Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

CHỈ QUÁN PHỤ HÀNH TRUYỀN HOẰNG QUYẾT

SỐ 1912

QUYỂN 02

Sa-môn Trạm Nhiên Tỳ Lăng đời Đường soạn.

PHẦN 1

Kế giải thích: Tu đại hạnh. Trước nói ý nghĩa phát tâm chẳng có hành chẳng có vị để luận, cho nên nói tu hành vào vị Bồ-tát gọi là tu Đại hạnh chỉ quán là nêu, tự phàm phu trở xuống là giải thích. “Khéo hiểu trở xuống là nêu thí dụ. Vị Lạc phải luyện mới thành vị tô, như khuấy cho chín. Cho nên Đại Kinh quyển hai mươi sáu nói: Như sữa phải có công người làm, đổ nước vào bình sữa chế luyện sẽ thành bơ lạc, bơ đã xong thì vị đề hồ sẽ được. Trụ hạnh tiền hạnh cũng như chế luyện. Phàm phu năm phẩm đồng dụ cho sữa, sáu căn như lạc và sanh tô thục tô. Sơ trụ trở lên gọi là đề hồ. Khéo có thể điều đình bốn thứ Tam-muội. Phải biết sáu căn Sơ trụ có thể được. Từ (hơn) mà nói, nên gọi là đề hồ. Dẫn chứng như văn hành pháp trở xuống là nêu lược nhiếp rộng để nêu bốn tên, gọi chung trở xuống là giải thích tên. Gọi Tammuội là chung, ngồi v.v… là riêng. gọi Đại luận trở xuống là dẫn chứng. Luận nói tất cả tâm thiền định đều gọi là Tam-ma-địa, đời Tần dịch là Chánh tâm hành xứ chỗ hành của chánh tâm, tâm ấy từ vô thỉ thường cong chẳng ngay, vào chỗ chánh hạnh thì tâm ngay thẳng, như rắn thường bò cong mà vào ống thì bỏ thẳng. Nay văn còn lược, nên nói tâm khéo trụ một chỗ (tâm khéo trụ một chỗ). Trước giải thích lại lược. Chỉ nói điều trực. Luận lại chép: Tam-muội là chung, một trăm lẻ tám là riêng. Nay chỉ đối bốn để nói chung riêng. Pháp giới trở xuống là giải thích luận văn. Bốn hạnh chung y pháp giới một chỗ, lại trong tên riêng mà nói thường ngồi. Cho đến chẳng phải đi chẳng phải ngồi là y cứ thân nghi làm tên. Nếu từ pháp làm tên thì thường ngồi gọi là Nhất hạnh, thường đi gọi là Phật lập, nửa đi nửa ngồi gọi là Phương Đẳng Pháp Hoa, không đi không ngồi gọi là Tùy tự ý v.v… Một thường ngồi trở xuống là nói giáo được theo, giáo ấy đặt tên giáo lý Nhất hạnh. Cắt bỏ thân nghi chẳng gồm việc khác gọi là Nhất hạnh, chẳng phải lý được duyên được gọi là nhất hạnh. Nếu lý được duyên gọi là nhất hạnh thì bốn hạnh đều duyên thật tướng. Nay trước trở xuống là khai chương. Phương pháp trở xuống là nêu tướng phương pháp phải đủ ba nghiệp. Thân trong khai giá nói hoặc có thể ở trong chúng tức là ở, chỗ riêng cao quý nhất nên gọi là di thiện (thiện lớn). Ngồi kiết già, thì chân trái trước, chân phải sau cùng đặt lên đùi. Đại luận quyển chín hỏi: Có nhiều cách ngồi sao chỉ dạy ngồi kiết già? Đáp đó là rất an ổn, giữ chặt tay chân tâm không tán động. Ma vương sợ hãi, nên kệ chép: “Người được đạo hổ thẹn, ngồi yên như rồng phục, thấy dáng ngồi kiết già, Ma vương đều kinh sợ.” Chẳng đồng cách ngồi thế tục và khác ngoại đạo đứng kiểng chân. Tự Thư chép: Kiết già là ngồi lớn, cho nên biết xứ này chưa hiểu cách ngồi, chỉ nói đại tọa. Nay Phật pháp ngồi tướng ấy như kết, hai chân gài vào nhau nên gọi là kiết già. Thân phải hẹn đến thấy lý chẳng tạm nằm, huống chi là như thây chết. Nói thi ngọa là nằm ngửa, cũng gọi là dâm nữ nằm, Tu-la nằm sắp, đều chẳng nên làm. Thánh cho nằm nghiêng hông phải, còn chẳng nên làm, huống chi là như thây chết (Lễ chép: Chết nằm trên giường là thi, nằm trong quan tài gọi là cửu) đây là ý riêng của người giảng, không phải văn này. Trừ khi đi kinh hành, để khỏi buồn ngủ nên Phật, khai cho đi kinh hành. Nếu đi kinh hành thì phải tánh đất có côn trùng, luật Thập Tụng chép: Nếu đi kinh hành thì phải đi thẳng, không chậm không nhanh. Lại Kinh Tam Thiên Oai Nghi chép: Kinh hành có năm chỗ: Một là chỗ vắng; hai là trước nhà; ba là trước giảng đường; bốn là dưới tháp; năm là dưới giác. Luật Tứ Phần chép: Đi kinh hành có năm lợi ích: Một là đi được xa; hai là có thể suy nghĩ; ba là ít bịnh; bốn là tiêu thực; năm là được định trụ lâu. Ăn và tiện lợi, v.v… đồng với chỗ cho phép, chẳng được do đây mà lợi dụng kéo dài chậm trễ. Nếu ngủ rồi dậy, ăn xong các việc thì chẳng phải việc được khai. Tùy một phương mà nhìn thấy Phật. Hướng phải theo phía Tây. Nếu khởi niệm Phật thì chỗ hướng về Phật là tiện. Kinh tuy chẳng bắt buộc phải hướng về phương Tây, nhưng chướng khởi đã khiến đọc tên một. Các giáo phần lớn đều khen Di-đà, nên dùng phương Tây làm chuẩn. Về Thời khắc, trong một ngày đêm có một trăm khắc, lại phụ tục nghi nên nói khắc. Nói tu du, một ngày một đêm có ba mươi Tu-du, chưa hẳn chỉ cho đây, chỉ là nói chung chẳng cho tạm bỏ nên gọi là Tu-du, còn chẳng cho cách một sát-na, huống chi là khắc hay Tu-du. Cho nên trong truyện Đại sư chép: Nói chẳng dối thì hơi thở chẳng hư, chỗ khai ở sau lại răn khai già ở trước. Chẳng khinh Phật, khinh vật gọi là lăng. Luận Ngữ nói quân tử còn chẳng lừa, huống chi là Phật? Đại luận sáu mươi mốt chép: Khi Bồ-tát cầu Phật đạo thì chẳng tiếc thân mạng, Chư Phật các Đại Bồ-tát mười phương đều cùng hộ niệm, thành tựu Phật đạo. Nếu làm Bồ-tát mà biếng lười, là tham đắm danh đời chẳng chuyên siêng cầu, ấy là tự dối lừa mình mà cũng dối lừa Chư Phật và các Bồ-tát. Vì sao? Vì tự nói ta vì chúng sanh mà cầu Phật đạo lại làm tạp hạnh, nên ma được dịp làm hại. Chẳng phụ tâm, phụ là chẳng khắc, sau chẳng toại trước, gọi là chẳng khắc, cũng là tự dối mình. Chẳng lừa dối chúng sanh, trá là khi, là lừa dối, lầm lẫn, tức làm cho người khác hiểu sai, trái với lời nói trước mà làm tạp hạnh. Cho nên lừa dối là tự phụ tâm mình, phụ tâm mình tức là lừa dối Phật. Miệng nói nín thuận hành nên nín, trừ chướng nên nói. Bì là mỗi một biếng lười. Câu dưới nói tật bịnh là bốn đại chẳng điều, chẳng do ngồi mà mệt mỏi, nên nói là bịnh tật. Nội ngoại chướng, là phiền não, kiến mạn v.v… gọi là nội chướng, ma ác tri thức v.v… gọi là ngoại chướng. Chỉ được chuyên xưng niệm danh hiệu Phật là sám, suốt đời không hối, nên nói dùng mạng tự qui y. Cùng xưng niệm Phật mười phương, là giải thích nghi, sợ có người nghi rằng vì sao chỉ khiến niệm Phật A-di-đà. Cho nên giải thích rằng: Công đức Chánh đẳng dứt loạn nên chuyên. Vì sao trở xuống là nêu thí dụ. Như người quá buồn khóc lớn lên thì thoải mái, nếu có việc quá vui hát lên thì thoải mái. Niềm vui nỗi buồn trong lòng chưa tiết lộ ra nên phải dùng miệng mà ca mà khóc lớn để giúp. Người tu trở xuống là hợp thí, Đại luận quyển sáu mươi giải thích dụ tiếng vang nói rằng: Như người khi nói thì hơi trong miệng phát ra, gọi là Ưu-đà-na đụng rún mà đi lên, hơi ấy đụng bảy chỗ là đầu, lợi, răng, môi, lưỡi, cổ họng và ngực. Từ đó, lời nói sanh ra. Người ngu chẳng hiểu đây, đắm mê mà sanh tham si. Trong người có trí tuệ chẳng sân cũng chẳng mê đắm, cũng lại không ngu si, chỉ tùy các pháp tướng, cong ngay, co duỗi, tới lui, nhìn nói đều không có tác giả. Năm câu trước là nói thân nghiệp, câu thứ sáu là nói miệng nghiệp, một câu hai hàng sau là xếp vào tướng ngu trí. Tuy dùng thân miệng giúp ý thành cơ nhưng phải hiểu rõ tướng ngu trí, tức là ba nghiệp cùng làm cơ. Huyền văn tuy lập nghĩa cơ ý nghiệp nhưng không phải ý văn này. Ý nay chỉ duyên, ý riêng chẳng thành, cho nên khiến tu mà giúp. Kinh Bộ tuy tức nghĩa chung ba thừa, ý nay ở viên chẳng chung cho Thông Biệt. Nay là trừ chướng tuy niệm ứng Phật. Ý dưới chỉ quán khiến nhớ nghĩ pháp thân cho nên chỉ ở viên. Như người trở xuống là dụ giúp ý. Người tu trở xuống là hợp. Nếu đối với pháp môn chưa hiểu trở xuống là vì dứt mê nên gần gũi hiểu rõ giải, vì hai kinh ấy là Bộ Bát-nhã, nên khiến gần gũi hiểu Bát-nhã, Ý thì chung với hạnh môn Đại thừa. Lại trong Bát-nhã có nói nhiều về pháp quán hạnh của Bồ-tát. Tụng kinh, v.v… là nêu so sánh. Việc này tuy là thường ngồi bị bỏ đi chớ dùng lời này mà so sánh ba Tam-muội. Cho nên trong thường ngồi còn bỏ tụng kinh, huống chi là lời thế tục, ngăn tụng hạn cục ở đây, ngăn nói thông bốn, vì thế bốn Tam-muội đều phải dứt việc tiếp xúc người ngoài, không đi không ngồi, y kinh cũng chế. Tuy chung cho tác thọ nhưng nhiễm tục chẳng khai, ý chỉ quán. Đây cho đến không đi không ngồi đều là thô chuẩn. Kinh nầy chỉ bày quán môn. Dẫu dường như có tướng mười quán mà văn đều y cứ lược, chưa thể phân biệt quán pháp trước sau. Mới phát đại tâm trở xuống là ba lược cũng giống như thế. Cho nên năm chương này chỉ gọi đại ý. Văn này chỉ y hai kinh thô nêu, lời gọn ý xa chẳng nên xếp lầm. Nếu muốn tiêu thích thì khéo trở xuống là văn quán pháp mười thừa mới có thể lìa nhẫm lẫn. Nếu y cứ vào văn sau là không có bốn hành tướng thì văn sau thành lược. Nay y cứ vào quán pháp mười thừa chưa trọn thì trong đây thành lược. Cho nên năm lược từ quán mà lược chớ chẳng từ sự. Trong văn này dùng nghĩa mà suy mười thừa lược đủ pháp giới v.v… tức gọi là diệu cảnh. Vì giáo hóa chúng sanh tức là phát tâm, buộc duyên trong một niệm tức là chỉ quán. Quán ở ba đường gọi là phá pháp, trải khắp tất cả pháp tức là thông bít, mà tu Phật đạo tức là đạo phẩm, quán nghiệp khổ tức là trợ đạo, thức quán chẳng lạm tức là thứ vị. Trong thứ vị gồm hai thứ kia, ba Tam-muội dưới ý văn chỉ quán phụ sự tùy lược. Nếu dùng nghĩa mà nói y theo đây rất dễ hiểu. Trước ngồi thẳng là chung cùng chỉ quán mà lập ra tướng thân tâm. Kế dứt trừ trở xuống là pháp tu quán. Từ đầu đến loạn tưởng là nói trị của chỉ, từ chớ tạp đến tướng mạo là nói tự của quán, từ chỉ chuyên đến quán ấy là nói về Năng quán, tịch chiếu chỉ quán. Tuy buộc tuy niệm chẳng ngoài pháp giới, tuy chỉ quán tuy tịch chiếu đồng thời, tin tất cả pháp trở xuống là chẳng khuyên tin. Phải tin pháp giới chẳng phải nghiệp ba đời, cho nên chẳng có trước sau. Pháp giới thể khắp nên không có bến bờ. Nội chứng là biết, hóa tha là nói, năng tri năng thuyết chẳng khác pháp giới, cho nên nói không biết, không nói. Pháp giới không bờ mé nên chẳng phải có không, chẳng phải tục nên chẳng phải biết, chẳng phải không nên chẳng phải chẳng biết. Từ thắng mà nói nên nói lìa bên, trung biên tức nhau nên trụ ở vô trụ. Tất cả Chư Phật đều dùng pháp giới làm chỗ an. Ta trụ pháp giới như Chư Phật đã trụ. Cho nên nói chỗ an, nghe đây trở xuống là khuyên răn khiến phàm phu này trụ ở chỗ Chư Phật, chớ sanh quái lạ. Pháp giới này trở xuống là tên khác của pháp giới. Như thế trở xuống là kết các tên khác đều đồng pháp giới. Hay như thế trở xuống là kế quán pháp thân. Đây tức là nêu cảnh sở quán ở trước để làm khuyến tiến lên, kết pháp cảnh ở trước để thành mười hiệu. Văn này là quán pháp giới bình đẳng, hay quán mười hiệu ấy như thế. Tướng mười hiệu là thế nào? Đáp: Chỉ quán pháp giới tức thấy Ứng thân Như lai mười hiệu bằng với pháp giới. Cũng biết pháp thân Như lai mười hiệu. Vì sao? Vì nương trí không hai mà lại hợp chánh cảnh nên gọi Như lai, dùng lý không hai khắp vào các pháp gọi là ứng cúng, rõ trí chẳng hai, trí thể không (thiên lệch) nên gọi là Chánh biến tri, biết pháp không hai chung với pháp giới, tuy không qua lại (tới lui) nhưng vào khắp ba cõi, nên gọi là Minh Hạnh Túc. Pháp không hai tánh ngầm chứa ba đức nên gọi là Thiện thệ, lý khắp tất cả, đủ cả ba thế gian, hiểu lý này nên gọi Thế gian giải. Hiểu lý này thì không hoặc nào chẳng dứt, lại hơn tất cả nên gọi là Vô thượng sĩ. Vì hiểu lý nay điều phục việc khó phục trong mười pháp giới, nên gọi là Điều ngự. Liễu pháp trong pháp giới nên gọi là Trượng phu. Khế hợp lý này nên tất cả kính ngưỡng, trên cả ba giáo trời người, gọi là Thiên nhân sư. Biết lý này nên gọi là Phật. Hiểu lý này nên được ba thế gian tôn kính, nên gọi là Thế tôn. Trí khế pháp thân, đủ hiệu pháp giới, cho nên hiện bày Ứng thân mười hiệu. Pháp ứng một hiệu một thể không hai. Tên mười hiệu này kinh luận nói khác nhau. Đại Kinh giải thích thành mười một câu. Đại luận thứ ba hợp Vô thượng sĩ và Điều Ngự Trượng phu thành mười câu. Cho đến Thế tôn là câu thứ mười. Kinh Bổn nghiệp Anh Lạc chép: Một là Như lai cho đến mười là Phật-đà. Đầy đủ mười hiệu gọi là Thế tôn, lại dịch ý khác chẳng phải tiêu hội. Quán Như lai trở xuống là nói cảnh trí chẳng hai. Văn trước nhắc lại pháp thân trước làm cảnh. Làm sao biết cảnh do quán trí? Cho nên lập ở trước nói: Chẳng gọi Như lai, chẳng gọi tức là trí chẳng thật có, không có trở xuống là nói cảnh vô tướng, cũng không có Như lai Trí trở xuống là nói Trí vô tướng. Như lai và Trí trở xuống là nói cảnh trí chẳng hai. Cho nên kinh chép: Như lai chẳng tức ấm, Như lai chẳng ở tai ấm. Kia đây chẳng cùng ở, chỗ nào có Như lai cảnh trí ngầm một gọi là tướng không hai? Cảnh trí thể khắp, gọi là tướng vô động, cảnh trí vốn có gọi là tướng bất tác, khắp không khắp tướng gọi là chẳng ở phương, không tướng mà khắp gọi là chẳng lìa phương. Không phải thế tục nên gọi là chẳng phải ba đời, chẳng phải ngoài thế tục nên gọi là chẳng phải không ba đời. Trung đạo cùng chẳng sai, gọi là chẳng phải hai tướng. Trung đạo cùng chiếu, gọi là chẳng phải chẳng hai, chẳng chung với hoặc, gọi là chẳng phải Cấu, chẳng cùng trí đủ gọi là chẳng phải Tịnh. Quán này trở xuống là kết khen quán trí. Riêng dứt bất cộng gọi là ít có vì khắp vì mất là dụ như hư không, chẳng ý theo thứ lớp gọi là không lỗi lầm. Tiến vào tùy khế gọi là thêm lớn chánh niệm. Thấy tướng tốt Phật trở xuống là nói quán thành thấy Phật. Do quán này nên nói thấy sắc thân Phật, vì không phải vốn năng lực quán khiến cho như thế, nên chỗ thấy cũng như hình ảnh trong gương, chẳng vận thần thông mà thấy mười phương. Trụ trong pháp giới thấy được Chư Phật. Cho nên nghe chỗ nói chẳng trái nghĩa thật. Vì chúng sanh trở xuống là nói năng lực Bi trí thệ nguyện trang nghiêm, dùng năng lực đại bi vì thấy chúng sanh, dùng năng lực đại trí mà chẳng chấp tướng. Niết-bàn trang nghiêm cũng giống như thế. Nói trang nghiêm, chỉ là bi trí phước tuệ trang nghiêm, cũng là duyên rõ định tuệ, v.v… cho nên luận Bát-nhã chép: chẳng phải trang nghiêm mà trang nghiêm cõi Thường tịch quang pháp thân thanh tịnh, không có sở trang nghiêm, không có năng trang nghiêm, vì chúng sanh mà lấy ba cõi, quên sở quán nên vô hình vô tướng. Pháp thể nói biểu ngoài hình là tướng, tuy thấy Như lai và nghe nói pháp, biết pháp nghĩa thật không có thấy nghe, v.v… Phật chẳng chứng đắc trở xuống là dẫn ví dụ. Phật tự đối với pháp không có chỗ chứng đắc, vì sao người tu lại gọi là đắc ư? Vì sao trở xuống là giải thích dẫn ví dụ trên? Phật sở chứng là chỉ một pháp giới, pháp giới không chứng cũng không đắc, lấy quả làm chứng, đắm pháp làm đắc, quên hai thứ này nên gọi là Không. Quán chúng sanh trở xuống là nói quán ba đạo. Trước quán chúng sanh tức là khổ đạo. Trước nói quán sanh như Phật, là ba đức lý bình đẳng, nên nói là Như. Nói chúng sanh và Phật lượng bình đẳng tức chúng sanh và Phật không khác nhau về ranh giới và số lượng. Vì lý bình đẳng nên số loại cũng bình đẳng chớ chấp nghĩa sự mà ngại nhau. Nói chúng sanh và cõi Phật lượng không thể nghĩ bàn. Lại giải thích văn ở trước nói Như, vì chúng sanh như Phật, nay không thể nghĩ bàn vì Phật như chúng sanh. Lại trước y cứ số lượng và tướng bình đẳng y cứ lý chẳng hai nên gọi là Như. Nay khen Như ở trước nên nói không thể nghĩ bàn. Chúng sanh giới trụ trở xuống vì quán sanh chánh ý lại kết văn trước. Trước nói chúng sanh và Phật tướng Như, ý ở quán chúng sanh như Phật, thể Như vô tướng nên dụ như hư không. Tuy như hư không, lấy trí như hư không mà cảnh quán hư không, nên nói dùng pháp bất trụ mà trụ trong Bát-nhã. Vì chúng sanh như Phật nên không có phàm để bỏ, vì Phật như chúng sanh nên không có Thánh vô tác để lấy. Sanh tử Niết-bàn y cứ Khổ đế, diệt đế, cấu tịnh y cứ Tập đế, đạo đế. Bốn đế vô tác không có chỗ lấy bỏ cũng giống như thế. Chẳng lấy bỏ là do trụ thật tế. Như thế trở xuống là tổng kết khổ quán. Quán phiền não ở trong hai phen, trước là y cứ ba đế mà nói hành tướng. Hạnh vắng lặng tức là hạnh chân đế. Hạnh vô động tức là hạnh tục đế. Chẳng phải sanh tử, v.v… tức là hạnh Trung đạo. Chẳng bỏ trở xuống là y cứ ba quán khế lý. Chẳng bỏ các kiến tức giả, chẳng bỏ vô vi tức không, mà tu Phật đạo tức Trung. Như trên nói chẳng bỏ tức là cùng chiếu, nay chẳng phải tu trở xuống tức là cùng chẳng sai. Cho nên trong kinh Tịnh Danh chẳng bỏ các kiến mà tu ba mươi bảy đạo phẩm. Đó nói kiến tức là đạo phẩm Trung đạo. Đây nói Biên tức là đạo phẩm Trung đạo, nghĩa Biên đồng với kiến, cho nên dùng ý đó mà làm văn nầy, kế quán nghiệp, lấy nghiệp cực nặng mà làm cảnh quán, cho nên chỉ năm tội nghịch tức là bình đẳng. Nói năm tội nghịch là giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, phá hòa hợp tăng làm thân Phật chảy máu, ba giết, một nói dối, một sát sanh gia hạnh. Nói về nặng nhẹ, Như Ưu-bà-tắc giới kinh trong nghiệp phẩm, vì nghiệp sau nặng hơn nghiệp trước. Lại tâm cảnh đối nhau phân biệt bốn câu, và ba thời như phương tiện, v.v… chẳng phải đệ tử chẳng phải chánh ý này nên không phân biệt rõ. Nếu trong Đại thừa tự mình giết Hòa thượng và A-xà-lê cho đến bảy tội nghịch, năm tội nghịch này thể tánh vắng lặng. Cho nên Kinh Vô Hành chép: Năm tội nghịch tức Bồ-đề, Bồ-đề tức năm tội nghịch. Nếu ở quán hạnh mà nói năm tội nghịch, thì năm pháp nghịch ở đời gọi là năm tội nghịch, cho nên Lăng-già quyển ba chép: Giết cha vô minh hại mẹ tham ái, dứt bỏ tùy miên ái hoại ấm hòa hợp, cắt dứt bảy thức thân. Nếu có tác giả hiện chứng thật pháp thì nghịch này thuận, chẳng phải cảnh quán nay. Y cứ đây tức là quán Năng quán, kinh ấy ý gồm, văn này hiển riêng. Nghịch và Bồ-đề chẳng ngoài tâm tánh. Cho nên gọi là giác giả. Giác giả cũng không, không tên giác giả. Đối cảnh gọi là giác, trong liễu gọi là tri. Tri và giác một thể, ý nghĩa chẳng khác. Không phân biệt chủ tể trong ngoài nên gọi là không phân biệt. Lại nói biết tánh năm tội nghịch gọi là giác giả, soi rõ Bồ-đề gọi là Tri giả. Tri hai pháp này gọi là phân biệt. Đây đều quên nên nói là đều không. Nghịch và thật tướng, thể đã chẳng hai nên chẳng thể hoại. Vì nghịch xưa nay vốn không có tự tánh. Cho nên tất cả trở xuống là so sánh nhẹ với nặng. Năm tội nghịch đã như thế, các nghiệp cũng như thế. Cho nên trụ ở thật tế, chẳng tới chẳng lui nói nghịch mà không sanh diệt, không nhân không quả, nói là quán không thỉ chung. Pháp giới ấn trở xuống lại dùng bốn ma mà giải thích thành năm tội nghịch. Trước lập thuận theo ba đạo nên ma được dịp làm hại, quán pháp giới nên chẳng thể hoại. Ma tức ấn, khổ tức thật tướng, hai ma ấm, chết tức ấn pháp giới.

Phiền não tức thật tướng là ma phiền não tức ấn pháp giới. Nghiệp tức thật tướng, là ma Thiên tử tức ấn pháp giới. Kế trong giải thích ma đã tức ấn, ấn đâu hoại ấn. Như Đại luận chép: Có Bồ-tát dạy người tu không, dứt tất cả niệm, lúc sau vừa khởi một niệm có tâm liền là ma động, liền nhớ lại vốn tu Không thì ma liền biến mất. Tu không còn như thế huống chi là quán, tức ấn pháp giới. Cho nên Thiền sư Tín vốn dùng tâm này để làm tâm yếu. Người sau nhân dùng tình kiến khác nhau, đến nỗi khiến Giang Biểu, Kinh Hà Thiền tông trái nhau. Kế khuyên tu, trước nói nghe chẳng kinh sợ v.v… là do đời trước trồng gốc lành sâu. Kế thí như trở xuống là nêu dụ. Hạt giống lành kiếp xưa như châu, trong quên như mất, nghe pháp sanh vui như lại được châu, bốn chúng trở xuống là hợp dụ. Chẳng nghe là hợp mất, châu nghe tin hợp lại được. Phải biết thấy Phật là xưa từ Phật nghe, nay lại nghe lại, nghĩa đồng với thấy Phật. Từ Văn-thù nghe, là Phật cũng nghe từ Văn-thù. Thân Tử trở xuống tức là kinh ấy ba người hiểu rõ. Cho nên nay dùng pháp mà xếp người ấy. Vì Đại Bồ-tát hiểu sâu chắc nghĩa này cho nên năng liễu nói là Đại Bồ-tát gần tòa Phật, tòa là chỗ nương, nương vào thật lý nghe pháp này là gần với thật lý, nên nói gần tòa Phật là Năng giác, pháp là sở giác, gần sở giác của Phật nên gọi là gần tòa Phật. Nếu sự mà giải là ngồi tòa nói pháp, nghe pháp Phật, nên gọi là gần tòa Phật. Tuy có sự giải thì mất Phật giác là nghĩa pháp này. Cho nên chỉ y vào sơ giải làm chánh, nghe pháp chẳng kinh, thấy pháp thân Phật, Phật nói trở xuống là dẫn lời Phật nói thành. Nếu được Sơ trụ thấy pháp thân Phật thực hành niệm bất thối, sáu căn thanh tịnh, tương tự thấy Phật, thực hành hạnh vị bất thối. Ba thứ bất thối này đầy đủ các độ, gọi là Ba-la-mật. Nếu thuật chung thành, người tu đời sau, tức là nghĩa chung nên đều được dự vào hàng bất thối. Vì viên sáu tức nêu tên ba bất thối và Ba-lamật thông tra sau. Nếu người trở xuống là chánh khuyên tu. Từ đầu đến được vào là đủ như phẩm khuyên học của Bát-nhã, vì Tam-muội này tức là hạt giống trí Bát-nhã. Như tự ma-ni trở xuống là nêu dụ. Kinh ấy nói như được ma-ni khiến thợ ngọc mài giũa. Cho nên kinh Hoa Nghiêm quyển hai mươi mốt chép: Đầy đủ mười việc phải là thợ khéo giũa mài khiến cho càng đẹp, sau mới phát ra ánh sáng mưa báu, v.v… Một là ra khỏi biển lớn; hai là thợ khéo giũa mài, ba là đổi thành tinh diệu; bốn là dứt nhơ; năm là lửa luyện; sáu là trang nghiêm; bảy là xỏ thành chuỗi báu; tám là đặt trên cột lưu ly; chín là ánh sáng chiếu bốn phía; mười là tùy ý vua mưa xuống. Người tu Nhị thừa như giũa mài ngọc phàm, Tammuội Nhất hạnh như giũa mài ma-ni, ánh sáng như giải sanh, mưa như hạnh đủ. Bồ-tát hay biết, v.v…, là Bồ-tát ba giáo tuy có phát tâm mà chẳng gọi là mau được nghe Nhất hạnh này mới gọi là mau được. Từ pháp xếp người, ý như giải thích ở trước. Tỳ-kheo, v.v… cũng giống như thế. Hai chúng chưa nghe chẳng gọi xuất gia. Cho nên kinh Tịnh Danh chép: Người xuất gia thực hành pháp vô vi ra khỏi hai thứ chết, mới gọi là vô vi. Nếu chẳng như thế, vì sao hai chúng nghe pháp này xong gọi là xuất gia? cũng như kinh Thiện Trụ Thiên Tử chép: Thiên tử hỏi Vănthù rằng: Nếu có người đến xin xuất gia thì phải đáp thế nào? Văn-thù nói: Nếu chẳng phát tâm xuất gia thì phải dạy ông phát chân xuất gia. Vì sao? Nếu cầu xuất gia là cầu báo vị lai ở ba cõi và năm dục, người ấy chẳng thấy tâm nên chẳng chứng pháp. Vì tâm vô vi nên chẳng phát tâm. Nếu cạo tóc làm người xuất gia là còn mê đắm ngã nhân, cho nên biết hình thức không phải là chân xuất gia. Tín sĩ, v.v… cũng dùng ý vừa rồi rất dễ thấy, nghe chân pháp mới được gọi là chân qui y.

Kế giải thích Thường hành, trước khai chương. Kinh này nhân Bồtát Bạt-đà-hòa chép: Trí Luận và các kinh gọi là Bạt-đà-bà-la, âm nặng nhẹ, đó là Bồ-tát tại gia. Kế pháp này trở xuống là nói chỗ phát ra kinh. Ba lực là chẳng thể nói khắp. Nhân duyên hòa hợp, đường cảm ứng giao nhau, cho nên phải ba lực. Kinh ấy chép: Hễ phương nào Phật muốn thấy liền thấy. Vì sao? Vì năng lực Tam-muội của Phật như thế mà thành, thấy Phật đứng trong Tam-muội, có ba việc là năng lực Phật ấy gia trì, năng lực Tam-muội gia trì, năng lực bổn công đức gia trì. Dùng ba việc này nên thấy Phật, ở trong định thấy Phật mười phương, là do ba năng lực nên Tam-muội thấy Phật. Cho nên kinh này cũng gọi là hiện tại Phật lập định kinh, được ba năng lực ấy nên thấy Chư Phật. Trong kinh ấy hỏi từ chỗ nào được Tam-muội ấy. Đáp: Từ niệm Phật mà được. Nếu người chẳng niệm Phật, khen ngợi thân Phật thì là mất hẳn. Đời nay đời sau lợi lạc nhân duyên, bộ thuộc Phương Đẳng, cơ chung bốn người. Nhị thừa bị bác bỏ không phải ý chánh văn, cho nên Bồ-tát bốn giáo cũng chung làm. Ý nầy ở viên. Cho nên ý chỉ quán mượn sắc thân Phật để thành ba quán. Trong kệ nói chỗ ở tương ưng với Tam-muội, tương ưng khác nhau, Tam-muội chẳng giống nhau, kinh nói hoặc khi nói có giác có quán v.v… ba địa tương ưng. Hoặc nói Hỷ lạc, v.v… năm thọ căn tương ưng, hoặc nói các chi tương ưng, hoặc nói giới hệ tương ưng, hoặc nói chẳng phải giới hệ, v.v… Như thế giúp niệm Phật Tammuội tương ưng với pháp trụ xứ. Chẳng được không nói chỗ cạn sâu. Cho nên nói phải luận nghị. Văn giải thích ý kinh nên từ chung mà nói. Tuy nói các tướng có giác, v.v… nhưng đều khác nhau. Vì ni Phật cho nên hoàn toàn khác căn bản. Trong thân khai giá nói tránh người si, v.v… là tránh làm bạn với ác tri thức, vì có thể sanh bất thiện căn cho người. Cho nên kinh Bảo Tích chép: Có bốn pháp nên mau lìa bỏ: Một là lợi dưỡng, hai là bạn xấu ác, ba là các điều ác; bốn là ở chung với người hoặc giỡn cười, hoặc giận hờn, đấu tranh, phải cách xa một trăm do-tuần. Ưa quấy não người khác nên gọi là si nhân, người lân gần gũi thuộc, hoặc cùng làm việc, phải mau xa lìa, chẳng được trông mong đến thỉnh riêng. Kinh nói chuyên đi khất thực tự nuôi sống, có nhiều thành tựu. Luận Thập Trụ Bà-sa nói khất thực có mười điều lợi: Một là nuôi sống, tự thuộc mình không thuộc người khác; Hai là người thí cho ta ăn thì khiến trụ vào Tam bảo sau mới nhận; Ba là chúng sanh bi tâm; bốn là thuận theo lời Phật dạy. Năm là dễ thỏa mãn dễ nuôi dưỡng, sáu là phá kiêu mạn, bảy là gốc lành vô kiến đảnh; Tám là thấy ta khất thực nhiều người lành khác bắt chước; chín là chẳng có các việc với nam nữ lớn nhỏ. Mười là thứ lớp khất thực tâm bình đẳng. Như trong kinh Tịnh Danh chép: Ca-diếp bỏ giàu theo nghèo, Không Sanh bỏ nghèo theo giàu, ngoài hiện dấu riêng, chỉ bày quở trách. Văn các luật nói khất thực không phải ở một chỗ mà đủ, vì làm phước cho người nên phải đến bảy nhà thuận theo pháp ít muốn chẳng hao tốn thí chủ. Chẳng nhận thỉnh riêng, là khiến khắp mười phương đều được lợi ích. Cũng thuận theo Phật giáo ít muốn và khiến thí chủ được phước bình đẳng. Cho nên kinh Ưu-bà-tắc giới nói: “Phật dạy Lộc mẫu tuy thỉnh Phật và năm trăm vị La-hán, cũng chẳng được gọi là thỉnh ruộng phước tăng. Nếu ở trong tăng mà thỉnh một vị giống Tỳ-kheo cực ác thì được vô lượng phước. Tuy là người ác cũng có khả năng nói giới, định, tuệ và ba Bồ-đề, cho người nghe, có nhân có quả, chẳng hủy báng Tam bảo, giữ gìn thắng phướn Vô thượng của Như lai, Thắng phướn là áo ca sa. Vì nghĩa ấy nên chẳng nhận thỉnh riêng. Luật mở cho nhiều duyên Phạm Võng chỉ ngăn cấm, Luật bộ tuy cho tăng Thích-ca làm, nay vào Tam-muội tất cả đều cấm. Huống chi Đại thừa này phải thuận theo Phạm Võng. Đại luận chép: Ở trong tăng mà ăn thì sanh các lậu duyên. Nếu nhận người thỉnh riêng thì chướng ngại tu Tam-muội. Luận nói hoặc được người thỉnh hoặc được chỗ thỉnh, cho ta là người có phước đức. Nếu chẳng được thì sanh giận hờn, tức là người ấy chẳng biết nên thỉnh mà chẳng thỉnh, chẳng nên thỉnh mà thỉnh, hoặc tự phiền não. Nếu vào chúng mà ăn thì phải theo pháp chung mà lo liệu việc tăng, tâm thì tán loạn ngại bỏ ra đạo cho nên khiến khất thực. Trang nghiêm đạo tràng, tràng là nơi người thế tục dùng làm chỗ tế Thần, nay dùng chỗ cúng dường Phật gọi là Đạo tràng. Tả hữu là tả thì ra, hữu thì vào. Ra từ nhỏ, vào từ tịnh. Luật nội ngoại, luật nghi thân và miệng là ngoại, luật nghi ý là nội. Nói Đại Tiểu thừa đều có ý, chỗ khởi phương xa liền tội và trong mười thiện ác ba thứ sau chính là đó. Đời chép: Tiểu thừa ngăn thân miệng, Đại thừa ngăn ý. Chẳng phải hoàn toàn như thế, phải biết hai thừa Đại Tiểu nếu kết tội đều từ thân miệng. Phương xa đều phòng ở ý. Cho nên biết hai thừa Đại Tiểu đều ngăn cấm để đề phòng ở ý. Nếu chế theo ý riêng nghĩa là tu định tuệ thì Đại Tiểu đều như thế. Ngoài ra, tâm niệm pháp khác và sám cấu nhẹ đều thêm thân miệng chắp tay giảng nói. hoặc có đãn tâm như sám hối tội cát là nhẹ, hoặc Đại thừa quán lý sám tội nặng, cũng thêm thân miệng. Lại, Tiểu thừa là ngoại, Đại thừa là nội. Nếu chỉ giỏi luật nghi chẳng am tường chướng ngại, cũng không phải sư vị, đối với Tam-muội đã nghe như thấy Thế tôn, là cũng xuất từ kinh ấy. Lại Đại luận quyển bốn mươi chín chép: Bồ-tát nhân thấy mà được Bồ-đề, vì sao chẳng kính, đâu có người thượng trí cao minh nào chẳng kính thầy. Nếu chẳng kính thầy thì mất lợi lớn. Như giếng mà không dùng gàu kéo thì nước không nhờ đâu mà có. Người có kiêu mạn như trước không ở trên đỉnh núi. Nếu nương vào Thiện sư thì ba học thêm lớn, như cây có rễ nhánh lá sẽ mọc nhiều, cho nên Phật nói kính thầy như Phật. Luận hỏi: Thiện sư còn chẳng thể kính. Ác sư làm sao kính mà bảo kính thầy. Đáp: Chớ thuận theo thế pháp đắm thiện mà xa ác. Nếu khai thích thâm Bát-nhã thì kính hết chẳng nghĩ điều ác khác, chẳng vì túi hôi mà bỏ vàng trong ấy. Như ban đêm đi trên đường hiểm, có người ác cầm đuốc, chẳng vì người ác mà chẳng nhờ ánh sáng đuốc. Bồ-tát cũng như thế, được ánh sáng trí tuệ chẳng kể điều ác ấy. Như trên hư không có tiếng bảo Ba luân rằng: Đối với thầy chẳng nghĩ điều ác ấy, lại nữa, chỗ tốt xấu của thầy có can dự gì đến mình. Ta cầu pháp lợi chẳng cầu điều ác. Như tượng đất gỗ không có công đức, vì nghĩ đó là Phật nên có vô lượng phước đức, huống chi là đối với người. Lại xem thầy như Phật, xem các pháp đều rốt ráo không xem các chúng sanh như thấy Phật, huống chi là với thầy. Luận Thập Trụ Bà-sa chép: Từ người khác cầu trí tuệ chẳng tiếc thân mạng nên phải kính thầy. Nếu thầy khinh miệt cho đến yêu kính tâm cũng không khác, chẳng nhân thầy mà cầu lợi. Thầy có lỗi thì phải giấu, lỗi thầy bày ra thì phải phương tiện giấu đi. Thầy có công đức thì nên khen ngợi truyền khắp. Vì sao? Vì người tu Tam-muội phải khéo giữ tâm, sợ khinh thầy mà Tam-muội chẳng thành. Cho nên văn dưới chép: Nếu đối với thầy mà sanh ác cầu thì Tam-muội sẽ khó được. Nhưng người làm thầy thì phải không có lỗi. Nay nói thầy phàm, chưa thể thiện hết, cho nên răn người học chớ thấy lỗi phải, giỏi dở của thầy. Phải cắt, v.v… là nêu nặng so sánh nhẹ. Cơ là da, các thứ khác ở ngoài thân là y báo. Bộc là tôi tớ. Xưa, nam nữ bị tội đều bắt làm tôi tớ, phải ngoại hộ là chẳng no như vừa yêu vừa đốc thúc. Kẻ đồng hành như cùng đi đường hiểm, mất một thì đều chết. Đồng hành phải như thế, phải cần y cứ hẹn, dùng nguyện tự hẹn tâm Tam-muội. Khởi Đại Tín, là tin tất cả pháp đều là Phật pháp, cho nên chẳng thể động, vì pháp này mà tinh tấn gọi là Đại tinh tấn. Đối với pháp không nhiễm gọi là Tinh, niệm niệm mong cầu gọi là Tấn. Trí Nhất thiết chủng dẫn dắt các hạnh nên không gì bằng. Thường cùng thầy giỏi, là cầu thầy phải tốt. Thờ thầy phải quên lỗi thầy. Vì Tam-muội nên phải hộ tâm, sợ luống bỏ ngày tháng cho nên phải phân biệt. Lại nói thiện là khéo hiểu tướng Tam-muội thông bít, dắt dẫn người tu khiến thì giờ không luống uổng. Nằm xuất: có người nói chỉ gọi nằm là xuất có gì chẳng được. Nhưng chỉ được nằm mà thiếu xuất, xuất chưa hẳn là nằm, khi nằm phải xuất. Cho nên phải ra mà giải thích. Văn kinh chỉ nói ngủ nghỉ. Luận nói có bốn pháp sanh ra Tam-muội: Một là ba tháng không hề ngủ trừ lúc tiểu tiện ăn uống, đi ngồi; hai là ba tháng cho đến trong khoảng búng ngón tay chẳng sanh tâm ngã; ba là trong ba tháng kinh hành không nghỉ ngơi; bốn là trong ba tháng gồm nói pháp không cầu lợi dưỡng. Nay văn tùy tiện không theo thứ lớp, lấy thứ hai ngã tâm làm dục tưởng, thứ nhất ngủ nghỉ làm nằm xuất để dứt tiểu tiện v.v… cùng ba bốn hợp nói. Một bài kệ gần gũi thiện tri thức, v.v…. Luận lại hỏi: Pháp báu như thế Tammuội nào có thể được? Đáp: Chính là một bài kệ Gần gũi thiện tri thức. Kệ đủ bốn nghĩa: Một là tri thức; hai là tinh tấn; ba là trí tuệ; bốn là tín lực. Lại có Tam-muội giúp pháp tu tập có năm mươi pháp v.v… Kế miệng nói nín: trước từ chín mươi ngày trở xuống dốc lòng niệm A-diđà không nghỉ. Giáo dụng ba nghiệp, kế hoặc xướng niệm trở xuống là giáo dụng niệm pháp, tuy nói trước sau và tâm đều vận, trong niệm niệm không để thiếu một. Cho nên nói nối nhau. Kế như xướng trở xuống là giải thích nghi, đủ như giải thích ở trước. Trong đây lại thêm pháp môn chính. Nêu yếu trở xuống là kết khuyên ba nghiệp, mỗi bước là thân nghiệp, mỗi tiếng là miệng nghiệp, niệm niệm là ý nghiệp. Đại ý trong chỉ quán trước nghĩ ba mươi hai tướng để làm cảnh quán. Nói Phật sát, nói đủ phải là sát-ma, Hán dịch là Điền, tức là chỗ một Đức Phật làm vua pháp pháp. Có chỗ nói biểu sát, là dùng gậy nói lên cho sát là chỗ ở. Ba tháng thường niệm, là kinh ấy nói Bồ-tát nhập vào Tam-muội liền thấy Phật A-di-đà, bèn hỏi Phật ấy nhờ nhân duyên gì mà được sanh về cõi nước ấy. Phật liền đáp: người Thiện nam, tu Tammuội niệm Phật chẳng quên mất, nên được sanh về nước ta, cho đến ba mươi hai tướng. Nay văn nói vì sao niệm tức là văn hỏi Bồ-tát ở trong Tam-muội thấy Phật. Từ niệm ba mươi hai tướng trở xuống đến tướng ngàn bánh xe căm là văn trong Tam-muội Phật đáp. Vì ba mươi hai tướng nghịch duyên, thuận duyên, khiến ta cũng có tướng ấy, là văn phát nguyện trong Tam-muội thấy Phật. Thấy tướng tốt từ thân phát ra ánh sáng khắp các cõi mười phương. Như đống vàng ròng, như núi Tu-di ở trong biển lớn, mặt trời chiếu sáng. Người tu bấy giờ dứt bỏ các ý tưởng khác gọi là núi rừng, v.v… Chỉ tướng thân Phật như trong lưu ly có tượng vàng đỏ. Kế lại niệm trở xuống là chánh nói cảnh để tu ba quán. Trước là quán không, văn trước nói lược, suy thân tâm ta và Tam-muội Phật. Sắc tâm của Phật từ ai mà được, hai câu đầu là chánh suy. Kể từ Phật chẳng dùng trở xuống là suy mình, tức biết tâm Phật không thật có, há do sắc tâm của ta mà thấy sắc tâm Phật. Đây là nêu bốn câu: Một là nói Phật chẳng dùng tâm mà được là chẳng dùng tâm ta mà được tâm Phật. Chẳng dùng thân mà được là chẳng dùng thân ta mà được thân Phật. Chẳng dùng tâm mà được sắc Phật, v.v… hai câu giao nhau, là chỉ lược bỏ chữ Ta mà thôi. Vì sao trở xuống là giải thích? Sắc tâm của Phật là vô tướng vô đắc, sắc tâm ta cũng giống như thế. Thân miệng là sắc, trí tuệ là tâm. Sắc tâm có là do có (ngã), vì ngã không nên nói pháp vốn không. Phá gốc không này nên nói phá hoại gốc. Cũng dứt hoại này nên nói dứt gốc. Kế quán giả, văn nêu sáu dụ ba mộng, một báu, một xương, một tượng. Ý nó đại đồng, chỉ nói lại mà thôi. Nay đều lược hợp. Mộng là tâm tánh như cảnh quán, như duyên tưởng, quán thành như mộng. Đây là thuần y cứ người mà hợp. Lại pháp thân như cảnh, Báo thân như tưởng, Ứng thân như mộng. Đây là thuần y cứ cảnh Phật mà hợp. Lại Phật ấy như cảnh, người tu như tưởng, thấy Phật như mộng. Đây là y cứ cảm ứng mà hợp luận. Ba mộng đều như thế, cho nên hễ khởi quán tưởng, tưởng thành thì thấy tướng đều đủ ba ý. Rốt ráo trong không cầu, Phật không thật có. Cho nên biết trước sau hai mộng nói thấy mà chẳng thật có. Trung gian một mộng (một mộng ở giữa) nói chẳng thật có mà thấy. Cho nên mộng đầu nói thức rồi đuổi theo niệm, chẳng biết ở đâu. Mộng sau cùng nói thức rồi lại không, mộng ở giữa nói chẳng đi chẳng đến mà có việc vui rõ ràng. Cho nên Đại luận quyển bảy chép: Như khi Phật còn ở đời có ba người bạn, nghe ở Tỳ-xá-ly có dâm nữ tên là Amla-bà-lợi, nước Xá-vệ có dâm nữ tên là Tu-man-na, thành Vương-xá có dâm nữ tên là Ưu-bát-la-bàn-na xinh đẹp không ai sánh bằng, ba người đều nghe, luôn nghĩ tâm mê đắm liền ở trong mộng mà làm việc, thức rồi thì tâm niệm nó không qua lại với ta, mà việc dâm được thành. Nhân đó liền ngộ các pháp cũng như thế. Do đó cùng đến chỗ Bồ-tát Bạt-đàbà-la mà hỏi việc ấy. Bồ-tát đáp rằng: Các pháp thật như thế, đầu tư niệm sanh. Bồ-tát dùng phương tiện nói pháp cho nghe, thì được địa bất thối. Văn nầy chỉ dẫn một trong ba. Bát-chu văn đồng. Ba thứ báu như v.v… rất giống với mộng. Bảo như tâm năng duyên, lưu lý như cảnh sở duyên, ảnh hiện như việc trong mộng. Quán xương, gướng, tượng đều có ba nghĩa, cũng giống như thế. Nếu làm khác chỗ gọi là y theo không mà hiện giả. Lưu ly như hư không, ảnh hiện như giả, không xương như không, khởi ánh sáng như giả, gương sạch như không, ảnh hiện như giả. Ba thứ trước cũng đủ hai nghĩa không, giả. Vì mang tâm không mà xuất giả. Người tu trở xuống là kinh lược hợp. Cảnh dụ cho khởi quán. Hạnh tức sắc của người tu, sắc tức là thân. Do niệm tướng hiện gọi là chỗ có, thấy rồi liền hỏi. Phật đáp chỗ hỏi nghe Phật nói tâm rất vui mừng, tuy ở trong Tam-muội người nói đó là Phật, nên nói nghe kinh. Kế quán văn trước, tức là kinh ấy Bồ-tát được Tam-muội rồi liền nghĩ, nay văn còn lược và tùy nghĩa tiện lợi nói cũng khó thấy. Trước đối ghi văn ấy, khiến văn này có thể hiểu. Kế lại giải thích văn này. Nay nói từ niệm đến không chỗ đến. Kinh ấy nói Bồ-tát nghĩ rằng: Phật từ đâu đến, ta cũng không có chỗ đến. Tức biết Chư Phật không từ đâu đến ta cũng không có chỗ đến. Nay nói chỗ ta niệm tức là thấy. Kinh ấy nói khi nghĩ như thế thì ba cõi đều không, đều do tâm làm ra. Vì sao? Vì hễ tâm nghĩ thì đều được thấy. Nay chép: Tâm làm tâm Phật, tự thấy tâm mình là thấy tâm Phật. Kinh ấy nói, vì tâm thấy Phật, tâm thành Phật. Nay nói tâm Phật ấy là tâm ta thấy Phật. Kinh ấy nói tâm tức là Phật tâm tức thân ta. Nay nói tâm chẳng tự biết tâm, tâm chẳng tự thấy tâm. Kinh ấy nói tâm chẳng tự biết tâm cũng chẳng tự thấy tâm. Nếu lấy tướng tâm thì đều là vô trí, đều từ vô minh sanh ra. Nhân tướng tâm ấy liền vào thật tướng các pháp. Được trí tuệ Tam-muội ấy, vì hai lực cho nên tùy ý hai nguyện định tuệ hai lực.

Kế giải thích văn nầy, câu đầu y theo kinh rất dễ hiểu. Kế là chỗ ta nghĩ, v.v… trong các câu của Phật nói… đều có hai ý: Một là tự tâm Tam-muội chỗ thấy Phật, hai là phương Tây từ nhân cảm quả Phật. Nay gồm đủ hai nghĩa cùng làm một cảnh là thuận lý, cho nên từ nghĩa đầu mà giải thích. Tam-muội đã thành, tùy niệm liền thấy. Thấy là tâm tánh gọi là tâm thành Phật. Phật đã tâm làm cho nên khi thấy Phật gọi là thấy tự tâm (tâm mình). Nếu thấy tự tâm tức là thấy tâm Phật, vì tâm Phật kia là tâm ta, là tâm Phật cho đến thấy Phật là nói chỗ thấy Phật chẳng khác tâm ta. Tâm chẳng tự biết tâm cho đến thấy tâm là nói tuy thấy Phật cầu năng kiến, và ý duyên biết, rốt ráo không thật có. Cho nên ý trong đây chỉ quán tự tâm và chỗ thấy Phật chẳng ngoài pháp tánh. Cho nên thấy tâm Phật tức là thấy tâm mình. Tâm mình, tâm Phật tức là Trung đạo, chẳng cần phải nói cùng chẳng sai. Từ tâm có tưởng đến Nê-Hoàn là giải thích tâm trên không thật có tức là Niết-bàn. Pháp ấy chẳng thể bày, là chẳng phải nói chỗ biết. Đều niệm đến không mà thôi, là nói Niết-bàn lìa niệm. Nếu có niệm cũng biết, năng sở đều vắng lặng. Kế là bải kệ năm chữ tức bài tụng, văn trước đối rất dễ thấy. Kế Chư Phật trở xuống là kệ bảy chữ, lại chuyển giải thích kệ bốn chữ. Câu đầu là tất cả Chư Phật do quán tâm mình chẳng khác tâm Phật, nên được thành Phật. Câu kế, là giải thích câu đầu, tâm được quán tâm như tâm Phật, tâm Phật không cấu, tâm mình cũng không. Câu kế: Năm đường do tâm, tâm thể vốn tịnh. tuy khắp năm đường chẳng thọ sắc ấy. Như người bịnh mắt thấy hoa đốm cùng khắp. Hoa tuy đầy khắp hư không, hưng hư không chẳng hề nhận. Băng sóng nước ướt cũng giống như thế. Câu kế là tổng kết ý quán. Hiểu đây thì thành đạo viên dung. Phật Ấn là giải thích chỗ quán ở trước. Đã là thật tướng nên gọi là Phật ấn. Không tham trở xuống là giải thích tướng xuất quán, chẳng tham ở có, chẳng đắm ở không, chẳng cầu ở trung, chẳng có ba tưởng, nên có chỗ muốn đều đã nói hết. Có là cảnh quán, muốn là quán trí, năng sở đều mất, vì mất không sanh nên chẳng từ đâu sanh, vì chẳng sanh nên cũng chẳng có diệt, bị hoại gọi là diệt, tự diệt gọi là hoại, thể nó vốn không nên gọi là không diệt, vốn diệt tự không nên gọi là không bại hoại,đến được với đạo phải nhờ lý này, gọi là đạo yếu, từ thỉ đến chung, lý này là gốc, gọi là gốc đạo. Là ấn v.v… là nêu tiểu sánh với mê, Tiểu thừa dứt hoặc nghĩa như hoại ấn. Nhị thừa tự gọi sanh diệt độ tưởng mà làm ấy vốn là Phật đạo. Nhị thừa diệt hẳn còn chẳng thể hoại, huống chi là cõi ma thuận với sanh tử. Thể của sanh tử tức là Niết-bàn, đâu có Niếtbàn lại hoại Niết-bàn ư? Bà-sa nói trở xuống là dẫn luận mà xét lường. Luận nhờ thứ lớp, cho nên trước niệm sắc lại nhờ giáo tướng mà nói thể tướng, tạng thông tu được, biệt viên phát được, riêng còn giáo đạo chỗ nương hơi khác. Lại nếu dùng chỗ nương, tạng nương phước đức, chung nương không tuệ, riêng nương duyên tu, viên nương thật tướng. Đây tức là bốn tướng nhân khác nhau. Nhờ giáo tuy thế, văn luận phần nhiều y vào nghĩa hai giáo sau. Lại vì hạnh đầu khiến quán sắc tướng. Lại nhân ba tạng văn cũng chẳng nhất định. Hoặc một nhân một tướng, như Đại Kinh quyển ba mươi sáu, Sư Tử Hống hỏi: Làm đâu được ba mươi hai tướng của Phật, Phật nhân đó đáp rộng nhân đều khác nhau. Nếu Đại luận quyển năm thì có chung có riêng đầy đủ như: Pháp giới thứ lớp, Báo Ân bảy, Thiên Vương quyển bảy. Gọi là nhân tức là tướng nghiệp, nói tướng quả tức là ba mươi hai, kết thúc trong một bài kệ rằng:

Cả hai tay chân ngón nhọn dài

Tay chân mềm mại đều có màng

Gót tròn mu cao bắp vế dài

Thân ngay các lông đều xoáy lên

Trượng sắc vàng bảy chỗ tròn đầy

Nách đầy ngực thẳng tròn đủ trắng

Răng má vị lưỡi phạm như tần

Mắt vàng mị trâu hào nhục kế.

Nên phải dùng pháp giới thứ lớp, tra xét thì biết mức độ thế nào. Khi tướng này hiện tức là Tạng thông cực quả, Biệt viên chân như. Chỗ chứng lý thể mà làm thể tướng. Nói tướng dụng, là mỗi tướng đều có dụng lợi tha. Biệt viên phần quả tuy ở địa trụ, mà dụng lợi tha lại thắng tạng thông nên khiến cho chúng sanh đến chỉ cực diệu. Cho nên của Đại Kinh Phẩm Tánh chép: Phật tánh không thể nghĩ bàn như thế, thì ba mươi hai tướng cũng không thể nghĩ bàn. Văn Bà-sa không có ý Tiểu thừa. Chỉ là thỉ hành bàng tích tiểu tông. Trong pháp bốn mươi bất cộng phải nói Báo thân. Nói Pháp thân, tức là dùng Báo thân bất cộng pháp gọi là Pháp thân. Kế nói thật tướng tức là Pháp thân. Luận quyển sáu chép: Đã nghĩ ba mươi hai tướng sanh thân rồi kế niệm công đức của pháp, tức là bốn mươi Bất cộng, kệ rằng:

Pháp thân của Chư Phật

Không phải chỉ nhục thân,

Phật pháp tuy vô lượng,

Không giống với mọi người.

Nếu người nhớ nghĩ

Thì được vui vẻ,

Tóm tắt trong bài kệ rằng:

Bay đi tự tại

Biến hóa vô lượng

Như ý vô biên

Thanh văn tự tại

Trí biết tâm người

Tâm được tự tại

Thường ở an tuệ

Thường chẳng quên lầm

Tam-muội Kim cương

Biết việc bất bình

Biết sự vô sắc

Thông suốt các sự.

Biết tâm chẳng tương ưng

Ba-la-mật Đại thế

Vô lượng Ba-la-mật

Nghe được Ba-la-mật

Đủ ba luân nói pháp

Chỗ nói chẳng luống uổng

Nói pháp không nhầm lẫn

Không có người năng hại

Đại tướng trong Thánh Hiền

Bốn chẳng hộ là bốn

Bốn vô úy là bốn

Mười lực ấy là mười

Đều giải thoát vô ngại

Đó là bốn mươi pháp.

Bốn chẳng hộ là thân miệng ý và tư sanh. Văn luận giải thích rộng bốn mươi pháp này, nay lược dẫn tên. Như Phẩm Thành Thục của luận Địa Trì có một trăm bốn mươi pháp bất cộng tức là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, mười lực, bốn vô ngại giải, bốn vô sở úy, ba niệm xứ, bảy vô thượng: một là thân vô thượng, tức là tướng tốt, hai là hạnh vô thượng tức là độ người, ba là chánh vô thượng, tức là chánh kiến oai nghi tịnh mạng, bốn là trí vô thượng, năm là thần lực vô thượng tức là sáu thông, sáu là đoạn vô thượng tức là hết phiền não, bảy là trụ vô thượng tức là thánh Phạm Thiên, v.v… các trụ. Các văn như Đại luận nói: Mười tám pháp bất cộng, mười lực, bốn vô úy, bốn vô ngại, ba niệm xứ đại bi là bốn mươi bất cộng. Nay dùng văn Bà-sa lại y Bà-sa, số tuy khác nhau nhưng ý nghĩa chẳng khác. Bà-sa chép: Niệm Phật càng sâu thấy thật tướng của thân. cho nên kệ chép: Chẳng tham đắm sắc pháp hai thân, v.v… là trụng tụng về ba thân. Khéo biết tất cả pháp thường vắng lặng như hư không. Luận rằng: Các pháp xưa nay vốn không sanh không diệt. Bồ-tát tin ưa sắc pháp hai thân cũng như hư không, nên ở tất cả chỗ được không chướng ngại. Chướng ngại tức là núi Tu-di v.v… Vì sao? Vì người ấy chưa được thiên nhãn, niệm Phật phương khác, được pháp thiền định, được vui Tam-muội cao quý ấy tướng thành thì tùy ý thấy Phật. Trong khuyên tu thật trí là mẹ Phật, trong thấy là mắt Phật, phương tiện Thiện quyền là cha, đại bi Vô duyên là mẹ. Hỏi: Mẹ đâu có hai. Đáp: Đại trí là chỗ sanh, Đại bi là chỗ nuôi, Bi trí chẳng đủ thì con thật chẳng thành. Tất cả Chư Phật đều như thế. Như làm sữa, trong một lát thì có được một thùng. Cấu là làm, nghĩa là lấy sữa trâu. Nếu nghe Tam-muội ấy như trên bốn phen công đức. Nay văn và luận ít có qua lại, là có ý sâu. Nay văn luận kế nói tướng giúp nhau. Luận chép: như người nhanh nhẹn, nói nhanh như gió đi trăm năm không ngưng nghỉ, ở khắp mười phương. Người ấy đi chỉ trừ Như lai, còn ai đều chẳng biết số ấy người ấy đến đâu đều bố thí vàng ròng. Nếu người ấy ở trong Tammuội bốn thứ tùy hỷ hồi hướng Bồ-đề, thường cầu học rộng. Như Chư Phật quá khứ khi hành đạo Bồ-tát tùy hỷ Tam-muội ấy, ta cũng tùy hỷ như thế. Ở vị lai hiện tại cũng giống như thế, Phật ba đời là ba phen, ba đời Bồ-tát là một phen, thì phước tùy hỷ cao hơn phước thí vàng gấp trăm ngàn ức lần, chẳng bằng một phần. Cho nên nghe Tam-muội ấy chẳng kinh sợ, được vô biên quả báo. Nếu rơi vào kiếp lửa thì lửa liền tắt, nếu gặp việc quan hoặc sư tử cọp sói thú dữ, rồng dữ và các trùng độc, dạ-xoa, la-sát, Cưu-bàn-trà, v.v… đều bị hủy hại, thì không có việc đó. Chỉ trừ nghiệp báo phải chịu. Nếu bị các bịnh như: Tai mắt phong thì không có việc đó. Thường được tám bộ trời rồng che chở, các vị trời và Phật đều đến chỗ người ấy, dẫu một kiếp cũng nói chẳng thể hết, huống chi là tin chắc mà tu tịnh tâm, rồi được thành tựu, đó là so sánh phước. Lại có bốn phen quả báo: Một là chẳng sợ, hai là tin nhận, ba là tu định tâm, bốn là thành tựu. Kế nói giúp nhau, nay văn dùng đi nhanh làm trần giới, thí vàng cho bàu tên khác mà ý đồng. Trước đem quả báo bốn phen để xét lượng công đức thí báu. Kế dùng bốn phen tùy hỷ để xét lường quả báo bốn phen. Nghĩa là tự thành chẳng bằng tùy hỷ, có phước nhiều hơn. Kinh này chung Tiểu thừa. Nếu chẳng hồi hướng và tùy hỷ v.v…, chỉ tự tu thì thành Tiểu thừa, cho nên phải hồi hướng bốn phen hình bác bỏ quả báo bốn phen. Đây là lời một lần khuyên giúp mà thôi. Nếu chẳng tu là Tam-muội trùng bảo chẳng tu pháp này ở trong trời người, có tu Tam-muội ấy thì bị buồn khổ, buồn làcó khổ thì mất lợi lớn. Như người nghẹt mũi là dụ cho người chẳng thực hành pháp này. Nghẹt mũi thì không biết mùi vị. Kinh sách như chiên-đàn, gặp kinh ấy như tay cầm, phá giới không tin như mũi nghẹt, chẳng chịu tu hành như chẳng ngửi. Như người làm ruộng là dụ cho người chẳng biết pháp. Tam-muội hành pháp như ngọc ma-ni mà người không biết, như người làm ruộng, bỏ pháp Diệu hạnh, trở lại tham năm dục, như trâu châu bác. Cho nên kinh ấy quyển thượng chép: Như con người ngu si cho đầy chiên-đàn mà chẳng chịu nhận, tức là bất tịnh, hương chủ nói rằng: đây là chiênđàn, chẳng gọi là bất tịnh lại lấy mà ngửi. Người ngu như thế nhắm mắt quay lưng chẳng nhìn chẳng ngửi. Người nghe Tam-muội chẳng nhận, bỏ mà chẳng trì giới, bỏ kinh mầu ấy. Lại nói như có khách buôn được châu ma-ni đưa cho người làm ruộng xem. Người ấy hỏi khách buôn giá bao nhiêu tiền, khách buôn đáp: Đêm ở chỗ tối thì nó chiếu sáng đầy báu trong đó. Người ấy chẳng hiểu mặt trái châu này, bèn hỏi: Đổi được một đầu trâu chăng? Khách buôn không chịu đổi, lại đem cho người ấy. Cũng như kinh Thí Dụ nói có con vị Trưởng giả chẳng có tài sản riêng. Cha sai ra nước ngoài buôn bán. Ban đầu, chở chiên-đàn đến xứ người, bán lâu mà chẳng được. Bèn hỏi người khác ở đầu chợ có gì quí. Người ấy đáp ở chợ có than quí. Bèn đem chiên-đàn đốt thành than.

 

PHẦN 2

Kế nói nửa đi nửa ngồi: Trước giải thích Phương Đẳng, cũng chung bốn giáo, cho nên văn kinh ấy nghe Tam-muội kết được Đạo ích chung cho ba thừa và bốn chúng. Kinh và văn này ý cũng khác theo, chỉ là thành viên, cho nên ý chỉ quán bí mật. Nương vào tu hành này sự nghi chưa đủ. Trong văn tự chỉ trăm lục, v.v… Liên là được, trước cầu mộng vương, v.v… là như Pháp Hoa Sớ có dẫn năm thứ mộng, nhân tâm nghi phân biệt học tập đều hiện sự, không phải người đến nói với, nhân mộng năm việc này tức chẳng phải người đến nói với. Liệt tử có sáu mộng tức là Chánh mộng, Ngạc mộng, Tư mộng, Ngộ mộng, Cụ mộng v.v…. đây tức là Chánh mộng, Tư mộng. Cho nên Chu Lễ chép: Bói sáu mộng lành dữ. Phương Đẳng chép: Phật bảo Văn-thù và tín nam tín nữ mà nói rộng chín mươi hai ức các Đà-la-ni, mỗi Đà-la-ni lại có chín mươi hai ức môn Đà-la-ni. Phật bảo Hoa Tụ: Chớ dối tuyên truyền, phải dùng thần minh làm chứng. Ví sao? Vì Thần minh có mười hai mộng vương, gặp một vương có thể nói cho nghe Đà-la-ni này. Thế nào là mười hai mộng vương? Là xưa Lôi Âm bị chín mươi hai ức ma bắt trói rất khổ não, liền lớn tiếng niệm Tam bảo mười phương ba đời, Chư Phật mười phương đồng thanh nói rằng: Ai cứu khổ được Bồ-tát này. Có Bảo Vương Như lai, cùng nhắc lại lời hỏi của các Bồ-tát, thì có Bồ-tát Hoa Tụ bạch Phật rằng: Phải dùng pháp nào đến cứu? Phật bảo: Phải dùng Ma-ha Đãn-trì Đà-la-ni chương cú mà hàng phục ma vương ấy. Hoa Tụ đến chỗ ấy hàng phục ma rồi khiến các ma thọ trì Đà-la-ni này. Các ma đều cởi áo cúng dường, đoạn đến chỗ Phật tự chép: Chúng con mười hai vương đều thọ trì. Hoa Tụ hỏi: Mười hai vương là gì? Bèn nói tên mười hai vương. Đến phẩm Mộng Hành thì nói mười hai tướng mộng. Phật bảo Văn-thù: Nếu cầu pháp này thì dạy cầu mười hai mộng vương. Nếu được thấy một vương thì trao pháp bảy ngày: Một là nếu ở trong mộng được thần thông bay đi có phướn lọng theo sau, gọi là Đãn trà-la tướng; Hai là nếu thấy hình tượng tháp miếu đại chúng nhóm họp, đó gọi là Cân-đề-la tướng; Ba là nếu thấy có vị thần mặc áo sạch sẽ cỡi ngựa trắng, đó gọi là Mậu-trì-la tướng; Bốn là nếu thấy ngồi voi trắng mà lội qua sông thì gọi là Càn-cơ-la tướng; năm là nếu thấy ngồi lạc đà đi lên núi cao thì gọi là Đa-lâm-la tướng; Sáu là nếu thấy ngồi trên tòa cao mà chuyển Bát-nhã, đó là Ba-lâm-la tướng; Bảy là nếu thấy dưới cây đèn đàn thọ giới, ấy gọi là Đàn-lâm-la tướng; Tám là nếu thấy bày tượng Phật, thỉnh tăng cúng dường thì gọi là Thiền-lâm-la tướng; Chín là nếu thấy cây trổ hoa nhập vào Thiền định, đó gọi là Cùng-lâm-la tướng; mười là nếu thấy Đại vương mang kiếm đi dạo thì gọi là Ca-lâm-la tướng; mười một là nếu thấy vua tắm gội thoa hương thơm mặc áo sạch đó gọi là Già-lâm-la tướng; mười hai là nếu thấy vợ vua ngồi xe xuống nước gặp rắn, đó gọi là Bà-lâm-la tướng. Trước phải phát tinh tấn mạnh mẽ, sanh ý tưởng khó gặp, tự thương mình thương người như bị tội tử hình từ người mà cầu thoát. Như thế niệm niệm cầu về mộng vương. Nếu chẳng được cảm, thì dù làm cũng vô ích, phải hết năng lực phá san tham (bỏn xẻn) mà tu cúng dường. Đời nhiều trực hạnh cũng thành vô ích. Ở chỗ vắng lặng, là phải ở tăng-già-lam, lan-nhã mà dựng lập đạo tràng. Nếu có sự duyên cũng cho ở nhà thế tục, tức là hai chúng tại gia. Cho nên kinh chép: A-nan bạch Phật rằng: Người ấy bỏ nhà thì phải nói thế nào? Phật bảo: Nói cha mẹ rằng con thực hành pháp Đà-la-ni, nếu cha mẹ cho thì con sẽ ra đi. Nói thế rồi trong tâm nghĩ thầm ta muốn bỏ vợ con gia thuộc mà thực hành pháp Đà-la-ni. A-nan bạch Phật: Cha mẹ, v.v… không cho thì lại uống thuốc gì đến đạo tràng? Phật nói: Phải hướng về cha mẹ đốt hương mà xin ba lần, nếu cho thì phải ở trong nhà mà thầm nghĩ tụng kinh này. Nếu khi tu hành thì ở trong nhà sạch mà đốt hương cúng dường, mỗi việc như pháp người vào đạo tràng. Nếu làm được như thế thì trong bảy ngày. Bồ-tát Quan Âm sẽ nói pháp cho nghe. Nếu ở trong mộng thì hiện trước người ấy không khác với đạo tràng. Nếu tâm tán loạn lại bị đọa vào ba đường. Ở ba đường ra rồi lại làm tôi tớ. Phải dốc lòng sau có hối cũng vô ích. Nếu chỗ tăng-già-lam, trước phải có đạo tràng nghiêm sạch y theo phương pháp của kinh, nếu không thì phải xây mới. Ngoài đàn trong nhà cho đến ngoài nhà đều phải thoa hương cho nên nói trong ngoài nhà. Làm đàn tròn. Lễ nói: xây đất mà làm. Phật pháp y theo đây làm hình hoa sen. Cho nên nói hình tròn và sơn vẽ, v.v… phướn năm mầu là nêu chung năm mầu, cũng không vẽ mầu trung gian. Chữ phải làm phướn, phướn là gọi chung cờ xí. Trong kinh thường nói làm phướn này, là phướn chữ nô. Nay Phật pháp đồ cúng hình dạng giống đó, nên nói là phướn. Cách làm phướn không được để tượng Phật, Bồ-tát. Phướn là vật cúng dường ở chỗ cúng, vì sao lại đề hình tượng. Hải Ngạn Hương, kinh nói bờ biển này có hương chiên đàn. Thỉnh hai mươi bốn tượng, hễ lập đạo tràng trước phải nghiêm tịnh sau mới thỉnh tượng. Người đời miệng nói cầu đạo diệt chướng. Khi lập đạo tràng thì sai đứa trẻ khờ trần truồng nói đem tượng đến, thấy việc nầy mà buồn. Phần sau Niết-bàn, A-nan hỏi Phật: Phật diệt độ rồi cúng dường thế nào. Phật nói khi ta diệt độ rồi thì cúng dường tượng cũng với ta ở đời không khác. Cho nên cúng dường phước giúp Chánh đạo, sanh thiện tiêu chướng đâu có lỗi ư? Tục Lễ còn nói: địa vị quá tôn quí sẽ đổ xô đến, tuy đặt đạo tràng mà ngạo mạn tôn tượng thì lại vời lấy tội, diệt chướng ngại sẽ khó. Như chỗ vừa dẫn là văn Phương Đẳng. Hào soạn, hào như trước đã giải. Soạn là ngọc Thiên ý nói bày thức ăn uống ra, cũng là đồ ăn uống. Hài lý tức là dép guốc. Trong ngoài đạo tràng đều để riêng, bảy ngày ăn chay trường. Văn nay thông tục nên nói bảy ngày, trai là sạch. Húy Khang Bá chép: Rửa tâm gọi là Trai, phòng hoạn nạn gọi là Giới. Cho nên biết sách tục chưa hiểu ý về rửa phòng. Có lời không ý, cạn thấp thô mỏng. Trong đây lại cấm chẳng ăn quá ngọ. Ba lần rửa là dẫu không có duyên khác cũng phải rửa ba lần, vì có chỗ nói lên. Nều thêm xuất nhập thì tùy việc mà làm. Ngày đầu cúng tăng, tuy thân miệng tinh thành nhưng phải giả lấy phước giúp. Hằng ngày làm thì càng tăng thượng, sợ năng lực chẳng kịp nên cho từ ngày đầu, trước khi khoa lễ phải bỏ hết tiền của. Cho nên văn kinh nói hết năng lực phá bỏ bỏn sẻn (keo kiệt). Thỉnh tăng riêng: Nam Sơn nói phải y Đại luận nói giải luật trong ngoài mà y theo đó nêu tội ra, cho đến bảy chúng cũng như thế. Thọ hai mươi bốn giới là kinh chép: Bấy giờ Thượng Thủ rộng vì Hằng-già nói hai mươi bốn giới. Nhưng giới này là thuận luật nghi Bồ-tát đều gọi là tội nặng, dẫu trước đã có thọ giới Cụ túc, hoặc trước đã có thọ giới Phạm Võng, thì cũng phải thọ lại. Nặng nhẹ khác nhau, khai giá khác nhau. Lại người trao giới cũng phải có thọ không thể vội y kinh mà trao cho người, đủ ở kinh ấy phải xem lại. Kinh chép: Lại phải thọ sáu trọng như pháp Ưu-bà-tắc đã nói trong kinh Ưu-bà-tắc; tức năm chúng cũng thọ. A-nan hỏi rằng: Người nữ có được đắp y chăng? Phật nói được, chỉ không được mặc nữ sắc. Lại hỏi: Chẳng thọ sáu trọng được vào đạo tràng chăng? Phật nói: Tùy ý nay khi hành sự phần nhiều đều không thọ, chỉ thọ hai mươi bốn giới, tức y theo văn này. A-nan lại hỏi: Như vừa nói có nhất định như thế chăng? Phật nói Chư Phật ba đời đều do pháp này mà được thành bình đẳng. Chỉ trừ hai người là bác bỏ Phương Đẳng và dùng tóc tăng cho đến một vật của Tỳ-kheo, nói kịp Đà-la-ni, là y theo kinh cả bốn phen đều thuận tụng đủ ở văn kinh. Kinh chép: Nếu có người trì Đà-la-ni ấy, nếu có lửa bùng lên sẽ biến thành hoa báu. Người tu nghe công đức vô thượng ấy như chết mà được sống lại. Đối trước thầy nói tội. Cho nên biết phải thanh tịnh hiểu rõ giáo tướng. Biết phòng chướng là nếu tự thân phạm tội chẳng hiểu phòng chướng thì làm sao thực hành được cảnh diệt tội. Ngày 1 tháng , trắng đen hai tháng đều có hai ngày, phần nhiều dùng tháng trắng. Pháp Hoa sám nghi lấy chung ngày trai phải dùng bảy ngày, v.v… ít nhất chẳng thể ít hơn đây. Nếu muốn tiến hành thì tùy ý nhiều ít. Cho nên Nam Nhạc bảy năm, mười người trở lên, là kinh nói mười người chẳng được hơn. Nam Sơn chép: Tôi thấy người đi kinh ấp, hoặc trăm hoặc phân nửa ồn ào hỏi luận lại thêm tội lỗi. Thỉnh chỉ y kinh chỗ phàm không hiểu được. Bỗng có nhiều người riêng bày đàn tràng có gì chẳng được. Người tục cũng cho phép, là kinh chép: Khi đến đạo tràng phải đúng như pháp Tỳ-kheo tu hành tịnh hạnh, đủ ba pháp y, dương chi, nước tắm, đồ ăn uống (bình bát), tọa cụ. Đã nói khi đến đạo tràng, nên biết khi ra đạo tràng cũng phải mặc đủ áo tục. Kinh chép: Pháp y này khi ra phải thường theo bên thân, nếu lìa xa hai trượng thị mắc vô lượng tội. A-nan hỏi: Nếu khi bỏ nhà ra đi có cần cạo tóc không? Phật nói không, nay thì hành sự có ít người cạo đầu chẳng biết lấy từ đâu. A-nan hỏi: Nếu thế, đâu cần ba y. Phật nói: Ba y: Một là đơn phùng, hai là áo tục, còn áo người xuất gia phải làm nghi thức ba đời Phật. Áo tục là khi ra khỏi đạo tràng thì mặc; ba y là khi vào đạo tràng thì mặc, gang tấc chẳng lìa, nếu lìa áo này thì bị tội chướng đạo. Trước nói hai trượng, là hai y kia. Chỉ nói bị tội không nói chướng đạo. Nói đơn phùng, là không có khước thích, nếu khước thích tức là y của Đại tăng thọ trì. Cho nên y này phải làm riêng. thế gian có người mượn áo xuất gia rất không được. Cho nên biết tuy chế ba y mà không phải y phục xuất gia. Trong miệng nói nín: nói khác miệng đồng âm là ở phần đầu trong ngày gọi là buổi sáng. Trong chúng phải lấy âm thinh mà hiểu, xem là người dẫn đầu. Dẫn hỷ tiếng hét thì người khác tiếp họa theo mười Phật ở trong Bách Lục gọi là Phật Vân Lôi Âm Vương ở Quá Khứ v.v… đều là bảy Phật. Cha mẹ Phương Đẳng: kinh nói Bồ-tát Lôi Âm được lìa ma rồi bạch với Hoa Tụ rằng: Trì Đà-la-ni này đến cứu tôi làm cho tôi tăng thêm tuổi thọ. Trong Phật pháp sống như chết rồi sống lại, ông là mẹ các pháp. Hoa Tụ chép: Ta không phải mẹ các pháp, Đàla-ni ấy có thể là cha, cũng có thể là mẹ. Cho nên biết Đà-la-ni này chính là thật tướng, thật tướng có đủ hai trí quyền, thật, cho nên cha mẹ năng sanh vì Phương Đẳng chánh là không. Mười pháp Vương tử: Phật là Pháp vương, Bồ-tát là tử, tức là Văn-thù, v.v… Bách Lạc và Nam Sơn thành nghi đều nêu mười hai Bồ-tát. Tức kinh ấy trước nêu chúng Bồtát đều được gọi là Pháp Vương tử. Nói Bách Lục, là Đại sư khi còn ở đời chưa có ý này. Khi Đại sư mất rồi, Chương An mới tập hợp sự tích của Sứ, có đến trăm điều nên gọi là Bách Lục. Khi nói chỉ quán thì chùa chưa xây, khi sửa chữa thì chùa đã xây xong, soạn Bách lục rồi nên có ý chỉ này. Ba nghiệp cúng dường là thân quì lạy, miệng đọc, ý vận tưởng Nam Sơn chép: Từ xưa truyền cho nhau không khác chuẩn đích, như lập ở đây. Vận tưởng sự nghi đủ như trong Thiên Thai Phổ Hiền Sám chép: Lễ thỉnh ý đều phải rất tinh thành, thân rất kính lễ. Pháp lễ phải hai gối hai cùi chỏ và trán đều đụng đất, gan mật tưởng ở dưới chân Phật, tay rờ chân Phật như đối trước mắt. Quì xuống ba chỗ ngay thẳng, cúi mình chắp tay mắt nhìn chân dung. Đời gần đây bạc bẽo đều không quì, khinh mạn chưa dứt, thì biển nghiệp khó cạn, còn buông lung uế thân, sao mong được đại đạo.

Trần Hối: Trần là bày ra, kể ra riêng thì nhớ lỗi vừa phạm, chung thì từ vô thỉ đến nay tùy ý nói rộng, theo trí lực mình, chẳng chậm chẳng nhanh, phải khiến hành truyền cùng chú đều hết. Tư duy là trong như ý chỉ quán. Từ thời thứ hai tức là buổi sáng thời thứ nhất vừa xong thì thời thứ hai bắt đầu không cần mời gọi. Ngay đó lễ Phật. Ý chỉ quán là trong nghi Nam sơn nói tu pháp quán, cần phải y theo đây chẳng dám làm khác. Nay trước nói pháp quán thật tướng, kế nói pháp quán sáu việc. Nhưng trải việc quán pháp kinh luận đều nói thế, không phải chỉ có văn này. Như Đại kinh chép: Đầu là Điện Đường, v.v… Pháp Hoa nói áo nhẫn nhục, v.v…, Tịnh Danh nói vợ Pháp Hỷ, v.v…, trong Đại luận chép: Sư tử gầm thét v.v… Đâu chỉ có Thích giáo, sách tục cũng như thế. Như Đông A Vương hỏi Tử Hoa rằng: Quân tử có cây cối không? Tử Hoa chép: Nhổ cỏ nuôi mầm mống nhà, là người nông dân làm cỏ. Tu chánh tánh, đổi hạnh ác là quân tử làm cỏ. Bàn-đặc quét rác, chi Phật hoa bay đều là mượn sự mà thấy lý, văn rất rõ ràng. Người chẳng thấy chỉ bảo Đại sư trong hợp mà thôi. Văn trước nói tư duy, tức là chánh quán. Maha v.v… là chánh cảnh, nói lên không phải thiên tiểu nên gọi là Đại. Tất cả pháp tức một pháp nên nói là Bí, một pháp nhiếp tất cả pháp nên nói là Yếu. Thể ngăn ba hoặc, tánh giữ ba trí. Không phải hai thứ Biên, Thiên nên gọi là Chánh. Chánh thể vô tướng nên gọi là Không. Kinh nói trở xuống là kế nói quán pháp. Kinh nói Phật vì Lôi Âm nói nhân duyên xưa của Hoa Tụ xong, lại nói quá khứ có Đức Phật hiệu là Chiênđàn Hoa. Phật ấy niết-bàn đã lâu, lúc ấy ta như ông chẳng khác. Lúc đó, có Bồ-tát hiệu là Thượng Thủ là một vị khất sĩ, vào thành khất thực. Lúc đó, có vị Tỳ-kheo tên là Hằng-già hỏi khất sĩ rằng: Ông từ đâu đến. Đáp rằng: Ta từ chân thật đến. Lại hỏi: Thế nào là chân thật. Đáp: Vì tướng vắng lặng nên gọi là chân thật. Lại hỏi trong tướng vắng lặng có chỗ cầu hay không có chỗ cầu? Đáp: Không có chỗ cầu. Lại hỏi không có chỗ cầu thì dùng cái gì mà cầu. Đáp: Không có chỗ cầu mà ta cầu. Lại hỏi: Không có chỗ cầu thì dùng cái gì mà cầu? Đáp: Có chỗ cầu thì tất cả đều không, được cũng không, mê đắm cũng không, thật cũng khác nhau mà cầu cũng không, nói cũng không, hỏi cũng không. Vắng lặng Niết-bàn tất cả hư không phần giới cũng đều là không. Ta thực hành pháp không thứ lớp như thế mà cầu chân thật. Lại hỏi Bồ-tát ở chỗ nào mà cầu? Đáp: Ở trong sáu Ba-la-mật mà cầu. Hằng-già nghe xong thì bán thân mà cúng dường. Thượng Thủ nói Đà-la-ni cho nghe, nghe rồi lại hỏi làm sao vâng giữ? Thượng Thủ lại nói pháp hai mươi mốt ngày đủ như văn nay đã nói phương pháp. Nay văn lược nêu, phải y theo rộng kia cũng rất dễ hiểu. Trong tu quán pháp kia lại trở về không chỗ cầu, văn vì ở sau, là muốn hết các văn không chỗ cầu. Nay y theo đây mượn văn quán kia mà thành Tam-muội nay cầu tức là người cầu Tammuội. Mê đắm là đối với Tam-muội mà mê đắm. Thật là năng hành, sở hành chấp ngã ngã sở. Đến là người thực hành Tam-muội ra vào tới lui. Nói hỏi là y theo lời nói rất dễ hiểu. Đây đồng với mười tám không của Đại phẩm. Dẫn là nêu. Vì sao tới lui cho đến Niết-bàn tất cả đều không? Cũng như mười tám không trong Đại phẩm thì pháp nào chẳng không. Mười tám không đến quyển năm có giải thích. Đại kinh trở xuống là dẫn Đại Kinh nghĩa không cũng đồng. Như lai Niết-bàn còn tự đều không, huống chi là các pháp khác. Cho nên quyển hai mươi bốn chép: Phật bảo Đức Vương: Ông nói thấy không, không là pháp vô thì làm sao thấy. Bồ-tát thật không có chỗ thấy, nếu có chỗ thấy thì chẳng thấy Phật tánh, chẳng thể tu tập Bát-nhã Ba-la-mật, chẳng thể vào Niết-bàn. Bồ-tát chẳng những nhân không mà thấy Bát-nhã cũng không. Sáu Bala-mật, năm ấm Như lai Đại Niết-bàn v.v… tất cả đều không. Xưa Như lai ở tại thành Ca-tỳ-la bảo A-nan rằng: Ông chớ sầu khổ. A-nan thưa: Nay con thân thuộc đều chết hết, làm sao chẳng buồn. Như lai và con sanh ở tại thành này, cũng là quyến thuộc dòng họ Thích, vì sao chỉ có

Như lai chẳng sầu khổ mà nhan sắc càng sáng. Ta lại bảo rằng: Ông thấy có thành chứ ta thấy trống không, ông thấy thân thích, còn ta tu không nên tất cả đều thấy không. Vì nhân duyên ấy mà ta càng sáng. Do đây nên ta tu quán trong trải việc. Trước y cứ kinh gọi Phương tiện, kế y cứ tôn dung đạo cụ. Trước Phương Đẳng trở xuống là trước y cứ kinh gọi tu quán. Khiến cầu trở xuống là y cứ phương tiện tu quán. Sự nghĩ đã trước cầu Mộng Vương, Tập Quán cũng trước tu không giả, là mượn sự làm quán. Lại nói trước tu là chẳng Biệt, mà Biệt tức là thắng Biệt, nghĩa là trước tu chẳng thật có không, cho đến giả sự nghi. Do phương tiện này để vào Đãn Trì. Tràng là chỗ nương, nói lên cho cảnh tịnh. Ở đời dùng để làm lúa và để cúng tế Thần, đều gọi là Tràng. Thuyết văn nói chẳng cày ruộng gọi là tràng. Thi nói tháng chín lập tràng kho để làm lúa. Nay nương cảnh tịnh để trị năm trụ nên gọi là Đạo tràng, cũng là đó. Tràng là sở nghiêm, năng nghiêm tuy nhiều như chẳng ngoài định tuệ, đồ cúng tuy nhiều nhưng chẳng ngoài động và chẳng động. Rốt ráo giới hương khắp xoa thật lý, quán ấm vốn không là cột thỏ con, vô duyên từ ấm cho nên cùng khắp pháp giới, lật lại ba hoặc mê quán hoặc pháp giới. Mê tức pháp giới nên gọi bất ly, giới hương xông khắp, đèn trí viên chiếu, cùng tịnh cảnh đẳng phương nên nói cùng khắp. Trí Phật giác ở lý cảnh quán không hai mươi bốn chi nghịch thuận. Từ cảnh lập số nói là hai mươi bốn. Như trong Pháp Hoa quán vô minh cho đến già chết, quán vô minh diệt đến gài chết diệt, Như thế mà lập là thuận quán nhân duyên. Trung A-hàm quyển năm mươi bốn nói già chết duyên sanh cho đến vô minh, vô minh duyên hành cho đến già chết đó là nghịch thuận quán nhân duyên sanh. già chết diệt cho đến vô minh diệt, vô minh diệt cho đến vô tướng diệt, ấy là thuận nghịch quán nhân duyên diệt. Cho nên nghịch thuận nhân duyên sanh diệt đều có hai mươi bốn phen trí giác liễu. Cảnh tuy gởi trí xưa phải nương Viên hào soạn các vị như kinh Pháp Hoa nói muối giấm. Văn ấy dụ quyền nay dùng giúp thật tịch, đó xứng với thể như áo trên thân, đối nhẫn làm tên nên gọi là sân. Sân gồm các hoặc toàn trái gọi là Tân, bảy ngày quán ở Đản Trì như dùng bảy trí quán thật, chỗ trừ như hoặc, tẩy trừ gọi là quán. Thân không nhơ nên năng sở đều tịnh. Thầy cũng chỗ nương nên đồng nghĩa đế. Cũng y chỗ quán mà thuận nghịch theo số, nên lập hai mươi bốn thứ vô tđường ác cộng thuộc đối tên chú nghĩa đặt tên này. Nếu pháp chẳng sai nên gọi là thuộc đối. Chú phá ba đạo, chẳng sai gọi là đối. Anh Lạc mười thứ, trong bổn nghiệp Anh Lạc quán pháp duyên khởi thì quán mười hai duyên có mười thứ: Một là ta thấy chẳng hai; hai là tâm làm; ba là vô minh; bốn là tướng duyên; năm là giúp thành; sáu là ba nghiệp; bảy là ba đời; tám là ba khổ; chín là tánh không; mười là duyên sanh. Kinh ấy giải thích đủ chẳng thể chép hết. Kế nói phá chướng, sự lý đầy đủ như trong sám tịnh thứ tư nói. Đủ ở sự lý mới sám ba đạo. Văn nói đẳng (v.v…) là dẫn chứng sự lý. Kinh Hư Không Tạng Thần Chú chép: Nếu Đại Tỳ-kheo dốc lòng đối với Phương Đẳng Tụng Đà-la-ni mười ngàn bốn trăm biến là một sám, như thế thứ lớp tám mươi bảy ngày hành đạo. Tỳ-kheo-ni thì bốn mươi chín biến một sám, chín mươi bảy ngày hành đạo. Sa-di, Sa-di ni, tín nam tín nữ bốn trăm biến một sám sáu mươi bảy ngày hành đạo. Trong kinh tùy chúng đều có tiểu chú. Văn trước đã dùng bảy ngày làm giới hạn. Lại nói hành đạo tám mươi bảy ngày, v.v… tức là tám mươi lần bảy cho đến sáu mươi lần bảy. Nguyện hạnh thì đủ như bảy ngày hành pháp, chỉ có chú là khác nhau mà thôi. Ni chúng đều phải nhờ Đại tăng làm sanh. Như thế người sám đều luận tội ba-la-di, phạm tội này rồi như người chết trong Phật pháp, nay lại thanh tịnh nên giới thể sống lại. Nếu hối pháp thành thì không tội nào chẳng diệt, nên nói nếu chẳng sống lại thì không có việc đó. Nhưng giáo môn Tiểu thừa còn chẳng khai sám, tuy nói sống lại mà không nhậm vận tăng dụng. Sa-di phạm rồi sám thành tựu mới cho thọ giới cụ túc. Đại thừa cho phép sự có thể chung làm. Nếu nghe Đại tăng gọi mời mà gian trá, huống chi bảo lương thành chế đủ số mà vô văn. Tin Đại Tiểu chia riêng, Thính chế điều khác, tiểu không nói sám trong vẫn thành tội nặng chưa mất, sao dùng Đại giáo mà sám di cho đủ, Tiểu thừa tăng số y vào đại sám rồi trong, tiến lên đạo, Đâu cần hỗn loạn để hoặc thời tình. Nhãn, v.v… thanh tịnh, là chỉ đến sáu căn mới gọi tương tự khổ Đạo tịnh mà thôi. Ngày thứ bảy thấy Phật mười phương, là kinh ấy hằng ngày đều có tướng trạng. Trước khổ đạo tịnh, vị ở sáu căn, trong đây địa vị Bất thối ở Sơ trụ, phá vô minh gọi là phiền não tịnh, ba chướng trở xuống tức cây nhân duyên chết, v.v… là Luận Bà-sa nói hai chi quá khứ là gốc, năm chi hiện tại là chất, ba chi hiện tại là Hoa, ba chi vị lai là quả. Có hoa có quả gọi là phàm phu, không hoa có quả gọi là người học, không hoa không quả gọi là vô dư, nghĩa suy cũng ứng. Lại chép: Thiếu hoa có quả gọi là người học, không hoa có quả gọi là hữu dư. Đây chính là tạng thông y cứ giới nội mà nói. Nếu theo Luận Bảo Tánh duyên tướng sanh hoại, bốn việc đều không mới gọi là hoại hẳn, nghĩa là duyên là gốc, tướng là chất, sanh là hoa, hoại là quả, tức giới ngoại hai thứ mười hai duyên. Cũng là năm ấm nhà không, v.v… là các giáo khác nhau, ấm không cũng khác, v.v… Nay lại bỏ Biệt mà giữ Viên. Kinh Tịnh Danh chép: Chẳng quán sắc, chẳng quán sắc như, sắc giả, như không tức cùng chẳng sai. Không giả để hiển bày Trung đạo. Bốn ấm cũng như thế. Đại phẩm nói sắc tịnh cho đến Thức tịnh. Phẩm Kim cương trong Đại kinh nói: Thân Như lai không phải ấm, giới, nhập mà chẳng lìa ấm giới nhập, chẳng thêm chẳng bớt v.v… đều là quán ấm rốt ráo không. Cho nên biết nhân quả đều nói ấm không. Trong quán tu ba phần báu, là lý thật tướng không có giai cấp, tâm hành hơn kém nên khiến cho khác nhau. Tu vọng trung hạ tuy gọi toàn phần, phải phân ra sáu tức để xếp vào cạn sâu. Cho nên kinh ấy văn nói rộng công năng đã xong, kế văn kết rằng: Nếu tu hành thọ trì tụng đọc phải biết người ấy được toàn phần báu. Nếu lại có người chỉ tụng đọc, phải biết người ấy được trung phần báu, các thứ cúng dường là được hạ phần báu. Cho nên biết toàn phần đủ thì cần phải tu hành và đọc tụng. Cứ theo lý cũng phải gồm cúng dường. Trong văn kinh khác nói rộng hạ phần, v.v… Nếu từ địa, v.v… là kinh nói Phật bảo Xá-lợi-phất rằng: Có người bỏ đầu mắt, thân thể, vợ con, bảy báu cúng dường ta thì không bằng người ấy lễ bái kinh này. Nếu người chứa báu đầy cả bốn thiên hạ, lên đến Phạm thiên cúng dường ta, thì chẳng bằng cúng dường người trì kinh này một bữa ăn để nuôi thân. Nếu lại có người chứa báu đến trời Phạm thiên cúng dường ta thì chẳng bằng trì chương cú này một ngày một đêm v.v… Chỉ cúng dường người trung phần báu mà công đức còn như thế huống chi là cúng dường người được thượng phần ư? Lại như xưa có Trưởng giả tên là Cưu-lưu, không tin nhân quả, năm trăm người cùng đi xa thấy rừng cây tưởng là nhà ở, đến đó chỉ thấy thần cây, làm lễ xong nói mình đói khát. Thần liền chỉ tay năm ngón tự nhiên sanh ra rất nhiều thức ăn uống ngon quí. Ăn xong bèn khóc rống lên. Thần hỏi vì sao? Liền đáp: Có năm trăm người bạn cũng rất đói khát. Thần bảo gọi đến bèn cho ăn như trước, mọi người no đủ. Trưởng giả hỏi vì đâu được phước như thế. Thần đáp ta xưa vào thời Phật Ca-diếp rất nghèo khổ, mài gương trước cửa thành, mỗi khi có Sa-môn khất thực ta thường dùng ngón tay chỉ đường chỗ khất thực và tinh xá Phật, như thế không phải một, chết rồi sanh lên đây. Trưởng giả tỉnh ngộ, mỗi ngày cúng cơm tám ngàn vị tăng, nước vo gạo chảy ra ngoài thành sông, có thể đi thuyền được. Chỉ chỗ người thường khất thực mà phước còn như thế, huống chi là đích thân cho ăn và trì kinh này. Kế giải thích kinh Pháp Hoa. Bộ thuộc đề hồ chẳng Thông giáo khác. Trước trong khai chương nói gồm nói nín, cũng có thể nói gồm ý chỉ quán, văn biệt hành đó chỉ suy bốn câu, cho nên trong văn này rộng tu quán tượng. Để làm rộng đó, trước dẫn Quán kinh để làm chứng có tướng, kế dẫn hạnh An lạc để chứng tướng không. Quán Kinh chép: Nếu có bốn chúng, tám bộ tụng Đại thừa, là người tu Đại thừa, người phát ý Đại thừa, người ưa thấy sắc thân Phổ Hiền, người ưa thấy Phật Đa Bảo, Thích-ca và phân thân, người ưa sáu căn thanh tịnh… phải học quán ấy. Công đức quán này dứt trừ các chướng ngại, thấy sắc thượng diệu, không vào Tammuội vì chỉ tụng trì nên gọi là có tướng. Kinh này đầy đủ như hạnh An lạc mười tám câu, cho nên biết tướng và vô tướng đều thành phương tiện, chỉ tùy nghi ưa thích làm môn mới vào. Hai kinh trở xuống là giải thích ý trái nhau. Hạnh An lạc trở xuống là là dẫn văn gồm đủ. Bốn hạnh trong văn hạnh An lạc dòng thứ nhất tuy dạy quán tất cả không, như thật tướng, v.v… Văn đầu lại chép: Ở đời ác sau này mà hộ trì đọc tụng. Trong văn thứ ba chép: Các Đại Bồ-tát ở mười phương thường phải thâm tâm cung kính lễ bái. Nói đẳng: đẳng là dùng đáp câu hỏi lìa não loạn v.v… Trong văn Quán kinh tuy nói đọc tụng cũng gồm vô tướng.

Nam Nhạc trở xuống là hạnh An lạc, văn chép:

Tu tập các thiền định

Được các Tam-muội Phật

Sáu căn tánh thanh tịnh

Bồ-tát học Pháp Hoa

Đầy đủ hai thứ hạnh

Một là hạnh hữu tướng

Hai là hạnh vô tướng

Hạnh An lạc Vô tướng

Sâu xa mầu thiền định

Quán sát sáu tình căn

Hạnh An lạc hữu tướng

Đây y tha khuyến phát

Tán tâm tụng Pháp Hoa

Chẳng vào thiền Tam-muội

Ngồi đứng đi một tâm,

Tụng văn tự Pháp Hoa

Nếu như hạnh thành tựu

Liền thấy thân Phổ Hiền.

Đây cũng là một lần phân ở hai người, rốt ráo mà nói hai hạnh cùng hiển. Đặc thị trở xuống là nói hai người này đều là chứng tiền nói theo phương tiện. Có tướng soạn tựa, là như Nam Nhạc tụng kinh cảm được Phổ Hiền, Người trí thì ở đạo tràng thấy đời trước. Vô tướng làm tựa, là cũng như Nam Nhạc một hạ khuyên quán đủ phát các thiền. Người trí một hạ hàng mà tiến hạnh v.v… Diệu chứng trở xuống là nguyên ý văn. Mục đích là chứng pháp, chứng ở chân tợ. Tợ tức là gần vào vị Tương tự, chân tức là xa vào vị Sơ trụ. Vì trong phẩm đầu thì quyền thật lý tức trong thứ năm sự lý không hai. Nay trải văn trở xuống là trải sự tu quán, thí dụ như Đại luận quyển hai mươi tám pháp môn Sư Tử Hống, Đại Kinh quyển hai mươi bảy pháp môn Ba-lợi-thọ v.v…, pháp môn tượng thân nghĩa rất rõ ràng, chỉ phải tìm văn ý thú thứ lớp. Sáu thông như trở xuống là nói trong trợ đạo, tám giải như trở xuống là nói trong thiền cảnh. Bốn nhiếp: Là bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự. Bố thí là đúng pháp cầu tiền của, thường nghĩ bố thí. Ái ngữ là bố thí rồi an ủi khiến trụ an vui. Lợi hành là tự lợi lợi tha bình đẳng nhiếp lấy. Đồng sự là vì lợi ích nên đồng sự nghiệp. Lại như hạnh mà nói là bố thí, vô nhiễm tâm mà nói là ái ngữ, dạy người không mệt mỏi gọi là lợi hành. Lìa lỗi, an ổn người, gọi là đồng sự. Trước là nói về tài, sau là nói về pháp. Cho nên hai thí tài, pháp phải đủ bốn giáo khai hiển. Cho nên nói dẫn vật nhiều mối, v.v… Pháp Hoa trở xuống là kết. Như văn trong khuyên tu nói tiếu, Thuyết Văn chép: Cốt pháp tương tự, nghĩa là trừ nó ra thì không cùng Phật thừa cốt pháp tương tự. Kế giải thích không đi không đứng. Trước giải thích lý do được tên. Do là đối bốn câu. Thật thông v.v… là y cứ hạnh thật mà nói. Kế Nam Nhạc Đại Phẩm đều giải thích tùy hạnh đặt tên. Nam Nhạc tức là Biệt Hành một quyển, tên là Tam-muội Tùy tự ý. Đủ y cứ bốn nghi ăn và nói nín. Văn đó hỏi rằng: Đây lấy từ kinh nào ra. Đáp: Từ kinh Thủ-lăng-nghiêm. Cho nên văn sau giải thích các thiện cũng dẫn đủ Thủ-lăng-nghiêm. Đại phẩm chép: Nếu được Tam-muội ấy khiến cho các Tam-muội biến thành vô lậu. Như một cân nước đá biến thành ngàn cân đồng bằng vàng. Người trí cũng có Biệt hành giác ý Tam-muội. Tuy lại trở xuống là hội thông. Tuy có chẳng đi chẳng ngồi v.v… ba tên khác nhau mà chỉ là pháp bốn nghi tu quán. Nay y trở xuống là lại y theo giáo giải thích tên có bằng cớ. Các số trở xuống là hỏi. Kinh Đại thừa, Tiểu thừa số các tâm sở đều chẳng phải một, vì sao chỉ lấy ý làm cảnh quán. Cùng các trở xuống là đáp. Các số đã nhiều chẳng thể nêu hết. Ý là năng tạo, nêu một mà nói các thứ. Đối cảnh trở xuống là giải thích tên khác của ý. Quán tâm tánh là thể đồng mà tên khác, tùy tâm tưởng thấy cho nên có ba thứ khác nhau, cho nên văn sau chẳng phải một, chẳng phải khác. Hỏi: Lý tánh nếu thế sao lại lập ba. Như trong Bà-sa hỏi: Ba thứ này có gì khác? Đáp: Khác hoặc chẳng khác. Nói chẳng khác, là tâm tức ý thức. Như lửa gọi là ngọn lửa cũng gọi là cháy bùng, cũng gọi là củi cháy, chỉ là một tâm mà khác nhau. Nói có khác tức tên khác nhau. Hoặc nói quá khứ gọi là ý, vị lai gọi là Tâm, hiện tại gọi là thức. Hoặc nói ở giới gọi là Tâm, ở nhập gọi là Ý ở ấm gọi là Thức. Hoặc nói nhiều mầu gọi là Tâm, như sáu đường do tâm, hệ thuộc gọi là ý, như năm căn thuộc ý. Nói tưởng gọi là Thức, như phân biệt thuộc về Thức. Câu-xá nói tập khởi gọi là Tâm, trù lượng gọi là Ý, liễu biệt gọi là Thức. Lại y theo Tiểu tông, thì ba tên chỉ là một pháp khác tên mà thôi. Cho nên nay nói ba – một họp tan chẳng thể chấp nhất định. Như thế, v.v… là muốn quán lược. Tâm tưởng thấy trái ngược, là Bà-sa chép: Vô thường gọi là thường là tưởng điên đảo, tâm điên đảo, thấy điên đảo. Ngã lạc tịnh cũng giống như thế. Xưa chép: Trong bốn ấm ba tâm không đảo, thức tâm có đảo. Có người nói thức tâm không đảo, ba tâm có đảo. Nghĩa là tưởng có tưởng đảo. Thọ có tâm đảo, hạnh có kiến đảo. Có người nói chung ở bốn tâm, thức có tâm đảo, tưởng thọ có tưởng đảo, hành có kiến đảo. Có người chép: Sơ tâm vọng chấp gọi là Tâm đảo, tâm kế tưởng thành gọi là Tưởng đảo, tưởng thành ngoại chấp gọi là Kiến đảo. Trước Bà-sa giải thích: Chính lúc văn này rơi vào tâm tưởng kiến đảo để thấy ba khác. Chấp là thường v.v… chẳng gọi là giác, biết rõ đảo này không phải tướng một – khác. Chỉ quán pháp tánh mới gọi là Giác. Giác là hiểu biết trở xuống là chánh lập quán. Ba tên đối nhau đều thành sáu câu, có nêu đủ trong kinh Bát-chu Tam-muội. Phân biệt ba tên đã chế là quấy (không đúng), phải quán thể nó tánh lìa văn tự, nên trong sáu câu nói chẳng thật có, tức là thể đồng, nói chẳng phải không tức là tên khác. Lại phải chớ (chấp) danh thể đồng khác, cho nên lại biết rằng: Chẳng phải một mà nói ba, chẳng phải ba mà nói một. Các hợp tam khác y cứ theo đây mà biết. Nếu biết tên chẳng phải tên trở xuống là chung có sáu câu, phức tạp nêu giải thích lại. Sáu thứ này đều là cùng chẳng sai cùng chiếu. Giả danh và tánh đều chẳng thật có. Nếu mượn văn này lập ba quán, là chẳng phải một mà lập ba là giả, chẳng phải ba mà nói một là không, danh chẳng phải danh, tánh chẳng phải tánh là Trung. Năm thứ kia y cứ theo đây, do đó phức sơ đạt được tâm tánh mới là không thể nghĩ bàn diệu cảnh ba đế. Nếu quán trở xuống là ý đặt tên. Ý có công năng tạo khắp, cho nên chỉ quán ý là nhiếp tất cả. Nếu phá trở xuống là phá các sử, như thế là viên quán chẳng phải chỉ quán ý làm gốc các pháp, cũng phá hết nguồn vô minh các hoặc, cho nên biết không phải chỉ ý nhiếp tất cả. Cũng chính là ý tức vô minh, khi vô minh hết thì các hoặc sao còn, vì thế đều hết cho nên các trở xuống là nhiếp lược kết tên. Tuy có các tên cho đến các số, nay chỉ đặt tên Tam-muội giác ý là do đây. Tùy tự trở xuống là hai tên chỉ là tên khác của giác ý, tên ấy tuy khác nhưng nghĩa đồng giác ý. Ở đây trở xuống là khai chương. Hễ có hình lụy khi dứt việc rất hiếm có, ba Tam-muội trên duyên đủ thật khó, nếu chẳng tùy cảnh dùng quán ý khởi thì tăng thêm. Ba tánh không sót, bốn vận xem xét, trải duyên đối cảnh đều gặp như một, đâu có khắc kỳ đại đạo. Trong các kinh đầu, trước nói chương này nhiếp rộng. Kế chánh giải thích. Trước kinh thỉnh Quán Âm cũng thuộc Phương Đẳng, văn chung ba thừa cho nên trong ý chỉ quán nêu đủ ba tướng. Nếu dùng hai mươi lăm Tam-muội nghĩa chỉ có Viên Biệt. Trước y cứ sự nghi, hai âm chữ thỉnh thọ thí là âm tịnh, hỏi Tôn là âm thỉnh. Nay văn chánh ở nghĩa thứ hai. Thỉnh đủ ba nghĩa một là tự, hai là tha, ba là hộ chánh pháp. Trong kinh trước mượn Ưu-ba-tư-na tức là tự thỉnh, nguyệt cái là tha, Kệ bảy chữ là hộ pháp, cũng phải đủ ba mươi sáu câu. Văn nay chỉ là hiển cơ hiển ứng, vừa ngầm vừa hiển cơ hiển ứng. Thỉnh lại có ba nghĩa. Diên thỉnh là thân nghiệp, kỳ thỉnh là miệng nghiệp, nguyện thỉnh là ý nghiệp. Lại năm thể là thân nghiệp. Bốn bài kệ là miệng nghiệp, buộc niệm là ý nghiệp. Lại diên là thỉnh người, kỳ là thỉnh pháp, nguyện là gồm cả người và pháp. Cơ đã khai thì ba ứng cũng như thế, ba nghiệp cũng phải đều có hai câu cơ ứng khác nhau. Ba Tam-muội trước y cứ đây so sánh mà biết. Tên Quán Âm cũng y cứ với bốn tất-đậu-vật khác nhau. Đủ như phẩm Phổ môn trong Pháp Hoa Sớ có giải thích rõ. Lại y theo Quán Âm Sớ mà nói phương pháp rằng: Xưa chia làm mười: Một là nghiêm tịnh (làm sạch) đạo tràng; hai là làm lễ; ba là đốt hương rải hoa; bốn là buộc niệm; năm là có nhành dương; sáu là thỉnh Tam bảo, bảy là tụng chú, tám là tỏ bày, chín là lễ bái, mười là ngồi thiền. Y theo Phương Đẳng trước đều phải có hai giải lý sự. Văn nay có ý, sự lý cũng đủ, thứ lớp hơi khác, ở trong Bách Lục. Lập cành dương là đặt bên tay trái Quan Âm là cành dương, tay phải là bình nước, cho nên thỉnh phải đủ hai vật. Nếu làm nói lên thì cành dương phất là nói lên cho tuệ, tịnh bịnh lắng trong nói lên cho định. Năm vóc sát đất, như các vị tăng thường làm, theo Địa trì, A-hàm đều dùng hai gối, hai cùi chỏ và trán sát đất gọi là năm vóc sát đất, cũng gọi là năm luân, năm chỗ hướng hạ là trong năm vóc như cây đổ nhào. Lại Lý quán giải, Quán Âm Sớ chép: Nếu khởi năm ấm lìa Tát-bà-nhã gọi là bình lập đứng thẳng chân trái như sắc, chân phải như thọ, tay trái như tưởng, tay phải như hành, đầu như thức. Nếu vào Tát-bà-nhã thành năm phần gọi là sát đất, thì giới như sắc, định như thọ, tuệ như tưởng giải thoát như hành, giải thoát tri kiến như thức. Phải nói đủ lý do nghĩ rất dễ hiểu. Buộc niệm đếm hơi thở là văn nay theo kinh chỉ đến số mười. Sớ nhân hơi thở mà khởi các hành. Vì sao? Vì hơi thở gió là sắc, lãnh nạp hơi thở này, duyên tưởng hơi thở này, các tâm sở là hành, tâm vương là thức. Trong quán hơi thở này năm ấm bốn niệm thành pháp Thanh văn. Nếu quán hơi thở là quá khứ vô minh nhân duyên thành hiện báo hơi thở đến vị lai, đó gọi là quán hơi thở thành pháp Duyên giác. Lại chẳng mê đắm thọ, hơi thở gọi là đàn (bố thí), chẳng khởi bất thiện gọi là thí (giới), đến được hơi thở này gọi là Nhẫn, niệm niệm tiếp nối gọi là Tấn, ở duyên chẳng loạn gọi là Thiền. Phân biệt hơi gió, biết rõ tà chánh gọi là Trí. Đây gọi là quán hơi thở thành pháp sáu độ của Bồ-tát. Nếu quán hơi thở thành các tuệ vô tướng gọi là quán hơi thở thành pháp Thông giáo. Thấy hơi thở chẳng phải không chẳng phải tục, Trung đạo Phật tánh, trước sau mà quán, đó là pháp Biệt giáo. Nếu quán hơi thở này một tâm ba đế là pháp Viên giáo. Đếm hơi thở đã như thế thì các hành cũng so sánh như thế. Cho đến các văn khác cũng phải phân biệt. Ba là xưng niệm Tam bảo là nói lên trừ ba chướng, nói rõ xưng niệm Tam bảo là nói lên trừ ba chướng, nói rõ hành pháp đều có đủ trong Bách Lục và Nghi Chánh Hạnh đều ở trong kinh ấy. Cho nên nói có thể tìm kinh bổ ích. Văn nay Bách Lục và Chánh Hạnh Nghi đều chẳng chép bốn bài kệ hạnh, kệ rằng:

Nguyện cứu khổ ách con

Đại bi che tất cả P

hát ánh sáng tịnh khắp

Diệt trừ si tối tăm.

Vì tránh khổ độc hại

Phiền não và các bịnh

Ắt sẽ đến chỗ con

Cho con an vui lớn.

Nay con cúi đầu lạy

Nghe tên cứu nguy ách

Nay con tự qui y

Thế gian cha từ bi.

Cúi xin chắc chắn đến

Thương con ba khổ độc

Cho con vui đời này

Và cho đại Niết-bàn.

Trong bốn bài kệ này hai bài kệ đầu là chánh thỉnh, hai bài kệ kế là kết thỉnh. Hai bài kệ đầu lại có hai: Một là thỉnh chung, hai là thỉnh riêng. Hàng đầu lại có hai: Câu đầu chỉ tự thỉnh, ba câu kế chung tự tha. Khổ ách là bịnh của sáu căn. Che tất cả, là chẳng riêng nhà, lìa chung mười giới. Hai câu kế là thỉnh trị si. Kế trong thỉnh riêng là thỉnh trừ ba chướng. Độc tức là nghiệp. Phiền não như văn, các bịnh là báo, vui là Niết-bàn. Niết-bàn là ba đức, ba đức phá ba chướng, kết thúc như văn. Tụng bốn bài kệ này là chuyển chương duyên cũng là vào gốc quán tương ưng, cho nên phải lược biết. Lại tụng ba bài chú, chú là văn ở kinh Thỉnh Quán Âm, nếu người tu hành đến đó tìm. Phát lồ rửa giặt, như áo dơ thì phải giặt rửa phát lồ như chỉ cho người, sự nghi như nước tro. Lý quán như nước trong, lý thể như áo sạch. Che giấu nhơ chẳng sám hối phải đọa đường ác mãi. Trước ngọ v.v… phương giống như pháp, ngày đêm hai thời đều lấy phần đầu nên nói là ngọ tiền và sơ dạ (trước giờ ngọ và đầu đêm) các thứ khác gọi là bốn thời, phải theo thường nghi chẳng nên bỏ. Kinh nói trở xuống là chánh nói tu quán. Trước y cứ sáu trần cho đến năm ấm mà thực hành quán. Trước quán sáu trần, tuy dẫn Đại Tập như không như tâm, vẫn gọi là thông chung. Cứ trở xuống là quán ấm chỉ lìa tánh tướng thành Thanh văn không. Cho nên kế lại phải tu huyễn hóa và thật quán. Đất không cứng trở xuống là kế quán năm ấm. Trong đây trước quán sắc ấm, sắc tức bốn đại. Trước quán địa đại, địa là sự bền chắc, nhân duyên mà thành, có vốn chẳng thật có, mà tình cho là có, có là bền chắc. Cho nên ở Địa đại mà khởi tình chấp chặt. Nay mượn sự cứng để phá tình chấp. Cho nên nói có là nghĩa cứng. Hai câu không v.v… và ba đại kia lệ theo mà biết. Kinh ấy nhân Ưu-ba-tư-na hỏi, Thân Tử đáp. Trong phần đáp chép: Phải quán Địa đại không bền chắc, thủy đại không dừng, phong đại vô ngại, từ điên đảo sanh. Hỏa đại chẳng thật, giả nhân duyên mà sanh. Thọ tưởng hành thức, mỗi ấm tánh đồng nhau, ở bốn đại đều vào bờ cõi như thật. Ưu-ba-tư-na được bốn Đại định, thông suốt năm ấm, được quả La-hán. Văn nay y theo kinh dùng nghĩa khai thác làm pháp quán. Cho nên ở bốn đại đều dùng bốn tánh suy khiến như không. Đời mạt pháp độn căn khác nhau Phật nhật. Cho nên y theo Trung Luận mà quán hai không. Như trong Địa đại câu đầu nói có là nghĩa cứng. Đây thì chỉ gọi đị là nhất định có vì phòng chuyển chấp phá ba câu. Chấp rằng: Có đã là cứng, không đâu được cứng. Cho đến chuyển nhập câu thứ tư chấp chẳng phải có, chẳng phải không, cũng gọi là không bền chắc. Nay đều phá đều chấp bền chắc. Nhưng mặt đất này vốn chẳng phải bốn câu, không danh tự bền chắc nhân tình mà gọi bền chắc, cho nên dụng bốn câu nhờ bền chắc mà phá chấp. Ba đại kia y theo Địa đại suy nghĩ mà biết. Đó gọi là sắc ấm để vào tánh không. Như trong Địa đại ban đầu nói rốt ráo chẳng thật có. Kế trong Thủy đại, Phong đại đều nói cũng chẳng trụ không có bốn câu, cũng chẳng trụ trong chẳng thể nói đều là văn tướng không. Chỉ có trong Hỏa đại thì tướng không văn lược. Tánh tướng của các ấm như thọ v.v… y theo đây cũng rất dễ thấy. Hỏi: Suy ra ba đại trước đều dùng bốn câu như có v.v… mà phá. Đến Hỏa đại thì văn bèn dùng Bốn câu như tự v.v… mà phá là sao? Đáp: Có hai nghĩa: Một là y theo kinh, kinh nói Hỏa đại chẳng thật, từ nhân duyên sanh. Nhân duyên phải làm tên tự tha mà nói; hai là tên khác nghĩa đồng. Có chỉ là tự, không chỉ là tha, cho đến cùng chẳng sai chỉ là không nhân. Văn kinh còn lược các ấm khác chẳng nói. Phải nói thọ không lãnh nạp tánh chẳng thật có. Nếu bảo thọ là có là lãnh nạp cho đến bảo thọ chẳng phải có chẳng phải không, cũng là lãnh nạp. Cho đến thức là liễu biệt cũng giống như thế. Đầy đủ phải như trong quyển năm mà phá giả bốn câu. Như thế mà quán là pháp Thanh văn, tức dùng chân đế gọi là như thật. Hỏi: Nếu pháp Thanh văn phải quán bốn đế? Đáp: Ấm là khổ đế, tánh chấp là tập, quán pháp là đạo, thật tế là diệt. Quán ấm đã thế trở xuống là kế nói quán pháp Duyên giác. Đầu tiên từ vô minh, cuối đến già chết, đều như tiếng vang trong hang trống đều phá tánh tướng, vì sao? Vì nếu có bốn câu tức là vô minh cho đến già chết. Nếu vào thật tế gọi là quán không đã thành. Gốc của quán tuệ v.v…, nếu không có quán tuệ bèn thành khổ hạnh vô ích. Cho nên phải dùng các quán Như Huyễn v.v… mà được tánh tướng không, vào mé như thật. Mé thật có hai. Nhị thừa y thông, thông tức chân đế. Biệt viên y trung, chẳng chung với Tiểu thừa. Nay lại từ thông đến dưới (thấp nhất) sáu chữ ba Đà-la-ni mới từ Trung đạo huống chi văn dưới quán ác thường dùng Viên quán. Phải biết văn nay bổn ý ở viên. Tỏa phục trở xuống là y cứ ba Đà-la-ni đối phá ba chướng. Nói tiêu phục, tiêu là tiêu trừ, phục là điều phục độc của báo chướng giết hại người tu, dùng tổng trì này mà chiết phục. Người Tỳxá-ly trở xuống là nói công năng phá chướng. Kinh chép: Bấy giờ, ở nước Tỳ-xá-ly tất cả người dân bị bịnh truyền nhiễm: Một là mắt đỏ như máu; hai là hai lỗ tai ra mủ; ba là mũi chảy máu; bốn là lưỡi sưng nói không ra tiếng; năm là thức ăn biến thành rắn rít; sáu là thần thức u mê như người say. Sớ nói: Năm căn bịnh làm cho ý thức hôn mê. Cho nên chép: ý thức cho đến như say. Kinh nói: Có năm quỉ dạ-xoa ăn tinh khí người. Sớ chép: Như là bịnh quỉ từ năm căn vào, kẻ gây ra bịnh gọi là năm Dạ-xoa. Kinh chép: Khi ấy, Trưởng giả tên là Nguyệt Cái cùng năm trăm trưởng giả đều đến chỗ Phật bạch Phật rằng: Người dân nước này bịnh dữ, thầy thuốc Kỳ-bà dùng hết đạo thuật cũng không cứu được. Cúi mong Đức Thế tôn cứu cho bịnh khổ này. Phật bảo Trưởng giả rằng: Cách đây không xa ở về phương Tây có Phật hiệu là Vô Lượng Thọ, ở đó có Bồ-tát hiệu là Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, thường dùng đại bi mà cứu giúp khổ ách. Nay các ông nên thỉnh. Khi nói lời này thì trong ánh sáng thấy Phật Vô Lượng Thọ và hai vị Bồ-tát. Nhờ năng lực Như lai nên Phật và Bồ-tát đều đến thành này đứng ở trước cửa thành phát ra ánh sáng chiếu khắp. Do đó, Trưởng giả nói bốn hàng kệ, xưng danh Tam bảo tụng Đà-la-ni nên bình phục như xưa. Sớ chép: Ở phương Tây cực xa, sao nói không xa. Có nói rằng: Ở phàm thì xa, ở Thánh không xa, nay nói nếu cơ hợp thời tuy xa mà gần, nêu cơ chưa thục tuy gần mà xa. Hỏi: Vì sao chẳng thỉnh phương Tây? Đáp: Nếu y cứ ngũ hành thì phương Tây đứng đầu về kim là nghĩa quyết đoán. Nếu y cứ bốn đế thì Đông tập, Nam khổ, Tây đạo, Bắc diệt. Phương Tây thuộc đạo là nghĩa năng thông. Nếu thế, Đông Tây đuổi nhau với Pháp Hoa Sớ để ví cho khổ tập chẳng trái nhau ư? Đáp: Đều tùy nghĩa tiện lợi cũng chẳng trái nhau. Nếu là ngạ quỉ đối nhau để phối thì Đông tập, Tây khổ, Nam đạo, Bắc diệt, đây thì y cứ nhân quả thứ lớp sanh nhau, đều có lý do để thành chỗ nói lên. Nếu y cứ nơi chốn thì mặt trời mọc ở Đông mà lặn ở Tây, nói lên ở Đông độ Thích-ca sanh ra vật thiện, ở Tây độ Di-đà dứt trừ các hoặc, sanh Vô Lượng Thọ, có nói Phật có hai thân sanh – pháp, hai cõi hai Phật đều có hai thân sanh pháp. Ở trong sanh thân vì hóa duyên nên tuổi thọ này có lượng mà tuổi thọ kia vô lượng. Có thứ làm Bổn tích mà giải thích, có thứ làm Chân ứng mà giải thích. Thấy ứng tích chẳng thể dứt chướng, thấy chân bổn thì sẽ trừ chướng. Ở đây đều chẳng thể. Chỉ tùy cơ phải dùng đây làm nhân, dùng kia làm duyên, chẳng cần giải thích riêng. Hỏi: Vì sao thỉnh ba? Đáp: Vì cơ duyên ở ba, nếu y cứ theo sự nói lên thì Phật là nói lên cho pháp thân, Quan Âm nói lên cho trí, Thế Chí nói lên cho phước. Thông luận đầy đủ lại từ Biệt nói. Hỏi: Vì sao thỉnh ba, kinh đề từ một? Đáp: Vì Trí làm tiêu độc, tức nghĩa phá hoặc, từ nghĩa tiện nên lại đề từ một. Phật nói điều phục Đà-la-ni xong, bảo: Nếu có bốn Bộ Trì tên Bồ-tát ấy và tụng chú thì tất cả bất thiện như lửa đốt củi. Phá ác trở xuống là phá ác thuyết Đà-la-ni thích danh mà biết. Phá phạm hạnh trở xuống là kế nói công năng. Kinh chép: Người phá phạm hạnh làm mười nghiệp ác khi nghe chú này thì trừ sạch các uế cấu mà được thanh tịnh. Nếu có nghiệp chướng các ác bất thiện, mà xưng danh hiệu Bồ-tát ấy và tụng Đà-la-ni thì liền phá nghiệp chướng, hiện tiền thấy Phật, sáu chữ trở xuống là kế giải thích sáu chữ Đà-la-ni. Nói sáu chữ có người nói xưng danh Tam bảo. Hai chữ Nhất bảo tức là Phật-đà, Đạt-ma, Tăng-già. Có người nói Tam bảo là ba chữ, Quán Thế Âm là ba chữ. Đây đều không có nêu chương kết cú, cho nên chẳng dùng. Sớ xét văn kinh phải làm ba thứ nghĩa sáu chữ: Một là y cứ quả báo để làm sáu chữ. Nói kệ xong bảo rằng: Có bốn bộ chúng nghe sáu chữ này liền nói rộng công năng cứu khổ sáu đường; Hai là y cứ tu nhân dùng làm sáu chữ. Như Ưu-ba-tư-na nghe chương cú sáu chữ khiến quán tâm mạch liền nói rộng sáu Diệu môn; Ba là y cứ sáu căn để làm sáu chữ. Như Xá-lợi-phất ở trong rừng lạnh đáp lời hỏi của Tư-na rằng: Mắt tương ưng với sắc, v.v… liền nói rộng sáu căn; Ba văn sau mỗi căn kết rằng: Vì nghe chương cú sáu chữ này, cho nên nghĩa sáu chữ chẳng ngoài ba thứ này. Nay văn chánh dùng hai nghĩa trước sau. Đại bi v.v… là nói các nhà hiện nay lập nghĩa. Tịnh trở xuống là nói công năng sáu chữ. Ở trong văn đầu trước y cứ năng phá hoặc căn bản, ba độc là gốc gọi là gốc ba độc. Ba thứ này sanh ra tất cả bất thiện, lý chung tất cả. Cho nên nay văn này tịnh căn ba độc, vì thế phá rồi rất dễ thấy Phật đạo. Lại lấy vô minh làm gốc ba độc cho nên phá rồi sẽ thấy Phật đạo. Sáu chữ tức là trở xuống là chánh giải thích công năng sáu chữ, có thể phá sáu đường ba chướng, hai mươi lăm hữu, thành hai mươi lăm Vương Tam-muội. Nói sáu đường thì các luận và A-hàm Chánh Pháp Niệm Xứ nói rộng tướng ấy. Đại luận quyển ba mươi ba hỏi: Vì sao sáu đường lại nói năm đường. Đáp: Sau khi Phật mất năm trăm năm thì tụng bộ riêng khác nhau đều trả kinh Phật mà theo nghĩa của mình cho nên khiến một đường Tu-la có không khác nhau. Trong đây nói chung ba chướng nặng nhẹ khác nhau, nên phải nói sáu đường ba chướng. Địa ngục từ nghĩa đặt tên, nghĩa là ngục ở dưới đất nên gọi Địa ngục. Tiếng Phạm là Nạilạc-ca, Hán dịch là khổ cụ. Tám ngục lạnh tám ngục nóng nói đủ như Thích châm quyển bốn. Quỉ, tiếng Phạm là Xà-lê-di, Hán dịch là Tổ phụ. Nhĩ Nhà nói quỉ là về, Thi Lữ chép: Người xưa gọi người chết là người về (qui). Lại chép: Nhân thần gọi là quỉ, Địa thần gọi là kỳ, Thiên thần gọi là linh. Có người nói đói khát gọi là ngạ quỉ, thường bị xô đuổi sai khiến, đường này ở dưới cõi Diêm-phù năm trăm do-tuần, có cõi Diêm-phù là chỗ ở căn bản, cũng có thứ ở châu Diêm-phù. Có đức thì ở trong rừng cây hoa quả, không có đức thì ở chỗ bất tịnh – hai châu Đông Tây cũng có quỉ. Ở Bắc châu chỉ có quỉ oai đức. Các trời cũng có, tùy chỗ sanh hình. Trong tục có Nguyễn Tịch anh của Tôn Chiêm thường nói là không có quỉ. Bỗng có khách đến nói việc quỉ thần. Khách đuối lý đổi sắc mặt bảo rằng: Quỉ thần xưa nay Hiền thánh cùng chấp nhận, sao ông lại nói không? Đáp rằng: Nay có người thấy quỉ nói mặc áo lúc còn sống, vậy người có áo quỉ cũng là có quỉ sao. Người luận đuối lý. Đây cũng người luận chẳng biết quỉ hóa thành áo, khiến giống áo người ấy còn sống đã mặc. Tục tuy nói có chẳng phải đều biết. Cho nên trong tục giáo chỉ thấy phần nhỏ người súc, chẳng thấy bốn đường kia. Cho nên Khổng Tử chép: Sống cùng người việc này còn chưa biết, chết cùng quỉ thần ta làm sao biết được. Súc sanh tức Lục súc, là trâu ngựa gà heo chó dê thì nhiếp thú chẳng hết. Nay nói chung đạo này chẳng hạn cục ở sáu. Bà-sa chép: Bàng sanh thân đi ngang nên nói Bàng sanh hoặc nói khắp có, là khắp trong năm đường đều có. Vô minh nặng chẳng loài nào hơn súc sanh. Lại Đại luận dùng ba loại mà nhiếp, tức đi ban ngày, đi ban đêm, đi cả ngày đêm. Lại có ba là ở trên đất, ở dưới nước, ở trên hư không. Trường A-hàm nói rộng về A-tu-la: A là không, tu-la là trời, tức không phải trời. Lại Tu-la, Hán dịch là đoan chánh, vì nó không xinh đẹp nên gọi là Thế. Lại nói không rượu. Khi thế giới mới thành ở trên đỉnh núi Tu-di cũng có cung điện. Sau trời Quang Âm xuống, như thế lần lượt đến trời thứ năm. Tu-la giận bèn tránh đi không sanh đến đây nữa. Lại ganh ghét Phật nói pháp. Phật vì các trời nói bốn niệm xứ, thì nói năm niệm, xứ Phật nói ba mươi bảy phẩm thì nói ba mươi tám phẩm, thường làm tâm tà vạy mà che. Tinh là nghi sợ. Thi truyền rằng: Vì sắc thì nói đố, vì hạnh thí nói kỵ, hai hiền thì nói tật. Nghi như giải thích ở sau, cho nên biết Tu-la có thói xấu là ganh ghét người Hiền. Người, tiếng Phạm là Ma-hiểu-xa, Hán dịch là Ý, vì người khi làm việc đều phải suy nghĩ. Kinh Dịch chép: Chỉ người là loài linh thiêng của muôn vật. Lễ chép: Người là tâm của trời đất, đầu mối của năm hành. Đây cùng chưa biết năm đường. Bà-sa chép: Năm đường nặng về ngạo mạn không loài nào hơn loài người. Lại chép: Trong năm đường hay tức ý cũng không gì hơn loài người. Chỗ ở có bốn. Phá ba chướng người mà nói trời người, vì trong nhân đạo có sự lý, cho nên thêm trời mà hàng phục người. Nói trượng phu, là một người cao một trượng nên nói trượng phu, đây chỉ người hơn hết mới gọi trượng phu. Bạch Hổ Thông nói phu là phò (nâng giúp) dùng đạo mà tiếp giúp. Nay cũng như thế. Dùng lý mà phò nên gọi là trượng phu. Thấy lý Phật tánh mới gọi Trượng phu. Nên kinh Niết-bàn chép: Người thấy Phật tánh tuy là người nữ cũng gọi là người nam, người nam tức trượng phu. Nếu y cứ vào ý này. Thiên đạo cũng phải có nghĩa bậc nhất thiên và hai thứ sự lý để giải thích thiên (trời), thì tục giải thích như quyển một. Tục cũng chưa biết ba cõi các trời cho nên chỉ dùng đục trong mà phân. Nay trong sách giải thích nói Thiên (trời) cũng gọi là tối thắng, cũng gọi là quang minh, dục sắc và vô sắc. Nêu chúa được quan. Đại Phạm Thiên Vương đứng đầu ba cõi, các trời khác đều thuộc về đại thần. Nay chỉ nêu chủ mà nhiếp Thần. Thần là tiện xưng nam tử, nhượng chủ là quí sáu thứ này được tên hoặc từ đối trị như bốn đường ác và người mới giải thích. Hoặc từ lý mà nói như giải thích người sau. Thiên từ tiện nghi rộng sáu trở xuống là trong y cứ hai mươi lăm Tam-muội nói bốn thứ như huyễn v.v…. Nam dùng như huyễn, Đông dùng nhật quang, Tây dùng nguyệt quang, Bắc dùng nhiệt diệm. Mười bảy thứ như bất động v.v…, là Dục giới dùng sáu, Sắc giới dùng bảy, Vô sắc giới dùng bốn. Dục có sáu là bất động phá bố vương, nam phục phá Đao-lợi, Duyệt ý phá Dạ ma, Thanh sắc phá Đâusuất, Huỳnh sắc phá hóa lạc và Xích sắc phá tha hóa. Sắc giới có bảy là Bạch sắc phá Sơ thiền, các thứ phá Phạm vương, song phá Nhị thiền, Lôi Âm phá Tam thiền, Chú Vũ phá Tứ thiền, Chiếu cảnh phá Na-hàm, Như hư không phá vô tưởng. Vô sắc có bốn, vô ngại phá không xứ, thường phá thức xứ, lạc phá bất dụng xứ, ngã phá phi tưởng phi phi tưởng xứ. hai mươi lăm hữu chung làm bài tụng rằng:

Bốn vức bốn đường ác

Sáu dục và Phạm vương

Bốn thiền bốn Vô sắc

Vô tưởng năm A-hàm.

Hai mươi lăm Tam-muội phá hai mươi lăm hữu, ở phẩm Thánh Hạnh trong đại kinh đủ như trong Huyền Văn quyển bốn giải thích. Kinh này chung ba thừa trở xuống là kết thành ba thừa dụng quán khác nhau. Sáu đường và hai mươi lăm hữu nghĩa ấy là một, vì hay quán trí khác nhau nên phân ra ba người khác nhau. Tuy nói ba thừa giáo nhưng phải chia làm bốn: trước nói pháp Nhị thừa, pháp này chung với hai Bồtát. Nay phá hai mươi lăm hữu thấy ngã tánh. Cho nên trong Bồ-tát thừa chỉ ở Biệt Viên, phá chướng là chung ba, phá hữu thì riêng. Tự điều là từ nhân làm tên, tự độ là từ quả làm tên. Sát tặc (giết giặc) là từ nghĩa đặt tên, tức hại vật thì nói là giặc, vì phá hại bậc Thánh. Nhĩ Nhã chép: Trùng ăn mầm tiết là giặc ba giới, kết trùng ăn mầm vô lậu, nên A-lahán dịch là Sát tặc. Phước dày là trăm kiếp tu phước, nên nói phước dầy. Phước nhiều giúp trí cho nên căn cơ lanh lợi. Nếu khởi trở xuống là do khởi đại bi duyên mé như thật được không lui sụt. Vị này phải ở Sơ trụ Sơ địa niệm không lui sụt. Hỏi: Như thế, vì sao kinh ấy nói Phật bảo Kiên Ý rằng: Định Thủ-lăng-nghiêm không phải Sơ Địa mà được, cho đến không phải Chín địa mà được, chỉ có Thập Địa mới được. Đáp: Đây thì Biệt giáo giáo đạo mà nói, vì Thủ-lăng-nghiêm tên là Kiện Tướng, cho nên hạ địa không được. Nghĩa viên đủ như cuối quyển I. Sơ tâm còn được quán Niết-bàn chẳng lẽ không được quán Thủ-lăng-nghiêm ư? Bảy Phật, tám Bồ-tát, v.v… là kế y cứ các kinh. Bảy Phật trong kinh thần chú trước nói bảy Phật đều có Đà-la-ni và nói công năng để thực hành sám pháp. Kế văn nói tám Bồ-tát: Một là Văn-thù, hai là Hư Không Tạng, ba là Quán Thế Âm, bốn là Cầu Thoát, năm là Bạt-đà-hòa, sáu là Đại Thế Chí, bảy là Kiên Dũng, tám là Thích-ma-nam, cũng đều có thần chú và công năng hối pháp. Cho đến kinh dưới văn lại có Bồ-tát Phổ Hiền và tám vị Long Vương, cũng đều có chú diệt tội. Lại như bảy Phật Cu-chi Đà-la-ni và tám Đại Bồ-tát trong Du-già đều có Đà-la-ni, tức là Quan Âm, Thế Chí, Văn-thù, Phổ Hiền, Hư Không Tạng, Kim cương Tạng, Trừ Chướng Cái, Di-lặc. Hư Không Tạng tám trăm ngày dọn dẹp nhà xí, xí nghĩa là xen lẫn. Trên cõi người ở chỗ ấy rất tạp uế nên gọi Thế. Kinh Hư Không Tạng chép: Ở đời vị lai người giỏi tỳ-ni phải dạy chúng sanh nói pháp, trị tội có ba mươi lăm Phật cứu thế đại bi, phải lập đạo tràng, đủ các thứ cúng dường. Trước lễ Phật mười phương xưng ba mươi lăm danh hiệu Phật, riêng xưng tên Đại Bi Hư Không Tạng. Vì sao? Vì Hư Không Tạng trên đầu có mão trời, trong mão có châu như ý, có ba mươi lăm vị Phật hiện. Bồ-tát ấy ngồi kiết già hoặc có lúc hiện làm tượng tất cả sắc. Người tu hoặc ở trong mộng, hoặc trong lúc ngồi thiền khi thấy tướng này là do Ma-ni châu ấn chúng người tu, trên vách làm chữ diệt tội. Tướng Phật này lại vào trong tăng đúng pháp nói giới. Nam Sơn Hành Nghi cũng dùng văn này. Nếu y theo ý này đủ số thì được. Cho nên trong phó pháp tạng diệt tội nặng rồi, người thời ấy gọi là Luật Sư Thanh Tịnh. Nếu Ưu-bà-tắc được chữ chẳng chướng thọ giới. Cho nên sao chủ y đối tục mà nói đều có bằng cớ. Nếu chẳng được chữ trong không xướng rằng tội diệt, tội diệt. Lại không có tướng này. Người giỏi tỳ-ni mộng thấy Hư Không Tạng bảo rằng: Tỳ-ni-tát, Tỳ-ni-tát. Tỳ-kheo và Ưu-bàtắc lại bảo sám hối. Một ngày đến bảy ngày lễ ba mươi lăm Phật, nhờ năng lực Bồ-tát nên tội ấy nhẹ dần. Người biết pháp lại dạy tám trăm ngày dọn dẹp nhà xí. Ngày ngày bảo rằng: Ông làm việc bất tịnh hết lòng chùi rửa tất cả nhà xí, chớ để người biết. Chùi rửa xong, tắm gội mà lễ ba mươi lăm Phật, xưng tên Hư Không Tạng, hướng về mười hai bộ kinh, năm vóc sát đất tự nói bày tội lỗi trải hai mươi mốt ngày mà nhóm họp thân ở trước tượng Phật mà xưng danh hiệu ba mươi lăm vị Phật. Bồ-tát Văn-thù kiếp hiền làm chứng minh, bạch bốn lần Yết-ma như trước thọ giới lại. Đây cũng là văn phạm trọng mất giới. Nếu không mất vì sao sám hối rồi khiến thọ lại. Kinh chép: Phật bảo Ba-ly: ông vì người ở vị lai không hổ thẹn nhiều phạm giới, phải đúng như pháp sám hối này, có đủ trong Nam Sơn Nghi. Nói nhóm họp bạn thân là không phải quyến thuộc thế tục, so với những người phạm tội nặng đến thẳng mà thọ chưa thấy ích phương. Nếu thọ rồi mà sanh hổ thẹn thì cũng hơn trần tục. Tự bảo chẳng bỏ lại vào trong tăng. Căn bản đã không thì chỗ ngồi đâu còn. Văn này lại thuận ý Hư Không Tạng. Nếu theo luật văn một chi một cảnh, tuy đã hoại, khác chi khác cảnh cũng chuyển như cũ. Cho nên y luật thì chỗ ngồi chẳng không.

 

PHẦN 3

Kế trong các thiện, trước phân biệt bốn vận. Vận là động. Từ vị đến dục, từ dục đến chánh, từ chánh đến dĩ. Cho nên nói chung là động. Lại Quốc Ngữ chép: Chở bằng đường bộ gọi là vận, chở bằng đường thủy gọi là Tào. Chữ Tào thường vì chín giới bốn tâm mà chuyên chở nên gọi là Vận. Nay nhiếp chín vận khiến Vô sanh vào Phật vận, nhưng vẫn xem Phật vận chẳng ngoài chín vận. Thể của Phật vận tánh vốn không. Cho nên phải phân biệt bốn vận. Đây là phân biệt môn quán trở xuống tác thọ, trước chẳng nói về quán tâm vô thác, cho nên chép: Tâm thứ vô minh dùng bốn tướng mà phân biệt. Lại vì người đời phần nhiều nói sanh tâm là vọng, tu quán diệt tâm chẳng phải vọng, đều chẳng quán mà bảo là Vô sanh là rất lầm. Người đời tu thiền đều quán Vô sanh chẳng biết Vô sanh ở đâu, là trước có hay không. Nếu trước có thì đã chứng Vô sanh, nếu trước không thì sao gọi Quán. Nếu biết chín giới làm cảnh quán, thì giới Bồ-tát đã khởi chưa khởi còn phải quán sát, huống chi các thứ khác. Nay nói đã là y cứ duyên trong ngoại có tâm, không tâm. Có tâm, không tâm xưa nay là hữu lậu, đâu cho y cứ theo đây mà phán Sanh, Vô sanh. Như người phòng lửa tất cả đều phòng, nếu chỉ phòng phát chẳng phòng chưa phát thì sẽ bị lửa chưa phát đối tiêu, quán rồi dùng tâm Phật phòng ở dục sanh, chánh sanh. Người quán Vô sanh chỉ quán ở tâm chánh khởi, khiến tâm chẳng khởi, chẳng khởi quán ở tâm chưa khởi, tâm thể vốn không đã vốn không, khởi cũng chẳng khởi. Đây là đối sáu trần trong nhân gian mà khởi diệt tâm sanh Vô sanh. Như diệt tâm này còn chẳng tự biết huống chi là biết, tâm Dục Sắc Vô sắc, huống chi lại chiết thể và thiên tiểu. Viên Vô sanh tâm còn phải quán sát, huống chi lại các thứ khác. Lại quán bốn vận, là tùy tự ý mình, từ sự mà tu quán pháp. Như thường ngồi hoặc chỉ quán lý, nghĩa là tất cả pháp đều là pháp tánh. Cho nên phải biết người tu Tam-muội ở hai đường này chẳng thể bỏ một. Cho nên kinh Chiêm Sát chép: Quán có hai thứ: Một là duy thức, nghĩa là tất cả chỉ là tâm (duy tâm); hai là Thật quán, nghĩa là quán chân như. Duy thức thì trải việc, chân như thì quán lý. Nay văn quán mười giới bốn vận, nghĩa phải xem xét tất cả duy tâm. Cho nên văn nay chép: Hiểu rõ được bốn thứ này thì vào vô tướng. Nếu cũng thứ lớp quán mười bốn vận gọi là cảnh không thể nghĩ bàn. Đạt chín giới tức là Phật pháp giới thì gọi là không thể nghĩ bàn, nhưng vẫn phải phát tâm cho đến lìa ái, mới thành tướng một nhà vào đạo. Cho nên Phó Đại sĩ có bài thơ rằng:

Riêng mình tự hỏi tâm ta mê đắm gì.

Xem xét bốn vận và Vô sanh,

Muôn ngàn mối manh sao cột được.

Phải biết Đại sĩ Vô Cấu cũng dùng bốn vận mà làm tâm yếu, Đại sĩ tuy tức chẳng nói mười giới, đã nói muôn mối ý cũng gồm. Như sáu mươi bốn câu sau lần lượt suy tìm. Cho nên Đại sĩ cũng nói xem xét. Nói nhất tướng, vô tướng, là chín giới bốn tướng đều chẳng thật có gọi là một tướng. Một tướng tự không gọi là vô tướng. Hỏi: trở xuống là phân biệt hai tâm đã và chưa ý hỏi là bác bỏ người, chỉ quán chánh khởi, cho nên trước chép: Hai thứ vô tâm này làm sao quán được. Đáp: Trong hai phen trước đáp chưa niệm, kế đáp đã niệm, hai phen đều có pháp thị hợp. Pháp đầu, chỉ là vị khởi, gọi là không, đã chẳng phải hẳn không cho nên phải quán. Như người trở xuống là thí, làm và chẳng làm tự y cứ sự trước, sự tuy có không nhưng người chẳng thể diệt. Tâm cũng trở xuống là hợp. Niệm và chưa niệm, tự y cứ duyên trước. Duyên tuy có không nhưng tâm chẳng thể diệt. Tâm đã chẳng diệt thì do đây mà có thể rộng khởi tất cả tâm. Cho nên quán nó chẳng khiến duyên hoặc, hoặc tức chín giới quán vào tâm Phật. Tác tác là làm việc nên gọi tác tác. Kế niệm dĩ trở xuống là đáp phen thứ hai. Nhìn sự làm tâm mình chẳng thể không. Như người trở xuống là thí, niệm dĩ trở xuống là hợp. Kế hỏi, là dẫn kinh Kim cương Tâm ba đời chẳng thật có, Dĩ tức quá khứ, vị tức vị lai, hiện tại còn không, làm sao nói quán tâm ba đời. Đáp: ở trước đều không phải. Nếu quá khứ trở xuống là đáp riêng. Trước nhắc lại câu hỏi trước, kế hỏi vì sao trở xuống là chánh đáp. Như điều ông hỏi chẳng quán ba đời, vì sao bậc Thánh quán tâm ba đời. Quỉ thần trở xuống là nêu kém bày hơn. Vì sao trở xuống là bác bỏ ngược lại, quỉ thần là loại thấp còn biết ba đời, chẳng lẽ trong Phật pháp khiến không có ba đời. Hỏi: vì sao Quỉ thần biết ba đời? Đáp: Như trong Bà-sa có quỉ nhập vào cô gái. Thầy bùa hỏi vì sao quấy nhiễu người khác, thì đáp: Cô gái trong năm trăm đời là kẻ thù của ta, vì thường giết ta, ta cũng thường giết nó. Nếu nó bỏ âm, oán thì ta cũng bỏ. Người ta liền bảo cô gái bỏ tâm oán, cô gái nói bỏ rồi. Quỉ thấy cô gái tuy miệng nói bỏ mà tâm chưa bỏ, liền giết chết cô gái. Đã biết mình người quá khứ, hiện tại, vị lai thì y theo đây mà biết. Đề phòng oán vị lai nên giết hiện tại. Lại như địa ngục là thấp nhất, cũng biết quá khứ, như nói xưa làm vua nước Bà-la-môn, vì ta nói pháp mà chẳng chịu tin nhận nên phải chịu khổ này. Lại biết cùng tạo tội ấy mà vào địa ngục. Quỉ và địa ngục còn biết nhân quả cách sanh ba đời, vì sao làm người mà chẳng biết sát-na sanh diệt ba đời. Lông rùa sừng thỏ lấy hai vật này dụ cho đoạn kiến. Ông dẫn ba đời đều chẳng thật có, liền bảo không tâm như hai vật kia, một bề đều không. Đây gọi là đoạn kiến. Cho nên Thành Luận chép: Lông rùa sừng thỏ, muối thơm chân rắn, mầu gió, v.v… nên gọi là không. Đây là lấy thỏ chạy rùa nước làm dụ, nếu thỏ bay rùa đất thì cho có lông sừng. Cho nên Đại Kinh chép: Như lông rùa nước như sừng thỏ chạy. Phải biết trở xuống là kết. Tâm ba đời là cảnh quán. Không phải đoạn không phải thường vì sao? Vì chẳng phải thường cho nên không thật, chẳng phải đoạn cho nên có thể quán. Vì chẳng thật mà nói mãi không, vì chẳng thật cho nên có thể làm cảnh quán. Cho nên dẫn kệ. Lời Phật nói ra đều không phải đoạn thường, vì sao lại khởi kiến chấp đoạn diệt. Nếu khởi trở xuống là kết thúc bác bỏ. Khởi kiến đoạn diệt không có cảnh quán. Cảnh quán đã không, tất cả nhân quả muôn hạnh đều mất, cho nên phải quán hai tâm Vị Dĩ, vì thế mà biết kinh ông dẫn chẳng hợp giáo chỉ. Cái gọi là ba đời chẳng thật có. Chỉ nói không thật ai bảo mãi không. Cho nên phải biết hai đế của Phật pháp. Tục đế cho nên có, chân đế cho nên không. Chẳng thể vì không mà khó có. Cho nên Kim cương quán tục đế, Tục thể chẳng thật gọi là chẳng thật có. Hành giả trở xuống là khuyến tấn, đã biết tâm có mười giới bốn vận tùy khởi mà quán, thiện ác tức là sáu đường, các niệm chung bốn thánh. Chẳng trụ chín giới tức quán chín cõi, nên gọi phản chiếu. Lại, thiện ác là bày sự thiện ác, đều phải quán sát. Cho nên văn sau liền dùng thiện trải tác thọ mà làm cảnh quán. Cho nên trải mười giới để hiển bày vô trụ. Kế trải trở xuống là chánh y cứ các thiện. Trước bày bỏ rộng theo lược. kế nói ý trải mười hai sự, trải mười hai sự và luận bàn. Thọ nghĩa là lãnh nạp sáu trần. Tác là làm, thực hành đây là sáu tướng. Hỏi: vì sao im lặng gọi là thực hành? Đáp: Là thực hành sự im lặng, chẳng ngoài mười giới. Trước nói nếu có các trần, trần sanh thọ, cho nên khiến có trần là y cứ thọ khởi quán. Nên nói phải bỏ. Tuy dùng bỏ nêu trước ắt sáu độ đầy đủ rộng như giải thích ở sau. Nếu không có tài vật, v.v…, là tài vật tuy nhiều mà không ngoài sáu trần. Cho nên không có tài vật lại bỏ các trần, chỉ chuyên sáu tác để đủ sáu độ. Tu sáu tác là đều quán trần, tùy giới hạn mà tu quán cho nên tu quán, vì vậy cùng nói. Trong ba chánh giải thích trước thọ kế tác, tác thọ cùng tu, trong sự đàn thiện khiến thành pháp giới. Sau đều luận sáu sáu cũng như thế, mới gọi là tùy tự ý quán. Ba quán trọng thọ, trước không kế giả, sau nói Quán trung. Trong trước quán không còn trước nhắc lại bốn vận mà làm cảnh quán. Lại quán ngược trở xuống là chánh nói không. Trong quán chép: Trong ra chẳng đợi nhân duyên, đây là theo lời nói tiện, đáng lẽ nói trong ra, nhân chẳng đợi duyên. Chỗ quán trở xuống là quán không thành tướng. Hỏi: kinh Tịnh Danh chép: sắc Sở quán và người mù. Nay vì sao nói sở quán như không, năng quán như người mù? Đáp: kinh Tịnh Danh chép: Sở chánh hiển năng, năng như mù nên sở thấy như không, sở thấy không nên năng như mù. Bản dịch đó là khéo dùng sở mà nói năng. Nay giải thích ý đó nên phân ra năng sở không minh đều chẳng thấy, khi mắt thấy sắc thì năm duyên hòa hợp mới thấy được. Gọi là không minh là căn cảnh thức tai mũi lưỡi thân chẳng nhờ duyên minh. Bốn duyên kia chẳng khác với mắt. Nay văn nói lược nên chẳng nói Thức. Cũng là thức đủ như các duyên trên mà được thành thấy. Chẳng đồng Tiểu thừa hoặc nói thức thấy hoặc nói căn thấy. Nhân duyên trở xuống là kế nói quán giả. Văn đầu nhắc lại quán không ở trước, từ duyên sanh pháp, vì mười giới mà làm nhân chung, lại dùng vô gián diệt ý để làm nhân căn trần không minh để làm duyên. nhân duyên hòa hợp mà sanh nhãn thức. Nhãn thức nhân duyên sanh ý thức, là nhãn thức làm nhân cũng dùng căn trần không minh làm duyên. Vô gián thứ lớp sanh từ ý thức, nương ý thức mà có nhãn thức. Chỉ do ý thức vô gián diệt nhân thành ý căn, khi đối các cảnh khác lai sanh nhãn thức. Cho nên hai thức lại làm nhân cho nhau. Kế nói riêng mười giới, trước trong bốn đường, nhãn thức năng thấy v.v… Đây là y theo Kinh bộ, nương gần Tiểu thừa nên nói thức thấy. Do đây mà lần lượt lại làm nhân duyên cho nhau. Thứ lớp như thế sanh ở mười giới, tham nhiễm ở sắc, v.v…, tham là hoặc gốc, hủy giới đọa địa ngục. Hủy giới nói đủ như trong Thiên tụ trì phạm. Thật yêu mà nói thì chẳng rơi vào siễm cuống. Chấp ngã, ngã sở. Hỏi: tất cả phàm phu ai được khỏi mà riêng xếp vào súc sanh bốn vận. Đáp: Lời chung mà ý riêng. Nếu ngang với thánh mà dứt thì đây là thuộc ý chung, trong đây dùng quyến thuộc làm sở. Kế trong trời, người, tha tuệ ngã sắc chẳng cho thì chẳng lấy, tha tuệ bèn lấy lìa chẳng cho mà lấy. Câu dưới hiển trên thành nghĩa tha tuệ. Chẳng tuệ chẳng lấy nên nói chẳng cho thì chẳng lấy. Vì lễ mà quên tiền tài gọi là tha tuệ. Nếu vì cha mẹ, người chồng mà hộ trì Phật pháp, thì chẳng tuệ mà lấy gọi là chẳng cho mà lấy, tha tuệ lại lìa phi thời, phi xứ, phi lý, phi lượng và huyễn mại v.v… Luận riêng tuy như thế, ý chung rất dễ hiểu. Sắc kia trần kia giới kia đều như hế. Cho nên phải nói về năm thứ như nhân nhượng, v.v…. Nhượng là nghĩa, Trinh là chánh, thanh chánh tự giữ tức là lễ, là qui cũ trong động. minh là trí có quyền biến. Các tên xưa, năm thường nếu đủ, năm giới sẽ toàn, nếu mười thiện đủ, thì mười ác sẽ dứt. Bắt đầu là cõi Dục địa cư trời người, cõi Dục không cư và Sắc, Vô sắc, văn lược nên chẳng nói. Quán bốn vận trở xuống là nói Nhị thừa bốn vận. Trong văn trước nêu bốn niệm xứ quán, hiển bày Thanh văn thừa, vô thường nên sanh diệt, bất tịnh nên chẳng trụ, khổ nên ba thọ, vô ngã nên chẳng tự tại. Kế một câu nhân duyên hiển bày Phật giới. Quán rồi trở xuống là trong giới Bồ-tát mở ba Bồ-tát. So sánh với văn sau các cảnh của Bồ-tát nghĩ bàn cũng có ba. Trước là sáu độ, Tự thương xót nên tổn hại mình, thương kia nên quán khác. Vì sao trở xuống là giải thích tướng sáu độ. Bỏ chẳng thể mất một câu bác bỏ ba tạng gồm ý minh thông. Bác bỏ ba tạng là cũng gồm phàm phu, vì các phàm phu cũng làm sự độ. Tuy tức chẳng kịp, Bồ-tát ba tạng là y cứ nghĩa chẳng thể mất. Nay quán trở xuống là chánh nói là quán chung ba việc đều không. Trong đây ba việc tùy cảnh khởi quán, không gọi là người thí và tài vật. Phải nói căn trần cho đến người nhận. Kim cương trở xuống là dẫn chứng. Kinh chép: Chẳng trụ chánh đáng, chẳng trụ sáu trần thực hành thí. Nếu chẳng trụ trần tức là chẳng trụ căn và thọ giả. Bố thí đã như thế thì năm thứ kia cũng như thế. Lại trần tức tài vật thấy trần là không cho nên thí và nhận đều không. Cho nên nghĩa hai chỗ ba việc bằng nhau. Như người trở xuống là nêu thí dụ. Trụ tướng như tối thì trí nhãn (mất trí) chẳng mở, chẳng thể thấy tất cả đều vô tướng. Không trì như mắt, chẳng trụ như mặt trời có mắt mặt trời nên thấy ba việc là không. Cho nên biết hai nghĩa vô trước và không tuệ đều cần, mới thấy ba việc là không. Cho đến sáu mươi hai kiến tất cả đều không, nên nói các thứ. Nói thẳng trở xuống là trùng tiêu kinh ý, kinh bị lợi căn nói thẳng chẳng thấy. Vì nói lược nên tướng cũng khó hiểu. Cho nên nay lại giải thích chẳng trụ bốn câu mới gọi là chẳng trụ, cho đến chẳng trụ sáu mươi hai kiến gọi là đàn vô tướng, cho nên biết văn trước không có bốn tướng, chỉ lìa sáu mươi hai kiến thành Kim cương lìa ngã nhân, v.v… gọi là Bồ-tát, không phải chỉ có Sơ quả phá kiến mà thôi. Cho nên biết chỉ là chân đế vô tướng. Nói sáu mươi hai kiến, thì Đại Kinh quyển hai mươi tám giải thích công đức thứ tám có nói bảo lìa năm việc tức năm kiến, nhân năm kiến ấy sanh sáu mươi hai. Chương An chép: ở đây có hai ý: Một là ngã kiến có năm mươi sáu, nghĩa là năm ấm cõi Dục đều kể bốn câu, hợp thành hai mươi, cõi sắc cũng như thế, Vô sắc trừ sắc chỉ có mười sáu. Cho nên biết ba cõi hợp thành năm mươi sáu y. Biên kiến có sáu, ba cõi đều có hai, đó là đoạn thường kiến hợp thêm trước thành sáu mươi hai kiến; Hai là năm ấm ba đời đều kể đoạn thường, dùng hai kiến có không làm căn bản. Ở đây y theo văn Đại luận quyển sáu mươi tám, nghĩa là sắc như trở xuống v.v… bốn câu, bốn ấm cũng như thế, hợp thành hai mươi câu, đây là kể đời quá khứ. Lại kể sắc thường, v.v… bốn câu, bốn ấm cũng như thế, hợp hai mươi câu, đây là chấp hiện tại. Lại chấp sắc có biến, v.v… bốn câu, bốn ấm cũng như thế hợp thành hai mươi câu, tức chấp vị lai. Mỗi câu sau đều nói thần và thế gian, ba đời sáu mươi đều có không hai. Luận Thích nói phàm phu chấp trước có thần ngã. Nếu người chấp thường thì tu phước diệt tội, nếu người chấp vô thường thì vì danh lợi thế gian nên có chỗ làm. Nếu chấp vừa thường vừa vô thường thì chỉ là song chấp hai câu một và hai, cho nên đối với thần ngã vì chấp thô tế làm câu thứ ba. Chấp thần thô thì thân chết vô thường. Chấp thần tế thì thân chết bất diệt. Chấp cùng chẳng sai thì thấy chấp thứ ba, hai thứ đều có lỗi. Vì sao? Vì thường thì chẳng biến cũng như hư không gió mưa chẳng động. Nếu vô thường thì có biến động, như mưa ở da thì có hư rã. Lìa hai lỗi này do tâm ta nên lại nói có thần, thần chỉ có chẳng phải thường chẳng phải vô thường mà thôi. Phật nói bốn thứ đều tà kiến, đây là chấp thần. Thế gian tức là cõi nước. Cho nên thần ở thế gian cũng có bốn kiến. Nói chấp thường, thì hỏi rằng nếu cõi vốn không thì chấp phải có lầm. Thế gian là có vì sao tà kiến. Đáp: Phá thế gian là phá tư tưởng thường. Chẳng phá thế gian như người không có mắt lấy rắn làm đẹp. Người có mắt nói đó là rắn, không phải chuỗi anh lạc. Phá đảo cũng như thế. Hiện thấy vô thường chẳng được nói là thường. Hai câu ba, bốn y theo nói mà biết. Có biên, v.v… là người ngoài cầu độ không được thỉ ấy liền nói không có chung. Trong vô thỉ mà chung thì gọi là không biên, chấp có ba thứ này gọi là có biên. Như người có thiền chấp tám muôn kiếp. Hai câu ba, bốn chuẩn đây mà biết. Cũng có người chép: Câu thứ ba là tám phương có biên giới, trên dưới không biên giới. Có người chép: Trên đến trời Hữu Đảnh, dưới đến địa ngục mà tám phương không biên giới, là chấp thần hoặc như hạt cải, v.v. Cũng có chấp độ và dùng thần ngã cùng chấp có không thành hai câu ba, bốn. Y theo đây rất dễ hiểu. Như đi, v.v… là như người ấy tới lui đến đời sau gọi là như đi, nghĩa là đời trước không đến, chết rồi cũng không đi thì gọi là chẳng như đi. Nếu bảo chết rồi là đi mà thần vẫn không đi thì gọi là câu thứ ba. Thấy đều có lỗi chấp câu thứ tư. Luận văn rất rộng, phải ở trong đó mà tìm. Như trong Bà-sa cũng lập sáu mươi lăm kiến, tức ở trong năm ấm đều chấp bốn ấm làm ngã sở, gọi sắc là ngã, thọ là tôi tớ, anh lạc là nhà cửa. Ba ấm cũng như thế. Hợp ngã và ngã sở đều có mười ba câu; Ba là ngã sở, do đó Phật nói lìa sáu mươi lăm, vì nói Đạo phẩm thành đạo Thanh văn, cho đến Bồ-đề. Cho nên biết phá kiến được pháp khác nhau. Nay đây chưa đủ Hằng sa Phật pháp, lại có thể lợi tha thành thông Bồ-tát, mới bắt đầu (vượt qua) ở phần đoạn bờ kia. Nói tất cả pháp thú. Nói trong đây Thông giáo vì sao nói tất cả pháp thú. Nhưng chỉ nói thú chẳng nói thú ấy chẳng lỗi và chẳng thật có. Cho nên thuộc về Thông giáo. Do đó tất cả nói pháp thú tên ấy cũng thông. Như Huyền Văn chép: Đi khắp các cõi mười phương, trở lại như ở trong bình. Nay văn dưới nơi nơi dẫn tất cả pháp thú, v.v… để chứng ba đế, ý nói thì viên. Lại dùng Luận ấy không phải chuyên một văn, vì theo nghĩa nên chẳng thể chấp văn. Đại phẩm chép: Tất cả pháp thú là một pháp. Đại luận hai văn cùng giải thích câu này. Câu đầu nói vì sao Bồ-tát là thế gian thú, cho nên phát tâm Bồ-đề? Bồ-tát vì chúng sanh nói sắc thú là không, cho đến chủng trí, vì chúng sanh cho nên sắc chẳng phải thú, chẳng phải chẳng thú, cho đến chủng trí. Kế văn chép: Vì chúng sanh nên nói tất cả pháp thú không, vô tướng, vô nguyện, thú ấy chẳng lỗi. Vì sao? Vì trong không, vô tướng, thú và chẳng thú không thật có. Vãn đầu lấy năng thù làm giả, trải đủ sắc tâm cho đến chủng trí. Cho nên biết tất cả pháp tức là giả. Sở thú là không, chẳng phải thú chẳng phải chẳng thú là trung. Văn kế năng từ sở làm không Thú ấy bất quá là giả, thú chẳng thú chẳng thật có là trung. Sau đây các văn dùng lời tiêu dị. Hai ý trong giả toàn là nương luận văn, kế chỉ so sánh ra. Cho nên nói tất cả pháp thú sắc sắc còn chẳng thật có, làm sao có thú và chẳng phải thú. Vì sao? Vì tất cả pháp thú sắc năng sở đều giả, sắc chẳng thật có, tất cả pháp cũng chẳng thật có. Năng sở đều không, thú chẳng thú chẳng thật có, tức chẳng trụ hai bên là chánh hiển bày Trung đạo. Lời khác mà ý đồng suy nghĩ sẽ thấy. Lại quán trở xuống là Phật bốn vận Thông giáo, nên bốn đức danh nghĩa chẳng chẳng liên quan với Biệt. Chân đế như không, chẳng thay đổi nên Thường, chẳng chịu ba khổ giới nội nên lạc. Chẳng bị sáu đường khởi nghiệp nên Ngã, chẳng bị kiến tư làm ô nhiễm nên Tịnh. Cho nên biết tức là chung bốn đức của Phật. Như thế trở xuống là nêu giả bốn vận. Tuy như Thông giáo quán ở tức không, trong không thấy đủ mười giới bốn vận. Cho nên nói các thứ, ở đây thuộc Biệt giáo, cho nên nói giả danh. Nếu lấy bốn đức làm viên Phật giới, trong văn Bồ-tát hoàn toàn không có Hằng sa tướng trạng Biệt giáo. cho nên thông bốn đức Phật của chỉ nói hư không cho đến chẳng nhiễm. Đến đây mới gọi là giả danh bốn vận. Nếu không trở xuống là Trung đạo bốn vận, cho nên biết Trung đạo phải ở mười giới không giả mà nói về trung, mới gọi Viên Trung. Trung là Phật giới đối trước mà thành mười, do đó chín thứ trước nghĩa là nghĩ bàn, còn Phật giới là không thể nghĩ bàn. Trong so sánh với năm trần khác chỉ dùng viên tâm mà giác liễu ba đế, v.v… Kế quán trở xuống là y cứ sáu tác. Trung Chu cũng nói xuất xử nói nín, xuất xử tức là đi đứng ngồi nằm, nhưng Trang Chu chẳng nói lấy làm cảnh quán. Nay có ba quán, quán không y theo ý trước cũng rất dễ thấy. Nhưng do trở xuống là quán giả. Do tâm động dịch làm. Do mười giới nghĩa là do tâm này làm việc gì đi đứng, v.v… Hủy giới là địa ngục, gạt người là quỉ, quyến thuộc là súc, thắng người khác là tu-la, nghĩa nhương là người. Thiện là mười trời thiện dục. Thiền là Tứ thiền sắc thiên. Lược không có Vô sắc, Niết-bàn là Nhị thừa. Từ bi trở xuống là sáu độ Bồ-tát. Phương tiện trở xuống là Bồ-tát thông giáo. Huống gì làso sánh dáng mạo vô hình chẳng thật. Giở chân, hạ chân cùng không tương ưng, vì thế mất năng sở, cho đến gần xa. Hễ có làm gì, nếu có một niệm chẳng phải ở không thì gọi là chết uổng. Như thế trở xuống là Biệt giáo. Không tâm vào giả, nên nói như thế, nhiếp không thành giả nên nói Hằng sa. Tướng Văn đã hẹp nghĩa cũng gồm Thông giáo xuất giả, vừa nói Thông giáo chỉ nói không gian, chẳng chia ba thừa không giả khác nhau. Lại người Biệt giáo chỉ chín giới trước nên nói như thế. Chín giới đã không, không tức chín giới. Cho nên thành Biệt giáo Hằng sa Phật pháp. Lại quán một vận trở xuống là quán Trung đạo. Chẳng phải một chẳng phải mười, y theo trước nói. Cho nên Pháp Hoa trở xuống là dẫn chứng. Hỏi: Sao dẫn bỏ y để thọ đàn chứng tác. Đáp: Văn thế theo nhau, chung dẫn bỏ phục để thọ đàn chứng tác, và dẫn Phật đạo để chứng Viên trung. Trước y cứ trở xuống là y cứ mười hai việc đều nói sáu. Trước nêu đồng khác. Mười hai sự trước đều nói đàn (bố thí) nên nói cộng. Nay mỗi việc đều nói đủ sáu, nên nói là đều. Lại trước nói chung về đàn ở mười hai sự, mỗi chỗ đều nói tướng đàn mười giới. Nay đều trong luận y cứ ví dụ cũng phải đầy đủ như trước nêu mười hai việc. Mỗi chỗ đều nói sáu độ mười giới. Văn vì theo lược, có khi chín giới có khi chỉ có Phật giới. Rộng lược đồng hình cùng thành viên ý. Lại vì sao chỉ mười hai mỗi có sáu, trong sáu mỗi đều đủ sáu, cho nên mỗi cõi dùng năm thứ kia để trang nghiêm tức là dùng năm nghiêm để đàn cho đến dùng năm để nghiêm, trí năng sở hợp nói chung đều gọi đủ sáu. Các kinh Đại thừa, Thủ-lăng-nghiêm, Đại luận, Đại Phẩm v.v… sáu độ đều như thế. Cho nên nay y theo đó để nói tướng của độ. Văn này dùng Thủ-lăng-nghiêm cũng như phẩm nhiếp nhau của Đại luận chép: Phú-lâu-na bạch Phật rằng: Nay con muốn nói hạnh Bồ-tát. Phật bảo: Tùy ý ông nói. Bèn nói rộng sáu độ, lại hiển bày nhau, bèn thành sáu lần sáu là ba mươi sáu (. = 3) độ. Cho nên chép: Hoặc dùng thí làm tên mà nói các Ba-lamật. Cho đến hoặc dùng Bát-nhã làm tên mà nói các Ba-la-mật. Năm độ vào một, từ một làm tên. Lại luận Nhiếp Đại thừa cùng hiển chương. Phẩm Vô Đoạn trong kinh Anh Lạc thì ý đồng với Lăng-nghiêm. Đại luận quyển tám mươi hai hỏi rằng: Nếu trang nghiêm nhau, vì sao chỉ dùng đàn làm đầu? Đáp: Do nhiếp sanh tiện, sang hèn cho đến súc sanh thì đàn đều nhiếp, cho đến xoay vần làm thân các tướng tốt Phật đều từ thí mà sanh, như nói này thì vẫn thuộc giáo đạo. Nếu nói theo chứng đạo thì đều là pháp giới. Nhiếp không trước sau, ai nói thứ lớp, trong hành văn đầu đủ sáu đàn cùng năng nghiêm văn tướng thứ lớp chẳng giả, nói riêng năng nghiêm sở nghiêm. Văn đầu nói mắt đại bi, như Thắng Thiên Vương nói Bồ-tát khi đi nhìn về trước sáu thước, song chỗ đất bằng phẳng chẳng nhìn hai bên, chẳng khuấy não chúng sanh, thấy các chúng sanh như con ruột không nghiêng lệch gọi là mắt đại bi. Cho nên biết Bồ-tát nhìn các chúng sanh, tự tướng muốn ban cho nó một vui thật và cứu hai khổ. Mắt nhìn đã thế thì năm căn cũng theo đó. Ở Bồtát được vô úy, thì chánh đáng không tài, vận ở sáu tác, vì thí vô úy nên gọi là Đàn. Ở chúng sanh không thương tổn là xứng lý mà quán chẳng nghiêng lệch không giả, chẳng làm hoại thật tướng nên nói không tổn. Tổn cũng là giảm bớt. Tức là Ương-quật chẳng bớt tu. Thấy tội phước pháp giới gọi là không tội phước, chẳng thuộc về không giả gọi là tâm tưởng chẳng khởi. Tưởng chẳng khởi nên gọi là không lay động. Khắp tất cả chỗ gọi là vô trụ. Âm là pháp giới nên cũng bất động. Tâm không có nghĩ trước, v.v… là niệm niệm xứng lý không chấp ngang trái tư sau mới giác liễu. Cho nên Khởi Tín chép: Biết niệm trước khởi ác, cấm ngăn niệm sau khiến nó chẳng khởi. Tuy gọi giác nhưng tức là chẳng giác. Tư tức pháp giới thì người giác là ai. Tuy là chẳng giác nhưng gọi là giác. Đối với tất cả pháp v.v… niệm niệm pháp giới. Cho nên chẳng bị sanh diệt làm đứt quãng. Chẳng có thân tâm v.v… Chẳng được hai biên, biên tức là Trung. Trong thiền đã thế. Trước sau lệ theo đó, lời khác mà ý đồng, phải khéo phân biệt. Không thọ, v.v… là chẳng lãnh thọ biên, chẳng nghĩ chấp Trung, chẳng vì Niết-bàn, chẳng loạn sanh tử, đầu v.v… là sáu phân. Hành thời (khi đi) như ảnh (bóng), chẳng bảo lại có hai tay hai chân thân và đầu khác nhau. Như mây như ảnh trở xuống là trong mười dụ mà nói. Tuy đủ pháp giới mà có tới lui. Tới lui không thật nên gọi là như ảnh (bóng). Chẳng đồng Thông giáo, huyễn hóa tức không. Không có sanh của sanh tử, diệt của Niết-bàn, Nhị thừa không đoạn phàm phu chấp thường. Năm ấm tức là rốt ráo không. Cho nên không có hai bên buộc và thoát. Đủ như trở xuống là chánh chỉ Lăng-nghiêm để bày công thức cùng trang nghiêm nhau. Kinh ấy Phật bảo Kiên Ý rằng: Làm sao trong một niệm mà thực hành sáu độ? Đáp: Bồ-tát ấy tất cả đều bỏ, tâm không tham đắm nên gọi là Đàn. Tâm khéo vắng lặng rốt ráo không ác, nên gọi là Thi (giới). Biết pháp tướng hết ở trong các trần mà không có sự thương tổn, gọi là sằn-đề, siêng quán chọn tâm, hay biết lìa tướng nên gọi Tỳ-lê-da. Rốt ráo thiên tịch điều phục tâm ấy, gọi là Thiền-na. Biết tâm không tâm, thông suốt tướng tâm gọi là Bát-nhã. Văn nay rộng theo ý văn kinh ấy. Cho nên cùng nó đại đồng mà tiểu khác. Hỏi: Lời văn đã thông, vì sao biết được văn ấy ở Viên mà dẫn ra chứng viên. Đáp: Trong kinh ấy Phật vì Kiên Ý mà nói rộng văn thứ lớp xong, Phật hỏi Kiên Ý vì sao một niệm mà thực hành đủ sáu độ. Kiên Ý bèn dùng văn này đáp lời Phật. Cho nên biết thứ lớp sau giải thích viên mà nói. Chẳng thấy ý kinh này liền bảo giải thích này là vọng đoán. Cho nên đời gần đây giải thích mười lực đều bỏ văn này. Khiến kẻ học sau viên hạnh không có chỗ gửi gắm. Văn này y theo đó trải qua tất cả pháp đều là tướng sáu độ vô tác. Cho nên Pháp Hoa chép: xưa nhân giả nhận châu báu anh lạc pháp thí nầy. Anh lạc là tài, tài tức pháp. Lại trong hạnh trở xuống là biện lại thiền tuệ Ba-lamật, đều trước nêu lỗi, sau nói đức. Văn trước tức là nêu lỗi của thiền. Tuy nói Lăng-nghiêm ở pháp khởi mê đắm nên nói sanh nhiễm. Nay quán trở xuống là nói đức, quán tâm năng trước, trước còn không tâm, chẳng lẽ lại chấp Lăng-nghiêm là chỗ nhất định. Phải biết trở xuống là xếp lại. Nói có định là từ điên đảo sanh, như thế trở xuống là kết. Có tướng định loạn chẳng lẽ lại thấy không và chẳng không, tức phá tướng định, sanh nhiễm tức lìa phược tham đắm thiền vị. Thể đồng pháp giới, ứng khắp tất cả, gọi là phương tiện sanh. Hành giả trở xuống là nêu lỗi tuệ. Có người hay chấp mình là thô, huống chi là tự cao đâu gọi là tuệ.

Trước tâm chướng trí gọi là trí chướng ngại. Tất cả ngoại đạo đều tự cho là đúng. Nay đã tự cao lại đồng ngoại đạo đâu chỉ lỗi trong trí mà thôi. Đại luận chép: Nếu có Bồ-tát đối với các Bồ-tát khác nghĩ rằng: Ông không có việc đó, chỉ riêng ta có. Vì nhân duyên ấy nên lại mất đạo. Cho nên Đại Phẩm chép: Có Bồ-tát kia khinh các Bồ-tát khác trải một niệm, trải qua một kiếp xa với Phật đạo. Lại trải một kiếp tu hành Phật đạo. Cho nên chẳng tự cao, cũng chẳng hạ thấp người khác. Tức phản trở xuống là nói đức. Phản quán năng tâm trước là trung trí. Người quán là ta, người không phải quán là người tán tâm, tâm trung trí không có hai đối đãi đó. Người quán đã không trở xuống là rõ chấp, không có chỗ quán cũng phá. Chẳng được trở xuống là lại phá năng chấp. Đây là ý chánh nên lại nói. Đại luận trở xuống là dẫn chứng phá tưởng chấp năng quán có trung trí gọi là hý luận. Niệm tưởng ở ý hý luận thường ở miệng. Nói hẳn giả tâm gọi là Tâm hý luận. Nay diệt gốc ấy nên niệm tưởng dứt hết gọi là hý luận diệt. Do hý luận mà sanh các tội, nên hý luận diệt thì gọi là các tội trừ. Gốc tu trung trí do dính mắc, chướng ngại trung. Cho nên các tội trừ, còn gốc thường là một. Như thế, v.v… người vô trước ở đây mới thấy diệu trí. Đại Tập quán tâm tâm, tức là tâm sở quán và tưởng năng quán, gọi là quán tâm tâm. Nếu chẳng đều quán lại sanh hý luận. Chiếu được như thế thì cũng gọi là Thường một. Cho nên nói tức tưởng này. Như thế trở xuống là kết thành văn trước thành ba Tam-muội. Sau đạo phẩm đã mở ba thoát sáu độ đạo phẩm tên khác mà nghĩa đồng. Cho nên sáu độ sau kết thành ba thoát sáu độ đạo phẩm là tướng đồng khác, đến quyển thứ bảy trong Trợ Đạo có nói. Nay sáu độ này đã là vô tác, nên ba Tam-muội phải từ viên mà giải thích, cũng như quyển bảy giải thích đạo phẩm sau. Lại phá trở xuống là kết thành các Ba-la-mật, phá đảo cho nên độc diệt, đạo diệt cho nên việt, có việt nên có hàng ma, hàng ma cho nên đủ Ba-la-mật, ba đảo tức là tâm, tưởng, kiến nầy thuộc về kiến hoặc. Ba độc tức là tham, sân, si. Đây thuộc tu hoặc. Ba hữu lưu, tức là Dục, Sắc và Vô sắc nhân quả chẳng dừng nên gọi là lưu (dòng chảy), nhận chìm hành giả nên gọi là lưu. Bốn ma tức là phiền não, v.v… ở dưới cảnh ma. Ma là kẻ thù của Phật nên gọi ma oán. Ba đảo này văn gần mà nghĩa xa, nên phân làm hai ý. Nếu thô hoặc, tức là người viên thô hoặc trừ trước. Nếu tế hoặc, thì phải cùng y cứ giới ngoại mà giải thích đồng thể, kiêm tu biến dịch ba cõi, giới ngoại bốn ma cho đến thô tế thể một, mới gọi là Viên Bala-mật. Nhiếp thọ trạch diệt là huống thích còn thành tất cả, huống là chỗ phá ba đảo như trên và phá bốn ma, thành ba Tam-muội. Kế lại trở xuống là dùng Thi làm đầu, dùng năm trang nghiêm trải mười hai việc. Trước nói thi để trải mười hai, là trước nói trong đàn dẫn đầu là Lăngnghiêm nghĩa viên lời chung. Trong nói thi này nêu riêng tướng quán. Trước y cứ tác thọ để nói cảnh quán. Quán cảnh kể lại sự tướng mà thôi. Đối trần chế tâm nên dụ bát dầu. Sáu tác cử động nên nói oai nghi. Nói bát dầu là Đại Kinh quyển hai mươi chép: Thí như ở thế gian có các đại chúng đầy khắp hai mươi lăm dặm, vua ra ví dụnh cho một vị quan cầm một cái bát dầu để đi ngang qua đó mà không làm đổ dầu, nếu mất một giọt sẽ bị giết chết. Lại sai một người vác dao theo sau. Ông quan vâng lịnh vua đi mà hết lòng giữ gìn, đi qua giữa chúng đông, tuy thấy năm dục mà tâm luôn buộc niệm, nếu buông lung mà bỏ giữ gìn mạng sống thì hết cứu. Cho nên người này sợ sệt chẳng đổ một giọt dầu. Bồ-tát cũng như thế, ở trong sanh tử chẳng mất niệm tuệ. Tuy thấy năm dục mà tâm chẳng tham đắm. Chỉ quán ấm khổ chẳng sanh chẳng diệt năm căn thanh tịnh mà được giới căn. Kinh Hoan Hỷ Hành lời khác sự đồng. Chỉ gọi trở xuống là bác bỏ sự. Sự tướng trì giới chỉ có thể thoát khỏi ba đường, trời người yêu kính, chẳng gọi là ba đế Tam-muội hai chết bờ kia. Theo lý cũng phải bác bỏ trì giới đọa ba đường ác. Như trong Đại kinh nói có ba thiên sự đọa ba đường ác. Nay chưa rảnh để nói sanh lên cõi trời cõi người còn bác bỏ vô lý, huống chi là việc này ư, cho nên chẳng luận. Nếu được trở xuống là nói ý dùng quán, phải đủ như đàn trong sáu độ, chỉ ứng nghĩa mà giải thích khiến năm nghiêm thi, bốn dưới cũng như thế, Bảo quán dưới là quán không, người chưa thấy lại nêu trước sáu thọ, sáu tác văn lược, tức là cho sáu đường bốn vận làm cảnh, hai thánh bốn vận làm quán, bốn vận bốn câu cho đến bốn vận sáu mươi bốn câu, cho nên nói các thứ. Chỗ khởi tức là sáu đường bốn vận. Năng quán gọi là suy ra quán tuệ. Năng sở đều mất mới thành môn Đại thừa. Chẳng trong ngoài, là nói sáu thọ không. Chẳng tới lui là nói sáu tác không. làm được như thế trở xuống là kế nói quán giả. Nêu thẳng mười giới chẳng ngoài mười pháp giới. Sự giới còn bác bỏ thành cảnh quán, cho nên chẳng nói lại. Tịnh như hư không là nhắc lại cảnh sở quán của quán không ở trước, bảy chi vô nhiễm dụ như hư không. Nếu dùng mười giới mà đối ba quán, v.v… đến quán thứ tư phải tự giải thích. Tâm đã trở xuống là Quán trung. Sắc là sắc pháp trở xuống là kế nói dùng để năm nghiêm thi. Văn tướng dần lược. Sắc tức là năng thấy biết. Sắc pháp là sắc được thấy. Thọ là phân biệt lãnh nạp. Ba sư chỉ là sắc, v.v… ba thứ nầy đều y cứ viên ý mà giải thích. Lệ như trước dẫn văn Thủ-lăng-nghiêm. Sau đàn nêu nhẫn. Thi là chỗ nghiêm nên chẳng nói lại. Sắc sắc, v.v… ở đây văn lược. Đầy đủ phải nói như văn trước nêu sắc và sắc pháp, cho đến thọ trở xuống lệ như thế. Đây trở xuống là kết thành ba Tam-muội. Văn lược ví dụ trước. Sao chỉ trở xuống là so sánh ra tất cả, ý cũng đồng trước. Quán sắc trở xuống là lệ với tác thọ kia. Theo văn chỉ phải lại nói sáu tác, hoặc là văn lầm. Dẫn Pháp Hoa: là oai nghi chứng thành Phật đạo ý thông. Kế trải trở xuống là nói nhẫn độ làm đầu để năm trang nghiêm. Văn tướng rất lược. Chỉ nêu sự nhẫn, cho đến quán không. Các thứ khác đều lược không có. Trước vừa ý hay không vừa ý tức là sự nhẫn. Kế ở vi trở xuống là quán không, chẳng thấy nêu riêng sáu thọ ở trước, vô tác nêu chung sáu tác. Kiến là năng kiến, sở kiến, nghĩa là thấy sắc phân biệt mà chấp ngã. Tác cũng như thế, còn bao nhiêu nhờ quán trung và kết thành đều lược bỏ. Kế trải tinh tấn trở xuống là dùng tấn làm đầu đề trang nghiêm năm độ kia. Ở trong tác phẩm giải thích cũ nói không phân biệt thể, là chỉ siêng thực hành năm độ thì gọi là Tinh tấn. Tức chỉ năm độ làm các hạnh. Nghĩa mà suy trở xuống là muốn nêu biệt thể, trước hoặc bác bỏ cũ, nghĩa chung không phải vô lý, không phải hoàn toàn đúng. Cho nên ung dung nói nghĩa suy mà thôi. Nếu chỉ chung thì lẽ ra chỉ có năm độ, vì sao các giáo đều nêu sáu? Như Đại luận quyển mười tám chép: Đại Bồ-tát lấy tinh tấn làm đầu đối với năm độ gọi là tinh tấn. Đây đủ cả hai ý chung riêng. Cho nên ý nay phải có tự thể riêng. Lệ vô minh trở xuống là ví dụ giải thích. Như vô minh hoặc cũng có chung riêng. Chung là tương ưng vào các sử, riêng là độc đầu, chẳng vào các sử. Vì so với tinh tấn mà nói rất dễ hiểu. Nay lại trở xuống là chánh nêu tướng riêng. Lưu truyền không phải chỉ dựa vào tụng kinh, đã không phải năm thâu xét mà biết là có riêng, chẳng phải bác bỏ trở xuống là bác bỏ sự. Tam-muội là định, hai pháp định, tuệ dẫn dắt tất cả pháp, cho đến thành Ba-la-mật. Nếu Đại sư tụng kinh quán pháp thì sự lý đều đầy đủ. Như niên hiệu Khai Hoàng một có vị tăng ở Dương Châu tụng thuộc Niết-bàn tự kiêu nghiệp mình. Lại ở Kỳ Châu có Sa-di ở Lâm Tự dưới núi Đông sơn chỉ tụng một phẩm Quan Âm. Cả hai cũng chết đồng gặp vua Diêm-la. Diêm-la bèn mời Sa-di ngồi tòa vàng và rất cung kính. Còn vị tăng tụng kinh Niết-bàn mời ngồi tòa bạc không kính trọng lắm. Việc xong hỏi rằng: Cả hai đều còn tuổi thọ nên đều được thả về. Vị tăng tụng kinh Niết-bàn rất hận, ỷ mình tụng nhiều, do đó bèn hỏi Sa-di chỗ ở rồi từ biệt mà tỉnh dậy. Tăng tụng kinh Niết-bàn bèn đến Kỳ Châu hỏi thăm thì quả gặp được Sa-di, hỏi lý do thì Sa-di chép: trước tụng Quan Âm, riêng áo riêng tòa, đốt hương phát nguyện, sau rồi mới tụng pháp ấy không biếng lười, không còn có việc gì khác. Vị tăng tụng Niết-bàn tạ rằng tội mình rất nặng. Khi tụng Niết-bàn oai nghi không nghiêm chỉnh, thân miệng bất tịnh, chỉ mong khỏi quên. Cho nên người xưa nói nhiều mà ác, không bằng ít mà thiện, nên xét vào đây. Đây cũng tinh tấn không phải Ba-la-mật. Nay quán trở xuống là lý quán. Trước nêu quán không. Niệm niệm trở xuống là lược nói Trung đạo. Phiền não chẳng xen vào gọi là Tinh, Niệm niệm lưu nhập gọi là Tấn. Hỏi: Chỉ nhờ tụng kinh vì sao phải suy xét sáu thọ sáu tác mà nói thọ giả, tác giả. Đáp: Nói chung tác thọ đâu cần đủ sáu, cho nên tác thọ, nhiếp tất cả thiện. Nhờ khiến riêng y cứ tụng kinh mà nói tức đối sáu trần tụng không đứt quãng, tức là ở thọ mà làm tinh tấn. Chỉ đối sáu tác thiếu ở nằm im, khi bịnh mở tụng nên cũng được nằm. Tụng thầm không đứt quãng ở lý cũng được. Cho nên biết tụng kinh tác thọ đầy đủ. Kế trải các thiền trở xuống là lấy thiền làm đầu trang nghiêm năm độ. Văn đầu nêu chung sự thiền. Chỉ là trở xuống là bác bỏ sự, quán nhập định trở xuống là chánh nói lý quán. Dùng tâm so sánh định, tâm là tán tâm, tán tâm còn không huống gì là chấp định. Định tức chín tưởng, tám bối xả, v.v… chẳng chấp định tán là thấy thiền thật tướng. Thật tướng nhiếp khắp tất cả pháp. Cho nên luận thứ năm trở xuống là dẫn luận chứng thành, thiền là thật tướng, trước dẫn văn luận. Kế các sư trở xuống là nói các luận sư giải lầm ý luận. Ý luận chánh vì quán chín tưởng tức là thật tướng. Cho nên tám tưởng sau tức nói mười lực, bốn vô sở úy. Vì sa? Vì như chẳng hoại pháp nhân tu thứ tám xong đối với tưởng xương còn đủ tất cả thần thông biến hóa. Cho nên người Đại thừa ở đây lại có thể đủ các Phật pháp, đâu phải chỉ có luận văn. Phẩm Quảng Thừa trong Đại Phẩm chép: Thân niệm xứ, Phật vì Tu-bồ-đề giải thích rộng. Giải thích chín tưởng xong, kết rằng đó gọi là Đại Bồ-tát kế giải thích rộng ba mươi bảy phẩm cho đến mười lực, bốn vô sở úy, mười tám pháp bất cộng. Đại luận quyển ba mươi tám văn dưới vẫn giải thích kinh. Luận sư chép: Rất lầm lẫn. Hỏi: Bảy tưởng kia cũng có thể phát chăng? Đáp: Nếu luận bất định và như dụng trợ, cũng có nghĩa phát mà phần nhiều ở quyển tám. Vì tưởng thứ tám sanh các thiền. Kế trải trí tuệ trở xuống là dùng trí làm đầu năm trang nghiêm kia. Vì văn lược nên nói thẳng rằng: Đại luận có tám thứ giải có đủ sự lý. Đại luận mười một trong giải thích pháp bất trụ có hỏi rằng: Bát-nhã là gì? Đáp: có người nói là căn vô lậu, vì tuệ vô lậu là bậc nhất. Có người nói khi đến cây đạo thì nói dứt hoặc, trí hữu lậu trước chỉ là phước đức. Vì phiền não chưa dứt chỉ là hữu lậu. Có người nói từ mới phát tâm đến cây đạo đều gọi Bát-nhã, đến khi thành Phật thì gọi là Tát-bà-nhã.

Có người chép: Hữu lậu, vô lậu gọi chung là Bát-nhã. Vì sao? Vì thường quán Niết-bàn hành đạo nên gọi vô lậu, kết trước chưa dứt nên nói hữu lậu. Có người nói Bồ-tát Bát-nhã vô lậu vô vi chẳng thể thấy là vô đối. Có người nói Bát-nhã dứt bốn câu, cũng như ngọn lửa bốn bên chẳng thể lấy, chẳng thể chạm. Có người chép: Từ trước các lời nói đều có lý. Như năm trăm vị Tỳ-kheo đều nói hai bên và nghĩa Trung đạo. Phật nói đều có đạo lý. Có người chép: Cuối cùng là đúng vì có pháp như mảy may đều có lỗi. Nhân tuy có tám nghĩa mà chỉ có sáu, cái thứ bảy là hứa chung sáu thứ trước, thứ tám chỉ còn thứ sáu, thứ nhất trong sáu thứ đã chỉ riêng vô lậu, không ngoài Nhị thừa. Nhân thứ hai là hữu lậu chỉ thành Bồ-tát ba tạng. Quả thứ ba gọi là Tát-bà-nhã. Phần nhiều thuộc ý thông. Thứ tư nghĩa thông Viên Biệt đắc là Bát-nhã, là Ba-la-mật. Thứ năm cũng thuộc Bồ-tát cộng giáo nhưng vẫn chung Tiểu thừa. Thứ sáu nghĩa chung ba giáo nên cũng lý sự đầy đủ. Bảy, tám hai Sư cùng cho sáu trước cũng chung Viên Biệt. Cho nên lược dẫn để chứng ý nay. Nay lại trở xuống là chánh giải thích. Văn trước là sự nên thuộc cái biết của đời. bốn vận suy trở xuống tức là y cứ lý. Lý là ba trí nên nói như trên. Trải mười một việc nên gọi là kia. Phải nói tất cả pháp thiện mỗi pháp phải trải mười hai sự, chỉ là văn lược. Hỏi: Trở xuống là phân biệt chính phải phân biệt sáu Ba-la-mật. Chỉ quán nhân tiện lấy đây làm câu hỏi. Lại còn sáu độ chẳng ngoài chỉ quán như trong pháp nhiếp lại dẫn Đại Phẩm thành tướng sáu độ để làm lời đáp này. Nhưng sự sáu độ nếu không cùng nghiêm còn gọi chẳng kín, huống chi là lý ư? Vì sao? Vì như đàn không giới chẳng sanh đường lành, không nhẫn thì cảm báo thấp kém, không tấn thì hình chất nhỏ bé. Không thiền thì liền thành tán thiện. Không trí thì chẳng hiểu vô thường. Cũng như người giàu việc khác đều thiếu, năm thứ còn lại không có năm y theo nói rất dễ hiểu. Như mặc áo giáp vào trận, là tưởng thí dụ hành. Luận hỏi vì sao một độ phải năm trang nghiêm. Đáp: Đều là hạnh giúp làm có sức. Như người không tập luyện thì không có sức chiến đấu. Đại quân đều trang nghiêm đầy đủ khí trượng (binh khí) thì có thể phá trận. Bồ-tát cũng như thế, sáu độ cùng nghiêm mới phá được hoặc, mau được Bồ-đề. Đại luận quyển mười chín giải thích rằng: Một niệm tâm đầy đủ sáu độ, tất cả pháp và sáu độ nhiếp nhau đều là ý này. Quán như trở xuống là kế đáp chỉ quán. Nói nhà kín là có tuệ mà không có định, như đèn trong gió chiếu vật chẳng rõ cho nên dùng nhà định mà tránh gió cuồng tán. Đèn tuệ mới phá được đêm tối vô minh khiến cho báu thật tướng hiển bày sáng tỏ rất dễ thấy. Cho nên nói tu tuệ nhiều nên thêm lớn tà kiến, nhiều tu định nên thêm lớn ngu si, nên phải tu bằng nhau thì không bị nạn này. Nếu tu không bằng thì Tiểu thừa còn thiếu huống chi là Đại thừa. Cán y v.v… là Đại Kinh quyển hai mươi chín chép: Đại Bồ-tát có đủ hai trang nghiêm làm lợi ích lớn, một định hai tuệ, như giặt áo dơ trước phải xả nước tro (xà bông) rồi mới dùng nước trong. Nay dùng tro định Lăng-nghiêm nước tuệ chủng trí, giặt dơ ba hoặc, sạch áo thật tướng. Như cắt ống tre, cầm gấp thì đứt, đứt là năng lực vận. Nếu vật thể đã lìa không phải ý ở đây so người chẳng hiểu một khái mà dùng Đại luận quyển hai mươi bảy chép: Như cầm ống tre nếu nắm lỏng thì đứt tay, nếu nắm chặt thì không bị thương, ngại là cắt lấy, cũng là giết. Nhĩ Nhã chép: “Bạch Hoa dã quản” Quách Bộc nói thuộc cỏ tranh, tay định nắm yên, dao tuệ cắt đứt. Như chặt gỗ cứng, trước phải dùng tay định mà động sau mới dùng tay tuệ mà nhổ. Đại kinh ấy văn đều có tám dụ, mỗi pháp đều hợp định tuệ của Bồ-tát. Lại Bát-nhã trở xuống là nhắc lại Bát-nhã chánh nêu ý viên. Pháp tướng thứ lớp phải nêu đủ sáu. Nếu nói về pháp thể mỗi pháp đều nhiếp tất cả pháp, đâu cần dùng sáu. Lại Bát-nhã trở xuống là nói lại điều pháp giới nhiếp tất cả pháp. Tất cả pháp cũng tức là sáu độ. Cho nên giải thích lại rằng: các pháp Bátnhã kia đây tức nhau cũng đâu phân biệt ở một và sáu. Muốn nêu viên chỉ cho nên làm câu hỏi này mà sanh đáp ấy.

 

PHẦN 4

Kế trong các điều ác, trước nói cảnh quán nói rằng: Thiện ác không nhất định, v.v… trước nói tướng chung của thiện ác. Đây thì chưa thể lấy hết làm cảnh quán. Vì sao? Vì xoay vần nhìn nhau được tên gọi thiện ác thì người nào không thiện người nào không ác, cho nên chẳng dùng làm cảnh quán. Nay nói đâu khởi, v.v…, tâm hung là ác, thân bịnh là cùi hủi. Chợt khởi tâm ba đường, chẳng sanh niệm Nhị thừa. Độc khí là Đại luận bác bỏ Bồ-tát Tam Tạng rằng: Còn đủ ba độc, làm sao nhóm hội vô lượng công đức? Ví như bịnh độc dù chứa đầy cam lộ cũng chẳng nên ăn. Bồ-tát tu các công đức thuần tịnh mới được thành Phật. Nếu có xen lẫn ba độc làm sao có thể còn đủ pháp môn thanh tịnh. Thân Bồ-tát cũng như bình độc, đầy đủ phiền não gọi là có độc, tu tập Phật pháp như chứa cam lộ. Pháp này dạy người khiến người mất mạng thường trụ. Đại Kinh chép: Từ đây, v.v… là dẫn chứng Biệt giáo. Cho nên trong phẩm Bốn Tướng, Ca-diếp nói tựa rằng: trước khi ta nghe bốn đức thì đều là tà kiến. Đây là Ca-diếp khiêm nhường tự bác bỏ trách. Nghĩa đồng ở tà, chẳng lẽ từ đây trở về trước đốn đồng ba thứ bên ngoại. Nay cũng như thế chưa hiểu lý nên nói là tà kiến. Tá tức là ác. Cho nên phải biết chỉ có viên là thiện. Lại có hai ý: Một là lấy thuận làm thiện lấy trái làm ác, là ý đối đãi. Kế là nêu thấu suốt làm thiện, là đối đãi dụng đối đãi, đều phải lìa ác, mê đắm viên còn ác huống chi là các thứ khác. Như thế trở xuống là kết thành tướng chung. Nay ở trở xuống là nói riêng cực ác để làm cảnh quán. Trong đây trước nêu thể ác tức sáu tế. Pháp thiện trở xuống là kết trước sanh sau. Trước tuy trở xuống là nói quán ý ác, vì thuần ác nên chẳng thể chẳng quán. Nếu chẳng quán thì chỉ có ác không có thiện, mình người đều thế, nên phải tu quán. Dẫu chẳng trở xuống là giải thích. Người khác dẫu chẳng hoàn toàn khởi bất thiện, thiện ác chẳng không, xuất gia lìa đời trở xuống là huống thích khởi riêng. Xuất gia chẳng đủ lý đáng thiện ác, cư sĩ tại gia thuần ác huống là thiện ư? La-hán tập khí thừa cũng vẫn còn ác. Phàm phu trở xuống là nói nguyện do dùng quán, thánh còn tập khí thừa, phàm phu làm sao có thể buông lung. Như Phật ở đời trở xuống là trước nêu Phật ở đời dùng quán có ích dẫn người làm chứng. Trong trước quán ác ý mà nói chẳng thể tưởng vui, trong Đại luận quyển mười tưởng giải thích tất cả thế gian chẳng thể tưởng vui, nói rằng: Thế gian có hai thứ: Một là chúng sanh, hai là cõi nước. Nói chúng sanh chẳng thể vui là ba ác, tám khổ, mười bốn ác v.v… hoặc nghèo mà ưa bố thí, nhiều tiền mà keo kiệt, hoặc nghèo mà đẹp, giàu mà xấu, hoặc kiêu ngạo chẳng khiêm nhường, hoặc tiếp người thì dối gạt. Như thế vô lượng chẳng thể nói hết. Cõi nước chẳng thể vui là hoặc nhiều suy không tốt, đói khát lạnh nóng dịch bịnh khí độc, các thứ như thế, cho đến thượng giới (cõi trời) cũng có những khốn khổ hơn ở hạ giới, như ở trên cao rớt xuống thấp thì khổ chẳng nói được. Văn nói không có người tốt là lời lược chúng sanh lấy người khác mà so mình chỉ thuần chẳng thiên lệch. Cho nên chẳng thể chẳng quán ác. Kế trong Túng thích nói nhiều keo kiệt, là lược nêu sáu tế để giải thích Thiên khởi. Bốn thứ trước như văn. Rượu là nguồn loạn tức loạn ý tê, căn tánh dịch đoạt tức là ngu si tế. Nếu người có tuệ thì chẳng bị ác đổi hay sanh là căn, sác tập thành tánh, thường thường đổi trao nên nói dịch đoạt. Lại tùy cảnh mà chuyển thành dịch, hoặc ép mất chân gọi là đoạt, hoặc lấy ngu thay trí là dịch, trí bị chân chế là đoạt. Kế trong huống thích nói La-hán tập khí dư thừa, là Thân tử có tập khí sân. Vì từ đời quá khứ từ rắn mà sanh, có tập lăng mạn vì đời trước từng làm Bà-la-môn mà đến. Như khi Phật còn tại thế có một vị Tỳ-kheo thường soi gương là đời đời làm thân nữ mà sanh. Có một Tỳ-kheo thường thích theo nhiễm là đời đời làm thân khỉ mà sanh. Dẫn người làm chứng ở tại gia, tức lại nêu chung có người ác. Ương-quật trở xuống là nêu riêng người ác. Trước nói người ác có đạo, Ương-quật, v.v… là kinh Ương-quật chép: Thôn phía Bắc của thành Xá-vệ tên là Tát-na có con gái của Bà-la-môn nghèo tên là Bạt-đà, có một con trai tên là Nhất Thiết Thế Gian Hiện nhưng sớm mất cha, đến năm mười hai tuổi thì năng lực vóc đầy đủ thông minh khéo ăn nói. Có thôn khác gọi là Phá-ha-tư, có vị Bà-la-môn tên là Ma-ni-bạt-đà rất giỏi bốn bộ Viđà. Nhất Thiết Thế Gian Hiện theo ông ấy học, thầy được vua mời bèn nhờ Thế Gian Hiện coi nhà. Vợ Bà-la-môn thấy Thế Gian Hiện đẹp trai bèn sanh tâm nhiễm đến nam áo. Khi đó, Thế Gian Hiện nói Bà là mẹ con, con đâu thể đối với bậc tôn túc mà sanh bất thiện. Bà ấy hổ thẹn buông áo lánh xa, rồi tự lấy móng tay cào trầy xy cứ mặt mày, lại lấy dây tự cột mà chân không rời đất. Khi người chồng về, bà sợ Thế Gian Hiện kể lại việc xấu, bèn dùng lời ác mà vu cáo Thế Gian Hiện, khi ông đi rồi nó đã có điều không phải với tôi. Thầy nói: “khi Nó mới sanh đã có điềm lạ, chắc chắn không có lỗi ấy,” liền bảo Hiện rằng: “ngươi hãy đi giết mười ngàn người thì khỏi tội.” Thế Gian Hiện nghe nói thì bạch rằng: “Than ôi, việc giết ngàn người con không làm được.” Thầy nói “ngươi là người ác, chẳng thích sống làm Bà-la-môn hay sao? Đáp rằng: “Lành thay! Con xin vâng lời” rồi lễ dưới chân thầy, thầy thấy vậy nghĩ là người ít có, ông là người đại ác chẳng chết hay sao? Bèn sai giết mỗi người rồi lấy ngón tay làm tóc đội trên đầu thì thành Bàla-môn. Do duyên đó nên gọi Ương-quật-ma, khéo vâng lời dạy. Tăng Nhất chép: Như thế lần lượt giết ngàn người lấy ngón tay làm tóc. Có người tâu vua Ba-tư-nặc trong nước có người rắn giết hại vô số người. Tỳ-kheo tu hạnh khất thực nghe xong liền bạch Phật. Phật tìm đến chỗ ấy. Các người lấy củi và bắt trâu dê đều chẳng qua được bảo là có giặc. Phật cứ tiến lên từ xa thấy Phật đến bảo ngón tay làm tóc của ta chưa đủ số. Người Mẹ nhân đem đồ ăn đến, lại tự nghĩ thầy ta nói giết mẹ thì sanh lên cõi trời. Liền nắm đầu mẹ rút kiếm định giết. Phật phát ra ánh sáng. Quật chép: Chẳng phải trời phạt ta sao? Mẹ nói: Không phải ánh sáng của mặt trời mặt trăng, chính là ánh sáng của Thế tôn. Quật nghe tên Phật, bảo rằng thầy ta có nói giết Sa-môn cũng được sanh lên cõi trời. Bảo mẹ đứng đây, tôi đi giết Sa-môn, bèn bỏ mẹ mà rượt theo Phật, thấy Phật như núi vàng. Phật cứ đi trên đường, rượt theo không kịp, bạch Phật nói kệ, đồng với kinh Ương-quật. Kinh Ương-quật chép: Ngừng lại đi Đại Sa-môn con vua Tịnh Phạn, tôi là Ương-quật-ma nay đến xin một ngón tay. Như thế gồm có ba mươi chín bài kệ chỉ đổi câu thứ hai nói rằng:

Người nhuộm áo không tham,

Người cạo đầu hủy hình,

Người biết đủ ôm bát.

Phật dùng hai trăm sáu mươi bảy hàng kệ đáp rằng:

Dừng lại Ương-quật-ma

Ông phải trụ tịnh giới,

Ta là Đẳng Chánh Giác

Hơn ông kiếm trí tuệ.

Chỉ đổi câu thứ ba, các câu khác đều đồng, các câu thứ ba khác nói:

Ta trụ mé Vô sanh,

Ta trụ ở mé thật,

Ta trụ mé vô tác.

Đều dùng chỗ chứng mà đáp Ương-quật, Ương-quật nghe rồi bèn dùng Phật lực mà khiến cho ngộ. Trong bản Phạm chép: Như lai ra đời ức kiếp mới được gặp, kẻ chưa độ thì đều độ (bốn hoằng). Có người thấy Phật liền vì nói diệt, rượt theo không kịp hẳn là Như lai, bỏ kiếm hầm sâu liền lễ Phật, Phật nói lành đến, liền thành Sa-môn được pháp nhãn thanh tịnh. Vua Tịnh Phạm thống lãnh bốn binh đến đánh. Vua nghĩ trước phải gặp Thế tôn mà chưa rõ mọi việc. Phật hỏi có ý gì, vua đáp đầy đủ ý mình. Phật bảo vua rằng: Thấy người xuất gia hành đạo thì phải làm sao? Vua nói: Phải cúng dường lễ bái. Nó không có chút thiện, làm sao phát được tâm này. Bấy giờ Ương-quật ngồi kiết già chánh ý, cách Phật rất xa. Phật chỉ cho vua thấy. Vua lễ bái cúng dường rồi khen Phật khéo hàng phục người ác ấy. Sau Phật nói pháp cho nghe mà được quả A-la-hán, đủ sáu thần thông. Vào thành khất thực, có người thấy biết. Có người đàn bà thai sản rất khó gặp Phật, Phật nói Hiền thánh xưa nay không hề giết người, người đàn bà ấy không ai khác.Có Tỳ-kheo hỏi Phật bổn duyên v.v… vốn là Bà-la-môn muốn cầu pháp sanh lên cõi trời chẳng trái với lời thầy dạy, gồm bảo vệ người bà dối trá kia mà giết hại. Cho nên văn chép: “giết lắm mà từ cũng lắm” Kỳ-đà-mạt-lợi, v.v… là y theo kinh Vị Tằng Hữu quyển hạ chép: Thái tử Kỳ-đà bạch Phật rằng xưa thọ năm giới, giới cấm rượu là khó giữ bèn muốn bỏ năm giới mà giữ mười điều lành. Phật nói: Khi uống thì có lỗi gì. Đáp: Trong nước các bậc Hào Hiền mang đến cùng uống cũng không có lỗi khác. Phật nói: Như thế thì trọn đời không lỗi. thiện có hai thứ: Hữu lậu và vô lậu. Uống mà chẳng khởi nghiệp ác là thiện báo, gọi là thiện hữu lậu. Phật nhân đó nói nhân duyên xưa. Xưa, ở nước Xá-vệ có vị vua, vì tranh việc nhỏ mà có thù oán lớn, bèn dấy binh đánh nhau. Có vị Đại thần tên là Đề-vi-la ỷ mình giàu sang mà khinh mạn. Lúc đó, Thái tử muốn giết đi. Cha không cho bèn ôm hận buồn rầu. Thái hậu thấy bèn mang rượu ngon đến khuyên. Con nói Tổ tiên từ trước đến nay chẳng hề uống rượu. Nếu uống rượu thì trời Na-la giận, Bà-la-môn phạt con. Thái hậu giữa đêm sâu mở cửa cung khuyên con ba lần, uống rồi thì quên ưu phiền. Trong ba ngày rất vui sướng, do đó mà dứt oán cừu. Vua cha lại can phàm phu đức trải nhiều đời sao vì việc nhỏ mà gây oán như thế. Nếu chẳng nhẫn thì mất nước, do đó mà hòa bình, đó là năng lực của uống rượu. Mạt-lợi, kinh nói: Vốn tôi tớ Bà-la-môn Da-nhã-đạt ở thành Vươngxá tên là Huỳnh Đầu, thường biết giữ vườn, nhân đem lương khô mà cúng Phật cầu phước. Sau, vua Ba-tư-nặc đi săn vào vườn mà gặp, người tớ ấy cung cấp cho vua và xoa bóp rất vừa ý vua hỏi Bà-la-môn có bán không thì đáp: Kẻ tôi tớ hèn của tôi sao kham được. Vua lại hỏi thì đáp rằng bán ngàn lượng vàng, vua đem trăm ngàn lượng vàng mà mua về làm phu nhân bậc nhất. Kinh Vị Tằng Hữu chép: Nặc vương bạch Phật: Như Phật nói tâm rất vui mừng, chẳng khởi nghiệp ác gọi là thiện hữu lậu. Việc ấy chẳng đúng, như người uống rượu tâm rất vui vẻ, chẳng sanh phiền não. Vì chẳng sanh phiền não nên chẳng giết hại. Con nhớ thuở xưa khi đi săn, quên đem người nấu bếp theo, vào rừng, khi đói thì các người hầu nói: lúc sáng Vua chẳng bảo đem đầu bếp theo nên bây giờ không có gì ăn. Ta nghe rồi phóng ngựa về cung sai đem đồ ăn. Người đầu bếp tên Tu-ca-la thưa: Hiện không có đồ ăn, bây giờ mới làm. Vua đói quá nổi giận, ra lệnh giết người đầu bếp, các quan cùng bàn cả nước chỉ có một người đầu bếp này, giết rồi không ai nấu ăn vừa ý vua. Lúc đó, phu nhân Mạt-lợi nghe xong liền khiến đem rượu quí, thức ăn ngon, rồi tắm gội sạch sẽ, xức hương thơm, tô điểm thân thể xinh đẹp cùng các kỹ nữ đến chỗ con, con thấy phu nhân thì liền hết giận dữ. Phu nhân vội sai Huỳnh môn chớ giết đầu bếp. Đến sáng thì con hối hận buồn rầu chẳng vui. Phu nhân hỏi con: Vì sao chẳng vui? Con đáp: Hôm qua bị lửa đói thiêu đốt mà giết lầm người đầu bếp, nên nay hối hận chẳng vui. Phu nhân cười, nói: “Người ấy còn sống, xin vua chớ buồn.” Vua hỏi “chuyện thật hay đùa?” Đáp: “Thật”. Rồi gọi người đầu bếp đến, con rất vui mừng. Vua bạch Phật rằng: “Phu nhân thọ năm giới, mỗi tháng đều ăn sáu ngày chay. Trong năm giới thì phạm hai giới rượu và nói dối. Trong tám giới thì phạm năm giới là ăn quá ngọ, thoa xức hương thơm, ca múa, nằm giường cao rộng, uống rượu, nói dối. Tội phá giới ấy nặng hay nhẹ. Phật nói: Người phạm như thế được công đức lớn. Vì sao? Vì làm lợi ích. Đây là y cứ phạm giới vì cứu người. Bồ-tát lợi tha được gọi là trong ác có thiên. Cho nên chép: Chỉ có rượu chỉ có giới muốn từ đây làm ví dụ khéo tự châm chước. Nếu thuận theo tâm tham thì chẳng phải trì giới. Hòa-tu-mật-đa v.v… Thuyết Văn chép: Dâm là tư thông, ở truyện nói là tham sắc. Kinh Hoa Nghiêm chép: Kế lại đi về phái Nam có thành tên Trang Nghiêm, có con gái của Thiện tri thức tên Hòa-tu-mật-đa. Thiện Tài đến đó xin gặp cô gái ấy. Trong thành có người chẳng biết nói đồng tử này các căn vắng lặng trí tuệ sáng suốt, quán kỹ một tầm mắt nhìn chẳng nháy, tâm chẳng lay động, chẳng có tâm tham nhiễm với cô gái ấy. Đồng tử này chẳng làm ma cột, v.v… Trong đó có người biết trước cô gái ấy có trí tuệ, bèn bảo Thiện Tài rằng: Lành thay, lành thay! Nay Ông hãy gặp cô gái ấy, ông đã được gốc lành rộng lớn, ông phải quyết định cầu quả Phật các thứ khuyên răn. Phá tất cả chúng sanh có tâm tham nhiễm với nữ sắc. Này người thiện nam, cô gái này ở phía Bắc thành thường ở trong nhà. Nghe rồi thì vui mừng đến trước nhà cô thấy nhà cửa các thứ trang nghiêm, thấy cô gái dung mạo xinh đẹp nói năng khéo léo, vào trí Như huyễn pháp môn phương tiện, các thứ trang nghiêm thân, từ thân phát ra ánh sáng rực rỡ chiếu sáng khắp nhà. Ai thấy ánh sáng thì thân thể được thanh tịnh, đến lạy dưới chân chắp tay bạch rằng: Kính Thưa bậc Thánh, con vì trước phát, v.v… cô gái nói tôi được giải thoát tên là Ly Dục Tế, hễ muốn hiện thân thì hiện thân, đều khiến thấy khác nhau. Nếu người bị ý dục ràng buộc đến chỗ tôi nghe pháp, gặp gỡ, chắp tay, ngồi tạm trên giường, thấy tôi mà khấn vái, thấy tôi mà nháy mắt, v.v… thì đều được lìa dục, ôm ấp hun hít chạm môi đều được pháp môn. Tôi vào thời quá khứ, ở chỗ Cao Hạnh Vương Như lai là một vị Trưởng giả, cúng thí một đồng tiền vàng. Khi ấy, Văn-thù là thị giả Phật nói pháp cho tôi nghe, khiến phát tâm Bồ-đề. Do đó mà được pháp môn Ly Dục Tế của Bồ-tát. Cho nên biết năng hóa sở hóa đều là nhờ dục mà được lìa dục. Cho nên nói trong ác có thiện. Lại, như kinh Tuệ Thượng Bồ-tát quyển thượng chép: A-nan vào thành khất thực, thấy Bồ-tát Trọng Thắng Vương ngồi cúng dường với người nữ. Tôi bảo phạm uế chẳng khác mọi người, người tu học phạm hạnh phải dùng giáo Như lai mà tưởng thấy nghe không phạm. Khi nói thế thì Đại thiên rung chuyển. Bồ-tát tức thì bay lên hư không cách mặt đất bốn trượng chín thước bảo A-nan rằng: Người phạm dục thân có bay lên hư không được chăng? A-nan nằm mọp sát đất tự sám hối, như thế ở chỗ rồng lớn mà tìm lỗi được chăng? Đây cũng vì dục mà làm pháp môn. Sợ thấy hổ thẹn hoặc gọi vô ngại hoặc nói lý dung. Nếu người được lý phải như hàng Mật-đa Tuệ Thượng, thân bay lên hư không y chánh đều nghiêm đẹp, khiến người ấy ngộ nhập vô lượng pháp môn. Nếu có hiện thần thông còn nên hỏi rằng thông do đâu mà được. Nếu tự chứng pháp môn thì gọi là gì, từ chỗ Đức Phật nào mà phát tâm đầu tiên từng cúng dường bao nhiêu Phật? Ở vị lai lúc nào sẽ thành Bồ-đề, từng ở chỗ Phật được thọ ký, ở vị lai thanh tịnh cõi Phật ở phương nào, thánh Phật hiệu gì, mấy hội nói pháp, thị giả Bổ xứ tên gì, Phật thọ bao nhiêu kiếp, chánh pháp tượng pháp trụ được bao lâu? Nếu chẳng thể đáp câu hỏi như thế thì là quỉ thông, ngoại đạo căn bản, thần thông hữu lậu. Sanh tâm nhiễm rồi thì thần thông này mất, hoặc người nói dối không biết hổ thẹn. Như bảo thân này tức là Phật. Thích Tôn đã diệt, Từ Thị chưa ra đời lại không phải là Phật từ phương khác đến, nếu không phải ma tặc thì gọi là gì? Nếu ông chẳng tin có Phật mười phương tự gọi là Phật thì rất trái nghịch. Cho nên biết người này tự diệt đạo tâm phá gốc thiện của người khác. Nếu đại quyền nghịch hóa thì chẳng tự xưng ta làm vô ngại. Kinh Tuệ Thượng Bồ-tát lại chép: Quá khứ vô số kiếp có Phạm chí tên là Đăng Quang ở trong rừng rậm thực hành nguyện cát tường trải qua bốn trăm hai mươi năm, đến nước Ma-kiệt, có con gái người thợ gốm thấy Phạm Chí khôi ngô bèn nằm mọp trước Phạm Chí. Phạm Chí đáp: Ta chẳng thích. Cô gái nói nếu chẳng được thì tôi sẽ tự sát. Phạm Chí tự nghĩ ta thường giữ giới, nếu phạm vài giới thì chẳng phải cát tường, bước ra bảy bước liền khởi tâm từ bi mà sắp phạm giới, chẳng thế thì cô gái chết, thà khiến cô gái được yên mà ta vào địa ngục bèn làm theo nguyện ấy. Mười hai năm sau thì chết, sanh lên cõi trời Phạm. Trước là pháp thân hóa hiện không thể nghĩ bàn, đây là thật hạnh quên phạm cứu người. Người bắt chước đây nên tự xét nghĩ. Thế gian khổ nhỏ còn chẳng thể chịu nổi mà có thể phạm giới để vào địa ngục ư? Đềbà-đạt-đa tà kiến tức chánh. Hai chữ Đa Đâu tùy còn một chữ, nếu còn cả hai thì e văn lầm. Lược như quyển một chép: hiện ở A-tỳ chịu khổ vô gián. Pháp Hoa lại chép: do Điều-đạt nên đầy đủ tướng tốt, thọ ký sẽ được thành Phật hiệu là Thiên Vương. Trừ Pháp Hoa ra còn tất cả giáo chỉ nói đời đời bị tướng ác quấy rối. Đây chính là giáo pháp quyền thật khác nhau. Nếu các trở xuống là kết. Đại quyền bày tích sâu cạn khó lường. Một lần xem văn như Ương-quật, v.v… giống như phàm phu, như Hòa-tu-mật vào vị đã lâu, tuy đã vào vị tức chỉ lúc đầu làm vợ Khi ấy Trưởng giả có thể lìa dục, gọi là trong ác có thiện. Nếu mãi mãi là phàm, chẳng chứng được pháp môn lìa dục. Cho nên biết Ương-quật lại nói theo tích, nếu nói theo bổn, thì cũng lúc xưa ở trong giết ác mà lìa bỏ được. Cho nên trong tích cũng dùng giết mà làm pháp môn lợi tha. Lại hễ nói chỉ bày, thì thị là thực hành khiến vô lượng người chẳng còn làm ác. Nói theo thực hành thì đối với lý không thương tổn, người đời phần nhiều mê ý quyền tích. các thắng hạnh đều bác bỏ quyền. Nếu như thế thì việc làm của các Bồ-tát đồng với hư cấu. Chỉ duyên thật ác thì rớt, bỏ ác thì lên. Cho nên bậc Thánh bày việc rớt lên, khiến người thực hành đổi ác theo thiện. Cho nên văn chép: Tuy làm các tệ mà được thành Thánh. Nói chẳng ngăn ngừng, nghĩa là ác có thể đổi, khiến đối với ác mà tu chỉ quán. Chẳng thể mặc tính làm ác mà mãi mãi làm phàm phu. Chẳng phải nói còn ác mà gọi là không ngăn ngừa. Lại đạo chẳng năgn ngừa ác trở xuống là nói tuy được đạo mà cũng có dư ác. Tu-đà-hoàn: kinh Xuất Diệu quyển mười một chép: Xưa, có người chứng sở quả, ý duyên nữ sắc mà tư thông trong mộng. Người vợ đem tệ này gặp tri thức Tỳ-kheo bà con hỏi rằng: Tôi muốn trình bày sự tình ra đây được chăng? Tỳ-kheo chép: Không khổ nào bằng che giấu việc kín. Người vợ nói chồng tôi nặng về dục chẳng màng ăn uống, do đó sanh bịnh e mạng khó toàn. Tỳ-kheo chép: Hễ nếu khi gần ngươi thì ngươi phải nói pháp Tu-đà-hoàn thế sao? Sau làm theo lời dạy, người chồng nghe nói thì hổ thẹn mà được quả thứ ba, bèn không làm việc ấy nữa. Bà vợ hỏi chồng vì sao dứt hẳn. Chồng nói ta xét thấy bà vì sao đến đây. Vợ nói tôi có lỗi gì mà ông nói xét thấy. Bèn nhóm hợp bà con lại nói chồng thấy sơ khí dứt hẳn tình thân. Chồng nói dẫn chứng tự rõ, bèn làm một cái bình trong đựng đầy cứt đái, bịt miệng lại mà chơi. Rồi lấy gậy đập bể bình chất dơ tuôn ra, bà có lấy chơi nữa được chăng? Vợ nói thà ôm thây chết, hầm lửa nước sâu trên núi cao rơi xuống, chớ chẳng gao giờ dám gần. Chồng nói ta quán thấy thân bà con hơn như thế. Bèn nói kệ rằng:

Người mạnh vào định quán

Chổ thân tâm khởi trụ

Thấy rồi sanh oán ghét

Như bình vẽ hình kia.

Tất-lăng kiêu mạn: là qua sông nước chảy gấp khó qua, liền quát rằng: Tiểu tỳ hãy ngừng chảy, thần sông nổi giận đến chỗ Phật trách rằng: Tất-lăng mắng con. Phật khiến Tất-lăng-già đến sám hối thần sông. Tất-lăng chép: Tiểu Tỳ đến, ta sám hối ngươi. Mọi người cười rằng: Sám hối mà còn mắng. Phật hỏi Thần sông: Ông có thấy Tất-lăng chắp tay chưa? Đáp rằng thấy, Phật nói sám hối xong thì không còn kiêu mạn mà có lời nói này. Phải biết người ấy trong năm trăm đời làm Bà-la-môn, lại thấy thần sông đời trước làm tôi tớ cho mình thường hay cao mạn, khinh bác bỏ người khác, xưa nay quen miệng mà thôi. Thân Tử nổi giận, lúc đó La-vân theo Phật kinh hành. Phật hỏi La-vân vì sao gầy ốm như thế? La-vân dùng kệ đáp Phật:

Nếu người ăn dầu thì có sức khỏe

Nếu người ăn bơ thì xinh đẹp

Ăn mè rau thì không khỏe đẹp

Đại Đức Thế tôn tự nên biết.

Phật hỏi La-vân: Ở trong chúng ấy ai là Thượng Tọa? La-vân đáp

Hòa-thượng Xá-lợi-phất. Phật nói Xá-lợi-phất ăn bất tịnh. Lúc đó, Xálợi-phất nghe lời nói ấy, liền nhổ đồ ăn ra, thề rằng ta từ nay chẳng thọ người nữ thỉnh. Khi ấy vua Ba-tư-nặc, Tu-đạt-đa, v.v… đến chỗ Thân Tử, Phật chẳng vì vô sự mà thọ thỉnh. Nay chẳng thọ thỉnh ta, vì đâu được thanh tịnh tín. Thân Tử kể lại lời Phật bác bỏ trách vua. Vua bạch Phật, Phật sai trở về thọ thỉnh như cũ, nhưng vẫn chẳng thọ. Phật bảo người ấy tâm bền chắc chẳng thể lay chuyển. Vì xưa từng làm rắn hại vua. Thầy thuốc bắt phải uống nọc độc, nếu chẳng uống phải nhảy vào lửa. Suy nghĩ mà bảo rằng độc tôi đã bỏ vì sao phải uống, bèn nhảy vào lửa mà chết. Vì thiện ác chẳng ngại nhau, cho nên được cực quả cũng còn có ác. Thí như trở xuống là nêu thí dụ. Trong hư không lớn đều không có sáng tối. Sáng tối y cứ sắc nên có trừ nhau. Pháp tánh Hư không vốn không thiện ác. Phàm phu theo tình bảo là thiện ác trừ nhau. Cho nên Ký Tiểu Thừa và các phàm phu. Hai pháp thiện ác chẳng hại nhau, vì thể tánh vốn chẳng hai. Người thấu suốt như thế mới hiển bày Bồ-đề. Sở dĩ ở ác khiến tu chỉ quán thấu suốt ác, chẳng ác. Thấy thể tánh ác liền biết thể tánh vốn không thiện ác. Nếu người trở xuống là chánh nói ác tu quán. Đây lại nói chung đối ác mà lập quán. Tuy dùng chín tưởng, v.v… chiết phục càng dữ dội, nên phải dùng bốn vận mà suy xét mặc ý chế thân miệng để quán suy cùng. Nay muốn phá hoại nên nói tệ, nếu chẳng khởi chẳng được tu quán. Thí như trở xuống là nêu thí dụ. Câu pháp giống luân nên nói luân câu. Đại luận chép: Cá nuốt lưỡi dù ở trong ao nhưng ở dưới nước không lâu. Người ta cũng như thế, tin sâu Bát-nhã phải biết là ở trong sanh tử không lâu. Ở đây quán tham dục, Luận chép: Sanh tử là trong nhân nói quả nên nói sanh tử. Dục nặng như cá mạnh, quán yếu như bị dây trói. Sợ năng lực quán yếu mà dục được dịp làm hại. Chẳng cần dứt dụng tứ chi ngay. Cho nên khuyên răn chẳng thể tranh kéo, quán pháp là lưỡi câu, tha hồ khởi là mồi, mồi là đồ ăn. Muốn vượt quán gọi là vào miệng. Thời gian dài là xa, thời gian ngắn là gần. Tăng mạnh là phù, yếu là trầm. Thường dùng quán này mà đuổi theo chẳng bỏ, chẳng để thành nhân đến ở quả sau, gọi là chẳng lâu. Dục dứt quán thành gọi là thâu hoạch. Mới thành là thâu, vào vị là hoạch. Ở tế trở xuống là lời trong hợp. Nếu vô đẳng, là quán này có công năng trị dục, khởi nặng về dục nặng, càng bày Diệu quán. Cho nên nói có cá lớn nhiều chỉ tốt, thường dùng Diệu quán mà theo chẳng bỏ, khởi nhiều là nhiều, sâu nặng là lớn. Tệ này chẳng lâu, v.v… là mượn dụ để kết văn pháp. Ngự là tiến, Đại kinh quyển chín chép: Như dùng chú thuật chú khiến cho lành bịnh, dùng chất thoa da giày khiến chạm trùng độc, độc sẽ tiêu. Tệ cũng như thế, lấy quán mà quán, tệ ấy chẳng lâu cũng làm quán được. Thể tệ toàn chuyển nên gọi là kham nhậm. Dục như da giày, quán như thuốc tốt. Dùng pháp pháp dục nghĩa giống như thoa. Quán thành vào dục, dục đều phá bỏ. Như chạm độc trùng thì độc liền tiêu. Dục chuyển thành trí, trí có thể tiến đạo. Vận đến Niết-bàn gọi là có kảh năng ngồi. Vì sao trở xuống là nói dụng quán? trước tham dục ở trong sáu tệ tức thuộc tệ đầu, tham dục tức là thí dụ về san. Ở trong ba độc chính là độc đầu, tức là ba quán chú cả ba là đó. Trước trong quán không, văn đầu bốn vận dùng phương pháp quán. Vi đương trở xuống là chánh dùng quán suy nay. Trước là vận đầu đối với vận thứ hai, bốn câu suy pháp. Trước nêu bốn câu, nếu chưa trở xuống là liền xem xét, tức diệt mà sanh. Sanh diệt trái nhau, tức diệt trái với sanh. Nếu tức diệt sanh nên thành trái nhau thì như chỗ đèn tắt tức là sáng thì không có việc đó. Nếu lìa sanh thì không nhân, tức lìa chỗ diệt này thì cố nhiên tự sanh nên thành không nhân. Như lìa chỗ đèn tắt thì tự nhiên sanh ra ngọn lửa. Lại nếu cho không nhân mà có sanh thì các chỗ không nhân cũng phải có sanh. Như chỗ không sữa cũng phải có lạc, cho đến gỗ đá cũng phải có tâm sanh. Kế là chưa tham cho đến vô nhân: Tham tuy chưa khởi, thể tánh là sanh. Lập câu đầu xong, kế tức là lìa, là trước định. Nếu tức trở xuống là câu hỏi kế. Cu hỏi trước chính là đó. Chẳng diệt mà sanh, tức chẳng diệt này lại sanh dục tham. Cho nên thành chưa tham cùng dục tham đều có. Nếu cho cả hai đều có thì phải ở bên sanh lại sanh ở sanh. Cho nên nói vô cùng. Nếu lìa trở xuống là khó lìa câu. Không nhân đồng trước nên nói cũng. Nếu cũng diệt trở xuống là câu (hỏi), nếu đều còn thì như nhân trái nghịch mà sanh quả. Nghĩa ấy không đúng. Pháp trái nghịch nhau là hai pháp chẳng cùng có, đâu chung làm nhân mà sanh được quả. Cho nên lại trách rằng: Chẳng cần nhau cũng ở diệt, lại là chẳng diệt, nên nói bất định. Nhân bất định này đâu sanh mà muốn sanh quả quyết định. Nhược kỳ trở xuống là lại dùng một lớp khác mà trách nhân. Nếu nói pháp thể một trái nhau thì thể chẳng phải một. Nếu nói thể khác diệt và chẳng diệt thì chẳng liên quan nhau, đâu được hai pháp cùng là một nhân mà sanh ra quả. Như nói sữa vừa diệt vừa chẳng diệt mà sanh lạc, thì không có việc đó. Nếu chẳng phải trở xuống là hỏi câu bốn, phàm câu cùng chẳng sai vốn cũng phá hai, hai cũng tức là câu ba cho nên thứ ba bị phá lại đến thứ tư, nên cũng trách là có hay không, nếu là có là không thì đồng với thứ ba, riêng có riêng không lại đồng với thứ hai. Ấy thì cùng chẳng sai chẳng khác ba ở trước, đâu cần lập lại. Cho nên kết vì sao gọi là cùng chẳng sai, lấy sữa làm thí dụ y theo trước rất dễ hiểu.

Môn Diệu Quán này giả lập chủ khách, niệm niệm xem xét, không để một sát-na trốn thoát, tánh tướng đều mất mới gọi tức không. Không cho nên chẳng thấy dục tham, dục sanh. Kế lại chuyển trở xuống là y cứ theo nghĩa phải có sáu mươi bốn câu, hiện văn chỉ có mười sáu câu, như hướng bốn câu tức là trách dục tham dục sanh chẳng thật xong được. Lại chuyển hướng pháp bốn câu, suy ba câu dưới chỉ phải hợp rằng chẳng sanh, cho đến chẳng phải sanh, chẳng phải chẳng sanh, văn nay nói sanh, cho đến chẳng phải sanh, chẳng phải chẳng sanh, hoặc nêu lại hoặc là văn thừa. Hỏi: Vì sao lại suy ba câu sau. Trước tuy suy ở dục tham, dục sanh đã chẳng thấy sanh, sợ chấp Vô sanh cho đến chuyển chấp chẳng phải sanh chẳng phải Vô sanh cho nên lại phải suy ba ở dưới. Nếu suy Vô sanh phải nói là chưa tham muốn diệt dục, tham dục chẳng sanh sẽ là chưa tham dục chẳng diệt dục tham dục chỗ sanh vi đương chưa tham dục chẳng phải diệt chẳng phải chẳng diệt dục tham dục chẳng sanh. Mỗi pháp cũng phải phức suy trách, lại có không tức lòa cho đến tánh v.v…, đủ như câu đầu chỉ dùng chẳng sanh để giúp sanh là khác mà thôi. lại phải dùng chưa tham muốn diệt v.v… đối suy dục tham dục vừa sanh vừa chẳng sanh, chẳng phải sanh chẳng phải chẳng sanh, cũng như thế. Đây gọi là suy ở tướng, đầy đủ bốn câu, nên lại phải suy chánh tham dục cho đến đã và chưa lại sanh ba cái mười sáu câu. Cho nên biết văn nay chỉ suy câu đầu, câu đầu đã thế thì ba câu kia cũng y theo đó mà biết. Đều dùng trong bốn câu chưa tham dục mà mê đắm, trong một câu dục tham dục ở sau tức dùng bốn dục như sanh, v.v… tham dục đối bốn cái chưa tham dục ở trước nên thành mười sáu câu. Nay lại làm đủ ba bản đồ mười sáu câu, giúp văn rất dễ thấy, thì đã nhìn chưa mà so y cứ, sẽ biết. Mười sáu câu đầu như vừa giải thích.

Lại làm bản đồ.

1. Chưa tham muốn diệt

Chưa tham dục chẳng diệt

– Dục tham dục sanh

Chưa tham dục vừa diệt vừa chẳng diệt

Chưa tham dục chẳng diệt chẳng bất diệt.

2. Chưa tham muốn diệt

Chưa tham dục chẳng diệt

– Dục tham dục chẳng sanh

Chưa tham dục vừa diệt vừa chẳng diệt

Chưa tham dục chẳng diệt chẳng bất diệt.

3. Chưa tham muốn diệt

Chưa tham dục chẳng diệt

– Dục tham dục vừa sanh vừa chẳng sanh

Chưa tham dục vừa diệt vừa chẳng diệt

Chưa tham dục chẳng diệt chẳng bất diệt.

– Dục, tham muốn diệt

– Dục, tham dục chẳng diệt

– Chánh tham dục chẳng sanh chẳng bất sanhDục tham dục vừa diệt vừa chẳng diệt

– Dục tham dục chẳng diệt chẳng bất diệt.

– Ba câu dưới ví dụ bốn câu đầu mà làm.

Ba câu dưới ví dụ bốn câu đầu mà làm phải được giải thích cho nên trong văn nay chẳng cần viết rõ, như thế xem xét. Trong Chưa tham dục cầu bốn câu dục tham dục không thật có, còn chẳng thấy có tâm dục tham dục chẳng phải sanh chẳng phải chẳng sanh, huống chi là sanh. Tuy đây có suy dục tâm thô mạnh, hoặc lại chưa suy tâm dục tham dục cho đến chánh khởi. Tuy thế, không phải thân trao cảnh gọi là chánh, chỉ là khởi tâm suy khiến chẳng khởi, cho nên phải dùng mười sáu câu trong dục, tham dục vừa rồi để cầu chánh tham dục không bao giờ. Vi sao? Vì chánh khởi này phải nhờ dục khởi, cho nên suy dục khởi cầu chánh chẳng thật có.

1. Dục, tham muốn diệt

Dục, tham dục chẳng diệt

– Chánh tham dục sanh

Dục, tham dục vừa diệt vừa chẳng diệt

Dục, tham dục chẳng diệt chẳng bất diệt.

2. Dục, tham muốn diệt

Dục, tham dục chẳng diệt

– Chánh tham dục chẳng sanh

Dục, tham dục vừa diệt vừa chẳng diệt

Dục, tham dục chẳng diệt chẳng bất diệt.

3. Dục, tham muốn diệt

Dục, tham dục chẳng diệt

– Chánh tham dục cũng sanh cũng chẳng sanh

– Dục, tham dục vừa diệt vừa chẳng diệt

– Dục, tham dục chẳng diệt chẳng bất diệt.

– Dục, tham muốn diệt

– Dục, tham dục chẳng diệt

– Chánh tham dục chẳng sanh chẳng bất sanhDục, tham dục vừa diệt vừa chẳng diệt Dục, tham dục chẳng diệt chẳng bất diệt.

Như thế xem xét còn chẳng thấy chánh tham dục chẳng sanh chẳng bất sanh, huống chi là thấy sanh. Tuy chẳng còn khởi hoặc đã chưa đoạn, chỉ là tạm dứt và duyên cảnh tạ gọi là tham dục rồi. Phòng sau khởi nên lại suy. Nếu gọi tâm này là Vô sanh, thì rất sai lầm.

1. Chánh tham muốn diệt

Chánh tham dục chẳng diệt

– Tham dục đã sanh

Chánh tham dục vừa diệt vừa chẳng diệt

Chánh tham dục chẳng diệt chẳng bất diệt.

2. Chánh tham muốn diệt

Chánh tham dục chẳng diệt

– Tham dục đã chẳng sanh

Chánh tham dục vừa diệt vừa chẳng diệt

Chánh tham dục chẳng diệt chẳng bất diệt.

3. Chánh tham muốn diệt

Chánh tham dục chẳng diệt

– Tham dục cũng sanh cũng chẳng sanh

– Chánh tham dục vừa diệt vừa chẳng diệt

– Chánh tham dục chẳng diệt chẳng bất diệt.

– Chánh tham muốn diệt

– Chánh tham dục chẳng diệt

– Tham dục đã chẳng sanh chẳng bất sanhChánh tham dục vừa diệt vừa chẳng diệt Chánh tham dục chẳng diệt chẳng bất diệt.

Tham dục trước này tuy lại tạm dứt gọi là tham dục, nhưng khi đối cảnh khác lại gọi là chưa. Đã chưa tuy tức đồng là chẳng khởi, đối cảnh lúc khác thì đối đãi nhau mà thành khác. Trước dứt gọi là đã, dứt rồi gọi là chưa. Cho nên tâm chưa này chung đối mười giới, sau nếu khởi riêng thì chưa này thuộc về riêng. Sợ thuộc riêng cho nên cũng phải đối khởi đã quán. Phải nói rằng là tâm đã tham muốn diệt, tâm chưa tham dục sanh, hay tâm đã tham dục chẳng diệt, tâm chưa tham dục sanh. Tâm đã tham dục vừa diệt vừa chẳng diệt, tâm chưa tham dục sanh, tâm đã tham dục chẳng diệt chẳng phải chẳng diệt, tâm chưa tham dục sanh. Cho đến tâm chưa tham dục chẳng phải sanh, chẳng phải không sanh, thành mười sáu câu.

Hỏi: Đã chỉ gọi là diệt, chưa gọi là chẳng sanh, vì sao đều đủ bốn câu sanh, v.v…. Đáp: Nay quán niệm niệm đều là ở sanh, chỉ nhìn cảnh tạm dứt cho đến chưa khởi, đã được tên chưa, ở đã chưa này sợ chấp sanh v.v…, cho nên lại phải dùng bốn câu mà suy. Nếu nói tâm đã chỉ gọi là diệt, thì chánh tâm cũng phải chỉ gọi là Sanh, đâu được cũng có ba câu như không, v.v…. cho nên phải biết đều dùng bốn câu. Lại ở tâm đã nói mà suy tâm chưa, một là đề phòng sẽ khởi, hai là chưa khế chân. Phòng lỗi vào lý, cho nên phải xét, đều mười sáu này hợp thành bốn cái mười sáu câu. Nếu vừa quán liền ngộ, một câu liền đủ, đâu phải khổ đến sáu mươi bốn ư. Vì người độn căn xoay vần sanh chấp. Cho nên đủ phá sáu mươi bốn câu. Nếu đủ nêu tướng chuyển chấp. Đến quyển thứ năm ba giả bốn câu nói đầy đủ. Nếu luận ý văn liền phải suy nhanh từng ý một, khiến thành cảnh không thể nghĩ bàn. Văn nay đã nhờ thứ lớp nói riêng, cho nên sáu mươi bốn câu chỉ gọi là vào không, huống chi lại biết trước. Lý không thể nghĩ bàn. Dục tâm vừa phá Diệu giác rõ ràng. Sự trợ còn phải chánh trợ hợp thành huống chi đây suy cùng thà chẳng tức lý. Khi tức lý mới thấy bốn vận tâm tánh chân như. Quán tham dục trở xuống là kết thành quán không. Nói cùng chiếu, tham dục là giả, suy phá là không. Không chẳng có tướng không, không tức là giả, giả chẳng có tướng giả, giả tức là không. Nhưng vong cùng chiếu, không giả như thế ai chẳng bảo là ba quán một tâm, phải khéo suy nghĩ, lời đồng ý khác. Cho nên nay chỉ là vào quán không. Đều như trên nói, là dây lại chuyển câu, đây đều như văn đầu quán ở câu sanh. Nếu là một trong ba quán mà nói thành lý do không. Cho nên viên quán sẽ nói rằng: Trăm giới là không giả trung. Nếu nói không này tuy nói một thứ, thì trong không đã đủ quán giả, Trung. Hai quán Giả trung nêu ra cũng như thế. Văn trong quán giả vì sao nêu thẳng mười giới mà thôi. Nếu tệ luôn khởi sau quán thành khí phần. Hằng khởi, v.v…. Hỏi: Bốn câu xem xét, tham dục, đâu được lại nói mà khởi mà chiếu? Đáp: Nói khởi chiếu, là chánh nói có khởi thì không lúc nào chẳng chiếu, khi chiếu thì phải khởi, nay nói quán này có công năng phá tệ, cho nên phải nói mà khởi mà chiếu. Lại khi phòng khởi thì phải phòng chiếu. Cho nên lại nói mà khởi mà chiếu. Lý phải khởi chẳng khởi đều chiếu, chiếu chẳng chiếu đều mất, mất chẳng mất dứt, dứt chẳng dứt đều trống không. Như thế mới thành đạo nhập không. Cho nên nay chép: Chẳng thấy khởi chiếu mà khởi chiếu rõ ràng. Lại quán trở xuống là quán giả, lại nêu tác thọ mười hai sự, thứ mười giới gọi đó là giả. Một nhà giáo môn Tạng thông liền y cứ sáu đường mà nói giả. Dụng quán liền có tức chẳng tức khác nhau, pháp ấy tức là Tạng thông nhập môn. Biệt viên quán giả phải y cứ mười giới, chỉ vì thứ lớp và chẳng thứ lớp khác nhau, tâm một tâm khác nói cảnh thô diệu. So sánh là từng nghe quán trụ duyên sanh. Duyên sanh tức không, không và giả chẳng hai, gọi là ba quán, làm và nói này còn chưa thành thông. Thông phải bốn câu thành tánh tướng không. Nếu có tên Trung là khác Thông giáo. Thông giáo sau không hề có tên Trung đạo, huống chi là Thông giáo vẫn phải bốn môn, mỗi môn đều có mười thừa mới gọi là thông quán, người chẳng thấy đây nào khác ám không. Vì sáu độ trở xuống là kết thành ba Tam-muội, v.v… hằng sa Phật pháp. Như thế trở xuống là Quán trung. Trước nói tướng quán lại nắm hai quán không giả trước đây tức bên mà trước mới gọi là Diệu trung. Cho nên trước chép: Như thế khi quán chỉ hai quán trước, đều ở tác thọ suy thành không giả. Nay ở không giả mà thấy tức trung, nên nói rõ ràng. Huyễn hóa tức mười pháp giới giả ở trước, cùng không tức tánh tướng. Không giả và tánh ba pháp tức nhau, cho nên không ngại có hại. Cho nên biết Trung nầy tên cùng chiếu rất khác với trước. Phó Đại Sĩ tự làm thơ rằng: Riêng tự tinh, thật ra lìa thanh danh ba quán, một tâm chứa muôn phẩm, gai góc bụi rậm đều tự bằng. Cho nên biết Đại sĩ cũng ở Tát-thọ dùng tu ba quán. Vì sao trở xuống là lại giải thích tướng tức nhau của ba quán? Trong quán không ở trước chỉ nói khởi chiếu, chẳng kịp thấy, v.v…, trong đây pháp tánh cùng tệ tức nhau cho nên Trung quan rất khác với không. Tham dục cực thô, còn tức pháp tánh huống chi là các pháp khác mà không phải ba đế. Nếu tệ ngại pháp tánh, v.v… thì pháp tánh chẳng ngại với tệ là nói theo lý, như nước và sóng chẳng ngại nhau. Cho đến pháp tánh và tệ khởi dứt tức nhau, là chánh nói khiến quán pháp tánh trong tệ. Pháp tánh không khởi cũng không tức. Vì tệ khởi (dứt) nên nói khởi tức. Nếu thế, tánh không khởi tức tệ thì có khởi tức, tánh đó rất khác sao gọi một thể? Đáp: Chỉ vì tệ tánh thể nói không hai, nên nói pháp tánh không còn khởi tức. Cho nên theo lý đều không khởi tức. Nói theo sự thì tệ, có khởi tức, tánh không khởi tức. Nếu dứt đối đãi thì không tệ không tánh cũng không khởi tức. Nếu được ý này thì chỉ quán tham dục tức là pháp tánh, pháp tánh vô tánh, nên gọi là Thế đế, phá tánh tức là tánh không. Tánh này tức pháp, pháp thể tức không, nên gọi là tướng không. Kinh Vô Hạnh nói trở xuống là dẫn chứng. Kinh nói tham dục tức là đạo, sân si cũng như thế, như thế trong ba pháp, vô lượng các Phật pháp, nếu có người phân biệt, dâm nộ si và đạo thì người ấy cách Phật xa như trời và đất. Là ý kinh chánh nói tệ tánh chẳng hai, cho nên phải răn chẳng cho phân biệt. Tịnh Danh trở xuống là lại dẫn Tịnh Danh. Phi đạo là ví dụ, Phật đạo là tánh, chúng sanh tức Bồ-đề Niết-bàn, là phải nói đủ rằng tất cả chúng sanh tức là Bồ-đề, chẳng còn được nữa. Tất cả chúng sanh tức tướng Niếtbàn chẳng còn diệt nữa. Bồ-đề trở thành đạo chứng đắc. Đã tức chúng sanh nên không hề được Niết-bàn, tức là quả vắng lặng, đã tức chúng sanh cũng chẳng diệt khác. Bồ-đề, Niết-bàn là quả thượng pháp, còn tức chúng sanh, đâu thể khiến pháp tánh lìa tham dục. Vì tăng thượng trở xuống là dứt nghi. Nghi rằng: Nếu thế sao trong kinh dạy dứt tham dục, cho nên làm dứt nghi rằng vì tăng thượng mạn mà nói dứt tham dục. Phàm phu gọi là chứng, Nhị thừa gọi là cực, vì hai người này mà nói lìa dâm nộ. Vì sao? Vì phàm phu si mạn nên dạy phải dứt, Nhị thừa cơ gần nên nói dứt. Nếu không có hai thứ này mà thuận theo các Bồ-tát thì phải nói tánh dậm nộ si tức là giải thoát. Cho nên nay quán tệ, chẳng bảo hai thứ người thượng mạn này. Tất cả trần lao là hạt giống Như lai. Kinh sau đều nói ba thứ chủng tánh. Trần lao tức là hạt giống liễu nhân, năm vô gián, v.v… là hạt giống nhân duyên, sáu nhập bảy thức là hạt giống chánh nhân, nên biết dục tệ tức pháp tánh chủng. Văn kinh riêng đối, văn này theo chung. Cho nên chỉ chép: Tệ tức pháp tánh. Núi biển sắc vị v.v… là nêu thí dụ, như mầu núi Tu-di, như vị biển lớn. Tỳ-đàm, Câu-xá đều chép: núi Diệu Cao bốn mặt mỗi mặt đều có một mầu, phía Đông mầu vàng ròng, phía Nam mầu lưu ly, phía Tây mầu bạc trắng, phía Bắc mầu pha-lê. Tùy phương của mặt mà nước đồng mầu núi. Chúng sanh vào đó đều đồng mầu nước. Đại luận quyển một trăm nói: Sách ngoài nói núi này toàn mầu vàng ròng, chúng sanh nhảy vào đó mầu ấy không hai, nên nói là mầu núi. Về vị biển, Đại Kinh chép: Các sông chảy ra biển đồng một vị mặn, nên nói vị của biển Văn cách chữ đối nên chép: Núi biển sắc vị. Pháp tánh cũng như thế, các pháp vào trung đồng một lý vị. Cho nên ngoài pháp tánh chẳng có một pháp nào khác. Cho nên nói chẳng hai chẳng khác. Thường tu quán trở xuống là kết vị, tức quán tham dục, nếu chẳng kết vị sợ người mê lạm, cho nên phải kết. Trong sáu tức chẳng nói lý, vì hiện tu quán, lý sở quán tức là lý. Phá tệ căn bản, quán pháp tuy viên, Đồng Luân trở xuống là trước thô hoặc đi trước, cho nên đến vị này mới phá căn bản. Ở trong tham tệ trở xuống là kết thành ngang dọc. Sáu tức cạn sâu, nên gọi là dọc. Các độ nhìn nhau không có trước sau nên gọi là ngang. So sánh sáu độ trên đều phải kết. Trong thiện ít lạm nên chẳng kết. Kế quán tệ sân rộng phải đồng trước. Văn này dẫn lược. Văn trước lập cảnh, tức lại chỉ sân làm cảnh quán nay. Đương tứ nhậm trở xuống là khởi quán phương tiện.

Lệ với tham dục ở trước có thể dùng y cứ mà biết. Kế khởi quán, ví dụ trên cũng phải sáu mươi bốn câu. Trong văn lược còn tám câu đầu trong mười sáu câu, đó là sanh và Vô sanh, mười hai câu (ba, bốn) đều lược văn từ, tiện nói chỉ nói đã chẳng được sanh, cũng chẳng được diệt, diệt tức chẳng sanh. Nói từ ai, v.v… là qua mười hai sự phải thuộc một sự, chung suy tể chủ nên chỉ nói ai. Tướng mạo vắng lặng là quán không, mười giới là quán giả bốn đức là quán trung. Đó là trở xuống là dẫn chứng, trước dẫn vô hạnh, nói đủ ba độc cho nên trong đây chẳng dẫn lại. Tịnh Danh nói chúng sanh, Bồ-đề, Niết-bàn, ý đồng như trước. Quán phạm giới trở xuống là lược so sánh tệ khác, độc khác, thuộc độc tệ khác, nên nói tất cả. Si trệ ở tà nên nói tà si. Cho nên dùng nhân duyên làm năng trị là nhân duyên một pháp trị tà si, nên nói vào sâu duyên khởi, dứt các tà kiến.

Bốn là quán vô ký, là trước bày quán cảnh nêu tướng vô ký, khác với hai tướng các thiện, các ác ở trước. Sở dĩ trở xuống là dụng quán ý. Có một cơ này nên nay biết đây là vô ký, lại có khả năng làm cảnh, cho nên được quán. Đại luận nói trở xuống là dẫn chứng. Tâm vô ký giống như không biết. Trong luận đã nói, vì có Bát-nhã cho nên phải quán. Vừa nói biết làm sao là tánh vị ấy kém, khác nhau với thiện ác, lại phải chiết phục nên nói biết làm sao. Lại dẫn luận mà cho phép là sao, là pháp hữu lậu ba tánh gồm thâu, đã nói thiện ác phải nói vô ký. Nếu chẳng thế thì cảnh quán chẳng khắp. Lại nếu nhậm thiện ác cũng quán không tuệ sao chỉ vô ký. Nếu có Bát-nhã thì được tu quán đâu riêng thiện ác, lại y cứ vào một lần thiện ác dễ động, vô ký khó nâng, khó dễ tuy khác nhưng đều phải dùng quán. Lại vừa từ Báo pháp đại khái mà xếp. Nếu nói rõ thì ngoài tệ độ ra tất cả tâm khác đều gọi vô ký. Cho nên vô ký chẳng thể chẳng quán. Quán này trở xuống là suy thành cảnh quán. Tâm tướng chẳng hiển cảnh ấy khó duyên. Nếu cùng thiện ác đối biện đồng khác thì vô ký nên biết liền thành cảnh quán. Cho nên nói đồng thì chẳng phải vô ký. Khác trở xuống là dùng bốn câu mà suy. Ký tức thiện ác nên đối mà suy, tánh nó mịt mờ bốn vận chẳng hiểu. Cho nên chỉ đối bốn câu thiện ác mà suy. Hiện văn chỉ có bốn câu mà suy, nếu phòng chuyển kế cũng phải dùng đủ mười sáu câu, tức là vô ký sanh chẳng sanh, cũng sanh chẳng sanh, chẳng phải sanh chẳng phải chẳng sanh, cũng đều có bốn câu. Đã không bốn vận chẳng cần chuyển suy, đến sáu mươi bốn câu. Cầu ký chẳng thật có, là cầu ở thiện ác còn không thật có, thì vô ký cùng ai đối biện đồng khác. Đã không đồng khác thì sanh tức Vô sanh, cho nên chẳng thật có. Nếu chuyển kế thì theo câu sanh này. Văn nay còn lược cho nên chỉ phức nói không, phải họp không phải tan và không phải sanh diệt. Cho nên tâm tánh vô ký chẳng khác với tâm tánh thiện ác ở trước. Thể đồng mà tên khác, cho nên gọi là chẳng phải họp tan v.v… Tánh đã như thế cho nên vô ký có khả năng làm cảnh quán. Lại trải trở xuống là kế đem vô ký mà trải mười hai việc, tức chỉ cho mười hai sự gọi là xứ vô ký cập, là lệ theo trước rất dễ hiểu. Như thế trở xuống là kết thành ba quán. Trước là quán không, mười giới là giả, pháp tánh là trung. Pháp tánh thường vắng lặng trở xuống là kết một chỉ quán. Ở vô ký trở xuống là dẫn chứng, ý cũng đồng ở trước. Cũng phải dẫn đủ các kinh Vô Hành, vô ký tức phải si tệ. Cũng phải dùng ý trong Tịnh Danh: Vô ký tức là Bồ-đề, Niết-bàn. Chỉ suy vô ký và ký đồng khác liền thấy lý vô ký pháp tánh. Cũng phải đối tăng thượng mạn là nói đoạn vô đoạn và kết nhiếp, v.v… y cứ trước rất dễ hiểu. Cho nên nói so sánh với trên, lại kế trở xuống là dùng ba chỉ quán kết ba chương trước. Thiện sau cùng là chỉ các ác mới chung tướng thiện ác, xoay vần nhìn nhau chỉ viên là thiện. Viên ở sau cùng cho nên thành tiệm. Như cảnh nghĩ bàn sau rốt là quả Phật, trước trải chín trước nên thành nghĩ bàn, huống chi lại kết văn không phải tướng tu hành, chẳng cần lại vì viên tiệm làm ngại. Thiện ác đều bình đẳng, tướng riêng là ác, sáu độ là thiện, mỗi pháp đều là ba quán pháp giới. Cho nên gọi là Đốn, đủ như trước nói. Nhiếp nhắc lại thiện là chẳng thuộc hai thứ trước mà chẳng ngoài hai thứ trước, khởi không thuộc không, khởi có thuộc có. Trung đạo từ bi cũng giống như thế. Cho nên nhiếp nhắc lại gọi là bất định, cùng quyển thứ năm ở dưới nhiếp nhắc lại bốn câu. Văn khác nghĩa đồng. Đó chỉ là thành bốn câu.

 

PHẦN 5

“Kế lại bốn thứ” trở xuống là phân biệt. Văn trước lược xếp hạnh khác mà lý đồng, vì tùy ý mình đối ba mà biện riêng. Vì sao? Vì nói chỗ phát động chướng khác nhau mà lý quán chẳng riêng. Hỏi: Thường ngồi quán ở ba đường v.v… thường thực hành quán ba mươi hai tướng của Phật, v.v… Phương Đẳng nói quán ở Ma-ha Đản Trì Tôn dung Đạo cụ, v.v… Pháp Hoa nói quán voi trắng sáu ngà, v.v… Tùy ý mình quán thiện, ác vô ký, v.v… bốn quán đều khác, vì sao gọi là đồng? Đáp: Đây đều căn cứ chỗ sự trãi qua mà nói. Nếu năng quán mà quán thì đều một tâm, lý của sở duyên đều là ba đế. Cho nên được nói lý quán đồng. Nếu chỉ trở xuống là nói phải cần lý để thấu suốt sự làm. Lại chẳng được ý lý quán trở xuống là nói phải dùng lý làm chỗ nương cho sự. Nếu sự tướng trở xuống là dùng ba đối này mà phân biệt gián và vô gián. Phương pháp hạn cục ở ba, là đối ba để xếp vào lý sự chung riêng. Trong đây y kinh đều có phương pháp. Huống ba Tam-muội chỗ chẳng nhiếp thì đều thuộc ở đây. Không phải gọi trong đây chẳng cần phương pháp. Chỉ Tam-muội này chẳng cần phương pháp, cho nên phương pháp hạn cục ở ba thứ trước. Hỏi phân biệt bốn Tam-muội có khuyên hay không khuyên? Ý hỏi rất dễ thấy. Ý đáp là trong Tam-muội này tuy chung các kinh và các điều thiện để cho đối với ác mà tu chỉ quán, vì ngăn ngừa độn căn chẳng hiểu ý văn, cho nên nói thẳng quán mà không nói tu. Nếu y cứ theo văn trước mà khởi mà chiếu cũng là ở khởi mà khuyên tu quán, chẳng được bày nói hiển liễu thưởng khuyên. Cho nên nhìn trước gọi là không khuyên tu. Nếu y cứ vào các kinh năng diệt tội nặng, vì có lỗi nặng nên càng khuyên tu. Cho nên thỉnh Quan Âm chép: Trừ sạch dơ bẩn, khiến được thanh tịnh. Các kinh lệ theo đó nên không phải hoàn toàn không. Sông hoài tối thắng là nói Sư có lỗi tự làm. Sông Hoài ở phía Bắc Hà Bắc người tà không lạm gọi là Đại thừa, vào ác quán không cho nên dụng dụ không cấm bắt rắn. Tham dục như rắn pháp quán như cấm, dùng quán dục như bắt rắn. Bốn câu bất thiện như không cấm. Như kinh A-lê-tra chép: Phật ở chỗ ông Cấp Cô Độc vì sao Lê-tragià-đà-bà-lợi sanh ác kiến: ” tôi biết Thế tôn nói hành dâm dục chẳng chướng đạo.” Tỳ-kheo ba lần khuyên can chẳng bỏ, bèn đến bạch Phật, Phật bảo gọi đến. Khi đến Phật hỏi thì tăng nói đúng thế. Phật hỏi các Tỳ-kheo, thì đều nói Phật chỉ nói dục như lửa, như rắn, như thuốc độc, v.v… Phật bảo ông ấy hiểu trái ngược, nhiễm người muốn bắt rắn luôn đi tìm rắn ở trong khu rừng vắng, gặp một con rắn rất lớn, liền nắm eo rắn, rắn ngoẹo đầu cắn vào tay chân và các nơi khác vì không biết cách bắt rắn, nên phải chịu khổ dữ. Hiểu nghĩa điên đảo cũng như thế. Muốn giỏi bắt rắn, tay cầm gậy sắt, thấy con rắn lớn trước phải lấy gậy sắt đè đầu tay nắm cổ, thì đuôi rắn có quay lại cũng chỉ nắm lấy tay chân và các phần khác, chẳng làm hại được người bắt rắn vì giỏi biết cách bắt rắn. Nay không có quán pháp mà vào ác cũng. nói ác chẳng chướng lại bị ác hại. Nếu dùng gậy Diệu quán vào rừng sáu trần, gặp rắn tham dục đè đầu bốn vận dùng quán nắm cổ chẳng để độc hại đến thành thân nghiệp, mà mất thanh tịnh thường trụ pháp thân. A-lê kia không có gậy chánh quán mà chỉ nói tham dục không chướng, nghĩa vừa muốn đồng nên mượn dụ này. Nay ở dưới đây tức Tiên sư nói tướng không cấm bắt rắn, là Tiên sư vì kẻ độn căn chướng nặng tu thiện không thành tạm cho vào ác tưởng giống quán không nghĩa là hiểu không này xem là chứng sâu tức lỗi tự hành. Chẳng biết trở xuống là lỗi giáo tha. Thiện mình chẳng sanh nên bỏ thiện theo ác. Thuần đem không giải vào ác mà dạy người. Người cũng có lúc sanh không giải, liền lấy làm y cứ, nghĩa là cho ác là thật, từ đây trở xuống không giải cũng quên. Chỉ gây tạo nhiều ác. Mù không mắt trở xuống là lỗi đệ tử học lầm. Mắt không giáo gọi là mắt mù, tu thiện chẳng thành gọi là căn độn, khởi nhiều phiền não là nặng về phiền não. Những người như thế lại nghe sư nói hoàn toàn khiến vào ác, thuận dục thuận tình tạo nhiều các ác. Bèn khiến trăm họ trở xuống là nói lỗi tự tha. Lỗi tự tha cho nên dân khinh vua mất. Nay thời Ngô Việt, các phong tục hãy còn đem cô giới làm Tiểu thừa, để họp tạp làm vô ngại. Đời Tùy cũng có nên nói chưa cải. Sử ký trở xuống là dẫn sư nêu lỗi. Trước dẫn Sử Ký để nêu lỗi sư dối trao. Chu là quốc hiệu họ Cơ. Đế vương Thế Kỷ chép: Vợ Khốc Đế là Khương Nguyên gặp vị Thần mà có thai cho là không tốt, bỏ vào hẻm quê, trâu dê chẳng đạp, bỏ vào băng lạnh chim xòe cánh che, Nguyên xem là Thần nên đem về nuôi. xem là

Nông hầu. Thuấn dâng lên vua Nghiêu cho làm tắc quan (quan coi việc lúa thóc) nên gọi là Hậu tắc, ban họ là Cơ, trước Võ sau Noãn, gồm ba mươi bảy vua. Tụng rằng: Võ Thành Khang Thiệu Mục cung Ý, Hiếu Vi Lệ Nghi Thuyết Huề Bình, Hằng Trang Hy Tuệ Tương Hạng Uông, Định Phân biệt Linh Cảnh Trác Kính Nguyên, Trinh Ai Tư Triết Oai An Liệt, Hiển Thuận Noãn (tên ba mươi bảy vị vua nối nhau) Huề làm vua không quá một năm. Có chỗ nói ba mươi tám. Tả Truyện chép: trước Bình vương dời về Đông Tân, có Địch Y Xuyên thấy đội tóc mà tế ở Dã giã rằng:chẳng kịp trăm năm. Đây là rợ nhung ư? Lễ nó trước mắt. Nói Chu Mạt, chỉ là lời cuối của cuối chớ không phải cuối cùng. Nói Đại Nhung là sáu Nhung, Trước gọi sáu Hỗn, nay thì đất ở huyện Lục Hỗn. Tức là Đường Ngu về trước có Khuyển Nhung v.v… ở biên giới phía bắc nước Hán. Theo chăn nuôi mà dời đi, theo cỏ cây mà dời đến. Không cày cấy có chăn nuôi đều có địa phân mà không văn thư, cho nên nói năng theo thắt nút con trai hay cỡi dê bắn cung, tập cung tên, không lễ nghĩa, Quân vương trở xuống đều ăn thịt súc vật, trẻ thì ăn đồ ngon béo, già thì ăn đồ dư, nhỏ sang già hèn. Cha chết thì lấy mẹ làm vợ, anh chết thì lấy chị dâu làm vợ. Từ nhà Ân Chu trở xuống thì xâm lấn Trung quốc chẳng dứt giống như diên. Nhà Chu bị xâm lấn, Tông Xã sắp tận, còn bất tận giả, thì giống như diên. Sau Tây Bá đánh Khuyển Nhung đuổi về Lạc Bắc. Luôn luôn vào cống gọi là Hoang Phục. Từ đó trở xuống Khuyển Nhung chẳng đến, Bị Đãn từ đó nhà Chu suy tàn đâu nên bắt chước. Lúc đó, quấy nhiễu như cuối đời Chu, Tà sư như thay áo chánh giáo như thức giả, phá giới như thất lễ, dục cảnh như Khuyển Nhung, phá hại chánh quán như xâm lấn Trung quốc, chánh nhân chẳng dứt như giống một Diên. Duyên liễu dần mất nghĩa như dần hết. Lại Nguyễn Tịch trở xuống là lỗi đệ tử lầm nhận. Trong đó, trước nêu Công Khanh hiệu Nguyễn làm loại. Liệt Truyện chép: Nguyễn Tịch tên là Từ Tông, là người họ Trần Lưu Úy, dung mạo khôi ngô chí khí rộng lớn, riêng được nhận tánh chẳng nhờ ai, vui giận chẳng đổi sắc mặt, hoặc đóng cửa đọc sách nhiều ngày chẳng ra, hoặc dạo chơi núi sông, ở đêm quên về, thích uống rượu say, quên mất hình hài. Người thời ấy thường gọi là gã khờ. Đời Tấn Ngụy thiên hạ có nhiều danh sĩ mà ít người hoàn hảo. Nhân chẳng giao tiếp việc đời, thường uống rượu đến say nhè. Đến khi Văn Đế phụ chánh mời làm Đông Bình Tướng, cỡi trâu mà đến, được một tuần lễ thì về. Tuy tánh chí hiếu mà chẳng câu chấp lễ giáo. Mẹ chết thì đánh cờ với người, người xin thôi thì quyết giữ lại để đánh bạc. Đánh bạc xong thì uống rượu hai thăng, hô lên một tiếng ói máu mấy thăng. Bùi Giai đến điếu chỉ ngồi say nhìn thẳng mà thôi. Chỉ nhìn người tục lễ bằng đôi mắt thờ ơ, nên người lễ tục ghen tức như kẻ thù. Có lúc vội đến nằm bên thiếu phụ ở cạnh nhà, nếu có người chết không thân thuộc thì đến điếu. Đi không theo đường, cùng đường thì khóc mà trở về. Tông tập chẳng còn dùng bôi ngồi vây quanh chậu cùng uống. Như thế mà xa đản đâu thể bắt chước. Đó là Tư Mã Thị diệt (tướng mất của họ Tư Mã). Ny cứ là Tấn họ Tu Mã, con của Cao Dương Lệ, làm hạ quan. Khi Chu làm quan Tư Mã nhà Hạ thì lấy đó làm họ. Hoài Mẫn đến Hiếu Võ năm thứ mười lăm, vua thời Mẫn Đế nước Tấn mất, do các

Hiền đạt chẳng tập binh qua, còn Văn thì xa đản. Sau con cháu Công

Khanh bắt chước, bèn bị Ngũ Hồ xâm lấn. Nhân đi Giang Đông, nên có Đồng dao rằng: Năm ngựa nổi trên sông, một ngựa hóa thành rồng. Do đây con của Tuệ Đế là Duệ dời đô về Kiến Nghiệp hiệu là Đông Tấn, xưng là vua đầu tiên. Đến thời Hiếu Võ lại đam mê tửu sắc. Do đây mà nước suy. Nhà Tấn mất do con cháu công khánh bắt chước Nguyễn Tịch. Trước có nạn ganh người Hiền lánh đời giả điên sau không có ánh kỵ tài, đâu cần bắt chước Đản. lại con của anh Nguyễn Tịch là Hàm, con thứ của Hàm là phù, thời Nguyên Đế làm Tham quân, gục đầu uống rượu mà chẳng lo việc vua, thường bị Sở ty xét xử, Đế tha cho. Sau cho làm trưởng sử Dương châu. Vua bảo khanh trấn giữ quân phủ phải bớt uống rượu. Thưa rằng: Bệ hạ chẳng vì thần bất tài mà giao cho trọng trách quân binh. Thần chẳng dám nói gì. Nay Vương vị làm oai, phong giáo hiển hách Hoàng Trạch rảnh rang, giặc cướp mất dấu, khí xấu đã lắng thì, nhật nguyệt sáng tỏ. Cũng có thể lửa đuốc chẳng dứt. Chính phải Đoan Cũng ngâm vịnh, để vui suốt năm, vừa bị Tô Tuấn làm nạn, đây cũng do lỗi không sửa soạn binh giáp. Tập Tam-muội cũng giống như thế, bị nạn gặp chướng ở ác mà tu quán, không có nạn đâu cần bỏ thiện theo ác. Y giáo tu quán như dùng văn võ, vô cớ mà vào ác bắt chước buông lung, quên trao tà pháp như Nguyễn cuồng rượu, đệ tử vọng nhận như con của Công Khanh. Vũ văn trở xuống là nói Chu Võ tin lời sấm để nêu vọng nhận. Trước Viên Đế họ Thần Nông bị Huỳnh Đế diệt, con cháu chạy trốn ở tại Sóc dã. Tiên Tỳ thờ làm chúa, sau gọi Phổ Hồi, nhân đi tuần thú được ấn, Phổ Hồi cho là trời trao cho, Tục gọi trời là Vũ, nên gọi là Vũ Văn. Khi mới lên ngôi cũng tin Phật pháp. Sau tin theo sấm vĩ nói rằng áo đen là vua, bèn trọng Đạo sĩ, vâng theo bùa chú, mũ đen áo vàng thường mặc, tâm ghét đạo Phật, muốn giết sạch hết, nhưng sợ người tin Phật quá nhiều chưa dám chuyên chế. Có Đạo sĩ Trương Tân dối trá quá quắt, biết ý đó bèn ngầm đưa Lý Tông bác bỏ đạo Phật. Sấm Vĩ như ác sư, Chu Võ như đệ tử, cũng do Nguyên Tung ma nghiệp v.v… Chu Võ đã kỵ lại thêm Nguyên Tung cho nên nói cũng do Nguyên Tung ma nghiệp. Nguyên Tung ép vua phải thâu nhận lời mình muốn chế kinh dìm Phật bèn mời tăng vào cung hành đạo bảy đêm, vua cùng đồng dụ bảy đêm không lỗi. Lại sai Tư Lê Đại Phu Chân Loan, biết rõ hai giáo Phật đạo. Loan dâng lên luận Tiếu Đạo ba mươi sáu thiên để cười ba mươi sáu bộ. Lúc đó, có Pháp sư An có tình nặng với vua, có làm luận Nhị Giáo mười hai bài, nói Đạo giáo nằm trong chín lưu, không được làm giáo chủ riêng. Cho nên giáo chỉ có hai. Pháp sư Viễn có luận Kháng Đế. Sau vua đi tuần phía Đông đã nhậm đạo lâm mở Phật pháp. Lại nhân vua nói mà dâng biểu xin mở Phật pháp, vốn là người ở Hà Đông, cùng gốc với Nguyên Tung. Viễn Tổ từ hoạn gia đến Thục Xuyên. Lương Mạt đống đô ở Đông thành tức Hậu Lương Tiêu Sát. Sát chết thì quy lập. Đến niên hiệu Thiên Bảo thứ mười hai, tức đời Trần Thái Kiến thứ sáu, tức niên hiệu Vũ Văn Kiến Đức ba thì mất. Hai giáo Phật, đạo Vũ Văn trải qua bảy năm, đến niên hiệu Thiên Hòa năm thứ hai, Tung dâng biểu tâu rằng: Đời Đường Ngu không có Phật giáo mà nước yên, Tề Lương có chùa tháp mà nước mất. Chỉ lợi dân ích nước thì xứng tâm Phật. Phật lấy đại từ làm gốc, chẳng hề làm khổ dân đen, kính trọng tượng gỗ đất thỉnh tạo Bình Diên chùa lớn, dung chứa bốn biển muôn tánh, chẳng khuyên lập khúc, thấy già-lam. Riêng an Nhị thừa năm điển. Chùa Bình Diên, không ngớt đạo tục, không phân biệt oan thân, lấy Thành Hoàng làm chùa tháp, tức Chu Võ là Như lai, dùng thành ấp làm tăng phòng, hòa vợ chồng làm thánh chúng. suy khiến đức làm ba cương, tôn tuổi già làm Thượng tọa, chọn nhân trí làm chấp sự, tìm dõng lược làm Pháp sư. Ấy vì sáu hợp không tiếng oán trụ, tám phương có khúc ca chu. Loài bay lội ở yên trong hang ổ, nước đất trường sanh đều đủ năm mươi mốt việc, dâng biểu rồi sau sanh nhọt độc mà chết. Ung là yêu quái diệt pháp, liên quan gì với tùy ý mình. Nguyên Tung như thầy ác, Chu Võ như đệ tử, vì sao thế trở xuống là Thích tin lầm? Người tuy Tam-muội cũng giống như thế. Một là trong không tuệ giải; hai là tin vào thầy mình; ba là tham ưa biết trước. Cho nên biết phải dùng giáo tự làm khuôn phép mới tin thầy, nếu không thì toàn làm ác mà cho là chánh đạo. Biết rồi sửa đổi đến lý không xa. Như kinh Thí Dụ chép: Có lừa kéo xe ngày đi mấy trăm dặm. Ở chỗ nghĩ gặp anh, anh bảo em rằng: Chớ để lừa này gặp các lừa khác. Em nói: Cũng như người thiện chơi với nhau, kẻ siểm nịnh gặp nhau, vật cùng loại gặp nhau, ắt đều vui mừng. Người em bèn cho lừa này gặp các lừa khác. Thấy rồi thì lại chẳng kêu chẳng ăn chỉ ngửi nhau mà thôi, sau anh cỡi liền nằm chẳng đi. Người anh nổi giận cắt đuôi và tai, bị khổ liền đi. Lừa nói Đại gia ôi, ông thả tôi gặp các ác tri thức. Tôi hỏi sao các anh béo tốt như thế, thì đáp: được cấp cho ông đào chở đất. Nếu gặp đường xấu thì liền nằm chẳng đi, ông ấy bèn chất gánh nặng ra thả ta ở bên đường, ăn được cỏ tốt, trở về được cỏ non nên mập ra. Hỏi tôi sao ốm nhom thế, tôi đáp kéo xe ngày đi mấy trăm dặm ăn uống cực khổ, nay tôi bắt chước nó để được thả ra nhưng bị cắt đuôi mà chẳng dám nằm, xin được tha sống. Chủ thương bèn thả. Người cũng như thế tin vào thầy ác phải vời lấy quả ác. Thí như Tây Thi nhăn mày than đau bịnh. Trang Tử chép: Tây Thi đau tim nhăn mặt trong làng, người xấu trong làng thấy đẹp, bèn về vỗ ngực mà nhăn mặt, người giàu trong làng thấy thì đóng chặt cửa chẳng ra, người nghèo thấy thì đánh vợ con mà bỏ chạy. Người ấy biết nhăn đẹp mà không biết lý do nhăn đẹp. Huyệt là chìm sâu, phi là bay cao hai câu này ở trong văn Mao Tường Lệ Cơ nói: Như một cô gái người thấy thì yêu thích, chim thấy thì bay cao, cá thấy thì lặn sâu. Nay văn đem hai câu này cùng thành văn Tây Thi, người ấy chú văn Tây Thi rằng: Lễ nghĩa đương thời mà dùng thì Tây Thi, quá thời mà chẳng bỏ tức là lân nữ. Phàm lễ nghĩa pháp độ của Tam Hoàng Ngũ Đế cũng như thô lê quất tụ, vị nó trái nhau mà đều ăn ngon. Cho nên lễ nghĩa pháp độ phải hợp thời mà dùng. Nay lại lấy áo khỉ vượn mà mặc cho Chu Công. Ấy thì răng nứu xé rách (cắn nát) hết. Xem người xưa cùng người nay cũng như khỉ vượn khác Chu Công. Tùy ý mình cũng giống như thế. Phải đúng lúc mà biến, biết nên làm hay không nên làm, đâu chỉ bắt chước vào ác mà không biết lý do vào ác. nay dùng dụ Tây Thi là để nói người vào ác tu quán. Căn lợi được lúc như Tây Thi, tánh nhiều tham dục như bịnh tim. Ở dục khéo tu như nhăn mày đẹp, càng thêm sáng sạch như càng đẹp. Căn độn thất thời như cô gái lân cận. Trí không phải khéo léo như vốn xấu, vào ác như bắt chước nhăn mày chỉ làm lớn ác tà như di kịch. Có người làm Tướng quốc, vua Đại thần, v.v… họp người nghèo thì cách xa văn, lời không tương đương, lại không phải văn kế. Nay thử hợp thì thuận ý văn. Người Tiểu thừa như kẻ nghèo, người Đại thừa như người giàu. Người tu thiện như ở trong hang, người tập tu định như đang bay, là bốn thứ người chẳng ưa thấy ác, thấy ác ấy thì càng tự cố gắng. Niết-bàn Tiểu thừa là dời xa, Bí Tạng Đại Thừa như đóng cửa, giữ giới bền chắc là lặn sâu, tâm mong hẹn thượng giới là bay cao. Văn trước là nêu lỗi của bổn sư, văn này là nêu lỗi của đệ tử. Như thế mà nêu lên giải thích thì gặp văn. Các người ấy trở xuống là lại trách. Tham dục điên nên đuổi theo sấm sét dữ, phàm phu quán không như ruồi xanh mà mà chuyên vào ác là dục đờm dãi. Lỗi thầy trở xuống là nói lỗi thầy mê ý chỉ sai cơ, vị thầy này chẳng hiểu lời nói vào ác. Kế dẫn ý Phật có pháp thí hợp. Pháp đầu như văn. Thí như trở xuống là nêu thí dụ. Nóng nhiều cấm miệng phải dùng huỳnh thang mà trị, chẳng thể tiếc răng mà phải chết. Khởi tham dục nặng như quá nóng, chẳng nhần đối trị như cấm miệng, pháp theo ý mình như huỳnh thang. Ở ác tu quán như cạy răng. Vào ác tuy xấu nhưng để giữ gìn tuệ mạng. Theo ác chẳng quán như đổ thuốc không vào. Phật cũng như trở xuống là hợp. Chung hợp đậu cơ. Trước trong ác cơ nói như ngựa chạy nhanh, v.v…, kẻ lợi căn như ngựa chạy nhanh, khởi ác như lạc đường, nghe nói như bóng cây roi, dục dứt như đường chánh. Tạp A-hàm chép: Phật bảo Tỳ-kheo có bốn thứ ngựa: Một là thấy bóng roi liền sợ mà theo ý người cỡi; hai là roi chạm lông thì liền như trên; ba là roi phải chạm vào thịt thì mới sợ; bốn là thấu xương rồi mới biết. Kinh Hợp Dụ rằng: Ngựa đầu như trong xóm khác có người chết thì liền chán sợ, ngựa kế như trong xóm mình có người chết thì chán sợ, ngựa ba là người thân của mình chết mới sợ. Bốn là phải chính thân mình bịnh khổ mới sợ. Trong Giải Thích Điều Ngự của Đại Kinh quyển mười sáu cũng dùng dụ bốn ngựa nghe sanh già bịnh chết. Cho nên biết hai kinh đều dùng ý dụ của ba tạng. Nay mượn dụ này để đối bốn giáo. Ngựa chạy nhanh tức là viên cơ, tham dục tức đường đi. Nếu lấy ý tránh song mà thực hành tham dục thì đều không phải bốn giáo. Nếu người căn cơ cạn thấp kế dùng Biệt giáo cho đến thông tạng như ba ngựa kia ở trong viên cơ cũng phải xứng cơ mà phải có thiện, phải có ác. Nếu có trở xuống là cơ thiện. Phật nói có hai thứ trở xuống là kết bác bỏ. Công chống Phật mà sai vật cơ. Lại nữa, trở xuống là nêu thời kết lỗi. Văn đầu nêu thời nghi ở trong ác mà tập chỉ quán. Nay ông trở xuống là dẫn dụ dẫn sự. Ba phá hoại trở xuống là kết lỗi. Không phải lúc có nạn chẳng nên dùng ác, sao ý thuần dụng v.v… là dẫn kinh nêu giải thích. Sự chẳng được nên khiến ở ác mà tu, ông chẳng quán cơ thuần khiến dùng ác như các ngoại đạo thường dùng tà thường. Nên Đại kinh nói thí như thầy thuốc xưa thường dùng thuốc sữa, như ngoại đạo kia chỉ nói tà thường. Khách thầy thuốc Như lai cấm uống sữa, như nói vô thường để phá tà thường. Thành vô thường rồi lại dùng chân thường mà phá vô thường. Hai sữa mới cũ, tên sữa tuy đồng mà nghĩa tà chánh khác, tiến thoát thích hợp, không đồng ngoại đạo chỉ dùng tà thường, đầu độc tuệ mạng người. Nay cũng như thế. Đã dùng chẳng phải nghi mà tổn hại tuệ mạng người. Cho nên A-hàm trở xuống là dẫn việc trong kinh để chứng hợp thời là ý kết lỗi. Kinh Tăng Nhất quyển bốn mươi sáu chép: Trâu hợp bầy có lợi ích lâu dài. Kết dùng bài tụng rằng:

Hiểu sắc và tương ưng

Chà sạch vết lở loét

Thả khói và cỏ tốt,

An ổn và qua khỏi

Thời nghi để lại dư

Hộ nhau ở trâu lớn

Tỳ-kheo cũng như thế

Biết sắc bốn đại tạo

Khéo biết tướng trí ngu

Chà sát sáu tình căn

Khéo che mười tưởng lành

Truyền chỗ tụng làm khói

Bốn ý chỉ cỏ tươi

Mười hai bộ chỗ an

Tám chi Thánh chỗ thoát

Chớ nhận thỉnh xem thường

Gọi là biết thời nghi

Biết đủ là dư thừa

Kính hộ là tướng hộ.

Phật nói kệ rằng:

Thả trâu không buông

Người chủ sẽ được phước

Sáu trâu trải sáu năm

Xoay vần sáu mươi trâu

Tỳ-kheo giới thành tựu

Đối thiền được tự tại

Sáu căn mà vắng lặng

Sáu năm thành sáu thông.

Nay văn dẫn kinh an ổn chỗ thoát qua tức là bờ bến, tức là chỗ lội nước qua sông. Đây gồm Tự hành hóa tha. Tự hành có nạn nên cho theo hiểm, như việc vua v.v… khiến ở ác mà tu, không nạn ác dứt thì phải theo thiện. Căn cơ khác cũng lệ theo như thế. Cần phải xét rõ. Lại nữa, trở xuống cho nên dùng các việc nước lửa mà xét. Lại chẳng trở xuống là trách sai cơ toàn khiến dùng ác. Tịnh Danh trở xuống là dẫn chứng. Nêu Nhị thừa để so sánh với phàm sư. Từ đó trở xuống là thương than. Thì biển giới, v.v… là dụ những người này ở trong Phật pháp gọi đó là chết. Luật chép: Ví như thây chết kia biển lớn không dung chứa, bị gió mạnh thổi giạt vào bờ. Phạm tội nặng như thây chết, các biển chẳng nhận. Làm pháp tẩn đuổi đi như gió mạnh thổi, ra khỏi chúng như giạt vào bờ gồm bày Tự tha. Cho nên nói Hành, nếu chưa hành chỉ nói thì đồng lê tra, trái với tăng bình gián. Chỉ kết đề cát, nghĩa là đối với ác chứng đọa lỗi nhân pháp. Tự hành miệng nói. lại nói chứng đắc thì hai Di một Đề. Văn y cứ vào trọng Di cho nên nói đuổi bỏ. Nếu chỉ tự hành giáo tha thì một Di một Đề. Không khiến cây độc là dẫn dắt đuổi bỏ. Đại Kinh quyển ba chép: Ví như chỗ ở của Trưởng giả ruộng vườn nhà cửa sanh các cây độc, Trưởng giả biết rồi chặt phá dứt sạch. Nhà Trưởng giả là chỗ chúng thanh tịnh ở, cây độc là Tỳ-kheo phạm tội trọng, sanh ra sẽ chặt hết tức phạm thì phải đuổi bỏ. Kinh có ba dụ: Một là nước gần đến đánh trong cây độc có nhà; một là đầu có tóc bạc. Chương An hai giải thích chính dùng ý sau. Một là đối ba hoặc mà giải thích. Ny cứ gần đến đánh là dụ cho bốn trụ hoặc trí đánh nhau. Trừ tên cây độc, ví như trừ trần sa hoặc ngoại thể. Nhổ bỏ tóc bạc, ví như trừ bỏ vô minh hoặc đồng thể. Kế đối đuổi bỏ mà giải thích là trị đồng trụ đều học mà làm việc quấy. Tóc bạc là dụ trị đồng trụ đồng học mà làm quấy. Văn tuy dẫn một ý cũng gồm ba. Đồng trụ đều trụ, hoặc làm hoặc nói đều phải đuổi bỏ. Lại nữa, xét ác hạnh trở xuống là bác bỏ thầy tự làm hạnh riêng trái tâm. Trước dụng vặn hỏi mà nạn hạnh riêng. Thí như trở xuống là ví hạnh riêng ấy mà có chúng uế thanh. Nạn trở xuống là vặn hỏi trái tâm. Sở dĩ trở xuống là nói ý khuyên răn của phân biệt này vào ác giống dễ mà còn răn kiêng kỵ, đâu được ở đây mà khuyên tu. Như uống thang Huỳnh trở xuống là dụ răn kiêng kỵ. Vào ác xứng bịnh như uống huỳnh thang, chỉ ác làm đạo gọi là quá độ, cần phải luật giáo mà bổ để ngăn.

Hỏi: Chánh quán như nước, lý tánh như ngọc, các hạnh như gió, gió nhiều sóng dậy. Sự nghi xao động đổi dời khiến quán nổi đục, sao phải dùng bốn Tam-muội này. Hai phen trong đáp đều có thí hợp: Một là dụ người nghèo trách chẳng đủ. Nếu một trở xuống là hợp, nếu ở một thứ Tam-muội quán tâm liền đủ. Nếu tâm lạc hành và các nghi khác, vì sao lại vui với tâm lạc dục này. Nếu dụng trở xuống là hóa tha, tu hành đã như thế, hóa tha y theo tự hành này, thì trước sau khác nhau, tha cơ thì đó đây chẳng phải một thí như trở xuống là lại thí dụ. Lại cho tự hành một thức làm được, nếu dùng hóa tha chuyên nhất thì lỗi. Phiền não trở xuống là hợp. Trước y cứ một người, nếu hóa tha thì phải đủ bốn tất, bèn thành bốn phen bốn thứ Tam-muội, đâu chỉ là bốn. Kế y cứ nhiều người. Trước y cứ chung bốn thứ Tam-muội. Nếu là nhiều người thì đó đây đối nhau, lại phải ., lại y cứ trở xuống là sao chỉ như vừa rồi bốn thứ Tam-muội đối nhau là bốn. Mỗi Tam-muội còn có bốn tất huống chi lại là bốn ư? Nếu lạc hành v.v… lạc hành trở xuống là thế giới, nếu gốc lành trở xuống là người, nếu khi ngồi trở xuống là đối trị, nếu khi đi trở xuống là nghĩa đệ nhất. Trước y cứ thường đi mượn ngồi đối mà nói, nếu chẳng đối nói chẳng thể chỉ nói thích đi thì đi chẳng thích chẳng đi. Ở đây lại mở môn biếng lười, sao gọi là cần đủ bốn thứ Tam-muội. Cho nên trước nêu rằng: Một thứ đủ bốn. Dưới lại kết rằng ba thứ kia lệ theo đó. Thường đi đã thế, nếu nói thường ngồi cho nên lại phải đối đi v.v… mà nói. Hỏi: Thiện phu trở xuống là phân biệt căn già. Thiện tức là ba thứ trên và tùy trong tự ý các kinh và thiện. Thiện này thuận lý có thể tu chỉ quán. Như luận Khởi Tín chép: đã biết pháp tánh thể không san tham, thuận theo tu hành đàn Ba-la-mật, v.v… Ác đã trái ý, sao chẳng bỏ ác ở thiện mà tu tập lại khiến ở ác tu chỉ quán ư? Đáp: Chỉ y cứ bốn câu nên phải quán ác. Đại luận quyển hai mươi bốn chép: Thế tôn trí lực biết chúng sanh căn thượng trung hạ, là người căn lợi thì vì kết chỗ già, cũng như Ương-quật, là người căn lợi chẳng vì kết giá cũng như thân tử, là người căn độn mà không kết giá cũng như Bàn-Đặc, là người căn độn mà vì kết giá, tức là các phàm phu. Luận nhờ Tiểu thừa cho nên dẫn bốn thứ này mà nói chung bốn giáo, so sánh phải có. Lại Luận văn nói chung Như lai khéo biết các căn chẳng vì căn lợi không quá làm đầu, nay nói tu hành cho nên dùng riêng căn lợi không giá mà làm thượng phẩm. Trước Thân Tử một nghe ba đế mà được sơ quả gặp cậu đọa phụ chúng A-lahán. Đến Hội Pháp Hoa trước được thọ ký. Người đi trở xuống là nêu, nay dùng ví dụ, chuẩn nay mà biết xưa, dẫn hiện tại biết vị lai. Cho nên biết văn nay hai tu thiện ác tức là có giá không giá khác nhau. Vì phá giá nên phải có tu tập. Xưa không hai nghĩa, là xưa đã chẳng từng ở thiện tu tập, cho nên thiếu căn lợi không giá. Câu kế như Xà vương Ương-quật là nói đã nhờ tiểu nên không có Xà vương. Nay hiện có gió cho nên đều nêu, Xà vương gây ra tội nghịch buộc rất chặt, ngồi trong hội Pháp Hoa là chướng chưa phát, là chúng phàm phu nghe Diệu kinh này. Ở hội Niếtbàn cô phát chướng động tâm, sanh hối nhiệt khắp thân sanh ghẻ. Đời không có thuốc hay để trị thân tâm, là sáu thần tuy dẫn lời của sáu sư, (chẳng biết) có thể trị được bịnh nặng của ta (chăng), anh là Kỳ-bà dẫn đến chỗ Phật chỗ Phật cứu mạng mà hổ thẹn sợ sệt. Nghe nói ấm huyễn biết tội không sanh, như từ y lan sanh cây chiên đàn. Chướng trừ cơ thục, vô căn tín thành, phát tâm Bồ-đề nói nguyện rộng của mình. Nói vô căn tín, tức là vị Sơ quả của Tiểu thừa, Đại thừa tức là Biệt trụ viên tín. Ương-quật là như trong kinh Ương-quật được Vô sanh nhẫn. Trong kinh A-hàm trước nghe kệ Phật liền được sơ quả Nặc vương chết sau được A-la-hán. Chướng tuy chẳng bằng Xà vương gây ra tội nghịch, đã thành phương tiện hại Phật và mẹ gồm giết chín trăm chín mươi người, như thế trọng giá bất chướng thì chứng pháp. Nhờ lợi căn nên khiến được như thế. Roi để khuyên cố gắng. Người tu thời nay trở xuống là nêu nay để so sánh, chính là để đáp lại câu ở ác tu quán trước. Khéo tự xét lường xem có thể làm được hay không. Nêu phải vào ác chuyên thiện lại lỗi, giống xưa khó biết chẳng thể nói thế. Thứ lớp ba câu như Bàn-đặc. Kinh Pháp Cú quyển một chép: Phật ở nước Xá-vệ có người tà kiến tên là Bàn-đặc mới xuất gia, bản tánh ngang bướng. Phật khiến năm trăm La-hán hằng ngày chỉ dạy, ba năm mới được một bài kệ. Văn nay y theo A-hàm Đại luận nên nói chín mươi ngày. Phật biết thương xót bèn gọi đến dạy cho một bài kệ, kệ rằng: Giữ miệng nhiếp ý thân chớ phạm Như thế người tu được thoát đời.

Bàn-đặc cảm ân sâu của Phật mà tụng thuộc từ miệng. Phật bảo Bàn-đặc: Nay ông tuổi đã già chỉ tụng được một bài kệ. Người đều biết chẳng chẳng có gì kỳ lạ. Phải giải thích nghĩa ấy. Nói thân ba, miệng bốn, ý ba, quán chỗ khởi, xét chỗ diệt. Do đó mà sanh lên cõi trời, mà đọa xuống vực sâu, do đó mà được đạo Nê-hoàn tự nhiên. Phân biệt cho đến vô lượng pháp mầu. Tâm khai ý giải được A-la-hán. Do không già cho nên căn tuy độn mà dễ được đạo quả. Được đạo quả rồi thì năm trăm Tỳ-kheo thỉnh Ngài nói pháp chỉ dạy. Kế, Bàn-đặc đến đó ăn xong, các ni đều cười. Lên tòa xong tự hổ thẹn nói rằng: Tôi đức mỏng may được làm Sa-môn, trước rất ngu ngơ, học được một bài kệ chỉ biết sơ nghĩa lý nay sẽ nói. Các ni trẻ biết trước kệ ấy muốn đọc trước nhưng miệng không mở ra được, nên rất sợ sệt hối lỗi. Bàn-đặc do đó y lời Phật nói thứ lớp nói bày, các ni đều được quả A-la-hán. Sau Nặc vương thỉnh Phật và các Tỳ-kheo ngồi trong chánh điện. Phật muốn thử thần lực khiếntay Bàn-đặc cầm bát đến trước trước cửa cung, người giữ cửa không cho vào, bèn ở ngoài cửa mà thò tay đưa bát. Vua kinh sợ hỏi Phật: Tay ai thế? Phật nói tay Bàn-đặc. Vua hỏi chỉ tụng một bài kệ đâu được như thế? Phật nói: Tuy tụng ngàn chương mà không hiểu nghĩa thì có ích lợi gì, chẳng bằng một yếu nghe mà diệt được ý, tuy tụng ngàn chương không hiểu nghĩa thì có ích lợi gì, chẳng bằng mười yếu nghe làm được độ. Tuy tụng ngàn chương không hiểu thì có ích gì, hiểu một câu câu pháp, nghe có thể được đạo. Hai trăm Tỳ-kheo nghe xong liền được A-la-hán, vua và phu nhân không còn nghi. Kệ này đối kẻ cực độn mà mà nói đâu thể so với người học rộng tăng trí tuệ. Đọc nhiều các luận khác thì biết ý của Trí Giả. Như thế đều có ý chớ dối lấy bỏ. Như kinh Tăng Nhất quyển sáu chép: Anh thấy em tụng pháp cú khó khăn nên nói rằng: Ông nếu chẳng thể tụng pháp cú thì trở lại làm người tại gia, người em nghe liền đến trước cửa Kỳ-hoàn đứng khóc. Phật thấy hỏi thì đáp đủ như lời anh nói. Phật bảo thành Bồ-đề có thể do anh ông. Phật nắm tay dắt về Tịnh thất khiến tụng Tảo chửu, còn gọi là Trừ Cấu. Bàn-đặc nghĩ rằng: Tro đất ngói đá trừ sẽ được thanh tịnh, trói buộc là cấu, trí tuệ là trừ, nay dùng trí tuệ mà quét ty cứ trừ hết các cấu. Văn nay đã dẫn văn kệ tức ở Đại luận và Đại Kinh quyển hai mươi bốn. Kinh chép: Bốn sự là nhân Niết-bàn, nếu nói siêng tu khổ hạnh là nhân Niết-bàn thì không có việc ấy. Cho nên Bàn-đặc suy nghĩ một bài kệ thì được quả thứ tư. Nói Cưu-ma-la, Hán dịch là Đồng Chân, cũng dịch là Hào Đồng, cũng dịch là Danh Đồng, tức Đồng Kệ Chân Vô Nhiễm. Ba nghiệp vô nhiễm thì được quả vô nhiễm. Nếu y cứ vào được quả thì quá khứ cũng chẳng phải hoàn toàn chẳng tập quán. Năng lực quán mỏng yếu cho nên căn vẫn độn. Vì không ngăn cho nên nghe dễ được đạo. Thứ lớp bốn câu, rất dễ hiểu dưới là kết khuyên. Đạo là Thừa chủng, hai hạnh Tín pháp có thể đều là thừa, cũng đều được gọi là chỉ quán, cho nên khuyên người tu chẳng thể bỏ mà chẳng tu tập Thừa chủng. Đại kinh chép: Trở xuống là dẫn thừa giới bốn câu giải thích thành căn già bốn câu. Thứ sáu chép: Nếu người không giữ giới thanh tịnh thì thêm tổn bớt, nếu có người giữ giới thanh tịnh thì chẳng mất bày giới. Nầy người thiện nam! Đối với thừa mà hoãn thì gọi là hoãn, đối với giới hoãn thì không gọi là hoãn. Bồ-tát đối với tâm Đại thừa này chẳng lười biếng, đó gọi là vâng giữ giới. Văn kinh trước nêu sự giới. Kế người thiện nam trở xuống là nêu thừa huống chi giải thích. Nếu không có Đại thừa dầu có sự giới cũng không gọi là vâng giữ giới. Nếu có thừa dầu nói giới hoãn cũng chẳng gọi là hoãn. Chính ý muốn cho thừa giới đều gấp. Nay thừa nhà đây mở thành bốn câu để đối căn già, căn già là quả, thừa giới là nhân. Cho nên có giá do giới hoãn, căn độn do thừa rộng. Đều gấp thì căn lợi không giá, đều hoàn thì căn độn có giá giới cấp thừa hoãn thì căn độn không giá, thừa gấp giới hoãn thì căn lợi có giá. Kinh nói thà làm v.v… là dẫn chứng về thừa. Cho nên Nguyện Văn của Lương Võ Đế nói: Thà làm Đề-bà-đạt-đa chìm mãi trong địa ngục, chẳng làm Uất-đầu-lam-phất tạm được sanh lên cõi trời. Cho nên biết Điều-đạt tụng kinh rồi là Tín hạnh thừa chúng, tuy đọa địa ngục nhưng cũng do đây mà được thoát. Còn Sư Lam-phất Định không thừa xuất thế, dẫu được sanh lên cõi trời thì vẫn phải chìm trong đường ác. Phải siêng nghe, v.v… là khuyên tu thừa. Nghe tực là tín hạnh, tư tức là pháp hạnh, hai hạnh đã siêng thì trí căn sẽ lợi. Như Bà-la-môn say rượu đi là dẫn chứng về giới. Đại luận quyển mười ba chép: Khi Phật ở tại Kỳ Hoàn có một vị Bà-la-môn say rượu đến chỗ Phật muốn làm Tỳ-kheo. Phật sai các Tỳ-kheo cạo tóc và mặc ca-sa cho. Khi tỉnh rượu rồi thì sợ hãi thấy thân bỗng biến thành Tỳ-kheo, liền bỏ chạy. Các Tỳ-kheo hỏi Phật. Vì sao cho Bà-la-môn say làm Tỳ-kheo rồi cho trở về, Phật nói Bà-la-môn này trong vô lượng kiếp không có tâm xuất gia. Nay do say mà tạm phát tâm chút ít. Do duyên này nên về sau sẽ xuất gia. Các thứ nhân duyên xuất gia mà phá giới như thế còn hơn tại gia mà trì giới. Vì giới tại gia chẳng phải giải thoát. Cô gái giỡn chơi mặc áo ca-sa, Như kinh Uất-bát Tỳ-kheo Bản Sanh chép: Khi Phật còn tại thế, Tỳ-kheo ni này đã được quả A-la-hán có sáu thần thông vào nhà người giàu sang thường khen xuất gia, bảo vợ và con gái các nhà giàu sang rằng: Chị hãy xuất gia. Các cô gái chép: Tôi còn trẻ đẹp sợ sẽ phá giới. Tỳ-kheo ni chép: Muốn phá thì phá. Các cô gái hỏi phá giới có đọa địa ngục chăng? Tỳ-kheo ni nói muốn đọa thì đọa. Các cô gái cười nói đọa địa ngục thì phải chịu khổ. Tỳ-kheo-ni nói: Ta nhớ kiếp xưa, lúc ta là cô gái giỡn chơi mặc các y phục. Có lúc mặc áo Tỳ-kheo-ni mà đùa giỡn. Vì nhân duyên ấy mà thời Phật Ca-diếp ta làm Tỳ-kheo ni, tự ỷ mình sang trọng xinh đẹp, tâm sanh kiêu mạn mà phá giới cấm. Vì Phá giới bị tội nên phải đọa địa ngục chịu các khổ. Chịu tội xong rồi gặp Phật Thích-ca, xuất gia đắc đạo, thành A-la-hán, sáu thần thông tự tại. Cho nên biết xuất gia thọ giới đều ở từ xưa, xem là nhân xa. Cho đến khi gặp Phật được quả đều do nhân xưa, cho nên cô gái đùa giỡn còn xa giúp thừa chủng, huống chi là giới ư?

Trong quả báo thứ ba ở trước là chánh nói quả báo là ở cõi Thật Báo. Nếu nói cõi Thật Báo Vô Chướng Ngại thì ngoài Phương Tiện Hữu Dư. Nếu nói quả báo riêng thì tên ấy cũng chung. Cho nên ở Biệt phân biệt thông đối mà hiện diệu, trái rộng mà thuận hẹp. Diệu khắc bên thông thâu giáo, bèn nhiếp khắp người mới khắp. Cho nên đối Phương Tiện Đồng Cư gọi là biên, riêng dùng Thật Báo thuận gọi là Diệu, cho nên nếu chưa phá vô minh, chưa chứng Trung đạo thì đều gọi là trái. Sơ trụ trở lên chỗ pháp thân ở mới gọi là thuận. Cho nên sáu đường Bồ-tát Tam Tạng thông ở hai địa đầu, hai giáo vị phương tiện Nhị thừa. Biệt viên ngoại phàm, đây đều thuộc có biên. Báo ở giới nội, người học hai giáo biệt bảy trụ về trước, viên bảy trí về trước tàn tư chưa hết cũng có quả báo Hữu Biên quả báo, hai giáo Nhị thừa chung bảy địa trở lên, biệt bảy trụ trở lên, viên bảy tín trở lên, thuộc về không biên, báo ở trong cõi Phương Tiện, Biệt giáo Hạnh Hướng, viên bảy tín trở xuống dẫu phá trần sa và hàng phục vô minh, trần sa đã chẳng nhuận sanh giới ngoại, kéo bào đều do vô lậu làm nhân. Sở dĩ ở cõi Phương Tiện đều thuộc về không biên. Chỉ có Sơ địa, Sơ trụ của Biệt viên mới được diệu quả báo. Không có hai bên gọi chung là quả báo. Thông có báo do nhân cảm quả chưa vào thật báo nên gọi là Thô. Nếu chưa xuất trở xuống là nói Tập quả, nói quả báo là từ báo quả làm tên. Nếu phá vô minh được Vô sanh nhẫn. Nếu chưa ra khỏi phần đoạn cũng chưa vào diệt, độ ở gọi là hoa báo. Nói khác bảy thứ phương tiện, là đồng y cứ nói theo hoa báo. Nếu bảy phương tiện sanh cõi Phương Tiện. Tướng độ cũng phải chẳng kém Hương Thành. Đại luận chép: Từ đây đi về phía Đông năm trăm do-tuần có một tòa thành lớn tên là Chúng Hương, thành ấy có bảy lớp báu trang nghiêm, bảy lớp hàng cây báu. Thành ấy rộng mỗi bề đều hai ngàn do-tuần có năm trăm chợ búa đường đi, tòa cao năm dặm, các thứ trang nghiêm. Mỗi ngày ba thời nói Bát-nhã, trăm ngàn chúng sanh nghe Bát-nhã, thường siêng cúng dường, đã nói năm trăm do-tuần phải biết cách năm trời chẳng xa. Luận hỏi Bồ-tát Đàm-vô-kiệt là sanh thân hay hóa thân? Nếu là hóa thân, sao dùng sáu muôn thể nữ, vườn rừng ao tắm để tự vui chơi. Nếu là sanh thân, vì sao có thể khiến đồ cúng ở trên hư không hóa thành đài báu, vào các Tam-muội, trải qua bảy năm. Có người nói được các pháp thật tướng và các Tam-muội, năng lực thần thông vì muốn độc thoát chúng sanh thành này. Như các Bồ-tát khi các thiền thì cũng vào dục pháp, nhiếp các chúng sanh, cho nên thọ dục lạc mà chẳng mất thiền định. Như tránh nóng vào nằm trong bùn, tăm gội thì như cũ. Phàm người căn độn chẳng thể như thế. Cũng nói hóa thành đài báu tuy là sanh thân chưa lìa phiền não mà tu tập được tất cả pháp lành. Có người nói là pháp thân, nếu sanh thân vì sao khiến Phật mười phương khen ngợi, lại khiến ba luân được sáu muôn Tam-muội. Nay nói đã dứt vô minh sẽ ra khỏi phần đoạn, nếu là chúng sanh thì chưa ra khỏi phần đoạn. Hoa báo như thế, bảy phương tiện tức là trời người, Nhị thừa, Bồ-tát ba giáo riênglấy giáo đạo Địa tiền vị. Nghĩa này sau chỉ rộng đến chương lớn thứ tám mới nói rộng. Sau rốt tuy duyên thiếu chẳng nói nhưng ngại gì đến đây lại chỉ văn sau. Thứ chín thứ mười chỉ sau cũng. Hỏi trở xuống là phân biệt. Ý hỏi trong thiền thứ nhất đại chương thứ bảy là nói tu chứng. Do tu mà được chứng nên nói tu chứng. Chứng tức là quả, có đồng khác gì với quả báo này. Trong ý đáp rằng: Tu và chứng tuy giống nhân quả nhưng chỉ là tập nhân tập quả. Cho nên chép: Tu gọi là tập hạnh, tức là tập nhân. Chứng gọi phát đắc, tức là tập quả, đều ở hiện đời. Nay nói quả báo, v.v…, quả báo đã ở đời sau nên khác nhau với thiền môn. Nhị thừa chỉ có tập quả, v.v… là xếp Đại Tiểu thừa. Tên quả báo nói chẳng hợp tiểu, tuy được La-hán nhưng chỉ gọi là tập quả. Tập quả mất rồi chẳng nói có sanh. Cho nên giáo pháp Tiểu thừa chẳng nói Nhị thừa còn có chỗ. Nói cõi Phương Tiện là xuất phát từ đại giáo. Bốn là nói xé rách lưới to. Xé rách là phá chấp lưới nghi ở quyền giáo. Văn trước cùng dứt lưới nghi tự tha, cho nên nói chung là xé rách. Cho đến phải hiểu các giáo Tiệm Đốn xuất xứ từ một tâm, nếu chẳng khéo dùng quán không thể nghĩ bàn mà cảnh quán một tâm không thể nghĩ bàn thì do đâu mà xé rách được nghi lớn chấp giáo. Nếu muốn trở xuống là vì lợi tha cho nên xé rách lưới nghi cho người. Nay nói quả báo lại nói Sơ trụ vì mới được. Vượt bỏ khoảng giữa nên nói cho đến Thánh Phật tức chỉ Diệu giác. Sơ trụ trở xuống có thể thông tám tướng mà xé lưới nghi lớn, nên nói xé lưới. Từ đây trở xuống mỗi tiết sanh khởi mười hóa pháp giới. Cho nên Pháp vương cho đến tám bộ đều nói hoặc. Nói đốn tiệm là đều như nay Phật trước đốn sau tiệm. Đối dương và chuyển được phân biệt như trước. Chúng sanh căn cơ thuần thục phải nhờ Bồ-tát nương năng lực Phật mà đáp, Và lập câu hỏi, v.v… thì Như thế tự tha đều do Diệu quán kế với diệu cảnh, cho nên có diệu dụng như thế. Thứ năm là qui đại xứ, văn trước chỉ qui, lại ý trong tựa chung nói: Hễ keo dính tay, v.v… là tâm tánh như tay, hoặc trước như keo, tùy văn đối trệ mê ở chỉ thú. Luận Bà-sa quyển hai mươi bốn chép: Thí như có núi người và thú cùng ở, chỗ khỉ vượn ưa đi thợ săn phủ cỏ lên trên keo dính, khỉ thông minh thì tránh xa, khỉ ngu không biết, lấy tay rờ nhẹ thì keo dính tay, lấy tay kia gỡ ra thì keo lại dính luôn tay ấy, bèn cả chân và miệng đều bị kính keo, nằm dài dưới đất, thợ săn dùng gậy gánh về. Tỳ-kheo cũng như thế, chẳng giữ căn môn bị ma Ba-tuần gánh về. Đại Kinh quyển hai mươi ba đồng. Nay người tu cũng như thế. Chẳng biết giáo tướng, chẳng hiểu chỉ qui, tùy văn mà chấp dính tướng đúng sai, chẳng những không đến được mà mộng sẽ ngủ say, ngủ say thì khó thức. Pháp tánh chấp nặng khó dứt gọi là khó thức. Phong văn, Phong là đóng, là lấp. Các giáo, các môn, các đế, các tất tùy một đều chấp, nên nói tề ý. Cạnh chấp, v.v… đây tức là ý dụ ao xuân của Đại kinh như trước đã giải thích. Cận sự, v.v… như người ngu si chỉ điểm hiện sự, lời bày thế gian còn chẳng biết, huống chi là lý Trung đạo xa viên thường, Mật giáo đâu thể hiểu. Đây bèn một lần nêu mà so sánh bác bỏ. Cũng có người chẳng hiểu lời thế gian mà đạt lý xa như Thiền sư Đốn Ngộ chùa Đạo Thọ ở Cối Kê ngộ được lý sâu mà chẳng hiểu việc gần làm trích từ sớ kinh Niết-bàn, v.v… Chỉ qui trở xuống là giải thích tên. Văn là giáo, chỉ là ý, qui là thú (chỗ đến). Ý giáo chỗ đến gọi là chỉ qui. Như nước trở xuống là nêu thí dụ. Ny cứ lửa như giáo pháp, thú hướng như văn ý, biển Không như chỗ đến. Cho nên biết, nếu Mật giáo hiểu lý xa thì chẳng xét Hiển giáo, chẳng dính mắc lý gần. Thí như trở xuống là lại thí dụ Mật giáo. Thần, Thuyết Uyển chép: hạnh của thần có sáu chánh sáu tà: Một là dấu băng chưa hiện thấy, cơ còn mất gọi là Thánh thần; Hai là tiến thiện thông đạo, công thuộc về vua, gọi là Đạo thần; Ba là thân hèn tiến hiền xứng cổ làm việc để khích ví dụ ý chúa, gọi là Trung thần; Bốn là xét trước thấy cuối không lo lắng, gọi là Trí thần; Năm là giữ văn vâng pháp, ăn uống tiết độ, gọi là Trinh thần; Sáu là quốc gia rối loạn mà chẳng nghiêm sắc răn dạy thì chúa phạm lỗi. Nói lỗi của chúa mà thân chết nước an thì gọi là Trực thần. Nay tuy nói nghĩa trí gồm Thánh đại, các thứ kia chẳng phải là ý văn. Nói Mật ngữ, Đại Kinh chép: Muối, nước, bình, ngựa, một tên mà bốn thật. Trí thần khéo biết, khi rửa thì dâng nước, khi ăn dâng muối, khi uống dâng bình, khi đi dâng ngựa. Vua đều chỉ chép: đem Tiên-Đà-bà đến. Câu-xá cũng dùng chín nghĩa mà lập một tiếng Cù. Chương An chép: Bốn nghĩa này cũng cùng bốn giáo, bốn môn, bốn câu ý đồng. Đều phải thứ lớp đối bốn thứ muối v.v…. Văn kinh tự hợp. Trước đối bốn thứ vô thường, kế đối bốn thường, đó là bất động, vô tướng, bất biến, Phật tánh. Bốn thứ này cũng là tên khác của bốn môn, cũng có thể dùng đối lý bốn giáo. Tùy nghĩa mà nghĩ, cũng có thể hiểu. Lại như bốn thứ bối mạt, v.v… trong kinh Hợp Dụ, Dụ cho bốn thứ Thường, v.v… có lúc mượn dụ mà dụ cho bốn môn. Ý kinh dẫu khác mượn dùng không lỗi, huống ý dụ này kia đây chẳng khác. Nói Mật là như bốn giáo bốn môn đồng tên có đẳng. Bốn giáo chỉ khác chỗ nói khác nhau. Nếu chưa khai quyền chẻ thật thì gọi là Mật. Nếu khai quyền rồi không ngoài thì nói là mật. Tự chẳng phải Bồ-tát mật biết khai quyền giáo trở xuống là chỉ qui, do đâu mà hiểu được chỉ qui ba đức, làm chỗ nương của trí gọi là Trí, gọi là Trí địa, sanh ra trí nên cũng gọi là Trí địa. Đây là y cứ hoằng giáo mà giải thích. Lại tự nhập trở xuống là y cứ tự hành hóa tha, phân chữ để giải thích. Kế là trong rộng giải trước, chánh giải thích ba đức, kế mượn hai chữ “chỉ qui” để giải thích. Văn trước là nói hai giải chung riêng. Nhưng trong văn này y cứ nhiều nghĩa mà làm chữ chỉ. Chỉ là chuyển biến, năng chỉ là giáo, y cứ vào năng hóa mà khiến người khác trở về ý chỉ của ba đức. Nên viết chữ chỉ, ý năng hóa là ý ở ba đức, nên nói là an trí. Các con trong Tạng Bí Mật là hóa xong cũng tự vào ba đức, nên nói ta chẳng bao lâu cũng trụ trong đó. Nói tướng chung là chỉ chung cho ba đức, chưa ở ba đức lại đều mở ba. Đại Kinh trở xuống là dẫn chứng. Hỏi: Nếu thế, Như lai chứng ba đức đã lâu, vì sao nay mới nói chẳng bao lâu tự vào trong đó. Đáp: Y cứ hóa nghi mà nói không phải hoàn toàn tự hành. Từ chân mà khởi phải bày đồng phàm phu, hóa đạo muốn nhiếp trọn vẹn thì phải về gốc. Cho nên bày diệt để nói lên tự hành diệt. Trong rừng Song thọ nói lên bốn niệm xứ cũng giống như thế. Cho nên Phẩm Ai Thán chép: nay Ta phải khiến tất cả chúng sanh và bốn bộ chúng các con của ta đều an trụ vào kho Bí Mật. Ta chẳng bao lâu cũng tụng trong đó mà vào Niết-bàn. Kế là nói tướng riêng, đối với đức đều khai ba đức, như thân có ba, hai thứ kia cũng như thế. Chẳng lẽ có khởi ứng mà không có hai đức, hai thứ kia cũng như thế. Nói dứt hóa, là hóa duyên đã hết liền bày vào Niết-bàn, tức là bày về ba Đức Bí Tạng. Kế y cứ không thể nghĩ bàn là cùng ý chung riêng, trước cũng rất giống, chỉ chẳng nêu riêng tên ba thân, ba trí, ba thoát. Ngay đây gọi là thân chẳng phải thân. Vì sao như thế? là nói chung riêng, trước đều làm sáng tỏ nhau. Lại các kinh luận hoặc có lúc gọi thẳng là thân, chẳng phải thân, v.v… tức là một đức có đủ ba đức không thể nghĩ bàn. Kế lại y cứ sự lý trước sau mà giải thích. Ý không thể nghĩ bàn cũng trước chung sau riêng. Trước nói chung là chung y cứ ba tướng cho đến ba đức, đức chướng đối nhau, chẳng khác mà khác. Nếu y cứ lý nói đức chướng, chẳng hai cũng chẳng nói. Nhưng y cứ sự mà nói tên chướng chẳng mới, y cứ bản mà nói tên đức chẳng cũ, y cứ tu được nói sự lý không hai, chẳng hai mà hai. Cho nên mỗi câu đều nói chẳng phải mới chẳng phải cũ mà mới mà cũ. Y cứ tu mà được, nên từ đức đặt tên y cứ tánh mà được, nên gọi là ba chướng. Cho nên có năng chướng, sở chướng, có xưa có nay, có thỉ có chung. Nếu y cứ lý thì không có năng sở, cho đến thỉ chung. Lại nói trở xuống là dùng riêng ba hoặc mà đối ba đức. Nếu đạt trở xuống là kết chung riêng trên. Nói ngang dọc khai hợp, v.v… là nêu ví dụ văn nêu phải trước pháp thân, kế nêu Bát-nhã, sau nêu giải thoát nên gọi là tụng. Y cứ nghĩa mỗi nghĩa lại mở thành ba, nên gọi là (ngang), cũng gọi là khai, ba chỉ là một nên gọi là hợp. Phát tâm làm đầu, rốt ráo làm cuối, lại vườn Nai là đầu, Song Lâm là cuối. Như thế ngang ngang khai hợp thỉ chung (đầu cuối) đều phải dùng không thể nghĩ bàn và mới cũ mà giải thích hành tướng. Cho nên nói ví dụ đều như thế. Kế là nói theo hai chữ chỉ qui. Năng chỉ cho năng qui tức là giáo ba đức, sở chỉ sở qui tức là lý ba đức. Cho nên lại một thứ này mà giải thích. Ba đức chỉ qui trở xuống là hội tên khác. Ba đức đã được thâu khắp các pháp, cho nên phải hội tất cả tên khác. Phải biết trở xuống là kết. Tương là pháp thân. Thuyết là Bát-nhã, lực là giải thoát. Ba đức đều nói các thứ là trong mỗi đức đều có tất cả pháp, lại gồm thâu nhau nên nói các thứ. Tuy nói các thứ mà chẳng ngoài ba đức, một kho Bí Mật, sao chỉ pháp môn ba đức nhiếp hết. Hóa nghi nói lên cũng chẳng ngoài ba. Như trong Hoa Nghiêm, Giá-na là pháp thân, Xá-na là Bát-nhã, Thích-ca là Giải thoát, Phật là Bát-nhã, đài là pháp thân, tọa là giải thoát. Trong Tịnh Danh tự nghĩ nằm bịnh ngủ trên giường. Giường là pháp thân. Ngủ là Bát-nhã, bịnh là giải thoát. Giường là chỗ nương, nằm ngủ là năng khế, bệnh là thị hiện. Trong Bát-nhã thì thân là pháp thân, ánh sáng là Bát-nhã. Nói là giải thoát. Trong Pháp Hoa thì y (áo) là pháp thân, là Bát-nhã, (nhà) là giải thoát. Lại Bản là pháp thân, tích là giải thoát. Bản tức chẳng hai, là Bát-nhã. Trong Niết-bàn thì nói ba đức như trước đã nói. Nếu sở biểu, thì bốn khô là Bát-nhã, bốn tươi là giải thoát, cùng chẳng sai là pháp thân. Như chỉ qui Phật này nếu chưa hiểu Bồ-tát còn muội huống chi là Nhị thừa. Nay vận ở Tượng mạt, nhìn kỹ chân văn này. Nếu không phải do đời trước đã trồng nhân tốt thì thật là khó gặp, huống chi là mười thừa, mười cảnh, phát xuất từ một nhà. Mười giới mười phi ở chỗ chưa phân biệt. Giáo hạnh không y cứ làm sao chỉ qui. Lại như sáu tông tình hẹn rất đồng, chín tông nói bày hơi khác. Trang sanh qui ở tự nhĩ. Lão tử chuyên khen bỏ xa xí huống chi cúng tế dê ngựa, nhân vời ba ác. Cúng tế nem chả quả bị đốt cháy . Như thế chỉ qui sơ thú chẳng xa, còn chẳng bằng trời người, có quan hệ với tạng thông lậu tận. Như chỗ chấp trước đâu biết phàm có nói gì đều trộn như một. Nguyện các người đồng gặp nên sanh tâm mừng rất may mắn, mong đời sau lại được nghe mà sớm khế Vô sanh nhẫn.

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.