Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

CHỈ QUÁN PHỤ HÀNH TRUYỀN HOẰNG QUYẾT

SỐ 1912

QUYỂN 09

Sa-môn Trạm Nhiên Tỳ Lăng đời Đường soạn.

PHẦN 1

Ban đầu giải thích trong cảnh thiền, trước giải thích ý.

Trường bệnh: Là y theo các bộ A-hàm gồm có năm pháp làm lui sụt quả A-la-hán.

  1. Bệnh lâu ngày.
  2. Đi xa.
  3. Phân biệt.
  4. Làm ăn buôn bán.
  5. Đọc tụng nhiều.

Còn có thể lui sụt quả, huống chi lui sụt thiền, văn tuy ở tiểu ý thời thông đại, như bốn pháp Tam-muội người có năm việc nầy không chỉ có cảnh mầu không thành, cũng không phát được các định túc tập, cho nên dẫn ra. Trong kinh Văn-thù Vấn có ba mươi sáu câu chưa xem xét.

Kế từ các cảnh trên ở sau chánh nói, đến sau là Sơ trụ, nhập lưu xong: Sơ trụ trở lên vô công dụng. Nếu vị nầy gồm phát tất cả sự thiền, nhậm vận là lý không cần quán lại, nay khiến người quán giả quán gọi là trong năm phẩm vị, nên nói nhập lưu không cần quán.

Hỏi: Nếu nhập lưu rồi làm sao được sự thiền?

Đáp: Như cửu thiền ban đầu tự tánh các thiền, đều là sự thiền tức so sánh Sơ địa. Cũng như ngài Nam Nhạc phát được tương tự, cũng đều phát với tất cả sự thiền, nhưng vị nầy phát khác nhau vị sau, nên phải quán. Nếu việc ma, v.v… việc ma đã qua cảnh để so sánh, nên không có tu riêng y quán ấm trước nên nói tu chung, trong giải thích nói “nhơ bẩn ngày càng thêm, các thiền đã phát, nếu không ở thiền lại tu pháp quán, phiền não ngày càng thêm, khởi chấp khởi ái, cho đến nhân thiền có thể khởi lỗi nặng, như các ngoại đạo và Điều-đạt, v.v… đều là nhân người thiền khởi lỗi, làm nghĩa nầy nên phải quán cảnh thiền, nếu cho là đạo đến phương tiện, lại từ cho tinh tấn lui sụt phán xét, nếu tồn mà quán không xét, tức như văn sau không có người sở tri, đắc định cõi dục hay chưa đến định, mà cho là vô sinh, hoặc bỏ mà không tập lại vào tán tâm, tán tâm làm cảnh dụng quán thì khó, nếu dùng thiền làm cảnh dụng thì dễ, nếu dùng thế thiền làm cảnh mầu phương tiện, phần nhiều nhập năm phẩm nên không thể bỏ, nhưng thiền chi, v.v… dẫn giáo khen tốt. Nói Đại thừa Tiểu thừa đều tu sự thiền, địa trì cửa thiền tuy chẳng phải cảnh nay, lại dẫn Đại thừa, Tiểu thừa chung hiển tu thiền, huống trong chín thiền chung có sự thiền, nhưng y cứ tự hạnh hóa tha mà phân ra Đại Tiểu, nên biết sự thiền Đại Tiểu khen ngợi, nói bốn thiền tám định, bốn tại tâm số trùng lập gồm nêu, hoặc Sắc hoặc Vô sắc hai cõi đối nhau, thì cõi Sắc gọi thiền, Vô sắc gọi Định, hoặc bao gồm thượng giới mong ở dục sau, thì hai cõi trên đều gọi là định địa hạ dục tán loạn tự tánh, v.v… có chín. Hai luận Địa Trì Thập Địa đều y theo sáu độ nói chín, chín pháp tên đều đồng, như luận ấy giải thích rộng pháp giới thứ lớp lược giải thích, hoặc thẳng phát chín thiền tức thuộc cảnh giới Bồtát, nay đối dẫn khen ngợi chẳng phải là nói phát, kế khai chương giải thích riêng.

Ban đầu nói khai hợp, trước nêu bày văn nay có mười môn; Kế dùng năm môn và mười lăm môn gạn hỏi đồng và khác.

Nói năm môn tức trong Tiểu thừa có bảy phương tiện ban đầu môn năm pháp quán dừng tâm, hai thừa Đại Tiểu ban đầu môn Ngũ Đình. Hai thừa Đại Tiểu ban đầu đều nhân nhập, nên gọi là Môn, xa làm lý do đối trị nhập lý, cho nên nay văn dùng làm đối nói.

Mười lăm môn: Ở môn năm Đình đều chia ra làm ba nên thành mười lăm, thì các thiền lý sự đều đủ khắp nhiếp tất cả giáo Đại Tiểu thừa, nay nói tu phát chỉ ở sự thiền, lý thuộc về thông tu và hai cảnh sau, nên văn sau nói, nếu năm môn có chỗ không bao gồm, nếu lấy mười lăm nghĩa lẫn lộn ở lý, nay diễn lược cho rộng nên khai năm thành mười, bỏ lý tồn sự nên rút mười lăm thành mười, e người không hiểu các môn nhiều ít hoặc khai hoặc hợp ý lấy bỏ, nên nay dùng mười mà đối với rộng, lược hỏi đáp phân biệt nên nói mười môn và năm môn. Thế nào là đồng khác lời đáp, trước chung, kế riêng, trong biệt khai ra năm môn dùng làm mười môn, nhưng so sánh trong năm môn việc không đủ, thì từ nơi sự lại khai, nếu không có sự để khai thì tồn sự giữ bổn, cho nên sở tức bất tịnh đã khai thuộc sự, tùy theo khai hợp thủ, nên hai môn nầy và bổn đều có ba, từ tâm nhân duyên niệm Phật, ba pháp nầy chẳng có sự để khai, nhưng tồn sự giữ bổn nên chỉ có một.

Về niệm Phật, Tỳ-đàm nói giới phương tiện, như trong đệ thất trợ đạo có dẫn thiền thôn trước chẳng phải số của năm môn, nhưng từ thiền khởi dụng, chín môn đều có nên phải nói, ở đây thì hai pháp trước khai mà không hợp.

Kế ba pháp hợp không khai một môn thần thông chẳng phải hợp, bao gồm chỉ có năm môn, vừa khai vừa hợp.

Kế nói hợp mười lăm thành mười, sáu môn đầu khai mà không hợp.

Kế có chín môn nhưng hợp thành ba, từ tâm có ba chỉ lấy chúng sinh duyên một, không có hai pháp khác, do pháp duyên vô duyên thuộc lý, nếu khai thì thuộc về cảnh Bồ-tát Nhị thừa, liền khai pháp duyên do thuộc Nhị thừa, khai vô duyên thuộc Bồ-tát, văn không riêng đối nhưng chỉ chung hai cảnh, do cảnh Nhị thừa riêng ở pháp duyên, Bồ-tát thì chung pháp duyên vô duyên, nên không có đối riêng.

Hỏi: Vô duyên lẽ ra ở Bồ-tát Viên giáo cớ sao nói ở cảnh Bồ-tát ư?

Đáp: 1- Sơ địa của Biệt giáo cũng thuộc vô duyên.

2- Viên giáo cũng nương cảnh Bồ-tát nói ở sau.

Lại Địa tiền của Biệt giáo thuộc chúng sinh duyên duyên pháp, chung bát Địa cũng giống như vậy, Bồ-tát ba tạng ba kỳ đều là chúng sinh duyên từ nay y cứ Bồ-tát ban đầu khác với Nhị thừa và phàm phu, cho nên pháp duyên vô duyên chỉ chung trong hai cảnh mà nói.

Kế là môn nhân duyên, duy còn ba đời, hai đời một niệm suy xét nên giúp lý. Nói quả báo tức là hai đời, một niệm tức là sát-na, đủ như trong quyển bảy, quyển tám ở trước có dẫn, hai nhân duyên nầy tuy chẳng phải tức lý tế nghĩa thuận lý, nên cũng thuộc về lý, nếu khai cũng thuộc về trong cảnh Nhị thừa, pháp báo niệm Phật thuộc về lý, ý nầy dễ biết nên không nêu riêng thần thông, nếu chấp vô lậu thông, thì cũng thuộc về cảnh Nhị thừa, nếu ở sau kết trong mười lăm môn trước phân biệt lý, trong năm môn khai sự, thần thông đã nương sự thiền mà có, nên cũng thuộc sự, tuy khai hợp, v.v… nếu khai hợp làm năm trị chướng nghĩa đủ, có thể làm phương tiện chung nhập đạo khai mười lăm thành sự lý Đại Tiểu quán pháp, hợp thành mười môn, vì phán xét pháp tập, tập tuy thông ở hữu lậu vô lậu trong ngoài tà chánh, nay vì khai khác hai cảnh ở sau và ấm khác, v.v… cho nên phải nói.

Kế phán xét lậu, vô lậu: Trước lược phân tích hai luận, hai luận đều phán xét sự thiền hữu lậu, đế không tâm mới gọi vô lậu, nay tiểu ở sau bao gồm phán xét nay chẳng phải đoạt hết nên nói khác ít.

Nay nói sự thiền là hý luận, như hai luận đã nói không có duyên đế trí thì khác hai nhà, nên nói Hồ qua có thể làm bệnh duyên, hữu lậu cũng vậy, là vô lậu duyên, như thiền căn bổn là hý luận không làm vô lậu nhưng nương căn bản, nên nói chuyên tu tức thuộc về hữu lậu, cho đến bốn pháp tự hành hóa tha, v.v…, đều gọi là hữu lậu đủ như văn sau chẳng phải một bề hữu lậu nên nói tiểu phải phân biệt.

Bốn mươi tám năm: Là dẫn chứng bốn pháp hữu lậu, tự hành, v.v… đều có mười hai môn, nên bốn mươi tám đều là hữu lậu, kinh thứ hai ấy cựu y nói tân y rằng: nay khanh nếu có thể theo ta làm học trò sai khiến bốn mươi tám năm, sau đó sẽ dạy y pháp cho ông, bốn mươi tám nầy xưa có nhiều cách giải thích.

Tông sư nói: Trong Pháp Hoa về trước cũng là đệ tử ngoại đạo, nên nói bốn mươi tám năm. Khai Thiện chép: Tám thiền đều có sáu hạnh, nên nói bốn mươi tám. Chương An nói: Bốn chấp đều có ba giả một giả đều có bốn câu, cho nên ba giả hợp thành bốn mươi tám. Như trong A-hàm nói ngoại đạo trước bốn mươi tám năm, cung cấp đồ chúng sai khiến, sau đó cho pháp, nay văn chánh đáng pháp cựu y, tân y quyền đồng pháp cựu y, gọi là theo đồ chúng sai khiến. Nếu vậy kinh A-hàm đến nay đã dẫn hai lần bốn mươi tám bao gồm đúng ý, nên nay văn nói: bốn pháp Tự hạnh, v.v… hợp thành bốn mươi tám.

Mười hai môn: Bốn thiền Bốn không, Bốn tâm vô lượng. Nhưng kinh Bổn Nghiệp Anh Lạc quyển thường nói địa thứ mười nhập Tammuội như huyễn, cũng nói mười hai môn thiền, trong đó cũng có, bậc Thánh hiện đồng như pháp phàm phu, như Ca-hy-na ở sau dẫn chứng sự thiền đều thuộc về vô lậu, như trong kinh Thiền Pháp Bí Yếu chép: A-nan hỏi Phật, Tỳ-kheo Ca-hy-la nầy, vì sao tùy xoay bánh xe pháp, năm trăm Tỳ-kheo nói pháp cho nghe đều không có lợi ích.

Phật dạy: Tỳ-kheo nầy vào đời quá khứ xuất gia với Đức Phật Nhiên Đăng, tên là A-thuần-nan-đà, thông minh hiểu rộng kiêu mạn buông lung, không tu niệm xứ, khi chết đọa vào địa ngục Hắc ám, ra khỏi địa ngục năm trăm đời làm rồng, năm trăm đời làm khỉ, do làm lành nên lại được sinh thiên, thọ mạng cõi trời hết, sinh xuống loài người, trước nhờ sức đọc tụng ba tạng nên nay được gặp Phật, vì buông lung nên nay không giác ngộ. Đức Phật do đó mà nói quán bất tịnh, trước từ chân khởi quán đến một lóng tay đủ như vậy như thứ lớp quán tám Bối Xả, trong chín mươi ngày không thay đổi tâm niệm, đến khi tăng tự tứ được quả thứ tư, ba minh sáu thông, đã do quán nầy thành A-la-hán, không nên gọi là thiền hữu lậu, nên biết hai luận chưa hoàn toàn đúng.

Kế dẫn trong Đại kinh, v.v… quyển mười một trong phẩm Thánh Hạnh nói giới định tuệ, đều là sự giới cho đến sự thiền, đã là bậc Thánh hạnh Bồ-tát, thì trong văn kinh vẫn nói chẳng phải là chỗ biết của Thinh văn Duyên giác. Lại Giới Thánh Hạnh, phần cuối nói: Sở hành của Chư Phật, Bồ-tát bậc Thánh gọi là Thánh hạnh, giới hạnh còn như vậy huống chi là định?

Phật nói: v.v… Tuệ Thánh Hạnh phần cuối nói: Khai thị giảng nói như vậy, Nhị thừa và các Bồ-tát nghe rồi vâng hành, nên nói Phật nói pháp hạnh Nhị thừa nầy, cũng gọi là Thánh hạnh, huống chi pháp nầy, vốn là pháp của Chư Phật, Bồ-tát, lại nói: chẳng phải là chỗ biết của Nhị thừa, Nhị thừa có chút phần hạnh tự, cho là chân cực, cho nên bác bỏ nói Nhị thừa không biết, nầy chỉ sinh diệt tuệ Thánh hạnh. Tuệ sinh diệt thuộc Phật Bồ-tát, hạnh Nhị thừa cũng gọi là Thánh hạnh, nên các sự thiền cũng thuộc về Bồ-tát, làm sao nói là hữu lậu ư? Dẫn trong Đại phẩm, đã là pháp thí xuất thế lại là Niết-bàn sơ môn, suy nghiệm sự thiền nầy không chỉ hữu lậu nói, đã dẫn trong chín tưởng trong Đại phẩm, chín tưởng có thể khai các môn bất tịnh, nên đại tiểu bất tịnh đại tiểu Bối xả cho đến thắng xứ Nhất thiết xứ, v.v… đều dùng chín tưởng mà làm sơ môn bất tịnh thành nên thân niệm xứ thành, thân niệm thành nên ba niệm thành, bốn niệm thành nên ba mươi bảy phẩm tất cả đều thành, vì thế không nên duy là hữu lậu. Thí như hai tảng đá là dụ các sự thiền năng phát vô lậu, như Nam thạch tánh lạnh, Bắc thạch tánh nóng, hai thạch cao nầy tuy đều gọi là thạch mà lạnh nóng khác nhau, nên sự thiền tuy đồng mà hữu lậu vô lậu khác nhau, nếu vô lậu duyên kế sau chung tha mạn.

Hỏi rằng: Nếu chín tưởng, v.v… làm duyên vô lậu, nên xưng là chín tưởng, là vô lậu, là y thiền căn bổn Lục địa dứt kiến, Thất địa dứt tư, địa nầy cũng là tác duyên vô lậu, phải nên căn bản cũng gọi là vô lậu, đâu chỉ riêng ở chín tưởng? v.v…

Đây theo luận Bà-sa quyển sáu mươi mốt chép: Vì sao thiên đạo là được quyết định, là được lậu tận?

Đáp: Nếu quyết định thì chỉ nêu Lục địa, nghĩa là chưa đến trung gian và bốn căn bản, trong văn Câu-xá đồng, Thành luận không chưa đến, nên thủ dục định trung gian bốn món căn bản là Sáu địa, nếu lậu tận, nên nói Cửu địa, ở sáu địa trước lại thêm ba không, cũng lấy nầy quyết định, cũng dùng đắc vô lậu nầy khí được sơ quả gọi là quyết định, được đến Vô học gọi là lậu tận, nên trong Câu-xá nói: Đạo xoay vần

Cửu địa, nói Thất địa, Hữu Dư sư nói: không thủ chưa đến, cho đến trung gian, như trong Đại luận, nói vì tùy người nên đều có dục định chưa đến trung gian, trong luận Bà-sa, Điêu âm cũng đồng với thuyết nầy.

Nói trung gian, hoặc nói duy ở Sơ thiền, hoặc nói duy ở trên Sơ thiền dưới Nhị thiền. Có thuyết nói mỗi tiết đều có tám định, lại từ ý ban đầu nên chỉ là một, chỉ các thuyết khác nhau đều từ căn bản mà được vô lậu, vì sao riêng pháp là hữu lậu ư?

Kế từ Lục địa trở xuống đáp, trước nói sự thiền có thể tác duyên riêng, nếu Lục, Thất địa phải nương đế trí đã không nêu bày, cần gì nghi nầy, nên riêng căn bản chẳng phải duyên vô lậu, nên kế ở sau nói bỏ bảo thủ, nên không chấp mười tưởng, v.v… mười tưởng dứt hoặc nên không thuộc sự, vì sao? Như pháp giới thứ lớp và trong thiền môn, y theo Đại luận đều nói mười tưởng đây là ba đoạn chấp trước trong đó bốn đoạn tư sau ba món vô học, trong thiền môn ấy nói tu theo thứ lớp, cho nên nêu đủ các thiền sự lý, nầy nói phát tập nên chỉ ở sự.

Kế từ tâm ở sau phán xét từ sở y. Từ tâm, v.v… ban đầu từ tâm thiền cuối đến thần thông đều y cứ lược về giai cấp của người. Trong thiền căn bổn chẳng phải không có từ, v.v… phán xét thuộc căn bản, các thiền cũng vậy nên tùy theo người khác phán xét.

Kế ý khác nhau, v.v…

Trước hỏi: Vì sao có mười môn thiền nầy, mà thiền cảnh nầy và thứ lớp trong thiền môn nói các sự thiền, cùng năm môn đối trị sự thiền vì sao khác?

Đáp: Trước cùng thứ lớp thiền môn đối nói, đều có lợi độn nên thứ lớp khác nhau, trong thiền môn ấy nêu lên thứ lớp chương, đến chương sáu nói trong phương tiện, phương tiện có hai, đó là nội và ngoại. Ngoại là hai mươi lăm pháp, nội có năm môn khác nhau.

  1. Chỉ.
  2. Suy nghiệm căn tánh thiện ác.
  3. An tâm.
  4. Trị bệnh.
  5. Việc ma.

Chỉ môn lại có ba:

1- Buộc duyên 2- Chế tâm 3- Thể chân.

Thể chân dứt sau, minh phát năm luân, năm luân thiền sau mới bắt đầu suy nghiệm ở căn tánh thiện ác, nên nói thiền môn phát, mỗi môn lại dùng môn thiện ác suy nghiệm, thiện ác là nghiệp và bệnh hoạn việc ma, v.v… đều ở sau năm luân thiền, may văn trước cảnh thô phiền não cảnh nghiệp cảnh ma mới phát thiền, cho nên phải biết lợi độn khác nhau, nầy lại y cứ văn trước sau phát tướng, thì thành hai chỗ lợi độn ý biệt, nếu vậy nay văn trước quán ấm nhập, tức phát các thiền lại thành thiền lợi, nếu tu thiền kia thì trước phát tướng phiền não nghiệp ma, rồi sau đó phát thiền lại thành thiền độn, y cứ quán không ấm hoàn toàn thành trí độn, cho nên được so sánh giải thích với văn nầy.

Kế đối trị trung hạ, cùng năm môn đối nói rất dễ thấy.

Kế nói về sâu cạn, tức là mười môn sinh khởi thứ lớp.

Ban đầu nói căn bản, vì sao đặc biệt cao siêu, kế căn bản, cho đến thần thông; kế niệm Phật, trước sâu sau cạn, nên nói sâu cạn cũng gọi là mười môn đều có ý.

Ban đầu nói phàm thánh chung, do gồm chung nên được tên căn bản, như có nhánh lá cùng một gốc, đều từ đó sinh, nên nói căn bổn, ngoại đạo và Phật pháp tất cả đều tu, nên nói căn bản xuất thế. Trong đặc thắng thiền có niệm xứ quán được gọi là tịnh thiền căn bổn nhưng vị chỉ có thầm chứng, nên kế vị sau mà nói Tịnh thiền, đắc thắng tuy tịnh kiến tướng cũng bao gồm, gọi chung là đế nên thuộc về biệt, nên kế chung ở sau để nói biệt, ba pháp nầy đồng là căn bản, căn bản đặc thắng chung để rõ ba thứ nầy y cứ chung căn bản chung mà có, cửu tướng trở đi không nhớ căn bản, trị hoặc lại mạnh nên kế ba pháp sau.

Hỏi: Đặc thắng nói chung khi Phật chưa xuất thế phàm phu cũng tu, làm sao có khác với căn bản?

Đáp: Phật khi chưa xuất thế, do năng lực túc tập có thể biết các ấm khổ vô thường, v.v… cho nên đặc thắng khác nhau với căn bản, nhưng Phật chưa xuất thế không có tên niệm xứ ở đạo phẩm, đạo phẩm tức là bốnđế pháp luân, nên biết tên ấy Phật xuất thế mới có, khi Phật chưa xuất thế tuy được thần thông, cũng không có từ ngữ thông minh, từ đây về sau gọi chung là bất tịnh, từ đây về sau gọi chung là bất tịnh, nên chín tưởng nầy gọi là sơ môn, trong chín tưởng trị ngoại cảnh, chưa trị tự tâm cho là từ ngoài trị trong, nay bối xả chuyên từ nội trị, nên nói trị tâm, tuy phá trong ngoài: Chín tưởng đã trị ở ngoài bối xả lại trị ở trong, huống chi bối xả lần lần đến mé biển, không đâu chẳng phải xương trắng, đối trị tự tha, nên nói trong ngoài, tuy chung riêng chín tưởng chỉ chung, thật bất tịnh khác nhau, mười hai nhân duyên gọi là thế chánh kiến, năng quán ba đời phá đoạn thường đã phá đoạn thường cũng trừ nhân ngã, trước trong đối trị từ biệt mà nói, nên nói hai đời phá ngã, nay nói theo Thông giáo thì ba đời đều phá nhân ngã cho đến tánh, v.v… phàm vị ở sau nhân đối với Thánh làm thượng quả. Kế nói xen phát khác nhau ở trong, trong văn đầu nói tám món, trong ấm cảnh trước có chín song bảy chiếc, bảy chiếc chỉ là nghĩa nhiếp mười cảnh ba bốn ma không ngoài mười, nên nay không nói ba chướng bốn ma, trong cửu song lại trừ tác ý, trước dùng chín cảnh đối với ấm cảnh, ấm cảnh tác ý tu tập phiền não chín pháp sau đều là nhậm vận phát đắc, nay duy phát đắc cho nên không nói, nên trong mười song chỉ có tám thứ, nên biết chín cảnh không tác ý, không thể so sánh, nên hoàn toàn không nêu.

Đại chương thứ hai thiền phát nhân duyên; nội chủng làm nhân, ngoại thêm làm duyên.

Ban đầu nói nội chủng, pháp dụ cho đều có hai. Văn đầu trước phát; kế dụ cho; ban đầu dẫn Đại kinh, tất cả chúng sinh đều có vị thiền Sơ địa, v.v… tất cả chúng sinh đều có hai duyên đắc định căn bản, từ cận tình ở sau giải thích trên kiếp tận không tu mà đắc. Khi hỏa tai khởi tất cả nhậm vận đều được thiền định thứ hai, nước gió thứ lơp y theo hỏa tai nên biết, kiếp nầy mới thành bắt đầu trải qua chín kiếp bớt, bỏ hết kiếp trước trải qua thời gian chưa xa gọi là cận tình, từ lâu xa trở xuống giải thích tiếng tu đắc dù chẳng phải kiếp hết dục năm cái, nên biết chúng sinh không ở đâu mà không có hạt giống căn bản, nên nhân thông tu đắc bất định.

Kế dụ cho tập cận viễn; kế nói nhân tập khác nhau; ban đầu pháp, kế thí dụ, sau hợp; Trong pháp ban đầu nói: Phải biết xưa có, v.v… kế không thứ lớp, đầu của tám song nầy, cho đến sự tu sự phát, tức tu không tu, tu tức tác ý, không tu tức là không tác ý, môn tu không tu tuy chẳng phải sau cùng lược bỏ còn bảy. Lại chấp tác ý nên nói cho đến, muốn nói quá khứ từng tu sự lý các thiền nay phát bất định, cho nên lại chấp môn tu không tu, như ban đầu tu ấm nhập, tu là tu phi sự phi lý, phát đắc các thiền gọi là sự phát, trong thiền môn ấy có nêu lên đủ bốn pháp tu nghĩa là hữu lậu vô lậu, vừa lậu vừa vô lậu, phi lậu phi vô lậu, lậu tức là sự, vô lậu tức chân lý, thứ ba tức bao gồm cả hai, thứ tư tức là trung lý, trung lý tức là phi sự phi lý, sự lý tu phát, tương đối hợp thành mười sáu câu, nay văn chỉ quán, thì không có sự tu lý phát sự phát, v.v… mười hai câu, nhưng có phi sự phi lý tu sự phát, v.v… bốn câu, nên luận sơ lược các câu sự tú, nay văn bốn câu, sự phát chánh ở trong đây, lý phát chánh ở trong cảnh Nhị thừa, vừa sự vừa lý phát nửa ở trong đây, phi sự phi lý phát ở cảnh Bồ-tát và trong tâm cảnh.

Kế trong dụ cho nói: Mai có bốn, v.v… tánh của bốn cây tuy đồng bẩm thọ thời tiết mưa nóng khác nhau, như phát khác nhau; kế túc tập bỏ trong hợp, bao gồm nói tám thứ, xen phát tám song, xưa có tu tập gọi là nhân duyên, nay phát khác nhau có tám thứ khác nhau. Lại tuy có kế ở sau nói ngoại gia.

Trước nói sở gia, kế nói năng gia, ban đầu trong sở gia, có pháp có dụ cho; ban đầu văn pháp tuy có gieo trồng từ đời trước mà hiện tu nhân duyên, phải nhờ Chư Phật thầm gia bị ngoại hộ.

Kế văn dụ cho, trong văn tâm tánh địa tuy có các hạt giống thiền đời trước phảit nhờ mưa chỉ quán Thánh thêm mặt trời, mới thành các thiền, nhánh lá quả hột. Kế có thể thêm trung, có pháp dụ cho hợp, trong pháp ban đầu thứ lớp hay không thứ lớp, chúng sinh tự tại Phật thường giúp khắp không mưu cầu mà thích ứng.

Kế trong dụ cho nói: Hồng là lớn, nên đại gọi là hồng, tửu gọi là nhạn.

Kế hợp như văn. Trong Đại luận ở sau dẫn chứng cảm ứng.

Kế dẫn kinh Tịnh Độ, kinh ấy quyển hạ nói: Bọn người như vậy nhớ Phật không thể độ huống chi là một Đức Phật ư? Cho nên người là tự độ, Phật không độ người. Kinh Tịnh Độ Bồ-tát chép: Chúng sinh phải nghe mười hai bộ kinh, v.v… đồng là một kinh hai văn, nay ý nhà, nói ý thì trái mà ý thuận đều cộng thành một ý cảm ứng, chỉ duyên chúng sinh tự độ hợp cơ, thì cảm Phật nói mười hai bộ kinh, nên biết chỉ là cảm ứng một ý, tức cùng Đại luận sẽ thêm ý đồng.

Kế là chánh nói phát tướng, trước nói trong căn bản phát, văn đầu lược y cứ bốn thứ Tam-muội, để phán xét nhiều ít, nên nói ba pháp Tam-muội, nói riêng Bát Chu, thường đi rất ít, thường ngồi rất nhiều, nên đối nói, cũng chẳng phải hoàn toàn không nên chỉ nói ít. Như trước dẫn trong kinh nói Tam-muội trụ xứ, tức y theo căn bổn nhị ba tứ thiền, v.v… phải biết thường hành cũng phát căn bản, nhưng không bằng ở thường ngồi nhiều.

Kế nay lại ở sau chánh nói phát trung cửu địa khác nhau. Ban đầu trong cõi dục nói về dục định hữu vô, hai là nói khác không đồng, nay theo Thành Luận, trong Thành Luận nói mười thiện tương ưng, v.v… mười thiện là pháp thiện cõi dục, phát đắc dục định, tương ưng với mười pháp thiện, chánh pháp như văn.

Kế chánh nói cửu; kế dẫn chứng nói Di giáo điện sáng, kinh ấy nói: Ban đầu nhập pháp nghe Phật đã nói, đều được độ ngay thì như điện sáng, chánh chứng sơ quả.

Ban đầu được vô lậu nên nói sơ nhập; kế dẫn trong Đại luận A-nan, chưa được Vô học đến chỗ kết tập. Ngài Ca-diếp quở rằng: Ông chưa được Vô học, nhập chúng kết tập như lửa vào bầy ngựa.

A-nan nói: Phật thọ ký cho tôi rằng: Nếu lấy vô lậu như quăng đá giữa hư không, chưa đến đất, liền được Vô học, lại ở chỗ văng vẻ mà tu tập, chưa được buông tâm đến gối, đầu chưa đến gối đã được vô học.

Phải biết điện sáng chẳng những riêng phát Sơ quả cũng thể lậu tận, cho nên điện quang cũng gọi Kim cương, từ Kim cương ở sau giải thích nghi, nghi rằng: Tại sao muốn định gọi Tam-muội Kim cương? Giải thích rằng: Đây là tận vô sinh trí gọi là Kim cương nầy dùng dục định dứt phẩm tối hậu nhập định vô lậu, nên gọi là Kim cương, dùng làm điện quang, chẳng phải hoàn toàn dục định được gọi là Kim cương.

Kế nói kinh Định Pháp Như Văn, từ đây trở xuống nói chưa đến tướng định là quang, trăng tròn sáng. Trong bài Thương Hiệt nói rất sáng, vô sở trước ở sau bác bỏ ngụy tà trong đó có pháp dụ cho, trong dụ cho nói như tro đậy lửa, hữu lậu như lửa, chưa được như tro lầm chấp như giẫm đạp. Trong kinh quyển cchín nói: Người ngu làm ác không biết thọ báo, như sửa thành lạc, như tro lấp trên lửa người ngu khinh đạp, nay mượn dùng dụ cho, người ngu không biết chưa đến thô cạn, vọng chấp định nầy cho là vô sinh, chấp thành đọa khổ, nếu y ở sau nói chưa đến hữu vô, trước nêu ra hai luận, luận gia duy nói dục định, tức chỉ Tỳ-đàm chỗ nói chưa đến, chỉ là ý dục định, bác bỏ Tỳ-đàm không có vị lai thiền. Tỳ-đàm có, là chỉ thông giáo mà Cù-sa đã nói, chẳng phải không nương tựa y cứ, giải thích luận kế ở sau dẫn giải thích luận y heo ý Phật mà nói, khác nhau với hai luận tùy theo vật nêu riêng, nay thì ở sau phán xét ý Phật. Cơ duyên khác nhau không thể thiên chấp, hoặc mỗi tiết ở sau nói Bát địa của thượng giới.

Ban đầu do các thiền đối với cõi dục nói về nạn có không, kế thông pháp bốn phần, ban đầu nêu, nói thông có bốn phần, tức bốn món tướng phần vị khác nhau, dục thủ tấn phần làm văn tướng nay, thiền môn gọi là đạt phần trong đây nói, hộ phần, “đạt” là thể đạt, “hộ” là phòng hộ, do đạt tự ngăn nên gọi là hộ, còn ba tên đồng.

Nói thối phần, là có nhân duyên thôi gọi là duyên xúc thối, không có nhân duyên thối gọi là nhậm vận thối hai mươi lăm thứ là duyên ngoại xúc thối “thổ” là bỏ, “nạp” là thủ, năm duyên năm pháp là thủ, quở trách muốn bỏ cái là “khử”, điều hòa trong năm việc có bỏ có lấy, trừ không điều hòa gọi là Khử sai khiến điều đình gọi là Thủ, ở sau tịnh tâm trong nội duyên xúc thối, ba chướng bốn ma, là nói chung đều đã nhiếp mười cảnh, được dùng ba chướng nhiếp ở ba ma, thêm ma Thiên tử tức là bốn ma.

Nếu vậy, cũng có thể bốn ma xếp vào ba chướng.

Kế trong phần hộ nói thiện do phương tiện trong ngoài như trước đã dẫn, thiền môn nói hai mươi lăm pháp tướng trong ngoài, trụ phần từ sơ tâm cho đến thượng địa, hoặc thủ hộ trụ, hoặc nhậm vận trụ. Ngang dọc, như quyển năm nói xen phát trong đó nói trong bốn phần mỗi phần đều đủ bốn, nói bốn phần xen thông. Trong thiền môn nói: Thối phần trong thối phần, từ chín phẩm đến sơ phẩm là sai lầm.

Thối trụ, đến sơ phẩm lại trụ. Thối tấn là đến sơ phẩm rồi lại sách tấn đến hai phẩm, cho đến cửu phẩm cũng có thể lại tiến, “Thối hộ” thối rồi toàn hộ khiến từ sơ phẩm cho đến cửu phẩm, chớ để lui sụt, còn ba phần bày nói nên biết.

Kế chánh giải thích chặng giữa trong bốn phần. Lại nói tấn phần: Ý muốn nói chung các thiền phát, ở trong tấn phần trừ siêng năng sách tấn, lại từ nhậm vận tiến đến phi tưởng là nói.

Ban đầu trong Sơ thiền, trước nói tám xúc; kế nói mười công đức; kế năm chi; kế phẩm sớ. Đầu tiên là nói trong tướng xúc; đầu nói nội phát; kế nói ở sau. Nói xúc nội phát, nói tất cả chúng sinh đều có vị thiền Sơ địa, đầu tiên trong bát địa trên, nên nói Sơ địa, đã nói chúng sinh đều có, cần gì ngoài đến, nên trong Đại kinh quyển hai mươi ba nói: Như chúng sinh cõi dục tất cả đều có vị thiền Sơ địa, nếu tu hay không tu quyết định sẽ được, hai nhà ấy đều y cứ trong ngoài chưa phải đúng lý, nên nay bình rằng: Nếu định chấp tự ra ngoài, rơi vào tánh tự tha, y theo thiền căn bản, nên phá tánh tự tha, nay thủ ý môn Đại thừa phá xen chấp ấy, nên ba tạng học giả còn chưa phá tánh, huống là căn bản? Lại bát xúc ở sau phán xét thể dụng, nói thể dụng tướng thêm, nhẹ ấm lạnh nặng là thể, động nhám rít trơn là dụng, nếu động kế sau, ở sau y theo bát xúc dùng bốn phần để phán xét, hoặc từ đầu phát, v.v… đã biết ba phát là ba món tướng, phải nên tác ý để phòng tướng thối, động xúc kế ở sau nói mười công đức. Trước trong cảnh ma chưa rảnh luận nói, nay nầy chánh nói nên phải trình bày rộng.

Hỏi: Vì sao văn trước cho giải thoát là ái tắng, cho tương ưng là họa phước?

Đáp: Tên khác mà ý đồng.

Nói giải thoát, chỉ là lý, cái vì thái quá không kịp, không thể lìa cái nhưng sinh ái tắng, tương ưng chỉ tương ưng với Sơ thiền, cũng do hoặc, quá hoặc không kịp, không được tương ưng, không tương ưng nên gọi là họa, nếu khi tương ưng cũng gọi là phước, giải thích trong tâm

thiện, nói tin tất cả Hiền thánh đủ pháp sâu mầu, ý cũng như trước phân biệt tánh lỗi mà nói, nên biết căn bản tức là hạnh của Hiền thánh, hoặc là quá khứ hiện tại đều dùng tâm Đại thừa tu căn bản nầy, “long lệ” là dáng mạo không điều hòa, viết chữ “xuất”, như não, v.v… là thuốc thuộc da gọi là não não là tủy trong đầu. Kế hoặc một ở sau nói công năng của xúc.

Kế phán xét ngang dọc; kế kết nam chi; kế chỉ bày không được chung thành, đều như văn; kế ở sau nầy nói khác nhau. Ban đầu là pháp; kế dụ cho, phất canh nhiệt cù, v.v… nói mỗi xúc đều có đủ mười đức, tuy là một xúc mười đức khác nhau, phất canh cùng nhiệt cù đồng một nhiệt xúc, mà vị nhiệt khác nhau, thinh ngủ trầm lý, đồng một lãnh xúc, mà vị lạnh đều khác, còn sáu pháp cũng vậy, phải biết một xúc mười vị khác nhau. Nếu muốn ở sau lược chỉ bày tà chánh.

Kế giải thích chặng giữa ban đầu khuyên biết, nói như mở cửa, v.v… kèm theo tâm cõi dục như mở cửa tà pháp được nhập, như giặc tiến vào, nếu tà pháp vào, quỷ theo tà nhập, gọi là quỷ thiền, thiền thật ra chẳng phải quỷ.

Kế chỉ bày tướng tà xúc; kế chỉ bày tướng hai mươi tà pháp, kết số phán xét có không đều như văn, nếu riêng ở sau phán xét ở chỗ rất dễ thấy; kế nói công năng tà pháp.

Nói Đại luận có gió, v.v… Trong Đại luận quyển hai mươi ba giải thích giác là tham sân não, ba thô giác đây làm hoại thiền, như gió hoại mưa, có ba thiện giác làm thành tựu thiền, như gió thành mưa, tức không có tham, v.v… Nay mượn dụ cho hai xúc tà chánh. Đông bắc, v.v… là bổn thứ nhất nói: Gió mây Đông Bắc thuần làm mưa, gió mây Tây Bắc tan thì tạnh, giải thích dụ cho gió trên, nếu một pháp ở sau nói chủ bạn như văn.

Kế nói trong năm chi. Ban đầu trong tướng minh chi

Nói “điềm du” là điềm tĩnh. Trang Tử nói: Vô vi “Du” là vui, là ưa thích, là hòa. Trong Tỳ-đàm ở sau nói về phương tiện chánh thể, hai mươi ba tâm số, trong Bà-sa quyển tư nói: Làm sao có giác có quán thiền nghĩa là thông đại địa mười, và tâm, vì sao không giác mà có quán thiền, nghĩa là thông đại địa mười, đại thiện địa mười, và tâm, vì sao không giác quán không thiền, nghĩa là cũng như vậy, tâm là thức thứ sáu, các thức không thể nhập định thứ lớp, nên không nói, giác quán và hai mươi thành hai mươi hai, ưa và nhàm tùy theo một thành hai mươi ba, trung gian trở lên tùy theo nghĩa bớt một, nghĩa là trung gian không có giác, thứ hai trở lên giác quán đều không, nay nói năm chi nên ở Sơ

thiền hai mươi ba tâm nên khi năm chi khởi chẳng phải không có các số, nhưng năm chi cương trong hai mươi ba được gọi là năm chi. Trong Bà-sa hỏi: Ba pháp đầu vì sao có năm, hai và bốn vì sao có bốn?

Đáp: Từ xưa truyền trao giải thích nói: năm dục ở cõi Dục là ngoại loạn, hai thần đều vui vẻ là nội loạn. Sơ thiền trị đầu tiên ngoại loạn, Tam thiền bắt đầu trị nội loạn, nên đều có năm, hai thiền ngoại loạn dứt, Tứ thiền nội loạn dứt, cho nên hai và bốn chỉ lập bốn chi. Lại Sơ thiền năm chi trị năm dục cõi dục, là trị hỷ nhị thiền, ba thiền lập năm, hai và bốn không có việc như vậy, nhưng lập bốn chi, trong Đại Tập mặc nhiên chi, Đại Tập ở ngoài bốn, năm chi đều lập một mặc nhiên chi. Có người nói phán xét chỗ chi khác nhau. Ban đầu nêu ra cách giải thích khác.

Nói tâm cõi dục thứ chín, là dục định cửu phẩm, thuyết khác nói, tâm thứ chín tức thuộc năm chi, nếu nói ở trước dục định, tức chỉ thô tế trụ dùng làm năm chi nầy rất sơ lược, kế nay chánh giải thích như văn; kế nói trong mạch yếu.

Ban đầu gồm nói năm chi, trong pháp đầu nói, năm chi đồng khởi, v.v… là y theo môn Tỳ-đàm, hoặc y Thành luận trước sau thứ lớp năm chi sinh nhau. Kế như một phen ở sau nêu dụ cho, ban đầu ở sau khi đánh gọi là đại thinh, chẳng phải không có nhỏ ở chặng giữa, nhưng đầu tiên tiếng thô che ngăn ở trong tế, tiếng thô nếu qua thì nhỏ ở chặng giữa mới hiện.

Ban đầu từ mạnh mà đặt tên, gọi là đại thinh, năm chi cũng vậy, ban đầu từ mạnh mà đặt tên gọi là giác chi, giác chi dứt rồi, các quán mới hiện. Năm chi ở sau nói riêng năm chi, cũng là sơ pháp kế dụ cho; kế như ban đầu mở kho báu, v.v… thứ lớp sinh nhau mà hiển bày nhất tâm, nên trong Đại luận quyển mười chín có bài kệ nói: Ly dục và pháp ác có giác và có quán, ly sinh đắc hỷ lạc, là người nhập vào Sơ thiền, như người nghèo mở kho báu rất vui mừng biết chuyển tâm, phân biệt thì là quán, nhập Sơ thiền cũng vậy, nay ý giác văn đây là vật báu, gọi là giác chi, giác chi thành rồi, cũng biết trân quý giá là có chi quán, hỷ lạc là có chi hỷ lạc, định tưởng là có chi nhất tâm. Tuy ở giác chi mà đã có bốn pháp khác là giác bị ngăn che mà chưa thành tựu, chưa được bốn tên, quán, v.v… chưa hiện, cũng giống như vậy. Kế phân biệt ở bỏ dụ cho đối với các tướng chi thành tựu, phân biệt là quán thành, sinh hỷ đến nhất tâm là ba chi thành.

Kế như người ở sau hiển bày nhất tâm, như người khi ăn dụ cho bốn chi trước, hoặc ăn đủ rồi không cần ăn nữa, thí như nhất tâm, cũng

như ở sau trùng lặp lại dùng dụ cho hiển bày nhất tâm. Đối với dục tuy mà lâu ngày mệt mỏi, nên trong Đại luận quyển mười chín có bài kệ nói: thí như khi người đang ngủ say, nếu có tiếng kêu tâm ấy rất bực bội, khi nhiếp tâm nhập thiên bị giác quán làm não loạn, trong Đại luận thì dùng tiếng kêu ví dụ bốn chi, nay văn dùng năm dục dụ cho bốn chi, nên bốn chi tuy yên mà không bằng nhất tâm, nên sau bốn chi nói nhập nhất tâm, như sau năm dục mệt mỏi thì ngủ, trong luận nói nhập nhất tâm, không cần bốn pháp khác, nên nhập nhất tâm bị bốn chi làm não loạn, dùng dụ cho khác nhau mà hai ý không khác, hoặc Tứ thiền trở xuống giải thích nghi, nghi như văn; kế nay phân ở sau giải thích, như tấn ở sau giải thích ý chi biệt; kế giải thích danh nghĩa năm chi, nay văn chỉ ở trong tu chứng, văn ấy nêu đủ danh nghĩa năm chi. Trong luận Bàsa hỏi: Chi nghĩa là gì?

Đáp: Nghĩa là thuận theo thành tựu nghĩa đại sự, nghĩa kiên cố, nghĩa biệt khác, nghĩa tối thắng.

Nói thuận theo: Là thuận theo địa ấy mà lập chi, các nghĩa so sánh nói cũng rất dễ biết. Lại hỏi: thiền chi mười tám thật thể có bao nhiêu?

Đáp: Thật thể mười một, Sơ thiền có năm, hai pháp chỉ ở nội tịnh, tam thiền có bốn chi, Tứ thiền chỉ có không khổ không vui. Lại có thuyết nói: Thật thể chỉ có mười. Sơ thiền Nhị thiền, Tam thiền đồng một vui, không nên nói riêng, bốn không chẳng có chi, không được gọi là Thiền, nếu trong tu chứng bắt đầu từ Sơ thiền, mỗi thiền đều dùng ba môn phân biệt.

  1. Giải thích tên gọi.
  2. Tu tập.
  3. Chứng tướng.

– Trong tu tập có hai:

  1. Tu phương tiện.
  2. Chứng trung gian.

– Trong chứng tướng có sáu:

  1. Nói thiền chi.
  2. Nói nghĩa chi.
  3. Nói thể dụng của nhân quả.
  4. Nói cạn sâu.
  5. Nói tiến lùi.
  6. Nói công đức.

Các văn trong Bốn không xứ, đều đồng, nhưng đến thứ hai nói trong nghĩa chi, nói hữu chi vô chi, cho nên Bốn không chẳng có chi để lập. Lại thiền chi nói xúc có mười sáu, bốn đại đều có, địa đại có bốn: Nặng, chìm, cứng, rít. Thủy đại có bốn: mát, mềm, trơn, lanh. Hỏa đại có bốn: ấm, nóng, đau, ngứa. Phong đại có bốn: Động, điều, nhẹ, nổi.

Hỏi: Bốn đại vì sao đều có bốn xúc?

Đáp: Xen nhau bao gồm, lửa bao gồm nước, ấm gồm địa nên cứng, gồm gió nên ngứa, nhiệt là thể của lửa, trong gió địa điều hòa lửa nước nhẹ nổi, gió trong nước lạnh, đất mềm lửa trơn, trong đất gió nặng nước chìm, lửa trơn.

Trong luận Bà-sa lại dùng bốn câu phân biệt.

Hỏi: Chi Sơ thiền có phải là chi Nhị thiền hay không?

Đáp: Không có chi Sơ thiền, chẳng phải chi nhị thiền, nghĩa là giác quán, có hai chi thiền, chẳng phải chi Sơ thiền, nghĩa là nơi tịnh, có cũng chi Sơ thiền cũng chi nhị thiền, nghĩa là nhất tâm có chẳng phải chi Sơ thiền, chẳng phải chi nhị thiền, nghĩa là trừ được việc như vậy, tức chi tam thiền, chi Tứ thiền, kế do Sơ thiền đối với Tam thiền; kế dùng Sơ thiền đối với Tứ thiền, kế dùng Nhị thiền đối với Tam thiền; kế dùng Nhị thiền đối với Tứ thiền; kế dùng Tam thiền đối với Tứ thiền, ở đây, v.v… ví dụ ban đầu đều làm bốn câu. Nói năm chi nghĩa là gì?

Đáp: Giác ngộ gọi là giác, tế thiền phân biệt gọi là quán, vui vẻ gọi là hỷ điềm du gọi là lạc, tịnh giống như nói nhất tâm, vì đối với năm dục gọi là ngũ chi hoặc đối với pháp thiện gọi là ngũ pháp. Lại nữa, ở sau nói lý do phẩm số; kế là nói phẩm số; kế nêu dụ cho, nói nên đối là nên làm chữ “ưng”, hoặc tác ứng là ý cảm ứng, xuất tán ở sau công năng, hoặc dục chấp ở sau nói Nhị thiền, trước lập phương tiện, nói chỉ quở trách giác quán, cũng nên nói bao gồm quở trách năm chi, nhưng hai pháp đây làm đầu quở trách hai pháp nầy rồi còn tùy theo đó bỏ, lại pháp nầy khó dứt nên chỉ quở trách, nói tức phát trung gian đơn định; là quở trách lìa Sơ thiền tức năm chi, gọi là đơn định, trước tuy nhất tâm, nhất tâm từ ở sau năm chi mà được nay đơn định nầy từ ở sau một nhất tâm mà được,sau chi nhất tâm lại nhất tâm, nên nói chuyển tịch.

Nói thối thiền là dùng xả làm lui sụt chẳng phải nói lui sụt, không có công đức trước nên nói không đáng kể, nếu không ở sau phát Nhị thiền. Nói lẫn lộn bốn đại sắc, hoặc ở Sơ thiền tám xúc, bốn đại thể dụng sai khác, hoặc vào Nhị thừa đồng thành một sắc, nên gọi là “hỗn”, chiếu tâm ở sau giải thích.

Nói bốn chi: Là lìa giác quán cấu y nội tịnh tâm sáng sạch rõ ràng, gọi là nội tịnh, nội tịnh nầy định và hỷ đều phát, gọi là khánh gọi là hỷ, thọ cái vui trong hỷ cao siêu sâu dày đẹp vui, gọi là lạc, tâm thọ lạc dứt, gọi là nhất tâm, nếu muốn quở trách hỷ y theo Sơ thiền mà nói, nên thiền thứ ba ở trước cũng lập phương tiện giống như pháp Sơ thiền, bỗng phát ở sau chánh nói phát tướng, nói năm chi: Lạc sinh xả hỷ gọi là xả, hộ giúp cho thêm lớn gọi là Niệm, khéo léo lìa chấp gọi là Tuệ, vui sướng khắp thân gọi là lạc, lạc nầy khác nhau, với lạc trong Nhị thiền, lạc trong Nhị thiền nương hỷ mà sinh. Lại cũng không đồng với giác quán sinh lạc, thọ lạc nầy dứt gọi là nhất tâm; kế dẫn giáo như văn. Kế nói Tứ thiền trước cũng lập phương tiện; kế là trong chánh phát nói bốn chi, tương ưng với không khổ không vui, gọi là không khổ không vui, xả ở sau thắng lạc, không sinh ưu hối gọi là xả, đẳng trí chiếu rõ gọi là niệm, không nhiễm hạ địa gọi là thanh tịnh, định thể bất động gọi là nhất tâm; kế nói, diệt ba thứ sắc như quyển sáu. Lại trong các kinh luận, chỉ có Đại Anh Lạc nói. Bốn không xứ đều có năm chi, tên gọi đều đồng, sâu cạn đều khác. Năm chi là:

  1. Tưởng.
  2. Hộ
  3. Chỉ
  4. Quán
  5. Nhất tâm.

Trong Thiên Thai nói: Chi danh tuy đồng chỗ mà có bốn pháp khác nhau, e là khi tu phương tiện đã dùng tám Thánh chủng, nêu ra khác nhau của năm chi.

Trong Đại luận quyển mười chín hỏi: Nên nói thiền Ba-la-mật sao sự nói là thiền định?

Đáp: Do chúng sinh chỉ đối với năm dục cầu vui mà không biết thiền vui, vì Bồ-tát biết, chỉ bày tướng vui ấy; kế liền để nhập ở đạo vị, nay tuy nói phát bao gồm chỉ bày cho người biết. Nếu người không biết, thì có hai lỗi:

  1. Không biết thiền lạc.
  2. Lẫn lộn cho rằng có gì ghi.

 

PHẦN 2

Kế nói thiền vừa lậu vừa vô lậu, ban đầu nói ý y theo trong thiền môn căn tánh có ba, nên tuệ nhiều định ít, vì đó nói sáu diệu môn nầy phần nhiều ở cõi dục phát vô lậu, thế chưa phải đủ địa trên, lại trải qua tất cả nhân duyên sáu độ, cho nên phán xét thuộc tuệ nhiều định ít, hoặc định nhiều tuệ ít, vì đó nói đặt thắng, trong thiền đặc thắng tuệ tánh ít, nên đến Thượng địa mới phát vô lậu, nếu định tuệ đồng vì đó nói thông sáng, thông sáng trong thiền định tuệ tánh, v.v… quán tuệ sâu xa đủ phát tâm căn bản, từ hạ đến thượng đều phát vô lậu, đây là tùy cơ thuận tập mà nói. Nếu đối trị, trầm nhiều nên tu tuệ nhiều định ít, tán nhiều nên tu định nhiều tuệ ít, trầm tán, v.v… nên tu các quán, luận nói pháp tướng thì nói tùy cơ đối trị, nay nầy nói phát chỉ phán xét tùy theo phát.

Hỏi: Nay văn vì sao không nói sáu diệu môn?

Đáp: Số đầu và tùy theo ở trong căn bổn trước nói bốn pháp sau nhập lý chẳng phải nay bàn luận, huống chi là chung tu tướng, nên ở đây không nói.

Nói ý: Sao gọi là Đặc thắng? đây quán đặc biệt xuất thắng ở chín tưởng, như trong luật nói, luật Thập Tụng chép: Đức Phật ở nước Bạt-kỳ trên sông Bà-Cầu. Luật bốn Phần chép: Vườn Bà-Cầu, vì vườn ở trên sông, dạy các Tỳ-kheo tu quán bất tịnh, các Tỳ-kheo đúng như lời dạy mà tu tập, đối với thân sinh nhàm chán, như cột rắn vào cổ, hoặc có các Tỳ-kheo tâm nghĩ muốn chết, khen chết, tìm dao tự sát, hoặc uống thuốc độc tự trói tự đọa, hoặc chuyển tướng hoại. Có một Tỳ-kheo lại đến chỗ Phạm Chí Lộc Trượng khen rằng: Thiện nhân! ông hãy giết tôi, tôi cho ông y bát. Bấy giờ Phạm Chí ấy liền dùng dao bèn chặt đứt mạng căn, máu dính dao bèn xuống sông rửa. Lúc ấy, có ma trời từ nước trồi lên đứng ở trên nước khen Phạm Chí rằng: Thiện nhân! ông được phước lớn, Sa-môn Thích tử nầy chưa độ thì độ, chưa thoát thì thoát, được cả y bát, như vậy bèn giết hại sáu mươi Tỳ-kheo, nhân đến nửa tháng nói giới. Đức Phật hỏi ngài A-nan sao không thấy các Tỳ-kheo, ngài A-nan đáp đủ, do đây mà lập chế, nên sau đó đổi quán dạy tu đặc thắng.

Hỏi: Nếu vậy sao không ở sau quán bất tịnh mà ví dụ?

Đáp: Nếu y theo đối trị nên như đã hỏi, nay y theo sâu cạn nên nêu bày ở trước, nên trong Phẩm Quảng Thừa, của kinh Đại Phẩm nói cửu tưởng, v.v… thiền đều Đặc thắng, ở sau có nêu. Đây thì kinh cũng nương sâu cạn, lớn rộng, ở sau nói ưa sách tấn. Ban đầu dụ cho, là quán vô lậu như thân tham dục như nhiệt bệnh, chín tưởng như thuốc, vốn tự hại như đại lỗi, chưa biết lậu hết gọi là thân yếu, duy chuyên nhàm thân như xú uế, thuốc vốn trị bệnh giúp thân bình phục, nay bệnh tuy bỏ nhưng khiến thân khốn khổ, nên nói là tệ, lại tu Đặc thắng như thêm vào, còn kèm theo bất tịnh ở sau, tấn phát vô lậu như thân bình phục, sinh thắng ở sau phán xét, hữu quán ở sau nói quả thật. Pháp đầu, kế dụ cho, nói như người xét thức ăn, tức trị người tham dục. Tồn thân tu quán như ăn mỡ heo, niệm xứ quán thân như dính vật dơ, bất tức tự hại, cũng như ăn mạnh, chín tưởng quán thành cũng như heo hôi mướn người tự hại, như không ăn lại. Chữ liêm chẳng phải thể nên làm tức ăn ít, hợp như văn. Đặc thắng phát, ở sau chánh hói phát tướng, mười sáu pháp nầy đối với Bốn niệm xứ và bốn món căn bổn, trong mỗi niệm xứ đều nói: Nếu đối với đạo phẩm, thì niệm xứ thuộc về đạo phẩm, đây là nói theo thông, nên chỉ cho đạo phẩm, từ ban đầu biết ra hơi thở đến trừ các thân hành, có năm đặc thắng gọi là thân niệm xứ.

Ban đầu nói hơi thở ra vào, vào đến rốn, ra đến mũi soi chiếu không loạn, cho đến biết vào nhẹ ra nặng, vào thô ra tế, nhập trơn ra rít, nhập lạnh ra ấm, biết thở dài ngắn. Trong Đại luận quyển năm mươi ba nói, như đệ tử Toàn sư, Toàn sư biết dây dài ngắn, mà căn bản thầm chứng, nêu căn bổn trước nói khác với đây, như tro đậy lửa, v.v… ba dụ cho, và dụ cho căn bản không có quán tuệ, phụ nữ ăn lửa như có thân, tro ban đêm mà tối như căn bản, nay có quán tuệ như trừ tro, ngày sáng mở mắt, nên biết Đặc thắng khác với căn bản, tám xúc trước xúc thân bỏ, cũng bác bỏ căn bản. Thương là kho lúa, lúa là năm thứ lúa, lúa là tên chung của năm thứ, lúa là hột, năm thứ thành hột gọi là lúa, năm thứ: Lúa nếp, kê, mì, lúa, mè.

Kế từ tâm thọ vui ở sau, ba Đặc thắng đối với thọ niệm xứ; kế tâm khởi vui ở sau, ba đặc thắng đối với tâm niệm xứ. Trong Đại Tập, v.v… ở đây dẫn trong Đại Tập chứng minh không có nội tịnh, nay chỉ nói tâm tác hỷ, tức tợ không có nội tịnh nên đồng Đại Tập, từ quán vô thường ở sau, năm đặc thắng gọi là Pháp niệm xứ, nói các chỗ cũng quán. Chưa phải trị riêng, theo biết hơi thở ra vào và quán vô thường, ở đây chỉ tướng chung biết vô thường. Đến thiền thứ tư, thiền đây hơi thở dứt, nên ngoại đạo chấp cho là thường, nên quán vô thường riêng trị địa nầy. Lại đến Tứ không càng phải nói khác, nên căn không xứ vẫn là nói lược, nên nói không tán là muốn biết dục tán ấy, nên gọi là ly dục, gọi là quán ly dục. Vô sở hữu xứ nói hoặc nhiều hoặc ít, thức xứ là nhiều vô sở hữu xứ là ít, nay có quán tuệ lìa là nhiều ít, nên nói đều không thiếu, tức là diệt, nên nói quán diệt, mười sáu pháp nầy ở sau chung kết. Hoành đối niệm xứ lý khác căn bản, dọc đối căn bản lại nương niệm xứ nên khác riêng căn bản, nếu dụ cho rằng: Như thức ăn không muối, v.v… riêng phát căn bản như ăn lạc, đặc thắng hữu quán như thêm muối, căn bản sâu cạn nên nói dọc, các pháp niệm xứ nên nói ngang, văn đầu tuy không nêu số, danh nghĩa đã đủ, không cần giải thích riêng, chỉ có ban đầu thân niệm năm pháp, danh tướng hơi ẩn. 1- Biết hơi thở vào; 2- Biết hơi thở ra; 3- Biết thở dài ngắn; – Biết hơi thở khắp thân; – Trừ các thân hạnh. Các văn nên thấy. Trong thiền môn hỏi Đặc thắng nương vào địa nào?

Đáp: Người giải thích khác nhau, có sư nói: Chỉ ở cõi dục, chưa được đến Sơ thiền, địa trên chẳng phải không được, do quán pháp không đủ, như thiền thứ tư không thở ra thở vào, cho đến hỷ lạc, để nói niệm xứ bất tiện.

Lại có một sư, đủ như văn nay và pháp giới thứ lớp trong thiền môn nói, đều y kinh nên dùng thuyết nầy để giải thích.

Có một sư nói: Đối Bốn niệm xứ có thể như vậy, nhưng phân ra không đều, nên như mười sáu hành tướng vô lậu, một đế đều có bốn, ở mỗi niệm xứ đều có bốn Đặc thắng, thân hành giả cần gì chỉ hơi thở ra vào, phải tâm thọ mới có thể tạo làm. Cho nên thứ năm nhập thọ niệm xứ, sư nầy đối với địa cũng đồng với nay, nhưng đối niệm xứ tiểu bất định.

Kế nói thông minh: Ban đầu trong, nói thấy ba mươi vật, trước trong Đặc thắng nói ba mươi sáu, không khác với đây, lại các văn đều nói trong ngoài, trung gian đều có mười hai vật, chỉ có trong thiền môn nhưng phân ra trong ngoài, ngoài có mười vật, trong có hai mươi sáu, ở giữa có hai mươi hai là địa, mười bốn là thủy, mà không phân danh tướng thuộc địa thủy, nên nói: Râu tóc móng răng, da mỏng da dầy, gân thịt xương tủy, tỳ thận gan mật phổi, ruột non ruột già, tim bao tử, phân tiểu dơ mồ hôi, nước mắt nước miếng mủ máu, mạch, đàm vàng, đàm trắng mỗ màng não, trong ba mươi sáu thứ nầy, tóc lông móng răng nước mắt nước miếng phân tiểu, mười thứ nầy thuộc về bên ngoài, còn bao nhiêu thuộc bên trong, trong mười pháp trừ tóc lông móng răng thân máu như mỡ, đàm trắng đàm vàng tủy não mười bốn thứ nầy thuộc về nước, còn bao nhiêu thuộc về đất, nếu mỗi thân ra mười hai thứ tùy theo tướng nên biết. Trong kinh Hoa Nghiêm, v.v… trong thiền môn hỏi thế nào gọi là Thông sáng?

Đáp: Pháp thiền quán nầy không phân biệt được danh mục, ở các nước phương Bắc có sư tu đắc thiền nầy, muốn chỉ dạy cho người, đắc không biết danh mà không danh bất định thử muốn đặt để trong thiền căn bản, mà pháp tướng quá khác, hoặc đối với Đặc thắng danh mục hoàn toàn khác, ban đầu đối với Bối xả quán hạnh đều khác, cho nên các sư gọi là thông sáng, lại có hai cách giải thích.

Ban đầu nói: Khi tu ba việc thông quán, nên gọi là thông, pháp nầy sáng sạch, khai mở mắt tâm, quán một đạt ba chỗ, thấy không chướng ngại, nên gọi là minh, nầy giải thích khác với văn nay, lại có một cách giải thích đồng với văn nay, nên được gọi chung là trong nhân nói quả, nên nói thông minh.

Hỏi: Nếu vậy, các thiền cũng được, nào có khác với ở đây.

Đáp: Các thiền tuy được không bằng bệnh nầy. Cho nên các sư lấy đó đặt tên.

Hỏi: Trong Đại Tập giải thích tên gọi là như tâm, cho đến trụ trong Đại Tập, sao không nương theo mà gọi là thông minh?

Đáp: Trong kinh Đại Tập chỉ nói “bảo cự”, tên còn thông bít, chưa đủ để dùng các thiền nói khác, thỉnh trong Quán Âm, quán ở tim mạch cũng tợ như thiền nầy, nên nói là ý nầy, cũng chưa đủ giải thích danh thiền nầy. Phải biết ở sau đã không phán xét, cho nên chỉ dùng thông minh đặt tên.

Kế chánh nói trong phát. Ban đầu y theo năm chi Đại Tập.

Trước nêu bày; kế giải thích, giải thích văn lại y theo Đại Tập, Bảo Cự, để giải thích tướng ấy, trong thiền môn tuy nói không có danh mục, nhưng giải thích nghĩa thì phải nương văn Đại Tập, khác nhau với các sư nói, không có an trí.

Ban đầu giải thích Giác chi.

Trong kinh có năm câu hợp lại thành ba; ban đầu riêng y theo hai đế giải thích hai giác.

Kế hợp y theo chân tục giải thích hai tuệ, ba y theo ba đế để giải thích tâm tánh, ban đầu giải thích như tâm rất dễ thấy; kế lại biết tục đế ở sau giải thích Đại giác, tập thiền môn giải thích chín mươi chín, xương lớn nhỏ có ba trăm sáu mươi, tủy có chín trăm chín mươi chín lớp, trong xương nầy lại có các tràng, bốn đầu bốn miệng chín mươi chín đuôi, số ấy chẳng phải một, não có bốn phần, mỗi phần có mười bốn lớp, năm tạng mỗi tạng che nhau như hoa sen, lỗ trống trong ngoài thông nhau, đều có chín mươi chín lớp, cũng có tám mươi con trùng, ở trong đó khiến lẫn nhau, âm thanh ngôn ngữ đi lại động tĩnh, đủ như trong thiền môn tu chứng có nói: Từ tư duy bỏ nói chân tục, chỉ là đến chỗ rõ được chân tục, cho đến định chi lần lần sâu xa, nói khác như văn, tâm hạnh ở sau giải thích quán chi, nói chi thượng giác là giải, thượng căn bản chi trực giác tám xúc, thầm chứng quán không nên bác bỏ nói giải, tâm trụ ở sau giải thích định chi, không giải thích hai chi hỷ an chỉ rộng như văn, phát từ đây về sau các địa vị, nói Sơ thiền như bọt bóng, cho đến thứ tư như hình bóng trong gương, lần lần mong nhau lần sâu xa, cho nên y cứ thể dụ để nói về tướng mạo, vào cõi Vô sắc, Vô sắc có thể dụ, cho nên văn dụ nhưng đến Tứ thiền, cõi Vô sắc chỉ nói ba việc không, v.v… diệt phi tưởng ba thứ thọ tưởng, hoặc pháp hạnh Tỳ-kheo, khởi suy nghĩ nầy, hoặc có thức tưởng xúc tưởng và hư không tưởng, hoặc tu vô tưởng diệt hẳn tưởng nầy, tưởng tuy có ba đều là đã diệt, lại diệt đại địa thông tâm ở trong đó thọ tưởng tâm sơ cho nên gọi chung là diệt thọ tưởng. Luận Bà-sa nói: định nầy cũng diệt các pháp tâm sở, vì sao chỉ nói diệt thọ tưởng ư?

Đáp: Có thuyết nói chỉ diệt hai pháp nầy, có thuyết nói, hai thắng nầy, có thuyết nói, cũng diệt các pháp tâm sở là nói theo thù thắng. Lại nói: hai cực đây là hành giả làm mỏi mệt, thọ ở sắc khởi tưởng mỏi mệt ở Vô sắc làm mỏi mệt, lại hai pháp nầy ở trong hai cõi làm cao quý, thọ ở sắc thắng tưởng ở Vô sắc thắng, lại sinh ra ở hai thứ hoặc, thọ sinh ái tưởng sinh kiến.

Lại hỏi: Định đây là hữu tâm hay vô tâm?

Đáp: Tôn giả Đà-đề-bà, hữu tâm hoặc vô tâm, làm sao nói từ định ấy khởi gọi là tử, như có Tỳ-kheo đầu tháng muốn đi khất thực, bấy giờ mưa to sợ lạc mầu y, lập thệ nhập diệt định cho đến mưa tạnh, mưa suốt trong hai tháng mới tạnh, Tỳ-kheo xuất định liền chết, cõi sắc không phải đoạn thực nhập thì trải qua thời gian lâu.

Hỏi: Khi nhập không lập thệ pháp nào mà khởi?

Đáp: Như khi nhập định trước diệt khẩu, kế diệt thân, sau diệt

tưởng, khởi thì nghịch; kế trước khởi ở ý, không thể thân khởi mà ý không khởi.

Hỏi: Diệt định vì sao khác?

Đáp: Diệt là một sát-na, định là lâu liên tục.

Hỏi: Tâm không động gọi là định, định nầy vô tâm, làm sao chẳng động?

Đáp: Tuy vô tâm bất động, có bốn đại nối tiếp; kế có tục quán phán xét lậu vô lậu, trong đây phán xét trước như tâm đồng hành đại hạnh trong đó chân tục và lậu vô lậu, nhưng kèm theo các tướng da thịt, nên gọi là tục và hữu lậu, có quán sâu xa như hư không, gọi là chân vô lậu, thiền nầy, v.v… phân tích Thành Luận sư, hữu lậu gọi sự vô lậu gọi là lý, nên biết nầy giải thích thiền trong mỗi địa, đều có quán tuệ chân tục tức nhau, huống qua phi tưởng đến diệt thọ tưởng, cũng qua Đặc thắng, huống chi là căn bản? Cho nên phân tích Luận sư không biết dùng đó làm tám giải thoát, mà chỉ dùng căn bản làm sự thiền? Đạo là đạo cộng, định là định cộng.

Kế dẫn luận Tỳ-đàm phân tích Thành Luận sư. Tỳ-đàm nói nghĩa không mất nghĩa lý, như ông đã giải thích, chỉ có lý định vô lậu, không có tám giải thoát sự thiền, phải biết luận ông không có chúng giải thoát, theo ngoại đạo thì bỏ chánh Thành Luận sư, lại đem luận giới tuệ ấy gạn Luận sư ấy, nầy thì ở sau kết gạn.

Dịch y, v.v… là đã không có tám giải thì không có dịch định, lấy gì để khác thiền ngoại đạo. Nói tám thuật: Trong Đại kinh quyển hai nói lại có minh y hiểu tám thứ thuật từ phương xa đến, trong văn kinh tự giải tám thuật có tám lần lại nữa, mỗi lần lại nữa đều tự kết dụ rằng: Trừ một xiển-đề. Người xưa cùng nói: Dạ ở bát chánh để trị tám đảo. Trong Chương An nói có mười thứ y, chỉ trừ Viên giáo hậu tâm tức là Như lai. Còn có mười người đều phải trị, quả chưa mãn, nghĩa là sơ tâm trung tâm Viên giáo, ba giáo Bồ-tát hai giáo Nhị thừa, ngoại đạo dứt kiết ngoại đạo khổ hạnh, ngoại đạo không kiến, hai trong mười y đây là viên y, thiện ở sau tám pháp gọi là hiểu tám thuật, phải biết Thành Luận đã không dịch định, chỉ có ba pháp dứt hết khổ hạnh, v.v….

Lại nói: Ba đạt năm căn gọi là tám thuật. Lại nói: vô thường, thường, v.v… mỗi pháp có bốn thành tám, y cứ hai nghĩa nầy thì người Thành Luận có tám thuật hoàn toàn không, vô thường, v.v… bốn pháp còn tự không thành, làm sao khác với ba pháp dứt kiết, v.v…, còn ở trong Thích Tiêm có nói: Kế là tịnh ở sau nói vô lậu, v.v… Thiền môn nói tu nên nêu chung có chín, nghĩa là chín tưởng tám niệm mười tưởng tám xả, thắng xứ nhất thiết xứ, chín thứ lớp sư tử siêu việt, nay văn không có tám niệm mười tưởng, đã phân biệt như trước, thắng xứ nhất thiết xứ hợp ở trong Bối xả có nói, chín định, v.v… là quả địa pháp, nếu xưa đã được không sinh ở đây, cho nên ba pháp nầy nay cũng không nói, nay văn, nay văn thêm đại bất tịnh từ tâm nhân duyên niệm Phật thần thông: Đại bất tịnh cùng chín tưởng chỉ là sự khác nhau của thô tế, chung riêng, từ tâm văn ấy hợp ở căn bản thành mười hai môn, niệm Phật văn ấy ở trong tám niệm, thần thông đã là dụng của các thiền mà luận chỉ nói tu cho nên không nêu bày, nay sợ tập phát, nên phải nêu bày pháp tướng rộng lược, đều nói ý ấy, nay chín tưởng ban đầu, là nếu muốn tu tập nên đến thiền môn tìm xét tướng ấy, nhưng hành giả nầy phải có giới định, niệm tâm không hối hận, dễ thọ pháp quán phá được tham dục. Ban đầu nêu hai người kế nói hai người phát tướng trước nói hoại pháp người, ban đầu người nầy ở sau nói ý hoại pháp, đã không có người để quán, cho nên tiến đến thiêu tưởng thứ chín, đã không ở sau nói khác, nguyện trí đảnh thiền hoại pháp, do đây không tu Bối xả cho đến siêu việt thiền rất cao thượng, nên gọi là Đảnh, thiền nầy lại có thể chuyển thọ thành phước, chuyển phước thành thọ gọi là nguyện trí Đại luận quyển mười chín nói: Muốn biết việc ba đời thì tùy nguyện liền biết, cũng gọi là vô tránh, có thể khiến tâm họ không khởi tranh, nầy siêu việt thiền cũng có đủ bốn nói. Câu-xá quyển hai mươi bảy nói: Lấy nguyện làm đầu, dẫn khởi trí mầu, như nguyện mà liễu ngộ, nên gọi là nguyện trí, tuy nói thiêu diệt, v.v… thân tưởng tuy không mà thân thật còn, như diệt thọ tưởng, thọ tưởng tuy diệt mà thân thật chứng, người nầy ở sau hoại pháp người có lui sụt hay không lui sụt, như Tỳ-đàm, v.v… Trong luận Bà-sa hỏi: A-la-hán lui sụt, không nên hai quả thứ hai và thứ ba cũng lui sụt.

Đáp: A-la-hán lui sụt dẫn đến hai quả lui sụt, cũng như cát giếng, trên dưới có trong ngói chỉ có sỏi vụn, ngói trên nếu giống, từ trên đến dưới sỏi trong ấy đâu được không giống, bốn quả như ngói ở trên, hai quả như sỏi trong ấy, quả đầu như dưới đáy, nếu đến đáy xong thì không còn đi được.

Hỏi: Nếu đến sơ quả cũng nên nói lui sụt quả thứ hai thứ ba sao?

Đáp: Như người rơi vào nhà ba tầng, trong ấy cũng giống như vậy, tuy tức không nói lui sụt thứ hai, thứ ba, quả thứ hai, thứ ba thật lui sụt. Lại nữa quả thứ hai thứ ba là nhân thứ tư, quả ấy đã lui sụt nhân ấy cũng lui sụt, nếu vậy, sơ quả cũng vậy là nhân quả thứ tư, cũng nên nói lui sụt?

Đáp: Trước sơ quả không còn có quả, nếu quả lại lui sụt thì không chỗ trụ, nếu thừa nhận, sơ quả lui sụt thì có nhiều ngăn ngại, vốn là kiến đế, nay chẳng phải kiến đế vốn là đắc quả nay chẳng phải đắc quả, vốn là quả quyết định, vốn là bậc Thánh nay chẳng bậc Thánh, lìa lỗi như vậy nên không nói lui sụt.

Hỏi: Lui sụt trải qua mấy thời?

Đáp: Trải qua mấy thời cho đến tự không biết lui sụt, hoặc tự biết lui sụt phải tu phương tiện thắng tấn.

Lại nữa phiền não ấy hiện ở lúc trước, tâm sinh hổ thẹn mau làm phương tiện, như người mắt sáng ban ngày đất bằng nghiêng đổ, tầm tức lại khởi nhìn thấy bôn phương hay không thấy, trong ấy cũng như vậy, hoặc Phật, hoặc Thánh đệ tử, thiện nhân không thấy ta chăng, cũng như thân thể ấm, người có chút lửa rơi trên thân. Tầm tức từ bỏ.

Hỏi: Đã lui sụt hai quả hai quả không cần tác giác tạo tác ư?

Đáp: Không phải tạo tác, quả nhân sở hành khác với phàm phu, nhưng tuệ giải thoát cũng không lui sụt, nghĩa có lui sụt nên nói có lui sụt, trong kinh A-hàm ở sau dẫn quả thứ ba lui sụt vì ví dụ giống, cũng không được người sự thiền, người nầy tuy lui sụt mà không mất đạo cộng, đây sau lại được, nên biết A-hàm và luận Bà-sa ý đồng, đã nói muốn no thì tự đến tức là sơ quả trong thân, làm bậc sơ quả tạo tác các việc, đều không mất đạo cộng, nên được làm ví dụ, nếu vậy ở sau phán xét vô sự thiền thành tuệ giải thoát, đều y dụng thế đạo ưa thích, nhàm chán mà dứt, nên gọi là thế trí, nên vô lậu lại tùy theo nương một địa, đoạn từ thượng hạ ba cõi, các hoặc đều được diệt định, cho nên không lui sụt, hoặc không hoại, ở sau kế là giải thích không hoại pháp nhân.

Ban đầu nói không hoại pháp tướng. Nói quán luyện huân tu, là đủ như trong thứ lớp pháp giới có nói. Nói luyện thiền tức chín thứ lớp định, chép đủ trong kinh Ma-da, vào Sơ thiền rồi, kế đó vào Nhị thiền, thứ lớp như vậy đến định diệt thọ tưởng, y nơi chín chỗ thứ lớp mà vào, nên đặt tên. Lại vào Vô gián nên gọi là thứ lớp.

Nói huân thiền: Bốn sư tử phấn tấn, như sư tử làm tung lên các bụi đất, nghĩa là phấn tấn ra vào, đó gọi là nhập, là đủ, vào chín định, từ sau cho đến diệt định là thuận.

Nói nghịch: Từ diệt định xuất rồi lại nhập phi tưởng, thứ lớp như vậy, lại đến Sơ thiền.

Nói xuất: Là nghịch thuận đều vào một tán tâm, nói tu thiền tức là siêu việt, nghĩa là siêu nhập siêu xuất đều có hoặc nghịch hoặc thuận cho đến nghịch thuận. Thuận: Là lìa dục vào Sơ thiền, từ Sơ thiền siêu

nhập phi tưởng xứ, phi tưởng xứ siêu nhập diệt định, diệt định siêu nhập Nhị thiền, nhì thiền siêu nhập diệt định như vậy cho đến Phi tưởng.

Nói nghịch, là từ diệt định khởi nhập Sơ thiền, Sơ thiền khởi nhập phi tưởng, phi tưởng khởi nhập Sơ thiền, như vậy vô sở hữu xứ, cho đến nhị thiền.

Nói nghịch thuận là từ trên siêu vượt xuống, siêu vượt lên, đối nhau qua lại đến diệt định cho đến Sơ thiền, ba thứ xuất là như nhập chẳng khác, chỉ có nghịch và thuận đều phải trải qua trong một tán tâm rồi kế vào các định, thật ở thứ lớp pháp giới và Đại phẩm Đại luận, hoặc y Niết-bàn sau phân luyện huân nghĩa đồng, tu thiền thì hơi khác.

Trong kinh nói: Có hai thứ:

  1. Đồng với văn đây.
  2. Siêu một, siêu hai.

Hoặc đến hoàn toàn đều siêu. Nói một hai là không thể vượt xa, nói vượt xa là có thể một hai, hoặc khi tu thấp đối tu nói phát.

Ái nhiều, v.v… nay nầy đều y cứ chín tưởng tự thân tha thân dùng làm trong ngoài, rộng như trong Đại luận quyển hai mươi mốt có giải thích, trong Bối xả có nói.

Lại nói: Lúc đầu tập quán đều quán, tập thuần thục trừ bên trong cũng có thể ái nhiều quán ngoài, gọi là chín tưởng, thấy nhiều quán thân gọi là Bối xả trong ngoài đều quán gọi là thắng xứ, nói về ngồi rồi sau đó nói về phát tướng, không hoại pháp nhân nhưng đến quyển tám. “Tằng hội” là tánlà dáng nước chảy, chữ không có chánh thể. “Bàn đà” là dáng nước chảy ràn rụa, chưa thấy ở sau nói công năng, ban đầu nói công năng trị dục. Pháp ban đầu hai dụ cho nói quán thành sinh nhàm, như nắm tịnh pháp Bà-la-môn. Trong Đại luận quyển hai mươi hai giải thích mười tưởng đến trong tịnh khiết, có việc nhân duyên đến nước bất tịnh, ta phải làm sao lìa bất tịnh nầy được ăn thức ăn thanh tịnh ư? Thấy một bà lão mua một chiếc bánh tủy trắng, lại bảo rằng: Ta có duyên trụ trăm ngày ở đây, thường làm bánh, nầy đem đến cho ta, phần nhiều cho ông, bà Lão thường ngày đem đến, Bà-la-môn vui mừng tham đắm ăn no, lúc sau làm bánh lần lần mỗi ngày không có mầu sắc không có vị, liền hỏi vì sao?

Bà Lão đáp: Mụt ghẻ lở đã lành.

Bà-la-môn: Đây là lời gì?

Đáp: Đại gia phu nhân của ta chỗ kín có mụt ghẻ, dùng mi tơ cỏ ngọt mà truyền, mụt ghẻ mủ nóng chảy ra trộn với sữa bánh, mỗi ngày như vậy, cho nên vị bánh và mầu đều tốt, nay mụt ghẻ của phu nhân lành, làm sao còn được. Bà-la-môn nghe việc ấy, dùng tay tự đấm chùy vào ngực nôn khan, ta làm sao phá được pháp nầy ta vì liễu ngộ xả bỏ duyên sự chạy về bổn quốc, Hành nhân cũng vậy, đắm vị ăn uống ngon quán thấy bất tịnh không còn tham, nay mượn giả tưởng ý cũng như vậy, thân như ghẻ lở, bánh gọi là tịnh, nếu biết bất tịnh trở về bổn quốc Niết-bàn thanh tịnh, hoặc chứng ở sau quán thành, còn không ở sau nêu so sánh tướng nhàm chán. Chữ minh nên làm các miệng gần nhau. Nếu làm chữ Minh gọi là chữ hô, tưởng như vậy sau cùng nói khác với Đặc thắng, như người tham ăn, v.v… mến tiếc thân như tham ăn thân uế như heo lợn, thật quán xét kỹ để biết, thân còn như gượng ăn, thấy giồi như giả tưởng, thật nhàm chán bèn không ăn. Trước Đặc thắng, sau hợp dụ, Đặc thắng là thật quán, chín tưởng là giả tưởng, nên ở sau dẫn chứng. Sáu tặc là sáu dục. Cửu thông ở đây có thể trị sáu dục, hoặc trị riêng, tư tưởng trị oai nghi nói năng hai dục, bụng hoại nuốt ba thứ trị hình dáng một dục, máu dính mủ tan xanh ứ đọng ba pháp trị sắc một dục, xương cháy hai pháp trị một dục mịn trơn, chín tưởng lại trị chung người ham đắm, trị khắp dục nhân tướng, có thể lay động chín mươi tám núi sử, chỗ trị rất mạnh. Nói oán dối, ái như kẻ thù, dối như bạn thân, khiến người khởi tham như dối bạn thân, dẫn người vào chỗ ác như kẻ thù, đủ như trong Đại kinh quyển hai mươi mốt, như vậy ở sau nói, công năng giúp sức Đại thừa, Tiểu thừa.

Ban đầu là chánh giải thích; kế dẫn chứng, văn đầu hoặc tùy theo bổn tập, hoặc tùy hiện quán, nên Đại thừa Tiểu thừa đồng bị tham dục làm ngăn ngại, chướng bỏ tập phát theo các việc trông mong. Thời nay hành giả nói tuy sâu làm sao tránh khỏi ái ràng buộc, không tin quán đây làm sao thể hội được chân lý? Giải thích luận ở sau phá lầm, chứng chín tưởng năng phát Đại thừa, nên biết các sư không thể nói ý.

Kế giải thích Bối xả; ban nhiều lần phán xét cạn sâu, ba pháp trước là căn bản, là hữu lậu, gọi là vị căn bản, Đặc thắng thông minh gọi là căn bản tịnh, chín tưởng trở lên quán phân biệt huân tu gọi là bốn sự định, nay đối với sự định chỉ nói quán thiền, đối với quán thiền văn cũng chưa hết; kế chín tưởng về sau nói Bối xả, lại phải phân biệt huân tu chẳng phải nay đã nói, văn ở sau phân biệt đại tiểu khác nhau, bao gồm cùng không hoại nhân cộng, khác nhau ở Thánh hạnh Bồ-tát. Lại Bối xả ở sau phán xét nhân quả để giải thích tên gọi. Trong nhân nói quả: Là có người nói: Bối xả là tên khác của giải thoát, nay dùng môn Đại thừa đến suy nghiệm ý thì không phải như vậy.

Trong Đại Phẩm chép: Bồ-tát y theo Bối xả vào chín định và thân chứng Na-hàm, tuy đắc chín định, cũng lại chưa thọ tên tám giải thoát, nên biết lúc nhân nhàm Bối xả lìa phiền não, gọi là Bối xả, lúc sau đầy đủ quán luyện huân tu, phát chân vô lậu, kiết ba cõi hết. Bấy giờ, Bối xả đổi tên thành giải thoát, nên biết Bối xả ở nhân, giải thoát ở quả, nếu gọi Bối xả là giải thoát, tức là trong nhân nói quả, cho đến trong quả nói nghĩa nhân, cũng có thể thông, nên nói tên khác, trở thành rất ngăn ngại.

Trong luận Bà-sa hỏi: Bối xả nghĩa là gì?

Đáp: Bối xả nghĩa là bỏ, hai pháp đầu bỏ tâm sắc ái, thứ ba bỏ tâm bất tịnh, từ thứ tư trở đi phi tưởng xứ, bỏ pháp hạ địa, pháp diệt thọ tưởng, bỏ tất cả hữu duyên.

Tôn giả Hòa-tu nói: Được nghĩa giải thoát vì được thoát khỏi phiền não, lại hư tưởng được giải gọi là giải thoát, nên biết văn luận cũng là Bối xả từ nhân, giải thoát từ quả, nên nay trong văn từ bối trở xuống soạn từ bên nghĩa nhân để giải thích Bối xả.

Nói tịnh khiết ngã dục: Trong thiền môn nói: phàm phu cõi dục mê tình, tham đắm pháp bất tịnh, cho là tịnh diệu, gọi là năm dục bất tịnh, từ định cõi dục cho đến Phi tưởng, tuy có tâm chấp, cũng gọi là tịnh khiết năm dục, nay dùng Bối xả vô lậu đối trị nhàm lìa không chấp, nên gọi là Bối xả tịnh khiết năm dục, nếu phá chấp sau nói đối trị, ngoài y theo chín tưởng, trong y theo Bối xả, tùy người khác nhau nên lập quán đều khác.

1- Trong có bỏ, lược nêu bày hai tên trước sau trong giải thích mỗi nêu tên giải thích nghĩa, nên không phiến dự định nêu bày, chỗ nói ở sau chánh nói; ban đầu trong Bối xả phát, ban đầu lược giải thích; kế hoặc tu ở sau giải thích rộng, ở trước giải thích, so sánh thiền môn nói luận khác; hành giả ở sau chánh nói phát; ban đầu có sắc chặng giữa trước chánh giải thích, nói bỗng thấy tự thân, v.v… vì lúc đầu tu đều từ chân mà khởi, nay phát cũng vậy, lại từ chân mà khởi dễ thành, như phát tám xúc, đủ phát nhiều tấn, v.v… “Hác” cũng làm là hang núi sâu, thây bất tịnh nầy như hang núi trống, nên nói. Tát-đỏa, v.v… là nói pháp quán nầy giúp hạnh Bồ-tát Đại thừa, nên khiến Tát-đỏa tự nhàm chán thân ấy, tức Vương Tử Tát-đỏa trong kinh Kim Quang Minh, đem thân cho cọp đói ăn, đều do được quán Bối xả nầy. Trong Đại kinh ở sau có dẫn chứng. Phẩm Thánh Hạnh chép: Y nhân chỉ xương để chống xương chân, nương xương chân để chống xương mắt cá, nương xương mắt cá để chống xương cánh tay, nương xương cánh tay để chống xương gối, nương xương gối để chống xương đùi, nương xương đùi để chống xương bánh chè, nương xương bánh chè để chống xương lưng, nương xương lưng để chống xương sống, nương xương sống để chống xương cổ, nương xương cổ để chống xương hàm, nương xương hàm để chống xương răng, trên có đầu lâu, lại nhờ xương cổ để chống xương vai nương xương vai để chống xương cánh tay, nương xương cánh tay để chống xương cổ tay, nương xương cổ tay để chống xương bàn tay, nương xương bàn tay để chống xương ngón tay, như vậy ba trăm ba mươi sáu xương lần lượt nương nhau. Trong chấp quán đều biết khắp, nay văn nầy nói ngón tay như bọt bóng, cho đến đảnh, trước tưởng hoại da thịt từ dưới lên trên, một bàn tay hay ngón tay cho đến đảnh đầu, cho đến nghịch duyên, từ trên xuống dưới đến tưởng cốt thành. Kế nói ngoài quán sắc chặng giữa ban đầu dục định; kế chưa đến, pháp nầy tăng đến, v.v… kinh luận khác nhau, hoặc nói xanh vàng đỏ trắng, ánh sáng tùy theo trên, v.v… đây là ánh sáng chưa thành tướng, lần đến thành tựu, thì khắp mười phương, như núi Tu-di, như bốn phía núi Tu-di đất đai hữu tình biển nước, đều tùy theo mắt núi mà làm một sắc, nay bốn sắc nầy cũng giống như vậy, đều khắp mười phương đều đồng sắc ấy, mỗi sắc xứ lại không ngại nhau, như vậy ở sau phát Sơ thiền.

Ban đầu chánh nói tướng định, lâu xa, v.v… là lặp lại ở trước, ánh sáng lúc đầu mới phát nhưng quán lâu ánh sáng vương phải tự phát. Kế một sắc ở sau nói rừng công đức, ban đầu gồm nêu, sắc ở sau giải thích năm chi, nói tám sắc, kiến địa sắc như đất vàng nhạt trong sạch, thấy mầu nước như ở vực sâu nước lắng trong, thấy mầu lửa như lửa không khói trong sạch, thấy sắc gió như gió không có bụi trần trong sạch, thấy mầu xanh như núi tinh vàng, thấy mầu vàng như hoa Chiêm-bặc, thấy mầu đỏ như sương sáng mùa xuân, thấy mầu trắng như ngọc kha bối, thấy mầu rõ ràng mà không có chất ngại, lại luyện xương người từ đầu đến chân, nghịch thuận thường duyên sai khiến mau thành tựu. Huyền văn giải thích trong Bối xả: Nói trong ánh sáng thấy Phật ánh sáng ấy môn Đại thừa Thánh Hạnh, nay lại nói sự nên lược bỏ không nói, bỗng phát túc tập y theo luận nên biết. “Cám cám” là quên, nhưng dưới đây nói khác.

Nói kèm theo da thịt: Là Đặc thắng kia thông minh cũng kèm theo ba mươi súc vật, chín mươi chín thứ, v.v… nếu lở sau nói tướng tà, thầm chứng ở sau nói khác.

Kế nói Đại Tiểu, ban đầu trong Tiểu thừa nói nếu Tam tạng, v.v…là Tam tạng Chân đế. Nếu theo ba tạng giải thích xúc từ ngoài đến, nầy nương ở sau nay luận phán xét ba tạng để giải thích, nhưng ở hý luận, từ Đại thừa bỏ nói Đại thừa, nay văn tham khảo lấy ý môn Đại thừa khai quyền mà nói, nên ở sau kết rằng: Pháp giới ngoại, trong văn trước nêu ba học so sánh giải thích tám sắc, nên biết trong ba học chẳng những tuệ đạo trải qua sinh không mất, giới định cũng vậy, là sao? Giới là sắc pháp hữu vi, định là tâm pháp hữu vi, khi thân mạng mục nát thân hình đều vô tác, hình thể tuy từ tạ vô tác, giới nghiệp được không diệt, do tùy nghiệp đạo đến vị lai, do các sự định năng phục kiết hoặc, như chứa các côn trùng, do phục cho nên dứt, như trùng hại mạng, do tuệ vô lậu được sơ quả rồi, tuệ đạo thế phần đến hay chưa đến, trải qua bảy lần sinh để hết tàn hoặc, cho nên phải biết do giới nêu tuệ, sự pháp Tiểu thừa còn đến vô lậu trải qua sinh không mất, nên biết thật nói tất cả sự pháp đều thuộc ngoại giới, phải biết pháp nầy vốn là pháp không thể nghĩ bàn trong Như lai tàng, ẩn tướng hợp cỏ cho là quyền nóit, Nhị thừa không rõ lấy đó làm chấp gần, nên biết không được chuyên nương hữu lậu, hoặc phát ở sau kết vị như văn.

Kế nói giải khác, trong đây đã dẫn Thành Thật Tỳ-đàm, Thành Thật Luận đồng với Vô Đức, Tỳ-đàm đồng với Tát-bà-đa. Nhưng Tỳđàm nói: Hai quả đầu còn chưa đến trung gian và Nhị thiền, trong đây nói cõi dục và Nhị thiền, y theo Diệu Âm Sư mà nói, lại có người bảo rằng: Lại có một cách giải thích và hai luận ba ý ở trước khác nhau, nay nương ở sau chánh giải thích, nay nương vào Đại luận đều khác với ba cách giải thích, ba cách trước tuy khác mà đều có lý do, Luận Thành Thật y cứ hai pháp bất tịnh trước ở cõi dục thứ ba đã sạch nên thông Tứ thiền hai thuyết trước nói y cứ bên xương người nên ở cõi dục, y cứ bên ánh sáng phải ở cõi sắc về sau sự y cứ thiền thứ tư đã chứng nghĩa xả thọ không nhàm bối xả, tuy đều một đường nhưng chẳng hề phải thông suốt đầy đủ, nên nay các nhà luận giải y văn Đại luận đều phá ba cách giải, một vị nầy đã như vậy, về sau các vị đều y theo Đại luận.

Kế các tướng nội Vô sắc, nói thứ hai Bối xả ở giữa trước nói tướng nội Vô sắc nhưng trước nói phá diệt; kế nói thể diệt, trong thể diệt lại có hai: Trước pháp, kế dụ, dụ như ngựa tốt, v.v…, muốn diệt xương người, xương người liền diệt, gọi là mặc ý người, người tốt cũng vậy, dùng nầy để phân tích thể hai thứ quán, y theo hai môn Tạng Thông, dựa vào văn trước nói là pháp giới ngoại cũng có thể chung đối với pháp Biệt Viên, cũng sợ túc tập từng tu môn nầy. Nếu chỉ dùng tiểu mà không cần môn Đại thừa. Nếu Thông giáo sự thiền cũng có thể dùng môn Đại thừa, có các ý nầy nên dùng hai môn, xương người trở đi là tân pháp chưa phát, vị ở trung gian chưa phát nội tịnh, do bất tịnh ở sau nói ngoại quán sắc, ban đầu phân biệt chỉ bày sắc thể; kế giải thích lý do, nếu tu ở sau nói phát khác nhau, bỗng thấy ở sau chánh giải thích văn trước tướng định trung gian, lại thấy ở sau phát Nhị thiền; kế là nói kết vị năm chi, như ở văn, ba pháp nói về tịnh Bối xả, chặng giữa ban đầu nêu ra giải thích khác. Trong Thành luận, Tứ thiền cộng tịnh Bối xả: Là trước nói Thành Luận phán xét thứ ba, Bối xả ở cõi sắc, nên biết Tứ thiền cộng tịnh Bối xả, nay dùng hai thiền ở sau văn nay chánh phán, dùng một ý nầy phá hết ba pháp trước, vì sao? Do cực tịnh nên ở thiền thứ tư, thắng xứ nhất thiết xứ chẳng phải thứ tư không thành, có thân chứng nên ở thiền thứ ba, nhưng y theo trước sau để phân thứ ba thứ tư, hoặc định kết vị phải quy về thứ ba, nên y theo đây giải thích ba pháp trước đều hoại. Duyên tịnh nên tịnh, đệ tử thiền làm duyên cực tịnh, khi sắc nầy khởi phát sáng tám mầu, khi thứ ba, thứ tư khởi phát sáng luyện hai pháp đầu, nên gọi là ba bốn dùng làm tịnh duyên hai sắc đầu, cho nên ba bốn được gọi là tịnh, cho nên lại khai ra bốn câu để giải thích, ba pháp trước thuộc hai pháp đầu thứ tư thuộc thứ ba.

Câu đầu: Thật là bất tịnh trên lại thân giả tưởng, trong thiền môn nói: Bất tịnh có ba:

  1. Xuất xứ bất tịnh, nghĩa là cốt nhân.
  2. Nơi chiếu bất tịnh, nghĩa là cảnh ngoài bất tịnh.
  3. Thể sáng chưa được tịnh duyên luyện sáng, nên hai thiền đầu tuy có sáng suốt nhưng chưa gọi là tịnh, nay nói tịnh tịnh lìa ba nghĩa bất tịnh tịnh đầy đủ, gọi là tịnh Bối xả. Trong không xứ nói qua tất cả sắc, v.v… đủ như quyển sáu có lược giải thích, nhưng nương căn bổn ấy nay ở tịnh thiền, cho đây là khác. Lại căn bản cũng diệt ba pháp như hữu đối, v.v…, nay Bối xả nầy rất dễ thấy hay không thể thấy hữu đối, hai Bối xả trước đã diệt, thứ ba chỉ có không thể thấy vô đối, nên đến Không định, chỉ diệt vô đối do nầy thành khác, hoặc phàm phu, v.v… phân tích căn bản, bậc Thánh, v.v… là lập Thánh bác bỏ phàm. Nhưng Bối xả là thật chung phàm phu. Lại thức sinh diệt ở sau giải thích vô sở hữu, trước Không Thức xứ có đủ năng sở nay vô sở hữu diệt ở sở duyên, nên nói: Vô sở hữu; kế giải thích Phi tưởng, là năng vọng ba pháp trước nên nói xả thức vô thức, vô thức tức là không dụng xứ nên gọi là Phi tưởng Phi phi tưởng, nói thức xứ như mụt ghẻ, v.v… Tám Thánh chủng quán cũng đủ như quyển sáu có nói; kế nầy không ở sau giải thích diệt thọ tưởng, là nói còn có phiền não nhỏ nhiệm, là tế hoặc có mười, nghĩa là thọ tưởng thành xúc tư dục giải niệm định tuệ, nầy bác bỏ Phi tưởng có hoặc, nay xả thọ tường năng duyên, v.v… là giải thích tên gọi diệt thọ tưởng, y theo tên mà nêu ra thể, trong Phi tưởng địa còn có tâm năng duyên phi tưởng, nay trong diệt thọ tưởng diệt năng duyên kia, lại diệt năng diệt mới được gọi là diệt tự tha địa.

Nói băng cá là lấy mạng căn dụ như con trùng châm đốt, “triết” là tạng. “Dị” là loài trùng rồng rắn để ẩn thân, do đó diệt gọi là bỏ, chánh phá cách giải xưa. Nếu chỉ diệt tha địa vì sao khác căn bản? Từ nay về sau chánh giải thích, trước giải thích ban đầu giải xả năng duyên, v.v… tức diệt tha địa, lại không thể diệt tức diệt tự địa, nên đồng với xưa, riêng từ sở diệt.

Kế nêu hai luận, như văn, bác bỏ Thành Luận sư nói bốn pháp sau, v.v… là duyên Thành Luận nhân chấp không dịch định, nhưng do vô lậu nương vào căn bản cho nên trong văn dùng Bối xả, chặng giữa trba pháp Bối xả để gạn luận nhân, nhưng lời gạn nầy có bung ra, có đoạt lại, trong tám pháp lại trừ một diệt thọ tưởng, trong bảy pháp, trước bốn pháp, sau Không xứ đã diệt cốt nhân, duy duyên không, v.v… đã không có pháp khác, chỉ dùng tâm vô lậu tu bốn không nầy, đây có thể như vậy thì dùng Bốn không Bối xả buông ra. Nếu ba Bối xả trước quán cảnh bất tịnh, tám sắc quang minh khác với căn bản, gọi là Bối xả, nầy thì chánh là chung nghĩa giải thoát, ý nào bỏ ở đây mà không chịu dùng. Nhưng y theo thiền căn bản của ngoại đạo, đây là là đoạt, nên biết Thành Luận chỉ dùng thế thiền thật là trái lý, nếu quá thì ở sau phán xét tập, thuộc về bảy pháp giải thoát ở trước được bát định, nên y theo tám định dùng luận phát tập, định diệt thọ tưởng không nói về phát tập, cho nên văn trước không lấy để gạn. Lại định thứ tám không liên quan đến căn bản, nên không gạn, thứ lớp chín định, v.v… là giải thích chín tưởng, ban đầu đã ví dụ đủ bốn món sự định, chưa rảnh phân biệt, nên nay giải thích lại. Theo Tiểu thừa thì không phát ở nghĩa luyện huân tu, Đại thừa hoặc có, như Đại sư Nam Nhạc thông suốt Bối xả đồng thời đều phát, tức là tướng ấy.

 

PHẦN 3

 

Kế nói đại bất tịnh. Ban đầu nêu tên khác, việc trước ở sau nói khác, nói y theo đây, v.v… là trước tiểu bất tịnh sau nói Bối xả, gồm chung Nhị thừa riêng ở Bồ-tát. Nay đại bất tịnh cũng giống như vậy; kế trong chánh giải thích ban đầu chỉ bày tướng. “Khâu” là tụ, là lăng nhỏ, “mộ” là mả. Trong sách Lễ nói hễ mai táng mà không có “phần” gọi là “mộ”.

Trong Bạch Hổ Nói chung: Phần mộ của Thiên tử cao ba nhẫn, một nhẫn bảy thước, như cây thông, chư hầu làm bằng phân nửa như cây bách. Đại phu tám thước như cây Huyền. Cây Huyền: Trong văn nói giống như cây Lan, quan chức bốn thước như cây Hòe, thứ nhân không có phần mộ như cây Dương liễu, ở đây biết phần mộ đều chung sang hèn, “uông” là nước sâu. Trong Quảng Nhã nói: Là “muôn khoảnh bi”. “Canh” là làm nước dơ, v.v… Trong Đại kinh quyển mười ba, nhân ngài Ca-diếp gạn Đức Phật rằng: Suy nghĩ như vậy không có thật lợi, cũng như lúc Tỳ-kheo quán bất tịnh, thấy đã đắp y đều tưởng như da mà thật chẳng phải da, đã có thể ăn uống đều nghĩ là giòi trùng, quán canh ngon dở nghĩ là nước dơ, quán vật đã ăn cũng như tủy não quán xương nát vụn cũng như cốm rang. Nói về nguồn là ở sau chánh nói phát tướng.

Kế là dụ cho, như văn, ban đầu quán ở sau so sánh tu nói luận phát, như văn. Lại nữa, ở sau nói lý chuyển cảnh, vì tâm chuyển, nên dẫn hai duyên để nêu bày cảnh tưởng quả cảm khác nhau, như quán bất tịnh, v.v… quả cảm là tâm lực quá khứ, bất tịnh là tâm lực hiện tại, nay nói phát tướng cũng DO đời trước, quá khứ hiện tại tuy khác nhưng đều là tâm tạo, cho nên được dùng hai thứ làm ví dụ cầm đá, v.v… như trong Đại kinh chép: Thích-na-nam cầm các ngói gạch đều thành của báu, cũng lại do tâm lực quá khứ gây nên, Tăng Hộ biết ý cũng giống như vậy. Trong kinh ấy chép: Ở nước Xá-vệ có năm trăm người đi buôn, muốn vào ra tìm của báu, có một Trưởng giả bảo mọi người rằng: Ta có môn sư tên là Tăng Hộ, nên thỉnh làm thầy, đều đến thỉnh.

Tăng Hộ nói: Nên bạch Hòa-thượng Xá-lợi-phất, lại đến chỗ Xálợi-phất. Xá-lợi-phất lại đến chỗ Phật, bạch việc ấy lên Đức Phật, Đức Phật cho đi biển, liền cùng nhau ra biển chưa đến chỗ báu, có một vị Long vương từ biển mà ra, mọi người nói: Ông là thần gì?

Long vương hiện thân nói: cho ta Tăng Hộ, các người đi buôn liền cho Tăng Hộ đến chỗ tìm của báu, lại đến chỗ mất Sư nói rằng: Đến chỗ Thế tôn phải nói thế nào?

Long vương biết các người đi buôn trở về, liền trả Tăng Hộ lại cho các người đi buôn, thế là mọi người đi buôn cùng Tăng Hộ đi về, người thương buôn tham gần đường bằng trở lại, mọi người ban đêm lầm bỏ Tăng Hộ, mất bạn đi một mình, đến một nhà địa ngục Tăng Lam liền thấy Tăng Ôn, Tăng Ôn vào lửa cháy.

Hỏi: Đây là ai?

Đáp: Người cõi Diêm-phù-đề khó tin, ông nên hỏi Phật như vậy thứ lớp thấy năm trăm mười ba ngục, đến hỏi Đức Phật, Phật giải thích cho nghe.

Ôn Thất ngục: Thời Phật Ca-diếp buông lung dùng đồ của tăng.

Kiền-chùy ngục: Là không đánh kiền chùy, vì dùng vật của tăng.

Nhục địa bị thiêu ngục: Là lén cày đất của tăng.

Nhục ngõa địa ngục: Làm tăng là bậc Trung, Thượng tọa mà không có thiền luật, ăn no ngủ rồi nói chuyện thế gian, ăn ngon tự ghét tu hành ở trong tăng, tịnh nhân trước tự ăn đồ thô tu hành ở trong tăng, chịu các tướng khổ cũng giống như vậy, bình thịt lửa ngục thiêu đốt, làm việc nhà bếp trong tăng thức ăn buổi sáng để lại buổi chiều. “Vãng”: Là để lại đến ngày sau, đàn việt giấu thức ăn cất đợi dịch đi cũng giống như vậy, hạnh không bình đẳng, quả của tăng cũng giống như vậy. Dao lửa cắt mũi ngục đốt, vì khạc nhổ trong đất sạch của tăng. Ngục đánh đập xác thịt tăng, đóng đinh trên vách treo y bát của mình, đài ngục lửa đốt thịt, tăng nằm đủ trên các móc câu mà đi vì ngăn Tăng thọ dụng, tự mình ở phòng tốt, cho người khác ở phòng xấu, khổ cũng như.

Ngục đốt phòng: Ở phòng tăng như mình có vì không đổi, không

y theo thứ lớp phân chia.

Ngục thiêu đốt giường, vì dùng giường của tăng, không theo lớp phân chia, phá đốt cháy cây của tăng, khổ cũng giống như vậy.

Ngục lửa thiêu đốt ngọa cụ, vì chân đạp ngọa cụ của tăng.

Ngục thiêu đốt thịt nhà xí: vì đại tiểu tiện trên đất sạch.

Ngục thiêu đốt ngồi tòa cao, vì nói luật đảo ngược vì lợi mà nói pháp, khổ cũng như.

Ngục thiêu đốt trái cây, vì lén ăn trái cây của tăng và cho người tại gia.

Ngục thiêu đốt bốn thứ rừng thịt, không có đức xử đoán việc nên không bình đẳng, nằm ngủ với Tăng khổ cũng như.

Ngục thiêu đốt hai vị Sa-di trong mền, vì hai Sa-di ôm nhau mà ngủ, hai vị ấy vẫn vì lợi ích cho đàn việt và Tỳ-kheo.

Bèn nói Tỳ-kheo như vậy, tuy không trì giới, tứ sự cúng dường cũng được đại quả, huống chi lại cúng dường tăng chúng bốn phương. Các ngục như vậy ở bờ Hải Châu tùy chỗ mà có, hoặc thân làm giường dây, bình, v.v… phải biết sắc pháp tùy người cảm, sắc không có tự thể nhất định tùy tâm biến hiện, nếu quán pháp thành đều chuyển được sắc. Nếu chấp ở sau nói do cảnh chuyển, có công phá kiết. Nói quán nầy khế hợp với đạo chuyển biến: Là nếu giả tưởng thành, thật thấy các cảnh chuyển thành bất tịnh, như người có thần thông khiến vật thật thay đổi, giả tưởng biến cảnh như người được thần thông, nên nói khế hợp với đạo chuyển biến, lại trong tất cả vật đều có lý để chuyển, nên người có thần thông và người tu quán có thể chuyển, lý nầy vốn là pháp không thể nghĩ bàn trong Như lai Tạng, tùy tâm thủ chấp thành ngoài thành tiểu, sở hành của các ông là đạo Bồ-tát, bình đẳng pháp giới gang tấc không thiếu, hoặc căn bổn ở sau nói lậu vô lậu, hoặc căn bản một bề hữu lậu đã nói như trước, tiểu đại bất tịnh và Bối xả, v.v… và duyên vô lậu chưa tức vô lậu, hoặc dùng trí để dứt hoặc, nương bất cứ một địa nào nên nói từ trên đều bỏ. Trong Câu-xá nói: Đạo xoay vần Cửu địa, hoặc người ở sau y theo đại bất tịnh, để rõ Bối xả, hoặc người, v.v… trước sau đều phá hai báo y chánh, hoặc luận ở sau y theo Bối xả để nói Thắng xứ và Nhất thiết xứ, trước nêu. Trong luận Bà-sa nói: Thắng ở phiền não, gọi là Thắng xứ, do y chánh đều không chấp, nên đối với y chánh chuyển biến tự tại. Trong Đại luận nói: Ở sau dẫn luận nói căn. Trong Thiền Môn nói: Tu Bối xả xong thì tu riêng Thắng xứ là hạ căn, hoặc ở trong đó nói đủ như văn nay lại không nói riêng ban đầu tu Thắng xứ, nhưng ở trong Bối xả thứ ba lại quán hai Bối xả ở trước

thành bốn Thắng xứ, kế thứ ba ở sau thành Thắng xứ. Cho nên không cần lại tu riêng. Hoặc là thượng căn: Cũng không cần đợi đến lúc thứ ba xong, mới trọng tu hai Bối xả ở trước thực hành bốn pháp trước. Đối với bốn Bối xả liền có thể phân biệt, hoặc nhiều hoặc ít tốt xấu thấy biết, thành hai Thắng xứ; kế ở đây sau thành các Thắng xứ, nầy vẫn y theo giáo nói về thượng, trung, hạ, cũng y cứ Bối xả để nói pháp quán, hoặc thượng thượng lợi căn, lại cần nương pháp hướng về ba căn. Như kinh Dục Vương quyển mười tám nói nước Ma-thâu-la có một người nam theo xuất gia với Cúc-đa, nghe nói pháp quán bất tịnh tự cho mình làm việc mình đã làm. Sau đến nước Kiến-phục-la thấy người nữ mà sinh dục tưởng, liền lấy cốm khô trong bát đem cho người nữ, người nữ thấy nhe răng cười, cũng sinh dục tưởng với Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thấy rồi cho đến quán thân như thấy răng xương, tưởng xương thành rồi, chứng A-la-hán, hoặc nhiều hoặc ít cho đến tốt xấu đều là bất tịnh, chánh nói tướng phát. Ban đầu là nói tướng phát; kế phán xét vị; văn đầu: Là y cứ ban đầu Bối xả lập hai thắng xứ, đại thiên là nhiều, giảm là ít, nhiều ít như thế đều có tốt xấu, cho đến rốt sau tốt xấu đều bất tịnh. Trong Bối xả trước tuy quán sắc bất tịnh đều là bất tịnh, chưa thể lần lượt so sánh quyết định tốt xấu, nay khéo quán biết nên nói là thắng tri. Lại thắng y theo lược tiểu bất tịnh, nhưng y chánh báo để rõ tốt xấu, hoặc y đại bất tịnh khởi Thắng xứ: Cũng so sánh hai báo y chánh được thắng tri kiến, đủ như Bốn niệm xứ Biệt giáo ở trong đó có nói, hoặc ở trong đó y cứ Bối xả thứ hai lập hai Thắng xứ, đầu tiên nói phát tướng.

Kế giải thích tri kiến; kế phán vị, hoặc Thắng xứ ở sau nói công năng, từ thượng cổ trở xuống dẫn sự việc, thôi vị nhường nước: Như Ngô Thái Bá làm trưởng tử Thái Vương, thứ lớp Trọng Ưng, ấu đệ Lý Lịnh, Thái Vương bị bệnh nhường cho em là Thừa Đích, nên mượn hái thuốc vào Đông Ngô, còn trong trợ đạo có nói, trả lại trâu, v.v… vua Nghiêu mời Hứa Do làm trưởng chín châu, Hứa Do nghe việc ấy xuống sông

rửa tai. Sào Phủ nhân dẫn trâu đi uống nước thấy việc ấy bèn

Hỏi: Nói về người rửa thì trước phải rửa mặt, sao ông rửa tai.

Hứa Do đáp: Vua Nghiêu mời tôi làm trưởng chín châu, tôi ghét nghe tiếng ấy nên rửa tai.

Sào Phủ đáp: Tôi nghe cây của Dự Chương mọc trên núi sâu, trên đó không có đường xe qua ở dưới không đi qua hiểm trở, công thợ tuy khéo mà không thật có, ông muốn lánh đời sao không ẩn sâu, mà đi trong nhân gian mong cầu danh lợi, ta cho trâu uống nước thì dơ miệng trâu, ông bèn dẫn trâu lên dòng trên mà cho trâu uống nước. Lại trong 8 luận Bà-sa hỏi: Thắng xứ nương thân nào mà được?

Đáp: Nương thân dục mà được.

Hỏi: Có thể đối với thân Phật cho là bất tịnh chăng?

Đáp: Có thể, nhưng chỉ có Phật mới có thể, Thinh văn chẳng thể cho, thân Phật là vô cấu.

Tất cả quán bất tịnh: Là không thể đối với thân Phật nghĩ là bất tịnh. Ba minh ở sau bốn Thắng xứ.

Ban đầu so sánh vị, kế nói đại tiểu; kế nữa nói giả thật.

Trong Đại luận nói xanh vàng, v.v… là sau bốn Thắng xứ chỉ có bốn sắc, nay nêu bày tám sắc, ý ấy thế nào?

Đáp: Trong kinh luận khác nhau nay văn đều nêu bày, cho nên phán xét, xanh, v.v… từ nơi thật địa, v.v… Từ nơi giả: đây là y cứ theo Tam-muội ý duyên sắc phán xét, chẳng phải sắc của năm căn sở đắc, nên Tam-muội thấy mười phương khắp đều bốn sắc, nên bốn sắc là thật, nếu thấy địa, v.v… cũng là bốn sắc, mà lại đặt các địa có bốn tên, cho nên là giả. Do mười nhất thiết xứ thấy tám sắc, nếu chỉ nói tám sắc thì đều từ thật mà nói. Nếu phán xét sắc năm căn sở đắc, nên nói xanh, v.v… từ các giả địa theo thật, như trong Câu-xá nói: Đại chủng nghĩa là bốn cõi tức đất, nước, lửa, gió có thể giữ gìn các nghiệp tánh cứng ướt ấm động, đây nói thật bốn đại chủng có thể giữ gìn bốn đại dụng, nghĩa là địa năng thành trí, “đẳng” là đẳng thủ còn các thủy đẳng có ba, tức thủy năng thành thuộc, lửa năng thành nhiệt, năng phong thành trưởng.

Kế nói địa: Nghĩa là hiển bày hình sắc tùy thế tưởng đặt tên, nước lửa cũng giống như vậy, phong tức là cõi cũng giống như vậy, đã nói thế tưởng nên hình dáng hiển bày sắc đều là giả.

Hiển sắc: Nghĩa là sắc, v.v…

Hình sắc: Nghĩa là phương, v.v… nước lửa cũng bày hai sắc, nên nói cũng.

Phong: Trong luận nói: Phong cõi là Vô sắc rất dễ thấy. Có thuyết nói: Cũng vậy là cũng như nước lửa, nghĩa là gió đen, v.v… và toàn phong (gió lối), v.v… giả thật sắc nầy, trong năm căn, nhãn sắc thì làm nhãn thức sở đắc, thật sắc thì làm thân thức sở đắc, hoặc Tam-muội sở kiến đều chẳng phải thân nhãn hai thức sở đắc nên phán xét giả thật có đây khác nhau, huống chi Tam-muội sở kiến xanh, v.v… địa, v.v… đều thấy không lẫn lộn, hoặc như Câu-xá chỉ ở trên thật pháp như địa, v.v…, có hiển bày hình sắc không có địa khác, cho nên khác nhau, nên trong Bốn niệm xứ nói: Trong Đại luận chỉ chép: Xanh, v.v… trong Anh Lạc nói địa, v.v… nầy cũng không tồn tại, bốn sắc nầy gọi là địa, v.v… là thể, danh tức giả danh thể tức thật thể, văn ấy vẫn nói có sắc so sánh thành thuyết như vậy, mà không nói Tam-muội sở kiến, nên biết Chỉ quán từ bên Tam-muội sở kiến mà nói, nếu Tam-muội thành thì khắp mười phương không có hình sắc. Hoặc thế ánh sáng chưa thành thì có hiển có hình, hoặc từ thành phán xét nên chỉ có hiển, nay văn tuy tức giả thật đều nêu, phải còn bốn do không có bốn, bốn bao gồm bốn pháp ở trước gọi là Tám Thắng xứ, bốn pháp nầy ở sau nói pháp hữu vô. Trong ngoài sắc tận: Là tự cốt nhân làm trong, tha cốt nhân làm ngoài, đã không có trong ngoài chỉ có tám sắc nên không có tốt xấu, nhưng có nhiều ít, cốt nhân tuy hết chẳng phải tám sắc hết, nói nhiều ít là tám sắc rộng hẹp.

Kế nói mười nhất xứ, ban đầu lược phán vị trong tám Thắng xứ trừ bốn pháp trước rồi, đối với bốn pháp sau giả thật đều quán, nên được nói là tám, lại thêm không thức nên được thành mười, đều khắp mười phương nên gọi là biến xứ. Chỉ có bất động niệm tuệ đến thiền thứ tư không bị các tai trong ngoài làm lay động, tức là chi đầu vậy, và niệm tuệ tức ba chi.

Lại y theo Tiểu thừa như đây phân biệt, kế dùng xanh ở sau chánh nói phát ở trong, trước nói mười nhất thiết xứ; kế nói mười nhất thiết nhập. Giáo có hai văn e người không rõ, nên bao gồm giải thích. Biến nhất thiết xứ ở mười phương cõi, khắp nơi đều biến, nên gọi là biến xứ, mười pháp tướng nhập lại được nhập danh, từ đây trở xuống phà giải người khác.

Nói tám Thắng xứ, là duyên tám sắc bên ngoài, nay ý không phải như vậy, đây là cốt nhân tự buông, vì pháp nội tâm có sắc, hoặc nội Vô sắc, sao có thể biến ngoại khiến trùm khắp mười phương, nên văn trước phán xét làm giới ngoại sắc, ý cũng như vậy, nên biết không cần duyên theo dục trần.

Kế dẫn trong Đại luận nói lấy Ưu-bát-la, v.v… là mầu hoa sen xanh, e người không hiểu nội tâm buông sắc nên mượn bên ngoài để dụ nội tâm, văn nầy lại gồm chung nêu bày phục nạn, e người dẫn luận mà nạn rằng: Nếu không duyên: Nếu không duyên là vì sao luận văn duyên Ưu-bát-la, nên dẫn văn luận tiêu phục nạn ấy, nếu thông minh quán sát ở sau, vì nói cái khác ấy lại buông ra, hoặc thông minh quán sau là tu Thắng xứ, nói chung Vô sắc dễ mượn ngoại sắc, nay sau Bối xả mới tu Thắng xứ, trong tịnh Bối xả tự có tám sắc, nên nói pháp nhân bất hoại trong tự buông.

Lại nữa, Bồ-tát ở sau lại nói Bồ-tát tu phát. Thắng xứ chuộng đủ các độ, huống chi là tám sắc, nên sau kết rằng: Tỳ tâm tức thành, nầy do thông biệt Bồ-tát sơ tâm làm so sánh. Trong văn đàn đầu Sáu độ rất dễ thấy. Kế trong hộ nói lược ba giới. Hại người ở sau là sát; dẫn vật ở sau là trộm; luống dối ở sau là vọng, cho đến trong tuệ nói không sinh không diệt, nên biết không phải Bồ-tát ba tạng, tất cả ở sau đâu chỉ đầy đủ sáu độ mà thôi, tất cả pháp môn đều đầy đủ, đạo chỉ là tuệ, thuộc về định tuệ, trong tất cả các hạnh Thắng xứ. Như ngựa đi nhanh, v.v… là dụ cho ở Thắng xứ, tâm đối với các pháp đi ở tự tại, lúc nầy ở sau nói công năng của Thắng xứ.

Ban đầu nói công năng điều ma, thực hành bốn pháp Tam-muội của hành nhân, có công năng nhập vị, viên nhân phát rồi chuyển thành cảnh nầy, phần nhiều nhập năm phẩm, do năm phẩm cho đến sáu căn, cận ở Sơ trụ nên nói Cận trí.

Đồng với nầy, v.v… Là nói đồng với nầy, hơn nữa nói phần chứng sở phát, cũng được Đại thừa đầy đủ như văn trước phá các sư không đạt ý các luận, tức là ý nầy. Còn được nhập phẩm cho đến sáu căn, huống chi là nói chung Đại thừa ư?

Kế nói định từ tâm, ban đầu nói lược trước sau, kế là nói sở phát. Nói khéo tu đắc giải, nương tu nói phát, y cứ theo giáo tu tập nên gọi là Thiện, tu thành tựu rồi gọi là Đắc giải. Sở duyên có ba, đó là người trong oán thân y cứ về xứ tức là rộng lớn vô lượng, duyên ba người nầy, cho đến mười phương, khiến được thượng lạc, tức là tướng từ tâm thành tựu. Luận Bà-sa chép: Oán thân đều có ba. Một phẩm trung nhân, Đại kinh phạm hạnh ý văn rất đồng, hai văn kinh luận đều có tướng tu. Trong thiền môn cũng nói pháp tu, nghĩa là khi mới tu khiến bậc thượng nhân được hạ lạc; kế tu khiến thượng thân được trung lạc, trung thân được hạ lạc; kế tu được thượng lạc, trung thân được trung lạc, hạ thân được hạ lạc; kế tu khiến trung thân được thượng lạc, hạ thân được trung lạc, trung nhân được hạ lạc; kế tu khiến hạ thân được thượng lạc, trung nhân được trung lạc, hạ oán được hạ lạc; kế tu khiến trung nhân đắc thượng lạc, hạ oán được trung lạc trung oán được hạ lạc; kế tu khiến hạ oán đắc thượng lạc, trung oán đắc trung lạc thượng oán đắc hạ lạc; kế tu khiến trong oán đắc thượng lạc, thượng oán đắc trung lạc; kế tu khiến thượng oán đắc thượng lạc, nầy gọi là tướng tu Từ thành tựu, hai tâm bi hỷ cũng giống như vậy, nếu tu xả tâm thì từ trung nhân mà khởi, hoặc trước xả thân e sinh ái chấp, hoặc trước xả oán e sinh tức giận, cho nên cần phải trước xả trung nhân, ở trong oán thân vì oán dễ xả; kế xả oán nhân, ở trong oán nhân, trước thượng kế trung kế đó hạ; kế xả thân nhân trước hạ kế trung, kế nữa là thượng, nếu tâm xả thành tựu, đồng không khác nhau tu đã khác nhau, lúc phát thì y cứ mà biết.

Hỏi: Người nào không thể tu Bốn tâm vô lượng?

Đáp: Có hai hạng người?

  1. Người muốn cầu hơn người thì không thể tu.
  2. Người không muốn cầu hơn người thì có thể tu.

Người cầu hơn người cho đến La-hán cũng cầu hơn người, người cầu thiện mà có thể tu, người cầu thiện cho đến xiển-đề cùng cầu thiện, hiện tại tuy không, lỗi chưa hoặc có, trong luận Bà-sa có nói tướng ấy. Nói rộng lớn vô lượng, v.v… đã y cứ theo ba hạng người như trong văn, ba hạng người tuy khắp nơi, nếu chưa khắp thì không gọi là thành tựu, nên lại y theo phương hướng, nên trong luận Bà-sa nói: Vì duyên một chúng sinh hay vì duyên nhiều chúng sinh?

Đáp: Lúc mới tu duyên nhiều chúng sinh, khi thành tựu hoặc một hoặc nhiều, nơi chốn cũng vậy. Trong Đại luận hai mươi mốt nói rộng về tu tướng.

Nói ẩn một, v.v… Là hoặc nương căn bản, trong ngoài đều chìm ẩn, và ngoài chìm ẩn trong không chìm ẩn, còn bao nhiêu trong ngoài đều không chìm ẩn, nhân duyên về sau nêu đồng với nầy phán xét. Hoặc trước trở xuống nói cùng các thiền, phán xét xen nhau. Ban đầu nói phát Sơ thiền, ban đầu nêu trước sau; kế nói phát năm chi, giải thích ở cõi quán chi, hoặc nói trong người được các điều vui trên cõi trời, v.v…

Trong luận Bà-sa có hỏi: Thế nào là chỗ vui của chúng sinh?

Đáp: Có thuyết nói: Cùng vui Ba thừa trong cái vui cao siêu. Có thuyết nói: Cho bốn việc vui đã từng được. Có thuyết nói: Từng cho điều vui kinh hành xứ sở hữu, đến chỗ sở trụ suy nghĩ khiến cho được. Thâu: Cũng là vui, trong Luận Ngữ chép: Thâu châu như vậy nầy danh đồng với căn bản, v.v… là nói đồng khác, tên chi tên xúc đều đồng căn bản, căn bản như nước từ như mật hòa vào nước. Hoặc phát, v.v… cũng là nương theo tu để nói công năng.

Phạm dân là Phạm chúng, Phạm thần là Phạm phụ.

Trong luận Bà-sa có hỏi: Phạm phước là thế nào?

Đáp: Có thuyết cho là: Phước của tất cả chúng sinh; có thuyết nói: Phước của Luân vương; có thuyết nói: Phước của Đế-thích; có thuyết nói: Phước của Tự Tại; có thuyết nói: Phước của Phạm thiên; có thuyết nói: Ngoài phước gần của Phật, Bồ-tát còn của tất cả người; có thuyết 2 nói: Phước của Phạm vương thỉnh Phật xoay bánh xe pháp.

Bình Gia nói: Phạm phước vô lượng như trên đã nói đều gọi là Mỹ; có thuyết nói có bốn việc được Phạm phước.

  1. Tìm nơi xây tháp để xá-lợi.
  2. Chỗ chưa có tăng phường xây dựng tăng phường.
  3. Phá tăng hòa hợp.
  4. Tu bốn tâm vô lượng.

Trong kinh Tịnh Danh chép: Tu bốn vô lượng khai đạo Phạm thiên.

Kế nói Sơ thiền phát định từ; kế nói định từ phát ra nhị ba tứ thiền, như trong văn; kế chỉ từ tâm ở sau phán xét Đại Tiểu thừa, Phật hoặc khi, v.v… Trong luận Bà-sa chép: Đức Phật nói định từ không qua Biến tịnh, cho đến xả tâm không qua Vô sở hữu xứ, đủ như văn nầy, trong luận Bà-sa nói Tiểu thừa cho đến bất dụng xứ, huống chi là pháp của Bồ-tát ư? Phải biết Tiểu thừa có đủ hai thuyết, theo Bồ-tát thường cùng từ bi ở sau mới thuộc Đại thừa, mỗi địa đều có bốn tâm vô lượng. Trong luận Bà-sa lại hỏi: Còn ba tâm vô lượng, vì sao ở Vô sắc.

Đáp: Việc nầy ngài Di-lặc nói biết, phải biết giáo quyền hợp cơ mà nói, chưa cùng tột thật lý nên nói nhất vãng, hoặc trước phát căn bản ở sau nói Nhị Tam Tứ thiền phát định từ, nhưng nói căn bản là từ lược đầy đủ phải nên nói vì và phán xét Đại thừa, Tiểu thừa, v.v… Nếu y Đắc thắng ở sau; kế y cứ theo căn bản tinh thiền phát định từ, nói định sở y tự là nhất biên, v.v… Đặc thắng trở đi đã có quán tuệ khác với bốn tướng, lại cùng từ tâm khởi chung và trước sau, v.v… nên được gọi là “Tự tại nhất biên”.

Bất tịnh thủ chúng sinh phá hoại tướng, v.v… là câu hỏi, quán phá hoại ấy cùng đắc lạc, lại từ định không thành, tuy không mà ở sau có đáp. Tướng phá hoại, thuận với vui Niết-bàn, tức nghĩa tương ưng với pháp duyên từ, huống chi cùng tột trong cái vui Niết-bàn, nên biết lại dùng pháp duyên từ đáp: Đây gạn chung về định vô lậu, tợ như Niếtbàn, nên quyền lập pháp duyên, pháp duyên ở trong cảnh thừa.

Hỏi: Từ duyên chúng sinh, v.v… là lặp lại ý hỏi, hai nghĩa trái nhau làm sao tướng phát. Ý đáp: Định pháp khó suy nghĩ nhưng phải tin sâu. Đại thừa cũng được các thiền đều phát, nhưng nay từ tâm và thiền bất tịnh lại xen nhau phát chưa đủ làm ngăn ngại, từ định cũng có thể trở xuống, lặp lại làm nghĩa trang nghiêm để giải thích, nhưng sao thẳng phát mà thôi, hai thứ lại xen nhau từ định càng tốt đẹp, từ tâm đã vậy, bi hỷ cũng vậy, hoặc xen nhau phát bốn chữ nầy, nói Đại Tiểu thừa bất tịnh phát ở từ tâm, nay văn còn lược. Nói tướng phát: Là lời tuy bao gồm, mà văn trước đây là nói rõ bất tịnh phát từ. Còn ba tâm Vô lượng để nói theo từ nên biết, nêu ba tâm để nói theo từ tâm. Lại trong luận Bà-sa hỏi: Trong bốn vô lượng tâm nào cao siêu?

Đáp: Tâm là xả tối thắng, trong Đại kinh quyển mười bốn cũng gọi là tứ đẳng, tứ đẳng từ tâm, vô lượng từ cảnh, cảnh đã vô lượng từ cũng không khác nhau, đẳng tâm so sánh bốn, nên nói Tứ đẳng, nếu bốn vô lượng ở sau phán xét lậu vô lậu, tức từ sở phụ để phán xét lậu, v.v… nhân duyên khác nhau, v.v… nói từ định sở y, nương người thần nào mà phát từ định, sở nhân đã nhiều từ cũng vô lượng, nên nói trăm ngàn không thể xưng nói. Kế là dụ cho chẳng những nói thẳng hữu lậu, v.v… khác, trong mỗi thiền mỗi địa, mỗi phẩm mỗi công đức, vị chi tướng khác không thể nói đủ, nên dùng y chánh cõi dục làm ví dụ, trong dụ cho lại thành hai lần khác nhau.

Ban đầu dụ cho pháp dụ cho pháp thể sâu rộng; kế dụ cho pháp nhiệm mầu khó tin. ban đầu dụ cho như văn; kế hợp giữa ban đầu chánh hợp từ kế bao gồm hợp bốn; kế giải thích hợp như vậy; kế dụ cho có pháp có dụ có hợp, dụ cho nói sơn tả, v.v…, như thái hoa dĩ đông gọi là tả nhị, không biết bao nhiêu vị ngon quý, có làm chữ tu là sai, tu trong sách Chu Lễ chú giải rằng: Đủ trăm vật gọi là Tiến, để vị bổ ích gọi là Tu. Trân: là nói sự quý trọng vị bổ ích.

Tỉnh oa, v.v… là chữ (tỉnh) lẽ ra trung tâm viết điểm, bốn bên trụ tượng điểm tượng bình, do Nghiêu Thần Bá Ích tạo, thế tục nói thị tĩnh là nhân giếng tạo chợ nên thị tĩnh, mà nay chỉ nói tĩnh, chỗ ở trong giếng chẳng phải hải tộc. Oa: làcon ểnh ương nhỏ, nói biển hoặc là tên của thần biển, phi là bác bỏ. Vì muốn bác bỏ biển hẹp mà giới thiệu giếng rộng.

Kế nói nhân duyên thiền: Là môn nhân duyên, đây là hành giả lập yếu cảnh quán, bỏ tà hương về hạnh, đầu tiên của chánh, huống chi thành tựu thừa Đại thừa. Thể tức hạt giống chánh của ba nhân Phật tánh, nên ở trong môn nầy nói rộng tướng thừa, trong đây đã nói nhân duyên ba đời, nói mười hai thời, v.v…, rộng như trong huyền văn dẫn trong luận Bà-sa đã giải thích. Hiện tại là khổ, thức danh sắc sáu nhập ở trong thai, xúc thọ ở ngoài thai, ái thủ có ba cũng thuộc về hiện tại, hai pháp đầu là hoặc, một pháp kế là nghiệp, sinh già chết thuộc vị lai, cũng là khổ, ở giữa và ban đầu nói trong ngoài. Nói có đại công huân trong mười lực. Chư Phật ban là thêm năng lực bên ngoài. Kế chánh nói phát chặng giữa ban đầu suy ra ba chi hiện tại. Nói năng duyên, sở duyên, v.v… là quán mười hai duyên, gồm có hai thứ.

  1. Suy quả biết nhân, như trước sau thọ cho đến vô minh, đã biết vô minh sinh ở thọ, v.v…, thì không khởi ái, v.v… khởi ở đương quả, có đủ như trong huyền văn đã giải thích nhân duyên.
  2. Suy nhân biết quả tức như văn nầy, văn nói phát đắc trở lại nương tu để nói.

Ở trong định tâm sở duyên thiện ác năng sở hòa hợp, được gọi là nghiệp, nghiệp chiêu vời quả nên gọi là hàm, nghiệp tức có nhân nên có quả năng hàm. Kế suy nghiệp nầy lại do ở thủ, thủ ở thiện ác, cho đến vô minh, nên dứt hiện nhân khiến diệt đương quả, nhân ái ở sau suy hiện năm quả.

Mụt nhọt: Đầu thân hai tay hai chân. Lại nói: mắt, tai, mũi, miệng và hai mươi lóng đốt thành hai mươi bốn pháo.

Thức do ở sau suy hai nhân quá khứ; kế suy quá khứ vị lai; kế kết; kế như thị trở xuống là nói xen phát.

Ban đầu là nói phát căn bản, nhân duyên nầy nói ly do phát, hoặc là căn bản trở xuống nói đồng khác; kế phán xét ẩn một; kế nói mười công đức; kế kết, cho đến trở xuống phát các thiền, hoặc nhân trở xuống căn bản phát nhân duyên, thì căn bản các thiền đều thuộc nhân duyên. Ban đầu nói chung chín địa hữu chi là thế nào, bắt đầu từ thô trụ cuối cùng đến phi tưởng, đều là nhân duyên, nhân duyên hòa hợp gọi là sở thành, tức do kính mến định tâm làm nhân, bẩm thọ giáo pháp duyên, định thể thành tựu làm pháp sở thành, tức gọi là nhân duyên dùng làm năng thành, suy định thể nầy từ nhân duyên sinh, sinh là hữu chi, tùy theo địa định nào thành hữu chi nào.

Nói các định: Đã lại y theo căn bổn, luận khắp các định, thô tế nầy trở xuống là nói riêng chín địa hữu chi, như vậy, v.v… đến chấp tướng Sơ thiền, nói chấp địa phát mười một chi, nên nói cho đến chấp tướng phi tưởng. Sơ thiền ở đầu là nói theo ban đầu, trong văn tuy có các trụ thô tế, chẳng phải tâm trông mong, nhân, nhưng nhân hy vọng tâm mong cầu ở Sơ thiền mà phát đồng với nầy, cho nên không luận các trụ thô tế, như hai mươi lăm phương tiện trước, người tu Sơ thiền vốn vì Sơ thiền lập hai mươi lăm pháp, cho đến Phi tưởng cũng giống như vậy, nên dùng hai mươi lăm pháp trước mà làm hành pháp, đủ như trong quyển bốn giải thích năm pháp.

Y cứ Sơ thiền giải thích năm pháp, tức là tướng ấy.

Nói các thứ hy vọng tức trong năm pháp muốn làm hy vọng, hoặc nói chung: Ban đầu tu tịnh giới, cho đến nhất tâm, đều là hy vọng Sơ

thiền. Lại biết thọ nầy do nhập xúc, v.v… nầy y theo cảnh quán đặt các tên gọi xúc nhập, khác nhau với các luận, mười hai thời, v.v… trên đến phi tưởng, đã y theo cảnh quán để nói mười hai, nhưng thuộc về giới ràng buộc đều có nhân duyên, khác nhau với luận Bà-sa phân biệt theo giới, nói vô cõi sắc Vô sắc có các tên, đây là căn bổn phát nhân duyên xong, như hướng đến nhân duyên, nghĩa là suy ra ba đời thêm bớt bốn đời khác nhau, đủ như trong cảnh nhân duyên của huyền văn, và các văn Câu-xá, luận Bà-sa, hơn nữa cũng có trong thai sinh, không do tinh huyết mà sinh, nghĩa đồng chỗ thấp hóa nhiễm hương, nghĩa chi cũng đủ, như kinh Công Đức Phân Biệt quyển năm có nói: xưa, ông Trưởng giả có cô con gái tên là Thiện Thí, chưa gã chồng, do hơi lửa ấm vào thân rồi mang thai, cha mẹ trách mắng cho đến Đạt Vương.

Cô gái nói: Không còn đổi khác, vua bằng lòng giết, cô gái nói: Nay có vị vua vô đạo nầy, luống giết người vô tội, nếu ta không tốt có thể đem giết, vua liền giết thử quả như lời nói ấy. Vua bảo với cha mẹ nàng muốn cưới cô gái này.

Cha mẹ bảo rằng: Đem con gái chết đây làm vợ liền đưa vào trong cung, sau sinh con trai, khôi ngô đi xuất gia, chứng quả La-hán, lại có nhiều duyên có thai khác nhau, mỗi đều khéo thông suốt đều ở trong định sở kiến phân biệt, cho đến tưởng ba đời lập khác mười hai tên, suy căn bản, v.v… là để thành mười hai, lại từ mười hai phát căn bổn, v.v… cho đến Đặc thắng nói chung các vị dụ: Nói các thiền phát nhân duyên, nên nói các nhân Đắc thắng nhân duyên phát, do các nhân duyên phần nhiều nương theo căn bản, nay theo sở y nên nói nhân căn bản phát.

Lại các nhân: Cũng đồng với ở đây nương tâm y căn bổn phát, phán xét thuộc hữu lậu, Đặc thắng nói chung cũng đồng với từ tâm, nên nói ví dụ nầy nên biết. Kế nầy quán xét ở sau nói tên thọ khác nhau, thiền kinh và năm dừng đặt tên khác nhau. Năm dừng gọi là Tuệ Thiền kinh, tức là đặt tên Tam-muội, nên nói Tam-muội nhân duyên, ba đời, v.v… Kế là phán xét sự lý, nhân duyên nầy quán tuy tuệ tánh mà không thể phá hoặc, như mật thất ở sau nêu dụ cho. Năm dừng như ngôi thất kín, niệm xứ như đèn sáng, do năm dừng nên có thể làm lý tuệ, phải biết năm pháp quán dừng tâm tuy gọi là Tuệ mà chỉ là Quán, không thể phá hoặc, như Phú-na ở sau chứng minh nghe nhân duyên liền có thể phá hoặc, mới được gọi là lý quán nhân duyên.

Nói văn tuệ: Là chỉ cho vị Bốn niệm xứ.

Nói Phú-na lãnh giải, trong Đại kinh quyển ba mươi lăm chép: ngoại đạo Phú-na.

Đức Phật hỏi: Ông thấy thế gian có thường chăng, cho đến thế gian hữu biên, vô biên, v.v… Nếu nói thế gian là thường thì là thật, còn lại đều nói dối, nầy gọi là chấp tên thấy tên nghiệp, cho đến biên vô biên cũng giống như vậy.

Lại hỏi: Nếu ông đốt lửa là khi lửa tắt ông biệt tắt chăng?

Đáp: Đáp.

Lại hỏi: khi đốt lửa lửa từ đến, diệt đến chỗ nào?

Đáp: Nhờ duyên mà sinh, duyên hết thì diệt, khi diệt không đến tất cả nơi chốn.

Đức Phật nói: Nếu năm ấm ái sinh thì sẽ như vậy, nếu ái diệt thì hai mươi lăm cõi diệt. Phú-na lại nói: Nếu có một cây chết đến trăm năm, nhánh lá rơi rụng, chỉ có trái hột.

Đức Phật nói lành thay thành A-la-hán, nhưng trong mười vị tiên phàm có lãnh giải, phần nhiều nói: Ta đã biết rồi, ta đã hiểu rồi, trong văn Phú-na tuy không có lời nầy mà đã được La-hán, cũng có thể dùng chung lời lãnh giải, nhân duyên quán nầy, phán xét nhân duyên nay, đã thuộc về sự quán, cho nên không bằng Phú-na có năng lực phá hoặc. Kế dẫn kinh luận nêu ra nhân duyên khác nhau và có thể làm văn quán cảnh ngày nay, Anh Lạc có mười thứ mười hai duyên. Quyển thượng nói trong địa thứ mười, mười thứ quán pháp thứ sáu là quán duyên khởi trí quán mười thứ nhân duyên đủ như quyển hai có dẫn.

Kế nói quán, hoặc mười thiền nầy biệt biệt tu quán, thì ban đầu từ căn bản đến cuối nói thần thông, mỗi chỗ đều nói mười thừa quán pháp, hoặc chung làm, tức ở sau nêu lên là nầy, nay ở sau nhân duyên thiền lập quán riêng là khác với chín thiền, chín thiền duy đợi phát mới có thể quán, nhân duyên nhất thiền nghĩa tuy phải phát, cũng có thể tức quán, huống chi là nhân duyên môn đã gồm nhiếp rộng, hoặc Thiên hoặc Viên hoặc chánh hoặc trợ, hoặc nhân hoặc quả, hoặc tự hoặc địa, không đâu mà không nhiếp ở trong nhân duyên quán, cho nên ở đây lập pháp quán riêng, ở chặng giữa ban đầu ngài Long Thọ ở sau có dẫn, ngài Long Thọ nói ý dụng quán. Ngài Long Thọ nói Trung luận nêu bày chung Đại Tiểu, ý luận cũng quán nhân duyên làm tông. Luận sư ở sau nói các sư hiểu lầm, chỉ dùng hai đế làm tông Trung luận, nay nói ở sau phá các sư xưa.

Nói luận tông là nên nói luận nầy riêng hiển tông hoặc nói hai đế nầy thuộc thông suốt, nói phẩm gì? Là chỉ mỗi phẩm luận nầy, không đâu chẳng phải ý hai đế, huống chi lại hai đế khắp các giáo môn, nên không thể hai đế làm tông Trung luận, nói mà đều phá hết, là luận đề

của các phẩm đều phá mà đặt tên. Như nói phá phẩm Lục tình phá phẩm nhiễm, v.v… pháp quán trong phẩm đều phá sạch hết, sáu tình là tục, phá hết là chân, nên hai đế phá chẳng phải nói biệt tông, luận ban đầu, ở sau là chỉ bày luận tông, hoặc chung hoặc riêng đều quán nhân duyên, cho nên ở đây luận nhân duyên làm tông, nên luận văn đầu gọi là phẩm nhân duyên, quán chung văn sau nên gọi là Thông. Trong các phẩm sau tuy tùy theo nghĩa biệt, mà thật không ra ngoài quán nhân duyên. Các sư phương Bắc ở sau lặp lại bác bỏ lời giải thích xưa, các sư phương Bắc tuy dùng nhân duyên làm tông, không rõ ý một bộ thông biệt, mà lại chỉ giáo nghĩa Tiểu thừa ở phẩm sau, Tiểu thừa chẳng phải nghĩa chánh cứu lại nghiêng lệch, vì sao lấy luận đây làm tông luận, nên luận văn ở sau lập phẩm nhân duyên và phẩm tà kiến, trình bày pháp quán Nhị thừa trong tạng, nên lập sáu nhân bốn duyên để nghiên cứu Tiểu tông.

Trong luận nói: Đã nghe Đại thừa nay nói nghĩa Nhị thừa, cho nên kế là nêu các phẩm nhân duyên, huống chi lấy nghĩa của phẩm nội nghiên cứu làm tông, luận tuy nói tiểu, tiểu là sở phá, vì sao dùng nghĩa sở phá làm tông, nên không thật có. Đức Phật bỏ đời ở sau chánh nêu ra Trung luận dụng ý quán. Nếu Phật là người ở đời lợi căn nghe liền được lợi ích, cho nên không phải nói pháp quán. Sau khi Đức Phật từ giả cuộc đời, hoặc nghe nhân duyên trái lại chấp ba đời quyết định có trôi lăn, cho nên ngài Long Thọ rộng làm pháp quán, nhưng phá nhân duyên không có sự phân biệt tướng nhân duyên, nay đã trở xuống kế nói văn nay dùng ý Trung luận, rộng lập quán pháp mười thừa nhập đạo, rộng phá phát đắc tu tướng đắc, nên biết luận nói chung không ngoài mười thừa.

Kế nghĩ bàn ở sau là nói pháp quán, ban đầu nói trong cảnh dẫn Đại kinh có bốn thứ nghĩa quán nhân duyên, thì ba trước là có thể nghĩ bàn, một pháp sau là không thể nghĩ bàn, nên các văn trước nói cảnh nghĩ bàn, hoặc có đến Biệt giáo mà dừng, tức đồng với văn nầy, hoặc có đến Viên giáo, ý thì hơi khác, đủ như trước đã phân biệt, nói trở xuống bốn trí như trí, v.v…, ban đầu sáu đường nhân duyên chánh đáng cảnh bốn trí sở quán, ở sau trí quán, nên được Thanh văn Bồ-đề, tức là trí năng quán, trí có khác nhau.

Trong phẩm Sư Tử Hống của Đại kinh quyển hai mươi lăm, mười hai nhân duyên gồm có bốn loại: đó là hạ, trung, thượng, thượng và thượng, dủ như quyển mười có dẫn, văn nầy trong vị Thập trụ Viên giáo, nói không rõ tức là hoàn toàn không thấy, Viên giáo tức y theo phán vị sáu tức, đều gọi là liễu liễu, cho nên thể bốn trí lại là bốn Thánh giới của văn nay, và sáu giới trước tức mười pháp giới mười hai nhân duyên, Thinh văn cho đến thượng thượng đều nói hoặc chuyển, nay y cứ chung ý Đại thừa nói, là chỉ chuyển mê hoặc là trí vô biệt thể. Trong Thanh văn bảy thứ học nhân: Là ba quả bốn hướng, tùy theo các suy nghĩ sinh số nhiều ít sinh cõi Dục giới nên thiện giới, từ đây trở xuống trong trí nếu từ giáo phán nên có Duyên giác, nay văn lại phán xét theo Thanh văn.

Kế nói Duyên giác trong đó nói kết nghiệp hết hay không hết, đồng với ở trước, trước là Thinh văn có hết hay không hết, nay nói Duyên giác không nên cách sinh, đã nhiếp thuộc về Thông giáo, cũng y theo giáo luận có nghĩa Thinh văn, nên được dứt hoặc nêu lên Thinh văn ở trước, hết thì ra khỏi cõi dục, không hết thì đồng với bảy học nhân trước.

Kế nếu chuyển ở sau nói Bồ-tát Sáu độ, trước là hạ trung trí Thinh văn Duyên giác khí hoại đồng khác, nên có thể xen nhiếp, Bồ-tát phát tâm không chung với Tiểu thừa, lại vì thành mười pháp giới nên ba giới Bồ-tát đồng làm một cõi, cho nên các văn nhiều ít đều như vậy. Bồtát Sáu độ tuy nói Bát-nhã nhưng vẫn còn ở phục hoặc. Trong Bồ-tát Thông giáo có nói chuyển vô minh tức là không tuệ, v.v… Không tuệ đã thành độ Bát-nhã xong, lại nói chuyển hành hữu thành sáu độ, trong sáu pháp tức là sinh diệt giúp quán dùng làm Bát-nhã, lại dùng tuệ tức không dẫn dắt sinh diệt ấy, ở đây chung Bồ-tát Bát địa trở lên, thì nên tùy theo nguyện lợi vật thọ sinh, Bát địa trở xuống hoặc chưa dứt, cho nên nay văn tùy hoặc xếp vào sinh nên nói đồng với trước, dùng tâm hạnh tức không so sánh với năm độ, nên nói phước cao quý, tức không thắng chia chẻ nói tuệ thắng, phước tuệ đã thắng báo sinh cũng vậy, nhưng có thể thắng ba tạng hai thừa ấy, không bằng đến sơ tâm bên Viên giáo, nên gọi là Tiểu, nên nói Bát Cửu địa trở xuống, vì sao chỉ nói sáu bảy địa trở xuống, Bát cửu là vị đoạn hậu, Lục Thất là vị chánh đoạn, nên chánh đoạn viên để nói chưa đoạn, nên nói sáu bảy.

Kế nêu chuyển thành thượng trí, đã nói biệt rõ ràng là nghĩa biệt, chuyển ba món vô minh như kiến tư, v.v…, thành trí Nhất thiết, v.v… ba thứ trí sáng, trong đây chỉ đến hạnh hướng, lại y theo không được ý biên, lại bỏ Sơ địa để làm cõi Phật và thượng thượng trí, lại hiển bày chứng đạo vô khác nhau.

Nói đồng với trước là trụ trong kiến tư đồng với Nhị thừa ở trước, giới nội trần sa đồng với Bồ-tát hai giáo Tạng Thông ở trước, giới ngoại trần sa tuy khác nhau với trước, đồng là trần sa nên lại đồng với trước, kế nêu chuyển hạ mà rõ trí thượng thượng, trước nói trí thượng thượng quán làm cảnh không thể nghĩ bàn; kế lặp lại giải thích cảnh không thể nghĩ bàn, ban đầu chặng giữa trước lập chung ba Phật tánh; kế hoặc Thông giáo ở sau nói Thông Biệt, tuy có Thông Biệt cộng thành nghĩa Viên. Cái gọi Thông: Là trong mỗi chi đều có ba Phật tánh; kế nếu Biệt sau riêng đối với ba Phật tánh. Vì sao ở phán xét Biệt giáo so sánh ý, do ba đạo nầy tức là ba đức, nên so sánh riêng. Nếu vậy, vì sao lại giải thích chung ở trước?

Đáp: Nếu Biệt so sánh lại đối với nghĩa tiệm hơn, nếu Thông giáo so sánh thì y cứ lý thông, cho nên Biệt giáo so sánh trong ba Phật tánh, mỗi tánh không ở đâu mà không có đủ chánh nhân; kế tánh đức ở sau giải thích ba đức ở trước không dọc không ngang trước sau không hai. Trong kinh Tịnh Danh dẫn chứng trước sau không hai, chúng sinh là ban đầu, vì tức là Phật. Nên biết không hai, hoặc năm phẩm ở sau phán xét địa vị Phật tánh.

Nói chưa dứt là đồng với người học: Là đồng với Sơ quả hướng, Thiết luân đồng với vô học: Là nói theo chung, hoặc nói theo Biệt, nên từ Sơ tín cho đến thứ mười, mỗi tiết nương hoặc để phán xét cạn sâu, nên Sáu tín trở xuống cũng đồng với học nhân, đã nói đồng là trí tuy phân ở hạ trung thượng khác nhau, y cứ Thông giáo hoặc dứt đồng, thế nói đồng, nếu phục biệt hoặc một bề khác nhau, cho nên văn sau Ba Hiền Mười Thánh tức cùng hai giáo Ba thừa khác nhau.

Tuy là biến khác, v.v… sáu căn tịnh vị, y cứ Thông giáo hoặc hết, tuy đồng Nhị thừa thọ thân biến khác chỗ ấy cũng đồng, y chánh hơn kém khác hẳn Nhị thừa, năm căn thuộc phước nên nói sinh phước, nội trí khéo léo nêu ra từ ban đầu thường sai biệt, giải thích luận ở sau dẫn chứng thân kém biến khác Nhị thừa, đã nói căn độn tức là năm căn kém hơn người Viên giáo, hoặc Biệt giáo Viên giáo ở sau lại nói Biệt giáo Viên giáo phước hơn giáo trước, đây là Thánh vị khác nhau với trước, chứng đạo đồng với Viên cho nên hợp nói, nhưng tùy theo giáo đạo lập bổn tên khác, hoặc ba hiền ở sau chứng nhân vị Thánh đầu cuối đều thắng, cho nên văn trước nói vị Biệt giáo chỉ ở hạnh hướng, Sơ địa trở lên nhiếp trong ba Hiền vị nầy, cho nên y theo chứng không phân biệt khác của Biệt Viên, chỉ nói ngôi vị Ba Hiền Mười Thánh. Hoặc sau cùng kế sau nói quảvị ở giữa, trước nói ba đức; kế ba Niết-bàn.

Ngài Tịnh Danh nói: Ở sau chứng thiện ác trước thành phương tiện tịnh, thiện ác ràng buộc, tức ràng buộc để nói, không ràng buộc không cởi mở, trong ác nêu cùng tột nên nói năm nghịch, lý cực ác là lý nầy cực thiện, cho nên gọi là ngay nơi ràng buộc mà nói mở cởi.

Lại, ở sau so sánh mười như, mười cảnh, v.v… không thể nghĩ bàn, và hỏi đáp phân biệt, tức nói lên nhân duyên ba đức trước không thể nghĩ bàn.

Ban đầu so sánh mười như, trong văn hai lần so sánh: Là vì dùng mười hai nhân duyên hai lớp nhân quả.

Kế so sánh mười cảnh, hoặc nói chung, mỗi cảnh không đâu chẳng phải là lý mười như, nay đặt tên để tiện nên lại so sánh riêng, văn tuy khác nhau chánh ở một niệm, mười hai nhân duyên thuộc về mười cảnh.

Hỏi: Nếu vậy, mười cõi âm, v.v… thuộc khổ phiền não và nghiệp ma thuộc hành hữu, ở đây có thể như vậy, vì sao mười cõi hành hữu cũng thuộc về cảnh Bồ-tát Nhị thừa?

Đáp: Hoặc nói chung: Bồ-tát Nhị thừa có đủ ba đạo, nay từ nghĩa Biệt nên Bồ-tát Nhị thừa không thuộc các khổ.

Hỏi: Nếu từ nghĩa Biệt thì Bốn Thánh lẽ ra cũng không thuộc khổ và phiền não, vì sao từ thông.

Đáp: Tuy đều chung Thông Biệt, Bồ-tát Nhị thừa từ nghĩa Biệt tiện lợi nên một lần lại như vậy, phàm so sánh đương nghĩa lý không thể hết.

Kế mười hai nhân duyên ở sau nhiếp mười như, mười cảnh để vào một niệm, đủ như văn trước ấm nhập trong cảnh nói không thể nghĩ bàn.

Trong Hoa Nghiêm, Đại Tập, v.v… văn kinh chỉ nói tâm nhất niệm có đủ, không nói mười cõi nên biết tồn lược. Các Đại thừa nói một niệm là ý đều như vậy, nếu không như vậy thì tại sao thâu khắp tất cả các pháp, nầy cũng trở xuống là nêu lược nhiếp rộng.

Hỏi: Mười hai môn, v.v… là giải thích nghi. Duyên là nhân duyên, pháp là nhân duyên sở sinh, pháp sinh đều vô sinh, nầy do Trung luận ý hỏi mà hỏi văn nầy, nay văn ở khắp nơi đều nói duyên sinh ở một tâm niệm, trong luận nói là ở nhất tâm vì ở khác tâm. Ý luận hỏi, vì ở tâm một người, vì ở tâm nhiều người, vì ở một người nhiều người một niệm tâm ư? Một niệm khác niệm như vậy, đều ở trong một niệm tâm, văn nầy đều đầy đủ phải không?

Đáp: Chặng giữa ban đầu dẫn trong kinh Hoa Nghiêm một và nhiều tức nhau bao gồm đáp ý luận, nhiều người một người so sánh một niệm nay đều đầy đủ, tâm nhiều người một người phát khởi không ngoài trăm cõi, trăm cõi là nhiều một niệm hay là một, một nhiều tức nhau chẳng phải một chẳng phải nhiều.

Kế dẫn Đại Phẩm để giải thích tức nhau, tất cả các pháp đều đến nhân duyên, trăm cõi nhân duyên không ngoài một niệm, cho nên gọi là đến không lỗi, nên được gọi là một niềm đầy đủ, nay nói ở sau lại phá nạn trước, lại trong Trực nhĩ nói mười hai nhân duyên: chỉ cho hai văn Hoa Nghiêm Đại Tập trước, đều nói một niệm đủ mười hai duyên, thật ra ý hai kinh bao gồm mười cõi. Lại nữa, ở sau định một niệm trước để thành cảnh quán. Lại có hai nghĩa.

  1. Dùng thiền làm cảnh, không đồng với thế tâm.
  2. Tức cảnh nầy tâm lại phải lìa chấp.

Nói về thiền tâm đã nói một niệm một và nhiều tức nhau, làm những gì nhất tâm có thể đầy đủ, nên phân biệt chỉ bày nói không được đồng với vọng chấp một niệm, có thể rõ vọng niệm không có tướng một khác, thông suốt vô tướng đủ tất cả tâm, ba ngàn đầy đủ mới có thể chiếu suốt ở một và nhiều tức nhau, nầy y cứ người sơ tâm tập quán, e lầm lộn cảnh quán vọng tình, cho nên phải phân biệt chỉ bày nhập môn, nếu y cứ lý luận không đâu thì chẳng phải pháp giới, cũng nào ngăn cách ở chấp chặt vọng tình, một văn và quyển nhất trong đây cõi Phật pháp thuộc về có thể nghĩ bàn. Bậc Sơ địa trong quyển ba, tức là Sơ trụ, quyển bốn dùng nghĩ bàn giải thích không thể nghĩ bàn, quyển năm không thể nghĩ bàn ban đầu nói nhất tâm nhậm vận đủ ba ngàn đến sau y theo mười thiền tu quán nói: Hành nhân quán pháp cùng tột đến chánh trợ, và cảnh ma sau nói ấm nhập mười thừa độ vào biệt, như vậy bảy văn xem xét các bộ, chỉ có một chỗ nêu ra, nếu tìm văn xin nêu bày khắp, thí như ở sau nêu dụ cho, đủ như trong ấm cảnh ba dụ có nói, nên chỉ phẩm An Lạc Hạnh trong kinh Pháp Hoa, v.v…

Chân chánh kế sau nói phát tâm, ban đầu trong thiên phân biệt, trở lại y theo không thể nghĩ bàn một niệm mười hai duyên, mà phân ra nhân quả để nói về cảnh đầy đủ.

Chuyển nhân quả nầy để nói cảnh từ nên phân biệt giả danh sinh diệt không sinh diệt, giả danh tức là Biệt giáo, tức là phân biệt lại các tạng ba giáo.

Kế dẫn Hoa Nghiêm là ba giáo đều là tâm Bồ-đề ma, vẫn ở Biệt giáo phải phân biệt giáo chứng, kế hoặc nương ở sau hiển chánh, là cứu khổ ở sau nói thệ cảnh; kế y cứ ở đây trở xuống là chánh nói phát thệ, y theo một niệm tâm sinh mười cảnh nầy, trái lại cảnh nầy để phát hoằng thệ; kế trong an tâm tức do mười cõi trong một niệm tâm mà phân ra ba đạo, pháp khổ tức tánh chẳng phải chỉ chẳng phải quán, nghiệp tức giải thoát, giải thoát là chỉ, phiền não tức Bát-nhã Bát-nhã tức quán, kết nghiệp phiền não không lìa một niệm, phải biết hai pháp nầy cũng tức là pháp tánh, nên y theo pháp tánh mà nói tịch chiếu, tâm an pháp tánh gọi là an tâm; kế phá pháp trong đó khác với cảnh ấm nhập rộng hẹp, văn ấy rộng nên trước nói ngang dọc; Kế chẳng phải ngang dọc, trọng nầy văn lược, tức ở song phi để nói ngang dọc, hoặc ngang hoặc dọc và suy ra một niệm; kế trong văn thông bít cũng trước nương thứ lớp để nói không thiếu. Trong văn xuất giả không thông không bít: Không chỉ chung là bít, không bít chỉ là thông, tùy văn tiện nên là cố nói khác. Kế từ nơi mỗi lần ở sau suy xét năng sở, cũng là nhất tâm để nói năng sở, y cứ có bốn pháp tạo tác, v.v… và hoặc thông biệt. Ba giả, v.v… đều là nói theo thứ lớp; kế trong Đạo phẩm cũng trước nói Đạo phẩm; kế nói ba không, Đạo phẩm đã dùng niệm xứ làm đầu, nên dùng nhân duyên trước so sánh niệm xứ, trong đó lại y cứ Thông Biệt hai lần, ban đầu y cứ mười cõi, nên ở sau ba niệm chỉ nói nhất thiết, mười cõi đều có bốn nên gọi là Thông; kế trong biệt lại có hai nghĩa, chỉ là hai nghĩa hai lần so sánh, lần đầu lại thiếu thọ niệm xứ, nên nói vô minh hành danh sắc sinh tử, trong chỉ ái thủ hữu thọ ấm, thuộc về thọ niệm xứ, nhưng trong biệt hai lần đồng lập mười hai chi, đều đủ năm ấm mà nghĩa thủ hơi khác, ban đầu chỉ lấy văn hiện đương thể, vì thuộc về niệm xứ, hoặc kế văn sau tức dùng đương lập cho đến hiện tại mong ở hai nghĩa quá khứ, vị lai khác nhau, nên hai chi quá khứ và hai chi vị lai, nên thuộc về pháp. Hoặc đương vị rất đồng với trước. Kế phân biệt chặng giữa trước hỏi chặng giữa, v.v… thế nào là ba niệm: Là nương số người sinh tử là bất tương ưng hành, thuộc về pháp niệm xứ, vì sao giải thích chung đều có bốn niệm, nên trong Tỳ-đàm Câu-xá có mười bốn món bất tương ưng hành, sinh tử thuộc bốn tướng, nên thuộc bất tương ưng hành, và lần đầu trong giải thích riêng chị sinh tử vì sao nói có ba niệm xứ? Nghĩa là pháp thân tâm.

Ý trong lời đáp: Là ở trước giải thích chung e nghĩa không rõ, nên dẫn trong Đại kinh giải thích thành nghĩa thông, trong văn kinh đã nói, hoặc sinh hoặc diệt đều có năm ấm, tức là sinh tử đều có bốn niệm, như trong Câu-xá nói mười hai nhân duyên, mỗi nhân duyên đều dùng năm ấm làm thể, không đồng với kinh bộ, đối với biệt so sánh hai nghĩa trong mỗi chi đều lập năm ấm, tức là từ thắng, tuy mượn quyền ấy văn nói theo sự tướng, mà phân vị khác nhau, đều phải y theo một niệm mười cõi, phải biết đây là y theo một niệm tâm, hai pháp thông biệt mà so sánh, tất cả phần sắc tức thân niệm xứ, tất cả phần tâm tức ba niệm xứ, cho nên đồng với cảnh ấm nhập nghĩa đạo phẩm, hoặc thông biệt, v.v… Chỉ hai pháp thông biệt trước so sánh kết thành bốn đức, đều phải quán là cảnh không thể nghĩ bàn; kế bốn pháp nầy ở sau kết tươi khô Trung đạo Phật tánh; kế nêu chung các phẩm, đều như văn, quán căn bản ở sau kết thành ba không, ở văn rất dễ thấy, y theo ấm cảnh trước có thể do ý mà được, cho nên lại y cứ quán vô minh, v.v… ba giả để nói: Không chấp pháp tánh bốn tướng, là trước nêu bày bốn pháp như không thọ, v.v…, kế nêu bày bốn pháp tân, cựu, v.v… tức là không thọ tân không chấp cựu, không niệm trong không phân biệt ngoài. Tân là ái thủ. Cựu là vô minh. Nội là nội tâm; ngoại nghĩa là ngoại cảnh, ở một niệm tâm mười cõi pháp tánh quên bốn tướng nầy, không nương tựa, v.v… không nương bốn câu tức bốn tướng; Không sở kiến: Là không thấy bốn câu chẳng, thấy không có bốn câu, không trụ cũng vậy, lý vốn chẳng phải tu cũng chẳng phải làm tác, không có nhân để tu không có quả để đắc.

Kế nói đối trị: Là trong văn đầu nói lược ra ý. Đạo phẩm ở trước, v.v… Là trong Đạo phẩm trước, tuy quán mười giới niệm xứ, đều là một bề quán lý, nên lại nói chuyển vô minh, vì sau ở sao giải thích dùng ý trị, vô minh hành hữu đều chung ý cạn sâu, nay nói theo biệt, tức do trong chướng vô minh làm lý ác, trong sự hành hữu làm sự ác, lý ác đã che lấp lý tuệ, sự ác lại trợ giúp ngăn che, nêu nêu dụ cho mà nói thì giặc nhiều ta một, sự lý hai ác là giặc nhiều, lý tuệ chẳng phải nhiều vì ta một, như giặc nhiều tướng một, lẽ ra phải dẫn trợ giúp, chân lý như vua lý tuệ như tướng, hai ác như giặc, nên giúp thêm để phá, khai đạo phẩm trước ba môn ở giải thoát sau.

Ba thông là môn Niết-bàn, đạo phẩm chánh hạnh tức là ta một, sáu tệ đã ngăn che gọi là giặc nhiều. Y theo các văn trước, cũng phải dùng chuyển bao gồm đủ và nghĩa đệ nhất bốn giáo xoay vần làm trị lẫn nhau, v.v… Nếu khởi ở sau chánh nói dụng sự, hoặc có ở sau phán xét tấn, sáu món chung lại sáu trọng đều gọi là tệ, hoặc một trọng còn bỗng nhiên khinh, chỉ trị một trọng còn khinh là tự đi, nếu sáu món đều trọng, sự phải trị khắp, giúp đạo kế ở sau nói nhiếp, điều phục các căn.

Ban đầu nhiếp mười hai khoa trước, lại oai nghi của Phật trở xuống lặp lại nói pháp bất tận, như mười lực pháp bất cộng trước, v.v… Ban đầu nêu lên bốn pháp thành đạo dùng làm oai nghi, văn trước chỉ nói công đức bất cộng, không riêng hiển bày tướng ba mật bốn oai nghi lợi sinh, nên nay lại dẫn Đại phẩm nầy gọi là ngồi đạo tràng, giải thích thành Pháp Hoa Chư Phật ở đây mà ngồi đạo tràng xoay bánh xe pháp nhập Niết-bàn, v.v…

Nói ở đây, chỉ là ba đức thật tướng Nhất thừa, ba đức chỉ là mười hai nhân duyên, bốn pháp nầy nương vào nhân duyên, nên được dùng nầy giải thích oai nghi của Phật, cho nên bốn Đức Phật khi ngồi đạo tràng, đều quán nhân duyên mà thành Chánh giác, đạo tràng là sở y, giác trí là năng y, năng khế hợp sở, nên thành Chánh giác, trong Đại phẩm ở sau giải thích, trong mỗi văn có nêu giải thích kết, giải thích thành đạo trong đó có bốn thứ khác nhau, đều ở đồng cư hiện bốn tướng nầy, cũng nên kết rằng, đây là tướng đồng cư thành đạo, văn không có lược, nên một đời giáo pháp không ngoài bốn tướng thành đạo ấy; kế trong xoay bánh xe pháp cũng nêu giải thích kết, trong giải thích có đủ tướng tám giáo.

Ban đầu Đốn giáo; kế là bốn giáo; kế là bất định; kế là bí mật, bốn Đức Phật thành đạo vốn vì lợi sinh, cho nên kế nói nghĩa xoay bánh xe pháp, văn nầy đã nương ý kinh Pháp Hoa, không nói tám giáo không dùng hiển diệu, cho nên ở đây quả thật đều nói, trước đã phân biệt nay lại nói lược, nhưng bốn giáo tạng, v.v… thâu khắp tất cả nhân quả hiển rõ của kinh Đại thừa, Tiểu thừa, đều lập giáo chủ, đều giúp cơ duyên, trước sau nầy đủ không gì hơn bốn pháp nầy. Bốn giáo đốn, v.v… chỉ là lực của Như lai không thể nghĩ bàn, để khắp trong các tạng sắp xếp đầy đủ, thành thục căn cơ chúng sinh há tà tu chánh, dẫn Tiểu thừa quy về Đại thừa, bỏ thiên bày viên, hội quyền nhập thật, nên có các bộ năm vị sinh nhau, lợi vật vô phương hợp thời ra vào, hoặc vắng lặng đạo tràng là căn cơ Biệt Viên, một pháp hội nầy chưa từng trải qua tiệm, gọi là Đốn, tức văn nầy dẫn trong Hoa Nghiêm, đây là y theo bộ y theo vị được gọi là Đốn, mỗi giáo trong bộ vẫn bao gồm Tiệm, y theo giáo bèn thành có tiệm có đốn có quyền thật có thô có diệu. Nên trong kinh Pháp Hoa riêng hiển, ở đây là thô, trong kinh Hoa Nghiêm cũng vậy, huống chi là kinh Phương Đẳng, cho đến Bát-nhã kèm theo hai đối hai, cho nên hai vị cho đến thô đều gọi là Tiệm, huống chi trong kinh Pháp Hoa vốn hiển, các bộ không có, đủ như trong huyền văn thứ nhất có giải thích rộng, nếu vậy, đâu được đốn bộ ở ban đầu, gồm thô kèm theo biệt, văn đủ hai giáo nghĩa là qua bốn giáo, có thể không lầm ư? Nên biết không thể đối với diệu kinh nầy sinh ra khác chấp, nhưng tám giáo nầy chẳng những chỉ là phán giáo mà thôi, quán hạnh rõ nghĩa cũng nhờ tám pháp nầy thâu nhiếp môn Đại thừa khiến hạnh khắp đủ, trước trong Thiên Viên tuy nói tám giáo, văn vẫn xen lẫn lại thiếu bí mật, nay ở trong đây văn tướng đầy đủ, lược bàn đại xong; kế nêu tướng văn. Ban đầu Hoa Nghiêm là đốn, kế hoặc vườn Nai ở sau, Pháp Hoa Niết-bàn chẳng thuộc tiệm đốn, chỉ là hội tiệm mà quy về đốn, nên hội đốn cùng trong Hoa Nghiêm viên đốn không khác nhau, nhưng bộ ấy bao gồm sai biệt, lại phán chung là thô, trong Niết-bàn nói: Như sữa có tánh đề hồ, thí như trong Niết-bàn phàm phu xiển-đề còn biết Phật tánh, huống chi các hàng người khác ư? Nên nói sữa có tánh đề hồ, bốn giáo như tạng, v.v… nói khắp nơi, nên nay chỉ nói hai chữ bốn giáo, năm vị khác nhau, gồm thâu, nay hoặc tiệm hoặc đốn, bèn khai hiển, năm vị nầy, là văn trước tuy dùng đều là lập bày, nay văn chánh là bổn ý của năm vị. Trong Đại kinh giải thích hai mươi lăm Tam-muội xong. Lúc bấy giờ, có Bồ-tát tên là Vô Cấu Tạng Vương bạch Phật rằng: Như Đức Phật đã nói Chư Phật, Bồ-tát thành tựu công đức trí tuệ, trăm ngàn muôn ức thật không thể nói, ý ta cũng cho rằng: không bằng kinh nầy sinh ra Chư Phật Bồ-đề, Đức Phật ấn khả xong.

Phật nói: Thí như từ bò mà có ra sữa dụ cho từ Phật có ra mười hai bộ kinh, từ sữa mà ra lạc, dụ cho từ mười hai bộ kinh nêu ra Tu-đa-la, từ lạc mà ra sinh bơ, dụ cho từ Tu-đa-la có ra kinh điển Phương Đẳng, từ bơ sống có ra bơ chín, thí như từ Phương Đẳng có ra Bát-nhã Ba-la-mật, từ bơ chín có ra đề hồ, thí như từ Bát-nhã Ba-la-mật có ra Đại Niết-bàn, đề hồ dụ cho Phật tánh, Phật tánh tức là Như lai, như vậy đều do quán nhân duyên mà được, lại nữa để thuốc độc ở sau là giáo bất định, lại kế ở sau dẫn chứng giáo bí mật, đây là Đại kinh quyển ba, ngài Ca-diếp lập ba mươi sáu lời câu hỏi xong, Đức Phật khen ngợi ngài Ca-diếp, lành thay lành thay, nay ông chưa được trí Nhất thiết chủng, ta đã được, nhưng chỗ ông hỏi như trí Nhất thiết, v.v… không có khác, này người thiện nam: Ta ban đầu ngồi dưới cây Bồ-đề đạo tràng mới thành chánh giác, bấy giờ vô lượng A-tăng-kỳ kiếp Hằng hà sa, v.v… thế giới Chư Phật có các Bồ-tát, cùng từng hỏi thăm nghĩa như vậy, nhưng công đức đã hỏi cú nghĩa, cũng đều như vậy, v.v… không có khác, hỏi như vậy, có thể làm lợi ích vô lượng chúng sinh, nên biết lần lần ban đầu đã có Bồ-tát thầm nghe nghĩa, vì sao trở xuống chí ý, đây là các nhà nay y theo văn Trung luận, dùng ý Đại kinh lập các tên nhân duyên nầy sinh diệt, chứng nghĩa thầm nghe.

Kế y theo nhân duyên nói nhập Niết-bàn, cũng nêu giải thích kết, trong giải thích nói giả danh Trung đạo, hai giáo trước nói về không đã xong, nên lược bỏ không nói, vì nói khác chỉ có luận ở sau, nên nói giả trung, y theo giáo chứng đạo đồng biệt chỉ có giả, đủ như trước đã nói, đây là kinh Xuất Tượng Pháp Quyết Nghi, trong kinh ấy nói: Hoặc thấy ở nơi rừng Ta-la nầy, đều là đất cát cỏ cây vách đá, hoặc thấy vàng bạc bảy báu thanh tịnh trang nghiêm, hoặc thấy chính là Chư Phật ba đời đã an trụ, hoặc thấy nhiều lần cảnh giới Chư Phật nầy, cho đến hiện thân nghe pháp cũng như vậy.

Kế nêu bày trong hai cõi Phương tiện và Thật báo thật nên hiểu, hoặc xoay bánh xe pháp y theo quyển nhất ngang dọc so sánh đế, và sớ của ngài Tịnh Danh nói các cõi nói pháp dùng giáo thêm bớt, so sánh lời nói nên biết, nếu vào tướng hai cõi Niết-bàn, trong cõi Phương tiện chung Phật Niết-bàn, không thể cũng đồng giới nội chung với Phật nguôi thân nhập diệt, chỉ để lại xá-lợi, bộ máy pháp tánh Phật ấy an nghỉ phải chuyển, gọi là diệt, nếu ở cõi ấy khi khởi, liền thấy vô lượng thân tướng tốt viên cơ, liền thấy thân hư không không sinh không diệt, phương tiện đã vậy, Thật báo y theo đó nên biết, tên nầy ở văn sau có nói lược, nên nói nghĩa mười hai nhân duyên giúp đạo nhiếp pháp.

Kế nói: Vị kế, cũng y theo nhân duyên chứng ngộ sâu cạn, ban đầu hữu lậu; kế là bốn giáo, Ca-la nên biết, đã dùng Ca-la nêu lên hai giải thoát, tức do có thông gọi là đại như chung giải thoát, không thông gọi là tiểu như tuệ giải thoát, trong Đại luận quyển hai mươi mốt chép: Ca-la, Hán dịch là Nhân duyên giác, cũng dịch là Độc giác, ra đời gặp Phật nghe pháp nhân duyên gọi là Duyên giác, ra đời không gặp Phật tự nhân được ngộ gọi là Độc giác, hai bậc nầy đều có khác nhau về Đại Tiểu, hoặc bảy lần sinh chứng Sơ quả, không có Phật ra đời gọi là Tiểu Ca-la, trăm kiếp chủng tướng gọi là Đại, chủng tướng khác nhau, hoặc ba mươi hai tướng chín mươi tám vẻ đẹp, cho đến một tướng, đây là Độc giác Đại Tiểu. Lại nếu hết bảy lần sinh gặp Phật ra đời gọi là Tiểu, chủng tướng tu phước, gặp Phật nghe giáo gọi là Đại, đây là Duyên giác Đại Tiểu. Lại trong hai đại đều có hiện thông hay không hiện thông. Hiện thông là Đại, không hiện thông là Tiểu, trong hiện thông thuyết pháp là đại, không gọi là Tiểu, từ năm độ đến vị ba kỳ, Bồ-tát ba tạng, trái năm độ, v.v… theo ý câu sau nên nói trái lại vô minh dùng làm Bátnhã, trái hạnh hữu vi năm độ, văn dường như ngược, nếu trái lại vô minh đến sau là Thông giáo.

Bốn nhẫn: Phục nhẫn, Tín nhẫn vị càn tuệ, Thuận nhẫn vị tánh địa, và Vô sinh nhẫn các vị bát nhân kiến địa, Trong nhân vương dùng năm nhẫn để phán xét biệt vị, tức thêm tịch diệt nhẫn, kế từ vô minh đến sáu luân, hạnh vị cao thấp khác nhau. Trước nói trí hạnh chỉ nói về xuất giả. Tuy nói vô minh chỉ là vô minh chướng tục đến kết vị thì đủ nêu bày sáu luân, nói trí hạnh thì phân biệt đến sau, đủ như trước đã phân biệt, nói sáu luân, là y theo kinh Anh Lạc nói vị có sáu, sáu vị xoay vần từ cạn đến sâu, nên gọi là Luân, lại mỗi vị đều phá kiết hoặc, nên y theo nghĩa Luân để nói về phá, nghĩa là Thập trụ Thập hạnh, Thập hồi hướng, Thập địa, Đẳng giác, Diệu giác, như kế so sánh với thiết đồng bạc vàng lưu ly ma-ni thủy tinh luân, kinh có nhiều sáu để giải thích sáu vị, nay nói nhân vị lui sụt thêm Thập tín, dùng làm sáu luân, không chấp Diệu giác, từ trái vô minh đến cao thấp: là nói Viên vị tức có sáu tức khác nhau, ban đầu là lý tức, nói một người một niệm đều đầy đủ, tức trước lập lý cảnh. Si như hư không, v.v… si tức vô minh vô minh tức pháp tánh, pháp tánh như hư không già chết cũng như vậy, không tức pháp tánh, pháp tánh vô tận. Kế lại chuyển giải thích không nói: Vì sao không thể tận thể không, không có tận và bất tận; kế lại chuyển thích không, đã không có tận và bất tận, phải biết không đây là Đại thừa.

Vì sao biết được không là Đại thừa? nên dẫn luận Thập Nhị môn làm chứng, kế dùng Phổ Hiền quán làm chứng: Lại do lý sở thừa của hàng năng thừa, chứng không là đại, nếu không chẳng phải Đại vì sao người năng thừa là Phổ Hiền, v.v… năng thừa đại nên sở thừa phải đại, đại nên lý khắp, nên dẫn trong Đại phẩm bất động bất xuất, để chứng lý khắp, nếu người ở sau lại dùng Đại phẩm so sánh giải thích lý khắp, pháp tánh thật tế vốn chẳng động xuất, dù làm cho pháp tánh động xuất, nhưng Đại thừa nầy cũng bất động xuất, pháp tánh là lý Đại thừa, lại dùng thể ấy làm so sánh mà nay trong văn nghĩa bất động xuất riêng ở Viên. Hoặc nói chung, cộng trong Bồ-tát, động nghĩa là nhu thuận nhẫn; xuất nghĩa là Vô sinh nhẫn, hoặc cộng Thinh văn thừa; động học nhân; xuất là Vô học, hoặc Bồ-tát; động nghĩa là xuất giả; xuất là Đăng địa, nên nay viên nhân không dứt phiền não là bất động, không phá sinh tử là bất xuất, cho nên động xuất chung ở các giáo, bất động bất xuất duy ở Viên.

Bảy lần: Nói vị kế bảy lớp quán pháp trước, nên biết bảy lần lớp trước tức là sở hành nên nói hành xứ, nay nói vị kế tức là sở giai. Trong phẩm bốn nói: Giới hỏi gấp, ba pháp trước chẳng phải hoàn hoàn không trì,nhưng chánh còn là lý quán sự tướng, chẳng phải chánh, cho nên tự được dừng, làm thì không thiếu điểm, các pháp tác hạnh hoặc phải hỏi ấm.

Lại trong Chỉ trì, song trì, song phạm, sự cần phải đủ, đơn trì riêng trong phạm tác trong không có Chỉ trì, hoặc phải chưa đủ, lại trong Chỉ tác tự hành từ chế, sự không được bỏ, vì vật từ khai hoặc có thể chưa đủ,

lại lý toàn sự thiếu thì gọi là rộng, nên bốn phẩm trước gọi là Hoãn, vào phẩm năm sự lý không hai, các hạnh biệt hạnh, hoặc tác hoặc chỉ hoặc tánh hoặc cơ, tất cả đầy đủ, phần chứng chặng giữa ban đầu giải thích chung; kế riêng dùng nguyệt ái kết thành ba đức và rốt ráo tức, như ở văn, các vị Đại Tiểu đều y theo mười hai nhân duyên, tiểu vị nói bảy tám pháp giới, mười hai nhân duyên, nói chín mười pháp giới, tức bốn vị Bồ-tát Biệt Viên, v.v…. Lại, Bồ-tát Tạng Thông hoặc sáu hoặc bảy, hoặc tám chín mười, chưa dứt hoặc nên sáu, nhập không nên bảy tám, hoằng thệ nên chín, quả mãn nên mười, quả đầu không người tất cả đều chín, do thật hình quyền tất cả bảy tám, khai quyền hiển thật tất cả đều mười, Biệt giáo hoặc chín hoặc mười phần giáo chứng, Viên giáo thỉ chung không hai mà hai, nầy, v.v… đều có dứt trừ, hàng phục cao thấp, hoặc vắng lặng ở sau giải thích nghi, trước lập nghi, nghi nói, các địa tức nhau như vô phân biệt, huống chi là chúng sinh tức là Niết-bàn, chúng sinh rất thấp Niết-bàn rất cao, cao đã tức hạ, có gì vị kế?

Kế không sinh không sinh rất có các duyên ở sau giải thích, như tuy không vị, vị y theo sự sinh, sự nghĩa là hoặc trí nhân quả, v.v… cho nên kiến như các vị tùy sinh, pháp mê như, há có các vị? kiến như hoặc diệt, diệt như thật không diệt, chân tục không hai, sinh diệt nghĩa một, tự hạnh đã đủ có thể vì người khác mà nói khắp như vị, cho nên gọi là “vi sinh tác nhân”, như vẽ hư không, v.v… tự hạnh chân mãn cũng như hư không, đại bi lợi ích chúng sanh như hoa như chủng, cho nên Bồ-tát vì chúng sinh, không mưu cầu không tạo tác mà họa mà trồng, được gọi là phương tiện khéo léo. Hoặc người sau kết thúc bác bỏ.

Bồ-tát Chiên-đà-la, Hán dịch là Sát, tự lầm lộn vị trên Sát thường trụ mạng, hoặc vì người khác nói hại tuệ mạng người, từ đây suy ra các khổn khổ nầy.

An nhẫn: Là ban đầu nói cảnh sở nhẫn, tức ba chướng, ba chỉ là mười cảnh, đủ như quyển năm có nói. Nghiệp ở sau nói tướng năng nhẫn, nay lại biệt đối, nghiệp ma thiền ba pháp riêng thuộc về nghiệp chướng. Hai cảnh kiến, mạng thuộc về phiền não chướng, Bồ-tát Nhị thừa thanh tịnh đã có hai hạnh chánh trợ, cho nên phân đối phiền não và nghiệp, báo chướng nên biết. Lại dùng mười giới nhân duyên so sánh mười cảnh, tức một niệm tâm đầy đủ mười cõi, trong mỗi cõi không đâu chẳng phải ba chướng, không đâu chẳng phải mười cảnh. Nếu tợ giải chưa phát, nên đối với mười cảnh hoặc trái hoặc thuận mà sinh an nhẫn, kết như văn, trụ địa nhẫn nhục, v.v… Là chứng an nhẫn, cũng là quán hạnh vắng lặng nhẫn, tức là Trung đạo tịch nhẫn, an ba đế trụ ở chân đế, gọi là nhu hoa thiện thận, trụ ở tục đế gọi là “Bất toái bạo”. An trụ tục đế mà làm tục động, gọi là tâm cũng không kinh sợ, do đó nhập tương tự ba đế, như Thanh văn ở sau nói khác, như văn không pháp ái trong đó nói có chân tợ.

Ban đầu lược nêu hai vị, ban đầu giải thích tợ vị, trước nêu ba pháp tương tự. Do trí ở sau răn dè chớ đối với tợ pháp mà sinh ai chấp ngại nhập chân vị, hoặc ở sau chỉ bày tướng Đảnh đọa. Vì sao ở sau chỉ bày khởi tướng ái, nếu không ở sau chỉ bày không pháp ái đắc nhập chân vị, chân vị cũng không chấp, huống chi là chấp tợ vị, nhập lý ở sau chánh chỉ bày tướng chân vị lìa ái. Từ đây ở sau nói nhập vị, kế dẫn Đại luận nói chứng chân vị, có với chân pháp khởi, pháp khởi ái gọi là pháp ái, tên ái tuy đồng mà chân tợ nghĩa khác, cho nên trụ trước chưa nhập đạo vô công dụng, không gọi là tự nhiên chẳng chân pháp tánh không gọi là lưu nhập, nêu được Sơ trụ vô sinh trăm cõi thành Phật, chín đạo nêu bày hình, phân thân chín cõi, giúp Phật hành hóa, công hành hóa quy về mình không nhờ siêng tu, nên gọi là Nhậm vận.

Kế nói niệm Phật: Ban đầu nói lược có trước sau với các thiền; kế nói tướng phát, kinh luận khen ngợi không thể nêu đủ, nay văn lại nói tướng phát đắc, thần lực từ giải thoát đức mà khác, trí tuệ từ đức Bátnhã mà khởi, phước đức là nhân tướng, từ đức pháp thân mà khởi, khi niệm Phật khởi các tướng nhân kiến, biết đủ ba pháp từ ba đức sinh, lại biết ba pháp làm lợi ích cho người, người lợi ích không đồng, cũng phân ra ba pháp khác nhau, cũng biết tướng tốt tu nhân khác nhau, nên nói tướng tốt như vậy từ các công đức nầy sinh, tướng tốt như vậy có phước như vậy, như vậy biết tướng dụng thể nghiệp quả đủ như trước đã nói.

Nói hiểu sâu tướng hải: Chỉ là sắc thân tướng tốt vô biên, nên gọi là hải, chẳng phải nói Báo thân không thể nghĩ bàn hải, định tâm ở sau nói phát năm chi căn bản, niệm Phật căn bổn đều là một bên, niệm Phật và thiền căn bản đều không ngại nhau. Như vậy ở sau nói lý do khác nhau, nhưng Phật ở sau là nói khác nhau, đây là ở sau lược kết các vị. Đặc thắng ở sau nói niệm Phật phát các thiền.

Kế trong các thiền phát Phật; ban đầu nói các thiền phát niệm Phật.

Ba thứ pháp môn: Tức là cảm động tướng tốt nghiệp thiện, cảm động là tướng dụng, tướng tốt là tướng quả thiện nghiệp là tướng nhân; kế nói lược các thiền phát niệm Phật, như văn; kế phán xét tà chánh; ban đầu nêu hai môn; kế trong giải thích trước chánh kế tà.

Ban đầu nói ba niệm tự tha, v.v… Trong Đại luận giải thích sáu

niệm trong ấy nói: ba pháp Phật, Tăng, Thiên là tha, ba pháp pháp, xứ, giới là tự, luận phán xét sở niệm ở tự tha, nay nói sở phát đầy đủ nghĩa tự tha, trong Đại luận quyển tám hỏi: Thế nào gọi là Tam-muội niệm Phật?

Đáp: Có hai thứ khác nhau, trong pháp Thinh văn ở mỗi thân mắt tâm của Phật lần lần mở, đủ ở một phương, pháp Bồ-tát ở trong cõi Phật mười phương ba đời, Chư Phật thường hiện ở trước.

Trong luận hỏi: trong sáu Niệm chỉ khen ngợi niệm Phật.

Đáp: Tam-muội niệm Phật có thể dứt trừ các phiền não, diệt các tội, việc lành đại phước có công năng độ chúng sinh, nay phát nghĩa túc tập cũng đồng. Nếu được ở sau nói ý niệm Phật.

Hiện văn quang, v.v…: Trong Đại luận quyển chín chép: Một văn quang là chúng sinh thiếu phước thiếu trí, nếu thọ nhiều văn quang thì nhãn căn không kham nổi, nếu lợi căn phước dày thấy vô lượng quang, nay ý văn nầy chung cho lợi độn đã nói phát đắc, phải nương sự mà nói, nên nói văn quang. Văn quang là nói người xinh đẹp, ý chánh mật nói vô minh quang minh, cho nên được nói theo bốn món tất, tùy theo các chúng sinh thích nghi khác nhau, há gặp văn quang, hoặc lại xếp vào văn quang, như thấy thân tạp thứ, v.v… ở đây.; Vui vẻ là thế giới, thích nghi là người, đối trị như văn, được độ là nghĩa đệ nhất.

Kế nói trong thần thông có các luận không thật, chỉ lược biết tướng trạng để đủ phát đắc.

Ban đầu nêu số nêu tên. Trong Đại kinh quyển hai mươi hai, nói lược Đại Tiểu, trong kinh giải thích công đức thứ hai nói, có hai loại chung:

  1. Ngoài.
  2. Trong.

Ngoại chung với ngoại đạo, trong có hai loại: 1- Nhị thừa 2- Bồ-tát.

Bồ-tát tu hạnh Đại Bát Niết-bàn, thần thông sở đắc không chung Nhị thừa, cho nên Bồ-tát xưa không được mà nay được (thân như ý), xưa không nghe mà nay được nghe (thiên nhĩ), xưa không thấy mà nay được thấy (thiên nhãn), xưa không biết mà nay được biết (tha tâm túc mạng lậu tận) nay nói phát thông chẳng nói vô lậu, trong kinh nói rộng tướng tu chung trong Đại luận cũng nói lược tu tướng đều chẳng phải chánh ý nầy, nay nói lược để toan phát. Mắt trời thông là như trước đã giải thích năm nhãn nói thiên nhĩ, được cõi sắc thanh tịnh bốn đại tạo sắc, nghe tiếng sáu đường đã nghe nhiều ít, xa gần, v.v… ví dụ nhãn nên biết. Pháp tu là nhớ niệm các thứ âm thanh, biết túc mạng là Đại La-hán biết tám muôn kiếp, Đức Phật biết vô lượng kiếp, tu pháp là thường nhớ ngày tháng năm cho đến trong thai và đời quá khứ trong ngàn muôn ức đời, tha tâm là biết sở cấu vô cấu sinh diệt của tâm người khác, tu pháp là thường nhớ những người hỷ nộ sợ sệt, thấy tướng biết tâm, thân như ý gồm có ba thứ;

  1. Chuyển biến.
  2. Thánh.
  3. Năng đáo.

Năng đáo lại có bốn:

  1. Thân bay đi.
  2. Đời xa khiến gần, không đến mà đến.
  3. Vào nầy sinh kia.
  4. Một niệm đến được.

Nói Thánh: Ngoài sáu trần trong không thể ưa thích vật không có vật thanh tịnh, khiến cho đáng ưa thanh tịnh, chỉ Phật mới có, nên nói là Thánh.

Chuyển biến: Đại Tiểu một và nhiều lại xen có thể làm, cho đến có thể làm tất cả việc, nếu ngoại đạo biến hóa cùng tột không hơn bảy ngày, hai đệ tử Phật chẳng luận lâu gần, tu pháp là nương bốn như ý túc khởi thân khinh nêu tưởng. Nhưng các thần thông chưa được quả Thánh, đều không thừa nhận tu, cho nên không được nói rộng tu tướng, huống chi nay trong văn vì nói phát đắc, nói lược đại đạo khiến biết tạo tác ấy. Lại các pháp từng được vô lậu thông, như Đại Bồ-tát, Đại Tiểu La-hán, Bích-chi Phật, Chư Phật. Lại không nói về phát, nay nói phát, chỉ là quá khứ có tu sự thông, đã chẳng phải vô lậu thì chưa ra ngoài cõi, nay nhân Chỉ quán phát tập quá khứ, trong Đại luận lại nói rộng sinh đắc báo đắc như các trời quỷ thần, v.v… phát đắc như Bồ-tát Vô sinh nhẫn, v.v… tu đắc như các Thánh, v.v… đều chẳng phải ý nầy, chỉ được ở sau nói xen phát hữu vô, hoặc nói chung ở sau nương thần thông riêng phán xét phát. Ban đầu nói lược thần thông khác nhau, nói Đặc thắng nói chung phần nhiều phát thân khinh nêu, v.v… do hai thiền nầy có thân quán, thấy thân dứt tâm, ba việc nhỏ nhiệm, dứt tánh khinh nêu, tâm như tượng trong gương thân như bóng mây, cho nên thần thông từ hai thiền nầy sinh đối với lý hơi tiện, còn bao nhiêu không ở đâu mà không phát cho nên nói nhiều, Bối xả thắng xứ phần nhiều phát thân như ý thông, chuyển biến tự tại, đã so sánh tốt xấu Đắc thắng tri kiến, tâm thắng được sắc cho nên chuyển biến mà được tự tại, nhiều nghĩa như trước; kế nói về thông minh, nói thảng như chẳng phải vô lậu minh: Trong ba minh dễ phát, còn hai định chẳng phải vô lậu, ý hữu lậu như trước đã phân biệt, trong quyển bảy đã phân biệt rộng, cho nên trong đây chỉ được hai minh năm thông. Minh là thắng trong thông, sở phát đã tế gọi là minh, thật chưa đắc minh, huống chi là vô lượng ở sau hợp, trong mỗi thông đều có năm chi, ở đây nói lược, nên nói trong mỗi thông các thứ năm chi, do thông nhiều hơn các thiền.

Chánh nói tu quán, chặng giữa ban đầu nói ý, nói tham chấp thiền vị, v.v… trong kinh ấy vốn bác bỏ Bồ-tát trụ thiền, không thể lợi ích chúng sanh, nghĩa phải ở ràng buộc, nên nói do phương tiện sinh là Bồ-tát giải, nay cũng nêu bày, được chín thiền trên không thể quán sát khiến thành cõi Phật, tùy thiền thọ sinh, nầy thì tự thiếu xuất yếu, làm sao có thể lợi tha, huống chi là nhờ thiền mà khởi sáu pháp giới, dụ cho dưa chuột thật có lý do.

Kế là tu quán, chặng giữa ban đầu nói cảnh nghĩ bàn, trước dùng dưa chuột thì dụ thiền là lý do mười cõi, do được thiền nên nương vào thiền sinh lỗi sinh đức, nên có mười cõi khác nhau khác nhau, cho nên đắc thiền phải nên quán sát, làm thành Nhị thừa còn phải quán sát, huống Vô thượng thừa, nên nói quán sát mười ý. Kế ban đầu tuy ở sau chánh, giải thích chặng giữa, Tứ thiền Tỳ-kheo đến hỷ căn là cõi địa ngục.

Phi ly là súc sinh, danh lợi là cõi quỷ, thắng ý đọa ngục như khéo léo nêu ra hai độ trong đó nói.

Bàng hỷ căn, bởi chấp ở sự thiền căn bản mà chê bai đại hóa. Phi ly là trong Đại luận quyển mười chín, như quyển bốn có giải thích, hoặc dụng thiền quán huân mười điều thiện, v.v… Hai cõi thiền trên, hoặc huân tánh giới, hoặc huân vô tác, nay lại từ huân tánh thiện giảng nói cho người nghe, do giới vô tác đến giải thoát, hoặc căn bản chưa phát tức chỉ cho dục thiên, do vì nghiệp thiện, ở trong dục thiên Không Cư bốn Thiên, do thô tế trụ, v.v… huân mười điều thiện, như vậy mỗi tiết khác nhau gọi là thượng giới nghiệp, văn thiếu Tu-la chỉ là lược, vì tu thắng tha, v.v… đại ý nên biết, như đại thông đến một trăm tám mươi, v.v… kiếp ấy các Phạm thiên đến nay không đến, tức giới gấp và người được thế thiền thừa rộng, ba ác tức thừa giới đều rộng, nên biết các Phạm đến: Tuy được thế thiền thừa giới đều gấp, nêu bày xưa đều rộng và thừa rộng, nên nói hiểu rõ không có một người thấy Phật được ra khỏi sinh tử. Nếu chuyên tu bất tịnh, v.v… đi đến pháp giới Thanh văn, nói nương vô lậu thiền như chín tưởng, v.v… nên được cõi Thanh văn. Đã nói, v.v… Là đẳng Đặc thắng thông minh và đại bất tịnh, v.v…, do Đặc thắng thiền bao gồm hữu lậu, nên không nêu ban đầu. Nếu quán đến pháp giới Bồ-tát, lại làm hai nghĩa để giải thích.

Nếu y theo năng quán phá tệ biên mà nói gọi là giới Bồ-tát, hoặc y cứ đủ bốn đế nói gọi là giới Thanh văn, văn đã đủ cả hai nên nói cũng là giới của Bồ-tát sáu độ. Lại thiền phải bỏ đi nói riêng giới của Bồ-tát sáu độ, trong bốn đế trước tuy liền phá tế thành nghĩa sáu độ, nhưng thành pháp giới Thanh văn, chung tưởng phá tế, Bồ-tát nương thiền biệt biệt phá tế. Lúc bấy giờ trường hàng xa lại thêm hoằng thệ, nên lại nói riêng Sáu độ Bồ-tát. Nếu vậy, cả hai gồm giải thích ý nào có khác Thanh văn?

Đáp: y theo xuất khổ biên thì thuộc Thinh văn, y theo bi thệ biên tức thuộc Bồ-tát, nếu giải thích riêng là y theo đây nên biết, nương hai pháp trước bao gồm giải thích nghĩa tiện cho nên lại giải thích Bồ-tát, lại quán thiền là nhân duyên, hai giáo Duyên giác giới, vì sao vậy? Vì đã không sai biệt, nói sinh và vô sinh khác nhau, chỉ nói nhân duyên. Lại trong văn đã nêu bày ở sau Bồ-tát ba tạng, Thinh văn, trước Thông giáo Bồ-tát Thinh văn, trong văn ba tạng ở trước, lại chưa nói Duyên giác chỉ nói hai thừa Thinh văn, Bồ-tát. Trong Thông giáo nói, v.v… Là cũng đồng chấp Duyên giác.

Kế Biệt giáo: Là trong văn ba đế tuy đều nói tức, y theo kế nói tức chẳng phải nói dụng tức, tên tức đã lẫn lộn nên phán xét riêng mà nói mười cõi Tứ thiền có sinh có diệt, vì sao ở sau giải thích tướng sinh diệt có văn năm tiết, hoặc ban đầu sinh sáu diệt bốn, hoặc sinh vô sinh cộng diệt sáu cõi, thì không được nói vô sinh diệt bảy nay văn lại từ truyện truyền diệt bên, nên từ bảy pháp giới vô sinh diệt, cho đến nhất thật khéo độ diệt chín pháp giới, từ thứ bát trở lên xoay vần chỉ là diệt nhất pháp giới, do trước như một cho nên nói diệt bảy cho đến tám chín. Thành vương hoặc nhập chứng đạo không còn có sinh diệt, đồng quy về nhất thật. Lại trước tuy nói sinh sinh rồi lại diệt, hoặc đến thứ mười thành vô sinh diệt, cho nên các pháp Địa tiền hoặc đến Sơ địa, nhiếp ngọn về gốc, đồng một vị mặn, đến nỗi khiến sự thiền đến hội thật nầy, xét vị nhập thật không cần đổi đường, nhiếp thành Sơ địa cho đến quả đức kết thành năm hành, trong đó nói nêu tóm tắt đến hạnh trẻ thơ vốn là thứ lớp năm hạnh, đến Sơ địa Vương Tam-muội đều thành một pháp không thể nghĩ bàn, nói chín pháp giới định tuệ. Bồ-tát cũng ở trong chín cõi, nên nói chín cõi, lại ở trong chín cõi đều tu ba học, duy ở địa ngục dù không hiện hành, cũng dễ phát tập, đến nầy gồm chung vào năm hạnh, phạm hạnh do từ bi làm thể, không được nói riêng còn bao nhiêu như văn, chỉ là một hạnh mà lập năm tên, một năm tướng tức chẳng phải một, chẳng phải năm, gọi là một năm hạnh, vẫn do bổn nhân cho nên thành thứ lớp. Kế do năm hạnh nầy sinh mười công đức, là y theo thứ lớp nói, do năm hạnh đầy đủ được nhập Sơ địa, nên nói năm hạnh sinh mười công đức. Sơ địa tức là con đường thứ nhất cuối văn năm hạnh tuy nhiều lần giải thích công đức thứ nhất, chính là nhiều lần nói về tướng công đức Sơ địa, cho đến thứ mười đem so sánh Thập địa, hoặc làm giải tổng biệt. Bắt đầu từ Sơ địa đến địa thứ mười, hằng đủ năm hạnh và mười công đức, mười đức đối địa lại rõ ràng, như trong Thích Tiêm có nói, kế là tên ở sau kết thành tư nghi; kế nói trong cảnh không thể nghĩ bàn. Nói vô lượng định tán, là nói một niệm thiền tâm đủ mười cõi định tâm, vì sao ở sau giải thích, nêu chưa biết pháp tánh thì mười cõi chung tán, nếu hiểu pháp tánh mười cõi chung định, định tán như thế chẳng phải mê chẳng phải giải, nên biết một niệm định tán không hai, pháp tánh vô minh chẳng đồng chẳng khác, gọi là không thể nghĩ bàn, tuy siêu vượt ở sau giải thích về pháp tánh vô minh định tán tức lìa, v.v… Nhị thừa chẳng biết được, Nhị thừa không biết cũng thuộc về thường tình, cũng nên nói Bồ-tát ba giáo đều không thể biết, lý tánh vốn vắng lặng nên nói siêu việt, từ vô thỉ chưa từng hiển bày nên nói chẳng lìa, trong kinh nói ở sau dẫn trong kinh để chứng minh, tuy tức ở sau giải thích kinh, diệt hết vốn là tiểu tông sự định, trong văn kinh đã nói tức chúng sinh, cho nên không được dùng Tiểu thừa mà nói tức thị, phải biết tức chỉ cho tâm tánh của chúng sinh, lý vốn diệt hết nên bất phi bất thị, vì sao ở sau chuyển giải thích, lý tuy vốn diệt, hoặc do lý nầy mong ở chúng sinh chẳng phải tức chẳng phải lìa tánh cũng là vô tánh, làm sao có chúng sinh, sợ mê lý cảnh nên chưa có thỉ phi, e phàm lẫn lộn Thánh nên chưa có thỉ phi (bắt đầu đúng), vì bất tức nên chưa bắt đầu dùng, do chẳng lìa nên chưa bắt đầu sai. Nói chưa bắt đầu, v.v… nghĩa là từ vô thỉ, v.v… trong đây nói lược nhưng nói bắt đầu, tức từ vô thỉ chưa đúng từ vô thỉ chưa sai, nên nói không tức không lìa, cho nên phải dùng sáu tức để xét vị, sáu cho nên bất tức, tức cho nên chẳng lìa, thường tác là quán, tất cả diệu định không ngoài chúng sinh. Kho lượng như hư không: Là hiển bày rốt ráo chỉ có Phật mới liễu ngộ được, không xen lẫn các thứ độc, như phát tâm thứ năm ở trước đã phân biệt. Trong phẩm an tâm nói khéo léo, v.v… tức sáu mươi bốn lần, hoặc quán bỏ nói không thứ lớp ba chỉ ba quán, nương tên trong hiển thể ba chỉ ba quán, mỗi chỉ quán ba đế đầy đủ. Như trong thể chân nói hai bên vắng lặng, phải biết ba đế đều vắng lặng gọi là thể chân, nên nghĩa thể chân không đồng với thứ lớp thể chân.

Trong Quán không nói chiếu pháp tánh tịnh, phải biết ba hoặc là không thanh tịnh, chiếu ba đế không gọi là không quán, sơ chỉ sơ quán cũng đủ ba đế, còn hai chỉ quán chỉ theo ví dụ nên biết, vì muốn thức biết chỉ quán không thể nghĩ bàn.

Không biệt mà biệt, cho nên ban đầu quán chỉ nói tức không giả, nói tức không tức giả, trong đó mới đủ ba, sơ liên quan đến thứ lớp nên sau kết nói ở một niệm tâm, vì phá hai bên gọi là một, gọi là trung, v.v… thể ba đế vốn không khác một ba trung biên, y cứ phá hai nên gọi là một, vì phá bên nên gọi là trung, vì phá Thiên nên gọi là Viên, vì phá sinh diệt nên gọi là vắng lặng, vì phá thứ lớp nên gọi là nhất tâm, lý mầu thật không khác nhau như vậy, từ ý nào mà không ngộ. Y theo thiền trị tế, sáu món trị khác nhau rộng như văn trước, vị mê đắm mười thiền mong lý chân đế cũng tự là tế nên nói tùy thiền thọ sinh, huống mong lý mầu mà chẳng phải tế ư?

Hỏi: Chín tưởng trở đi đã nói là vô lậu, tạo sao gọi là Tế?

Đáp: Đây chỉ có thể lấy vô lậu làm duyên, chỉ là vô lậu cũng là trung chướng, huống chi đối với duyên và với duyên sinh, nên gọi là Tế. Hoặc nhiều lần giải thích, trải qua mỗi thiền mỗi vị, đều phải biết tướng sáu tế, đều dùng sáu vị trị mà trị các tế, cho nên dùng không để bỏ mười thiền, gọi là San, trong đàn cũng xả mười cõi y chánh, vì sao chỉ sự tướng mười thiền mà thôi, hoặc chấp thiền vị cũng phá không giả đạo cộng tự tại các giới, huống chi lại tùy đạo giới cụ túc ư? Còn bốn pháp tế y theo ví dụ nên biết. Phạm Thiên Hắc Xỉ: Là từ thiền sinh ra, trong đó cũng tự có sân, huống chi là phát bạc thiền làm sao khỏi tức giận, đều nói: Dươmg khổ đáo, v.v… thể thiền là tế, còn phải bị khổ, huống chi là phiền não nghiệp ma buông lung mà không hối hận, người đời tự cho mình là vô tội, không cần sám hối lỗi lầm, trong mỗi pháp trị đều dùng sự độ trị ở sự tế, khiến sau lý độ, nên nói phá tùy đạo giới, v.v… kế trong kết đủ như trong quyển bảy sự lý nhiếp pháp, hành nhân quán pháp cùng tột đến đây, bắt đầu từ cảnh quán cuối cùng đến trợ giúp trị quán pháp đã đủ, ở sau ý ba lần như văn đã nói. Lại kế vị là chánh ngăn lẫn lộn, còn hai pháp sách tấn quán cạn khiến cho sâu, phải biết đều chẳng phải thể chánh quán, còn các văn y theo mong ấm nhập lẽ ra cũng thấy được.

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.