Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

CHỈ QUÁN PHỤ HÀNH TRUYỀN HOẰNG QUYẾT

SỐ 1912

QUYỂN 07

Sa-môn Trạm Nhiên Tỳ Lăng đời Đường soạn.

PHẦN 1

Kế giải thích trong thông bít trước nêu bày tên khác, kế nói ý có pháp dụ cho hợp, y cứ trong pháp ban đầu trước chánh nói ý cũng là kết trước sinh sau, trước phá pháp khắp là kết ở trước. Song nhập, v.v… là sinh sau, đều dùng ba tên để làm đời sau, nên nói nên nhập, không nhập, phải tìm được mất ắt dính mắc phải quấy, được mất chỉ là có chấp không chấp, nếu đồng ngoại đạo nổi tiếng mất tiếng, phải dùng môn nầy xem xét trừ lỗi. Nếu không mất thì chỉ nương môn trước phá bít còn thông, cho nên nay ý môn ở xem xét, e ở trong thông lại khởi ra bít.

Kế thông được ở sau khuyên răn, nếu một bề tác giải chỉ có dùng phá biến, e ở thông khởi bít ở bít không thông, nên lập một môn thông bít nầy, xem xét phá khắp kia khiến bít được thông, khiến phá môn ấy ở thông không bắt.

Kế sao ở sau là nói ý, ở năng sinh chấp đồng với ngoại đạo, phải dùng bốn câu thông bít phá khắp, nên biết trước phá khắp trong đó chỉ dùng năng phá ở sở phá, còn chưa ngộ phải ở năng phá tâm sinh chấp trước, đối với năng sinh chấp quán pháp tuy chánh chấp tâm đồng với tà, cho nên phải phá, nên nói ái chấp quân không trí tuệ, vì thế phải dùng bốn câu ba giả phá tâm năng chấp khiến không có chỗ lập, phá trí năng chấp như hoặc sở phá, nên nói năng phá như sở phá. Tuy không ái chấp quán năng phá, mà còn ái chấp hoặc sở phá, nên nói nếu không ái chấp quán không trí tuệ thì năng phá không như sở phá, cho nên chỉ dùng biến phá hoặc cho nên phải dùng hai câu phân biệt, thì khiến văn nầy khác với trước:

  1. Thông trừ thông bít thì dùng sở phá làm bít năng phá làm thông.
  2. Biệt tướng thông bít thì dùng ở năng khởi chấp làm bít phá bít không chấp làm thông, nên văn sau nói: Pháp tướng cạn sâu mặc tình có thông bít, huống chi lại ở trong đó khởi khổ tập, v.v… câu trên tức là thông đường thông bít, câu sau tức dùng biệt tướng so sánh. Nhưng nay trong đây gồm có bốn nghĩa:
  1. Ngang thông bít.
  2. Dọc thông bít.
  3. Ngang dọc thông bít.
  4. Nhất tâm thông bít.

Văn có bốn, nghĩa có hai, ba pháp trước thành nhất tâm, mỗi pháp đều phải bốn câu để so sánh, nếu ở bốn thông mà khởi chấp bít, đều phải phá bít để còn thông, như vậy lần lượt phá làm trông mong, nên văn sau nói ở mỗi năng, mỗi sở, mỗi tâm đều xem xét, vì nghĩa nầy nên lập môn thông bít nên lại phải chia ra bốn câu:

  1. Trong bít được thông.
  2. Trong thông có bít.
  3. Bít tự là bít.
  4. Thông tự làm thông.

Hai câu đầu tức là nay văn biệt tướng thông bít, hai câu sau nếu bít đã phá thì thuộc về phá khắp, nếu bít chưa phá độ nhập, nay văn thành hai câu trước. Lại câu thứ nhất gồm ở hai câu, nghĩa là tướng chung, tướng riêng hai ý: Kế nêu dụ cho giữa dụ cho trước trừ nuôi dưỡng châu chỉ thành phần dụ. Nếu phá giặc được tướng liền thành dụ biến. Vì sao? Trừ nuôi dưỡng châu không thể châu lại thành màn, tức lẫn lộn, hai câu thứ ba thứ hai, cho nên lại dụ phá giặc được tướng. Nếu tướng là giặc, giặc nầy cũng phá, nếu giặc là tướng, tướng nầy cũng được, như vậy lần lựa tướng đều thành giặc, mỗi tướng đều phá, tức là chánh ý của văn nầy. Cái gọi là mô là giữa da có màng mỏng, màng nầy che mắt gọi là nhãn mô. Nếu vậy ở sau hợp dụ, nếu được như vậy mới dẫn dắt người đến đảo châu báu, ở giữa trước chánh hợp dụ cho.

Kế nghĩa chung năm trăm do-tuần. Cũng là chánh ý thông bít, phá bít tồn chung đến đảo châu báu, cho nên lược trải qua năm trăm do-tuần. Trong kinh nói Đạo sư khéo biết thông bít, nên dùng kinh Pháp Hoa dẫn dụ, cho nên phải phá các giải thích xưa nay, mới rõ, văn nay nhất tâm thông bít, ở trong chung có sáu sư khác nhau, phá sơ gia nói: Đạo Nhị thừa chẳng phải Thất địa Bát địa.

Hỏi: Người Nhị thừa chánh đương Thất địa Bát địa, sao nói là không?

Đáp: Trong nầy dùng ý luận giải thích để phá chấp ấy, giải thích đã nói hết sáu địa kiến tư dùng làm ba trăm, Thất địa Bát địa dùng làm bốn trăm, cho nên nay văn đế luận phá. Luận dùng Nhị thừa mà đối với bốn trăm, ông lấy Lục địa hết kiến tư, chánh đương Nhị thừa không làm bốn trăm, lại dùng Thất địa Bát địa mà làm bốn trăm, nên ông đã giải thích trái với nghĩa trong Đại luận, ý của Thông giáo trong Đại luận dến sau lại giải thích, hai nhà sau đều y cứ phiền não làm năm trăm, mà trước không đếm trần sa nhà sau không đếm ở thấy cho nên đều có lỗi. Sau nói trong lỗi lại không phá, danh nghĩa nầy trở xuống là chung cho kinh nầy.

Trước chánh thông kinh, kinh có ba nghĩa nên biết các sư không hội với kinh khế, các sư kế ở sau nói lỗi. Trước chung kế riêng. Ban đầu nói chung là dụng riêng như quá vuông dụng thông như quá tròn, người Nhị thừa làm hạnh như quá động, trong giới lập thành nhau quá tĩnh.

Lại y cứ phiền não, mà không thường thấy và trần sa, y cứ sinh tử, mà không thường có sau không sau là rất tĩnh, nên biết các sư đều tùy theo một phen thấy, hoặc được thông mà lỗi có hai, hoặc dùng Biệt mà trái Viên, hoặc đến ba trăm mà không lập hóa thành hoặc có thiện hành ở bốn trăm, năm trăm, hoặc y cứ phiền não mà thuộc về hoặc không hết y cứ sinh tử mà lấy bỏ không khắp, muốn phán viên kinh mà sợ chưa được, như đem một lỗ, v.v… không thể dùng một sư giải riêng, có thể giải thích bao gồm ba văn, nhà dầu ở sau phán riêng, nhưng bốn sư, không phán sư thứ năm thứ sáu, lược không dễ thấy, phán nhà ban đầu nói bốn trăm lập thành. Nếu y theo nghĩa thông địa thứ bảy, địa thứ tám thuộc về Nhị thừa sư ấy địa thứ bảy thứ tám đối với bốn trăm, hoặc thành bốn trăm để lập hóa thành, nhiếp gia cắt hai tử, ở ngoài hoang sơ nhiếp Đại thừa sư, lập bảy thứ sinh tử:

  1. Phần đoạn nghĩa là quả báo ba cõi.
  2. Lưu lai nghĩa là ban đầu mê chân.
  3. Lai đưa ra nghĩa là ban đầu trái vọng.
  4. Phương tiện nghĩa là Nhị thừa nhập diệt.
  5. Nhân duyên nghĩa là Sơ địa trở lên.
  6. Hậu hữu là địa thứ mười.
  7. Vô lậu là tâm Kim cương.

Ông đã lập bảy thứ sinh tử giải thích có năm trăm nghĩa, vì sao bỏ hai, vì sao chỉ dùng phương tiện và dùng nhân duyên đủ ở ba cõi làm năm trăm ư? Như ông đã giải thích ngoài các báu lại có hữu lậu và dùng vô lậu, xả mà không dùng nên gọi là cắt. Hoang là trong tám hoang tám cực cũng nói là ngoài bốn biển, cũng nói là ngoài chín châu, cũng nói là ngoài hoang phục, nên nói là hoang ngoại, như quyển nhất có trích dẫn.

Trong sách Nhĩ Nhã chép: Cửu Di, v.v… bốn thứ chấp đây là nước rất xa. Cô Túc, v.v… bốn thứ đây là nước rất xa, nay dùng cùng tột của đất gọi là xa xăm, tức dùng chỗ cùng tột dụ cho ở gò báu, ngoài gò báu chẳng lẽ có đất. Nhiếp sư cũng có hai thứ sinh thây chếtếu không luận đến, cho nên phá.

Kế phán trong giới ở chỗ đất lập thành, đã đem trụ vị để đối với hai trăm, trụ vị lại là vị dứt kiến tư, hai trăm đối giới chỉ là cõi sắc, nên biết tức là giới nội lập thành nên không thật.

Gia kế tức là do Nhị thừa làm đủ năm trăm, trải ba trăm để lập hóa thành người Nhị thừa đến nầy liền phải vào thành, vì sao đem đối với bốn trăm năm trăm, nên biết khéo thực hành bốn trăm năm trăm, chỉ có đến Pháp Hoa khai quyền hiển thật, mới ra được khỏi thành đến bốn trăm năm trăm. Nếu khai quyền thì đã thành đại Bồ-tát, đâu được lại nói cũng là Nhị thừa, nói Nhị thừa làm đủ năm trăm, nói kinh đình: Người Nhị thừa vốn bị quyền ngăn che, liền tự khai quyền nên nói kỉnh đính, đến hội Pháp Hoa Phật vì chúng sinh khai phát quyền thừa, không gọi là thiện hành cũng chẳng phải cách nhau quá xa. Đính là nghĩa vượt thứ lớp lại khai quyền vong người Nhị thừa đồng nhập, cũng chẳng phải Nhị thừa đều đối với một trăm cho nên không dùng. Thành: Là thạnh, thạnh ở sở trụ tức hành nhân, nhân sư qua như thế, ở sau giải thích nghi.

Trước gạn khởi; kế chánh giải thích, sợ người thấy luận nghi phá ban đầu.

Luận dùng Nhị thừa làm bốn trăm, vì sao không thừa nhận bốn trăm lập thành, ở trong đó bài tựa trước nói về văn. Ngôn luận có hai văn, đại luận quyển sáu mươi tám chép: Thí như muốn qua chỗ vắng nguy hiểm một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm do-tuần. Nói đường hiểm tức là thế gian, một trăm cõi dục, hai trăm cõi sắc, ba trăm Vô sắc, bốn trăm Nhị thừa. Lại nữa, bốn trăm cõi dục, ba trăm cõi sắc, hai trăm Vô sắc, một trăm Nhị thừa. Đại Bồ-tát phải biết không bao lâu được thọ ký Bồ-đề, phải biết không sợ đọa vào hai địa, lại quá bốn trăm cần thành Bồ-đề, trong văn luận không nói năm trăm, đã nói ý thông hơn bốn trăm chỗ hoang vắng gần thành Bồ-đề, thành tức năm trăm, nay chung ở sau, tức là nay phán ở văn luận chỉ thuộc về nghĩa thông, cho nên chỉ dùng Nhị thừa đối với bốn trăm, Bồ-tát đến nầy đồng với người Nhị thừa, vẫn y cứ độn căn chưa thấy trong căn, cho nên không nói năm trăm do-tuần, nên chỉ hàng Ba thừa cùng được giải thoát, gọi là Niếtbàn. Lại do Nhị thừa làm một trăm, như trước có dẫn trong luận, tìm văn nên biết, nay nói ở sau nay chánh giải, chánh hiển bày nay y Pháp Hoa nói nghĩa thông bít. Trong văn kinh đã nói hơn năm trăm, nay y theo kinh, dung làm ba cách giải thích. Nếu y cứ sinh tử và phiền não không nên nói quá. Nếu y cứ quán trí thì được nói quá quá phiền não sinh tử ở trước hai trăm, năm trăm, tức đến Niết-bàn trí Nhất thiết chủng, nên nói quán không trí biết ba trăm, v.v…, biết tức là quá.

Ban đầu y cứ sinh tử, năm trăm đều là sinh tử, cho nên không dùng Tịnh Quang đối với năm trăm.

Kế y cứ phiền não, kiến chung ba cõi nên hợp thành một, ở sau phân ra ràng buộc ở dục nên hợp thành một.

Trong Câu-xá chép: Do hai nên không vượt ham muốn do ba lại ở sau. Hai nghĩa là tham sân thông ở trên gọi là thứ nên hợp thành một. Ở sau có phân ra năm, nghĩa là thân kiến, giới, thủ, nghi, tham, sân. Nói phần trên là trên có phân năm, nghĩa là trạo cử, mạn, vô minh, vô sắc nhiễm, lấy ba cái nầy giải thích tức là một niệm năng sở không chấp, mới gọi là khéo biết. Lại các Sư ở sau kết chẳng phải hiển chánh, phân tích các sư giải thích, chỉ có y theo quyền giáo phán vị rất cao, ở trong quyền vị giải thích không rõ, nên ở sau chánh dùng ngang dọc phán quyền và ngang biệt, mới hiểu quyền là pháp của nhân sở hành, hoặc ngang hoặc dọc đều phá, năm trăm nhưng chẳng phải một niệm, nên xếp vào quyền, gần mà cũng xa, xa mà lại gần nên gọi là liêu. Ngoài hai bên lập riêng năm trăm, nên gọi là liêu viễn, đây là kết chung các sư phán vị rất cao. Ban đầu sư dùng Thập địa làm năm trăm nhiếp sư ở Sơ địa địa sư ở Thập địa, như đây phán xét phàm ở sau tuyệt phần, hóa thành chẳng phải mong đảo châu báu, mong bờ mé. Phàm đã mong bờ vì ai nói giáo, nếu kia đây dạy ai làm bậc Thánh, trong kinh không nên nói vì khiến chúng sinh định ở Thập địa, người Nhị thừa được khế hội cũng còn chưa đến, hà huống phàm phu, nay nói viên môn thật tướng đảo châu báu, phàm thánh thông đủ sáu tức để phân biệt, xưa y môn quyền phán lập rất xa, nay y theo thật giáo cho nên không dùng, nay luận ở sau chánh dùng do-tuần giải thích ý thông bít, trước ngang dọc, kế nhất tâm, ban đầu có ba nghĩa: Nghĩa là: 1- Ngang, 2- Dọc, 3- Ngang biệt.

Ban đầu ngang, như trong văn.

Kế Dọc trong văn trước chánh nói dọc.

Kế Ngang chức dọc, dọc ba như trải qua ngang có ba như vĩ, dệt lại khiến thành ba đế văn chương. Nếu trong ba đế có khổ tập, v.v… thì ba đế không thành, như khi nhập không, đủ đế duyên so lường, suy xét tâm pháp và năng sở khiến không có khổ tập vô minh sáu tệ, trong giả suy xét cũng giống như.

Ban đầu nhập giữa hư không phân tích thể khác nhau.

Ban đầu nói phân tích giữa hư không trước nói ba bít; ban đầu là khổ tập, đã không biết ở sau là mười hai duyên, kế không diệt ở sau là sáu tệ, trong sáu tệ chỉ nêu một san còn năm cái đều được; kế dẫn trong Đại kinh để chứng minh sáu tệ, tệ tức là bít. Thư mười một nói: Như trẻ nhỏ đồng tử Bà-la-môn bị đói ép ngặt, thấy trong phân người có trái Yêm-la liền đến lấy ăn, người hiểu biết liền quở trách: Ông dòng tịnh hạnh sao lấy quả dơ nầy mà ăn? Đồng tử nghe rồi hổ thẹn, liền đáp rằng: Tôi thật không ăn, rửa sạch rồi bỏ, người hiểu biết quở rằng ông là đại ngu si, nếu muốn bỏ thì không lấy. Trong Chương An nói: Người Bà-la-môn tức dụ cho mới tu Bát-nhã tịnh đạo, trẻ nhỏ dụ cho giải hạnh cạn yếu, ba đường khổ ép ngặt dụ cho trong cái đói vô thường có quả trời người, như phân dơ ấy có quả Yêm-la, hạnh sâu quở trách là can nên nói là trí ba, đồng tử bỏ hạnh cạn trong lòng hổ thẹn, chẳng phải tham cái vui cõi trời, vì muốn ở Trung đạo xả bỏ, nên nói rửa bỏ, người trí nói bỏ, Bồ-tát khuyên khiến tất cả đều bỏ, không cần thọ rồi lại quán mà bỏ nên biết ý kinh, chánh dụ cho Bồ-tát ba tạng, quán sinh thọ sinh gọi là rửa rồi bỏ, nên biết trong ba kỳ trăm kiếp, trong tâm hữu lậu tu sự sáu độ, độ cùng hoặc chung nghĩa đều ở ngăn che. Kế ở sau nói ba thông, tức đều duyên độ, đế duyên độ tướng tìm văn nên thấy, phải dùng kế ở sau nói xem xét nói mỗi là bất luận năng sở và dùng tâm pháp, có bít đều phá như trước phá giặc, nên biết thông bít đều phải xem xét, trong ba đế nói các tâm, v.v…, tâm nghĩa là thể phân tích tâm kiến tư. Pháp nghĩa là giả quán biết bệnh đồng với ba, và vô minh trong Trung quán đồng có qua đây, v.v… đều có năng sở. Lại tâm nghĩa là tâm năng duyên. Pháp nghĩa là pháp sở duyên, hoặc quán hoặc cảnh đều có tâm pháp đều phải xem xét, ở sau nêu bày như. Lại nữa kế ở sau nói thể không, văn cũng ở trước nói tướng thông bít, như La-hán ở sau dùng Thánh so sánh với phàm, Thánh còn gọi là âm, phàm sao không được, nếu chấp ở sau chỉ bày khổ tập, hết nghiệp tức tập, sinh tử tức khổ. Nếu không biết ở sau sẽ nói mười hai nhân duyên, nếu ái kế ở sau nói sáu tệ, cũng chỉ nêu một san còn năm pháp đều lược, dùng tức không ý ở sau xem xét nhập không theo canh pháp bệnh, kế ở sau nói xem xét nhập giả, đều rất dễ thấy.

Hỏi: Trước nhập hư không nói mỗi tâm, nay nhập giả trung nói mỗi pháp là sao?

Đáp: Ba quán sở quán, không ở đâu chẳng phải tâm pháp. Ban đầu phá kiến tư, khởi tâm gọi là tiện, nhập giả tập pháp tác pháp gọi là tiện, do mình tha tâm sở tập thành pháp, khi nhập trung đều là pháp giới, từ pháp lại tiện, văn lược rất dễ thấy, kế xem xét Trung đạo chánh quán lại xem xét dọc phá, Trung quán ba lần, trong đây còn lược, chỉ nói quán ở pháp tánh vô minh chân duyên ba giả, để chỉ bày thông bít, mỗi duyên ở sau chỉ bày tướng xem xét, nếu làm như thế ở sau đến bít mới được thông, nói quyền vị rất cao, Thông giáo sáu địa Biệt giáo Sơ địa, hai giáo như vậy trải qua kiếp số, cho đến vị thật tướng đảo châu báu, vị nầy chính là tướng dọc ba đế, kế dẫn trong Đại kinh để chứng quyền vị trải qua kiếp số, thứ lớp trong Đại kinh đều có bốn văn, đại đồng tiểu khác. Trong thứ mười nói: Trải qua số kiếp sẽ được Bồ-đề, quyển mười chín nói, đến Bồ-đề, thứ hai mươi nói được Bồ-đề, thứ hai mươi mốt nói trụ Bồ-đề, trụ chỉ là trụ ở trụ xứ, Sơ trụ Bồ-đề, phải nói trải qua nhiều kiếp mới được Bồ-đề, đến Bồ-đề được tên khác mà nghĩa đồng, đến nghĩa là từ trong phương tiện, được là được ở nơi chốn phát tâm.

Nói Tu-đà-hoàn: Là theo xưa đặt tên, trải qua bảy lần sinh rồi nhậm vận nhập Niết-bàn, sinh rồi trải qua tám muôn kiếp mới phát đại tâm. Nhất lai là có sáu muôn, Bất hoàn có bốn muôn, Vô học có hai muôn, Bích-chi-Phật có một muôn, so sánh nói nên biết tệ căn tánh lợi độn nên khiến ra khỏi trải qua kiếp dài ngắn, phát tâm rồi sau tu Trung đạo quán, dứt vô minh hoặc được thầy Phật tánh, mới gọi là năm trăm. Đây nói Nhị thừa ba tạng nhập diệt. Thông giáo phần nhiều liền sinh năng phát như luận đây là không có lợi ích cho Sơ tâm, nhưng đến năm người đều nói phát tâm hoặc đến hoặc được, cho nên cùng nghĩa Duy thức đồng thời gian dài mới phát giáo cũng là quyền, huống chi chấp hằng diệt, đâu không có phương tiện nếu chấp quyền luận phá kinh thật của Phật chút lấy quả sâu nặng, bởi sơ chưa được, tướng dọc nầy tuy vốn là thành chẳng phải dọc chẳng phải ngang, cùng quyền giáo ấy vị kế đồng, nên phải phân tích phá ở sau ngang cũng.

Kế nói ngang khác nhau, pháp trước dụ kế, ban đầu nói trong pháp trước nương ba người để rõ quán tướng, trong mỗi văn đều nêu ra tướng quán trước, kế nói xem xét, ba quán nầy y theo văn Đại phẩm. Trong kinh nói: Có Đại Bồ-tát, khi mới phát tâm thực hành sáu pháp Ba-la-mật, ngôi vị Bồ-tát trở lên được A-bệ-bạt-trí, có Đại Bồ-tát, khi mới phát tâm lại thành A-nậu-đa-la-Tam-miệu-Tam-bồ-đề xoay bánh xe pháp, cùng vô lượng chúng sinh hóa ích sâu dầy rồi nhập Niết-bàn có Đại Bồ-tát, từ khi mới phát tâm tương ưng với Tát-bà-nhã, cùng vô lượng trăm ngàn muôn ức, từ một cõi Phật đến một cõi Phật thanh tịnh thế giới Phật, nay văn dẫn khai vị thứ ba ấy là thứ nhất thứ hai, lấy thứ hai làm thứ ba. Lại trong kinh nêu bày trước sâu sau cạn, nay nêu bày từ cạn đến sâu, y theo nghĩa lại đối với lý không có lỗi. Văn thứ nhất nói: Sáu pháp Ba-la-mật, tức là nêu hạnh; văn thứ hai nói lại thành Bồ-đề tức nêu vị, hạnh vị tuy khác mà đồng hiển bày một ý, cho nên nay văn lược ở thứ nhất, thứ ba trong văn đầu nói Tát-bà-nhã, lại nói: Thanh tịnh cõi Phật, tuy đồng một văn đã đủ hai nghĩa cho nên khai làm thứ nhất thứ hai, các văn đã dẫn và dự tính ba giáo ban đầu phát tâm. Thông tuy có ý giả phần nhiều ở không, Biệt giáo tuy có Trung quán, văn nhiều ở giả, Viên giáo tuy ba quán từ ban đầu quán trung, cho nên nay dẫn để đối với ba quán, đồng mới phát tâm nên gọi là ngang phân thuộc về ba người nên gọi là Biệt, như đây trở xuống phân tích quyền khác thật, trong Viên giáo tuy nói từ sơ tâm tu, bộ Bát-nhã ấy kèm theo hai giáo quyền, cũng chưa khai hiển cho nên phân tích nói ba pháp đều có khác nhau. Trong Đại luận chấp ở sau dẫn văn luận ba dụ, cũng chứng ngang khác nhau, ở Trung quán trước dụ kế hợp, nên trong Đại luận quyển bốn mươi ba nói ba Bồ-tát nầy khi chưa phát tâm, nghe Phật nói, đại phát tâm Bồ-đề, thí như đi đường hoặc đi xe dê, hoặc đi xe ngựa, hoặc đi thông suốt, cho nên đến đó có chậm mau.

Ban đầu là độn căn, kế là tiệm hành sau liền đến. Lại nói, ban đầu là tội nhiều phước ít; kế là phước nhiều tội ít, sau không tội chỉ có tịnh, nay trong văn nầy do đi xe dê, vì dê chậm chẳng khác đi bộ, nên biết văn nay dùng ý Pháp Hoa, nên được phá quyền bộ kia ngang dọc, nói về năm mươi sáu lại nói như ba người đi, một người đi tránh, một người tìm tiền, một người theo vua, ý phá cũng vậy, ngang sai biệt ý nghĩa như trước đã giải thích.

Kế nói nhất tâm, là ban đầu phân tích ngang dọc. Kế chánh nói công năng nhất tâm phá quyền, ban đầu phân tích trong ngang dọc, trước lặp lại nêu bày nêu ra tướng thông bít, đây là hai quán không giả năng phá không thể năng phá kiến tư trần sa, ở trong đương vị tuy được làm thông mong ở Trung quán vẫn có vô, nên gọi là bít, nếu sau Trung quán hơn ở sau hai quán, tuy được gọi thông cách ở không giả, nên gọi là bít, trong ngang thông bít tìm văn nên biết, pháp tướng ở sau so sánh nêu ra văn nay ngang dọc biệt tướng bít trong thông, pháp tướng ngang

dọc đã có thông bít huống chi lại đối với khởi chấp thành bít, phải biết ngang dọc chung riêng đều bít, nên nói đều bít lại có thông, muốn nêu ra tướng chung nhất tâm làm chung, nên trước nói ở bít của ngang dọc, nếu nhất tâm ở sau chánh nói nhất tâm, tức là xem xét nhất tâm phá khắp, trước phá trong khắp đã kết thành nêu ra nguyên ý ấy, chỉ nên lập ở nhất tâm xem xét, ở nghĩa thì đủ. Lại làm thành y cứ môn ngang dọc trước, nên mỗi tiết lại dùng luân để suy xét, lại dẫn trong kinh Pháp Hoa khéo biết thông bít hiển bày nay suy xét phải phá các sư luận ý chánh kia chỉ ở một niệm, nên ba thứ trước là nói lên nhất tâm nêu phá khắp, v.v… nêu bày rất dễ thấy, lại ba thứ trước nói về phá khắp chỉ thành ở dọc đến sau độ nhập mới bắt đầu dùng dọc mà vào ở ngang, như đế duyên độ ngang dệt dọc thành dọc ngang của ngang khác nhau cả ba đều sơ phát, tuy gọi là ngang, mà ba quán mong về chung gọi là dọc, nay công năng phá quyền hiển bày nhất tâm.

Ban đầu phá ngang dọc trong ngang dọc: Thụ là thông tiệm nhập tuy thuộc về một người thứ lớp kế thời thứ ba đều khác nhau, do mỗi thời khác, nên chẳng phải một và ba, nay nhất tâm đủ ba phá ba của thứ lớp nên nói nhất tâm ba quán phá dọc thông bít, ba quán nhất tâm năng phá ngang ngang ấy ba quán thuộc về người đều ở sơ tâm, nên cả ba không hợp một, nay dùng ba chỉ là một phá trong ấy chia ra có ba, nên nói ba quán nhất tâm phá ngang thông bít, nên biết nhiếp thọ ba quán cùng ba quán nhất tâm, nói xen lý đồng, vì phá ngang dọc lại đối chứng mà nói ngang dọc như đây trong mỗi đế, đủ đề duyên độ hoặc thông hoặc bít, ngang dọc nếu phá, trong đế duyên độ thông bít tùy theo đó phá, nên không phiền phá đế, v.v… thông bít, nên đến văn nói, huống chi lại ở trong khởi khổ tập vô minh ngăn che, v.v… huống chi lại nêu ra bít nầy để viên phá. Có người nói: Phá đế duyên độ ngang gọi là phá ngang, thật không thấy ý chỉ văn, nên trong văn trước trước nói dọc đã xong.

Kế là ngang dệt, mỗi pháp đầy đủ đế duyên độ ba, huống chi lại vô minh ở chung lại khởi các bít khổ tập vô minh, nên biết phá dọc khổ, v.v… tự phá, không cần lại chỉ chỉ khổ, v.v… là ngang. Không tức ba quán, v.v… Kế viên ba quán, quán quán đủ ba để phá ngang biệt, mỗi quán sở phá đều khác nhau khác nhau, nên nói không tức ba quán cho đến trung tức ba quán, có người nói: Phá thần thông, phá quyển nhất viên đốn chỉ quán thông là nương hư không, nương hư không bị phá nước trước chẳng phải đốn, như ở đây nói, như đây mà nói là trái với văn nghĩa, luận văn thiền thông ở gần trước mắt, cần gì cầu xa, nói trong bài tựa. Lại nếu phá đốn kia thì lại ở chỗ nào truyền, thầy trò không thành phó pháp an trụ. Tổ tức ngài Long thọ nói Ngài lập bày luống uổng. Lại nói đốn là văn dụ cho ở trong bái tựa, khi nói chỉ quán chưa có bài tựa nầy, đâu được đem chánh thuyết của mình dự phá bài tựa đệ tử? Lại trong bài tựa đã nói lại sở truyền của thầy trò, nếu phá sở truyền bèn thành tự hoại, bởi ở sau chánh khen ngợi công năng, năng phá ngang dọc và ngang biệt. Là do nhất tâm viên diệu. Chúng ma, v.v… Chúng ma tức là thiên ma, quần đạo, tức là ngoại đạo. Lại quần đạo là tên của thiên tiểu thông, nên do nhất tâm đều có công năng đối phá, rốt cuộc khác nhau, nếu đi bộ qua nước đi xe cởi ngựa phài tránh nguy hiểm, nếu thần thông nương hư không từ hư không tránh đi, cho nên ban đầu tu hai quán, trước phá hai hoặc.

Kế tu Trung quán lại phá vô minh, nay ba quán nhất tâm trước sau vô ngại, khác nhau với ba dụ cho, nên nói rốt ráo không đồng, cũng là bỏ thấp lên cao phân tích trước nương hư không, không giả như ở thấp Trung đạo như ở cao, tránh núi từ hang phân tích đi bộ đi ngựa ở trước, cuối cùng không có chữ nhĩ hai câu quan thấp, như ở sau nói trong nhất tâm dụng ý thông bít, nhất tâm không phải ngang dọc thông bít, ở đây nhất tâm lại khởi chấp bít mà sinh khổ tập vô minh che lấp, v.v…, các khổ tập đây là là kiến tư, kiến tư đã sinh tức quán không cũng có lỗi: há lại có bỏ bên đi tìm giữa, nên nói chẳng những lỗi ở thần thông Trung đạo, cũng lỗi không giả, đi bộ đi ngựa đây là bít của tướng khác nhất tâm, cũng phải suy xét khiến bít được thông, nếu ở sau khiến cho suy xét nhất tâm thông bít nầy, đây là ở sau chánh phán xét, như ở đây giải thích: Tất cả chúng sinh lý tánh có năm trăm cho đến Chư Phật rốt ráo năm trăm, khác nhau nghĩa xưa, khiến phàm phu mong đến bờ.

Kế hỏi đáp phân biệt; ban đầu một phen hỏi đáp khác tên phân biệt, văn hỏi rất dễ thấy; kế văn đáp là trước chung kế riêng. Đã nói nhất ý nên gọi là chung, cũng có sai bệt nên gọi là riêng, trong riêng chia làm ba ý khác nhau.

Nói y cứ giải: Giải viên không chấp nầy gọi là chung, giải thiên khởi chấp gọi là bít. Nói về hạnh: Giải là hành bổn hạnh từ giải sinh, do giải thiên viên khiến hạnh có lỗi. Nói về “tự”, tự tức giáo, có danh có thật gọi là tri tự, có danh không chỉ gọi là phi tự, như con trùng đục khoét tượng gỗ đặt tên là y, con trùng nầy không biết là tự hay phi tự, huống chi là tự có chi hay không có chỉ.

Kế dẫn trong kinh Kim Quang Minh, là bao gồm chứng minh ba tên, tức phẩm văn Tán Chỉ; kế có một hỏi đáp phân biệt thông bít.

Hỏi: Trong đó có bổn: Là y cứ quyển nầy ban đầu lập nghĩa ngang dọc, mà làm lời hỏi nầy, lại nêu bày văn trước khiến ở đây rất dễ hiểu. Bốn đế, mười hai nhân duyên sáu độ gọi là ngang thông, khổ tập vô minh sáu tệ gọi là hành bít, trước không kế giả sau trung, là dọc thông. Kiến tư, trần sa, vô minh gọi là dọc bít, ngang dọc thông bít lại xen đối nhau, dùng làm bốn lời hỏi, hỏi nêu ra ý viên để hiển bày ý chỉ của văn, nhưng ý hỏi nầy, tuy dùng ba hoặc ba trí làm dọc, riêng chỉ về vô minh dùng làm dọc bít rất là nhỏ nhiệm, riêng chỉ về Trung đạo dùng làm dọc thông, vì rất cao xa. Nếu ngang dệt dọc cho đến xem xét ba pháp, bốn đế, mười hai nhân duyên sáu độ, tuy đến Trung đạo nếu không kết hợp với dọc, chỉ ở tức không, nên ở sau văn đáp chỉ giới nội có ba pháp khổ tập, v.v…, riêng làm ngang bít, tức không chân đế, riêng làm ngang thông, hỏi thì thông hỏi rộng, đáp thì chia ở hai đường, trước lập hai đường.

Kế giải thích hai ý:

Ban đầu như vậy là ở sau trước giải thích một phen, đến nhiên nghĩa là như vậy có thể được, như đến chỗ hỏi ngang dọc đều xen thông bít, đây là viên đốn không có thứ lớp, ý hơn nữa trước đã nói đủ kế cùng không thứ lớp.

Hỏi: Trong đó một phen đến tợ như hỏi không có thứ lớp mà thật thông hỏi thứ lớp và không thứ lớp, cho nên trong lời đáp chia làm hai ý, do hoặc sở trị có tức có lìa nên khiến năng trị cũng có tức lìa. Nếu thứ lớp tu thông bít đều khác nhau, như ở sau hai lần đến, nếu không có thứ lớp một thể chẳng khác như trước một phen đến vô minh không có tự thể riêng hoàn toàn chỉ ở kiến tư, kiến tư chướng đế duyên vô minh cũng năng chướng, đế duyên đã bị chướng cũng làm bít trong ngang, nầy chỉ y cứ sơ tâm ba hoặc hoàn toàn chưa phá, nên chân đế duyên cũng bị vô minh ngăn cản, trung trí trị tất cả, viên nhân tu trung trí chẳng phải chỉ phá vô minh mà còn trị khổ tập của chân đế làm chướng giới nội, cho nên gọi dọc thông cũng chung ở ngang bít, cũng y cứ sơ quán trung được làm thuyết như thế, trong văn nếu y theo văn hỏi ở trước, vẫn thiếu hai câu khác, cho nên lại phải nói ngang thông, thông dọc bít đó gọi là đế duyên độ chẳng những trị kiến tư, mà còn phá ở vô minh, một không tất cả không nên ba hoặc đều phá, ngang bít chướng dọc thông đó gọi là khổ tập, v.v… chẳng những chướng chân đế cũng chướng Trung đạo, một khổ tất cả khổ nên chướng ở ba đế. Nói hai lần đến: Trong kiến tư khổ tập và vô minh sáu tệ có chướng ở chân đế, không thể chướng Trung đạo, chân đế đế duyên độ nhưng năng phá kiến tư không thể phá vô minh, vô minh tự chướng Trung đạo nên không liên quan đến chân đế, trung trí phá vô minh cũng không liên quan đến kiến tư, cho nên văn nay nói nghĩa dọc đối lại với sai biệt.

Kế nói đạo phẩm thích hợp, là trước nêu bày chung giải thích tướng bốn đạo phẩm, văn có bốn nghĩa, bốn ý ở điều đình, bốn pháp nầy nói chung đều chung đại tiểu, nói riêng thứ ba chỉ có Tiểu còn ba pháp ở Đại. Nói đương phần là xen lẫn mà không nhờ nhau, đã nói phải nương niệm xứ đắc đạo niệm xứ đã vậy phải biết các phẩm đều là sở y đều có thể đắc đạo, nên nói đương phần. Lại nói ở sau dẫn chứng, cũng phải niệm xứ để nêu bày các phẩm, nên nói cũng như vậy, nầy từ nghĩa khác nên dẫn niệm xứ là đạo tràng cho đến rộng lớn, v.v… nếu từ nghĩa chung mỗi giáo có bảy khoa, không đâu chẳng phải là đương phần. Nói nhiếp nhau, Đại Tiểu thừa giáo phàm luận đạo phẩm, khoa phẩm ấy đều thâu nhiếp lẫn nhau, nên kế dẫn luận chứng, ý văn nên biết. Nói về vị: Như Đại sư tự có văn Bốn niệm xứ, bốn giáo đều dùng niệm xứ làm vị phán ở ngoại phàm, nên vị các giáo đều đối đạo phẩm, văn nầy từ tiểu lại đối tiểu vị. Nếu từ nói chung các giáo đều được do nội phàm làm nhu đảnh, v.v…

Nói sinh nhau nên sắp xếp bảy khoa sau theo thứ lớp, cũng gọi là sinh nhau, đều đính chính là điều chỉnh các phẩm, sao tương ưng có thể nhập pháp tánh, nên bảy khoa nầy ban đầu tâm có thể tu, tuy có bốn văn, cũng chỉ có hai nghĩa ba pháp trước thành thứ tư, cũng cho nên kế ở sau nói ra ý, trong văn đầu nói lược ý, ở trên phá biến cho đến thông bít, nếu không ngộ là do không sắp xếp, chôn pháp ở sau giải thích pháp sở chứng của đạo phẩm, Sơ trụ trở lên phân được vô lậu, tự ông về trước đều gọi là hữu lậu, cho nên sơ tâm xếp vào đạo phẩm, có thể làm Sơ trụ vô lậu làm nhân, như cất rượu, ở sau có nếu dụ cho, phương nầy dùng men rượu lúa mạch làm men, ở phương Tây hoặc dùng các hoa cỏ làm men, chân pháp ở mê cũng như nước gạo, sắp xếp đạo phẩm cũng như hèm rượu, sắp xếp được sơ biến gạo hữu lậu, thành rượu vô lậu, sắp xếp so sánh vị lý không thành, kế dẫn trong Đại luận chứng minh đạo phẩm, năng làm vô lậu, làm nhân gần, như trong Đại luận nói: Bất tịnh khai thân niệm xứ, thân niệm khai Bốn niệm xứ, bốn niệm khai đạo phẩm, đạo phẩm khai ba thuyết, ba thuyết khai Niết-bàn, Niết-bàn là vô lậu, cho nên hữu lậu năng làm vô lậu, mà làm nhân duyên, văn luận tuy dùng bất tịnh làm đầu, nói hơn nữa tiểu chánh ở môn Đại thừa, tùy giáo đồng lý quán đều có sai khác, đều là hữu lậu làm nhân vô lậu, và đạo phẩm. Kế sau nói hai thuyết.

Kế hỏi đáp trong khoa phân biệt; Ban đầu đại tiểu trong phân biệt, hỏi đáp đủ trong Đại luận hai mươi mốt, nay trong văn đáp trước dùng ý luận; kế dẫn ngài Tịnh Danh, Đại kinh Đại Tập, giúp ý luận đáp, ngài Tịnh Danh vì thành Phật, chỗ đắc đạo và Đại thừa, trong Đại kinh thấy tánh và ví dụ đề hồ.

Đại Tập nầy gọi là đuốc báu của Bồ-tát, báu đủ các pháp, đuốc có công năng phá tối, nhiếp tất cả pháp gọi là Đà-la-ni, nên chung kết nói đều không nói tiểu, như Đại kinh ở sau phân tích thừa nhận chuyên về Tiểu thừa. Kế lại dầu nói chung cho đại tiểu, nên nói pháp Bồ-đề vô lượng kiếp, là nhân Đại Niết-bàn cũng là giải thích nghi, e người nghi rằng: Lại có pháp Bồ-đề vô lượng kiếp, mới được gọi là nhân Đại Niết-bàn, nên biết đạo phẩm chẳng phải nhân Đại thừa, cho nên liền giải thích rằng: Ngoài đạo phẩm không có đạo phẩm khác, tuy nói vô lượng mà không ra ngoài đạo phẩm, cho nên đạo phẩm là nhân Đại thừa, nên lại dẫn Bốn đế trong Đại kinh mà nêu bày giải thích, ngoài bốn đế không có bốn đế khác, ba mươi bảy phẩm, đã là đạo đế, nên ngoại đạo phẩm không có đạo phẩm nào khác, nên trong bốn A-hàm có nói Bốn đế là Thinh văn, như trong Ương-quật và các Đại thừa nói bốn đế, đều vì Bồ-tát nên biết chung, nên trong Ương-quật nói: Pháp Bốn đế là: cái gọi pháp bốn đế, đây là tông Thinh văn, nầy chẳng phải Đại thừa, Đại thừa vô lượng đế. Nói như móng đất, trong Đại kinh ba mươi mốt phẩm Ca-diếp, Đức Phật lấy ít đất dính trên móng tay, bảo Ca-diếp rằng: Đất trên móng tay so với đất trong mười phương, nay mượn văn nầy so lượng vốn bốn đế, ba tạng bốn đế như đất trên móng, chưa nói là đất như mười phương, tức hai giáo pháp bốn đế, nếu chưa nói như đất ở mười phương, lẽ ra có bốn đế. Đức Phật nói chẳng có đế thứ năm, nhưng nói bốn đế có tướng vô lượng, các Thanh văn, Duyên giác chẳng biết được, lại chỉ bốn đế bên Biệt giáo dùng làm vô lượng, nên trong Ương-quật nói: Trong Đại thừa có vô lượng đế, nói mười sáu môn, tuy mượn Biệt giáo thỉ chung mười sáu môn, ý thành chung ở bốn giáo có mười sáu, lại hữu lậu ở sau nói về năm vị để phán xét, do nêu bày mười sáu môn đều có đạo phẩm, nên nói vô lượng, mà không ở đâu chẳng có nghĩa sâu cạn, nên dùng năm vị để phán xét hơn kém ấy.

Ban đầu nói hữu lậu đã thuộc về giới nhiếp tùy theo nhiều ít đều thuộc hữu lậu, nay ý sở dụng ở đề hồ, hai mươi hai, v.v… Trong Đại luận quyển mười chín chép: Cõi dục có hai mươi hai, trừ bảy giác chi, tám chánh đạo, chưa đến ba mươi sáu trừ hỷ giác, Sơ thiền có ba mươi bảy, Nhị thiền có ba mươi sáu trừ chánh hạnh, chánh hạnh là chánh tư duy, Tam thiền Tứ thiền cho đến trung gian đều ba mươi lăm trừ chánh hạnh và hỷ, ba cõi Vô sắc ba mươi hai trừ hỷ giác, chánh hạnh, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, Hữu đảnh ham muốn hai trừ giác đạo, như trong Bà-sa không nói cõi dục, ở trong Vô sắc chỉ có ba mươi hai, không nói ở sau có ba cùng với Phi tưởng khác, trong Đại luận nói Chánh hạnh, Bà-sa nói Chánh giác, các văn đều đồng Đại luận. Trong luận Bà-sa phân biệt mấy pháp hiện tiền.

Hỏi: Trong các địa đều có mấy pháp hiện tiền?

Đáp: Chưa đến ba mươi sáu, ba mươi ba pháp đồng thời hiện tiền, Sơ thiền có ba mươi bảy, ba mươi bốn pháp đồng thời hiện tiền, trung gian có ba mươi lăm, ba mươi hai pháp đồng thời hiện tiền, ba mươi bốn ba mươi lăm, Nhị thiền có ba mươi sáu, Vô sắc có ba mươi hai, đều trừ ba niệm để duyên khác, ba niệm nghĩa là thân, v.v… không chung, nên có vô lượng văn phải bao gồm năm vị.

Kế có chỗ nói: Ở sau chánh phân biệt trợ giúp, giải thích điều nghi của kinh, trước dẫn trong Đại kinh nói vô lượng A-tăng-kỳ giúp pháp Bồ-đề, là nhân Đại Niết-bàn, và trong năm vị có chánh có trợ. Nay văn vì sao lại dùng làm chánh nên dẫn hai văn hoặc chứng hoặc trợ, tùy theo sâu cạn kia, đều do trợ trước, trước ở sau sau, văn ý của giáo bao gồm nên đều nói tợ, nên nay ý văn phải có chánh trợ, văn đây là chánh, trợ đạo là trợ, cho nên dẫn dạy hai văn đều còn, trong năm vị trước dẫn đủ trong các kinh, nên đều có chánh trợ. Lại như nói ở sau phân biệt hữu lậu vô lậu, do trong năm vị trước nói hữu lậu đạo phẩm cõi dục có hai mươi hai, văn đầu gạn cái khó, y cứ theo văn Bà-sa, bảy giác đã là vị tu đạo, đâu được phán chung đạo phẩm hữu lậu, nên dẫn trong kinh Pháp Hoa chứng thành vô lậu, vì sao ở sau lại khỏ, trong luận Bà-sa. Bảy giác đã tu đạo phải biết tám chánh đạo ở trước bảy giác, tức là kiến đạo y theo đây mà hỏi, vì sao tám chánh ở trước bảy giác, đây ở sau đáp, do hai văn trước trái nhau không nhất định, nên phải khai thành ba câu giải thích, trước nêu ba câu như trong Đại luận ở sau có giải thích, trước lược giải thích hữu lậu, vì sao ở sau giải thích ba mươi bảy phẩm là tướng hữu lậu, từ trước đến nay nhiều lần thừa nhận ở trước dẫn văn Đại luận, mà trong Bà-sa bỏ giải thích nghĩa thứ ba vì sao ở sau giải thích văn Bà-sa, nếu Tám chánh ở sau Bảy giác Tám chánh ở trước tuy là hữu lậu, nếu đến Tám chánh nhập vô lậu, nên đạo phẩm nầy vừa hữu lậu vừa vô lậu, nếu nói Tám chánh ở trước Bảy giác là vô lậu, thì như thường đã nói, trong kinh luận đều vậy, nên nói có thể hiểu tức thuộc ý thứ hai. Lại trong luận Bà-sa quyển năm mươi ba chép: Bốn niệm xứ có hai thứ, đó là hữu lậu vô lậu, cho đến Tám chánh, cũng giống như vậy, cho nên thỉ chung đều thuộc thứ ba. Lại trong A-hàm quyển sáu nói: Bảy giác Tám chánh mỗi pháp đều hữu lậu và vô lậu, cho nên trong luận Bà-sa cho đến Tạp A-hàm có đủ ba nghĩa, đều thứ ba, nay văn chỉ nêu bày nghĩa đầu chứng thành, dẫn trong luận Bà-sa chứng thành hai ý, cũng là hữu lậu và vô lậu, cho đến vô lậu, và cũng lậu vô lậu là đối vị, lặp lại để đối vị giải thích tám chánh ở trước bảy giác, trước Thế đệ nhất cũng hữu lậu kiến đạo trở đi cũng là vô lậu, cho nên tám chánh ở trước bảy giác, đủ hai nghĩa, nghĩa là thứ hai thứ ba các đạo đế, kế ở sau chánh giải thích ở đạo phẩm vô tác, nay văn ý chánh cũng lại còn ba.

Ban đầu nói ý cũng là bỏ thư, bảy khoa nầy văn có bảy, nghĩa có bảy, ý tùy theo ích thuận căn cơ khác nhau, nầy chỉ chung luận văn nghĩa và ý, trong bảy khoa đều nói về văn nghĩa đủ như ở sau có nêu bày, ở trong bảy khoa, trước nói niệm xứ có chung có riêng, sáu khoa sau mỗi biệt mà dùng, nay ban đầu giải thích niệm xứ, văn có bốn, nghĩa có bốn đồng hiển một cảnh, cảnh có một phẩm có bốn, theo đâu tương ưng, ở giữa ban đầu chánh giải thích.

Kế kết trước sinh sau; ban đầu chánh giải thích, lại dẫn ra ba kinh mà dùng hậu hậu giải thích ở trước trước nữa, ban đầu dẫn Đại Phẩm giải thích ở niệm xứ khiến thành ba đế.

Kế dẫn trong Hoa Nghiêm để giải thích Đại Phẩm, nói Bốn niệm xứ đủ tất cả pháp, tức cảnh niệm xứ. Như đại địa một phen đủ các thứ một; kế dẫn trong Pháp Hoa kết ý Hoa Nghiêm. Thế nào là các thứ nói tánh tướng, v.v… chánh dùng, mười như dùng làm cảnh quán, nên kết rốt sau phàm nói tất cả, không ngoài trăm giới ngàn như. Lại ở sau giải thích chặng giữa đều là trước nói về một giới, kế dùng phàm để nêu bày.

1- Chặng giữa đều nói tất cả, v.v… vì trong một giới lại có mười, lại có trăm, ba ngàn, thông thường nói: Kế ở sau phân tích giải xưa. Trong kinh thứ nhất, tất cả các pháp tướng tánh thể, v.v…, chỉ là kinh thứ ba một tướng một, và thứ ba một địa thật sự, chủng tướng thể tánh chỉ là một thứ, nên một thứ nầy nói là Phật tánh: Kế là hủy mộc ở sau tức là chánh giải, “hủy” là tên chung của các thứ cỏ, “mộc” là gọi chung của cây, các thứ có thành rừng, các cây thành rừng, cỏ cây chỉ là ba cỏ hai cây, ba cỏ hai cây dụ cho thất phương tiện, bảy phương tiện nầy vốn là nhất thật, nay một niệm bỏ chánh giải thích niệm xứ, trước lặp lại cảnh không thể nghĩ bàn ở trước, vì cảnh niệm xứ mỗi giới đều đủ mười giới nên không ngại nhau, trước đặt chung tên ấm quán đã không ngộ, nên lìa làm bốn mà sắp xếp, pháp tánh nhân duyên bỏ chỉ bày niệm xứ quán, phân biệt rõ đủ như quyển bốn, biệt hạch viên niệm xứ mà nói: Bốn văn đều do một niệm trăm giới ngàn như, ba ngàn thế gian nhiếp thành ba đế mới được gọi là vô tác niệm xứ, cho nên biết trước nay các cảnh năm pháp, đều nương ấm cho đến giác đạo cũng giống như vậy, nay mỗi niệm xứ đều trước nêu ra một cõi làm cảnh, kế do còn chín pháp nêu bày nên biết nói thì thức lớp bốn pháp, quán thì không ra ngoài một niệm ở trong một niệm có chung có riêng, lại nói về pháp tướng khiến đầy đủ, và chỉ bày thức tâm dùng làm cảnh đầu tiên, nên trước phá pháp sau nêu bày các ấm dùng làm bổn thông bít đạo phẩm, nếu muốn hiển bày ở bất khả nghĩ bàn lại phải y cứ một niệm tâm mà nói, thì đủ quán ấm nhập giới, v.v… tất cả đều nhhư vậy, như vậy ở sau chung kết niệm xứ, nghĩa ý bao gồm rộng phá lý điên đảo, ở sau giải thích bao gồm văn rộng tự có bốn, mỗi niệm xứ đều trước nói không giả phá đáo, kế dùng Trung đạo kết thành bí tạng, tự tha đều có hai nghĩa, bao gồm đại tiểu.

Nói chung phá, là đã dùng Trung đạo hiển bày tạng bí mật, nên Bốn niệm xứ đều phá đáo, vì sao, do tức không nên tức phá thường đảo nghĩa bao gồm tiểu, do tức giả nên phá vô thường nghĩa đảo ở Đại, Trung đạo làm chánh, nên nói nghĩa bao gồm, do tức Trung nên song chiếu đại tiểu đều chẳng phải tức là song chiếu song phá bát đảo, ba đế tức nhau bao gồm không có trước sau, phá không có thứ lớp, tức phá tức lập, tức chiếu tức già. Nói tươi khô, v.v… là trong Đại kinh nói, ở phương Đông đều là dụ cho thường vô thường, phương Nam đều dụ cho lạc, không lạc, phương Tây đều dụ cho ngã vô ngã, phương Bắc đều dụ cho tịnh và bất tịnh, phương Tây mỗi mỗi song, nên gọi là song thọ, phương diện đều là một khô một tươi, tươi dụ cho thường, v.v… khô dụ cho vô thường, v.v… Đức Như lai xoay đầu về hương Bắc nằm nhập Niết-bàn tiêu biểu chẳng khô tươi, tươi biểu hiện cho giả, khô biểu hiện cho không, tức là trong không giả kia mà nhập bí tạng, sau phân rằng: Phương Đông một song ở sau Phật, phương Tây một song ở trước Phật, phương Nam một song ở chân Phật, phương Bắc một song ở đầu Phật, nhập Niết-bàn rồi Đông Tây hai song hợp thành một cây, hai song Nam Bắc cũng hợp thành một hai hợp, đều cho bóng Như lai cây ấy buồn bả đều trở thành mầu trắng, thường vô thường, v.v… hai tức không hai, thường, lạc, ngã, tịnh cho khắp pháp giới, cho nên hai hợp ngăn che Đức Như lai tức là Như lai khế hợp với bí tạng, cũng là niệm xứ không đâu chẳng phải vắng lặng. Bạch là gốc của các mầu sắc, thường, v.v… xưng là gốc nên gọi là Biến. Nói đầu xoay về hướng Bắc trong Tăng Nhất Ahàm tiêu biểu cho Phật pháp cửu trụ ở phía Bắc. Trường A-hàm quyển tư nói: Phật bảo A-nan, để đầu ta phía Nam, xoay mặt về hướng Bắc, khiến cho Phật pháp cửu trụ ở Bắc thiên, căn cơ thấy khác nhau, không cần hòa hợp, trong kinh Tiểu thừa văn còn tiêu biểu Phật pháp cửu trụ không diệt, huống chi Niết-bàn rốt ráo biểu hiện bí nêu bày tàng. Song một đời giáo môn phàm các chỗ biểu hiện văn nghĩa hiển bày chẳng gì hơn song thọ, do Bốn niệm xứ làm quán hạnh sơ môn của Đại thừa, Tiểu thừa, cho nên như vậy, ân cần di chúc ý ở đây, đối trị điên đảo ở sau giải thích tên niệm xứ, tất cả ở sau kết thành ba đế ba đế, chỉ là tàng bí mật tức là giải thích thành giải thích tên, mà chỉ là một, v.v… chung kết thành hành tướng, khuyến hạnh là quán, có thể quán như vậy tức là một, đồng với Như lai ở giữa song thọ mà vào bí tàng, cho nên niệm xứ là nơi đắc đạo, tràng là nơi nương tựa, sở y tức lý, trị bốn chỗ sâu kín vô minh hiển bày đạo thật tướng bốn đức, y cảnh nầy nên từ nhân đến quả, cảnh là thể của thừa, trí là trâu trắng, không giả phá điên đảo gọi là trang nghiêm cụ, phát tâm khởi quán gọi là Thừa thỉ, nên nói nếu quán sâu thì, rốt ráo đến quả gọi là thừa chung, nên nói nhập Niết-bàn, pháp giới chẳng phải bốn mà không lìa bốn, do không sở trụ trụ ở bốn pháp nầy, chẳng phải thỉ mà thỉ chẳng chung mà chung, vì các pháp đầy đủ nên không có các tu, chỉ là chưa nhập, nên đến phẩm sau, tự hành hóa tha, thỉ chung đầy đủ, niệm xứ đã vậy các phẩm cũng vậy, danh khác mà nghĩa đồng, dùng làm tùy nghi ưa thích đắc nhập khác nhau.

Kế nếu không có kết trước sinh sau ở sau, kế nói chánh cần, chỉ là ở niệm xứ trước tinh cần trừ ác sinh thiện, nên bốn văn nghĩa nầy tuy có thiện ác, ý ở bốn phẩm thứ lớp dọc tiến, văn từ lời tiện, trước trừ hai ác, kế sinh hai thiện, y cứ hạnh ắt do minh sinh thiện ác y cứ ở kế, và trước diệt ác kế nói sinh thiện, tuy nói đã sinh chưa sinh thiện ác, văn tợ thứ lớp ý thật viên dung nên ở bốn món siêng năng trước mà quán, nhưng thô hoặc bên ngoài, tế hoặc ẩn sâu, nên phân ra tướng đã sinh chưa sinh, trước do ba quán siêng năng quán, quán đã sinh khiến mau không sinh, lại siêng năng khiến pháp các chưa sinh làm cho không sinh, là do thô hoặc nhậm vận trừ trước, lại đặt tên là đã sinh bất sinh, nhập sáu căn tịnh tiến tu ba quán lại phục tế hoặc gọi là dứt đoạn, thô hoặc bỏ trước chân đế, thành trước, tức gọi là chân đế vì đã sinh thiện chưa được Vô sinh gọi là chưa sinh thiện.

Kế nói như ý tức là bốn pháp nầy văn có bốn nghĩa có bốn, ý ở tùy nhập tùy chỗ tương ưng, bốn pháp nầy thuộc về định, trong sáu món thần thông thân như ý tức mượn nầy mà hiển. Lại chung nhân định sinh, cũng có thể sáu thông do đây mà phát, phải là không siêng năng, v.v… bốn món siêng năng đây là tuệ có định, tuệ quán không siêng năng, thì niệm xứ không thành lại chuốc lấy tán động, nên giải thích trong dục nói như đèn trong gió, nay tu như ý như thêm mật thất, đối bốn pháp nầy mỗi pháp điều chỉnh định tuệ nếu đồng, mới được gọi là định có tuệ, ba trí viên phát, ba hoặc viên trừ, cho nên bốn thông nầy gọi là đoạn hạnh, bốn pháp đều là hạnh dứt hoặc gọi là đoạn hạnh.

Nói thành tựu là: Từ quả mà đặt tên, nên bốn chánh cần bốn pháp đồng quán, hai hai khác thời vị tướng khác nhau, nay bốn pháp như ý túc đều dùng.

Ban đầu nói dục: Là mong mến mộ ưa thích trang nghiêm pháp ấy là nói pháp ấy: Nghĩa là cảnh niệm xứ, nói trang nghiêm: Là tu mong hướng tâm khiến pháp ngay thẳng, phàm sở tu tập tất cả pháp, nếu không ưa muốn việc sẽ sơ sót. Nói tinh tấn là chỉ có chuyên quán lý không để xen lẫn không xen lẫn nên tinh, không gián nên tiến, phàm sở tu lập tất cả các pháp, nếu không tinh tấn việc sẽ không thành nói nhất tâm, là chuyên chú cảnh ấy nhất tâm chánh trụ, nếu có nhất tâm quán pháp dứt bặt, nói tư duy là tư duy lý ấy, do tư duy nên tâm không rong ruổi tán loạn, nên biết bốn pháp là phương tiện nhập định.

Kế nói năm căn, năm pháp nầy văn có năm nghĩa có năm ý cũng tùy nhập tu các phẩm trước, dù mầm thiện mới phát, gốc vẫn chưa sinh, vì gốc chưa sinh nên mầm thiện dễ hoại, nay tu năm pháp khiến gốc lành sinh, nên pháp nầy đều gọi là Căn, giải thích năm pháp nầy mỗi pháp có đủ hai giải thích căn đương thể.

2- Nhiếp sau quy về trước.

Lại hai nghĩa nầy trước sau không nhất định.

Ban đầu giải thích trong tín ở trước giải thích đương thể: Nghĩa là tin ba đế. Kế là từchỉ niệm xứ tu sau nhiếp ở sau quy về trước, nghĩa là tín căn nầy, phải nương niệm xứ, nếu không tin cảnh căn làm sao sinh được.

Hỏi: Trước tu niệm xứ đã không được nhập, cần gì nương cảnh niệm xứ?

Đáp: Chỉ vì niệm xứ chưa thể đắc nhập, lại đối với cảnh nầy tu khiến căn sinh, cho nên năm căn đều nương niệm xứ chánh cần như ý cũng như vậy, kế giải thích trong tiến trước nhiếp tiến nhập tin, nên nói tin nhiếp các pháp, kế tin các pháp cho nên ở sau giải thích đương thể.

Kế giải thích trong niệm trước giải thích đương thể, do niệm trí

không để tà vọng thiên tiểu được nhập, lại từ pháp nầy ở sau nhiếp niệm nhập tấn, niệm tấn không sót, nên nói không mất.

Kế giải thích định, trước giải thích đương thể, nhất tâm yên tĩnh nên gọi là Định, theo mà thực hành tinh tấn ởsau trước nhiếp định nhập tiến, lại từ pháp nầy ở sau chánh nhiếp định nhập niệm, hữu niệm nên không vong, có tiến nên không động.

Kế giải thích tuệ, trước nhiếp tuệ nhập định, từ nội tánh ở sau giải thích tuệ đương thể, có tuệ của định chiếu bổn hữu tánh, cho nên gọi là nội tánh tự chiếu, kết trước sinh sau trong đó nói ngăn các phiền não, tức do trong tuệ phá ba hoặc.

Kế là năm lực, văn nghĩa và ý, y theo căn nên biết.

Hỏi: Danh đồng làm căn, cần gì lặp lại.

Đáp: Gốc lành tuy sinh mà ác cũng chưa phá, lại tu tập khiến căn thêm lớn, cho nên năm căn nầy lại thọ tên lực, căn thành ác phá, nên gọi là lực, nên trong Đại luận quyển hai mươi mốt chép: Thiên ma ngoại đạo không thể làm tổn hoại, cho nên năm lực nầy còn gọi là Lực, hoặc tự hoặc tha đều được gọi lực, tín lực tin chắc không thiên tiểu các nghi làm lay động, tấn lực quán sát kỹ sẽ không lẫn lộn, vốn cầu cực quả chưa chứng không dừng, niệm lực trí chắc phá tưởng biên tà, không để ba hoặc phá hoại định lực nếu thành, có thể ở trong các xen không ngăn ngại, khác nhau riêng tu tướng căn bản. Nói phá bán, có thể phá tất cả tán hoại ở cõi dục, hoặc lại tuy dùng cõi dục nói pháp mà không ngại chi lâm ở Sơ thiền, hoặc trụ pháp Sơ thiền giác quán mà không ngại ở nhị thiền nội tịnh, hoặc trụ Nhị thiền tương ưng với hỷ, mà không ngại thọ vui ở Tam thiền, hoặc tương ưng với xả thọ Tứ thiền mà có thể giáo hóa tất cả chúng sinh, dầu ngại Tứ thiền mà không ngại các định. Phương nghĩa là phương ngại, ngại nghĩa là ngăn dừng, dầu có nhân duyên không vào tứ thiền, không ngại tất cả thiền định tự tại, tóm lại, chỉ là các định xen không ngại nhau, đã nói không xả không tùy, v.v… không xả thế thiền, không tùy thiền sinh, nên trong kinh nói: Tuy hành thiền định giải thoát Tam-muội mà không tùy thiền sinh là hạnh Bồ-tát, tóm lại mà nói, chánh dùng trong định, cho nên mới có thể không xả không tùy.

Kế giải thích tuệ: Năng phá tất cả các tuệ thiên viên, năng phá tất cả các chấp quyền thật, mà năng song chiếu chấp thật tướng của tuệ.

Kế giải thích Bảy giác: Là văn có bảy, tướng có ba, nghĩa có hai, ý cũng tùy nhập, chung có một, riêng có hai, nên nói tướng có ba, không ngoài định tuệ nên nói nghĩa có hai, lại do tịch chiếu để trừ, v.v… tiến, v.v… mà điều chỉnh, mà dùng tịch chiếu để xét khởi, định tuệ đều có ba đều tùy dùng một, đắc ích lại dừng không giả khắp tu, nếu hoàn toàn không lợi ích mới là phẩm sau, niệm năng thông trì định sáu phần, cho nên niệm phẩm chung ở hai chỗ.

Kế giải thích Tám chánh, văn có tám nghĩa có tám ý cùng bất định, phẩm vị đã cùng tột, lại không có sinh sau, hai pháp đầu như văn.

Giải thích Chánh ngữ: Nghe pháp nói pháp, đều được giải thoát, công giáo hóa quy về mình, nên lợi ích tự tha, giải thích chánh nghiệp trước nêu bốn nghiệp.

Kế giải thích bốn nghiệp, nói Tiểu thừa có thể giải, nếu trong Tiểu thừa thì không được nói phi bạch phi hắc, mà có lai báo, đủ như trong quyển nhất phân biệt có không, nay nói có là nói theo Đại thừa vô lậu làm nhân, vô minh làm duyên, sinh ở ngoài giới, thọ thân pháp tánh báo đáp do đây gọi là Báo, trong văn lại y cứ ba quán giải thích nghiệp. Không có thứ lớp gọi là viên chánh nghiệp. Nói tà mạng, ngoài tự viên gọi là tà. Ca-diếp tự thuật là ý ấy.

Hỏi: Vì sao giải thích nghiệp mà nói là tà mạng?

Đáp: Duyên lý nghĩa chung nên được giải thích xen nhau, viên nghiệp bất chánh thường mạng thành tà, phá không đâu mà chẳng khắp nên gọi là tận, y khắp mà hành mới gọi là chánh, thấy tha đắc lợi mình ở sau, văn tuy việc nêu bày ở trước cũng nên dùng làm lý giải thích, lại y cứ về sự, người viên tu phải lìa bốn tà mới gọi là chánh mạng, thấy tha đắc lợi sự giải nên biết. Nếu lý giải thích, hoặc thiên hoặc tiểu gọi là tha lợi, đủ ba đế gọi là lợi mình, suốt ngày viên tuy không nghĩ viên, mà đối vô tưởng không sinh đắm nhiễm gọi là tri chỉ túc thiện, nên gọi là Tinh, nhập nên gọi là Tấn, đắc trung gọi là chánh, tâm không động, v.v… không động nên ngay thẳng không lỗi nên không mất. Câu trên là nhân câu sau là quả, Trung đạo bất động ở niệm không mất, nên gọi là chánh niệm, dời trụ giải thích chữ Chánh, quyết định giải thích chữ Định, chánh trụ ở lý quyết định không dời, nhân là ở sau kết Tám chánh đạo, như vậy ở sau kết chung đạo phẩm, ban đầu kết chung chỉ bày đạo phẩm trong một niệm tâm, sơ tâm có thể tu, chưa luận vị sâu, Đại luận ở sau dẫn chứng đạo phẩm đều ở niệm xứ, cho nên đạo phẩm sơ tâm đều tu, nên biết, v.v… là nói công năng tu đạo phẩm, như đây ở sau kết phán.

Chỉ Quán Phụ Hành Truyền Hoằng Quyết phần một trong quyển bảy.

PHẦN 2

Kế nêu dụ cho trong Đại luận Bà-sa đều nương cây dụ cho đạo phẩm, nên gọi là Đạo thọ, hai luận đều rất giống với văn nầy, nhưng nay kết quả vị ở Sơ trụ có khác với Bà-sa, trong đó lại có hai.

Ban đầu khác nhau y cứ về đạo phẩm vô tác, kế y cứ chung ba quán, văn đầu có dụ cho hợp kết, thí và hợp văn đều thiếu như ý, thí như trong đó nói: Thân cây vượt lên cao vót, tức như y tác, pháp tánh ở sau hợp, trước chánh hợp.

Kế nói quả trên khác tên, đạo phẩm thiện tri thức ở sau kết trước hợp dụ cho, theo trong phương tiện có ba thứ tri thức.

  1. Dẫn dắt khiến đến đảo châu báu, tức đồng hành.
  2. Do đạo phẩm nầy khiến thực hành không lầm, là nghĩa Giáo thọ, các phẩm phòng hộ vọng lầm không xâm phạm tức nghĩa ngoại hộ.
  3. Nhẫn nhục là y pháp hỷ làm thức ăn, giúp cho tuệ mạng được lợi ích để định thân, đều là nghĩa ngoại hộ.

Do ba tri thức nầy khiến vào Sơ trụ ba thân chánh giác, có thể vì chúng sinh làm chân thiện tri thức, thông suốt ở sau y cứ ba đế, trước chỉ y cứ viên biệt biệt đối vị, nầy y cứ chung đế mỗi đế, đều nói rõ ở giữa trước biệt đối.

Kế đối chung, hai đối chung riêng chỉ nương văn dụ, chẳng phải y cứ tu hành. Lại y cứ dọc vị để dụ cho viên, quán hạnh làm lá, tương tự làm hoa, phân chân làm quả, hoặc y cứ chung bốn giáo y cứ theo thuyết nên biết.

Kế nói ba môn giải thoát: Là nói công năng của đạo phẩm.

Trong Đại luận hai mươi mốt hỏi: Niết-bàn chỉ có một môn vì sao là ba ư?

Đáp: Pháp một mà nghĩa có ba, ba chỉ là một, lại tùy theo người khác nhau nên chia ra có ba pháp khác nhau kiến hạnh từ hư không, ái hạnh từ vô tác, kiến ái, v.v… là từ vô tướng, luận hạn cuộc về ba tạng nay chung ba giáo, Biệt giáo sơ tâm đồng hai giáo, các giáo đều do chứng đạo làm thành vô lậu, chỉ có Viên giáo nghĩa thông, trong sáu tức nói khác, cho nên nay văn giải thích đạo phẩm xong.

Kế cũng nói ba môn giải thoát, nếu theo văn chánh ý, chỉ nên nói ba giải thoát vô tác cùng là so sánh biết khiến cho biết vô tác, cho nên nói đủ các giáo ba thoát, ở giữa trước nói ý nêu bày tên gọi.

Kế chánh giải thích chặng giữa trước gồm giải thích.

Kế trải qua giáo, ban đầu văn trước nói Vương thần bên chánh thân sơ; kế y cứ phục đoạn; ba y cứ danh thể, vì chung riêng, các giáo đều có ba nghĩa khác nhau, y cứ theo mong Thánh giáo, không thể chuyên nhất, nên đều nói hoặc, ở sau y cứ giáo để giải thích, nhưng chú giải nói rằng: Lại không có phân biệt, nên tùy theo giáo ấy nêu ra tướng trạng kia.

Ban đầu Vương thần giữa và trước nói Tam-muội là Vương.

Kế nói ba môn giải thoát là vương, ba môn giải thoát từ tuệ Tammuội từ định, hư khác nhau với trên đặt hai tên, do hai thứ người vào vô lậu khác, nên có Tam-muội ba thoát khác nhau, do đích thân vào vô lậu là vương, bàng trợ giúp phát là thần, kiếm cùng tư duy thuộc về tuệ, tức là từ tuệ phát định, từ định phát tuệ, theo đây nên biết, đoạn phục danh thể tì mười văn rất dễ thấy.

Kế lịch giáo: Ban đầu ba tạng giáo y cứ mười sáu hạnh để chia ra ba môn. Trong Câu-xá Bà-sa các văn đều như vậy, chỉ tâm Tam-muội cho đến ba môn giải thoát, xen làm vương thần, các luận không nói, nên trong ba tạng do quán hạnh nầy, trên nhẫn phát chân, nên dùng hạnh đây làm ba môn. Lại hành tướng nầy chỉ lấy ba môn ấy thứ đồng phán xét thuộc về môn. Thông giáo từ ban đầu chỉ quán huyễn hóa, cho nên lại không y mười sáu hạnh, nhưng y cứ quán không để nói rõ ba tướng, lại y cứ định tuệ để nói vương thần, ba nghĩa như không, v.v… tuy đều thuộc quán huyễn, không ngại cũng có vương thần khác nhau, cũng do nhập đạo căn khác.

Ban đầu trong môn không dẫn đủ xưa nay giải thích bổn luận, đã là xưa nay xen nhau nêu ra khác nhau, nay đều dẫn ra để chứng quả thật, giáo nầy có ba môn khác nhau ba tạng ba môn thể khác, trong đây đắc không tức vô tướng nguyện.

Kế nói Biệt giáo trước y cứ chung ba quán. Kế y cứ Biệt giáo nói xuất giả. Ý văn đầu, tức dùng ba quán làm ba Tam-muội, ba môn giải thoát cũng như vậy, trong mỗi đế chỉ tức Tam-muội, quán tức ba môn giải thoát, vương thần phục đoạn đồng y theo ba trang đế nói, tức do Sơ địa làm thành vô lậu.

Kế Biệt giáo nói về xuất giả, y cứ một đế nầy đã là nghĩa lập ba, nên biết cũng đủ các nghĩa Vương thần, ở trong Biệt giáo lập hai giải thích, y cứ giáo thỉ chung tuy có đủ ba đề, không đắc ý là chỉ ở giả, cho nên giáo nầy cần phải giải thích hai cách, lại một giáo thỉ chung tuy đủ ba đế, nếu nhập chứng đạo thì không còn gọi là biệt, cho nên Biệt giáo chỉ ở giả, phàm giải thích nghĩa Biệt đều y theo đây, đã y cứ lược xuất giả để giải thích ba môn, cũng chung hạnh hướng làm thành vô lậu, nên trong kinh Đại Tập chép: Muốn độ chúng sinh tu ở không, được thì các pháp tu vô tướng, không xả các cõi tu vô nguyện, há chẳng phải thuần ở xuất giả để lập ba môn, xuất giả còn như vậy, làm sao nhậm vận đủ giả nghĩa cầu.

Kế nói Viên giáo. Trước giải thích ba giáo giải thích thẳng như vậy. Nay nói Viên giáo là riêng tóm lược, là phải biết ba pháp trước thông suốt nêu bày sơ lược, văn nầy chánh ý, Biệt giáo ở ba môn Viên giáo khác với trước, Viên giáo Vương thần cũng lại cách xa, nên trong Viên giáo không tức vô tướng, vô tác. Nói tợ thông giáo ý lại thường trái, định tuệ thể một, viên phục viên đoạn, nên gọi là diệu thể hai nghĩa dung thông, ở trước dẫn văn luận bao gồm so sánh quyết định.

Kế chánh giải thích

Ban đầu so sánh quyết định, sở duyên khác nhau môn năng thông khác, sở duyên tức là Sơ trụ vô lậu, nên cũng khiến cho cận viễn của năng thông cũng khác, trí là đồng. Là nói thể không chẳng đồng, người trí nói cũng thông Biệt giáo cho đến tiếp cận với thông, nay chỉ ở Viên thành viên ba môn giải thoát, không tức bất không đều cùng tột của năng thông, nên đều gọi là Trung, đều thấy được tánh, lại không của sở kiến không chẳng có đại tiểu, do trí khác đại tiểu nên gọi là sinh, vì thế trong đây do trí phán xét không, trí đã viên dung hai không thì hợp, hợp nên gọi là Trung lại có thể thấy tánh, lại Nhị thừa ở sau nói nhân nói rả đại tiểu mười tám không khác nhau, nếu được không nầy sẽ đủ mười tám, cho nên kế đây nói rõ mười tám không, nếu không chẳng đồng thì các môn tự khác nhau, cho nên Nhị thừa quán mười tám không, như xem việc trong mộng, nay Viên giáo ở sau Đại có phân mười tám không, hàng Viên giáo quán như quán manh pháp, pháp như vô minh việc mộng như chấp tướng, chấp tướng nhánh ngọn vô minh làm gốc, cho nên việc mộng phải nương manh pháp, nên quán vô minh, tức thấy thật tướng, chỉ quán chấp tướng thì chỉ có thấy chân lý, nếu phân biệt với Nhị thừa thì không khác nhau, thì hai giáo Nhị thừa và thông biệt nhập không, nhậm vận rất dễ biết, dầu khiến Biệt giáo nói ở bất không, chẳng phải sơ tâm quán cần gì so sánh quyết, nên đều không đồng với Viên giáo chẳng, nên chỉ y cứ Nhị thừa, không nói các giáo, do trong văn nầy nghĩa còn hàm ẩn cho nên văn sau lại phân biệt trùng lập. Như trước ở sau chánh chỉ bày môn tướng, trước nương trước tu Trung quán trong ba giả để nói ba tướng, nên nói như trước, đã dùng bốn câu quán phá vô minh tức, đủ hai không đều chẳng thật có, tức là không môn chẳng thấy tướng bốn môn, tức nối tiếp giả phá, còn không có pháp tánh đâu có vô minh, cho nên phân ra bốn môn khác, tức môn vô tướng, môn chỉ là câu, tức là bốn câu, cũng có chân có duyên nên có năng sở, vì có năng sở nên có tác giả, nay chẳng phải nhân duyên nên không có tác giả tức môn vô tác, tuy nương ba giả thật không có trước sau, trước trong Thông giáo còn không tức vô tướng và vô tác, huống chi viên diệu lại lập thứ lớp. Vương thần nói: Cũng đủ ba nghĩa không đồng với trước, nói ba môn tức nhau như vậy, v.v… lại bốn môn ở sau nói mỗi môn ba thoát, mỗi môn xen thông, như đây ở sau lại lập y cứ giáo để nói không khác, ban đầu kết thành viên môn, nên nói ba môn ý chẳng phải thứ lớp, Biệt tuy ở sau vẫn thừa nhận Biệt giáo cũng duyên thật tướng, vì thứ lớp nên không đồng với Viên giáo, lại khác, v.v… cũng khác nhau biệt so sánh lại Tạng Thông, có thể biết khác tướng mới có thể quán đồng, cho nên khuyên chúng sanh phải khéo biết, lại trong Hoa Nghiêm ở sau y cứ năm vị để phán xét.

Văn đầu chánh y cứ năm vị để phán.

Nói Bốn niệm xứ chỉ là quán ấm, nếu đối Niết-bàn thành năm giải thoát, giải thoát chỉ là tạng bí mật, niệm xứ đã ở đầu đạo phẩm, nhưng thọ khô tươi lại nghĩ tiêu biểu chỗ, cho nên lại y cứ khô tươi để phán xét. Ban đầu trong Hoa Nghiêm tuy có hai nghĩa, văn thường nói riêng, nên nói thiên nhiều bốn món tươi khô, cho nên trụ trước mười món phạm hạnh hoàn toàn nói nghĩa riêng, Sơ trụ tức nói lược nghĩa viên.

Nhị trụ trở đi cho đến phẩm Thập địa nói nhiều về nghĩa biệt. Tuy trong hành hướng phân biệt ở hai môn hành bố của Phổ Hiền, mà trong các vị Phổ Hiền nghĩa ít, phẩm nhập pháp giới chỉ có thấy ngài Di-lặc, Văn-thù, Phổ Hiền nói rộng về viên dung, còn bao nhiêu thiện tri thức, phần nhiều nói tướng riêng, nên nay nói hơn bốn pháp tươi khô trong ba tạng rất dễ hiểu. Trong Phương Đẳng Bát-nhã, khắp nơi tuy có nghĩa Viên, phần nhiều điều phục Bồ-tát độn căn và người Nhị thừa, cho nên trong kinh Tịnh Danh phân tích Thinh văn thấp hơn Bồ-tát, nghĩ đến cái gốc, bỏ đi cái hoá chuốc lấy chê bai, nghe việc không thể nghĩ bàn cũng như gốc hư, thấy Đại sĩ hiện kiến tư thấp như mù, mới tin Đại thừa rất sâu, phục các chí lớn của Bồ-tát, đến hội Bát-nhã mới bỏ được nghiệp, nên Phật thêm vào để nói hai không, cho nên hai thời ý giáo phần nhiều điều nói khô để nhập tươi, khiến người Nhị thừa hơi thành Thông Biệt, tuy chưa hiển bày nói nghĩa đã thành tươi, đến thời Pháp Hoa hội các tươi khô nhập chẳng phải khô tươi, bấy giờ mới được Phật thọ ký, hơn nữa thuận theo Đại kinh, chưa có nói, tức nói hạc lâm lập bày giáo hóa đã đủ, hai kinh đồng vị tuy vượt mà bao gồm, cho nên phán xét là rất độn căn, lại đến song thọ, Phương Đẳng Bát-nhã hiển mất nhập mật nên nói Bồ-tát xứ đắc nhập đã dẫn trong kinh Niết-bàn, xa chỉ trong kinh Pháp Hoa, cho nên kinh Pháp Hoa là đề hộ chánh chủ, cho nên trong kinh dụ mùa thu thâu, mùa đông chứa, đến thời Niết-bàn cũng như thu hoạch, nên trong Đại kinh quyển chín nói. Thí như đêm tối hoặc tất cả việc làm, tất cả đều dứt, việc ấy chưa xong, phải đợi ngày mai. Người học Đại thừa phải đợi ngày Vô thượng Đại Niết-bàn, kinh nầy xuất thế như quả hột kia phần nhiều được lợi ích an vui tất cả khiến cho chúng sinh thấy tánh Như lai, như trong Pháp Hoa có tám ngàn Thinh văn được thọ ký, như mùa thu thì thâu hoạch mùa Đông thì chứa để lại không có sở tác bọn nhất-xiển-đề đối với các pháp thiện không làm đầy đủ được, tám ngàn Thinh văn tức là trí phẩm tám ngàn vị, ở đây nói theo tướng năm thời, nếu nói về giáo chỉ thì Pháp Hoa chỉ có khai quyền hiển viễn làm chỉ giáo chánh riêng được gọi là diệu ý ở đây, lại nói ở sau người kết thành biểu hiện chánh ý, chỉ là kết thành công niệm xứ xong, nói sáu người và Như lai, quyển hai mươi tám chép: Lúc bấy giờ, Bồ-tát Sư Tử Hống bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế tôn! Thế nào là Tỳ-kheo trang nghiêm Ta-la Song Thọ, Đức Phật nếu sáu người cho đến Như lai, sáu người ở nhân Như lai ở quả, nhân quả đều được gọi là trang nghiêm, nhân quả thỉ chung bốn đức đầy đủ, tiêu biểu nghĩa hiển nên nói Trang nghiêm.

Nhân sáu người: Trong kinh nói: Nếu có Tỳ-kheo thọ trì đọc tụng mười hai bộ kinh, chánh văn cú ấy, như vậy Tỳ-kheo mới trang nghiêm được Ta-la Song Thọ, Sư Tử Hống chép: Như ta đã hiểu nghĩa Phật nói, A-nan Tỳ-kheo tức là người ấy, được tịnh thiên là chỉ ngài A-na-luật, ít muốn biết đủ là Đại Ca-diếp, vô tránh không hạnh là chỉ ngài Tubồ-đề, khéo tu thần thông là chỉ Mục-kiền-liên, đắc đại trí tuệ là ngài Xá-lợi-phất, mỗi vị đều hiểu rộng như A-nan, sau nếu quả và người, nếu có Tỳ-kheo hay nói chúng sinh đều có Phật tánh, đắc Tam-muội Kim cương đầy đủ bốn đức, tám ngã tự tại, Tỳ-kheo như vậy rất có thể trang nghiêm Ta-la Song Thọ, Sư Tử Hống nói: Như ta hiểu nghĩa Phật nói, chỉ có Như lai mới có khả năng trang nghiêm Ta-la Song Thọ, như không kia thì không trang nghiêm, cúi xin Đức Như lai thường trụ ở đây.

Phật nói: Tất cả pháp tánh trụ ở vô trụ, làm sao thỉnh trụ, sáu người trước tuy nói phần nhiều nghe cho đến đại trí phải nói tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, đã ở hội Pháp Hoa được nghe thọ ký rồi không ai chẳng thể nói nhưng kịp quả và người, nên nói Như lai rất có khả năng trang nghiêm, nhân nhân quả nhân đều có đủ bốn đức, nhân nhân mới nhập nên nói tuy có Phật, Thinh văn còn như vậy, ở sau nêu lên để so sánh cao siêu, nếu nhập Niết-bàn, thành năm giải thoát, kết bốn niệm tiêu biểu để thành bí tạng, bí tạng chỉ là Niết-bàn, Niết-bàn chỉ là giải thoát Bốn niệm xứ quán đã quán năm ấm, niệm xứ đã thành trung gian Niết-bàn, tức là năm ấm thành năm giải thoát, nên trong kinh nói: Sắc giải thoát cho đến thức giải thoát. Biết tức, v.v… Là kế kết Bốn niệm xứ cho đến giải thoát thành ba Phật tánh, ba Phật tánh nầy cùng chấp sáu pháp, biết tức là không lìa, bất tức chẳng phải chẳng lìa nên lý đủ, cho nên bổn mê nên sai. Nói sáu pháp: Nghĩa là năm ấm thần ngã, nên trong Đại kinh quyển ba mười nói, làm người mù rờ voi dụ cho đã xong, tức hợp dụ cho hoặc có thuyết nói, sắc là Phật tánh, cho đến có thuyết nói ngã là Phật tánh, phải biết Phật tánh cùng sáu pháp ấy chẳng tức chẳng lìa.

Ba Phật tánh: Là theo ý quyển ba, văn trong niệm xứ, chánh nhân không tức không lìa với sắc, liễu nhân không tức không lìa ở thức, duyên nhân không tức không lìa thọ tưởng hành và ngã, phải biết sáu pháp chỉ là ba nhân, nên ba do đây cùng năm ấm, v.v… không tức không lìa chuyển năm ấm để thành bốn đức, ba đức ba nhân, đủ như quyển ba văn ba đức ở cuối trong ấy, đủ Viên giáo Biệt giáo, nay chỉ ở Viên, Đại thừa đồng Tiểu thừa khác đều có ý chỉ, hai giải trước dùng năm ấm Bốn niệm xứ đối với ba đức ba đức nay đối với năm ấm lại thêm thần ngã, để ở bốn đức chỉ có đối với ba nhân cho nên khai hợp có chút đồng và khác.

Kế giải thích đối trị để trợ giúp khai.

Ban đầu nói trong ý, trước khắc thể trợ giúp, nên nói vì tất cả Tam-muội làm gốc, nên bốn pháp Tam-muội phải nương Viên giáo không thể nghĩ bàn ba pháp Tam-muội làm gốc, đây là sáu tên trước làm chánh hạnh, chánh hạnh không hiển rõ bởi có ngăn, lại phải phân nói. Đương giáo Tam-muội tức là gốc của đương giáo các hạnh, nay văn chỉ có y cứ Tam-muội vô tác làm gốc các hạnh, nếu nhập ở sau nói làm riêng văn nay hạnh bổn, căn lợi ở sau chánh y cứ căn ngăn phân biệt để phân biệt giúp ý, trong bốn câu ba câu không cần, chỉ có căn độn có ngăn dùng để đối trị, trong câu kế nói chỉ chuyên ba môn giải thoát, nhưng trước chuyên tu đạo phẩm vô tác để khai ba môn giải thoát, phàm sơ quả ở sau so sánh giải thích, nầy phải là quả thứ hai vì căn lợi có ngăn, và thế trí dứt kết, tuy chẳng phải xuất thế căn lợi nhưng cũng là hạn cuộc không ngắn.

Nói hai điều: La hai quả thành một điều thế trí làm một điều, hai điều như thế, điều ban đầu còn có sự hoặc, điều kế không sự vì lý thành chướng, phá sự lý chướng, nghĩa phải dùng trị, so sánh căn độn ngăn trùng lặp không đối trị, quả thứ ba người thứ ba muốn kết tận nên không nói phải trị, thế trí tuy đoạn, ở sau Bát địa suy nghĩ, vì chấp ngã nên phải trị đạo, nên trong năm pháp quán dừng tâm chấp ngã nhiều, còn phải đối trị để nói pháp giới, nếu theo ý nầy chỉ có căn lợi không ngăn, căn độn không ngăn, và trí vô lậu tận muốn kết, không cần đối trị, nhưng ban đầu hai quả chỉ duyên lý trị hoặc, gọi là dụng trị, thật khác nhau với phàm phu trị tướng, phải biết không ngăn nhưng chuyên trước nay cảnh đồng với sáu pháp, nếu có ngăn căn độn, thì trị đạo không thành Tam-muội yên khắc, giúp đạo vô lượng ở sau nói dùng sở trị sở y, giúp đạo vô lượng chỉ dùng sáu pháp là đối sáu tệ, nên lại lập sáu pháp để chỉ bày tướng trị, y cứ theo ý văn sau, tuy các giáo lần lựa thành trị, nhưng khoa nầy chánh làm trị ở ngăn che nhiều lớp. Cho nên lại lập sự có sáu để trị.

Hỏi: Trước trong thông bít, bít có ngang dọc, trong đây trị bít vì sao chỉ đem sáu độ trong ngang để nói tướng trị.

Đáp: Ngang thì sự lý đều chướng, sáu độ thì nhiếp sự lược khắp, huống chi lại khổ tập vô minh gọi là lược đối trị không đủ, và hoặc trần sa trong dọc chẳng phải trị chánh ý nay nói sự trị nên không nói dến, lại nếu có khổ tập thì có vô minh, có vô minh nên sáu tệ đầy đủ, nhưng trị sáu tệ còn hai thì bỏ, tướng tệ nầy lại ở ấm cảnh trải qua các tâm, cho nên biệt sinh, văn nầy dùng quán, như người ở sau ban đầu trị san lận, nói nếu người tu bốn pháp Tam-muội đến giải thoát môn, không khai văn đây là đầu tiên ở sau năm độ, năm pháp ở sau chỉ nói khi tu Tammuội, còn các văn đều lược.

Chữ “kích” là nước bắn lên.

Kế trong phá giới: nói che lấp, là dáng mạo thô rít trong phòng quá là nói chế phần hạn gọi là độ. Thuần là thuần phát, cũng là ít, là yêu. Bột nầy chẳng phải là thể của chữ, nghĩa là trái nghịch, nên làm chữ đổi là sai. Chữ sự là thát bạt, đúng nên là chữ lại. Ngọc Thiên nói: Có tâm mà không lực, nghĩa là biếng nhác Xuân oa: là loài ểnh ương.

Diện tướng là không có sở kiến, các tệ ở sau có chung kết, trong sáu tệ trước đều có dày mỏng, nếu cần thì ở sau nói đủ bốn món tùy hồi chuyển tướng trị, đối trị ở trước đã dùng một đối trị trong bốn thứ đã xong, thoạt chẳng phải việc thích nghi kia nên phải chuyển dùng, hoặc gồm hoặc đủ, hoặc nghĩa đệ nhất, cho nên nói chung là phải y theo bốn món tùy.

Ban đầu nêu chung.

Kế chỉ bày riêng chặng giữa, như trị một xan, lược ở một tệ chỉ bày tướng bốn món tùy.

Hỏi: Trong văn nếu đã rõ đối trị, trong đây chỉ nên nói lại ba món tùy, vì sao y cứ lược về san nêu bày có đủ bốn?

Đáp: Trước tuy nói: Dối là thẳng dùng trị, mà chưa nói rõ dùng trị có lợi ích hay không, nghĩa là ác phá thiện sinh, v.v… nay chỉ bày tướng tùy giáo ấy hồi chuyển, cho nên nêu đủ tướng bốn món tùy, lại trong bốn món hoặc vui hoặc không vui để nói tướng chuyển, do không ưa thiện tức chuyển dụng hộ cho đến Bát-nhã, nếu tâm thiện sinh cho đến khai mở, là gồm chuyển đủ và nghĩa đệ nhất, lại trong đối phá tức là đối phá chung, tức gồm chuyển đủ, nên nêu chung các cách chuyển.

Nói chuyển: Là hoặc chuyển dùng hộ cho đến Bát-nhã hoặc thứ lớp hoặc vượt một đến bốn, nghịch thuận lẫn lộn bệnh bỏ biến dừng, năm độ làm dầu chỉ vượt bổn vị, còn đồng với thiện, bệnh nầy không chuyển mà trị chuyển, một độ chuyển dùng còn năm độ liền thành năm câu sáu độ, gồm có ba mươi câu trị, nếu thuốc bệnh đều chuyển tên cũng đối cũng chuyển, thành ba mươi câu, là chuyển là đối là chuyển chẳng phải đối, một phen đến lại lập thành ba mươi câu, nếu vượt xen lẫn thì câu tướng không nhất định.

Hành là tự biết, đâu thể ghi đủ lại một độ chuyển dùng đến hai ba bốn, cũng có thể gọi chuyển, cũng có thể gọi bao gồm, nếu đến năm độ danh chuyển danh đủ, không được đủ danh là dùng chuyển dụng, nếu nói đủ là không được nói chuyển, nhưng dùng đủ sáu tệ trị một tệ, cũng dùng chuyển nên lại mất bao gồm cả tên, nên tuy gồm đủ chỉ gọi là chuyển, cho nên chuyển đến năm không gọi là đủ, chuyển thì riêng dùng đủ thì gồm chung, nên khác nhau cũng như bệnh chuyển mà thuốc không chuyển, không gọi là chuyển trị cũng chẳng phải gồm đủ, hoặc nghĩa đệ nhất gọi là nhất hướng trị, cũng có siêu thuận nghịch, v.v… tùy theo bệnh ấy chuyển dùng làm năm tệ cũng thành ba mươi câu nhất hướng trị.

Nói bao gồm: Là thuốc bao gồm một lượng cho đến ba bốn, đến năm tên đủ cho nên chỉ có bốn, sáu độ phân biệt có bốn câu thành hai mươi bốn, một độ đến năm chỉ thành sáu câu, chánh gọi là trị đủ, nay văn không đủ, chỉ là văn lược trong quyển tám có. Đây y cứ Viên giáo dùng tướng sự trị, nếu sơ tâm Tạng, Thông, Biệt tu Bốn niệm xứ, dùng tướng sự trị y cứ theo đây nên biết. Nói nghĩa đệ nhất, là chỉ có quán lý vô tương chân như vắng lặng. Nếu theo giáo, đều do đương giáo chân lý làm trị, cho đến viên nhân dùng ba giáo lý làm đối, v.v… Lại sơ tâm bốn giáo đều phải sự trị, như hướng sở thuyết, hoặc dùng bốn giáo tranh chấp làm trị do trước giúp sau, lại dùng sáu chuyển trước mong tướng sáu tệ giáo sau, làm đối chuyển, v.v… như bên Thông giáo dùng sáu độ trong ba tạng, hàng Biệt giáo thì dùng Tạng Thông lượng sáu, hàng Viên giáo dùng ba đều có chuyển, v.v… như trị một san xem san thế nào, tài thân và mạng chỗ san khác nhau, đã biết san rồi dùng sự làm trị, người Biệt giáo dùng hai ví dụ nầy nên biết, người Viên giáo dùng ba, như dùng sự trị san, san tuy tợ phá do đây mới chấp ba xả làm thật, nhưng tăng thêm sinh tử không chánh có thể nói chuyển dùng tức không trị chấp thật ấy, nếu phá thật chấp, thì sẽ được tương ưng với pháp giới, phá thật tồn không, thì nên chuyển dùng hằng sa Phật pháp, xả thân mạng dài mười cõi không biết, khi thực hành quán nầy chấp giả làm thật, chỉ được gọi là ái kiến đại bi, thì nên chuyển dùng quán thân mạng, tài sản đều là pháp giới, Viên giáo quán pháp được đối trị gọi là do đây. Trong nầy chỉ có thuốc và bệnh đều chuyển, không bị bệnh chuyển mà thuốc không chuyển, cũng có thể được có thuốc chuyển mà bệnh không chuyển vì vì sao? Chấp thật không chuyển mà cũng cho dùng ba thứ thuốc sau, đều đủ so sánh nói suy nghĩ nên biết, lại nầy chuyển trị bắt đầu từ sinh diệt cuối đến vô tác, gọi là tiệm chuyển, nếu từ vô tác chuyển đến sinh diệt cho đến xen chuyển gọi là bất định, nếu nghĩa đệ nhất gọi là đến chuyển, một tệ đã vậy các tệ cũng. Cho nên đối với một bệnh chuyển dùng Tạng giáo năm tệ cho đến ba giáo sáu giáo, thành hai mươi ba độ, sáu tệ gồm có một trăm ba mươi tám trị đều chuyển danh đối và cũng danh chuyển đều có một trăm ba mươi tám trị, đều đủ các tướng suy nghĩ nên biết, hoặc thấy ý ấy mới rõ văn nầy trợ giúp sáu độ ở sau. Kế lại nói chung trong hành thức, nói trị tướng ấy thì việc chẳng phải một, đối với mỗi việc đều có hợp hạnh, chẳng phải nầy có thể đủ, nên chỉ văn sau trong tướng nhiếp mà nói, có người ở sau muốn nói hợp hạnh trước nêu ra khác giải rồi sau phá khác nói phải hợp hạnh, cho nên nay văn sau thì có bốn thứ sáu độ.

Văn đầu chánh nêu ra khác giải, hiển bày mười và sáu chỉ là khai hợp, người xưa không thấy ý khai hợp, làm dụng văn Lăng-già tông giáo. Trong Lăng-già ấy nói: Người Bồ-tát Nhị thừa có hai thứ:

1- Tông thú pháp tướng, tự sở chứng lìa tướng phân biệt, nhập cõi vô lậu.

2. Ngôn thuyết: Nói chín bộ lìa bốn câu khiến chúng sinh nhập, sau đó Thông giáo nêu Bồ-tát Nhị thừa sở chứng và nói, chung thành tướng lý giáo của Ba thừa, Tổ sư không rõ là tông, không nói là lý là đại vì thuộc về Bồ-tát, nghĩa là giáo có nói là sự là tiểu vì thuộc về Nhị thừa, tông giáo có không đủ như trong Huyền Văn Pháp Hoa, Duy-ma đã phá.

Kế dẫn Đại kinh, Đại phẩm để làm chứng sáu độ nhiếp tất cả pháp, nên biết sáu vị giáo chủ ngoại đạo không có pháp khác, như bốn đế trước chỉ nói bốn đế có vô lượng tướng, không nói bốn món ngoài lại có pháp khác vì sao nói sáu pháp chỉ ở Thông giáo.

Kế nếu được ở sau lược chỉ bày ý văn, hoặc sáu hoặc mười, đã là khai hợp, không nên lấy nầy mà phán xét đại tiểu tông giáo đồng khác, như thiền ở sau chánh tông khai hợp, hợp nên tức là sự lý nói chung, khai thì là sự lý nói riêng. Lại nói sáu thì chung cho đại tiểu, nói mười thì chỉ chung ở Đại. Lại mười pháp trong đây thông thỉ chung ở bốn giáo, biệt thì chỉ ở Biệt viên, như Bồ-tát Tam Tạng lấy phục hoặc làm trí Nhất thiết, do ba Tạng chỉ giả làm trí đạo chủng, quả Phật dùng làm trí Nhất thiết chủng, năng khởi thần thông, có nguyện dụng cao siêu, nên Bồ-tát Tam Tạng cũng có mười, nếu theo bên chưa dứt hoặc thì Bát-nhã cũng không, chẳng phải từ không xuất chủng trí không thành, chưa được pháp thân vô nguyện trí lực. Lại do phân địa mà làm Bát-nhã thì chỉ có sáu. Bồ-tát Thông giáo từ không biên khai ra phương tiện quả Phật chủng trí và nguyên trí lực, mà thực hành mười độ, chưa được pháp thân đồng với ba tạng, đã dứt Thông hoặc tử không xuất giả, từ dễ tiến lùi nhiều ít khác nhau, cho nên hai giáo hoặc sáu hoặc bảy hoặc tám hoặc mười, nay văn lại y cứ nghĩa biên của Biệt viên, khai sáu thành mười, còn trong các văn thêm bớt chưa nói đến, lại còn giáo đạo hơn nữa bao gồm ở Biệt, mà ý vốn ở viên, cặn bùn cùng nguyện Bà-sa và lực phương âm khác.

Nói định thủ thiền độ, hoặc khai thiền thành ba thì định căn bản thủ độ thứ năm gọi là thiền độ, các chỗ khai là lực là nguyện, không trí thủ ở Bát-nhã thứ sáu, các chỗ khai gọi là âu-hòa, v.v… Âu-hòa xuất giả trí, Xa-na nhập trung trí, cũng là phương âm khác nhau.

Kế nói nhiếp pháp là chánh tông hợp hạnh cho nên có thể nhiếp pháp, nếu không đạt được tất cả các pháp đều nhập vào môn đối trị nầy, vì sao đối trị nhiếp tất cả pháp?

Ban đầu nói sáu độ nhiếp đạo phẩm, văn sau giải thích rộng, ý tuy rất dễ thấy nhưng nay dự nói chung đến văn dễ rõ.

Vì sao? Đàn nhiếp hai giác nghĩa là trừ xả, trong văn thiếu một văn sau nêu bày đủ hộ nhiếp ba nghĩa là chánh nghiệp ngữ nghiệp mạng nghiệp, nhẫn nhiếp có bốn, đó là niệm căn niệm lực niệm giác chánh niệm, tấn nhiếp có tám, nghĩa là bốn chánh cần, tấn căn tấn lực tấn giác phần chánh tinh tấn, Thiền nhiếp có tám, đó là bốn như ý, nghĩa là bốn như ý định căn, định lực, định giác, chánh định.

Tuệ nhiếp mười, đó là Bốn niệm xứ, tuệ văn, tuệ lực, trạch giác, hỷ giác, chánh kiến, chánh tư duy, hợp lại có ba mươi lăm, còn có hai tín thông ba mươi lăm, tất cả các pháp tín làm gốc. Nếu theo luận Bà-sa do thật thể có mười một nhiếp ba mươi bảy, nên trong luận Bà-sa trước dùng bảy giác bao gồm sáu khoa, còn không nhập, nghĩa là hai tín làm một và chánh tư duy một, do ngữ nghiệp mạng ba thật thể chỉ có hai, đủ thành mười một, trong luận Câu-xá chỉ có mười, do hợp giới chi. Nói nhập bảy, nghĩa là Bốn niệm xứ và tuệ căn, lực, chánh kiến nhập trạch pháp giác phần, bốn món chánh cần tấn căn lực và chánh phương tiện phương tiện, là tấn nhập tấn giác phấn, bốn pháp như ý túc và định căn lực chánh định nhập định giác phần niệm căn lực chánh niệm nhập niệm giác phần, cho nên hai mươi bốn pháp nhiếp nhập bảy giác, và bổn bảy giác hợp thành ba mươi mốt và sáu pháp tín, v.v… hợp thành ba mươi bảy. Nay ở trong bảy nhiếp hỷ nhập trạch nhiếp trừ nhập xả, thì hiện bảy thành năm, dùng niệm làm nhẫn ngữ, v.v… là hộ trạch hỷ thuộc tuệ trừ xả là đàn định, v.v… là thiền, hai tín ý theo trước dùng làm nhập chung, cho nên bảy giác, sáu độ đầy đủ, nên nay khai hợp cùng luận chẳng khác, khai hợp tuy vậy mà nghĩa cùng nói khác nhau, nay sáu văn nghĩa nầy thông bốn giáo, mỗi bao gồm mười, tức văn sáu độ đây là sáu đoạn, trong mỗi đoạn, ba tạng văn đầu là sự trị chánh ý, nên văn hơi rộng.

Ban đầu nói sự thiện nhiếp hai, văn tướng rất dễ thấy, nếu sau ba

tạng, là chánh nói sự xả vẫn còn nêu lý để so sánh, tuy chưa thánh lý thiện có lợi ích của sự trị.

Kế dẫn luận gạn hỏi, xả có thể ở sau đáp, lại xả ở sau nói thiện có thể thành năm, chung riêng như văn.

Kế nói trong viên xả, viên là văn nay hợp hạnh chánh ý với sự, lại thuận văn nay thể chánh tu, thế nên nay dẫn văn nói rộng tướng kia.

Ban đầu chánh nói trong văn xả, nói mười pháp giới sắc thân, v.v… Là chỉ quán ba việc, tâm khắp pháp giới thì mười cõi ba việc thầm như vậy tự mất, chánh báo là thân, y báo là tài.

Nói mạng: Là liên trì làm nghĩa, tức trong các cõi đều có liên trì, như trong sáu đường báo thọ mạng khác nhau, và trong Thánh đế có các tuệ mạng thường trụ mạng, tức ba việc nầy ở một niệm tâm ba đế đầy đủ có thể dứt ba hoặc, nên gọi là Xả. Không vào hai bên, chỉ là xả Trung đạo không hai, đây y cứ sau cùng lý quán thiện nghĩa, nếu nói về hợp hạnh, nên đủ sự lý, nên trong văn sau kết lỗi lầm nói: Lý quán sâu nhẹ, mà không tồn sự hạnh, tức lại nêu tướng sự trị, văn sự trị xong lại phân tích nói: Mà không tồn lý quán, tức dùng độ phẩm sáu câu phân biệt, cho nên phải biết tu lý quán, nhiều lớp nếu hoặc khởi thì phải có sự trợ giúp, sự và lý chung gọi là hợp hạnh, cho nên sáu câu chánh hiển bày độ phẩm đều có lý sự, nên hữu tướng phá tương tu tức nhau, người không thầy chỉ là thoạt phân biệt mà thôi, nếu vậy thì tu hành có lợi ích gì? Vì sao ở sau giải thích, trước nói xả chung hai.

Kế là dẫn Ương-quật để chứng viên xả ở chặng giữa ban đầu nêu bày văn kinh, từ hữu biên ở sau giải thích ý kinh.

Nói không hoại, tức là thân sinh tử trăm cõi thông suốt lý thường trụ, nói về san thành trị lại hiển bày pháp thân, pháp thân đã vậy tài mạng cũng.

Kế là dẫn Kim cương bốn câu là giáo, y giáo tu quán quán giáo tức đủ ba thứ Bát-nhã, nên thật tướng Bát-nhã giúp ở pháp thân, xả tất cả thân, quán chiếu Bát-nhã giúp tuệ mạng, xả tất cả mạng, bốn câu văn tự giúp tài thường trụ, xả tất cả tài, lại dùng ba món tư lương đối với lý có ba, nên khi hiển lý thì tất cả năng xả. Lại văn tự có thể nêu bày ba thứ Bát-nhã quán chiếu tu đắc ba thứ Bát-nhã, thật tướng vốn có ba thứ Bát-nhã, nên người xưa nói: Ngà xả ba Hằng chưa khỏi hữu sinh, bốn câu Bát-nhã chứa nhóm diệt đạo thành, cho nên phải biết, công bốn câu sau ba hằng lực kém, nên biết bốn câu cùng xả thân, đâu thể so sánh hơn kém kia, như đây trở xuống là bác bỏ thiên. Văn đầu tức là tướng xen lỗi, nên nói cả hai đều có lỗi, hoặc chỉ có tu viên quán sự hành toàn không, hoặc chuyên tu sự độ viên lý tuyệt phần, cho nên hai lỗi đều thiếu hợp hành, đàn độ đã như vậy năm pháp khác đều như vậy, lại hai lỗi mong nhau đều có hơn kém, nay khuyên hạnh cho nên đều trách.

Nói oan, thân, v.v… Dẫn là việc của Bồ-tát ba tạng, trong kinh Báo Ân nói: Bồ-tát Thích-ca khi làm Luân vương, khoét thân đốt ngàn ngọn đèn để cầu nữa bài kệ. Sinh thì có chết, diệt đây là vui, được bài kệ nầy rồi khiến các đại chúng đọc tụng ghi chép ở vách đá ngay đường, khiến người phàm thấy phát tâm Bồ-đề, thân đèn sáng chói cũng nói bài kệ nầy, người nghe đều phát tâm Bồ-đề, ánh sáng ấy lên đến cõi trời Đao-lợi, ánh sáng các vị trời đều không hiện, các vị trời hỏi nhau nhân duyên ánh sáng nầy, liền dùng mắt trời thấy luân vương ấy, do đại từ bi vì chúng sinh cầu nửa bài kệ, khoét thân đốt ngàn ngọn đèn, ánh sáng đây là thân đèn kia phát sáng, thiên đế nhân đó liền đến chỗ Bồ-tát.

Hỏi: Bồ-tát rằng: Thực hành cúng dường nầy vì cầu làm thiên đế phải không?

Đáp: Vì chúng sinh nên cầu Bồ-đề.

Thiên đế hỏi rằng: Lấy gì làm chứng?

Đáp: Nếu không hư dối thì thân sẽ bình phục lại, nói xong thân kia bình phục như cũ, đủ như trong kinh ấy có nói rộng, cũng như kinh Nguyệt Quang Bồ-tát, có vị vua tên là Trí Văn, cắt thịt ở bắp vế để cứu tỳ-kheo bệnh.

Trong Đại luận chép: Thái tử Nguyệt Quang chích máu tủy để cứu người bịnh hủi, cắt gân thịt để đổi con khỉ, lộ bày xương sống để giúp thỏ què, v.v…

Bỏ quốc thành: Như trong Đại luận, vua Tỳ-thi-già làm bạn với nước lân cận, bốn binh dẫn đến an nhiên không sợ, các quan bạch rằng: Pháp nào lại bỏ?

Vua nói: Có pháp, như vậy đến cả đều nói hữu pháp, giặc đã đến vua bảo các quan: các ông thờ chủ sao có kia đây, ông hãy thờ kia nay ta bỏ, bèn từ cửa sau trốn ra, sau vua ngồi rồi liền bảo rằng: Nếu có thể được trước vua, phải thêm trọng thưởng, lúc sau người khác biết trước, vua nầy vì tánh bố thí đi đến vua xin, không biết vua nầy bỏ quốc thành, đi đường gặp vua nầy mà lại không biết, gặp rồi lại hỏi rằng: Ta nghe vua Tỳ-thi-già tánh ưa bố thí, ta muốn đến xin, vua bèn bảo rằng: Ông hãy trói ta giao cho vua mới, sẽ được trọng thưởng, người ấy nghe rồi sinh tâm rất cung kính, không dám nhận lời.

Vua nói: Theo ông đến thành ông hãy trói dâng lên, đến rồi các quan thấy vua khóc to.

Tân vua hỏi: Các quan đáp lại đầy đủ, mọi người đều theo xin cũng nói việc ấy, Tân Vương xuống bệ rồng, lễ bái làm huỳnh đệ, giúp nhau trông coi việc nước.

Cứu chim bồ câu cho cọp đói ăn đều là xả thân mạng, nay nói ở sau nói được tướng, hoặc người ở sau nói rộng tướng mất.

Vũ là đánh; ức nghĩa là hung ức, theo tự trách biết hạnh không không khắp, bảo hộ ở sau không thể xả tài, sợ quở trách ở sau không thể xả tài, tham tiếc ở sau không thể xả mạng, gặp việc ở sau là tổng kết không có ba.

Nay ở đạo tràng, v.v… là lập hạnh thỉnh thêm, tự hành giáo tha v.v… Là trong Đại luận quyển năm mươi sáu chép: Đại Bồ-tát tự không sát sinh, cho đến chủng trí, dạy người bất sát, khen ngợi pháp không sát, cũng hoan hỷ người bất sát, cho đến chủng trí, là Bồ-tát ưa mến Phật pháp, vì biết thân miệng ý vô thường, không nói lời vô ích, khiến cho pháp thiện được tăng thêm lợi ích, khiến các phiền não không thể che tâm, hành giả khi khởi hạnh nầy, kiết sử tuy khởi trí tuệ tư duy không để che tâm, nếu buông lung kiết sử, mất ở đời nầy đời sau chướng ngăn Phật đạo, nếu tâm khởi thì không cho miệng khởi, không cho thân khởi, nếu thân khởi thì không cho gây tội lớn, như người phàm phu, là Bồ-tát tuy là lùn xấu thấp hèn, do trong số người thực hành thắng pháp được cao siêu, người này rất ưa thích công đức, có thể thực hành bốn món hạnh cao siêu, người Nhị thừa không thể đầy đủ bốn món, do không thâm ưa Phật pháp, là Bồ-tát nầy tự đã không sát sinh vì dùng từ bi, dạy người không sát, từ bi là tất cả pháp thiện của Thánh hiền, cho nên phải khen ngợi, Bồ-tát thường muốn cho người được vui, thấy người khác không sát hại tâm sinh vui mừng khen ngợi, cho đến chủng trí, cũng giống như vậy. Nếu không tự hành làm sao có thể lợi tha, nếu không lợi tha làm sao thành tựu tất cả chúng sinh, nếu không thành tựu tất cả làm sao thanh tịnh cõi nước Phật. vì sao? Vì chúng sinh thanh tịnh nên thế giới tịnh. Lại quyển tám mươi tám chép: Bốn món hạnh đây là cốt yếu của Đại Bồ-tát sơ tâm, không thể không biết, vì sao bốn thứ nầy không đủ, không gọi là Đại Bồ-tát, vì sao? Hoặc có thể tự hành không thể hóa tha, v.v… bốn pháp xen nhau làm câu, lẫn nhau nói rộng, ban đầu từ không sát, không trộm cho đến chủng trí, do không đủ nên không thành cực quả, nếu tâm chân thật, v.v… là mong thêm được lợi ích, có thể cảm cho đến tư ích, v.v… trong kinh ấy Phật phát ra tất cả ánh snág pháp, nay văn lại dẫn ra sáu văn để chứng sáu độ, trong kinh nói: Lại ánh sáng Đức Như lai gọi là năng xả, Phật dùng ánh sáng nầy phá được tâm san tham của chúng sinh, khiến cho hành thí, lại ánh sáng Đức Như lai gọi là Vô đối nhiệt, Đức Phật dùng ánh sáng nầy phá được tâm phá giới của chúng sinh, khiến cho trì cấm giới. Lại ánh sáng của Đức Như lai gọi là An Hòa, Phật dùng ánh sáng nầy phá được tâm tức giận của chúng sinh, khiến thực hành nhẫn nhục; lại ánh sáng của Đức Như lai gọi là siêng tu, Phật dùng ánh sáng nầy phá được tâm biếng nhác của chúng sinh, khiến hành tinh tấn; lại ánh sáng của Đức Như lai gọi là nhất tâm, Phật dùng ánh sáng nầy phá tâm vọng niệm của chúng sinh, khiến thực hành thiền định; lại ánh sáng của Đức Như lai gọi là năng giải, Phật dùng ánh sáng nầy phá được tâm ngu si của chúng sinh, khiến thực hành trí tuệ, cho đến bốn nghi tất cả các pháp cũng giống như vậy. Ở sau, trong các văn lại không dẫn ra, vì nhờ ánh sáng, đều phải giải thích ra, đã nhờ ánh sáng tùy theo túc duyên và hiện gia hạnh, được tương ưng với bốn món hành tướng, trong văn nói lược chỉ nói xả nếu chỉ coi nhẹ, mà không thật rõ ràng quán hạnh sâu cạn, nên khiến người sau mỗi giải thích nêu ra bốn món tướng đàn, để đối bốn giáo, khiến được lợi ích, biết lợi ích, biết gia hạnh. Nếu muốn giải thích, nên nói: Nếu tương ưng với ba tạng đàn xả, hay trong sự xả thân mạng tài, tương ưng với thông biết ba việc không, tương ưng với biệt đạt thí các pháp, tương ưng với viên, kiến thí pháp giới, qua hiện hòa hợp cùng bốn món tương ưng, đàn độ đã vậy, năm pháp khác cũng vậy, có thể rốt sau ở sau nói lý đủ sự thành. Nếu không có nhân duyên thì các thân ta nầy không có lợi ích với duyên vật, tạm nương thân hôi thối để tiến đến đạo mình, bỗng nhiên người khác có chút lợi ích, xả thân này cũng như bỏ chuyện vặt, trong thông thường còn có thể giết thân thành nhân, há là bậc xuất thế cao sĩ mà mê thân hôi thúi hay sao?

Thị vị v.v…, là gồm kết được lợi ích chánh trợ hạnh thành, do phân tích không thành, chánh trí như lửa ấn cảnh như hơ, việc độ như dầu, nếu lửa không thắp sáng thì không cháy, bèn do sự hành dầu cạn, do dầu cạn, vô minh rất tối do đâu diệt được, nếu như trên bỏ thứ lớp nói hộ độ nhiếp ba.

Ban đầu nói nhiếp pháp nêu bày giáo phân tích lỗi như văn. Trong Thỉnh Gia nói: “hà điếm” là ngọc có vết, tỳ là chất ngọc bị thiếu, hủy trong như điếm, phá khinh như hà.

Độc long, v.v… Trong Đại luận quyển mười ba chép: Như Bồ-tát Thích-ca bản thân từng làm Bồ-tát đại lực Độc Long, nếu chạm thân hôi thúi, người chạm thíu chết biến người mạnh khi hư bèn chết, rồng nầy có thọ một ngày một đêm giới, vào trong rừng vắng một mình ngồi tư duy, ngồi lâu mỏi mệt rồi lại nằm ngủ, pháp rồng nếu ngủ thì thân hình hiện lại như rắn. Văn chương bảy báu, người thợ săn thấy kinh sợ chạy nói: Da như thế thật ít có khó được, nếu dâng lên Đại vương cũng nên chăng? Rồi dùng gậy đè đầu lấy dao lột da, rồng tự nghĩ, “sức ta như ý nghiêng úp nước này như trở bàn tay, hạng tiểu nhân nầy đâu thể bắt ta, nay ta trì giới không chấp thân nầy, phải theo lời Phật, cho nên tự nhẫn nhắm mắt không nhìn nín hơi bặt dứt, thương xót người này một lòng lột da không sinh hối hận, đã mất da nầy rồi thịt đỏ nằm ở đất, lúc bấy giờ nắng mặt trời nướng quay trong đất muốn đến nước lớn thấy các trùng kiến mở ăn thân nó, vì hộ giới nên không dám nhúc nhích, tự nghĩ rằng: “nay Ta thân nầy đem thì các trùng kiến vì thành Phật đạo nay đem thịt thí để no đủ mạng kia, khi thành Phật phải dùng pháp thí lợi ích tâm kia, như vậy thệ nguyện rồi thân khô mạng tuyệt liền sinh lên cõi trời Đao-lợi thứ hai. Người thợ săn là Điều-đạt lục sư, v.v… các trùng nhỏ nay là xoay bánh xe pháp lần đầu có tám muôn các vị trời đắc đạo nầy. Tu-đà-hoàn, v.v… là tên trong Đại luận, tên Nhân Vương là Phổ Minh Vương.

Trong kinh nói: Bị vua Ban-túc bắt đem đi, theo cầu xin, một ngày làm việc bố thí, Sa-môn ăn cơm đảnh lễ ba bảo, vua Ban-túc nhận lời trả về nước y theo bảy Phật pháp thỉnh trăm Pháp sư, một ngày hai thời giảng kinh Nhân Vương Bát-nhã, pháp sư bậc nhất nói kệ cho vua nghe rằng:

Kiếp thiêu hết rồi

Trời đất rỗng rang

Tu-di biển lớn

Đều thành tro bụi

Trời rồng phước hết

Ở trong ly tán

Hai nghi cũng vậy

Ny cứ có gì thường

Thần thức vô chủ

Tạm cỡi bốn rắn

Vô minh nuôi dưỡng

Dùng làm xe nhạc

Thần không chủ thường

Hình không nhà thường

Hình thần còn lìa

Há có nước ư?

Có vốn tự không

Nhân duyên thành tán

Thịnh vượng sẽ suy

Việc thật sẽ hư

Chúng sinh lúc nhúc

Đều như huyễn hóa

Ba cõi đều vậy

Cõi nước cũng như

Sinh già bệnh chết

Trôi lăn không bờ

Sự trái với nguyện,

Ưu bi làm hại,

Dục sậu họa nặng

Ung nhọt không ngoài

Ba cõi đều.

Cõi nước nương gì.

Ý bài kệ đều khuyên vua xả thân và cõi nước, trong Đại luận nói: Lúc bấy giờ, Pháp sư nói bài kệ tụng nầy rồi, vua lại đến nước Thiên-la chỗ vua Ban-túc, ở trong đại chúng bảo với chín trăm chín mươi chín vua rằng: Đến khi sắp chết, mỗi người đều tụng bài kệ của kinh Nhân Vương bảy vị Phật ở thời quá khứ, các vua đều tụng, vua Ban-túc nghe rồi hỏi các vua: Là tụng những gì?

Vua Phổ Minh dùng kệ đáp vua Ban-túc, vua Ban-túc nghe rồi đắc Tam-muội Không bình đẳng, các vua đồng chứng, vua Ban-túc do đây mà thả các vua, tâm thành ở sau mong che chở được lợi ích.

Tội của hai đời: Là tội quá khứ và tội hiện tại, cũng nên mỗi việc giải thích cũng nêu ra bốn tướng thi-la, ba tạng nên biết, trong Thông giáo nói phi trì phi phạm là không thấy tướng trì, nên nói phi trì, tướng trì còn không, tướng phạm vốn diệt, nên trong Đại luận nói: Nếu thấy người trì giới ưa thấy người phá giới sân giận, trì giới như vậy gọi là nhân duyên của tội, mất tướng trì phạm mới gọi là không thấy, nên trong văn Thi-la ở sau nói tương ưng với lý quán chánh nghiệp, v.v…, chánh nghiệp trong sự tức là sự thi, thi ở đây là tương ưng với viên lý, mới gọi là cụ túc, hai thi Biệt viên nêu bày ở đàn rất dễ thấy. Sau nầy bốn độ kết văn khác nhau, nhẫn độ văn sau chỉ nói tương ưng, không giải thích từng việc, chỉ là văn lược, nên sau văn tấn độ tức nêu bày đủ sinh sinh, v.v… có bốn, sau văn thiền độ chỉ nói đắc tương ưng với bốn quán, thường còn nghĩa lược, cho nên lặp lại dẫn thiền tướng năm môn, ở sau mỗi môn có nói đủ bốn thứ, cuối văn Bát-nhã nêu bày bốn món đảo, lại nêu ra ba tạng Ba thừa, văn sau nêu bày đủ bốn thứ mười tuệ, tuy xin còn mất phải biết một phen y cứ.

Lại trong thí giới thẳng nói tướng độ, mà không nói tướng tệ, trong nhẫn trước thật rõ tệ kế, mới rõ độ trong tiến lược chỉ bày tướng tế, trong thiền có nêu bày đủ, tùy văn mà theo cốt yếu nên ở đây khác nhau, nếu giải thích nghĩa, phải nên mỗi việc còn đủ tế độ và bốn món tướng, kết được tướng ích như văn, văn phần sau rất giống.

Kế giải thích nhất, tức dùng bốn nhẫn làm bốn giáo, trong các kinh luận nói nghĩa năm nhẫn thường y theo Biệt giáo, vì trong Biệt giáo. Thu đủ bốn nghĩa, nay mượn nghĩa dùng lại trừ tín nhẫn, tức dùng bốn pháp khác đối bốn giáo chỉ nương ở nghĩa mà không nương lời, lại dùng nhẫn làm tên chỉ ở Bồ-tát, ý nầy chỉ ở Đại thừa, ba tạng không dứt nên gọi là Phục, chung ở diễn ban đầu, giúp thuận theo lý, cho nên phải gọi là thuận, sau Biệt giáo tâm cũng phá vô minh, nên gọi là vô sinh, viên lý bổn tịch nên gọi là Tịch diệt.

Kế phân tích trong lỗi nhưng nêu ra tướng sân mà chỉ có lý giải, không có sự nhẫn, sự sân đủ như quyển hai có giải thích, từng tiết là tướng không an, cũng gọi là “tỏa tỏa” là tướng mạo thấp nhỏ.

Quách Phát nói: Là dáng mạo qua lại, cũng là dáng mạo nghiền nát, tức ít sân; long: Là cao. Trong sách Nhĩ Nhã nói: “Uyển trung long”; Quách Phát nói là cao nhất giữa núi: Nghĩa là khi sân khởi như cao rất dễ thấy, đã biết ở sau lập hạnh thỉnh che chở, trong tất cả hạnh rất là sân hại, nên nhẫn rất khó. Trong Đại luận nói: Như Thiên đế hỏi Phật: Như thực hành nhẫn: Là chỉ có một việc thật không thể chịu, người nhỏ khinh mạn cho là sợ sệt, cho nên chẳng phải nhẫn. Đức Phật nói: Nếu do người nhỏ khinh mạn nói là sợ sệt. Muốn không nhẫn, tội không nhẫn thật là ở đây. Vì sao? Vì những việc không nhẫn của Hiền thánh thiện nhân không nhẫn, người nhẫn nhục, người nhẫn nhục mà làm việc khinh mạn tiểu nhân. Trong hai việc khinh cái nào lấy cái nào khinh, nên biết đâu là những việc khinh mạn của tiểu nhân, không làm những việc nghèo hèn của Thánh hiền. Vì sao? Người vô trí khinh những việc không đáng khinh, người Hiền thánh nghèo những việc đáng nghèo, là nghĩa nầy, nên cần phải thực hành nhẫn. Như ngài Phú-lâu-na, v.v… Trong Tăng Nhất nói: Thành đạo ấy rồi muốn trở lại bổn quốc làm lợi ích người trong xóm, người trong cõi nước kia phần nhiều tệ ác.

Ông nói thế nào?

Đáp: Ta phải tu nhẫn, nếu người muốn hủy nhục ta ta phải tự vui không được đánh đấm, khi đánh đấm phải tự vui không được dùng gậy cây, khi được dùng gậy cây tự vui, không được dùng dao nhọn, khi có dao nhọn tự vui là sớm lìa năm ấm độc thân. Phật dạy: Nếu vậy thì cho đến lợi ích có thể về bổn quốc, như kiếm vàng, v.v… nhẫn lực như vàng như gương, cảnh trái như lau chùi, nên càng chủi càng mài được lợi ích sáng sạch.

Sằn-đề, v.v… Đủ như trong quyển ba có dẫn, cắt tiệt là cương, vua hối hận việc yếu mềm nầy, mạnh yếu không thay đổi nên thân bình phục, hai cảnh không thay đổi gọi là câu an.

Kế nói: Trong tiến độ Đại luận ở sau nêu bày giáo, văn lược, ba pháp trước dễ hành, đủ như quyển nhất, thứ ba có dẫn, đây thì nêu Biệt biết Thông, nếu không thông thì cả hai đều không thánh. A-nan nói tinh tấn giác, v.v… theo Đại luận quyển ba mươi Phật bảo A-nan, nay ta đau lưng nghỉ ngơi, dùng y Uất-đa-la Tăng-già-lê làm gối, khiến A-nan nói pháp cho các Tỳ-kheo nghe, ngài A-nan nói bảy giác chi.

Đức Phật hỏi rằng: Nói tinh tấn giác chưa đủ.

A-nan nói: Đã đến rồi như vậy ba lần hỏi ba lần đáp, Phật liền đứng dậy bảo rằng: Ông khen ngợi tinh tấn, do được Bồ-đề nầy, hoặc trong quyển mười bảy nói.

Phật nghe rồi liền đứng dậy.

Lại trong Trường A-hàm có tám thứ tinh tấn, tám thứ biếng nhác, đối với bốn việc đều có trước sau sinh ở tinh tấn, biếng nhác. Nghĩa là khất thực giữ làm hành lý bệnh hoạn, như khi khất thực, hoặc khi không được, liền khởi niệm nầy, khất thực không được thân thể mỏi mệt, không thể có khả năng ngồi thiền, đọc tụng siêng năng hành đạo, nên lại phải dứt nghĩ.

2. Nếu khất thực lại được khởi niệm nầy, thân thể rất nặng, không thể thực hành được, đây là khất thực thứ lớp sinh tâm biếng nhác, dù thiếu chấp tác lại khởi niệm nầy, nay ta mỏi mệt, lại không khả năng, nếu muốn chấp tác lại khởi niệm nầy, nói phải chấp tác sẽ có mỏi mệt, dù ít đi đến lại khởi niệm nầy, tôi sáng đi đến thân thể mỏi mệt, dù muốn ít hành lại khởi niệm nầy, ta nói phải hành, sẽ có mỏi mệt, dù gặp ít hỏi lại khởi niệm nầy, nay ta bệnh nặng nhân rất mỏi mệt, hỏi có chút bệnh, lại nghĩ bệnh chưa bao lâu thân thể mỏi mệt, ở sau mỗi câu đều nói chưa được muốn được chưa chứng muốn chứng, do tám việc nầy nên đều không thành tựu, nên gọi là biếng nhác.

Tám món tinh tấn: Nếu xin thì không được, nghĩ đến thân thể của

ta thiếu ngủ nghỉ có thể thực hành tinh tấn, nếu xin được thức ăn, nay nghĩ đến khí lực no đủ, có thể thực hành tinh tấn, ta đến chấp tác phế bỏ hành đạo, nay phải tinh tấn, nếu phải chấp tác nghĩ phải ngăn hành đạo phải dự tinh tấn, nếu khi đi đến, nghĩ sáng đi đến phế bỏ hành đạo của ta. Nếu nói phải thực hành niệm phải bỏ hành đạo, nếu bị bệnh nặng phải nghĩ đến qua đời, hoặc bệnh nhẹ sợ lại tăng thêm, mỗi câu sau đều nói, phải nên tinh tấn, chưa được cho là được chưa chứng cho là chứng, ý nầy phải đối trị tùy theo tự nhớ nghĩ, tuôn ra biển lớn như quyển ba. Trữ là trừ, trong Thiên Thương Giáp nói: “Chy cứ” là lấy, mà nay ở sau phân tích lỗi, như huyệt tỷ, v.v… trong Đại luận quyển ba mươi ba nói: Như lạc đàn xuyên qua mũi tất cả tùy theo người. Trong pháp hữu vi nếu người có trí tuệ thượng thánh đã gần gũi, nếu không có trí tuệ cũng như lỗ mũi, trái ngược tất cả công đức có trong sinh tử, voi say không người dẫn. Trong Đại kinh quyển hai mươi ba chép: Thí như voi say không có người dẫn, điên cuồng buông lung bạo ác, giết hại nhiều người, có người thợ điều voi, dùng móc sắt lớn dùng bia rập đầu nó, tức thời điều thuận, tâm ác liền dứt, trong luận Bà-sa có nhân duyên điều voi, dụ cho tám giải thoát. “Vì”: Vốn là tên cỏ, cũng là họ người. Nay dùng lời nói quá độ, mượn dùng chữ thử để thay thế mới nói, “đạo” là tự sinh lúa, e làm chữ “lữ” ở đây, tâm không năng lực nên ngày giờ luống qua, sẽ phát ở sau lập thệ thỉnh che chở.

Khắc cốt, v.v… Phát nguyện thân tinh tấn như khắc vào xương, thệ tâm tinh tấn như khắc đá ấy, minh la tên, viết là dạy khắc đá ghi công, nay cũng như vậy, như khắc đá ghi công, không để bị mê mờ, vì pháp khinh thân gọi là hứa đạo.

“Đường” là chư; là không còn, v.v… lại không có tâm khó. Kết hạnh trên không biếng nhác, không lấy hạnh làm hạnh khó, lại không có tâm khổ kết trên ngay thẳng thân ấy, không lấy thân làm khó nhọc. Cảm Phật ở sau mong che chở được lợi ích, do đời đời đối với bốn món tinh tấn. Tần là tướng phát khởi siêng, cho nên chúng sinh sinh, v.v… giải thích thành bốn tinh tấn.

Ba tạng ba kỳ tinh tấn còn nhuận sinh, nên gọi là sinh sinh, Thông giáo mất tướng Tấn gọi là sinh bất sinh, Biệt giáo đã nhập không vì sinh nên Tấn, nên không sinh sinh, Viên giáo lý vốn lặng, tấn cũng không sinh, nên không sinh không sinh. Lại ở cảnh tấn quên năng quên sở.

Kế giải thích trong thiền. Trước gồm y cứ thiền độ, chỉ là, v.v…: Là nêu bày ở giáo. Ban đầu nói căn bản tức ba tạng, vượt trong hai giáo nên nói cho đến. Tuy nói vô tác, Lăng-nghiêm không thành, trung gian nên nói, tuy nói lý vô sinh nhưng quyết định không thành. Tuy nói hằng sa Phật pháp, tục đế Tam-muội không thành, nếu không ở sau phân tích mất trung.

Nói không định, v.v… Là dẫn trong Đại kinh so sánh, giải thích, như người thế gian, nếu trong đó không có mười đại địa thì tâm thường định, ở đời Đường đất bằng còn nghiêng đổ huống tu xuất thế mà không quyết định mà thành hay sao? Vì là ở sau gồm nêu thỉnh ba vị, lược nêu phải nên tu thiền, nên nói chung nhất tâm đến ở sau Biệt giáo bèn nêu ra bốn môn, cảm Phật ở sau mong cầu che chở, đây là nói chung về thiền, thiếu văn kết là ở sau trong năm môn có nói đủ. Vì tránh văn rườm rà nên xen còn mất.

Kế trong Đại luận ở sau nói năm môn thiền.

Ban đầu nói ra ý, vì trong thiền môn có nhiều môn hộ nên lại nói tướng của năm môn thiền, như thiền ở sau chánh giải thích.

Ban đầu nói sở tức, đến quyển chín lại giải thích, nói bảy y định. Trong luận Thành Thật phẩm Tam-muội thứ bảy nói: Nghĩa là y Sơ thiền đắc vô lậu, cho đến y vô sở hữu xứ đắc vô lậu, y bảy xứ đấy đắc Thánh, nên gọi là bảy y. Có người tự cho rằng: Hữu lậu là đủ, cho nên Phật nói bảy vô lậu.

Hỏi: Vì sao y thiền đắc vô lậu ư?

Đáp: Khi đắc Sơ thiền quán ấm Sơ thiền, khởi tám thánh chủng tâm sinh nhàm lìa, cho đến Vô sắc quán bốn ấm cũng giống như vậy.

Hỏi: Vì sao không nói cõi dục làm y?

Đáp: Như trong kinh Tu-thi-ma, lại có vô lậu, đó gọi là cõi dục, nên biết cũng có thiếu nên không nói.

Hỏi: Vì sao không nói Phi phi tưởng xứ là vô lậu ư?

Đáp: Kia không rõ, định nhiều tuệ ít nên không nói y.

Hỏi: Bảy tưởng tức là bảy y phải không?

Đáp: Ngoại đạo không chân, nên nói là Tưởng, bậc Thánh phá tưởng nên nói là y, cho nên trong văn nay lại nói rằng: Phát được sắp định, cho đến thất y, chưa phán xét hữu lậu và vô lậu, y theo luận phân biệt hai nghĩa đều chung, thỉnh ngài Quán Âm ởsau nói trợ giúp lợi ích hạnh thành.

Kế nói bất tịnh trị trong tham dục. “Đam” trong sách Nhĩ Nhã nói: Là “cửu lạc”, từ “chữ Dậu” là rượu độc, chẳng phải của văn nầy, cũng có thể dùng rượu độc dụ cho dâm, nên làm chữ “Trấm”, cũng đồng nghĩa với chữ “miện”, là chìm đắm ở rượu, cũng có thể làm men, nên trong Đại kinh nói: Nếu thường buồn khổ buồn theo thêm lớn, cho đến

tham dâm nếm rượu cũng giống như vậy.

Quán Bất tịnh: Tức giả tưởng quán, như trong kinh Cầu Chứng chép: Đức Phật ở nước Xá-vệ, có Tỳ-kheo đến gò mả mà đi ở ruộng khác, chủ ruộng mắng rằng: Tại sao Tỳ-kheo không tu đạo nghiệp, thường dạo ruộng ta? Liền đến hỏi người ấy?

Tỳ-kheo đáp: Ta có việc tranh cãi đến cầu người chứng.

Chủ ruộng hỏi rằng: Người chứng là ai?

Tỳ-kheo liền kêu, chủ ruộng đi theo thây thây chết ngổn ngang.

Tỳ-kheo nói: Các loài chim trùng đây là người làm chứng cho ta.

Chủ ruộng hỏi:

Tỳ-kheo đáp: Tâm lo quán rồi trở về phòng, quán thân cũng vậy, nay ta muốn biết nguồn gốc của tâm, cho nên xem xét. Chủ ruộng nghe rồi rơi lệ nghẹn ngào. Chủ ruộng ấy là Ca-diếp ở trong Phật pháp, ngàn năm tu lập quán bất tịnh, Tỳ-kheo và chủ ruộng đều được sơ quả. Chín tưởng ở quyển chín, dẫn trong Đại luận nói tám bối xả, v.v… nhân tiện gồm nêu bày chẳng phải chánh ý của văn, nhưng nói đều do chín tưởng mà thành, nên nói đều do chín tưởng mà làm môn đầu, ở đây nói công năng của chín tưởng.

Nếu thật quán là như duyên phân biệt trưởng giả.

Kế dùng từ bi để trị sân. Trên giải thích trong nhẫn nhưng thông suốt mà nói là như cầu đất, v.v… nên nói thông trị chưa trị sân nặng, nay chuyên tu từ bi để trị tức giận, cho nên nói biệt, do đây nói từ định gồm nói ba pháp khác, e tu từ tâm chẳng phải đã thích nghi, nên nói còn ba pháp tâm hoặc ưa muốn, đồng chấp ba pháp khác, là y bốn món tùy tu bốn vô lượng. Đối chuyển gồm đủ y cứ theo trên nên biết. Giải thích trị ngu si văn tướng rất lược, nên nêu bày các văn. Trong Tỳ-đàm do giới phương tiện phá các ngã, ngã và đoạn thường cùng chấp tánh cả ba đều thuộc si. Ban đầu phá ngã là kinh luận khác nhau, nên trong Tạp A-tỳđàm nói: Chấp kiến hạnh là do giới phương tiện, người ngu không rõ tức nghiệp phiền não chứa nhóm năm ấm duyên chấp ngã, phải tự thân dùng giới phương tiện, quán sát các thứ tánh, các thứ tướng, nghĩa là sáu giới như địa, v.v…, địa giới ấy là nước thấm nhuần, mà không lìa nhau, thủy giới ấy là địa giới trí, nên không lưu tán, hỏa giới thành thục nên không hư hoại, phong giới động nên được thường trụ, không giới không nên ăn được xuất nhân, có thức giới nên có sở tạo tác, do các duyên nên biết vô ngã. Lại quán thân nầy bất tịnh đầy đủ, như thổi bay cát, đối với pháp Vô sắc trước sau nối tiếp, quán sát như vậy thì được hạt giống của môn không giải thoát, ở đó sinh nhàm chán, được vô nguyện giải thoát nên thành hạt giống, chánh hướng về Niết-bàn, được hạt giống của môn Vô tướng giải thoát, đây gọi là giới phương tiện, nếu theo Đại kinh nói. Người nặng về chấp ngã, thì bị phân biệt mười tám giới pháp, nầy cùng mười tám giới khác chung riêng, luận bốn đại giới là nửa mười cõi sắc. Nói về thức giới là nửa bảy tâm giới, nhưng hợp sắc thành bốn, hợp tâm thành một, lại thêm không giới, giáo môn tùy cơ lìa hợp bất định. Nay theo Thiền kinh, nhân duyên phá ngã. Trong Đại Tập cũng dùng hai đời phá ngã vì phân biệt khác, nên cố nêu chung giải thích.

Nói ba đời đoạn thường, ba đời nối tiếp nên không dứt; ba đời thay nhau ra đi nên không thường. Lại quá khứ phá thường, vị lai phá đoạn, hiện tại nhân quả đều phá đoạn thường.

Hai đời phá ngã; Là hai đời hiện tại vị lai có mười hai duyên, đối với cha sinh ái, đối với mẹ sinh sân, gọi là vô minh, di thể của cha bấy giờ gọi là mình có, gọi là hành, từ thức chi đến chi già chết, đồng với ba đời.

Nói một niệm: Đủ như trong cảnh diệu quyển ba của huyền Văn có nói: Niệm Phật trị thùy miên như ở văn.

Chỉ Quán Phụ Hành Truyền Hoằng Quyết phần hai trong quyển bảy.

PHẦN 3

Trong Bát-nhã độ ban đầu có nói nhiếp pháp, lý nầy ởsau có phân tích lỗi như văn, phải nên ởsau thỉnh che chở.

Lại có hai:

Trước lập hạnh.

Kế thỉnh che chở.

Trong lập hạnh, trước gồm nói niệm xứ có công phá điên đảo, như ở văn.

Kế nói riêng về Bốn niệm xứ.

Ban đầu bất tịnh có năm.

Ban đầu có năm thứ bất tịnh, trong Đại luận quyển hai mươi mốt nói rộng:

Ban đầu nói hạt giống, như trong luận kệ nói, thân chủng nầy bất tịnh chẳng phải là vật báu, không từ bạch tịnh sinh, cha mẹ tà tưởng nhớ nghĩ gió thổi lửa dâm dục, dòng tủy xương lưu nhiệt biến thành tinh, nghiệp nhân duyên nên thức gá vào hạt giống, ở trong tinh trắng đỏ nên nói gá di thể của người khác.

Thổ lệ, v.v… Trong Đại luận chép: Trong thân dục trùng và người hòa hợp, lúc bấy giờ trùng nam tinh trắng như nước mắt mà ra, trùng nữ tinh đỏ như đồ ói mửa mà ra, xương cốt chảy khiến hai trùng thổ lệ mà ra, sống ở chỗ bất tịnh, như luận kệ nói: Thân nầy hôi dơ không từ hoa nở, cũng không từ hoa đảm bặc, lại không ra núi báu.

Nay nói nơi chốn: Chỗ ở gọi là Trụ, tùng xuất gọi là sinh, cho nên hai văn chỉ là một ý. Ổi Là tạp ác, cũng là nhiều vậy. “Tử” là thấp hèn bị sai khiến. Bốn tướng bất tịnh y phục tắm gội các thứ hoa hương, sắm sửa đãi đằng các món ăn ngon, qua đêm đều thành bất tịnh, tạm cho y thiên y thức ăn cõi trời dùng thân tánh, cũng thành bất tịnh, huống chi thức ăn y phục, như trong luận nói kệ: Đất, nước, lửa, gió chất nó có thể dứt trừ bất tịnh, nghiêng biển rửa thân, đây không thể trong sinh được, thí như thây chó chết dùng nước biển rửa, còn một bụi trần hôi cũng như ban đầu, phẩn uế cũng. Đính là đầy, là ráy tai. “Si” là hiện nước mắt chảy ngưng đọng “Lâm thỉ” là nên làm chữ ma nầy, tức là bịnh, vì nó là phân hôi kia, tự tánh không sạch, đường đại tiểu tiện, mắt thường chảy ghèn không dừng. Như trong luận kệ nói các vật bất tịnh đầy đủ trong thân, thường chảy không dừng, như đây lủng đựng đầy vật. “Nùng”: Ngọc thiên chép: là máu của nhọt độc, trong thân có những thứ ấy không khác với mụt.

“Cao” là thân trơn láng, nói văn: Có sừng gọi là “chi”, không sừng gọi là “cao”, trong thân bất tịnh giống như kia.

Trong Kinh lễ nói: Mỡ chó, mỡ gà tanh hôi, mỡ dê cũng tanh hôi. Nếu nói ca hôi thì nên nói cá tầm phương là mỡ béo, san cũng là mỡ béo, nay nói tanh hôi cũng như chó gà, v.v… Nên trong Bốn niệm xứ nói; Ngoài mười hai vật danh tướng bất tịnh, mười hai vật ngoài gọi là tánh bất tịnh, mười hai vật trong gọi là tánh tướng bất tịnh, nay văn chỉ phân ra hai thứ tướng, tánh không lập chung làm tánh tướng bất tịnh, nên hợp trung gian để thuộc về Tánh.

Rốt ráo bất tịnh. Như trong luận có bài kệ nói: Quán xét kỹ thân nầy rốt cuộc quy về chỗ chết, gạn nói không trái lại, trái ân như đứa trẻ.

“Cứ” là rất lắm, như vậy ở sau kết, “khương cang” cũng gọi là “kết khương”, tức phân viên của trùng là nầy. Trùng nầy chỉ biết phân biệt vị tốt ngon, mà không phân biệt vị hoàn toàn hỷ.

Kế nói quán khổ. Trong luận nói, lại nữa, thân nầy tất cả đều khổ, co duỗi cúi ngược không có gì chẳng phải khổ, như mới ngồi là vui, ngồi lâu là khổ, đi đứng nằm, v.v… cũng giống như vậy, như dâm là vui khi cầu nữ sắc, được càng nhiều sinh càng nặng, như bệnh ghẻ lở được thuốc lửa là nhân khổ, thực hành mà biết thân chỉ là vô thường, khổ, bất tịnh, bất đắc dĩ phải nuôi dưỡng, thí như cha mẹ sinh con ác, con tuy cực ác mà từ mình sinh, cần phải nuôi dưỡng khiến cho thành tựu, thân thật không vui, vì sao? vì không tự tại, như người bị bệnh gió không thể cúi ngước tới lui, như bệnh cổ, không thể nói năng, vì thế mà biết thân không thể tự tại, nên nói ở sau trong khổ nghĩa là vui một cách ngang trái, theo các văn luận nên cho ba đường là khổ khổ, gọi là thượng khổ, năm tướng suy của các vị trời hiện, khi vui cõi trời hoại sinh rất khổ, gọi là hoại khổ, nhân gian là hành khổ, niệm niệm thường khổ nên gọi là Hạ, phàm phu chấp ngang cho là vui, nên trong Câu-xá chép: Như đem một sợi lông mi để trên bàn tay thì không biết, nếu để trên mắt thì bị tổn và không an, phàm phu như bàn tay bất giác hành khổ về lông mi, người hiểu biết như con mắt duyên theo rất sinh lo sợ, nói về ba đường khổ là hạ khổ, nay văn theo nghĩa nói thẳng về nhân gian để lập ba khổ, tuy là hạ khổ đủ ba khổ, không nên ở trong đó nghĩ là vui một cách ngang trái, nên trong Đại kinh quyển một, Ca-diếp gạn rằng: Nếu ở hạ khổ sinh lạc tưởng, ở hạ sinh khổ, cho đến ở hạ năm ấm thạnh khổ, cũng sinh lạc tưởng. Hạ đọa ba đường ác, trung sinh loài người, thượng sinh lên cõi trời, lại cũng nên nói ở hạ lạc trung sinh ở khổ tưởng?

Phật nói: Như ông đã nói cho nên xưa vì Thích-ma-nam nói ba thọ ba khổ, trong mỗi thọ đều có ba khổ, nên nay trong văn ở trong hành khổ tập ba nghĩa khổ.

Kế nói vô thường quán trong, nói như bắt các loài chim. Như trong luận bài kệ nói: Chim bay vào trong bình dùng lưới che đậy miệng bình, lưới thủng chim bay, thần minh theo nghiệp.

Giải thích rằng: Nương nghiệp thọ báo, như chim vào bình, bị nghiệp ràng buộc như lưới che đậy miệng bình, quả đi theo nghiệp như lưới thủng chim bay, đi sẽ theo nghiệp nên gọi là Tùy tẩu. Nay trong văn nầy dùng lòng dụ quả dùng binh dụ nhân. Nói được sợi dây làm trong Hữu Bộ, lập do đắc mà đắc, tiệm dùng hậu đắc mà đắc ở đắc trước, nên khiến nghiệp trước có thể đến vị lai, nên trong Hữu bộ thì nghiệp xếp vào quá khứ, đắc đến vô lượng, thân chết đi đến quả báo vị lai khởi, như một nghiệp thành do một đại đắc, đắc ở nghiệp pháp. Lại do tiểu đắc ở đại đắc. Sát-na thứ hai dùng ba đại đắc, đắc hai đắc trước cho đến nghiệp pháp, đắc của niệm đầu đều thành pháp. Lại ba tiểu đắc đắc ba đắc ở trước và sát-na đầu có chín pháp thành tựu; sát-na thứ ba có hai mươi bảy pháp, nghĩa đắc ở đây phát xuất từ pháp tự tướng, giải thích tác vô tác dẫn luận rằng: Niệm đầu làm hiện tại thành; niệm thứ hai quá khứ thành. Nếu vô tác; niệm đầu hiện tại thành, thứ hai niệm hai đời thành. Nói tác, là trong niệm thứ nhất chỉ có pháp chung, trong niệm thứ hai chỉ có pháp hậu, nói pháp chung, nghĩa là sơ niệm bổn pháp và đại tiểu đắc. Nói pháp hậu, niệm thứ hai cách trước niệm trước chuyển thành pháp, cho nên hậu niệm hậu đại tiểu đắc đắc. Nói vô tác ban đầu niệm thứ nhất ban đầu chỉ có pháp chung, cũng như niệm đầu trong tác nói: Đến niệm thứ có pháp chung đắc và pháp hậu đắc.

Nói pháp hậu: Cũng như niệm thức hai trong tác ở trước nói: Nói pháp chung là cùng pháp hậu đắc, đồng thời sanh khởi mười pháp vô tác và đại tiểu đắc, cho nên trong niệm thứ hai có ba đại đắc và ba tiểu đắc, đắc ba pháp đầu, đồng thời lại có ba pháp khởi chung, nên niệm thứ hai có chín pháp câu sinh và ba niệm đầu, thành mười hai pháp, cho nên trong niệm thứ hai có sáu đắc đắc ở quá khứ, gọi là quá khứ thành, lại có hai đắc đắc pháp hiện tại, gọi là hiện tại thành, nên nói sơ niệm vô tác hiện tại thành, niệm thứ hai vô tác hai đời thành.

Phàm nói đại tiểu đắc, đều do đại đắc đắc ở bổn pháp, lại do tiểu đắc đắc ở đại đắc, lại do đại đắc đắc ở tiểu đắc, nên đại tiểu đắc lại xen nhau đắc, nên biết niệm thứ ba bỏ, như vậy lần lựa đắc khắp hư không, hễ có làm ra các nghiệp thiện ác như tâm thấp kém, chỉ có ở tác thì không có vô tác, như tâm tăng thượng thì có ở tác cho đến vô tác, tác và vô tác đều khởi đắc đắc, nghiệp vào quá khứ đắc đến vị lai, có công năng chiêu vời hậu báo, tác vô tác đắc chỉ cùng hình chúng, cho nên đắc danh đắc sắc tâm, nên cầu luận Câu-xá nói Bất tương hành có mười bốn thứ, nghĩa là đắc phi đắc đồng phần vô tưởng hai định mạng danh thân các thứ, đây thời trong một đời, ở chỗ một nghiệp tư khởi đắc, cũng đã vô lượng, huống vô lượng sinh vô lượng nghiệp đắc đến mé vị lai, như tông kinh bộ, đắc đã là giả, chỉ nói ý hòa hợp với thân miệng thành nghiệp, giả lập làm chủng cho đến đời vị lai, lại nghiệp gọi là thông ở phương tiện căn bản hậu khởi, nay đối căn bản đặt tên là nghiệp. Như trong Đại thừa tàng thức thạnh trì cho đến đời sau, tuy có khác đây, phàm thọ chỗ báu, hẳn là tinh huyết bốn đại ràng buộc, chưa được trạch diệt thì phi đắc đã đến, thường bị sợi dây trói buộc, trói buộc chưa mở đã buộc trở lại, hiện ấm nếu hoại gọi là “khứ dĩ”, lại thọ sinh có tên là “phục hoàn”, đến quả Vô học mới gọi là phá lồng, sinh hữu nghiệp kết gọi là bất phản, ấm chất không nối tiếp gọi là lồng trong còn. Hoại đây, v.v… là phân tích phàm phu, năm ấm nầy hoại sinh hữu ấm thanh, xuất ấm nhập ấm hiện sinh hậu, v.v… Ấn hoại văn thành, v.v… Lặp lại hiển bày văn, lồng và bình vẫn hơi khác, hai dụ lồng và bình nhưng dụ nhân quả, sáp nầy nhiễm dụ lại thêm Trung ấm, nên trong Đại kinh quyển hai mươi bảy chép: Như sáp ẩn in bùn in cùng bùn hợp ấn diệt văn thành. Văn chẳng phải từ bùn mà ra, không từ chỗ khác đến, để nhiễm nhân duyên mà thành văn nầy. Kinh hợp dụ nói: Hiện tại ấm diệt trung ấm ấm sinh, là ấm hiện tại không hề thay đổi thành trung ấm năm ấm, cũng chẳng phải tự sinh không từ chỗ khác đến, nhân hiện ấm nên sinh ấm trung ấm, nêu ra dụ cho hợp nói: Như ấn ấn bùn ấn diệt văn thành: Tên tuy không sai mà thời đều khác, cho nên ta nói trung ấm năm ấm chẳng phải nhẫn nhục, thấy mắt trời mới được.

Giải thích rằng: Hiện ấm như ấn, chỗ sinh trung ấm nghĩa đó như bùn, hiện tại ấm diệt, gọi là ấn hoại, Trung ấm ấm khởi gọi là văn thành. Ở đây lại dùng trung ấm làm ấn, nghiệp ép thọ thai gọi là ấn bùn, ấm trung ấm diệt, gọi là ấn hoại, ấm vị lại khởi gọi là văn thành, nghiệp chủng chưa dứt văn lại thành ấn, ấn lại thành văn, văn ấn thành nhau, không thể cùng tột, trung ấm sinh ấm gọi chung là ấm, khi các ấm nầy diệt chung gọi là ấn hoại, nầy, v.v… khi thành chung gọi là văn thành, sinh diệt là đồng nên nói không sai. Chỗ sinh khác nhau nên gọi là đều khác. Nếu văn không thành ấn gọi là nhân diệt, ấn không thành văn, văn cũng tự hoại, gọi là quả vong. Nên trong Đại luận nói: Đời trước nghiệp tự tác chuyển thành các thứ hình, hư không chẳng bị hại không nghiệp cũng như. Mạng Tỳ-đàm là pháp phi sắc phi tâm, cũng thuộc về mười bốn món bất tương ưng hành. Trong Đại Tập có dẫn chứng mạng, một phen trông mong giữ gìn thọ mạng gọi là mạng. Một thời kỳ tuổi thọ kéo dài gọi là mạng, cho nên xuất nhập nghĩ gọi là Thọ mạng, Tỳkheo không giữ gìn bảy ngày, v.v… Đại luận quyển hai mươi lăm chép: Đức Phật vì Tỳ-kheo nói nghĩa tư tưởng. Có Tỳ-kheo bạch Phật: Con có khả năng khéo tu tư tưởng.

Phật hỏi: Thầy tu làm sao?

Tỳ-kheo đáp: Không quá bảy năm.

Có người nói: Không bảo đảm bảy tháng.

Có người nói: Bảy ngày cho đến sáu, năm, bốn, ba, hai, một ngày.

Phật nói: Đây gọi là buông lung, không được gọi là khéo tu vô thường.

Có Tỳ-kheo nói: Không giữ gìn từ sáng đến bữa ăn.

Có người nói: Ăn trong khoảnh khắc.

Phật nói: Đều là lung tung.

Có một vị Tỳ-kheo nói: Thở ra không giữ được thở vào, làm sao được.

Phật nói: Đây gọi là tinh tấn khéo tu vô thường. “Ương” là lỗi, là tội.

Trong sách Nhĩ Nhã chép: Là thịt nát, nếu khi gặp tai ương thì nghĩa như thịt nát, không cha nương cậy, không mẹ nhờ ai, lý tánh pháp thân cũng như trẻ nhỏ.

Nếu không có hai trí cha mẹ nuôi dưỡng, cho nên sẽ chết không nghi ngờ, làm sao an nhiên mà sống tướng thường.

“Khạp” là khứ. “Minh” là u minh ở Bắc, tức là ấm mới là đường u tối, hoặc tinh tấn diệt lửa, nước tinh tấn phá lửa biếng nhác, cũng như cứu lửa không thể tạm nghỉ. Lửa biếng nhác tắt nên nói lửa diệt, tuy không tạm nghĩ cũng trái với đạo, thân tuy tinh tấn mà không ngộ vô thường, không được gọi là thân tâm tinh tấn. Trong Đại luận quyển mười tám chép: Đại Bồ-tát hành tinh tấn, bốn oai nghi không phế bỏ, thà mất thân mạng mà không bỏ đạo nghiệp, thì như lửa cháy bình nước đổ vào, duy còn dập tắt lửa mà không tiếc bình, các hạnh như nhà biếng nhác như lửa, thân như bình nước tâm như nước đầy, thân tâm tinh tấn, như hợp với bình và đổ, cho nên tinh tấn dùng tâm làm gốc, thân làm giúp, cho nên cần phải chánh trợ đầy đủ, nếu dùng bình không đổ vào lửa ngấm tắt, mà không biết nước dập tắt được lửa, luống tự mỏi mệt mà lửa không hề tắt, nhưng thân tinh tấn cũng giống như vậy.

Lại tinh tấn: Cũng như chim trĩ thấy cây đại thọ bị lửa vây quanh, sợ các loài chim không nơi nương tựa dùng hết sức mình bay xuống nước, thấm lông chim đến dập tắt lửa lớn, lửa lớn nước nhỏ bay đi bay lại mỏi mệt, không cho là khổ. Lúc bấy giờ, Thiên đế đến hỏi. Ông làm việc gì?

Đáp: Tôi vì chúng sinh, nhờ rừng cây nầy che mát các nơi trong mát vui sướng, tôi có các thứ các tông bà con và các chúng sinh, đều nương tựa ở đây, thân lực của tôi đâu dám biếng nhác.

Hỏi: Ông nầy tinh tấn phải mất thời gian bao lâu.

Đáp: Lấy chết làm kỳ hẹn.

Thiên đế nói: Mặc dù ông nói như vậy nhưng ai tin ông? Liền tự lập thệ nguyện, nếu không luống dối thì lửa sẽ tắt ngay.

Lúc bấy giờ, các vị trời ở cõi Tịnh Cư biết Bồ-tát thệ nguyện rộng lớn, liền làm lửa tắt, từ xưa đến nay chỉ có rừng nầy thường tươi tốt sum suê không bị lửa đốt.

Trong sách Ngạn Ngữ nói: chữ Ngạn có bộ khẩu Là ngạn truyền, nên viết chữ ngạn có bộ ngôn nếu viết chữ Ngạn có bộ khẩu là điếu. Phàm các ngạn ngữ đều tợ lời Thánh, nên từ xưa đến nay làm thật để ghi chép.

Nhà họ Nhan dạy phải dẫn dụ, đáng thương như tinh tấn, năm mi như đạo tâm. “Mi” là hiếu sắc; núi biển hư không chợ, v.v… Trong kinh Pháp Cú quyển hai chép: Có bốn anh em Phạm chí, đều đắc thần thông, biết bảy ngày nữa sẽ chết, nên bàn với nhau: Bốn anh em tôi có sức thần thông, lại ngăn che trời đất và mặt trời mặt trăng, nhưng không tránh được cái chết.

Một người nói: Tôi xuống biển lớn, xuống không đến đất lên, không ra khỏi mặt nước.

Một người khác nói: Vào bụng núi Tu-di, lại hợp núi ấy lại.

Một người nữa nói: nhẹ lên hư không.

Một người sau cùng nói: Vào trong chợ lớn. Mỗi người đều nói: Nơi tránh như vậy quỷ vô thường giết người làm sao biết chỗ ta được, bàn xong từ biệt vua, qua bảy ngày, mỗi người qua đời như quả chín rụng.

Thị giám bạch vua: Có một Phạm Chí chết giữa chợ.

Vua nói: Có bốn người tránh đối mặt, một người chết còn ba người chẳng lẽ tránh khỏi.

Vua liền hỏi Phật

Phật bảo vua rằng: Có bốn việc không thể lìa:

  1. Đã ở trung ấm chẳng thể không sinh.
  2. Đã sinh chẳng thể không già.
  3. Đã già chẳng thể không bệnh.
  4. Đã bệnh chẳng thể không chết, là bạch câu nhật, ô thố nguyệt.

Lại trong điển tích thế tục chép: Trong mặt trăng có con thỏ, trong mặt trời có con chim, như Dã can, v.v… trong quyển bốn có dẫn đủ.

Kế lại ở sau nói quán vô ngã, bỗng nghe khen mắng, v.v… Người người cầm bình nghe mắng, người cầm hoặc khen người cầm.

Như ôm lấy người khác thuyết ấy nói: Khen mắng mình tất cả việc như vậy, huống chi lại mắng mình hoàn toàn là mắng người, do thân xác chạm người khác bốn đại tạo tác nên nói tâm tánh như tay cầm, như thoa kẹo, thủ cảnh gọi là tùy chấp, tùy đắm. “Khốc” là “ngược”, hách là dáng mạo dữ dội.

Long: Như trước, như dạ phòng kia, v.v… Trong Đại luận quyển chín mươi ba chép: Sân vốn tất cả đều không vọng sự, nên sinh ra tức giận như nghịch hại, cho đến đoạt mạng khởi nghiệp tội trọng, do đây nghiệp nặng sẽ đọa ba đường ác, cẩn thận chớ không có việc mà chịu đại khổ. Như trong một ngọn núi có một tượng Phật, trong có phòng riêng, thường có quỷ đến, nên các đạo nhân đều bỏ phòng nầy, Tỳ-kheo có dịch buổi chiều vào ngủ, vị Duy-na bảo ở phòng nầy, mà nói rằng: Phòng nầy có quỷ ưa đến não hại người, thầy ở được chăng?

Tỳ-kheo Dịch nầy tự ỷ mình có giới lực là năng lực học rộng nên không sợ, bảo tiểu quỷ nầy có gì mà sợ Ta có khả năng điều phục nó, rồi lại vào phòng. Đến tối lại có một Tỳ-kheo dịch tìm chỗ ở, vị Duyna cũng cho ở phòng có quỷ nầy, cũng nói như trước, vị dịch cũng nói giống như người trước, vị Tỳ-kheo ở trước đóng cửa ngồi thiền rình đợi quỷ đến Tỳ-kheo đến sau đêm tối mà gõ cửa đi vào, Tỳ-kheo trước cho là quỷ nên không mở cửa, Tỳ-kheo sau dùng hết sức đẩy cửa, Tỳ-kheo ở trong lại dùng hết sức chống đỡ, vị ngoài mở được cửa vào, vị trong dùng hết sức đầy ra ngoài, người ngoài cũng dùng hết sức đẩy vào, đẩy nhau như vậy cho đến sáng, gặp nhau chính là bạn đồng học cũ, mỗi người đều hổ thẹn từ tạ nhau, mọi người trong xóm lấy làm lạc, chúng sinh cũng vậy, năm ấm xưa nay không nhân không ngã, không chấp tướng ấy mà sinh tranh cãi, nếu vạch đất ra chỉ có xương thịt, lại không có nhân ngã, lúc bấy giờ ai nói kia đây, cho nên Bồ-tát bảo chúng sinh rằng: Ông cẩn thận chớ ở trong vốn không khởi tội tranh cãi. Hai con quỷ tranh thây chết, v.v… Trong Đại luận quyển mười ba chép: Như người đi xa ngủ riêng ở đình trống, giữa đêm có một con quỷ vác một thây chết đến để ở trước, lại có một con quỷ đến sau, sân mắng quỷ trước nói: Đây là thây chết của ta vì sao mang đến.

Quỷ trước lại nói: Vốn là vật của ta, ta tự mang đến.

Hai quỷ đều dùng một tay tranh nhau. Quỷ trước bảo rằng: Nên hỏi người nầy.

Quỷ sau liền hỏi: Ai chết người nào mang đến? Người nầy suy nghĩ, hai con quỷ nầy đều có đại lực, nói thật nói dối đều không khỏi chết, nay ta không nên nói dối bảo quỷ.

Lại đáp với quỷ sau, quỷ trước mang đến, quỷ sau tức giận đưa tay chân ra để trên đất, quỷ trước hổ thẹn, lấy thây chết để thêm vào cánh tay chân cả thân đều đổi, lúc đó hai quỷ đều cùng ăn đã đổi thân cho người sống, mỗi lau miệng rồi phân đầu mà đi. Người ấy suy nghĩ, cho mẹ sinh thân ra chính mắt thấy ăn hết, nay ta thân nầy đều là thịt của người khác là có thân hay không?

Suy nghĩ như vậy ôm lòng mê loạn không biết bị bỏ, cũng như người cuồng, trời đã nói tìm đường mà đi, đến trước cõi nước thấy một ngôi tháp Phật, hễ thấy chúng tăng bất luận việc khác, chỉ hỏi thân mình là có hay không. Các Tỳ-kheo hỏi: Ông là người nào?

Đáp: Tôi cũng không biết là người hay chẳng phải người, tức là chúng tăng nói rộng việc trên. Chúng tăng đều nói: Người nầy tự biết thân mình vô ngã dễ có thể hóa độ liền bảo họ rằng: Thân ông xưa nay hằng tự vô ngã, chỉ do bốn đại hòa hợp tu tập, chấp làm bản thân, như bản thân ông không khác với nay, lúc bấy giờ các Tỳ-kheo độ làm Sa-môn, dứt hết phiền não, chứng được A-la-hán. Cho nên có lúc đối với thân người khác cũng chấp làm ngã, do vì vô ngã, có lúc ở ta cho là người khác. Nên trong Kinh Văn-thù Vấn chép: Có người già ban đêm nằm tay cầm hai gối, mà lại hỏi, sao có hai đứa trẻ này? Nếu thân có ngã vì sao không biết cho là trẻ nhỏ? Nên biết chấp ngang đều không nhất định là thật, nếu tu ở sau kết thành Ba thừa hạnh khác.

Ban đầu Thinh văn, trong pháp trước nói như bị oán đuổi theo, bốn đảo như oán ép tâm như duỗi, thân như oán quốc, quán như kẻ làm phản.

Không nêu ra năm ấm mà ở trong đó thực hành, nếu đến kiến đạo mới có đường ra, nghe dụ cho ở sau hàng Ba thừa tuy lại quán đế duyên độ biệt, Thông giáo nói đều quán niệm xứ, tuy đồng niệm xứ tự hành hóa tha, có bi không bi phước đời trước khác nhau, nên phân ra ba pháp khác nhau, nên sau nầy phân ra Ba thừa.

Văn đầu văn dụ cho, Thinh văn quán nghĩa pháp như con hươu, sinh già bệnh chết cũng như vườn săn, ba cõi năm dục cũng như nước cỏ, không gấp xem nghe, như không nhãn rồi ăn uống, mong lìa hai phược như chí ở miễn thoát.

Kế là Bích-chi Phật trong hình tướng, Bích-chi Phật quán pháp nghĩa như nói, trí quán nhân duyên cũng như rõ ràng, dứt kiết tập khí như có chút thoát nạn, tự trí như rong ruổi thương xót người khác như xem xét, bi trí gồm hạnh nên gọi là tinh, trong bộ hạnh nói pháp gọi là bi minh, nhưng khen ngợi nêu ra cái khổ gọi là “ối chà!” ối chà tiếng thô. Chữ “yên” nên làm là chữ “ế”, ăn uống không xuống, tâm bi thương vật, như ăn không được, tự nhàm chán có dư gọi là Thống, cũng thương xót người khác gọi là luyến, xưa đồng với khổ ấy gọi là bổn quần, muốn bỏ niệm trụ sợ chẳng phải thường được lợi ích, tên tuy là do dự, mà nói trì trù là hạnh không có dáng mạo trước, có chút tâm bi dường như trụ sinh tử, việc lợi vật tạm gọi là được lợi ích gì? Nói rồi nhập Niết-bàn, gọi là “ăn khí” giáo pháp không trụ danh gọi là “nuốt tiếng”, “như” là uống. Tuy thương xót mà thệ như ôm lòng bi tiến về trước, tự nêu ra ở sau hợp dụ cho, văn lược. “Điệu” là buồn thương, thương hại.

Kế nói: Bồ-tát là văn dụ cho nên biết; kế hợp trong dụ cho, văn tướng đều là lợi ích giúp việc, cho nên lý sự cần phải hợp hạnh, nên văn sau nếu hoàn toàn không ở sau, lại nói ý hợp hạnh, nếu không thấy làm sao tiến hành. Trong Thanh văn ở trước, trước là pháp, kế là dụ, kế trong Bích-chi Phật; trước dụ; kế hợp, hai pháp nầy văn hợp, văn tướng đều lược không giao phó đối hợp, cho nên ở dụ phù hợp với văn ủy thác trừ bỏ. Nay trong Bồ-tát dụ hợp văn đủ, nên thẳng hợp lại không giải thích riêng. Đại tượng hợp với Bồ-tát, từ vô thường đi đến nước lửa. Hợp tuy nghe đều hợp, lại khởi từ bi đi đến đi một mình là hợp, không nở đi một mình, an chịu sinh tử, hợp tự biết năng lực lớn, do trí đi đến đều an, phải làm cho mọi người được an ổn, sự độ là công đức, ngã phần là pháp thân, phục đạo là tuệ mạng, hậu hậu là thêm lớn, ba kỳ là đại tượng, nếu con của tiểu tượng đi trầm bổng, nhỏ thì không bằng lớn. Người sơ tâm có thể khen ngợi. Tăng kỳ đầu tiên gọi là Tiểu Bồ-tát, tuy chưa khỏi lui sụt mà thật khác với phàm tiểu, nên có thể khen ngợi.

Kế: Trong dẫn chứng không trụ, không điều, v.v… Bồ-tát Sơ tâm sự độ thệ nguyện khác phàm phu, gọi là không trụ không điều, khác người Nhị thừa nên gọi là không trụ điều, tuy biết bỏ ba câu lệ theo đây, mà không chấp chứng nên đều nói tuy nhưng do phục đạo làm vô ngã, v.v… khác nhau chung riêng hai chủng Bồ-tát, tu nhiều ở sau kết hạnh thành.

“Lang” là thú. Giống chó mà sói, trí Ba thừa trong ba tạng nầy, đồng quán vô thường, khổ, không, vô ngã, vì hạnh Ba thừa khác, đều có thể dùng làm sự trí trợ đạo.

Tự hành ở sau chánh thỉnh che chở, mong như kết ích đều như văn, nếu hoàn toàn ở sau nói ý hợp hạnh.

Trước phân tích lỗi; kế nói về đắc.

Phật ấn: “Ấn” nghĩa là ấn khả, có thể nói là “xứng khả”, sự lý tương xứng nên có thể là Thánh tâm, vì Thánh thầm ấn, chướng bỏ hiển lý, đã đủ các lỗi, lại mê lý quán, ấn không có lý đó.

Kế sở dĩ ở sau dẫn hóa xưa, nghĩa là hội xưa ràng buộc nghĩa châu như chánh đạo, lui sụt đại luân hồi như ngăn che trùng lập, do nghĩa tiểu khởi như dụng trợ. Ban đầu có bẩm thọ đại, lui sụt lại trôi lăn không thể đại hóa, trước là phương tiện dẫn dắt mới bước vào đại cho nên gọi là Tiểu khởi.

Kế lại từ Phật ban đầu muốn ở sau, dẫn hiện hóa nghi để chứng ý trợ, vốn là nghĩa duyên lớn như chánh đại cơ chưa thuần thục nghĩa như trong tế tìm dụng nghĩa phương tiện như dụng sự, do phải thích nghi nên như Phạm âm khen ngợi, mười phương Chư Phật còn khen ngợi trợ đạo, huống nay trọng tế mà không trợ giúp ư? Như con nhà giầu kế ở sau nêu dụ cho.

Nếu nói về quán tế nên dùng vô sinh, sự không xong được dụng sự trợ. Như trong Đại kinh quyển mười chín nói: Thí như có người đóng cửa ở nhà tù rồi từ lỗ nhà xí mà ra, thí như có người sợ kẻ thù, nương Chiên-đà-la, như Bà-la-môn bị bệnh ăn thuốc bất tịnh, Đại Bồ-tát thực hành sự độ, cũng giống như vậy, vì nghĩa nầy nên cần phải sự trợ, huống chi nay văn chánh trợ hợp hạnh, tất cả trợ hạnh đều là pháp giới, hợp dụ cho rất dễ thấy, văn sáu độ nầy đều ở Đại luận thứ mười lăm đến thứ hai mươi mốt, thường nói về một phen độ chúng sinh giải thích khác nhau, nhưng cũng không ngoài bốn ý nầy.

Kế dùng sáu câu phân biệt sự lý, trước y hỏi là sự độ thuộc về ba tạng, đạo phẩm là vô tác, vốn dùng vô tác làm đạo phẩm, chung đến ba môn Tam-muội, nay nầy bèn nói không tu sự độ thì Tam-muội vô tác không thành tựu, sự độ nên thắng đạo phẩm vô tác.

Kế là ý đáp, độ và phẩm đều có sự lý, huống chi đạo phẩm lại nhiếp lẫn nhau, cho nên hơn kém cũng xen nhau được tên, chỉ làm tên độ ở nghĩa trị cho tiện, nên đối trị từ độ mà đặt tên, nay văn dùng sự mà giúp cho lý, nên văn trên nói: Không có sự lý thì quyết định không thành. Văn trước đã y cứ theo Đức Phật giáo hóa xưa nay, cho đến văn dụ cho trong các Đại kinh, đủ nói lên ý dùng sự để giúp lý vì hiển hạnh môn, sao luận hơn kém vì muốn càng hiển tướng chung riêng để trị, cho nên lại làm ba cặp sáu câu ở trong đó trước nêu bày sáu câu.

Kế giải thích, giải thích chặng giữa ở trước Biệt giáo, kế Thông giáo, chỗ nói biệt là ba cặp khác nhau, lại do sự độ đối lý đạo phẩm, sinh diệt đạo phẩm đối viên sáu độ, do rõ tướng phá tướng tu tức nhau, nói phá tướng, văn nói như đạo phẩm trên không thể khế chân, chỉ thứ sáu trước chánh tu đạo phẩm nên biết tức đạo phẩm vô tác, nếu tu sáu độ tức tệ năng phá, tức văn nay đối trị giúp khai, tức là sáu độ phá đạo phẩm. Nếu tu viên sáu độ không thể khế chân, tu sự đạo phẩm tức năng phá hoặc, nầy gọi là đạo phẩm phá sáu độ. Sau sáu độ nói Ba-la-mật, nên gọi là bỉ ngạn. Tướng tu, tu sự sáu độ vì đối trị xong, lại phải tiến tu vô tác đạo phẩm, trị đạo thành tựu nên nói là nhậm vận, nếu tu sinh diệt đạo phẩm vì đối trị xong, lại phải tiến tu sáu độ vô tác, nói như trên đã nói: Là như sáu độ ở trên nhiếp sinh diệt đạo phẩm trung, tức là đạo phẩm sinh diệt phá sự tế xong, mà lý quán hoàn toàn không có mảy may, phải tấn sáu độ vô tác, nói tức nhau: Sinh diệt sáu độ tức viên đạo phẩm, sinh diệt, y cứ sự tuy có sinh diệt đồng khác, y cứ thể các pháp xưa nay tức nhau, nên dẫn trong kinh nói đều là Đại thừa, đàn độ nêu đầu tiên của sáu độ, niệm xứ nêu đầu tiên của đạo phẩm, nên biết tướng phá tướng tu y cứ phàn quyền thật, mà thành giúp đạo, tức nhau tức là y cứ khai quyền thật, mà thành hợp hạnh. Nếu lại một phen đến là vô tác, tu sự làm trị như trước đã nói, nếu dùng bốn giáo thay nhau trợ giúp, nên dùng Thông giáo đối sự sáu độ, Biệt giáo đối sự Viên giáo đối sự, Biệt giáo đối Thông giáo, Viên giáo đối thông giáo, Viên giáo đối Biệt, chung hợp sáu lớp đạo phẩm khác nhau nói chung ở sau kế nói chung các pháp, đều được tương đối, để nói sáu câu, trong văn lược nêu bốn đế nhân duyên, nói hữu học, v.v… “Hữu”: nghĩa là hữu ích. “Vô” nghĩa là vô ích, chẳng phải hữu vô, tức là tức nhau nhân thấy có không cho đến đều ba đế phi tác giải thích rất mất ý chỉ văn, nếu không nói trợ, thì ở đương giáo, tùy theo thích nghi, để luận hữu ích, vô ích, v.v… cho nên đương giáo cũng có tướng phá tướng tu tức nhau.

Kế nói nhiếp điều phục các căn: Ban đầu chánh nói bổn giáo trong điều phục khác nhau, trong mỗi giáo đều có sáu độ. Trong mỗi độ đều điều phục sáu căn, tức là trong mỗi căn đều đủ sáu độ, bốn giáo cho đến thành hai mươi bốn lần sáu độ, cũng là hai mươi bốn lần đạo phẩm. Nếu nói về tùy tư trong ý lại đối với sáu tác, lại thành độ phẩm đều có hai mươi bốn, mới thành tựu độ phẩm đều có bốn mươi tám, ở một trợ trị dồi dào như thế, thì người đời không biết đọc là còn mê, nay văn đã nói điều phục các căn, tức là để soạn luận thọ dụng, trong mỗi giáo đều rõ. Trước giải thích chấp hết, nay trong đàn ban đầu lại không nói là tài. Hơn nữa từ điều phục căn đầy đủ nên như tùy tư trong ý, nhưng y cứ sáu tác sáu thọ để rõ sáu độ, đó có bốn dụng, bốn độ, điều phục các căn, nên điều phục các căn cũng có bốn món khác nhau, tức là giúp đạo khắp ở tác thọ, trị tướng sáu căn sáu tệ, mà đối sáu căn hiển bày rốt ráo sáu món, cho nên nhân môn nầy đã nhiếp các căn, bốn giáo sáu độ sáu căn nầy, nếu giải thích rõ ràng, thì phải thuận với ý của đương giáo, đều do hậu giáo xoay vần dung nhiếp ở trước, mới gọi là trợ đạo xoay vần thành trị.

Kế nói trong giới không tổn hại, tổn hại chỉ là phá, hộ giới không thiếu nên nói vô thường.

Nói Tập Ứng: Tu tập như vậy cho được tương ưng, nên trong đại phẩm tập ưng phẩm, Xá-lợi-phất hỏi Bồ-tát: Làm sao tu tập Bát-nhã Ba-la-mật-đa, cũng tương ưng với Bát-nhã Ba-la-mật.

Luận giải thích: Xá-lợi-phất biết Bát-nhã Ba-la-mật khó thực hành khó chứng đắc khó có thể thọ trì, nên khởi lời hỏi nầy.

Trong Đại Phẩm chép: Phật bảo ngài Xá-lợi-phất rằng Đại Bồtát tu tập sắc không cho đến trí Nhất thiết chủng không, nầy gọi là tương ưng Bát-nhã Ba-la-mật.

Luận hỏi: Tập ưng nghĩa là gì?

Đáp: Nghĩa là tùy Bát-nhã Ba-la-mật mà tu hành không ngừng, chẳng nghĩ nầy gọi là Tập, thí như đệ tử thuận theo thầy dạy không trái ý thầy, nầy gọi là tương ưng thuận theo Bát-nhã không thêm không bớt, như hộp và nắp tương ứng, đó gọi là tương ưng trong Viên giáo ở trước dẫn kinh.

Trong kinh Ương-quật nói: Theo kinh Ương-quật giáo ấy có ngàn người chỉ thiếu một người, muốn hại người mẹ kia, Đức Phật theo đến lại muốn hại Đức Phật kia. Duyên đầy đủ như trong quyển hai có dẫn, Đức Phật đi từ từ không mau, trong kinh Ương-quật nói đi mau đuổi theo không kịp, nói bài kệ rằng:

“Đứng lại Đại Sa-môn, v.v… có ba mươi sáu bài kệ, Đức Phật dùng hai trăm bảy mươi sau hàng kệ đáp, thường có ba hàng kệ kết thành một lời đáp, hợp thành chín mươi hai lời đáp trong ba hạnh ấy chỉ đổi câu đầu hạnh thứ hai, còn các câu khác đều đồng.

Ban đầu nói:

“Đứng lại Ương-quật-ma

Ông nên trụ tịnh giới

Ta là Đẳng chánh giác

Hơn ông kiếm tuệ bén

Đồng trụ mé vô sinh

Mà ông chẳng hay biết

Ông Ương-quật-ma-la

Ta là Đẳng chánh giác

Nay phải hơn tuệ ông

Vô lượng nước pháp lành

Nay ông phải uống mau

Trừ nước sinh tử ông”.

Câu đầu hạnh thứ hai

Ta trụ mé vô tác

Ta trụ mé vô vi

Ta trụ mé không già

Cho đến mé không bệnh”

– Mé vô nhiễm, v.v… Ương-quật hổ thẹn cũng như người mù bị bọ cạp độc căn. Đức Phật nói kệ rồi, lại bảo Ương-quật rằng: Thế nào gọi là Học?

Ương-quật đáp: Tất cả mạng chúng sinh đều nương ăn uống mà sống, đây là Thinh văn y cứ theo đây, chẳng phải Đại thừa. Nói Đại thừa lìa ăn mà thường vững chắc.

Sao gọi là một? Nghĩa là tất cả chúng sinh đều do Như lai tạng rốt ráo hằng an trụ, như vậy trong tăng số tăng đến sáu sao gọi là sáu, đó là sáu chỗ nhập, đây là Thinh văn y cứ theo đây, chẳng phải Đại thừa, nếu nói Đại thừa, nghĩa là nhãn căn ấy đối với các Đức Như lai thường thấy rõ, đến nhậm môn tu đầy đủ không bớt bớt, đó gọi là nhĩ căn nghe rõ đến nhập môn (ở sau đều được câu thứ hai thứ tư) nghĩa là tỷ căn ấy ngửi rõ đến nhập môn, thiệt căn ấy từng nếm nhập môn, thân căn ấy xúc chạm rõ đến nhập môn, ý căn ấy nói rõ đến nhập môn, tăng số cho đến mười lực, đáp xong Phật dạy: Lành thay! thành A-la-hán. Trong kinh không nói rõ ràng, văn nghĩa nay nói một niệm nhãn căn đủ lý quyền thật nên nói “liễu biễu và rõ ràng”. Lại nay ý căn khác với kinh, cũng là tùy theo nghĩa cho nên như.

Kinh dùng từ bên ngoài nên gọi là minh thuyết, nay từ bên trong chứng gọi là tri, trong kinh dùng từ bên ngoài gọi là thuyết, như trong Pháp Hoa giải thích ý căn: Tháng đến bốn tháng phân biệt không cùng tận tức là ý căn để nói dụng, như vậy giúp là mới là giúp viên cực, tức gọi là hợp hạnh, chín cõi ấy ở sau giải thích kinh. Tự nghĩa là đồng, v.v…, chín cõi tự cho là đương giới là cực tột, không biết lý thể rốt ráo chân thật, cho nên gọi là “tự vị cho là chẳng phải chân”. Lại ở sau giải thích sáu độ đủ nêu bày kết thành nhãn trí, kế nêu bày chung kết sáu trần, nầy thì ở sau hợp hạnh, nên biết ở sau kết khắp, đều như văn. Trong Đại Phẩm nói ở sau, kế dẫn Đạo Phẩm để chứng minh.

Nói “quên ba”: Viên vong ba nầy nói tự Thông giáo phải phân biệt đồng khác khiến cho giáo tướng Biệt giáo, Thông giáo chỉ do năng sở tài vật là ba, Biệt giáo y cứ ba quên nói về mười cõi, thuốc và bệnh trao thuốc, v.v… có ba. Viên giáo y cứ ba quên ở không giả trong ba pháp. Lại nếu dùng tài vật, năng, sở cả ba mà làm sở vong, ba giáo năng vong quán hạnh khác nhau, nghĩa cũng có thể như vậy, Thông giáo tức không mà làm năng vong, Biệt giáo tuy duyên Trung quán dụng không quán chẳng khác nhau. Viên giáo tức dụng không thể nghĩ bàn không, tức nầy chánh là vong ở ba đế, thường vong thường chiếu, nói vong nói chiếu, cho đến không chấp cũng phải phân biệt, như vậy gọi là sự lý hợp hạnh, phải là đầy đủ ở sau chánh giải thích tướng hợp hạnh, trước lược lập; kế tự tha ở sau giải thích. Đầy đủ sự lý tự hành hóa tha, mới gọi là cụ túc. Nhưng lý chung ba giáo lại theo thuyết cao siêu, dùng Viên đối sự mới gọi là cụ túc, sự thì phá pháp san, v.v… Nói lược xả tài, y theo ví dụ cũng nên giải thích xả thân mạng, nên nói lau chùi nặng một chút, sức không nêu ra, gọi là pháp tức thân, đồ dùng nuôi dưỡng không thể bỏ hết gọi là tiếc mạng pháp, tàng ẩn không muốn cho người biết, gọi là tiếc tài pháp, nay không tiếc thân mạng mà hành sự thí, thân như bọt tụ mạng như điện chớp, tài như phân đất, gọi là phá pháp san. Tuy có thể sự thí cũng trệ xa ở lý, không thể xả khắp mười cõi y chánh, nghĩa san cũng đặt tên là “san tâm” tâm quán lầm dần sáng không thấy tướng thân mạng tài mười cõi thường tương ưng với pháp lý đàn, nên nói lý thì phá tâm san ấy, tâm ấy, nếu phá thì là xả khắp một niệm, y chánh mười cõi trăm cõi, nên khi nhập vị khắp có thể hòa hợp khế hội cơ duyên của mười cõi, cho nên gọi là pháp năng xả, tài thí trợ pháp pháp thí dung tài, là nghĩa chánh trợ hợp hạnh ở đây, hai phá trong kết, nghĩa là phá pháp phá tâm.

Hai xả nghĩa là xả tài và thí pháp, sự lý hai viên hai xả khắp đủ, lý thì làm thể sự thì làm dụng, nầy y cứ tự hạnh để nói thể dụng, nên nói thể dụng sự lý đầy đủ, qua hai biển tử đến bờ ba đức, gọi là Ba-la-mật, khi thực hành quán nầy gọi là quán hạnh, nếu thanh tịnh sáu căn gọi là tương tự vị, đủ như trong kinh Pháp Hoa sáu căn thanh tịnh. Nếu vào vần đầy đủ như mười thứ sáu căn trong Hoa Nghiêm.

Kế nói nhiếp oai nghi của Phật: Là hai khoa trước lược nhiếp nhân hạnh, cách nầy mười khoa lược nhiếp quả đức, Đức Phật dùng từ bi vô duyên độ chúng sanh, pháp tánh bất động hiện các oai nghi, ắt nương bất cộng mười lực vô úy, nên mười lực, v.v… gọi là oai nghi của Phật.

Văn đầu gồm nêu ra ý, nay bèn thôi ở sau Biệt giáo nói về nhiếp tướng, đã dùng sáu độ mà làm trợ đạo, thì phải là sáu độ nhiếp oai nghi của Phật, tên sáu độ hẹn nhiếp nghĩa không khắp, nên tùy theo tên tiện, dùng đạo phẩm in, trước sáu độ đã nhiếp đạo phẩm, nên biết đạo phẩm chẳng khác sáu độ, lại đạo phẩm chỉ là một trong bốn đế, nếu có đạo đế mới có Bốn đế, nếu không có đạo đế thì khổ tập chẳng phải đế, huống chi diệt đế ư? Tên đạo lại hẹn nên dùng đủ bốn, trong văn tuy phân ra bốn thứ mười lực, ngoài mười lực không có mười lực khác, cũng như bốn đế có vô lượng tướng, nên dẫn năng lực của Ương-quật có vô lượng, chẳng phải Thanh văn Duyên giác biết được, như xứ phi xứ trong kinh Thinh Văn, tức dùng lục đạo làm phi xứ, Niết-bàn làm xứ. Nay Đại thừa y cứ lược có bốn, bốn đế mười cõi bốn độ, nói về xứ phức xứ, nên năng lực Đại thừa như mười phương cõi.

Trong Đại kinh đã đối với Nhị thừa bốn đế để nói vô lượng, nay cũng lại đối với kinh Nhị thừa dùng năng lực để rõ mười lực, ở chặng giữa ban đầu chánh nhiếp bốn thứ mười lực, nên trong mội thứ mười lực đều phải có bốn nghĩa.

Ban đầu giải thích xư xứ. Nói cho đến vô tác: Là ở chặng giữa vượt hai giáo, nếu muốn nêu bày để biết, tức dùng vô sinh ví dụ cho sinh diệt, vô lượng ví dụ ở vô tác, khéo léo nêu ra tuy khác lý sở duyên, trong chín năng lực ở sau mỗi năng lực đều phải có các giáo đối nói, 338 mới hiểu bốn món rộng hẹp sâu cạn, nên biết ba lực, tức ba minh. Trong Đại luận quyển hai mươi bảy nói mười lực, người cần tìm, hỏi: Mười lực đã không nêu ra bốn đế, sao không chỉ nói bốn đế. Cần gì nói lực?

Đáp: Đế chung cho cảnh sở quán, năng lực nói như lại thắng năng, bốn đế ở nhân mười lực chỉ có quả, bốn đế thông tiểu lực duy ở đại, nên phải nói riêng, là một pháp môn, v.v… Là giải thích nghi ngờ.

Ban đầu giải thích bốn nghi, năng lực phải lợi sinh, sinh cơ không đồng, năng bị sẽ khác, nên phải bốn món bệnh thuốc đối nhau để nói về bốn pháp. Bất linh, v.v… Là hiển bày pháp luân lợi ích không, đồng một pháp mà bẩm thọ đều khác, tiểu không nghe đại khiến không chê bai đại, đại rất mật văn, cho nên không mong.

Năng Nhân: Cũng nói là Năng nhu, Trực tâm, Độ ốc tiêu, v.v… đủ như trong phẩm Danh Hiệu Hoa Nghiêm có nói. Bồ-tát là vị quan thông minh biết rõ trong năm thời các Đại Bồ-tát biết miệng mật hợp cơ của Phật mà hỏi, như vua chỉ nói, đem tiên-Đà-bà đến, vị quan thông minh khéo biết muối, nước, đồ, ngựa, ở mỗi ngôn âm mật được bốn thứ, cơ hợp chủ bạn không sai mảy may. Trịnh cũng là trọng. Nên trong Hán Thư nói: “Hoàng Thiên nên trịnh trọng, tức nhiều lần ban lịnh, Bồ-tát cũng như vậy, vì chúng sinh nên nhiều lần phiền hỏi bậc Thánh”.

Hỏi: Mười Lực giải thích nghi nhân quả.

Ban đầu ý hỏi. Trợ đạo chỉ ở Sơ tâm Mười lực chỉ ở quả vị, đâu được sơ tâm mà nhiếp quả lực?

Đáp ý: Dẫn ba chỗ văn, để chứng sơ tâm có thể tu mười lực, huống chi trợ môn đủ khắp nhiếp thỉ chung, mười lực đã vậy các pháp nêu bày cũng như vậy, cho nên chỉ gạn các lực lại không nói, cho nên văn sau chỉ thẳng như vậy giải thích cho đến bất cộng và tướng tốt.

Ban đầu dẫn đại luận có hai cách giải thích đều là sơ tâm đã tu mười lực, dẫn văn đầu, đã thừa nhận Bồ-tát khi tu Bát-nhã mười lực không nên trụ, nếu trụ thì sơ tâm nói Phật có lỗi, chẳng phải Sơ tâm vô cớ nói Sơ tâm, nhưng chưa rốt ráo là vì nghĩa nầy, vì thế không nên trụ, phải biết sơ tâm đã có phần lực. Lại Bồ-tát ở sau giải thích là phần đắc, nếu vậy ở sau kế dẫn trong kinh Hoa Nghiêm, trước lại gạn luận, trong luận chỉ nói sơ tâm thừa nhận tu đâu gọi là đắc, nầy phân tích lời giải ban đầu nói phần nhiều sinh chấp, nên biết tức là tu mà chưa đắc, sau nói nhập vị, kế gạn ở sau giải thích chưa rốt ráo, nên ở đầu mới gọi là nhập vị, đâu có liên quan đến sơ tâm, theo hai nghĩa nầy không gọi là sơ tâm đầy đủ mười lực, nếu y theo sau chánh dẫn kinh để đáp, trụ trước đã được phần mười lực, cho nên phải biết sơ tâm không. Sau nói cho đến quán như vậy lại thành Chánh giác, tức là Sơ trụ phần chứng mười lực, nói trước phải phân biệt mười thứ pháp, từ tu xưa giảng, nói mười phạm hạnh, tức ở trụ trước tương đương với nghĩa Thập tín, văn nói ba nghiệp và Phật Pháp Tăng giới, trong đây nói lược, nên nói mỗi thân nghiệp, mỗi miệng nghiệp, mỗi ý nghiệp và Phật, v.v… có bốn. Kinh xưa quyển mười bảy nói: Bồ-tát Pháp Tuệ nương thần lực của Phật nói Thập Trụ xong, kế Chánh niệm Thiên tử hỏi, đủ như văn nay đã dẫn, ngài Pháp Tuệ đáp: Bồ-tát nầy một bề duyên cầu Vô thượng Bồ-đề, trước phải phân biệt mười món pháp thân cho đến giới nên quán như vậy, quán mười pháp nầy đều đồng pháp giới, lại từ đều chẳng phải phạm hạnh mà nói, do Bồ-tát nầy xả bỏ tục xuất gia tu phạm hạnh, vì đạo Vô thượng, lại quán sự hành không thật có. Vì sao?

Nghĩa là đủ giới thanh tịnh gọi là phạm hạnh, theo duyên mới đủ. Duyên là ba nghiệp, ba bảo giới pháp đối với tâm người mới thành tựu được, nay ban đầu suy nhân duyên đều không có tự tánh, đồng lý pháp tánh nên nói như không, nên trong kinh nói: Nếu thân là phạm hạnh, phải biết phạm hạnh thì không thanh tịnh, là phi pháp, là hỗn trược, là xú uế, trần cấu siễm khúc tám muôn hộ trùng, mỗi thứ đều như câu đầu mà nói, nếu thân nghiệp là phạm hạnh, phải biết bốn nghi tức là phạm hạnh, còn bao nhiêu như văn nay, mỗi pháp đều nên nói là phạm hạnh, nếu miệng là phạm hạnh, thì nên biết lưỡi động là phạm hạnh môi răng hòa hợp tức là phạm hạnh, nếu miệng nghiệp là phạm hạnh phải biết lời nói là phạm hạnh sở thuyết tác vô tác khen chê hủy nhục, tức là phạm hạnh, nếu ý là phạm hạnh, phải biết giáo quán nhớ nghĩ không quên tư duy mộng huyễn, v.v… là phạm hạnh, nếu ý nghiệp là phạm hạnh, thì phải biết tưởng là phạm hạnh, lạnh nóng đói khát là phạm hạnh, khổ vui lo mừng là phạm hạnh, nếu Phật là phạm hạnh, thì sắc thọ tưởng hành thức là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp thần thông biến hóa, là phạm hạnh, nếu pháp là phạm hạnh là các pháp chánh pháp, tà pháp vắng lặng Niết-bàn, sinh chẳng phải sinh, thật không thật đều là phạm hạnh.

Nếu tăng là phạm hạnh: là bốn quả hướng là sơ quả cho đến quả A-la-hán Tăng là phạm hạnh sao? Là ba minh sáu thông tám giải thoát, thời không phải thời đều giải thoát là hồi hướng? Nếu giới là phạm hạnh ở đủ văn nay, lại y cứ ba đời, năm ấm, các thứ suy cầu phạm hạnh không thật có, quán mười pháp nầy rồi kế tu mười lực, đã là sơ tâm thừa nhận tu tức là hữu phần.

Kế dẫn trong Địa Trì nói Bồ-tát biết Như lai tạng là nghĩa thông Biệt Viên ý nay ở viên, nên trước sau văn dẫn chín đại thiền, hoặc chứng chung hai hoặc chỉ chứng Viên giáo, nên nay nghĩa tạng nên từ Viên giải thích, nếu vậy, vì sao lại nói ở Sơ địa ư?

Đáp: Nghĩa bao gồm biệt nên nương giáo đạo nói: Biệt giáo thứ lớp sơ tâm vẫn đủ, huống chi là viên ư? Nên dẫn trong Địa Trì Trợ Hành Hoa Nghiêm, văn tư vị trước đã là Thập tín, trong tín đã tu sinh ra mười lực, cho nên theo Hoa Nghiêm không cần phải nghi, người Nhị thừa trừ nhập, “trừ” là “xả”, “nhập” là “giải”, xả bỏ phiền não nên được giải ngộ, ngộ tức là nhập sở nhập, sở nhập là xứ, tức tám thắng xứ, cho nên trong Đại luận, Nhân Vương đều nói: Bát trừ nhập, nên biết trong Sơ địa tự tánh thiền nhiếp được tất cả các định đại tiểu, há chẳng phải, v.v… Thập tín tâm tu Sơ địa hữu phần, ba phen y cứ để rõ, trước kết ba văn, đạo phẩm ở sau kết nhiếp như văn. Thập trụ ở sau giải thích tên, Chư Phật, Bồ-tát như thật trí dung thông đạt tất cả rõ ràng, không thể hoại được, lại không có lỗi lầm, cho nên rốt ráo gọi là không lỗi, nên nói đắc thắng, phương tiện hóa vật nên nói khả năng kham nhẫn. Lại khi đến quả báo dụng tối thắng gọi là thắng kham năng, nay nói về nghĩa nhiếp pháp tuy chung ban đầu, lại y cứ theo cực quả để giải thích tên lực, cho nên trong luận Tỳ-đàm, Bà-sa hỏi: Vì sao trí trong thân Như lai dùng đặt tên lực mà chẳng phải khác ư?

Đáp: Nghĩa chẳng chướng ngại là nghĩa lực, thấy rõ ba cõi ba nghĩa lực, tên tuy ở nghĩa tiểu, ý thông ở đại, rộng hẹp thành khác, so sánh mà nói nên biết.

Nói giúp đỡ là có năng lực nầy có thể giúp pháp thân, dụng không cùng tận trong Địa Trì ý có tự hành, ngoài dụng không cùng, song Phật lực ở sau lặp lại giải thích nghi, nói hai cách giải thích nầy, mười hóa sinh chân đây là một cách giải thích. Ngài Ương-quật có vô lượng lực là một cách giải thích, lực nầy nói mười lại nói có vô lượng, phải biết mỗi lực đều có vô lượng, tuy nói vô lượng, mà không ngoài bốn, nên nói “Di hiển” mười lực nầy và chín khoa ở sau, Đại luận pháp tướng rốt ráo không thể hết, nay lược còn danh mục để nói lên nhiếp pháp.

Kế nhiếp bốn vô úy: Là các trí Mười lực bên trong minh liễu đầy đủ, nên đối với duyên ngoài không sợ, nên kế nói mười lực nhiếp vô úy như giải thích tên lực trong thứ hai, hoàn toàn từ hóa dụng được gọi vô úy, ở chặng giữa ban đầu là chánh giải thích.

Kế là đạo phẩm, ở sau kết thành; kế dẫn Đại luận giải thích tên gọi chung là Vô úy, nghĩa là ở đại chúng nói rộng tự tha và trí đoạn, v.v… quyết định không mất, không có tướng sợ sệt gọi là vô úy, do các đức trong tâm đầy đủ, nên ở trong đại chúng nói rộng vô úy. Nói đại chúng: Nghĩa là hoặc người hoặc trời, hoặc Sa-môn, hoặc Bà-la-môn, hoặc ma phạm, v.v… và chúng khác. Thập Trụ ở sau, kế dẫn Thập Trụ giải thích nghi, văn đầu khó khởi, đối với bốn việc kế sau chánh giải thích, Phật đối với tất cả ở sau gạn hỏi nhiều lần, nếu đại cốt yếu ở sau giải thích trùng lập văn đều do lược mà gạn, ở sau giải thích trùng lập văn đầu do lược mà gạn ở bốn, văn dùng rộng mà gạn ở bốn, nên biết bốn là nói trong xứ, bốn pháp thứ lớp nầy. Trong Đại luận nói: Ban đầu như thầy thuốc chỉ bày tất cả thuốc; thứ hai như chỉ bày tất cả bệnh diệt; thứ ba như chỉ bày pháp thuốc cấm kỵ; thứ tư như chỉ bày thực vật thích hợp nên tùy theo bốn giáo phân biệt tướng trạng, nay văn tồn lược, sức nêu bày nên biết.

Trong Đại luận quyển bảy hỏi: Bồ-tát vô úy đâu khác với Phật.

Đáp: Ở đây có hai ý: 1- Nhất thiết xứ 2- Phi nhất thiết xứ.

Phi nhất thiết xứ là pháp của Bồ-tát, nên biết Sơ tâm cũng tu vô úy. Trong Đại luận quyển hai mươi tám giải thích rộng vô úy.

Kế nhiếp mười tám pháp bất cộng, văn đầu chánh rõ nhiếp: Đã trong Mười lực đầy đủ ngoài dùng vô úy, hiển bày oai đức vượt hơn mọi vật khác hơn tất cả sở đắc của phàm thánh, nên vô úy nhiếp pháp bất cộng, văn thiếu giải thích tên, cho nên nói Thông giáo nói pháp bất cộng, văn thiếu giải thích tên, nên nói Thông giáo nói pháp bất cộng, pháp cực quả không cộng với các hạ địa. Nếu Biệt giáo giải thích, nên nói Viên giáo của không đồng với trời tiên người. Trong Đại luận quyển hai mươi bốn hỏi: Ca-chiên-diên-tử lại dùng Mười lực bốn vô sở úy ba niệm đại bi, thành mười tám pháp bất cộng là sao.

Đáp: Do đó nên gọi là Chiên-diên-tử đã nói. Nếu giải thích Câu Tử đã nói, nên như văn nay đã nói ở đây. Lại Mười lực, v.v… người Nhị thừa hữu phần, mười tám pháp bất cộng người Nhị thừa không có phần. Lại nói mười tám pháp bất cộng Nhị thừa hữu phần, nhưng có lỗi lầm, phải biết không lỗi mới gọi là bất cộng. Văn nói: Mười hai pháp, e văn nầy lầm, y theo văn hội số nhưng thiếu mười một, văn đầu bảy pháp đã thuộc về ba độ, nghĩa là thân miệng không lỗi hai pháp nầy thuộc về giới, không có tâm bất định không đâu mà chẳng biết, vả lại hai pháp nầy thuộc về định, muốn tiến niệm không bớt, ba pháp nầy thuộc về tiến, còn mươi một món nghĩa là tuệ không bớt, giải thoát không bớt, giải thoát tri kiến không bớt, ba nghiệp hành theo trí tuệ, sáu pháp nầy đã nêu bày ở văn, còn năm pháp nghĩa là trí tuệ biết ba đời ý không lỗi chẳng khác tưởng năm pháp nầy văn tuy không nêu bày, mà hợp ở tuệ không bớt giải thoát không bớt ở chặng giữa có nói, do mười một pháp đồng thuộc về tuệ, cho nên hợp nói, tướng ấy thế nào? Luận nói: Đối với các chúng sinh độ khắp các tâm gọi là không khác tưởng, ý nghiệp của Như lai không cần phải quán lại, thường là vô lậu gọi là ý không lỗi, trí của Phật rõ thấu cùng tột quá khứ vị lai hiện tại gọi là biết ba đời.

Luận giải thích tuệ không bớt, nhưng nói mười lực vô úy viên cực. Nay văn giải thích tuệ không bớt ở trong đó, nói thường chiếu đến mà nói pháp cho họ nghe thuộc vô khác tưởng, không có lỗi niệm trước, một câu thuộc ý không lỗi, hai nghĩa nầy mười lực vô úy viên cực, còn ba pháp hợp lại ở trong giải thoát không bớt, là sao? Luận giải thích trong giải thoát không bớt, chỉ nói đầy đủ hai thứ giải thoát hữu vi, vô vi. Hữu vi nghĩa là trí tuệ tương ưng vô lậu, nói vô vi nghĩa là phiền não đều hết. Trong văn nay nói nhớ việc ba đời không quên trí tuệ thuộc biết ba đời, do giải thoát đầy đủ nên sẽ biết ba đời, do nghĩa đồng nên được nói chung trong sáu độ chỉ nêu ra ba món học và tấn độ, do ba món học nầy lược nhiếp sáu độ đầy đủ, thêm tinh tấn do ba món học nầy chẳng phải tấn không thành nên thêm tinh tấn, thiếu thì nhẫn, như trước có dẫn trong phân biệt dễ hành, lại có thể chỉ là văn lược, nếu chấp nghĩa nên dùng niệm làm nhẫn, không ở đâu chẳng biết đã xả làm đàn, tức nghĩa sáu độ đầy đủ, kết thành nhiếp trong pháp, nói ý như trên đã nói, lược kết bất cộng, cùng kết các nghĩa trước lần lựa nhiếp nhau, kết thành trợ đạo, y theo cuối đạo phẩm so sánh thuyết nên biết.

Kế nhiếp bốn món vô ngại, Chư Phật đối với bốn pháp nầy trí tuệ tự tại, mau chóng vô ngại rõ ràng thông suốt nên gọi là vô ngại, trong thứ lớp pháp giới phán xét pháp Bồ-tát, Bồ-tát pháp thân đều có bốn món nầy, đây cũng là thông suốt phán xét đại khái, tức như nghĩa mười lực thông nhân, bốn pháp nầy hai pháp đầu là biết thuốc thứ ba là biết bệnh, thứ tư là trao thuốc, nên giải thích thứ nhất tức y cứ theo bốn giáo; thứ hai đồng vào một thật đều là thuốc pháp; giải thích pháp thứ ba tức y cứ tướng bệnh mười cõi; giải thích pháp thứ tư lại theo bốn giáo để nói trao thuốc, nên biết trao bốn pháp thuốc, giúp mười cõi chúng sinh dùng lạc để nói, khiến họ biết tên nói thứ nhất ở trước, khiến họ biết nghĩa nói thứ hai ở trước, nên dùng thứ tư nói thứ hai trao và thứ ba trước.

Kế giải thích lặp lại nói: Lời lẽ y theo bốn thứ khổ đế, không nói mười pháp giới, y cứ cơ duyên mà nói nên quả thật đều theo bốn cơ trong pháp giới chẳng đồng, nên ban đầu giải thích.

Kế đối với bốn đế; kế là tổng kết lạc thuyết, nên trong lạc thuyết, khiến người khác nghe tất cả chữ, tất cả nghĩa, v.v… dùng hai pháp trước, đến tất cả âm từ, tức là đến cõi ba mươi âm từ, lại làm đối đế cho nên giải thích trùng lặp, hơi khác với trước.

Kế nhiếp sáu thông đến ở sau thiền cảnh giải thích nói trong sáu món chung. Kinh Anh lạc giải thích tên. Thần gọi là thiên tâm gọi chung là tuệ tánh, tuệ thiên nhân chiếu suốt vô ngại, nên gọi là Thần thông, nhãn nhĩ như ý, chỉ điều phục trong các căn, tùy theo các thông nào chỉ nhập giáo nào điều phục các căn, còn ba chỉ chung mười lực, tha tâm tức dục lực còn hai pháp danh đồng, cũng tùy theo nương những gì mà lậu hết, mà biết những gì tha tâm túc mạng, cũng nên đều có kết thành nhiếp pháp, văn không thì lược.

Kế nhiếp ba minh, nói như trong sáu thông, thiên nhãn, túc mạng lậu tận trong sáu thông ba pháp đều thuộc về minh, nên trong Bà-sa hỏi vì sao còn ba pháp chẳng đặt tên là minh?

Đáp: Thân chỉ chung là công xảo mà thôi, thiên nhĩ chỉ là nghe tiếng mà thôi, tha tâm duyên tha biệt tướng mà thôi, cho nên chẳng đặt tên ba pháp đây là minh, còn ba pháp lập, túc mạng biết quá khứ, khổ rất sinh nhàm lìa, mắt trời biết khổ vị lai rất sinh nhàm lìa, lậu tận có thể làm chánh quán dứt các phiền não. Lại nữa, thế trí trước chứng biết quá khứ nối tiếp, nhân quả vị lai trí chứng rõ biết như tán cát bụi, lại thế trí trước chứng minh biết rõ tự thân suy, trí vị lai chứng minh biết rõ thân người khác suy, lại nữa thế trí trước chứng minh trị thường kiến, trí vị lai chứng minh trị dứt kiến, trí vô lậu chứng minh trị hai bên, lại đời trước môn không sinh, vị lai sinh môn vô nguyện vô lậu sinh môn vô tướng.

Hỏi: Đối với người vô học vì sao đặt tên là minh, về người học vì sao không đặt tên là minh?

Đáp: Tư thắng lập, lại vô học không có vô minh, không xen lẫn vô minh nên đặt tên là minh. Đại luận quyển ba hỏi. Thông sao nói biệt?

Đáp: Thẳng biết quá khứ gọi là Thông, biết nhân duyên hành nghiệp quá khứ gọi là Minh, thấy thẳng chết đây sanh kia gọi là Thông, biết bờ nhân duyên nhóm họp gọi là minh, nói thẳng gọi là Thông, biết lậu tận không sinh tử lại gọi là Minh, minh đây là là sở đắc của Đại Ala-hán. Nếu vậy có khác gì với Phật?

Đáp: Đủ không đủ khác nhau, cho nên thông thông ở sáu nói chỉ hạn cuộc ba, trong Tiểu thừa các A-la-hán đều năng đắc, nay trong văn nầy nói Phật và Bồ-tát, khác với thiên tiểu, sở y Biệt giáo nên quán trí khác. Lại Tiểu thừa duy tu Đại thừa phát đắc, nên phân biệt bốn giáo rộng hẹp khác nhau.

Kế nhiếp đồng sự trong bốn nhiễm. Lại cũng nên nói: Đồng với khổ tập, ví làm cho đoạn, trước đồng sau khác. Đà-la-ni, Biệt giáo thì chỉ ở Đại không chung ở Thông giáo, Thông giáo còn ở thông Bồ-tát ba tạng, huống chi lại Thông giáo hậu tâm, như vua Tỳ-thi được quy mạng Đà-la-ni cứu hộ, tức nghĩa ba tang. Trong Đại luận quyển sáu nói: Đàla-ni là năng giá năng trì trí tất cả pháp thiện không để cho tán loạn, như món đồ đầy đủ đựng nước nên gọi là Trì, tất cả dục ác ngăn khiến không tạo tác nên gọi là giá, lại hoặc tâm tương ưng, hoặc không tương ưng, hoặc hoàn toàn hữu lậu hoặc là vô lậu, nếu nói Vô sắc không thể thấy, hành ấm pháp nhập chín trí trừ tận trí, ý thức sở thức, v.v… đều ở trong A-tỳ-đàm nghĩa Đà-la-ni, nếu chỉ nói hoặc tương ưng hoặc không tương ưng, thì chung ở Đại tiểu, nếu nói Đại Bồ-tát đắc Đà-la-ni, thì tất cả thời tất cả xứ thường theo nhau, thì chỉ ở đại.

Nếu nói về Biệt giáo: Thí như văn đã chỉ bày duy ở vô tác chánh cần. Nếu nói về Thông giáo, thì chỉ nói ngăn an trí thiện, có thể dùng bốn giáo bên thông giáo để giải thích. Khổ tập là đường ác, diệt là thiện. Khái là rưới nước.

Kế nhiếp ba mươi hai tướng, nên nói đủ tướng tốt bốn giáo khác nhau, trong ba tạng đầu, dẫn ở luận Bà-sa nói tướng phẩm A-tỳ-đàm, Thập trụ luận Bà-sa dẫn thể tướng nghiệp quả trong Tiểu thừa, dùng làm Bồ-tát tu sơ tâm lập quán pháp, đủ như quyển hai có ghi, từ trở lại dụng cho đến cuối cùng không đưa thì giới tuệ, lấy ba trong sáu để nhiếp nhân tướng, thì giới sinh trời, người dùng tuệ dẫn dắt các hạnh lược nêu ba nhiếp tướng nầy cũng đủ.

Kế trong Thông giáo khác nhau ở trên, tức không có tâm tu chẳng lẽ sau ba kỳ một trăm kiếp ư? Nên biết tướng thể nghiệp quả bên Thông giáo đều khác với Tạng, nên dẫn tướng Bát-nhã tức phi tướng, và dẫn Thập trụ không làm tướng thể, đã khác ba tạng khác nhau tướng hải, nên biết thuộc về thông, nên trong Đại luận quyển mười ba. Ban đầu dùng một thí sinh ba mươi bảy phẩm; kế dùng một thí mà làm nhân tướng.

Lại nói: Mỗi độ đều làm nhân tướng, nầy đều thuộc về lý Thông giáo.

Lại nữa, hai đạo phẩm ở trước muốn nói Biệt viên, lại trùng lặp so sánh quyết có bổn hay chẳng có bổn như đồng, như gương, do phân ra trước sau.

Kế từ Vô Lượng Thọ quán trở xuống, chánh nói hiện tướng pháp thân Biệt giáo Viên giáo. Trong Tát-già Hoa Nghiêm, v.v… Trong kinh Tát-già-ni-càn nói: Ni-càn-tử đây là Nghiêm Xí Vương, nói không hơn người chỉ có Cù-đàm, nhân nói rộng tướng tốt chủng tánh của Như lai hóa vật. Hoa Nghiêm nêu rộng bốn mươi tám tên, ở mỗi tên đều nói các mây tướng tốt.

Ban đầu nói: Đức Như lai có đại tướng tốt gọi là Trang nghiêm đẳng có mười bên hoa tạng hải vi trần số Phật đại nhân tướng tốt. Lại phẩm tiểu tướng quang minh công đức, nói mười bậc Bồ-tát từ Đâu-suất xuống phát ra ánh sáng rực rỡ, tên là Tráng Vương Phổ Chiếu, chiếu mười cõi vi trần số Phật, khiến chúng sinh mười cõi ấy sáu căn thanh tịnh, tướng tốt như vậy há đồng với một trượng sáu ba mươi hai không tuệ? Nên biết hai bậc trước chỉ là nói theo giáo môn quyền.

 

PHẦN 4

Kế nói biết thứ vị, trước nói ra ý, đã dùng bảy pháp trước làm sở tu, hai đời thời phát nhập vị bất định, hoặc chưa nhập vị, chưa đắc nghĩa là đắc, sợ cực hạ căn sinh tội trọng, nên phải nói vị khiến thực hành để biết, bốn giáo đều có hai vị chân tợ, ở hiền gọi là “tợ” nhập Thánh gọi là Chân, chân vị rốt ráo gọi là giải thoát, đã chứng rồi vị có thể làm thuyết khác, gọi là tri kiến, tri kiến chỉ là tên khác của trí nhãn.

Kế nêu dụ để nói: Chu tử, v.v… đỏ là mầu chính như chân vị, mầu giữa sắc tía như tợ vị, như đỏ đen hợp thành mầu tía, chân vọng còn xen lẫn nên gọi là tợ, cuối cùng không ở sau chánh giải thích kế vị, ở trong đó giải thích bốn giáo khác nhau, văn đồng Thông giáo Bấy giờ bốn môn nói mỗi ý của giáo vị, mục đích là dứt hoặc chứng chân, nên trong ba tạng bốn môn gọi là khác, nghĩa là bốn môn không hữu, v.v… vị Bấy giờ tức thất Hiền thất Thánh hai mươi bảy Hiền thánh, v.v…, nên nói có khác trong mỗi môn đều dứt kiến tư duyên lý chân đế, nên nói đoạn và đế lý yếu kém như vậy ch khác. “Sàn” là hiện, người Nhị thừa luận nhiều một đời, v.v… nói người Nhị thừa trong mỗi môn khác nhau, nói một đời, tuy có trăm kiếp ba đời sinh chủng giải thoát phần, v.v… từ niệm xứ trở đi cho đến một đời, hoặc hai hoặc ba hoặc bảy đời, v.v… nói nguyên ý ấy thì sinh chấp chứng, nguyên ý tuy vậy chẳng phải đều một đời cho nên nói nhiều, tuy có bốn môn nói vị khác tiểu đắc quả đại đồng, như phán xét tâm thứ mười lăm kiến tu khác nhau, nên nói tiểu khác, tự ba quả khác phần nhiều nhất định, nên nói không vượt qua thứ lớp, Bồ-tát ba kỳ trăm kiếp nên nói thời gian dài, trăm phước sáu độ gọi là hạnh viễn, k đồng với Nhị thừa một đời đoạn kết, nên nói cũng biệt, rút ngắn khác nhau gọi là đường bít khác nhau đều đến chân đế, gọi là quy về một đường, các Bồ-tát mong ở Viên giáo, tuy quyền thật khác, mà tâm nguyện hồi hướng k đồng với tiểu.

Năm công đức đủ như trong quyển ba có dẫn.

Kế giáo nầy ởsau phân tích lẫn lộn, khoa nầy chính là lựa lẫn lộn, cho nên phải phân tích; kế nói rõ trong thông vi tên Biệt mà nghĩa Thông, như huyền văn đầu quyển năm nói mười nghĩa phân biệt, tin Thông mà nghĩa Viên, tên Biệt mà nghĩa Viên.

Kế nói trong Biệt vị, trước nói ý của biệt vị, kế lược chỉ bày kinh luận, trong Nhiếp luận Hoa Nghiêm phần nhiều nói thứ lớp bốn mươi hai vị, nói một phen đến các giáo khác nhau, lại chỉ bày giáo đây làm lược đại khái, nhưng trong Hoa Nghiêm có Biệt có Viên chẳng phải chuyên một giáo, như kinh nêu bày mỗi vị đều có hai môn hành bố Phổ Hiền, lại trong các kinh luận biệt vị có nhiều đường nên nói một phen đến, nhưng Biệt giáo ở sau chỉ bày tướng biệt vi.

Ban đầu chỉ bày kinh; kế chỉ bày luận, nói chung là như trong nhiếp, v.v… Thông giáo giải thích Đại thừa, Biệt giáo luận là như Trí luận Địa luận, v.v… Biệt giáo giải thích một kinh đâu được, v.v… là phá chấp. Luận nêu bày đương môn là dẫn tốt riêng, người chậm không thông suốt mong có nêu bày không, lỗi có phương tiện, hủy bỏ không khen có lỗi không thông suốt, hai môn ba, bốn cũng giống như vậy, tuy muốn dẫn tiến mà lại nghẽn tắt, nay nói, v.v… kế nói ý luận ý còn lý thông. Thiên mạch, v.v… Nam Bắc là thiên, Đông Tây là mạch, “kinh” như “thiên”, “vĩ” như “mạch”, bốn môn như vĩ các vị như kinh, mỗi môn vị khác nhau đều đến cực quả, nên nói một, phương nầy, v.v… là chuẩn theo đây mong ở kia, văn nêu thông biệt, ý bao gồm Tạng viên, trong đây chánh nói kế vị Biệt giáo, nên lại nêu Biệt để nói Thông giáo, nói sở thông trong chân khác nhau, cho nên chưa nói hai giáo Tạng Viên, nếu dùng bốn môn thì lý chung nhiếp giáo, mượn khiến phương Tây các luận đều độ lý môn so sánh thì rất dễ biết, tự ý tranh luận mâu thuẫn không sinh. Kinh nói, v.v… chứng minh hướng minh khác mà lý môn đồng, khai quyền bày thật, ba giáo các môn quy về nhất thật, huống chi đương giáo các môn không dung nhiếp. Đời không rõ suốt, nghĩa là trí là Đại sư phần nhiều ưa phá phân tích, mà không thấy dung hội khiến quy về Nhất thừa, huống chi do ý dung thông trừ giải thích ngăn trệ, tiêu thông kinh luận giáo pháp không ngăn ngại, kết và chỉ rộng như ở văn.

Kế dùng mười ý dung thông kinh luận, người đầu tiên thấy mười ý có nói đế lý, lại dùng mười thừa để đối mười ý sâu xa không tiện, nếu dùng đối cảnh thì lý tự tương đương, vì sao phát tâm dùng đối tám giáo, huống chi tám nghĩa sau đối ý hằng khác, như bốn môn đều tiêu, kinh phiên dịch tiếng Hán tiếng Hồ đem đối an nhẫn thật là ch giống, lại môn thứ tư văn tuy nói phá hết, bèn cùng thông bít, cộng thành một văn, huống chi tên thông bít trong văn nay, cùng trong mười thừa thông bít ý khác, huống chi lại tự nói dung thông Phật pháp, Phật pháp thì chỉ một thời kỳ Phật giáo, nên mười pháp thành quán lại ở hạnh môn, nên biết định không được dùng mười thừa giải thích ở đây, lại các vị kinh luận Viên giáo dễ đồng hỏi sinh ra tranh chấp, Biệt giáo đã vậy giới ngoại phân tích pháp, nói rõ vị thứ lớp phụ thêm giáo đạo văn nhiều xen khác nên có nhiều đường, cho nên nhân dùng mười ý dung thông, thứ vị nầy tức là một ý trong mười, song mười ý nầy mỗi ý đều khắp tất cả kinh luận, cho nên sáu ý trước mượn dùng giải thích kinh năm lớp huyền nghĩa, bốn ý sau dùng y phụ văn ở trong sáu pháp trước năm pháp đầu chánh năm lớp huyền nghĩa, thứ sáu tức là phương pháp nay khai phá dụng nghĩa, giúp người hậu học biết một pháp bao gồm vô lượng quy nhất, y cứ thứ nhất trong năm pháp trước nói đạo lý cho đến khai hợp, v.v… một thời kỳ Phật giáo đều dùng sở thuyên làm giáo thể, giáo đã bán mãn thiên viên thông đồng, thể cũng tùy theo giáo quyền thật khác nhau, các đế ly hợp tùy trí tùy tình, quy hội về Pháp Hoa chỉ một thật tướng đủ như trong cảnh mầu có nói, dụng nầy ý hiển thể, ý thứ hai, trước nêu dụ cho, kế tức là ở sau hợp dụ cho lại toan hợp nghĩa để giải thích ý dụ cho.

Cương nghĩa là hỷ cương như vòng ngoài cương, “cánh” nghĩa là tư cách chân chánh như đại thể của vật, dùng giáo để phân tích giải thích được giáo độ xa, nên nói cương cách, giáo tùy cơ khác như cương mục, ngoài chánh gọi là “khuông”, trong thật gọi là cốt, bốn môn ngoài chánh một lý nội thật, “ngang chu” là “bàn dọc”. “Cùng” gọi là “trĩ” các hạnh mỗi môn đều có ngang dọc. Lại dùng tiệm đốn bí mật bất định như khuông, dụng Tạng thông Biệt viên như cốt, ngang dung các môn như “bàn”, dọc quy về một lý như “trĩ”, do tám giáo nầy thâu nhiếp không ngoài gọi là bao gồm, trong tám pháp bí mật là mật, còn bảy pháp hiển bày nên gọi là lộ. Nhưng còn bảy pháp trong đó đều có mật lộ, lại bí mật bất định gọi là mật, hiển bày bất định gọi là lỗi, kinh thanh vị trược. Đốn giáo như thanh Tiệm giáo như trược, trong đốn giáo Biệt trước Viên thanh, trong Tiệm Tạng được còn thanh, lại trong kinh Pháp Hoa chỉ có thanh Lộc Uyển chỉ có trược, Phương Đẳng Bát-nhã có thanh có trược, lại dụng tám giáo nầy đều có ý, bốn giáo như Tạng, v.v… là pháp thức giáo môn. Bốn giáo như Đốn, v.v… trải bày dẫn nhập, Đức

Như lai quyền xảo khéo rõ căn cơ chúng sinh tuy nói tạng, v.v… dùng làm đốn giáo, hoặc khai hoặc hợp, phải tiến phải lùi, tên tuy có tám dụng thì không chung, đủ như trong kinh Pháp Hoa quyển một trong huyền văn giải thích và quyển một trong Thích Thiêm có nói, dụng nầy phán ý giáo.

Ý thứ ba, một đời giáo pháp đầu đề danh tự, tên bao gồm một bộ, nghĩa trong bộ bao gồm đại tiểu thời tiết nhân quả xen nhau, các tướng như vậy không gì chẳng trái nhau, hoặc một nghĩa nhiều tên, hoặc lìa hoặc hợp, hoặc chỉ hoặc gồm, nói nghĩa trái nhau một và nhiều chống trái, không thể dùng thế tình hòa hợp, không thể dùng văn tự giải bày, từ xưa đến nay, chẳng thể thông suốt, đắc bốn món ý không chỗ nào mà không thông các pháp xen nhau làm kia đây, hợp cơ giáo tình nghi chỗ nào? Dụng nầy giải thích tên ý, ý thứ tư bỏ hết mê chấp, có chấp đều phá, đơn phúc đầy đủ không nói các chấp, các giáo tiệm đốn phá lập khác nhau, chấp năng chấp sở chấp tánh khác nhau, dùng ý Pháp Hoa, phá khắp lập khắp, tình không ngăn trệ, năng sở rõ ràng, dụng nầy nói dụng ý. Ý thứ năm, hễ có việc muốn nói kết thành pháp môn, để đối chân tự tiệm đốn các vị, vị là sở giai hành là năng tu năng sở theo nhau thì phương tiện cùng chứng quả không lẫn lộn, tất cả quyền vị đều quy về quả thật. Dụng nầy nói ý tông.

Thứ sáu ý là khai phá pháp môn khiến ý Phật không dính mắc, tuy rộng khai phá mới phù hợp bổn văn vẫn không không mất chánh ý trong bộ luận là sợi dây cột. “Chư” là đầu sợi dây, tung ngang khai hợp không mất thứ lớp. Vỉ vỉ: Là thể văn thuận, cũng vẫn ngó ngừng cỏ, nghĩa là thinh vẫn nghĩa lý không có lỗi lẫn lộn. Kế bảy ở sau phù hợp trong ý văn.

Khai chương, v.v… Như các nghĩa sớ phàm khai chương đoạn, không gì chẳng sinh khởi, như lưu lại bỏ đi, như nay chỉ quán mười phương mười thừa, không gì chẳng có thứ lớp trước sau sinh khởi, tám đoạn để giải thích, v.v…: Tuy văn trước rút ra yếu nghĩa huyền môn để giải, ngang dọc đều là hợp chung riêng ly hợp hoặc rộng trải khăn bàn, hoặc một vết xe rất lâu, lại phải phụ văn thứ lớp đoạn giải thích, không rộng không lược, có sự có lý, chung dụng bảy pháp trước y cứ lý bỏ giải thích, không liên quan đến lời trau chuốt ở văn chỉ.

Chín đoạn phiên dịch, v.v… phía trước tranh cãi khinh chưa nhiều phân tranh buồn là tiếng phương Tây, đều nói là âm nước Hồ, sau nhân ông Huỳnh Quan hư cấu ngụy chế, vào thời cận đại mối bắt đầu từng

Hồ tiếng Phạm soi xét để phân, thống lãnh đã là phía Tây đều thuộc về 30 dòng pháp, bên trái của thiết môn đều nói là Hồ Hương.

Nói Phạm chủng, từ Quan Âm ban đầu trở xuống lần lượt phát sinh, cho nên Năm thiên đều nói là phạm chủng, thời cận đại biên soạn là đặc biệt húy âm Hồ.

Ý thứ mười phụ văn thành quán, văn không luống lập, quán cùng gọi chung là ấn tâm.

Như giải thích Pháp Hoa, mỗi câu kinh đều có bốn cách giải. 1- Nhân duyên 2- Theo giáo. 3- Bổn tích. Quán tâm.

Nếu giải thích kinh khác, chỉ có thiếu bổn tích, ba ý đều chung, sự lý cò như vậy.

Hạnh giải đầy đủ, lại như trong Huyền văn mỗi khoa nghĩa, cũng có bốn cách giải:

  1. Phân biệt.
  2. Thô diệu.
  3. Khai hiển.
  4. Quán tâm.

Huyền văn giải thích phụ văn không gì mà chẳng thành quán, chẳng phải như kẻ đếm của báu cho người. Trong kinh Hoa Nghiêm có bài kệ rằng: Thí như người nghèo cùng ngày đêm đếm của báu cho người khác, tự mình không được nửa đồng tiền, nghe nhiều cũng như vậy, thí như người mù cố khả năng vẽ, ưa thích việc ấy mà không tự thấy, nghe nhiều cũng như. Thí như người đức khéo bấm lên các âm nhạc, ưa thích việc ấy mà không tự nghe, nghe nhiều cũng như vậy, nầy phân tích thiên văn, chỉ có phiên dịch ở sau bao gồm lui sụt phân tích đoạt, phương âm khác nhau chẳng quan hệ đến nghĩa lý không thể đầy đủ, nên nói chưa rảnh, văn tự Pháp sư, trong quán không giải, chỉ có tướng giảng pháp. Sự tướng Thiền sư không có cảnh trí nhàn, mũi cách dừng tâm, cho đến định căn bản hữu lậu, v.v… một Sư chỉ có quán tâm nhất ý, v.v… đây lại cùng với luận, đoạt thì quán giải thoát đều thiếu thế gian thiền nhân duyên còn lý quán đã không âm giáo dùng quán chọn kinh, thường là tám tà tám phong là Phật trượng sáu, hợp năm ấm ba độc gọi là tám tà, dùng sáu nhập là sáu thông, dùng bốn đại làm bốn đế, như đây giải kinh ngay trong ngụy, làm sao can có thể nói được, dù dùng tâm vương giải thích vương năm ấm, niệm một thể là trí bát, lìa hai chấp là rửa chân, đem giải tên Bát-nhã trí bát, thì không thể được, dùng thành tựu xưng Pháp Hoa vương xá, đâu không suy nghĩ, đã không phân biệt giả tạo nào nghi, cho nên nay quán tâm trừ bỏ kinh tùy kinh bộ sai khác, nghĩa thế khác nhau dùng lý làm gốc, nêu bay hạnh vị đều có khác nhau.

Vị kế ở sau chánh chỉ bày mười thừa kế vị một ý, tức một kế vị trong mười ấy, vì nói kế vị Viên giác khó hội, nên giảng nói mười ý chỉ bày một thông. Nếu là mười thừa, sao không chỉ nói mười pháp đây là mười thừa, đến nầy chỉ một trong mười.

Kế giải thích kế vị Viên giác. Trước nói năm hối là phương nhập vị, người khác viên tu đều không có ý nầy, toan lấy gì làm đầu mối tu tạo công hạnh, chỉ nói một niệm tức là Như lai. Ngài Không Đàm nêu tâm không đâu chẳng phải pháp giới, suy xét tâm hành hoàn toàn không có mảy may, nếu tu bốn thứ Tam-muội cho đến trùng lập làm phương tiện, nói ý phương tiện, bốn món Tam-muội thông dụng hai mươi lăm pháp làm phương tiện chung, nếu thực hành Pháp Hoa Biệt giáo thêm năm hối, không chung các hạnh, nên nói là chỉ. Nếu trong Phương Đẳng do cầu mộng vua làm phương tiện khác nhau, thường đi thường ngồi và tùy tự ý, thẳng như vậy mà thực hành, mười tâm nghịch thuận tất cả thông đủ, trước biết ở sau nói năm hối ý làm phương tiện nhập quán, cho nên trung lập văn quán pháp, nhưng tâm lý ở sau nói dụng hướng quán pháp không thể phát chân, cho nên cần phải thêm năm hối, năm hối đây là nhân đầu của vị Viên giáo, nếu lại đạo pháp lâu dài an nhẫn. Tên sám kế ở sau chánh nói năm hối, tuy có khuyến thỉnh, v.v… bốn pháp chẳng đồng, không điều gì chẳng hối tội, nên gọi là năm hối, đủ như văn sau nói trong ý hối đều có sở trị, nay nghi thường của băng nêu ra mười trụ Bà-sa, văn nguyện ở trong kinh Đại Niết-bàn, như kinh Chiếm-sát cũng nêu bốn thứ. Trong Nam Sơn nói: Chiêm-sát không cần phải thêm phát nguyện, do bốn hối ấy đều là nguyện, nếu vậy kinh luận đều có bốn, nay vì sao có năm?

Đáp: Như trong Kinh Di-lặc Vấn chép: Ngày đêm sáu thời siêng năng thực hành năm ấm, không nhờ khổ hạnh mà đắc được Bồ-đề, nên cần phải nguyện, thứ lớp năm pháp kế nầy: Nếu đều gọi là hối thì không có gì chẳng trị tội lẽ ra không có thứ lớp. Nếu theo Bà-sa, Chiêm-sát thì lớp đều đồng, nếu vậy các văn sám hối dài, cũng có nghĩa năm hối đầy đủ, ban đầu như vậy ởsau tức là sám hối, kế nay Chư Phật ở sau tức hồi hướng, các tội kế bỏ một bài kệ, tức lặp lại nêu sám hối, lược nêu bày ba pháp khác; kế một bài kệ lặp lại nêu Đức Thế tôn dùng làm quy lễ, nên không có thứ lớp, lại y theo thứ lớp làm sinh khởi. Nếu tội không trừ, luống lập bày khuyến thỉnh, đã khuyến thỉnh rồi thấy tiếng nghe giáo, y giáo tu hành. Nếu ganh ghét không bỏ thì điều thiện của mình kém yếu, còn không ưa người khác, làm sao có thể hồi hướng, bốn pháp đầy đủ dùng nguyện dẫn dắt, như năm pháp nầy còn có thể nhập vị, huống chi diệt tội ư? Xưa nay hành nhân đều không để ý luống nhọc khen ngợi gấp tụng chưa tương ưng với nhĩ thức, một đời nếu chuốc lấy luống uổng tín thí nầy, nghiệp không thọ khác hay thử suy nghĩ.

Ban đầu sám hối: Là văn đầu giải thích tên. Trần lộ: Là trình bày đầu tiên. Hối là nhiếp phục, trong kinh Kim Quang Minh sớ giải thích phẩm sám hối, trong đó giải thích rộng tên gọi.

Sám gọi là Bạch pháp, hối là Hắc pháp, Bạch pháp còn phải Hắc pháp phải xả. Lại sám là cải vãng, hối là tu lai. Lại sám là trình bày tội. Hối là dứt nối tiếp.

Năm thể như trước đã giải thích, lại văn nầy chỉ là nói ý sám ấy, lời sám chép đủ trong Pháp Hoa Tam-muội, cũng có thể tùy theo trí lực của mình mặc ý trình bày rộng.

Kế khuyến thỉnh an, đại khái có hai ý.

  1. Thỉnh trụ ở đời
  2. Thỉnh xoay bánh xe pháp.

Trong Đại luận nói, v.v… Trong Đại luận mười lăm có giải thích đủ.

Hỏi: Pháp của Chư Phật, pháp nên nói pháp, cần gì khuyến thỉnh. Lại nếu Chư Phật hiện thấy ở trước có thể thỉnh Phật, nay không thấy làm sao thỉnh được?

Đáp: Phật tuy quyết nói mà không đợi thỉnh, thỉnh thì được phước, sao lại không thỉnh? cũng như Đại vương tuy nhiều thức ăn ngon, nếu có người thỉnh sẽ được ân phước, ghi chép tâm ấy cho nên có lợi ích như tu từ tâm, khiến chúng sinh vui, chúng sinh tuy không được vui, niệm thì được phước, thỉnh Phật cũng như vậy. Lại nữa, Phật pháp đợi thỉnh nói cho họ nghe, lại chúng sinh tuy không diện kiến Chư Phật, Chư Phật chẳng hề không thấy, tâm chúng sinh nghe những việc thỉnh. Tạm để Chư Phật không nghe không thấy thỉnh cũng được phước, huống chi nghe thấy mà không có lợi ích? Lại phá ngoại đạo khởi lời nói như vậy, tạo pháp thường định cần gì nói nhiều, ngăn lời chê bai, nên phải đội thỉnh. Lại ngoại đạo nói, Chư Phật không nên tham thọ trụ đời, vì ngăn chê bai nầy, cho nên phải thỉnh. Lại nếu không thỉnh thì cho là Phật ái chấp, khiến cho biết không chấp nên phải đợi thỉnh. Lại, các ngoại đạo đều không thỉnh nói, nên nay phải thỉnh.

Kế nói chuyển ở sau trụ đời, đều là văn luận, có các ý nầy nên phải thỉnh hai lần. Nếu Phật mới thành đạo trước chuyển bốn đế, nay vì cầu Viên giáo cho nên thông thỉnh. Mạng được trụ, v.v… nói chỗ chỉ khuyến thỉnh, cái gọi là thỉnh là thỉnh những gì, nghĩa là thỉnh Phật đại bi, không thỉnh sắc ấm, nếu đại bi chẳng dứt thì thân cửu trụ, nên nêu mạng nghiệp dùng dụ cho để thỉnh trụ, báo mạng như Phật ngã tâm như nghiệp. Lại báo mạng như sắc thân, nghiệp như tâm đại bi, ngã tâm thỉnh Phật không dừng, nguyên Phật đại bi trụ thế, biến hóa cũng vậy, khởi ý thần thông tùy tâm mong cầu, tâm mong cầu chưa dứt thì biến hóa chẳng ngừng, ngã tâm như Phật tâm thân như hóa, ngã tâm không dừng thì nguyện Phật không diệt. Lại thân Phật như hóa, đại bi như tâm, nguyên không dứt đại bi, thì sắc thân không diệt, nay ta thỉnh Phật như đuốc lửa lớn vì phá vô minh, ngã tâm không dứt thì nguyện Phật không diệt.

Kế là tùy hỷ: Phật xoay bánh xe pháp chúng sinh được lợi ích ba đời, ta giúp họ tùy hỷ, trước tùy hỷ khuyến thỉnh, quá khứ gieo trồng ở sau, hiện tại nghe nhiều lần được thành thục, lợi ích chưa gieo ở sau hiện tại thành chủng vị lại, mới được lợi ích, nên lợi ích ba đời đều do xoay bánh xe pháp, nên ta tùy hỷ chúng sinh được lợi ích. Trong Đại luận sáu mươi mốt chép: Tùy hỷ có hai thứ:

  1. Thế gian.
  2. Xuất thế gian.

Nếu người không có gốc lành xuất thế, nay ta tùy hỷ phước thế gian của chúng sinh, cho nên tùy hỷ chung ở hữu lậu vô lậu, đều gọi là phước. Lại phước đức là căn bản của Đại Bồ-tát, làm cho đầy đủ Bồ-đề, bậc Thánh khen ngợi, hành xứ của trí giả. Vô trí thì xa xứ, phước nhân duyên nầy sẽ được Luân vương, các vị trời cho đến trí Nhất thiết chủng, biết như vậy được chánh tri kiến, cho nên thấy phước mà sinh vui mừng, lại nữa ta phải cùng chúng sinh vui họ tự tu phước cho nên ta vui.

Lại nữa chúng sinh có thiện tương tự với ta là đồng bạn với ta, cho nên ta tùy hỷ. Lại nữa Đại Bồ-tát ở ba đời mười phương và Bồ-tát Nhị thừa tất cả tu phước, mà sinh vui mừng nên gọi là tùy hỷ, nếu không có phước đức thì không khác súc sinh, nhưng đồng ăn uống dâm dục tranh cãi, người tu phước được chúng sinh tôn kính, cũng như thời tiết nóng mà có trăng tròn trong mát, cho nên tùy hỷ. Trong Đại luận ba mươi hai nói như mua bán hương, v.v…

Hỏi: Vì sao tâm tùy hỷ hơn người Nhị thừa.

Đáp: Do tùy hỷ nên thiện đến với chúng sinh, quán chúng sinh đến chánh duyên liễu ngộ. Như phẩm Thường Bất Khinh trong Pháp Hoa. Bồ-tát Bất Khinh thấy các chúng sinh đầy đủ ba nhân, đều sẽ thành Phật, nên không dám khinh, nầy chỉ cung kính nhân ấy, ba nhân trong chánh nhân đầy đủ, huống chi từ thời vô thỉ có nghe một câu liền liễu nhân chủng, búng ngón tay, chấp tay tức gieo trồng nhân duyên, nên Bồ-tát nầy hễ thấy chúng sinh đều thọ ký cho, nhân đến thân hành hạnh bất khinh, v.v…

Trống độc: Trong Đại kinh quyển chín nói: Thí như có người dùng các thứ thuốc độc thoa vào trống lớn, đánh lên trong đại chúng khiến cho phát ra tiếng, tuy vô tâm muốn nghe nếu có người nghe thì xa gần đều chết, chỉ trừ một người không chết ngang, nghĩa là một người xiển đề vừa nghe liền sẽ phá vô minh hoặc gọi là cận tử, nghe những điều chưa nghe liền khởi nhân đời sau, gọi là viễn tử, các giáo các vị và kinh thời tiết để nói xa gần.

Trong Bốn niệm xứ chép: Nếu có người nghe xa gần không chết, nghĩa là chỉ phá kiến, tư, trần sa, trong Pháp Hoa tùy hỷ các pháp: Là trong phẩm Tùy Hỷ: Từ pháp tòa đứng dậy đến chỗ khác nói cho người nghe, người nghe rồi lại tùy hỷ chuyển giáo, xoay vần như vậy đến người thứ mười lăm so lường nghe pháp mà sinh tùy hỷ, nên nói pháp Tùy hỷ. Đại phẩm nói người tùy hỷ, trong kinh nói: Nếu người nghe tiếng có thể phát tâm thì ta cũng tùy hỷ, nghe tiếng người nầy tùy hỷ người kia gọi là tùy hỷ người, người phải có pháp, pháp phải nhờ người, nên nói xen nhau nêu. “Hồi hướng” do vì tùy hỷ phước cùng chúng sinh, cùng hướng đến Bồ-đề, Bồ-đề như văn.

Thí chúng sinh: Song tu nhân phước chẳng thể cùng được. Nếu khi được quả, thì đem phước nầy, thì cho chúng sinh. Cho nên Bồ-tát được bốn việc lợi ích lớn cho chúng sinh, lại tự mình được phước, thanh tịnh thân miệng người thấy vui mừng nói ra được tin nhận, khiến được mười điều thiện cho đến chủng trí, cho đến ngài Xá-lợi-phất khiến cho tất cả chúng sinh đắc đạo, cho nên quả báo cùng chung với chúng sinh. Nay trong nhân nói quả nên nói cùng chung. Nếu nói nhân phước chung với người khác, từ mới phát tâm tu các gốc lành đều cùng chúng sinh, lúc sau lấy gì làm nhân thành đạo? Do thể hiện pháp không thể cùng người, nên nay dùng thẳng vô úy vô não chỉ bày cho chúng sinh, dung thông sở đắc nên đến Bồ-đề. Vì thế trong kinh Tịnh Danh nói: Hồi hướng Bồtát là Tịnh độ của Bồ-tát, hồi hướng là lợi ích lớn, v.v… nên trong kinh Pháp Hoa nói Phạm thiên lập bày cung điện, đều phát nguyện rằng: Nguyện đem công đức nầy, v.v… như hồi thinh nhập giác, v.v… Trong Đại luận quyển hai mươi ba chép: Hồi hướng như có chút vật dâng lên vua, như “hồi thinh nhập giác”.

Hỏi: Công đức Bồ-tát cao siêu hơn Nhị thừa có gì đặc biệt.

Đáp: Nay nầy không đem công đức so sánh, mà chỉ đem tâm tùy hỷ hồi hướng mà so sánh, như người thợ khéo giỏi chỉ bày được giá trị gấp bội, người cầm búa dùng công lực gấp bội, nói mãi không hết. Tự hạnh Thinh văn như cầm búa, Bồ-tát dạy người thực hành hạnh hồi hướng cũng như người thợ giỏi.

Trong Đại luận hỏi: Vì sao gọi là Nhị thừa? Vì tự điều tự tịnh tự độ mà không hồi hướng.

Đáp: Giới là tự điều, thiền là tự tịnh, tuệ là tự độ, người Nhị thừa chỉ tu ba pháp nầy. Không thủ, v.v… giải thích đoạn trên ba cõi có bốn: Nghĩa là không chấp khổ, không niệm tập, không thấy diệt, không đắc đạo, ở trong bốn pháp nầy không phân biệt các tướng nhân quả thế và xuất thế, gọi là không phân biệt, như vậy gọi là chánh hồi hướng, thật tướng không chấp cho đến chẳng có phân biệt, có thể hồi hướng cho đến các vọng tưởng không sinh.

Trong Đại luận nói: Tâm Bồ-tát không. Có Đàn Ba-la-mật cho đến chủng trí, tất cả đều chẳng một tướng vô tướng như Phật đã nói, hồi hướng như vậy như tên bắn người khác chẳng có gì không trúng, do thấy vô tướng không thấy không được tất cả các pháp như. Có thể nói tâm hồi hướng, đã nói quả Phật của chúng sinh, như vậy năng sở và tất cả pháp, nhất tâm suy cầu đều không thật có, quên năng quênsở, như vậy tất cả các pháp hồi hướng, chẳng có gì không quy về thật, nên không thật có. Không rồi nay sẽ, v.v… ba đời suy cầu năng sở, đây không diệt không trụ, lại phát tâm vì mình, hồi hướng vì ngày nay chỗ hồi hướng là đương, trong chỗ hồi hướng cực quả là đương chúng sinh là hiện tại. Lại chúng sinh cũng có đương hiện, tức các chúng sinh gọi là hiện, cùng phước sẽ được gọi là đương, như vậy ba đời tất cảnh không thật có. Như Chư Phật ba đời sở tri, v.v… chỉ có một thật tướng là Phật sở tri sở kiến đã thừa nhận, ở trong năng tri tức chủng trí, năng kiến tức Phật nhãn, năng hứa tức bốn lời hoằng thệ và tất cả hạnh, nầy gọi là chân thật, v.v… như sở tri của Phật mới gọi là chân thật chẳng phải hướng về quả tạm, quả tạm luống dối, tức đối với quả phá tạng thông trông mong, nói tối thượng chẳng phải thượng của thượng trung hạ, tức chỉ bên Viên giáo gọi là tối thượng, tối thượng cho nên đầy đủ, đây là phá Biệt giáo. Thì không chê bai Phật, v.v… chấp quả Phật là có, cho đến phi hữu phi không, đều gọi là chê bai Phật, vì sao? Vì quả Phật phi hữu cho đến phi hữu phi vô, chẳng phải khổ nên không có lỗi, chẳng phải tập nên không ràng buộc, có đạo nên không độc, có diệt nên không mất, nầy y theo bốn đế vô tác là hồi hướng. Nói không có khổ tập chỉ có đạo diệt. Lại nói theo sự mà nói, lý tức khổ tập vốn là đạo diệt, sao chỉ có, v.v… Ba pháp trước nghĩa là sám hối khuyến thỉnh tùy hỷ, một pháp sau nghĩa là phát nguyện, trước sau đều nêu bày nay ý hồi hướng, y bốn đế vô tác mà không thấy đế, gọi là chân ngã hối, năng phát chân vị, nên dẫn dắt luận Bà-sa chứng thành ý Viên giáo, nên biết năm hối đều y theo vô tác, mới khiến sám hối thấy tội tánh vốn không, khuyến thỉnh biết pháp thân thường trụ, tùy hỷ rồi phước đồng chân như phát nguyện đạt được năng sở bình đẳng.

Kế nói phát nguyện.

Ban đầu giải thích tên nói như thừa nhận người và vật, v.v… là trong quyển y cứ sơ lược. Nói văn, v.v… sách để phân biệt dùng dao phán xét chê bai nên nói đó là khế hợp, nên chữ từ đạo, “ngự” là thị, là chủ tất cả các pháp dùng nguyện để chăm lo, do nguyên làm chủ, cũng gọi là dưới đến vật hạnh. Trong bốn hoằng thệ chúng sinh phiền não là ác, pháp môn Phật đạo là thiện, ngăn ác là gia trì, trì thiện là chung trì, các hạnh như thệ, nguyện như lửa. Đồ gốm là ngói gạch chưa nung, có thể mặc tình lợi tha gọi là thạnh vật, bốn hoằng là nguyện chung, v.v…, tất cả các nguyện bốn hoằng nhiễm hết, nên gọi là chung Pháp Tạng, v.v… Trong quán kinh Bi Hoa đều nói: Nhân Vệ-đà gọi là pháp tạng, ở chỗ Tự Tại Vương Như lai có hai trăm mười nước ức cõi Phật phát nguyện, lại trong Quán Kinh chép: Tỳ-kheo Pháp Tạng vì muốn nhiếp thủ cõi Phật, nên phát bốn mươi tám lời nguyện phát nguyện nầy rồi mặt đất phát ra sáu cách rung chuyển, được Phật thọ ký. Trong kinh Đại A-Vệ-đà chép: Khi làm Bồ-tát phát hai mươi bốn nguyện: Nếu không thành nguyện nầy thì không thành Phật, số nguyện không đồng, lộ khác kiến biệt, không cần cùng hội. Trong kinh Bi Hoa thì không có Biệt nguyện, nhưng nói là thủ cõi Phật, nên phát bốn hoằng thệ nguyện, nên biết tất cả Bồ-tát phàm phu thấy Chư Phật, không ở đâu mà không phát nguyện chung biệt nguyện riêng, nên trong đại luận quyển tám hỏi: Bồtát tu hành tự được tịnh báo, cần gì phát nguyện?

Đáp: Có phước mà nếu không nguyện, như trâu không người chăn thì không đến đâu được, như Phật đã nói: Không người nghe pháp như nhạc ở giữa cõi trời trong lòng lại suy nghĩ.

Hỏi: Nếu không nguyện: Là không được quả báo ư?

Đáp: Tuy được nhưng không bằng có nguyện, nguyện thì chẳng thiếu phước mà được quả rộng lớn.

Hoa Nghiêm: Trong tân kinh quyển mười bốn chép: Trải qua sự biệt nguyện. Lại trong Phạm Võng phát mười đại nguyện, mười ba thệ, trong Đại kinh Thánh hạnh văn nguyện rất giống, lại thứ mười bốn phẩm Phạm Hạnh nói, nếu thí thực, khiến các chúng sinh được đại trí ăn món ăn pháp hỷ ăn món ăn Bát-nhã, nếu khi thì nước khiến các chúng sinh đến sông Niết-bàn uống tám vị nước, được vị cam lồ, theo đây nêu bày và Hoa Nghiêm, v.v… tùy cảnh phát nguyện tùy theo trí lực của mình, cần gì như văn, nếu có văn thì may mắn y theo Phật nói, các văn như thế đều là biệt nguyện, nay trong năm hối nghĩa bao gồm chung riêng, nên biết năm hối chẳng phải thích nghi của hạnh nhỏ.

Như trong Kinh Di-lặc Vấn: Đức Phật bảo A-nan, Đức Di-lặc thuở xưa không tu khổ hạnh, chỉ tu đạo phương tiện khéo léo an lạc, tính tập Vô thượng Chánh Đẳng Bồ-đề. Ngài A-nan nói: Thế nào gọi là phương tiện khéo léo?

Đức Phật nói: Ngài Di-lặc khi xưa hành đạo Bồ-tát, ngaỳ đem sáu thời siêng tu năm hối mà được Bồ-đề, trong kinh ấy văn hối có hai mươi ba hạnh, cũng không nêu bày riêng lời câu năm hối, nhưng thường thỉnh Phật thường nói hối, còn ba pháp cũng vậy, như nói có tội ắt sám hối, phước nầy đều tùy hỷ, nay con thỉnh Phật, nguyện Thánh trí Vô thượng, nếu theo đây nêu bày chưa chắc mỗi đều nói, nhưng người tu hành trí kém, tâm duyên khó đúng, nên phải một phen y cứ, như trong luận Bàsa bốn hối tuy nghi thường của tăng, cũng phải khéo ý kia dùng làm vận niệm, đủ như trong nghi Nam Sơn Chánh Hạnh có chú giải, từ nay ở đạo tràng, chung kết ý hối, đều vì phá tội, xưa gây ra đại ác, ba nghiệp đều nặng, nên nay sám hối ba nghiệp đều vận dụng, phát tâm mạnh mẽ mới phá đại ác, khuyến thỉnh phá tội chê bai pháp, cũng nên trước nói sám hối các tội ở nghiệp giá tánh, văn thiếu nghĩa đủ.

Văn kế: Xưa nghe các pháp mà sinh phỉ báng nay thỉnh Phật nói khiến tất cả nghe, cho nên tội lại chê bai pháp. Tùy hỷ phá tội ganh ghét, xưa đối cảnh sinh ganh tỵ, nay tùy hỷ tất cả nên được lại phá tâm xưa ganh ghét, hồi hướng phá các tội, xưa làm phước nhưng thuận theo sinh tử, vì các hữu nhân không thể tự miễn, đâu thể khiến người khác há hữu nhân, nay đủ hai hồi hướng tự miễn, miễn cho người, cho nên hồi hướng, thuận môn Niết-bàn, nên nói thuận không, vô tướng, v.v… Cũng nên nói: Người phát nguyện phá tội tà nguyện, tức dẫn bốn pháp trước khiến đến chỗ ở. Nếu có thểcó thể ở sau chánh giải thích vị Viên giáo, ở giữa ban đầu nói rõ công năng năng nhập phẩm vị của năm hối, do năm pháp nầy giúp khai phẩm đầu, cho đến nhập trụ, xa do năm pháp nầy, văn phẩm trước đều chánh giải thích.

Kế dẫn chứng minh giải thích, phẩm đầu dẫn văn, y cứ phần văn, chính là văn của bốn tín hiện tại. Nói bốn tín là:

  1. Niệm tùy hỷ
  2. Giải ngôn thú ấy
  3. Nói rộng cho người nghe
  4. Tin sâu quán thành.

Cùng với Phật diệt đầu tiên của năm phẩm, hai chỗ tùy hỷ văn nghĩa rất đồng, nên nay xen dẫn để chứng minh phẩm đầu, phẩm thứ ba dẫn trong văn. Nói không phải xứng chùa tháp, v.v… phẩm thứ ba nầy quán hạnh. Vả lại do nói pháp tăng thêm quán tâm, quán tâm thành tựu, mới thành thứ tư, thứ tư chưa thể sự lý tức nhau nên nói bàng hành đến phẩm thứ năm sự lý không hại, nên nói ngay người khởi lập thêm lớn. Cúng dường khen ngợi chúng tăng Thinh văn, cho đến đủ sáu, đâu chấp thứ ba hằng khiến bỏ việc đâu chấp một đại khái trong pháp chấp năm khiến cho thực hành, nên người tu hành phải khéo giáo ý, nhập phẩm thứ năm, làm việc chưa muộn, hành nhân sơ tâm phải dùng năm pháp nầy khéo tự điều phục, quả thật biết tiến hay phải dừng nên thực hành. Lại mỗi phẩm trong năm phẩm khiến tu năm hối, huống chi là người thường ư? Vì trong mỗi phẩm đều có chướng, cho nên trong Bốn niệm xứ lấy năm phẩm nầy suy xét năm pháp quán dừng tâm, vì phòng sơ tâm, tướng ấy thế nào, ba tạng đầu dạy dùng sổ tức để ngừng dứt tán loạn, nay vì tùy theo lý trừ ở nghi tán, ba tạng dùng quán bất tịnh để dừng tham, nay do đọc tụng, dứt trừ tạp nhiễm, ba tạng dùng từ tâm trừ sân, nay do nói pháp, thầm trị pháp thân, ba tạng dùng nhân duyên trừ si, nay dùng sáu độ tối tăm trị vô minh, ba tạng dùng niệm Phật dứt trừ chướng, nay dùng lý quán từ ở sự tướng, nếu vậy chung riêng làm sao?

Đáp: Trong Biệt giáo chỉ dùng hại hạnh giới định mà định tâm kia trong Thông giáo có năm, nên quán sở tức, v.v… không sinh không diệt mà làm dừng tâm. Nếu vậy ở sau nói đồng khác. Lại nữa, ở sau y cứ ấm giới nhập để nói vị kế, trước tuy y cứ giáo để nói vị Viên giáo, nay lại y cứ phàm thánh để nói vị năm ấm. Nói năm chủng nhân là quả địa Nhị thừa và ba giáo sau dứt hoặc Bồ-tát sinh giới ngoại, sau vị nầy đã đối với bốn đức dùng làm ngôi vị Phật, nên biết Phật nêu ra đều thuộc ba thứ Bồ-tát. Cho nên phẩm kế nói vị ấy, ở trong đó kế nói ngôi vị Thập tín năm phẩm đã viên phục được năm trụ, há đến vị nầy riêng dứt kiến tư, chỉ là viên tu thô hoặc dứt trước, cũng như luyện sắc thô cấu trừ trước, v.v… người không thấy lại cho rằng Pháp Hoa sáu căn là viên, nhân vương trường biệt ba cõi là tiệm, đã nói kinh Pháp Hoa là tiệm đốn, làm sao giải thích vị tức là đốn đốn, huống chi là sở dẫn nhân vương bổn chứng Pháp Hoa, làm sao ly khai phân thuộc hai món lại trừ vị viên, rồi tất cả các vị không có Thập tín phá kiến tư, so sánh giải thích viên tín đủ như văn Bốn niệm xứ, nay văn chỉ lược giải thích Sơ tín mà thôi, nay y theo giới Bồ-tát sớ giải dùng mười pháp Thánh thừa so đối Thập tín, lại dùng mười pháp ngang nhập Thập tín. Nói dọc đối: nay văn Sơ tín dùng đối với cảnh.

Kế tu từ bi để đối niệm tâm khéo tu tịch chiếu để đối với tấn tâm, khéo tu phá pháp tức nhập tuệ tâm, khéo tu thông bít, tức nhập định tâm, khéo tu đạo phẩm, nhập tâm bất thối, khéo tu chánh cần nhập tâm hồi hướng, khéo tu các vị nhập tâm hộ pháp, khéo tu bất động tức nhập giới tâm, khéo tu an nhẫn, thì nhân tâm nguyện, nay văn chỉ quán thiếu không có thứ lớp và tên khác nhau, nay nói Đà-la-ni, tức bất thối ấy, còn không có thứ lớp chỉ toan nêu bày văn giới sớ, so sánh rất dễ thấy. Nói nhập ngang là mỗi tín tâm đều đủ mười pháp, nên trong kinh Anh Lạc nói: Một tín có mười, mười tín có một trăm.

Lại trong Bốn niệm xứ nói: Năm phẩm đều có mười pháp thành quán, năm phẩm còn như vậy huống chi Thập tín, cho nên Mười tín đều đủ mười pháp, cho nên đến Sơ trụ chuyển gọi “Mười đại”.

Kế nhập ở sau vị chân, trong Bốn niệm xứ và giới sớ Bồ-tát, đều nói lược Sơ trụ trở lên Viên giáo Thánh vị, cũng lược ghi chép. Vì sao?

Ban đầu phát tâm trụ ba món khai phát tức chánh duyên liễu, là nói ba pháp cảnh trí hạnh tương ưng cho nên gọi là phần chứng ba đức, nên trong kinh Hoa Nghiêm nói: Tất cả công đức Sơ trụ Chư Phật ba đời đều khen ngợi không thể hết, khi mới phát tâm lại thành Chánh giác, rõ đạt tánh các pháp chân thật, những việc nghe pháp không co người khác ngộ.

Kinh Tịnh Danh chép: “Biết tất cả pháp đây là ngộ đạo tràng”. Trong Đại Phẩm nói: Sơ phát tâm ngồi đạo tràng. Chữ “a” là môn, v.v… đều là vị tướng Thập trụ bên Viên giáo, nếu vị Thập địa của Biệt giáo mới đồng với Thập trụ Viên giáo, nên trong kinh Anh Lạc nói, Sơ địa một phân pháp thân vô tướng, trí hạnh thành tựu, trăm muôn A-tăng-kỳ công đức, song chiếu hai đế, v.v… đủ như trong quyển ba có dẫn, cho đến Đẳng giác công đức khó nghĩ bàn, chỉ y cứ hóa đạo để nói công dụng, như Sơ địa trăm cõi Nhị địa ngàn cõi cho đến muôn ức các cõi, hiện thân cũng vậy, sau Thập trụ Thập tín lại tăng thêm mười phần, lại mười lần trí đoạn phá mười phẩm vô minh, niệm niệm lưu nhập bình đẳng biển pháp giới, các pháp Ba-la-mật nhậm vận sinh trưởng, gọi là Thập hạnh, sau Thập hạnh là đạo vô công dụng, chân minh lại tăng thêm mười lần khai phát, nguyện hạnh sự lý tự nhiên dung hòa, hồi nhập biển pháp giới bình đẳng, lại phá mười phẩm vô minh, gọi là Thập hồi hướng, sau hướng lại phá mười phẩm vô minh, đạo vô công dụng cũng như đại địa sinh ra tất cả công đức, gánh vác tất cả Phật pháp, gánh vác chúng sinh pháp giới, nhập ba đời Phật trí địa, sau địa quán suốt nguồn gốc vô thỉ vô minh, bờ mé trí mãn rốt ráo thanh tịnh, dứt cùng tột nguồn vô minh nhỏ nhiệm sau cùng, lên đảnh núi Trung đạo cùng cha mẹ vô minh phân biệt, nầy gọi là hữu sở đoạn, có tên thượng sĩ gọi là đắc giác vị, vị nầy hậu tâm rốt ráo giải thoát Phật trí Vô thượng. Vô sở hữu đoạn, gọi là Vô thượng sĩ mười pháp đến nầy mới được gọi là đại, gọi là lý đại nguyện đại, trang nghiêm đại trí đoạn đại, biến tri đại đoạn đại, dụng đại quyền thật đại lợi ích đại vô trụ đại, thứ lớp để đời mười pháp thành thừa, giải thích tên gọi so sánh nghĩa cũng có thể hiểu.

Thứ chín an nhẫn chặng giữa ban đầu cũng là pháp trước.

Kế dụ cho; Sau hợp; trong pháp ở đầu nói: “Hiệp” là nói. Trong dụ kế nói: Mũi nhọn, v.v… lại lấy sương bay mà dụ với mũi nhọn, thông khéo ở cái nghe tâm minh mẫn với sự.

“Duệ” là trong văn nói: Hiểu sâu, là trí, là dụ quá là vượt.

Sớ là ghi; Đổng là chảy nhanh, tức là thấu suốt, cũng là sâu xa. “Hoài” là “cõi” trong kinh Thơ nói: Ta an ủi là âm tốt, “Thuật” là nghệ thuật của đạo. Thiền sư Nghiệp Lạc: Nói Thiền sư Nghiệp ở Tương châu tức kinh đô của Tề Ngụy, là nơi Phật pháp rất hưng thạnh, một vị vua của Thiền tổ hóa trị nơi ấy, được lòng người đương thời mà ý không muốn nổi tiếng. “Lạc” tức “Lạc Dương”, “quần” là “bạn” là “bối”. Võ Tân khen rằng: Đại sư Nam Nhạc là người ở Võ Tân Trần Châu Hạng, Võ Tân là địa danh, trong truyện nói Ngài lãnh chúng rất sớm. Nhưng nói có Trí Đoạn sư thưa hỏi những chỗ nghi của thiền, Ngài suy nghĩ nhân đó vì Trí Đoạn mà nói pháp môn Thập địa tâm mắt của sư rất lạ.

Sư Trí Đoạn nói: e giai vị Thập địa của Sư.

Sư nói: Ta là Thiết luân Thập tín, đúng là người mới học truyền nghe lạ, người viết văn nguyện văn ấy đang hiện hành, nhưng văn dẫn có bốn cách phân biệt, có người so sánh văn nầy với ba thuật, chẳng những thường không tương đương, mà cũng chính ý văn thường có khác nhau. Ba thuật là mật ý của Thiên Thai, bốn trạch là văn nguyện của Đại sư Nam Nhạc, dẫn văn so sánh với nầy e chưa tiện, nay nói Đại sư dẫn ra ý, dùng để răn dè người học đời, sau phải khéo quyết trạch, siêng năng không thôi nói bốn độ, cho nên Đại sư Thiên Thai chỉ ngài Nam Nhạc là người cao siêu, nêu ra răn dè thâm sâu để làm phép tắc cho người sau, người học đời sau hãy lấy đó làm gương soi, gương soi có công năng chiếu soi hình không ngay.

Kế dẫn Đại luận, Bồ-tát ở núi sâu, v.v… Trong Đại luận quyển mười chín giải thích trong Thiền độ.

Hỏi rằng: Đại Bồ-tát nên giáo hóa chúng sinh thành Phật sự, mà vì sao ở trong núi sâu tự tu tỉnh là trái với thực hành từ bi lợi tha?

Đáp: Thân tuy xa lìa mà tâm không xa lìa, cũng như người bệnh uống thuốc để thân mạnh khỏe, sau đó mới trở lại sự nghiệp hoằng hóa.

“Khang” là “an hòa”, Bồ-tát cũng như vậy, uống thuốc Bát-nhã bệnh phiền não tiêu hết pháp thân khỏe mạnh bình phục, làm việc giáo hóa chưa muộn, cho đến sáu căn, v.v…: ở đây nói ban đầu nương cực vị sau cùng, chung năm hoặc trước đều thuộc nương ban đầu, cho nên trong Đại kinh nói: có tánh phiền não có thể biết tạng bí mật của Như lai, vô minh hoàn toàn ở danh đầy đủ phiền não, đại tượng ngăn cách, v.v… tức là do chín hạnh gọi là đại tượng, không đồng với văn trước đối trị trong văn, nhưng do ba ký gọi là đại tượng, không sợ sinh tử gọi là ngăn cách, “Hãn” là “Vệ” cách nên từ đất trong Kinh Lễ nói: Phát rồi sau cầm thì ngăn cách mà không cao siêu: Trong chú giải chép: Ngăn cách là bền chắc mà không thể vào, từ cây từ tay đều chẳng phải ý nầy, trước dùng năm phẩm là tiểu tượng, nay lại dùng sáu căn là đại tượng, đã lìa giới ràng buộc tự tại khả năng kham nhận, phiền não không nhiễm như dao tên không lập bày, chủng trí hóa vật như ánh sáng mặt trời chiếu thế giới, vật từ vô thỉ khổ cũng như băng lâu dài, căn cơ thuần thục được lợi ích gọi là tự trị, “tượng” dụ hiện thân ứng hiện đời lợi vật, nếu được danh dự, bị ba việc làm nghiêng đông hư hoại, hai việc trước như ngăn một khiến quán pháp tàn diệt gọi là nội xâm, quyến thuộc như tập khiến các hạnh phá hoại, gọi là nhánh lá ngoại tận, cũng như ngoài cây đại thọ các loài chim nhóm họp bên trong các loài trùng bò cạp cắn rỉa cây sẽ chết, sâu mọt là loài trùng hại vật, cũng nói trùng ăn quế. Nói ba thuật:

Như văn trên tự nêu bày:

  1. Không thọ, không chấp
  2. Thiếu đức hiện bày dấu vết
  3. Một phen nêu muôn dặm

Trong ba thuật: Nghĩa là thông giả tung, ngoại chướng là nhuyễn tặc nghĩa là danh dự; nội chướng là cường tặc nghĩa là phiền não, v.v… cho nên trong ngoài dùng thuật khác nhau, “luân” là “một” chìm đắm; Tỳ phụng là gió mạnh, gió nầy ở ngoài núi Thiết Vi. Nếu không có núi Thiết Vi thì khởi núi Tu-di, cũng như có thối nát, nên dẫn ra để so sánh, văn nêu bên thiền thiếu ác là đầu mối trái thuận, nên biết trái thuận chưa được lãnh chúng. Như trong Di-sa-tắc, Đức Phật nhân Điều-đạt lãnh chúng bèn dẫn việc mà nói: Xưa có vị tiên ở trong núi đọa sách Sát-lợi, có một con chồn lại đọc, tự suy nghĩ rằng: Ta hiểu sách nầy đủ làm vua loài thú, do đó ra ngoài đi dạo, bắt gặp một con Cáo mà nó muốn giết, con Cáo bị vây nói: Vì sao gặp tôi lại giết?

Dã hồ nói: Ta là vua loài thú, ngươi không phục ta nên ta phải giết ngươi.

Con Cáo nói: Ông chớ giết tôi tôi sẽ theo ông, như vậy lần lựa phục đến các loài sư tử, phục sư tử rồi lại khởi niệm, nay ta lại không lấy thú làm vợ, bèn dẫn các loài thú đến vây quanh nước Ca-di, trăm ngàn muôn vòng.

Vua sai sứ hỏi: Sứ về đáp lại ý, các thần đều chấp nhận, chỉ có một thần nói: Từ xưa đến nay, chưa từng thấy Nhân Vương lấy con gái gã cho thú, thần muốn phải giết con Cáo nầy.

Vua hỏi làm thế nào?

Thần này nói: Sai sứ khất cầu một kỳ ước, ắt khiến cho Sư tử đánh nhau trước sau đó rống lên, Cáo cho rằng chúng ta sợ Sư tử rống, sẽ cho Sư tử rống trước sau mới đánh, mà nếu Sư tử rống các thú sẽ chạy tán loạn, vua y theo lời thần tính, đến ngày ra quân sự việc quả như đã tính, loài Cáo vừa nghe tiếng Sư tử rống, tim bể thành bảy phần, bị voi đạp mà chết, các loài thú đều chạy, Phật nói bài kệ rằng:

Dã hồ rất kiêu mạn

Ham muốn cầu quyến thuộc

Đi đến thành Ca-di,

Tự xưng là vua thú.

Người kiêu mạn cũng vậy

Hiện đời lãnh đồ chúng

Ở nước Ma-kiệt-đề.

Chư pháp dùng tự hiệu.

Sớm lãnh chúng cũng vậy,

Danh thành tổn mình lợi,

Ích người khác càng ít.

Trang Tử nói: “Danh” là món đồ của công, chẳng thể lấy nhiều, “đồ gốm am hoa” là đều ở trong Đại luận, dụ dùng sơ tâm “đôi” là đống đất. Nếu làm chữ “đôi” nghĩa cũng chung ở “đôi phụ”.

Hoa Yêm-la là nhiều hoa mà ít trái, nếu được ý nầy không cần phải chín cảnh, nếu có thể đối với ấm cảnh nầy an nhẫn, thì được nhập căn thanh tịnh, cũng lìa hai cảnh Bồ-tát Nhị thừa, huống chi là bảy món phiền não, nên y cứ người nầy không cần nói lại chín cảnh sau, không nhẫn trái thuận nên chín cảnh sinh, trái tức là ác, thuận tức là thiện, đủ như văn trước xen nhau phát hiện phán xét chặng giữa có các tướng thiện ác, nên biết thượng căn chỉ quán âm cảnh cho nên ấm an nhẫn không thuận, chín cảnh ở sau.

Mười trong không có pháp ái, thực hành chín việc trên việc qua các chướng trong ngoài, trong ngoài như hướng phân biệt, an nhẫn nầy rồi, đã nhập sáu căn, không được phát chân, vì do trụ chấp, chấp pháp tương tự gọi là đảnh đọa, nên Thông giáo trải qua bốn giáo, nói nghĩa đảnh đọa.

Văn đầu lại nương ba giáo đảnh đọa, bắt đầu đã không nhập vị khứ, là chánh nói nghĩa đảnh đọa của văn nay.

Ban đầu nói đảnh đọa của ba tạng, chép đủ như trong luận Tỳđàm có nói, trong văn trước phân biệt chẳng phải ngôi vị đảnh đọa, nghĩa là như một bề lui sụt thì không gọi là đảnh đọa, Nhẫn vị qua đảnh lại không gọi là đọa, ở giữa hai vị trụ đảnh gọi là đọa. Vì sao? Vì năm căn nhẫn vị lại không xuất quán, nhẫn trên phát chân cho nên không đọa, ở trong đảnh pháp phần nhiều sinh tâm ái, thì nên nhập đảnh mà không đắc nhập, vì lui sụt đảnh nên tạo ở trong nghịch, được gọi là đọa, đảnh đọa bên Thông giáo nêu bày ở đây nên biết đảnh vị Biệt giáo ở trong Thập hạnh, nên không có nghĩa đọa, nhưng chưa có nhân địa gọi là đảnh đọa, cuối cùng không gây ra lỗi.

Trong Đại luận nói: Ở sau nêu ra vị Viên giáo tương tự hữu ái, người đời nay ở sau nay nói về Viên giáo đến khi Thập tín, hoặc sinh tâm ái không nhập Sơ trụ mà sáu căn tịnh định vị không đọa tiểu, thì do trụ đảnh gọi là đọa chẳng phải thối đọa. Vì trong sáu căn không có nghĩa thối, huống chi lại có tạo trọng nghịch ư? Nên đảnh đọa nầy khác với Tạng giáo, Thông giáo ở trước, nên trong Đại luận quyển ba mươi nói nghĩa đảnh đọa có hai thứ khác nhau:

  1. Đảnh thối gọi là Đọa.
  2. Trụ đảnh gọi là Đọa.

Trong giáo Tiểu thừa, tuy đủ hai nghĩa trụ đảnh phần nhiều thối, cho nên nay Viên giáo kiến tư đã rơi rụng chỉ có trụ đảnh một nghĩa đọa.

Trong Đại luận quyển bốn mươi hỏi: Đảnh không lễ đọa, vì sao nói đọa?

Đáp: Đưa ra cận lẽ ra đắc mà lại mất, gọi là Đọa. Nếu được đảnh thì trí tuệ an ẩn, không sơ đọa, đâu theo nghĩa đầu, dùng thối làm đọa, nếu nghĩa thứ hai chỉ dùng trụ đảnh không tiến không lùi gọi là đọa đây thì Thập tín sơ tâm cũng gọi là nhu, nay chỉ quán ở sau chung kết chỉ bày, ban đầu từ cảnh mầu cuối đến lìa ái, hạnh giải đầy đủ, chánh trợ không thiếu. Đã tiễn đi là đến ở Sơ trụ, nhập vô công dụng tự có thể tiến đạo, nhập trụ trở đi nay văn không nói đến, nên nói đồng với nầy. Trong các kinh luận Sơ trụ trở lên, phần nhiều nói tướng giúp Phật hóa tha, lại không chọn lựa luận ở tự hành, cho nên nay nói công đức nhập trụ đã không nói đến, nay ý lại đến đời sau tu hành, sau phải nói lại, đến cảnh Bồ-tát, lại phải nói rộng, cuối hạ không nói ở sau không luận đến, bắt đầu từ đầu quyển năm đến đây, chánh đáng nói pháp, nói mười pháp cảnh ấm thành thừa xong, mười pháp nầy kế ở sau dần đại xa trong kinh Pháp Hoa, để dụ cho mười pháp.

Ban đầu lược nêu; kế nêu bày văn kinh; kế nữa hợp, kế nữa kết, lại thuận thứ lớp của kinh lại không nương thứ lớp mười pháp, nay dùng mười pháp tùy theo so sánh đầy đủ. Cảnh đại xa cao, rộng không thể nghĩ bàn, từ bi ngăn che, giây báu xen nhau liền phát tâm, đặt để gối đỏ, gối có trong ngoài, hoặc trong xe gối ngừng nghỉ các hạnh, tức an tâm, hoặc gối ngoài xe hoặc động hoặc tịnh, động tịnh chỉ là nghĩa thông bít, phá bít còn thông ngay bít mà thông, mau kia như gió tứ phá vô minh, là phá nghĩa biến.

Trong Đại Phẩm chép: Pháp ái khó dứt, cho nên xứ xứ nói phá vô minh Tam-muội, bắt đầu từ dê trắng cuối đến bằng thẳng, nghĩa đạo phẩm, lại phần nhiều là đi từ chánh trợ, trong bài tụng nói “Tân tùng” là lễ, dẫn dắt.

Lại nói, đội bên. Đạo ở bốn phương, tức vị kế an nhẫn lìa chấp ở đầu vị kế, cho nên thân lại nữa kết vị, bắt đầu từ sơ tâm cuối đến rốt ráo, an nhẫn chỉ là nhẫn ở năm phẩm hai cảnh trái thuận, khiến nhập sáu căn, lìa ái chỉ là lìa trong sáu căn tương tự pháp ái.

“Uyển duyên” trong Bì Thương nói “uyển” là áo xiêm gấm, “Diên” là chiếu, nên làm chữ “Diên”, chữ “Diên” đây là mũ cho Thiên tử gọi là “Diên” cũng nên dùng chung. Lại vị kế chỉ là giai cấp của hạnh, e hạnh sinh lẫn lộn, nên ở trong vị kế Biệt giáo nêu ra năm phẩm, sáu căn thanh tịnh.

Khuyên lệ hạnh: Là khiến cho lìa ái lìa chướng, nên biết bảy pháp trước chánh nói thể xe cho đến độ đủ, ba pháp sau chỉ là sở thiệp của thừa, nếu không có sở thiệp thì nghĩa vận không thành tựu, cho nên mười pháp gọi chung là thừa. Kế kết vị: hễ có tâm là đủ ba phép bít, ba phép bít nầy thông ở lục tức, lý tánh thể xa độ đủ giúp thành, trâu trắng quán chiếu ở một tâm niệm, tức là lý tánh, nghe danh khởi quán gọi là đồng ban cho, các thừa thừa nhận vị khác nhau, nên có quán hạnh tương tự đẳng biệt, cho đến bôn phương thẳng đến đạo tràng đạo tràng còn có hiệu quả thừa, cho nên nghĩa nhân quả thừa chẳng phải không, người đời nay ở sau phân tích tá, thiết” là giả thiết. Chữ “tá” là tư phản tạ, nếu mượn tên thừa, chỉ là tà thừa, thừa vốn lấy vận tải thành nghĩa, tà pháp không vận tải nên gọi là “tá”, đã là tà pháp không ngoài các chấp, các chấp có đủ sáu mươi hai kiến chấp, từ chánh pháp đến sau hiển bày chánh, chẳng đồng với ác không, nên nói là chánh pháp, chánh pháp ngăn tà nên nói đại Thánh, không thể hoại nên gọi là Kim cương, đầy đủ các pháp gọi là Bảo tàng. Cụ túc nghĩa là giải thích bảo tàng, vô quyết là giải thích Kim cương, như diệu thừa nầy đâu đồng với ác không, cùng mà nói chỉ có thể xa, đã không đủ độ nên gọi là “ngốc”. Đoạt mà nói là thể dụng đều phi nên gọi là “ngốc” vì thế dẫn trong Đại kinh thừa là thứ xe lửa chẳng những thiếu trâu trắng Bát-nhã là sở thừa của lửa, nhậm vận chẳng phải chánh nên chẳng phải cao rộng. Lại nói hoại đều không trang nghiêm, huống chi là khởi chấp vào ba đường ác. Ngồi thẳng quán ấm giới nhập xong.

Chỗ nói rằng: Ngồi thẳng há cách các nghi, trong bốn Tam-muội thường để ở đầu, cho nên trước nói ba pháp thường hành, v.v… cũng có thể dùng chung, các duyên đối cảnh tự nhiếp ba pháp khác, cho nên lại phán xét dùng làm ngồi thẳng.

Hỏi: năm ấm đều ở quán ngồi thẳng ư?

Đáp: Ấm chung ba tánh không cách các nghĩa, văn trước lại nói dụng quán ngồi thẳng, các nghĩa ở sau các duyên đới cảnh.

Kế nói các duyên đối cảnh, bài tựa trước nêu ra ý.

Kế ở sau chánh giải thích, chánh giải thích trong văn trước nói các duyên.

Kế nói đối cảnh, y cứ trong duyên. Ban đầu ở hành duyên nói đủ mười pháp.

Kế là y cứ ở sau kết ý; kế hành duyên đã vậy ở sau nêu năm duyên; kế ba pháp Tam-muội ở sau giải thích nghi; kế là xưa có Quốc vương, ở sau dẫn chứng, nên trong Đại luận quyển hai mươi chép: Xưa có vị Quốc vương đi dạo trong vườn, sáng thấy rừng hoa sum suê đáng yêu, ăn rồi nằm nghỉ, phu nhân thể nữ đều bẻ hoa, cây rừng gãy, vua thức dậy thấy việc ấy, ngộ tất cả pháp đều vô thường, suy nghĩ như vậy, ngộ Bích-chi-phật, phước đời trước đã sâu dày, nhờ chút nhân duyên dễ được quả Thánh.

Kế so sánh trong cảnh trước cũng y cứ theo nhãn sắc, đầy đủ mười pháp; kế nêu bày các căn, trong cảnh đầu kế kết thường dẫn nêu bày dẫn chứng kết phi. Nếu cảnh quán ở sau không thể nghĩ bàn.

Ban đầu dẫn kinh lập chung ba trí năm nhãn; kế giải thích riêng ba quán, trong giả quán nói: Ngoại đạo đánh đầu lâu thành tiếng. Trong kinh tăng Nhất A-hàm nói: Đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, cùng năm trăm vị Tỳ-kheo từ tịnh thất xuống núi Linh Thứu, cùng với Phạm chí Lộc Đầu, đến rừng Đại Úy, lấy trao đầu lâu người chết cho Lộc Đầu mà nói rằng: Nay Phạm chí nầy nói các ngôi sao bao gồm thầy thuốc hay, khéo hiểu các tiếng biết nhân duyên chết.

Hỏi: Đây là đầu lâu của ai?

Đáp: Của người nam.

Hỏi: Vì sao chết?

Đáp: Các bệnh nhóm họp năm trăm lóng đốt đau mỏi nên chết.

Dùng thuốc gì trị? Ha-lê-lặc hòa với mật trị sẽ không hết.

Lại hỏi: Sinh ở chỗ nào?

Đáp: Sinh vào ba đường ác.

Lại đánh một đầu lâu hỏi là ai?

Đáp: Người nữ.

Hỏi: Bệnh gì chết?

Đáp: Mang thai chết.

Có thuốc gì trị?

Uống bơ đề hồ.

Sinh vào chỗ nào?

Trong loài súc sinh.

Lại lấy một đầu lâu đánh, hỏi: Vì sao chết?

Ăn ít quá chết.

Có thuốc gì trị? Ba ngày tuyệt thực Sinh ở chỗ nào?

Sinh vào loài ngạ quỉ, vì tưởng là nước.

Lại lấy một đầu lâu đánh. Hỏi: ai đây?

Người nữ.

Vì sao chết?

Vì sinh chết.

Sinh ở chỗ nào?

Trong loài người.

Lại đánh một cái đầu đâu. Hỏi: Vì sao chết?

Bị người hại chết.

Sinh ở chỗ nào?

Sinh ở cõi trời.

Phật nói: Bị người hại chết sẽ đọa trong ba đường ác.

Lại đánh một đầu lâu nói: Người nầy giữ mười điều lành, lại bị chết đói, người sinh lên cõi trời không có việc đó.

Mỗi câu đáp lời Phật, Phật đều bảo rằng: Như ông đã nói: Phía Nam núi Hương có Tỳ-kheo Ưu-đà-diên, vào cõi Vô dư, Đức Phật đưa tay lấy đầu lâu, hỏi: Sinh về cõi nào?

Không có gốc chẳng phải nam chẳng phải nữ, không thấy chỗ sinh, chẳng thấy đi lại qua khắp tám phương, đều không có âm thinh, chẳng hay là ai.

Phật nói: Thôi thôi, lại hỏi lại Phật, Phật đều đáp đủ.

Lộc Đầu khen rằng việc này chưa từng có, ta quán sát con kiến, con biết xuất xứ âm thanh chim thú và thú còn phân biệt được trống mái, quán sát vị La-hán nầy không thấy chỗ sinh, chánh pháp của Đức Như lai rất đặc biệt, chín mươi lăm đạo ta đều có thể biết, pháp của Như lai không biết thú hướng, cúi xin Đức Thế tôn nghe đạo kế. Đức Phật nói “thiện lai” liền đắc quả Vô học, nghe tiếng đã vậy, các trần cũng vậy, pháp của ngoại đạo nghe chết xương tiếng có thể thấu suốt được việc xa. Bởi trong tiếng vốn có đủ các pháp nên khiến ngoại đạo được chút phần kia, thầm nương nhật dụng hằng ngày mà không biết, huống chi nay diệu quán quán thẳng bổn lý, lý đủ các pháp, không đáng nghi ngờ. Trung quán như văn, tuy không có ở sau giải thích thành năm nhãn.

Kế dẫn hai kinh để chứng minh; kế kết thành nhất tâm; kế nói xen dùng, hỏi đáp đều như văn. Trong dẫn chứng ngài Tịnh Danh nói: Không có tướng, v.v… nêu sáu tác chặng giữa ban đầu hành duyên, không thấy tướng, v.v… là nêu sáu thọ, chặng giữa ban đầu thấy sắc, phải biết căn trần không đâu chẳng phải pháp giới, nên nói bất lai mà lai, v.v… như trong Bốn niệm xứ dẫn Duy thức chép: Nói Duy thức: Duy là một thức, lại chia ra hai thứ: 1- Phân biệt 2- Vô phân biệt.

Phân biệt thức gọi là Thức thức. Vô phân biệt gọi là trợ trần thức, tất cả thế gian đều là sở thành của Tợ trần thức, ba món vô tánh và các pháp sắc tâm xưa nay không hai, pháp đã phân ở hai thức, nêu bày cũng phân ở hai sắc.

Hỏi: Sắc và thức vì sao đồng và khác?

Đáp: Nếu sắc tâm đối nhau thì có sắc có tâm, nói về thể tánh ấy thì lìa sắc vô tâm, lìa tâm Vô sắc. Nếu tướng sắc tâm tức hai thì có hai, một thì đều một, cho nên trong Viên giáo nói cũng nên được nói duy sắc duy thinh, duy hướng, duy vị duy xúc, đâu chỉ xúc được nói Duy thức ư? Như trong Hợp luận nói: Không ở đâu chẳng đầy đủ pháp giáo, lại nữa nếu nói theo mạt thì tất cả chúng sinh có hai thứ khác nhau, thượng giới phần nhiều chấp thức, hạ giới phần nhiều chấp sắc. Nếu y theo thức thì chỉ có thức xem bên ngoài đến bên trong để quán sát nội thức đều là một thức, đã không rồi thì mười cõi đều không. Nếu thức là giả thì mười cõi đều giả, nếu thức trung thì mười cõi đều trung, chuyên quán nội tâm quán tất cả pháp, quán mười cõi bên ngoài thì thầy nội tâm, cho nên phải biết hoặc thức, hoặc sắc đều là duy sắc, hoặc thức hoặc sắc đều là Duy thức, tuy nói sắc tâm, chỉ có hai tên, nói về pháp thể ấy chỉ là pháp tánh, như vậy tức là pháp môn tâm địa, bất động tịch tràng hiện thân bát hội, Chư Phật giải thoát cầu ở trong tâm, tâm là hạt giống Phật, tâm tức Bồ-đề, phải dung ý nầy chung cho tất cả tâm, chung cho tất cả giáo, lý hạnh vị, v.v… là nói theo đây, thức trong vị kế, hoặc tiệm thấy, v.v… Trong Phổ Hiền Quán nói nếu hạnh có thể tùy Phổ Hiền giáo chánh tâm chánh ý, tiệm dụng tâm nhãn thấy Phật Phương Đông thân mầu vàng ròng trang nghiêm mầu nhiệm, thầy một Đức Phật rồi lại thấy một Đức Phật, như vậy thấy khắp Chư Phật Đồng pháp, tâm tưởng mãnh mẽ nên thấy khắp tất cả Phật mười phương. Đốn giáo thấy: Trong phẩm Bất Khinh nói: khi Tỳ-kheo sắp qua đời ở giữa hư không nghe Đức Phật Oai Âm Vương nói kinh Pháp Hoa trước có hai mươi muôn ngàn muôn ức bài kệ, đều có thể thọ trì liền được sáu căn thanh tịnh, trong văn kinh không nói. Tiệm giáo thấy một Đức Phật cho đến Chư Phật, nên gọi là Đốn giáo thấy.

Kế dụ cho Đại xa kết thành Phật sự, hoặc nhập, v.v… tức tự hành.

Kế dẫn ngài Tịnh Danh, hoặc có cõi Phật ánh sáng, v.v… tự hành hóa tha đều gọi là Phật sự, hoặc nói nếu có cõi Phật, v.v… tức là hóa tha. Như trong Lăng-già quyển ba nói: Thế giới không nháy mắt, thế giới diệu hương khiến các Bồ-tát trố mắt nhìn không hề chớp mắt, được vô sinh nhẫn, tức nhãn là pháp giới, lại có thành giáo, theo đây mà suy nghĩ.

Kế nêu bày chặng giữa trước nêu bày các thọ; kế nêu bày các căn; kế nói đại xa, như ở văn. Nếu ở sau khuyến tu, ban đầu bao gồm chặng giữa pháp trước. Kế dẫn dụ cho phân tích trong đó, nói chỉ là rắn dài, văn tự nói xen nhau, không tu chỉ quán như con rắn dài, khéo hiểu chỉ quán như ôm châu, hiểu mà không dùng là không có lợi ích. Trong Đại luận thứ mười giải thích nhân không đồng nên quả khác nhau với trung, có một con rắn đen ôm ma-ni mà ngủ, có vị La-hán khất thực không được, luận nói phá giới mà còn có phước, nên khiến đọa làm con rắn còn ôm châu báu, nay mượn phân tích, để dụ cho có giải mà không có hạnh, như con rắn ôm châu, với con rắn có ích gì?

Kế Biệt giáo dẫn ba dụ cho, đều là trước dụ cho kế hợp.

Ban đầu dụ cho Trung quán. “bốn” là cho, cũng là ban; “lộc” trong sách Nhĩ Nhã nói: Là phước.

Trong Hiếu Kinh Chú giải rằng: Kho đựng gọi là lộc. Trong Đương Thừa nói: Thời thượng cổ không có lộc, người ăn lúa hoang do triều đình thiếu ăn, người thợ săn ban cho con Nai dùng làm thức ăn, nên biến thành chữ Lộc, người dân cũng được phước mỏng. “Giới” là tên chung của đồ binh khí, “kích” là giáo ngắn, là móc câu cây giáo: Quách Phác Chú giải rằng: Trong giáo, có cây đâm nhỏ nghĩa, là giáo to, nếu là mầm men, v.v… Thượng thư Ân Cao Tông hỏi thăm truyền thuyết về dân dã Phó Nham rằng: Nếu giúp sông lớn dùng ông làm thuyền bè, nếu tuổi lớn thì dùng ông làm mưa dầm, nếu làm rượu nếp thì chỉ có mầm men, nếu làm hòa canh, thì chỉ có dùng muối và hoa mai “duy trướng”. Trong văn nói: Trên màn gọi là “mạc”, “trướng”, trong văn nói: Có bốn hợp là tượng cung, thất trương gọi là trương.

Trong sách Hoài Nam Tử nói: Màn rèm của tướng quân, “chiết xung” là cắt rọc, “xung” trong văn nói: Là đường thông. Trong Quảng Nhã nói là đột, là quá kích, mà dùng lũ bắc. Trong văn nói: Bắc là trái. Lại quân tẩu gọi là bắc, lại bắc chủ ấm phương là ấm chủ sát tức bị giết là quân bại, mở búi tóc, v.v… Thượng Thư nói: Đức siêng năng Quan Công thưởng khuyến thỉnh, “mậu” là miễn, nay Viên giáo phá phiền não được thưởng thật tướng, rất tột trong thưởng, như mở búi tóc cho châu, như các Thinh văn đến Pháp Hoa, cùng tột của công nên dụ cho luân vương mở giải dùng quyền là búi tóc, hiển bày hột châu là thật tướng. “Dã vu”, Nam Sư nói: Vu.

Nữ sư nói: “Hích” nghĩa là âm thần. Trong văn nói “Vu” là chú thuật. “Chú” là chủ cúng tế, trình bày lời khen ngợi, ba việc không nói, thi không thể pha ma quân, không thể dứt phiền não, không thể hiển bày pháp tánh, đối với ba dụ trước như văn nên biết “khu khu là thu mình nhỏ lại suốt ngày cớ như vậy”. Quân là chúng Mười hai ngàn người, gọi là quân, nay ma quân đâu cần định số, chỉ nói là chúng.

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.