêu kinh nay tiêu biểu khác. Ba đời: Trước nêu quá khứ hiện tại so sánh đương lai, chánh dùng quá khứ vị lai so sánh hiện tại, hoặc chánh dẫn quá khứ, để làm chuẩn cho nay. Cho nên, chỉ tám giáo của Phật xưa. Nói tám giáo: Đem bốn thứ: Tạng, Thông, Biệt, Viên nhập vào bốn thứ: Đốn, Tiệm, Bí mật, Bất định, thì “Như thị” trong bốn vị đều sai khác, huống chi trong “Đốn, tiệm, bí mật, bất định”, bốn giáo thông, tắt mỗi mỗi không đồng. Trước hiểu rõ bất đồng Như thị bất nhất, mới biết Pháp Hoa Như thị bất dị, thi thiết và khai phế thì căn cứ theo lệ có thể biết. Hết thảy chư Phật thị hiện ở đời ngũ trược thảy đều như vậy, cho nên nói “cũng như vậy”, còn lại như Huyền văn. Tiếp “Các kinh…” trở xuống, nêu kinh này tiêu biểu cái sai khác, lại có hai: Trước pháp, sau dụ. Pháp Hoa vượt hơn tiêu biểu một thời kỳ giáo. Nếu đem giáo đây để so sánh giáo xưa, thì giáo đã sai biệt, bộ lại không đồng. “Kiêm, Đãn, Đối, Đới” Quyền Thật, Viễn Cận, đủ biết tiến hay không, mới hiểu được kinh này. “Như thị” đã vậy, các nghĩa khác đều chuẩn theo đây. Đâu được như các Sư chỉ dùng một chìa mà đòi mở tám cửa giáo, hợp với các giải thích của Sư xưa không ra ngoài một ý nhân duyên, cho nên nói một chìa. Huống chi một, hai Sư đâu thể mở tám giáo, huống chi căn cứ ba giáo v.v… tin xưa nay sâu rộng.

“Lại nữa Phật A-nan…”: lập pháp biệt trách, lại có bốn: 1. Lập pháp thông: Nếu hai văn không khác thì gọi là “Như”, 2. “Như hạ sở thuyên” gọi là “thị”. Tám giáo đều như vậy. “Tiếp, nay A-nan…”: nêu kinh này A-nan để trách. Kinh này thuộc giáo nào trong tám giáo ư? Nếu chẳng vượt tám thứ như vậy, thì cái gì là sở văn của kinh này? 3. “Không thể dùng…” là kết trách, cho nên nói “không thể dùng Tiệm…”, lược nêu Tiệm, Thiên. Đáng lý phải nêu đầy đủ rõ Bí mật, Bất định và chọn Đốn bộ. Các sư đã không biết tám giáo khác nay, cho nên hai văn truyền thuyên bất như, bất thị. 4. “Truyền thuyên…” là kết lỗi. “Nghĩa đây…” là khuyên gắng sức. Nếu hiểu được ý đây thì không nhọc công nêu lại, lý kia tự xét kỹ.

Thứ ba, từ “Lại y…” trở xuống, là chánh giải thích, lại có ba phần: 1. Căn cứ Tiệm giáo, tránh nhiều văn rườm rà nên nhờ Tiệm để nêu rõ bốn. 2. “Như đốn…” giải thích ba thứ Đốn v.v… 3. “Khai diễn tám giáo…” là kết trách Sư xưa. Phần một văn lại có hai: Đầu, căn cứ truyền thuyên tương đối để giải thích, tiếp “Nếu động…” là trực tiếp căn cứ sở thuyên quán đế để giải thích. Ở thời sở văn đều đầy đủ năng sở, cũng là dùng lý để kết giải thích lược trước. Cho nên, bốn giải thích đều lấy “Như” đặt tên. Lại, trước dùng văn khế hợp lý, gọi đó là Như, chỉ sở thuyên xứng văn là “thị”. Đây dùng trí như cảnh làm “Như”. Như thông hai Chân như, cho nên hai giáo trước Tục đối Thiên Chân, hai giáo sau Tục đối Trung đạo. Hai văn đều có hai tùy nghĩa mà hiểu. Cho nên, trước căn cứ truyền thuyên trong mỗi một văn đều dựa theo đế và văn tự. Năng thuyên đã đồng, nghiệm thì biết lý sở thuyên tương đương. Sở thuyên sở truyền đều là thể của sở văn. Cho nên, hai giáo đầu đều dùng văn tự làm Tục, sở thuyên làm Chân, chỉ có tức và bất tức dị, chính là biện rõ hai giáo truyền thuyên không đồng. Hai giáo sau đều dùng năng thuyên đối tam đế sở thuyên mà nói, cũng tức bất tức dị. Dùng bốn lệ bốn cũng có thể thấy. Nếu không như vậy, thì đâu dùng A-nan truyền giáo vô thuyên của Phật. Cho nên văn kia pháp lý tương xứng, đó là Ngã sở truyền. Cho nên dưới mới nói “nghe v.v…”. Nói “v.v… (vân vân)”, tức lẽ ra dùng đây đối hướng bốn văn và dùng giáo đầy đủ ở trong Tiệm có nhiều ít, mà vì chuẩn theo trước có thể biết cho nên không liệt kê. “Tiếp, ba giáo: Đốn v.v…”: Nói “Đốn là đồng với Viên”. Lại từ phần ít vì giáo kia có kèm cả Biệt, nay lại theo nghĩa thù thắng cho nên nói “đồng với Viên”. Đáng lẽ lại nói: Biệt giáo trong Đốn đồng với Biệt giáo trong Tiệm. “Không nói Tiệm giáo có đồng, khác”: Tiệm đã lìa bốn, nêu Viên tức thu nhiếp Viên trong các bộ. Ba giáo tức là sự khác nhau trong các bộ, cho nên chỉ đối ba giáo còn lại. Trong Bất định giáo nói: lại xen kẻ, tức đều căn cứ bốn giáo tiệm, đốn mà nói. Sâu cạn đối nhau, cho nên nói trước sau. “Bí mật bất truyền”: Bồ-tát giáng sinh làm Phật về sau, chẳng thuật lại, nếu không phải A-nan năng thọ lãnh, thì người hoằng giáo há lường được! Lại A-nan không phải không truyền bí mật, mà vì phó cơ là bí mật, không phải sở truyền, cho nên sở dụng của bí mật toàn là hiển giáo, truyền bí mật chỉ là truyền hiển.

Phần ba: “Khai diễn tám giáo…” là kết trách. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Giăng lưới Phật giáo chạy dài biển pháp giới như lọc hết cá nhân thiên đặt lên bờ Niết-bàn”, cho nên biết Phật giáo không ra ngoài tám thứ này. Sở thuyên không ngoài cho nên nói “pháp giới”. Lưới giáo đã chạy dài nơi pháp giới, thì Niết-bàn ắt biến khắp Thiên Viên. Bờ chỉ cho quả địa Nhất như, giáo ắt có Quyền thật Bản tích. Thiên nhân cơ đầy đủ các giáo, lọc đến Niết-bàn cứu cánh. Cho nên, các sư giải thích thiên lệch thì không thể một mình giăng lưới nổi. Ví như người đọc trộm, mà còn nói: Thiên Thai chỉ có bốn giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên. Thật quá mê muội thay! Thật quá mê muội thay! vậy nên phải biết phương pháp hiểu rõ kinh. Đốn… là đại cương phán giáo của tông này, Tạng… là cương mục một nhà giải thích nghĩa. Nếu hiểu các giáo chỉ dùng Tạng…, thì văn đó ít thông. Nếu giải thích Pháp Hoa không có tám thứ: Đốn v.v… thì nêu ra chỉ sai lầm. Lại nêu dụ trách, nói: “tiếp bốn mũi tên…”. Vì trong Đại kinh, Bồ-tát Ca-diếp hỏi: “Vì sao người trí quán niệm niệm diệt?” Phật dạy: Ví như bốn người đều giỏi thuật bắn cung tụ họp chung một chỗ, mỗi người bắn một phương, nghĩ rằng: Chúng ta bốn mũi tên đều bắn, đều rớt. Lại có người nghĩ: cho đến khi mũi tên chưa rớt, ta có thể đồng một lúc dùng tay tiếp nhận. Phật dạy: Loài quỷ Tiệp-tật thì nhanh hơn người ấy; như là quỷ bay đi, Tứ thiên vương, thần Nhật Nguyệt, Kiên-thật thiên lần lượt nhanh hơn trước, vô thường còn nhanh hơn nữa. Nay mượn ý “tiếp bốn mũi tên” để dụ tám giáo, mà chưa dám xưng là đảm đương, huống chi xưa chỉ có một, hai như lừa què ư ! Nếu hiểu sâu ý này thì vào văn tự mình thông suốt.

Nói “v.v… (vân vân)”: là lẽ ra nêu tám giáo để dùng ý hợp thí du, huống chi nếu không hiểu khai quyền thị hiện cận, thì không biết tám giáo và ý chỉ kinh chưa phân rõ. Sở dĩ văn nay phần nhiều không nói mở ra, vì đầy đủ trong Huyền văn. Lại Khai Hiển Viên và Kiêm Đới Viên, hai lý không khác cho nên nói Đốn và Viên đồng đẳng, cho nên nghĩa Bí mật, Bất định đều hàm chứa bốn, Hiển và Mật, Định và Bất định, chỉ là luận đối nhau.

Tiếp “Căn cứ Bản, Tích”: Văn tuy chưa đến chứng tín mà nghĩa đã thông, như trước nói, lại chia làm năm: 1. Nêu chung ba đời mười phương. 2. Nêu chung ba đời. 3. Riêng nêu đức Thích Tôn. 4. Chánh căn cứ truyền thuyên. 5. Lại nêu bày Tích. Hai phần đầu, đã chung ý một Bản khó định, cho nên lại căn cứ dưới duy nhất chỉ đức Thích-ca. Tiếp, “Lại A-nan…”, là căn cứ truyền thuyên, nghĩa Thầy trò đối nhau để lập Bản Tích. Từ “Sư đệ…”, là hiển A-nan bản. Cho nên, trong năm phần văn chinh là dùng phần thứ ba thứ bốn, hiển Như thị nay. Văn đầu nói ngang dọc: “mười phương” là ngang, “ba đời” là dọc. Mười phương chư Phật đều tự có dọc chẳng phải ý văn nay, cho nên lại căn cứ bên dưới nêu đức Phật nay. Quá khứ một Bản, còn lại đều thuộc về Tích. Trong “Sư đệ” cũng chỉ Bản lâu xa, ngoài ra thuộc về Bản Tích trong Tích mà thôi! Lại lần nữa nêu rõ: Muốn thuật Bản địa cũng là Sư đệ, cho nên nói “chẳng phải mới ngày nay”. Nên biết thời Đức Phật Không Vương cũng chẳng phải A-nan Bản.

Tiếp, “Căn cứ Quán tâm”: ba giải thích trước đều là sở quán, cho nên nói “quán trước”. Tất-đàn là nhân duyên trước. Giáo là ước giáo trước. Tích là Bản tích trước. Bình đẳng lấy ba thứ giải thích đều đầy đủ các nghĩa. Bản tuy lâu xa, Viên đốn tuy thật, Đệ nhất nghĩa tuy lý, mà đối với quán thuộc sự cho nên đều thành cảnh. Cho nên, đối ba là quán (liền) thành bốn giải thích. Trong đó lại có ba: 1. Chung lập tướng quán 2. Dẫn văn chứng thành. 3. Ước văn hiển bốn. Phần đầu, nói “tức thông”: Đầy đủ nên nói “duyên sinh tức Không”, tức chỉ ba thứ trước đều duyên sinh, huống cảnh duyên sinh trước thông Tam đế. Từ “tức Không biên”, lại phán thuộc Thông. Nên biết, Không quán thông tất cả, “Không Giả thành biệt”, Địa tiền theo biệt chứng, đạo ắt đồng. “Cũng thông cũng biệt”: là phàm thông, Thánh biệt. Phàm thì thông giáo trước, Thánh thì hạn cuộc trong chứng. Không, Giả vẫn thông, Trung mới biệt. Địa tiền, thì Không Giả thông nơi sở phi và sở chiếu. Đăng địa, thì biệt tại năng phi năng chiếu, chân thật. Đây là Biệt gia đối Thông Biệt khác, hoặc chỉ Biệt giáo cùng trước vĩnh viễn sai khác. “Chẳng Thông chẳng Biệt” đều là pháp giới. Cả hai phi, biện minh rõ thì Biệt cùng trước lại khác. Trong đây đã dùng nhân duyên, giáo, tích, mà làm cảnh quán, không thể lại dùng Tạng Thông quán để quán, vì vậy cho nên chỉ nương bốn câu thông biệt, nhờ căn cứ giáo, nghĩa mà tạm phân biệt. Lại làm thành bốn câu, cho nên nhờ Biệt giáo tách làm hai câu, câu thứ tư tức là diệu quán của kinh này.

Tiếp, văn dưới nói “lui”: Dẫn phẩm Thí Dụ chứng thành tướng quán, ba tín thì dưới lại căn cứ Quán tâm thành nhân duyên… mà giải thích kinh văn. Nhất tâm tức đủ bốn thứ: cảm ứng v.v… “Tín cơ kiến ứng”: Trong nhất tâm thì năng tín như “cơ”, giác tâm như “ứng”. Nói “cạn sâu”: nghĩa đương phán giáo. Tin thật tướng tâm chẳng đồng với quyền, thật tướng sâu chẳng đồng các thứ cạn khác. “Lại, tin…” là căn cứ quán mà luận Bản, thì diệu giáo là Tích, sở thuyên là Bản. Thấy bản thật tướng tức thấy thầy trò trong kinh là Bản, vì chủ và bạn đều đắc thật, vì Long Đà đã thành từ lâu, từ nơi sở chứng làm bản. Nói “Long Đà Phật”: Chân đế nói: Tu-bồ-đề là Đông phương Thanh Long Đà Phật. Có người dẫn Kinh Đại Bảo Tích nói: Xá-lợi-phất thành Phật, hiệu là Kim Long Đà. Chưa xem xét kỹ. Chỉ đây thì biết tất cả Thanh văn đều như vậy, bởi vì thấy Tích của Không sinh (Tu-bồ-đề) và Thân-tử thì biết Bản của tất cả Thanh văn. “Lại, nghe kinh…”, là chính dùng quán tâm giải thích thành quán tâm, tâm năng giác gọi là “Phật”, tức tâm giác đây gọi là “tuệ”, cũng tức giác tâm thông số đầy đủ, tức giác tâm đây cùng đều có hoằng thệ, gọi là “từ tâm tịnh”.

“Căn cứ tâm…” là kết. “Tiếp, nếu giải thích…” là phân biệt đồng khác. Trước nêu bỏ lấy. “Tiếp, nên biết…” là chính phân biệt. “Cái gọi là tha”: Tức bộ khác. Ở bốn vị trước chỉ trừ Lộc Uyển hiển lộ không có Viên. “Cái gọi là đồng”: Chỉ nói Viên nay đồng với Viên kia. Lẽ ra nói “Kiêm, Đãn, Đối, Đới”, lại thành khác. Lại, nói “khác”: Kia không phải Bản từ lâu. Các kinh cũng có thể dụng… bản tích, danh đồng mà thể khác. Từ thể khác biên nên nói là “khác”. Nên biết cũng có thể dùng chung bốn giải thích, chỉ biết các kinh không có nghĩa Bản lâu xa thì có thể. “Vân vân”: bốn giải thích đây đối với bộ giáo liên quan nhiều, cho nên bốn thứ: nhân duyên v.v… đối với kinh trước, đều có thiết lập ra “Kiêm, Đãn, Đối, Đới” đều biệt cho nên sở truyền cũng biệt.

Tiếp, trong phần giải thích “Ngã văn” có ba phần: 1. Biện rõ xen lẫn sai khác. 2. “Nay theo lệ…”: chuẩn theo lệ như vậy. 3. “Đại luận…”: Chánh giải thích. Phẩm đầu, trong nhân duyên trước nói rõ thế giới. Đầu, dẫn luận giải thích nói: “nhĩ căn bất hoại…” là trước nêu căn trần, căn tức tứ đại thanh tịnh. Xứ là trần, chẳng phải các thứ khác thiếu duyên cho nên nói “có thể nghe”. Tuy lại có thể nghe mà phải phát ý thức, cho nên nói: “muốn nghe”, lại nhờ vào các duyên, cho nên dưới tổng nói: “các duyên hòa hợp”, chỉ trừ duyên “Không”. Tiếp, trong phần vấn đáp, có người không chấp nhận loại kinh sau khi Phật diệt độ, chỉ nói danh cú thuộc nơi hạnh uẩn. Nếu kia hoàn toàn không chịu “thấy” kinh từ đầu đến cuối hợp, thì đổi thành “nghe”, nên biết đều là trước do nhãn nhĩ sở đắc. Tiếp mới lưu nhập tưởng hành, hoặc khiến một chữ, một âm thanh, nhãn nhĩ hai thức đều không có thì danh cú văn đều không thành tựu, nói “hòa hợp” không thể dối. “Cái gọi là chủ”: Là tổng nêu thức tâm, tức lưu bố ở đời vẫn nhờ nguyện lực của A-nan và do thệ nguyên xưa của Như Lai. Sau khi Phật diệt độ chúng sinh có căn cơ mới có thể khiến hòa hợp thành “nghe”. Cho nên, lại do “ngã”(ta) là chủ các duyên, các duyên hòa hợp “ta” mới có thể nghe, cho nên nói “Ta nghe”. Văn nêu duyên đầy đủ, cho nên chỉ nói “nghe”. Nhân duyên hòa hợp, tức Thế giới. “Hàng Vô học bay bỗng nói kệ”: Khi đức Phật mới diệt độ các A-la-hán đều nói kệ rằng: “Đã vượt qua biển ân ái phàm phu, nhà lão bệnh tử đã được phá dẹp kiến trong hòm thân có bốn con rắn, nay nhập Vô dư Bát Niết-bàn”. Ở trong rừng sâu lại nói kệ rằng: “Phật đã tịch diệt nhâp Niết-bàn, các diệt kết chúng đều theo đi, thế giới như vậy Không vô trí, đường si tối tăng, đèn trí mất”. Lúc ấy bay lên hư không thuyết kệ rằng: “Chao ôi! Các hữu khổ, luân chuyển như trăng nước, không chắc như ba tiêu, cũng như bóng, vang huyễn. Như Lai đại hùng mãnh, công đức vượt tam giới, còn bị gió vô thường, phiêu lưu mà không trụ”. “Phật thoại… Văn-thù kết tập”: Đại luận nói:

Văn-thù kết tập các kinh Đại thừa cũng đều trước nêu năm thứ: Như thị… Kinh luận hai văn đều khéo sinh luyến mộ, các A-la-hán rất luyến mộ cho nên đều theo đi. Ngón tay Phật rộng hai tấc.

Ba nghi: “Trước chúng nghi…” văn: Nếu ba đức Phật đây đều ứng với tự nói thì đều không thích hợp để nói là “nghe”, vì vậy nên “nói ta nghe thì ba nghi đều trừ”, trừ nghi tức phá ác. “Trong đệ nhất nghĩa thì không có ta, không có nghe”, như Kiều-trần-như nói “đệ nhất nghĩa đế không có chữ thanh”. “Xưa nay…” là chung bài bác xưa. Trong nhân duyên ba nghĩa trước còn tự không cùng khắp, huống là đệ nhất nghĩa, huống là căn cứ ba giáo v.v… “Phàm phu có ba thứ ngã”: “Kiến ngã” tức Ngã trong lợi sử, “Mạn ngã”: tuy chung tất cả lợi độn phàm phu, nhưng các phàm phu đều ở nơi thân mình để lập tể chủ, tuy không phải ngoại chấp mà đều thuộc Kiến, Tư. Nếu cái mà người học điều phục chỉ thuộc độn sử, thì tuy không có Kiến ngã mà vì tư duy chưa hết cho nên nói hai thứ “Thế gian gọi là ngã”: lưu bố ở đời một thứ mà phàm Thánh đều có, chỉ vì Thánh không có hai Ngã trước. Nay cũng không rảnh để biện minh tướng Kiến hoặc và Tư hoặc, đến văn khác sẽ nói. “Luận Thập Trụ Tỳ-Bà-Sa nói bốn câu gọi là ngã”, tức là bốn câu: Hữu v.v… Bởi vì luận kia quyển một phẩm Địa Tướng, hỏi rằng: Sao gọi là Vô ngã? và nói kệ tổng có tám hàng rưỡi, sau cùng nói: “Vậy nên ngã phi ngã, cũng ngã cũng vô ngã, phi ngã phi vô ngã, ngã sở phi ngã sở, cũng ngã cũng ngã sở, phi ngã phi ngã sở”, đó đều là tà luận. Cho nên lìa bốn câu thì mới gọi là vô ngã. Đây chỉ nói: Vô ngã chính là “tức ngã vô ngã”, không nói chiết phá, cho nên ở Thông giáo.

Hỏi: Luận giải thích Biệt địa, sao phán xét thuộc Thông?

Đáp: Đăng địa về trước thì các quán đầy đủ, chỉ nói “tức Không” nghĩa thuộc về Thông, huống lại Địa tiền thì nghĩa đương nhiên Thông giáo.

Dẫn “Đại kinh”, kinh nói:”A-nan là bậc đa văn tự nhiên năng hiểu rõ thường và vô thường, nghĩa “thường, vô thường” giống như “ngã, vô ngã”. “Bất nhị”, là đăng địa song chiếu địa tiền. Chiếu và phân biệt, danh khác mà nghĩa đồng. Viên giáo tột cùng, nên nghĩa bao gồm quyền thật, vì thù thắng thu nhiếp yếu kém cho nên hướng về một đời. Năm vị đã riêng khác, thì sở văn cũng không đồng. “Trong Chánh Pháp Niệm có ba A-nan”: cùng Tập Pháp Truyện, ba người rất giống.

Hỏi: Kinh Chánh Pháp Niệm và A-hàm, hai kinh đều là Tiểu thừa làm sao dẫn chứng bốn để truyền bốn giáo ư?

Đáp: trong Tiểu thừa một người đã phân bốn hạng, nay diễn Tiểu

khiến Đại, dùng Đại làm theo Tiểu, thì sao không thể truyền bốn ư? Huống lại là danh thông nghĩa viên, đối lý không sai. Tiểu ở Tam tạng chung với Thông thừa, cho nên cũng gọi là tạp, huống chi Thông Bồ-tát độn lại lẫn lộn.

“Vân vân” là một người bốn đức để dùng đối giáo và khai hiển… nghĩa như thường nói.

“Không Vương…”: Đối với Phật cũng là Bản tích trong Tích, nếu đối A-nan, hoặc chưa phải thật bản, chủ còn mờ tích, đệ tử chưa hiển rõ, cho nên cũng không nói Không Vương kiếp số. Nói “vân vân” là lẽ ra nói đầy đủ bốn nhân duyên v.v… bên trên để hiển rõ ngã quán, cũng cần phải nương vào bốn thứ: nhân duyên v.v… để biện minh thứ tự và không thứ tự. Văn đây đã đang căn cứ Giáo, Quán tâm, tâm cảnh đối nhau là nhân duyên quán, chân diệu hướng về cái còn lại là Bản Tích quán, dùng tâm quán tâm là Quán tâm quán. Giải thích nhân duyên nghe, thì không phân ra Tứ Tất-đàn mà chỉ kết chung nói “nhân duyên”. Nếu muốn phân ra thì phần đầu là thế giới, “Xưa giải…” là Vị nhân, “Kinh Báo Ân…” là đối trị, “Văn đây…” là Đệ nhất nghĩa. Đầu, là hỏi, tiếp “Đại luận…” là đáp, trong đó nói kết tập pháp. Nói kết tập thông thường có ba chỗ: Nghĩa là Một ngàn, Bảy trăm, Năm trăm, Một ngàn là chánh đương kết tập lần đầu tiên. Bảy trăm là sau khi Phật diệt độ một trăm năm, nhân Bạt-xà chuyên hành mười việc, Xá-na-ca-na bạch bảy trăm. Bảy trăm vị mới đến nước Tỳ-xá-ly, trùng kết Tỳ-ni nêu lỗi Bạt-xà. Nói Năm trăm năm là sau bốn trăm năm nhân Ca-nị-tra vương thỉnh tăng cúng dường luận đạo không đồng, nhân đây năm trăm vị đến thành Vương Xá kết tập Tam tạng lại. Nay đây từ đầu rộng như các văn, lần lượt từ tha tự tha biệt, cho nên nghe không nghe sai khác. Chưa nghe thì ưa muốn nghe, đã được nghe thì sinh vui, đều là thế giới Tất-đàn. Tammuội là do thiện và sức năng nghe. Theo hai cách giải thích xưa và nay, thì nhập ở nghe mà Thiện sinh.

Nói “Phật giác”: Chỉ là Phật gia (thêm), giác lực như Phật nên gọi là Phật giác Tam-muội. Đã chứng không phải từ Phật nghe, cho nên gọi là khả năng tự có, dùng bản nguyện lực vì trì Phật pháp sinh thiện đời sau, cho nên xưa giải lý đương phán thuộc Vị nhân Tất-đàn. Kinh Báo Ân nói: Đệ lục, Phật tìm người làm thị giả, hứa rồi, A-nan vẫn cầu xin bốn điều: 1. Không thọ y cũ. 2. Không thọ biệt thỉnh. 3. Không giống các Tỳ-kheo, cần gặp Phật liền gặp. 4. Trong hai mươi năm Phật thuyết pháp, nay nên vì con nói lại, Phật mới chỉ nói sơ (thô) A-nan đều hiểu, trí nhanh căn lợi lực trì mạnh. Lại, “mật thuyết”: Biện minh khác giác lực và Phật thuyết lại thì chỉ mình biết người khác không biết, gọi là “mật”.

Lại, trong Đại kinh, Phật bảo Văn-thù: “A-nan hầu Phật hai mươi năm, đầy đủ tám thứ bất khả tư nghì: 1. Không thọ biệt thỉnh. 2. Không nhận y cũ. 3. Không phi thời diện kiến Phật. 4. Thấy hết thảy nữ nhân không sinh dục tâm. 5. Trì tất cả các pháp chưa từng hỏi lại, chỉ trừ hỏi dòng họ Thích bị sát hại. . Biết Phật nhập định. 7. Biết chúng sinh đến chỗ Phật lợi ích không đồng. 8. Những pháp bí mật của Phật ông đều biết rõ.” Kinh Thai Tạng thì nêu lúc sơ sinh để so sánh về sau. Ở tướng thai còn nghe huống các kinh sau. “Mặt như trăng sáng đầy”: Rút ra từ kinh Dục Vương, trong đây cũng dùng bốn tên trước và bốn câu ở Đại kinh, nhưng Đại kinh hiển Viên. Nay chính là nghĩa khai dọc căn cứ bốn giáo, tùy danh cho tiện, nên không có thứ lớp, cũng nên hiểu bốn nghĩa “nghe” đầy đủ do đó khiến thuận với ý Giáo.

Cuối phần giải thích theo Bản tích, nói “vân vân” là: 1. Bản sự cao khó lường, 2. Bản lý sâu khó nghĩ. 3. Bản tích hóa khó sánh. Đầy đủ như trong giải thích “Như thị”.

Trong phần giải thích theo Quán tâm, thì chữ “vân vân” sau cụm từ “bất văn bất văn” có nghĩa là: lẽ ra dùng đủ bốn thứ trên, lại đối thứ lớp phân thuộc bốn người, đầy đủ như “kinh xưa Tôi nghe”. Nếu y văn nay thì dùng diệu quán. Trong câu “Nhất niệm quán là Diệu quán vân vân”, thì chữ “vân vân” nghĩa là khai thô hiển diệu để nêu rõ ý “dứt đối đãi”.

Tiếp giải thích “Nhất thời”. Đầu tiên dẫn ý Triệu Sư: “Khải” là mở đầu, “vận” là hợp nghi, phước là thiện. Phật hóa Đại, vận dụng ắt xứng cơ duyên chúng sinh, cho nên nói “thiện hội” (khéo hợp). Xứng căn cơ chỉ là nhân duyên hòa hợp, xứng cơ hoan hỷ nên gọi “Thế giới Tất-đàn”. Trong đây “thế giới” thuộc kinh này, không đồng các văn khác, khác với các thời khác. Dẫn văn Đại luận nói: “Sinh thiện thế gian trị ác thế gian”. Nêu rõ hai Tất-đàn, là dựa vào đó chỉ bày tướng. Lại trong luận đó giải thích chữ “Nhất thời” cho nên lại dẫn, nhưng đây thẳng nói “thời và phương kia” có hai cách giải thích: hoặc nói “Ca-la là thời thật”, hoặc nói “Tam-ma-da là thời giả”.

Luận hỏi: Thiên Trúc giải thích thời có bao nhiêu thứ? Đáp: Có hai danh xưng. Hai chữ “Ca-la” phát âm cạn, dễ. Ba chữ “Tam-ma-da” phát âm nhiều, khó nói. Nếu trừ tà kiến thì không nói hai chữ, tức là dùng thời giả. Nếu trong đệ tử y thời ăn, hộ trì minh tướng thì dùng thời thật. Nên biết chỉ là một thời mà hai tên riêng, cho nên tiếng có khó dễ. Vì vậy cho nên ngoại nhân chấp thời là thật mà nói kệ rằng: “Thời đến chúng sinh thục, thời đi thì thúc giục, thời năng giác ngộ người”, vì vậy thời là nguyên nhân, nên phải phá tà thuyết Tam-ma-da. Nay trong văn dùng “thời thật” chỉ bày nội sinh thiện, dùng “thời giả” phá ngoại đoạn ác.

Trong câu “Nếu thời cùng đạo hợp, thì là Đệ nhất nghĩa Tất-đàn vân vân” thì chữ “vân vân” nghĩa là: Nói đạo hợp, chinh là đang thiện hội (khéo gặp), sở phát thiện căn là nói Thông ý Biệt, phải căn cứ giáo vị để phán định Thiên Viên, tức là bốn vị ba giáo, Quyền Nhân (người) lý v.v… Tuy có đạo hợp vẫn phải khai hiển, cho nên bên dưới căn cứ giáo vẫn còn bốn biệt. Trong phần dưới đây các thứ cũng như Đại kinh, bốn nhân duyên trí. Kinh này nói cũng lược Khai v.v… Bản thời tự hạnh chỉ cùng Viên hợp, hóa tha bất định cũng có tám giáo. Trong câu “Bản tích giả, tiền chư nhất thời tích dã” thì hai chữ “tiền chư” là chỉ từ trước đến nay bốn giáo đều ở trong Tích.

Trong phần “Giải thích theo Quán tâm” trở xuống lẽ ra phải nêu “vân vân” (v.v…). Văn không nêu, là thiếu. Đó là thô diệu quán đều có quán cùng cảnh hợp, gọi là “nhất thời”. Tương tức quán, là quán của kinh này. Nếu đem quán đây căn cứ ba văn trước, thì theo lệ nói có thể biết.

Tiếp giải thích chữ “Phật”: Trong nhân duyên chỉ ứng giải thích giác, mà chỉ nói thời xứ…, là nêu rõ giác cảm ứng thời và xứ đó thôi! Chẳng phải thời xứ đó không cảm Phật hưng khởi, thời xứ khác, nên là giải thích theo Thế giới Tất-đàn. “Kiếp sơ, kiếp tận” là thời rất dài, rất ngắn, rất khổ, rất vui tột cùng. Ba thiên hạ còn lại thì giàu, thọ, vô ngã, không phải duyên cảm Phật, nhiều bệnh là giảm cực. Tiểu tam tai khởi: là đao binh, tật dịch, đói khát, tật ở trong đó nên lược nói bệnh. Luận Câu-xá nói: Đao, tật, cơ như thứ lớp bảy ngày, tháng, năm. Chỉ thời gian trường thọ, vui nhiều đều là “kiếp sơ”, thời gian thọ ngắn, khổ nặng đều là “kiếp tận”. “Đông thiên hạ” trở đi, là nêu nơi “Phật không hưng khởi”, đều do thọ lượng định, lạc định bảo đảm an lạc bảo đảm thường, không thành cơ duyên nên không cảm Phật. Đây vẫn là căn cứ xứ trong cõi Người đó thôi! Nếu luận trên cõi Trời thì Tiểu thừa cũng có người đắc tiểu quả, như Phạm vương đắc Tam quả… Nếu căn cứ kinh Hoa Nghiêm thì Tứ thiên vương, Hóa lạc thiên và Vô sắc xứ đều không cảm Phật. Các kinh khác đều chỉ trừ nạn xứ.

Nói “Giàu và thọ”: Đông gọi là Thắng thân, tức thù thắng hơn Nam châu, bởi vì giàu và thọ vậy. Tây tên là Ngưu-hóa, dùng Trâu làm ra của cải, nên nói châu này nhiều trâu dê. Bắc gọi Câu-lô, đây gọi Thắng-xứ, cũng gọi Thắng-sinh. Trong bốn châu, thì châu này chỗ hữu tình ở, của cải đều tối thắng. Nam tên là Thiệm-bộ từ cây đặt tên. Trong Nam châu chỉ nêu đầu và cuối, trung gian cũng có sáu, bốn, hai vạn. Lại nói tám vạn là bắt đầu giảm, một trăm năm là phương cực giảm. Sau bắt đầu giảm thì Di-lặc, nay phương cực giảm thì Thích-ca. “Chưa thấy quả…” là nói rõ duyên cảm Phật, tuy lược nói địa cũng nên nói thời. “Ly-xa…” Đại kinh quyển hai mươi sáu nói: “Phật vì Ly-xa nói không phóng dật. Ly-xa nói: Chúng con tự biết mình là người phóng dật, vì sao vậy? Nếu không phóng dật thì đức Như Lai nên sinh trong nước chúng con, cớ gì bỏ chúng con đến Na-kiệt-đề. Lúc bấy giờ con của Bà-la-môn tên là Vô Thắng, nói với Ly-xa rằng: Đại vương Tần-bà đã được lợi lớn, Đức Phật xuất thế ở nước ấy, cũng như ao lớn sinh ra hoa sen lớn, tuy hoa ở trong nước bùn mà hoa không bị nhiễm bùn. Đức Phật cũng như vậy, tuy sinh trong nước kia mà không bị pháp thế gian nhiễm. Ông mê ngũ dục, không biết thân cận, gọi là người phóng dật. Chẳng phải Phật xuất thế nơi nước kia, thì gọi ông là phóng dật (Vô Thắng: A- dật-đa). Ông đam mê ngũ dục, dù Phật sinh ở nước ông, ông cũng không thấy được”. Cho nên thời xứ đây cũng căn cứ nhiều phần. Xá-vệ ba ức chẳng liên quan đến khổ lạc. Ma-kiệt-đề: Trung Hoa dịch là Bất Hại, từ sơ kiếp đến nay không có hình phạt xử tử, đến vua A-xàthế mới có hình phạt chặt ngón tay, sau tự ông bị sứt ngón tay đau đớn cho nên ra lệnh bỏ hình phạt này. Phật sẽ sinh nước kia nên điềm lành dự báo rõ, do đó trước đặt tên Bất Hại.

“Mặt trời nếu không xuất hiện…” dẫn lời của Đại luận. “Mặt trời” dụ cho Phật xuất hiện, “ao” dụ cho Ma-kiệt, “hoa” dụ cho căn cơ chúng sinh. Đức Phật nếu không xuất hiện, thì hai Thiện đã sinh và chưa sinh thảy đều không thành. Thiện chưa sinh là hạ chủng, Thiện đã sinh là thục thoát. Nhưng trong hợp dụ lại căn cứ thiện pháp hữu lậu của thế gian, nên nêu Sát-lợi… huống là thiện xuất thế. Cho nên khinh suất thì bị buộc ở địa ngục, nhưng vẫn còn nhân để Phật xuất thế. Chỉ có cái nhân là một niệm nhàm chán ác thì về sau mới được thoát ly, huống lại là nhân thiên. Cho nên luận nói: “Nếu người trì giữ năm giới, thì Thíchca Văn Phật ở trong nhà ông”. Bốn tánh (họ) nêu hai, lại theo nghĩa hơn mà nói. Trong phần giải thích theo Đối trị Tất-đàn thì “đoạn chủng Hữu đảnh” tức là đoạn ác trong tam giới, cho nên gọi là phá ác.

Hỏi: Vị nhân Tất-đàn chỉ đến Hữu đảnh, Đối trị làm sao phá ác tam giới ư ?

Đáp: Vì Chân đế sự lý. Ở lý trung đạo thì đều gọi là sự. Nêu hai giáo trước không được dùng lý này để làm phá ác, thì do nhường lý. Nay đây là Viên giáo nên được dùng.

Nói “Tam thừa”: tức thu nhiếp tam giáo, dùng Bồ-tát thu nhiếp Biệt giáo. Nói: “ngoài ra không thể cảm” là căn cứ Tám tướng hóa, ắt căn cơ xuất thế mới có thể cảm Phật, là chỉ rõ thân trong chín đường tuy là cảm Phật mà không gọi là Phật hóa, nên “không cảm Phật”. Nói “khéo đoạn”, là tại trí vô lậu, “chủng” là nghĩa năng sinh, rũ hết phi tưởng lại đọa vào ba đường ác, gọi là sinh trở lại. Một phen đi không đến lại gọi là “vĩnh viễn”. Trong Đệ nhất nghĩa đã nói “pháp tánh”, phiền não tức Bồ đề cho nên nói “không động”, sinh tử tức Niết-bàn cho nên nói “không xuất”. Phật không khổ tập, đã trụ nơi pháp tánh, tuy không động xuất. Không động mà động, động núi pháp tánh, thị hiện đoạn nhân sinh cho nên gọi là “động”. Không xuất mà xuất, xuất ra khỏi biển sinh tử, hóa chúng sinh trong chín đường cho nên gọi là “xuất”. Lý này thì trước đều gọi là “thật động thật xuất”, đến đây mới biết là “chẳng sinh mà sinh, không động mà động”, thì hai giáo trước và biệt địa tiền chỉ thuộc tam Tất-đàn, dẫn nhập kinh này thuộc Đệ nhất nghĩa Tất-đàn, căn cứ trong Giáo giải thích trước.

Tiếp, “Cho nên, kinh nói…” là dẫn chứng: Trước, căn cứ nhân duyên nói tướng cảm ứng; nay vì căn cứ giáo, căn cứ bốn cực quả, tướng ban đầu thành cho nên đều nói “giác”. Lại, nói tự giác giác mãn thì căn cứ ban đầu, giác tha thì thông cả đầu lẫn sau. Tây Trúc nói Phật-đà, Trung Hoa gọi là “Giác giả, Tri giả”. Đối mê gọi là “tri”, đối ngu gọi là “giác”, danh đồng đối biệt đều thuộc tự giác. Cho nên căn cứ Tứ đế, tức dùng tự giác mà “năng giác tha”, cho nên nói “cũng”. “Tổng tướng, biệt tướng”: “Tổng”, đều là Vô thường, “Biệt” tức quán Tứ niệm xứ, nghĩa là tam giới ràng buộc và Tứ thánh đế, “Biệt” đây là thảy đều quán vô thường. “Lão Tỳ-kheo” tức theo sau có sai khác, do Thông giáo Phật cũng có thể gọi là “lão”. Mà nói “Đới” (Tỳ-kheo): là biện rõ khác giáo trước, như A-hàm nói: “Đức Phật sắp Niết-bàn như lão Tỳ-kheo đến nhà Thuần-đà”. “Ba mươi bốn tâm”: tám nhẫn, tám trí đoạn kiến, chín vô ngại, chín giải thoát, đoạn Tư, đoạn phục không đồng, đầy đủ như Chỉ Quán quyển ba, quyển sáu, có ghi, hoặc ở luận Bà-Sa, Câu-Xá và các A-hàm nói. Các giáo này cầu sự giải thích còn lại không được “nhất niệm tương ưng, đoạn trừ các tập khí còn sót lại”. Theo ba mươi bốn tâm mà giải thích thì cuối cùng không có lý đó; đầy đủ như trong kinh Đại Phẩm, Đệ thập địa. Biệt Phật nói đầy đủ như trong kinh Anh Lạc và Đại

53 thừa năm mươi hai vị, Sơ địa đoạn vô minh. Viên Phật đầy đủ như Hoa Nghiêm, Sơ trụ đoạn vô minh. Nhưng trong Tiểu thừa lập hai thứ Vô tri: Nhiễm ô vô tri, thì vô minh làm thể, Bất nhiễm vô tri, thì liệt tuệ làm thể, nghĩa là vị thế thuần thục, đức số thời lượng như vậy. Nhưng bốn Phật (theo Tạng, Thông, Biệt, Viên) đều nói “Tự giác, Giác tha”, chỉ là đương giáo tự hạnh mãn vị, giác trí không đồng, hóa cảnh rộng hẹp, vậy thì tìm khắp Đại, Tiểu thừa giáo chỉ có bốn tướng thành đạo này; đầy đủ như trong “Huyền văn” nói nhân quả lưỡng diệu. Nơi khác giải thích chỉ có ba thứ: Tự giác v.v… Đã không có bốn giáo mỗi giáo đều đầy đủ ba nghĩa, thì làm sao phân biệt Đại Tiểu giáo chủ? Tóm lại mà nói không ra ngoài hai giáo. Hoặc nói “ngồi Liên hoa tạng”, hoặc nói “ba đời chư Phật đều sắc cứu cánh thành Vô thượng đạo”, đều là tướng Biệt Phật. Nếu ẩn ba tướng trước, nói theo nghĩa thù thắng thì chẳng phải vì thái hư gọi là Viên Phật. Biệt Phật đã nói đơn luận tức là ẩn hai tướng trước, như Mục-liên không cùng tận âm thanh kia… Nếu Pháp Hoa trở về trước, ba Phật lìa minh (sáng) cách Thiên Tiểu, thì đến kinh này từ liệt (kém) biện rõ thắng (hơn), tức ba mà một. Nơi khác mê nhất gia mà nêu bốn Phật, là do bỏ kinh luận cựu dịch. Như bốn thềm thang thành Phật, Tam thừa cùng địa vị, Anh Lạc Hiền Thánh, Hoa Nghiêm dung môn. Đây bốn tướng thành đạo không thể không đều như nhau, bởi do thiết lập tích không đồng, ẩn thật che bản, cho nên khai quyền hiển bản mới biết không sai khác. Lại trong các giáo đều có năm người nói kinh. Như Đại luận nói: Phật, Thanh văn, Thiên, Tiên, và hóa nhân, trong Hoa Nghiêm thêm các Bồ-tát, lại có chúng sinh khí thế gian mà đều coi Phật là giáo chủ. Nhưng căn cứ trong Đại luận thì tứ ấn định tức gọi Phật nói. Lại trong Hoa Nghiêm, thì Sát thuyết, Trần thuyết, Bồ-tát được gia bị cũng không ấn thuật, còn lại ba Phật lực thông được tên Kinh (“Sát thuyết, Trần thuyết”, là hai thuật ngữ, xem Từ điển Phật học). Cho nên trong Đại luận, sở phá đều năng thông đủ bốn giáo, nếu được ý thật thì mới biết bốn Phật thể đồng dụng khác. Các người giảng kinh Hoa Nghiêm đều nói “ngã Phật”. Người đọc Duy thức không chịu theo các kinh khác, cho nên đến kinh này mới biết chỉ xưa, chỉ có đức Phật mới biết rõ hết lời nói đây là có.

Tiếp, dẫn kinh: Trong kinh Tượng Pháp Quyết Nghi nói: Thông Phật là Đại thân tiểu thân, cho nên nói “Đới lão Tỳ-kheo”. Trong phần “Giải thích theo Bản tích”, ban đầu dựa vào thể dụng trong Bản, cho nên nói “Bản một Tích ba”. “Trung gian…” là tiếp nêu ứng hóa thắng liệt trong Tích, Tha thọ dụng báo đều tại Tích, chỉ nói sinh diệt phần nhiều tại ứng hóa. “Duy bản địa bốn đức Phật đều Bản”, là căn cứ theo lệ mà nói thì thể dụng trong Tích đều là Tích, thể dụng của Bản địa đều là Bản. Nói đầy đủ thì như Huyền văn bản nhân quả diệu… trong phần giải thích. Trong phần “Giải thích theo Quán tâm”, giác chỉ là trí, lục tức phán xét. Có bản không có “vân vân”, hoặc là chép sót, đáng lẽ trước biện rõ Tạng Thông rồi khi đến trong phần Biệt Viên mới được nói đến Thiên Viên hai giác, nhưng trong thứ lớp cũng có thể nhiếp được Tạng Thông hai Phật, hoặc là lược bớt đó thôi! Nếu đối với ba thứ trước thì giải thích “Phật” theo cảnh, trí, nhân duyên. Nếu căn cứ Tạng v.v.. thì giải thích “Phật” theo quán tứ giáo. Trung đối với Không Giả là giải thích “Phật” theo Bản tích, tâm mình tức là quán tâm Phật.

Tiếp, trong phần “Giải thích nghĩa Trụ”, trong đó hoàn toàn dùng Đại luận, sợ người khác không hiểu nên ban đầu nêu “năng trụ sở trụ”, hoặc chỉ thân, cõi (độ) chỉ thành thế giới, tâm pháp dựa nhau mới thành ba Tất-đàn, người khác chỉ chấp nhận thân y nơi cõi, mới thành Phật tâm vô sở y pháp. “Nhẫn độ (cõi)”: Kinh Bi Hoa quyển năm nói: “Do nhân duyên gì gọi là Sa-bà? Do các chúng sinh nhẫn chịu ba độc và các phiền não”, Năng, sở sai khác, nên gọi là thế giới. Cho nên Đại luận nói: “Trụ: là bốn oai nghi trụ thế (Nay gọi là Thế giới). Lại có ba thứ: 1. Thiên trụ, là Dục thiên. Nay nói thập thiện. 2. Phạm trụ, tức Sắc thiên, nay nói Tứ thiền, chỉ là tên khác. 3. Tịnh trụ, tức ba quả trở lui, nay nói Tam Tam-muội. Luận nói: “Nhập Tam Tam-muội, tức đắc sơ quả”. Tam Tam-muội là đối trị, lấy làm tam minh cận đối trị môn, đủ như Chỉ Quán quyển bảy nói. Luận lại nói: “Bố thí trì giới thiện tâm là Thiện trụ, tứ Vô lượng tâm là Phạm trụ, Tam Tam-muội là Thánh trụ, Thánh trụ chỉ là Tịnh trụ. Luận lại nói có bốn trụ: Thiên, Phạm, Thánh, Phật. Lại thêm Phật trụ, tức là Thủ Lăng-nghiêm trong văn này. Cho nên, bốn trụ này thâu nhiếp hết các luận văn. Nếu lấy giáo thâu bốn giáo thì đều có nghĩa bốn Tất-đàn bên trên. Bốn Phật đều là Đệ nhất nghĩa thiên, chỉ hai Phật trước không được nói dùng Thủ Lăng-nghiêm.

Hỏi: Nếu như vậy, thì nay giải thích Phật trụ, vì sao dùng ba Tấtđàn chỉ căn cứ Dục Sắc thiên và dùng ba quả, năng trú sở trú đều chẳng phải Phật ư ?

Đáp: 1. Từ Thông hướng đến Biệt. 2. Đem thắng để nhiếp liệt. Nói “Từ Thông”: là từ rộng nói hẹp. Nói “Đem thắng”: là Phật ở Vương Xá thành ắt nhiếp Dục Sắc thiên và dùng ba quả.

Có người bài xích nói: “Nay giải thích trụ thành Vương Xá, vì sao dẫn Thiên trụ Phạm trụ v.v…?”. Người này chưa từng đọc tụng Đại Trí luận. Đây là luận kia giải thích trụ chánh văn. Luận đủ hai ý như trước đã trình bày. Nếu chỉ dùng sắc thân trụ cõi để giải thích chữ “trụ”, thì đại Bồ-tát thần không có phương sở liền không có chỗ trụ, huống là Phật ư? Cho nên kinh Phổ Hiền Quán nói: “Cõi Thường-tịch-quang là trú xứ của Phật”. Cho nên, bên dưới căn cứ giáo đều dùng Niết-bàn làm nơi trụ.

Tiếp, trong phần “Căn cứ Giáo”, Niết-bàn đều là pháp sở trụ, đều căn cứ Đệ nhất nghĩa. Giải thích hai Phật trước đều nói “Hữu dư, Vô dư”, khéo léo vụng về tuy sai khác mà sở diệt không khác. Hai “bí mật tạng” sau chứng đạo cũng là một. “Ba đức Phật trước” trở xuống, là phán xét Diệu thô, tức là Biệt giáo chứng đạo tuy diệu mà theo giáo đạo nên phán định là thô. Nói “năng sở”: Nếu căn cứ lý mà phán xét thì như trước nói, nếu căn cứ sự mà phán xét thì chỉ là Y Chánh Tha thọ dụng độ, cho nên nói là “thô”. Nếu căn cứ lý Trung đạo, thì tuy đều đủ bí tạng cũng là theo giáo. Nay kinh là Viên giáo, lại phải khai hiển cho nên gọi là “Diệu trụ”.

Trong phần “Giải thích theo Bản Tích”, nói “Tam tạng Phật ưng Niết-bàn”, chữ “ưng” bình thanh. Nếu căn cứ “khôi đoạn” (nghĩa là thiêu thân đoạn tâm) tức ưng nhập diệt, thì nhập diệt là Bản. “Do từ bi” nên trụ thế, chỉ gọi là “trụ thế để làm thùy tích”, đây Phật báo sinh không phân biệt lý bản. “Thông Phật, phò tập”, đây là theo nhân mà nói dùng Lục, Thất địa nhập Không làm Bản, dùng thệ nguyện phù trợ tập khí còn sót lại để sinh trong tam giới mà lợi tha làm Tích. Quả đồng Tam tạng, nên cũng là nói theo Nhân. “Biệt Viên Phật”, đồng nói “huân pháp tánh”: giáo chứng có chút sai khác, nhưng đều nhân thời khởi bốn hoằng thệ nguyện sâu huân pháp tánh, chỉ nêu pháp tánh, tức ly không đồng. Trí, Đoạn tuy khác, pháp tánh không riêng biệt. “Nên biết…”, là tổng phán xét văn trước để nêu rõ Bản Tích. Bản tích chẳng phải không do từ bi. Bốn Phật trước đều là Tích cho nên lại phải nói Bản Phật trụ. “Do từ bi…”, là phán xét, đã khai Tích rồi, đây riêng có Bổn?

Tiếp, trong phần “Giải thích theo Quán tâm” thì coi trí là Phật, trí trụ vô thường và Không, Giả, Trung. Trước trực tiếp đối nhau nên bốn quán không đồng. Tiếp, căn cứ ý trụ cho nên nói “dùng pháp vô trụ mà trụ trong cảnh”, cho nên nói “vô trụ thông bốn giáo”. Thô trí, nghĩa là trụ nơi lý thật vô, nếu ở trong Viên thì liền thành dứt hẳn đối đãi.

“Vương thành”: Chuẩn theo Tây Vức Ký: Thành này có bốn ngọn núi cao bao quanh dùng làm ngoài thành. Đông Tây dài, Nam Bắc hẹp. Chu vi một trăm năm mươi dặm, tử thành ba mươi dặm. Cửa Bắc cung thành là nơi Điều-đạt thả voi say hại Phật. Phía Đông Bắc là nơi Thântử gặp Mã Thắng, đắc sơ quả. Phía Đông Bắc cách chừng mười bốn, mười lăm dặm thì đến núi Thứu Phong, là nơi đức Phật thuyết kinh Pháp Hoa v.v…, là nơi Ban-túc duyên dược nói trong kinh Nhân Vương. Trong luận có giải thích sai khác.

Luận hỏi: Như thành Vương-xá thì Ca-tỳ-la, Ba-la-nại đều có Vương-xá, vì sao Vương thành này được nêu tên ư ? Đáp: Có người nói: “Vương tử nước Ma-già-đà này có một đầu hai mặt bốn tay. Người thời ấy cho là điềm không lành, bèn cắt thân đầu vương tử ấy bỏ ngoài đồng trống. Có La-sát nữ tên là Xà-la lượm nhặt chắp lại nuôi dưỡng, về sau lớn thành người có khả năng thu gồm các nước liền chọn các vua cùng tám vạn người làm một nước.” Lăng-già lại nói: “Xưa có vị vua đi săn, ngựa kinh hãi chạy vào đường hiểm nơi không có người ở, vua cùng với sư tử cái hạnh hạnh xấu, sinh được một người con lớn đặt tên là Ban-túc, sau nối tiếp vương vị thống lãnh bảy ức chúng. Do còn tập khí ăn thịt nên không có thịt thì không ăn, sau liền ăn thịt người nên gọi là La- sát. Ngoài ra cùng văn nay đồng.

“Tứ phi thường kệ”: chỉ là Tứ vô thường kệ, đầy đủ trong như Chỉ Quán quyển bảy. Nói “đắc Không bình đẳng địa tức là Sơ địa”, kia đã cùng giáo Tiểu tức Sơ quả, Đại tức Can-tuệ địa, hoặc ở Kiến địa, Biệt tức Hoan hỷ địa, cùng Đại kinh Phạm hạnh ý đồng. Nếu vậy thì vì sao nghe vô thường mà ngộ Đại ư ? Đáp: Đã nghe Bát-nhã lại nghe vô thường, sợ còn tiếc nước kia, chánh trợ hợp hành nhân được lợi ích lớn. Đây căn cứ Ban-túc duyên sai khác, nên thuộc nghĩa Thế giới Tất-đàn. “Ngàn vua lấy máu…” tuy mất nước nhỏ lần lượt biết nước lớn, tức sinh thiện thuộc Vị nhân Tất-đàn. Trăm họ bỏ Xá (nhà) khỏi bị thiêu ác, tức Đối trị Tất-đàn. Ban-túc đắc đạo là Đệ nhất nghĩa Tất-đàn. Trong câu “Nhân duyên này trích từ Đại luận và các kinh vân vân” thì “vân vân” là: Đại luận cùng các kinh nêu ra đã nhiều nhưng không thể đủ hết, tuy nhiều nhưng không ra ngoài Tứ Tất-đàn. Trong phần “Căn cứ Giáo mà giải thích”,là nêu tứ kiến. Biện rõ cõi ngang dọc, thì đầy đủ trong Sớ Tịnh Danh, tức như văn dưới “Thuần các Bồ-tát…”. “Theo lệ thì biết….”: là dùng “Sa-la” để dụ cho Vương thành. “Giải thích theo Bản Tích Quán tâm ở sau”: là sau cùng văn “Núi” hợp nêu Quán tâm, văn sau vẫn lược đều không ra ngoài Bản tích. Nếu theo lẽ trên dưới thì nên nói Bản trụ ở thành Vương Tam-muội Tam đức Tích, ở Vương thành Nhẫn độ. “Lương Võ…”: chữ nên đổi thành “Tuy”, chim kia tợ như chim ưng, nói tợ chim si, hoặc sợ lầm vui thú mà không dâm, ai mà không thương loại cái đực đều ở chung muốn kết hợp đều hót lên, kết hợp rồi đều bỏ đi cho nên ví như là hoàng phi. Thi nói: “Quan quan thư cưu tại hà chi châu, yểu điệu thục nữ quân tử hảo cầu”. Nay người Giang-đông gọi là ngạc (chim thư) ưa ở Giang châu. “Lương Võ” ý nói hình chim Tuy gần như chim Thứu, cho nên dẫn đó thôi! Đây thuộc nghĩa Thế giới. “Lại, giải thích “sơn phong…” là Vị nhân, bởi vì thấy sinh vui lòng. “Lại nói Núi…..” trở xuống, là Đối trị, vì năng diệt ác cũng là phải trị ác. “Lại giải thích….” trở xuống, là Đệ nhất nghĩa. Tam thừa thánh ở Đệ nhất nghĩa.

Tiếp biện rõ “năm ngọn núi” và phần “vấn đáp” sau đó, chỉ là trong Đệ nhất nghĩa giải thích nghi và phân biệt tướng núi, chẳng phải tứ Tất-đàn. Lại kinh Tăng Nhất quyển ba mươi mốt nói “Đức Phật ở núi Linh Thứu, bảo các Tỳ-kheo: Lâu xa đồng gọi là Linh Thứu, lại có biệt danh các ông biết không? Cũng gọi là Quảng-phổ sơn, Phụ-trọng sơn, Tiên- nhân-quật sơn. Núi này thường có La-hán, Bồ-tát đắc đạo có thần thông và các tiên ở, có năm trăm Bích-chi-phật ở. Như Lai muốn trước là khiến Tịnh-cư thiên tử đến đây, bảo khiến ở cõi tịnh này. Hai năm sau Phật hiện ở trong đó, Bích-chi-phật nghe rồi thì thiêu thân nhập diệt. Vì sao vậy? Vì đời không có hai đức Phật, nước không có hai vua, một cảnh giới Phật không có hai tôn hiệu. Núi này cao thấp cũng lại không đồng. Quyển bốn mươi bảy nói: “Đức Phật Câu-Lưu-Tôn bốn ngày bốn đêm đi đến đỉnh núi, Đức Phật Na-Xá ba ngày ba đêm, đức Phật Cadiếp hai ngày hai đêm, đức Phật Thích-ca chỉ trong giây lát đến đỉnh núi, đều vì người La-duyệt-kỳ mà đi (hạnh). Thời dần dần mạt núi dần dần thấp xuống. Văn thiếu giải thích theo Bản tích. Lẽ ra nói Bản trụ tam đức đại Niết-bàn sơn, Tích ở Linh-thứu. Lại, Bản tích đều có Linhthứu. Phẩm Thọ Lượng nói: “Thường tại Bản núi Linh-thứu”. “Căn cứ Quán tâm” , thì trước là giải thích “Vương-xá thành”, đầu tiên là lập quán cảnh. Nói “Tâm vương tạo xá”, nghĩa là thức ấm là “vương”, tạo nghiêp các tâm ắt có tâm sở. Nay muốn tiêu vương, lại dùng tâm vương thiện ác để đối xá (nhà) vô ký, cho nên nói “vương tạo”. “Nếu phân tích…”: là tứ quán, đây cho thấy quán giải khác với các kinh khác, nên như Thập thừa, Thập cảnh trong Chỉ Quán. Dưới đều như vậy nên nói “vân vân”. Hai lần sau nói “Hoặc là quán”, tức quán theo hai giáo sau. Cũng phải phân biệt tướng, riêng khác không đồng, đầy đủ như trong Chỉ Quán không thể tức đủ. “Giải thích “Núi” (sơn) theo Quán tâm”, cũng trước lập quán cảnh, chinh là phải quán ấm, đầy đủ như Chỉ Quán quyển năm. Trong phần “quán theo hai giáo Biệt, Viên” thì đã nói “núi tức chánh nhân pháp tánh”, hai đức còn lại ngoài pháp thân thì căn cứ các văn nói. Cho nên, biết quán đây không đồng ý kiến với người khác. Sở dĩ lại căn cứ núi để quán, là vì núi và thành tuy khác nhau, nhưng đồng là Y báo. Thế nên căn cứ Y báo để quán Chánh báo. Lại, các quán cảnh không ra ngoài năm ấm, nay ở đây núi… thì căn cứ ấm là tiện, bởi vì trong các văn thẳng nói: “cảnh trí”. “Tự trú trong đó…”: là dùng Đại kinh và ý kinh này cộng làm tự tha. Định tuệ lực trang nghiêm, tức “tự trú trong đó”. “Dùng đây để độ chúng sinh”: tức an trí các con. “Vân vân”: là cũng nên đối với đây để biện rõ tướng đồng khác của hai quán, phương tiện chánh tu phân biệt cảnh và tâm, và đối hai thứ trước, để biện quyền thật… cho đến bốn quán cũng phải khai hiển…

Tiếp, giải thích chữ “Trung” (trong câu “Phật trụ Vương-xá thành Kỳ-xà-quật sơn trung”) vì ở trong núi thành, giải thích theo Nhân duyên… bốn thứ đầy đủ như kia đã giải thích, nay chỉ giải thích nghĩa chữ “Trung” thôi! Muốn nói lại, trước hết căn cứ sở biểu. Do đầy đủ Tứ Tất-đàn; thường ưa Trung đạo, là Phó dục. Bay lên giữa trời, giữa ngày giáng xuống, là Vị nhân. Giữa đêm diệt, là Đối trị. Nói Trung đạo, là Đệ nhất nghĩa. Các giáo đều có Trung đạo, chỉ có cái khác nhau là hữu thể, vô thể. Giải thích theo Bản tích: Quán lý Viên, là “trung” Bản. Chỉ bày lìa đoạn thường, là “trung” Tích. Kinh này là khai hiển Trung đạo. Nếu giải thích theo Quán tâm, thì tức Không tức Trung đầy đủ cả hai “trung”.

 

(Phần Hạ)

Giải thích phần “liệt kê chúng”. Đầu tiên, biện rõ thứ lớp, nói “nhiều như vậy”, nghĩa là trong kinh cũng có Bồ-tát sau sẽ liệt kê, đều có chỗ tiêu biểu. Như Kinh Hoa Nghiêm không liệt kê hàng Thanh văn, thuần là Bồ-tát không lẫn lộn. “Xưa giải”: Phần nhiều là ngài Quang Trạch cùng đồng ý với Đại luận cho nên không biệt phá, chỉ tổng kết nói “tợ như hai giải thích”. Trong câu “Nghĩa giải tự ước giáo v.v…” thì chữ “v.v…” là: Sự như nhân duyên, phải đầy đủ Tứ Tất-đàn, Nghĩa tợ ước về giáo lại phải luận tám. Sự tức thân, cho nên thân sơ, Nghĩa tức đế lý, cho nên nói Niết-bàn v.v… Hình phục sai khác nên là nghĩa Thế giới Tất-đàn, “Thân” sinh thiện, “sơ” phá ác, không thân không sơ tức Đệ nhất nghĩa. Trong “nghĩa có” đã dùng ba đế, do đế đối giáo thì bốn có thể biết. Đối với bốn: Tạng v.v… mà biện rõ bốn: Tiệm v.v…, nghĩa kia có thể biết. Lại hai cặp nghĩa đều ưa Niết-bàn và bốn Bồ-tát đều không ưa không đắm, cho nên đều ở Trung, chỉ đến thật lý mới gồm năng lợi người, cho nên ở Trung cầu tông chỉ siêu phàm thánh kia. Nếu coi “nhập Trung” là Bồ-tát, thì chỉ Biệt giáo địa thượng Viên giáo trước sau. Chú gia nói: Thanh văn học “sơ”, thúc giục bên trong, Bồ-tát đạo “thân”, quên bên ngoài. Đây chỉ được Sự mà mất Nghĩa, tợ Tích mà mê Bản, huống lại quán tâm nhân duyên ư?

“Giải thích theo Bản tích” kinh này liệt kê chúng vượt ra ngoài các kinh, bởi vì Nhân, Thiên, Nhị thừa người năng dẫn vốn chẳng phải hạ địa, chúng sở dẫn kham thông biệt ký. Nói “thông”, là ý bao gồm. Nên nói: “Nội bí “đều là Đại tát-đỏa”, vì có khả năng “tích dẫn Nhị biên”, phán định chẳng phải phàm phu, Tiểu thừa. Cho nên, nói Tátđoả. Bồ-tát lạm Bản nên lại không luận; nên biết cũng lại căn cứ thể dụng luận.

Trong phần “Giải thích theo Quán tâm”, thì “hậu vân vân” là: Cũng nên căn cứ nhân duyên nêu rõ quán các giáo khai hiển và Bản

Tích quán.

Giải thích “liệt kê Thanh-văn”, căn cứ Pháp Hoa luận dùng tám nghĩa: Trước nêu Thanh văn.

  1. Hiển rõ tự thân nghe, sau không hủy báng.
  2. Nhiếp bất định tánh, hồi tâm nhập Đại thừa.
  3. Trừ tôn quí mạn chẳng cứu cánh.
  4. Thường theo bên Phật.
  5. Hình nghi đồng.
  6. Khiến nội quyến bỏ sự ham muốn.
  7. Khiến Bồ-tát cung kính.
  8. Khiến chúng sinh tin.

Nhưng tám nghĩa trong luận chỉ có một nửa nghĩa thứ hai riêng thuộc kinh này. Do tánh bất định ở cõi này đắc, vẫn thiếu một nửa. Nếu tánh định thì cõi kia đắc, vị lai đắc. Bảy nghĩa còn lại luận chúng trước sau, thông các kinh. Dùng nghĩa thứ hai vào trong bảy nghĩa còn lại, khiến bảy nghĩa ấy mỗi một nghĩa đều có nghĩa thứ hai, mới khiến tám nghĩa hoàn toàn tại kinh này. Nếu nương ý này thì lại có ba nghĩa: muốn biệt ký, biệt khai quyền cho nên trước hiển Bản, bởi vì khiến các nghĩa còn lại vĩnh viễn khác với giáo xưa, cho nên luận về văn ý các kinh nhiều như vậy, do đó thông thích. Nay khiến các giáo tuy cùng lại khác. Phương Đẳng trước liệt vào hạng dùng bốn nghĩa: Vì muốn bài xích đoạt, muốn mật dẫn, khiến thể tin, khiến vị biến đổi. Bát-nhã cũng có bốn ý: muốn đào thải, muốn giáo phó nghiêp, mật dẫn tiến, thành Thục-tô. Cho nên, biết văn Luận thông hai vị trước, như đều có bốn loại khác trước sau.

Luận lại nói: Trước Tăng sau Ni cũng có tám nghĩa:

  1. Nam tôn quí, nữ thấp kém.
  2. Nhập đạo trước sau.
  3. Thầy trò không đồng.
  4. Truyền pháp có và không có khả năng.
  5. Kết tập tiến thoái.
  6. Đồng trụ được, không.
  7. Nhiều ít nhường lại.
  8. Đắc tán thán có không.

Tám thứ này hoàn toàn thông Tam-muội trước, phần nhiều tại giáo có vị Lạc. Nếu chuẩn đồng là Thanh-văn, thì vẫn thiếu ý thứ hai. Nay trong biệt chỉ trừ giao phó nghiêp, chuẩn theo nghĩa vẫn có, bởi vì đồng là Tỳ-kheo nghe chuyển giáo, nên khi giao phó nghiêp chẳng phải hoàn toàn không có phần, các nghĩa còn lại đều đồng nghĩa Tỳ-kheo. Trong năm vị, chúng đương thời Tiệm giáo thì nghĩa đó không khác.

Tiếp, nêu xưa giải thích nói: “Đại Tiểu danh văn”: ý nói: Danh tức là tên mình, văn tức người khác nghe, do đó danh lớn nghe lớn, danh nhỏ nghe nhỏ. Nay chỉ “y văn” nên phá bỏ giải thích không căn cứ kia. Nói “y văn”: Chỉ căn cứ liệt kê nhiều ít để nêu rõ sự hiểu biết nhiều ít. Trước liệt kê “một vạn hai ngàn”, lại nói là “chúng sở tri thức”, sau nói “hai ngàn” lại không nêu “tri thức”. Nếu dùng “danh văn” để giải thích tri thức, thì văn sau hoàn toàn không có “tri thức”, làm sao có danh Tiểu, huống chi lại Đại Tiểu thừa hoàn toàn không nhờ vào đây? Đầu “giải thích loại”, trước giải thích chung năm chữ, tiếp “Thích luận…” giải thích riêng bốn nghĩa, Tỳ-kheo hợp. Đầu giải thích chung năm chữ thâu nhiếp “các người có đức” cùng những người được nêu là “đại”, đâu chỉ khác với chúng dưới mà thôi, trong chúng Tỳ-kheo tiêu chuẩn đó lại nhiều. Ví như: bốn môn, ba giải thoát, chiết thể, thông trí biện Không, chỉ được nói là danh dự cao, còn đức hạnh đâu có thể luận đủ. Nay nói như hạng người cao quí. Tiếp, riêng giải thích bốn nghĩa: Đầu, “Thích luận…” là giải thích riêng chữ “cùng với”(dữ). Đầu văn tức Nhân duyên giải thích. Nếu chia bảy nghĩa theo Tứ Tất-đàn, thì: Thời, Xứ là Thế giới; Giới là Vị nhân; Tâm, Kiến là Đối trị; Đạo, Giải thoát là Đệ nhất nghĩa. Nếu chuẩn theo ba thứ trước tại giáo xưa, thì bảy nghĩa chỉ có ba Tất-đàn “Đạo, thoát…” đều thuộc ý Đối trị. Viên giáo thì bảy nghĩa Nhất đều thuộc bốn Viên. Căn cứ giáo tuy Biệt cứu cánh mà chỉ có Viên, tuy bảy mà đồng cho nên bảy gọi là Nhất. Nhất tức là cùng chung. Tứ giáo chẳng đồng thông tại năm vị, đầy đủ thì như các kinh, không thể thuật hết.

Lại nữa, căn cứ tán thán đức ở Tam tạng giáo: Đồng cảm Phật “thời”, đồng “xứ” Lộc uyển, đồng “giới” biệt giải thoát, đồng nhất thiết trí “tâm”, đồng vô lậu chánh “kiến”, đồng ba mươi bảy trợ “đạo”, đồng hữu dư “thoát”, đồng là người nghe. Khi nhập Thông tựa đã được thọ ký, toàn thành người Viên giáo bảy Nhất, đồng diệu cảm ứng“thời”, đồng thấy diệu y “xứ”, đồng đắc cứu cánh “giới”, đồng chứng chủng trí “tâm”, đồng vô tác chánh “kiến”, đồng viên thật “đạo” phẩm, đồng bất tư nghì “thoát”. Được thọ ký rồi, tức đồng Bồ-tát, đâu được lại dùng Thanh văn tán thán đức? Lẽ nào người kết tập lầm hạ thấp đức? Cho nên biết tại bốn vị, thời tùy vị mà biến. Kinh gia tùy theo Bản liệt kê ở Thanh văn, cho nên y Bản tán thán. Nếu không vẫn là Bản, thì sao biết Thanh văn có Quyền có Thật. Thật: thì được thọ ký, biết có chỗ theo.

Khi nghe Pháp Hoa thì Đại tiểu có khác nhau. Cho nên, căn cứ giáo phán xét phải thông suốt trước sau. Bảy nghĩa theo ba giáo, thì hoặc bản là ba, hoặc là chuyển nhập. Đầu, căn cứ Tam tạng giáo thì một thứ bảy Nhất vì sinh diệt đồng. Thông giáo thì có hai thứ bảy Nhất, vì phân lợi độn, lợi gồm Viên và Biệt, lẽ ra nói ba thứ bảy Nhất. Lại, Thông thì nói chung là đồng vì một tiêu chuẩn, Biệt thì nói vô lượng. Tự hành hóa tha ngang dọc đều bốn môn, mỗi một môn Tứ Tất-đàn nhập không đồng, Viên giáo nhất là Phát tâm và Tất cánh hai thứ không sai biệt. Nói nên đối bốn giáo vi tế nêu rõ cho đến giáo vị, trước phán sau khai. “Nếu chưa…”: một câu ước về Bản tích giải thích, cũng là căn cứ thể dụng mà luận Bản tích. Biệt giáo thì không có Thanh văn, chỉ nói Tạng Thông, nếu Thông bao hàm Biệt cũng có thể luận, vậy thì lược. Lại, Thời và Xứ hai sự lại căn cứ giáo mà luận, cho nên nói Thời Xứ trong Tang tạng giáo lại là một. Nếu theo thời xứ nguyên sơ đắc đạo, hoặc nhiều người cùng xứ, thì lược nêu như văn này, hoặc một người nhiều xứ thì như trong A-hàm nhiều thời xứ.

Hỏi: Đến đây đâu được hai hạng Thanh văn ư ?

Đáp: Cũng là từ đầu nói, đầy đủ như Huyền văn. Rộng trải qua các vị, khó chuyển dễ chuyển. Lại, có khi không trải qua chiết pháp vì vốn người Thông giáo v.v…

“Trực tiếp nêu hai ý…” là muốn nêu rõ khai hiển. Trước lại biện khác. Nói khác ấy là an trí bảy thứ đồng. Lại bảy thứ trong Tạng Thông mà biện khác, thì có ba khác bốn đồng. Vì sao? Vì Thời, Xứ… bốn thứ không thể không đồng, như sở hội sở y sở bẩm sở chứng. Hoặc ba thứ: Tâm v.v…, sao có thể không riêng khác? Vì riêng tu, riêng kiến, riêng hành, đây vẫn là nhất vãng, cũng có thể giới pháp theo riêng mỗi mỗi đều đắc, giải thoát từ người mỗi mỗi đều chứng; vậy thì năm cái khác hai cái đồng. Lại, nếu từ người thì cũng có thể đều riêng biệt. Nay giải thích nghĩa chung, không hợp để luận. Nghĩa phân ra ba, bốn mới thành rộng rãi, Cho nên, lại từ bảy đồng để nói. Đồng và khác theo Biệt giáo, thì nói theo chuẩn có thể biết. Tiếp “Nếu đến…” chinh là nêu rõ khai hiển. “Pháp Hoa luận” nói rõ: Được khai thì có quyền có thật, Chưa khai thì đầy đủ bốn, Khai rồi thì chỉ một. Nay “thêm hạng Phật đạo Thanh văn”, vì căn cứ người mới nhập. Trong luận nêu “bốn hạng Thanh-văn” là quyết định, tăng thượng, thoái đại, ứng hóa. Luận tự giải thích: hai hạng sau được tbọ ký, hai hạng trước không thọ ký, vì căn độn chưa thuần thục. Lại căn cứ hội này tức trong kinh nói “Sinh diệt độ tưởng”, là tánh quyết định. Nếu người kia được nghe mà trong luận chưa nói, thì ngài Thiên Thân há có thể mê kinh ư ? Kinh nói: “Mà ở cõi kia được nghe Kinh này.” Luận lại một phen căn cứ hiện tại nói, vì vậy Sư nay chỉ loại trừ hạng thượng mạn, tức năm ngàn người đứng dậy bỏ đi. Tuy từ tòa bỏ đi vẫn phán trong Niết-bàn. Nếu bốn hạng Thanh văn y biên được nghe, thì hạng thượng mạn ấy cũng chẳng phải không nghe. Đã nghe lược khai và ở sau, chỉ vì không thể nói hội đây được thọ ký. Ba thứ chủng, thục, thoát từ đầu đến cuối không thể phế, cho nên chuẩn theo văn nay, viễn cận tương vọng, bốn hạng đều đắc. Nay nói “Trụ quả” bao gồm cả Quyết định và thoái Bồ đề. Vì “Trụ quả” biến đổi sai khác cho nên phân hai giáo, cho nên hai hạng tổng lập “Trụ quả”. Lại, “Phật đạo Thanh văn” căn cứ nghĩa kinh mà lập, nếu vậy thì hai hạng Phật đạo và Ứng hóa Thanh văn đều có Biệt Viên.

Hỏi: Ứng hóa và Phật đạo có gì khác biệt?

Đáp: Ứng hóa Thanh văn, la căn cứ thùy tích, toàn là các vị Thánh xưa. Phật đạo Thanh văn, là căn cứ lợi tha, là người mới được thọ ký.

Lại, “Ứng hóa” từ thân, “Phật đạo” từ thuyết. “Phật đạo” có nói lệnh khiến người khác, lại nói lợi tha. “Ứng hóa” có nghĩa phát khởi, lại nói thùy tích, đã dùng Thanh văn làm tên. Ở xưa không gọi là Ứng hóa và Phật đạo, tại nay không gọi là Trụ quả và Quyết định. Trong hạng tăng thượng mạn há không có Ứng hóa? Tứ nhiếp đồng sự sao có thể ngăn cách hạng này ư ? Huống chi trong luận thì hạng Quyết định và Thượng mạn đã đồng nói là chưa thuần thục. Không thể Thượng mạn căn cũng mục nát. Nơi khác nói: “Chưa” là “không” vậy, nên người chưa chết gọi là không chết. Hạ chủng chưa sinh gọi là không sinh, cho nên cả hai hạng Thượng mạn và Quyết định đều có thể phát, là nghĩa quyết định. Lại, trong đây dẫn luận giống như “Giải thích theo Bản tích”, Ứng hóa là Bản, ba hạng Thanh văn còn lại là Tích. Hóa vì ba hạng Thanh văn còn lại không có nghĩa khác! Chỉ thiếu quán tâm, tức bảy nghĩa Nhất của hai giáo trước là cảnh, bảy nghĩa Nhất của hai giáo sau là quán. Lại Thời, Xứ, Giới, là cảnh. Tâm, Kiến, Đạo, Thoát là quán. Nghĩa Thanh văn thì mênh mông, quí nhân chẳng luận, nhưng dùng giáo để nói Đại thừa Thanh văn thì chưa được thông hiểu. Nay nói Ứng hóa, là theo Bản mà nói, căn cứ chúng hoàn toàn ở trong Tiểu thừa. Nói “mênh mông” nghĩa là: Tạng Thông… tám môn, mỗi môn bốn thứ, mỗi môn đều có “Phật đạo Ứng hóa”. Tích tại giáo trước, lại đồng số trước. Căn cứ Bản, lại ứng với Địa, Trụ. Địa, Trụ và hành hướng Địa, Thượng mạn sở lạm lại đồng số trước. Nơi khác thì không căn cứ giáo, xưa nay, Bản tích, quyền thật, khai hợp v.v… để giải thích, mà chỉ nói trụ quả và phương tiện v.v… Vì vậy, nên quí nói do chứng Niết-bàn. Nói “vân vân”, là đủ như trước nói.

Giải thích chữ “đại”: Trước đã giải thích chung với chữ “dữ” (cùng với). A-nan cùng hai vạn người kia: Không phải trực tiếp cùng với người mà nên cùng với người có bảy thứ. Trong bảy thứ ấy đều là “đại” cho nên nói “cùng với đại”. Chữ “cùng với” đã có bốn giải thích không đồng, nghĩa chữ “đại” theo lý phải căn cứ theo kia. Lại, trước nghĩa chữ “cùng với” bao gồm Thời v.v…, nay giải thích chữ “đại”, chỉ ở người đầy đủ bảy, lại gồm nghĩa Đa thắng. Lại, giải thích chữ “cùng với” nghĩa gồm năng, sở. Nay giải thích chữ đại chỉ có sở. Đây theo A-nan chỉ người khác là đại. Trong đây đầu tiên dẫn luận văn vì Đại phẩm tại tiểu tâm chưa chuyển. Tiếp, nay ý Sư cũng đầy đủ ba văn, do mỗi một văn cũng bao gồm ba nghĩa trong luận. Lấy ba nghĩa này thông gồm Tứ Tất-đàn. “Đại” tức Thế giới, “đa” tức Vị nhân và Đối trị, “thắng” tức Đệ nhất nghĩa. Lẽ ra nói rõ đầy đủ ba niệm cùng ngoại nhân có khác, và dùng ba niệm đối với nguyên do “đại, đa, thắng”, trở lại đem ba niệm để đối Tứ Tất-đàn, đầy đủ như trong Chỉ Quán quyển mười ghi. “Tứ Vi-đà”: Như dưới Kinh sớ quyển năm và Chỉ Quán quyển mười nói. Tiếp, trong phần “Căn cứ giáo để giải thích”, ghi lại phần đầu giải thích phán xét thuộc Tam tạng. Căn cứ văn trước, nên chỉ nói là “sở kính…” Trước từ: “Nay nêu rõ…” là ứng nghĩa thông thiên viên, do trong văn trước lại đối ngoại giải thích, cho nên nói “giải thích theo Tam tạng”.

Tiếp “Đại, là…” là căn cứ ba giáo sau. Đầu tiên nêu nghĩa “đa”, chỉ là căn cứ sự, ba thứ sau không thể lại thêm số kia, chỉ căn cứ sở tri để giải thích “đa” kia (nhiều). Trước là giải thích theo Thông giáo “đại đa thắng” ba chữ, mỗi chữ đều đủ ba nghĩa. Phần sau này về sau dần dần ưu việt hơn trước. Căn cứ Biệt Viên: Xưa tức từ ban đầu, nay từ khi được thọ ký, biệt còn giáo đạo. Nói “đại lực La-hán”: là “đại” trong hàng La-hán, tức là Vô nghi giải thoát.

Tiếp, trong phần “Giải thích theo Bản tích”, đầu tiên thuật ba thứ “đại, đa, thắng” trong Bản, tiếp từ “Trong Tích…” là thuật ba thứ “đại, đa, thắng” trong Tích. Đầu tiên nêu bản đại, tiếp “Bản đắc…” là nêu bản thắng; tiếp “trước đã…” là nêu bản đa. “Than thở”, mưu sự, mưu tính nên mới than chẳng phải thường như vậy. Nói “Thắng tràng” là mượn văn Đại phẩm. Nói “vượt qua (siêu) các ngoại đạo”: Chuẩn theo lý nên nói vượt qua các thiên, Tiểu, chỉ vì sở siêu tuy gần mà năng siêu thì xa, đối lý cũng thành. Tiếp, “trong Tích”, đầu tiên chỉ ái kiến tức tại Nhũ vị, cho nên ở đây năm vị thông một vạn hai ngàn, hoặc Quyền hoặc Thật đều phải kinh qua. Nay theo Quyền, cho nên nói Tích. “Lâu rồi vậy vân vân”: đều có Bản từ lâu, tùy Bản dài ngắn, trung gian thiết hóa ngày nay cũng tại Thích Tôn trải qua các vị.

Trong phần “Giải thích theo Quán tâm”, trước trực đối ba, tiếp tuy căn cứ Trung nêu đầy đủ “đại, đa, thắng” mà cũng là ứng với căn cứ Không, Giả đều cả ba. Nói “nhất tâm, nhất thiết tâm”: Tâm cảnh đều có tâm đều thâu nhiếp tất cả. Tất cả không ngoài Tam thiên; đầy đủ như văn Chỉ Quán quyển 5 nói. Nếu chẳng phải Tam thiên thu nhiếp thì không khắp. Nếu chẳng phải Viên tâm, thì không thu nhiếp Tam thiên. Cho nên, Tam thiên tổng biệt bao hàm Không Giả Trung. Một văn đã như vậy, văn khác căn cứ theo đây, cho nên hướng đến nghĩa năm vị thông cả trên dưới, văn nương trong đó.

“Giải thích nghĩa Tỳ-kheo”, dẫn lời ngài Triệu Công trong Sớ Tịnh Danh nói ngài La-thập và bốn đệ tử thuộc đời Ngụy Tần, cho nên gọi là “Tần nói”.

Triệu Công nói có bốn nghĩa:

  1. Tịnh mạng khất sĩ.
  2. Phá phiền não.
  3. Năng trì giới.
  4. Bố ma.

Ngài Cưu-ma-la-thập nói nghĩa một là “đầu”, ba nghĩa sau là “cuối”, đầy đủ hai thứ này thì ma bố (sợ), Phá phiền não và Năng trì giới là nhân Bố ma. Dẫn luận thiếu nghĩa Năng trì giới, phá ác chỉ là Phá phiền não. Cho nên, chỉ ba nghĩa mà thứ lớp không đồng và chung cả sơ tâm khiến ma sợ… cho nên nói phá ác. Vả lại tại thân khẩu, chẳng phải không đoạn hoặc. Đã đều ở ban đầu khiến nghĩa của ngài La-thập hoại, sao lại để Trì giới Phá hoặc ắt tại “cuối cùng”? Lại ngài Triệu Công chỉ dịch tên kia mà nói danh bao hàm, không nói đầu cuối, nay học giả sao khiến ma sợ ư ? “Ngũ hệ”: Đầy đủ như trong Chỉ Quán quyển năm nói. “Thứ nhất Điền…”, Điền tức nông. Nên nói “tại gia bốn thứ như pháp” lại thêm Công. “Niết-bàn bảo lương…” nêu kinh nghĩa lược, tuy lại không đủ ba nghĩa bốn nghĩa, mà phá ác là căn bản. “Nay nêu rõ ba nghĩa này nên thông đầu cuối”, là nghĩa thì nếu căn cứ giáo gồm bài xích hai ngài Triệu, Thập. Nay chẳng phải chỉ dùng luận văn thông sau, lại thông các giáo, huống chi luận chỉ thành một giải thích theo Nhân duyên. Nếu ở trong đó lập tứ Tất-đàn, thì Bố ma tức Thế giới Tất-đàn, Khất sĩ tức Vị nhân, Phá ác tức Đối trị, xuất giới tức Đệ nhất nghĩa. “Y Kinh gia…” nghĩa ắt thông ban đầu, chứng tín ắt về sau, hướng đến trong giải thích Khất sĩ dùng “cầu” để giải thích “khất”, mới dùng lìa tà trải cảnh cầu định v.v… là Tam tạng giáo. Chưa thể đối cảnh tức lý, cho nên đến Thông giáo mới nói lý cầu chân phá chướng… Biệt giáo nói tám ma mười ma: Phá ác đã giải thích nghĩa ma rất sâu, cần phải xa, đầy đủ như trong Chỉ Quán quyển tám nói. Trong Viên giáo, chẳng phải không phá tám phá mười, chỉ coi Thật tướng là chánh, Phá ác là phụ. Bố ma cũng vậy. Trong phần “Giải thích theo Bản Tích”, các Tỳ-kheo ở đây sâu cạn chẳng lường cho nên chưa thể định phán địa vị kia. “Tích chỉ bày năm vị”, nếu không căn cứ năm vị thì chẳng phải Tỳkheo của kinh này.

Trong phần “Giải thích theo Quán tâm” thì “Gông cùm”: Là chân tay bị trói buộc. Hai đế như gông cùm, “đại tuệ” như cởi trói. Vận niệm là “vô trụ”, vọng cảnh là “vô trước”, cho nên không đắm trước cảnh trí thì ra khỏi hai nhà sinh tử. “Khất sĩ, Bố ma” căn cứ giải thích có thể thấy… Trong câu “tức là Bố-ma vân vân”, thì chữ “vân vân” là: Trung quán đã vậy; Không, Giả và dùng thứ lớp không thứ lớp… đối giáo có thể thấy.

“Chúng”: Dùng một vạn hai ngàn, sự pháp hòa. Nếu làm Tứ Tất-đàn, thì: phần đầu là Thế giới Tất-đàn, vì chúng hòa hợp. “Phật thường…” là Vị nhân, vì sinh vật thiện. “Thích luận…” là đối trị, vì phân biệt người ác. “Trong đó…” là Đệ nhất nghĩa, vì tại chân thật. Nói “Sự hòa….” là Tăng, giới, pháp… đều thuộc sự. “Pháp hòa”: như bảy thứ cộng trước, đồng chân lý. “Chín mươi người đắc tam minh”: Trong đó gồm hai mươi chín văn đồng. Xá-lợi-tử hỏi Phật: Trong năm trăm Tỳ-kheo có bao nhiêu người đắc Tam minh, bao nhiêu người Câu giải thoát, bao nhiêu người Tuệ giải thoát? Phật đáp, như văn. “Tam minh”: tức vô nghi giải thoát, đầy đủ như trong Chỉ Quán quyển bảy nói. “Tịnh mạng”, nói đủ như trong Chỉ Quán quyển bốn nói. “Năm phương tiện”: Tứ niệm xứ và Tứ thiện căn. Ngũ đình tâm thì không phải pháp chánh quán. “Khổ pháp nhẫn trở đi”: sau Thế đệ nhất có mười sáu sát na. Đệ nhất tâm trở đi, thì gọi là chân thật. “Thiên Viên năm vị”: năm vị không ra ngoài Thiên Viên, Thiên Viên không ngoài bốn giáo. Nói “Nay chánh là…”: Đương chứng tín thời, đã thâu hoạch thọ ký.

Trong phần “Giải thích theo Bản tích”, thì trong câu “Dẫn các chúng sinh vân vân”, chữ “vân vân” nghĩa là: Đầy đủ như Huyền văn quyển bảy nói, trong nhị đế thì quả thật là căn cứ năm vị để nêu ý giáo vượt ngoài tướng trạng kia.

Tiếp, trong phần “Giải thích theo Quán tâm”, nói “Nếu khác…” là dựa vào kinh này thành pháp quán. Nếu không y trung đạo tuệ mạng quán hành thì nên gọi là “Tăng phá mười giới”. Không giải tướng cứu cánh Ba-la-mật, nhất tâm thập giới thuyên lượng luật, gọi là “Tăng ngu si”. Ngũ phẩm lục căn, gọi là “Tăng tàm quí”. Sơ trụ trở đi gọi là “Tăng chân thật”. Cũng hợp với chú thích… Trải qua nhị đế thập giới trước… và ước bốn giáo khắp làm tướng quán. Trong “phần thứ hai nêu Số” nêu thẳng số tức Nhân duyên. Cũng có thể trong nghĩa đó lập tứ Tất-đàn: Số sai khác là Thế giới Tất-đàn, nghe số sinh thiện là Vị nhân, phá ác nhập chân, theo lệ có thể biết. Không giải thích theo giáo, vì giáo biệt số đồng nên giải thích không sai khác. Nếu tùy số sinh giải tức là giáo sai khác.

Hỏi: Phàm liệt nêu chúng và người đắc đạo vì sao số kia chắc chắn hoàn toàn không thiếu?

Đáp: Đại luận trong phần giải thích câu kinh “Một phần năm ngàn trong số lớn”, nói rằng: “hoặc tăng ít hoặc giảm ít vẫn còn là số lớn.

Trong phần “Giải thích theo Bản Tích” nói “Bản là…” thì có người thắc mắc:

Hỏi: Phàm nói Tích thì đều trước là có Bản, lẽ nào một vạn hai ngàn nguyên đều là đại quyền? Nếu vậy, thì chỉ có năng dẫn mà không có sở dẫn ư ?

Đáp: Lý thật như vậy, chỉ muốn chia đều dùng bốn nghĩa cho nên nói “đều có”, nhưng Bản không đồng, sự cần phân biệt. Nếu đã nhập Viên vị, thì người năng dẫn thành hai chúng Phát khởi và Ảnh hưởng, rõ ràng Bản là Bồ-tát, giáng xuống đây rồi, ngoài từng phát đại tâm cũng gọi là Bồ-tát. Người vốn trú Tiểu thừa thì đối với kinh Đại thừa chưa từng phát tâm, còn gọi là Bồ-tát. Trong đây đầy đủ có Thoái đại, Ứng hóa và vốn trụ Tiểu thừa. Hạng Thoái đại, Trú tiểu thì sau được thọ ký đều có thể làm chúng Đồng nghe.

Hỏi: Tam chu thọ ký số người không nhiều, số đó không ở hội khiến vì chuyển nói , những người này lại chẳng phải, trong giới hạn của chúng Đồng nghe, vì sao trong đây một vạn hai ngàn ư?

Đáp: Trong tam chu số chánh tuy ít, như khi Xá-lợi-phất được thọ ký, bốn chúng tám bộ được chuyển theo, cho nên trong tam chu cũng có hạng Ứng hóa cùng thực hành, đồng thời được thọ ký, cho nên trong Luận nói: “Thoái đại Ứng hóa hai hạng cùng được thọ ký”, tức ý kia vậy.

Như chúng Bồ-tát chỉ nêu tám vạn, phẩm Phân Biệt Công Đức thì

số được thọ ký có lẽ nhiều, nên biết hai chúng Đại tiểu liệt kê thành chúng Đồng nghe, không thể mong được thọ ký.

Trong phần “Giải thích Số theo Quán tâm”, thì Giới, Nhập mỗi mỗi đều đủ mười giới, chính là đương diệu cảnh, các văn chỉ nương năng quán quán thôi! Núi và thành tuy căn cứ ấm làm sở quán, cũng chưa kết thành cảnh bất tư nghì. Lại đem số nhập vào Lý, số đó tức thành cảnh, cảnh quán tương đối đều gọi là “pháp môn”. Lại, cảnh căn cứ Giả biên mà lại còn số kia. Không, Trung còn không có, thì số kia làm sao có? Nhưng phải căn cứ Giả để lập Không, Trung, quán cũng như vậy.

Trong “phần thứ ba: Giải thích Vị”, ban đầu nói “đều là La-hán”, căn cứ sau thì đều thành đại Bồ-tát, tức căn cứ giáo thì là người Viên vị. Trong đó trước dịch tên thì nghĩa đương nhân duyên, tiếp xen lẫn nhân duyên để thành sơ giáo. Trong nhân duyên đầu tiên nói rõ nghĩa “hữu phiên”. Kinh A-Bạt nói nêu cả hai năng và sở. Ứng là trí năng ứng, chân là lý sở ứng. Người dùng trí ứng lý, cho nên nói “ứng chân”. Kinh Thụy Ứng nói: “Tuy giống như nêu cả hai mà ý chỉ năng chứng, chân là sở chứng. Người chứng chân nên gọi là chân nhân. Ba nghĩa như sau giải thích. Tiếp. Trong “vô phiên” có ba”: 1. Từ quả giải thích; 2. “Hoặc nói…” là từ nhân; 3. “Nếu luận…” là phân biệt danh sở tùng. Trong nghĩa đầu tiên nói “ruộng đời sau…”: “Đời (thế)” chỉ là hữu, đầy đủ như trong Chỉ Quán quyển sáu nói.

“Chín mươi tám sử”, là trên tám mươi tám sử gia thêm mười tư duy. Nếu làm nghĩa Tứ Tất-đàn thì ban đầu nêu “hữu phiên” tức Thế giới, trong “vô phiên” chung nhân là Vị nhân, sở tùng là Đối trị, tùng quả là Đệ nhất nghĩa. Căn cứ trong giáo, nói “Bất tặc” cũng là theo Nhị thừa mà đặt tên. Nếu đối Viên Biệt thì vẫn còn gọi là “tặc”, vì vậy nên phải “sát”. “Bất sinh sinh”: Thủ vô vi chứng, sinh nơi giới ngoại, bất sinh đó là sinh cho nên không khiến sinh. Cùng cho sở ứng kia, gọi là “Cung ứng”. Như trong Kinh A-hàm nói: “đức Phật đến A-lan-nhã, nói với các Tỳ-kheo rằng…”, đầy đủ như trong Chỉ Quán quyển bốn nói. Lại, nên phân ra hai giáo trước pháp năng sát sai khác, hai giáo sau “Bất tặc” cũng sai khác. “Đều tán thán đức Sơ địa Sơ trụ”: Trước các nhà hữu phiên (có dịch) thì dùng ba nghĩa để đặt tên, tiếp các nhà vô phiên (không dịch) thì dùng ba nghĩa làm nghĩa, nghĩa tức là “đức”. Cho nên, căn cứ trong giáo thì dùng ba nghĩa làm đức. Nếu căn cứ nhập vị bất định thì đầy đủ nên nói Địa, Trụ trở lên, giáng làm Phật rồi trở lại, tức căn cứ Biệt Viên tán thán bản căn cứ trở lại.

Trong phần “Giải thích theo Bản tích”, giải thích hai lần, đầu tiên căn cứ ba nghĩa tiểu, tiếp căn cứ ba đức đại. Trước nương vào danh tích để trình bày Bản tích, sau là căn cứ danh Bản để thông đến Tích, muốn nêu rõ danh thông nghĩa biệt. Nếu căn cứ thể dụng giải thích, thì trước giải thích theo dụng để nêu rõ thể, sau giải thích theo thể để lập dụng. Lại trước giải thích ba nghĩa để thông xưa, sau giải thích ba đức mà chỉ nay. Nếu lâu xa bản tích thì bốn thứ đều là tích. Nay gồm hai lần cho nên đại tiểu đều lập tên Bản. Vì sức nghĩa vô tận, cho nên chú thích “vân vân”. Sở dĩ Bản là bình đẳng đại tuệ, vô phá bất phá, mới năng chỉ bày tích các giáo Bất sinh. Bản chứng giải thoát vô tặc bất tặc, mới năng chỉ bày tích các vị Sát tặc. Bản đắc Pháp thân phi ứng bất ứng mới năng chỉ bày Tích làm “Ứng cúng”.

Trong phần “Giải thích theo Quán tâm”, trước trực tiếp dùng ba đức đối ba quán giải thích, do ba đức là cảnh nghĩa có thể thông quán. Tiếp trải qua quán để đối giải thích ba nghĩa trong danh, cho nên mỗi mỗi quán đều đầy đủ “Sát tặc”… ba thứ. Bên trên trong Bản tích, thì trước là đối giải thích danh, tiếp đối ba đức. Đây thì trước là đối đức, tiếp đối ba danh. Trong đó trước Không tiếp Trung. Trung lại có hai: Trước giải thích ba nghĩa, tiếp, dẫn kinh chứng minh để chỉ cúng dường, tán thán danh tự, quán hạnh, vị, nhân, công đức sâu. Dẫn kinh văn Phương Đẳng, đầy đủ như Chỉ quán quyển hai nói. “Văn dưới nói…” là Phẩm Pháp Sư nói: “Phật bảo Dược Vương! Nếu có người ác, do tâm bất thiện chê mắng người tại gia, xuất gia đọc tụng kinh Pháp Hoa, thì tội ấy rất nặng”. Đầy đủ như văn dưới.

“Bát phong”: Lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc. bốn nghịch bốn thuận. Phật còn phải lâu mới lìa vô minh nghịch thuận, huống chi nhân gian ư ? “Mất thời cơ tốt”: nếu sinh ưu khổ thì lỡ dịp đạo hợp. “Đại tổn vân vân” Sở dĩ dẫn Phương Đẳng và kinh này vì hai kinh đây tức là danh tự quán hạnh bất sinh…, cho đến tất cả văn quán hạnh đều nên dẫn, chỉ vì trong đó quán hạnh vị thuận tiện. Trong đây “dẫn Pháp Hoa luận…” luận kia chính căn cứ tất cả mười sáu câu, đều có ba môn:

1. Thượng thượng khởi môn, dùng sau giải thích trước.

2. Tổng biệt môn, dùng một câu “đều là A-la-hán” gọi là tổng, các câu dưới giải thích trên cho nên dưới gọi là biệt. Nay trước căn cứ luận dùng Tổng biệt môn, không dùng các câu ở luận văn, chỉ dựa vào năm câu của diệu kinh để giải thích, vẫn hợp năm câu để làm ba đức.

3. Nhiếp thủ sự môn: Trong luận liệt kê đủ tất cả mười sáu câu để giải thích đối sự, luận văn chỉ đem mười sáu câu để giải thích năm câu, không nói kinh thiếu. Cho nên, mười sáu câu nay văn không dùng. Từ đầu biệt cho nên tổng căn cứ giáo xưa tán thán “Tam lậu”: 1. Dục lậu, là tất cả phiền não ở Dục giới, trừ vô minh. 2. Hữu lậu, là tất cả phiền não hai cõi trên, trừ vô minh. 3. Vô minh lậu, là vô minh ở ba cõi. Dẫn hai luận một luật: “Thành luận” căn cứ nghĩa mất, lợi thông nhân quả, “Luật” chuyên tại nhân, “Tỳ-đàm luận” chỉ quả. Do mất lợi nên nhân quả đều mất. “Bởi do…” là lại giải thích ba cái mất và nguyên do mất. Đầu tiên, giải thích mất lợi do nơi nghợp nhân, tức ý của “Thành luận”. Tiếp “Tạo các…” là giải thích nhân chiêu cảm quả, tức khổ sinh tử, nhân tức “Luật văn”, quả tức “Tỳ-đàm”. Tiếp “Bỏ Pháp thân….” lại giải thích ba câu, do ba lỗi trên nên mất ba đức, đoạ sinh tử nên “bỏ Pháp thân”, tạo nghiệp nên “mất tuệ mạng”, lỗi đạo cho nên “mất báu quí trọng”. Ý nói: trong kinh một câu “các lậu” tức là phiền não, ba tướng mất đạo v.v… do đó mà có, đồng gọi là “lậu”, thế nên dẫn chứng. Tướng của “lậu” như thế nào? Cho nên ở đây biện minh rộng Kiến, Tư. Các câu dưới đều phá cổ nhân (người xưa) giải thích ba đức không đúng, cũng có thể thấy. “Phiền não…” giải thích câu tiếp, câu đầu căn cứ nhân quả tương đối, câu đây hoàn toàn nói nhân. “Sử… “là “chín mươi tám sử”, thông làm năng sử, đoạ lạc sinh tử lấy đó làm sở sử. “Lưu” tức Tứ lưu nghĩa là Dục, Kiến, Hữu, Vô minh. “Ách” tên đồng với Lưu. “Triền” tức thập triền. Câu-xá nói: “Triền” có tám: Vô tàm, vô quí, tật, xan, hối, miên, trạo cử, hôn trầm, có khi là vì mười thêm phẫn, phú. “Cái” nghĩa là ngũ cái. “Đãi đắc” là đến kịp, chánh vì trừ hoặc nên công đức nói kịp (cập). Nói “Công đức Trí, Đoạn”: là do trước “sát tặc” thành công đức Đoạn. Đoạn ắt đầy đủ Trí công, thành “lợi mình”. Do “lợi mình” cho nên kham “ứng cúng”. Tiếp, “Tận các hữu kết…” nêu nhân quả đều trừ nên rõ “tâm được tự tại”. “La-hán chỉ nên kết tận…”, “Hữu tận”, Chẳng phải nay tán thán cho nên nói “chỉ là trong nhân nói quả”. “Hữu”: Nghĩa là báo tại hai mươi lăm hữu sinh xứ. “Tận tại không lâu”: Ví như Ca-diếp đợi cho đến khi Đức Phật xuất thế, cũng không gọi “lâu”. Nếu La-hán đều dùng biên tế định lực đem báo thân này nhập biến dịch, thì thân Phật sao nhập Niết-bàn ư? Nếu nói thân Phật quyền thị hiện, thì giáo kia văn nào nói quyền thị hiện ư? Hết thảy La-hán nếu đến thời Pháp Hoa đều hồi tâm, thì vì sao ngoại trừ bốn đại La-hán, mười sáu La-hán, còn lại đều nhập diệt. Nhục thân Bồ-tát đắc vô sinh lẽ ra đều không diệt. Câu “tâm tự tại” giải thích câu trên, hai giải thoát ắt lậu tận, nhân tận ắt quả vong, tuệ giải thoát tuy thoái mà đời nay ắt đắc. “Người câu giải thoát” ắt có tuệ, cho nên nói “cụ túc”, cho nên coi phiền não là giặc, sinh tử là sinh. Sở dĩ người xưa không hiểu ý chỉ đây, cho nên lầm lỗi. Thế nên, biết câu ngũ đức tam pháp chỉ là một. Y luận tổng biệt giải thích đã xong.

Tiếp, nếu y luận dùng “Thượng thượng khởi môn” thì ý luận dùng câu đầu giải thích câu La-hán xong, cho đến dùng câu năm giải thích câu bốn, còn lại không giải thích. Căn cứ đây chính là các câu dưới lần lượt giải thích-câu trên, cho nên được gọi là “Thượng thượng khởi môn”. Vậy thì năm câu đối với câu La-hán cũng thành Tổng biệt và Thượng thượng khởi.

Trong phần “Giải thích theo Bản tích”, đầu tiên nêu năm câu là bản ba đức, tiếp “Tích chỉ bày…”, là chỉ nhị thừa, năm câu ba đức là Tích. Đầu tiên, trở lại y vào xưa là đức Bất sinh, cho nên Bản trụ bí tạng chỉ rõ ba đức La-hán. Niết-bàn là tổng dùng đối Bất sinh, tức hai câu đầu. Chữ “phiền não” là câu “phiền não tận”. Chữ “lậu lưu” là câu “Các lậu tận”. “Không còn…” là giải thích hai câu trên, nêu rõ lìa nhị biên tức “Bản bất sinh”. “Pháp thân…” là giải thích “Bản lợi mình”. Hai câu trên tuy tổng nêu Niết-bàn, mà nay nêu Niết-bàn là lợi mình, cho nên phải thuật riêng. Trong hai câu này, thì câu trên nêu tu, câu dưới nêu tánh, tu tánh tương đối. Trí Đoạn đối Pháp thân tu ba đức. Hai chữ “thật tướng” là tánh pháp thân, hai chữ “công đức” là tánh hai đức. Bản lợi tu tánh, cụ túc chỉ đủ nhị thừa ba đức. “Được Vương Tam-muội….” là nêu rõ Bản tích hai câu bốn và năm, cũng y Sư xưa làm đức “sát tặc, phá hữu” tức câu thứ tư, ngã tánh tức câu thứ năm do phá phiền não tặc. “Vương Tam-muội”: Huyền văn giải thích hai mươi lăm thứ Tam-muội đều đầy đủ bốn nghĩa:

  1. Các hữu tội lỗi.
  2. Bản pháp công đức.
  3. Kết hạnh thành.
  4. Từ bi phá hữu.

Bản địa công đức, từ lâu đã thành tựu bản ba đức. Tội lỗi tức là ba thứ tặc…, bản ba đầy đủ tức kết hạnh thành. Bản, thời ứng cúng là phá hữu. Nay lại dùng nghĩa xưa, do không mất Đại cho nên biết “đã tận”, cũng là “bất sinh”, tận kết nghĩa thông sát tặc. “Tám tự tại ngã” cũng gọi là tám thần biến đầy đủ như trong Chỉ Quán và Thích Tiêm nói.

Trong phần “Giải thích theo Quán tâm” cũng đầy đủ năm câu: Đầu là hai câu nói đức đầu tiên. “Năng quán…” là một câu nói đức kế tiếp. “Chánh quán…” là hai câu nói đức thứ ba. “Tuy có phiền não…” là lập lại giải thích hai câu trong đức thứ ba. Đầu giải thích câu đầu. “Không đoạn…” là giải thích câu tiếp, “như không phiền não” là kết tận, “mà nhập Niết-bàn” là tự tại. Căn cứ danh tự quán hạnh, đều được gọi là “như không có phiền não, nhập Niết-bàn”.

Trong “Phần thứ năm: Liệt danh”, đầu tiên tổng chia làm năm: 1. Hiện số. 2. Lập danh ý. 3. Chứng lập ý. 4. Tiêu Thích ý. 5. Dụng nghĩa ý. Trong dẫn chứng phần nhiều dẫn kinh A-hàm, như trong kinh Tăng Nhất liệt danh bốn chúng, đều có thiên về tốt để dẫn đồng loại. “Mỗi mỗi có bốn giải thích vân vân”: tức nhân duyên… bốn thứ không liệt kê nữa. Nhưng các thánh nhân duyên phần nhiều dựa vào sơ giáo vì là bắt đầu cảm ứng. Cho nên các Thánh ban đầu nhân đều ở ngoại đạo, vì phá ngoại đạo, ở trong Thích chủng được điều phục, được dẫn dắt làm chủ và sẽ dẫn dắt tiếp chúng. Vì vậy nói đầy đủ sự nhập thai, lập hạnh, quyến thuộc, Thầy bạn, hoặc nghịch, hoặc thuận, năng hóa sở hóa. Dù có thủy chung cố chấp không chuyển, cũng là nguyên do đời sau được phá. Hiển bày các Thánh thì Tích không chỉ lập ra, mỗi mỗi ở đều có cảm ứng, cho nên nghĩa Tứ Tất-đàn mỗi mỗi nên biết. Kinh Tăng Nhất kia nói chúng Tỳ-kheo liệt kê một trăm người, có người kiến lập phước, có người kiến lập doanh trại phòng xá, có người năng điều phục ngoại đạo, có người hay cung cấp vật dụng cho người bệnh, có người du hạnh giáo hóa, có người thôi làm việc, chấp tay ngay thẳng, có người ưa mặc y tốt, có người xấu bên ngoài không thẹn, có người ăn không chán đủ, có người nói năng thô vụng. Trong Ni chúng liệt kê năm mươi người: Như Câu-đàm-di Ni đầu đà khổ hạnh, Gia-thâu-đà-la hàng phục ngoại đạo. Trong hai chúng thế tục đều có điều tốt đẹp riêng. Chỉ nhân duyên các Thánh, thì văn nay lược, trong Đại luận nêu đủ rõ. Sự tích tuy biệt, đều là đại quyền.

Trong phần “Giải thích A-nhã Kiều-trần-như” thì phần đầu là Thế giới. “Nguyện…” là Vị nhân. “Hạnh…” là Đối trị. “Thái tử…” là Đệ nhất nghĩa. Đệ nhất nghĩa đây vẫn tại giáo xưa chỉ do giáo lựa chọn tiến hay không hay không tồn tại, tùy sự chuyển mà giải thích khiến thuận tứ Tất-đàn. Đoạn dưới đều như vậy.

Trước kia thờ hỏa: tuy thờ hỏa nhiều chẳng phải ban đầu đắc đạo hỏa không thành đức, cho nên bắt đầu đắc đạo được tên Chiếu Thiêu tức phá tối tăm, nhân diệt vật diệt thì quả mất, ban đầu quả tuy chưa mất sau ắt mất. Như người rơi xuống hang núi, không biết chính là biết không, Phạm âm là đảo, biết được không tức là chân đế, cho nên dẫn Chân đế trong Nhị đế.

Tiếp dẫn hai kinh một luận: Bản tế chỉ là biết chân đế. “Nguyện”, là rút trong kinh Nhân Quả, tức Phật khi làm Bồ-tát bản nguyện độ trước. Tiếp, “Lại, Ca-diếp…” tức là nguyện mình. “Xét rằng đêm dài…” là Trần-như hưng khởi so sánh, sinh tử như đêm dài của thế gian, mặt trời xuất hiện khiến thức tỉnh. “Nhật quang”: là các đại La-hán và các Bồ-tát, cho nên ánh sáng của sao, mặt trời đều phá sự tối tăm lớn của tự thân mình. “Vào núi học đạo….”: Kinh Trung A-hàm quyển năm mươi sáu và kinh La-ma nói: Đức Phật tại giảng đường Lộc Mẫu bảo các Tỳ-kheo: “Có hai thứ cầu: 1. Thánh cầu. 2. Phi thánh cầu. Thánh cầu: an ổn Niết-bàn. Lúc ta làm đồng tử mới mười chín tuổi, đi đến chỗ ông A-la- la-ca-ma-la hỏi rằng: Nương pháp ông hành Phạm hạnh có được không? Đáp: Có thể được. Hỏi: Vì sao pháp này tự biết chứng? Tiên đáp: Ta đã vượt qua Thức xứ, đắc Vô sở hữu xứ; tức liền đến viễn ly xứ tu chứng đắc rồi, thì trở lại đến chỗ tiên thuật lại việc mình đã chứng đắc. Tiên hỏi: Ông đã chứng Vô sở hữu xứ chưa! Ta đã đắc ông cũng đắc ư ! hãy cùng nhau lãnh nhận chúng. Ngài lại nghĩ pháp này không đi đến trí tuệ, không đi đến Niết-bàn, đâu có thể lại cầu chỗ an ổn ư! Vì vậy nên lại đến chỗ Uất-đà-la-la-ma tử, nói: Tôi muốn học theo pháp của ông! Vị kia đáp: Được! Ngài hỏi: Ông tự biết chứng ư? Đáp: Ta vượt quá Vô sở hữu xứ, đắc Phi tưởng định, ta từ lâu đã chứng đắc. Ngài liền tu theo và đắc định, v.v… cho đến lãnh nhận chúng. Ngài lại nghĩ rằng pháp này không hướng đến Niết-bàn, liền bỏ đi đến núi Tượng đầu thôn Bề-la-phạm-chí bên dòng sông Ni-liên-thiền, trải tòa ngồi thiền, thề không đứng dậy, sau Ngài đắc vô thượng an ổn Niết-bàn, đạo phẩm thành tựu bốn trí đầy đủ.

Tiếp đó, Ngài suy nghĩ ai đáng được độ trước, nghĩ rồi biết đâu có thể độ trước hai vị Tiên, trên hư không có tiếng nói: Hai vị ấy đã mạng chung, trải qua bảy ngày, ta cũng tự biết. Nghĩ rằng: Nên độ Uất-đà-lala-ma tử. Chư thiên lại bảo vị ấy chết đã hai tuần, ta cũng tự biết. Nhân lại nghĩ rằng: Xưa năm người theo giúp ta rất khổ nhọc, nghĩ rồi quán biết năm người đó đang ở thành Ba-la-nại, rồi liền đi đến. Năm người kia xa thấy đức Phật tiến đến, liền bảo nhau rằng: “Sa môn ấy ham cầu nhiều ăn uống gạo lứt tô mật dầu mè xoa thân, nay lại đến đây chúng ta chỉ ngồi yên tại tòa mình, chớ có mời ông ấy ngồi”. Khi đức Phật đi đến rồi, với dung nghi đoan trang đĩnh đạc khiến mọi người cung kính đồng nói thỉnh mời ngồi và chia nhau đi lấy nước, trải tòa. Đức Phật ngồi xong trước hết dạy hai người, ba người đem thức ăn đến và sáu người cùng ăn. Tiếp sau dạy ba người, hai người đem thức ăn đến và sáu người cùng ăn. Phật lại dạy : Có hai thứ hành: 1. Đắm ngũ dục. 2. Đắm chấp khổ hạnh. Nên lìa hai thứ đó, gọi là Trung đạo. Tiếp vì năm người, Phật nói ví dụ, tiếp nói Tứ đế, năm người đắc quả vô lậu. Nhiều luận nói : Phật vì ba người hai người nói pháp. Đi đứng không đồng: do ba người là bên phụ thân, hai người là bên mẫu thân. Muốn biết rõ việc khất thực và việc thuyết pháp Bất không, thì căn cứ trong luận Bà-sa: Ngày đầu chia làm hai người thì sáu người cùng ăn, ngày sau chia làm ba người thì năm người cùng ăn. Do Phật tánh thì lìa phi thời thực, lúc bấy giờ đức Phật chưa vì đệ tử mà chế ra phi thời thực, trải qua ba tháng giáo hóa, hoặc nói bốn tháng, ngoài ra như luận văn. Nói ba người bên phụ thân: Nghĩa là Mã-tinh, Ma-nam, Câu-lợi. Ngoài ra là bên mẫu thân.

Đầu tiên thấy Phật đạo tướng bình đẳng: Thấy đầu tiên là Kiềutrần-như, vì người sau tướng trước, nên nói: Phật như cái trống, cơ duyên như dùi trống, pháp luân như âm thanh. Nghe đầu tiên: năm người đều là ban đầu, nhưng Kiều-trần-như ngộ đầu tiên nên gọi là “người đầu tiên nghe, hương đạo phẩm”. Cơ duyên xưa như thân, pháp luân như hương, đầu tiên ngộ gọi là uống cam lộ diệt lý. Pháp lưu tức Sơ quả, đăng chân tức Kiến đế. Phân biệt công đức luận nói: Vị trưởng tử đầu tiên của Phật tức Kiều-trần-như, vị đệ tử cuối cùng tức Tu-bạt, nay chưa thọ hóa nên không luận. Căn cứ trong giáo ứng biện rõ giáo sai khác chỉ nêu quán sai khác vì theo quán phán giáo, lý dễ phân chia nên uyển chuyển theo, dùng quán mà phân biệt. Huống chi một vạn hai ngàn người, thì Kiều-trần-như đứng đầu, Vô sinh chính là tông của các pháp quán, khiến nghe danh biết hạnh, theo người biết tâm, cho nên Đại sư tán thán Chương Sớ xưa nói: “Hận không thấy mặt kia chỉ hận không thấy người kia, nay thấy văn kia thì thấy tâm kia. “Nay như vậy…” tuy không thấy người mà chính thấy trí kia.

Trong phần “Giải thích theo Giáo”: Ban đầu, người Tam tạng giáo không hiểu “bóng giả” cho nên dùng nghĩa mù trong A-hàm làm thí dụ.

1. Tổng lập thí dụ cảnh trí.

2. Tiếp, “Đầu v.v…” là thí dụ cảnh nhân quả, như sáu phần hòa hợp thành thân, như hòa hợp thành nghiêp, nghiêp nương gá cha mẹ như hình đối bóng sinh, bóng ắt không thật, do cho là thật khiến ấm sau sinh khởi. “Mù ví như vô sinh trí”, không thấy ví như không chấp thủ.

3. “Nếu mở mắt…” là nói rõ nghĩa: “sinh bất sinh”, trong đó đầu tiên do chấp nhân nên quả sinh. Tiếp, “nếu nhắm mắt…” là dụ cho không chấp nhân nên quả không sinh. “Kính” (gương), là giúp nhân đắc quả, lại do chấp tâm duyên theo đó, mới trợ giúp nhân mà sinh quả.

Văn dưới căn cứ theo đây.

Trong đó có hai: Đầu tổng sau biệt. 1. Tổng nêu Bất sinh; 2. “Không thấy…” là tổng liệt kê nhân quả bất sinh. Tiếp, “Cho nên kinh A-hàm…” là ba khoa trong biệt chia làm hai: Đầu quán ấm, sau nhập giới. Trong quán ấm, có hai: Trước nói rõ ấm sinh làm cảnh. Tiếp “Nếu có thể…” là Vô sinh quán trí. Phần đầu lại có ba: Pháp, Dụ, Hợp. Trong Pháp nghĩa gồm tổng biệt hai cảnh, nghĩa là nhân chấp sắc tịnh nên bốn thứ còn lại đều tịnh. Lạc… cũng vậy. Vậy năm ấm đều tịnh, thường…, tức tổng cảnh. Trong đây, tưởng hành lẽ ra nói cho đến thọ, thức nên nói cho đến tưởng hành. Văn lại nhất vãng.

Tiếp, trong phần “Giải thích theo Quán tâm”, chia làm ba: 1. Chánh nêu dụng quán. 2. “Đã biết… ” là nêu quán thành phá hoặc. 3. “Như vậy…” là căn cứ nhân phá quả. Đầu văn lại có ba: Pháp, Dụ Hợp. Nên biết trong thí dụ Gương nếu không đối, mù thì Bản ở diễn môn, cũng có thể thông dụng, đủ như trong Chỉ Quán quyển năm nói. Trong Pháp có hai: Giải thích và kết. Giải thích có hai: Đầu, là biệt. Sau, “ Lại có thể…” là tổng. “Thảy đều vô thường…” biết trong sắc thiếu chữ “vô ngã”. “Đó gọi là…” là kết. “Như mù…” là dụ. “Đó là…” là hợp. Tiếp, “Đã biết…” nêu quán thành phá kiến, trong đây tức phá hai mươi thân kiến. Tiếp, “Như vậy… ” là căn cứ nhân phá quả, trong đó có pháp, dụ, hợp. Tiếp, trong phần “Quán nhập giới”, trước nêu cả hai nhập giới; tiếp theo là Chánh giải thích. Trong giải thích, trước lại nương đây tiện nêu nhân duyên, cho nên biết tiền ấm tức là niệm xứ quán, thuộc Tứ đế. Trong đó, cũng trước đại hải dùng dụ cảnh sinh. Tiếp, “Vì sao…” là lấy khổ chủng dụ quán bất sinh. Trong cảnh đầu tiên thì trước là căn cứ nhập, tiếp là dùng giới theo lệ. Phần đầu, trước là căn cứ hai nhập sắc và nhãn, rộng nêu rõ. Tiếp, “Nhĩ, tỷ…” là nêu mười nhập theo lệ. Đầu căn cứ trong nhãn sắc nêu đủ mười hai nhân duyên. Đầu tiên, trong Vô minh, dụ văn tại trong kinh A-hàm.

“Ngũ bào”: hai tay hai chân và đầu. Trong Thí dụ thiếu năm trần. Tiếp trong quán chia làm hai: Đầu nhập, tiếp dùng giới theo lệ. Trong phần nhập có hai: Trước nói rõ nhãn sắc, sau dùng mười nhập theo lệ.

Trong phần nhãn sắc có ba:

  1. Lược nêu bất sinh.
  2. Tiếp, từ “Vì sao khổ ?” Trở xuống: Ngược lại giải thích sinh.
  3. Từ “Nếu biết…” chánh nêu dụng quán.

Đầu, trong lược quán chính lấy mùi hôi dùng dụ nhân duyên, đã do sân nhuế niệm dục là mầm giống khổ tức vô minh. Lại do chấp pháp trần thiện ác làm nước trùng giòi hôi thối là hành, hai thứ này không sinh nên mười nhập không sinh. “A-nhã tối sơ…” là kết, như văn. Trong Thông giáo quán dùng “cảnh tức” cho nên không cảnh lập trước, cũng chia làm hai: trước là ấm, sau là nhập giới. Trong ấm, cũng có hai : trước là tổng, sau từ “Lại, quán…” là biệt. Tổng là tổng dùng gương tượng dụ năm thứ, biệt là năm dụ đều biệt thí. Cả năm, đều là đầu dụ sau hợp. Trong tổng thì trước là căn cứ sắc ấm, tiếp là dùng bốn thứ theo lệ. Cũng như dùng khăn bịt mặt mà cầu thấy trăng thì không thể được, người cùng gương soi đều gọi là huyễn, nhân duyên đều từ nhân duyên sinh. Nhân thật duyên thật hòa hợp sinh, mà còn tự như huyễn huống chi cái do huyễn nhân duyên sinh mà không phải huyễn? Như khăn như dược đối với thỏ, gọi là thật, thỏ đối với khăn dược, gọi là huyễn. Gương tượng cũng vậy, huống chi nay trước thấy nhân duyên như huyễn, tượng không phải huyễn ư! Chi tiết đầy đủ như trong Chỉ Quán quyển năm nói. Nay lại lược biện minh khiến biết quán biệt, cho nên không luận rộng. Nay cũng có đủ hai Không.

Tiếp, “Quán căn trần…” là quán Giới Nhập, cũng lại nương Giới Nhập để nêu rõ nhân duyên nên nói “vô minh v.v…”. Trong đó có hai, trước là nói căn trần vô minh, tiếp “phiền não…” là nói ba đời tức mười một chi, đều có dụ và hợp. Trong dụ nói căn trần tụ lạc, là văn trong Đại Kinh quyển hai mươi mốt nói. Lại dùng cơ quan để giải thích thành nghĩa căn trần hòa hợp. Kinh nói: Ví như có vua đem bốn con rắn độc bỏ vào một hộp. Sai người nuôi dưỡng cho ăn và nhìn xem chúng nó nằm hay dậy, nếu để cho một con rắn nổi sân, thì ta sẽ theo pháp giết bêu ngoài chợ, người ấy nghe vua nói xong liền bỏ hộp rắn chạy trốn. Lúc bấy giờ vua lại sai năm người Chiên-đà-la cầm dao rượt theo, mật sai một người trá làm thân hữu mà nói rằng: Ông có thể trở về. Người kia không tin, nương tựa vào tụ lạc, đều không thấy người, cầu vật không được, liền ngồi xuống đất, nghe trên không trung có tiếng nói rằng: Đêm nay sẽ có sáu đại tặc đến. Người kia sợ hãi lại bỏ đi, cho đến giữa đường gặp một con sông chặn ngang dòng mà đi v.v… Hợp lại nói: Rắn nếu hại thì người không đọa vào đường ác, người không có sức tam học ắt bị ngũ ấm ví như năm người Chiên-đà-la hại, như không biết ái giả làm người thân dối trá. Phải quán, xem sáu người ấy như ở tụ lạc không người mà gặp đám giặc trụ ở sáu trần sáu nhập, muốn bỏ thì lại gặp dòng phiền não chảy nhanh, nên dùng thuyền đạo phẩm, vận tay động chân vượt qua sông Phân đoạn sinh tử, hàng Thập trụ chưa tránh thoát chỉ có Phật mới cứu cánh.

Kinh văn bản dụ tam thừa thủy chung, nay dụ Thông giáo Thanh văn quán pháp. Nói “cơ quan”: “Cơ” là cơ nhỏ nhiệm nghĩa có thể phát khởi, “quan” là chi tiết liên quan nhờ người mà động. Phàm kết thân khẩu đều do ý động mà thành tác nghiêp. Đã nói “tụ không” tức vốn không. Nói “vân vân” là bỏ bớt đi văn nói về Giới, đầy đủ như trên trong Tam tạng giáo đã nêu, nhất vãng lại như vậy. Nếu theo tu quán chẳng thể hiểu được như vậy. Tiếp, trong phần “Biệt quán”, cũng trước dụ cảnh trí. “Nếu muốn…” là khởi hành. Trong phần đầu thì trước là lập cảnh trí, tiếp “Màu xanh…” là nêu cảnh thể lượng, sau “Đều đối…” là kết ý. Trong phần đầu lập thì trước là cảnh, tiếp là quán. Trong phần cảnh, đầu nói “gương dụ cho pháp giới”. Thông giáo coi “mê ngộ, sự lý, trước sau, tự tha” đồng y một pháp giới. Chân như tại mê năng sinh cửu giới, tức chỉ quả Phật làm Phật pháp giới, cho nên, tổng nói mười. Vì vậy người Biệt giáo thì vô minh che lấp lý làm nhân của cửu giới. Cho nên, trong văn tự hành hóa tha đều phải đoạn cửu, cửu tận mới gọi là duyên liễu đầy đủ, vì đủ nên chánh nhân mới rốt ráo hiển. Tiếp, “thể lượng”: Trong đây chỉ dùng tám pháp “xanh v.v…” dụ cho mười giới, hoặc ly hoặc hợp tùy tiện mà nói, cho nên hợp nhị thừa và dùng nhân thiên, lại lược bớt Tu-la nhưng khai Bồ-tát cũng có thể Sơ địa làm Phật pháp giới. Các văn khai hợp tùy nghĩa căn cứ có thể biết. Lại “xanh, vàng v.v…” sơ tâm Biệt giáo cùng Tạng không khác biệt, cho nên được. Nếu dùng dụ trong kinh Chánh Pháp Niệm, thì chỉ thêm “ngắn, dài…” mà thôi! Nói “đều ở trong gương”: là không ra ngoài pháp giới, pháp giới không ngoài mê ngộ, mê ngộ không ngoài tâm.

Tiếp, “khởi hạnh” lại có năm phần:

1. Chỉ phần hạn tự hạnh hóa tha, do trong Biệt giáo không có tánh đức cửu, nên tự tha đoạn, biệt tu duyên liễu, mà nghiêm bản hữu thường trụ pháp thân.

2. Tiếp “Y nơi pháp giới…” là y cảnh khai hạnh cũng chỉ lý bị chín giới che lấp mà làm sở y. Pháp giới chỉ là pháp tánh, lại là sở y của mê ngộ, trong đó cũng nên nói: Từ vô trụ bản, lập tất cả pháp, vô minh lấp che (phúc) lý, năng phúc sở phúc đều gọi là vô trụ. Chỉ vì “tức và bất tức” khác nhau, mà phân giáo sai khác, nay ngược mê thành ngộ, chuyên duyên lý tánh mà phá chín giới.

3. “Thứ đệ….”, là nêu nhân diệt.

4. “Nếu không có…” là nêu quả diệt.

5. “Sinh cũng…” là tổng kết nhân quả.

Song nêu bất sinh, tức Giới nội ngoại hai sinh, bất sinh. Hóa vật biện theo chiều ngang thì văn thiếu, không luận.

Tiếp, trong phần “Căn cứ Viên giáo quán Vô sinh trí ”, thì trước dụ, sau là hợp. Trong dụ, nói “Quán gương” là nhất pháp giới. “Đoàn viên”: là lý cảnh trí, “quán” tức là trí, “đoàn viên” là cảnh. Tiếp “Chẳng quán…” là nêu quán tướng, “sau lưng” tức vô minh, “trước mặt” tức trí minh. “Gương” là nhân mười giới. “Hình” là duyên mười giới. “Tượng” là quả mười giới. Lại “Gương” chiếu sáng tánh mười giới. “Tượng” sinh tu mười giới. Cho nên “hình, tượng, tu, tánh” đều đủ mười giới, đều không ra ngoài gương lý pháp tánh. Thấy rõ “hình, tượng, tu, tánh” bản như, trong ngoài gương một lần lìa tình tưởng phân biệt theo ba giáo, tổng dùng Bất nhị vô phân biệt trí, y lý thông suốt thì tiêu mất cái sáng tối của tâm cảnh, cho nên nói “chẳng quán”. Quán cảnh không khác, lý không sáng tối nên nói “Chẳng phải sau lưng…”. Căn cứ tu đắc mà thuyết, nên nói “Chẳng chấp….”.

Tiếp, “Chỉ cần quán…” kết ý trung, “chỉ cần” là tổng lược xuất tướng quán kia, không mưu toan mà chiếu, “chỉ cần quán đoàn viên” vì “vô thủy chung” nên “không bờ bến”. Vì bản hữu nên vô thủy, vì thường trú nên vô chung, sáng tối như trước. “Không một khác”: là song phi tượng vô tượng. “Chẳng chấp….” là hợp. Đầu tiên, “Chẳng chấp….” là tiêu mất mười giới trước, thiện ác sáu giới, dùng sáu đối tiểu nên nói “tà chánh”, do Bồ-tát Phật dùng đối nơi tiểu cho nên nói “Đại Tiểu”. “Hết thảy đều tiêu mất”, cho nên đều nói “không”, không còn phân biệt hoặc “tánh” hoặc “tu”. “Chỉ cần duyên…” là tiêu mất tâm cảnh trước, do “pháp tánh thật tướng” tức là tam đế tam quán, hết thảy Phật pháp đều đại. Hoặc “tiêu mất” hoặc “chiếu” đều là pháp tánh. Thể của pháp tánh thì lìa mất lìa chiếu, cho nên toàn là mất chiếu. “Quán phiền não…”: Nêu quán thể, chỉ quán ba đường, sinh tức khổ đạo, ba đạo tức ba đức. Trong đó đầu tiên tổng nêu lập quán, từ “Ấm nhập giới tức Pháp thân” trở xuống, là dạy dùng quán pháp. Bản quán lý là bất quán nhiễm trừ ; thể của nhiễm tự hư, bản hư gọi là diệt, cho nên diệu thể diệt, không lập tên “trừ” Thể của chướng tức đức, không đợi chuyển trừ, cho nên nói “sinh tức vô sinh”. Tiếp “Giải thoát tức nghiêp….” là kết thành vô sinh. Tiếp, “Chính tam Bất sinh…” là phức sơ tổng kết.

Tiếp “Huống chi biến dịch…”: lấy trọng so sánh khinh, giới nội chướng nặng mà còn là diệu đức, huống chi ngoại giới nhẹ ư ! Nay vẫn căn cứ tột cùng là ba đường, nếu luận đủ thì nên căn cứ ba pháp, trong đây căn cứ Viên quán, không đồng với Tạng Biệt trước cảnh sau quán, bởi vì hoặc pháp hoặc dụ đều không hai, nói “tuy tợ Thông quán cảnh Biệt”. Sở dĩ trong phần “Giải thích Kiều-trần-như”, giáo tướng căn cứ quán, vì nghĩa kia rộng dùng đó làm đầu tiên. “Nếu nghe chữ A hiểu tất cả nghĩa” trở xuống, là nói các Thánh tuy tùy sự riêng biệt, mà luận quán hạnh của họ không ra ngoài Vô sinh, như Đầu-đà Đẩu-tẩu cho đến Mật hạnh, cũng đâu có ngoài Trí Đoạn Vô sinh, cho nên văn dưới căn cứ đây có thể biết. Nói: “vân vân” là đáng lẽ phải nêu đủ mười thừa mười cảnh và phương tiện v.v…, hoàn toàn chỉ một bộ văn Chỉ Quán. Cho nên Chỉ Quán phá khắp, trong đó cũng lấy Vô sinh làm đầu, nên nay lược chỉ đại cương. Nếu đối A-nhã mà quyền thật thủy chung không mê, muốn dùng Viên quán để hiểu năm Phật trong kinh này thì tam chu, bản tích, lưu thông đều là đại thể của Vô sinh, tức năng gồm biết một đời quán cảnh. Cho nên, phần nêu tên thì lược chỉ khái quát, như người đời vì con lập hiệu còn có tiêu biểu huống chi các Thánh giả lẽ nào lại không? Nếu không như vậy, thì uổng phí thiết lập tên gọi Vô sinh, vĩnh viễn không có ý chỉ Vô sinh, Đại Tiểu lẫn lộn, quyền thật mờ mịt. Đây một đã rõ, ngoài ra theo lệ như đây.

Trong phần “Giải thích theo Bản tích”, thì đầu tiên căn cứ năm vị, chinh là chỉ bày Bản tích, trong đó chữ A hiển khắp tám giáo. Tiếp, “Chúng sinh…” là khuyên chúng sinh tư duy đủ thì công năm thời hoàn tất. Tiếp, “Chẳng phải bổn…” là nêu rõ công thể dụng bất tư nghì xong. “Cho nên văn dưới nói….” là dẫn khai tích chứng, nói các thứ cũng không ra ngoài năm thời tám giáo. Lại, tùy bản ngắn dài, tất cả kinh dù hạn độ bao nhiêu đều thuộc năm thời tám giáo, chỉ bày không sinh. Dẫn “A-hàm”, là dẫn Tích chứng Bản, nhờ Bản Tích trong Tích chỉ bày sự cao thấp kia, bản địa cao thấp chẳng phải đây có thể kể lại hết. Tạp A-hàm quyển ba mươi mốt nói: Phật ở Xá-vệ, vào một đêm tối trời mưa nhỏ, bảo với A-nan rằng: ông lấy lọng che đèn đi theo Phật, A-nan nhận lời dạy đi đến một nơi, đức Thế Tôn mỉm cười. A-nan bạch Phật, Phật dạy: “Không phải không có nhân duyên, ông nay cầm lọng đi theo ta, ta thấy Phạm Vương cầm lọng che đèn đi sau Kiều-trần-như, Đế Thích-cầm lọng che đèn đi sau Ca-diếp, cho đến Tỳ-sa-môn thiên vương sau Kiếp-tân-na… Do đó thiên thông tựa: “Như thị” cho đến các Thánh đệ tử đều đầy đủ bốn giải thích. Do “Như thị” thông chỉ một bộ, Ngã văn năng văn một bộ. “Thời, Xứ, Giáo chủ” ắt không cách khác, đều là đại lược kinh này. Huống chi các đệ tử tại Đại tại Tiểu, hoặc hiển hoặc tối, là chủ là bạn, thị hiện ấp úng hay lưu loát, có cong có thẳng, chán ngoài, ưa trong trái Đại hướng Tiểu, dẫn Tiểu nhập Đại, hội Thiên qui Viên, từ nhân quả đều vì chúng sinh làm “chủng, thục, thoát” quá khứ, vị lai hiện tại đều lợi ích, chỗ trải qua đã nhiều thời xứ chẳng phải một. Bởi do cơ duyên chúng sinh thuần thục chưa đồng, nay đã đều hội, dùng xưa hướng về nay khiến Giáo, Nhân, Pháp nay tốt đẹp. Cho nên, dùng bốn cách giải thích khiến liễu cơ, ứng từ ngoài đến trong, sau nhập Pháp Hoa Bản Tích hai môn, trước sau ngộ nhập, đều nhờ chúng ảnh hưởng và chúng phát khởi dẫn dắt. Tùy nghe một câu hoặc nhân hoặc pháp, đều thành oai nghi hóa độ, đều có thể làm quán. Vì thế đối với một người đều giải thích theo các cách, huống khiến đời sau nghe danh khởi hạnh, thọ giáo biết thể, tư duy Tích thấy Bản, dùng nhân duyên kia rộng chiếu từ đầu đến cuối. Nếu hiểu được ý này, thì dù là nơi một người, một câu kinh đều có thể dùng làm cảnh thượng cầu, có thể để biết cơ duyên hạ hóa, có thể để hiểu Thánh giả hóa nghi, có thể để hiểu biết phàm phu bẩm thọ lợi ích, có thể để thông đạt danh nghĩa đồng khác, có thể để biết Lý, Hạnh v.v… sai khác, có thể để biết tùy nghe thành quán, có thể để hiểu nhân pháp tích bản, có thể để tin hóa sự lâu dài, có thể để ngưỡng mộ ân Thánh khó báo, có thể để biết chúng sinh khó hóa, có thể để biết hội lý rất khó. Người khác không thấy thì cho là phiền phức. Huống chi hiểu được ý này, hể nghe các kinh một pháp một sự một nhân một hạnh thì hiểu việc Phật trong mười phương ba đời, chỉ trừ Tịnh độ còn lại các trần thi hóa, huống lại cũng để Tỳ-kheo tư duy việc đó. Cho nên, biết chư Phật dụng giáo hiện thân tuy lại không đồng, nhưng môn Tư Tu thì lý không sai biệt.

 

Pages: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.