Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

CHỈ QUÁN PHỤ HÀNH TRUYỀN HOẰNG QUYẾT

SỐ 1912

QUYỂN 03

Sa-môn Trạm Nhiên Tỳ Lăng đời Đường soạn.

PHẦN 1

Chương lớn thứ hai giải thích tên. Hễ đặt tên khác nhau. Như Đại Kinh chép: Hoặc có nhân duyên như Mục-liên, v.v… hoặc không nhân duyên như Đào mận, v.v… Niết-bàn cũng như thế. Không có nhân duyên gượng ép đặt tên. Chỉ quán cũng ép đặt chỉ quán. Tức đây không nhân gọi là có nhân, vì chúng sanh nên tùy cơ mà lập gọi. Như y theo tên thế gian mà gọi là xuất thế. Cho nên các Thánh trước đặt tên thế gian làm tên xuất thế để làm phương tiện. Mà tên thế gian ấy vốn là xuất thế. Cho nên Kim Quang Minh nói tên thế gian đều xuất phát từ kinh Phật. Cho nên biết các tên pháp lý mà đặt tên, đã pháp lý thì lý cũng do tên. Cho nên giả mượn Diệu danh để nói diệu lý. Trang Tử nói “đời quí nói truyện thư chẳng đáng quí.” Trang đã dùng nói truyện Thư thì Trang chẳng đáng tự quí. già chết chép: Biết thì chẳng nói, nói thì chẳng biết mà có nói thì đồng chẳng biết. Ý muốn thiên hạ không nói, chỉ riêng bày lời nói của mình. Bất ý lại dùng không nói mà tự bác bỏ người đời, bị lời tự bác bỏ này mà ngầm bác bỏ, lại coi là rất lầm. Ở đây thì chẳng thế. Do bẫy được thỏ được rồi quên bẫy, bẫy nào có mất cái gọi là thỏ. Chữ nghĩa giải thoát mà gọi đây chăng. Đặt tên chỉ quán, ví dụ theo đó sẽ thấy. Trong phân biệt trước gọi là nói rộng, cũng gọi là chung riêng. Chung riêng hai văn làm sáng tỏ lẫn nhau. Cho nên văn trước nói sanh khởi năm lược, hiển ở mười rộng. Lại trước lược sau rộng là giải nghĩa, trước rộng sau lược là nhiếp trì. Nay giảng nói trước lược giúp nghĩa dễ hiểu, nếu vì hai người lợi độn thì khác nhau. Như Đại Kinh quyển ba mươi mốt, Phật bảo Xá-lợi-phất rằng: Ông cẩn thận chớ vì người lợi căn mà nói rộng pháp, vì người độn căn mà lược nói pháp. Xá-lợi-phất chép: Con vì thương xót mà nói, không phải vì đầy đủ căn lực. Phật nói: Rộng lược nói pháp, các Thanh văn Duyên giác không thể biết được. Kinh chép:

Đậu cơ nên bác bỏ Thân Tử, nay luận giải thích gồm vì hai người, huống chi văn lược ở trước lại làm sanh hiểu, hiểu cũng chưa đủ cho nên ở đây luận rộng. Lại văn rộng này cũng cùng năm lớp huyễn nghĩa ý đồng. Năm lớp thì huyền đàm giáo chỉ. Nay thì y kinh khởi hạnh. Do đó kia là giải thích kinh, đây là thành quán. Cho nên thứ lớp hơi khác với kia.

Trước Thích Danh là nêu tên, kế Thể tướng là bày thể. Nhiếp pháp chỉ nói pháp, nhiếp thể phương tiện trở xuống ba tức là nói tông. Khởi giáo là dụng Thiên Viên xếp giáo. Đó là giải thích Pháp Hoa, lý phải phân Biệt giáo môn một đời. Cho nên giáo ở sau phân biệt bốn trước, đó là thành quán, quán do hiểu sanh. Danh thể thiên viên đều thuộc hiểu. Do giải lập hạnh. Cho nên kế giải, sau mới phương tiện chánh quán. Hạnh đầu là nhân, hạnh cuối là quả. Cho nên kế chánh quán thì nói quả báo. Tông là tự hành (lợi mình). Dụng là ích tha (ích người). Do tự hành đã tròn nên hay khởi giáo. Chỉ qui chỉ là tự tha khế nhau. Cho nên huyền văn kia dẫn phẩm Thần Lực mà y cứ giáo thứ lớp. Cho nên danh là dụng, thể là tông, nếu dẫn Phẩm Tựa mà y cứ hạnh thứ lớp, nên danh là thể, tông là dụng. Nay văn chánh ở hạnh y cứ thứ lớp, chỉ dùng giáo tướng ở tông, trước nên y theo trước sau như vừa nói. Nay giải thích tên, trước kết trước sanh sau cũng là ý đến thứ lớp. Đại đồ trở xuống là kết trước, lại vì trở xuống là sanh sau. Đồ là đường chưa luận rõ khê kính nên nói là đại đồ. Ngạnh là lược, khái là bình. Chỉ là thô lược nêu đại cương. Như ý lớn trước tự tha nhân quả hạnh giải lược đủ. Lại vì sao gọi là chỉ quán. Nên văn nay chia thành bốn môn. Nếu không giải thích này thì lấy gì mà nói công đức của danh thể. Cho nên bốn đoạn. Ba thứ trước chánh nói tên năng thuyên, một thứ sau là phụ lập lấy sở để hiển bày năng. Đợi thuyên thì thứ lớp, bặt thuyên thì không thứ lớp. Hội dị chỉ là tên khác của bặt đãi. Tướng đầu là (đối đãi) thì kia đây làm hình cho nhau, gọi là tướng, lấy người khác so với mình là đãi. Như dài ngắn lớn nhỏ cùng đặt tên. Trang Tử chép: Người cao bảy thước chẳng cho là lớn, kiến mốn bảy tấc lại được gọi là lớn. Câu-xá Sớ chép: Đãi nghĩa là quán đãi. Quán trước danh sau là quá, quán sau danh trước là chưa. Cha con anh em lại cùng nhau được tên, so sánh đây sẽ thấy. Nay sám Pháp Hoa chỉ có hai diệu, đó là Đãi và Tuyệt. Nói Đãi là chỉ có đãi thô thành diệu, không có Đãi diệu thành thô. Nếu tích so với bản cũng có thể hổ hình. Nếu Bộ so với Bộ thì một bề chỉ là diệu. Nay y cứ Pháp Hoa Lý tích mà đặt hỗ hình. Do đó Huyền Văn đãi tuyệt đều gọi là Diệu. Cho nên lấy tướng bộ giáo mà so sánh thì lại có ngang dọc, so sánh bốn thời trước gọi là Dọc đãi. Viên so sánh ba giáo gọi là Ngang đãi. Văn này đã y theo ý kinh Pháp Hoa mà giải thích danh, v.v… đại khái y cứ theo đó. Tương đãi là thô nghĩa phải đãi thô nói diệu. Bặt đãi là diệu, nghĩa phải khai thô nói diệu. Hai thứ này cũng gọi là phế thô, khai thô cho nên trong Pháp Hoa chỉ nói hai Diệu, lại không có tên chẳng phải đãi, chẳng phải tuyệt. Đó là xếp giáo cho nên đãi và tuyệt đồng gọi là diệu. Nay tương đãi thì xếp vào thô, chỉ nói Tuyệt quán không có bộ để đãi thì không có dọc đãi, không có giáo để so sánh thì gọi là không ngang đãi. Cho nên chỉ một tuyệt để làm năng thuyên, tuy lập tương đãi để hiển bặt đãi còn không ở tuyệt, thì làm sao có đãi. Vì nói ba đức nên giả gọi là Tuyệt. Mượn tên tương đãi xếp vào nghĩ bàn cho nên chỉ bặt đãi mới gọi là Diệu. Do đó cảnh nghĩ bàn sau Phật giới tuy diệu, ở cuối giới gọi chung là thô, nên đều xếp vào không phải chỗ dùng nay. Kế cùng chẳng thứ lớp ý cũng như thế. Cho ý thứ lớp chỉ nói Diễn môn, dụng chung dụng riêng chỉ nói tợ chung tợ riêng. tuy nói chẳng dụng chẳng y cứ nghĩ bàn mà nói không thể nghĩ bàn. Khai ở Sở đãi để thành Năng tuyệt, tức là ý Diệu quán của văn nay Thích danh trở xuống là các nghĩa đều thế. Sở dĩ Thích Danh nói về, Đãi Luận tuyệt, thể tướng chỉ luận thứ và chẳng thứ. Nhiếp pháp sáu nghĩa, thiên viên năm môn cũng giống như thế. Tuy không Bộ hội để dùng đối luận. Lại mượn giáo vị để hiển bày Viên diệu. Cảnh cảnh mười quán chỉ ứng chỉ diệu còn mượn ngang dọc để hiển không phải ngang dọc. Cho nên biết văn một bộ cùng thành viên thừa khai quyền diệu quán, đâu chỉ một câu mà nói riêng cao sâu. Nếu y cứ đó khác nhau thể đạp. Bốn đoạn trong đây văn bốn nghĩa hai, ý chỉ ở một. Đãi tuyệt là hai, ý ở tại tuyệt. Lại sở một năng ba, cũng gọi là nghĩa một, dùng sở hiển năng nên nói ý một. Ba chỉ, tuy khai ba tên, tên cũng chung nhau, bao gồm ba đế chưa xếp cạn sâu đến trong Hiển Thể mới phân hơn kém. Ba nghĩa trong quán cũng giống như thế. Các quán ác giác, v.v… là nói giống kiết tư ý, lại nói chung, chỗ dẫn Tịnh Danh cũng lại chứng chung, Nếu mượn thể tướng văn đến đây dự nói, nghĩa là chỉ dứt kiến tư, dừng tâm ở chân lý. Chân lý không phải chỉ và chẳng chỉ. Nếu chỉ dứt trần sa dừng tâm ở tục lý, tục lý chẳng phải chỉ và chẳng chỉ. Nếu chỉ dứt vô minh dừng tâm ở trung lý. Trung lý chẳng phải chỉ và chẳng chỉ. Ở đây thì ba đế đều có ba chỉ. Quán cũng như thế. Y theo lời nói rất dễ hiểu. Cho nên văn dưới chép: Ba trước thành ba kế, một sau có đủ ba trước. Thứ lớp đã thế, một tâm cũng lệ theo đó. Kế trong đình chỉ duyên tâm lý đế và dẫn Nhân vương vào Lý Bát-nhã, chung mà chưa riêng, ý cũng như trước. Cho nên trong đây nói lý. Chỉ nói Trí năng nhập, chưa nói Lý sở nhập.

Quán trung cũng như thế. Thứ ba trong chỉ nói lời chung mà ý khác. Trong đây cũng nói đối với chẳng phải chỉ mà nói chỉ. Lời giống văn trên, hai thứ chỉ trên là dứt đối chẳng dứt, dừng đối chẳng dừng. Nay dùng vô minh đối với pháp tánh một lượt xem qua vô minh dường như chẳng dứt chẳng dừng, pháp tánh dường như dứt dường như dừng. Cho nên lời chung ở trên. Ý thì chẳng thế, vô minh tức pháp tánh, pháp tánh tức vô minh. Thể đồng mà tên khác, đối nhau mà đặt tên.

Cho nên khác hẳn hai chỉ trên, hai thứ trên chẳng thể nói tức nhau. Cho nên nay y cứ riêng, chính là nêu chỉ tướng thứ ba. Nói riêng là vì hai thứ chỉ trên chỉ thuộc đường chung. Nói đường chung, là hai trì đều có một trí một dứt, bên dứt có trí, lại đối sanh tử. Tức y cứ Niết-bàn mà đặt tên dứt. Bên trí có dứt, lại đối lý ngoại. Tức y cứ Bát-nhã mà đặt tên Trí. Đoạn nên gọi dứt, trí nên gọi dừng, trí y cứ năng đoạn. Đoạn y cứ sở đoạn cho nên trí đoạn nói chung hai chỉ. Nay thì chẳng như thế, chuyên y cứ đế lý, lý chẳng phải năng sở, chỉ do đủ hoặc. Hoặc tức là pháp tánh, hoặc tánh đối đãi nhau không liên quan đến trí đoạn. Cho nên thứ ba không đồng hai thứ trước. Lại chỉ thứ ba y cứ lý đặt tên mà chỉ chẳng phải lý. Hai chỉ trước chỉ y trí đoạn, trí đoạn là chỉ, cho nên thứ ba khác nhau hai thứ trước. Lại trí đoạn y lý mà trí đoạn chẳng phải lý. Cho nên hai chỉ trước chỉ dùng trí đoạn mà làm thân y, khác nhau thứ ba chuyên dùng đế lý làm thân y. Cho nên thứ ba khác nhau hai thứ trước. Lại thuận nghĩ bàn cho nên có khác này. Nếu không thể nghĩ bàn ba thể vốn là một. Như kinh trở xuống là dẫn chứng. Dẫn chung các kinh chưa làm chứng riêng, cho nên không y cứ chỉ. Vô minh, pháp tánh đều chẳng phải sanh diệt. Lý tuy đều không phải, nếu nói pháp tánh phải nói vắng lặng. Nếu nói vô minh phải nói sanh diệt, đây thì hai tên đều chung ba đế. Tên đều đối lập, lý đều không sai. Cho nên như Thích Danh lại ở Tiêu Thích, hai chữ chỉ quán danh tức là quán, chưa rảnh nói rõ năng sở cạn sâu. Cho nên văn sau chép: Chẳng thể tìm tên chung lại tìm thể riêng. Ba chỉ đã thế thì ba quán cũng theo đó. Trong quán đầu nói lợi, bừa lớn gọi là Sừ, đây là đồ mài ngọc. Không phải ý nay phải làm đấu này, đấu là phá. Đá lớn gọi là bàng, đá bột gọi là cát, đá nhỏ gọi là thước. Đại Kinh quyển mười tám Tánh Phẩm chép: Thí như có người khéo biết kho tàng ngầm, bèn dùng cuốc bèn mà đào đất, đào đá lớn, đá nhỏ, qua thẳng không khó. Chỉ không thể xuyên qua lớp Kim cương. Nay mượn dụ ấy gồm chung ba hoặc chuẩn chỉ rất dễ hiểu. Phải bỏ Kim cương chỉ còn xuyên qua tức là ý ở đây. Kế dẫn Pháp Hoa về nghĩa đục qua để chứng xuyên qua. Chưa phân ra khô ướt nên cũng chung. Kế giải thích quán đạt trung mà dẫn văn Dọc y Ứng. Nói tuy có dứt, ý còn bên đạt kế chẳng quán quán và dẫn kinh, v.v… chuẩn chỉ rất dễ hiểu. Cho nên dưới kết như văn.

Kế giải thích Bặt đãi. Trước nêu chung ý văn, kế phá ngang dọc. Kế chánh nói tuyệt. Y văn đầu, là dùng pháp ngang phá phá, khiến thành ngang, khiến biết ngang đãi, chẳng gọi là tuyệt. Dùng pháp dọc phá phá khiến thành dọc. Khiến biết dọc đãi chẳng gọi là tuyệt. Nói ngang là bốn câu đối nhau chưa có cạn sâu, nên gọi là ngang. Sanh sanh đẳng bốn, bốn câu so sánh nhau có sâu cạn nên gọi là dọc. Trước trong ngang phá hai câu trước, đều nói chiếu cảnh làm chánh, trừ hoặc làm phụ. Bàng tức là người, chánh tức là mình. Muốn xếp lỗi tánh trước lập bàng chánh. Bàng chánh là sao? Chỉ là một chỉ mà được tên khác chỗ. Y cứ phá hoặc, liền gọi là dứt, y cứ vào trí, liền gọi là dừng, y cứ thể tánh gọi là chẳng chỉ mà chỉ. Cho nên khiến được tân bàng chánh khác nhau. Vì sao? Vì hễ nói nhập đạo, chánh là dung trí, bàng là dứt hoặc. Nếu từ dứt hoặc mà đặt tên, thì tên từ bàng lập. Nếu từ chiếu cảnh mà đặt tên thì tên từ chánh lập. Chỗ phá là hoặc, hoặc so sánh trí, hoặc tức là người, cho nên chỉ tức chỉ, từ chỗ phá mà lập, liền rơi vào tha tánh. chỉ của năng phá lại từ năng chiếu, chiếu so sánh hoặc chiếu tức là tự, cho nên đỉnh chỉ chỉ từ năng chiếu mà lập, tức rơi vào tự tánh. Trong đây cái gọi là chiếu cảnh, v.v… là y theo lời tiện. Theo lý phải chép: Y đế là chánh, dứt hoặc là bàng. Đến giải thích quán sau mới có thể nói chiếu. Từ nếu chẳng trở xuống là nếu lấy chung tự tha liền rơi vào tánh cộng. Văn dường như Cùng chẳng sai, ý thật lấy chung. Nên nói trí đoạn nhân duyên nên chỉ, chẳng dùng riêng một nên dường như cùng chẳng sai. Chẳng chỉ mà chỉ, nghĩa rơi vào tánh vô nhân. Chánh ra cùng chẳng sai chỉ là đều lìa tự tha. Không phải chỉ là lìa tự, không phải chẳng chỉ là lìa tha. Lìa tha là lìa sở phá, lìa tự là lìa năng y. Cho nên chỉ thứ ba rơi vào tánh vô nhân. Quán cũng như thế, có thể so sánh mà biết. Nhưng năng thuyên gọi là thật chẳng ngoài ba chỉ ba quán này. Cho nên trong bặt đãi và trong hiển thể cũng y cứ tên này mà dùng để biện đốn, vì trừ tình chấp nên phải phá tánh. Cho nên dẫn Long Thọ chẳng tự sanh, v.v… chứng lìa tánh lỗi. Vô sanh trở xuống là kết, bặt đãi Vô sanh chẳng từ tương đãi bốn câu đặt tên. Bốn câu đặt tên trở xuống là bác bỏ thành nghĩa đãi. Hỗ tương nhân y đối đãi mà lập. Có thể nghĩ, có thể nói tức có thể nghĩ bàn. Chấp tánh chưa dứt gọi là kết hoặc. Do kết hoặc nên chưa chứng Vô sanh, gọi là kết hoặc sanh bị ngang pháp phá gọi là năng phá. Hai không nghĩa thành, đối nhau nghĩa hoại gọi là năng hoại. Khởi diệt trở xuống là riêng y cứ ba chỉ ba quán mà phá. Lược nêu khoảng giữa một chỉ một quán. Đầy đủ phải nói ba chỉ ba quán thảy đều chẳng thành. Trong so sánh trước sau nên lược bỏ chẳng nói. Lại thọ trở xuống là kế phá dọc. Vì từ trước tự tha bốn tánh mà sanh, cho nên là sanh sanh, năng sở đều sanh, nên gọi sanh sanh. chẳng khỏi tánh lỗi tức là hữu vi. Hữu vi tức là bốn tướng đổi dời, đại sanh sanh tiểu sanh, nên gọi là sanh sanh. Lại nhân sanh quả sanh nên gọi là sanh sanh. Nếu ở Trung đạo mà khởi tánh lỗi thì cũng thuộc về sanh tử huống chi là các thứ khác ư? Tuy ba chỉ quán gọi chung là ba đế, nếu khởi bốn chấp còn không có quán đầu, cho nên thuộc về sanh tử, gọi là sanh sanh. Phá đây sanh vào Niết-bàn, gọi là chẳng sanh. Chẳng sanh này (đối) đãi sanh nên được gọi là sanh chẳng sanh, (đối) đãi chân chẳng sanh, nói ở tục sanh, gọi là chẳng sanh sanh. Ở bên đãi nói trung sanh, hai bên đều sanh, phá hai sanh này, gọi là chẳng sanh, chẳng sanh trong mỗi văn đều phải có ba chỉ, ba quán. Trong văn chỉ có tên hai chỉ mà thôi. Trước nói chỉ tức kiến tư, tức chỉ tức chỉ, dừng trụ chân đế tức đình chỉ chỉ. Dưới là hai ví dụ cho nên biết ba đế đều thiếu, chẳng chỉ, mà chỉ cho đến ba quán. Vì chẳng chỉ mà chỉ, chỉ là đế lý cho nên chẳng nói. Nghĩa quán so chỉ cũng rất dễ hiểu. Bốn câu xoay vần sanh, tên là hậu hậu. Cho nên bốn câu đều gọi tương đãi. Cho nên phải đem ngang vào dọc, mỗi câu dọc đều có ngang. Cho nên chỉ tức các tên khắp ở dọc, cần phải ngang dọc hai phá mới hiển bày bặt đãi, tên không thể nghĩ bàn. Đều là trở xuống là bác bỏ chung. Ngang dọc khác nhau nghĩa năng chấp, v.v… cho nên cũng gọi đối đãi cho đến phá hoại, v.v… Hỏi: Chấp ngang tự tha cho đến vô nhân cho nên sanh hoặc. Dọc đến Trung đạo vì sao cũng nói kết hoặc sanh, v.v…? Đáp: Sau sau đều là trước trước kết hoặc, nên đều là Sanh. Lại Trung đạo chưa cực cũng còn thuộc giáo đạo. Giáo đạo có hoặc nên cũng là Sanh. Lại tín giáo đạo ở trong sơ tâm dự kế thứ lớp xoay vần năng Sanh. Cho nên xếp vào sơ tâm sanh kết hoặc v.v… Còn chưa phải trở xuống là cũng bác bỏ riêng. Chấp tên Tương đãi thành Bặt đãi rồi lại dùng tên đãi mà xoay vần so sánh nhau. Cho nên sau so sánh trước, tuy được tên chỉ lại so sánh ở sau lại thành chẳng chỉ. Cho nên gồm ba thứ trong Tương đãi ấy còn chưa thành chỉ, tức đình chỉ trong Bặt đãi huống chi là chẳng chỉ mà chỉ. Quán cũng như thế. Trung đạo tuy là không khác, Đế cảnh được xem là sau. Nếu so sánh với Thật đạo không thể nghĩ bàn thì cũng chưa thành chỉ. Cho nên ba đế chỉ đều chưa gọi chỉ. Vì sao trở xuống là giải thích ý bác bỏ trước trái chấp bất tận? Giải thích trong đối đãi ngang dọc bốn câu tánh chấp chẳng dứt, đường nói năng chẳng dứt, giải thích sự xoay vần sanh nhau thành có thể nghĩ bàn. Nghiệp thích hoặc, quả thích sanh. Cũng có thể hai thứ nghiệp quả đều sanh. Nói chẳng tuyệt là giải thích có thể phá, có thể hoại. Nay nói trở xuống là chánh giải thích bặt đãi. Trước nói sở tuyệt, sở tuyệt tức là các đãi ngang dọc trên. Phiền não chỉ là chấp bốn tánh. Do tánh chấp nên có nghiệp có quả, Bẩm giáo tu quán thứ lớp chứng đắc. Như thế đều thành có thể nghĩ bàn, cho nên phải phá. Thảy đều trở xuống là kế nói năng tuyệt tức là chỉ quán. Tuy nói năng tuyệt có thể nói ở sở. Vì sao? Vì đã nói bặt đãi, dứt đãi gọi tuyệt nên gọi là chỉ. Chỉ cũng tự mất, tên chẳng thật có. Quán cũng như thế, chẳng phải ngoài sở quán có cái gọi là sở. Cho nói quán minh như cảnh. Quán cũng tự mất, nên nói đâu được có quán. Chỉ quán còn không, đẳng là bác bỏ tương đãi. Bặt đãi còn không, đâu lập tương đãi. Cho nên chỉ quán này không phải chỉ không sở trừ ám tán, cũng bởi thể chỉ quán tự vốn mất. Vì sao? Có sở phá nên nói có năng phá. Sở tức năng nên không có năng để luận, chẳng được gọi như trong tương đãi kia. Đãi năng nói sở, đãi sở nói năng. Lại thứ ba chỉ quán đãi ở vô minh, nói ở pháp tánh gọi là Chỉ, đãi ở pháp tánh, nói ở vô minh gọi là chẳng chỉ. Pháp tánh chẳng phải chỉ và chẳng chỉ, cho nên nói theo pháp tánh thì đãi thứ ba ở trước là khác. Cho nên nói đãi chỉ chẳng chỉ, nói chẳng phải chỉ, chẳng phải chẳng chỉ tức là đãi ở trước hai chỉ nói chỉ thứ ba, hai chỉ đều đối chẳng chỉ mà nói. Cho nên nói chỉ chẳng chỉ. Nếu nói theo dọc, nay bặt đãi chỉ quán còn không bặt đãi, đâu được đãi sanh sanh chẳng chỉ. Nói chỉ quán sanh chẳng sanh, cho đến đãi chẳng sanh sanh chẳng chỉ. Nói chẳng sanh chỉ quán chẳng sanh đâu được hai chữ quán trở xuống ba câu. Cho nên biết trở xuống là kết giải thích ý tuyệt. Trước trong chỉ nói đều chẳng thật có, đãi tức tuyệt, không có đãi để nói. Cho nên nói chỉ cho đến chẳng phải chỉ, chẳng phải chẳng chỉ đều chẳng thật có. Ngang dọc đều thế, nghĩ kỹ mới thấy. Đối đãi đã dứt trở xuống là tổng kết ngang dọc đều dứt, bác bỏ ngang dọc đó đều hữu vi. Nay đã dứt thì nó không phải hữu vi. Chẳng thể nghĩ bàn là chẳng thể lấy bốn câu ngang dọc ở trước, suy nghĩ sẽ thấy. Không phải nói năng, v.v… là nói bặt đãi (dứt đối đãi) chẳng thể nói đã không có bốn câu danh tướng ngang dọc, cho nên trong bốn câu ngang dọc trước chỗ sanh kết hoặc, v.v… tất cả đều diệt, diệt là bặt đãi, cho nên nói diệt tuyệt, năng diệt cũng không nên nói tuyệt diệt. Kế là kết điên đảo trong quán, bốn câu ngang dọc đều gọi là Tưởng. Cũng là bặt hữu vi, là kết thúc được tên khác. Năng tuyệt thể một, tùy chỗ tuyệt mà được tên khác nhau. Bặt đãi chỉ quán là kế nói lợi tha, trước nói ý đã tự chứng tuyệt có thể tùy bốn cơ, không nói mà nói nên nói có thể nói. Nếu thế sao chỉ ba đều là pháp hóa tha. Nghĩa bậc nhất cũng là hóa tha, cho nên dùng bốn chương để đối bốn tất. Nếu có trở xuống là chánh giải thích. Hỏi: Nay nói thuyết bặt nên chỉ nói bặt mà dùng bốn chương đối bốn tất, nghĩa ấy là sao? Đáp: Tự hành chỉ bặt tha nên khác nhau nên dùng lìa bặt đãi làm bốn thuyết. Cho nên trong huyền văn phân biệt dụng rằng: Ông là tự hành nên phải phân biệt tha. Dụng là ích tha cho nên cùng lấy không thể nghĩ bàn, dùng còn lấy phương tiện huống chi là viên bặt đãi, chẳng được làm viên bốn tất mà nói ư? Cho nên Huyền Văn cuối quyển sáu chép: Khai bốn tất rằng khai thế giới thô thành thế giới diệu, cho đến khai Đệ nhất nghĩa thô đồng thành đệ nhất nghĩa Diệu, cho nên không nói mà thôi. Nói thì bốn tất. Vì sao? Vì dị là cách biệt hơi thành viên dị, chẳng dị mà dị, cho nên đối thế giới, thông là nghĩa sanh, gọi là lý năng thông. Cho nên dùng lý thiện mà đối làm người, đối có năng sở dứt không năng sở, cũng mượn năng sở làm viên đối trị. Bặt đãi y cứ lý, lý tuy không nói, cũng y cứ tuyệt lý nói nghĩa bậc nhất. Nói là chỉ quán. Bốn chương như thế đều là chỉ quán, đều đến Lý bặt đãi. Lại y cứ hóa nghi để nói bặt, như trong Tịnh Danh ba mươi hai Bồ-tát, đều tự nói chỗ nhập môn của mình, môn đều thông lý, nên lý gọi là tuyệt. Cho nên các Bồ-tát nói xong, bảo Văn-thù rằng: Nhân giả phải nói. Văn-thù nói cho đến không có nói năng, chữ nghĩa là thật vào pháp môn không hai, được gọi là diệt tuyệt. Thiền định ngậm miệng không nói, được gọi là tuyệt diệt. Hỏi: Đồng được tuyệt đãi, vì sao khác nhau? Đáp: Gồm có sở hiểu nêu bày đường khác, các Bồ-tát nói lên năng thuyên khác nhau. Văn-thù nói lên sở thuyên chẳng khác. Tịnh Danh nói lên sở thuyên không nói. Lại, các Bồ-tát chỉ nói lên hóa tha, Văn-thù nói lên tự hành, hóa tha. Tịnh Danh chỉ nói lên tự hành. Đều nêu một bên cùng thành diệu sự. Bốn tất bặt đãi, y theo đây rất dễ hiểu. Lại Đại Kinh chẳng thể nói. Đại Tập không nói Bát-nhã thanh tịnh. Pháp Hoa chỉ khen, Niết-bàn chẳng sanh đều là tên khác của bặt đãi. Nhưng lại phải biết các giáo dứt khác,, khai hiển không ngoài mới gọi văn nay. Thử chi trở xuống là kết bặt đãi này để thành hai không. Trước lập, kế là chữ trở xuống là giải thích. Trước nói tánh không. Cũng chẳng trụ trở xuống là kế nói tướng không, tức phá ngang dọc lại đến bốn cơ. Bặt lý vì sao gọi là thật tướng, thể của thật tướng đầy đủ hai không, khác hẳn hai không ở trước từ giả vào không. Chữ ấy chẳng thật có trở xuống là kết tên. Cũng gọi trở xuống là nói tên khác của bặt đãi. Cho nên Như thế trở xuống là giải thích tướng bặt đãi.

Thể bặt đã khắp thì không có chỗ đối, cho nên chẳng do Tiểu gọi là đại. Thí như trở xuống là nêu thí dụ rất dễ hiểu. Chỉ quán cũng như thế, trở xuống là hợp thí. Chẳng nhân ngu nên gọi là quán, chẳng nhân loạn nên gọi là Chỉ. Người đời trở xuống là phá lầm lẫn, trước phá chung người đời, y tâm thế gian mà nói, dùng lời phá lời, lời chẳng thể dứt giải thích bặt chẳng thành, cho nên phải biết lý bặt. Vì sao trở xuống là giải thích người đời nói chẳng thành, ý bặt nói tùy tưởng đổi nên nói chẳng phải bặt, cho nên tuy nói ngộ, chẳng ngộ, v.v… chẳng khởi hoặc nhiễm, đối đãi nhau không thôi nên gọi là luân chuyển. Ngộ y cứ trí chứng, tâm y cứ hoặc cảnh có tâm chẳng phải ngộ, ngộ thì dứt tâm. Chẳng phải chỉ là không, không tâm chín cõi nên gọi là chẳng tâm. thuận tưởng hư đàm, bặt lại thành đãi, không có lý để nương nên nói vô ký. Nếu được ý trở xuống là nêu chánh thể bặt đãi. Đã đạt được lý bặt thì ai còn phân biệt. Tuy là duyên dứt lý, phân biệt chẳng mất, đều gọi là đãi. Ấy thì chỉ chứng gọi là chân tuệ khai. Lại được ý trở xuống là nói bặt chẳng thể luận bàn. Tâm hành trở xuống là nói bặt chẳng thể suy nghĩ. Tuy trí trở xuống là lại nêu bặt vị. Cũng chẳng trở xuống là trái ngược hiểu lầm của người trước. Đẳng là đẳng thủ luân hồi, v.v… Các thứ trở xuống là lại bác bỏ. Chân tuệ trở xuống là lại nêu công năng của vị. Như trước trở xuống là lại nêu thí dụ mà thí dụ bặt. Trước là tiến (dâng lên) nghĩa là tiến gậy lửa, gậy tiến lửa xong thì cũng tự thiêu. Dứt các đối đãi rồi thì tuyệt cũng tự dứt. Cho nên Đại luận hỏi: Chẳng phải nói tướng không. Vì sao? Nếu nói vô tướng tức là ở tướng, nếu không vô tướng thì chẳng phải lại năng phá tướng các pháp. Nếu có vô tướng thì chẳng phải nói tất cả vô tướng? Đáp: Dùng vô tướng mà phá các tướng, nếu có tướng, vô tướng thì rơi vào các pháp, vô tướng diệt các tướng cũng tự diệt vô tướng. Như lửa gỗ trước đã đốt củi rồi cũng lại tự đốt. Cho nên bậc Thánh tu Tam-muội vô tướng vô tướng để phá vô tướng, Tam-muội không không Tam-muội vô tác vô tác cũng giống như thế, bặt rồi lại bặt ý cũng đồng. Nếu thế trở xuống là giải thích nghi. Nghi rằng: Chân tuệ khai phát mới gọi là tuyệt, bèn bị Sơ trụ có ích gì sơ tâm. Nay vì trở xuống là giải thích ở sơ tâm thì không chỗ mất, Thánh ở cực vị chẳng thể lạm sơ.

Ba là Hội dị, Hội các kinh luận đều thành bặt chỉ quán. Văn đầu lại Hội tên khác của tuyệt đãi. Các kinh trở xuống là hội tên khác của chỉ quán, tuy gọi chung là tuyệt mà tịch chiếu rõ ràng. Nên các tất cả tên khác của kinh luận đều là tên khác của tịch chiếu. Cho nên dị danh trở xuống đều nói tuyệt đại không thể nghĩ bàn. Vì sao trở xuống là giải thích ý Hội khác? Tất cả đều là tên khác của ba đức, cho nên hội khiến ba đức. Trước Bát-nhã trở xuống là quán tên khác tức là đức Bát-nhã, giải thoát trở xuống là tên khác của chỉ, là đức Giải thoát. Như hư không trở xuống là tên khác của chỉ quán chẳng hai, tức là đức Pháp thân. Bátnhã là một pháp, tức là kệ văn khen Bát-nhã. Giải thoát cũng như thế có rất nhiều tên, tức là Đại Kinh câu văn thứ năm trăm về giải thoát. Gần bảy tám trang, xưa nay giảng là nói dài mà thôi. Tam tạng Chân đế có một quyển ghi giải thích trăm câu này. Đại sư Thiên Thai từng ở chùa Linh Thạch, một mà hạ giảng trăm câu Giải thoát này, mỗi câu đều dùng trăm câu giải thích, trăm câu bèn thành một muôn pháp môn, một muôn tên gọi. Chương An nói trước học tự no mà chẳng ghi chép, nay không có truyền. Tiếc thay tiếc thay, vì đời sau không được nghe. Hư không v.v…, thí như hư không cũng có bốn tên: Một là hư không, hai là không thật có, ba là bất động, bốn là vô ngại. Hư không vô hình còn có bốn tên, huống chi là không thể nghĩ bàn chẳng phải chỉ chẳng phải quán. Hỏi: Trong đây chỉ hội tên khác chỉ quán, sao phải nêu dị pháp thân này. Đáp: Văn sau là đức chung, đã dùng chỉ quán mà chung ba đức, cho nên Hội dị nêu ở pháp thân. Cho nên biết các kinh tuy là nhiều tên nhưng chẳng ngoài chỉ quán. Lại vì chẳng hai cho nên biết chỉ là tên khác của ba đức. Phải biết trở xuống là kết ba đức chỉ là một pháp thật tướng, tùy loại chúng sanh mà đặt tên khác. Nếu nghe trở xuống là khuyên răn. Bặt đãi ý sâu khuyên chớ kinh sợ, gặp tên khác rộng khuyên chớ sanh nghi. Tương đãi nghĩa gần nên chẳng cần khuyên, đức chung chỉ là bặt đãi được chung nên cũng chẳng khuyên. Lại chỉ quán tự gặp nhau sau, nay đã dứt các tên đối đãi nhau ở trước, cho nên tên tương đãi đều thành bặt đãi. Do đó lại nhờ chỉ tức các nghĩa để tự gặp nhau. Chỉ cũng gọi là quán tức đình chỉ chỉ, quán cũng gọi chỉ, tức quán xuyên suốt. Chẳng chỉ tức chẳng chỉ mà chỉ. Chẳng quán tức là chẳng quán mà quán. Đều phải y cứ Viên để giải thích tức. Ba hoặc thể vắng lặng gọi là tức, ba đế lý khắp gọi là đình. Đế lý chẳng phải chỉ và chẳng chỉ, không hoặc có thể phá gọi là không trí có thể chiếu gọi là quán đạt quán. Đạt lý chẳng phải quán cùng chẳng quán. Nếu tin bặt đãi tự gặp nhau, chỉ cũng gọi là quán, tịch tức chiếu, cũng gọi chẳng chỉ, tịch thể tự mất. Quán cũng gọi là chỉ, chiếu tức tịch, cũng gọi chẳng quán, chiếu thể tự mất. Như không chẳng sáng tối, sáng tối tức không, không sáng chẳng phải sáng, không tối chẳng phải tối, chẳng phải tối mà tối, chẳng phải sáng mà sáng. Tịch chiếu chỉ quán ví dụ theo đây sẽ biết.

Bốn là trong chung ba đức, văn đầu trước nói ý dụng tên trước hỏi, vì đối trở xuống là đáp, kế các pháp trở xuống là lại hỏi. Đại luận trở xuống là lại đáp. Tự Tha trước sau, v.v… là Bồ-tát sơ tâm thường quán Niết-bàn là tự hành mới tu, cũng khiến chúng sanh thường quán Niếtbàn là hóa tha mới tu. An trí các con trong kho Bí Mật là hóa tha hậu nhập (vào sau). Ta cũng chẳng bao lâu tự trụ trong đó là tự hành hậu nhập (vào sau). Cho nên biết tự tha sơ tâm đều tu, tự tha hậu tâm đều vào, tức là một bộ chánh ý, văn nay trước sau chỉ là quán ba đức. Vào ba đức là sao? Lại trong năm lược, mới phát đại tâm trở xuống là tự hành mới tu. Xé rách lưới lớn trở xuống là hóa tha mới tu. Trở về chỗ lớn trở xuống là tự tha hậu nhập. Kế trong giải thích rộng là Thích danh thì tự hành sơ. Khởi giáo thì hóa tha sơ. Chỉ qui thì tự tha hậu. Nếu nói riêng thì nước chỉ quả, nay từ nghĩa chung nên khắp sơ hậu. Cho nên dùng đối để làm hạnh gốc. Kế nêu trở xuống là chánh nói tướng chung. Trước dùng hai chữ cũng chung ba đức, nếu phân hai chữ chẳng thể đủ Đức cho nên phải hai hợp nghĩa mới đủ ba. Hỏi: Trở xuống là giải thích nghi. Phàm tên năng thông, thông ở sở thông. Năng sở tương xứng hẹn chỗ đến. Chỉ dùng hai pháp làm tên năng thông, làm sao chung đến ba pháp sở thông? Đáp: Tạng thông Chỉ quán hai pháp khác nhau, còn chẳng năng thông ba Đức riêng khác. Nếu không thể nghĩ bàn một tâm chỉ quán thì năng thông ở một tâm ba Đức, hai, ba tuy khác không thể nghĩ bàn một chẳng hai mà hai, vì chung hai đức, hai mà chẳng hai vì chung pháp thân. Lại Đại Phẩm trở xuống là dẫn chứng. Cho nên Đại luận quyển năm hai chép: Đều ví dụ thích rõ một trăm lẻ tám Tammuội xong tức nói mười tám không ở trước. Giải thích Bát-nhã xong, nay dùng một trăm lẻ tám Tam-muội giải thích thiền. Đã là Thủ-lăngnghiêm Thiền Chủng Trí Bát-nhã, cho nên biết hai thứ này chẳng phải riêng một mình, thế thì trong mỗi không tất cả không, trong mỗi không tất cả định, trong mỗi định tất cả định, trong mỗi định tất cả không. Kinh luận nêu số từ sự mà lập. Phá mười tám có nói mười tám không đối một trăm lẻ tám tán nói một trăm lẻ tám định. Như lửa thiêu vật tùy vật được tên đâu có chỗ thiêu khác khiến lửa riêng khác. Cho nên dẫn mười tám không để chứng ở quán, dẫn một trăm lẻ tám Tam-muội để chứng ở chỉ. Hai mà chẳng hai chứng được pháp thân. Cho nên trở xuống là lại dẫn Đại Kinh, chứng lại hai tên, nghĩa gồm ba đức. Quyển hai mươi lăm chép: Tất cả chúng sanh đều có Định Thủ-lăng-nghiêm. Định Thủ-lăngnghiêm cũng gọi Bát-nhã, cũng gọi Tam-muội Kim cương, cũng gọi Sư Tử Hống, cũng gọi Phật Tánh. Kinh nói Định Thủ-lăng-nghiêm có năm tên. Lăng-nghiêm cũng ở trong năm tên. Nay dẫn Phật tánh có năm tên.

Phật tánh cũng ở trong năm tên. Nay chỗ dẫn lấy chung gồm riêng, ý ấy thế nào? Đáp: Kinh giải thích chúng sanh có định Lăng-nghiêm, nên nói Lăng-nghiêm có năm tên, nếu luận chung thì nói Sư Tử Hống có năm tên cho đến biếng nhác có năm tên. Đối với lý thì không lỗi. Tuy đều không lỗi nhưng trong năm tên gọi Phật tánh là chung, chung cho định tuệ nên bốn tên gọi kia hai hai ký cục. Bát-nhã Sư Tử Hống từ tuệ làm tên, Kim cương Thủ-lăng-nghiêm từ định làm tên. Nay nói Phật tánh chẳng phải định chẳng phải tuệ mà định mà tuệ. Cho nên nói Phật tánh có năm tên, gọi để chứng văn nay chẳng hai mà hai. Lại kế trở xuống là đều thông. Trước nói ý đều thông. Chỉ và quán cùng nhau mà có cho nên được đều chung. Như chỉ có quán cũng lại tự có, không phải chỉ không phải quán. Quán nếu có, chỉ cũng lại tự có chẳng phải chỉ chẳng phải quán. Cho nên chỉ quán đều được chung cả ba. Như chỉ tức trở xuống là kế chánh đều chung trước chỉ quán. Lại văn trước cùng chung vì từ tên tiện, nay đây đều chung là từ nghĩa tiện. Cho nên hai chỉ để đối hai đức. Chẳng chỉ chỉ nghĩa giống chẳng phải chỉ quán nên chung cho pháp thân. Quán cũng như thế, có thể y cứ mà biết. Lại nữa, chỉ quán trở xuống là nói cùng thông, khác nhau hai chữ cùng thông ở văn trước. Nay đây chỉ quán đều có ba nghĩa, hai hai đều chung nên gọi là cùng. Lại nữa, ba đức trở xuống là lại dùng ba đức mà chỉ chung cho quán. Hỏi: Chỉ quán chung đức là năng thuyên chung đến sở thuyên vì sao lại dùng đức chỉ chung cho quán. Đáp: Danh vời ở lý tên là đức chung, lý ứng ở tên, tên là đức thông. Lý chẳng ứng tên, tên chẳng chỗ thông. Tên không vời lý, lý không thể hiển. Lại tên tức lý nên chỉ quán chung đức, lý tức tên nên đức chung cho chỉ quán. Lại chỉ quán đều có nghĩa ba đức, cho nên chỉ quán chung đức. Ba đức cũng có nghĩa chỉ quán nên đức chung chỉ quán. Vì ba nghĩa này lại phải đức thông, vì hiển lý giáo dung thông vô ngại. Cho nên cùng biện rốt ráo văn nay. Tên chánh lý phụ như trước đã nói. cũng phải lại y cứ hạnh mà nói chỉ quán và đức cùng thông nghĩa ở văn sau nên nay chưa biện. Ở trong đó cũng trước cùng chấp đầu. Cùng nghĩa là ba đức cùng chung chỉ quán và không phải chỉ quán, đều nghĩa là ba đức có đủ ba, như văn rất dễ thấy. Nếu tin trở xuống là nêu ví dụ khuyên tin. Trước nêu tên khác khuyên tin ba đức. Chỗ nói chỉ quán cùng chung nhau là gốc bày chỉ quán tuyệt diệu. Năng thông tuyệt diệu, đức không thể nghĩ bàn. Đã tin ba đức phải tin chỉ quán. Nếu tin trở xuống là dẫn dụ khuyên tin. Mà các kinh trở xuống là tên Thiên ý viên. Các kinh đầu Lăng-nghiêm, Trí Độ như trước dẫn chứng. Chẳng hai mà hai đã lược biết rồi. Mỗi kinh đã đầy đủ các pháp ấy, phải biết đều là kho Bí Mật. Nói Lăng-nghiêm, người khác nói là tên báu, các đại Bồ-tát đều dùng báu này để trang sức đầu. Bồ-tát được trang báu sức đầu này đầy đủ Tam-muội, từ báu làm tên, tên là Định Lăng-nghiêm. Đại Kinh chép: Thủ-lăng là tất cả sự xong, nghiêm là kiên cố. Tất cả rốt ráo mà được tên kiên cố Thủ-lăngnghiêm. Đại luận quyển mười tám dịch là Kiện tướng. Đại kinh Đại luận đều dùng ba chữ, đều là tiếng Phạm, đều gọi Tam-muội. Hai giải thích Đường, Phạm không thấy chỗ dựa. Nên biết tên kinh chẳng từ chỗ trang năng lực đầu. Chỉ quán cũng như thế trở xuống là dẫn chỉ quán để so sánh các kinh. Thiên cử trở xuống là so sánh giải thích. Các kinh thiên cử còn đủ ba đức, huống chỉ quán nay là viên cử. Đây là viên cụ chẳng phải viên đốn, nghĩa tuy viên đốn mà lời ý lại như thế. Kế chung các tên khác như văn. Lại chung ba tên, ba tên vô lượng nên nói là tất cả. Nay y theo Kim Quang Minh, Quán Âm Huyền, Tịnh Danh Sớ, v.v… đều dùng mười ba ví dụ giải thích ba đức. Nói mười ba, là tụng rằng: Đạo Thức (biết) Tánh Bát-nhã. Bồ-đề Đại Thừa Thân. Niết-bàn ba Đức báu, mỗi đều ba pháp. Nay văn lược nêu ba thứ Bồ-đề, mà vẫn lược chẳng giải thích. Nay y vào bộ lược ấy mà thuộc đối ba đức như trước. Ba Bồ-đề là thật tánh tức pháp thân, thật trí tức Bát-nhã, phương tiện tức giải thích. Ba Phật tánh là, Chánh nhân tức thực hành, Liễu nhân tức Bát-nhã, Duyên nhân tức Giải thoát. Nói Tam bảo, pháp bảo tức pháp thân, Phật bảo tức Bát-nhã, Tăng bảo tức Giải thoát. Ba đạo là: Phiền não tức Bát-nhã, Kết nghiệp tức Giải thoát, Khổ tức pháp thân. Nói ba thức là: Tam Tạng Chân đế nói thức thứ bảy A-đà-na, Hán dịch là chấp ngã thức. Đây là hoặc tánh thể là nhân duyên. Thức thứ tám A-lại-da, Hán dịch là Tạng thức vì hay giữ chắc trí chủng chẳng mất. Thể là vô một vô minh, tánh của vô minh là tánh Liễu nhân. Thức thứ chín A-mala, Hán dịch là thanh tịnh thức, tức là Chánh Nhân Đường Tam Tạng chẳng chịu giải thích này, bảo rằng: Thức thứ chín là tên khác của thức thứ tám. Cho nên Nhiếp Luận Tân Dịch chẳng giữ địa thứ chín. Trong Luận Văn cũng không có thứ chín. Chỉ dùng thứ tám mà đối Chánh nhân, thứ bảy đối Liễu nhân, thứ sáu đối Duyên nhân. Nay y theo Chân Đế vẫn hợp chung sáu, bảy làm duyên nhân. Vì trong thứ sáu sự thiện ác cũng là hoặc tánh. Giải thích nghĩa thức không phải chỗ luận ở đây. Chỉ lấy ba thức thể tánh mà đối với ba đức, ba nhân ở lý là đủ. Luận gia tuy dịch thức là trí mà chẳng tức chiếu ba thức một tâm, tức một tâm này ba trí đầy đủ. Ba Bát-nhã là thật tướng chánh nhân quán chiếu Liễu nhân văn tự nhân duyên đối đức rất dễ hiểu. Ba Đại thừa, lý thừa là pháp thân, tùy thừa là Bát-nhã, Đắc thừa là giải thoát. Nói ba thân, như trong chỉ qui, ba Niết-bàn là tánh tịnh tức pháp thân, viên tịnh tức Bátnhã, phương tiện tức giải thoát. Người xưa chẳng lập viên tịnh, vẫn dùng phương tiện đối với báo thân. Các văn có phá v.v… Nhưng mười ba thứ này xoay vần đối nhau ý nghĩa chẳng khác. Nghĩa tuy chẳng khác, mà sanh khởi thứ lớp đều có trước sau. Vô thỉ trôi lăn chẳng ngoài ba đường, trôi lăn do thức, trong thức đủ tánh, chiếu tán học đạo trí, trí đủ thành đạo, đạo từ thừa đến, đến nên thân hiển, hiển sẽ là Niết-bàn. Niết-bàn đủ nên gọi là Tam bảo. Bảo thì đủ đức, cho nên trước sau lại so sánh với mười nầy. Hỏi: Vì sao ở dưới rộng phân biệt đức. Trước nêu giải xưa lại dẫn Đại Kinh hỏi khởi ý ấy. Trong kinh ấy nghĩa tông cực: Lại là một nhà Hạnh giải chỉ qui, cho nên phải phân biệt. Đủ dẫn các sư xưa nay Đại Tiểu thừa so sánh xét lường mới hiển bặt đãi ba đức Bí Tạng, cho nên Phẩm Ai Thán chép: Thế nào gọi là Kho Bí Mật? Cũng như chữ Y ba điểm nếu ngang nhau thì thành chữ y, nằm dọc thì chẳng thành. Như Ma-hê-thủ-la trên mặt có ba mắt mà thành chữ Y. Nếu ba điểm riêng cũng chẳng thành chữ y. Ta cũng như thế, pháp giải thoát cũng chẳng phải Niết-bàn, thân Như lai cũng chẳng phải Niết-bàn, Maha Bát-nhã cũng chẳng phải Niết-bàn, ba pháp đều khác, cũng chẳng phải Niết-bàn. Nay ta an trụ ba pháp như thế. Vì chúng sanh gọi là Nhập Niết-bàn, chữ Y như thế. Chương An nói sách tục ở Tây Trúc Y có mới cũ. Chữ y cũ có tung ngang như Ngang Xuyên có thể dụ kinh ấy. Chữ y mới chẳng dọc chẳng ngang, ở đất Hán có thể lấy cỏ mà dụ cho Viên kinh. Muốn giải thích chữ Y mới, trước phải hiểu rõ cách hiểu khác của người mới tránh khỏi lỗi tung ngang của chữ y cũ. Cho đến các lỗi Tà Tông Ngang kế. Cho nên ngoại đạo Đồ Thán cũng chấp trời Đại Tự Tại. Có đủ ba Đức rằng: Pháp thân đầy khắp pháp giới, báo thân ở trời Tự tại ba mắt tám tay tức Ma-hê-thủ-la. Hóa thân tùy hình sáu đường huống chi Đại Tiểu thừa các sự giải thích nghĩa vì nghĩa ấy nêu rõ các sư, là các sư Tiểu thừa. Nói chủng trí đã viên, nghĩa là khi ba mươi bốn tâm dứt kết. Đã có Bát-nhã gọi là Chủng trí. Cha mẹ sanh thân cũng chưa diệt độ gọi là quả phược. Tuy dứt tử phược nhưng quả phược chưa dứt thì chỉ là hữu dư, chưa được vô dư, nên nói chưa đủ. Tuy dứt hoặc chung, chưa có pháp thân, thân là vô thường cũng giúp đoàn thực. Đoàn thực chẳng phải một, nên nói là tạp. Vì ba tạng Phật đồng phàm báo. Một là ưu, nghĩa là Bát-nhã đức chủng trí đã viên; hai là liệt, nghĩa là giải thoát chưa đủ, thân là tạp thực. Hai thứ này tuy kém đã có phần ít, đủ ở chẳng lâu nghĩa phải một lúc. Dụ ở Ngang xuyên cho đến tẩu hỏa. Tẩu hỏa là lửa dữ, là một bức vẽ dài các bức vẽ khác ngắn. Ba đức cũng như thế, tuy đều có hơn kém khác nhau. Lại nói trong sư thứ hai, trước được tướng tốt, tức là trăm kiếp đã hết. Kế được chủng trí, tức là ba mươi bốn tâm. Hậu diệt thân trí tức là tám mươi tám diệt. Vô dư ở đó nên nói mới đủ. Ý thí dụ rất dễ hiểu, nhưng Sanh công nói: Bát-nhã cư tông ở trên, toàn lạm Tiểu thừa sư đầu ba đức. Dù khác Tiểu thừa nhưng trọn thành nghĩa dù. Vẫn đồng sư kế. Nếu nhập trở xuống là sư thứ ba. Nếu nhập diệt định, v.v… đã có thân ở đó gọi là pháp thân, thọ tưởng tâm sở thức tri chẳng làm, gọi là không Bát-nhã nên nói vô trí. La-hán ở vô sắc, là vô sắc bao gồm ở Vô sắc đó mà được Hữu Dư, gọi là La-hán. Chỉ có tâm trí mà không có sắc thân, giống như có Bát-nhã mà không pháp thân. Nếu vào Vô dư, thân tro cho nên không thân, diệt trí cho nên không trí, riêng một giải thoát nên nói “cô điều.” Đây thì ba pháp đều thuộc một người, nói là chẳng tương quan. Nếu khiến ba pháp đều ở một người, tức là diệt định khởi có trí dứt kiết, chẳng ở Vô sắc lại nói có Thân. Định ở vô dư gọi là có giải thoát. Đồng ở một người nên gọi là Đều. Nếu dùng ba pháp lụy ở một người, tức trước được Vô sắc, kế ở diệt định, sau vào vô dư, nên gọi là Tung. Đây thì Tiểu thừa ba sư thiếu hẳn nghĩa chữ y. Kế thầy đầu Đại thừa nói pháp thân là chánh thể pháp thân vốn có thể nên ở đầu, hai đức phải có cho nên ở kế, trong hai đức, Bát-nhã ở trước vô lụy, nên thành nghĩa Tung. Hai Di Hoàn này là Bát-nhã và Giải thoát. Di là đầy, Hoàn là khắp, tuy tu chủng trí, chủng trí chưa đủ mà phần được Giải thoát. Giải thoát chưa đủ cũng được gọi Tịnh, cũng được gọi uế, xoay vần đối nhau cùng làm tịnh uế. Cách vô lượng đời vượt vô lượng kiếp, đời kiếp không khác văn thêu dệt cho nên như thế. Trải nhiều thời gian, ba đức thứ lớp, nên gọi là Tung. Sư kế nói ba đức không có trước sau. Sư đầu chép: Thể chỉ pháp thân, sư này thể đủ ba đức. Tuy đủ ba đức nghĩa đồng sư đầu. Y cứ vào thể đủ lại chẳng làm rõ nhau, nên thành nghĩa Ngang. Vì vốn có nên gọi là thể ngang. Từ tu mà được nên gọi nghĩa dọc. Sư sau chép: Thể nghĩa đều chẳng khác, tức thể và nghĩa đều từ vốn có nên gọi là chẳng khác. Y cứ vào hạnh chứng đắc lại giống trước sau, nên nói ẩn hiển. Pháp thân một đức ở triền là ẩn, ra khỏi triền là hiển. Hai đức kia hạt giống đủ lâu nên gọi là ẩn, rốt ráo quả mãn nên gọi là hiển. Ba đức có đủ hai nghĩa này vốn có ba pháp đều gọi là ngang, đều có Ẩn Hiển nên gọi là Dọc. Vì ẩn hiển mà có trước sau, cho nên thành dọc. Các giải thích như kết sau đều bác bỏ. Đại tiểu sáu thích đều chẳng hội với văn đại kinh. Nay nói trở xuống là nhà nay chánh giải thích, vì ba nghĩa nên mới ứng với (ý) chỉ kinh. Lý tánh ba đức bao gồm tất cả pháp, nên gọi là Tạng. Một đều đủ ba, ba ba tương minh, ba chỉ là một, một một không một. Cho nên tạng này chẳng thể ba một, ngang dọc một khác, mà nói nghĩ bàn cho nên đều nói không thể nghĩ bàn và na-hốt, v.v… một khác đều là tên khác của biệt, đối khác tiện nói nên gọi là một. Thân thường v.v…, đây là hành nhân tu hướng lý tạng đến khi được quả thì pháp thân đã trọn, nên gọi là thân thường, chủng trí đã thành nên gọi Trí viên, phiền não dứt hẳn nên gọi đoạn cụ, Lý Tạng Thích, là trong sáu tức thì phải lý tức. Hạnh Nhân Thích, là trong sáu tức riêng ở rốt ráo, chung đủ năm tức. Nay đối lý tức riêng từ rốt ráo tuy thân thường mà được chẳng phải trước sau cho nên chẳng thành tụng. Lý cùng tu, nhân cùng giả đều cùng một lúc đầy đủ mà đều dùng lẫn nhau, làm sáng tỏ nhau nên không phải nghĩa ngang. Nói làm sáng tỏ nhau là từ hạnh mà chép: Vì lý tánh sáng mới khiến hạnh sáng. Hành làm hiển lý, cho nên từ hạnh mà nói. Năng chủng chủng là không phải chỉ ba đức có dụng lợi tha mà pháp thân cũng như thế. Cho nên y cứ hóa dụng thì một thân là tất cả thân một trí là tất cả trí, một thoát là tất cả thoát. Cho nên gọi là (các thứ) kiến lập. Dứt hóa luận qui, đồng về minh tịch, cho nên nói nghĩa bậc nhất. Kế tức một trở xuống là y cứ tự nghĩa mà giải thích. Chỉ là ba điểm đồng là một y, tuy là một y mà có ba điểm. Cho nên chữ y không phải dọc không phải ngang, khác nhau nghĩa cũ, nên nói chân y. Phải biết Đại Kinh trước sau ba đức nên ở phẩm Ai Thán đầu kinh dùng nghĩa chữ Y mà giải thích ba đức này. Quyển ba mươi sáu hỏi rộng hiển ba đức. Do đó trong tựa nói về ba đức, phẩm Thuần-đà nói về Niết-bàn là chánh nói ba đức. Từ Trường thọ trở xuống trong mười bốn phẩm nói nghĩa Niết-bàn giải thích ba đức. Nói đem Phật pháp chẳng giao cho Thanh văn mà giao cho các Bồ-tát, chính là giao ba đức Bí tạng này. Từ hiện bịnh trở xuống gồm có năm phẩm, nói Niết-bàn hạnh tu ba đức này. Từ Sư Tử Hống trở xuống đến phẩm Trần Như gồm có ba phẩm là nói dụng của Niết-bàn, tức công năng của ba đức. Nếu hiểu rõ ba đức này ở trong một tâm thì Đại Kinh một bộ ở trong gang tấc, huống chi Pháp Hoa khai hiển mười phương ba đời đồng nói ba quĩ, vì ba quĩ diệu, nên nói Diệu pháp. Hoa Nghiêm Pháp Giới, Tịnh Danh Giải Thoát chẳng cùng Bát-nhã, một thể không khác với ba đức này. Nếu biết ý này, văn này có thể hiểu mười phương Phật pháp ở một sát-na. Hỏi: Trở xuống là phân biệt. Có hai lớp hỏi đáp. Văn đầu là chánh xếp, văn kế là khai thông. Văn đầu hỏi: Ba đức, bốn đức đều ở Niết-bàn, đồng khác thế nào? Đáp: ý Ba, bốn giống khác đều ở Niết-bàn. Niết-bàn chẳng khác, thì ba, bốn chẳng khác. Cho nên hội thông khiến biết chẳng hai. Ở trong đó lại có hai hội chung riêng. Trước hội thông, là ba đức mỗi đức đều có bốn tính chất nên gọi là chung. Chung lại có hai cách giải: Một là dẫn Đại kinh, pháp thân Thường nên hai đức cũng Thường. Đã có thường há không có Lạc, v.v… Đây bèn so sánh y cứ mà giải thích. Pháp đã có Thường thì có ba thứ kia. Lại lấy hai thứ kia mà lệ với pháp thân. Phật là giác liễu, giác liễu là trí nên thuộc Bát-nhã. Lại hay tùy hình đều phục ở tha, cho nên thuộc giải thoát. Vì thế chữ Phật có đủ hai đức. Kế dẫn Đại Kinh nhân diệt năm ấm có đủ bốn đức. Ấm là pháp thân. Pháp thân đã thế, hai thứ kia cũng lệ như thế. Cho nên biết ba đức đều có đủ bốn đức. Thế thì đối chung có hai giải thích này. Kế nếu y theo dưới lại chuyển năm ấm và bốn niệm xứ để thành bốn đức. Riêng khác đối nhau, nên gọi là khác. Ấy thì riêng đối cũng có hai giải thích tức là ấm và niệm xứ khai hợp khác nhau. Y cứ văn sẽ thấy. Ấy thì kết dưới y viên là nghĩa đốn. Như hướng chỗ đối hai giải chung riêng. Chỉ lấy pháp đối pháp không nói về hành tướng. Nếu sơ tâm quán liền thành nghĩa đốn. Hậu tâm mới hội liền thành nghĩa riêng. Kế trong khai thông là ý hỏi đầu. Cuối quyển hai ở trước nói có phát tâm trị được ba chướng. Cho đến rốt ráo trị được ba chướng. Lại nói có phát tâm mà được ba đức, cho đến rốt ráo được ba đức. Ở đây thì ba chướng, ba đức đều chung chí cực. Nay đem ba đạo, bốn đảo đều làm ba chướng. Chướng và đạo cho đến bốn đảo tên khác mà nghĩa đồng. Che giấu thánh đức gọi là chướng, chung đến sanh tử gọi là Đạo, kiến giải xa lý thì gọi là Đảo. Đảo nên hay chướng, chướng nên sanh tử. Cho nên nay dùng ba đạo, bốn đảo đều có ba chướng khai, tức là mở ra từ gần đến xa. Trong đáp trước cho hỏi, kế vì giải thích. Trước cho hỏi rằng: Đảo đạo và lệ, ba nghĩa đã đồng, đều phải chí cực. Kế vì sao trở xuống là giải thích. Đảo ý vì nghĩa đồng, trong đó lại nói nghĩa chung ba chướng. Thông chí cực cho nên cực mới phá hết, nên nói chí cực. Vì cho ba đạo cũng chí cực. Do đó nghiệp báo phiền não mỗi thứ có mở ra ba. Nói báo do ba thứ phiền não là sợ văn lầm. Phải nói nghiệp do ba thứ phiền não. Từ lại y cứ trở xuống là kế bày bốn đường bốn đảo chí cực, tức là hoặc kiến tư là phiền não đạo, phiền não nhuận nghiệp gọi là nghiệp đạo, giới nội sanh gọi là khổ đạo. Phương tiện ba đạo tức trần sa hoặc, phiền não đạo. Vì nghiệp vô lậu gọi là nghiệp đạo, sanh tử biến dịch gọi là khổ đạo. Thật báo ba đạo, tức là vô minh hoặc, là phiền não đạo. Chẳng phải lậu chẳng phải nghiệp vô lậu là nghiệp đạo. Độ ấy biến dịch gọi là khổ đạo. Hỏi: Sao chẳng cảm tịch quang. Đáp: Nay nói cảm báo chẳng nói tịch quang. Tịch quang không báo nên chẳng nói. Y cứ ba phiền não đều mở bốn đảo. Phiền não kiến, tư có bốn thứ như thường, v.v…. Trần sa phiền não có vô bốn thứ như thường, v.v…. Vô minh phiền não lại có bốn thứ như thường,v.v…. Hỏi: Văn nay trong ba chướng đã nói khổ và phiền não, sao chẳng nói nghiệp mở làm ba? Đáp: Nghiệp do phiền não, cho nên cảm báo, đã nói hai thứ kia nghiệp ở đó cho nên chẳng cần nói. Hỏi: Vì sao các đảo chỉ nói có bốn mà chẳng ba chẳng năm? Trong kinh chỉ chép: Thường và vô thường phải chăng? Đáp: Lý vốn không tên, gượng ép đặt tên, tuy gượng mà lập, đức chẳng ngoài bốn. Phật diệt độ rồi người ngoài trộm của Phật bốn tên như thế thường, v.v… để chấp thần ngã. Cho nên Phật trước nói vô thường v.v… để phá thường. Nhị thừa không hiểu nên chấp vô thường, v.v… để làm cực. Cho nên Phật lại nói, bốn đức như thường, v.v…. Nói vô thường v.v… Bồ-tát xuất giả khác với Nhị thừa gọi là thường, v.v… Bồ-tát chẳng đạt chỉ chấp giáo đạo, lại chép: Chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, v.v… để phá thường v.v… Đây là y cứ tiệm giáo hóa nghi để nói. Nếu đốn giáo tức đối với thường, v.v… mà nói vô thường,v.v…, mà đạt vô thường, tức đạt Trung đạo Kho Bí Mật. Y viên là đốn ý, biệt là tiệm ý, cũng đồng ở đây. Chỉ Biệt giáo thứ lớp có khác đôi chút với hóa nghi, suy nghĩ rất dễ thấy.

Kế trong giải thích thể tướng mà chép: Thể được hiển của chỉ quán này. Tuy dùng chỉ quán để làm năng hiển. Chỉ quán là hạnh, hạnh nhờ giáo mà hưng, giáo là năng thuyên, hạnh là lý sở thuyên. Hạnh đối với lý lại làm năng hiển. Năng hiển lại chung nhân quả, được, mất. Đắc tức là năng hiển diệu thể nay, thất tức là chỉ thuộc phương tiện phàm tiểu, cho nên văn bốn chướng hiển bày thể. Trong đó trước nói ý đến, cũng là kết trước sanh sau. Từ đầu đến nếu hướng là kết hai chương trước. Đã biết đến như trước là kết thúc đại ý trước. Danh tự đến nếu hướng là kết thích danh ở trước. Phải biết trở xuống là sanh sau hiển thể. Đại ý chung với nhân quả tự tha, nên gọi là rộng lớn. Thích danh khắp ở Thiên viên, ngang dọc nên nói rộng xa. Rộng ngang là rộng, xa dọc là sâu. Như trong Thích Danh nói đối đãi nhau tức là vừa ngang vừa dọc. Bặt đối đãi tức là ngang dọc chẳng hai. Đây là y cứ ngang dọc mà nói chẳng hai. Trước nói như trước, kế nói nếu hướng. Trước cùng với hướng đều đã qua, nghĩa mà suy, thì (hơi xa) là trước, vì (hơi gần) là hướng. Cho nên Phẩm Bất Khinh kinh Pháp Hoa nói bác bỏ bai hủy báng bị tội như trước chép: Chỉ phẩm Pháp sư ở quyển bốn công đức có được như vừa nói. Chỉ ở đầu phẩm sáu Pháp sư công đức phải biết thể lý sâu kia. Lại dùng thể tướng mà so sánh hai trước, hai trước đều ngang, thể tướng chỉ dọc. Cho nên nói uyên huyền. Uyên là sâu, huyền là kín. Cho nên trong phân biệt nói thể tướng dọc, tám thứ kia ngang. Y cứ đây một lược đại phân mà nói. Cho nên trong Thích Danh lại chung ngang dọc và chẳng hai. Kế trong mở chương giải thích riêng. Sở thuyên, đế lý gọi là thể, phân biệt quyền thật đại tiểu khác nhau nên gọi là Tướng. Cũng nói hiển thể, thì thể là sở hiển, giáo tướng nhãn trí tức là năng hiển. Năng từ sở nên nói hiển thể. Trước nói Thô ký bốn ý thô là lược. Thể tướng khó bày lược ký bốn ý mới biết được thể. Lý tạ trở xuống là nói dụng của chương sở y và sanh khởi. Giáo nói lên lý nên giáo ở đầu. đến lý phải thực hành, thực hành tức nhãn trí, cho nên ở kế. Kế nói về chỗ đến tức là lý cảnh, cho nên ở kế. Nói về lý người, tự tha đắc thất cho nên ở kế. Nếu từ sanh khởi giống như bốn chương cùng thành thể tướng, giải thích văn ý chỉ của văn phải phân ra cao sâu, đều hiển bày thể đâu phải nhờ nhau. Hỏi: trước chương Giáo tướng có gì khác với Thích danh. Đáp: Chương ấy giải thích tên chung chỉ được tên giáo. Nay xếp đồng khác nên nói Giáo tướng. Hỏi: Đã nói thể tướng sao nêu giáo tướng? Đáp: Tuy nói năng thuyên mà ý ở sở thuyên, chẳng y cứ năng thuyên không dùng biện sở, y cứ chương nhãn trí năng sở cũng như thế. Nếu chung đức trước đức là sở thuyên, nói hay chung tên, hay đến với sở, dùng sở hiển năng, nên nói đức chung. Cho nên Thích Danh bốn đoạn ý ở bặt đối đãi. Thể tướng bốn chương ý ở cảnh giới. Cho nên bốn chướng, văn bốn nghĩa hai ý chương ở một. Pháp Hoa trở xuống nói ý dụng chương trong Thích Danh trước đã tụng hai diệu Huyền văn, Đãi tuyệt, cho nên nay hiển thể lại dùng trong sớ bốn, một hiển thật. Thật chẳng khác đó cho nên liền dùng tên bốn, một này vốn xuất xứ từ Quang Trạch. Quang Trạch Sớ ý dùng ba ba làm quyền chỉ ở giáo xưa, dùng bốn, một làm thật chỉ ở Pháp Hoa. Ba xưa không quả cho nên ba chỉ là ba. Nay giáo không ba, bốn thứ đều một, cho nên nói bốn, một. Nay Nhà hòa xưa cũng làm bốn, một. Giáo đồng tên khác chẳng toàn đồng xưa. Xưa nói quả một, nay nói lý một. Nếu không lý ấn tức đồng mà nói. Xưa nói nhân một, nay nói hạnh một, nhân nói thì đơn hạnh chung nhân quả. Người giáo hai, một chẳng khác với xưa. Huyền văn có phá nay chẳng nói đủ. Huyền văn lại dùng mười diệu mà làm mười, một, nay lại y bốn để đối bốn chương. Cho nên kinh chép: Vì giúp chúng sanh khai tri kiến Phật, lấy sở tri kiến mà làm lý một. Chỉ giáo Bồ-tát tức là người một. Thường làm một sự, tức là hạnh một, vì chúng sanh nói tức là giáo một. Sớ thích lý một y cứ sẽ thấy biết. Lại vì bốn thích tức là bốn trí, bốn môn, bốn vị quán tâm, năng sở đối nhau, bốn chương nghĩa đủ. Trí là nhãn trí, môn là giáo tướng, quán tâm chỉ là bẩm giáo, chứng trí vị kế chỉ là thềm hoặc nhãn trí để khế với lý. Trong đó trước nói giáo tướng. Văn trước lại nói ý đến.

Danh tức là giáo nên nói giáo tướng, chỉ là Thích Danh ở trước, Danh chung Phàm Thánh, Đại Tiểu Thiên Viên chẳng thể tìm, cầu ở thể riêng, thể riêng chẳng hiển, muốn bỏ thiên theo viên, không do đâu đến được. Nay nói chướng này chia ra tướng khác. Tướng của giáo gia nên nói giáo tướng. Nói chung riêng là như Đại Kinh quyển ba mươi ba chép: Phật nói Tu-đà-hoàn gọi là Nghịch lưu. Ca-diếp hỏi rằng: Nếu thế thì A-la-hán cho đến Phật cũng được gọi là Tu-đà-hoàn ư? Phật cho đến Tu-đà-hoàn cũng gọi là Phật ư? Ca-diếp dùng tên chung mà hỏi thể riêng. Vì tên chung Nghịch lưu là chung cho tất cả. Nếu nói đã dứt ba kiết gọi là Tu-đà-hoàn, cho đến ba mươi bốn tâm gọi là Phật thì tên thể đều riêng. Tên chỉ quán ở trước tên ấy đã chung. Nay dùng thể riêng xét tên chung, cho nên không cần danh thể đều riêng. Lại biết thành luận chỉ quán dị thời, tông Tát-bà-đa chỉ quán đồng thời tuy nói đồng thời, dị thời, đâu thể dùng đồng thời đó làm viên, dị thời làm khác. Cho nên phải dùng giáo tướng để phân biệt. Trong Thích danh trước, ý lại gần nói Diễn môn ba đế, cũng có thể nghĩa gồm Tam Tạng Chân đế. Nay trong hiển thể, muốn phân biệt rõ từ rộng đến hẹp. Do đó bắt đầu từ phàm phu mà rốt đến viên cực đều gọi Chỉ quán. Trước nói hữu lậu là pháp giới nội. Chỉ thiện mà trị tức sát, đạo, v.v…, Hành thiện mà sanh tức là phóng sanh, v.v… do hành do chỉ nên được gọi là thiện, tên chỉ hành thiện bốn thiền, v.v… là y theo nhiếp pháp ở dưới, đây y cứ vào phần nhiều. Nếu nói rõ ra thì như trong bốn thiền đều có một tâm gọi là chỉ tướng, các thứ khác đều thuộc về quán. Lại thiền thứ tư lại là tướng, các thứ khác đều thuộc tướng quán. Nay gọi chung chỉ là chung thuộc định. Bốn tâm Vô lượng thì ba thứ trước là tướng quán, xả tâm là tướng chỉ. Lại Bi khiến lìa khổ, cũng là tướng Chỉ, Từ khiến ban vui là tướng Quán. Tâm Hỷ có hai gồm cả chỉ quán. Nay nói chung là chỉ, là bốn tâm này không phải nhất định chẳng khắc. Sáu hạnh quán là nói riêng có thể chán dưới là chỉ, thích trên là quán. Gọi chung quán là có hân yểm. Cho nên Đại luận trở xuống là y cứ dụ mà bác bỏ. Đại Kinh cũng nói trừ núi Ma-lê mọc cây chiên-đàn, các núi khác không có. Lại dùng xuất thế ba thừa mà nhìn hữu lậu gọi là chân trí tuệ, nên pháp hữu lậu chẳng phải là chỗ nay dùng. Kế nếu Nhị thừa trở xuống là nói Tam Tạng chiết pháp tất cả pháp môn, tất cả sự định phần lớn thuộc chỉ. Lại từ định mười tưởng kiến đạo có ba, là: Vô thường, khổ, vô ngã. Tu đạo có bốn tức là: Thực bất tịnh thế gian chẳng thể vui, chết, bất tịnh, bảy thứ này thuộc về quán. Đạo Vô học có ba là Đoạn – Ly – Tận, ba thứ này thuộc chỉ, cũng có thể đều quán. Mỗi văn sau đều nói trí tuệ tương ưng. Pháp là chỉ là đã gọi sự thiền, thiền phải thuộc chỉ. Lại vô học sau ba tên ấy gần chỉ, nên xếp thuộc chỉ. Tám bối cũng có thể ba thứ trước thuộc quán, năm thứ sau thuộc chỉ. Sắc đối với vô sắc, vô sắc phải làm tên chỉ mà nói. Chín định thứ lớp luyện tám bốn xả, cũng có thể tùy nó để phân ra chỉ quán. Đã đều nói định nên xếp thuộc về chỉ. Chẳng đồng với đây cho nên trong văn đều nói một lượt, nói có làm bốn đế tuệ v.v… một lượt lại từ thiền mà xếp chỉ. Trong Đại Kinh ấy chín tưởng các căn đều ở trong tuệ thánh hạnh. Đã dùng tuệ làm tên lại xếp thuộc quán. Ở đây sau bác bỏ là pháp chuyết độ, dùng khéo so sánh với vụng, vụng chẳng gọi quán, là hai pháp chỉ quán vì đồng diệt sắc cho nên diệt danh (tên diệt), lại dùng cho chỉ. Kế giải thích như văn.

 

PHẦN 2

Kế nói Xảo Độ. Trước nêu tức thứ lờp ba quán tên chung là xảo (khéo), vụng mà được tên. Như trong Đại luận dẫn Hỷ căn, v.v… gọi là Xảo Độ, tức chỉ ba giáo, ấy thì thứ lớp cùng chẳng thứ lớp, đều gọi là Khéo. Nay từ đầu nói nên cũng gọi xảo. Kế chánh giải thích. Trong thứ lớp đầu, trước là chỉ sau là quán. Trước trong nói chỉ thể đầu là chân chỉ. Thích văn giải thích văn ấy còn lược đủ khởi phải dùng bốn tánh mà xem xét. Phá tánh kể rồi đủ hai không, cho nên mới gọi đắc không. Thứ lớp hai chỉ, trước lại nói chung ba thừa chỗ chứng mà giống nhiều khác ít. Nếu Nhị thừa trở xuống là giải thích chẳng cần phương tiện. Kế dẫn kinh chép: Động chỉ tâm một, chỉ tức là không, động tức vào giả, không tâm vào giả, nên nói thường một. Trong thứ lớp ba chỉ nói thiên hạnh, v.v… là bác bỏ hai chỉ trước. Chỗ ý đến gọi là hạnh, chỗ ý nương gọi là Dụng. Thể trước chân chỉ đều quán hai đế. Thiên thú ở chân, nương chân khởi hạnh. Kế phương tiện chỉ cũng đều quán hai đế. Thiên thú ở tục, tuy nương tục khởi hạnh nhưng vì chưa quán Trung đạo nên đều gọi là Thiên. Nên nay bác là không gặp Trung đạo. Lại Niết-bàn trụ không gọi là Thiên hạnh, xuất giả lưu động gọi là Thiên dụng. Lại biết tục chẳng phải tục nghĩa chung hai thứ. Duyên sanh tục và xuất giả tục, hai tục đều vắng lặng, nên nói tịch nhiên. Ba tên chỉ này, v.v… là giải thích nghi. Đây là lời khiêm nhường của Đại sư. Kế là giải thích luận dưới, chứng ý ba chỉ sao chỉ ánh vọng ba quán, khiến tên có bằng cớ. Đại luận cũng cho tùy nghĩa đặt tên. Nói y quán lập ba chỉ, là kinh Đại Tiểu thừa đều lập hai tên Chỉ Quán, huống chi chỉ quán, chỉ là tên khác của Định Tuệ. Đã tên Định Tuệ mọi chỗ đều nêu, cho nên nay so sánh quán để đặt tên chỉ. Do đó, Anh Lạc ba quán nghĩa phải gồm chỉ, cho nên trong Thành Luận có phẩm Chỉ Quán, trong bốn A-hàm hễ có Phật giáo khiến tu hai pháp tức là chỉ quán. Lại Bà-sa quyển bảy mươi chép: Các Tỳ-kheo hỏi Thượng tọa rằng: Nhàn phòng dưới cây là tu pháp gì? Thượng tọa đáp: Phải tu hai pháp, đó là chỉ quán. Lại hỏi tu nhiều chỉ quán thì được gì. Đáp: Được sơ quả cho đến quả A-la-hán. Như thế thứ lớp hỏi năm trăm Tỳ-kheo đều nói tu hai pháp chỉ quán. A-nan bạch Phật, Phật cũng nói tu hai pháp chỉ quán. A-nan khen rằng: Lành thay lành thay. Như lai và đệ tử nói ra đều giống, cú nghĩa vị đồng. Lại Tịnh Danh chép: Pháp thân từ chỉ quán mà sanh. Đại Anh Lạc chép: Nếu muốn học các pháp vào sâu Thiên bổn, phải thấy năng lực Bồ-tát tu tập chỉ quán. Đại tiểu kinh luận tất cả đều thế. Kế rõ dưới đây là cùng Thích Danh phân biệt đồng khác. Nói phảng phất là chẳng phải hợp đồng cho nên nói thế. Nói đồng, trước nói chỉ, tức y cứ phiền não (dứt). Nay nói thể chân, thể vọng tức chân. Trước nói đình chỉ y cứ tâm đến lý. Nay nói tùy duyên, là tâm tùy lý tục. Trước chẳng chỉ chỉ là y cứ lý chẳng phải chỉ và chẳng chỉ. Nay dứt hai bên, bên không như chỉ, giả như chẳng chỉ. Trung đạo chẳng phải hai bên không giả giống như chẳng chỉ chỉ. Tướng nói khác là ba chỉ trước cùng thành một đế, nay ba chỉ này đều thành một đế. Ba thứ trước thành ba thứ kế là kế, và sau đều chỉ thể tướng. Văn thêu dệt cùng nói cho nên khác nhau. Ba là Thích Danh trước thành ba thể tướng, cho nên ba thể tướng mỗi thứ tướng đều giả, Thích Danh ba thành. Vì sao như thể chân chỉ thì dứt kiến tư, dừng tâm chân đế và thấy chân lý chẳng phải chỉ chẳng chỉ. Thể chân đã tế, hai thứ kia lệ theo như thế. Cho nên mỗi đều đủ ba trước. Câu dưới chép: Một sau đủ ba trước, câu phức ở trên chép: Một trong thể tướng đều đủ ba trong Thích Danh.

Kế nói ba quán. Trước y kinh nêu. Ở kinh Bổn Nghiệp Anh Lạc kia văn có hai chỗ nói ba quán này, quyển hạ Phật vì bảy Bồ-tát như Văn-thù, Phổ Hiền, v.v… nói đủ như quyển một đã dẫn. Quyển thượng nói một trong mười hồi hướng, một hồi hướng đều có mười cảnh giới sở duyên. Quán thứ mười trong mười hướng gọi là vô tướng, Đệ nhất nghĩa quán được vào sơ địa. Sơ địa trở lên ba quán một tâm. Nói ba quán, là từ giả vào không gọi là Nhị đế quán, từ không vào giả gọi là quán Bình đẳng, hai quán là phương tiện nhân là hai quán không được vào Trung đạo đệ nhất nghĩa đế quán. Chiếu soi cả hai đế, tâm vắng lặng tự nhiên tiến vào Sơ địa pháp lưu thông trung gọi là Ma-ha-tát. Văn nay y đó lược năm ba chữ. Từ chỗ nói trở xuống là giải thích ý kinh. Trước giải thích vào không, còn gọi hai đế. Văn có năm lớp: Một là con đường chung, y cứ thuyên năng sở cùng luận. Là sao, tục là năng thuyên, không là sở thuyên. Nếu không có năng thuyên thì không nhờ đâu biết được sở thuyên. Cho nên phải đặt tên hai đế. Lại hội không trở xuống là thứ hai y cứ chứng, huống chi tu mà nói. Trước là pháp kế là dụ, sau là hợp. Trong pháp trước nói ngày hội chẳng những phải thấy không, còn không giả đều thấy, huống chi do quán giả thấy chân mà chẳng được, nói hai đế quán ư? Cho nên chẳng được chẳng lập hai đế. Như mây trừ, v.v… kế là nêu dụ, mây tức là chướng, chướng trừ thì tên phát, phát tức là khai mở. Như khi mây tan hết thì trên hư không hiển bày một sắc, dưới muôn tượng sẽ sáng. Trên biển là dụ thấy chân, dưới sáng là dụ thấy tục. Mây là dụ cho hoặc kiến tư. Trên hiển thì dưới sáng. Cho nên phải hai đế. Do chân dưới hợp dụ, do chân hợp trên hiển, giả biển hợp dưới sáng. Do thấy chân nên giả ấy lại hiển. Nay do trở xuống là so sánh giải thích, là nói khi chứng chân còn thấy hai đế. Này trước (mới) tu chân do quán giả mà được, vì sao chẳng gọi hai Đế quán. Cho nên nói nay do, v.v… Lại tục trở xuống là thứ ba y cứ phá dụng mà nói. Nếu có sở phá thì có năng phá. Năng phá tức là chân đế sở dụng, năng sở chẳng lẻ loi cho nên đều lập. Lại phân biệt trở xuống là thứ tự y cứ Tình trí mà nói. Nay (ta) giải thích để làm Đại Tiểu Thừa đều đối Tình Trí, nghĩa mới hết lý. Cho nên dùng Đại Kinh để giải thích Văn Anh Lạc. Đại Kinh quyển ba mươi hai chép: Tùy tự ý, tức như năm trăm Tỳ-kheo đều nói thân nhân, năm trăm Tỳ-kheo đều hỏi Xá-lợi-phất rằng: Phật nói thân nhân là sao? Xá-lợiphất chép: Các thầy cũng đều được Chánh giải thoát tự phải biết, sao duyên phương tiện mà hỏi như thế… Có Tỳ-kheo chép: Khi chúng con chưa được Chánh giải thoát thì ý bảo vô minh xem là thân nhân, khi quán như thế thì được A-la-hán. Có người nói ái, có người nói hành, có người nói ăn uống và năm dục, v.v… Như thế năm trăm vị đều nói xong, cùng đến chỗ Phật đi nhiễu bên phải xong thì đều nói cái của mình. Thân Tử bạch Phật ai nói đúng? Phật bảo năm trăm Tỳ-kheo đều nói đúng, đều nói chỗ mình chứng gọi là tùy tự ý, cũng gọi là Tùy trí. Như Trưởng giả Ba-tra-la gọi Phật là người huyễn. Phật do đó rộng nói tất cả pháp huyễn, các thứ khác nhau. Thuận theo vật tình mà gọi, theo ý nói, cũng gọi là tùy tình. Như nói tâm thấy của người đời gọi là Thế đế, tâm thấy của người xuất thế gọi là nghĩa đế Đệ nhất. Thế đế thì thuộc tình, nghĩa đế Đệ nhất thì thuộc trí. Tình trí đều hợp thì được tên hai đế, t tùy ý tự tha (mình người) cũng gọi là tùy Tình trí. Đây y cứ hai đế, hai giáo Tạng Thông nghĩa là ý quán đều văn nay. Hai giáo sau chuẩn nói rất dễ hiểu. Như nói ba đức rằng: Danh hiệu Như lai mười muôn khác nhau, Bát-nhã một pháp nói các thứ tên. Giải thoát cũng như thế, phần nhiều các danh tự là gọi tùy tình, an trí các con cũng tự ở trong đó, nên gọi tùy trí. Đức tu, đức tánh tên tùy tình trí. Nay y theo quán đầu còn đủ tình, v.v… ba thứ hai đế, huống chi là một thứ. Hỏi: Đã chưa khế chân, chỉ phải tùy tình đâu được hai thứ kia. Đáp: Chung trước sau nên phải nói khắp. Nay văn chánh dùng hai thứ giáo, hạnh để hiển sơ tu thành nghĩa hai đế. Kế hỏi trở xuống là phân biệt. Có tám pháp hỏi đáp. Hỏi: Đầu là dùng quán đầu thứ ba mà giải thích ý hỏi quán thứ hai, quán đầu phá tục dùng chân, quán kế phát chân dùng tục, hai quán đã đều phá một dùng một. Cũng phải đều được gọi là hai đế quán, sao tên thứ hai lại là bình đẳng? Đáp: Đều gọi Đế quán đối với lý thì thật thông, chỉ tên trước sau đồng hơn kém lẫn lộn. Cho nên cái thứ ba từ (hơn) mà đặt tên. Nói thắng là được chỉ dùng chân nay có thể dùng tục. Chân chỉ tự lợi, tục thì lợi tha. Tự hành gồm người nên gọi là Thắng. Hỏi: kế Dùng quán thứ ba mà hỏi quán thứ hai, quán hai trông đầu từ thắng mà được tên, thứ ba trông đầu sao chẳng từ thắng? Thứ hai dùng khắp còn gọi Bình đẳng. Thứ ba dùng đẳng phải gọi Bình đẳng mà chỉ gọi là Trung đạo quán ư? Đáp: Hai quán trước đều có phá dụng phải quán mà luận đều chẳng bình đẳng. Thứ hai nhìn đầu trước sau hợp nói, cho nên đến thứ hai mới gọi Bình đẳng. Đây từ phá dụng đối nhau mà gọi tên, nay quán thứ ba phải quán mà luận đã tự bình đẳng nhìn hai quán trước lại làm cuối cho nên chỉ thành lại phá lại dụng. Nay đây đều chiếu chẳng đối phá dụng, cho nên chỉ từ năng dụng mà gọi tên. Vì thế thứ ba, hai thứ này đều không dính mắc. Dẫu ở Địa Tiền chưa vào Trung đạo, bèn dính mắc rồi phá chỉ dùng ở Trung. Lại Trung đạo quán không phải chẳng bình đẳng lại gọi bình đẳng, lại thành lẫn lộn. Kế hỏi: Song nạn hai thứ trước đều quán hai đế cũng phải đều vào, vì sao trước chỉ vào chân, kế chỉ vào tục? Đáp: Chỉ đáp quán đầu y cứ biết thứ hai. Trước đã đều quán mà chẳng đều vào. Thứ hai cũng vì phá không dụng giả, phá dụng chẳng bình đẳng, vào cũng khác nhau. Hỏi: kế trước đã hỏi chân tục phá dụng nay dùng chân trung mà hỏi Tục đế, trong ba đế chỉ nêu chân trung mà hỏi một tục, hai đều gọi tục sao chỉ hỏi riêng. Chân trung tức là giới nội ngoại chân tức có chỗ phá giới nội ngoại tục. Chân trung là lý dung có thể gọi Đế. Chỗ phá chẳng phải lý đâu được gọi đế. Đáp ý: Pháp tánh là lý, lý tức là đế. Dã đều pháp tánh nên đều gọi là đế. Hỏi kế: Đế cho nên không, hoặc cho nên không sanh tử. Đã đều gọi đế thì đều nhập Niết-bàn chăng? Đáp: ý Chân tục tuy khác, đều được gọi đế, thế xuất thế khác, đều gọi là Niết-bàn. Niết-bàn tức là xuất thế an vui, cho nên thế an vui cũng gọi là Niết-bàn. Kế hỏi: Niết-bàn tức là vô lậu vô vi, 32 hai đế đều được gọi là Niết-bàn, cũng phải đều được gọi là vô lậu? Đáp: ý: Phàm vào vô lậu thì phải chánh kiến, đã cho thế gian cũng có chánh kiến tức gọi là thế gian không hề rõ rĩ (lậu thất). Câu Hỏi kế: Vì vô lậu cho nên là Vô sanh, đã cho chân tục đều gọi vô lậu, thì cũng phải chân tục đều gọi Vô sanh. Tên Vô sanh cũng chung cho hai đế, cho nên mượn Đại Kinh quyển ba mươi hai. Văn ngoại đạo chấp mà đáp. Cũng như thế gian có bốn thứ không: Một là chưa sanh gọi là không, cũng như bùn không có bình; hai là đã diệt gọi là Vô, như bình đã bể; ba là lẫn nhau là không, như trâu ngựa đều không; bốn là rốt ráo nên không, như lông rùa sừng thỏ. Nay mượn thứ ba cùng không mà đáp, tức là xuất thế không sanh thế gian, thế gian cũng không sanh xuất thế. Cái gọi là mượn, là tuy không phải chánh nghĩa nhưng y cứ Thế đế, bốn không chẳng phải nhầm, quyền mượn để làm thích thời mà đáp. Dưới cũng lệ như thế. Hỏi kế: Nói từ giả là phá hay chẳng phá? Đáp: Trong đó khai làm câu ba mươi sáu câu, đủ như văn dưới trong cảnh phiền não. Nay trước lại bốn câu trong đối văn, phá là phá giả, vào là vào không, chẳng phá mà vào tức là thể pháp vô học, phá vào tức là chiết pháp vô học. Phá mà chẳng vào gọi là Đắc thiền ngoại đạo, chẳng phá chẳng vào tức là tất cả phàm phu. Phá và chẳng phá đều gọi từ giã, cũng đều vào không tức là hai câu trước. Tức là phá chẳng phá đều gọi từ giả, mà chẳng vào không tức hai câu sau. Kế đơn thích quán thứ hai, khác thời đối nhau gọi là bình đẳng, quán thứ hai này được gọi bình đẳng, chẳng phải riêng từ quyển hai này mà được. Quán đầu dùng chân mà phá tục, ở đây lại dùng tục phá chân, gồm trước bèn thành song dụng, song phá. Trước sau đối nhau gọi là khác thời, đến đây thứ hai mới gọi là bình đẳng. Kế nay sẽ trở xuống là có hai lớp thí họp. Trước là dụ vào không, kế là hiển vào giả. Phàm phu đui mù chân tục đều chẳng thấy. Mắt tuệ mở rồi thấy chân đế không, cũng thấy tục sắc. Từ giả trở xuống là hợp vào không dụ. Tuy thấy hai đế chỉ có thể dùng chân, chưa thể phân biệt chẳng thể dùng tục. Cho nên trong dụ chép: Chẳng thể phân biệt các thứ, v.v… bốn thứ bốn đế gọi là các thứ. Mãng là tên chung của các thứ cỏ, đều nêu ba cỏ. Mộc là tên chung các thứ cây, đều nêu hai cây, thân rễ nhánh lá trong sớ là dụ cho Tín giới định tuệ, bốn giáo đều có bốn pháp này. Bốn thứ đạo diệt gọi đó là thuốc, bốn thứ khổ tập gọi đó là Độc. Bốn giáo phân riêng nên chủng loại khác nhau. Cho nên mới vào không, chưa thể phân biệt. Cho nên gọi là chẳng thể dùng giả. Lớp thí dụ kế, mắt tuệ mở rồi tức khi vào giả cũng thấy hai đế gọi là thấy không sắc, phân biệt từ trước nay về sắc được phá thì thấy suốt các sắc căn đều khác nhau, rõ bốn thứ bốn đế gọi là thức chủng loại. Biết rõ thuốc và bịnh, nhân khởi khác nhau, gọi là hiểu nhân duyên, xoay vần nhìn nhau cùng nói thô tế. Bên trị khổ tập gọi đó là Thuốc. Thuốc giúp pháp thân nên gọi là ăn. Biết thuốc biết bịnh, gọi là đều biết, khéo hay trao thuốc gọi là đều dùng. Khắp bốn thứ bốn đế nên nói là đều. Chỗ phá chín giới gọi là ích tha. Thí dụ này trở xuống là hợp. Trước sau hai quán đều quán chân tục, ở đây hay phân biệt nhìn trước cho nên đẳng. Kế giải thích Trung đạo. Trước chánh nêu văn kinh Anh Lạc, trong kinh giải thích hai quán trước đã xong, tức nói nhân là hai không, quán là đạo phương tiện, được vào Trung đạo, chiếu cả hai đế. Tâm tâm vắng lặng tự nhiên tiến vào Sơ địa. Nay trước giải thích phương tiện. Có hai thứ, một là mất cả hai, hai là chiếu cả hai. Trước nói hai không. Không giả không không, không tức là giá, giá tức là mất do khác thời trước, song vong phương tiện. Nay vào Trung đạo nhậm vận song vong. Vong tức là trung, cho nên nói tâm tâm vắng lặng. Lại quán đầu trở xuống là kế giải thích cùng chiếu. Khi hai quán trước dùng không dùng giả. Do khác thời trước, song dụng phương tiện. Dung tức là chiếu, chiếu tức là trung. Cho nên dẫn kinh nói: Nếu tâm ở trong định thì sanh tức là tục, diệt tức là chân. Cho trụ Trung đạo biết được sanh diệt. Biết chỉ là chiếu ý ở tại đây. Vì đều trung nên được nhậm vận. Nhậm vận này do tác ý ở trước, lại cùng vong chiếu mà làm phương tiện. Khi vào Trung đạo nên được như thế. Câu Hỏi kế: Dẫn kinh giải thích ngại để chứng văn nay: Khi vào Sơ địa mới gọi là đẳng. Cho nên trước hỏi tướng Thiên như thế nào. Đáp ý: Cái gọi là Thiên phần nhiều chẳng thấy tánh là y cứ nghĩa thứ lớp. Kế hỏi hướng đáp văn. Hướng đáp: Hai quán thuộc thiên định tuệ cho nên chẳng thấy tánh. Lại dẫn Đại kinh đế hỏi đáp ở trước. Mắt tuệ ở trước pháp nhãn còn được gọi là thấy, chỉ nói không rõ vì sao mà nói hai toàn chẳng thấy. Văn này là Đại Kinh Phật đáp Sư Tử Hống rằng mắt tuệ thấy mà chẳng rõ ràng, Phật dùng mắt Phật thì thấy rõ ràng. Hạnh Bồ-tát thấy cũng không rõ, nếu vô hạnh thì thấy rõ ràng. Trụ vào Thập Trụ nên chẳng thấy rõ, chẳng trụ chẳng đi thì thấy rõ ràng. Vì sao mà nói các giai vị hạnh hướng cũng chẳng thấy ư? Đáp: ý nói hai mắt đều chẳng thấy là y cứ nghĩa thứ lớp, hai quán đã thuộc thiên quả thiên không, thì mắt tuệ mắt pháp đều chẳng thấy tánh. Ông dẫn kinh mắt tuệ thấy, tuệ tuy ở vị Mười trụ, nhưng mượn tên riêng viên nên nói mười trụ và mắt tuệ thấy, y viên mà nói. Sợ trụ trở xuống thật là mắt Phật. Cho nên biết đây mượn viên trụ gọi là mắt tuệ, chẳng phải gọi mắt tuệ mười trụ rất dễ thấy. Kế dẫn Pháp Hoa để chứng mắt tuệ. Thế tôn rốt ráo còn gọi mắt tuệ huống chi là Mười trụ mà chẳng được gọi là tuệ hay sao? Mắt tuệ của Phật thì thấy rốt ráo không. Không tức là trung, mắt tuệ tức là Mắt Phật. Nói như thế là chỉ mắt tuệ trong trụ chẳng thấy rõ, chẳng bằng mắt tuệ rốt ráo của Thế tôn. Như đêm vô minh mà thấy sắc Trung đạo, vô minh khác còn nên thấy không rõ, ngỗng nhạn trong hư không cũng như thế. Có vô minh khác làm chướng cho mắt, nên khiến thấy ngỗng nhạn trong hư không chẳng rõ. Cho nên Đại Kinh quyển tám nói: Ví như nhìn xa ngỗng nhạn trên hư không, đó là hư không hay ngỗng nhạn, nhìn kỹ chẳng thôi thì thấy hơi giống. Bồ-tát Mười trụ đối với Như lai tánh phần ít tri kiến cũng giống như thế. Không như vô minh, ngỗng nhạn như tánh. Nói chẳng rõ là Bồ-tát Thập Trụ Mắt tuệ đó đâu liên quan đến Nhị thừa Thiên không tuệ nhãn. Ấy thì Biệt giáo Địa tiền đều chẳng thấy huống chi là Bồ-tát thông giáo và hai Nhị thừa. Lại dẫn ví dụ đào giếng v.v… trong kinh Pháp Hoa, chứng cho quán thứ ba viên trụ mới thấy. Trong Pháp Hoa sớ vì tiêu văn kinh nên quán y cứ bốn giáo, giáo y cứ năm thời, phải biết giáo quán đều thành y cứ giáo, mới hiển bày ấy gọi là Độc diệu. Nó nhờ bốn giáo để giải thích quán. Trước Tam Tạng giáo lấy chúng sanh làm đất cao (cao nguyên), tập quán làm đào giếng, chứng lý làm nước trong. Thông quán lấy càn tuệ làm đất khô, tánh địa làm đất ướt thấy chân làm nước trong. Biệt quán lấy quán không làm đất khô, quán giả làm đất ướt, thấy trung làm nước trong. Viên quán lấy năm phẩm làm đất khô, lấy sáu căn làm đất ướt, Sơ trụ làm nước trong. Trong y cứ giáo đó có bốn thời giáo thông, ước, tiệm, trung. Ba tạng là đất khô, Phương Đẳng Bát-nhã là đất ướt, Pháp Hoa là bùn, thấy trung là nước. Hai nghĩa đều dùng Sơ trụ làm nước, nay y cứ tu quán, chỉ tu đốn quán. Viên giáo sơ tâm đều gọi là nước trong. Chẳng đồng sớ ấy khắc lấy Sơ trụ mới gọi nước trong. Xếp vị tuy khác, trước sau chẳng hai. Cho nên nay tức là y kinh Khởi Quán hai giáo trở xuống là kết y cứ giáo trước. Nói hai giáo là Tạng và Thông, nên hai giáo ấy như đất khô ướt hoàn toàn chưa có nước. Biệt giáo như bùn, giáo đạo xen lẫn nên chẳng gọi là nước trong. Sơ tâm biết trung, cho nên chỉ nói hai giáo chẳng nói, hai hạnh chẳng đến. Hạnh tức là quán. Kết thúc y cứ quán trước tức là hai quán không giả, tức là Nhị thừa thông biệt vào không, thuộc về hạnh không. Bồ-tát Tam Tạng Thông Biệt xuất giả, nhiếp thuộc giả hạnh. Cho nên nói chung hai quán chẳng đến. Trong quán thứ lớp Trung đạo tuy chẳng phải chỗ dùng của văn nay, vì đồng chứng đạo cho nên lại nói hai hạnh chẳng đến. Quyền giáo còn như thế huống chi là các thứ khác. Nên nói khắp không, cho đến không có việc ấy. Kế ba quán này trở xuống là cùng Thích Danh ở trước ba quán nói khác. Giải thích theo ý ba chỉ cũng rất dễ hiểu. Đây y theo Đại thừa là xếp vào khéo độ trước, thứ lớp ba quán, tuy có không giả đều thuộc Diễn môn. Cho ba quán này dùng danh nghĩa đối đãi nhau trong giáo xưa để làm giải thích chung, thứ lớp giáo tướng để làm năng hiển, thứ lớp ba đế để làm sở hiển. Vì nghĩa đó nên chẳng phải tướng viên đốn. Tuy chẳng phải viên đốn mà vốn là Viên đốn. Lại chẳng phải Biệt giáo, chỉ nói y diễn. Cho nên dưới kết nhân vị chung cho đại tiểu. Vì nghĩa ấy, ở đây y đại phẩm Đại thừa môn giải thích tướng ba quán. Đã chưa bị hội chỉ thành thứ lớp, lấy nghĩa thứ lớp mà tùy tướng thứ lớp. Ba quán rõ ràng, mỗi quán đều khác. Đây là nêu chung tướng riêng. Nếu luận trở xuống là y cứ người trí quán để giải thích tướng riêng. Nghĩa tức là giáo, giáo tùy tướng riêng, hiển thể khác nhau. Cho nên khiến quán, v.v… chưa thể dung tức; hai quán trước là quyền, Trung đạo quán thật. Ba quán xoay vần kịp làm cạn sâu. Quán và nhân trí là quả, nhân đã khác nhau quả cũng như thế, nên khiến ba trí xoay vần hơn kém có trước có sau, quán pháp tuy thông, người tu đều khác. Cho nên khiến ba quán thuộc về Đại Tiểu. Tất cả các vị đều vào trong đó. Gồm chung hai giáo cho nên nói các vị, phụ hẹp Thanh văn nên chung ở tiểu. Cho nên nếu nói thứ lớp thì chỉ ở Đại. Nếu nói về người thì gồm chung Đại Tiểu, vì thế quán trí sau lại luận ở người. cho nên biết quán không Nhị thừa chỉ tiểu, Bồ-tát Thông giáo nghĩa chung ở Đại. Biệt tuy vào không mà một bề ở Đại. Thông biệt đều có Bồ-tát vào giả cũng một bề đại. Thông giáo lợi căn hậu tâm có phần tức là bị kiếp, là người sơ địa Biệt giáo mới là hiện tiền. Cho nên các vị Đại Tiểu khác nhau. Nếu nói về quyền môn chỉ phải phế tạng. Lại từ thứ lớp nên cũng bỏ viên. Kế nói viên đốn dùng tên gọi tuyệt đãi để làm năng thuyên, một đế ba đế để làm sở hiển. Văn trên dưới đối nhau phải rõ ràng. Trong đó trước chỉ, kế quán, sau nói đồng thời. Trước nói trong chỉ có pháp dụ hợp. Pháp đầu trong văn, chỉ là năng duyên, đế là sở hệ. Cho nên kinh chép: Hệ duyên pháp giới, pháp giới chẳng khác, năng sở là một chấp trong thí dụ, là song thí chỉ đế ba, một chẳng hai. Chỉ đế trở xuống là hợp. Pháp đầu trong nói, chỉ cùng đế đều ngay nơi một là ba. Trong thí thí chung ba, một chẳng hai. Hợp trung đế thì ngay nơi một là ba, chỉ thì ngay nơi ba là một. Văn giống chẳng đồng, ý hiển Chỉ đế ba. Một chẳng hai, chẳng hai mà hai. Vì quán trở xuống là nói quán, quán và cảnh tuy cùng thực hành quán phát tên. Vì quán nên phát, vì phát nên quán. Đồng thời thể khắp, năng sở đều ngay nơi một mà ba. Kế trong dụ cũng dụ ba, một chẳng hai. Hợp chỉ y cứ đế ngay nơi một là ba, quán và cảnh cũng ngay nơi một là ba. Sở quán là cảnh, sở phát là quán. Hợp quán và chỉ văn lại trái ngược. Cũng chỉ nói thể ở ba, một, v.v… Nhưng chỉ quán đã một, duyên chiếu chẳng khác. Đế cảnh tên khác vốn là một pháp, pháp ở chỉ quán khiến không khác nhau, vẫn phân ra năng sở vừa một vừa ba. Cho nên chẳng nên trước sau chấp nhất định. Trong dụ nói Ma-hê-thủ-la, là Sắc Đảnh Thiên Chủ một mặt ba mắt, nghiêm thiên nhan mà chiếu đại thiên. Nghiêm thiên nhan là ví các đức đầy đủ. Chiếu đại thiên là ví thấy khắp. Chẳng quyền chẳng thật trở xuống là hiển diệu bày thô, chẳng quyền chẳng thật là chê ba quán trước quyền thật cạn sâu. Chẳng hơn chẳng kém là chê ba trí trước hơn kém trước sau, chẳng cùng chẳng khác, mượn chữ y mà dụ chung chê quán trí. Chẳng đại chẳng tiểu là bác bỏ ba người mê đắm các địa vị Đại Tiểu. Kế dẫn Trung Luận là chứng ba quán ba chỉ tức nhau dung nhau. Kế dẫn Kim cương dụ chỉ quán cùng cảnh thể không hai mà hai. Nhãn dụ trở xuống là hợp thí rất dễ thấy. Nhưng chỉ quán đế cảnh chẳng hai mà hai, nghĩa ý dường như đồng mà đều khác nhau. Chỉ quán hai pháp tuy tức là chẳng hai, tịch chiếu rõ ràng. Hai pháp đế cảnh tuy đối chỉ quán chia làm hai tên. Nhưng thật không có hai thể khác nhau. Cho nên văn dụ này phân ra chỉ quán để dụ cho Nhật Nhãn. Hai tên đế, cảnh đồng dụ một sắc. Nhãn nhật sắc ba chẳng trước chẳng sau. Nếu thấy trở xuống là kết khuyến. Khuyên hiểu ý văn, đâu chỉ trở xuống là nói chung khai hiển. Khai trước các tên đồng một thật tướng. Đây tức nêu lên so sánh chung, đâu chỉ viên này ba, một tức nhau. Tất cả thứ lớp trong chung trước gọi là đồng khai vào thật. Tướng nó trở xuống là kế bày tướng khai. Trước khai hiển bày thể thứ lớp ba chỉ ba quán đồng thành bặt đãi một diệu chỉ quán. Giáo đã khai rồi thể không thô nữa. Kế thể chân trở xuống là y cứ hiển bày danh. Khai trong Thích Danh là Tương Đãi tên thô tức thành tên diệu. Danh đã tức diệu, thể cũng chẳng thô. Lại ở thể chân đủ Thích Danh trước ba chỉ ba quán. Y cứ ví dụ cũng phải tùy duyên phương tiện và dứt hai bên, đều nói các diệu ba chỉ ba quán. Chẳng nói lại nữa là thể chân đã diệu, tức là hai sau, cho nên chẳng nói nữa. Người đời phần nhiều mê lấy tên gọi đối đãi nhau mà hiển thể đối đãi nhau, há lại đến đây biết khai thứ lớp và tên gọi tương đãi đều thành bặt đãi ư? Nếu được ý này để tiêu biểu thì văn sau các nghĩa tự hiển bày. Như thế trở xuống là kết. Đã nói các nghĩa chỉ một niệm tâm phải biết một lý ứng hẳn là tên (danh). Cũng là một lý ứng tất cả lý. Cho nên nói bất động cho đến khác nhau. Kinh nói trở xuống là dẫn kinh Tịnh Danh làm chứng. Tuy nhiều trở xuống là dẫn Bát-nhã làm chứng. Các tên trở xuống là kết thành. Đã khai trước đây tất cả danh nghĩa, ngoài viên không pháp nên nói đều viên, đốn ngộ như tên này hiển ở diệu thể. Cho nên danh là giáo tướng hiển thể. Tương đãi Bặt đãi v.v… là kết khen. Tương đãi Bặt đãi kết thích danh ở trước thành không thể nghĩ bàn, đối thể kết trước thứ lớp giáo tướng chỗ hiển thành không thể nghĩ bàn. Pháp đặt tên đều đứng đầu sở thuyên nên nói đối thể. Nay khai hiển xong, danh không có thú riêng, thể không có lý riêng, đều khắp tất cả, chẳng chướng tất cả, nên nói vô ngại đều nhiếp tất cả, không chỗ nào giảm ít. Cho nên đầy đủ không giảm. Đầy đủ cho nên đốn, không giảm nên viên. Như thế mới có thể hiển thể chỉ quán.

Kế nói Nhãn trí Y giáo khởi hạnh cũng là dùng năng mà hiển sở. Trước giải thích chung cũng gọi ý đốn, trước nói thể thì chẳng phải tri, chẳng phải kiến, v.v… thể được hiển thật không phải nhãn trí cho đến nhân quả. Nói chẳng phải, là chẳng phải do năng hiển mới có sở. Vì có sở nên khiến năng có công, lại do năng nên khiến sở thấy được. Cho nên nói tuy không phải thấy biết nhưng do Nhãn trí thì thấy biết được. Cho nên nhãn thấy trí biết. Ở đây dùng Mắt Phật Nhất thiết chủng trí làm năng tri kiến. Như diệu thể này y theo tên mà nói còn là khó, huống chi tên ở dưới thể mà có thể chỉ bày cho người. Tuy phả trở xuống là nói chung về năng hiển. Lý tuy như thế, y cứ sự thì phải Nhãn trí chỉ quán dùng làm năng hiển. Chỉ quán là nhân trở xuống là xếp riêng. Do chỉ quán mới được Trí nhãn, do Trí nhãn mới hiển được thể, cho nên chỉ quán gọi là nhân xa, Trí nhãn là nhân gần. Thể nó minh diệu trở xuống là giải thích ý năng hiển, thể nó đã diệu đâu thể phân biệt. Nhưng nhờ Nhãn trí mà thể thấy được. Ba chỉ trở xuống là chánh giải thích. Trước giải thích thứ lớp hai nhân gần xa, tức ba chỉ ba quán để đối ba đế mà thành ba nhãn, ba trí.

Trước nói ba chỉ là tùy duyên chỉ mà nói Đà-la-ni, Tổng trì các pháp viên đốn ba chỉ đều được gọi là Đà-la-ni. Nay nói thứ lớp nên y cứ xuất giả trì pháp nghĩa tiện cho nên nói phân biệt thuốc bịnh. Lại Đại luận chép: Đà-la-ni thuộc tuệ tánh cho nên phải đối xuất giả. Nếu nói năm trăm Đà-la-ni, mỗi đà-la-ni đều là Trung đạo chánh tuệ thì chẳng phải trong ý này. Pháp nhàn mở rộng phá chướng chung vô tri, là đủ rất dễ hiểu bịnh biết thuốc cho đến trao thuốc, phá được chướng ngại trong sự ở thần thông, hóa đạo vô tri, chẳng dùng hai tướng thấy các cõi Phật, là tuy dẫn văn nghĩa hơi khác. Đó vì Như lai phát được thiên nhãn đối bác bỏ tiểu tông tu được thiên nhãn, tức hiển Đại thừa trụ không thể nghĩ bàn, gọi là chẳng hai tướng mà cũng thấy được ba cõi khác nhau.

Nay phương tiện tùy duyên thường ở Tục đế, khác nhau với có của phàm phu, khác nhau với không của Nhị thừa, gọi là chẳng hai tướng. Xuất (ra khỏi) giả phân biệt nhân quả Tịnh độ, gọi là thấy các cõi Phật. Ấy thì trở xuống là kết thành ý thứ lớp. Hỏi: Trở xuống là phân biệt. Trước y cứ mắt tuệ tất cả trí rộng bàn, kế hai nhãn hai trí kia mà lược hỏi trước rất dễ thấy, kế trong đáp thì trước y cứ bốn câu, y văn Đại Kinh. Kinh quyển mười lăm ấy giải thích rộng bốn câu, nay chỉ mượn tên Tri kiến, không phải hoàn toàn dùng ý đó. Hỏi: Văn trước nhờ quán mà phát là trí, nay ở đây dùng nhân nghe mà sanh là tri. Văn đã khác nhau vì sao dùng đây mà giải thích? Đáp: Tên khác mà nghĩa đồng. Nghe là tuệ tánh, quán cũng là tuệ tánh. Hỏi: vừa tri vừa kiến đối Tiểu thừa xong, kiến mà chẳng phải tri, đâu được lại đối Bích-chi-phật. Đáp: trước là y cứ vào Phật thế gian giáo Nhị thừa, hai người đều là vừa tri vừa kiến. Kiến mà chẳng phải tri là y cứ vào Độc giác, Bích-chi, không có Phật ra đời. Cho nên lại dùng Bích-chi Phật mà đối riêng. Lại nữa trở xuống là lại y cứ tín pháp để đối tri kiến. Hỏi: Trước nói Nhãn trí chỉ quán làm nhân, nay đâu được dùng tín pháp làm nhân. Đáp: Nghe đồng với quán, nghĩ đồng với chỉ, nghĩa loại giống nhau nên đối được. Kế nói chẳng thứ lớp. Trước là bác bỏ chung rằng: Chẳng đúng như thế, là một tâm khác nhau vì là thứ lớp. Như trước trở xuống là mở lý do xa trước để thành chẳng thứ lớp. Kế được thể trở xuống là mở lý do gần trước mà thành chẳng thứ lớp. Kế nhãn cố trở xuống là nói lý do gần thể đồng, lý do xa là chỉ quán tức nhau, lý do gần cũng phải Nhãn trí chẳng hai, vì nhân quả thuận nhau. Mắt Phật trở xuống là giải thích Nhãn trí. Vương Tam-muội tác dụng là dẫn chứng Phật nhãn có đủ năm nhãn. Nên nói tất cả đều vào trong ấy. Đại Phẩm trở xuống là dẫn chứng trí Phật đủ ba trí, cho nên đều nói là học. Ba trí bốn trí ở sau sẽ giải thích. Hỏi: Trở xuống là phân biệt trí nhãn. Trước hỏi, nói muốn được, là một người trước sau muốn được, hoặc là nhiều người đều muốn được, chỉ nói đương học thì đâu phải gọi một tâm. Đáp ý: Pháp ở một tâm, nói có thứ lớp, đâu nói thứ lớp khiến pháp tung ngang. Kim cương trở xuống là nói năm nhãn, đều nói Phật có nên ở một tâm. Chỉ y cứ một nhãn mà có năm dụng thì phải nói Mắt Phật mà có bốn dụng, sao lại nói năm. Đáp: Ở đây y cứ năm nhãn mà nói về thể dụng. Cho nên Mắt Phật là thể, bốn nhãn là dụng. Nếu làm chung riêng thì như Niết-bàn là chung, ba đức là riêng năm nhãn cũng như thế. Chỉ là viên thường không thể nghĩ bàn gọi là Mắt Phật mà có năm dụng như thấy Trung, cho đến thấy sắc, v. v…, nên được năm tên. Thế thì Phật và mình một thể năm nhãn khai phát. Không phải là xưa, không đến Phật mới có. Vì sao trở xuống là giải thích? Nhưng năm nhãn này, Thiên Thân và Vô trước đều giải thích không bằng Trí Luận rất rõ ràng. Quyển ba mươi chín chép: Nhục nhãn của Phật thấy nhân duyên thô sắc, cho đến cũng hơn chỗ thấy của người. Gọi Nhục nhãn là thấy hình bày, sắc chẳng khác với người. Người thấy chẳng xa, chỗ thấy lại ngược (đảo), như gần xem nhỏ thì lớn, xa xem lớn thì nhỏ. Cho đến các sắc nếu xem xa thì chỉ thấy ở trên hư không bày một sắc. Đại Phẩm chép: Nhục nhãn của Như lai thấy cả Đại thiên. Luận hỏi: Vì sao Như lai chỉ thấy Đại thiên. Đáp: Nhục nhãn Phật thấy hơn Đại thiên, chỉ vì phong luân che chướng nên chẳng thấy cõi khác. Lại có Bồ-tát ở trên Đại thiên. Y cứ lý cũng sẽ thấy ngoài Đại thiên. Hỏi: Sao chẳng tu Nhục nhãn khiến thấy xa? Đáp: Nếu không có Thiên nhãn thì ép tu Nhục nhãn khiến thấy xa. Lại nói Phật pháp khó nghĩ bàn, Nhục nhãn của Phật cũng có khả năng thấy xa. Nếu chẳng bằng Phật thì giảm dần dần, hai ngàn, một ngàn cho đến một châu, đó gọi là Nhục nhãn tiểu tịnh. Cho nên nói theo lý tận thì Nhục nhãn Phật thấy pháp giới thô sắc. Luận y giáo đạo gần gũi tiểu tông, cho nên chỉ nói thấy Đại thiên. Nếu chỉ vì đời trước thì đèn sáng v.v… cho đến Luân vương trọn chẳng bao giờ thấy đến trăm do-tuần. Nếu tiểu Bồ-tát cũng chẳng hơn đây. Hỏi: Mặt trăng, mặt trời cách đất bốn mươi hai ngàn do-tuần người đều thấy thì trăm do-tuần có gì lạ. Đáp: Mặt trời, mặt trăng có ánh sáng khiến người thấy được các sắc khác không phải thế. Thiên nhãn mới thấy. Người tuy nói thấy mà chỗ thấy cũng trái ngược nhật nguyệt vuông tròn năm mươi do-tuần, thấy chẳng hơn cây quạt to. Bồ-tát thì chẳng như thế. Hỏi: Thấy các sắc gì. Đáp: Thấy các sắc gọi là Nhục nhãn. Trong luận chẳng nói pháp tu Nhục nhãn. Nếu muốn so với thí đèn sáng, v.v… nhân ở dưới. Bồ-tát lại gia thêm từ tâm phục hoặc, cho nên chỗ thấy rộng dần, cho đến Đại thiên. Cũng có khả năng thấy được sắc nhỏ trở xuống là nói Thiên nhãn. Như các bụi gọi là sắc nhỏ. Thiên nhãn các trời dưới chẳng thể thấy trên. Phạm vương chẳng thấy hơn Đại thiên. Phật thấy hơn đây gọi là Thiên nhãn của Phật. Đại Phẩm chép: Phật bảo Tu-bồ-đề rằng Thiên nhãn của Phật thấy ở Ni-tra, cũng thấy Hằng sa thế giới ở mười phương, chết đây sanh kia và các thiện ác, v.v… Luận tướng không tức như Na-luật duyên cũng là việc ấy. Nói hơn cõi trời là các vị trời quả báo được cao tột như Phạm Vương, nay thấy mười phương còn hơn Na-luật huống chi là Phạm Vương. Cho nên Tịnh Danh chính là chê Na-luật, chê bai Phạm vương. Đạt thô tế sắc trở xuống là nói mắt tuệ. Nói như chỗ thấy của Nhị thừa, lại y cứ thứ lớp một lượt mà nói. Cứ lý thì cũng phải nói hơn Nhị thừa, Nhị thừa chỉ thấy các sắc không thô tế trong Đại thiên mà Phật thấy. Pháp giới giả trung (trong giả) đều không. Đại Phẩm chép: Thế nào gọi là Đại Bồ-tát tuệ nhãn thanh tịnh? Phật bảo Xá-lợi-phất: Mắt tuệ Bồ-tát không nghĩ gì về hữu vi vô vi, thế xuất thế, lậu vô lậu tất cả tri kiến. Luận chép: Nhục nhãn thấy chẳng xa, cho nên tu thiên nhãn. Thiên nhãn dối gạt nên cầu tuệ nhãn. Luận Văn đã chép: Tất cả tri kiến (thấy biết) cho nên hơn Nhị thừa. Tướng tu là sao? Có người chép: Chính là chánh kiến trong tám chánh đạo, vì thấy được năm ấm trái ngược. Có người nói năng duyên với Niết-bàn. Có người chép: Ba môn giải thoát tương ưng với tuệ có công năng mở cửa Niết-bàn. Có người chép: quán sát thật tế đều biết thông suốt. Có người chép: Định tâm biết các tướng. Có người nói không phải. Có người nói chính là mười tám không. Có người nói chính là thế, xuất thế. Đó gọi là tướng tu mắt tuệ. Lại có người nói ngôn hạnh ở Trung đạo. Hỏi: Nhị thừa cũng có Mắt tuệ, sao chẳng nói không pháp nào chẳng thấy. Đáp: Nhị thừa chỉ thấy tướng chung lại có hạn lượng. Phật thấy vô lượng không có bến bờ. Phật và Nhị thừa đã hai tướng khác nhau, nghiệm mà biết hai nhân tu pháp đều khác. Cho nên trong văn chỗ có các giải thích chẳng ngoài hư không, không thuộc Nhị thừa, Trung thuộc Phật. Di Hiền tu phát hai nghĩa khác nhau. Như ba giải thích đầu và ba giải thích thứ năm dưới là tướng tu cùng Nhị thừa. Vẫn là Thông giáo y tức không tuệ. Nếu ba tạng Nhị thừa phần nhiều nương căn bản, khác với đây. Giải thích thứ tư ở trước và giải thích ở sau cũng tức là Viên tu. Viên tu thật tế thời sau phát được mới gọi mắt tuệ. Cho nên cũng phải nói hơn Nhị thừa, chiếu đạt giả danh chẳng lầm gọi là pháp nhãn. Chỉ nói như chỗ thấy của Bồ-tát. Chính là như chỗ thấy của hạnh hướng trong Biệt Bồ-tát. Cũng nhờ thứ lớp nên gọi là giả danh. Giả danh tức là pháp mười sáu môn. Y cứ lý cũng phải nói là hơn Bồ-tát nhậm vận chân hóa rốt ráo thuốc bịnh, gọi là pháp nhãn của Phật. Đại Phẩm nói: Thế nào gọi là pháp nhãn của Đại Bồ-tát? Phật bảo Xá-lợi-phất: Người có pháp nhãn là tùy tín tùy pháp ba không năm căn, nghiệp này quả này thọ thân ấy mà sanh chỗ đó, Bồ-tát đó: Thối, bất thối, được thọ ký chẳng được thọ ký, v.v… đều phải biết rõ. Luận nói: Khi Đại Bồ-tát khi mới phát tâm tuy được Nhục nhãn, Thiên nhãn, Tuệ nhãn, v.v… để thấy chúng sanh các thứ khác nhau, vì sao có thể được thật pháp như thế, cho nên cầu pháp nhãn dẫn dắt khiến vào. Cho nên gọi là pháp nhãn. Lại pháp nhãn có hai: Một là phân biệt Nhị thừa; hai là phân biệt Bồ-tát. Phân biệt Nhị thừa chỗ nào cũng có văn. Phân biệt Bồ-tát chính là văn này. Rộng nêu tất cả hành tướng nhân quả, tất cả các môn phương tiện, khiến chúng sanh vào đó gọi là pháp nhãn. Đã nói tất cả nhân quả, lại nói phân biệt Bồ-tát. Cho nên phải biết cũng hơn Bồ-tát. Đối với các pháp trở xuống Mắt Phật chỉ nói thấy pháp thật tướng, từ Thắng làm tên. Đại Phẩm chép: Thế nào là Mắt Phật. Phật bảo Xá-lợi-phất: khi Đại Bồ-tát cầu Phật đạo, vào Tam-muội Kim cương được trí Nhất thiết chủng thành tựu năng lực, vô sở úy, mười tám bất cộng, biết tất cả pháp, v.v… Đó gọi là Đại Bồ-tát được Bồ-đề, được Phật nhãn tịnh tướng. Luận rằng có người chép: Bồ-tát Thập trụ được

Phật nhãn, không khác với Phật. Như Biến Cát Văn-thù có đủ công đức Phật mà chẳng làm Phật, rộng độ chúng sanh, cho nên sanh nghi. Vì thế nói Mắt Phật thấy khắp mười phương. Bồ-tát ấy đối với các Bồ-tát khác gọi là Đại, đối Phật cũng chẳng biết khắp nghe khắp, v.v… Hỏi: Nhãn phải nói là thấy, sao nói là nghe? Đáp: Chúng sanh trí tuệ từ sáu tình mà vào nên biết sáu trần người gọi Mắt Phật có chỗ chẳng nghe. Nhưng các kinh luận đều nói Phật và Bồ-tát đều được năm nhãn, cho nên biết đều làm chẳng phải mở mắt. Cho nên trong văn nay tuy nói Phật có lý luận chúng sanh tất cả đầy đủ. Vì sao? Vì nhãn trí đã dùng chỉ quán làm nhân. Chỉ quán viên dung nhãn trí cũng như thế. Luận muốn nói khắp, cho nên luận rõ cạn sâu khác nhau. Cho nên kinh nói trở xuống là dẫn thỉnh Quan Âm để chứng Kim cương. Phật Bồ-đề đầy quyền thật trí đủ. Vì hai trí này mà được sanh ba hữu Bồ-đề Phật từ. Lại nói cha mẹ mà riêng khen trở xuống là ý Mắt Phật. Cho nên luận quyển bốn mươi lam phân biệt rằng: Phật thấy tất cả không phải là mắt tuệ, vì sao nói tuệ nhãn là thấy? Đáp: Mắt tuệ khi thành đồi tên là Mắt Phật, cho đến bốn nhãn mất tên cũ, như sông vào biển mất tên sông cũ. Vì sao? Vì nhục nhãn thiên nhãn là nhân duyên hữu lậu, tuệ nhãn, pháp nhãn là tập khí chưa hết cho nên bỏ vị cũ mà vào Mắt Phật. Đây vẫn mượn ở chỗ bỏ thô mà nói. Phật trí trở xuống là giải thích một tâm ba trí, cho nên biết trở xuống là kết lý do được tên. Cảnh và đế trở xuống là nói chỉ quán chẳng hai, trước dùng hai mắt phải trái làm thí dụ, đế và cảnh cũng như một vật mà được hai tên phải trái khác nhau. Một người ở phía trái của vật thì gọi vật là phải, người ở phía phải của vật thì gọi vật là trái, do chỗ người đứng mà phải trái sanh, mà một vật này vốn chưa hề khác. Đế cảnh cũng như thế, đối với chỉ thì gọi là đế, đối với quyển thì gọi là cảnh. Hai pháp nhãn, trí để dụ cho mắt (nhãn mục), chỉ là một vật mà lập hai tên. Nhãn thấy trí biệt cũng giống như thế. Chỉ là một pháp tuy từ hai pháp chỉ quán mà được tên. Viên đốn chỉ quán xưa nay chẳng hai, cho nên chỗ thành Nhãn trí một thể chẳng khác. Cho nên tri kiến (thấy biết) chỉ từ đương thể mà lập hai tên cũng như mắt. Đế cảnh tuy từ chỗ đối mà lập hai thứ, thì thành chỗ đối thể cũng không khác, đến nỗi khiến năng đối và Đế Cảnh chẳng khác. Nay đem trở xuống là lập khác để hiển bày thể, thể vốn chẳng hai, tạm mượn tên khác mà hiển thể không hai. Vì sao? Vì đế cảnh nhẫn trí thể tuy không hai, nhưng trí do quán mà thành. Quán vốn đối cảnh. Nay lại đem cảnh để hiển trí giúp quán dễ sáng, quán sáng tức trí thành, trí thành tức thể hiển. Nhãn do chỉ thành, chỉ vốn đối đế, nay lại đem đế để chỉ nhãn, khiến chỉ có thể hiểu, chỉ giải tức Nhãn khai, Nhãn khai tức thể hiển. Tuy mượn nhân hiển pháp mà chẳng phân chia. Cho nên nói tuy làm ba nói mà thật là một pháp. Dùng đây trở xuống là kết. Dùng năng hiển chánh dùng như hướng một pháp Nhãn trí mà hiển thể chỉ quán viên đốn. Như thế trở xuống là kết về pháp truyền của thầy trò. Kết các văn trên qui về chánh hạnh. Chánh hạnh có đậy là phát xuất từ bản sư. Nói thật không phải đọc kinh, an trí, v.v…, như quán không – giả – trung, trước nói thứ lớp sau chẳng thứ lớp, dẫn các kinh Đại thừa chứng thành môn hộ. Cho đến chỉ quán là nhân, nhãn trí là quả, tức một mà ba tức ma mà một. Các tướng như thế há do văn kinh mà an bày ư? Chỉ tránh chê bai nghi ngờ may phải dẫn chứng. Việc ngoài ý nên nói là may.

Ba là nói cảnh giới, chỉ là giáo tướng Nhãn trí hiển bày ra. Trước đã nói giáo tướng Nhãn trí hiển đủ điều nói chỗ biết điều thấy, không cần nói một khoa ra đây. Người độn căn tuy nói hai trước cũng còn chẳng hiểu, lại khoa này trình bày lại sở hiển. Cho nên biết đây là thân nói sở hiển. Nay trước nói ý đến chẳng nói giáo tướng mà chỉ nói Nhãn trí, là giáo tướng tuy đồng với năng hiển, nhưng giáo nhìn ở hạnh thì hạnh thân mà giáo sơ, nói theo thân, cho nên chỉ nói Nhãn trí. Chung mà nói thì đều có khả năng hiển thể. Phàm nói hạnh trở xuống là nhắc lại hai chương trước để nói ý đến. Tín hạnh nhắc lại giáo tướng, trước phải ở giáo tướng tên còn nghe nhiều (còn gọi học rộng). Viên diệu tức là Diệu cảnh giới nay. Pháp hạnh nhắc lại Nhãn trí trước phải ở định tuệ gọi là tông sâu quán chánh cảnh cũng là Diệu cảnh giới nay. Mượn văn trau chuốt câu nên lập hai tên, chính là hai thứ trước mà nói cảnh sở thủ, cho nên lại luận, kinh nói trở xuống là chánh nói ý cảnh. Việc gì phải có cảnh? Là khiến tự hành biết ba nhãn và đến ba trí các chỗ thấy biết. Biết chỗ thấy biết thì đến được y giáo tướng tu, nhờ chỉ quán mà được quả Nhãn trí. Cho nên phải nói cảnh giới. Nếu vì trở xuống là ý hóa tha, cho nên phải nói cảnh. Nếu chẳng nói cảnh thì lấy gì làm gốc nói pháp.

Gốc tức là cảnh. Tuy có cảnh gốc cũng phải tùy tình, cho nên nêu ba thứ tùy tình, tùy trí, v.v…, khiến người hóa vật y theo cảnh mà nói. Nói ở diệu cảnh là ý ở đây. Trước là ý của Đại sư, kế là ý của Chương An. Trước nêu văn, kế giải thích. Trước thí dụ người nghe là chấp môn mê giáo. Trong đây có bốn thí dụ là dụ trước chấp mê danh, văn kinh vốn dụ ngoại kế tà thường, các kinh trích dẫn đều đồng ý kinh. Văn này mượn dùng ý ấy hơi khác. tuy khác văn ấy lý cũng không mất ý nghĩa chẳng y lời cho nên đổi mà dùng. Là sao? Bối thinh tuy dối, bối thể là thật, nên dụ cho hữu môn. Cây lúa mềm yếu có thể dụ cho không môn, tuyết có mà không thật có nên có thể dụ cho vừa không vừa có. Hạc bay trên hư không mà chẳng ở trên hư không, có thể dụ cho chẳng phải không chẳng phải có. Phàm tình trở xuống là hợp. Lại có ba, trước là nói Đại bi làm thuyết. Kế tuy nghe trở xuống là nói phàm tình đều chấp. Ba là các v.v… là kết lỗi. Phàm phu đều chấp môn năng thông, mê ở chỗ đến nên chẳng thể thấy thường lạc ngã tịnh là mầu sữa thật. Đây thì lại y vào Đại Kinh. Như các ngoại đạo chấp thường lạc, v.v… các lỗi môn năng thông, cho nên lại có lỗi lý sở thông. Cho nên thường đồ trở xuống là người nói mê giáo. Trước nói Sư phàm mê giáo, hạng người chấp giáo chẳng phải một. Như Lương Chiêu Minh viết lời tựa nói các sư nói nghĩa hai đế có hai mươi ba người đều giải thích không đồng. Ở Quảng Hoằng Minh Tập đều, chẳng đạt tùy tình đều trái với ý chỉ của Phật. Cho nên biết chỉ là phó tình tên khác, hai đế chẳng khác, vì thế chẳng thể đều chấp mất phương tiện Phật, đều chấp tên khác mà mất một lý phải hiểu một lý mà được các tên. Như trong Bà-sa có nói Thế đế và nghĩa dế đệ nhất. Tuy tên đồng Đại thừa mà nghĩa trọn qui về Tiểu, huống Đại Tiểu Thừa Đế đều có phó tình. Cho nên biết hai mươi ba nhà còn muội văn tùy tình, huống chi rất dễ hiểu Tình trí v.v… ư? Tuy uống cam lộ, v.v… Thuyết Văn chép: Chưa đến hai mươi tuổi mà chết gọi là thương (chết non). Lễ nói mười chín tuổi trở xuống mà chết gọi là Trưởng thương, mười lăm tuổi trở xuống gọi là Trung thương, mười một trở xuống gọi là Hạ thương, bảy tuổi trở xuống gọi là Vô phục thương. Cho nên gọi thương để nói sớm yểu. Yểu là trung tử. Cam lộ là thuốc bất tử của các vị trời. Cho nên dụ thường trụ như thuốc bất tử. Tuy đều chấp tên hai đế cam lộ là chân thường trụ tuệ mạng ý chỉ Phật. Kinh khen trở xuống là nói nhân xưa của hai thánh để nghiêm thuyết bất liễu tùy tình. Kinh Diệu Thắng định nói: Phật bảo A-nan rằng: xưa Ta là người học rộng cùng Văn-thù-sư-lợi tranh luận nghĩa hai đế, chết rồi đọa vào ba đường. Văn nói Di-lặc sợ lầm. Cho nên chỗ Huyền văn dẫn tức như kinh ấy. Tranh luận hai đế mà phải trải qua vô lượng kiếp nuốt hoàn sắt nóng. Từ địa ngục ra thì gặp Phật Ca-diếp giải thích cho ta nghe, hai đế có không. Phật Ca-diếp chép: Tất cả các pháp đều không có tánh nhất định, ông nói có không là nghĩa chẳng đúng. Tất cả muôn pháp thảy đều vắng lặng. Hai đế này vừa có vừa không, ông chỉ biết văn mà không hiểu nghĩa, ông đối nghĩa ấy như câm như điếc, làm sao hiểu được nghĩa sâu xa này. Ta nghe rồi liền vào thiền định liền thấy muôn pháp đều vắng lặng. Cho nên biết chẳng thấy lý vắng lặng đều chấp ở văn tùy tình còn đọa vào ba đường làm sao thấy đế được? Nếu nay được xếp ý tùy tình, các giải thích diệu dụng. Đời nay trở xuống là nói đời gần đây phàm phu chẳng hiểu tùy tình. Như thế trở xuống là kết như văn. Nếu biết trở xuống là thức giả đạt giáo (người biết hiểu giáo), biết Phật phó duyên chẳng mê thuyết lạ. Tùy tình trí trở xuống là giải thích trí tùy tình. Trước chánh lập một tình một trí cùng làm ba đế, nên gọi là Tình trí. Nói chẳng được một chỗ nói ba, là viên tu tuy tức, trước sau đều ba. Đã y cứ tình trì để nói ba đế, phải y cứ các vị nhìn nhau mà nói. Kế như tương tự trở xuống y cứ vị để xếp. Cho nên phân ra chân tục để thuộc ở tình vị ở sáu căn, nhượng ở Trung đạo để thuộc về vị trí ở Sơ trụ. Thì Thất Tín trở xuống là thuộc Chân, Bát Tín trở lên là thuộc tục. Ấy thì Sơ trụ trở lên Trung đạo cũng có đồng thể chân tục, sáu căn thanh tịnh cũng có tương tự Trung đạo. Cho nên sau Chương An làm cho lấy mà giải thích, tức là sáu căn đoạt tương tự Trung đạo, và tương tự chân tục. Tùy trí trở xuống là kế nói ba đế trong Tùy trí. Trước y cứ vị mà xếp đều thuộc chỗ chứng của Thánh cho nên từ Sơ trụ trở lên vẫn thuộc phần đắc. Phải biết đối tình, tình chẳng phải chẳng được tương tự ba đế. Chỉ đoạt Trung đạo mà suy cùng Sơ trụ. Không phải chỉ, v.v… là so sánh. Tùy trí ba đế chỉ ở tâm Thánh như trong phẩm không thể nghĩ bàn của Tịnh Danh, đây đều là Bồ-tát Tục không thể nghĩ bàn. Há là sở năng văn kiến hạ địa (chẳng thấy nghe của bậc thấp). Tục đã như thế thì chân cũng như thế. Bồ-tát Sơ trụ chỗ không có sắc thinh, cho nên phàm tiểu không thể thấy nghe. Ba đế trở xuống là khen giải thích ba đế. Từ Thắng mà nói cho nên chỉ nói cùng chẳng sai. Năng phi tức trung, sở phi tức hai, chẳng hai mà hai xem là năng sở. Trong thứ mười chín giải thích mười sự công đức. Trước nói chẳng cho Nhị thừa cùng chung, người nghe không thể nghĩ bàn rất kinh lạ. Cho đến không có tướng mạo thế gian cũng không có. Nay văn nghĩa nói trăm phi bốn câu. Văn kinh chánh khen Sơ địa trở lên chánh đồng Sơ trụ. Cho nên dẫn chứng tùy trí ba đế. Chương an giải thích đây nói rằng: Nghe sâu không đáy nên kinh nghe rộng không bờ nên lạ. Tánh chẳng tự hiển, nên chẳng phải trong, tánh chẳng tha hiển nên chẳng phải ngoài. Trong ngoài đây chung với nội ngoại giới. Chúng sanh tức như thế nên chẳng phải khó. Bảy phương tiện chẳng lường nên chẳng phải dễ. Chẳng phải sắc pháp nên chẳng phải tướng, chẳng phải tâm pháp nên chẳng phải không phải tướng, lại chẳng phải giới như cho nên chẳng phải tướng, chẳng phải lìa giới như cho nên chẳng phải không phải tướng. Chẳng phải ba đời cho nên chẳng phải thế pháp, không bên không giữa nên không tướng mạo, dứt bốn lìa trăm cho nên thế gian không có. Các chẳng phải đều trái cho nên nói chung là trăm, câu ấy đều mất nên lược là bốn. Bốn nhiếp các bốn nên lại nói bốn. Hỏi: Chương An giải thích câu chẳng giống cùng chẳng sai, sao làm chứng được? Đáp: Chánh nói Trung đạo chẳng phải hai bên. Vì Bát-nhã sâu, vì giải thoát rộng hai đức tức là hai đế chân, tục. Tự là nội chiếu, tha là tùy duyên. Đây cũng là chân tục khác tên mà thôi, chúng sanh tức là nói theo lý, phương tiện chẳng lường là y cứ sự mà nói. Sự lý cũng là chân tục khác tên. Sắc của trăm cõi, tâm của một niệm cũng là chân tục. Hai câu dưới lại làm phức sơ ba đế mà nói. Chỉ Phật trở xuống là dẫn Pháp Hoa cũng chứng tùy trí. Trước y cứ Sơ trụ nay chỉ ở Phật. Chỉ Phật tức là Thích-ca. Cùng Phật tức là mười phương ba đời, tuy có trước sau mà đồng thấy ba đế. Chẳng thể trở xuống là bác bỏ đoạt. Có pháp thí hợp. Trong Sơ trụ một là pháp tánh, ba là ba đế còn không phải sáu căn chưa lường biết được, huống chi là thế tình đồ tưởng rất dễ hiểu được sắc sửa Chân thiệu diệu của ba đế. Năm nhãn mở rộng mới thấy đế cảnh. Ấy là tương tự cũng thuộc mù, vì trong chướng vô minh chưa phá. Nếu y theo Pháp Hoa, phải y cứ ba giáo mà nói người chẳng biết. Như thế trở xuống là kết như văn. Nay lại trở xuống là dẫn hai đế trong kinh mà giải thích thành nghĩa ba đế văn nay. Văn trước lược bày hai đế để hiển ba đế. Hai khai hợp với ba giáo môn, cho nên được dùng hai dụng để hiển ba hai đã có hai, ba há không ba? Trước ba đế thô luận mà chép kỹ, nay y cứ hai đế làm rõ tướng trạng. Nghi giả trở xuống là giải thích nghi. Trước lập nghi rằng: Các Phật chỉ y hai đế mà nói pháp nên có ba phen. Làm sao được ví dụ khiến nói ba đế cũng có ba phen. Nay cũng ví dụ trở xuống là giải thích. Hoặc hai hoặc ba chỉ là khai hợp. Trước nói hai đế nghĩa đã gồm ba. Nay trong nói riêng ví dụ ở hai đế cũng làm ba, nghĩa là thường thích

Trung đạo. Đại luận quyển năm nói: Hỏi: Phật vì sao sanh ở cõi trời Đâu-suất. Đáp: Phật thường ở Trung, trời Đâu-suất kia ở trong sáu tầng trời cõi dục và Phạm thiên. Từ tầng trời ấy trở xuống là sanh ở giữa nước. Giữa ngày giáng thần, nửa đêm vượt thành khi được bình đẳng cũng chứng Trung đạo, vì người nói Trung, nửa đêm nhập diệt. Đại Phẩm cũng chép: Một sắc một hương đều là Trung đạo. Trung này thêm trước lại thành ba phen. Vì sao? Giữa trời, giữa nước, giữa đêm, giữa ngày đều là tùy tha, hành trung, nói trung là tùy tự tha. Nửa đêm nhập diệt và được Trung đạo tức là tùy tự. Lại các Trung này đều là tùy tha. Tự chứng minh tịch gọi là tùy tự, tự tha đối nhau gọi là tự tha. Lại mỗi pháp trở xuống là lại y cứ ba thứ như tùy tình, v.v… mà nói tướng bốn tất. Nếu không có bốn tất thì lấy gì để hiểu tự hành hóa tha. Trước tùy tình rộng, còn hai văn kia lược. Văn đầu, trước là giáo, kế là quán, tức hai hạnh tín pháp. Văn đầu từ hoan hỷ cho đến phát triệt, phải tế y cứ ba đế mà lập mười lực bốn tất. Chớ để lộn lạo chẳng thể ghi (nhớ) đủ. Cho đến quán tâm trở xuống là y cứ quán. Văn lược ba trước nên nói cho đến. Y cứ nghĩa bậc nhất nói tướng bà đế. Tác dụng như thế, v.v… là nói giáo quán hai thứ tướng được lợi ích. Nói phải ở một, chẳng ở hai, v.v… là một là trong ba tùy một, hai là trong ba tùy hai. Theo lời cho tiện nên chẳng nói chân. Đến khi nhìn nhau được lợi ích khác nhau. phải làm bảy câu, nghĩa là phải ở tục chẳng ở chân, trung phải ở chân, chẳng ở trung tục, phải ở trung chẳng ở chân tục. Đây là phải ở một mà chẳng ở hai để thành ba câu, phải ở hai chẳng ở một cũng là ba câu phải ở đủ ba để làm một cú. Mỗi câu đều trung, ba đế đều như thế. Trong văn nêu chung đớn ích, phức ích hai thứ ba cách, họp ba một câu văn lược chẳng luận, đều y cứ sơ môn được lợi ích khác nhau. Bảy câu như thế đều y theo viên. Phải lạc đã khác phó cơ đều khác. Phật nói sanh pháp v.v… là phức giải thích văn tên về tướng khác nhau. Sanh tức là hai đế, Vô sanh tức là trung. Đây lại mượn Trung đạo là một, hai đế là hai. Các thứ khác có hai cái hai hai cái một và có ba, theo lời vừa nói. nếu làm hai đế thì sanh tức là tục, Vô sanh là chân. Nếu thực hành bốn đế thì sanh là ba đế, Vô sanh là diệt, tất cả các pháp so nói này rất dễ hiểu. Tùy được lợi ích vị gọi là được độ. Hỏi: Phật nói sanh pháp, đối với pháp Vô sanh mà được độ, chính là chúng sanh tự độ, có liên quan gì đến Phật? Đáp: Chính do nói sanh mà ngộ pháp Vô sanh chính là giám cơ biết nhân nói sanh mà ngộ Vô sanh thì công ở Phật, sao gọi là tự độ y cứ nghĩa bậc nhất nên được độ. Nếu y cứ ba tất cũng có thể nói rằng: Phật nói sanh pháp ở pháp Vô sanh mà sanh vui mừng, sanh thiện phá ác. Cho nên Pháp Hoa trở xuống là dẫn chứng bốn tất. Trong mỗi tất đều nói các thứ, là trong mỗi tất-đàn có đủ vô lượng. Nay y cứ tu quán lại dùng ba đế hai đế gọi là các thứ. Nếu nói ý kinh tám giáo bốn vị mới gọi là các thứ. Vì sao như thế trở xuống là giải thích kinh, trước đối bốn tất, kế vì sao tánh thuộc sanh thiện, v.v… là trong phân biệt lại ngăn cách hai tất. Văn trước là hỏi. Ý hỏi rằng: Tánh và hạnh đều chung thiện ác. Vì sao đối kinh thì tánh thuộc về người, hạnh thuộc về đối trị? Nếu thông luận trở xuống là đáp. Tánh là chẳng đổi, thiện xưa chẳng đổi, từ xưa đến nay có nghĩa năng sanh. Nay sanh thiện ấy nên thuộc về sanh thiện. Hạnh nghĩa là làm lành làm ác, nay dứt ác ấy nên thuộc về đối trị. Nói thông luận là làm thông giải, giải thích thông suốt Tánh tuy ở xưa nhưng ở nay cũng thành có minh có hiển. Thân miệng hiện làm là hiển, ngầm chứa ở tâm là minh hạnh tuy hiện tại minh hiển cũng như thế. Nay từ bốn tất nghĩa tiện cho nên theo riêng bỏ chung. Vì người sanh thiện là tìm phục, còn đối trị là trị ác đã hiện bày, nếu hiểu thiện đã sanh còn minh ác chưa khởi thì chẳng phải văn này. Bậc Thánh tùy tình mà đâu vật, như Phật chưa ra đời trở xuống là y cứ Phật Hóa Nghi để lệ cho tướng tánh thiện mà hành ác, ba thừa thiện căn ngầm chứa chẳng hiện, Phật giúp sanh nên gọi là sanh thiện. Phàm phu ngoại đạo hạnh ác lộ bày, Phật bèn đối trị nên gọi là trị ác. Các thứ ức tưởng là Đệ nhất nghĩa, là lại giải thích Đệ nhất nghĩa. Chưa thấy lý đến đều là ức tưởng. Nếu gặp Phật pháp tưởng đều thành tuệ. Trong ba đảo, tưởng đảo ở giữa. Vì trừ diệt chánh nên tâm thấy chánh. Đây là y cứ Đệ nhất nghĩa mà giải thích ba đế. Như bốn tất này đều tùy tình. Hai thứ kia thì lệ theo cũng rất dễ hiểu. Thế thì ba, bốn trở xuống là lấy hợp số này mà trách kia chấp nhầm, khuyên khiến thuận giáo bỏ mạn dứt tranh cãi. Nghiên tâm tu quán, quán thành thì thấy đế, có khả năng bày lời quyết định mà nói. Như mây tan, v.v… ba hoặc chướng dứt tên, hiển tức thấy trung, dưới sáng thấy hai đế. Sư Tử Hống, Đại Kinh nói Sư Tử Hống gọi là quyết định nói, nói các chúng sanh đều có Phật tánh. Phật tánh tức Trung đạo. Tư vị trở xuống là Chương An giải thích riêng. Tư là chẳng công. Đã chẳng phải Đại sư nói với chúng, lại không phải thân đối Đại sư mà ấn thuật nên gọi là riêng. Nếu luận hai đế chứng tuy ở Thánh, vốn dạy phàm phu, tuy dạy phàm phu mà thật chưa chứng đắc. Nói chứng thì đoạt, phàm phu không có phần, cho nên nói đều đoạt. Luận giáo thì cho là phàm phu đều được. Nếu ở bên phàm đoạt chân mà cùng với tục cho nên nói nữa cho nửa đoạt).

 

 

PHẦN 3

Hai là nói cảnh trí lìa hợp. Trước giải thích đế trung. Trước chung, kế riêng. Trước chung là tựa các kinh, là các kinh luận đế lìa hợp khác nhau. Nay lấy khác nhau y cứ chung bốn giáo. Ba tạng trở xuống tức riêng y cứ bốn giáo. Trong đó trước nói hai, ba lìa hợp, trước nói chỉ có hai, không có ba. Kế Bồ-tát trở xuống là mượn người mà xếp đế. Văn trước là tục, từ hậu tâm trở xuống tức là chân. Cho nên trước sau chỉ có hai đế. Nói khiến mỡ phiền não tan, v.v… là Đại luận chép: Bồ-tát này tuy có năm dục hấp dẫn mà chẳng mê đắm, vì có các quán vô thường, v.v… Ví như có vua có một đại thần tự che giấu tội. Vua muốn phạt tội, bảo rằng: Nếu được con dê mập không có mỡ thì sẽ tha tội cho ông. Đại thần có trí cột một con dê nuôi bằng nước cỏ, ngày ngày ba thời dùng sói đe dọa cho sợ, dê được nuôi mập mà không có mỡ. Vua hỏi vì sao làm được như thế? Bèn đáp rõ việc trên. Bồ-tát cũng như thế, soi thấy vô thường không, khiến mỡ kết sử tan, mà thân công đức mập mạp. Lại Bồ-tát, này chưa dứt kiết sử, như có giặc chưa giết, nhốt chặt một chỗ, tự tu sự nghiệp. Bồ-tát tu quán vô thường cũng như nhốt giặc cũng là hữu lậu mà tự làm việc. Lại lìa năm việc: Một là lìa đường ác, hai là lìa nghèo cùng, ba là lìa thân nữ, bốn là lìa hình tàn, năm là hỷ vong. Mà được năm công đức: Một là sanh vào nhà giàu, hai là sanh lên cõi trời cõi người, ba là được thân nam, bốn là các căn đầy đủ, năm là biết rõ đời trước. Ba A-tăng-kỳ tu hành sáu độ. A-tăng-kỳ Hán dịch là Vô số, kiếp là thời, như trước đã giải thích. Câu-xá chép: Tám mươi Trung đại kiếp, Đại kiếp ba vô số, nghĩa là trong sáu mươi số thì số năm mươi hai gọi là A-tăng-kỳ, nghĩa là chứa đại kiếp này thành vô số, nên nói ba A-tăng-kỳ Hạnh sáu Độ, là Bồ-tát tu sáu độ này đều có lúc mãn. Trước nói đàn mãn, như Bồ-tát Thích-ca xưa làm vua tên Tỳ-thi được Đà-la-ni qui mạng cứu hộ, nhìn chúng sanh như mẹ thương con. Lúc đó, Thiên đế biết mạng sắp hết, liền, tìm Phật hỏi nghi, tìm hoài không được, liền trở về cõi trời mà buồn rầu khổ não. Lúc đó, Thiên Xảo Sư tên là Tỳ-thủ Yết-ma hỏi Thiên chủ rằng: Vì sao khổ như thế? Đáp rằng: Ta tìm bậc Nhất thiết trí mà không được. Tỳ-thủ chép: Có Đại Bồ-tát đầy đủ sáu độ không bao lâu sẽ thành Phật. Thiên chủ nói kệ đáp rằng:

Bồ-tát phát đại tâm,

Hoa Ngư tử Am-la

Ba việc nhân thì nhiều,

Thành quả thì rất ít.

Tỳ-thủ đáp rằng:

Ưu-thi-na chủng

Sáu độ đầy đủ,

Không lâu thành Phật.

Đế-thích hỏi: Phải đến thử Bồ-tát này mới được. Ngươi làm bồ câu, ta làm chim ưng. Ngươi sợ bay núp vào nách vua. Tỳ-thủ chép: Đại Bồ-tát ấy làm sao dám quấy nhiễu. Đế-thích chép: Ta cũng không có tâm ác, như vàng thật phải thử. Liền theo lời nói mà bay núp vào nách vua, toàn thân run rẩy. Mọi người đều nói vua ấy rất nhân từ tất cả phải cứu giúp, như thế chim bồ câu nhỏ trở về như vào nhà. Bồ-tát ắt không lâu sẽ thành Phật. Lúc đó chim ưng đậu gần đó bảo vua rằng: Trả bồ câu cho tôi. Vua nói: Ta được con bồ câu này trước ngươi. Ta trước đây đã phát nguyện độ tất cả chúng sanh. Chim ưng nói muốn độ tất cả chúng sanh, còn tôi chẳng phải chúng sanh sao, mà lại cướp miếng ăn của tôi? Vua hỏi ngươi ăn gì. Ta trước đó thệ nếu có chúng sanh đến ta sẽ cứu hộ. Chim ưng nói tôi cần thịt máu tươi. Vua nói: đều do giệt hại mà được, làm sao giết một mà cho một, suy nghĩ tâm định mà nói kệ rằng:

Thân thịt của ta đây,

Thường bị già bịnh chết,

Chẳng lâu sẽ thúi rã,

Nó cần ta cho tặng,

Cầm dao tự cắt đùi,

Lấy thịt trao chim ưng.

Chim ưng nói: Theo đạo lý phải cân đúng nặng nhẹ, chớ nên coi thường. Vua nói lấy cân đến cân. Liền đem cân nhưng chim câu càng nặng mà thịt vua càng nhẹ, cho đến hết thân mình. Các quan và thân thích đến xem, liền bảo vua như thế không thể xem. Vua nói cứ mặc tình xem. Nếu có thành Phật đạo, phải chịu đựng lớn này, vua dùng máu thoa tay muốn đứng lên cân cho ngang bằng chim câu. Chim Ưng nói ta không cần, hãy trả bồ câu cho ta. Vua nói chết thân vô lượng nay để cầu Phật đạo. Thịt hết gần đứt, vua muốn té xuống bèn tự trách rằng: Ta phải vững chắc chớ có hôn mê, chúng sanh rơi vào biển khổ cần được cứu giúp, đâu dám biếng lười, không bằng một phần mười sáu của khổ địa ngục, ta đặc biệt tinh tấn, chớ sợ khổ này, huống chi trong địa ngục không có người trí tuệ. Lúc đó, các vị trời khen rằng: Vì con chim nhỏ mà như thế. Lúc đó, trời đất rung chuyển, nước biển nổi sóng, cây khô sanh hoa, trời mưa nước thơm. Chư Phật đều đến khen chắc chắn sẽ thành Phật. Chim ưng bảo bồ câu rằng: Đây thật là Bồ-tát chân thật. Tỳ-thủ chép: Thiên chủ, Ngài có thần lực nên giúp cho vua bình phục. Đế-thích nói chẳng phải nhờ ta. Vua tự phát thệ, chiêu vời tất cả. Đếthích hỏi vua rằng: Tâm chẳng buồn chăng? Vua nói tâm ta mừng vui chẳng hề buồn giận. Đế-thích nói lấy gì tin ông? Bồ-tát chép: Nếu nhất tâm chẳng rối loạn, chỉ cầu Phật đạo thì cho bình phục như xưa. Nói xong liền bình phục. Người trời thấy đều mừng đại bi, khen chưa từng có, chắc chắn sẽ thành Phật, chúng ta nên cúng dường.

Tướng Thi mãn là như vua Tu-đà-ma là vua tinh tấn thường y theo lời Phật. Muốn vào vườn dạo chơi. Vừa ra khỏi cửa thành thì có một Bà-la-môn đến xin rằng: Vua là người phước đức xin thương tôi nghèo đói. Vua nói: Phải đợi ta trở về, vua liền đến vườn thì có chim đầu đàn hai cánh tên là Lộc-túc, cùng Thần núi bắt lấy một ngàn vị vua, đã được chín trăm chín mươi chín vua rồi, chỉ thiếu Tu-đà-ma. Từ trên hư không bay xuống dùng chân quắp ly1 vua mang đi, các thể nữ gào khóc một vùng, Lộc-túc bắt vua đến chỗ ở để trong các vua. Vua Tu-đà-ma khóc như mưa. Lộc-túc hỏi làm vua mà khóc như con nít, người có sống phải có chết, có hợp phải có tan. Tu-đà nói ta không sợ chết, tự tiếc rằng từ khi sanh ra đến nay không hề nói dối, nay phải thất tín. Vì hứa bố thí cho Bà-la-môn, phải phụ tâm xưa mang tội lừa dối cho nên ta khóc. Lộc-Túc chép: Cho ông về nhà bảy ngày, thí xong rồi đến chịu chết. Nếu chẳng đến ta sẽ bắt lấy. Vua trở về mặc tình bố thí, lập Thái tử lên làm vua hội họp người dân vua bèn tạ từ rằng trí ta chẳng cùng khắp, nhỏ mà chẳng đúng pháp, phải thấy giận dữ, nay thân ta chẳng phải của ta nữa, ắt phải ra đi. Nhân dân thân thích giữ vua ở lại ban phúc cho nước, chớ vì Lộc-túc quỉ vương mà lo. Bèn lập nhà sắt, kỵ binh canh gác. Lộc-túc là thần nên chẳng sợ. Vua nói kệ rằng: Lời thật giới bậc nhất,

Lời thật bay lên trời,

Lời thật nhỏ thành lớn,

Nói dối vào địa ngục.

Nay ta giữ lời thật,

Thà mất mạng sống này.

Do đó ra đi đến chỗ Lộc-túc, Lộc-túc thấy vua đến rất vui mừng bảo: Ông là người rất biết giữ lời hứa. Mọi người đều tiếc thân mạng, thoát rồi lại đến, ông là bậc đại nhân. Lúc đó, vua Tu-đà rộng khen lời nói thật bác bỏ trách nói dối. Lộc-túc nghe xong thì tín tâm thanh tịnh. Bèn bảo Tu-đà rằng: Ông nói được như thế, nay ta thả hết, các vua đều trở về mình. Nói như thế xong, các vua đều đi v.v…

Nhẫn thành tướng. Như vị tiên Sằn-đề ở trong rừng tu hành nhẫn nhục. Lúc đó, vua Kha-lợi đem các thể nữ vào vườn dạo chơi, ăn uống xong vua nghỉ ngơi. Các thể nữ đi hái hoa gặp vị Tiên này bèn kính lễ đứng một bên. Khi đó vị Tiên vì các người nữ khen ngợi từ nhẫn, lời lẽ rất hay, nghe mãi không chán nên quên về. Vua thức giấc chẳng thấy thể nữ đâu bèn vác kiếm đi tìm thấy thể nữ ở trước vị Tiên, bèn ghen tức dữ dội, rút kiếm chỉ vị Tiên hỏi: ông làm gì ở đây? Vị Tiên nói tôi tu từ nhẫn. Vua nói nay ta thử ông xem sao, bèn lấy kiếm bén chặt hết tay chân và thẻo tai mũi, nếu không giận thì mới là tu nhẫn. Vị Tiên nói mặc tình. Vua bèn chặt hết tay chân và thẻo tai mũi, hỏi rằng: Ông có động tâm chăng? Đáp: Tôi tu từ nhẫn, tâm chẳng động. Vua nói ông ở đây một mình không có thế lực, tuy nói chẳng động nhưng có ai tin. Lúc đó vị Tiên liền phát thệ rằng: “Nếu tôi thật tu từ nhẫn thì máu biến thành sữa,” máu liền biến thành sữa. Vua kinh hồn dắt các thể nữ chạy đi. Lúc đó, trong rừng Long thần vì vị Tiên này mà mưa gió sấm sét đánh chết vua, không trở về cung được.

Tướng Tinh Tấn: Thái tử Như Hảo Thí tìm châu như ý. Như cuối quyển một nói Thái tử được châu rớt xuống biển mà tát cạn biển lớn, khiến gân cốt khô hết, chẳng hề biếng lười, thể được châu như ý để cho chúng sanh cứu thân khổ. Các trời hỏi bèn đáp rằng: Đời đời chẳng nghỉ. Các trời thấy tinh tấn đó bèn giúp năng lực tạt cạn biển, nước biển còn phân nửa. Rồng thấy nước giảm sợ biển khô cạn bèn đưa châu trở lại.

Tướng thiền viên mãn: Như vị Tiên Loa Kế, còn gọi là Xà-lê. Có người làm tượng theo hình vị tăng là không đúng. Được thiền thứ tư, dứt hơi thở ra vào, ngồi dưới gốc cây sừng sững bất động. Chim thấy bất động cho là gỗ, bèn làm tổ trên đầu mà đẻ trứng. vị Tiên xuất định biết trên đầu có trứng chim, bèn nghĩ nếu ta đi lại chim mẹ không bay đến thì trứng sẽ hư. Liền nhập định trở lại, đến khi chim con biết bay bấy giờ mới đứng dậy đi.

Tướng Bát-nhã viên mãn: Như Đại thần Cù-tân chia đất Diêmphù-đề thành bảy phần, thành ấp xóm làng đều bằng nhau để dứt đấu tranh. Chủng tướng trăm kiếp, là quá ba kỳ trăm kiếp chủng tướng, chủng tức là tu, tức trong trăm kiếp tu tướng nghiệp. Hỏi: Tu ở chỗ nào?. Đáp: Người ở trong cõi dục thân nam ở Nam châu, Phật ra đời không phải duyên người khác thì có thể tu. Dụng ý nghiệp thức thứ sáu. Hỏi trước tu tướng nào? Đáp: Có người chép: Sơ chủng túc hạ bình, vì trước an lập sau mới tu các tướng khác, có người nói mắt xanh là trước dùng Đại bi mà nhìn chúng sanh. Tuy có lời nói này mà nghĩa không đúng. Khi hợp lại chủng lý không có trước sau. Hỏi: Một nghĩ hay nhiều nghĩ. Đáp: một nghĩ tu một tướng, một tướng dụng trăm phước. Hỏi: Bao nhiêu là một phước? Đáp: Có người chép: Luân vương trong bốn thiên hạ xem là một phước. Có người nói như Đế-thích ở hai trời Tự tại là một phước. Có chỗ nói cho đến sáu trời. Có chỗ nói: Trừ Bổ xứ, tất cả mọi người đều có một phước. Có chép: Tất cả chúng sanh trong Đại thiên cùng là một phước. Có chỗ nói Đại thiên chúng sanh mù có thể trị lành là một phước. Có chỗ nói Đại thiên người uống thuốc độc mà trị lành là một phước. Có chỗ nói thấy tất cả người phá giới mà nói pháp khiến họ bỏ việc ấy là một phước. Có chỗ nói không thể thí dụ. Bồ-tát vào tăng-kỳ thứ ba, tâm nghĩ hạnh lớn chủng tướng nhân duyên, nêu phước vô lượng, chỉ có Phật mới biết được. Luận quyển hai mươi hai lại nói: Bồ-tát tu mười điều thiện đều có năm tâm, tức là hạ, trung, thượng, thượng thượng và thượng trong thượng. Mới phát năm tâm cho đến đầy đủ năm tâm, như thế một trăm tâm gọi là trăm phước thành một tướng. Như thế đến ba mươi hai gọi là thân thanh tịnh, văn đồng với Đại Kinh quyển hai mươi hai.

Được năm thần thông, vì chưa dứt hoặc nên không có vô lậu thông. Năm thông như trong trợ đạo đã nói. Ba mươi bốn tâm: nay lấy ý luận hơi khác với các kinh luận nói dứt. Trong Đại Kinh chép: Các hoặc hạ địa nhân khi chưa dứt, cho đến dưới cây bèn dùng chín địa chín phẩm tư hoặc gọi chung là một cửu. Cho nên nói Bồ-tát Tam Tạng vị đồng phàm phu vì chín vô ngại, chín giải thoát hợp thành mười tám, trong kiến đạo có tám nhẫn, tám trí hợp thành mười sáu tâm, chung các thứ trước hợp thành ba mươi bốn tâm. Câu-xá Bà-sa ý chép: hoặc tám địa dưới khi mới tu thiền thì trước đã dứt xong, chỉ có phi tưởng địa chín phẩm kiến tư còn nguyên dùng chín vô ngại chín giải thoát vì căn thắng, cho nên chẳng tu lại dưới tám địa định khác nhau Thanh văn cũng khác Duyên giác. Duyên giác trước có lìa tám địa hoặc, một tọa chứng giác. Lại ở chín địa thứ lớp mà tu lại khởi hai đạo vô gián, giải thoát. Trong tám địa dưới tuy chẳng dứt hoặc. Quán hạnh thứ lớp pháp như thế. Mỗi địa đều có mười tám tâm, chín địa liền thành mười trăm sáu mươi hai tâm. Kiến đạo mười sáu hợp thành một trăm bảy mươi tám tâm. Bồ-tát chẳng như thế, cho nên chỉ ba mươi bốn tâm. Ở đây và Câu-xá khác nhau ngài Lathập dịch và ý Long thọ đều chẳng phải lầm. Ý khác nhau là nay lấy một ý mà nêu chung khiến hai luận lý bằng nhau. Câu-xá thấy tu thiền khi đã dứt hoặc xong, chẳng còn dứt nữa. Trí Luận y theo các bộ khác, tuy dứt hữu lậu, nhưng chưa gọi là dứt. Đến cây Bồ-đề chỉ đoạn phi tưởng tám địa đều được gọi là vô lậu. Chỉ là từ bộ được tên khác nhau. Cho nên khiến hai luận dùng nghĩa chẳng bằng. Lại kinh nói trở xuống là dẫn Đại Kinh một niệm có sáu trăm sanh diệt. Và Luận sư Thành Thật giải số khác nhau, chỉ nói một niệm đầy đủ nhiều niệm để chứng vô gián ba mươi bốn tâm chưa đủ ngại. Kế trước đã trở xuống là biện dị lập trung, ba kỳ chiếu tục, dưới cây chiếu chân, nhìn trước gọi song dị ở Nhị thừa và Bồ-tát. Nhị thừa và Bồ-tát ở vị đệ tử. Cho nên nói cùng đệ tử dị mà giả lập ba đế. Bồ-tát chỉ chiếu trở xuống là giải thích tướng xuất giả lập Trung đạo. Đã tự không thể chỉ từ đều chiếu giả đặt tên là Trung. Tên trung đã giả thì chiếu trung nhẫn trí cũng là giả lập. Cho nên nói lại gia thêm. Ly thì trở xuống là nói về ly hợp, nếu phân thuộc đệ tử hoặc Phật tự phần, đã thuộc trước sau. Cho nên chỉ có hai, nếu toàn ở Phật thì người khác không có. Cho nên ở Phật được tên ba đế. Do đó trong năm lớp ba qui không có ba tạng, vì Trung đạo vô thể. Kế người ba thừa vì trong Bồ-tát có lợi căn. Lìa chân ra khỏi trung nên nói có khác. kế dẫn Đại luận, v.v… Người trí (người trí) tức là lợi căn thấy trung, gọi là thấy chẳng không. Chẳng không chỉ là chẳng chỉ không. Ba đức đầy đủ gọi là Đại Niết-bàn. Nhị thừa trở xuống là dẫn văn Đại Phẩm. Như mặt trời trí chiếu dụng. Kẻ độn thì trước sau chỉ thấy không, Pháp Hoa bị hội tức chẳng phải nghĩa trung khai hợp ở đây. Đã không khác trở xuống là chánh nói khai hợp. Chỉ có bất đãn không gọi là không dị. Nhất thiết trí chiếu chỉ không, Nhất trí thiết chủng chiếu chẳng chỉ không gọi là trí biệt. Chân đã gồm hai trí cũng hai biệt. Ở trong chân đế khai xuất (mở ra) Trung đạo. Cho nên nói thì có hai đế khác nhau, mà nay hợp là y theo Thông giáo, nên nói mà nay. Làm thường hai đế chỉ gọi là chân đế. Nhị thừa trở xuống là mở ra lợi độn Bồ-tát của Nhị thừa, quán đế riêng khác. Vì riêng khác nên có nghĩa bao gồm. Nói thanh tịnh cõi nước Phật là xuất giả Bồ-tát của Thông giáo cũng vì chúng sanh làm nhân Tịnh độ. nơi nơi kết duyên chúng sanh căn cơ thuần thục thì dứt tập thành Phật gọi là thanh tịnh cõi Phật. Khi kết duyên gọi là hạnh Tịnh độ. Cho nên kinh Tịnh Danh nói: Bồ-tát lấy Tịnh độ đều vì lợi ích các chúng sanh. Cho nên nói bố thí là Tịnh độ của Bồ-tát. Khi Bồ-tát thành Phật, thì bỏ tất cả chúng sanh sanh đến nước ấy, khi kết duyên thì dùng bố thí mà nhiếp. Khi thành Phật thì đất nhiều châu báu. Các người bố thí đồng sanh về nước ấy mà được năm thứ bố thí hóa ích, do khi nhiếp sanh có năm thứ khác nhau, cho nên gọi đó là trời người và bốn giáo. Tất cả các hạnh không phải hạnh Bồ-tát Tịnh độ, cho nên có bốn độ ngang dọc nhiếp vật, đây là y khoa tiết. Ấy là Tịnh độ nghĩa chung các giáo. Văn nay lại y Bồ-tát Thông giáo chỗ dứt trừ tàn tập làm quả Tịnh độ, chỉ là khác với Nhị thừa mà thôi. Như Đại Kinh quyển hai mươi hai chép: Nghĩa Tịnh độ chỉ nói nguyện nhiếp nghĩa ấy thì chung, các giáo quán riêng nhiếp sanh đều như thế. Bồ-tát Thượng căn trở xuống là nói Bồ-tát lợi căn khai chân xuất trung. Xưa trang nghiêm trở xuống là phá xưa. Trang Nghiêm nói xuất, Khai Thiện nói là chẳng xuất. Đây do Bồ-tát ba thừa cộng học có chỉ, chẳng chỉ. Người xưa chẳng hiểu hai căn lợi độn, chỉ tranh quả Phật xuất và chẳng xuất. Trọn chưa thấy ý nay khai hợp cho nên khiến hai nhà đều nói về kỷ kế. Nay văn đều bị như thế nên đều nói làm cho nghĩa chẳng thành. Cho nên biết hai nhà đều được văn, nay lợi độn một bên, cho nên nói phiến ý, nhưng chẳng thể biết ra ngoài biệt chiếu cảnh Trung đạo, dùng trí Trung đạo mà tiến phá vô minh, cho nên nói phiến ý. Nếu chẳng thể biết độn căn y giáo đồng chứng chân đế với người Nhị thừa, ấy cũng chỉ được phiến ý văn nay. Nếu toàn được ý nay xuất và chẳng xuất thì nghĩa đều thanh. Xưa nay gọi là các thứ này, mặc hai nhà nói đều cho là sâu kín. Đúng sai khó phân, xưa nay khó xếp. Cho nên người xưa hai thuyết song mỹ, gọi hai đế này là phong lưu. Nói phong lưu là cử động hợp nghi, nên cho hai nhà vào ra không lỗi. Ở nay bị phá, vào ra đều quấy, cử động thất nghi, phong lưu đâu còn. Nếu y nay dùng hàm hai đế trung, tới lui đều tốt, phong lưu có dư. Như trong Tăng Truyện có pháp sư Thừa trước cùng một Pháp sư ở chung chùa Khai Thái. Sư này nửa chừng rời chùa Khai Thái. Sau thừa ở chùa cũ khai giảng tựa nói quả Phật này xuất ra nghĩa hai đế. Sư này bèn hỏi là quả Phật sanh ra hai đế hay hai đế sanh ra quả Phật thừa hỏi lại rằng: Là Pháp sư sanh ra Khai Thái hay Khai Thái sanh ra Pháp sư. Đáp rằng: Như chim uyên ương không ở nhà xí (nhà vệ sinh). Thừa chép: Thích-đề-hoàn Nhân chẳng ở với quỉ. Đáp rằng: Chim Cưu-xí-la chẳng đậu cây khô. Thừa nói cũng như biển lớn không chứa thây chết. Đối qua đáp lại mà lý đẹp rốt chưa hiển. Lại như Đại Kinh cuối quyển ba mươi sáu, Phật nói quán nhân duyên trí bốn thứ khác nhau. Được Bồ-đề dị thuyết là nói lúc mười ngàn Bồ-tát được nhất sanh thật tướng, năm ngàn Bồ-tát được hai sanh pháp giới. Chương An chép: Ba thừa đồng quán nghĩa bậc nhất đế trí giải khác nhau một sanh hai sanh chính là phá vô minh một phẩm hai phẩm. Thật tướng là biệt lý, pháp giới là viên lý, tức là lợi căn tiếp vào Biệt Viên. Phá vô minh rồi tám tướng thành Phật, ấy là nghĩa quả Phật xuất ngoại, chỉ xem các kinh chưa hề được đạo, tức biết chỗ nói có ý chung riêng. Chỉ không trở xuống là nói về khác. Ấy là trở xuống là kết, như văn. Kế là Biệt giáo: trước nói có không là tục vì khác hai trước, hợp tạng thông trước chung cho hai đế chân tục, đồng là Biệt giáo một tục đế mà thôi. Tục trở xuống là giải thích nghĩa Tục đế. nói tục là cách biệt làm nghĩa, gồm có không nghĩa nhiếp phàm tiểu, có khác lạ này nên gọi là tục. Thắng-man trở xuống là chứng người Nhị thừa bị tục nhiếp, vì không loạn nên thuộc về tục. Dẫn Đại Kinh cũng giống như thế. Tục của Bồ-tát, Nhị thừa gọi là chân. Ba mươi hai nói ta tuy nói chúng sanh đều có Phật tánh, là Phật tự ý nói. Nói như thế là Bồ-tát Hậu Thân còn chẳng thể hiểu huống chi là Nhị thừa và các Bồ-tát khác. Một thuở nọ ta trụ núi Kỳ-xà-quật nói thế đế cho Bồ-tát Di-lặc, năm trăm Thanh văn như Xá-lợi-phất v.v…, đối với sự đều chẳng biết, huống chi là nghĩa đế bậc xuất thế. Ý văn kinh, là tùy tình mà nói tục đối với Biệt giáo còn chẳng biết huống chi lại là Tùy trí nghĩa đế bậc nhất. Chương An hỏi: Phật ở đâu mà nói cho năm trăm Thanh văn? Đáp: Chính là trong Hoa Nghiêm nói như đui như điếc. Đây là Biệt giáo chân và tục Nhị thừa đều mê. Nếu luận trở xuống là chánh nói khai hợp. Tuy có khai hợp nhưng phải có hai giáo trung dị ở trước, khác nhau Thông giáo y cứ độn không khai. Kế nói trong Viên giáo ở trước dẫn Đại Kinh. Vốn thật không khai, vì chúng sanh nên phương tiện nói khai. Pháp Hoa cũng như thế. Nói giúp hiển, là ở một thật đế chia ra làm hai, ba tức gọi chỗ khai là phương tiện khác. Vì sao? Vì đã khai xong rồi lại dùng sở khai mà giúp hiển bày thật. Nếu y cứ lý còn không có một thật huống chi là hai, ba. Chỉ khen Phật thừa, sanh hủy báng chìm trong khổ vì nghĩa ấy nên phải nói giúp hiển. Phải dùng hai nghĩa giải thích dị phương tiện. Nói riêng thì Tam Tạng là dị, chung với chân, chứa đựng trung nên chẳng gọi dị, nói chung thì ba giáo đều gọi dị phương tiện. Biệt giáo giáo đạo chẳng phải hoàn toàn đồng, huống chi lại chung chân cùng mang mà thôi. Cho nên phải biết là tha nên khai, bày thật nên hợp. Kế nói trở xuống là y cứ hai bốn luận khai hợp cùng trước chỉ là ngang dọc khác nhau, nói về đế thể lại không khác. Lại ở trong bốn trước, xếp ngang dọc, chấp thì có trở xuống là nêu. Ba sanh diệt trở xuống là chánh nói khai hợp, bốn dùng luân kệ mà hợp. Hỏi vì sao gọi là ngang dọc? Đáp: Ba đế đối nhau sâu cạn khác nhau, nên nói là dọc. Khổ tập, diệt đạo hai cặp đối nhau, không còn cạn sâu, nên gọi là ngang, lại dùng hai nhìn hai cũng không sâu cạn, chỉ là năng trị, sở trị khác nhau. Cho nên bốn đế gọi là ngang. Hỏi: trước ba, ba bốn dung có thể ngang dọc, viên dung ba bốn làm sao ngang dọc. Đáp: Thật như chỗ hỏi, nay nói ngang dọc, như trong ba đế lại y cứ khai một để làm hai ba, tức gọi hai ba để làm phương tiện. Phương tiện nhìn thật cũng được gọi là dọc, khai quyền bày thật không còn hai ba. Chỗ nào mà nói dọc? Đã ở một thật chẳng phân mà phân, phân làm ba đế, ngại gì ba này không phải ngang không phải dọc mà gọi là dọc. Bốn đế cũng như thế. Y cứ giáo phương tiện. Không làm bốn đế xưa nay tức nhau cùng ai nói về ngang, cũng là chẳng phân mà phân, phân làm bốn đế, sao ngại chẳng phải ngang chẳng phải dọc mà gọi là ngang. Như vị sáu tức chẳng phải ngang chẳng phải dọc mà được gọi là dọc. Các Bala-mật không phải ngang không phải dọc mà được ngang. Cho nên biết ngang dọc cao rộng chẳng hai. Nay đem trở xuống là dẫn luận Quán trung. Chỉ là quán đế vụng khéo bốn cú, nhiếp trì các đế. Hai nói trở xuống là y cứ Trí luận khai hợp, là trí chẳng tự phân lại phải y cứ đế. Cho nên trong văn nay đều nói chiếu đế, Đế thể luôn ba, trí có thêm bớt. Lại y vào đại thể lấy ba làm chuẩn. Lại còn ba pháp các văn đều định. Nay trước lại y theo các kinh mà nêu trí, đề làm đầu mối mà hỏi. Trong giải thích trước đối một trí đến ba trí. Một trí trở xuống, là trước đối ba đế, trí có lìa hợp. Trước từ một trí cho đến bốn trí để quán ba đế, lấy một đối một, cho đến dùng bốn đối ba. Tướng văn có thể thấy, văn tuy rất dễ thấy, như trước một trí quán một đế, đế cùng bao gồm ba. Cho nên kế giải thích rằng: Trí này quán ba đế. Trí này tức là một trí vừa nói, lại dẫn một trí vừa đến, khai thành ba nghĩa, đã quán ba đế trí cũng thành ba. Nếu hai trí trở xuống, tức là hai trí quán hai đế. Trí đế tuy hai nghĩa đã gồm ba, như nói quyền tức Nhất thiết trí, lại dùng đạo chủng trí. Quán ở Tục Trung hai đế có không. Nếu lìa quyền trí xem là hai trí, lìa tục đế xem là chân tục thì trí đế đều ba, ba trí quán ba, mỗi trí chủ đối không khai hợp dị, cho nên nói rất dễ hiểu. Bốn trí, là bốn trí cũng là hai trí quyền thật, đối nhân quả, v.v… cho nên thành bốn, khai họp quán đế chẳng ra ngoài ba, đủ như vừa nói. Nói trí tuệ, nếu nói chung thì trí chỉ là tuệ, đều chung quyền thật cho đến nhân quả. Nếu nói Bátnhã dịch là trí tuệ. Như Đại luận nói nhân gọi là Bát-nhã, quả gọi là Tát-bà-nhã, cho đến tu tập trí tuệ. Đây tức là trí tuệ đều ở nhân. Như nói chỉ quán là nhân, nhãn trí là quả. Trí tuệ Như lai, trí tuệ Chư Phật, v.v… đây thì trí tuệ đều ở quả. Nếu nói phương tiện trí tuệ, đây thì trí tuệ ở quyền. Như nói trí tuệ sâu xa, đây thì trí tuệ đều ở thật. Nay theo nghĩa riêng nên phân ra nhân quả. Đối với nghĩa riêng mà đối với tuệ lại thêm đạo và chủng, ở trên trí ấy lại thêm tên Nhất thiết và chủng. Đạo nghĩa là nhân, hai văn nhân, quả đều thêm chủng, chủng là hạt giống khác nhau gồm hiển ở quyền, cho đến sự hoại. Nhân thời dụng quyền, quyền trí chưa trọn, đến quả thì trí mãn, nên còn gọi là chủng. Vì quả pháp khắp nên gọi Nhất thiết. Nếu được ý này bốn nghĩa rất dễ hiểu. Hỏi: Ba tuệ phẩm, Trung phẩm gọi là ba tuệ, trong văn đã giải thích đâu có đến bốn. Đáp: Nhân hai, quả hai, khai đều đủ ba, nên nói ba tuệ. Văn từ hợp mà nói, nhân quả cùng luận, nên thành bốn riêng. Trong văn giải thích lại có bốn lớp, đều nói về văn. Đều dính mắc hoặc nói, là khéo xếp văn kinh quyết đoán các giải thích, đâu hơn Long Thọ. Thường đối với một ở văn có nhiều giải thích mà cũng chẳng quyết đoán được chăng? Vì ý Phật có nhiều hàm thuận bộ loại người nay giải thích nghĩa chưa bao gồm hết ý kinh, cho nên phải một mà quấy nhiễu. Cái gọi là nhân trung lý thể là lý hai đế, một niệm đầy đủ. Quả trên đã mãn, vì mãn nên có dụng, cho nên thêm Nhất thiết. Nhân Trung đạo tuệ lý có đủ Trung đạo, nhân Trung đạo chủng lý đủ hai đế. Nếu khi đến quả, thì trí Nhất thiết thấy ở Trung đạo, trí Nhất thiết chủng thấy ở hai đế. Tên Nhất thiết này không đồng với Nhị thừa, đối nghĩa ý khác. Nhân Trung đạo tuệ là thật, đạo chủng là quyền. Nếu khi đến quả thì Nhất thiết là thật, Nhất thiết chủng là quyền. Nói chung riêng, là nói thẳng đạo tuệ Nhất thiết trí nên gọi là chung. Vì đều thêm chủng nên gọi là riêng. Nói thẳng đạo tuệ đạo chủng tuệ nên gọi là Đơn. Chuyển tuệ gọi trí đều thêm Nhất thiết cho nên gọi là phức. Cho nên một quyền tất cả quyền, một thật tất cả thật. Cho nên đơn phức đều chung nhân quả. Nay cũng từ riêng nên tuệ đơn mà trí phức. Như thế trở xuống là kết trí chiếu cảnh, hoặc nhân hoặc quả có đủ ba, lễ trước thể thấy, nên nói chỉ là. Nếu trong kinh trở xuống là nêu ví dụ. Nếu được trước đến một trí đến bốn chỉ quán ba đế, thì hiểu các kinh từ năm đến vô lượng đều thành ba đế, nên nói khiến vào. Cho nên biết Tiểu thừa tất cả các đế khiến vào ba đế, cho đến Đại Tiểu đều vào ba, hoặc hai hoặc một. Kế y cứ mười một trí, các kinh luận khác chỉ nêu mười trí, chỉ trong Đại Phẩm có thêm trí như Thật. Nói mười trí, thì tạng thông nghĩa đồng, chỉ phân khéo trong thông vì có cộng thừa, lại có bất cộng, nên thêm Như thật. Mười trí Tiểu thừa đây đủ như trong Trí phẩm của Câu-xá có nói, nghĩa là Thế trí tha tâm khổ tập diệt đạo, pháp so sánh đều Vô sanh, các trí khác nhau chiếu mười một cảnh. Hợp mà nói cũng chẳng ngoài ba đế. Thế và tha tâm vì chiếu tục, lại y cứ vô lậu, khổ tập v.v… tám thứ chiếu chân. Lại y cứ hai trước như thật một trí để chiếu trung, là cùng y cứ hai giáo. Đó gọi là đi là kết qui. Đã nói trí khai mà đế chẳng khai cho nên nói mà ba đế chẳng động. Kế lại nữa trở xuống là nói đều khai, là tùy nhiều ít như mười một trí chiếu mười một cảnh, cho đến như đối hai, ba đây thì rất dễ thấy. Đều chẳng khai, chỉ có Phật thừa, Phật trí chiều thật đã chỉ một thật cũng gọi khai quyền. Nếu trì bỏ kiết qui về hiển thể. Nay cảnh giới ý, ý ở thật cảnh, chỉ có khai hợp thật là chỗ hiển. Kế y cứ đế trí mà hợp nói, là đế trí cùng luận cho nên nói hợp. Bốn giáo gồm tiếp chung là năm đoạn. Trong mỗi đoạn đều trước nói cảnh phát trí, kế nói trí duyên đế. Duyên và phát đều hợp nói. Trước trong ba tạng nói hai đế cùng phát, là chỉ ba tạng Phật chiếu cả hai đế, giả đặt tên trung, nên gọi là cộng. Trong Thông giáo nói chân đế cùng phát hai nhãn hai trí là gồm trung. Kế trong tiếp nói khai chân xuất ra trung. Nếu đã bị tiếp được vào chứng đạo bèn thành ba đế. Hỏi: Đâu riêng tiếp thông mà chẳng nói tạng, đâu riêng tiếp Biệt mà chẳng nói Viên. Đây là hỏi từ trên khai chân xuất ra trung. Trong đáp ở trước nói Thông giáo phải dùng Biệt tiếp, vì cơ Biệt, nếu trước sau chẳng nghe hoàn toàn thuộc hai trước, nếu từ trước tức nghe hoàn toàn thuộc ở hai sau. Lại có một người phá hết hai hoặc, đến địa thứ tám mới nghe Trung đạo. Nghe rồi tu quán tiến phá vô minh được gốc pháp thân, tám tướng thành Phật. Tuy thấy Trung đạo là giả, Thông giáo lấy hai quán không, giả làm phương tiện trước, phải đợi biệt lý mà tiếp mới nghe. Nay nói biệt tiếp, phải có hai nghĩa: Một là Biệt giáo giáo lân cận; hai là biệt lý lý dị chân. Không do đây trở xuống là nói ý chẳng tiếp các giáo khác. Trước nói chẳng tiếp ba tạng nói chẳng lấy quả Phật này, là nếu ở Sơ địa Sơ trụ tùy có tám tướng, nhưng chẳng chịu tên quả. Trong thông chín địa hai quán làm nhân đến địa thứ mười, tám tướng làm quả. Nếu bị tiếp (tiếp đủ) thì phá một phẩm vô minh cũng được tám tướng. Vẫn từ xưa nói nên cũng gọi là quả. Cho nên chỉ đem quả này mà tiếp thông. Chẳng dùng quả này tiếp ba tạng, là có bốn nghĩa: một là tiếp chỗ có thể tiếp, ba tạng do vụng nên chẳng thể tiếp; hai là được tên tiếp mới có thể dùng tiếp, nghĩa là dùng giáo trước có thỉ không chung, đã dùng bảy, tám chẳng đến chín, mười, tức dùng giáo sau có chung không thỉ. Chỉ dùng hướng địa chẳng cần trụ hạnh. Trong tiếp nối nên được gọi là tiếp; ba là chẳng cần tiếp nên cung chẳng gọi Tiếp. Như Sơ địa, Sơ trụ đã thành chân ngôn. Cũng phá vô minh, tám tướng thành Phật. Nhậm vận lưu nhập đâu cần Tiếp nữa; bốn là được gọi là tiếp, nghĩa là y cứ giới hạn của giáo. Nghĩa trước trong văn tức nghĩa thứ nhất này chẳng thể Tiếp, nghĩa thứ hai này chính là Thông giáo có thể tiếp. Nếu tiếp vào giáo đạo thì ở Hồi hướng, nếu tiếp vào chứng đạo thì ở Sơ địa. Nếu tiếp vào Viên cũng chịu ra giáo chứng, nói đó rất dễ biết. Ba kỳ trăm kiếp lại vào Biệt giáo chỉ ở Mười Tín, nếu lại vào Viên chỉ ở năm phẩm. cho nên chỉ thành hậu giáo sơ tâm. Từ trước (sơ) đến sau (hậu) có thỉ có chung. Tuy từ Tạng đến vẫn đồng với đương giáo. Cho nên ba tạng chẳng được gọi là Tiếp, tuy tiếp thông. Nhưng nếu từ Càn tuệ tánh địa mà đến thì cũng chẳng gọi là tiếp. Nghĩa đồng sơ hậu tâm của ba tạng. Cho nên bốn niệm xứ nói thông có ba thứ: Một là nhân quả đều thông, tức là Thông giáo; hai là nhân thông mà quả chẳng thông, tức là Bị tiếp; ba là thông biệt, thông viên, tức là Biệt viên. Dùng ở Thông giáo mà làm phương tiện, chỉ thành người nhân quả biệt viên. Cho nên Bồ-tát y cứ vị tuy đồng, Càn tuệ tánh địa quán tuệ cũng kém, cho nên cũng chẳng được gọi là tiếp. Văn nói chẳng đem quả này tiếp nhân mười địa tức là nghĩa thứ ba là Biệt tiếp Thông, vẫn chung bảy địa, tám địa làm nhân, cho nên gọi mười địa, tám tướng là quả, đâu đem quả này mà tiếp mười địa Biệt giáo đã phá nhân mười phẩm. Nhân này tự đến quả Diệu giác há chúng ta đến quả một phẩm. Nếu tiếp Sơ địa, sơ địa lại đồng đã phá một phẩm. Đã không hơn kém đâu cần dùng Tiếp, huống chi lại còn thành dùng Biệt tiếp Biệt. Tiếp biệt địa tiền tự dùng quả Diệu giác của Viên giáo, hoặc dùng quả Diệu giác của Biệt giáo, đâu cần dùng quả một phẩm ư? Huống chi Sơ địa giáo này không phải quả, huống chi lại Diệu giác giáo này vốn đối với quả này mà sanh tín tâm. Vì sao đến đây mới nói bị tiếp. Nói chẳng tiếp Thập trụ là mười địa của Biệt giáo tuy phá mười phẩm cũng còn đới giáo đạo, vẫn chưa phải tiếp, huống chi là đem phá một phẩm tám tướng tức tiếp vị Thập Trụ của Viên giáo ư? Nghĩa điên đảo cũng đồng mười địa. Nghĩa thứ tư, tức trong văn nói chỉ được lấy Biệt tiếp Thông, hẳn là lý riêng mà tiếp thông lý chung. Cho nên ý văn nay phải tu quán tiến phá vô minh, chẳng phân ra đãn trung, bất đãn trung khác nhau. Cho nên biết nói địa xong thì gồm có trụ, há có Sơ trụ lại tiếp Mười trụ. Văn nay nhắc lại chẳng tiếp mười trụ cho nên chẳng tiếp Viên. Vẫn còn Biệt giáo giáo đạo. Huyền văn dùng viên tiếp thông biệt, là phần giáo chứng vị hạnh biệt. Nay chẳng nói, là y cứ chứng đạo cho nên chỉ y cứ quán. Hỏi: Tiếp và chẳng tiếp, cái nào là hơn. Đáp: Bốn Niệm Xứ chép: Người tiếp bị như đất đá là, nền tảng, vàng báu chất lên trên. Há như từ dưới toàn chất kim cương. Đây là khen đầu cuối đều diệu cho nên như thế. Nếu các Bồ-tát trong hiền vị đều từ tiệm đến thì công đó còn gượng ép. Vì sao? vì các pháp trước thục tạng lý dễ sáng. Như trải cực giàu là từ nghèo đến. Cho nên Bồ-tát phương khác đều khen ngợi Bồ-tát sơ tâm cõi này chịu khổ cực nhọc, từ Hương Tích đến đây nghe pháp, là quyền pháp chưa thuần thục nên phải đi khắp.

Kế nói tung Đắc Thất, trước dùng nghĩ bàn và không thể nghĩ bàn cùng nêu đắc thất. Tự tha đều như thế, nên cùng nêu. Viên lìa tánh kế và năng hóa tha mới gọi là Đắc. Nếu nói trở xuống là tướng ra khỏi tánh lỗi, đây là giải thích nghĩa tánh chẳng khác các văn mà lời hơi khác. Vì trong các văn đều y cứ tự tha mà đơn nói. Như đơn y cứ trí chỉ nói trí tự là trí nên gọi là Tự tánh trí. Do cảnh cho nên trí gọi là trí Tha tánh. Lìa cảnh lìa trí nên gọi là Vô nhân trí. Nếu chỉ y cứ cảnh chuẩn trí rất dễ hiểu. Tuy lại đơn nói hẳn là cùng sáng. Cho nên trong đây cảnh trí đối nhau mà nói. Nay văn đầu nói chẳng phải do nhờ. Văn giống tự nhiên chính là tự tánh. Vì sao? Trí chẳng do cảnh là trí Tự tánh, cảnh chẳng do trí là cảnh Tự tánh, là đối nhau mà nói. Nên nói chẳng phải do nhờ. Cho nên trong trí nói trí do tâm sanh, tự năng chiếu cảnh. Như đuốc chiếu vật trở xuống là dụ cho cảnh tự tánh. Nếu nói trở xuống là cảnh trí Tha tánh. Nói do lẫn nhau mà có, là văn giống như cộng tánh, chính là tha sanh. Trí do ở cảnh gọi là trí Tha tánh, cảnh do ở trí gọi là cảnh Tha tánh, là đối nhau mà nói. Nên nói do nhau, thí như dài ngắn đối nhau cũng là hai hướng đối nói làm thí dụ, dài đối với ngắn như trí Tha tánh, ngắn đối với dài, như cảnh Tha tánh. Nếu nói cảnh chẳng tự cảnh trở xuống là nói cộng tánh cảnh trí. Văn giống không nhân nên là cộng tánh. Là sao? Là chẳng riêng do trí cho nên cảnh, cũng chẳng riêng do cảnh cho nên cảnh. Cảnh trí nhân duyên cho nên cảnh, y cứ trí cũng như thế cho nên thành cộng sanh. đã chẳng chuyên do, nên chẳng riêng. Cũng phải thí dụ rằng chẳng riêng do dài, chẳng riêng do ngắn. Do dài ngắn nên được có ở dài, cũng do dài ngắn nên được có ngắn, như nhân năm tấc cho đến một thước, hòa hợp mới biết một thước là dài. Cho nên cảnh trí đều gọi là nhân duyên. Nếu nói trở xuống là không có chân tánh, đều chẳng có ba thứ như trên. Như nói chẳng do trí cho nên cảnh, cũng chẳng do cảnh cho nên cảnh, cũng chẳng do cảnh trí nhân duyên cho nên cảnh, trí cũng như thế. cũng phải thí dụ rằng: Chẳng do ngắn mà có dài, chẳng do dài mà có dài, chẳng do dài ngắn mà được có dài. Ngắn cũng như thế. như nói chẳng do năm tấc một thước dài ngắn mà biết một thước là dài. Đây kể ý muốn chẳng phải ba thứ trước mà kể rất kém. Vì sao thế trở xuống là giải thích chấp với lỗi. Lỗi thêm khổ tập mà mất đạo diệt. Văn trước là tập từ nghiệp sanh cho nên trở xuống là khổ. Trong tập trước nói có bốn thủ, v.v…, là y bốn câu mà khởi chấp trước, cho nên gọi là nương tựa, có nương tựa cho nên mình đúng mà người sai gọi là ái nhuế, ái nhuế sanh cho nên cũng sanh si mạn. Thứ lớp như thế tám mươi tám sử, nên nói tất cả. Do ý đúng sai mà sanh hý luận, hý luận thì lấy cạnh tranh làm gốc. Cạnh tranh sanh nên khởi thân nghiệp chuyển đến biển khổ vị lai không thôi. Quả khổ sâu rộng nên gọi là biển. Phải biết trở xuống là kiết chấp thành lỗi là gốc sanh tử. Cho nên bốn chấp hay làm gốc sanh tử, gọi là gốc sanh tử. Cho nên Long Thọ trở xuống là y cứ phá tánh nói đắc. Phạt là nghiêng đổ, tức là phá, phá tha sanh nên nói đâu được là do, là cũng y cứ đối phá nên nói là do. Theo đây phá tự. Văn cũng phải chép: Các pháp chẳng phải tự, đâu được chẳng do cảnh trí. Nếu đơn nói, phá tự chỉ phải nói pháp chẳng tự sanh, đâu được tự cảnh trí cũng như thế. Phá tha phải nói pháp chẳng tha sanh, đâu được do trí cho nên cảnh trí cũng như thế, còn không tự tha cho đến cộng sanh, chẳng lẽ có vô nhân, phá được bốn tánh chẳng riêng phá tha ngoại chấp mà thôi. Long Thọ chánh dùng đây làm pháp quán, cũng là dùng đây chung bày ý Phật, thành các giáo quán mà người đời mê muội lập riêng pháp quán thật là chưa thể được. Cho nên Đại Kinh quyển ba mươi sáu, Phật bảo Tu-bạt nếu ông quán sát thật tướng, thì phá được tất cả các khổ. Tu-bạt chép: Thế nào là thật tướng. Phật nói tướng của vô tướng là thật tướng. Tu-bạt nói thế nào gọi là tướng của vô tướng? Phật nói tất cả không tự tướng, cũng không tha tướng không tướng tự tha chung nhau, cũng không có tướng vô nhân cho đến không có tất cả các tướng. Trong Sư Tử Hống Thán Phật thứ ba mươi nói: Như lai, Thế tôn phá tà đạo, chỉ bày chúng sanh đường chân chánh, người đi đường này được an ổn, cho nên gọi Phật là Đạo sư, không tự không tha là chỗ làm, cũng không cộng làm không nhân làm, nay Tu-bạt nghe thường giữ quả. Tức là ý Biệt Viên gồm tạng thông. Nếu Sư Tử Hống khen Như lai thì chỉ ở viên biệt, cho nên các giáo đều lìa tánh chấp. Chỉ ở chỗ phá cạn sâu khác nhau. Trong các kinh luận so sánh đây rất nhiều. Cho nên phá tánh này tuy ở Diễn môn, ba tạng thường quán nhân duyên sanh diệt. Đã phá sanh diệt cũng không có ba chấp tự, tha, cộng. Huống chi sanh diệt vốn phá tà không. Cho nên bốn giáo cũng có thể dùng chung. Nay trở xuống là chấp nói nhà nay dùng Long Thọ phá pháp, diệt khổ tập ở trước để thành hai khác nhau. Tánh phá tức tánh không, không y tức tướng không, hai bên không, phi nên nói Thường một, cho nên thấy được Trung Trí Bát-nhã. Kế là cho nên trở xuống là không tự sanh v.v… để đối bốn giáo. Y cứ nên giáo giáo đều phá bốn tánh, vì tùy nghĩa tiên muốn dùng bốn này mà nhiếp bốn kia, cho nên dùng bốn tánh đối bốn giáo gồm biết bốn câu nghĩa ý chỉ rất sâu kín. Cho nên trước sau văn dùng bốn cú này mà đối chung đối riêng. Giáo giáo đều bốn, gọi là đối riêng. bốn câu đối bốn gọi là đối chung. Lại biết bốn giáo nhân duyên khác nhau, cho đến bốn giáo tự nhiên cũng khác, đều ở một niệm một lúc cùng phá. Vì sao? Như ở cõi này sách tục có chấp nguyên khí mà sanh, tức là chấp tự, có chấp cha mẹ mà sanh tức là chấp tha. Có chấp do nguyên khí cho nên nhờ cha mẹ, tức là chấp cộng. Có chấp tự nhiên tức là Vô nhân. Cho nên Trang Tử chép: Thiên là vận, Địa là xứ, nhật nguyệt tranh chỗ nhau, Thục chủ họ trương, thục võng họ duy, Thục cư vô sự mà suy họ hành. Trang đã chẳng hiểu pháp duyên khởi mà cũng chẳng biết ai ở trời ai ở đất, ai suy trời trăng. Chẳng lường được nghiệp ấy, cho nên suy y báo mà thuộc tự nhiên. Lão Từ chấp thủ, tự nhiên vẫn mỏng. Như người chấp này là muốn so sánh phương Tây hơn kém cách nhau như trời vực. Cho nên biết cõi này hôn tục chấp tự nhiên, v.v… có nói mà không làm huống chi văn nay là chỗ chấp tự nhiên của người Viên giáo, cho đến tự sanh là chỗ chấp của người ba tạng giáo. Cho nên biết nghĩa khác mà tên đồng, phải khéo châm chước. Trong văn chỉ nêu trước sau, khoảng giữa y cứ mà biết. Lại quyển mười giải thích vua yếu kém quan cưỡp ép, v.v…, là chỉ lấy tự tha đều đối với hai giáo: nội giáo và ngoại giáo, như quyển bảy giải thích trong trợ đạo mà dùng sanh v.v… đối bốn giáo tiến. Chỉ vì tên sanh và nghĩa tiến đồng nhau, nhìn nay lại khác. Cho nên biết tùy nghĩa chẳng thể một tiêu chuẩn. Nay Ba tạng này đối với sanh sanh để làm tự. Người ba tạng chép: Cảnh thường sanh diệt đâu liên quan đến trí, cảnh nay sanh diệt gọi là cảnh Tự sanh, vô trí mà thôi, có sanh ắt có diệt, cũng chẳng do cảnh. Nay trí sanh diệt tự sanh trí. Lấy sanh chẳng sanh làm tha tánh, là người Thông giáo nói do trí Vô sanh chiếu cảnh Vô sanh là cảnh tha tánh, do cảnh Vô sanh phát trí Vô sanh là trí tha tánh. Như nói các pháp chẳng sanh cho nên Bát-nhã chẳng sanh, Bátnhã chẳng sanh cho nên các pháp chẳng sanh, lấy chẳng sanh sanh làm cộng tánh, là người Biệt giáo chép: Do vốn có lý thể làm tự, lại mượn duyên tu phương tiện làm tha, chân duyên hòa hợp sanh ra tất cả. Lại khi xuất giả do cảnh sở hóa cho đến đại nghiệp, trong ngoài hòa hợp mới lợi tha được. Lại do các pháp cùng tục trí hợp mới lợi tha được, vì chẳng sanh chẳng sanh làm vô nhân, là người Viên giáo chép: Không thể nghĩ bàn không phải cảnh, không phải trí, nếu chiếu, chẳng chiếu, chẳng tự thiên nhiên gọi là cảnh chẳng sanh. Nếu quán, chẳng quán trí thường vốn có, gọi là trí bất sanh.

Cảnh và Trí thầm hợp một, giả lập thành tên. Trong văn lược dẫn Thân tử, Tịnh Danh để chứng minh trước, sau, khoảng giữa phải dùng ba thừa vô thuyết để chứng minh Thông giáo. Bồ-tát Vô Ngôn để làm chứng Nói giáo. Trong mỗi câu đều nói khổ tập chẳng sanh. Bác bỏ tánh chấp trước có tánh chấp nên khổ tập thêm lớn. Vì vậy nay dùng pháp tánh mà quán, cầu sanh mà sanh, tự chẳng thật có. Cho đến cầu vô nhân chẳng sanh, chẳng sanh cũng chẳng thật có. Nếu đương phần thì phải giáo chứng lý vô sanh. Cho nên mỗi câu đều nói chẳng thể nói, tuy chẳng trở xuống là vì tha lại làm bốn cái mà nói, trong mỗi câu tất đều làm bốn nói. Tuy làm trở xuống là kết thành hai không. Nói như trước, là đủ như vừa đến mới theo. Nếu nói trở xuống là cho đến chính là chỗ tâm hành diệt. Cho nên Kim Quang Minh trở xuống là dẫn chứng. Kinh ấy bốn quyển thì quyển thứ ba có phẩm Tán Chỉ chép: Trí quang Bất khả nghĩ bàn, Trí cự Bất khả nghĩ bàn, Trí hạnh Bất khả nghĩ bàn, Trí tụ Bất khả nghĩ bàn, Trí cảnh Bất khả nghĩ bàn. Văn này nói chiếu. Kinh lại nói Quang-Cự-Tụ, chỉ là khen trí đủ đức mà thôi. Trí hạnh chỉ là trí dẫn hạnh. Trí cảnh chỉ là trí chiếu cảnh. Nói chung chỉ là ba thứ Cảnh, Trí, Hạnh mỗi thứ đều nói không thể nghĩ bàn. Nói Cảnh trí hạnh lại làm rõ lẫn nhau, tuy làm rõ nhau, mà cảnh hạnh phải do trí chiếu, trí dắt dẫn. Cho nên mỗi câu đều nói trí. Văn này là nói trí cảnh tức nhau, lại lược bớt hạnh, lý cũng phải đủ. Nếu phá trở xuống là xếp quyền thật. Đây là quyền thật Không thể nghĩ bàn. Như thế trở xuống là y cứ giáo để xếp đắc thất, để nói lên không thể nghĩ bàn. Nay đây trước y cứ Ba tạng giáo, tức trong mỗi giáo đều có bốn tánh từ nghĩa riêng. Vì sao trở xuống là giải thích Tam Tạng giáo, cho nên đối phàm phu mà nói có bốn tánh. Ba giáo dưới đều phải có. Văn không có là lược. Phàm có tánh chấp thì thuộc phàm phu, phàm phu có chấp thành tự hành thất, cho nên ba giáo sau đều y cứ tự hành mà phá tánh luận đắc. Lại hai giáo trước là Thánh, ở sau đồng phàm. Nếu theo hóa tha có bốn tất, vì hay có hóa tha nên gọi là đắc, xoay vần đối với nhau, cho đến Viên giáo cùng làm đắc thất. Biệt giáo chấp nhân duyên v.v… bốn thứ thành tánh lỗi, là Chư Phật Bồ-tát phó duyên lợi vật, nếu chấp phó cơ thì nói khác nhau, đều nói mình thấy nên thành tánh lỗi, người chấp này đều từ sơ tâm, cho đến hồi hướng mới dần không chấp. Đến trong Viên giáo nói giáo chứng đều chứng thật ý hơi khó hiểu. Người nhiều mê khiến Biệt giáo này nghĩa nó ngăn lấp. Cho nên nay ta mượn Dụng Địa luận giáo chứng hai đạo để nêu Biệt môn. Trong đó trước biết hai ý: Một là theo hạnh thì Địa tiền là giáo, Đăng địa là chứng. Vì sao? Vì Địa tiền ngưỡng tín thì Đăng địa hiện tiền, đâu có thân chứng lại còn cách biệt; Hai là nói: Vì Địa tiền nói trước sau đầu cuối thuộc giáo, vì sao? Vì như nói chân như bị hoặc che lấp, hoặc dùng mười độ để đối mười địa chẳng thâu nhiếp nhau. Hoặc nói: Phải lìa hai bên tu quán chân như. Hoặc nói Đẳng giác vào Trùng huyện môn. Hoặc nói năm địa tập học thế pháp. Hoặc nói Bát địa vào Vô công dụng, một vị Đẳng giác hoặc có hoặc không. dứt mười hai phẩm gọi là Diệu giác. Như thế các ví dụ chẳng chép hết. Đều là quyền thi để dẫn phẩm hạ làm phương tiện nhập địa. Vào địa tự chứng huyền môn tự mở. Cho nên nói Sơ địa tức Sơ trụ vào chứng đạo vận. Lại nói Sơ địa chẳng biết Bồ-tát Sơ địa giở chân hạ chân. Nếu nói theo lý thì danh tự quán hạnh còn tự biết viên, đâu có Sơ địa chẳng biết Nhị địa. Nếu nói vị dưới chẳng biết vị trên, viên cũng xoay vần lần lượt chẳng biết nhau, làm sao chỉ người Biệt giáo nên phương tiện. Văn nay không phải chuyên xét giáo hơn kém, chỉ còn thứ lớp và chẳng thứ lớp mê là còn rộng. Nếu đọa thuyền văn phải khéo hiểu giáo này chứng hai đạo thì Biệt môn sẽ nêu. Nếu y giáo tu hành càng phải khéo biết cho nên văn nay thường lược dụng. Nếu chẳng hiểu, thì sơ tâm nói lý hai thuyết khác nhau. Nếu chẳng biết không có đất đặt tâm. Như nói chính là sơ tâm biết lý. Hoặc nói lý đủ muôn đức đối đãi hạnh. Hoặc nói hiểu viên hạnh phải có thứ lớp. Hoặc nói: Lý có chẳng dùng các pháp như thế nói chẳng phải Biệt, chẳng phải Viên, chẳng phải Thông chẳng phải Tạng. Giáo tướng chẳng nói thỉ làm suy? Vì sao trở xuống là giải thích giáo chứng. Không tự niệm trở xuống là chánh nói tướng tự tha của Viên giáo để nói văn nay không mất hiển thể.

Kế trong nhiếp pháp trước nói ý đến lập nghi, kế nay thì trở xuống là giải thích trung. Trước giải thích chung, chẳng vì danh lược mà khiến thể chẳng khắp. Vì sao trở xuống là giải thích. Chỉ quán đều dùng một dụ mà dụ, như đâu được một huyệt mà trị tất cả bệnh, như được châu như ý gọi là châu vương. Nên Đại Kinh quyển ba mươi mốt nói: Cũng như phương thuộc điều trị các bệnh. Đối với một tên trở xuống là nói vô lượng nghĩa, hoặc đối với một nghĩa mà nói vô lượng tên. Vì sao một tên mà nói vô lượng nghĩa? Như Đại Niết-bàn cũng gọi là vô sanh vô xuất, vô tác qui y, hang nhà giải thoát, đèn sáng không sợ, bờ kia v.v… Đại Phẩm trở xuống là đại chúng trung. Đã nói tất cả đều học và tất cả vào trung. Phải biết Chỉ quán nhiếp tất cả pháp như đã dẫn ở trước. Nay lại trở xuống là khai chương giải thích riêng. Thật thể Chỉ quán xem là năng nhiếp, sáu thứ như sự v.v… xem là sở nhiếp, sở thì theo năng nên nói nhiếp pháp. Tuy nói thiên viên thứ lớp, chẳng thứ lớp v.v… chỉ nói pháp sở nhiếp thật thể khắp, há sở nhiếp khác nhau khiến thể phân chia. Lại như Thành Luận ba tạng một môn. Trong phẩm Chỉ Quán trước đặt câu hỏi rằng: Trong kinh Chư Phật bảo các Tỳ-kheo tất cả đều phải tu hành hai pháp, đó là Chỉ quán. Hỏi: Tất cả phải tu, đâu chỉ hai pháp? Đáp: Chỉ là định, quán là tuệ. Tất cả pháp thiện hai thứ này nhiếp hết cho đến tán tâm, văn tư v.v… các tuệ cũng ở trong ấy, vì hai pháp này biện được đạo pháp. Vì sao? Chỉ là hay ngăn kết, quán là hay dứt diệt. Chỉ như tay nắm, quán như dùng cái liềm. Chỉ như quét sạch, quán như dẹp bỏ. Chỉ như lau bụi dơ, quán như nước trong. Chỉ như nước ngâm, quán như lửa nóng. Chỉ bác bỏ tâm trạo cử, quán khởi thì vọng tâm mất. Cho đến nhiều nghĩa không thể ghi hết. Trong đây nêu chương lý cho đến giáo. Đủ Y luận ấy sáu lớp nghĩa môn. Tuy Đại tiểu khác nhau hay nói các tên v.v…, tên chung nghĩa riêng tức là ý này. Người khác bảo Thành luận nghĩa chung Đại thừa, nay hỏi vì sao Hoa Nghiêm, Đại phẩm, Đại tập sanh khởi văn tướng rất dễ thấy. Từ sự lý trở xuống là lược bày vừa nêu sáu chương nhiếp nhau. Lược dùng sự v.v… nhiếp sáu chương. Trước sự tức nhiếp năm chương, lý chỉ là lý. Giải tức là trí, vị chung nhân quả. Nhân lại nhiễm lý hoặc, trí hạnh giáo tha chỉ tha, các khác đều là tự, tự hành hóa tha, nhân quả nhiếp hết sáu chương này. Văn sáu nghĩa hai đều có thứ lớp và chẳng thứ lớp. Ý chỉ ở một đồng thuộc về viên đốn chỉ quán nhiếp. Một dĩ trở xuống là giải thích văn trước là giải thích riêng. Nghĩa phải thứ lớp và chẳng thứ lớp. Văn kế nhiếp nhau, chỉ chẳng thứ lớp nghĩa sẽ khai hiển. Trong giải thích riêng trước nói lý. Lý chẳng ngoài hai, chỉ là quyền thật. Khai làm bốn là y cứ giáo Năng thuyên, nay y cứ Sở thuyên cho nên chỉ có hai. Dẫu tùy giáo tướng cũng chẳng ngoài hai. Kế trong nhiếp hoặc cũng y cứ hướng lý để nói hoặc. Cho nên y cứ mê ở hai lý quyền thật để nói hoặc thể chung riêng khác nhau. Gốc mê lý gọi là vô minh, vô minh xem là nhân duyên đầu, cho nên hoặc chung riêng đều y cứ nhân duyên. Trước giải thích mê mờ quyền lý. Trong mười hai duyên nói độc đầu, là trong Bà-sa nói: Bất cộng vô minh chẳng đi chung với sử. Hỏi: Cũng có bất cộng trạo triền v.v… chăng? Đáp: không. Người bảo đã có bất cộng vô minh, cũng phải có bất cộng trạo v.v…, tất cả nhiễm đều có vô minh. Chỉ có vô minh có bất cộng riêng. Cho nên trong Pháp Hoa dùng con rít mà dụ cho Độc Đầu, dùng con chồn dụ cho tương ưng, đây chỉ dụ cho hai si khác nhau. Chẳng thấy lại có độc đầu trạo v.v… được các vui sướng. Là mười hai trở xuống, là cột mười hai để làm ba đường, mười hai nhân duyên trôi lăn sanh nhau, cho nên ba đường cũng trôi lăn sanh nhau. Đại luận, mười hai nhân duyên, luận Bà-sa, kinh Thập Địa v.v… đồng nhau. Câuxá nói ba phiền não, hai nghiệp, bảy sự cũng gọi là quả. Lược quả và lược nhân do trung có thể so hai, từ hoặc sanh hoặc nghiệp, từ nghiệp sanh sự, từ sự hoặc sanh. Có lý chỉ đây. Bốn câu đầu dùng lược nhiếp rộng. Cho nên luận nói: Phải biết duyên khởi tuy có mười hai mà hai ba là tánh. Ba là hoặc nghiệp sự, hai là nhân quả. Trong đó lại có hai: Hai câu trước là nói nhiếp nhau, hai câu sau là giải thích ngại. Ngại rằng: Vì sao quá khứ, vị lai lược mà hiện tại rộng. Giải thích rằng: Do trung có thể dùng so biết hiện tại gọi là Trung. Kế từ hoặc sanh, hoặc tức là ái sanh, thủ từ hoặc sanh, nghiệp tức là thủ sanh hữu và vô minh sanh hành. Từ nghiệp sanh sự tức là hành sanh thức và có sanh sanh, từ sự sự hoặc sanh, tức là từ sự sanh sự, tức thức sanh danh sắc cho đến sanh thọ. Từ sự sanh hoặc tức thọ sanh ái. Thành Luận nói trở xuống là kế dẫn luận chứng tướng ba đường. Hỏi: Ba chướng ba đường chỉ có khổ và báo hai tên thì khác. hai thứ Nghiệp, phiền não thì đồng là sao? Đáp: Khổ là khổ báo, cũng báo tức là khổ. Cho nên biết tên khác mà nghĩa đồng. Hỏi: Ba tên đã đồng, hai tên chướng và đạo khác nhau, là sao? Đáp: Ngăn che các Thánh đạo nên gọi là chướng. Xoay vần chung nhau nên gọi là Đạo, đều từ công năng lỗi lầm mà đặt tên. Nay mười hai luân là ba đường, năng thông và trôi lăn nghĩa đồng nhau. Lại cùng Thành Luận cũng đồng. Luận tên Nghiệp đạo, nghiệp phải dùng phiền não làm năng chung, phải lấy khổ này làm sở chung. Văn tuy nêu nghiệp, nghĩa đã đủ ba, nên được dẫn làm chứng. Cho nên luận Phẩm mười Bất Thiện Nghiệp Đạo hỏi rằng: thế nào là Nghiệp đạo? Đáp: Ý tức là nghiệp ở trong hạnh, nên gọi là Nghiệp đạo. Đi trước sau ba trung, đi sau trước bảy trung, ba là nghiệp chẳng phải đạo, bảy vừa là nghiệp vừa là đạo. Đây là chép đủ luận văn. Người chưa thấy luận chỉ thấy tiếp sau mười hai duyên thì thành mười hai nhân duyên mà giải thích rất chẳng thật có. Nay trước nêu luận văn kế hội ba đường. Luận phẩm tuy nêu tên gọi là phẩm nghiệp Đạo. Nay văn vẫn dùng ý chung ba đường. Ý tức là nghiệp, là ý địa suy nghĩ. Hành giả trong đó, hành là thân v.v… nên biết thân v.v… là ý làm ra gọi là Nghiệp đạo, hạnh trước v.v… là nói khởi trước sau, đem giáo mà nêu đối khởi trước sau. Văn nêu thứ lớp thân nghiệp là trước, ý ba ở sau. Nếu khởi thứ lớp ý ba ở trước, thân nghiệp ở sau, trước khởi ý địa, nên nói tiền hành, văn nêu ở sau nên nói hậu ba. Sau động thân nghiệp nên nói hậu hành. Văn nêu ở trước nên nói tiền bảy. Chữ trung chỉ là giúp câu mà thôi, nói ở đây có bảy và ba trung mà thôi. Cũng như năm ấm cùng nhau khởi thô tế. Bốn đế nhân quả cũng giống như thế. Song ý luận văn ba là nghiệp chẳng phải đạo, chẳng phải thân nghiệp, vừa là nghiệp vừa là đạo, hai nghiệp thân nghiệp là ý nghiệp làm. Lại gọi là Đạo. Năng văn nghĩa lập ý là Năng chung, cũng được gọi là Đạo. Cho nên ba sau chung đến thân nghiệp, nên nói có thể chung bảy. Bảy trước là nghiệp lại là ý hạnh. Cho nên luận rằng vừa là nghiệp vừa là đạo, văn nay trước bảy có lập hai nghĩa: Một là sở hành như ý luận văn, nên nói là nghiệp lại là đạo; hai là Năng chung, chung đến đời sau nên lại gọi Đạo. Ý ba tức là phiền não đạo. Hành ở thân nghiệp tức phiền não chung nghiệp. Nghiệp đến đời sau tức nghiệp chung khổ, cho nên biết chánh dụng thành luận ba nghiệp để giải thích ba đường, dẫn luận giải thích, thành ý ấy ở đây.

Khiên liên v.v… là Tăng Nhất quyển bốn mươi nói: Phật tự xem bệnh các tỳ-kheo, trách các tỳ-kheo rằng: Các thầy vì cái gì mà xuất gia, vì sợ vua hay vì muốn bỏ mười hai khiên liên. Ba đời trói buộc nên gọi là khiên liên. Mười hai luận v.v… và văn Đại Anh Lạc xoay vần chẳng cùng, cũng như bánh xe. Cột trói trở xuống là giải thích tên. Ba đời trở xuống là kết thành nhiếp pháp. Nếu mê thật lý trở xuống là kế nói ngoại giới mười hai nhân duyên trước đối tiểu nói về khác, giới ngoại cũng có tương ưng độc đầu, cũng cùng giới ngoài các sử kiến tư gọi chung là tương ưng. Ngay đó bày lý gọi là độc đầu. Nói tương ưng, là như nói từ đây trở về trước đều gọi Tà kiến. Lại Đẳng giác trở lại tu lìa thấy thiền nầy tức là giới ngoại đồng thể kiến, hai cõi Phương Tiện, Thật Báo năm trần là giới ngoại tư. Như kiến tư này phải có vô minh gọi là tương ưng. Kế y luận mà giải thích tướng, cho nên trong văn nay dẫn luận Thật Tánh. Điên đảo tức là vô minh độc đầu, điên đảo là tương ưng, tức hai vô minh trong ba thứ ý sanh thân, ba thứ đều gọi thân ý sanh, là kinh Lăng-già, Đại Tuệ hỏi Phật thế nào gọi là ý sanh. Phật nói: Thí như ý đi nhanh chóng vô ngại gọi là ý sanh. Đây là từ thí dụ nên nói sanh thân, ví như ý đi. Kinh ấy hai nghĩa mà giải thích tên chung. Trước nói như nói ý thấy trước ngoài mười muôn do-tuần, niệm niệm nối nhau nhanh chóng đến đó. Kế nói Tam-muội như nhà ảo thuật nhớ bổn nguyện sanh vào các Thánh. Trước nói chỗ nhớ, kế nói nhớ nguyện, hai nghĩa đều là ý nhớ sanh gọi là ý sanh. Nay Sơn Môn ta tác ý sanh gọi là ý sanh. Kinh tức nói nhớ, nhớ là tác ý, cho nên nghĩa đồng. Kế quyển bốn giải thích ba tên riêng một, phẩm Vô Thường nói ý sanh ba thứ: Một là vào Tam-muội lạc ý thành thân, cũng gọi là Chánh thọ, tức ba – bốn – năm địa tâm vắng lặng chẳng động; hai là giác pháp tự tánh ý thành thân, tức là Bát địa vào khắp cõi Phật, nên dùng pháp làm tự tánh, ba thứ loại đều sanh vô tác ý thành thân, tức là liễu Phật chứng pháp thành cùng sanh đều nói theo quả. Đây là y cứ Thông giáo cho đến Biệt tiếp dọc phân ra thứ vị. Huyền Văn ở đây đều nói ở ba giáo trước, để chung các giáo mà giải thích nghĩa. Đã nói Bát địa là giác pháp tự tánh, xét biết văn đầu tuy nói Ngũ địa cũng gồm Thất địa tức vào không vị, tám vị tức sẽ vào giả vị. Chủng loại đều sanh, nói Liễu Phật chứng pháp, tức là vào trung, thuộc chủng loại Phật, chưa hẳn tự chứng. Nếu Tiếp vào Biệt Thất địa về trước vào Biệt mười trụ. Bát địa trở xuống là tiếp vào mười hạnh. Biết Phật chứng pháp là vào hồi hướng đều không phải chứng đạo, nên gọi ý sanh. Vẫn là tên (gọi) chẳng gồm tiếp, là cùng kết vị này nên đều nói địa. Tam-muội lạc ý còn nhiếp người Nhị thừa ba tạng, huống chung với Nhị thừa. Huyền văn nay xếp kinh Lănggià vị ý sanh, là lấy kém mà nhiếp hơn. Cho nên chỉ Nhị thừa nhiếp lấy Thông Biệt, nếu đối Biệt vị là chưa nhiếp chứng đạo. Cho nên chỉ từ Địa Tiền mà xếp vị. Cho nên biết nay xếp đồng với ý kinh. Văn kinh chưa nhiếp Biệt vị là khác. Nói năm thứ là y cứ khai hợp mà thôi, tên chỉ có ba nghĩa mà khai thành năm. Ở Tam-muội Chánh Thọ khai ra ba tạng Nhị thừa ở trong giác pháp khai ra Biệt giáo mười hạnh. Nếu làm bảy thứ hai giáo Nhị thừa đều khai làm hai. Mười Trụ của Biệt giáo nghĩa vẫn đồng với Thông giáo vào không. Cho nên văn sau nói: Phàm có nhiều thứ, nếu luận trên chín người sanh phương tiện thì lấy Viên giáo sáu căn thanh tịnh vị nhiếp vào ba thứ ý sanh thân, cũng phải dễ hiểu. Vì đều chưa dứt vô minh, chưa sanh Thật báo. Huyền văn chẳng nói nhiếp vào ba là vì quán hơn nên lại bỏ chẳng nói. Lại tên ý sanh phải ở giáo đạo. Ba thứ ý do dời v.v… là nhân dời quả đổi từ hạ sanh thượng. Bó đây trở xuống là y theo luận bó thành ba đường. Đây mười trở xuống là nói đồng khác. Hoặc này trở xuống là kết thành nhiếp pháp, rốt ráo như văn. Trong phân biệt nói và Bồ-tát v.v… Thông giáo đều lấy mười trụ của Biệt giáo. Trần sa tuy chẳng nhuận sanh v.v… là giải thích nghi. Nghi rằng: Giới ngoại nhuận sanh y cứ vào vô minh, đã chẳng do trần sa thì đâu phải trước dứt. Giải thích rằng: Vì chướng hóa đạo nên phải dứt trước, vì chân hóa phương tiện nên phải dứt trước hoặc này, dứt rồi mới được tiến tu Trung quán, phá Thật báo trung tương ưng độc đầu trần sa là nhánh, vô minh là gốc, nói sâu vị sau nên nói đều bỏ. Cho nên biết quán giả nhiếp được trần sa. Trong ba thứ sanh thân, người trước đã cõi ấy dứt được trần sa, nên nói chánh nhiếp. Phá trần sa rồi thì sẽ tiến phá vô minh nên cũng gọi là nhiếp. Nếu nói khác thì vô minh đầu cuối thuộc về Trung quán, nếu nói hai người Biệt, Viên vì y cứ nhiếp nhau mà nói nên lấy người Viên. Trong đây y cứ ý luận ở chủng loại giác pháp hai người tên là Biệt hoặc nghĩa gồm vô minh, nên nói bị phục. Nếu nói riêng Trần Sa giới nội đã dứt, đâu cần nói phục. Cho nên ở giới ngoại chỉ tu Trung quán mà phá vô minh ấy, nên nói ba đường. Từ đoạn vị mà nói nên nói Sơ địa. Đã chỉ nói địa, nên biết ý sanh lại nói quyền vị. Nếu chẳng như thế thì há viên sáu căn, lại vào Biệt địa. Hai mươi Trí huyền nghĩa Trí diệu mà nêu, tức là ba tạng có bảy: Một là Thế trí, hai là Ngoại phàm, ba là Nội phàm, bốn là Bốn quả, năm là Bích-Chi Phật, sáu là Bồ-tát, bảy là quả Phật. Thông giáo có năm: Một là Bốn quả, hai là Bích-Chi Phật, ba là Bồ-tát Nhập Không, bốn là Bồtát Xuất Giả, năm là quả Phật. Biệt giáo có bốn: Một là mười tín, hai là ba mươi tâm, ba là mười địa, bốn là sáu căn, ba là bốn mươi tâm, bốn là quả Phật. Văn ấy ba Phật đồng nêu ở sau, đồng là có giáo không người Thật quả lâu viên mãn. Như thế mà nêu thì lại y cứ vào phần lớn chưa được xong xuôi. Cũng thuộc ba quán, là ba quán có chung có riêng. chung là Tạng chung mười trí là thuộc không, Biệt giáo thuộc giả, Viên giáo thuộc trung. Biệt là tạng thông, Nhị thừa Nhập Không Bồ-tát của Thông giáo, Thập Trụ Bồ-tát của Biệt giáo, cho đến hai Phật trí của Tạng Thông cũng là thuộc về quán không, ba tạng Bồ-tát trí, Thông giáo xuất giả Bồ-tát trí, Biệt giáo hạnh hướng Bồ-tát trí đều thuộc về quán giả. Sơ địa trí của Biệt giáo trở xuống thì thuộc về Trung quán. Đây thì thứ lớp thuộc ba quán. Viên giáo trí tức là thuộc một tâm ba quán. Nếu nói từ một lượt cứ vị thì Thông giáo sáu căn trí bảy tín về trước cũng thuộc quán không. Tám tín trở lên cũng thuộc quán giả Sơ trụ trở lên chỉ thuộc Trung quán. Ba giáo trí trước nếu khai quyền hiển thật lại không thứ lớp. Nếu được ý này, một kỳ Phật giáo nói các trí đều là thuộc ba quán. Cho nên Chỉ quán nhiếp tất cả trí, kế nhiễm tất cả hạnh, chẳng ngoài chánh trợ. Cho nên phải bốn giáo đều nói hai hạnh Tỳ-bát-xá-na v.v… là dẫn chứng chánh trợ. Đại Kinh quyển hai mươi bảy nói: Nếu nói Tỳ-bát-xá-na phá phiền não, vì sao lại tu Xa-ma-tha? Nay nói lấy định trợ tuệ, lại nêu phải trợ, cho nên phải dẫn, thật ra định tuệ đều là chánh tu. Từ v.v… sự quán mới gọi là trợ, bốn giáo đối nhau đều chung làm trợ trước giáo sau. Tự hành quán nhiếp hạnh bốn giáo. Chánh trợ trở xuống là nói trí dắt hạnh, nên hai giáo trước bó làm không hạnh, Biệt giáo là giả, Viên giáo là trung, tạng chung như văn trong quán giả nói tục lý, là duyên ở Tục đế Hằng sa Tam-muội. Nói Tục sự là duyên chúng sanh bệnh và các việc thần thông lợi sanh. Trong Trung Quán nói đều là Đại thừa, đủ như Đại phẩm rộng thừa phẩm, ở trong đó khéo chọn tướng chung riêng mới phải văn nay. Mười hai nhân duyên tức là Phật tánh, tức ba Phật tánh. Đại Kinh quyển hai mươi lăm nói: Vô minh có ái là hai trung gian tức là Trung đạo. Như thế Trung đạo hay phá tất cả sanh tử, cho nên phải phá hai tử ba đường thành ba Phật tánh. Đủ như thứ chín y cứ mười hai duyên nói trong mười thừa. Từ lại nữa trở xuống là nói rộng hành tướng chánh trợ của các giáo. Bắt đầu từ hữu lậu, cuối ở viên cực. Tìm văn sẽ thấy.

Trước nói sự thiền, kế bốn niệm trở xuống là nhập pháp không hành, bốn ý chỉ, chỉ là bốn niệm xứ. Trong kinh Nhân Vương gọi là bốn ý chỉ. Bốn cảnh chỉ tâm nên gọi là Định. Trong ba mươi bảy phẩm đến Ấm Cảnh mười thừa có nói. Trong bốn đế thì ba là hữu vi. Khổ tập là hữu vi hữu lậu. Đạo đế là hữu vi vô lậu. Tuy lậu, vô lậu mà chung thuộc hữu vi. Mười sáu hạnh, luận văn nói rộng nay lược nêu hành tướng. Khổ trở xuống bốn hạnh là vô thường, khổ, không, vô ngã, quán ấm duyên sanh, niệm niệm sanh diệt nên là vô thường. Bị vô thường ép bức nên khổ, tướng một tướng khác chẳng thật có nên không, ngã ngã sở chẳng thật có nên vô ngã. Tập trở xuống có bốn tức là tập nhân duyên sanh, hữu lậu hòa hợp hay vời lấy quả khổ, nên gọi là tập quán ở sáu, nhân sanh ra quả khổ, nên gọi là nhân. Quán ở bốn duyên sanh ra quả khổ nên gọi là duyên, lại chịu sau có khổ, nên gọi là sanh. Diệt trở xuống bốn hạnh, tức là tận diệt diệu ly, tất cả khổ hết nên gọi là tận các phiền não, diệt hết nên gọi là diệt. Tất cả đệ nhất nên gọi là diệu, vượt qua sanh tử nên gọi là ly. Đạo trở xuống bốn hạnh tức đạo chánh tích thừa. Đến được Niết-bàn nên gọi là Đạo, chẳng phải pháp điên đảo nên gọi là Chánh, chỗ bậc Thánh đi nên gọi là Tích, (chở) đến ba thoát nên gọi là thừa, tên kinh luận mới hơi khác với đây. Xưa nói không thì mới nói Bất tịnh. Xưa nói tận thì mới nói tịnh, xưa nói chánh thì mới nói như, xưa nói tích thì mới nói hạnh, xưa nói thừa thì mới nói xuất. Các tên kia đều đồng, đại ý rất dễ thấy. Bà-sa chép: Khi khổ cũng thấy vô thường, không, vô ngã, vì sao chỉ nói khổ. Đáp: Cũng phải nói thấy vô thường v.v… Chẳng nói là vì có nghĩa khác. Lại nữa nếu nói khổ tức là nói các thứ kia, lại nữa, khổ chỉ ở khổ, còn vô thường ở khắp ba đế, không và vô ngã thì chung tất cả pháp. Ba đế kia trở xuống là hành tướng đều có phân biệt cũng như thế. Bốn hoằng trở xuống là hành pháp nhập giả, mười tám pháp Bất cộng thấp nhất là trợ đạo. Nay chỉ đối đương mà thôi. Đã đối chín pháp, chín pháp dư chín pháp gọi là Vô dị tưởng, đều là Định tâm, đều là Tri dĩ xã, đều là chỉ nhiếp. Dục tinh tấn niệm tuệ giải thoát giải thoát tri kiến không giảm, đều phải quán nhiếp ba Tammuội, ba giải thoát, đến quyển bảy sẽ nói. Sáu độ như tùy tự ý và nói trong trợ đạo. Cho đến trở xuống là hành pháp nhập trung. Chín thứ Đại thiền đều ở Địa trì, trong pháp giới thứ lớp đã lược giải thích. Y theo đó mà nêu danh số, một tự tánh thiền ở Văn tư trước một tâm tu Chỉ Quán, hoặc pháp đồng loại với Chỉ Quán.

 

 

PHẦN 4

– Hai là tất cả thiền, trong đó có hai: Một là thế gian, hai là xuất thế gian. Thế và xuất thế có ba tên: Một là Hiện pháp lạc, hai là Xuất sanh Tam-muội công đức, ba là Lợi ích chúng sanh. – Ba là cái khó của thiền có ba: Một là bỏ thiền mà sanh cõi Dục là khó; hai là đủ tất cả công đức hơn Nhị thừa là khó; ba là y thiền mà được Bồ-đề là khó. -Bốn là tất cả các môn có bốn tức là bốn thiền, Năm là Thiện nhân thiền có năm, tức là bốn vô lượng và bất vị ở trước (không mê chấp vị). – Sáu là tất cả hạnh thiền có mười ba v.v… – Bảy là trừ não thiền, có tám. – Tám là thiền đời này đời kết quả, có chín. – Chín là ly kiến thiền có mười, một trăm lẻ tám Tam-muội Lăng-nghiêm đứng đầu, tên lấy từ Đại phẩm Đại luận giải thích rộng. Mười tám không quyển năm giải thích rộng. Mười dụ, kệ nói huyễn, diệm, trăng, không, tiếng vang, thành, mộng, ảnh, tượng, hóa có lược giải ở sau. Và năm trăm Đà-la-ni, Văn Trì đứng đầu, tên ở Đại phẩm, Đại luận cũng giải. Ở đây nhiếp tất cả vị, trong ý đến trước nói vô vị. Muốn nói về có trước phải nói không. Phàm kế vị là xuất từ tâm Thánh, tâm Thánh vốn vắng lặng, vị kế sao bày. Đậu vật căn duyên thềm bậc đồng khác. Tự không phải tuyệt vị cực Thánh đâu thể xếp ở các thứ sau. Cho nên trước nói lý vô vị, kế mới y cứ sự mà nói các vị. Lại vô cớ y cứ chân có tức nhờ tục. Chân tục chẳng hai nên trước nói chân. Cho nên Lăng-già quyển bốn Phật nói phẩm tâm rằng trong nghĩa bậc nhất không có thứ lớp. Văn nay từ nghĩa nên nói vắng lặng chân như. Lại trong kệ văn ở dưới nói: Mười địa là mười, Sơ địa là tám, thứ tám thì là bảy, bảy cũng lại là tám, thứ hai là thứ ba, thứ tư là thứ năm, thứ ba là thứ sáu, không có thứ nào chỉ là kinh văn bốn quyển. Các thứ khác đã dẫn đều là văn quyển bảy. Kinh nói vô vị chỉ một văn này. Trên dưới văn đều y theo thứ vị. Nhưng nói nhiều về Thông Biệt mà ít nói Tạng Viên. Nếu nói Trí Hạnh thì chung đủ bốn giáo. Lấy bộ Phương Đẳng mà chê nhiều Tam Tạng, vị nghĩa lại ít. Phải biết Lăng-già y cứ vào viên lý mà nói vô thứ vị, y cứ sự chẳng phải không. Dẫu nói viên sự nhiều là giới ngoại pháp môn tương tức. Cho nên trong kinh Viên Vị lại ít, riêng trong tựa kinh ấy Thế tôn thọ thỉnh khi vào thành Lăng-già đã dùng thần lực làm vô lượng núi báu, núi đều có Phật, trước mỗi Phật đều có La-sát và chúng hội, mười phương cõi nước đều hiện trong đó. Đây hợp với Tịnh Danh, bởi hiện biến nào có khác, còn chưa kịp thỉnh Bát-nhã mười phương, đều gọi là Thích-đề-hoàn-nhân. Nói thêm đều gọi Thiện Hiện Thân tử xét biết bộ Phương Đẳng ấy nói. Thứ vị đã thế, pháp tướng cũng phải đủ bốn, cũng thiếu ba tạng, ý như vừa nói tức như La-sát Vương bổn cung tư Phật. Phật nói các pháp huyễn hóa tức là Thông giáo, phát được gốc lành lìa tâm ý thức, vào Như-lai-tạng tức là Biệt viên. Nếu theo ý này thì ví dụ kia sẽ biết. Riêng văn của tựa nêu Viên còn thiếu. Xét biết chính nói nghĩa viên không nhiều. Cho nên trong phần Chánh tông, Đại Tuệ hỏi rằng: Tịnh tất cả chúng sanh tự tâm hiện lưu là tiệm hay đốn? Phật nói đó là tiệm chẳng phải đốn. Văn dưới tuy nói Phật tịnh chúng tâm hiện lưu là đốn hiện tất cả. Đây là nói tiệm cực thì nói là đốn, tức riêng vị Diệu giác mà thôi huống chi văn lập năm thứ chủng tánh, nghĩa là Phật, Bồ-tát, Thanh Văn Bất Định Vô tánh, vì chưa khai quyền các tánh còn cách, đâu đồng Pháp Hoa bại chủng được thọ ký, huống chi năm pháp và ba tự tánh tám thức hai vô ngã hoàn toàn là nghĩa riêng, đâu được chấp một lời không có thứ vị ư? Lại Đại thừa trở xuống là nói có thứ vị, vừa nói vô vị cũng là Đại thừa. Nay lại nói có, nên nói lại. Bởi vì trở xuống là hòa hội có không. Như trước đã nói chưa chứng vô vị không thể nói vị. Lại ngại người ngu chấp riêng vô vị. Cho nên kết rằng thứ vị hiềm gì. Nếu chiết trở xuống là chánh nói thứ vị các giáo. Trước ba tạng nói bảy hiền bảy thánh, bảy hiền tức là bảy phương tiện, bảy thánh tức là tính hạnh pháp hạnh, Tín giải kiến đắc thân chứng thời giải thoát bất thời giải thoát, hai mươi bảy Hiền thánh, là khai sơ quả hướng làm ba tức là tín hạnh, pháp hạnh, vô tướng hạnh và sơ quả làm bốn, năm là quả hướng thứ hai, sáu là quả thứ hai, bảy là quả hướng thứ ba, tám là quả thứ ba. Trong quả này lại khai làm mười một tức là Trung sanh, Hành bất hành, Lạc định lạc tuệ, Chuyển thế hiện, Tín giải kiến đắc thân chứng và bảy thứ trước là học nhân mười tám, khai vô học là chín, tức là Thối hộ, Trụ tư, Tử bất thối, Tuệ giải thoát, Câu giải thoát bất hoại pháp. Câu-xá nói: Thế tôn nói học nhân mười tám tức là bốn hướng ba quả Tín pháp hạnh, Tín giải kiến đắc nhà nhà một gian năm hàm tức là Trung sanh, Hạnh bất hạnh thượng lưu vô học chín, tức là Thối hộ, Tư trụ, Đạt bất động, Bất thối tuệ giải thoát Câu giải thoát, hai mươi bảy tên gọi này là ruộng phước. Hỏi: Duyên gì tự chứng chẳng nằm trong số ấy. Đáp: ba học Vô lậu là nhân của bậc Thánh, Trạch diệt Niết-bàn và quả của bậc Thánh, Diệt định hữu lậu không phải y nhân nên không dự vào số ấy. Muốn hiểu rõ xin tìm Bổn luận. Trung A-hàm quyển bốn mươi, Trưởng giả hỏi Phật: Ruộng phước có bao nhiêu? Pháp đáp đồng với Câu-xá. Hai môn kia đều có luận, cũng phải có vị. Nay thiếu chẳng nói ba thừa cộng vị như sau trong thứ vị mà nói. Trong Thông giáo đã không có bốn môn luận bộ khác nhau. Cho nên chỉ y kinh mà nêu cộng mười địa. Kế là biệt vị, cũng như Lănggià Bồ-tát Sơ địa là pháp thêm vào, trăm ngàn muôn kiếp tu tập các gốc lành dần vào các địa đế, địa Pháp Vân ngồi hoa sen lớn. Nay văn chánh dùng Anh Lạc nêu các vị bất đắc ý thành ba mươi tâm v.v… sự chẳng được rồi lập bày giáo đạo, quyền tiếp vật cơ, chẳng phải bổn ý của Phật. Ý ở Sơ địa Trung đạo thật tướng cũng ở Địa tiền phục hoặc, sáu cộng bảy bằng mười ba đều đồng Hoa Nghiêm bác bỏ là tà. Năm hành, đây là bắt đầu từ Huỳnh Đế cảm huyền nữ tinh tinh mà nói năm hành này. Bạch Hổ Thông nói: Hỏa là Dương tôn, thủy là Âm ty, cây là thiếu dương, kim là thiếu âm, thổ là đại bao, cho nên hai âm ba dương. Tôn phối với thiên, thủy là duy, nuôi dưỡng muôn vật. Cây là xúc, là xúc động muôn vật. Hỏa là hoa tức biến hóa muôn vật. Kim là cấm, tức cấm khởi đầu. Thổ là ói ra, là ngậm muôn vật. Cho nên muôn loại đều thuộc năm hành. Sáu giáp, giáp là đầu một giáp năm hành, một hành hai ngày, sáu giáp sáu mươi ngày. Trong một năm giáp trải sáu lần, hành ba mươi sáu lần. Bạch Hổ Thông nói: Giáp có mười can, thời có mười hai. Nói can là số, giáp là đầu muôn vật, như giáp chưa khai, ất là co lại. Như rồng cuộn chưa muốn ra. Bính là minh, tức là muôn vật sáng. Đinh là cương, mậu là thạnh, kỷ là khởi, canh là canh, tân là thỉ (bắt đầu). Nhâm là nhậm vận, quí là đô. Nói mười hai thời, tý là từ, sửu là sửu, dần là diễn, mẹo là mậu, thìn là chấn, tỵ là khởi, ngọ là trưởng, mùi là vị, thân là thân, dậu là thâu, tuất là diệt, hợi là hài. Can và thời này cũng gồm thâu tất cả cho nên nói. Cho đến thành nhuận độ số v.v… chẳng phải điều ở đây nói. Rộng như trong luật lịch. Âm dương là kinh Thái Huyền nói: Doanh đại công, sáng muôn vật gọi là Dương, sâu kín không thể lường gọi là âm. Dịch nói một âm một dương gọi là một Đạo. Âm dương chẳng lường gọi là Thần, tháng năm ngày giở v.v… cho đến năm hành, tám quái đều thuộc về âm dương. Cho nên pháp âm dương bày khắp thế gian, ý nghĩa bất tận. Bát quái là Chấn, đoái, ly, khảm, càn, khôn, cấn, tốn. Một quẻ có sáu hào, hào là biến đổi thích thời, lại hào là hiệu, tức là khí âm dương. Dịch nói: Quái một dùng tượng ba mươi có tám biến mà thành quái. Năm kinh, Bạch Hổ Thông nói: Khổng Tử gặp Chu Đạo Lăng Trì từ Vệ trở về Lỗ để định năm kinh mà làm đạo. Lễ Ký Kinh giải rằng: Ôn nhu đôn hậu là thi giáo, Sơ biết chung xa là thư giáo, Quảng bác dịch lương là (nhạc) giáo, Khiết tịnh tinh vi là Dịch giáo, Cung liễm khiêm kính là lễ giáo, thuộc từ tỷ sự là Xuân Thu giáo. Nay gọi Lễ Nhạc Thượng Thư Thi Dịch Xuân Thu. Có người gọi là truyện. Lễ có ba, tức là Chu Lễ, Nghi Lễ, Lễ Ký. Truyện có ba, tức là Công Dương, Cốc Lương, Tả Truyện, nên nói chín kinh. Tử là trăm nhà Hiền triết. Sử là Sử vắng lặng các nước, cho nên dùng bốn thứ để gồm nhiếp tất cả sách, tức là kinh Sử Tử Tập. Tập là các sao chép các bậc Hiền lương xưa nay, như loại Ngự Lãm. Nay vì lược biết Thế pháp đồng khác, chẳng phiền nêu rộng, ý ở biết chung đều từ tâm khởi. Vì sao trở xuống là nói giáo xuất thế hai luận khác nhau. Văn đầu có dụ có hợp, đủ như quyển một đã dẫn Hoa Nghiêm. Kế trong Không Kinh dụ gồm bảy giáo trong tám không bí mật, đủ như trước khai chương, sau phân biệt. Kế từ quán tâm nhân duyên, dưới đến bình đẳng với Như lai, tức là bốn giáo như Tạng v.v…. Kế lại quán tâm trở xuống là Đốn quán. Kế từ quán tâm nhân duyên đến kinh Thục Tô và Tiệm Quán. Pháp Hoa khác nhau các văn, chỉ là Hội tiệm qui đốn. Niết-bàn bốn người đều biết Phật tánh, cho nên bốn câu tức nhau. Nếu theo Đại kinh năm thời ý thì Hoa Nghiêm dụ cho sữa. Nay lại theo tiện liền dùng Hoa Nghiêm làm riêng một đốn. Trong tiệm vẫn còn bốn vị. Cho nên lấy ba tạng dụ cho vị sữa cộng thêm Bát-nhã như lạc, tuy không có bộ khác cùng văn Bát-nhã, bèn lấy Phương Đẳng Bát-nhã hoặc một hội một thời một chương. Nói riêng ý chung loại đó cũng nhiều. Lại nay luận quán lý nhiếp pháp gồm rộng. Cho nên từ dung ở Tiệm giáo mà nói Cộng Bátnhã. Nếu y cứ xếp giáo thì chẳng dùng văn này. Trong giáo Tiệm thứ đối Phương Đẳng Bát-nhã đều nói tức không v.v… là Năng nhiếp thể tức, Sở nhiếp chưa tức. Tuy còn chưa tức lại từ năng nói, nên đều nói tức. Kế nói Pháp Hoa Niết-bàn, là ý hiển Chỉ quán đều nhiếp khai hiển lượm nhặt giáo ý Niết-bàn, bốn giáo kinh này đều biết thường trụ nên bổn ý ở viên, quyền dụng ba giáo để làm Tô tức. Thật chẳng bảo quyền xem là rốt ráo. Ý vốn biết viên cho nên tức nhau. Nếu Thô tâm dứt thì lại nương vào đốn quán. Hỏi: Phương Đẳng cũng làm bốn câu tức nhau thì có gì khác với Niết-bàn? Đáp: Phương Đẳng chỉ Đại tiểu đối nhau, một thời cùng nghe bốn thứ chẳng lìa nhau, nghĩa đồng tức nhau, khác nhau Niết-bàn tức giải tức tu. Lại Phương Đẳng này cũng nhờ Trung luận bốn câu tức văn, chẳng phải gọi bốn giáo là tức nhau. Lại văn trong đây là nhờ năm thời thuận bộ kinh ấy hoặc tức hoặc lìa. Cho nên tu hành tùy dùng mấy câu mà được thấy thật. Lại nếu đem quyển kinh trong hạt bụi dụ cho tám giáo, văn ấy tuy lược, đại ý cũng đủ. Tức là trước tiểu sau đại là tiệm. Đại tiểu bất định là bất định. Trong tiệm bốn tức bảy kế trong quán bất định nói: Nếu quán nhân duyên, lại quán nhân duyên tức là Phật tánh. Đây có hai ý: Một là hiện tại tập duyên thành người bất định. Nghĩa là nguyên biết lý viên, hoặc khi quán nhân duyên sanh pháp lại quán nhân duyên tức thành Trung quán, tức thấy Phật tánh. Như trong ba Chỉ quán nói hoặc chỉ thế giới là nghĩa Đệ nhất, hoặc sự hoặc lý tức là tướng ấy; Hai là phát viên túc tập thói quen xưa như ở hiện tại Chỉ quán sanh diệt, sau lại thường quán duyên sanh, tức thấy Phật tánh. Cho nên trong quán nhân duyên như sữa, do quán nhân duyên mà được thấy Phật tánh nên nói như sữa giết người không giả đều có. Lại văn quán ý đều y theo đây. Đến quán Trung đạo cũng có. Lại nói quán thì thiếu một ý, chỉ là lợi căn vượt nhập thâm vị. Nếu làm phát tập thì như vị năm phẩm chỉ là phục hoặc. Nhờ túc tập phát nên phá vô minh, cũng là bất định. Lược nhiếp trở xuống là lấy lược lệ rộng. Lại nữa trở xuống là nói dùng tâm nhiếp ý các giáo. Văn có hai ý tức là Năng hóa, Sở hóa khác nhau: Một là Y cứ sở hóa, nghĩa phá tâm trần chúng, sanh ra tất cả pháp; Hai là Phật đã được trước, nay dạy chúng sanh tức là hóa tha, năng sở cùng thành, nghĩa chẳng thể thiếu. Trên sáu trở xuống là kế nói sáu pháp thu nhiếp lẫn nhau, tức không thể nghĩ bàn. Hỏi: Như trước nói lý cho đến giáo, tự tha nhân quả tất cả đầy đủ, sao lại phải nói mỗi pháp nhiếp năm? Đáp: Như trước nói trong mỗi môn đều có đủ Thiên viên, nghĩa nó dường như đủ. Trong mỗi pháp tự chẳng gồm thâu nhau, giống quyền chẳng nhiếp thật huống năm thứ kia. Nay nói nhiếp, là sáu pháp này chưa gồm thâu nhau, sáu nghĩa trước sau thứ lớp sanh nhau. Cho nên văn nay nói thứ lớp có thể hiểu. Nói thẳng ra là nêu một lệ các thứ, dùng thẳng một văn còn nhiếp tất cả, huống chi sáu ư? Như lý chẳng nhiếp hoặc trí hạnh vị, chỉ lý mà thôi chẳng đủ các pháp. Huống lý quyền thật giống như chưa thâu nhau. Cũng như sáu độ tuy đều tự Viên, vẫn phải mỗi đệ rõ ràng nhiếp nhau, đều là pháp giới, mới gọi đầy đủ. Cho nên sáu trước chỉ giống tương đãi, nên lại phải nói tướng bặt đãi. Vì sao? Vì một lý nhiếp tất cả các lý, nghĩa là quyền tức thật, tức lý luận hoặc, nên lý nhiếp hoặc. Tánh đức Bát-nhã chẳng ngoài lý, lại lìa tánh không có trí, nên lý nhiếp trí. Tánh đức giải thoát duyên nhân chẳng thiếu. Lại lìa lý không có hạnh nên lý thuộc hạnh. Lý tánh mười giới phàm thánh vị đủ. Lại lìa tánh không có vị nên lý nhiếp vị. Tâm trần gồm đủ quyển kinh lớn như cõi Đại Thiên. Lại lìa lý không có (nói), nên lý thuộc về giáo. Kế hoặc nhiếp tất cả, cũng phải nói một hoặc nhiếp tất cả hoặc, chỉ là văn lược. Cho đến giáo cũng giống như thế. Trước một hoặc tất cả hoặc, là tâm đủ ba hoặc như một tâm tham các hoặc đầy đủ, mạnh yếu (che) nhau mà chẳng hiện hành, cho nên hoặc nhiếp các hoặc. Thể hoặc là lý nên hoặc nhiếp lý, hoặc đã tức lý. Trí hạnh vị giáo y theo hoặc y cứ lý mỗi thứ mà nói. Kế trí nhiếp tất cả. Một không thì tất cả không. Không tức giả trung. Một trí nhiếp các trí, trí minh như cảnh, cảnh trí chẳng hai, nên trí nhiếp lý. Phiền não Bát-nhã thể tướng vốn một, lại dùng Năng phá đối Sở phá, dùng năng nhiếp sở, nên trí nhiếp hoặc. Bát-nhã tức giải thoát, duyên liễu thể đồng. Lại phàm có trí đều hay dắt hạnh, nên trí nhiếp hạnh. Tánh đức Bát-nhã chiếu mười giới vị. Lại nêu không có trí thì có vị để bước lên. Lại có hoặc thì có trí, hoặc mất thì trí dứt. Cho nên dùng trí nhiếp vị, hai trí quyền thật không giáo nào chẳng thâu. Cho nên trí nhiếp giáo. Kế hạnh nhiếp tất cả, sáu độ pháp giới gồm thâu tất cả hạnh. Thoát tức pháp thân, duyên chánh thể một. Lại y lý khởi hạnh mảy thiện lý đều, nên hạnh nhiếp lý. Buộc thoát thể một, nghịch tức Bồ-đề. Lại có hoặc tức có hạnh, hoặc cùng thì hạnh dứt. Cho nên được hạnh nhiếp hoặc. Giải thoát tức Bát-nhã. Hạnh thanh tịnh ở trí, cho nên được hạnh nhiếp trí. Không phải hạnh thì chẳng lên vị, vị mãn thì hạnh mới trọn. Cho nên được hạnh thâu vị. Y giáo để tu, hạnh giáo vốn bàn ở hạnh, nên được hạnh thâu giáo. Vị nhiếp tất cả. Tâm Phật và chúng sanh ba pháp không khác. Y cứ hạnh sơ phẩm còn đủ các vị. Nếu chứng đắc, thì Sơ trụ đủ tất cả, một trụ tất cả trụ, cho nên được một vị thâu khắp tất cả vị. Sơ trụ tức pháp giới cho đến vị sáu tức. Mỗi vị đều nói tức cho nên được vị thâu lý. Có vị do hoặc, hoặc cùng thì vị hết, cho nên được vị thâu hoặc. Không có vị thì không có trí, vị mãn nên trí cực. Lại do trí nên tiến vị, vị cùng thì trí mất, nên được vị thâu trí. Vào vị phải do hạnh, hạnh khắp tất cả vị, nên được vị gồm thâu hạnh. Tiến vị nên lập giáo, giáo bàn không ngoài vị, nên được vị thâu giáo. Kế giáo nhiếp tất cả, như nghe môn chữ A thì giải tất cả nghĩa, vì ở một Phật thừa mà phân biệt thành ba. Cho nên được giáo thâu giáo, giáo nói tất cả pháp. Văn tự tức thật tướng, cho nên gồm thâu tất cả lý. Mê giáo sanh các hoặc, giáo nói tất cả hoặc, cho nên được giáo thâu hoặc. Y giáo mà hiểu. Giải mãn nên giáo hưng, nên được giáo thâu trí. Y giáo nên sanh hạnh, hạnh cùng tất cả giáo, cho nên được giáo thâu hạnh. Giáo nói tất cả vị giáo sanh tất cả vị, nên được giáo thâu vị. Như trên nhiếp nhau vẫn y cứ giáo pháp sanh nhau mà nói. Nếu thẳng y cứ đốn một hướng mà nói, thì trong lý đủ năm, cho đến giáo thể tức năm, đều là pháp giới. Nghĩ sẽ thấy được. Chẳng phân biệt Thiên viên, mỗi đều thế. Cho nên sáu pháp này chẳng ngoài vắng lặng chiếu không thể nghĩ bàn trung một diệu chỉ quán. Chỉ quán nhiếp sáu, sáu cùng nhiếp nhau. Tức là lý tánh chỉ quán, cho đến giáo tha chỉ quán, kia đây chẳng hai. Sáu pháp này tức là thể trước tới chẳng thứ lớp. Thể trung nhiếp pháp không thể nghĩ bàn.

Kế nói Thiên viên Trung, trước nói ý đến. Trước nhắc lại chương trước, chính chỉ thể nhiếp pháp đến trước. Chỉ sáu phen trước, trong mỗi phen nhiếp tất cả pháp, và mỗi pháp lại nhiếp nhau, nên nói không pháp nào chẳng gồm thâu. Thâu pháp đãi nhiều trở xuống là chánh nói ý đến. Thâu pháp đã nhiều, nên mỗi pháp đều phải biết rõ Đại tiểu cho đến ý không thể nghĩ bàn. Đại tiểu tức là lược nêu hai môn một, hai. Cộng bất cộng nói dùng hai môn ba, bốn. Bán mãn và Đại Tiểu nghĩa đồng, nên chẳng nêu riêng. Cho nên biết Viên đốn thật ba, một bề bất cộng. Thiên Tiệm Quyền ba có cộng và bất cộng. Tạng chung là cộng. Biệt là bất cộng quyền thật tuy cùng bốn nghĩa trước đồng, phải đem quyền thật để phân biệt bốn trước. Tiểu bán một bề là quyền, mãn đại có quyền có thật. Hai thứ Viên đốn một bề là thật. hai thứ Thiên Tiệm một bề là quyền, lấy nghĩ bàn và bất nghĩ bàn lại quản năm cặp, lệ theo đây sẽ hiểu. Cho nên năm chương này văn năm nghĩa ba. Bán mãn đồng Đại Tiểu, tiệm đốn đồng Thiên viên. Quyền thật xếp bốn ý trước chỉ ở khai. Phàm đến lý trở xuống là nói ý chương. Ý, chỉ là không nói mà nói, không nói tức là tự hành vì người khác mà nói. Nói sẽ chẳng ngoài cặp này. Hỏi: Đây là xếp thuộc về pháp trước hiển thể, vì sao lại nói vì người khác nói. Đáp: Xếp tức là nói, cho đến quả thành, lấy năm song này vì người khác mà nói, nói chẳng ngoài năm. Vì tiểu trở xuống là nói ý dùng chương. Nói phải biết lý do, há vì phương tiện tên đồng mà khiến Đại Tiểu Lý một, huống chi là trong đại vẫn phải phân biệt. Cho đến quyền thật cũng giống như thế. Cho nên phương tiện các thứ khác nhau. Như Ba tạng giáo một bề là tiểu, toàn là phương tiện, huống chi ba tạng giáo lại có tên mới vào làm phương tiện. Cho nên có thể ngoài thể trong khác nhau, đủ như sớ văn giải thích phẩm Phương tiện, chẳng cùng Tịnh Danh Báo Ân Phương Tiện phẩm đồng. Như kinh Hoa Nghiêm có phẩm Thọ Lượng khác nhau với phẩm Thọ Lượng của Pháp

Hoa. Tiểu trở xuống, là kế trong chánh giải thích trước giải thích về Tiểu. Trước tức tướng pháp quán của Tiểu thừa. Như Thích luận trở xuống là bày tướng tà chiết để hiển bày chánh, hai câu đầu là lập định, kế nêu trở xuống là hai câu giải thích trách. Kế nếu chiết trở xuống là phá. Nói phương phân là vô trần mà thôi, có phải là sắc, sắc ở tại phương, phương ắt có phần, có mười phương phân. Kế phá lại chiết cực vi, chiết cho nên hết. Nếu một trần hết thì các trần đều hết. Nếu hết thì làm sao hòa hợp mà thành thân. Cho nên hết chẳng thể. Nếu chẳng hết, nếu một trần là thường thì các thứ đều là thường. Nếu là thường thì thân phải chẳng diệt, cho nên chẳng phải Phật pháp chánh chiết tướng. Chiết tâm cũng như thế. Nếu một sát-na tâm chẳng thể hết thì làm sao lại có sát-na sau sanh, sát-na sau sanh, tâm trước sẽ diệt. Nếu diệt hẳn thì làm sao lại có sát-na sau sanh. Cho nên biết sát-na niệm niệm sanh diệt chẳng phải đoạn, chẳng phải thường. Luận văn dưới là bày tướng chánh chiết. Ba tạng chiết pháp không phải nói Bổn tông, nên nói vẫn sáng, cũng trước quán sắc, kế quán tâm. Khi quán sắc tâm thì chỉ quán thô tế vô thường, vô ngã. Chẳng cần nói hết và chẳng hết. Nói từ vô minh sanh là từ một niệm vô minh quá khứ mà sanh các hạnh. Lại do các hạnh khi đến Trung ấm, tâm ta một niệm vô minh lại cùng tâm cha mẹ một niệm vô minh hợp, sanh ra sắc thân. Y báo cũng do cộng nghiệp vô minh đồng cảm cát đá. Cho nên y chánh đều từ vô minh mà sanh, thể của vô minh từ nhân duyên mà có, cho nên khiến cho tạo sắc cũng từ nhân duyên. Phải biết nhân quả đều từ vô thường, như thế nào mà kể là hết và chẳng hết, quán tâm cũng như thế,. Sát-na quá khứ chiêu cảm sát-na nay, huống chi sát-na nay lại đối cảnh ngoại nhân duyên mà có. Cho nên niệm niệm đều vô thường. Như thế khi suy sao chỉ biết sắc tâm vô thường. Tiến suy tâm niệm xưa nay chẳng phải có bèn thấy pháp tánh chân như thường trụ như trước đã nói. Giáo tướng bất định nếu quán vô thường, lại quán vô thường thì thấy Phật tánh, tức là ý này. Nếu quán huyễn hóa cho đến giả v.v… cũng giống như thế. Thực hành quán ấy chính là vốn hoại, ba đường rốt ráo, đâu chỉ có giới nội vô minh là hoại. Chiết danh trở xuống được gọi là lý do, chiết danh này vốn ở ngoại đạo, xem sắc cực vi và một sát-na hết hay chẳng hết, nay quán vô thường v.v… cũng gọi chiết là vì đối phá ngoại đạo, ông chiết chẳng phải chánh, đâu chỉ trở xuống là nói công năng phá của chiết này cho đến Viên giáo bốn môn sanh mê đắm cùng có thể phá hết. Phật pháp như cam lộ, thấy trước như uống nhiều mất lý như chết yểu. Ở ngoài chấp sanh như khóa sắt ở trong, chấp sanh như khóa vàng. Kế do trong tâm nên gọi là tự mình khởi ngã nhân chẳng khác với ngoài, đều làm nhân sanh tử cả. Cho nên Đại luận trở xuống là nói dụng phá ý, nghĩa là phá năng chấp, năng chấp là chấp trước, chẳng phá sở chấp, sở kế là giáo. Cho đến chưa được Niết-bàn mà sanh chấp trước há phá Niết-bàn. Đây là nói công năng đối địch phá kiến. Nếu lại có người bỗng phải tu quán khác mà phá kiến. Như quyển mười dùng bốn thứ quán phá kiến khác nhau, phàm có trở xuống là y môn tu quán, quán tức mười pháp. Người đời cũng nói tu tập pháp quán nói chẳng dính mười. Thừa hoại xe lừa chánh Nam mà đi. Cho nên biết trở xuống là chánh nói ở Tiểu kế với đại cũng trước bày pháp quán. Đại nhân trở xuống là dẫn người năng thừa và giáo năng thuyên, xét mà biết là đại. Trong diễn trở xuống là dẫn chứng cộng thừa thí như trở xuống là dụ. Nay trở xuống là hợp, rất dễ hiểu, ví dụ như trở xuống là dẫn ví dụ, hễ có nghĩa lệ có nghịch có thuận, trong đây là nghịch lấy Tiểu thừa mà lệ Đại. Như trong Tiểu có Đại vẫn gọi là Tiểu. Sao ngại trong Đại có Tiểu vẫn gọi là đại. Cái gọi là trở xuống là đối nói pháp thể. Có hai lớp pháp thí. Trước là chiết, kế là thể. Trong trước chiết nói ba tạng gọi là giả v.v… là nắm chung năm ấm, giả gọi là chúng sanh. Sanh là giả danh, ấm là thật pháp, đã kế pháp thật thì chiết khiến nhập vào không. Nay Đại thừa trở xuống là kế nói thể. Ấm và chúng sanh đều chẳng thật có, cho nên đều giả. Trong đây tuy dùng cảnh tưởng để thí dụ, mượn Sử Thiếu Tông Nghi dụ gương ảnh cũng gọi là Thật. Như luận Bà-sa quyển bốn mươi hai hỏi rằng: Ảnh trong nước và gương là thật hay không thật? Thí dụ nói chẳng thật vì mặt gương chẳng vào. Tỳ-đàm nói ảnh là có pháp. Vì sao? Vì sắc đó là sắc vào nên nhãn thức có được. Hỏi: Đã chẳng vào nhau sao nói là thật? Đáp: đã có sắc như thế là sắc nhập, chẳng phải một thứ sanh sắc mà là sắc nhập. Như nhân mặt trời, do kính sanh lửa, do mặt trăng, do châu sanh nước. Tuy chỗ sanh đều khác, chẳng phải là không thật, duyên gương duyên mặt mà sanh ảnh, chẳng phải không có ảnh dụng, sanh ra nhãn thức, thì chẳng phải không thật, tiếng vang và hóa cũng như thế. Cho nên người tu theo Tỳ-đàm chấp ảnh duyên khởi có riêng một đủ bốn đại tạo sắc, cho nên thật có. Người nói chỗ thấy tất cả chẳng thật, lấy ảnh chẳng thật mà dụ cho ngoài chẳng thật, cho nên lấy dễ mà dụ cho khó. Nói Bà-sa thí dụ sư tức là Chánh Lượng bộ khác chỗ sư thấy chấp là chẳng thật cho nên cũng giống chỗ thấy như huyễn của Đại thừa, chẳng phải là tông Bà-sa. Cho nên Tỳ-dàm Sư chẳng chịu cái thấy này. Dẫn Phật ở một phương trên cây, là chánh bày thể quán. Luận quyển mười hai chép: Khi Phật ở núi Kỳ-xà-quật cùng các Tỳ-kheo vào thành Vương xá giữa đường thấy có cây gỗ vuông lớn, Phật bèn trải tọa cụ Ni-sư-đàn ngồi trên cây ấy, bảo các Tỳ-kheo rằng: Nếu Tỳ-kheo vào thiền tâm được tự tại, khiến cây này làm đất thì thành đất thật Vì sao? Vì cây có địa thủy hỏa phong, như một sắc đẹp, người dâm thấy là người, người quán bất tịnh thấy là bất tịnh, người vô dư thì tâm không ưa thích. Cho nên tùy người thấy mà chấp lấy khác nhau. Nay văn theo nghĩa mà nói biến vàng thành đất, cũng vì trong vàng có đất, như cây là đất. Lại trích dẫn nhắc lại, luận giải thích trong ba thứ có trước nói nhắc lại mà chiết đến cực vi, nhìn chung thì vô thường vô ngã, ấy là phân tích không. Lại có quán không như quán nhắc lại này, nhắc lại vốn chẳng sanh nay cũng chẳng diệt. Cho nên cũng cùng vàng đất dụ đồng. Khi vàng là đất, vàn gvốn không sanh, nay cũng chẳng diệt v.v… Cho đến mười tám không như quyển năm nói. Cho nên dẫn nhắc lại có không tánh như cây có tánh đất, để chứng tức không. Mười tám không này nghĩa chung với ba giáo v.v… Lại nữa trở xuống là giải thích tùy tình tùy lý. Trong văn đủ làm hai lý cộng và bất cộng. Lại lấy văn này mà giải thích Đại Tiểu. Trước nói tiểu không mà nói Phật tánh, cho nên biết ba tạng không việcng, một bề xếp thuộc tùy tình. Đại thừa trở xuống là y cứ tùy lý để nói Đại không. Vì sao? Vì Ba tạng tuy không, không này do diệt sự mà được, nên gọi là tùy sự. Nếu Đại thừa không, thì không này do tức sự mà được, nên gọi tùy lý. Lý tức sự cho nên tức nghĩa gồm thâu, cho nên trong tức không mà gồm chẳng không, gọi là Phật tánh. Cho nên huyễn hóa không, chung có cả chung riêng. Do đó, dụng ở các thí dụ tìm huyễn v.v…. Nói tìm huyễn được nhà ảo thuật, là thí dụ quán huyễn hóa vì thấy chung lý, nói tìm nhà ảo thuật được pháp huyễn. Là dụ quán lý không để thấy chẳng không. Mộng dụ cũng như thế, tìm mộng được ngủ, tìm ngủ được tâm. So với huyễn sẽ thấy. Nếu thế, tìm huyễn sắc tâm được vô minh trở xuống, tức là hợp văn. Vì sao dùng dụ mà chẳng tương ưng? Chỉ nói tìm huyễn được vô minh, tìm vô minh được Phật tánh, mà sao chẳng nói tìm huyễn được chân, tìm chân được Phật tánh ư? Đáp: Lý chân đế tức là vô minh chỉ quán sâu chân liền thấy Phật tánh, tức là quán vô minh mà thấy tánh. Lại người đời chỉ nói tìm tâm thấy tánh chẳng nói tìm sắc mà được thấy tánh. Lại bỏ sắc ngoại thẳng đây quán ấm, người đời đâu hề thấy ấm Phật tánh. Kế nói thể pháp y môn tu quán. Cũng phải gồm đủ ba thứ bốn môn. Nay cũng từ chung nên chỉ nói bốn. Quán này trở xuống là chánh (nói). Đã nói các môn đại tiểu sanh mê đắm và dùng huyễn để phá, cho nên biết một bề thuộc Đại thừa. Trong tiểu môn ở trước tức nói các mê đắm đều là quán vô thường. Trong đây Diễn môn đã đủ ba giáo, tức ba giáo ấy đồng dùng huyễn hóa phá chấp, nếu dùng ba quán phá chấp khác nhau. Gồm trước thành bốn, toàn đồng với ý phá chấp thứ mười. Nếu được trở xuống là bác bỏ mà đoạt Đại thừa ba giáo mười hai môn, trước còn phải huyễn hóa, tức không mà phá chẳng bao giờ trở xuống là so sánh bác bỏ. Lão Trang còn tự chẳng biết năng trước sở trước, năng phá sở phá của Tiểu thừa huống chi trong Đại thừa hoặc trước hoặc phá. Cho nên chẳng đồng với Phật pháp. Song người giảng đời thì mê danh tướng, người lạm thiền thì mê lầm chánh lý, muốn đem đạo đức tên nêu dao mà nói ngang bằng với giải thoát của Phật pháp đâu có thể được? Vương Mục Dạ nói: Tiêu dao là ý điều sướng dật dự. Phàm chí lý trong đủ thì không lúc nào chẳng thích, quên hoài ứng vật, đi đâu chẳng chung, lấy đây mà đi khắp thiên hạ nên gọi là nêu dao. Lý không ẩn kín, rõ ràng gánh vác, hình không lớn nhỏ, dao nhiên đều thích nên gọi là tiêu dao, chẳng biết lấy gì làm lý, lấy gì làm hình, quên phiền não làm sao đi khắp thiên hạ,. Cho nên biết pháp đã chẳng bằng người cũng có thể xếp. Lại đặt pháp báo để so sánh với đây, hơn kém cách nhau trời vực phải quấy trái hẳn. Bỏ vị Kim luân Thánh đế, sao bằng mến tiếc trụ sử vi quan. Thân vàng trượng sáu quang minh tướng tốt, đâu bằng chất phàm dung sáu thước. Tướng lạ vô lượng chẳng thể nói hết. Rõ như Lý Trọng Khanh làm mười dị chín mê để bác bỏ Phật pháp. Nam Sơn làm mười dụ chín châm dùng hình tà ma nói. Nay lược còn năm dùng phân biệt tà chánh: Một là Lão Quân nghịch thường gá thai mục nữ mà ra đời, còn Thế tôn thuận hóa do mẹ hiền mà đản sanh; Hai là Lão Đam có sanh có diệt, sợ nạn sanh ra lại chịu bạc đầu, còn Thích-ca thùy tích bày sanh bày diệt trở về vắng lặng bèn sáng rỡ mình vàng; Ba là trẻ thơ giấu hình sanh ra ở huyện khổ Trần châu, còn Năng Nhân thì hiện thân ở Đông hạ thần châu; Bốn là chức quan nhỏ ở Bách dương sau lên Tạng lại (quan giữ kho) chẳng phải mặt trời ở Văn Vương cũng chẳng phải Thầy của Long Chu còn Thích-ca ở ngôi Thái tử, thân chứng đặc tôn, năm thành ở thời Chiêu Vương là Giáo chủ cõi Diêm-phù; Năm là lý thị ẩn ba hiển không giáo nào nói, dù cho năm trăm tuổi cũng kém tuổi rùa hạc, còn Pháp vương một sanh một diệt, thị hiện dung vi trần, tám mươi tuổi dẫn dắt Hằng sa chúng phàm các so sánh này đều là sự thật, đủ để phân biệt chánh luận chánh, Tiếu đạo tâm cảnh phá tà hai giáo, Mâu tử các luận nói rộng tướng lạ nay cũng thấy có xe chẳng ra gì, còn nói đồng đám xuất gia ấy có gì kia đây mà tướng phải trái, ánh sáng mặt trời với lửa đom đóm rất khác xa nhau. Viên môn sanh trước, trước tâm chẳng vào số Tiểu hiền, còn là ba tạng có môn bị phá, huống chi Trang Lão là chỗ thấy tầm thường không muốn kết bạn với viên lý Phật pháp, thì như đom đóm đối với mặt trời, như sợi lông tơ đối với quả núi. Trong Đại Phẩm chép: Thanh văn như lửa đom đóm, Bồ-tát như ánh sáng mặt trời, nay mượn đây mà ví với Lão Trang còn quá. Mảy may, sắp dứt, là Thiên Tề Vật nói: Mảy may chẳng nhỏ, núi Thái chẳng lớn, nay chẳng dùng nghi tề vật kia, mà mượn văn đại tiểu dứt hẳn cho nên nói sắp dứt. Tự nói Đạo chân v.v… là Ca-diếp thấy Phật hiện Đại thần biến, trong tâm đã biết sức Phật khó lường nhưng vẫn nói lời kiêu ngạo khinh Phật rằng: Cù-đàm tuy Thần chẳng bằng đạo chân của ta như thế ta tránh mà chẳng phá. Như chỗ Ca-diếp khởi duyên rộng như trong luận văn và Thụy Ứng đã nói.

Kế nói Bán Mãn, tên ở Đại Kinh. Bồ-đề-lưu-chi dùng đây xếp giáo chưa phải hết lý, cho nên huyền văn phá bỏ, khiến đây chỉ y cứ pháp môn để nói. Huống chi là bốn thứ kia cùng thành ý này. Cho nên lại đồng với môn đại tiểu, chẳng phải xếp nghĩa một kỳ mà có thể dùng chung. Một lượt lại dùng tự riêng mà xếp. Cho nên dùng chín và mười hai để chia Bán Mãn. Nghĩa chung đủ như trong Huyền văn phân biệt, hoặc đại tiểu đều chín đều mười một, mười hai. Theo truyền thuyết thế gian trở đi là phá xếp giáo nghĩa. Nhiều thầy chấp chung nói truyền thuyết thế gian. Niết-bàn là mãn nghĩa có thể hơi chung, các thứ khác gồm Pháp Hoa cho đến Hoa Nghiêm vì sao đều Bán? Lưu-Chi xếp ra lại chẳng phải chung phương Bát-nhã, bỏ Mãn chẳng chọn Tiểu thừa nghĩa lại chẳng thể. Ba tạng là nghĩa Bán có thể thế. Nay nói trở xuống là chánh nêu ý nay. Đã giúp thành đại tiểu y theo đó mà nói mãn chung hai lý gồm mang người tiểu. Bán chỉ ở tiểu, cách hẳn Đại thừa. Phương Đẳng thì đủ, còn Bán Mãn, Bát-nhã, Pháp Hoa, Niết-bàn, Hoa Nghiêm chỉ Mãn mà chẳng Bán. Vườn Nai chỉ Bán chẳng Mãn. Cho nên biết nói Bán Mãn là có gồm có toàn. Cho nên khác nhau người khác qui một hạnh nhất định.

Kế nói Thiên Viên. Đối hai chương trước để nói chung cục, gồm lấy thí dụ để hiển bày nghĩa tự sáng. Văn trước giải thích tên gọi. Nói chung riêng, nếu chung đường mà luận, gọi tiểu là thiên đối với lý chẳng lỗi, chỉ nghĩa thiên thì xa chẳng đồng với tiểu. Cho nên phải lấy môn này mà nói khác thí như trở xuống là thí dụ. Nếu cõi này luận trăng thì lấy ngày mười lăm làm Bán. Nay nói Bán: Một là lấy phương Tây trắng đen đều làm Bán; hai là lấy hình mặt trăng thêm bớt đến phân nửa (bán). Cuối tháng là hối, hối là tối. Đầu tháng là sóc, sóc là tô (sống lại?). Sóc là thí dụ mới đầu tức như chiếc cung. Ngài 1 gọi là vọng, tức ngày 1 mặt trăng, mặt trời thẳng góc nhau, tức trăng tròn, thí như dần đầy. Cho nên văn nói mặt trăng cũng gọi là vọng thư, trăng vọng thì thư. Nay nói Bán tức dùng ở cõi này trên dưới hai nửa gọi là Huyền. Mặt trăng như hình cây cung giương dây cung. Mặt trăng thượng huyền mùng mùng 9, hạ huyền là ngày 20, 23. Do (trước tháng) mặt trăng lớn nhỏ khác nhau. Nếu như sau tháng hai dây xa gần khác nhau. Nay chỉ lấy dây mà dụ cho phân nửa nhỏ, thời khắc nhất định nên từ sóc đến vọng, các tháng khác thiếu một ngày đều dụ cho thiên, thiên nghĩa là dài. Cho nên nói bắt đầu từ cung ngạ đến đêm mười bốn. Vì mặt trăng bắt đầu giống như chân mày lại như chiếc cung đầy. Nên văn nói: Mặt trăng cũng gọi là Hằng nga, cũng gọi là Thường nga. Trăng đầu trăng cuối hằng luôn như nga. Nên biết hai nghĩa Thiên, Bán khác nhau nhau. Tiểu Bán trở xuống là hợp. Cho nên Đại Kinh trở xuống dẫn chứng rằng. Tà nên đồng thiên, phải biết Ca-diếp chưa nghe viên y thường trụ ở trước đó đều gọi là Thiên. Chỉ vì trở xuống là kết bày. Như văn.

Bốn là nói Tiệm Đốn. Trước giải thích tên. Ba quán ba trí thứ lớp mà vào. Tạ là do từ không vào giả, từ giả vào trung, nên nói tạ xiển (do cạn), vì Trung đạo nên trước tu hai quán, vì lợi tha nên trước dứt buộc mình, nên nói do sâu, đủ cực hai tên có chung có riêng. Chung thì đều chung trước sau, riêng thì tột sau đủ đầu. Sơ tâm chỗ quán muôn pháp đều đầy đủ. Hoặc hết đức mãn đến sau mới cực. Đây cũng trở xuống là nói đồng khác. Tiệm giúp thiên, đốn giúp viên. Bàng xuất nghĩa khác lại giúp nhau thành. Đại tiểu Bán Mãn cũng giống như thế. Ba giáo trở xuống là lược giải. Nay lại trở xuống là phân biệt cũng là giải rộng. Trong đó trước y cứ bốn câu mà phân biệt. Cho đến trở xuống là văn y cứ bảy giáo mà phân biệt, nghĩa chánh mở rõ, chỉ chưa như trong chương quyền thật tên ấy rõ ràng. Trong bốn câu đầu, hai giáo trước là tiệm chẳng phải đốn. Cứ lập ý giáo mà được gọi Tiệm. Không phải bẩm giáo mà được gọi Tiệm. Biệt giáo được làm câu thứ ba. Giải đốn mà hạnh tiệm. Giải chỉ biết lý đốn mà thôi, hạnh phải trải qua Hằng sa kiếp số, cho nên biết giáo này trước từ phương tiện. Cho nên phương tiện nói gồm đủ hai nghĩa: Một là tạ Địa tiền phương tiện; hai là Văn Đãn trung phương tiện. Lại nữa trở xuống là y cứ bốn pháp quán, giáo, hạnh, chứng mà phân biệt. Trong đó lại y cứ hai đạo giáo chứng để giải thích bốn pháp, cho nên khiến bốn pháp đều có quyền thật. Hai giáo trước bốn pháp đều quyền Biệt giáo thì ba quyền chứng thật. Viên giáo thì bốn pháp đều thật. Nói chỉ những thứ này là y cứ người thì đối bác bỏ Nhị thừa, y cứ lý thì đối bác bỏ hai đế. Giáo hạnh ở đây nói rất dễ hiểu. Nói vào thất là nhà từ giải thoát, áo nhẫn pháp thân. Tòa không Bátnhã. Quán ba đức nên nói hạnh thật. Y cứ vị sáu tức lệ theo đó sẽ thấy. Kế hai quán trước trở xuống là y cứ bốn pháp giáo, hạnh, chứng, nhân, vì bốn pháp phân biệt trước đem ba pháp mà đối chứng để phân biệt. Trong đây hợp quán vào hạnh ba pháp đối giáo để phân biệt quyền thật, thì ba pháp và giáo nhân chung quả lấp, cho nên hai giáo trước ở nhân thì bốn pháp đều có. Bẩm ở quyền giáo, hạnh ở quyền hạnh, để vào nhân vị mà thành nhân người, ở quả thì chỉ có giáo thành Phật, không có người hạnh thật đến chứng quả này, cho nên không. Vì sao trở xuống là giải thích ý không? Vì thân tro lạnh nên đều không ở hạnh chứng và người, dù cho dùng ba mươi bốn tâm chỉ thành diệt hết. Không phải là tướng quả Phật. Lại người vào diệt nói chưa hội trước. Nếu đến Pháp Hoa chuyển thành nhân vị. Nhị thừa còn hiểu huống chi là ba kỳ. Biệt giáo có không giống đồng hai trước, chỉ đến Sơ địa tụ hội vào viên. Cho nên khác nhau biếm trước thành hội đoạn Sơ địa còn như thế trở xuống là nêu cạn so sánh sâu. Ở quả sau phải nói Diệu giác. Sơ địa còn không, huống chi là Diệu giác. Vì Biệt Sơ địa cũng có khả năng tám tướng chân nhân tợ quả, nên phải so sánh nó dùng nhân hiển quả, cho nên nêu nhân, lấy quả của mình mà thành nhân người khác nên nói không có người. Sơ địa vào trụ, đây là chánh văn đối với văn giáo đạo chẳng nên nghi. Lại tên giáo chứng cũng có thể chung Viên. Chưa vào Sơ trụ gọi là giáo đạo. Nếu phá vô minh mới gọi chứng đạo. Nếu xếp vào quyền thật thì khác với Biệt. Mượn nghĩa Địa để giải thích nghĩa Viên. Cho nên Bốn niệm xứ nói Biệt giáo chỉ dứt giáo đạo mà nói viên đủ hai ý. Giáo đạo nói dứt, chứng đạo chẳng dứt, cho nên biết người nhân chẳng đảo quả, là có hai nghĩa: Một là người nhân dẫn phá mười hai phẩm mất vị Diệu giác chỉ thành viên gia hạnh thứ hai; hai là Sơ địa tức vào Sơ trụ huống chi đảo Diệu giác. Cho nên văn nói, huống chi là quả sau. Lại nữa, ba trước trở xuống là y cứ khai hội mà phân biệt. Biệt cũng biết trung nay nói chẳng biết là ba trước chẳng biết lý viên. Pháp Hoa khai xong đều gọi là Đốn. Nói tuy chẳng phải, tức không phải gọi chỗ làm, khai vẫn không phải tức. Chỉ xếp người ấy chỗ làm ngày xưa nay khai thành đốn. Hạnh xưa được làm tiệm đốn gia, không phải ngày xưa tiệm tức là đốn, cho nên nói chẳng phải tức. Hạnh xưa chẳng khai còn chẳng gọi tiệm, đâu phải tiệm đốn cho đến tức đốn. Nay nếu khai xong tiệm tức là đốn. Cho nên nói là đạo Bồ-tát, chỉ vì khác với trước sau đều đốn.

Từ nhân xưa mà nói nên nói tiệm đốn, y bản tập mà vào nên nói các thừa. Vì gọi bản tập nên nói thích nguyện, khai sở tập ấy nên nói quyết liễu. Nếu pháp còn tiệm làm sao gọi kinh Vương? Kinh Vương vốn nói trước lúc chưa khai. Lý vốn viên diệu đâu đợi hội ư? Hội đã vẫn tiệm sao gọi được vào, huống chi từ đốn khai tiệm vì cơ sanh chưa chuyển. Cho nên đến nỗi có lời Biệt Tiếp. Nói Biệt lý là biệt của chung riêng, không phải Biệt của Viên biệt. Song lại nghĩa của Biệt lý chung với Viên biệt. Biệt đeo giáo đạo nay bỏ không nói. Cho nên Niết-bàn trở xuống là dẫn ví dụ giúp giải thích. Nếu Nhị thừa khai quyền chẳng được vào thì vì sao Đại kinh lại được quả Nhị thừa, tình mến viên thường. Chỉ Pháp Hoa trở về trước tình cách nên gọi là dị. Đại kinh chẳng cách, công đức do Pháp Hoa cho nên nói, cũng gọi là khai tiệm hiển đốn. Lại nói: Biệt tiếp thì nghĩa gồm hai ý: một là Pháp Hoa trở về trước phân tích đào thải. Ý này chánh đáng Biệt lý tiếp lấy. Chỉ thật ẩn ở quyền nói chưa rõ ràng, hai là đến hội Pháp Hoa gọi hội là Tiếp, đây là tiếp của tiếp dẫn, không phải tiếp của giao tế, cho nên hai nghĩa trước khác sau đồng. Lại kế bốn thứ trở xuống là y cứ bất định. Trước tiệm đốn bốn câu, nghĩa phải là hai thứ trong tám giáo, kế hai lớp bốn pháp nghĩa phải ở trong tiệm khai bốn. Cho nên lại y cứ bất định mà phân biệt. Chẳng nói bí mật ý ấy y cứ theo trước. Không cần đều độ v.v…, là người ba giáo trước tùy vị tiến vào phải là Bồ-tát, nên nói không cần đều đợi khai tiệm cho nên trở đi là thí dụ. Thí dụ xưa nghe liễu nhân tùy vị hay phát lời. Năm vị là nói vị biến nhưng vẫn giết người, không phải nói Pháp Hoa gọi vị thứ năm. Vì Pháp Hoa gọi là định, chẳng phải bất định. Đây là Pháp Hoa về trước y cứ hạnh năm vị. Nay trong văn này chỉ y cứ có duyên có tướng bất định. Cho nên chẳng phải hoàn toàn y cứ văn trước của Pháp Hoa. Chúng sanh trở xuống là hợp thí dụ nói xa xúc là lý giáo hạnh, chứng kịp luận xa xúc. Y cứ thời, y cứ hạnh hai thứ năm vị, tùy gần xa mà kịp luận xa xúc. Như Bích-chi-phật, là kế dẫn Bíchchi Phật để lệ lý phát, người Tiểu thừa đến đời không Phật chưa có giáo hạnh mà phát ngộ, nên gọi là lý phát. Lý phát cũng như thế trở xuống là dẫn đồng. Người viên tu cũng giống như thế. Hoặc Phật chưa ra đời, hoặc nghe Hoa Nghiêm, gọi chung là bất định đều được gọi là Nhũ. Vì sao? Vì phàm phu hoàn toàn sanh đạo lý như Nhũ. Hoa Nghiêm y cứ thời lại gọi là Nhũ. Trong Hoa Nghiêm nói bốn pháp lại xếp năm vị phát là văn giáo như nhũ phát, quán hạnh như lạc phát, tương tự như hai tô, tăng đạo như đề hồ. Tương tự phát chứng nên nói tương tự chứng phát. Ở chứng lại phát nên nói cũng như thế. Hỏi: Tăng đạo là định, sao gọi bất định? Đáp: Thứ lớp tăng đạo gọi là định, nếu vượt chứng thì gọi là bất định. Cũng có thể văn giáo và quán đều gọi là Nhũ phát. Trong vị tương tự gồm ba vị thì bảy Tín trở xuống gọi là lạc, Bát Tín trở lên gọi là hai tô. Nếu trước ba giáo trở xuống là y cứ ba giáo trước giáo hạnh các vị mà phát viên, gọi là ba nhà vào thì bất định, ấy là nhà Bác địa văn giáo gọi là giáo phát, trong ngoài phàm vì gọi là hạnh phát chí thánh vị mà phát thì gọi là chứng phát. Nói Hiền thánh tức là Thánh của hiền gia, phương tiện là hiền đâu lại từ hiền. Lại có trở xuống là lại đường chung mà giải thích nghĩa bất định. Bất định tên đồng mà nghĩa khác, nên chẳng phải giết người. Trước lệ hoán đế, như từ năm kinh là tu vô lậu phát được Hoãn giải không phải chỗ trông mong, cũng gọi là chẳng cầu tự phát. Khi giải này khởi thì cũng thuộc về hữu lậu, nên nói hữu lậu chẳng cầu tự phát. Ba hoặc hoàn toàn còn, nên nói toàn chẳng giết hai tử. Hoặc là nhân của tử, trong nhân nói quả, cho nên nói thế. Nếu tu Trung đạo trở xuống là y cứ ước tu trung để nói bất định, cũng chẳng phải giết người, từ mới phát tâm vốn tu viên thường. Thô hoặc trước trở xuống nghĩa đáng vô lậu, vô lậu này là chẳng cầu tự phát chẳng phá vô minh mà chẳng phải giết người. Người chẳng thấy gọi là Tiệm đốn. Lại nữa, bốn thứ chỉ quán trở xuống là y cứ Tiệm viên v.v… mà phân biệt đồng khác. Trước lập bốn giáo đều vì nhân vị gọi đó là tiệm, du kỳ cực quả gọi là viên, vì viên tiệm hai tên này lạm cho nên từ viên viên trở xuống là hai câu cùng phân biệt nhau. Cho nên biết trở xuống là kết. Tuy là phân biệt mà hai nghĩa vẫn còn, cho nên viên quả không phải là quả ba giáo, gọi Viên viên vì không phải Tiệm viên. Viên nhân khác nhau nhân ba giáo trước, nên gọi Viên tiệm, không phải là Tiệm tiệm. Cũng lại phải gọi Tiệm viên không phải là Viên viên, Tiệm tiệm không phải là Viên tiệm.

Văn dưới giải thích nghĩa bốn câu liền đủ. Pháp Hoa Sớ là chỉ trong Huyền Văn cũng nói đủ hai thứ Viên tiệm, lại Hiền thánh v.v… bốn phân biệt. Nhưng Tiệm tiệm trở xuống là phân biệt khai chung thì có thể khai chẳng thể khai, cho nên phải phân biệt. Ba giáo Phật người chẳng thể khai. Khai nhân vị người ba giáo trước đều vào Viên. Tiệm tiệm mà khai đều thành Viên tiệm. Sao thế trở xuống là giải thích. Ba quyền quả trước vốn là viên quả, thùy làm ba tích đâu có thể lại khai, khiến viên thành Phật. Lệ là lệ bốn chương kia, khai chung cũng như thế. Đại tiểu gồm được Bán Mãn, tiệm đốn lại gồm thiên viên. Vì vậy chỉ nói đại tiểu quyền thật. Cho nên nói chẳng rườm văn. Nhưng, đại tiểu Bán Mãn trước phải phân biệt, chung đồ mà nói. Như đại tiểu là hoặc chỉ người nhân ba giáo trong diễn hoặc chỉ người Nhị thừa trong diễn. Đại đại là hoặc chỉ người quả đầu ba giáo, hoặc chỉ người nhân vị Viên giáo hoặc chỉ chỉ người quả Viên cực. Tiểu đại là hoặc chỉ người Bồ-tát ba tạng, hoặc chỉ quả Phật ba tạng. Đại tiểu đã thế thì Bán Mãn cũng, cho nên khác nhau. Quyền thật ba thứ nay nếu khai chung y cứ lệ mà nói thì cũng nhìn giới hạn ba thứ kia mà nói. Nói Tiểu đại là Phật ba tạng, nói Tiểu tiểu là người nhân ba tạng. Nói Đại đại tức là chỉ quả Phật ba giáo. Nói Đại tiểu tức là người nhân ba giáo. Bán Mãn lệ nói cũng rất dễ hiểu, khai chung tiến chăng so sánh trước rất dễ biết. Quán tâm cho đến suy v.v… là Chư Phật khế tâm, như khế mà nói. Đại sư cũng là suy quán mà nói, tâm hợp với pháp. Cho nên quán tâm suy chẳng trái pháp tướng. Là bất tín, là lại dẫn chứng thành tựu nghĩa đốn tiệm, văn của bốn giáo phải phân ra tiệm viên. Thứ sáu xét văn chưa thấy sợ là văn lầm. Trong văn chẳng nói Bồ-tát, ví chẳng dứt hoặc đồng với phàm phu, văn ở quyển hai mươi hai đủ như đã dẫn, đồng với văn quyển chín. Kinh sau cùng nói: Này người thiện nam, như trâu mới đẻ máu huyết chưa khác, nay trở lại trước lấy nghĩa tiện nói vì hòa máu sữa với sữa sạch trước. Tuyết Sơn v.v… là văn ở quyển hai mươi bảy. Kinh nói núi Tuyết có cỏ tên là Nhẫn nhục, trâu ăn liền thành đề hồ. Thứ tám lại nói: Núi tuyết có cỏ tên là phì nị, trâu ăn vào thuần sạch đề hồ. Đề hồ không có mầu xanh vàng đỏ trắng, nhân duyên nước cỏ khiến có mầu khác. Cho nên chúng sanh cũng vì vô minh nghiệp nhân duyên mà sanh ra hai tướng, nếu vô minh chuyển tức biến thành minh văn, kế lại nói: Núi Tuyết có loại cỏ tên là phì-nị. Nếu trâu ăn vào liền thành đề hồ. Chúng sanh phước mỏng chẳng thấy cỏ ấy. Phật tánh cũng như thế, vì phiền não che lấp nên chẳng thấy Phật tánh. Ba văn đồng có tên đề hồ. Hợp văn khác chút ít. Văn trước tu tám Chánh Đạo kế nói chuyển tức là gọi, đều là viên ý chánh ở văn nay. Sau nói phiền não che tức là ý khác. Kinh nói: Ý mật khéo tu gương sáng. Thứ lớp tám văn chứng bất định, cũng sợ văn lầm. Ở kinh quyển hai mươi bảy, Sư Tử Hống hỏi rằng: Thân chúng sanh sáu đường khác nhau, vì sao nói Phật tánh là một. Phật nói ví như có người bỏ thuốc độc vào sữa, cho đến đề hồ đều có độc, sữa chẳng gọi lạc cho đến đề hồ, tên tuy đổi mà vị độc chẳng mất, nếu uống đề hồ thì cũng giết người, mà thật chẳng để thuốc độc vào đề hồ. Phật tánh cũng như thế. Tuy khắp năm đường chịu thân khác nhau mà Phật tánh ấy thường một chẳng đổi. Từ thí dụ năm đường nay thí dụ năm vị làm sao đồng được. Đáp: Người phải y cứ pháp, Đại kinh y cứ người thân khắp năm đường, giống xưa chẳng dứt ở trong năm đường độc phát bất định, nay dùng năm đường nghe pháp trải vị nghĩa chẳng trái nhau. Đã y cứ nghe giáo phải trải năm vị, tức tám bộ các kinh trước. Phương Đẳng cũng có chúng ở địa ngục đến nghe, nên kinh lấy năm mươi mốt để dụ năm mươi hai đối với lý không thương tổn. Nay y cứ trở xuống là dẫn ví dụ. Lấy một khoa này mà lệ với văn trước sau, đều phải làm phân biệt mà dẫn chứng. Tuy có thể lệ với đây nhưng có hơi khác. Như ý văn vừa phân biệt khai chung, xem rất dễ hiểu.

Năm là quyền thật. Trước giải thích tên, quyền này vốn là diệu thể của Chư Phật, trong thể phương tiện nên gọi là quyền mưu. Như quyền không thể nghĩ bàn mà bày mưu nên gọi là quyền mưu. Mưu nghĩa là mưu độ. Đây là chẳng mưu mà mưu nên gọi quyền mưu. Không phải tạng chung v.v… có quyền mưu. Đây gọi quyền mưu nên dẫn Pháp Hoa để giải thích quyền thật, tức là quyền ở trong thể. Tạm dùng v.v… là tạm dùng văn thích danh của Pháp Hoa để giải thích tên gọi quyền thật. Hỏi: Vì sao dùng quyền lại dùng thật? Đáp: Trước nói chung về ý dùng giáo, chúng sanh căn cơ kém mỏng dùng quyền để thành dọcc, nếu căn cơ thành dọcc rồi thì khai quyền bỏ quyền, bày khai bỏ đều y cứ vào bốn tất. Vì nghĩa ấy nên dùng quyền thật. Kế nói về sự hưng phế, phán năm vị, nếu chẳng y cứ năm vị thì không do đâu để hiển bày Thật bộ của Pháp Hoa. Cho nên trở xuống là ý kết giáo. Nay lại trở xuống là khai. Trước y cứ bốn tất xoay vần hưng phế không phải theo thời theo bộ bỏ hẳn. Cho nên biết văn trước chỉ là xếp. Cho nên y cứ phân biệt để nói về khai, thì bốn giáo đều thật. Lại bốn thứ trở xuống là dùng giáo đối với lý mà nói quyền thật, thì lý Thật giáo quyền. Trong giáo tuy có tên quyền thật đều vì người khác chẳng được mà nói, nên gọi là gượng ép. Đẳng thị trở xuống là nêu lời vặn hỏi. Quyền thật trong giáo đều đã gượng gọi sao chẳng đem thật làm quyền gọi quyền làm thật. Vì có trở xuống là đáp. Nay nói gượng, là y cứ bèn nói có gọi là gượng nói. Gượng tức là quyền gọi nên gọi là quyền y cứ thẳng bên nói chẳng thể quyền thật lẫn lộn nhau. Lại đây trở xuống là lại xếp trong giáo hoặc quyền hoặc thật, đều chẳng phải quyền thật. Vì sao trở xuống là giải thích, vì quyền thật này chẳng phải quyền chẳng phải thật, chẳng thể làm quyền thật mà nói. Đây chẳng phải quyền, chẳng phải thật trở xuống là bày đồng. Tuy song phi quyền thật nhưng chẳng được khác với vừa nói là thật bỏ quyền. Vừa rồi trở xuống là lại bày lý chẳng khác. Vì khai quyền nên thấy ở thật lý. Thật lý này chỉ là vừa tới hai lớp song phi: Một là song phi quyền thật hai lý; hai là song phi nói quyền lý thật, đều là y cứ lý không thể nói. Cho nên biết lý này tức là thật lý ở trước.

Nếu khác trở xuống là ngăn nghĩa khác. Nếu lý song phi khác lý thật, thì ngoài lý thật phải có lý khác. Đã không có tuệ năng chiếu lý khác lại không có cảnh sở chiếu lý khác, cho nên ngoài thật lý không có song phi khác. Đối quyền trở xuống là giải thích không có lý khác, vì đối phá quyền giáo nên nói thật giáo, cho nên có quyền có thật. Thật cũng nói lý. Nếu bỏ giáo quyền thật thì nói chẳng phải quyền chẳng phải thật, bỏ giáo cũng là hiển một thật, đối phá lý giáo cũng là hiển một thật. Cho nên lý song phi chẳng khác lý một thật, tức giáo trở xuống là khai giáo hiển lý, bỏ giáo bỏ quyền còn tức hiển lý, huống chi tức văn tự là lý thật tướng. Phải biết giáo quyền thật cũng chẳng phải quyền thật. Song phi này lại chẳng khác với song phi ở trước, nên nói không hai không khác, tùy nói khác cho nên chẳng hợp, lý chẳng khác nên chẳng tan. Chẳng phải quyền chẳng phải thật trở xuống là dùng một chỉ quán mà kết. Quán cho nên trở xuống là nói tên khác. Đây không phải chỉ trở xuống là kết chung. Như vừa khai quyền thật đều là lý không quyền thật, cho nên đều chẳng phải quyền và thật. Cũng thuộc v.v… là sợ nghe song phi lại bảo thật lỗi. Cho nên kết rằng chỉ là hiển thật. Hỏi: Huyền văn các nghĩa đều trước khai sau phế, như chỗ vừa dẫn vì sao lại trước phế sau khai? Đáp: Huyền văn y cứ dụ như hoa sen ở đời là trước nở sau rụng, nay từ pháp tiện nên trước phế sau khai. Đã phế quyền rồi thì thật rất dễ thấy, nghĩa nó như khai. Lại văn phế này hơi khác với kia, nó y cứ Pháp Hoa mà phế bỏ giáo quyền trước bộ trước. Lại phải khai quyền bộ quyền giáo trước. Nay y cứ các văn xoay vần bế nhau, cũng giống như chưa khai, vì thế khai ở trước nay đủ hai nghĩa cho nên phế ở trước. Lại phế đồng với đãi khai, đồng với dứt tuyệt, đại trước tuyệt sau, chưa mất pháp thường. Lại người tu Lăng-già nói: Kinh này khai quyền nghĩa đồng với Pháp Hoa. Nếu thế sao các văn trước sau đều chê bai Nhị thừa và ngoại đạo. Cho nên thứ ba nói tất cả kẻ ngu thiền đều gọi là Nhị thừa. Đây là bác bỏ ba tạng; Hai là quán sát thiền, tức là lìa tự tha mà được người vô ngã, cũng lìa ngoại đạo, chẳng lẽ không phải Thông giáo; Ba là chân như thiền, tức là biết niệm chẳng khởi há không phải Biệt giáo; Bốn là Như lai thiền tức là vào Phật địa há không phải là Viên giác. Cho nên biết kinh ấn cũng còn quyền thừa. Dùng Đại mà bác bỏ tiểu, cũng cùng với nghĩa vị trước nói ý đồng. Quyển cuối lại nói: Đạo Nhất thừa chỉ có Như lai được, ngoại đạo, Nhị thừa, Phạm thiên không được, đâu cùng Pháp Hoa Nghiêm Vương Tà Kiến, năm nghịch Điều-đạt, Long nữ súc sanh mất giống Nhị thừa đều được thọ ký làm Phật ư? Hỏi: Vì Phật mà bày quyền trở xuống là lại phân biệt lý giáo tiếp nghĩa. Từ đầu đến tiếp vào vị nào gồm có năm câu hỏi. Dùng một chữ hỏi mà gồm năm văn: Một là hỏi quyền hay thật; hai là hỏi ý gì chẳng dự bốn số; ba là hỏi vì sao chỉ tiếp chung; bốn là hỏi vị nào bị tiếp; năm là hỏi tiếp vào vị nào. Trong đáp đáp đủ năm câu hỏi vẫn là hai lớp, một là y cứ giáo, hai là y cứ đế. Trong y cứ giáo đáp câu hỏi đầu là bị người biết tiếp ắt chẳng chứng hết, cho nên có quyền thật khác nhau. Bốn giáo trở xuống là đáp câu hỏi hai, vì biệt tiếp nên chỉ dùng chung của Biệt giáo như trước nói. Các giáo trở xuống là đáp câu hỏi ba, Huyền văn nói đủ dùng Viên tiếp Thông dùng Viên tiếp Biệt. Nó y cứ giáo đạo, trong giáo đạo hoặc dùng quyền giáo mà tiếp quyền, hoặc dùng thật giáo mà tiếp quyền. Nay chỉ y cứ giáo sở thuyên lý bên chỉ dùng quyền lý bị thật lý tiếp ở nghĩa lược đủ. Cho nên chỉ nói trong ngoài giao tế phải lập một tiếp, các thứ khác như trước nói. Nếu bằng trở xuống là đáp câu hỏi bốn, Bát địa mới tiếp, đây là y cứ theo hạ căn. Cửu địa trở xuống là đáp câu hỏi năm, là từ hạ căn đến phần nhiều là Sơ địa, người vào trung thượng ở đây thì bất định. Lại xét vị nào thì ở Địa tiền, người hơn tấn vào thì đến Sơ địa. Nói Cửu Địa phục, mười địa phá, là vẫn tên vốn lập gọi là Cửu Địa Thập địa, vào giáo biệt viên phải gọi là Sơ địa cho đến Sơ trụ. Nếu tới trở xuống là y cứ đế để đáp. Chỉ đáp bốn câu hỏi, đáp thiếu câu thứ hai, vì câu hỏi hai chỉ hỏi vì sao chẳng dự vào bốn số, không phải chánh hiển lý nên lược chẳng đáp. Trong đáp bốn câu hỏi vẫn chẳng thứ lớp. Trước đáp câu hỏi một, trung không họp luận, không tức là quyền, trung tức là thật. Phá kiến tư trở xuống là đáp câu hỏi bốn, tức địa thứ tám mới phá tiếp. Hỏi vì sao đến Bát địa mới tiếp đáp vì muốn bày trung ở trong chân, cho nên đợi chứng không mới điểm bày. Khiến quán sâu không liền thấy chẳng không. Nếu thế, hai căn trung thực hành nghĩa ấy thế nào? Đáp: Hai căn trung thượng cũng thấy chân rồi mới bày trung chung. Nhưng hai căn trước chân không còn cạn. Cho nên nói giáo thường giúp hạ căn. Nghe rồi trở xuống là đáp câu hỏi năm. Chỉ nói vị khác chẳng nói tên vị. Một vì người nào bất định vị ấy; hai là riêng ở Sơ địa, vì vị Địa tiền cùng trước chung nhau, cho nên chỉ Sơ địa gọi là Biệt vị, cũng như Viên giáo thỉ chung đều Viên. Nếu xếp viên vị thì ở sở trụ. Bồ-tát Ba tạng trở xuống là đáp câu hỏi ba. Bồ-tát phục hoặc rồi như trước nói, Nhị thừa hai giáo Pháp Hoa mới hội, cũng chẳng nói tiếp. Hỏi: Pháp Hoa Huyền nói tiếp không phải nghĩa hội nay y cứ Pháp Hoa chỉ phải nói hội, sao lại nói tiếp. Đáp: Trước sau các văn hội không phải một nghĩa. Nay nói tu quán cũng có thể kể lại giáo trước Pháp Hoa để lệ với người tu. Nói ở giáo 92 môn tướng chung bít, cho nên nói chưa ngại hội. Huống chi là tiếp ở Bồ-tát chẳng khác với hội. Lại văn trước sau chỗ nào cũng đều nói có thể nghĩ bàn là chỉ để hiển, không thể trước đãi sau tuyệt, thứ lớp như thế, đâu cần hỏi rằng chẳng nên nói tiếp. Hỏi: Ba quyền trở xuống là phân biệt lý giáo cơ thật, có hai hỏi đáp văn đầu rất dễ thấy, kế là hỏi đáp trung. Trong câu hỏi đầu gồm hai ý, trước hỏi nếu biết vì sao gọi là quyền, hỏi: hai giáo Thông, Biệt cũng gọi là quyền phải không? Kế hỏi: Nếu nói chẳng biết hai kinh trái nhau, là hỏi ba tạng giáo trước sau chẳng biết, liền trái với Niết-bàn, Thắng-man. Hai kinh ấy đều có văn sáng tỏ nói trong đáp Tam Tạng trước, đáp ý đầu có phương tiện riêng, tuy trước nghe thật từ giáo thành quyền, Bát địa Thông giáo có thể tiếp mà biết, cho nên giáo cũng quyền. Nếu nói trở xuống là đáp ý thứ hai, trước là nhắc lại câu hỏi, kế Đại kinh trở xuống là chung nạn. Trong đó, trước chung Đại kinh, vẫn trước nêu Đại kinh về câu hỏi ấy. Y theo văn trước nêu hai kinh để làm lời hỏi. Sau mới kết nạn. Để tránh văn rườm rà nên ở trong đáp mới bắt đầu dẫn lời hỏi kinh, sau đó mới chánh đáp để bày ý kinh. Cho nên Đại kinh quyển ba mươi hai nói tuy tin khác tướng chẳng tin một thể không tướng khác nhau gọi tín chẳng có tín. Vì chẳng có tín nên tất cả cấm giới cũng chẳng đầy đủ, vì tín chẳng đủ nên tất cả họ rộng cũng chẳng đầy đủ. Thứ ba nói rằng: Người thiện nam phải tu tập Phật pháp và tăng mà nghĩ là thường, Tam bảo này không có tướng khác, không có tướng vô thường, không có tướng đổi khác. Nếu đối ba thứ này mà tu tướng lạ, thì phải biết người này thanh tịnh ba qui y không chỗ nương tựa, bao nhiêu giới cấm đều chẳng đầy đủ, chẳng bao giờ được Bồ-đề Thanh văn, Duyên giác. Nếu tu tưởng thường thì có chỗ về. Như chỗ lập câu hỏi, cứ hai văn này hợp thành một câu hỏi. Từ ngữ nhắc lại lời hỏi đã xong. Kế nghĩa này trở xuống nha nay làm chung. Trước nói không nghe thì chẳng biết. Nói tụ sức mình, là nếu không có sức nguyện của Chư Phật, Bồ-tát gia hộ cho khiến biết thì còn chẳng được ở Phương Đẳng nghe Bát-nhã, huống chi ở Pháp Hoa mà đích thân được thọ ký. Kế nêu thí dụ. Thiên nhãn chưa mở, ví như sức mình chẳng biết, nếu nghe mà biết thí như bị đờn (đạn) v.v… La-hán trở xuống là đều chẳng biết. Cho nên Pháp Hoa trở xuống là dẫn chứng sức mình căn bản, sức khác mới biết. Lại nói trở xuống là kết trước chẳng nghe thì sức mình chẳng biết. Gồm nêu Bồ-tát để so sánh Thanh văn. Kế kinh gọi trở xuống là chánh nêu ý kinh. Nếu nói chẳng biết thì làm sao chung. Cho nên kế nêu rằng cùng biết lý mình sở dĩ Đại kinh nói thế là nêu xưa mà bác bỏ nay. Thanh văn chẳng nghe Chân đế thường trụ một thể chẳng đổi, Tiểu thừa qui giới còn chẳng đầy đủ, huống chi là chưa nghe Đại thừa thường trụ, đâu có thể đầy đủ đạo bình đẳng cho nên y cứ phẩm từ đây về trước Phật nhãn chưa mở, chưa được thọ ký, vẫn ở chỗ được sanh nghĩ là diệt độ, cho nên trong kinh Tịnh Danh tự buồn hư giống. Nếu Phật diệt độ rồi dẫu sanh diệt tưởng cũng gặp bốn y mà nghe thường trụ. Nam Nhạc giải thích rằng: Phật kia là bốn y. Nếu quyết liễu rồi lại chẳng phải Nhị thừa, cho nên biết Pháp Hoa về trước chẳng được nói biết rõ ràng. Sở dĩ kinh nói biết, là chỉ biết Chân đế. Cho nên dẫn Tu-bồ-đề chẳng lễ sắc thân, vì ở hang đá thấy pháp thân Tiểu thừa không tới lui, cũng như Trần-như được chứng Vô sanh. Chứng Vô sanh chỉ là thường trụ, đây đều là chân đế thường trụ của Tiểu thừa mà thôi. Lại Luật nghi trở xuống là kế bày hai văn qui giới mà hỏi. Nếu thấy không, còn được luật nghi vô lậu đều phát, với đạo gọi là đầy đủ, huống chi là chẳng đủ sự luật nghi ư? Cho nên Hoa Nghiêm trở xuống dẫn chứng Chân đế được gọi thường trụ. Đã nói Thường trụ Nhị thừa cũng được, lại chẳng gọi Phật, phải biết lời chung thường trụ đâu cần phải hạn cục Đại thừa. Nếu chẳng trở xuống là kết thành bày ý hỏi. Nếu y cứ vào văn Thanh văn chẳng biết thì chẳng đủ ở giới cấm. Giới cấm đã đủ thì tên thường không hạn cục ở đại, lại nêu lệ trở xuống là dẫn lệ mà giải thích thành. Trước dẫn kinh. Muốn gọi trở xuống là lệ đều kết thành. Cho nên ba tạng trở xuống là kết đáp. Như chỗ giải thích trước thật chẳng trái với văn Niết-bàn. Cho nên văn kinh Niết-bàn ý gồm hai hướng. Xưa thì phải biết Tiểu thường, nay thì phải biết Diệu thường. Thắng-man trở xuống là chung ý kinh Thắng-man cũng trước nhắc lại lời hỏi, kế bày ý kinh. Nếu muốn làm sáng tỏ ý kinh Thắng-man thì phải làm hai thứ sơ nghiệp mà giải thích. Văn đầu đã nêu sơ nghiệp lâu xa nên nói căn bản, đều kết duyên với mười sáu Vương tử, lại chỉ tích hóa nên nói ra tìm. Nếu lấy trở xuống là chỉ gần đời này. Trước nghe bốn đế diệt lý chân thường, ý này đồng với trước. Nếu xa xưa trở xuống là lại giải thích lâu xa tức là thuận hỏi đáp trước. Ngày nay Thanh văn đầy đủ cấm giới, bởi sơ nghiệp lâu xa nghe thường. Nếu xưa chẳng nghe tiểu còn chẳng đủ huống chi là đại ư? Nếu hoàn toàn chưa hề nghe thường Đại thừa, đã không có Tiểu quả, làm sao nói giới cấm đủ hay chẳng đủ. Vì thật mà bày quyền, che tướng nói đủ, đậu lâu xa ấy, sơ nghiệp nghe thường. Đời này hiển luận được ký mới đủ. Sợ hãi sanh tử là như Xá-lợi-phất lội qua sông bố thí, cho nên Đại luận quyển mười hai nói: Xá-lợi-phất trong sáu mươi kiếp thực hành hạnh Bồ-tát, có Bà-lamôn đến xin mắt Ngài. Xá-lợi-phất nói: Phải xin cái cho được, mắt này 9 không kham. Bà-la-môn nói không cần thân và tiền của, chỉ cần mắt. Nếu ông thật hành bố thí thì phải cho tôi mắt. Bèn móc một mắt mà cho. Bà-la-môn được rồi thì ngửi mà bảo rằng: mắt này thúi quá, rồi khạc nhổ bỏ đi và dùng chân đạp lên. Xá-lợi-phất nói: Người này quá tệ ác làm sao độ được. Thật không dùng mắt mà ép đòi cho được. Không bằng tự độ mà sớm thoát sanh tử, lui sụt Đại thừa rồi sau bị luân hồi sanh tử gọi là chẳng đến bờ kia. Pháp Tài Vương Tử, là kinh Bản Nghiệp Anh Lạc quyển thượng chép: Bồ-tát trụ thứ sáu, chỉ quán hiện tiền gặp Phật Bồ-tát và thiện tri thức che chở, vào Trụ thứ bảy rồi được bất thối, người vô ngã rốt ráo chẳng sanh. Nếu chẳng thế thì một kiếp cho đến thối tâm Bồ-đề như ta ở hội đầu có tám muôn người lui sụt, tức là Tịnh Mục Thiên Tử, Pháp Tài Vương Tử, Xá-lợi-phất v.v… Muốn vào Thất trụ gặp ác tri thức lui xuống phàm phu. Cho đến ngàn kiếp có tà kiến lớn và năm tội nghịch, không điều ác nào chẳng gây tạo. Và trong Niết-bàn thối chuyển Bồ-tát, là kinh thứ hai mươi sáu, Sư Tử Hống hỏi Phật rằng: Nếu Phật tánh thường sao có lui sụt? Phật nói: Ví như có hai người cùng nghe ở phương khác có núi bảy báu, một người sợ đường xa nhiều hiểm trở, ít thức ăn liền lui sụt chẳng đi. Một người liều mạng đến đó mà được nhiều châu báu. Người lui sụt thấy rồi thì tâm nóng nảy lại đi. Người lui sụt là dụ cho Bồ-tát thối, còn người không lui sụt là dụ cho Bồ-tát Bất thối. Đâu vì lui sụt mà làm cho đạo không thường. Thí như trở xuống là nêu thí dụ. Đại địa là mới phát tâm Bồ-đề, y vào mới phát tâm mà có Tiểu thừa sơ nghiệp các dụng. Tiểu thừa sơ nghiệp như cây mới nảy mầm, đều do đất Bồ-đề mà được thành tựu. Tiểu thừa trở xuống là hợp thí dụ. Nói Yết-ma chẳng thành, là gọi lâu xa, nếu không có đại thì khiến bỉnh pháp Tiểu thừa chẳng thành, vì không có (gốc) nên các hạnh chẳng thành, như cây không rễ chẳng ra hoa quả. Thời cơ chưa thuần dọcc nên quyền đặt tên tiểu nhưng việc làm của các ông là đạo Bồ-tát, không phải mới được thọ ký mới được gọi là Đại nhân. Cho nên biết vô tâm là ở bến báu, đường đến hóa thành một bước chẳng thành đâu thể vào thành mà nghĩ là an ổn. Chẳng tin thường trụ, cấm giới Thanh văn đều chẳng đầy đủ. Lời này có bằng cớ. Đây là đều bác bỏ kẻ chưa phát đại tâm thì thành tựu không gốc. Tuy là không gốc mà y cứ vào tâm thọ giả, y cứ vào bổn hoài của Phật đã bày đại hóa, ý có không cần phải xét kỹ. Nếu có giải thích này, đây là hiển bày ý hai giải thích sở nghiệp. Bốn niệm sơ nghiệp chẳng trái với Tiểu thừa, sơ nghiệp lâu xa chẳng đạt đến Đại thừa.

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.