Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

CHỈ QUÁN PHỤ HÀNH TRUYỀN HOẰNG QUYẾT

SỐ 1912

QUYỂN 04

Sa-môn Trạm Nhiên Tỳ Lăng đời Đường soạn.

PHẦN 1

Giải thích hai mươi lăm phương tiện. Trước là nói chung hai thứ Tiệm Đốn. Kế nay trở xuống là mới bắt đầu nói riêng. Văn trước nói chung về Đốn phương tiện: Một là giải thích tên gọi là khéo léo, hồi hướng khiến thành nhân tốt nên gọi khéo léo. Lại thiếu dẫn chứng và công năng chưa chỉ rõ hai mươi lăm tướng nên gọi là Chung. Nói khéo léo, là từ mới phát tâm quyền thật chẳng hai, lấy chẳng hai giải mà điều đình sự nghi, làm cho một hạnh, tất cả hạnh thành ba quỉ chân giải, một phát tất cả phát vào Viên sở trụ, công do khéo léo. Đại luận trở xuống là kế dẫn luận chứng tướng khéo léo, dùng chủng trí dắt dẫn mảy may điều thiện chẳng dừng, ở trên cực quả của Nhị thừa. Luận quyển chín nói: Tiểu thiện có thể làm Đại quả là như cầu quả Phật, khen ngợi một kệ, niệm một Nam-mô, đốt một nén hương, dâng một bông hoa, hạnh nhỏ như thế sẽ được thành Phật. Lại quyển ba mươi hai hỏi: Vì sao Bồ-tát lại ít? Đáp: Phàm thí ở tâm chớ không phải ở việc. Bồ-tát hoặc nghèo, hoặc nghe người khác nói thí không nhiều ít, hoặc sợ lấy nhiều tốn nhiều tiền của mà người ta mất tâm lành hoặc gây buồn phiền cho chúng sanh. Vì não loạn chúng sanh mà cúng dường Phật thì Phật không cho. Thế nên ít thí mà hồi hướng Bồ-đề. Cho nên biết khéo léo gọi là phương tiện, do hồi hướng nên được sức trí dẫn dắt. Sở dĩ trở xuống là văn nói hai mươi lăm pháp rất Viên phương tiện. Chánh do hồi hướng và trí dẫn dắt. Lại phương tiện trở xuống là lại giải thích. Vì khéo hòa hợp nên gọi là phương tiện. Nên vì quả lập nhân, nhân lập sẽ khắc quả, nên gọi là nhân có quả, gọi là hòa hợp chứng quả. Đại Phẩm trở xuống là dẫn chứng hòa hợp. Đã vô lượng các pháp mới thành nhân Phật, cho nên hòa hợp mới gọi là Phương tiện. Cho nên trở xuống là văn hai mươi lăm pháp. Hòa hợp điều đình mới được thành nhân Viên Sơ trụ chứng quả Diệu giác. Nếu y trở xuống là nói Tiệm phương tiện. Hỏi: Trong bốn có viên, vì sao bốn thứ này gọi chung là Tiệm? Đáp: Trước trải ba giáo nên được gọi là tiệm. Song, viên thứ tư tức đồng sơ đốn. Bốn con đường chung này đều dùng nội ngoại phàm làm phương tiện xa gần. Chỉ nêu trước sau thì khoảng giữa sẽ biết. Kế nói văn này hai mươi lăm pháp ở trước vừa nêu phương tiện xa gần của Viên giáo, lại nói Phương tiện là dùng năm phẩm làm phương tiện, nên trong sáu tức là danh tự tức. Nên nói giả danh, cho nên biết ý nay đều ở trong nội ngoại phàm của bốn giáo, làm phương tiện xa chung của bốn giáo. Nói mười thứ, tức là mười cảnh, hoặc quán hoặc phát vào phẩm chẳng xa, nên gọi là gần. Hai mươi lăm pháp cách chân rất xa nên gọi là. Hỏi: Âm là chánh tu chín cái kia đợi phát, vì sao lấy đây mà gọi Phương tiện? Đáp: Nay nói mười cảnh đều là phương tiện là gồm sở quán, nếu là năng quán mới thuộc chánh hạnh, cho nên tám thứ trước chỉ ở phàm phu, hai thứ sau gọi là phương tiện của bậc Thánh. Cho nên biết mười cảnh đều là phương tiện gần của viên hạnh. Nêu ba giáo trước hơn kém khác nhau. Biệt ở Bồ-tát cảnh hai giáo chỉ quán, chung chỉ quán một, ba tạng toàn không, chỉ quán chín cảnh, người Nhị thừa chung chỉ quán tám cảnh rưỡi, Nhị thừa ba tạng thì quán toàn tám cảnh. Nói chung tuy thế, ý nay ở Viên ngang dọc trở xuống là nói công năng cảnh quán. Mười cảnh ngang dọc như thứ năm đầu mười song cùng phát. Do cảnh phát nên pháp quán ngang dọc lại gọi ngang dọc. Đến quyển năm lại sẽ nói rõ quán tướng ngang dọc.

Ý nay lại nói hai mươi lăm pháp. Trước nêu năm khoa, kế là sanh khởi, tức dùng tên Sơ trụ làm chỗ ở, từ Sơ trụ trở xuống không phải văn nay. Cho nên Văn nói: Công đức vào trụ nay chẳng nói. Ví như trở xuống là nêu thí dụ năm khoa. Trước thí dụ đủ duyên, tức dư trở xuống là dụ trách dục. Tuy tức trở xuống là dụ bỏ cái. Thân tuy trở xuống là dụ năm việc. Thượng duyên trở xuống là dụ cho năm pháp. Chỉ quán trở xuống là hợp, hợp đủ năm khoa lại nêu thí dụ mà thiếp hợp, thế gian trở xuống là kết khuyên. Thế gian thiển sự tức là giới nội thiền định, còn phải hai mươi lăm pháp làm phương tiện. Cho nên nói chẳng phải duyên thì chẳng hợp, huống chi là đạo xuất thế viên đốn. Y cứ sự hành quán v.v… là giải thích mỗi pháp trong hai mươi lăm pháp đều mượn sự làm quán, để sanh viên giải. Nói Điều thô v.v… là nếu gặp hai mươi lăm pháp này thì hai mươi lăm pháp dùng làm năng điều, lại y cứ hai mươi lăm pháp làm thô năng điều. Lại có hai ý chung riêng. Nếu sanh khởi năm khoa mỗi khoa đều là Điều thô kiểm tán thì tức là ý chung. Nếu nói riêng thì ba trước là Điều thô, hai sau là Kiểm tán năm pháp này trở xuống là dẫn chứng. Năm pháp chỉ là năm khoa, nói năm khoa này chỗ làm có y cứ.

Phần giải thích Thiền Độ của Đại luận có hỏi rằng: Vì sao phương tiện được thiền Ba-la-mật? Đáp: rằng: Tức năm sự (năm dục) trừ năm pháp (năm cái) hành năm pháp (đồng tên) đủ duyên sanh ra Thiền kinh. Cho nên dẫn Thiền kinh nói là đẳng, bởi thầy tức là thiện tri thức. Điều năm sự tuy người lập hạnh là cần yếu nên khiến dùng, năm khoa này văn năm nghĩa hai, tức là sự lý. Lý lại có hai nghĩa là thứ và chẳng thứ, ý chỉ ở một là chuyên chánh quán.

Kế ý chương mà giải thích, trước nói năm duyên, hai thừa Đại Tiểu dùng giới làm gốc, cho nên trước nói. Nội cấm tuy nghiêm nhưng giúp cơm áo, tiến tu định tuệ phải nhờ rảnh rang. Chỗ tuy rảnh rang giả dứt các duyên. Bốn duyên tuy đủ, khai đạo do thầy, đủ như trong Thiền kinh. Lại năm duyên này văn năm nghĩa năm, ý chỉ ở một. Ý có gần xa gần tức là khai đạo, xa tức là chánh hạnh. Lại trong năm văn đều có hai nghĩa, đó là lý và sự. Lại bốn chương này văn bốn nghĩa hai, ý chỉ ở một. Nói nghĩa hai, là Bổn chuyên tịnh và Sám tịnh. Hai giới sự lý đều có hai thứ này. Lý tịnh ba đức gọi là Bổn tịnh. Quán sự tức lý gọi là Sám tịnh. Nêu tên giới là đủ như trong Đại Phẩm Niệm Giới và Đại luận quyển hai mươi mốt đồng với kinh Hiền Hộ. Đại Kinh Sớ v.v…là tên khác mà nghĩa đồng. Phẩm mười Vô Tận Tạng trong kinh Hoa Nghiêm cũng nêu mười giới, nhìn đây vẫn thiếu. Đó nói: một là giới lợi ích chúng sanh; hai là chẳng thọ giới ngoại đạo, chỉ thọ Tịnh giới của Phật ba đời; ba là giới vô trước, chẳng hồi hướng ba hữu; bốn là giới an trụ, chẳng phạm tất cả giới; năm là giới chẳng tranh cãi chẳng phải trước chế chẳng còn tạo lập, chẳng do giới này mà não loạn chúng sanh; sáu là giới chẳng não hại, chẳng dùng búa chú mà não hại chúng sanh; bảy là giới chẳng tạp, lìa sáu mươi hai kiến, chỉ quán duyên khởi; tám là giới lìa tà, chẳng thực hành tướng trì, muốn cho người khác biết bên trong không thật đức mà đối hiện bên ngoài có đức; chín là giới chẳng ác, thấy người phá giới chẳng khinh bác bỏ; mười là giới thanh tịnh, bỏ mười ác giữ mười điều lành. Trong mười thứ này thì hai, bốn, sáu, tám, mười thuộc về luật nghi. Ba, bảy thuộc tùy đạo không dính mắc. Năm chín thuộc do xuất giả, còn một thì chánh lợi tha. Bồ-tát vốn lấy lợi ích làm gốc, cho nên mười thứ này lợi sanh đứng đầu. Kinh ấy có sự và không giả, vẫn thiếu tự tại, vào trung toàn không. Các kinh nêu giới, nói mười nhiếp hết. Luận chẳng thiếu v.v… nghĩa gồm tánh chế. Lại trước dẫn luận giải thích tánh giới, do đây đối nói khách cựu ba học: Một là nói cựu ba học có không. Nói tánh tức là cựu giới, chẳng đợi Phật chế, tánh là thiện ác, nên gọi là Tánh, cùng cựu định tuệ gọi là cựu ba học. Cựu giới chung với mười giới căn bản. Luận mười giới tức là khách ba học. Vì sao? Vì ba giới trước tức là khách giới nghĩa gồm cả cựu. Kế một tức là khách định, kế sáu tức là khách tuệ. Trước dẫn luận hai văn hoặc tám hoặc mười, đều là tánh giới. Cái gọi tám, là rượu phòng ý địa, tức là ba nghiệp sau của mười, số khác mà nghĩa đồng. Phật bất xuất trở xuống là cựu định. Nói tám thiền là Biệt mà nói bốn thiền bốn không. Nếu nói theo thông nói hoặc nói tám thiền, hoặc nói tám định. Định là đối với dục loạn, thiền cũng gọi là tịnh, cho nên các Thánh giáo tùy dùng bất định. Cựu y v.v…, Đại Kinh nói: Cựu y tức là ngoại đạo, thuốc sữa tức là tà thường v.v… Thường đồ trở xuống là phá giải thích của người xưa. Người xưa chỉ lập khách giới, khách tuệ mà không lập khách định, cho nên dùng giới tuệ mà hỏi định. Nay dùng trở xuống là giải thích khách ba học. Trước giải thích khách giới, trước nêu, kế nói chỗ phát khác nhau. Trước nêu ba qui, tức dùng Tam bảo của ba tạng làm ba qui. Cho nên Câu-xá chép: Mọi người sợ bị bức hiếp nên phần nhiều về nương các núi, vườn rừng, cây cao, tháp cả, v.v… chỗ nương tựa này không tôn quý không thù hơn, vì chẳng nhân nương tựa (qui y) này mà giải thoát các khổ. Các người qui y (nương tựa) Phật và Pháp Tăng, trong bốn Thánh có thể dùng tuệ mà quán sát thì qui y này là thù hơn là tôn, quý vì nhờ qui y này mà giải thoát các khổ. Theo ý nay chỉ dùng ba mươi bốn tâm dứt kiết làm Phật, bốn đế sanh diệt làm pháp, học Vô học làm tăng. Nếu theo Bà-sa, Câu-xá giải thích Tam bảo thì ý hơi khác. Lược như Thích Châm và Luận Văn v.v…, nay chẳng rảnh mà luận.

Năm giới là bốn tánh và một giá (ngăn). Cho nên Câu-xá chép: Trong giá chỉ lìa rượu là giữ các luật nghi kia. Nếu luận chế trên tánh mình đều thêm một chế tội, hai trăm năm mươi giới là chế giáo mãn, gọi là hai trăm năm mươi, chung với trước mà nói đều gọi là luật nghi, nên nêu căn bản mười thứ khác nhau. Tăng kỳ bốn thọ, nghĩa là tự nhiên thiện lai năm chúng, mười chúng, năm phần, năm thọ, nghĩa là tự nhiên thiện lai ba qui, tám kỉnh Yết-ma, tứ phần cũng năm, nghĩa là lai thượng qui kính yết. Lại có các luận như đa-già kiến mẫu nói thọ khác nhau. Văn nay mười thọ chánh nêu mười tụng, gồm dùng nghĩa của Bà-sa Sư nên có một, hai tướng khác nhau. Luật Thập Tụng trước nói tự nhiên. Nay nói Phật gọi Thiện Lai Tỳ-kheo thì tự nhiên đắc giới cụ túc, tức là chỉ giới tự nhiên trong thân La-hán. Y theo văn các bộ thì Thiện Lai đứng đầu trong Tứ phần, lại không nói tự nhiên, tức văn Thượng pháp trong Ca-diếp. Văn sau này tự có Thiện lai, cho nên biết văn trước là tự nhiên. Nói tự thệ, là trong Tứ Phần gọi là Giáo thọ cũng gọi là Thượng pháp, tên khác mà ý đồng. Tám kỉnh, trong luật Thập Tụng gọi là tám trọng pháp, chỉ gọi tám kỉnh. Biên địa thứ năm nói: Nếu theo Tứ phần chỉ là điều ngoại Bạch cây ở biên phương, tăng số khó được khai năm người thọ. Nay theo phẩm Câu-xá Nghiệp dẫn Bà-sa Sư lập mười thọ rằng: Thú tám thọ giả thứ năm luật sư, nghĩa là biên địa ít người trong năm người thọ cần một người trì luật Yết-ma, tức lấy Yết-ma sư làm thứ năm. Ở giữa nước mười vị tăng, là luật Thập Tụng gọi Yết-ma, cũng chỉ nói theo. Câu-xá nói mười chúng nên biết văn nay chẳng chuyên một bộ, đã biết tướng trạng đồng khác ra sao. Thiện Lai là Phật khiến Thiện Lai Tỳ-kheo. Sau lời nói ấy thì râu tóc tự rụng, ca sa mặc trên mình, bát ôm trên tay. Cũng như Tỳ-kheo năm hạ biết pháp. Tự thệ, Ca-diếp nói: Thế giới có bao nhiêu người thành La-hán thì tôi đều qui y. Sớ dẫn nhiều luận nói: Phật là thầy ta, ta là đệ tử. Tu-già-đà là thầy ta, ta là đệ tử, tức thì quả giới đều được. Thấy đế, là trước được sơ quả, thấy điều chưa từng thấy. Đế tức đế lý, xưa thấy đế, nay được thấy đế, khi thấy đế phát thì quả giới đều được. Tám kỉnh, là Thế tôn chẳng cho người nữ xuất gia thọ giới. Khi ấy Ái đạo bên tự cạo tóc đứng bên Kỳ-hoàn. A-nan xin Phật, Phật bảo A-nan xa nói pháp kỉnh, nếu làm được thì sẽ được giới cụ túc, tức là trăm mắng nêu thọ sám thỉnh an cư tự tứ khiển tín: vì ni xinh đẹp, bị giặc gây trở ngại Phật khai cho sai người đáng tin ni bổn pháp xong, đến chỗ Đại tăng, Đại tăng bỉnh pháp khiến ni trở về bạch với tăng khiến ni được giới cũng gọi là mười hai lời, ba bạch bốn. Luận nghị Sa-di bảy tuổi nghị luận với Phật. Phật hỏi năm ấm là một hay khác trí hơn người hai mươi tuổi, nên Phật cho thuyết giảng. Câu-xá nói Phật hỏi nhà ông ở đâu? Đáp rằng: ba cõi không nhà, xứng với tâm Thánh. Phật khiến Yết-ma cho thọ giới cụ túc. Thiện Lai như trước đã giải thích. Trong đây đã có Thiện Lai nên biết trước là tự nhiên. Khác nhau các thọ gá vào sức trí của mình nên gọi tự nhiên. Cũng không phải hoàn toàn không nhân duyên, tức dùng Phật pháp mà làm duyên v.v…

Ba qui: Phật độ năm người rồi thì Tam bảo đầy đủ. Phật bỉnh Tam qui, cũng khiến Tỳ-kheo các nơi tuyên hóa dẫn đến chỗ Phật. Sau do thất tín, Phật khiến Tỳ-kheo tùy chỗ đều bỉnh pháp, qua sáu năm rồi Phật chỉ có ba qui, lập Yết-ma mà thọ giới, cho nên trong đó có mười và năm khác nhau. Khiển tín luận nghị v.v… khác nhau. Nói Yết-ma, Hán dịch là Nói sự. Văn nay chung tục, đây chẳng phải tông Luật bộ, nên không nói rộng. Hỏi: Nay nói diễn môn sau cần tiểu kiểm mà nói mười hạng người được giới. Đáp: Như trong Niết-bàn chỗ nào đều phò luật. Nay cũng như thế. Tiểu là phương tiện, cho nên biết Bồ-tát xuất gia sáu hòa mười lợi đồng với Thanh văn. Sáu độ bốn hoằng khác với tiểu hạnh. Nếu Bồ-tát tại gia thì ba qui năm giới đến bình đẳng, huống chi Phạm Võng tám muôn oai nghi, bảy chúng đều giúp, năm đường đều đủ. Đâu cho phá giới gọi là Phật thừa. Cho nên dùng bốn câu thừa giới mà đối phân biệt. Tánh giới trở xuống là phân biệt ba học vô tác hữu vô. Trước giới vô tác là tánh giới chẳng thọ nên không có vô tác. Nếu thọ giới trở xuống là nói thọ được giới, tức có vô tác. Cho nên trên tánh tội thêm trái vô tác. Các giới xuất gia vô tác sanh riêng cho nên trì giữ thì công bằng hư không, phá bèn tùy đối một chi một cảnh, nêu trì khuyên thọ thêm tọi trái phạm. Huống chi phạm rồi theo pháp mà trừ thì lại được thanh tịnh. Cho nên nói: Hoa Chiêm Bặc tuy héo cũng vẫn hơn các hoa khác. Các Tỳ-kheo phá giới vẫn hơn các ngoại đạo. Như cắt cỏ trở xuống là lược nêu tướng đồng khác của giả tánh như cỏ nuôi đều có tội trái chế, làm sám Hối Đơn Đề thì hai giá đều diệt. Song ở hại súc vẫn có tánh tội cho nên dẫn luận mà giải thì đền mạng cũng còn đó. Hỏi: Tánh tội chẳng mất vì sao phải sám? Đáp: khỏi di chế rồi trì tâm liên tục. Nếu quả vị rộng đến thì làm nhân lợi vật, đâu đồng với di mà đọa trong ba đường, thường là hoàn, là phục, là trở lại (đền), cho nên Tứ phần trở xuống là dẫn chứng. Nói biên tội tức là tánh bốn trọng và có thọ năm mươi cho đến giới Tỳ-kheo sát nhân, đạo năm phạm dâm ba đường nam nữ đạo tục, không phải vợ mình, và không phải chỗ. Vọng đối nhân thú gọi là quá nhân pháp phạm bốn thứ này rồi năm mươi tiến cụ Tỳ-kheo xả rồi, lại lấy làm câu hỏi, người bên Phật pháp nên gọi là biên tội. Trọng ngăn luống thọ cho nên phải hỏi. Tội này v.v… là giải thích ý biên già. Nếu trước chưa từng thọ phạm rồi còn chướng năm giới, tám giới, huống chi là cụ giới ư? Huống chi thọ năm v.v… mà phạm bốn trọng ư? Ở đây y theo kinh Phương Đẳng Đà-la-ni và kinh Hư Không Tạng Bồ-tát mà nói nghĩa biên tội. Đa luận cũng nói; Phạm trọng trong năm giới, tám giới, mười giới thì chướng giới cụ túc. Cho nên Nam Sơn sao chủ y theo đó mà thừa dùng. Tướng Bô đối nội tuy khác ở đây, nhưng Nam Sơn có giáo để làm bằng. Đại sư Trí Giả y giáo mà thừa dụng. Nếu đạo tục phạm rồi mà sám hối lại muốn tiến cầu giới thanh tịnh thì đủ như các kinh Phương Đẳng, Chiêm Sát v.v… Kinh Chiêm Sát quyển thượng chép: Ở đời vị lai, tại gia xuất gia muốn cầu tịnh giới, phạm tội tăng thượng mà không được thọ, thì phải tu sám pháp, đủ như trong văn kinh. Cho nên phải biết tánh giới thanh tịnh làm nhân các giới, cựu gọi là tác, vô tác. Thành Luận nói Giáo vô giáo, Tân gọi là Biểu, vô biểu. Tác là làm, Giáo là dạy, Biểu là bày, tên khác mà ý đồng, kia đây không còn. Vô tác một khi phát thì không bỏ mất duyên, trọn hết cả đời thường khởi tương tục. Như khi mới thọ, tác bạch xong rồi sau mới vào tâm khác còn gọi được giới. Nên Thành Luận nói: Nếu người vào tâm bất thiện, tâm vô ký cũng gọi là trì giới. Luật Sớ nói: Bốn tâm ba tánh đầu cuối thường có. Ba tánh thêm vô tâm là bốn v.v… Rộng nói tác, vô tác tướng trạng đồng khác, không phải ở đây có thể nói hết, đủ như trong Sớ Sao. Tiểu thừa trở xuống là y cứ Đại thừa, Tiểu thừa để nói ba nhóm mà nói vô tác khác nhau. Kinh luận Tiểu thừa đều lập ba nhóm tức là sắc, tâm, phi sắc phi tâm. Nói tâm vô tận, là ý nói tâm tánh xem là giới thể, như Tiểu thừa giới thể là tụ thứ ba lại y theo kinh bộ, như trong Hữu bộ lại cho sắc là giới thể vô tác. Nhưng trong Đại thừa lấy tâm tánh làm giới thể. Nếu phát vô tác cũng y theo thân nghiệp làm giới mà phát. Tuy y theo thân nghiệp thể ắt ở tâm. Nếu trước Tiểu sau Đại thì tất cả chuyển thành giới thể vô tận. Nếu trước thọ đại, sau mới xuất gia, muốn ở trong số Đại Tỳ-kheo mà chẳng mất pháp Bồ-tát thì phải thọ lại luật nghi (thọ giới lại). Chỉ đối với tất cả phát được thân nghiệp thanh tịnh, phòng phi luật nghi, giới thể vô tác lại chẳng phát. Cho nên theo Niết-bàn thì năm thiên bảy tụ đều là luật nghi của Bồ-tát xuất gia. Lại nếu trước Tiểu sau Đại thì khai Tiểu hạ để thành Đại hạ. Nếu trước Đại sau thọ luật nghi ở Tiểu thì y Tiểu, ở Đại thì y Đại. Lý tuy như thế nhưng nơi chốn khác nhau. Cõi này Tăng Đồ chẳng phân biệt Đại Tiểu. Ở Tây Trúc chẳng thế một bề cách xa. Nhưng bổn y xuất thế thì Đại Tiểu đều hoằng, chỉ tùy vật cơ duyên mà chung cục ở đó. Đạo định vô tác, chọn kỹ ở luận v.v… cho nên kinh nói trở xuống là dẫn chứng đạo định, lại lấy luật nghi làm căn bản.

Hai là nói tướng trì. Trước là sự, kế là lý. Trong trước sự thì văn mười nghĩa bảy, ý ở chánh tu. Nói nghĩa bảy là bốn trước đều một, sáu sau thành ba. Nói về ba quán cũng có hai nghĩa, bốn, sáu khác nhau.

Bốn trước là nói sự, sáu sau nói lý mà nghĩa ở sự. Ý ở đây so sánh khiến biết cạn sâu. Trước giải thích chẳng thiếu tức trì bốn trọng. Nếu hủy trở xuống, là lấy phạm hiển trì. Nói Tỳ-kheo mất pháp, là đã phạm trọng rồi chẳng được làm tăng nữa. Đại Kinh chép: Tỳ-kheo phạm trọng rồi chẳng thể nẩy mầm hạt giống lành, như chặt cây đa-la. Chẳng phá, gọi tổn là phá còn hơn là thiếu. Cho nên vẫn ở tăng số sanh thiện. Nếu hủy trở xuống là lấy phạm mà hiển trì. Chẳng xuyên là tuy chẳng phá thiếu như cũng có xuyên, dịch là có thể bổ trị. Nếu có trở xuống là dùng phạm hiển trì. Chẳng tạp tức là sự định, có sự định thì nhậm vận trì được. Tuy trì trở xuống là lấy phạm hiển trì. Đại Kinh quyển hai mươi chín chép: Nếu có Bồ-tát tuy chẳng hòa hợp với người nữ kia mà nói cười đùa giỡn với họ, Bồ-tát như thế thành tựu dục pháp, phá hủy tịnh giới, ô nhục phạm hạnh, làm cho giới tạp uế, chẳng được gọi là Tịnh giới đầy đủ. Lại có Bồ-tát tự nói giới tịnh, tuy chẳng hợp với thân người nữ, chỉ nói cười đủa giỡn mà ở ngoài vách nghe tiếng vòng xuyến kêu thì gọi là Bồ-tát thành tựu dục pháp, cho đến chẳng gọi tịnh giới đầy đủ. Lại kế tự nói tịnh giới cho đến chẳng nghe tiếng vòng xuyến kêu, nếu thấy người nam rượt đuổi người nữ, nếu thấy người nữ đuổi theo người nam. Bồ-tát Như thế cho đến chẳng gọi tịnh giới đầy đủ. Cho đến tấu nhạc trời, rộng như câu đầu. Như trong luật Tứ phần, trì giới có bốn: Một là tặc giới hạn như nịnh nọt, lừa dối mà hơn người khác, tà mạng danh lợi v.v…; hai là tội giới hạn là sợ ba đường dữ; ba là phước giới hạn, muốn vui trời v.v…; bốn là đạo giới hạn, tức là giải thoát, trừ làm giải thoát ba thứ từ trước đến hạn cho ngày, như thế thời Xứ chi v.v… sợ chẳng phát giới. Dùng Trung đạo trở xuống cũng gọi là khai quyền. Đã được Trung rồi lấy Trung tuệ này mà dung tất cả pháp. Cho nên khiến mỗi hành vi cử chỉ đều là pháp giới. Cho nên nói Đại thừa Thức-xoa-ca-la-ni, Hán dịch là học, riêng ở thứ năm y cứ chung các thiên, nay đều khai thành Đại thừa. Cho nên Đại kinh và Thập Trụ Bà-sa đều chỉ thiên tụ nói rằng: Đại Bồ-tát trì giới cấm ấy, phải biết giới không Đại Tiểu, do người thọ tâm hẹn ấy thì Trung đạo khắp vào không giả và sự luật nghi, mới được gọi là đầy đủ trì giới. Niết-bàn năm chi v.v…, là trong Thánh hạnh ấy trước nói tự hành năm chi. Sau nêu nguyện khác mười giới. Đại Bồ-tát từ mỗi chi đều nguyện chúng sanh được mười giới cấm. Nói năm chi: Một là cụ túc nghiệp thanh tịnh giới, nghĩa là bốn trọng; hai là tiền hậu quyến thuộc dư thanh tịnh giới. Nghĩa là Thâu-lan-giá là quyến thuộc. Ở đây nói nhân lan làm phương tiện trước tội trọng. Mười ba Tăng tàn nêu ở sau tội trọng là hậu quyến thuộc. Nói dư là như giải thích ở sau; Ba là phi chư ác giác giác thanh tịnh giới, tức là Bất tạp định cộng giới; bốn là Hộ trì chánh niệm, niệm thanh tịnh giới, tức là bốn niệm xứ đạo cộng giới; Năm là Hồi hướng cụ túc vô thượng đạo giới. Phật, Bồ-tát trì các phàm tiểu không trì được. Hộ mười giới khác: Một là Cấm giới, hai là Thanh tịnh giới, ba là Thiện giới, bốn là Bất khuyết giới, năm là Bất chiết giới, sáu là Đại thừa giới, bảy là Bất thối giới, tám là Thuận theo giới, chín là Tất cánh giới, mười là Cụ túc các Ba-la-mật giới. Nay cũng dùng mười nguyện đối hạnh. Cho nên Đại Kinh mười giới ý đồng với luận. Năm chi lại khác với nguyện mười giới, khai hợp khác nhau. Ấy thời lại đem tự hành để nguyện cho người. Cho nên trong Huyền Văn dùng đủ nói mười để đối kinh mười và năm chi, đủ như trong Thích Châm nói Hòa Hội đồng khác. Thúc tiền trở xuống là xếp vị. Đã y cứ sự giải thích để nói một tâm, cho nên mười giới này là ối phàm thánh Đại Tiểu vị khác nhau Bất Tập Giới chép: Phàm phu nhập định thì trì được, là lại y cứ hữu tông, nếu cứ vào bộ khác tâm khác cũng được. Trí khen hạnh tự tại hướng người trì, cứ vào đây để nói Thập Trụ tức trì Tùy Đạo không dính mắc. Thập Tín chỉ trì luật nghi các giới tùy định cụ túc nói chẳng phải sáu độ, Bồ-tát Thông giáo trì giữ, là lại một lần phân biệt rằng: Đầy đủ đây là người đại căn tánh trì được, người Biệt có phần, cho nên chẳng phân biệt. Y cứ vào lý cũng chẳng phải người Biệt hạnh hướng trì giữ được. Chỉ là Sơ địa trở xuống mới trì được. Hướng xếp trở xuống là y cứ lý quán mà nói trì giới. Trước kết trước sanh sau. Tiên thúc trở xuống là chánh giải thích. Trong đây văn mười nghĩa hai, ý ở chuyển sự để tu chánh quán. Nói hai nghĩa, tức là cảnh và quán. Bốn và sáu như trong sự trước, nay ba quán ba và một chẳng hai. Nhưng mười giới trước đều là lý quán, tức là sáu thứ sau. Phân trương đối vị nên thuộc về sự tướng, huống chi là luật nghi chẳng tạp sẽ phân chia dụng. Cho nên nay lại y cứ vào một niệm tâm nói đủ mười giới, mà chẳng lạm tôn cực, chẳng lìa phàm tâm. Dùng bốn giới trước làm cảnh quán chung, vì sự lý của sáu quán tức nhau. Phải biết Thiên tụ chẳng thể thiếu một. Người đời khinh bác bỏ sự mà còn muốn ly sâú, xét biết quán này hư vô không có gốc. Đã thiếu cảnh quán, quán cũng không theo. Cho nên văn nay còn quán, duyên sanh một niệm tâm khởi làm nhân thiện ác. Do đây cũng phá chẳng thiếu, cho đến chẳng xen lẫn, huống chi chỉ quán trọng nghiệp và khinh cát của thân nghiệp ư? Còn quán tâm này tức là pháp tánh đâu quán thẳng ở nhân thiện ác ư? Cho nên văn nay khác ý với nó. Kế quán thiện ác trở xuống là quán giới tức hư không, dẫn Kim cương mà giải thích. Cho nên biết trở xuống là lược bày ý kinh. Tuy lược bày này chưa biết pháp và phi pháp là gì. Nay nói trở xuống là giải thích pháp và phi pháp, tức dùng phá kiến gọi là đều không. vì sao? Vì tuy phá ngã nhân chúng sanh thọ giả, giả không cùng thật cũng thấy là có, thì gọi là Pháp, nếu thấy là không cho đến thấy chẳng có chẳng không thì đều gọi là phi pháp. Y theo đây khởi cũng gọi là dính mắc, cho nên phải bỏ. Nếu chẳng khởi bốn kiến thì không có sáu mươi hai kiến. Cho nên nói đề phòng sáu mươi hai kiến có không, như trong Đại Phẩm mười sáu tri kiến, ngã nhân v.v… bốn thứ cũng ở trong mười sáu kiến đó, mười sáu cũng thuộc bốn thứ này. Bốn kiến này Vô Trước nói rằng: Ngã là chấp trong, nhân là chấp ngoại. Chúng sanh vì tiếp tục ở trước, thọ giả vì đến sau. Nếu y theo Đại luận mà giải thích mười sáu tri kiến rằng: Ngã là ấm giới nhập chấp ngã, ngã sở, hoặc tức hoặc lìa. Nhân tức trong ấm giới nhập gọi ngã là hành nhân, hành chung với thiện ác đều là hành giả. Chúng sanh là trong ấm giới nhập hòa hợp mà chấp có ngã sanh. Thọ giả, là trong ấm giới nhập mà chấp một kỳ báo hoặc dài hoặc ngắn, cũng rất giống với Vô Trước. Hai luận đều dùng ấm, giới, nhập mà làm chỗ chấp. Nay văn lấy chung bốn câu thật giả đều làm chỗ chấp, vì hay chấp có v.v… làm ngã nhân, vì đây hơi khác. Ấy thì gần là y cứ tùy đạo giới mà nói vì thuận văn kinh phá ngã. Ý kinh đã xa chỗ chấp cũng chung. Pháp và phi pháp đâu chỉ giả thật. Nhưng năng kế chỉ thành sáu mươi hai kiến mà thôi. Nếu nói chung thì pháp tức là diễn, phi pháp tức là Tiểu. Diễn còn chẳng dính mắc huống chi là tiểu ư? Lại pháp tức là Đại Tiểu, phi pháp tức là giả thật. Lại pháp là Đại thừa là hữu, phi pháp là Tiểu thừa, là vô. Cho đến phi hữu phi vô. Như thế đều gọi là kiến ngã nhân, cho nên cũng thuộc sáu mươi hai. Cho nên nói Đại thừa sanh trước cũng phải vô thường, huyễn hóa v.v… mà phá. Nghĩa tuy thế, nay lại theo Biệt. Trong trí khen nói biết tâm chẳng phải tâm, pháp cũng chẳng phải pháp, biết không chẳng phải không nên nói mà chẳng còn dính mắc chẳng phải tâm chẳng phải pháp. Từ không ra giả, lại ra khỏi giả của tâm pháp này. Cho nên nói Đạo chủng phương tiện ở chỗ không có mà lập tâm lập pháp, lập tâm pháp gia thật trong ba cõi, tức là vào giả của ái kiến. Giả đã lập rồi đối bệnh mà lập thuốc, gọi là nhổ bỏ. Nếu y cứ tự hành mà nói nhổ bỏ, thì Đại Kinh nói: Nguyện làm tâm sư bất sư, ở tâm muốn được Bất thối Bồ-đề, phải phát nguyện này. Tịnh Danh nói: Đệ tử các trần lao tùy ý mà chuyển. Hóa tha cũng như thế, vì tự tại cho nên được trí khen, cho nên biết hai giới một thể chẳng khác. Tùy định như thế mà kết tên tùy định, đều đầy đủ mà kết tên đầy đủ. Cho nên biết hai tên cũng chẳng khác lắm.

Ba là cảnh quán, trong mỗi văn đều giải thích trước, kế dùng chỉ quán mà kết. Cho nên Phạm võng trở xuống là dẫn chứng lý quán trì giới gọi là chỉ quán. Cho nên biết phải dùng nghĩa quang Đệ nhất vắng lặng chiếu tức nhau mà thực hành phòng chỉ khéo thuận giới thể. Hiếu là nuôi, đạo thờ cha mẹ phải thường nuôi dưỡng ở tâm, vì ở tâm nên thuận theo sắc mặt, nên gọi là thuận. Nay cũng như thế, quán lý không thể nghĩ bàn luôn chiếu ở tâm, khéo thuận theo lý. Thuận cho nên quán ba đế, hiếu cho nên chỉ ba hoặc. Như thế trì giới còn cúng dường, nghĩa đồng với Biệt giáo xuất giả trì giới, đâu lại cùng Thiên tử thứ dân làm hiếu đồng tuổi ư? Thần quỉ nói: Người có hiếu trước phải giữ yên nước, nước yên thì nhà mới yên. Nhà yên do đó làm hiếu. Như thế còn chẳng kịp trời người, huống chi là Đại Tiểu thừa phòng chỉ thiện thuận. Nói Bổn sư và ta đều tụng, đọc thuộc lòng gọi là Tụng. Xá-na Thích-ca vì chứng giới thể. Bẩm giáo nghĩa bặt không nói mà nói, nên gọi là Tụng. Tha trụ nói rộng là Tỳ-bà-sa đây nói nói rộng. Được hai không nhân pháp gọi là lìa ngã ngã sở và lìa các pháp có tưởng sở đắc, gọi là hý luận. Vì như pháp này gọi là thượng thi-la, nên biết cũng là y cứ lý mà gọi là giới. Tịnh Danh nói: Tịnh Danh Sớ dẫn: Khi đó có hai Tỳ-kheo nghi phạm hai Ba-la-di dâm và sát, hai người cùng ở trong Lan-nhã. Một người đi chỗ khác, một người nằm trần truồng, cô gái hái củi lén làm việc bất tịnh. Bạn của thầy Tỳ-kheo về thấy bèn đuổi đi, cô gái sợ chạy té xuống hố mà chết. Người nằm nghi là phạm dâm, người đuổi nghi là phạm sát, chẳng dám hỏi Phật, đến hỏi ngài Ba-li. Ba-li y theo luật mà giải thích. Nếu phạm căn bản thì phải học hối, nếu phạm phương tiện thì phải sám lan, nếu vốn vô tâm thì chẳng cần sám hối. Đại sĩ trách rằng: Ta nghĩ Thanh văn chẳng quán căn người không nên nói pháp. Hai Tỳ-kheo này phát Đại tâm đã lâu, vì sao dùng tiểu mà dắt dẫn. Tội tánh kia chẳng ở trong ngoài, hay khoảng giữa. Tâm người như thế thì tội cấu cũng như thế. Đây tức là yếu quán vô sanh hối. Như thế gọi là khéo biết giữ luật. Nay cũng lấy đây gọi là Thượng Thi-la. Thượng Thi-la là không trì không phạm phạm là Vô sanh, đâu vì vô sanh mà khiến phạm. Cho nên biết phải lấy bốn câu mà suy trì, vô trì tánh phạm, gọi là thật giữ giới, đâu cần phải suy phạm mới gọi là khéo biết ư? Lại nữa, trở xuống là y cứ năm tên để làm quán giải. Tứ Phần trên dưới chỉ có bốn tên, theo các giải thích xưa chỉ còn ba tên, đó là Thi-la, Tỳ-ni, Cây-xoa. Cho nên ngài Nam Sơn dẫn trong mười tám pháp Tỳ-ni và luật hai tên chẳng giống nhau. Nay ý ta là y đủ các tên để giữ bốn, tên tuy chẳng giống nhau, đã được tên luật, lại gọi Tỳ-ni. Cho nên văn nay từ tên đều dùng, đều lấy tên căn bản mười tám tụng, tức là Ưu-ba-li một hạ tám mươi lần lên tòa mà tụng, cho nên được gọi như thế. Y cứ chung năm tên gọi để bày quán giải. Nếu các bộ khác tên tuy tùy sự mà lập riêng, cùng sự nghĩa đồng. Cho nên nêu tụng mà nói để nhiếp các bộ. Nay đã dùng mười giới hợp thành ba quán, quán tâm năm tên cũng y cứ ba quán. Các tên khác rất dễ thấy.

Nói Luật là chẳng lấy luật luật lữ, chỉ y cứ như luật đời khiến Đào Ngu mới tạo, Tiêu Hà lấy đó làm chín chương, dần dần phân ra nặng nhẹ đều rõ ràng. Nhĩ Nhã gọi là Pháp. Pháp luật do đó nói lượng nặng nhẹ, phạm và chẳng phạm v.v… quán tâm cũng như thế. Nói lượng hoặc và trí đều có tướng trì phạm nặng nhẹ. Như trong tâm Bồ-đề ở trên, một là cảm ứng phát tâm kết thành ba thứ chỉ quán, các thứ thô tế khó dễ, cạn sâu, khéo việcng v.v… cũng là nghĩa nói lượng. Người có bốn, nếu nói về quả báo thì Nam châu là hạ hạ, nếu y cứ về gặp Phật thì Nam châu là thượng thượng. Cho nên Đại luận quyển sáu mươi hai nói: Diêm-phù-đề có ba việc còn hơn các trời khác, Bắc châu không bằng, một là dứt được dâm dục, hai là biết niệm lực, ba là tinh tấn mạnh mẽ, lại có thư Bát-nhã. Cho nên các trời xuống nghe pháp. Cho nên Đại Kinh quyển ba mươi ba nói: Nhân duyên hạ hạ nên sanh ở Bắc châu. Cho đến nhân duyên thượng thượng nên sanh ở Nam châu. Thượng phẩm có nhiều thứ, như sáu tầng trời cõi dục và mặt trời, mặt trăng các sao chia làm chín phẩm. Thượng thượng là tha hóa cho đến hạ hạ là các sao, cho đến phước báo, nhiều thứ khác nhau. Như kinh Tịnh Danh nói: Tùy phước đức mà mầu cơm có khác. Cho đến các thiền đều khác nhau. Như trong kinh luận tùy theo ý nghĩa đều có phẩm loại pho quyển khác nhau. Có thể hiểu ý chẳng cần văn rườm rà. Trong y cứ quán giải hoặc ngang hoặc dọc hoặc tự hoặc tha, một tâm khác tâm, nói lượng nặng nhẹ, huống là mỗi pháp đều nhiếp vô biên. Chỉ cần biết ý không cần văn đủ. Riêng hỏi trở xuống là giải thích nghĩa, Chương An đối diện các Đại sư mà đích thân hỏi quyết nghi. Nếu các văn nói thẳng đây nghĩa là chết rồi mới nói về mình. Văn trước là nói về mình mà hỏi. Hướng về ba quán đều có ba phẩm. Không là hạ, giả là trung, trung là thượng. Không giả đều có ba đều y cứ phát chân. Vào trung cũng có ba phẩm, tức lấy năm phẩm làm hạ, sáu căn làm trung, Sơ trụ làm thượng, thì trong ba phẩm có chân có tự là sao? Câu hỏi này lại nói theo Đại phần, ba phẩm không giả cũng chẳng phải toàn phát chân. Như giả ba phẩm tức lấy Bồ-tát Ba tạng làm hạ, như phiên đầu đã giải thích. Vào trung ba phẩm cũng đều phát chân, lại y cứ phen sau làm câu hỏi này. Đáp: Tức lấy của Đại sư mà đáp. Có hai ý: Một là nói ba đường trước chưa hợp, hai thứ không, giả trong ba phẩm đã đối ba giáo căn duyên cách khác, do đó mở ra ngang đối ba người. Người đã khác nhau đều y cứ phát chân, đối với lý không lỗi. Nếu vào trung rồi, may mắn điều lành đều dung, chỉ y cứ sáu tức thì nghĩa giống như dọc. Lại cũng được hạ, vì Trung đạo này từ người từ giáo cũng được nói ngang. Ba thứ Biệt, tiếp, Đẳng đều phá một phẩm, ba người đối nhau có thể chẳng phải ngang sao? Tuy gọi ngang mà chứng đạo không hai. Vẫn gốc mà nói lại là ngang ba, đâu chỉ nấu đốt che chướng? Khác nhau luật văn Thiên tụ đều có phương tiện căn bản hậu khởi đối tâm đối cảnh, hoặc tội hoặc sự, hoặc song hoặc đơn. Theo báo thì có tướng nấu đốt nặng nhẹ, ba quán tức nhau ba đế dung nhau, tùy nói một trần, một tâm một quán đều khắp pháp giới. Trong luật Thập Tụng gọi địa ngục là nấu đốt che chướng. Tám ngục nóng mười sáu chung làm nấu đốt, tám ngục lạnh tối đen chung làm che chướng. Nếu sự trở xuống là so mà quyết. Ấy thì ở sự khuyên càng quán, chẳng nghe có quán mà bỏ sự. Ấy thì một tâm ba quán để trì phạm, đâu đồng hộ căn, chế ra sáu thức ư?

Ba là nói tướng Phạm, trước nêu thí dụ gốc tức là La-sát đồng là ái kiến mà làm dụ. Người đi trở xuống là lược họp. Ái kiến đều có thể làm tổn Thiên tụ, cho nên đều dụ La-sát đến xin phao bơi. Ái La-sát trở xuống là rộng hợp. Trong đây văn chín nghĩa hai, ý ở hiển trì. Nói văn chín là các thứ Ái kiến có chín, tức là năm thiên định và ba quán, nghĩa hai là lại có ba khác: Một là ái kiến, hai là sự lý, ba là trì phạm. Trì phạm là năng xếp, sự lý là cảnh phạm, ái kiến là nhân phạm. Nói hiển trì là phạm cũng thành trì, huống chi vốn tịnh. Nếu nói theo lý vốn tịnh tuy trì cũng gọi là phạm. Dùng sám tịnh rồi mới trở lại vốn tịnh. Trước hợp ái trong kinh chỉ có năm đoạn: Một là dụ toàn xin là dụ phạm bốn trọng; hai là xin phân nửa là dụ phạm mười ba; ba là xin cánh tay, là dụ phạm Thâu-lan. Nay văn nói là xin trọng phương tiện, lại là thành tướng tiệm phạm, cho nên bỏ quả còn nhân; bốn là xin ngón tay, là dụ phạm hai đề; năm là xin vi trần là dụ phạm cát-la. Nay văn y kinh cho nên không có sửa đổi. Vì văn thiếu ở Đề-xá lại dư ở Thâu-lan. Vì tụ chẳng khai thứ năm cũng thiếu Đề-xá. Văn Kinh Đại thừa ý Phật khó lường. Kinh Văn-thù Vấn Thiên Tụ cũng như thế. Nó nêu năm Di, ba Lan, hai Đề, một Cát, tội chủng tuy ít mà gồm nhiếp rất rộng. Đây đều là luật nghi của Bồ-tát, cho nên chẳng thể toàn đồng ba tạng. Nếu phá cảnh quán là phạm luật nghi, tức trong mười phạm ba giới trước chia làm năm

tội. Năm tội khác nhau lại phân ra ái kiến. Di và Tàn trong năm trước đều trước phạm kế trì. Ba thứ Lan, Đề, Kiết văn tướng lược chỉ còn tướng phạm, kế tướng trì trong Di tội văn, thà ông giết chúng ta v.v… là thà giết ấm thân phạm giới không thể được. Cho đến phải nói trong miệng rắn độc. Kế trong tướng thiển phạm nói ma xúc v.v… là nếu phân ra nhân quả để đối tội danh, đủ như trong luật bộ. Kế trong tướng trì nói sau v.v… là Phạm thiên thứ hai, trong tăng mà bạch gọi là ý sau. Ở gọi riêng là Tẫn cho đến đoạt ba mươi lăm việc và bổn nhật v.v… gọi là trị tẫn. Kế xin trọng phương tiện, thì dụ Nhân lan, Cát-la trở xuống là nêu huống khuyên trì. Vi trần chẳng đủ, tổn ở núi nổi mà tiếc cho La sát, là sợ nước dần vào có thể chết chìm trong biển thanh tịnh xa. Nay cũng như thế. Các tội đã là nhiễm ô chủng loại, hay mở ra môn không cứu được. Thứ năm đã thế thì ba thứ kia cũng như thế. Tội trọng như chết nên nói mà chết. Tham lan trở xuống là giới định cộng. Định cộng tuy sức nhưng chưa chứng chân dục muốn trái định nên gọi là phạm. Thân trước trở xuống tức là không giới. Vì không tùy đạo Vô Trước thì chẳng thể phá nhân ba hữu, cho nên gọi là vì có tạo nghiệp. Hai giới trong giả lệ ở nói trước. Từ đắm sâu trở xuống gọi là lý phạm. Kế dùng La-sát mà dụ kiến. Văn trước nói khác, tài sắc thuộc ái nhân nầy phá giới, tất cả đều thế, nên nói xúc nhân vô thỉ và câu, gọi là Dĩ sanh ác, nương theo kiến phá giới, hoặc nhân lúc sau suy lý khởi chấp gọi là Vị sanh ác. Dự biết phòng lỗi cho nên nêu ra. Cho nên nói kiến này tuy chưa khởi, sau bị hai duyên nội ngoại phá hoại mà sanh ác kiến. Một được ít thiền, hai được thầy bạn, không sâu không lâu nên gọi là ít. Vừa được nhân căn bản mà sanh kiến, tức sanh niệm trước cát-la mà khởi lỗi tội trọng. Khi Phật còn tại thế có một Tỳ-kheo trở xuống là dẫn việc. Đại luận quyển mười chín nói: Có một Tỳ-kheo được thiền thứ tư sanh tăng thượng mạn cho là đã được bốn quả. Trước được Sơ thiền gọi là được Sơ quả cho đến được Thiền thứ tư gọi là được La-hán, ỷ vào đây mà tự cao chẳng chịu tiến đạo. Khi qua đời thấy ấm bốn thiền liền sanh tà kiến, bảo là không có Niết-bàn, Phật dối gạt ta, sanh khởi ác kiến, mất trung ấm thiền tướng, A-tỳ hiện ra, chết rồi đọa vào đó. Các Tỳ-kheo hỏi Phật: Tỳ-kheo A-lan-nhã chết rồi nay sanh chỗ nào. Phật nói: Đọa vào ngục A-tỳ, các Tỳ-kheo sợ quá, ngồi thiền trì giới mà đến thế ư? Phật như trước đáp xong, liền nói kệ rằng: Học rộng giữ giới thiền chưa được pháp lậu tận, tuy có công đức ấy, sự ấy khó thể tin, đọa địa ngục do bác bỏ Phật không phải thiếu Thiền thứ tư. Đây là chứng được ít thiền. Phật còn tại thế trở xuống là nêu so sanh để giải thích ý thầy bạn. Đại sư còn tại thế mà còn có người sanh kiến chấp, huống chi Phật diệt độ rồi không có thầy lại chẳng được thiền. Lại ác kiến, như kinh Thí Dụ, kinh Hiền Ngu đều nói: Khi Phật ở Xá-vệ, có Bà-la-môn tà kiến cùng năm trăm đệ tử đi theo, đều qui kính nhân cùng đệ tử Phật thi đua mà chẳng biết, hổ thẹn gặp lại đệ tử mình nên nhảy xuống sông mà chết. Phật bảo ông ấy có hai tội: Một là rất độc, hai là bác bỏ Phật. Phật nói nay đọa A-tỳ. Đại Hư Không Tạng v.v…, là Kinh Hư Không Tạng quyển hạ, văn nêu sáu tội trọng, thứ ba nói. Lại nữa người thiện nam, hoặc có Bồ-tát Sơ Hạnh, thấy chúng sanh khác bảo rằng: Nhân giả, chớ làm Tỳ-ni giới luật (chớ giữ giới) chớ tinh tấn cầu mau phát tâm Bồ-đề, mau tụng kinh điển, thân nghiệp ý làm ác do làm ác liền được thanh tịnh. Đó gọi là tội trọng thứ ba. Vì sao trở xuống là chánh nói tướng phạm, cũng trước là sự phạm, sau là lý phạm. Trong sự phạm trước nói năm tội, ba trong mười phạm ăn nuốt người chó dụ cho phá nhân quả thế và xuất thế. Dây từ hơn kém mà làm dụ. Phá chánh kiến oai nghi v.v…, là khởi kiến tức phá chánh kiến. Phải dẫn Đại Kinh quyển mười hai v.v…, văn không có vì lược phạm ba nhóm trước gọi là phá giới, phạm bốn nhóm dưới gọi là phá oai nghi, bốn tà năm tà gọi là phá chánh mạng. Tà pháp môn nuôi mạng sống nên gọi là Tà mạng; bốn tà: một là Phương tà, tức là làm người sứ thông tin trong nước; hai là Duy tà, tức làm nghề thuốc và coi bói; ba là Ngưỡng tà, tức là xem sao (thiên văn); bốn là Hạ tà tức là gieo trồng, cày cấy. Cũng gọi là bốn nghiệp thực (bốn cách nuôi sống). Cho nên Đại luận Xá-lợi-phất xin ăn, có một người nữ hỏi Xá-lợi-phất rằng: Ông là phương nghiệp thực chăng? Cho đến hạ nghiệp thực chăng? thì đều đáp không phải. Người nữ hỏi vậy thì thực nào. Xá-lợi-phất thứ tự giải thích bốn thứ thực xong, bèn bảo tôi chỉ khất thực tự nuôi sống. Năm tà: Một là vì lợi dưỡng nên hiện tướng lạ lùng hai là vì lợi dưỡng nên tự nói công đức mình; ba là bói tướng tốt xấu vì người nói pháp; bốn là lớn tiếng hiện oai nghi làm cho người kinh sợ; năm là nói được cúng dường để động lòng người. Đây đều là các bậc cao đức đều thận trọng, không phải chỗ kẻ ít đức, lưu dòm ngó được. Hoặc trọng phương tiện cho đến cát-la y theo ái mà nói. Nghĩa là các pháp trở xuống là lại nói tướng lỗi. Từ đầu cho đến chết hẳn là lệ cát-la trước cho đến mà chết. Phải biết người này trở xuống là kết phá chấp trước. Cận thượng v.v… gần là thấy tâm, xa là đế lý. Đã vì ác không trở xuống là lệ tham phan ở trước cho đến phá giới luật nghi. Chấp chặt kiến trở xuống là lệ tham năm dục ở trước, cho nên phá lý giới. Phải biết trở xuống là kết trung (trong kết). Nói còn chẳng được Niết-bàn trời người, là vui trong trời người cũng gọi là Niết-bàn, sao chẳng dẫn vô hạnh v.v…, là trong kinh gồm có hơn bảy mươi hàng kệ. Sao ông chẳng dẫn các văn chẳng hề phá giới, mà dẫn riêng tham dục là đạo văn ư? Huống chi kinh nói dục là đạo, là chỉ nói đạo tánh chẳng ngoài dục, cũng nói dục tánh chẳng lìa đạo. Y cứ lý nói là tức, y cứ sự phải là lìa, mà ông chấp lầm tức dục là đạo. Nếu thế, chỉ có đạo tức là dâm, không hề dâm tức là đạo. Kinh lại nói: Thấy có không pháp khác, là chẳng lìa có không, nếu biết có không đều vượt lên thành Phật đạo. Ông chỉ thấy có còn chẳng thấy không huống chi là có không v.v… Kinh lại nói: Đạo và dâm nộ si là một pháp bình đẳng. Ý cũng như trước.

 

PHẦN 2

Lại nữa trở xuống là trì phạm bất định, tức là hòa hợp hai môn trước, trì thì trì đủ mười giới, phạm thì phạm đủ mười giới, cho nên nói một bề. Nay hợp xếp thì bốn trước trong mười thuộc về giới, sáu sau thuộc về thừa. Thừa giới giao nhau bốn câu phân biệt. Nêu hai câu đều thuộc hai môn trước, hai câu giao lạc thuộc ý trong đây, cho nên nói bất định. Cho nên bốn câu này văn bốn nghĩa hai, ý ở đều trì, vì chẳng phải hiển. Cho nên lại nói: Nói nghĩa hai tức là Thừa và Giới. Nếu nói chung trở xuống là muốn nói bốn câu. Trước xếp chung riêng. Nếu nói mười pháp chung gọi là giới như trước đã nói, tức đạo định v.v… cũng gọi là giới, cũng có thể mười pháp gọi chung là Thừa, đều hay động xuất, nghĩa là bốn giới trước giúp ra khỏi ba đường. Muốn phân bốn câu phải từ nghĩa riêng, cho nên bốn trước là giới, sáu sau là thừa, đều phân ra ba phẩm để đối hoãn cấp (chậm gấp). Lại có thể giới phước đối nhau để làm bốn câu. Không giới có phước như Vương gia tượng (voi của nhà vua), có giới mà không phước như Tỳ-kheo khất thực, không được, giới phước đầy đủ như Tỳ-kheo thọ cung, không phước không giới như chó đói quỉ đói. Lại đem phước tuệ có không cùng làm bốn câu, là câu phải đủ hai nghiêm phước tuệ, thừa giới đều gấp. Sự lý không dấu vết, sự tức bốn trước, lý tức sáu sau. Người viên một đời có nghĩa vượt lên Mười địa. Nên nói một đời sẽ được. Ngài Nam Nhạc nói: Một đời trông vào Đồng luận chỉ thanh tịnh sáu căn. Lại nói: Tu bốn hạnh An lạc, một đời được vào sáu căn. Chậm nhất là chẳng ngoài ba đời, nếu vì tiếng khen lợi dưỡng thì nhiều kiếp chẳng được. Hoa Nghiêm Lợi Độn Căn, chỉ là người Biệt viên mà thôi. Trong đó phẩm số y cứ thuyên lượng trước mà nói rất dễ thấy. Câu kế là chẳng đều gấp. Như Đại Kinh nói: Thà làm thân đường ác mà được nghe pháp, trọn chẳng thân trời người mà chẳng được nghe pháp. Nghe pháp thì sanh tử có hạn kỳ, còn trời người hoặc lui sụt thì vào đường ác. Văn từ cực trọng mà nói cho nên nói đều là bị nuốt. Năm thân đều là phá, thân nghiệp đều thiếu. Giống xưa vẫn còn hay chuyên lý giới. Vì lợi căn cho nên hoặc sẽ được đạo. Cho nên gượng ở thừa chậm giới gấp trong câu thứ ba nói chấm đơn, là y cứ Phật còn tại thế, nếu giáo đến cõi này thì biết mà chẳng thấy hai chữ chấm đơn e là viết lầm. Quyển mười dẫn là Pháp sư Chấn Đán Châu giải thích rằng: Phương Đông thuộc Chấn, là phương mặt trời mọc, nên nói Chấn Đán. Tân-bà-sa gọi là Chi-Na, Tây Vực ký gọi Chi-Na, tiếng xứ này đều là Chấn Đán, Chân Đơn giống nhau. Cho nên biết đều thuộc tiếng Phạm. Ba ức v.v…, là Đại luận quyển mười một nói Xá-vệ có chín ức nhà, ba ức thì mắt thấy Phật, ba ức thì tai nghe mà chẳng thấy, ba ức thì chẳng nghe chẳng thấy, huống chi mê đắm vui cõi trời và sanh chỗ nạn Bắc châu và ba đường ác thêm trời Trường thọ và Thế trí biện thông, sanh trước Phật, sau Phật, các căn chẳng đủ, đó là tám nạn. Thí như trở xuống là nêu thí dụ để giải thích nghi. Nghi rằng: Đã chẳng gặp Phật đâu cần giữ giới này. Nên thí dụ để giải thích rằng: Mong được ân xá, ân xá là gặp Phật nghe pháp. Xưa không tu thừa, không có duyên nghe pháp, ở trong ba cõi cũng như bị nhốt trong ngục. Giới thiện như tiền của, nghiệp đạo như sức lớn, được thân trời người như mạng chưa chết, hoặc gặp Phật pháp như được ân xá, sợ ở tại trời người cũng chẳng thọ hóa nên lại chê bai rằng: Nếu chẳng tu thừa thì không bao giờ gặp Phật, trời người phước hết lại đọa ba đường. Cho nên nước tu thừa chẳng thể thiếu. Hành giả trở xuống là trong xem xét nói rằng: đây là quyền đến dẫn thật. Đã giới chậm thừa gấp thì đọa vào ba đường ắt là Bồ-tát pháp thân đồng loại dẫn dắt. Cho đến cũng là thừa giới đều chậm sau là chủng dụ. Nếu tế trở xuống là giáo xếp nhân quả, bốn giáo nói nhân, là xưa tu bốn giáo, quán trí khác nhau xem là thừa chủng. Nay trải năm vị được đạo khác nhau để nói quả ấy.

Bốn là nói Sám tịnh. Trước lại nêu lời hỏi. Đã phạm sự lý sám pháp thế nào? Nếu phạm trở xuống là đáp. Trước đáp sám khinh. Luật văn từ thiên thứ hai trở xuống đều có Hối pháp. Sám thành giới tịnh chỉ quán mới sáng, đâu có khiến khinh giới chuộng lý. Nếu trong phạm sự tội trọng trở xuống nghĩa là ái thành thì phạm trọng. Chẳng chỉ cải quán hay diệt tội sâu, phải y Tam-muội gác sự phụ lý và quán tướng mà trị mới được thanh tịnh. Đây trở xuống là nói nghịch thuận mười tâm tức là phương pháp sám hối, nên nói lại nói. Kế lý quán trở xuống là nói nhân kiến giải tịch chưa đến thân miệng chẳng gây tội nặng nhẹ, cũng chẳng phải dùng bốn thứ Tam-muội. Chỉ chuyển quán khiến chánh, kiến tâm tự mất. Tịch chưa bày ở người ngoài cho nên chỉ cúi đầu tụ trách. Nếu kiến nặng thì lại ở quán tâm tu sám. Đã nói phạm trọng chẳng riêng quán tâm. Nói quán tâm là thực hành sự sám phải nhờ quán tâm, nếu quán không tâm thì tội nặng không hết. Lấy quán làm chính nên nói ở trong quán tâm dẫn Quán Định Thắng Diệu, của Phổ Hiền ắt sự lý hợp làm mới nói được sự trước. Phương Đẳng nói đẳng là nếu trái ba qui mà qui về Tà sư Tà pháp Tà chúng mà phá năm giới cho đến hai trăm năm mươi giới tội trọng liền thành người Phật pháp chết, nhân sám giới còn nên nói sống lại. Ngài Nam Sơn cũng lập Vô sanh sám pháp nêu chung ba thứ: Một là các pháp tánh không, vô ngã. Lý này chiếu tâm gọi là Tiểu thừa; hai là các pháp Bổn tướng là không chỉ tình vọng thấy, lý này chiếu dụng thuộc về Tiểu Bồ-tát; ba là các pháp ngoại trần xưa nay không thật. Lý này sâu mầu, chỉ ý duyên biết là chứng hạnh của Đại Bồ-tát, quả Phật. Nam Sơn văn này tuy tức có cứ, song thứ nhất xếp là Tiểu thừa. Tiểu thừa lại không có Lý sám tội trọng, huống chi vị này đã cách sơ tâm. Thứ hai thứ ba thuộc Bồ-tát và quả Phật. Phàm phu muốn y tâm ra làm thì không có chỗ. Nay ở chỗ lập mà nói thẳng kẻ phàm hạ muốn dụng Đại thừa sám hối tội trọng thì phải y vào Phương Đẳng và quán Phổ Hiền v.v… Cho nên Nam Sơn quán vị quá cao sơ tâm không có phần. Vị cao mà không tội thì đâu cần nêu. Nếu người trở xuống là nói lâu xa chẳng ngoài quá khứ, hiện tại. Nếu vận mười tâm tới cùng đối với ở vô thỉ vô minh điên đảo thì tội nào chẳng nêu. Lại đời có người ngu. Nói tâm vô sanh, các pháp cũng không, lại gây tội mới. Phàm tạo tội phải nương ba độc. Người chân vô sanh phước còn chẳng làm, huống chi là tội ư? Vì tội và phước đều thuận sanh tử. Nói sám hối, như Đại Kinh quyển mười bảy Kỳ-bà-bảo Xà Vương (vua A-xà-thế) rằng: Tu một tâm lành hay phá trăm muôn hạt giống ác, như chút Kim cương phá được núi Tu-di, cũng như mồi lửa nhỏ đốt thiêu tất cả, như chút thuộc độc giết hại chúng sanh, chút điều thiện nhỏ cũng như thế, phá hoại điều ác lớn. Tuy gọi thiện nhỏ thật ra là lớn. Vì nghĩa ấy nên cần phải sám hối. Sám hối chỉ là ba nghiệp thiện. Văn trong đây lập hai mươi nghĩa phân ba hai, ý có xa gần nói ba, hai: Một là nghịch thuận, hai là ái kiến, ba là sự lý. Nghịch thuận là công năng, ái kiến là nhân phạm, sự lý là chỗ hiển. Nói xa gần, gần là lại tịnh, xa là hẹn chánh hạnh. Trong đó trước nêu mười tâm thuận lưu từ tế đến thô, trước do một niệm vô thỉ vô minh, cho đến thành tựu một tội Đơn đề. Kế mười tâm nghịch lưu thì từ thô đến tế, nên trước ngược phá một tội đơn đề, cho đến mới đạt vô minh tánh không. Trước trong thuận lưu, kiến ái đồng là từ tế đến thô, thuận ở sanh tử. Cho nên thuận lưu đồng lập một môn, đến nghịch lưu mới phân ra ái kiến. Trước trong thuận lưu nói Lỗ ấp v.v… là dáng không mắc cỡ chẳng thuận. Kế ấy là trở xuống là tổng kết và nói ý tới. Kế nghịch lưu có hai: Một là ái, hai là kiến. Về ái, trước chánh tín nhân quả, sằng là hiện. Than ôi không câu móc. Than ôi là kinh ngạc. Như xưa ta là kẻ không biết mắc cỡ mà nay lại tự hổ thẹn. Xưa không tin câu móc đến nỗi gây ra tội trọng. Như voi điên không câu móc chẳng thể khống chế, nay dùng câu móc hổ thẹn mà móc con voi không biết mắc cỡ. Cho nên Đại Kinh có hai Bạch pháp cứu được chúng sanh: Một là Tàm, hai là Quí. Tàm là tự chẳng gây tội, quí là phát lồ với người. Lại tàm là trong tự hổ thẹn quí là chẳng xúi người khác làm. Tàm là người, quí là trời v.v… các giải thích khác nhau. Nếu không biết hổ thẹn thì gọi là súc sanh (ngàn năm), là lời thế tục nói: Một khi mất thân người thì muôn kiếp chẳng được lại. Ba cõi đường dài phải dùng muôn hạnh mà làm lương khô, bể sanh tử rộng phải dùng trí tuệ làm thuyền bè. Cho nên phải sợ vô thường mà dự bị lương khô, dự bị thuyền bè. Một khi nhắm mắt thì phải cậy nhờ ai. Nên nói an ký pháp vô thường này Hiền thánh bỏ đi, không phải cậy nhờ, không có mẹ để cậy, không cha có thể nhờ. Không thể sanh lớn gốc lành xuất thế, gọi là không cậy nhờ. Niên sự vừa đi v.v…, ký niên sự mà làm ngữ đoan. Nói phong đao, là mạng người sắp dứt sẽ bị gió tán nghiệp lực tháo bỏ, như tháo bỏ ống dọct lò rèn, khiến dứt gió không tiếp tục nữa. Như tháo bỏ móc câu khiến máu không lưu chung, như tháo bỏ cơ quan khiến con rối không còn cử động, như tắt đuốc thì hơi nóng không còn, như tháo bỏ phôi khí thì khiến thịt xương chia lìa. Bốn đại đã phân phải gặp tro than. Vì sao khoanh tay chẳng tu gốc lành? Như dã can, Đại luận quyển hai mươi ba nói thí như Dã can ở trong rừng nương theo sư tử cọp beo mà ăn thịt thừa để tự nuôi sống. Nửa đêm vắng lặng nhảy rào vào nhà người tìm thịt chẳng được, trốn ngủ chẳng thức, nửa đêm sợ sệt không biết tính sao, muốn dậy đi mà sợ bị bắt, sợ quá hèn giả chết nằm dưới đất. Mọi người tới xem, có người nói tôi cần cái tai dã can, liền cắt tai. Dã can nghĩ cắt tai tuy đau mà còn sống. Kế một người nói tôi cần cái đuôi, lại tự nghĩ cắt đuôi là việc nhỏ. Kế một người nói tôi cần răng. Dã can tự nghĩ: Người cần lấy càng nhiều, nếu lấy đầu ta hẳn là khó sống, liền vùng dậy dùng hết sức lực mà phóng chạy thì liền thoát. Người tu tâm cầu thoát khổ nạn cũng giống như thế. Trẻ chẳng tu như mất đuôi, bệnh chẳng tu như mất răng chẳng lẽ đợi đến chết thì như mất đầu, vì lúc già bệnh còn dài rộng có thể sai hẹn, khi chết đến không có chỗ cậy nhờ. Như vua A-luân-kha v.v… Đại luận quyển hai mươi nói trong cung vua A-dục thường cúng dường sáu muôn vị La-hán. Vua A-luân-kha là vua A-dục mỗi khi thấy tăng chúng nhận vua cúng dường thì hỏi có đức gì mà được vua luôn cúng dường. Vua nói tuy nhận mà thường quán vô thường thì đâu có rãnh mà tham nhiễm. Người em chẳng tin. Vua muốn điều phục bèn thầm sai người bàn việc cướp ngôi lên làm vua. Vua anh bắt được liền hỏi nước mà có hai vua à? Bèn muốn giết đi, lại ra lịnh: Cho làm vua bảy ngày, sau đó thì giết. Trong bảy ngày mặc tình hướng năm dục. Một ngày trôi qua bèn khiến Chiên-đà-la lắc chuông báo rằng: “Một ngày đã qua còn sáu ngày nữa sẽ chết!” Như thế hết ngày thứ bảy thì lắc chuông báo: Bảy ngày đã qua hôm nay phải chết. Vua anh hỏi làm vua có thích không. Vua em nói tôi đều chẳng thấy chẳng nghe chẳng biết. Vì sao thế? Vì Chiên-đà-la hằng ngày lắc chuông lớn tiếng báo ngày sắp chết. Tuy làm vua được hưởng năm dục nhưng vì quá lo sợ nên chẳng nghe chẳng thấy v.v…! Cho nên phải biết vui nhiều mà sức yếu. Nếu người khắp mình được vui, một chỗ châm kim, thì các vui đều dứt, một biết cái đau. Vua anh nói Tỳ-kheo cũng như thế. Chỉ quán vô thường khổ, không, vô ngã, đâu rảnh mà tham đắm việc cúng dường mà phá ngược tâm, chẳng sợ đường ác. Nghĩ đọa đường ác như nghe tiếng chuông báo không lâu sẽ bị đứt đầu. Kinh Pháp Cú nói: Xưa có Thiên đế (vua trời) biết chết rồi sẽ sanh làm lừa, buồn khổ không thôi, bảo rằng người cứu khổ ách chỉ có Phật. Liền đến chỗ Phật đảnh lễ, khi chưa đứng dậy thì đã sanh vào thai lừa, bèn bứt dây mà đạp phá nát đồ vật, chủ đánh bị hư thai, bèn trở về thân Thiên đế. Trong lúc tự vẫn đã qui y Tam bảo nên tội hết. Thiên đế nghe xong thì được Sơ quả. Cho nên tạm qui y mà còn phá được tâm đường ác. Phát lồ là Đại Kinh quyển mười bảy nói: Người trí có hai: Một là tánh chẳng làm ác, hai là phát lồ với người khác. Người ngu cũng có hai: Một là làm tội, hai là che giấu tội. Bệnh bên ngoài của ngọc là vết, bệnh bên trong của ngọc là dấu. Cho nên có thể lấy thí dụ cho hai lỗi ẩn hiển, nếu che giấu dấu vết thì gọi là không biết hổ thẹn. Giặc độc cỏ ác v.v… nếu phát lồ, như kiểm thâu giặc khiến không lẩn trốn, như đốn chặt cây độc nếu để còn thì ác lớn, như cắt cỏ dại, nếu để còn thì mọc đầy. Căn lộ v.v…, phàm tội do tâm che giấu nếu phơi bày tâm che giấu thì như chặt cây bày rễ, dứt dòng chận nguồn, thì cây khô dòng hết. Nếu che giấu, tội là nhân ác, che thì chẳng hết, người che giấu tội thành người bất lương. Lương là thiện. Ca-diếp v.v… Phật tùy cơ nghi quí ở chỗ diệt tội, hoặc riêng từng người hoặc chúng đông mà không có thường khoa, Đại Kinh quyển mười bảy nói: Che giấu là lậu, chẳng che giấu là vô lậu. Nếu làm tội mà chẳng che giấu thì sẽ yếu mỏng dần. Ngoài ra hạnh pháp v.v… là trừ Phương Đẳng Đầu-đà ngoài ra các kinh như Bát-chu, Chiêm-sát, Kim Quang Minh cho đến tăng thường sáu thời hành nghi, chẳng nói hướng về người phát lồ tức là loại ấy. Như che giấu có ung nhọt là làm tội, chưa phát lồ thì như che giấu ghẻ nhọt, gây báo đời sau thì như lúc chết. Nếu quả quyết là một, khi sám hối rồi thì sẽ sanh tưởng quyết định được chỗ không lỗi, gọi là quả, quả là dám. Cho nên phải dứt hết không để nối tiếp. Như mới phạm, trước phạm đã tha tái phạm thì khó dung. Cho nên tội trọng phạm thì khó mất. Cho nên phải biết dứt tâm nối tiếp. Cho nên ói ra sám hối rồi lại phạm thì như nuốt vào. Như Luận nói: Đã bỏ vui năm dục, bỏ hẳn không đoái hoài, vì sao lại muốn như người ngu thích ăn đồ ói mửa. Phát tâm Bồ-đề, nếu ngay đây hết tội cần gì phải phát tâm. Như tăng trong Tiểu thừa có hai lần sám tội thì trái với tội cảnh vô thỉ chẳng khắp như diệt tội quá tiểu giáo quyền văn đều do chẳng phát tâm Bồ-đề. Lại Tiểu thừa sám chỉ gọi để trách chẳng vì hộ khác nên không có lý thường, vì trái đây mà phát tâm Bồ-đề. Các thứ khác như văn nói. Tu công đức để bồi bổ lỗi, là từ vô thỉ làm tội sẽ khắp ba nghiệp, khắp nên lại nối tiếp, nối tiếp nên càng nặng. Cho nên nay tu công đức để bồi bổ lỗi xưa, cần phải ba nghiệp đều vận, niệm niệm tiếp nối cố gắng không thôi. Chẳng dời đổi, là tội xưa sâu rộng như biển, ba nghiệp chỉ vận như núi, không phải vận núi ba nghiệp đâu lấp biển ba lỗi. Thắng-man nói v.v… là khiến hiện pháp chẳng mất gọi là giữ gìn chánh pháp, nhóm họp thuốc pháp không nhàm chán gọi là nhiếp thọ chánh pháp. Gần gũi bạn ác, v.v… là vì bạn xấu phá hoại gốc lành Bồ-đề của người. Đại Kinh quyển hai mươi nói: Như voi dữ chỉ phá hoại được thân thúi bất tịnh, còn bạn xấu thì phá hoại tịnh thân, nhục thân, pháp thân đến ba đường chẳng đến ba đường. Thân oán pháp oán cũng giống như thế. Niệm vô ngại từ v.v… là từ năng thuận vật, là bạn lành của ta trái với ngày xưa gần gũi kẻ ác. Trí phá được tà dắt ta tránh mê trái với ngày xưa tin lời kẻ ác nói. Hiểu rõ tham sân si đến cầu ta chẳng thật có, là xưa từ vô trụ khởi ngã kiến cho đến tham sân, nay tham sân đến chỗ vô trụ cội gốc đã mất thì nhánh lá cũng rụng hết. Trong đây chấp không phải thần ngã, chỉ là vô thỉ vọng chấp giả danh. Nói môn Tịch tịnh, do quán tâm nên chung đến vắng lặng. Cho nên các tâm là môn Tịch tịnh. Trong kinh lại nói vì bày vắng lặng nên các tâm rất dễ thấy vắng lặng, như nhân ngón tay chỉ thấy chỗ đến, cho nên Kinh Bảo Khiếp quyển thượng chép: Văn-thù-sư-lợi ở phương Đông nước Trang Nghiêm, Phật tên Quang Tướng, hiện đang nói pháp, có vị Đại Thanh văn tên là Trí Đăng, nhân Văn-thù hỏi mà làm thinh không đáp, Phật ấy bảo Văn-thù rằng: Hãy nói pháp môn giúp các chúng sanh được đạo Vô thượng. Văn-thù đáp rằng: Tất cả các pháp đều là môn Tịch tịnh hiện bày vắng lặng. Lúc đó, có Bồ-tát Pháp Dõng hỏi Văn-thù-sư-lợi rằng: Các điều Như lai nói ra và tham, sân, si là Môn Tịch tịnh chỉ bày vắng lặng chăng? Văn-thù hỏi lại rằng: Ba độc từ đâu khởi. Đáp: Khởi do vọng niệm. Vọng niệm trụ ở điên đảo, điên đảo trụ ở ngã sở, ngã sở trụ ở thân kiến, thân kiến trụ ở ngã kiến, ngã kiến thì không chỗ trụ. Như thế ta thấy mười phương suy cầu đều chẳng thật có. Vì nghĩa ấy nên ta nói các pháp đều là môn Tịch tịnh. Trong đây toàn dùng văn kinh ấy ý chỉ nói lược, so rất dễ thấy. Kinh Niết-bàn nói: Nói là Đại Kinh có bốn pháp làm nhân Niết-bàn: Một là gần gũi bạn lành, hai là lắng nghe chánh pháp, ba là suy nghĩ nghĩa ấy, bốn là đúng như lời nói mà tu hành. Nếu nói siêng tu khổ hạnh là nhân duyên gần của Đại Niết-bàn, thì không có việc đó. Kế sám kiến tội, vì kiến trở xuống là chỉ mười tâm thuận dòng ở trước. Tâm thuận dòng ở trước ái kiến cùng nêu, cho nên nay sám kiến còn nhắc lại thuận lưu, lại chỉ nêu trước. Hướng vận trở xuống là phân biệt khác tâm ái, tâm ái nghịch lưu đều là phụ sự. Ái thuộc Độn sử gọi là Độn sử tội không phải nói tội diệt thì Độn sử hết, vì tội ái ấy (nhờ) sự mà sanh. Cho nên phụ sự sám. Thấy (kiến) trái lý khởi sám cũng là phụ lý. Nếu sám tội trọng cũng phải làm nên nói khởi trọng phiền não phải phụ dùng sự trợ. Bổ thuốc như suy lý, sự trợ như ba đậu, thì sự lý đều có bàng chánh. Một phiên phá trở xuống là chánh giải thích, cũng từ thô đế tế. Nói kẻ chẳng tin tức là tâm nhất xiển-đề do thân kiến khởi, cho nên ngầm chỉ giúp biết khổ tập, là sao, là do thân kiến nên có tám mươi tám, vì tập thành nên chiêu vời khổ, đủ như quyển năm đã giải thích. Như Uất-đầu v.v… là Đại luận quyển hai mươi chín nói: Được định phi tưởng có năm thần thông, hằng ngày bay vào cung vua ăn, vua cùng phu nhân theo phép nước mà đảnh lễ dưới chân. Do chạm chân nên dục phát mà mất thần thông, nên xin xe về núi và tu lại năm chung. Một tâm chuyên chí đến được định, vì ở gần rừng ao bị các chim cá làm ồn ào, do đó phát lời thề nuốt hết cá chim. Sau như từ đầu mà được định phi tưởng sanh phi tưởng xứ. Báo hết rồi vì lời thề xưa mà đọa làm con chồn bay. Bà-sa nói: Con chồn bay rộng năm mươi do-tuần, hai cánh cách nhau năm mươi do-tuần, thân lớn năm trăm do-tuần giết hại chúng sanh trên không dưới đất đều không thoát được. Phát nguyện ác là tập, làm thân chồn bay là khổ. Tu-bạt được định phi tưởng, là trước được định này trong hội Niết-bàn, ở vị lai đến chỗ Phật bị Phật quở tuy không có thô tưởng mà có tế tưởng, qui tâm thọ đạo được quả A-la-hán. Văn nay dẫn chỗ chưa được đạo, Trường Trảo cũng như thế, khởi chấp, Phật quở mà được quả A-la-hán. Đến quyển năm lược nêu duyên khởi. Cao Trứ v.v… tức là Uất-đầu-lạm-phất v.v… Tu-bạt v.v… ở trong ngoại đạo là người học cao. còn chẳng bằng là bác bỏ các người cận đại chấp kiến vá các ngoại đạo yếu kém, còn chẳng bằng Lam-phất mà nói là chân đạo ư? Đã chẳng biết khổ tập, nói không có bốn đế. Từ người ấy trở xuống là nói không có mười hai duyên diệt, chỉ có vô minh đến già chết, nên nói đâu có vắng lặng. Nếu có trở xuống là bác bỏ ngược chỉ có vô minh mà không có vô minh diệt v.v… Thân biên tà kiến việc ấy rất dễ biết. Năm lợi trước đã nêu giới kiến hai sử, ba thứ kia so lời nói cũng rất dễ thấy là sao? Là khởi kiến y sắc tức sắc ấm, lãnh nạp ở kiến, giữ hình ảnh thấy được, khen thì mừng, chê thì giận, hiểu rõ ở kiến năm ấm đầy đủ nên gọi là thân kiến. Chỗ chấp kiến không phải đoạn thì tức là thường, gọi là biên kiến. Lấy kiến làm chánh, bác không có nhân quả gọi là Tà kiến. Năm kiến đầy đủ tức là tám mươi tám gọi là Tập đế. Tập vời lấy khổ, gọi là khổ đế. Còn chẳng phải ba tạng trở xuống là nêu huống chi chê Đại Tiểu đều không. Nếu như thế đến phá bất tín, là các kiến xưa nay gây ra nhiều việc ác đều do mê lý mà thuận sanh tử. Nay biết rõ tội lỗi đạt lý Thiên viên là kiến căn bản hoại, y chỗ khởi kiến tất cả đều hoại. Nếu nói riêng về phá kiến thì chỉ biết tướng kiến hoặc của ba tạng thì các kiến tự dứt. Nay muốn biết khắp là viên phương tiện hiển ở viên lý, nói rõ cạn sâu, rộng bày các giáo, nên nói phá khắp các giáo bất tín. Lại y cứ Lý quán mà nói trời người, là gá sự nói lý. Nay chẳng nói sự nên nói về y cứ, lý quán trời người chỉ lấy Thánh vị tự nhiên tiến đạo gọi đó là trời, hiền vị (tác) ý gọi là người. Cứ lý cũng phải nêu người bảy phương tiện trời bốn quả của Ba Tạng. Văn không có là lược. Lại y cứ Diễn môn chưa nói ba tạng, lại thành ở ba đế nghĩa đủ, nên lược ba tạng. Sở dĩ phải y cứ quán luận trời người là vì phá mê lìa không biết hổ thẹn. Lý đủ ba đế cần phải trái lại, nên đối với ba đế mà không hết tàm quí. Cho nên khắp ba đế mà nói trời người. Nếu nói quả báo v.v… thì Phẩm Tín Báng trong kinh Đại Phẩm có nói: Chể hủy Bát-nhã là khinh bác bỏ chư Phật ba đời, vô lượng ức kiếp phải đọa địa ngục, từ ngục này đến ngục khác, đến khắp các địa ngục lớn trong mười phương, nếu được làm thân người thì bị đui mù hoặc sanh vào nhà Chiên-đà-la, vào nhà gánh phân, vác thây chết, nếu không một mắt thì không lưỡi không tai không tay chân, hoặc làm súc sanh mà chịu nhiều thứ khổ. Thân Tử hỏi người ấy tội có giống như năm tội nghịch chăng? Phật nói còn hơn năm tội nghịch. Nếu nghe lời người ấy nói mà tin theo thì cũng chịu khổ ấy, như khổ chết v.v… nên chẳng nói. Đại luận quyển sáu mươi bảy giải thích rằng: Vì sao Phật chẳng nói, có hai nhân duyên nên Phật chẳng nói: Một là trên đã nói lỗi ấy chịu khổ hơn năm tội nghịch. Nay lại nói thân ấy rất xâu xa hoặc tin hoặc chẳng tin. Chẳng tin thì phải chịu khổ dữ; hai là nếu tin lời Phật thì rất lo sợ, lo sợ nên phát phong ói máu mà chết, nếu chẳng tin thì lại chịu khổ nặng. Lại phá chẳng sợ đường ác. Giải thích này một bề y theo văn trên dưới. Thiếu nghĩa lý quán, y lệ phải nói xưa y kiến khởi lỗi phá hoại chánh lý, chẳng sợ ba đường, nay ham thích Đế-lý còn sợ Tiểu thừa ba không đường ác ba không là hầm hố, cho đến sợ đường ác ba giáo trước huống chi là địa ngục v.v… ba đường ác. Nay lại từ nghĩa bác bỏ bai ba đế mà đọa đường ác mà dùng tám chánh đạo, là dùng tám đạo vô tác mới phá được ba hoặc. Hữu vô biên v.v…, hữu tức là nghiệp hữu lậu, tội tức là lậu nghiệp vời quả. Cho đến vô lậu, vừa lậu vừa vô lậu, phi lậu phi vô lậu vời tội hai độ. Cho nên biết xưa mê ba đế nghiệp khắp ba hoặc, khổ khắp ba độ. Nay duyên pháp giới phát tâm Bồ-đề vô tác cũng khắp pháp giới mà khởi, nên ngược phá ác khắp pháp giới. Ba đế đến bảo cự; kinh Đại Tập nói: phẩm Ba mươi bảy là Bảo Cự Đà-la-ni của Bồ-tát, tức là Vô tác đế. Đầy đủ Phật pháp gọi là Bảo, chiếu khắp pháp giới gọi là cự (đuốc báu). Tổng Trì tất cả gọi là Đà-la-ni. Công ta như thế thì lối nào chẳng bồi bổ. Nếu khiến v.v… là nếu bỏ hữu kiến mà vào vô kiến, chẳng tu đạo phẩm thì chẳng ra khỏi sanh tử, huống chi là hữu vô. Nói hữu vô là lược nêu, tuy thấy biết lỗi mà chưa tu niệm xứ. Nếu phá trở xuống là tu chiết pháp đạo phẩm. Lại thể kiến trở xuống là còn phá Thông Biệt huống chi ba tạng, nên nói thể kiến tức không phải trung, đó là chữ Tung là bình thanh, từ cạn đến sâu gọi là Tung. Các kiến đều phá, tu cđường ác phẩm. Cho nên nói bổ ở lỗi Tung kiến xưa do kiến mà gây ra các kiến giới nội, kiến không cạn sâu, nên nói là ngang. Nay tu công đã sâu phá kiến cũng xa, trước từ ngoại kiến, phá ngoại vào tạng, cho đến Biệt kiến phá Biệt vào Viên. Đến Viên gọi là phi động, phi bất động, phi tu phi bất tu, đó là đạo phẩm vô tác. Nếu làm đủ bốn câu thì phải nói động tu, bất động bất tu, cũng động cũng bất động, vừa tu vừa bất tu, phi động phi bất động, phi tu phi bất tu. Lại dùng bốn động để đối một tu thành mười sáu câu. Nay lại bốn tu để đối bốn động cho nên nói riêng. Xoay vần dọc nhập nên nói là Tung. Viên lý chưa kế đều gọi là lỗi. Cho nên tu công một tâm ba đế mà bổ cho lỗi kiến sâu thứ lớp ba đế từ trước. Giữ gìn chánh pháp là xưa hủy lý hộ kiến mà bày chung ở kiến, nay hủy kiến hộ lý mà bày chung ở lý. Nếu chẳng quên thân giữ pháp thì lấy gì biểu hiện cho chí hộ pháp. Nếu chí hộ pháp yếu thì lấy gì mà ngược giữ kiến bỏ thiện. Cho nên lại dụ cha mẹ hộ con. Niệm Phật mười phương là xưa trong giấu các kiến, ngoài lại thêm thầy ác, cho nên thuận ba hoặc mà trái ba đế lý. Nay trong niệm ba đế, đế tức là Phật, trong ngoài đầy đủ, nên ngược phá gần gũi bạn ác. Nếu thế, lý tánh vì đâu là Phật được? Cho nên dẫn Đại phẩm. Tát-bà-đa luân ở trên hư không thấy Phật, sau thấy Đàm-Vô-Kiệt bèn hỏi: Phật từ đâu đến? đáp rằng chẳng đến chẳng đi tức là Phật, pháp vô sanh tức là Phật. Cho nên phải biết (biết trí vô sanh) tức là Phật. Nếu thế, pháp tức là Phật, cho nên hay ngược xưa thầy ác, pháp ác mà quán tội tánh vốn không. Trước nói chấp thật nên chẳng biết tánh không, phàm một niệm tâm ba hoặc đầy đủ tức ba hoặc này vốn tự Niết-bàn, nên nói vắng lặng. Nay quán trở xuống là nói thấy tánh không, một không thì tất cả không. Dưới vừa giải thích tánh không, e bảo như huyễn chẳng tới lui cho là không ngơ. Cho nên lại giải thích rằng: Một không tất cả không. Vận đây trở xuống là tổng kết. Quán lý thêm sự mới thành hối pháp. Gọi là kiện nhi thứ hai, là Đại kinh nói có hai kiện nhi: Một tánh chẳng làm ác, hai là làm rồi thì sám hối. Nếu theo đời này thấy hoặc chưa khởi, nếu luận vô thỉ ai chẳng có, cho nên biết tất cả đều thiếu thứ một. Hỏi: kiến đã chưa khởi đâu cần khởi hối? Đáp: Chưa khởi mà dự biết trước huống chi là xưa đã từng khởi. Lại bày đương khởi, phải cần hối này. Vì thế văn trước dùng ái kiến ác mà gọi Dĩ sanh, Vị sanh. Cho nên văn này chỉ khiến vận mười tâm nghịch lưu này mà dứt ác ba đời. Cho nên tu hối thì sự lý phải song hành. Cho nên gọi trở xuống là song kết sự lý, hai sám từ trước. Nếu sám pháp thành thì ba đế Tam-muội các hạnh đầy đủ, huống chi mười giới nhiếp tất cả hạnh. Tam-muội là nhãn, nhãn trí đầy đủ, đến vị Sơ trụ mới gọi khai phát. Văn tuy thứ lớp hiển bày viên dung. Các văn trước sau tất cả đều như thế, huống chi sự giới là gốc ba quán. Cho nên nói Thi-la thanh tịnh v.v… Nếu không có sự giới, thế thiền còn không, huống chi là ba đế. Có nói Đại thừa đâu phải chấp giới là nhầm. Nói chẳng chấp, chính là trì mà chẳng chấp, nếu khiến chẳng trì gọi là chẳng chấp thì chính là chấp phá, sao gọi chẳng chấp, chấp trì còn không, quên trì đâu còn. Được đây trở xuống là kết thành nhãn bốn nhiếp pháp. Lại hay trở xuống là kết thành chỉ quán. Cho nên biết trở xuống là kết thành nguyện ý. Trì giới thanh tịnh là kết nêu tên trước và tướng trì, tức là chánh tu phương tiện xa. Khẩn xét trở xuống là kết tướng phạm trước và sám tịnh. Hoặc sợ lỗi hiện, hai phạm sự lý, lại phải thành khẩn sám hối tội sâu ấy. Tội trừ liền tịnh, hai đời không dấu vết, cùng gốc chẳng phạm, đều có thể làm duyên. Cho nên nói đều là duyên đầu ý ở tại đây.

Thứ hai là cơm áo đầy đủ. Trước là ý đến vì cơm áo này thân làm Đạo duyên. Nói và đạo, là tự có mạng tệ hình mà chẳng vì đạo, là tệ thì của đạo trước hình mạng, nếu lập hình mạng thì bổn đạo sẽ còn, cho nên nói và. Ở trong hai duyên áo sơ cơm thân cho nên dẫn chứng nói ăn xong thì thành đạo. Đây tuy là tiểu duyên v.v… nhưng áo cơm này vốn là duyên sắc thân báo mạng, nên nói tiểu duyên. Nhờ đây lại nói việc đạo pháp, cho nên nói là việc lớn. Không áo nên trần truồng, thiếu ăn nên đói khát. Như thế đâu thể chuyên tu chỉ quán? Đại Kinh quyển hai mươi nói: Đại Bồ-tát nếu cần áo thì liền lấy, chẳng vì thân nên tuy nhận ăn uống mà thường vì chánh pháp chẳng vì thân thể, chẳng vì oán hại. Như người bệnh ôm dùng tô miến mà thoa, vì chín lỗ rò rĩ nên lấy áo che. Y trở xuống là chánh giải thích. Che xấu xí tức Đại Kinh nói: nhận bốn chẳng vì nghiêm thân mà vì ngăn hổ thẹn lạnh nóng và ruồi muỗi. Ở đây nói trang sức, là che thân xấu xí nên gọi là sức, không phải làm đẹp thuận tham tình y có ba thứ, lại chia ba phẩm. Lại có thiên Tu-bồ-đề Tỳ-kheo Diện Vương và hứa cho chứa trong vật. Trọng vật hợp trong nuôi lớn mà nói, cho nên nay chẳng nói riêng, vì đồng văn dưới một lệ ba phẩm. Nói trăm một nuôi lớn v.v… xem là hạ căn. Tuyết Sơn là trên. Như Đại Kinh nói: Thích-ca đời trước từng làm Đại sĩ ở trong núi Tuyết chỉ mặc áo da nai. Lúc đó, trong núi tuyết lại có nhiều rễ thơm, ngó sen, cây xanh rễ thơm. Lúc đó ta một mình ở đây, chỉ ăn trái cây, ăn rồi buộc niệm suy nghĩ tục thiền, sức (chịu đựng) thành, chẳng xuống chốn người đời, như thế bèn quên thuyết tịnh, thọ trì các việc. Mười hai Đầu-đà, mới gọi là Đổ-Đa Hán dịch là Đẩu tẩu. Luật luận khác nhau, luật có tùy ngồi, chẳng làm dư thực cho đến đoàn thực. Đại luận thì không, luận có tiết lượng sau chẳng uống và thứ lớp. Luật văn thì không. Lại luật nói nạp y, luận nói phấn tảo. Luật chỉ nói khất thực, luận nói thường khất thực, hai thứ này tên khác ý đồng, mười thứ kia đều đồng. Các bộ A-hàm và Luận Thập Trụ cũng có tướng khác nhau. Đại thể không khác. Nay y Đại luận quyển sáu mươi tám lược nêu tướng trạng: Một là Lan-nhã, là ở tại gia nhiều phiền não nên bỏ quyến thuộc mà thầy trò đồng học, lại kết trước sau, lại não loạn nhau. Cho nên phải ở Lan-nhã khiến thân lìa xa. Gần nhất là ba dặm, xa hơn càng tốt, thân xa lìa rồi cũng phải tâm lìa năm dục, năm cái; Hai là thường khất thực là đủ như trong Phương Đẳng thứ hai nói v.v…; Ba là y phấn tảo, nếu bốn phương tìm cầu hoặc đắm mê tà mạng, nếu nhận y của người khác thì hoặc xấu hoặc tốt mà sanh vui buồn. Trong tăng về lỗi được y lược như ăn v.v…

Hoặc lo trộm cướp v.v…; Bốn là một bữa ăn, tự nghĩ một bửa ăn còn có chỗ đề phòng, huống chi là sáng ăn, trưa ăn, chiều ăn, bỏ công nửa ngày chẳng được nhất tâm hành đạo. Như nuôi ngựa heo v.v…; Năm là tiết lương thực, là ăn no bụng căng đầy, khí tắt ngại đạo. Cho nên phải phân ba để một. Như Xá-lợi-phất ăn năm sáu miệng. Người Tần mười miệng cho là đủ mà uống nước; Sáu là sau ngọ không uống nước trái cây ép, tâm sanh mê đắm cầu các tương, chẳng thể nhất tâm, cũng như nuôi ngựa trước lặc ý nó thì dứt; Bảy là ở trong nghĩa địa, dễ ngộ vô thường, dễ được đạo quả; Tám là ngồi dưới gốc cây, vì được đạo sự nói bỏ mà đến dưới cội cây. Như Phật xoay bánh xe pháp, nhập Niết-bàn đều ở dưới gốc cây; Chín là ngồi chỗ trống, hoặc nói dưới cây cũng như nửa nhà còn sanh mê đắm. Lại ngồi dưới cây có hai lỗi: một là trời mưa ướt, hai là phân chim trùng độc; Mười là thường ngồi, mặc áo cởi áo, tùy ý vui sướng. Trong bốn nghi ngồi là bậc nhất, ăn dễ nêu hóa, khí lực điều hòa, cầu đạo việc lớn sức lớn là, xong. Các giặc thường rình người chẳng nên yên ngủ, hoặc đứng hoặc đi tâm cũng dễ nhiếp; Mười một là tự đi khất thực. Chẳng mê đắm chẳng vị chẳng khinh, chúng sanh tâm bình đẳng mà thương xót, chẳng phân biệt giàu nghèo; Mười hai là ba y, người tại gia cầu nhiều nên chứa nhiều, ngoại đạo khổ hạnh nên trần truồng, chẳng nhiều chẳng ít nên chứa ba y. Nay văn lấy phấn tảo ba y trong mười hai hạnh Đầu-đà hợp làm trung sĩ. Nói ba y là chỉ ba y, nay chứa nhiều là ba y đồng nạp, hoặc mặc để làm việc, hoặc ngủ đêm ở chỗ lạ, bởi không biết giáo chỉ từ cây mê tình, dựa theo đây mà tự cao lại bị chết chìm. Nay trong văn này xếp vào trung, trên thì chẳng kịp chỉ mặc áo da nai, dưới thì cao chứa dư 101 vật, vì sao súc trưởng lại gọi ba y? Nay nói ba y khác nhau một y và chứa y dư. Vào xóm làng thì mặc tăng già-lê thêm hai y trên, vào đại chúng thì mặc Uất-đa-la tăng thêm năm điều trên. Vào núi rừng thì chỉ mặc An đà hội. Vì hổ thẹn, vì lạnh nhiều nên cho mặc nhiều lớp, đều là oai nghi ngay ngắn nuôi lớn gốc lành, nên nói ăn mặc tề chỉnh, khác với người đời, nghi phục lộn xộn gọi là đầu-đà, dung chỉ thu nhiếp gọi là chấp tướng. Kẻ tục chưa hiểu làm càn đáng thương. Người đạo không xét, buồn mà đáng thương.

Kẻ hạ căn cõi này phần nhiều là hàn căn, tánh lại mỏng. Đại Thánh một hứa ba phẩm khai chung. Nếu nuôi trăm một ghi nhớ mà thôi. Có nói gia pháp nếu chứa dư thì (thuyết) tịnh, gia pháp thọ trì. Nay hai phẩm hợp luận nên nói trăm một cần phải nói (thuyết) tịnh, đều là trợ đạo để chữa bình hình khô. Như loại này vẫn là hạ căn, người chẳng nói (thuyết) tịnh ba phẩm chẳng nhiếp. Lạm dẫn thượng phẩm Đại sĩ hành sự sâu chẳng thể. Song pháp thuyết tịnh (ở gần) Đại thừa. Cho nên trong Địa Trì, Bồ-tát chứa tức ở mười phương Chư Phật, Bồ-tát mà làm tịnh thí. Bèn lấy Thanh văn tịnh khí mà làm dụ rằng: Ví như Tỳ-kheo tịnh thí y vật mình cho Hòa thượng A-xà-lê. Nếu hiểu một thật tức tịnh thí này thành pháp Bồ-tát. Lại trong Tiểu thừa nếu y cứ mà làm thì cũng làm mỏng tham tình của mình mà thuận Phật cấm ngăn. Như lý này đâu tổn khoáng hoài, vật ta thuộc người khác phi dù dính mắc, huống thọ ăn nhận thuốc do cấm tánh trọng, trì bát trì y gốc đổ chê bai, chê bai tánh trọng hộ không giấu riêng hỗn Thanh văn chân Bồ-tát. Chỉ vì mong xuất khổ xếp vào tiểu tông, đâu vì trái ngược thọ trì mà xưng là Đại Đạo. Lại có người nói: Hễ có các vật không tưởng là vật của mình, có ích liền dùng, thì thuyết tịnh làm gì. Nay hỏi không phải tiền của của mình sao chẳng cho bốn hiển, có ích liền dùng sao chẳng giáo hơn cho hai ruộng mà sao cất giấu trong phòng sâu kho kín. Thật nhớ tưởng khác dùng sẽ vời lấy tội. Bỗng cho là tài vật của mình vẫn trái thuyết tịnh, thuyết tịnh mà thí ở lý có ngại gì. Thuận tâm chấp mình, đời sau bắt chước. Lại Đại Kinh nói: Người xuất gia có bốn thứ bệnh chẳng được Niết-bàn: Một là y dục, hai là thực dục, ba là ngọa cụ dục, bốn là làm nhân hữu. Nếu chẳng đối với y thực mà tu quán, thì ai năng thọ mà chẳng làm nhân hữu. Quán hạnh y, là trong sớ nhiếp mười hai thứ này làm chỗ y thực có ba, y cứ ba việc này mà luận lý quán tức là ba đức, đủ như trong sớ giải thích duyên Ca-diếp. Nay thì chẳng như thế, ở chỗ y thực đều lập quán hạnh, cũng phân ra ba bậc. Đại Kinh v.v… là kinh ấy bác bỏ ba nhóm rằng: Các thầy Tỳ-kheo tuy cạo tóc mà chưa thực hành chánh pháp, còn giấu các kết sử, tuy mặc cà sa mà tâm chưa nhiễm pháp Đại thừa. Cho nên dẫn Pháp Hoa tức là ý ấy. Bỏ hai giác quán, tân dịch là tầm từ. Câu-xá nói tâm tầm từ thô tế. Nay quán tâm cũng như thế. Sanh tử là động thô như giác, không loạn ý tế như quán, muỗi tế mà ruồi thô, hai bên đều có thô tế, nên nói đạt sâu v.v… là viên trung như gương nên chiếu khắp gọi là đạt sâu, vì đạt sâu nên có tất cả tướng. Không giả chẳng như thế như mài ngói gạch. Tịch nhẫn trở xuống là hợp thí dụ rất dễ hiểu. Vì Trung đạo quán muôn đức trang nghiêm cho nên thế gian chẳng cắt đứt. Nêu lý khác sự nên nói chẳng phải. Ba y quán, trong văn có hai lớp: Trước là y cứ chung ba đế, trên mỗi đế đều có ái kiến. Ái như nóng, kiến như lạnh. Ba giác: Đại Kinh nói ba giác là Dục, Nhuế, Hại, nay mượn dụ ba thứ kiến tư v.v…, nên Đại Kinh quyển hai mươi nói: Đại Bồ-tát biết ba giác ấy có các thứ bệnh hoạn, là kẻ thú của ba thừa, khiến cho ba thừa chẳng thấy Phật tánh, thường bị Chư Phật, Bồ-tát quở trách. Văn Kinh đã nói khiến cho chúng sanh không thấy Phật tánh. Cho nên có thể đem ba giác mà đối ba hoặc, ba quán quán ba đế như mặc áo che thân thân cũng có ba. Lại khởi kiến trở xuống là riêng y cứ ba đế, trên mỗi đế đều lập năng tự sở trị, năng nghiêm sở nghiêm. Trước quán rộng hai thứ kia được, cũng có thể chuẩn biết. Cho nên biết trên mỗi đế đều kiến ái hai nghiêm phước tuệ. Chỉ thuộc phước, quán thuộc tuệ. Trăm một quán là nuôi y giúp thân chung làm nghĩa trợ, cho nên trên ba đế đều phải trợ. Trải tất cả hạnh cũng giống như thế, đâu chỉ chánh hạnh bất động, trợ cũng đều vắng lặng, đủ như trong trợ đạo, chánh trợ hợp làm. Thượng căn chỉ y cứ lý một, trung căn nghĩa khai chung riêng, hạ căn nghĩa lập trợ đạo. Cho nên y cứ lý một, thông cả chung riêng, cùng thành một ý.

 

PHẦN 3

Kế ăn cũng ba, lại nhìn áo mà nói. Đầu-đà Hán dịch là Đẩu tẩu, mười hai việc này đều làm mười hai lỗi Đẩu tẩu. Văn nay tức hai chữ đều nêu. Tiếng phóng mục là ngoài ba dặm khiến mục đồng nghe tiếng trâu kêu, chẳng nghe trụ xứ, tu được thiền quán. Người đời có lời lạm dụng là phóng xa cây cọc chẳng nghe tiếng rơi, được rồi là buông bỏ, mỗi đêm đến ba lần gọi là Đầu-đà dứt tiếng phóng cây. Như Diêm Quan Thiền sư Nhẫn soạn kinh Đầu-đà nói rằng: Đầu là phiền não chủ đầu, Đà nghĩa là đà thải phiền não. Đây tuy nói nhầm cũng hơn là phóng cây. Như các ví dụ này Giang Biểu rất nhiều. Phân-vệ, Hán dịch là khất thực, đủ như trong năm thứ ăn của Đầu-đà pháp, nghĩa là thường khất thực, ăn một chỗ tiết lượng, sau giờ ngọ chẳng uống nước trái cây ép, xin theo thứ lớp. Nay chỉ nêu một trong năm là khất thực. Thất Phật và Phương Đẳng đều nói khất thực, là như trong bốn Tam-muội có nói: Ở A-lan-nhã thì phải khất thực. Cày cấy trồng trọt xay giả sàng sảy chẳng được nấu nướng để qua đêm nuôi tám thứ bất tịnh việc dính bốn tà làm ô nhiễm đàn việt, không phải hạnh Lan-nhã. Đời gần đây đã cách xa lời Thánh dạy, nam nữ tới lui gây nhiều việc chê bai, xấu xa. Nếu y theo lời Phật dạy thì ích lợi chẳng nhỏ. Cho nên Thập Trụ Bà-sa nói: Khất thực có mười lợi: Một là tự dùng nuôi sống thuộc mình chẳng thuộc người; hai là người thí cho ta khiến họ trụ Tam bảo, sau mới ăn; ba là thường sanh tâm bi; bốn là thuận theo lời Phật dạy; năm là dễ đầy đủ dễ nuôi nấng; sáu là phá tánh kiêu mạn; bảy là gốc lành vô kiến đảnh. Tám là thấy ta khất thực người sẽ bắt chước; chín là chẳng cùng nam nữ lớn nhỏ có các việc; mười là thứ lớp xin ăn thì sanh tâm bình đẳng. Như các Thích tử xưa tức là vua ở trong vườn Ni-câu-loại cách thành Xá-vệ khoảng nửa do-tuần, vào thành khất thực, khất thực rất cực khổ. Cho đến hạ căn được đàn việt đưa cho thức ăn. Cho nên biết chỗ ở chẳng được quá xa. Kinh Thí Dụ nói: Xưa Ba-la-nại cách thành năm mươi dặm có núi, có năm vị Tỳ-kheo ở. Buổi sáng vào thành khất thực, sau trưa trở về núi, tối đến trở về thành rất mệt nhọc chẳng ngồi thiền được. Trải một năm cực nhọc như thế mà không được, Phật hóa thành một đạo nhân đến chỗ người ấy an ủi thì đáp rằng thân bốn đại cách thành đạo xa có gì vui chăng? Chỉ nghĩ mạng chết mà thôi. Hóa Sa-môn nói: Đạo, lấy giới làm gốc, nhiếp tâm làm hạnh. Thân hèn đạo quí mục bỏ thân mạng, ăn dùng chi hình giữ ý chánh định, trong học Chỉ quán diệt ý được đạo. Nếu nuôi thân buông lung các căn đâu được khỏi khổ, xin cđường ác nhân sáng không gì bằng khất thực, ta phải cúng dường thức ăn một ngày Phật sáng đưa thức ăn năm người ăn xong đều được quả La-hán. Ấy thì chỗ ở cũng là đạo duyên chẳng phải quá xa. Ăn là đạo duyên do đây mà gọi như thế. Cho nên biết Như lai không phải chỉ ứng cúng mà lại cúng ứng. Ngoại hộ đưa đến v.v… là trong tăng tịnh dọcc vẫn là hạ căn, đâu thể ngồi yên trong phòng mà tự làm việc riêng, hoặc chẳng bệnh mà giả bệnh đòi chúng cấp dưỡng, không có đức khoe có đức khuấy động đàn việt, tuy nói hứa tông, nhân ăn tự xét. Ba phẩm chẳng thâu, đạo TỪ do đâu đến. Quán hạnh ăn, cũng y cứ ba bậc. Phàm sự ăn thì nuôi sắc thân giúp báo mạng, lý ăn thí giúp pháp thân nuôi tuệ mạng. Cho nên Bình đẳng đại tuệ hư không pháp thân nương theo đây mà lập. Y cũng lệ theo như thế. Trước y cứ thượng phẩm, là chỗ dẫn Đại Kinh cũng là văn kinh ấy bác bỏ ba nhóm. Như lai pháp hỷ v.v… tức là nói bảy phương tiện lạ. Đây trở xuống là giải thích Như lai thực. Dẫn ý Tịnh Danh, tức là ăn khởi quán khiến thức ăn cùng khắp. Văn ấy chính dùng ăn làm pháp giới mà trách việc ăn. Cho nên Nam Nhạc trong tùy tự ý nói rằng: Phàm khi được ăn phải nói thức ăn này sắc, hương, vị trên cúng mười phương kế dâng các Hiền thánh, sau cùng là sáu đường bình đẳng không khác nhau, tùy cảm đều no đủ, giúp các thí chủ được vô lượng Ba-la-mật. Lại nói nghi thực sắc hương như gió chiên đàn, một lúc xông khắp các thế giới ở mười phương. Phàm thánh có cảm đều được thượng vị, sáu đường nghe hương phát tâm bình đẳng, ở ăn sanh ra sáu Ba-la-mật cho nên có ba hạnh. Trong Tịnh Danh Sớ thí dụ như xông thuốc, thuốc nhân thế lửa mà vào thân người, bệnh sẽ trừ hết. Bồ-tát quán ăn cũng như thế. Khi dùng ăn mà thí, thì ăn là pháp giới đủ tất cả pháp. Phàm các người nhận pháp hễ ăn vào thì mình lợi ích, hoặc gần hoặc xa phá hết vô minh. Tưởng là đàn phong cũng giống như thế. Kế y cứ nghĩa Đầu-đà mà lập thứ lớp quán rừng Hạ phẩm. Hỏi: Phải nói viên đốn sao dùng chi lâm? Đáp: Đây thì chung làm một pháp với trước. Thứ ba là y cứ chỗ. Tuyết sơn là thượng đã như nói trước. Đầu-đà là trung, tức chỗ trong mười hai Đầu-đà có bốn, tức là Lan-nhã, nghĩa địa, dưới cội cây và ngoài trời, y bốn chỗ này phải thường ngồi. Hỏi: Hai chỗ Hạ, trung Lan-nhã nghĩa đồng có gì khác chăng? Đáp: Lan-nhã là tiếng Tây Trúc, Hán dịch là Nhàn tịnh. Chỗ trung tức là không hướng địa. Chỗ hạ tức là không huýnh trụ xứ (chỗ vắng) và Nhàn tịnh Tăng-già-lam (chùa viện vắng vẻ). Thập Trụ Bà-sa nói: Không Huýnh xứ là ở Lan-nhã, có mười lợi: Một là tự tại tới lui, hai là không có ngã sở, ba là tùy ý không chướng ngại, bốn là tâm vui chốn Lan-nhã, năm là ít dục ít việc, sáu là chẳng tiếc thân mạng đầy đủ công đức, bảy là lìa các tiếng nói ồn ào, tám là tuy làm công đức mà chẳng cầu trả ơn, chín là dễ được nhất tâm, mười là dễ sanh trưởng không chướng ngại. Lại nói: Tỳ-kheo tu hạnh A-lan-nhã có mười việc vào chùa tháp chẳng phải như ngoại đạo: Một là cung cấp cho người bệnh, hai là tìm thuốc cho người bệnh, ba là vì người bệnh mà tìm người nuôi bệnh, bốn là vì người bệnh mà nói pháp, năm là vì các người khác mà nói pháp, sáu là nghe pháp giáo hóa, bảy là vì cung kính cúng dường Đại đức, tám là vì cung cấp Thánh chúng, chín là tụng đọc thâm kinh, mười là dạy người khác khiến tụng đọc thân kinh. Ở Lan-nhã khi sợ sệt thì phải nghĩ rằng: Người giữ đạo tuy đi đường hiểm biển khơi, chiến trận mà an ổn không hoạn nạn. Lại hộ thân không gì hơn thiện thân nghiệp ý nghiệp, để tự giữ gìn. Cho nên Phật bảo Nặc Vương rằng: Khéo giữ gìn ba nghiệp gọi là khéo Thủ hộ. Lại nghĩ rằng: Các thú ở trong rừng núi chẳng giữ ba nghiệp mà chẳng sợ, tâm ta là trí há như chúng sao. Lại niệm: Phật nên phá tất cả sợ. Cho nên ở Lan-nhã. Sợ hãi thì niệm mười hiệu Phật. Lại có bốn pháp mới ở Lan-nhã: Một là học rộng, hai là khéo quyết định nghĩa, ba là ưa tu chánh nhớ nghĩ, bốn là thuận theo như lời nói mà làm. Luận văn lại có năm mươi pháp mới ở Lan-nhã. Nếu lìa trở xuống là khuyên răn. Áp Quốc Ngữ nói: Quản Trọng làm tướng nhà Tề chế ra ba mươi nhà làm một ấp. Thôn làng này là chỗ Thánh gọi. Thượng Thư Đại Truyện nói: Phàm tông miếu có vua trước làm chủ gọi là Đô, không có gọi là ấp. Đây Tề Đường nghĩa đồng không chủ, Tịnh Danh nói: Hoặc làm chủ trong ấp hoặc làm người thương nhân dẫn đường. Đây là nói Bồ-tát lợi vật vô phương mà thôi. Quán tâm xứ, bảy phương tiện như trước đây khai ba cỏ hai cây làm bảy vị này, khai cỏ nhỏ làm trời người, khai cỏ vừa làm Nhị thừa, cỏ Thượng hai cây làm Bồ-tát Ba giáo. Hai cỏ hai cây đều nương đất. Bảy thứ phương tiện lấy thật làm gốc. Cho nên ba cỏ hai cây tuy tùy chủng tánh mà đều được sanh ra lớn lên. Cuối cùng ở rễ lớn lên đều nhờ mưa và đất. Đất là viên lý, mưa là Viên giáo. Cứ tiệm mà vào biên gọi là phương tiện. Đương vị chưa chuyển gọi là chẳng thể đến. Chỗ tối thượng là thật tướng. Lại, mảy may điều lành chưa đến Bồ-đề gọi là Tuyệt tích bất đáo. Ngang dọc cùng khắp cho nên cùng pháp giới đẳng. Nên nói bất động. Cũng lìa hai duyên như trước đã nói, gọi đó là Tịnh. Chẳng sanh quả bảy phương tiện, chẳng khởi nhân bảy phương tiện lại ở nhân quả chẳng sanh ý tưởng dính mắc gọi là chẳng sanh, chẳng khởi. Đại phẩm chừng ấy do-tuần, là Đại luận quyển mười tám giải thích rằng: Vô phương tiện Bồ-tát tuy ở chỗ hoang vắng trăm do-tuần là chỗ ở của cầm thú quỉ thần La sát trăm ngàn muôn năm, hoặc hơn số ấy, hoặc chẳng biết pháp xa lìa của Bồ-tát phát tâm Bồ-đề mà làm thọ trước thì hạnh xa lìa ấy Phật không cho. Chân thật xa lìa là chẳng thấy tướng xa lìa. Bồ-tát ấy khen ngợi lành thay lành thay là Phật chỗ nói mau được Bồ-đề. Nếu Bồ la khởi dính mắc nói rằng: Chỗ ta làm là hạnh xa lìa. Nếu thành bàng thì ai khen tốt ông. Phải biết là Bồ-tát Chiên-đà-la, nhiễm ô Bồ-tát tự tượng Bồ-tát giặc của trời người là giặc mặc pháp y. Người cầu Phật chớ nên gần gũi là rơi vào tăng thượng mạn. Phải biết ý luận vì núi sâu chấp trước gọi là hội náo, Thành bàng đạt lý là chẳng hội náo. Cho nên biết người chẳng khởi trước, lấy trước tâm hội náo làm chẳng hội náo. Khởi tâm Nhị thừa còn là hội náo huống chi trước tâm ở tịnh xứ. Hội là loạn. Nếu xứng lý thì giỡ chân, hạ chân đều đạo tràng, mới gọi là thượng xứ. Đời có lạm dụng Ẩn Triều Thị là có nói vô lý. Cho nên biết trung sanh chỉ lấy chỗ mà làm trên dưới chẳng biết đế lý thượng trung hạ. xóm làng là chỗ ở của nam nữ. Hiêu là ồn náo. Thật chẳng đẳng, là đối sự mà nói khác núi rừng đối hai chỗ trung thượng, mật thất (nhà kín) là đối với hạ xứ. Lấy lý mà chê sự, nên nói thật chẳng bình đẳng.

Kế dứt duyên việc, việc là sự việc. Nay phân biệt tùy tự ý, là lại y cứ thiện ác vô ký để nói. Nếu theo các kinh thì đều cần đây. Cho nên hai mươi lăm pháp chung làm bốn thứ Tam-muội phương tiện ở trước. Cho nên tùy tự ý y kinh phương pháp các việc cũng dứt. Điếu khánh v. v…, Điếu là dữ, khánh là lành, phủ là cúi, ngưỡng là ngước, đê là co, ngang là duỗi, tạo là đi, sính là đón Thuyết Văn nói: Tạo là đến, sính là hỏi. Huống chi trở xuống là nêu so sánh. Một điếu một khánh mà tổn cao tung, suốt ngày tìm đạo đâu có. Lại kết v.v…, Thích Danh nói: Châu là chú, quận quốc chú ngưỡng. Phong tục nói chung châu là trù, trù là loại. Thuyết Văn nói: Ruộng là giới, đôn là khuyên. Hiếu Truyện chép:

Người ba châu khế là cha con, trước là cha, kế là trưởng tử, kế là ấu đệ. Cha khiến lấp sông để tạo nhà, lấp lâu chẳng đầy bị cha trách, hai con phát thề: Nếu Hiếu thành thì khiến lấp sông có hiệu xét. Thề xong thì sông đầy. Lại Tiêu Quảng Tế Hiếu Tử Truyện chép: Xưa ba người ở một châu (đều trơ trọi cô độc), ba người ngầm gặp nhau ở dưới một cội cây, hỏi nhau rằng bẻ vàng mà khế y cứ, hai người bảo tốt, bèn y cứ làm cha con. Nước Lương thua ba người chia lìa, năm quận, Thích Danh chép: Người ở Đông gọi là quận vua chế đất ngàn dặm chia làm trăm quận. Tiêu Quảng Tế Hiếu Tử Truyện chép: Xưa ngươi năm quận tức quận Trung sơn, quận Thường sơn ở Hằng châu, Ngụy quận ở Ngụy châu, quận Cư lộc ở Hình châu, quận Triệu ở Triệu châu, năm người này tuổi nhỏ đã xa quê hương không có cha mẹ, theo nhau đến nước Vệ, kết làm anh em. Người lớn tên Nguyên Trọng, kế là Thúc Trọng, Xung Trọng, Hiếu Trọng, Trỉ Trọng, sáng tối cùng làm việc, tiền chứa được ba ngàn. Ở trong thành trông thấy một bà lão anh em bàn nhau rằng: Lạy bà làm mẹ, do đó lạy làm mẹ, bà chịu, bèn kính thờ đến hai mươi bốn năm. Mẹ bỗng bị bệnh miệng không nói được. Năm người con nhìn trời than rằng: Vì sao hiếu thành mà không cảm mẹ bỗng bị bệnh mà không nói. Nếu ta có cảm thì khiến mẹ nói được. Lúc đó thì nói được, bảo năm người con rằng: Ta vốn là con gái của Thái Nguyên Dương Mãnh, gả cho người đồng quận là Trương Văn Kiên. Văn Kiên chết rồi, ta có con trai tên là Ô Di, bảy tuổi gặp loạn mà lạc mất. Con ta trước ngực có chữ thất tinh, dưới chân trái có dấu đen, nói chưa xong thì chết. Năm con, chôn cất xong đến Triều Ca khiến sao mọc quên túi nhớ bảo năm con là trộm bắt ba người cấm hai người. Đến Hà Nội kêu oan trình đủ trước sau. Thái thú Hà Nội là Ô Di do đó khóc lớn bảo rằng: Ta sanh ra không biết cha mẹ mà mẹ là người khác nuôi. Bèn thả ba trọng. Sau tâu vua năm người được làm Huyện lịnh. Hiếu thế gian như thế, nay người xuất gia bỏ cha mẹ, từ ân ái ở Lan-nhã, tu Tam-muội lại kết họ khác làm anh em, cha mẹ. Như năm quận ba châu kia nên răn dè, là rất điên đảo, lấy thường mà dụ. Mao Thi Lạt Tế nói: Có Chí Hồ Thị biết quan lậu khắc (thì giờ), lậu khắc chẳng tiết độ vua quan lại loạn, mà đảo thường cầu lãnh, lễ độ hôn loạn (cầu biết lễ để độ hỗn loạn). Nay lấy ý này, mà bác bỏ điên đảo. Ba kỵ năng đẳng, chữ kỵ là dành cho nghề người nữ. Từ người là hại không phải ý văn nay. Y phương bốc phệ v.v… y là thầy thuốc trị bệnh. Phương là phương sợ, bốc là để diệt nghi. Chu Lễ nói: Bói là để quyết nghi, không nghi sao bói. Phệ là quyết. Nặn đất khắc gỗ vẽ hình làm tượng, cờ đờn cờ vây. Thư là sáu sách. Thích Danh chép: Thư là giá kỷ là thứ vật. Thư cũng gọi là túi, đựng muôn vật. Chu Lễ có sáu cách viết chữ, tức là chỉ sự, tượng hình, hình thanh, hội ý, chuyển chú, giả tá. Nghĩ rất dễ hiểu. Vẽ bùa đọc chú để có dụng này nên rất hại mình. Sừng đẹp da trơn đường nét, cao có minh nên tiễn. Mõ có tiếng nên động thì có tiếng kêu để tuyên bày giáo lệnh. Việc văn thì gõ mõ gỗ, việc võ thì lắc chuông. Lưu Tử nói: Rùa vì trí tự hại, thúy vì lông tự tàn, đan vì ngậm mầu nên bị mài tan, đá vì chứa ngọc mà nát chất. Thiểm Kinh nói: Voi vì ngà mà chết, Tê giác vì sừng mà mất mạng, chim Thúy vì lông mà tự tàn, Nai vì da thịt mà bị hại. Người dẫn Trang Tử nói: Chẳng dùng xem là đại dụng của sanh, lời đồng mà ý khác. Trong Phật pháp ta tạng huyễn diệu ẩn hậu đức toàn là Vô sanh, ứng pháp giới mới gọi là đại dụng, cho nên biết Trang vì Yên Chi Ly mày cao hơn đầu, má ấn ở rún năm ống ở trên, nếu bị bịnh ăn lúa, ta thì có phần. Nếu sai người làm việc bịnh thì ta không dụng, đó gọi là toàn đại dụng của sanh, toàn là tàn tật này là sanh, chưa biết dụng nào không đức nào ẩn giấu được, lệ cũng chẳng thành, mà phải rừng cây mời gọi chim chóc. Kinh nói: Ví như cây lớn chim đậu nhiều có nạn gãy cành, tan da nát thịt. Thí như lằn xanh bu đậu thịt thúi mà càng làm thúi thịt. Há chẳng trở xuống là song hợp hai thí dụ. Tồi chiết hợp với rừng cây, ô nhục hợp với thịt thúi. Người như thế tồi chiết tự làm ô nhục Tam bảo. Hoại cành lá gọi là tồi hoại, trinh chất gọi là chiết. Sự lý đều mất. Hỏi đáp hơn thua, thua là bất khắc, lại thua là hỏi chẳng lường đáp, đáp chẳng xứng lời hỏi, đều gọi là thua. Lại gánh gì trên lưng bị người khác cởi nên gọi là kém. Trang Tử nói: Người có sức thua mà chạy, người muội là chẳng giác, tối tăm là kém, vì hơn thua nên nhân pháp mất, nhiều đời sanh chỗ oán thù thường hại nhau. Vì nghĩa ấy nên hơn thua lỗi sâu. Như kinh Hiền Ngu nói Phật và Tỳ-kheo tới Tỳ-xá-ly ở bên bờ sông thấy năm trăm người chăn trâu và năm trăm người bắt cá, cùng kéo một con cá thân có trăm đầu lừa ngựa v.v… mọi người quái lạ. Phật đến chỗ ấy hỏi ba lần rằng: Các ông phải là Ca-tỳ-lê chăng, đều đáp “phải”. Phật hỏi: Người dạy các ông nay ở đâu? Đáp: Ở địa ngục A-tỳ. A-nan bạch Phật: Vì sao hỏi cá phải Ca-tỳ-lê không? Phật nói ở quá khứ thời Phật Ca-diếp có Bà-la-môn học rộng, sanh được một đứa con nhưng chẳng hơn Sa-môn. Cha khi qua đời dặn con rằng: Con cẩn thận chớ tranh luận với Sa-môn. Cha chết rồi mẹ dạy rằng: Con kiến thức cao minh có thể hơn ai. Đáp: Chỉ không hơn Sa-môn. Mẹ hỏi sao con không hơn? Đáp: Nếu họ hỏi con không đáp được. Mẹ bảo con làm Sa-môn học xong thì trở về. Liền theo lời mẹ chỉ ít lâu thì học xong ba tạng.

Mẹ hỏi hơn chưa? Đáp: Nếu họ thì con chưa bằng họ. Mẹ bảo: Khi tranh luận phải mắng chửi họ. Sau tranh luận thua bèn chửi rằng: Kiến thức của Sa-môn như dựa vào trăm thú như thế chẳng phải một. Cho nên chịu thân cá đầu có trăm hình dạng. Phật nói: Kiếp hiền hết rồi cũng chưa thoát khỏi. A-nan và đại chúng nghe xong liền nói nghiệp nghiệp chẳng thể không cẩn thận. Nay những kẻ chăn trâu bắt cá đều chắp tay hướng về Phật nghe nói lành thay thì đều được bốn quả. Người thường hơn thua chiêu lấy quả báo chẳng nhẹ, huống chi là người Tam-muội thì càng bị hai loạn. Lãnh là lục, là lý, cũng là thọ nhận. Trì là nhớ. Sự công gọi là lao. Lã Thị Xuân Thu nói: Nhọc thì tinh thần tan, nay vì sự nhọc là lao, chẳng phải công lao. Thi nói: Ở tâm là chí, mệt là không có sức. Hà là nhàn là an. Tâm tánh như nước, chân lý như châu, duyên việc như khuấy, sanh lo nghĩ như cặn đục, mê lý như tối. Lại nhanh mê chân làm sao có thể an nhàn tu Chỉ quán. Việc này còn bỏ v.v… là nêu ích so sánh tổn. Học Chánh kinh luận lãnh trì ghi nhớ v.v… là trợ đạo có ích, lúc đó còn bỏ, huống chi là việc người mà chẳng bỏ ư? Nếu không phải khi tu tập ba Tam-muội, học rộng thêm trí tuệ, học rộng là đạo tràng, vì như lời nói mà hành khởi ở học rộng. Rộng đọc các Dị luận thì biết ý Trí Giả, nghe mà chẳng tu quán còn được xa là tín hạnh thừa chủng, há có chẳng học mà thành Tam-muội. Nếu người có hạnh tầm thường có dẫn ra đây thì chẳng phải như thế. Chỉ hơn thua phải trái là một bề phải bỏ. Nếu học ngoài, là trong giáo Tiểu thừa thì trong mười hai thời vì hàng phục ngoại đạo nên cho một giờ học ngoài. Nếu trong Đại thừa thì Bồ-tát sơ tâm một bề chẳng cho. Kinh Tịnh Danh chép: Như thích câu văn trao chuốt phần nhiều là Bồ-tát mới phát ý, đây là bác bỏ chẳng chịu học ngoài, lại khiến tiến hành đến vị sáu căn tịnh học chẳng phải khó. Các nghiệp tuy có sức là mượn văn nghiệp ấy để thành tựu lý quán. Đại luận quyển năm giải thích nghiệp rằng: Vòng sanh tử mang chở người, các phiền não kiết sử, đại lực tự tại chuyển. Không thể cấm ngăn, là các nghiệp vô lượng mà không theo không làm, như gió chẳng vào thật, dòng nước chẳng chảy ngược. Kỹ thuật, thuật là đạo nghệ. Lý quán thì dùng thần thông làm nghề. Chưa được quả Thánh chẳng được tu chung, vì thần thông đối với Phật pháp là nghề khéo nay chưa được đạo chẳng cho tu học như dứt nghệ thuật Phật nhân Điều-đạt chưa được Thánh đạo mà được thần thông gây ra tội nghịch, cho nên Phật chế: Nếu thật được đạo còn chẳng cho vô sự mà hiện thần thông. Như trong A-hàm Phật bảo Tỳ-kheo nếu hiện thần thông thì có ba lỗi: Một là khiến người chẳng tin nói có Cù-đàm cho đến Phạm thiên đều có khả năng biến hiện; hai là các người chẳng tin nói có Càn-đà-la chú hiện tha tâm; ba là dạy răn dè thần thông, nếu khiến hiện thì chỉ có ta làm được còn người tu Tam-muội bỗng phát thần thông thì phải bỏ đi. Vì pháp là luống dối. Nói chướng Bát-nhã là chủng trí Bát-nhã tự đủ các pháp, hay mất các tướng chưa đủ đến nay chỉ an ở lý đâu cần sự chung, nếu chuyên ở chung ấy thì chướng lý. Trong học tập quán thì ngói đá cũng là Đại Kinh trong dụ ao xuân như học vấn ở trước, trong hỏi đáp chỗ dẫn học tập tức là ý ở đây. Cho đến chẳng phải ở trong (đường nhỏ) mà học là chê chung. Chưa được Vô sanh mà tu tập thế trí là vô ích đối với đạo. Như Tăng Cảnh Lục trong Tục Học Vô Bi Lục chép rằng: Ngoại đạo Bà-nhĩ-ni tự soạn Thinh luận dạy một đệ tử. Thầy ấy chết rồi liền thờ đệ tử học Thinh minh này trước sau bị gậy đánh mà không được gì. Có vị A-la-hán thấy cười, vốn chỗ gốc soạn luận mà học không được. Đại luận nói: nếu tu tập theo sách ngoại đạo như lấy dao rạch bùn, bùn không bị lẽ ra mà dao tự bẩn. Lại nói: Đọc sách ngoại đạo như mắt nhìn ánh sáng mặt trời, khiến mắt bị lóa. Cho nên trong văn khiến đến Phật Nhãn Nhất thiết chủng trí thì pháp nào chẳng đủ. Hỏi: Trước trì giới v. v… ba minh quán tâm, đều y cứ ba đế để hiển bày cực lý, vì sao trong đây sanh hoạt chỉ đối với ái, vì sự chỉ đối với nghiệp, kỹ năng để đối với sự chung, học vấn để đối với thế trí ư? Đáp: Cũng phải y theo trước, nay mượn bốn thứ này đều chỉ từ sự, tức bốn việc này xem là năng phóng, lại dùng ba đế mà làm sở phóng. Theo Kỹ Thuật Tập Học Quán chép rằng: Như được châu như ý và trí Nhất thiết chủng, cho nên biết ái ng-hiệp sở phóng cũng đồng.

Năm là đại nhân duyên trong Thiện tri thức là Văn của cuối Phó Pháp Tạng nói: Tập pháp gần Thánh được đến Niết-bàn, là nhờ thiện tri thức. Lại nói: Vì được đạo hoàn toàn nhân duyên, A-nan phải biết, cõi Diêm-phù-đề này trừ Đại Ca-diếp, Xá-lợi-phất ra, nếu chúng sanh chẳng gặp ta thì không được giải thích. Cho nên ta nói thiện tri thức là lợi ích lớn. Kinh Tăng Nhất nói: Chớ làm việc với ác tri thức và kẻ ngu, phải giao thiệp với thiện tri thức và người trí mà. Nếu người vốn không ác mà gần gũi người ác sau sẽ thành người ác. Ác gọi là khắp thiên hạ, thiện tri thức thì trái với đó, cho nên phải gần gũi. Đại luận nói: Có hai nhân duyên được đạo Vô thượng: Một là trong tự suy nghĩ, hai là được Thiện tri thức. Đại Kinh quyển mười tám nói: Xà Vương đến chỗ Phật. Phật bảo đại chúng. Nhân gần của Bồ-đề không gì hơn bạn tốt. Xà Vương chẳng gặp Kỳ-bà thì phải đọa A-tỳ, đây là ý nói phải gần thiện tri thức. Trong giải thích thì trước sự kế lý. Trước sự, trong nói thiện tri thức trước nói ngoại hộ, tự thân tâm mình là nội, nhìn thân tâm người là ngoại. Vì hộ bên ngoài nên gọi là ngoại hộ. Nói hành là mình người cùng đồng khuyên nhau gắng phát, khác người mà hạnh đồng nên gọi là đồng hành. Nói giáo thọ là tuyên truyền lời Thánh nói gọi là giáo, dạy dỗ ta gọi là Thọ lại lời trên bị dưới gọi là giáo, dạy cho người nhận gọi là Trao. Nói chung về tri thức, thì Pháp Hoa Sớ nói: Nghe tên là Tri, thấy hình là thức. Người ấy ích ta đạo bình đẳng thì gọi là thiện tri thức. Nếu sâu trở xuống là chánh giải thích. Phân biệt tùy tự ý, là phẩm ít có thể tụ doanh lý chẳng bỏ tiến tu cho nên chẳng can, đạo tục đều được cho nên chẳng phân biệt trắng đen. Chỉ nặng đẳng: đức mỏng kính ngưỡng người nên là doanh lý, ai thuần thiện nên khuyên chớ thấy lỗi người. Chưa kham trái thuận khuyên chớ xúc não và chớ ngợi khen. Nói gồm nêu: như thuyền kéo buồm được gió tiến nhanh khác thường, nhờ tinh tấn nhỏ mà khen ngợi quá sự thật, gọi là gồm nêu, bỗng sanh chấp chặt lại sanh tổn thất. Tuy vốn không tâm nhưng lý tách dễ bể, trong phòng việc ma, ngoài dẹp kiêu căng. Thuyền pháp Tam-muội mới đến bờ kia. Nay khen tiểu thiện là thường nhân như thế, không phải chuyên vì Tam-muội khác là ngoại hộ thì tự trừ ganh ghét mà phát tâm gốc lành ấy. Như mẹ nuôi con, là mẹ tuy từ dưỡng con ắt sách, Hổ tuy mảnh hàm với con thì khoan (mẹ tuy hiền từ nhưng đối với con ắt nghiêm khắc, cọp tuy hay cắn nhưng đời con ắt rộng tha. Ngoại hộ tri thức như mẹ như hổ. Che chở người tu như chớ cử chớ não. Người xưa hành đạo, nếu chưa thân biết nhau được chăng? Một bề lộn tục chẳng hiểu khai giá. Lại sao chỉ chuyên khiến ngoại hộ hộ mình, cũng phải khéo tương hộ mà hộ ngoại. Như Tăng Nhất ba nói Phật ở Cấp Cô Độc bảo các Tỳ-kheo rằng: Phải nên cung kính Đàn Việt thí chủ như hiếu thảo dưỡng nuôi cha mẹ phải nuôi dưỡng đãi đằng tử tế. Thí chủ hay thành giới định trí tuệ, giúp ích rất nhiều. Ở trong Tam bảo không có quái ngại, hay thí bốn việc. Cho nên các Tỳ-kheo từ tâm đối với Đàn Việt, ân nhỏ còn chẳng quên huống chi là ân lớn. Ba nghiệp phải siêng năng khiến thí chủ phước chẳng uổng phí. Trọn hộ đại quả tiếng tăm truyền khắp. Cũng như người mê được chỉ đường, cũng như người sợ được an ủi hết sợ, che chỗ người không chỗ nương tựa người nghèo thiếu thì cấp lương thực, kẻ mù được mắt hai đồng hành, là tùy tự ý lạc hạnh nói chưa hẳn cần. Như tùy tự ý y kinh tu hành có cũng không ngại. Chẳng chế đồng bạn nên chưa hẳn cần, các thiện ác khác có không chẳng ngại. Nếu hạnh an lạc thực hành hai mươi mốt ngày, một bề chẳng dùng, nếu hạnh tướng phần nghi cũng có thể chung dụng. Như nói được đồng học tốt cũng đọc tụng kinh.

Trong ba thứ kia có bạn quyết tu, như nói chẳng ngủ chẳng tán loạn v. v… Trong luật thường nghi còn cần bạn đồng hành giúp nhau tiến bộ không não nhau, nên nói Tỳ-ni cộng Tỳ-ni. Cho đến mười hai Đầu-đà cũng cần người đồng hành. Tăng Nhất nói: Ca-diếp v.v… đều gọi là tướng các hạnh Tỳ-kheo. Phật bảo các Tỳ-kheo rằng căn người chẳng đồng, người thiện cùng người thiện, người ác cùng người ác, như sữa sẽ đồng với sữa, cho đến đề hồ đồng với đề hồ, phân đồng với phân. Cho nên Xá-lợi-phất đồng với người trí tuệ cho đến La-vân đồng với người mật hạnh, Điều-đạt đồng với người ác hạnh. Nếu hai mặt trời công ngang nhau thì một sáng trống không. Cho nên nay (lấy cớ) tu hạnh hôm qua cố gắng hơn hôm qua gọi là nhật tân (ngày càng đổi mới). Thiết tha mài giũa. Nhĩ Nhã nói: Vàng thì chạm, gỗ thì đục, xương gọi là khắc, ngà gọi là giũa ngọc cũ gọi là (mài), đá gọi là ma (mài), sáu thứ đều là tên tự khí. Nay gọi tức thiết tha (dồi mài) cho thành pháp khí. Lại trong Thích Huấn chép: Như thiết như tha (như mài như giũa) đạo học. Người tu học muốn thành đức phải như trác như mà dồi mài tự tu. Người phải tu để lập hạnh, tự học tự tu cố gắng tha ý. Trước giải thích đúng ý văn. Cho nên cùng thiết tha một ngày thành một ngày. Đồng tâm tề chí v.v…nghĩa là hai nghĩa cùng có một lỗi sẽ khai cùng hoại. Như vượt bể khơi thì buồn và bánh lái phải giúp nhau. Cùng kính trọng như thấy Thế tôn. Nếu kính trọng nhau thì đạo pháp cùng tăng. Cho nên Đại luận quyển tám mươi mốt nói: Phật bảo A-nan, Đại Bồ-tát ở chung cùng nhìn nhau phải như Thế tôn, vì sao? Vì thật bạn của ta như cùng ngồi một thuyền, người ấy học ta học, ba giáo trao nhau, là trong ba tri thức nầy là khó nhất. Phàm người dắt dẫn phải đủ chân mắt. Nếu hạnh giải chẳng đều làm sao có thể lợi tha được. Cho nên từ văn đầu chánh bày tướng giáo thọ thiện tri thức. Từ ư chư trở xuống là chọn bày chẳng cần người giáo thọ, như thế còn có thể giáo thọ người, cho nên được tự hành không chỗ ngại khó. Lại hạnh giải đầy đủ đức ở người khác. Nghĩa là ích ta chỉ ở tại giải. Cho nên trong văn lại nêu hay nói chuyển tâm người, ở trong mười cảnh đều chẳng phải đạo, mười thừa pháp quán mới gọi là Đạo. Đạo tiền là phương tiện lại có trong ngoài. Cho nên thiện trong ngoài mới phải khéo biết. Theo trong Thiền môn hai mươi lăm pháp là ngoại phương tiện, lại có năm pháp là nội phương tiện: Một là Chỉ môn, hai là Nghiệm căn tánh thiện ác, ba là pháp An tâm, bốn là pháp trị bệnh, năm là pháp phân biệt ma. Nay văn chẳng lập hai cảnh ma bệnh tức là thứ bốn thứ năm, nghiệp cảnh tức là thứ hai, thứ một và thứ ba đây y cứ lý quán như trong an tâm đó y cứ sự chỉ cho đến sự an, cho nên ở đây chẳng dùng. Lại văn nay chẳng lập trong năm phương tiện, là lấy mười thứ cảnh giới làm nội phương tiện. Cho nên văn trên nói hai mươi lăm pháp là ngoại phương tiện, cũng gọi là xa. Cho nên biết đối với mười cảnh là nội là gần. Lại ở ngoại chỉ có hai mươi lăm mà phân ra nội ngoại. Đủ duyên một bề là ngoại, quở dục bỏ cái nghĩa gồm nội ngoại. Nghĩa là trong năm sự cũng nội cũng ngoại. Ăn và ngủ ở ngoại, ba thứ kia ở nội. Hạnh ở năm pháp một bề ở nội. Thông bít v.v… là phương tiện được coi là chung, ngược hạnh phương tiện là tắc. Mười cảnh cùng phương mười thừa thêm bớt, trong mỗi pháp đều có thông bít. Nếu giới thông bít này đề ngại chướng, lại khéo nói pháp dắt đạt tâm người mới có thể gọi là giáo thọ tri thức. Thị giáo lợi hỷ, chỉ trao là thị, giáo chiếu là giáo, khiến người được ích là lợi, thấy người khác được lợi tâm sanh vui mừng là hỷ. Cũng có thể hai trước thuộc mình, hai sau thuộc người. Kia đây hợp luận gọi là thiện tri thức. Kế trong quán tâm tri thức trước dẫn kinh bày tướng. Kinh hỏi thế nào là thiện tri thức. Phật nói: Phật, Bồ-tát, A-la-hán là thiện tri thức, sáu Ba-la-mật và tất cả pháp pháp tánh thật tế đều gọi là thiện tri thức. Pháp tánh giúp người đến bình đẳng, sáu độ có khả năng thành tựu pháp tánh. Bậc Thánh Ba thừa có khả năng dùng sáu độ khiến Bồ-tát thực hành mà được thành Phật, cho nên đều gọi là thiện tri thức. Luận hỏi: Tiểu thừa đạo khác nói thế nào là thiện tri thức? Đáp: Có người Tiểu thừa trước đến cầu đại, quyển biết sẽ thành đại, cũng vì nói đại. Đây là thật hạnh cũng có người hay nói đại là thọ, tưởng, hành, thức. Nếu y theo văn sau này chỉ nội bí ngoại hiện mới có thể chung dụng, sao ngại trong đây cũng là nội bí, giáng ngoại này nếu y theo văn sau chỉ là chân đế thiện tri thức mà thôi. Nay đều trở xuống là khai đối. Trước như Phật trở xuống là trong Phật Bồ-tát khai ra ba: Một là ngoại hộ, tức Chư Phật oai thần đối với ta là ngoại; Kế trong đồng hành báo thân không thể nghĩ bàn công đức là anh lạc. Tướng tốt trượng sáu là (áo dơ), đạo phẩm sanh diệt là đồ đựng phân. Bày đồng kiến tư gọi là ánh sáng, vốn vì ích kia gọi là lợi vật. Vì sao? Vì dẫn ra khỏi nhà rồi bày thân tôn đặc nói pháp khó nghĩ bàn. Quở trách (đuổi bỏ) người được thọ ký trước sau cùng đồng lợi hơn đây; Ba là giáo thọ, chánh là lý ấy, cho nên chẳng cần dùng sự hiểu nghĩa. Kế trong sáu độ khai hai, trợ đạo nhìn chánh cho nên trợ gọi là ngoài, trợ giữ gìn chánh khiến chẳng lui mất là nghĩa ngoại hộ. Chánh trợ hợp nghĩa như trở xuống là trong trợ đạo chánh trợ hợp làm, hợp tức là đồng, nên nói đồng hành. Nói chẳng mất khuôn phép, là đối chuyển gồm đủ và nghĩa Đệ nhất. Thêm bớt vừa chừng đều trong khuôn phép. Qui tròn cũ vuông tức dùng vuông mà giúp tròn. Kế trong pháp tánh khai ba, pháp tánh vốn tịnh, còn ta mê từ vô thỉ, cho nên mê thành tự, nhìn tịnh và tha. Tự chẳng phải nội huân sao sanh ra ngộ, cho nên biết năng lực sanh ngộ ở chân như, nên dùng minh huân làm ngoại hộ. Từ thỉ đến chung trí cảnh thầm hợp nhất, tức gọi đồng hành. Lại vì trí đồng cảnh nên gọi là đồng hành. Chưa thấy như mù do không giáo thọ, mắt trí vô vắng lặng nghĩa đồng giáo thọ, cảnh trí chẳng sai gọi là vô vắng lặng. Đây thì trở xuống là kết bày. Trước kết số, kế bày pháp môn. Trước bày số, là ở ba văn kinh đã đều khai ba, đều cùng ba trước nên thành mười hai. Trước ba kế ba, là trước giải thích ba chính là y cứ sự, ba đầu trong chín là Chư Phật Bồ-tát là ba, nên cũng là sự. Sáu sau trong chín đã y cứ sáu độ pháp tánh để lập ba tên nên gọi là lý. Trước dẫn Đại phẩm rồi khai thành chín. Cho nên vốn ba chẳng cần đến lại. Đối Đế đối Tất ý cũng rất dễ hiểu. Kế bày xứ, nay đã nghĩa khai để đối ba đế, như trong Hoa Nghiêm, Phổ Hiền, Văn-thù và Di-lặc v.v… đều là Trung đạo thiện tri thức, các người khác phần nhiều là thuộc tục đế chỉ tri thức đó không có người Tiểu thừa thiếu nghĩa chân đế. Nếu thứ lớp thực hành mười trụ lấy bộ Đốn kia mà chế là ma. Cho nên kinh ấy không có tiểu tri thức. Nếu theo pháp giới Tánh luận của ngài Bồ-đề-lưu-chi thì Thiện Tài trước ở cõi nước Khả lạc, ở Tỳ-kheo Đức Vân mà nghe quang minh quán sát chánh niệm Chư Phật Tam-muội, để đối Sơ trụ cho đến thú bốn mươi hai, ở Di-lặc mà nghe Pháp môn Nhập Tam Thế Chí Chánh Niệm Tư Duy Trang Nghiêm để đối Diệu giác. Nếu nhất định theo ngài Bồ-đề-lưu-chi thì kinh nói: Thiện Tài gần gũi Tam thiên Đại thiên thế giới vi trần số các thiện tri thức, vì sao đối vị để ứng trần số. Lại y một nhà như trước đã giải thích đây trở xuống là chọn xếp. Ba đế đều nói là thiện tri thức đã dẫn Thiện Tài chứng nhập pháp giới, chỉ có thể được là hai nghĩa Biệt Viên. Người La-hán há là tri thức. Cho nên phân biệt rằng tuy đồng tên tri thức. Nhưng theo kinh Hoa Nghiêm vẫn bác bỏ là ma. Cho nên trong mười ma nêu là ba ma. Tuy gọi chung là ma, mà quyền thật khó lường, cho nên lại phân biệt thật và quyền. Quyền là vẫn được gọi chân thiện tri thức. Thật là tiến lùi (lưỡng lự) còn ở hai tên. Cho nên lại dùng Biệt giáo mà so sánh giải thích. Biệt giáo mất ý còn tên là ma, huống người Nhị thừa mà chẳng phải ma. Lại chi hai thứ Bồ-tát Tạng Thông. Nếu nửa cho nửa đoạt đồng lệ Nhị thừa, như Thiện kinh luận trong thế tục là chỉ cho người đường chánh Bồ-đề, huống chi là A-la-hán đốn đồng với ma. Thánh giáo chê khen chẳng thể một hướng. Như kinh Thí Dụ quyển hai nói: Xưa có nhà giàu mùa đông gặt hái ngàn hộc đem chôn dưới đất, mùa xuân đào lên thì không có lúa, chỉ thấy một con sâu to như con trâu, không tay chân đầu mắt như một khối thịt tròn. Chủ nhân lớn nhỏ đều quái lạ, đem ra đất bằng hỏi là vật gì, nhưng chẳng ai biết. Bèn dùng cái cọc sắt nhọn mà ghi một chỗ. Bèn bảo muốn biết ta là gì thì đem để ta bên đường cái, liền làm theo. Sau có năm trăm người cỡi ngựa đều mặc toàn mầu vàng, dừng ngựa hỏi rằng: Giặc lúa, sao ngươi ở đây? Bèn đáp: Ăn lúa của người ta nên bị giữ ở đây. Nói rất lâu rồi đi. Chủ nhân hỏi ai đó? Đáp là Kim tinh đi về Tây ba trăm bước ở dưới cây có hốc đá đầy vàng ròng. Người chủ đến đào lên quả nhiên được vàng bèn rất vui mừng mà đem giặc lúa trở về. Chủ nhân được vàng rồi thì rất biết ơn thần bèn lập đàn cúng dường giặc lúa bảo rằng: Trước chẳng nói tên họ là muốn chỉ chỗ để vàng. Nay ta phải chuyển làm phước trong thiên hạ, chẳng thể ở đây lâu, nói xong thì biến mất. Kinh chẳng hợp dụ ý cũng rất dễ thấy. Giặc lúa là Pháp sư danh lợi, có miệng không tay chân là có giải mà không hạnh. Lúa trong đất là tiến của trong kho, tiền của trong kho vốn cúng ruộng thanh tịnh nên gọi là hạt giống Mùa xuân mở ra là chủng (giống) muốn cúng ruộng thanh tịnh, ăn tức là lúa, là người nhận cúng dường. Lớn nhỏ chẳng biết là thí chũ chẳng chọn ruộng. Đất bằng là chỗ thường đi đứng. Hỏi: chẳng nói là thường ở chỗ vắng chẳng giảng nói. Mũi sắt nhọn đâm mới nói là nghe lợi mới giảng. Bên đường là giảng đường, năm trăm người cỡi ngựa là đều giảng năm thể. Toàn chứa vàng là thuần giảng nói kinh Phật cùng nói là vì nói kinh. Trong kinh lại quở trách là người vì lợi, chẳng phải tòa mà nói pháp mầu. Cho nên nói giặc lúa vì sao ở đây? Đáp: Ăn lúa người là tự giải thích lợi dưỡng khó nêu. Chủ nhân hỏi là: Thí chủ quyết nghi? Đáp: Là vàng ròng là đều giảng nói thật tướng của sở thuyên, năng thuyên. Dưới cây phía Tây là Tây chủ thu dâu kho Bí mật. Ba trăm bước là ba độc, cây là sanh tử, lý ở phiền não sanh tử. Đào lên quả được vàng, là chủ nhân y giáo tu hành mà được thấy lý. Đem về, là thí chủ tuy biết Pháp sư trái giáo, mà vì đền ân pháp nên muốn cúng dường. Giặc lúa từ biệt là Pháp sư trước nay chẳng nói đã là vô hạnh muốn tìm chỗ giảng. Chẳng chịu ở là vì sanh hổ thẹn. Làm phước thiên hạ là các chỗ cầu giảng. Vì lợi còn như thế huống chi là Biệt giáo bác bỏ đồng với ma. Vì hình tròn nên khiến như thế. Lại thực hành Nhị thừa cũng gọi là thiện tri thức. Như Đại luận nói: Các Bồ-tát Chư Phật, Thanh văn v.v… tin Phương Đẳng v.v… như pháp mà nói thì cũng gọi là thiện tri thức. Lại như Đại phẩm chuyển giáo tuy là bị gia lợi ích cho người khác cũng gọi là chân thiện tri thức. Chỉ đây là phân nửa là đại lược mà nói. Nếu y cứ ba hoặc chỉ dứt kiến tư vẫn là chưa tới phân nửa. Y cứ do-tuần mà thí dụ là hơn phân nửa, y cứ hoặc làm thí dụ đủ như thứ bảy. Nay lại y cứ vào bán giáo sở thuyên một lượt mà nói, cần gì phải cần hoặc v.v… phân nửa. Viên giác ba thứ, là viên ngoại hộ v.v… ba thứ là chân tri thức. Tam-muội Bồ-đề tâm v.v… là đã phân biệt thiện tri thức ma, thì hai ma kia cũng lệ với phân biệt này. Ấy thì Viên giác Tam-muội Bồ-đề mới gọi là Chân thật Tam-muội Bồ-đề. Ba giáo Tam-muội Bồ-đề ở trước hoặc thật hoặc ma như trên v.v…

Thứ hai là bác bỏ năm dục. Văn năm nghĩa năm ý chỉ ở một. Năm nghĩa lại có hai là sự lý. Trở xuống là ý văn đồng với năm duyên. Trước là sự, kế là lý. Hề là bạn (buộc), mỗi pháp trong năm đều y cứ. Y chánh hai báo hữu tình vô tình mà sanh dục. Tham sắc, là luận chép: Thí như có người tham đắm quả ngon, ở trên cây mà chẳng chịu xuống. Mọi người xô cây cây ngã xuống thì đầu mình hư hỏng do đó mà chết, cho nên phải quở trách. Mâu là con ngươi của mắt, lai là liếc mắt nhìn một bên. Lại nói: mâu là con ngươi. Mạnh Tử nói: Trong tâm chánh thì con ngươi sáng. Thúy là chim phỉ thúy. Dị vật chí nói tổ ở trên cây cao, cách đất sáu, bảy trượng. Người Di bắt nó. Thuyết văn nói: Xích ty cứ to bằng con yến, lông cánh màu xanh ngọc bích. Nay từ mầu lông mà gọi sắc mày. Hạo là ánh sáng trắng. Như Nan-đà vì muốn trì giới kinh Nhập Thai Tạng chép: Thế tôn ở thành Ca-tỳ-la, Phật biết Nan-đà thọ giới đã đến lúc, bèn đến trước nhà ông mà phát ra ánh sáng. Nan-đà nói sẽ là Thế tôn, bèn sai người hầu ra xem thì quả là Thế tôn. Nan-đà muốn ra gặp. Vợ nói nếu ra gặp ắt khiến xuất gia, liền kéo áo, Nan-đà bảo rằng: Gặp một chút rồi về ngay. Vợ nói trán ướt chưa khô là phải về, bèn đáp: được! Phật sai lấy bát đựng đầy cơm, khi đã múc đầy cơm đem ra thì Phật đã đi rồi. A-nan hỏi ai giao bát? Đáp: Phật. A-nan nói chạy theo giao cho Phật. Nan-đà bèn chạy theo đưa bát cho Phật. Phật sai người cạo tóc, rồi bảo người cạo tóc chớ cầm dao đến đảnh vua Diêm-phù-đề lại nghĩ thuận theo Thế tôn, chiều tối sẽ trở về. Phật biết ý nghĩ liền hóa hầm chắn ngang, bèn nghĩ chết rồi làm sao về. Phật bảo A-nan khiến Nan-đà làm Tri sự. Nan-đà hỏi tri sự là sao? A-nan nói là ở trong chùa kiểm soát, hỏi là làm gì? Đáp: Là các Tỳ-kheo đi khất thực rồi thì phải quét đất rải nước, lấy củi và phân trâu trên đất sạch giữ gìn không rơi mất và đóng cửa nhà tăng, đến sáng phải mở cửa quét ty cứ chỗ tiểu tiện. Tăng đi rồi bèn muốn đóng cửa, nhưng đóng cửa Tây thì cửa Đông mở, đóng cửa Đông thì cửa Tây mở. Bèn nghĩ dẫu có mất mát gì khi ta làm vua thì lại tạo ra trăm ngàn chùa tốt mà bồi thường lại. Liền theo đường lớn mà về nhà. Bỗng sợ gặp Phật trở về liền theo đường nhỏ. Nhưng cũng gặp Phật, liền chạy núp vào cành cây, gió thổi lên thân hiện ra. Phật hỏi đi đâu? Đáp: Nhớ vợ quá. Phật liền dời ông ra khỏi thành đến vườn Lộc tử mẫu. Phật hỏi: Ông có thấy núi Hương Túy chăng, thì đáp chưa thấy. Phật khiến nắm áo mà bay. Chợt thấy núi trên núi có cây ăn quả, dưới cây có một con khỉ cái một mắt bị đốt Phật hỏi thế nào là trời? Đáp: Trời không dục đâu được sánh đây. Hỏi: Ông đã thấy trời chưa, đáp chưa thấy. Phật khiến nắm chéo y liền đến cõi trời Ba mươi Ba cho dạo xem. Đến vườn rất vui thấy thể nữ và thấy vườn giao hợp, thấy các thứ tiếng. Có một chỗ Thiên nữ không chồng. Hỏi Phật, Phật bảo hỏi trời. Trời đáp em Phật là Nan-đà trì giới và sanh lên đây sẽ làm chồng ta. Phật hỏi Nan-đà: Thiên nữ ra sao so với Tôn-đà-lợi. Đáp: Trời so với Tôn-đà-lợi như Tôn-đà-lợi so với khỉ một mắt. Phật nói: Tu phạm hạnh có lợi ích ấy. Nay ông trì giới sẽ sanh lên cõi trời này. Lúc đó, cùng Phật trở về rừng Thệ đa. Bấy giờ Nan-đà ham cõi trời nên tu phạm hạnh. Phật bảo chúng tăng tất cả chẳng được đồng pháp sự với Nan-đà. Tất cả Tỳ-kheo đều chẳng đồng đi đứng với ông. Tự nghĩ A-nan là em ta ắt chẳng ghét ta, bèn đến ngồi chung. A-nan đứng dậy đi, liền hỏi: Sao em bỏ ta? A-nan nói vì nhân hạnh khác nhau nên trái nhau. Hỏi nghĩa là gì? Đáp: Anh thích sanh trên trời, còn em thích vắng lặng. Nghe rồi thì rất buồn bực. Phật lại hỏi: ông có thấy địa ngục chưa? Đáp: chưa. Phật bảo nắm chéo áo, liền thấy các ngục đều trị tội người. Có mười chỗ không người liền hỏi Phật. Phật khiến hỏi ngục tốt. Ngục tốt nói: Em Phật là Nan-đà vì sanh lên cõi trời cho nên tu hành, tạo ở cõi trời rồi trở về đây chịu khổ. Nan-đà sợ hãi khóc lóc như mưa, bạch Phật nói việc ấy. Phật nói vì vui cõi trời mà tu phạm hạnh nên có lỗi ấy. Bèn cùng Phật trở về rừng Thệ đa. Như nói rộng trong thai tướng. Nan-đà do đó mới phát tâm vì giải thoát nên trì giới, sau được quả A-la-hán. Nếu vào chúng trước quán người nữ vì dư tập, nay lại từ lỗi chẳng nói được quả. Quốc vương hoang dâm vô độ. Lớn là nước, nhỏ là bang, lấy một suốt ba nên gọi là vương, ba tức ba tài là Thiên, Địa, Nhân. Vì ở tục chẳng biết trong ba cõi có các trời. Tức vua Tần-bà-ta-la vì sắc dục nên thân vào nước kẻ thù ở trong phòng của dâm nữ Phạm ma. Vua Ưu-ruộng vì sắc dục nên chặt tay chân năm trăm vị tiên. Trích ở Đại luận quyển mười chín. Đam, Nhĩ Nhã gọi là ưa thích lâu hoang là mê vui không chán tông là tôn, miếu là mạo, nghĩa là chỗ ở của Tôn Mạo Xã là hậu thổ. Thổ là cõi, sanh ra như miệng ói nhã vật, tức là thân đất. Quốc Ngữ nói: Bình chín cõi nên thờ làm thần. Ruộng là chánh. Lại nói nâng Hoàng thiên mà che hậu thổ. Đất thổ địa rộng chẳng thể kính hết nên phong làm xã, Tắc là tên chung năm giống lúa. Tức là thần năm lúa, cho nên chỗ Thiên tử ở, bên trái là Tông miếu, bên phải là Xã tắc, bày ra bốn mùa ngũ hành, cho nên mất nước gọi là mất Xã tắc. Đã vào nước kẻ thù và phòng dâm nữ cho nên Xã tắc hoại. Cõi này trở xuống kế dẫn đam hoang cõi này mà so sánh. Hách hách là Thạnh. Như thế là Thạnh Chu sắp mất. Bao Tự, xưa là Hoàng hậu nhà Hạ lúc suy có hai con rồng nằm ở sân nhà Hạ, tự nói ta là Bao Tự ở hai vua trước. Rồng mất mà vẫn còn che kín. Nhà Hạ mất khí này truyền đến nhà Ân, Ân mất truyền cho nhà Chu ba đời chẳng dám phát, đến những năm cuối đời U Vương phát ra để ở sân khiến người nữ ở truồng mà tắm thì hóa thành Táo đen nhập vào Hậu cung của vua, Hậu cung có cô bé chưa mọc răng, đã cài trâm thì có thai không chồng mà sanh, sợ mà đem bỏ ngoài đường. Có hai vợ chồng đêm nghe khóc thương mà đem về nuôi sau mất ở nước Bao. Người Bao chuộc tội thỉnh vào Đồng nữ ở U Vương. Cô gái sinh ra ở nước Bao nên gọi Bao Tự. U Vương năm thứ ba ở hậu cung thấy mà thương, sanh con là Bá Phục, lại phế Thân Hậu và Thái tử mà lập Bao Tự và Bá Phục. Bao Tự chẳng cười, cười thì có một trăm hai mươi vẻ đẹp U Vương muốn nàng cười nên đánh trống báo có giặc và đốt phong hỏa. Chư hầu cùng kéo đến mà không có giặc, Bao Tự bèn cười lớn. U Vương làm nhiều lần như thế, sau Chư hầu không đến nữa. Đến năm thứ mười một thì Thân hầu và Khuyển Nhung đánh U Vương, U Vương đốt phong hỏa đánh trống báo có giặc nhưng không ai đến. Bèn giết U Vương, bắt sống Bao Tự, lấy hết của cải mà đi. Thân hầu bèn cùng chư hầu lập Thái tử. Tham lang là tâm tham như sói dữ. Thinh dục (tiếng dục), là tiếng chẳng dừng, người ngu chẳng hiểu chứa nhóm sinh đắm nhiễm. Kiều Mỵ yêu từ v.v… như trong Bà-sa nói: Khi Phật chưa ra đời. Đế-thích thường đến chỗ vị Tiên Đề-ba-diên-na nghe pháp. Xá Chi nghĩ rằng: Đế-thích bỏ ta muốn đến người nữ khác, bèn giấu mình trên xe đến chỗ vị Tiên. Đế-thích thấy bèn bảo rằng: vị Tiên chẳng muốn thấy người nữ, nàng trở về đi, khổ chẳng chịu đi. Đế-thích dùng cành hoa sen mà đánh. Xá Chỉ bèn dùng lời dịu dàng từ tạ Đế-thích. Các Tiên nghe tiếng liền khởi dục thì Loa Kế té xuống đất mất thần thông. Cho đến tất cả lời nhiễm ở thế gian đều sanh dục cho người. Cho nên phải quở trách.

Tơ Trúc huyền quản v.v… Tư xưa có nhạc chẳng ngoài tám âm. Thổ gọi là quyên, nay trẻ con cũng thổi, bào là sanh (sên), bì là trống, trúc là quản (ống sáo), tơ là huyền (đờn dây), thạch là khánh, kim là chung, cây là chúc. Do đó làm nhạc điều khiển tám âm để đổi chí tà của người để toàn chánh tánh, để thay đổi phong tục. Nay nhạc đều là tiếng Trịnh Vệ, tăng cuồng dật, hoại chánh tánh cho nên phải quở trách. Như luận nói: Có năm trăm vị Tiên ở trong núi Tuyết. Cô gái Chân-ca-la ở núi Tuyết tắm mà hát, tiên nghe tiếng hát mà mất các thiền định, tâm say mê cuồng chẳng thể tự chuyển. Ở ngón là Nhẫn, ở cánh tay là Xuyến. Chuông đeo đều là món trang sức trên thân người nữ phát ra tiếng nên sanh ra dục. Kế trong hương dục mà nói Uất-phất. Phất là đeo hương. Phân huân là khí tốt. Hương phân phương là khí tạp. Khốc liệt cũng là dáng đầy hương thơm, các dục là hương dịu dàng. Ở y chánh hương đều chẳng nên mê đắm. Người cho là đeo hương có lỗi nhỏ, nay thì không như thế. Khai môn kết sử, thấy đường chân chánh, trăm năm trì giới có thể hoại một giờ. Đại luận nói: Như có La-hán vào cung rồng được rồng mời ăn, bát dơ giao cho Sa-di rửa, bát hôi được thơm tho, liền làm phương tiện chung dưới giường dây, tay cầm chân giường cùng vào cung rồng. Rồng nói: Sao đem người chưa đắc đạo đến. Sư nói chẳng biết. Sa-di được ăn ngon thấy Long nữ thơm tho đẹp đẽ không gì sánh bằng, bèn rất đắm nhiễm. Trong tâm phát nguyện nguyện thường làm phước để cướp Long nữ này. Rồng nói chớ đem Sa-di đến. Sa-di trở về một lòng tu thí giới nguyện sớm thành rồng. Khi ấy đi nhiễu chùa thì dưới chân có nước, tự biết nghiệp rồng đã thành. Đến ao lớn chỗ thầy vào xưa che y ca sa lên đầu mà chết, liền biến thành rồng to phước đức rất lớn, liền giết rồng kia, máu nhuộm đỏ ao. Trước khi chưa chết thầy quở trách đồ chúng. Đáp rằng: Lòng con đã định thầy dắt chúng tăng đến ao xem thì than rằng: Do mê đắm hương thơm mà đến nỗi này! Lại có Tỳ-kheo mê đắm hương hoa sen bị thần ao quở trách, người sau nhổ bỏ thần ao chẳng trách. Tỳ-kheo trách ngược thần ao. Thần nói: Tỳ-kheo như áo trắng dính mực liền thấy, người thế tục như vật đen nên dính mực chẳng ai thấy, đâu đáng lấy làm lạ. Quí nhất trong vị dục là vị ngon, truyện nói: Không phải lúa mà ăn thì gọi là hào. Hào là dưa muối. Thuyết Văn nói từ thịt là đạm. Phi dụ, thuyết văn nói là thịt dưới bụng là tâm nhuận. Nị v.v… là mỡ nước mỡ đặc. Vì mê đắm vị nên nước đồng sôi đổ vào miệng, vì mê đắm vị nên rơi vào chỗ bất tịnh. Như một Sa-di tâm ưa thích vui. Đàn việt cúng dường tăng, mỗi khi Sa-di được dư thừa thì đắm mê không lìa. Chết rồi thành sâu sanh trong lạc thừa. Thầy đã được A-la-hán, mỗi khi tăng chia lạc thì bảo từ từ, kẻo là tổn thương Sa-di ưa lạc. Người hỏi thì đáp con sâu này vốn là Sa-di của ta, vì ưa vị lạc nên đọa trong lạc này, vì nghĩa ấy cho nên phải trách vị.

Xúc dục, là gốc sanh tử, là duyên buộc ràng. Vì sao? Vì các dục ở bốn căn kia đều được chia riêng, chỉ có xúc dục này là ở toàn thân, chỗ sanh rộng nhiều nên sanh mê đắm. Mê đắm này khó bỏ. Nếu bị đọa địa ngục thì lại lấy thân xúc mà chịu khổ muôn mối. Xúc này gọi là điểm đen tối lớn. Luận chép: Như kinh Kiếp Bát Tiên Nhân nói: Quá khứ có vị tiên tên là Kiếp-bát được năm thần thông vua rất kính trọng, bay đi bay về. Vua tự cõng tiên trải tóc để vị tiên đi và cùng ăn làm, chính tay vua nấu gắp thức ăn cả mấy năm. Vua có việc phải đi xa, vua có một cô con gái rất đẹp không ai bằng. Vua bảo con gái ta kính thờ vị tiên chẳng dám trái ý. Nay ta có việc đi xa con phải cung cấp cho vị ấy như ta. Vị tiên ấy bay đến, cô gái mời ngồi và tay để trên ghế trên bàn, vị tiên chạm vào liền khởi dục. Dục mạnh quá mất thần thông phải đi bộ ra khỏi cung. Mọi người nhóm họp nhìn xem. Vua nghe liền đến xem cúi đầu nói kệ trách vị tiên, vị tiên nói đúng thật như chỗ nói. Năm nạn này trở xuống là năm thí dụ như văn nói. Lại Đại thừa nói: Thương thay chúng sanh thường bị năm dục làm não loạn mà vẫn mãi tìm cầu chẳng thôi, như chó gặm xương khô, như đạp nhằm rắn độc. Năm dục này cùng chẳng khác súc sanh, quán tâm trách dục, là văn trước nêu dục sanh ra ba đế thường vô thường v.v… tức là hai bên. Nghĩa đế bậc nhất tức là Trung đạo. Trong dục đã có vị ba đế sao chẳng quán đã sanh quán giải, mà chỉ mê đắm dục nhiễm thô ác của thế gian, thật lầm lạc thay. Cho nên Đại luận trở xuống nói: Trong dục cũng sanh vô lượng các kiến. Dục là Độn sử lại sanh vô lượng các kiến. Lợi độn đầy đủ đều sanh trong dục. Đây là trở xuống là văn ba quán nói cảnh sở quán. Nay quán trở xuống là quán năng quán.

Thứ lớp của quán, trước nói quán không, tức chiết thể khác nhau. Lại hai không này đâu đồng với Lão Trang? Trang nói năm mầu loạn mắt khiến mắt chẳng sáng, năm tiếng loạn tai khiến tư chẳng chung, năm mùi loạn mũi nhân thuần trong sáng, năm vị ở miệng khiến miệng lệ sảng, lấy bỏ hoạt tâm khiến tánh bay bổng. Năm thứ này sanh hai hại năm căn rất đồng với lời đã nói, ông ấy tuy nói hại sanh mà chẳng biết gốc hại sanh, chỉ biết bị năm hại ấy thì mê mờ phương hại.

Trong quán giả nói cũng gọi là thọ nhập sắc không, là bác bỏ quán không ở trước, nếu chẳng rõ sắc trong tất cả Phật pháp, chỉ gọi là lãnh thọ chấp đắm sắc không. Trung quán rất dễ thấy. Cho nên Thích Luận nói trở xuống là lại bác bỏ tiểu. Cho nên biết Nhị thừa chẳng thấy sắc thật. Bác bỏ sâu trở xuống là nêu lý để quở trách. Trong sự trách dục lại gồm viên lý, mới được phương tiện của Viên gia, nên nói ý ở

đây người chẳng thấy đây mà làm theo văn ấy. Trên dưới đều như thế, xin chú ý.

 

PHẦN 4

Thứ ba là bỏ cái. Văn nghĩa đồng như trước, trong đó văn đầu nêu số, Thích Danh nói khác, nêu thí dụ dẫn chứng các văn đều rất dễ thấy. Luận Bà-sa quyển mười tám nói: Trong năm cái này ba việc đều lập tức là tham sân nghi, hai sự cùng lập là Thùy Miên, Trạo Hối. Câu-xá chép: Thực trị dụng đồng. Tham lấy diệu dục làm ăn, bất tịnh quán làm trị. Sân nhuế (giận dữ) lấy tướng đáng ghét làm thức ăn, từ tâm quán làm trị. Nghi dùng tướng ba đời làm ăn, duyên khởi quán làm trị. Cho nên đều lập một phía. Hôn trầm thùy miên lấy năm pháp làm thức ăn: Một là mù mờ, hai là chẳng vui, ba là nhíu mày, bốn là tánh ăn không bình đẳng, năm là tâm tánh gầy yếu, dùng Tỳ-bát-xá-na để trị. Xưa gọi thùy miên tức là hôn trầm. Trạo cử, tác lấy bốn pháp làm thức ăn: Một là thân lý tầm, hai là cõi nước tầm, ba là bất tử tầm, bốn là nghĩ việc xưa tầm, dùng Xa-ma-tha để trị, xưa gọi là trạo hối trạo là cử động. Hối là ác tác, nên đều lập một. Hỏi: Vì sao ba trước đều lập một, hai sau hai, hai lập một? Đáp: Ba trước có thể nói riêng, hai sau chung mới nói được, như người nói sự có chung, có riêng. Nay đây văn nêu nghi ở sau, vì bốn thứ trước đều có nghi, mà bốn trước tăng cường từ bốn là cái, ý song chiếc lại y theo luận văn. Nếu ý kinh Đại thừa chung đến Kim cương đủ như giải thích sau: Trước trách dục trở xuống tức là nói về khác. Trước chỗ trách dục đối trần phát thức, chẳng phải ngay ở năm thức mà được gọi là năm dục, phải đồng thời ý thức duyên hiện năm trần khởi năm ý thức phân biệt tưởng mê đắm khởi tâm mong cầu nên gọi là Dục. Nay năm cái này mới nói chuyển vào ý địa, nghĩa là năm trần trước đến khi nhập thiền, ý địa cũng nhiễm. Che lấp thiền định nên gọi là Cái. Dục trước một bề đối thuận tình trần. Cái chung trái thuận đối định để nói. Trong nêu thí dụ, trước nêu bổn trí, kế nêu trọng thí.

Nói như cây độc v.v… văn tuy đồng trước ý nghĩa khác, khiến có cái ắt bỏ, như có độc phải cắt. Kiểm soát giặc cũng như thế. Đại Phẩm trở xuống là dẫn chứng. Nói lìa dục và pháp ác, là Câu-xá nói: Năm cái chỉ ở dục, thiền đời còn phải lìa hai pháp này huống chi là tu viên đốn ư? Tham dục cái khởi trở xuống là kế nói tướng cái. Trong tham dục trước nói khai môn kiết sử, chín kiết cùng tám mươi tám sử đều nhân dục mà vào. Vì nghĩ hương thơm nên chung kiết sử mà vào. Hương là năng chung gọi là môn kiết sử. Lại nói kiết sử tức môn gọi là kiết sử môn. Vì hay khiến hành giả (người tu) đến đường ác. Hàm mạng nói sử là kết chỗ sai khiến. Ba đời chín não. Văn chung nêu ba, tức một là khuấy não ta, hai là khuấy não người thân của ta, ba là khen người ta thù oán, ba đời cho nên hợp thành chín. Hỏi: Quá khứ đã qua, vị lai chưa đến đâu gọi là não. Đáp: Não tuy cảnh quá vị mà thật ở hữu tình, cùng lúc gặp nhau thì sanh não cho đến quá khứ có làm não ta. Nếu người lìa sân thì tuy có cảnh não mà tâm não chẳng sanh. Như Thích-Đề Bà-na dùng kệ hỏi Phật: Vật nào giết an ổn, vật nào giết vô ưu, vật nào là gốc độc, nuốt mất tất cả thiện. Phật đáp: Giết sân thì an ổn, giết sân thì vô ưu, sân chính là gốc độc, nuốt diệt tất cả thiện. Miên gọi là tăng pháp tâm sở, trong đây nói chung là thùy miên khiến cho tâm sở thêm lớn không ngừng. Trong Câu-xá y cứ pháp tướng nói rằng: Thùy miên khắp chẳng trái, nếu có, đều tăng một, vì nó chung ba tánh. Tâm thiện sở có hai mươi hai pháp đều khởi mười Đại dị, mười Đại thiện địa và Tầm từ, có khi thêm ác tác. Tâm sở bất thiện có hai mươi, tức là Đại địa mười, Đại phiền não địa sáu, Đại bất thiện hai, Tầm từ hai, bốn phiền não phẫn v.v… ác tác hai mươi mốt, hữu phú có mười tám, vô phú có mười hai. Như trong phẩm tâm ở trước nếu có đều tăng thêm một. Kinh Tát-già-ni-càn nói: Nếu người nặng về ngủ nghỉ, v.v… hai hàng kệ đủ như văn nay. Thích Luận chép: Đại luận gồm có tám bài kệ v.v… Đại Kinh nói: Như người thích ngủ nghỉ thì thấm nhuần nhiều. Tướng cái trạo hối. Trạo là động, trạo là pháp phá tâm xuất gia, nhiếp còn chẳng định huống chi là trạo tán. Đại luận quyển mười chín có bài kệ rằng: Ông đã cạo tóc mặc áo cà-sa, ôm bình bát đi khất thực, sao lại ưa pháp hý luận, buông lung mất pháp lợi. Kinh Tát-giá nói: Tâm hý luận cấu nhiễm, tâm chẳng trụ Tam-muội, bị người trí bác bỏ trách, hành giả chẳng giải thoát muốn được lợi ích nhanh, phải lìa các buông lung. Luận chép: Nói hối, có hai thứ: Một là trạo sau sanh hối, hai là như người có tội nặng thường ôm tâm lo sợ. Tâm hối vào tim, chắc không nhổ được. Nay cũng đủ hai thứ. Văn trước tức ý đầu, kế nếu người trở xuống tức là ý thứ hai.

Cho nên Đại luận quyển mười chín nói: Nếu người có hai thứ phải làm mà chẳng làm, phải làm mà làm ấy là tướng người ngu. Chẳng vì tâm hối nên chẳng nên làm hay làm được, các việc ác đã làm rồi thì không thể khiến cho chẳng làm. Câu trước là nêu chung, ba câu kế là ý đầu, bốn câu kế là ý thứ hai. Cho nên trong kinh Bảo Tích có Bồ-tát được trí Túc mạng nhớ biết trong ức kiếp tội nặng đã gây, vì ưu hối nên chẳng chứng Vô sanh. Lúc đó Văn-thù Sư-lợi biết rõ ý nghĩ bèn ở giữa đại chúng mà cầm dao hại Phật. Phật nói: Nếu muốn hại ta là khéo hại ta. Văn-thù bạch Phật vì sao, Phật do đó nói tất cả pháp đều như huyễn hóa, nếu hay như thế là khéo hại ta. Bồ-tát do đó soi biết tội đời trước đều như huyễn hóa mà được Vô sanh nhẫn. Trong nghi nói do dự là gọi chung chẳng quyết. Do Nhĩ Nhã nói con hoẳng khéo leo cây. Thi Tử nói: Chó lớn năm thước gọi là Do. Thuyết Văn nói: Lũng hữu gọi con chó là Do, cũng thuộc nói con chó này hoặc chạy theo người được sau chẳng định nên gọi là do dự. Nghi tuy có lỗi nhưng phải nghĩ chọn, ở thân tâm mà quyết chẳng nên nghi. Pháp sư hai nghi phải hiểu lúc ấy, nếu chưa vào Tam-muội đối hai pháp này nếu chẳng nghi thì lại gặp Tà sư, Tà pháp. Cho nên phải suy nghĩ phân biệt cho thật chín chắn, nghi là giải tâm đây là tên gọi. Sư pháp đã chánh thì y theo pháp mà tu hành. Bấy giờ ba nghi phải bỏ hẳn. Tướng bệnh năm cái trở xuống là nói bỏ cái. Đây thì kết trước sanh sau. Cũng trước sự kế là ký. Hành giả trở xuống là nói pháp lập trị. Tùy gượng, nếu tham trở xuống là chánh nói dụng trị. Bất tịnh trị tham, là y cứ thật quán, đủ như trong quyển bảy. Trong Trị Sân nói hai đời là quá hiện, cũng như thứ bảy, thứ chín. Trong trị thùy miên nói như hướng về núi báu. Đại luận trong giải thích Tín chép: Lấy tín làm tay, như người không có tay mà vào núi báu thì không lấy được gì. Người chẳng tin mà vào núi báu Phật pháp thì đều không được gì. Vì chẳng tin nên sanh ngờ vực. Nếu người có lòng tin mà vào Phật pháp thì chẳng cạo đầu suông, mà hay hỏi hay đáp, phải biết người xuất gia đến núi báu đâu thể trở về tay không. Trương cúc cụ v.v…

Trượng là đi trong thiền đường. Luật Tăng-kỳ nói: Lấy trúc làm gậy dài tám chỏ để ở hai đầu, sai hạ toạ gánh đi, chẳng được chống sườn chống trước ba hay chẳng biết chống bên trái. Nói cúc là đều lấy tay cúc dính trên đầu, ngủ thì rớt xuống đất thức thì sách phát. Luật nói: Nếu có người ngủ thì dùng cúc mà nén. Bối là vỏ ốc lớn để thổi ra tiếng mà thức tỉnh người ngủ. Ngôi sao là Phật pháp chỉ cho hết ngủ xem sao, còn tất cả lúc khác thì cấm, hoặc lại dùng nước rửa chân và mặt. Bà-sa nói từ mặt trời lặn đến mặt trời mọc ngồi kiết già siêng năng tinh tấn Đảnh an thiền trấn, gậy hành thiền cúc pháp. Cũng lại có pháp trị của các bậc Thánh khác. Như kinh Dục Vương nói: Có một Tỳ-kheo ham ngủ, Hòa thượng Cúc-đa hóa thành một con quỉ bảy đầu bảy tay cầm gậy treo trên hư không thấy rồi về chỗ cũ. Hòa-thượng bảo nên ngồi thiền, nếu ngủ thì trở lại, mà tinh tấn được dạo. Lại có một Tỳ-kheo ngủ nhiều, thấy quỉ thấy Cúc-đa, Cúc-đa nói: Quỉ chẳng sợ, bị quỉ giết mà chẳng vào sanh tử còn bị ngủ giết thì sanh tử vô cung. Tỳ-kheo trở về phòng ngồi thiền mà được định. Lại kinh Thí Dụ nói có một Tỳ-kheo ăn no vào phòng ngủ, Phật biết qua bảy ngày sẽ chết. Phật đến phòng ấy búng ngón tay để thức tỉnh, Phật nói kệ cảnh cáo. Thức rồi lễ Phật. Phật nói: Ông ở thời Phật Duy-vệ làm Sa-môn vì tham lợi dưỡng chẳng tu tập kinh giáo ăn no liền ngủ, chẳng nghĩ vô thường, chết rồi đọa làm loài cá ông, con nghêu con ốc, năm trăm muôn năm thường ở trong tối tăm chẳng thích ánh sáng. Một khi ngủ thì cả trăm năm, thức rồi chẳng cầu xuất gia. Nay làm Sa-môn, vì sao lại ngủ mà chẳng biết nhàm chán. Tỳ-kheo nghe rồi tự hội tự trách, năm cái liền dứt mà chứng quả thứ tư. Đây chính là Thánh biết cơ cảnh cáo việc ngủ. Trong Trị Nghi chép: Núi Tuyết từ quỉ thỉnh kệ, nói đủ như trong trong Tuyết Sơn Đồng Tử của Đại kinh. Thiên đế lạy súc sanh làm thầy, là kinh Vị Tằng Hữu quyển thượng, Phật nói như thuở quá khứ cách nay vô số kiếp. Ở nước Tỳ-ma trong núi Xỉ-đà có một con dã can bị sư tử rượt đuổi muốn ăn thịt, chạy rờirớt xuống giếng chẳng lên được, suốt ba ngày bèn móc tim ra chết mà nói kệ rằng: Họa thay ngày nay bị khổ ép, phải bị mất mạng ở giếng gò, tất cả muôn vật đều vô thường, hận chẳng dùng tâm nuôi sư tử. Nam mô qui mạng Mười Phương Phật cho biết tâm ta thanh tịnh không thôi. Lúc đó, trời Đế-thích nghe tên Phật nghiêm chỉnh niệm Phật xưa, chỉ có một mình không Đạo sư, đam mê năm dục tự chết chìm, liền cùng các trời tám muôn chúng, liền bay xuống giếng muốn hỏi han. Bèn thấy dã can ở đáy giếng, hai tay bám đất chẳng lên được. Thiên đế lại tự nghĩ rằng: Bậc Thánh phải nhớ vô phương thuật, nay tôi tuy thấy thân dã can. Đây ắt Bồ-tát chẳng phải phàm khí. Nhân giả vừa nói chẳng phải lời phàm, xin vì các trời nói pháp yếu. Lúc đó dã can bèn đáp: Các ông Thiên đế không dạy bảo, Pháp sư ở dưới mình ở trên, đều chẳng tu kỉnh hỏi pháp yếu. Nếu pháp thanh tịnh cứu được người, vì sao muốn được tự cống cao. Thiên Đế nghe xong rất hổ thẹn. Giúp đỡ các trời ngạc nhiên cười. Thiên Vương giáng chỉ rất vô lợi. Thiên đế tức thời bảo các trời. Cẩn thận vì đây mà sợ sệt, là ta ngang bướng đức chẳng xứng. Ắt phải nhân đây nghe pháp yếu, liền tự trải y báu trời ra mà đặt dã can nằm lên. Các trời bày cam lộ cho ăn, dã can ăn xong mà muốn sống, chẳng phải trong họa được phước này, tâm càng hớn hở vui vô lượng, lúc đó dã can tự nghĩ rằng: Ta được túc mạng biết quá khứ v.v…

Bèn khiến các trời bày tòa v.v… Thiên đế nói được thoát nạn giếng v. v… dã can nói rộng có người thích sống ghét chết, có người thích chết ghét sống v.v… Thiên đế hỏi: Cứu mạng không công đức, thí pháp có công đức gì? Dã can nói rộng công đức thí pháp v.v… Bèn nói quá khứ có vị vua tên là A-dật-đa, trước, giữ mười điều lành. Sau vì nước lân cận dâng con gái tặng của báu, do đó mà xa xí bị đọa địa ngục. Ra khỏi ngục rồi thì làm quỉ. Từ quỉ lại nhớ kiếp xưa có mười điều lành. Từ quỉ đọa vào súc sanh làm dã can. Tạ đọa phần tử mang được sanh lên cõi trời. Vì ông nên trái bản nguyện của ta, cho nên nói cứu mạng có công ít. Thiên đế hỏi rằng: Thế tôn nói người thiền cầu chết việc ấy chẳng đúng. Nếu muốn cầu chết vì sao vào áo? Đáp rằng có ba ý: Một là thuận ý Thiên đế, hai là vì các vị trời được nghe pháp, ba là vì chung hóa tuyên truyền pháp. Lại vì Thiên đế nói rộng pháp môn v.v… Đại luận chép: Chẳng vì túi da thúi v.v… Đại luận quyển chín mươi sáu trong Ba Luân Duyên chép: Nếu có đệ tử thấy lỗi của thầy nếu thật chẳng thật tâm ấy tự hư mất pháp hơn lợi cho nên không tiếng bảo rằng chớ thấy lỗi của thầy phải tự nghĩ mình bạc phước không được gặp Phật, gặp thầy ác chẳng nên nghĩ lỗi, tự hại Bát-nhã. Nếu thầy có lỗi chẳng can dự gì đến ta. Ta từ thầy cầu Bát-nhã, như túi da chó đựng đầy vật báu, thì chẳng vì da thúi mà bỏ báu. Như người tội cầm đuốc đủ như trong bốn Tam-muội đã dẫn. Muôn sông, nước hội mà làm sông, sông lớn tự xuyên, xuyên là chung. Kinh Phổ Siêu chép v.v… Nay dẫn tóm tắt, kinh ấy quyển hạ chép: Phật thọ ký cho Xà Vương rồi bảo Xá-lợi-phất rằng: Người gặp nhau không gì bằng tướng bình đẳng, sở dĩ chẳng nên bình tướng người, vì căn người khó thấy, chỉ có Như lai là bình tướng người, làm đúng như Như lai sẽ bình tướng người. Hiền giả Xá-lợi-phất và đại chúng kinh ngạc vui mừng ghi nhớ lời này. Từ ngày nay cho đến chết chẳng xem người khác, chẳng dám nói ai đọa địa ngục, nói ai sẽ diệt độ. Hạnh của chúng sanh là không thể nghĩ bàn Phật pháp như biển chỉ có lòng tin mới vào được. Lời của Khổng Khưu còn lấy tín làm đầu, huống chi Phật pháp lý sâu không tín mà vào được ư? Cho nên nói Binh Thực còn như thế, nên bỏ tín chẳng thể đi. Kinh Hoa Nghiêm nói: Tín là nguồn đạo, là mẹ công đức. Như các Thanh văn được La-hán rồi bốn trí rốt ráo, hai thoát đầy đủ há lại tiến cầu đạo Đại thừa. Cho nên tự trình bày rằng: Chẳng lại tiến cầu A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. nói lấy tín mà được vào, nếu chẳng ở Phương Đẳng Bị Đần mà sanh tín tâm, làm sao đến Pháp Hoa mà được thọ ký. Hòa-già-lợi là bản thứ nhất nói có cụ già mới xuất gia chưa biết gì, ở trong tăng-già-lam bị Sa-di đùa giỡn rằng: Cho ông Sơ quả, khiến ông ngồi rồi để mạo cúc lên đầu bảo rằng: Đây là sơ quả. Vì tín tâm nên liền được sơ quã, mà bảo Sa-di rằng: Tôi đã được sơ quả. Sa-di lại đùa giỡn bảo: Như thế cứ y theo trước bốn phen làm như thế đến quả thứ tư. Cúc-đa dạy đệ tử leo lên cây. Phó Pháp Tạng Truyện chép: Nam Thiên trúc có người con của quí tộc xuất gia học đạo mà cứu trước thân mình tắm gội thoa hường thích ăn uống ngon bổ. Thân thể mập ra mà chẳng được đạo, bèn đến chỗ Cúc-đa cầu xin Thắng pháp. Tôn giả thấy biết ông ấy vì mê đắm thân nên chẳng được lậu tận. Bảo rằng nếu nnận được thì ta sẽ trao pháp cho. Đáp: Con nhận, liền hóa ra cây lớn, bảo leo lên bốn bên biến thành hố sâu ngàn trượng, khiến buông tay trái như thế liền buông. Thứ lớp khiến buông tất cả, buông bỏ thân mạng đến đất chẳng thấy hố sâu và cây. Vì nói pháp yếu mà được quả thứ tư.

Hồ nghi. Hồ là tên một loài thú, dã can nhiều nghi nghe giỏi. Người nói hồ nghi là do đó. Thú này là quỉ cởi, người thời ấy cho là tinh mị. Có người nói sông Hoàng Hà đóng băng dày, muốn qua sông phải lắng nghe tiếng nước chảy, tiếng dứt mới qua. Phú khí là tin vô cớ như chậu úp. Đại luận chép: La-vân từ bé đã thích nói dối, vì nói dối khiến vô số người chẳng được thấy Phật. Phật muốn điều phục, bèn đi sai xa xách nước. Phật úp chậu tắm rồi chế nước vào, đáp rằng: Chập úp nước không vào được. Phật bảo ông giống như chậu úp, nên nước pháp không vào, đoạn dùng thứ quở trách. Nay mượn thí dụ nghi cũng đồng như chậu úp. Hỏi trở xuống là liệu giải. Trong đáp ở trước nêu nhiều giải thích khác nhau. Văn đầu là, đã có môn hộ thuyên thứ chẳng vì không biết mà đến được cho nên là chướng. Ra vào có lý do nên gọi là môn hộ. Đầu tiên từ cõi Dục thô tế các trụ cho đến phi tưởng gọi là Thiên thứ. Văn ấy rất dễ hiểu. Tuy đều dị kế (chấp lạ) theo văn nay phải tùy người mà sắp xếp. Hỏi: Trở xuống là trước hỏi khởi tướng cái, là lý do dài xa kế rộng khai trở xuống là nêu tướng dài xa. A-tỳ-đàm trở xuống là bác bỏ Thiên, hoặc gần đã lấy tướng che úp mà nói. Phải biết chẳng phải chỉ là tướng che bởi tham ái sân nhuế v.v… còn mất khác nhau. Cũng lấy gần che xa chưa nói năm cái chung đến Phật địa. Trên bỏ dưới bày, các tướng thiên kế cận cái, chưa phát Thiền đến nay tất cả năm cái đều gọi là Độn sử, như văn trước đã nói tướng cái.

Lợi sử trở xuống là kế nói năm cái lợi sử, chỉ tùy tứ ý trước nói

người tà không. Đây là so sánh với lợi sử, do sử này nên sanh năm cái, cũng như trước nói sáu mươi hai kiến trong năm dục đều gọi là Dục. Tức hai cái lợi, độn đều là cảnh quán. Từ trách bỏ trở xuống là phá cái vào không, lại kết sơ quả. Lại phá lợi sử làm tên. Từ sơ quả trở xuống là lại y cứ sơ quả làm độn sử, là tướng năm cái, là chỗ phá của ba quả sau. Lệ với tướng cái Sơ quả để nói tướng cái trên quả hai, ba. Lại kế y theo không trở xuống là nói xuất giả trên cái mà y không khởi.

Nói năm thứ muối, Đại luận quyển hai mươi bốn nói: Sáu vị giáo chủ ngoại đạo chẳng cho ăn năm thứ muối, chẳng hay năm thứ muối ở cõi ấy như thế nào. Như năm muối cõi này tức là muối hột, muối xanh, muối đỏ, muối trắng. Muối ấn. Muối có nhiều loại, đại lược có năm. Phương Tây y theo đây cũng rất dễ thấy. Có A-la-hán bị người khác hỏi vì sao gọi là muối đỏ. Không biết bèn hỏi Tam Tạng, Tam Tạng nói: Muối là vị, đỏ là sắc. Chẳng hay việc nhỏ do chưa có trí xuất giả. Đã là chẳng liễu nghĩa thì sẽ ngủ. Y trung khởi cái nói rằng: Cây lớn gãy cành. Đại luận quyển ba mươi chép: Thí như đầm trống có loại cây tên là Xa-ma-lê cảnh tỏa rộng các chim đậu nghỉ rất nhiều. Có một con bồ câu đến sau đậu trên một cành, cành cây liền gãy. Thần Đầm hỏi: Chim to đậu mặc tình, vì sao chim nhỏ đậu mà gãy. Thầy cây nói: Chim này là kẻ thù của ta, ăn hạt cây Ni-câu đến đậu trên cành ta, ỉa phân có hạt xuống, cây ác sẽ mọc lên sẽ có hại lớn, cho nên lo sợ, thà bỏ một cành mà an toàn. Đại Bồ-tát cũng giống như thế. Đối với các ngoại đạo các sử Thiên ma và nghiệp ác, không sợ như thế mà sợ Nhị thừa. Nhị thừa ở bên Đại Bồ-tát cũng như chim kia, sẽ làm hư tâm Đại thừa, làm mất hẳn tâm Phật thừa. Trong Luận nói: Ba thừa cùng vị, dùng đại bác bỏ tiểu, cho nên đối tâm Nhị thừa. Nay mượn văn ấy, cũng lại y theo đó mà nói tâm Nhị thừa. Nếu theoý văn nay phải nói chẳng thích tâm hai bên,. Như chẳng chứa chim oán. Vì chẳng vui nên nghĩa phải sân. Đại luận nói v.v… là trong chứng địa đều có vô minh, có chứng minh liền có năm cái. Cho nên Đại luận giải thích Đại Phẩm rằng: Kinh trước văn sau vì sao chỗ nào cũng đều nói đâu có vô minh Tam-muội? Đáp: Pháp ái khó dứt nên chỗ nào cũng nói phá vô minh Tam-muội. Đây tức chân đạo pháp khác nhau với tự ái. Ấy thì Sơ trụ tuy phá một phẩm, mà phải phá từng phẩm. Nếu ám chứng gia tức là vừa biết chân lý thì liền là Phật, là chẳng hiểu giáo tướng. Cho nên nay nói Bồ-tát so với Phật còn có ậu thất. Ấy thì Đẳng giác so Phật còn có một phẩm lậu thất huống chi là hạ địa. Địa Trì nói thứ chín v.v… là luận văn lấy Đẳng giác làm thiền thứ chín, thiền thú chín gọi là lìa tất cả kiến, cho nên biết Đẳng giác còn tu lìa kiến. Cho nên nghĩa kiến chẳng gần. Nên nói chỉ có Phật là rốt ráo. Cho đến tám mươi bốn ngàn chỉ là bốn phần, bốn phần chỉ là năm cái. Do đó Phật Đia nói hết năm cái. Lại nữa trở xuống là y cứ một tâm bỏ cái. Trước tuy ba đế dùng thứ lớp, nên không phải là một tâm. Trong đó văn đầu trước bác bỏ thứ lớp, nên nói sau chẳng quan hệ trước, huống chi xếp ba người khác nhau. Vì phàm phu có lợi độn cho đến Bồ-tát có tục cái. Cho nên nói lời hỏi khi làm phàm phu, cho đến chỗ bỏ khi làm Bồ-tát v.v… Địa nhiếp trở xuống là dẫn hai luận nói kế thứ lớp. Viên Thích trở xuống là dẫn Phật Hóa Nghi để chứng minh Viên giáo. Nhưng giáo viên đốn vốn bị phàm phu, nếu chẳng định ích phàm phu thì Phật sao chẳng tự trụ Độ pháp tánh, dùng thân pháp tánh vì các Bồ-tát nói viên đốn này, đâu cần cùng các Bồ-tát pháp thân mà bày phàm thân hiện ở ba cõi này? Nếu đãi trở xuống là chánh kết bày. Một tâm ở phàm thì có thể tu tập. Cho nên Đại Phẩm trở xuống là dẫn kinh bày tướng. Trong kinh đã nói Dục có đủ các pháp. Phải biết Dục cái tức là pháp giới. Cho nên tất cả pháp đều ở Dục. Thích Thú trở xuống là giải thích ý kinh. Trước lược kế rộng. Văn trước lược chỉ là ba đế, ba đế chỉ là ba thứ như thú v.v…. Lược tức không thể nghĩ bàn. Không thể nghĩ bàn vì khó thấy. Từ nay lại trở xuống là rộng y cứ nghĩ bàn, để bày tướng không thể nghĩ bàn. Các văn sau đều trước nói nghĩ bàn, kế nắm nghĩ bàn mà thành không thể nghĩ bàn. Từ trên các văn đều trước nói thứ lớp, kế nói chẳng thứ lớp. Chỉ một văn sau dùng nghĩ bàn mà giải thích không thể nghĩ bàn, cho nên biết trước sau rộng lược hiển bày nhau. Chỉ ở chung lý văn tướng vì sao người luôn chẳng thấy, tùy căn mà sanh trưởng, theo lời mà mê văn. Liền ở bộ này mà muốn phân biệt văn này có thể tu bỉ phi tu giả (tu cái người khác chẳng tu). Nay Đại thể trước sau, biết đại thể rồi phân biệt và chẳng phân biệt, ý ở trong ấy. Cho nên ở văn lược phải khéo hiểu ý. Nên Đại luận quyển mười bảy nói: Như thiền bỏ cái nhiếp tâm một chỗ, là Bồ-tát dùng lợi trí tuệ mà quán năm cái không có chỗ bỏ. Đối với thiền chẳng chấp lấy biết các pháp là không, chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở giữa. Nếu được thật tướng các pháp thì biết các pháp không thật có. Cho nên gọi là biết thật tướng, cái gọi là Bồ-tát thật tướng thiền cũng như thế. Biết dục và cái, thiền và chi lâm một tướng vô tướng y đó tu vào, ấy là thiền Ba-la-mật, cho đến bốn niệm cũng giống như thế.

Kế trong rộng giải thích nói dục là pháp giới, tức là chỉ một niệm dục tâm đầu tiên, ở trong đó đã có tánh mười pháp giới, có thể thứ lớp sanh dục quả trước sau đều ở một niệm đầu tiên. Nên nói là cội gốc tất

cả pháp. Nói tất cả pháp là nhân quả trước sau của các pháp. Cho nên nói mới khởi Dục giác đã đủ các pháp. Vì chẳng biết nên khinh thường, vì lỗi ấy quá nhẹ. Nếu đã biết các pháp đầy đủ, thì sẽ sợ sệt sởn ốc, há khiến thân nghiệp tạo thú mê hoang. Mới thử đã hết nóng, là chứa nhóm dục tưởng trong ngóng ở tâm, mới một làm giống như nêu hết, tiếp tục khởi làm không lúc nào tạm bỏ, cho nên khiến không hề ở một (miệng) ăn, một hớp nước mà lìa dục tưởng. Hoặc trộm hoặc cướp v.v…

Núp kiến chẳng cho mà lấy gọi là trộm, tức là chung riêng nhân pháp giữ gìn. Đối mặt chẳng cho mà lấy gọi là cướp, tức là gượng đoạt rõ ràng cảnh giữ, ép bức là đè ép người khác, có giữ không giữ tình chẳng ưng. Trao đổi là vật không giữ lấy, bén ra để lấy liền. Như thế v.v… mà lấy không phải các thứ trên, tức là thấy hình liền muốn. Nếu được cảnh này, là phàm lấy dưới dâng lên trên gọi là cúng, lấy tu giúp tôn gọi là dưỡng. Người ấy bỏ ruộng tốt Tam bảo, chỉ chuộng năm dục uế cảnh, cung cấp chỗ cần nên gọi là cúng dưỡng. Pháp Hóa Sớ chép: Thí y báo gọi là cúng dường. Bản thứ một nói nếu được cảnh này rất cần cung cấp. Lời tuy giống thuận mà chẳng bằng văn nay. Được cảnh Dục rồi chẳng phân ra giàu nghèo đều sanh tội lỗi. Vừa có đây có v.v…, là vừa đến cảnh dục gọi là vừa có (thích hữu), nghiệp dục đã thành gọi là đây có. Chiêu vời quả báo ở vị lai gọi là tức có sanh tử, đời đời thêm lớn nên khắp chịu quả. Cũng lại do sát, đạo v.v… mà chịu quả cũng khắp ngoài dục pháp giới chẳng có pháp nào khác. Lại nêu một niệm đầy đủ lợi độn. Lợi độn ở khắp mười phương ba đời cũng do lợi độn mà sinh ra ba đế. Phải biết pháp dục nhiếp hết các pháp. Đây tức là một niệm dục tâm đủ sáu pháp giới lấy làm cảnh quán. Như trên, là nói lợi độn. Vì sao trở xuống là suy ở dục không mà y cứ bốn câu ba đời. Trong ba đời quá khứ dục duyên v.v… bỏ năm trần gọi là quá khứ, trần tuy quá khứ cũng phát hiện dục, gọi là dục duyên. Dục tưởng hiện tại gọi là Dục nhân. Hạnh ở dục sự gọi là pháp sở sanh, pháp này vời lấy quả khổ. Nay suy ba đời đều chẳng thật có. Ngang dọc, là kết hai suy trước. Ngang là bốn câu, dọc là ba đời. Đã biết trở xuống là nói quán cái là giả. Thí dụ nói Đối giặc bày trận. Khấu là giặc. Nếu giặc nhiều thì bày trận phải rộng, chỗ phá phải lớn, huân công phải cao. Dục rộng công sâu cho nên gốc huân. Phá dục vào vị gọi là công lớn. Vị đủ các pháp gọi là rất giàu sang. Tham dục là giống nên sanh ra Phật, trong một niệm tâm phân biệt vô lượng nên sanh ra vô lượng pháp môn. Dục như củi nhiều phân, quán như lửa dữ hoa sanh, họp dụ sẽ biết. Đây lại y cứ Tục đế mà nói. Hoại, Thượng Thư chép: Đất không khối gọi là hoại. Tục đế nếu thành vị ở Thất Tín. Bát tín. Cho nên nói làm thanh tịnh các căn. Như thế trở xuống là xếp vị.

Thứ tư là điều sự. Văn nghĩa đồng như trước. Văn tướng có hai, đó là khai hợp. Từ điều thực trở xuống là chánh giải thích, cũng trước sự, kế lý. Năm thứ ăn đều là một điều, ba thứ kia hợp thành một điều. Trước trong điều ăn là nói Bất an thân thực. Như kinh Ni-Càn quyển tám. Kinh ấy Ni-Càn đáp lời vua Nghiêm Xí rằng: Vua Ba-tư-nặc ham ăn quá mức nên thân nặng nề, lười biếng. Hiện tại vị lai thân đều mất lợi, ngủ nghỉ tự chịu khổ cũng khuấy não người, mê muộn khó tỉnh ngộ tùy lúc mà tính toán việc ăn uống. Hoàng Phủ Dật hỏi Thanh Ngưu Sĩ nói pháp Dưỡng Sanh rằng: “Do dục thường nhọc, thực dục thường ít, nhọc mà không quá mức, ít mà không chí hư. Bỏ báo mập, bớt mặn chua”. Pháp tục Dưỡng Sanh mà còn khiến tự nhọc, đâu là chí đạo mà ăn quá mức sanh ra biếng lười. Không phải chỉ mất lợi thôi mà cũng thêm bệnh giảm tuổi thọ. Ngủ là thức ăn của mắt. Tăng Nhất nói: Phật ờ vườn Cấp Cô Độc vì nhiều người nói pháp. A-na-luật ngủ ở trong đó. Phật nói kệ rằng: Chao ơi, gì là mắt, là nghêu sò ốc hến. Hỏi rằng ông sợ phép vua hay sợ trộm cướp mà xuất gia? Đáp: chẳng phải, con chán sanh già bệnh chết mà xuất gia. Người đã tín tâm bền chắc mà xuất gia, Phật đang nói pháp mà ngủ ư? A-na-luật đứng dậy bạch Phật, từ nay trở xuống dù hình thể này tan nát, con cũng không ở trước Phật mà ngủ Nhân hiểu không ngủ mà nhãn căn liền mất. Phật nói người càng tinh tấn tương ưng với trạo hý, người Ba-la-mật mết mõi tương ưng với kết sử ông nên hành Trung đạo. A-na-luật nói: Đã phát thệ trước Phật thì chẳng thể lại trái yếu trước. Phật bảo Kỳ Vức điều trị. Kỳ Vực nói: Nếu nhỏ chẳng ngủ thì tự có thể hết, còn đây thì không thể trị. Phật bào Na-luật: Ông phải ngủ nghỉ, vì sao? Vì tất cả do ăn mà còn, mắt lấy ngủ làm thức ăn, cho đến ý lấy pháp làm thức ăn, Niết-bàn lấy chẳng buông lung làm thức ăn. Ta không buông lung mà được đến Niết-bàn. Na-luật nói: Con chẳng dám trái. Sau nhân được thiên nhãn. Ngủ là Cõi dục báo pháp, đã chưa được thiền chỉ có thể điều đình mà thôi. Nếu không có thiền mà chẳng ngủ thì sẽ là quỉ. Như quyển tám dưới có dẫn vua là giống quỉ mà chẳng ngủ nghỉ. Văn đầu trong ba việc hợp điều, tức là lý do hợp điều, là việc gì. Cho nên phải ba việc hợp điều, dùng ba việc trước sau mà hợp.

– Nói bảy ngày một lần biến đổi, như kinh A-nan Vấn chép: Phật vì Nan-đà nói rộng tướng thai của sáu đường khác nhau, gồm nói tướng các ấm, cho đến tinh huyết cha mẹ đều có không, thành và chẳng thành,

và tinh huyết tịnh và bất tịnh v.v… Trước vào như mưa gió vào nhà v.v…các tướng khác nhau, có con ở bụng mẹ mà chết. Dùng dầu tô, nước mầu da du mà thoa tay, kịp dao mỏng thò tay vào mà cắt chết thân con từng miếng lấy ra. Lại thai mẹ có các hoạn nạn mà chẳng đậu thai. Nếu đậu thai mà chẳng hư thì bảy ngày một lần thay đổi, bảy ngày đầu gọi là Kha-la-la như lạc mỏng, bảy ngày thứ hai gọi là A-phù-đà như lớp lạc dày, bảy ngày thứ ba gọi là Bế thủ, như cái chày đâm thuốc nhỏ ngắn, bảy ngày thứ thư gọi là Già-na như ôn thạch, bảy ngày thứ năm gọi là Ba-la-xa-ha, năm pháo mở lớn, bảy ngày thứ sáu hiện tướng gối, bảy ngày thứ bảy hiện tướng tay chân, bảy ngày thứ tám hiện tướng chỉ tay, bảy ngày thứ chín mắt tai mũi miệng và đường đại tiểu tiện, bảy ngày thứ mười chắc thật có phong môn thổi thai như cái túi, bảy ngày thứ mười một bảy lỗ mở suốt, tánh mẹ đổi lường, bảy ngày thứ mười hai sanh ruột già, ruột non như sợ tơ có ba chi tiết một trăm lẻ tám lỗ, bảy ngày thứ mười ba sanh trưởng đói khát mẹ ăn tươi nhuận, bảy ngày thứ mười bốn sanh chín mạch giao xen triền nhiễu, bảy ngày thứ mười lăm sanh hai mươi mạch mỗi bên đều mười lại bốn mươi mạch, có tám muôn tên, bảy ngày thứ mười sáu hơi thở chung, bảy ngày thứ mười bảy mắt được tỏ sáng, bảy ngày thứ mười tám các căn đều sáng, bảy ngày thứ thứ mười chín các căn đều đủ, bảy ngày thứ hai mươi sanh các xương, bảy ngày thứ hai mươi mốt sanh thịt, bảy ngày thứ hai mươi hai sanh máu, bảy ngày thứ hai mươi ba sanh da, bảy ngày thứ hai mươi bốn sanh da trong, bảy ngày thứ hai mươi lăm máu thịt nhiều, bảy ngày thứ hai mươi sáu mọc tóc, bảy ngày thứ hai mươi bảy vì nghiệp lực nên phân ra tốt xấu, nam ở bên trái mẹ, nữ ở bên phải mẹ, mặt Nam quay vào trong, mặt nữ ngó ra ngoài, hai tay ôm mặt ngồi chồm hổm, bảy ngày thứ hai mươi tám sanh tám thứ tưởng là tòa ngồi, vườn rừng v.v… bảy ngày thứ hai mươi chín sanh tươi nhuận năm mầu khác nhau, bảy ngày thứ ba mươi móng tóc dài ra, bảy ngày thứ ba mươi mốt đến thứ ba mươi lăm tướng người đầy đủ, bảy ngày thứ ba mươi sáu sanh chán lìa tâm chẳng vui, bảy ngày thứ ba mươi bảy sanh trưởng ngục nhơ, bảy ngày thứ ba mươi tám sức bảy gió chuyển đầu hướng về sản môn, thò hai cánh tay ra khỏi sản môn. Mỗi bảy ngày đều có một ngọn gió thổi khiến đổi khác. Gió đều có tên đủ như kinh ấy. Sanh rồi tám muôn hộ trùng từ thân mà sanh, dọc ngang ăn hút, phải trái đều năm trăm, các tiết đều có chừng ấy trùng hộ, lớn nhỏ già yếu thường ở với trùng. Thế thì ba mươi tám tuần có hai trăm sáu mươi sáu ngày, thành chín tháng, do đó thiếu bốn là bán tiểu. Hỏi thế giáo và kinh đều nói mười tháng, vì sao chỉ có chín?

Đáp chín tức là mười. Vì sao? Vì trải qua mười như ngày mùng một đầu tháng thọ thai thì chắc chắn chỉ có chín, đã qua ngày thứ hai số đầy thì vượt đến mười phần lớn là như thế, lại có La-vân sáu năm, Hiếp Tôn giả sáu mươi năm ở trong thai. Cũng có người ít hơn như đến tháng thứ năm mới sanh (sanh non). Tuy thêm bớt khác nhau nhưng ba việc đều đủ.

Đáp: Thọ nhuyến thức ba thứ cùng thân tức tâm, nói đã khác nhau do nghĩa nào còn. Đáp: Nhuyến tức là thân, vì nhuyễn nên tinh huyết không hư, từ công năng mà nói nên gọi là Nhuyến. Thọ gọi là phong tức trước khi thác thai có một hào khí, chỉ khi căn chưa đủ thì theo hơi thở của mẹ, căn đủ rồi thì khí phân gọi là (hơi thở của con) do có hơi thở nên giữ mãi thân này từ hay giữ mà nói nên tức (hơi thở) gọi là Thọ. Thức tức là tâm nói theo đương thể, đã từ thức đầu cùng thọ nhuyến hai thứ chẳng trước chẳng sau. Phải biết thân tức tâm ba thứ không hề lìa nhau, cho nên phải ba việc mà hợp điều. Nếu điều đình được thì y theo đó mà vào đạo, tức là y nhân thây chết mà đến bờ kia, tất cả pháp thiện do đó mà sanh. Cho đến thành ba đức Bí tạng, cho nên nói nếu điều thì phàm phu ba việc rõ thành thánh ba pháp tức là ý này. Khi mới nhập định trở xuống là chánh nói pháp điều, ba nghĩa vào, ở, ra mà điều cho nên trong thiền môn điều thân nói: Phàm ngồi thì phải trước an chỗ khiến lâu không ngại. Nếu ngồi bán già thì chân trái đè lên chân phải rồi kéo gần thân khiến hai chân sát đùi. Nếu muốn ngồi toàn già, thì tréo chân phải đè chân trái, áo quần rộng rãi, toàn thân ngồi thẳng chớ để khi ngồi lại có thoát lạc, tay trái để trên tay hữu cùng ngửa ra đề trên chân phải cũng khiến gần thân phải để tâm an, lắc qua lắc lại bảy, tám cái như phép chà sát, chớ ngửa cổ cúi đầu, đầu cổ phải thẳng khiến mũi đối rún, chẳng ẹo chẳng khom, thân như tảng đà không lay động không chậm không gấp, ấy là tướng điều tức, thân đã điều rồi kế hả hong thổi hơi trong bụng ra, khiến trăm mạch trong thân đều thoát hơi ra kế ngậm miệng mũi hít thanh khí vào ba hơi. Nếu hơi thở đã điều thì một hơi cũng đủ, kế ngậm miệng môi răng vừa khít, lưỡi để trên nóc Vọng, nhắm mắt nhẹ không thấy sáng là được. Kế phân biệt hơi thở, phong khí dưới nếu điều thì dễ vào định. Kế là điều tâm, một là điều loạn khiến chẳng buông lung, hai là điều tâm khiến trầm phù vừa chừng. Nếu khi tâm trầm thì bó buộc niệm ở đầu mũi, nếu khi tâm phù thì để tâm hướng xuống. Lại có ba thứ: Một là hạ trước tâm, hai là khuynh thân thể, ba là tưởng hơi thở theo lỗ chân lông khắp thân chung nhau mà ra. Dùng ba pháp điều này mà điều ba khiến điều. Đây là tướng điều ba khi mới vào, trụ ở trong thiền, nếu có chẳng điều thì như pháp mới vào. Như điều dây đờn v.v… trước như dây đờn vào chơi sau chẳng thành khúc, như ở trong thiền ba việc chẳng điều tâm thì chẳng vào pháp. Nếu muốn xuất định thì từ từ duỗi ra mà chà xát thân, rồi hít thở từ từ rất nhẹ, chớ để thô đốn bên ngoài xung kích vào tế bên trong, dần dần phóng tâm duyên cảnh bên ngoài. Tâm vẫn quán rõ cảnh được duyên, pháp điều ba việc rất rõ trong thiền môn. Nếu hay trở xuống là ý điều ba việc. Do đâu mà điều ba việc này? Nếu tu căn bản cho đến viên đốn, bổn ý văn nay khiến đến ba đức cho nên nói ba pháp thành bậc Thánh. Cho nên ba thứ này là lý do ba học, thành thân thường trụ, tức tâm ba thứ, nên chuyển thân phàm thành pháp thân, chuyển phàm tức để thành tuệ mạng, chuyển phàm tâm để thành tâm Bồ-đề. Bắt đầu từ đây là phàm phu ba pháp làm đầu ra khỏi Thánh thai, đến vị Diệu giác gọi là thân thành tựu. Đây tức là vị hợp điều. Kế quán tâm điều cũng là ba đoạn. Trước Điều thực, cũng đều y cứ ba đế ba quán. Trong Thực dẫn kinh Pháp Hoa nói: Không có pháp thực Trung đạo là đói khát, không có công đức muôn hạnh là ốm gầy chưa có pháp thân thanh tịnh, chỉ có trần sa vô minh các ác trang nghiêm gọi là ghẻ lở. Kế ba việc hợp điều, văn có ba phen, một phen y cứ giáo, hai phen y cứ quán. Văn tuy nêu hợp, nghĩa đều giải thích, nghĩa tuy giải thích lý thật chẳng phân. Trước y cứ thân trong giáo nói sáu Ba-la-mật, điều sáu độ vô tác khiến đầy đủ pháp thân cho nên Đại Kinh Sư Tử Hống nói: Sáu thân Ba-la-mật đầy đủ Đại Phẩm nói: Lạc thuyết nói v.v… Hỏi: Vì sao dùng lạc thuyết nói để giải thích sáu độ? Đáp: Sáu độ lấy Bát-nhã làm gốc, lại thiền tấn v.v… đều là tướng lạc thuyết. Ba thứ này lại cùng ba thứ Thí-Giới-Nhẫn cùng trang nghiêm. Cho nên sáu độ đều gọi là lạc thuyết. Trong văn Đại Phẩm lại dùng nói pháp làm lạc thuyết nói, cũng là tướng Bát-nhã. Kinh nói: Lạc thuyết chợt khởi không chợt khởi, hoặc có Pháp sư lếu láo, hoặc giỡn cười tâm loạn. Luận quyển sáu mươi sáu giải thích rằng: Ngồi trên tòa cao nói pháp Lạc thuyết chẳng sanh, người nghe buồn rầu. Nên ta ở xa lại Pháp sư chẳng nói hoặc suy nghĩ sợ hãi nên chẳng nói, hoặc chẳng biết nên chẳng nói. Tốt khởi vì sao lại là việc ma? Đáp: Pháp sư cầu danh sanh mê đắm mặc tình mà nói không có nghĩa lý nên cũng là việc ma. Đại Phẩm nói: Bát-nhã không phải lợi v.v… lợi độn là không giả, Trung đạo chủng trí khác nhau hai bên. Cho nên không phải lợi không phải độn, không phải khó không phải dễ Nhị thừa xuất giới do trải (kinh) tám, sáu, bốn, hai nên là khó. Ba giáo Bồ-tát tuy chưa khế chân diệu đã nói đã phát gọi là Dễ. Người viên sáu tức, sáu nên chẳng phải dễ, tức nên chẳng phải khó. Kế y cứ quán hai phen, phen đầu ba quán cùng ba việc, phen kế ba quán đều ba việc hợp. Trong phen đầu điều tâm ở trước, tùy tiện mà giải thích nên không có ý riêng. Nhờ sự hiển lý, trước sau vô ngại. Hành giả trớ đi là kết vị rất dễ thấy. Như tức hành nhân chưa có chỗ được là chỉ thực hành quyền trí riêng cha thật mẹ tuệ khiến thành mầm Thánh.

Thứ năm là thực hành năm pháp. Văn nghĩa đồng như trước mà chẳng phân rasự lý, nêu ví dụ rất dễ hiểu. Trước dụ trở xuống là nhắc lại bổn vụ ở trước. Trước nhắc lại kế hợp. Văn đầu trước trái dụ không có năm pháp thì việc làm chẳng thành. Trước chẳng chịu làm là dụ không ưa thích, làm chẳng hết lòng là dụ không tinh tấn. Chẳng còn tác pháp là dụ vô niệm, làm chẳng khéo léo là dụ không tuệ, làm chẳng chuyên nhất là dụ không một tâm, thì sự chẳng thành là dụ cho chánh hạnh chẳng thành. Nay cũng như thế trở xuống là hợp với vô năm pháp. Nếu không có hai chữ quán chung ở dưới. Nếu không ưa thích kính mến là hợp không dục lạc (ưa thích), nếu không thân tâm khổ sách là hợp với không tinh tấn, nếu không niệm tưởng là hợp với (vô) niệm, nếu không phương tiện là hợp với không xảo tuệ, nếu không nhất tâm là hợp với không nhất tâm, Chỉ quán là hợp với chánh hạnh chẳng thành. Đủ hai mươi trên nếu không năm pháp còn tự chẳng thành huống chi trong hai mươi mà thiếu hoặc không có năm pháp ư? Nếu hay trở xuống là chánh hợp có năm pháp, cũng là nếu hai chữ mà quán năm câu dưới. Nếu huân tập không chán là hợp có lạc dục (ưa thích). Nếu không hay hiểu đêm phỉ giải (không biếng lười) là phải có tinh tấn, nếu niệm niệm nối nhau là phải có niệm, nếu khéo được ý ấy, là phải có xảo tuệ, nếu một tâm không khác là phải có nhất tâm. Người này trở xuống là hợp với chánh hạnh thành tựu. Kế thí dụ hai, thuyền đạo nước pháp tánh để đến bờ kia. Kế là chim như hành giả là từ mới phát tâm mà đi trong khoảng không thật tướng đến quả Niết-bàn. Nếu không có năm pháp, các hạnh chẳng thành, lại đem Sơ trụ mà làm chỗ đến. Không có năm pháp này trở xuống là nêu cạn so sánh sâu. Cho nên văn đầu nói: Việc nhỏ còn khó tức là Thế Thiền, phải biết trở xuống là kết ý. Đại tức là ba giáo, tiểu tức là ba tạng. Sự tức là Thế thiền, Lý tức là xuất thế. Lại thế xuất thế đều có sự lý. Cho nên văn trước y cứ chung tiệm đốn để giải thích phương tiện, kế y cứ văn riêng nay giáo viên đốn ở trước năm phẩm để lập hai mươi lăm pháp làm phương tiện xa. Y theo đây làm lệ. Ba giáo đều phải riêng ở trước ngoại phàm đều dùng hai mươi lăm pháp phương tiện xa, chỉ phương tiện gần sở quán đều khác. Nếu tu sự thiền thì dùng bảy cảnh làm phương tiện gần, nếu hai giáo Nhị thừa thì dùng tám cảnh làm phương tiện gần. Nếu Nhị thừa Thông giáo thì lại dùng ba tạng làm cảnh sở quán, dùng tám cảnh rưỡi làm phương tiện gần. Bồ-tát ba tạng lấy chín cảnh giới trước làm phương tiện gần. Nếu Bồ-tát Thông, Biệt cũng lấy mười cảnh làm phương tiện gần. Cứ ý này là gá sự sanh giải, tùy việc làm lập hạnh khác nhau. Văn nay hiển hiện cũng nhờ thứ để hiển bày bất thứ. Lại tùy sự trước lập ở thứ, nếu nói nguyên ý thì chuyên ở Bất thứ. Lại bốn khoa trước nhờ sự hiển lý, thì y cứ sự mà nói chuyển. Nay năm pháp này tức sự luận chuyển, cho nên y cứ thẳng pháp tướng mà nói, chẳng cần thực hành hai lớp sự lý. Cho nên chỉ nói vì Đại Tiểu sự lý mà làm phương tiện, tùy làm giáo nào mà sanh ưa thích, cho đến nhất tâm.

Kế chánh trong giải thích ở trước xếp định thể phương tiện khác nhau. Kế chánh giải thích phương tiện. Xưa văn trước trích dẫn thành luận Anh Lạc nói phương tiện khác nhau. Anh Lạc bốn thiền đều một im lặng, song chi là định thể. Kế Tỳ-đàm trở xuống ở đây chánh dùng, tức năm pháp này đều là phương tiện. Đại luận đồng với Tỳ-đàm. Trước y cứ Sơ thiền, kế y cứ ba quán. Trong Sơ thiền nói: Thí, giới, nhẫn là thường pháp thế gian như pháp khách và chủ pháp ứng cung cấp, cho đến súc sanh cũng biết bố thí, hoặc sợ người khác mà trì giới, như sợ phép vua, hoặc sợ người khác nên thực hành nhẫn. Nay muốn biết các pháp thật tướng thực hành Bát-nhã tu thiền định. Thiền định là môn trí tuệ, vì thiền định nên phải cần tinh tấn. Lại nữa, thí giới nhãn là đại phước đức lớn. Lại muốn tu Diệu định, Diệu tuệ cho nên thêm tinh tấn. Ví như đào giếng thấy đất bùn ướt, nếu không tinh tấn thì không được nước. Dùi lửa cũng như thế, trong đây nói nay muốn cầu Bát-nhã, lại y cứ xa mà nói. Như ở chỗ luận đã cầu Sơ thiền Bát-nhã cũng phải thế trí mà thôi. Dẫn lời Phật nói: Như kinh Thụy Ứng nói chẳng được thành Phật thì chẳng bao giờ khởi v.v… được ba việc ấy là tinh tấn, định, tuệ. Nhân quả hợp luận thì mười hai quán, trước vin là nhân, chí thượng là quả, trước chán là nhân, (luống thấp) là quả. Nếu theo lời nói này trở xuống là phân biệt. Nói theo phan yểm nhân quả này thì giống, chẳng khác ngoại đạo. Đây là đệ tử Phật tạm dùng sáu hạnh để tu Sơ thiền, dùng thiền để làm phương tiện thật tướng, hoặc làm các giáo phương tiện, đều gọi là chánh pháp. Theo văn này tuy nói Sơ thiền. Thiền này cũng là môn các giáo. Như tiệm thứ tu cho nên so sánh ở đầu ba quán. Quyết định một tâm, quyết định là cầu Sơ thiền cho đến ba quán chẳng phải đã nhập định, nếu đã nhập định, tức là chánh tu, sao gọi là phương tiện.

Kế trong y cứ ba quán trước là quán không. Lại nữa, muốn là muốn giáo hóa chúng sanh trở xuống là quán giả. Lại nữa, muốn là như trong Tát-đà-ba luân mà quán, trong đó trước y cứ cầu Bát-nhã tức là cầu giáo Trung đạo. Kế từ lại nữa lại nói trở xuống là y cứ quán, trước trong y cứ cầu Bát-nhã nói bảy ngày bảy đêm, là bảy ngày bảy đêm ở chỗ vắng mà khóc lóc chẳng biết chỗ nào nghe Bát-nhã. Bảy năm đi đứng, đến Hương thành gặp Bồ-tát Đàm-vô-kiệt nhập định, đợi ông ấy khởi định mà bảy năm chỉ đi đứng không ngồi không nằm. Chuộc mình v.v… trước nghe tên hư không có tiếng nói trong Hương thành có Bồ-tát tên là Đàm-vô-kiệt vì nói cúng dường để tự chuộc thân. Lớn tiếng khiến bị ma che người không nghe. Tuy che người khác đều chẳng thể vì ta nói cúng dường. Có con gái ông Trưởng giả ở trên lầu cao nghe tiếng Bồ-tát tự chuộc mình mà vì Bồ-tát nói rộng đồ cúng dường, nên nói ma chẳng thể che. Chích máu v.v… là ông ấy đi đứng suốt bảy năm rồi, Bồ-tát xuất định tìm nước rưới đất để rải hương hoà, bị ma che nước bèn hết, sức tinh tấn tự chích lấy máu mình. Ma tuy che nước nhưng càng khéo léo mạnh mẽ mà niệm một tâm, thường cầu Bát-nhã chẳng có niệm khác. Bồ-tát đã cầu Bất cộng Bát-nhã, cũng được dẫn chứng ý đó.

Kế y cứ quán, văn đầu là dục, chẳng tạp hạ tiến, buộc duyên buộc niệm, tu xảo tuệ trung hạ, dứt hai bên hạ một tâm. Y cứ nghĩa cũng lại phải nói ba quán Đại tâm. Vừa y cứ giáo nói cầu Bát-nhã, đã là cầu Viên Thật Bát-nhã. Cho nên từ lược chẳng lại nói, từ hai mươi lăm pháp này trở xuống là kết bày về công dụng của hai mươi pháp. Tất cả cũng chẳng ngoài xuất thế gian cho đến bốn giáo, dùng Thế thiền bốn giáo quán giải mà dắt dẫn hai mươi lăm pháp thì việc làm đều khác. Nên nói cũng chuyển. Trong thí dụ nói khúc lộng v.v… Lộng của chánh khúc gọi là khúc lộng. Điều dây đàn tức là tựa của chánh khúc. Phân kỹ vô lượng là nêu chung Thế Thiền, thiền thiền khác nhau và bốn môn các giáo, các môn khác nhau cho nên thành vô lượng. Nay dùng trở xuống là chánh nói công sâu phương tiện văn nay tức là viên đốn phương tiện xa vì đối mười cảnh làm gần là nội. Đại Phẩm trở xuống là chứng. Đã thấy lý rồi, lý không gần xa tức dùng phương tiện xa làm ngoại, phương tiện gần làm nội, dùng phương tiện này quán không thể nghĩ bàn thấy không thể nghĩ bàn ai lại nói trong ngoài xa gần. Tuy chẳng phải trong ngoài nhưng nhờ nội ngoại thành Diệu quán. Nên nói chẳng vì vô quán mà được trí tuệ ấy. Trí tuệ ấy là Trung đạo chủng trí dùng làm năng quán. Nay lại trở xuống là lại nhở chưa thấy lý trước phải lập hai mươi lăm phương tiện ngoài nhưng chẳng thể chấp nhất định trở xuống là phá chấp. Nếu dùng giải dẫn dắt sự và cảnh quán giới chẳng mất ý quán thì đều thành phương tiện. Nếu mất ý này thì trong ngoài đều không đúng mà người chẳng thấy, đau đớn thay! Đau đớn thay!

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.