Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

CHỈ QUÁN PHỤ HÀNH TRUYỀN HOẰNG QUYẾT

SỐ 1912

QUYỂN 06

Sa-môn Trạm Nhiên Tỳ Lăng đời Đường soạn.

PHẦN 1

Kế nói phá tư giả, đầu tiên là nêu từ ngữ tư giả, cũng gọi là chánh ba độc,tư hoặc có bốn mạn thuộc về si, nên chỉ nói ba:

  1. Phi bối sử
  2. Phi tập khí, nên gọi là chánh, trải qua ba số sau, ba cõi chín địa hạ phẩm số, cõi dục bốn cõi trên cả hai đều có ba, thượng giới không sân nên ba cõi chỉ có mười

Cõi Dục có sáu cõi trời, địa ngục châu khác, đồng là tán địa nên chỉ là một, bốn thiền hợp ở xứ đại ý cũng như vậy, Vô sắc vô xứ do sinh có bốn. Nói chín phẩm, là do trí dứt hoặc trí phần rõ ràng hoặc lần lần hết, sao kêu có chín, lập giáo phán quả lại lược có chín như phán thường sinh y cứ hạnh hơn kém, sao gọi là chín phẩm, cũng là tiếp theo phàm đại lược mà nói, đều có thể đồng, là nói công năng của hoặc. Ở vị chưa dứt mỗi vị đều có thể cùng lực nhuận sinh, tùy theo quả nào dứt hết không sinh, sơ quả bảy lần sinh trở xuống cùng kiến nói khác, thậm chí ở thất định không đến tám, nên gọi là bảy phản, không cần hết tất cả ở bảy phản. Nên Lăng-già thứ ba nói: Hạ là thất trung là ba năm thượng tức sinh nhập Niết-bàn. Luận Thành Duy Thức chép: Trong bảy đời trí vô lậu thuần thục, như uống sữa pháp bảy ngày bệnh bớt, như Ca-lala, v.v… bảy ngày một biến, như bà con dòng họ đến bảy đời, như bảy bước đi giống bốn đại lực của rắn, nên đi đến bảy bước, sức của rắn độc không đến bảy bước, sức của rắn độc nên không đến tám bước hoặc sức lực bảy đạo sức lực chẳng phải tám. Trong luận Bà-sa chép: Lẽ ra nói mười bốn, vì sao nói bảy.

Đáp: Trong đó có số bổn hữu không nêu ra bảy nên chỉ nói bảy. Lại bảy chỗ sinh, nên người và sáu tầng trời, lại tu bảy đường cho nên dứt bảy sử, nói bảy sử là:

  1. Dục ái
  2. Nhuế
  3. Hữu ái
  4. Mạn
  5. Vô minh
  6. Kiến
  7. Nghi.

Lại trong nói chung về sinh, nên nói: Bảy người bảy tầng trời, mười bốn trung hữu hợp thành hai mươi tám sinh, lại y theo thuyết trước không đưa bảy, nên chỉ nói bảy, như trong Nghĩa đèn bít mới thạnh.

Như trước tùy theo tự trong ý dẫn trong kinh Xuất Diệu, tuy là hữu dục, v.v… sức đạo cộng giới tánh lìa tà hạnh, cảnh khác tự cho tất cả không phạm, cho đến tự cho cũng lìa phi thời phi xứ. Trùng thường nhậm vận lìa mũi nhọn bốn tấc, đã dứt kiến hoặc được vào không trì, tuy có trong sự độc đầu tương ưng liễu pháp từ duyên không chấp tánh thật, do ở ba độc không tà gọi là chánh, tuy là nhuận sinh mà chiêu lấy bốn đường, khác nhau ởsau phân biệt kiến hoặc, kiến là tâm chấp tùy theo cảnh sinh chấp, do năng tạo nhân bốn đường, nên chánh ba độc có đủ ràng buộc thánh là trong thân, chẳng những không bị bốn đường làm nhân, mà khởi cũng lìa hợp có lấy có bỏ, nên khác nhau với thấy sóng lớn sinh chấp, xưng tư duy ở sau giải thích tên. Đây hoặc nhân ở trọng lự tư duy, mới có đoạn, nên gọi là tư duy, số người ở sau nói hai bộ đồng khác. Trong Thành luận gạn số người, ban trên tham dưới ái tương đối đều khó, kế nếu nói ở sau do tên khác nghĩa đồng làm nạn, không nên nặng nhẹ mà phân chia tham ái. Nói một và đều, là y cứ theo Luận sư ấy, lại phải dùng sân nhuế làm đều, thượng giới đã dùng khinh tham gọi là ái, sao thượng giới không có khinh sân gọi là nhuế, mà nói thượng giới không thực hành nhuế?

Cho nên Tỳ-đàm ấy tâm sử phẩm trung, cũng nêu bảy sử như trước đã nêu bày, chỉ đời thứ nhất gọi là tham, bảy sử nầy giới hành phân biệt có chín mươi tám, hai sử tham nhuế giới chủng phân biệt đều có năm sử, nghĩa là cõi dục năm bộ đều có một cho nên ái do giới chủng phân biệt có mười (tham không chung ở trên) nghĩa là hai cõi năm bộ trên đều có năm (ái không chung ở sau). Mạn vô minh giới chủng phân biệt đều có mười lăm, nghĩa là ba cõi năm bộ đều có một. Kiến sử chủng có năm nghĩa là năm lợi, bốn đế phân biệt gồm có mười hai, nghĩa là khổ hạ lại có năm, tập diệt đều có hai, đạo hạ có ba, ba cõi gồm có ba mươi sáu, nghi bốn đế đều có một ba cõi có mười hai đều thành chín mươi tám, để rõ tham ái thượng hạ xin không thông nhau, nên nói Luận sư có hai đều khó. Nhưng Phật có lúc hạ thông hòa, chỉ khiến ở sau rõ ý đặt tên, vì khiến cho thức cảnh nhọc gì tranh khổ, nêu dụ cho chỉ bày bổn luận ý kết bổn đều như ở văn.

Trong hai nói thể quán: Là không bao gồm phân tích thể nên phải nêu riêng, phá kiến cũng vậy môn Đại thừa đầu tiên. Nay lại nói phân tích môn dụng trí, là nói thỉ chung ấy đều phân tích, nói khác cho nên lại chẳng phải chánh dụng. Thánh nói rõ trong pháp quán ban đầu nêu, dục hoặc ở sau lại nêu chung một phẩm đều có ba giả, ban đầu giải thích nhân thành, dẫn sáu dục của nữ làm duyên ngoài, đối tâm làm nhân, phát khởi dục tưởng gọi là pháp sở sinh, cảnh sáu dục, đại luận có hai mươi mốt, giải thích trong chín tưởng. Chín thứ nầy, năng trị hạnh nhân bảy thứ nhiễm dục.

  1. Có người nhiễm trước ở sắc: Nghĩa là xanh, vàng, đỏ, trắng.
  2. Có người dù không chấp sắc, chỉ nhiễm hình dung da mịn tay nhỏ, mắt dài mày cao.
  3. Có người không chấp hình dung, chấp ở oai nghi, tới lui ngồi đứng, lễ bái cúi ngước, co duỗi nhướng mày ma nói thứ thái là dung mạo đẹp, khéo léo tiến lùi.
  4. Có người không chấp oai nghi, chỉ chấp ngôn ngữ nhẹ nhàng khéo léo nói năng, tùy lúc mà nói, phải nương ý chỉ tâm người năng động.
  5. Có người không chấp ở đây, chỉ chấp da thịt mịn màng, lúc nóng thân thể mát khi lạnh thân thể ôn hòa.
  6. Có người đều không chấp như trên, chỉ chấp tướng người hoặc nam hoặc nữ
  7. Có người tuy được sáu thứ trên không có người sở chấp cũng không có chỗ giải, bỏ đời chú trọng năm thứ dục lạc, theo đó mà chết. Trong nầy pháp thứ bảy chấp trước nhân dục, đã bao gồm trong sáu, cầu người sở chấp, nay để chung còn riêng nên chỉ nói sáu, dùng chín trị bảy đủ như trong thiền môn, sáu pháp nầy ở sau tướng tham ngoại hiện, tức là hướng sáu đối nội ý căn thành phân ra sở sinh, nêu Sơ quả so sánh vô học so sánh như văn, Nan-đà dục tập như trước đã dẫn, trong kinh Pháp Hoa nói dục tưởng, v.v… vì dục rất phòng lỗi dục, còn không khởi tưởng huống chi lại nêu bày xen nhau, nói dục tướng. Trong luận Câu-xá nói, sáu thọ dục bao gồm lẫn nhau, cầm tay cưỡi thân dâm, chỗ ở hình tướng giao nhau, nhưng trời Đao-lợi, lấy do làm sự, trời Dạ-ma ôm giữ, trời Đâu-suất cầm tay, trời Hóa Lạc gần gũi cưỡi, Tha Hóa chỉ gần gũi, còn không sinh tưởng huống chi là gần gũi cưỡi. Cho đến luận Bà-sa lại nói người ở bốn châu dục có nặng nhẹ, Châu nầy rất nhiều không thể đếm. Đông Châu Cực có mười hai, so với trung hạ hoặc mười. Tây Châu có nhiều đến bảy tám là bốn năm, Bắc Châu nhiều năm thiếu ba bốn, cũng có tu phạm hạnh, nên nhiều dục mà không bằng súc sinh. Châu nầy cũng có người ít dục cho đến phạm hạnh, như vậy tướng tưởng nhiều ít thô tế, nếu chấp ở sau là chánh nói nhân thành, chấp sáu tướng trước bên trong động ý căn, tức là sở sinh, trong nối tiếp nói về hành sự, là ngăn hành sự chế bên trong nối tiếp, chẳng phải nói nối tiếp đã có hành sự, giả hư ở sau đều biết không thật. Nói đạo lý, đối cảnh sinh tâm cũng biết hư giả, đâu lại tính dùng lễ cưới hỏi lại càng thọ, một tháng hai giờ thần thông dưỡng sinh, ngoại đạo phương Tây vì cầu các định Phi tưởng phi phi tưởng, còn trừ tất tham dục ở cõi hạ, huống chi là tính lý nầy dùng làm chánh đạo.

Kế là chánh tu quán suy trong nhân thành cũng bốn câu ví dụ ở trước, nếu theo ở sau dụng quán suy xét, bốn câu sau dứt hoặc chứng chân kết thành hai không, không tánh dục không câu tướng không, lợi căn ở sau kết lợi độn căn hai hạnh khác nhau, lợi căn hai hạnh như trên trong phá kiến có nói, người thượng căn phá hữu kiến xong liền được nhập chân. Nếu chưa tương ưng cũng phải dùng sáu mươi bốn lần, từ khi lập ra chưa ở sau nói sáu mươi bốn lần, hoặc độn ở sau nêu sự nối tiếp chỉ bày pháp quán, nêu thuyết nhân thành.

Kế trong hai không nói bốn câu vô dục tức là tánh không, cũng không có bốn tức tướng không, trước trong phá kiến phá ba giả sau đều kết hai không, mỗi không trong đây sau giả, cũng đều kết vô sinh và dùng hai không, văn khác mà ý đồng. Ban đầu phẩm hạ nói các phẩm cũng có ba giả, nêu bày phẩm đầu nói phá các sử tham ở sau cũng có nêu, chín phẩm hạ kết thành vô sinh phá hết.

Hỏi khoa sau phân biệt, ban đầu hỏi như văn. Trong lời đáp nói hai luận phán xét phẩm, do dụng đạo khác nên phẩm khác nhau, nên trong A-tỳ-đàm soạn luận duyên khởi chép:

Hỏi: Vì sao gọi là A-tỳ-đàm?

Đáp: Là phân biệt hay chưa phân biệt, là đạo phương tiện hay đạo thắng tấn, là đạo vô ngại hay là đạo giải thoát, ở sau trong văn các kiền độ chỉ nói: Hai đạo phục, hai đạo đoạn, nếu theo ở sau phán xét hai đạo khác nhau.

Kế phá cõi sắc trong suy nghĩ trước nói trì sở dụng khác nhau. Nói thế trí, là y vào thế thiền sáu hạnh ưa thích nhàm chán, y lý vô lậu gọi là trí vô lậu, chung người giải thoát chung được hai trí. Khi dứt hoặc tùy dụng một trí, nếu ban đầu tu tập ở sau phán sự tánh hai chướng, như muốn vào Sơ thiền, hoặc thấy có cõi dục trong định các việc trải giường, gọi là sứ chướng, dục hoặc chưa dứt tánh chướng vẫn còn, hoặc nầy nếu phá thì phát Sơ thiền, Nhị thiền cũng vậy, giác quán chưa dứt không phát trung gian, hoặc Sơ thiền phá mới phát Nhị thiền, ba bốn hai chướng y theo các thuyết nên hiểu, ở trong Sơ thiền văn đầu tức là Sơ thiền phát tướng, kế là chặng giữa ở sau nói hoặc tướng Sơ thiền, kế phẩm hạ nói ba tướng giả trong Sơ thiền, nếu không ở sau nói ý phá, nay dụng ở sau cũng nói sáu mươi bốn lần. Kế Nhị thiền nói nhân thành, đều dùng định thể hạ địa làm nhân, nối tiếp đối đãi nhau so sánh thuyết Sơ thiền. Trong Đệ Tam thiền nói vui nầy cho đến thành khó bậc Thánh và đệ tử Phật khi tu thiền nầy trong mỗi địa có Thánh chủng quán, nên xả thành dễ phàm phu do ở các địa sinh ái nên cả thành khó. Định Vô tưởng trong thiền cảnh lược giải thích. Năm Na-hàm, là nếu dùng địa đặt tên chỉ gọi là Đệ tứ thiền, thiền nầy có chín chỗ. Năm là Thánh ở gọi là trời Chánh Hàm, Vô Tưởng tuy có phàm, ba chung phàm thông, sinh ở Năm Na-hàm, nhưng do tu huân thiền có năm bậc khác nhau, đại phẩm chín định huân chung cửu địa, trong đây chỉ có huân Đệ tứ thiền, trước tu đắc rồi lại do phần nhiều vô lậu nối tiếp hiện khởi, từ đây dẫn sinh nhiều niệm hữu lậu, từ đây lại sinh nhiều niệm vô lậu, như vậy hậu hậu lần lần bớt bớt, cho đến rốt sau hai niệm vô lậu. Lại nữa dẫn sinh hai niệm hữu lậu Vô gián lại sinh hai niệm vô lậu, gọi là huân gia hạnh hành tướng, kế chỉ có một niệm vô lậu, lại nữa chỉ có một niệm hữu lậu. Vô gián lại sinh một niệm vô lậu, gọi là căn bổn thành. Cho nên Câuxá chép: Thành do một niệm tạp, nói có năm khác nhau. Đó là hạ trung thượng thượng thắng thượng cực, một phẩm có ba hậu phẩm bao gồm ở trước, cho nên phẩm thứ năm hợp thành mười lăm, như vậy năm phẩm như thứ lớp, ba sáu chín đồng sinh Năm Tịnh cư, nói hiệp huân, nghĩa là trước sau vô lậu trung gián hữu lậu khiến niệm nhiều các lậu, đều thành một niệm vô lậu nên gọi là Hiệp huân. Nói Năm thiên, là Vô phiền, Vô nhiệt, Thiện hiện, Thiện kiến, Sắc Cứu Cánh, từ đây trở lên đều là Vô phiền xen lẫn, đầu tiên của Vô phiền được gọi Vô phiền, phục phiền não nên gọi là Vô nhiệt, quả dễ nêu bày nên gọi là Thiện hiện, thấy trong suốt nên gọi Thiện kiến, trong cõi Sắc không có tên trên Sắc Cứu Cánh, Tam thiền ở sau lại đều có ba cõi trời. Nếu theo hữu tông chỉ có mười sáu chỗ, ở trong Sơ thiền chỗ cao đẹp gọi là Phạm vương, nên không đặt tên riêng. Kế phá trong Vô sắc nói ba thứ sắc, Hữu đối v.v…

Từ Đệ tứ thiền vào Không xứ, phải làm phương tiện diệt ba thứ sắc.

Trong Đại luận hai mươi ngàn một trăm bốn mươi mốt.

Ba thứ sắc là:

  1. Kiến hữu đối.
  2. Bất khả kiến hữu đối.
  3. Bất khả kiến vô đối.

Trong Đại Phẩm chép: Vì qua tất cả sắc tướng diệt hữu đối sắc tướng, không niệm các thứ tướng, vào vô biên không xứ, qua tất cả sắc diệt khả kiến hữu đối sắc, không niệm các thứ sắc tướng diệt bất khả kiến vô đối sắc, tất cả sắc pháp chỉ có mười một thứ, đó là năm căn trần pháp nhập chút phần. Thiểu phần, là Vổ biểu sắc.

Trong A-tỳ-đàm chép:

  1. Khả kiến: Đó là sắc.
  2. Hữu đối có mười: Đó là năm căn trần.

Nếu nói bất khả kiến hữu đối, chỉ nên nói, năm căn bốn trần.

  1. Bất khả kiến vô đối: Đó là pháp nhập chút phần.

Trong Đại kinh quyển hai mươi mốt nói: Nhãn kiến sắc hoại gọi là quá sắc, năm căn trần hoại gọi là quá hữu đối, ở hai chủng khác và không có giáo hoại gọi là quá khác tướng. Ba sắc nầy đều ở cõi sắc, muốn vào Vô sắc nên diệt ba thứ nầy, nay nầy nên nói và bối xả thắng xứ trong nhất thiết xứ có tám sắc.

Nếu vô biểu sắc tuy chẳng phải văn nay quán không sở quán, khi được quán không quyết định lìa biểu, vô biểu sắc. Lại đối với khả kiến hữu đối, lại phải nói ở ba nghĩa hữu đối, chẳng phải nay ý chánh, cho nên không nói, diệt sắc phương tiện đủ như trong thiền môn, trước tưởng thân nầy như nồi đất, như lồng như lưới cho đến lần lần không.

Trong Đại luận quyển mười chín chép: Như chim ở trong bình, bình bể thì ra được.

Hỏi: Trong cõi Vô sắc là định Hữu sắc, định Vô sắc, chép đủ như trong Thích Thiêm. Lại có nghe có một Tỳ-kheo được định Vô sắc, khởi lên thoạt không.

Người khác hỏi: Vì sao lại cầu?

Đáp: Tìm thân ta, người đứng cạnh nói, thân ở trên giường, ở đây đắc định còn không thấy thân, nên sinh cõi ấy ở định Tiểu thừa xếp vào Vô sắc. Nếu trong Đại thừa như trong Đại kinh Tránh Luận chép: Cõi Vô sắc thì sắc chẳng phải các hàng Thanh văn, Duyên giác biết được. Nay lại y theo Tiểu thừa, lúc này ở sau chánh tu quán để vào không xứ thức xứ, kế là trong Vô sở hữu xứ trước phát lầm xưa, như trong Thiên môn có hỏi: Vô sở hữu xứ ấy thủ ít nhập định thừa nhận thức duyên. Việc nầy thế nào?

Đáp: Không đúng, phải nói: Trong tất cả thời chỉ duyên Vô sở hữu xứ, nói có ít thức, chỉ dùng ý căn đối với pháp trần Vô sở hữu, sinh ít thức tưởng, chẳng phải thủ ít thức duyên nhập định, nay văn do đây lại phá sở hữu và hữu dụng, v.v… thức xứ trước kế ở sau nói Phi tưởng Phi phi tưởng xứ, y tám Thành chủng trong đây văn lược, nên nói, không xứ như bệnh thức xứ vô sở hữu xứ như văn, phi tưởng phi phi tưởng xứ như đã chọn lọc, nay không nói lại dựa hữu lậu, nghĩa là đây là cực tột nên nói thắng định, hoặc thông suốt nương Thánh chủng quán, dụng các bệnh có bốn và vô thường đồng với bốn, bốn thứ trước đối trị bốn duyên đế sau, nên dùng tám duyên nầy ở Vô sắc có chung có riêng.

Tổng: Dùng tám quán quán bốn ấm kia hòa hợp không thật.

Biệt: Bốn thứ trước trị bốn ấm sự, thọ như bệnh, tưởng như ghẻ nhọt, hành như nhọt, thức như kim, do vô thường, v.v… mà trị bốn ấm lý, vô thường quán thức khổ quán ở thọ, quán không, ở tưởng vô ngã quán hạnh, do có tám tâm nầy dễ sinh nhàm. Tật có thể xa lìa tu tập vô lậu.

Hỏi: Chỉ dùng khổ thô ba chướng mà làm phương tiện. Không v.v… bốn xứ đâu cần dùng tám?

Đáp: định Không xứ vi tế không nói tám lỗi, lỗi lầm khó biết, phàm phu cũng có nương sáu hành không kịp Thánh chủng lìa mau chóng. A-tỳ-đàm ở sau có giải thích tên Phi tưởng, dẫn văn sơ lược.

Luận Lập Thế nói: Chẳng phải như bốn sắc và dùng ba không nên gọi là trời Phi tưởng, Phi vô tưởng và định vô tâm, gọi là Phi phi tưởng, văn dẫn trong luận Bà-sa vẫn không nói hết Tứ thiền, nhân sư còn không thừa nhận dẫn sắc ở cõi trời Vô tưởng, huống chi là chung diễn Tứ thiền, đã là văn luận thủ cũng không lỗi, do sư giải thích nghĩa cũng chưa hoàn toàn sai, nay nhà dung còn nên không phá bẻ, mong ba không trước lần lượt lìa hoạn để giải thích tên, nên biết phi tưởng, nương đồng giới giải thích không nghĩa vô kia, không phá ý của Nhân sư ở đây. Trong Đại luận chép: Một thường hý luận. Kinh luận Tiểu thừa phi tưởng một địa đều có hữu lậu. Nên luận Bà-sa chép: Lậu nghĩa là gì?

Đáp: Trụ là nghĩa lậu, phàm phu đến nầy bị lưu trụ, thấm ướt là nghĩa lậu, ba Hữu đảnh thường thấm ướt, lưu xuất là nghĩa lậu, tận khắp ba cõi lại ra, nghĩa trì, nghĩa suy, nghĩa trong nghĩa buông lung đều là nghĩa lậu, y theo ý đầu để giải thích, cho nên Hữu đảnh chuyên thọ tên lậu. Luận nói: Vì sao Phi tưởng cho đến cõi dục không có vô lậu?

Đáp: Chẳng phải điền khí, pháp vô lậu trụ Trung đạo, lại Dục địa bất định Phi tưởng ngu đần, pháp trở thành trái với đây nên hai xứ không có. Nếu theo Đại luận, luận Thành Thật, thì phi tưởng đồng không có cõi dục thì có, định nầy ở sau có nói phi tưởng có hoặc.

Nói tế pháp: Là địa ấy còn có bốn ấm, hai nhập, ba cõi. Đã nói mười thứ là thọ cho đến tuệ. Thọ là sở thọ của thức, tưởng là sở tưởng của thức, hành là pháp hành, xúc là Ý xúc, tư là pháp tư, dục là muốn nhập định, giải là pháp thắng giải, niệm là niệm Tam-muội, định là tâm như pháp trụ, tuệ căn tuệ lực, mười pháp nầy và Vô sắc ái vô minh vô minh trạo cử ngã mạn, tâm không tương ưng các hạnh, nhân duyên khổ tập hòa hợp được sinh ở đó, muốn nhập diệt định thì trước diệt pháp nầy, v.v… nên biết ở sau nói ý dụng quán, đã biết địa ấy có đủ phiền não tế tức có ba giải, dụng quán phá phiền não giúp vào Vô sinh, phiền não hết nên gọi là sự Vô sinh, lý chân đế cùng tận gọi là lý Vô sinh, nên không do địa mà trụ hữu lậu, nếu dụng ở sau kế phán hai trí được gọi là khác nhau, nầy gọi là hạ kết biến. Đây tức là phá tư giả biến.

Ba minh phá tư vị chặng giữa, ban đầu nói vị ba tạng, trước nêu ra dụ bộ, ngoài Thành luận đều thuộc khác bộ, các luận A-tỳ-đàm đều nói kiến đạo ở mười lăm tâm. Kế chánh giải thích trước giải thích Thanh văn, lại y tu đạo đến hết v.v… nếu giải thích mỗi nhà thì trước phải nên hiện dục hoặc có chín phẩm để nhuận sinh bảy lần dứt phẩm nhiều ít đối quả cao thấp, nghĩa là thượng thượng có thể nhuận sinh hai lần, thượng trung thượng hạ trung thượng đều nhuận sinh một lần, ba phẩm hạ cùng nhuận sinh một lần, dứt nhiều ít. Luận Câu-xá chép: Dứt dục ba bốn phẩm, vài ba lần sách dứt đến năm hai hướng, đoạn sáu mốt quả.

Giải thích rằng: dứt ba phẩm thượng thì dứt bốn loài, còn ba lần sinh làm sáu phẩm nhuận sinh mỗi nhà, tiến đến dứt trung thượng lại bớt một lần sinh và bớt năm lần trước, còn hai lần sinh gọi là hai lần sinh mỗi nhà, lại dứt mỗi phẩm trung chưa bớt một lần sinh chỉ gọi là hai hướng, lại dứt trung hạ bao gồm mỗi phẩm trung trước thành tổn sáu lần sinh, còn ba phẩm hạ chỉ nhuận một lần sinh gọi là nhất lai.

Hỏi: Vì sao không dứt một phẩm, hai phẩm và dứt năm phẩm mà gọi là Gia gia?

Đáp: Nếu không dứt hai thì không đến thứ ba mà qua đời, cũng không dứt năm không đến dứt sáu mà qua đời, nghĩa là do Thánh khởi đại gia hạnh sẽ không đâu mà không dứt đại phẩm hoặc hết mà qua đời. Nói Đại phẩm nghĩa là ba phẩm, lìa ba thành chín nên có ba tên Đại. Nếu dứt hai với ba là đoạn Đại phẩm đầu. Nếu đoạn đến nắm sẽ đến sáu là Đại phẩm thứ hai, lại không có một phẩm làm chướng quả, cho nên dứt nắm sẽ đến sáu. Kế nầy nghĩa dứt đồng với văn nay.

Hỏi: Nếu đều dứt Đại phẩm mà qua đời, thì vì sao dứt tám không đến với chín mà qua đời?

Đáp: Đoạn chín hai nghĩa nên khác ba phẩm.

  1. Đắc quả
  2. Việt giới

Phẩm chín mươi mốt do có chướng quả và có thể vượt cõi, nên dứt tám có qua đời, sáu phẩm chỉ có đắc quả mà không có nghĩa việt giới, cho nên dứt năm sẽ đến sáu, hai ba phẩm trung hoàn toàn không có hai nghĩa, dứt hai ắt ở ba lý không nghi, nay trong văn nói siêu đoạn, tức là văn sau hàng Tiểu thừa siêu đoạn, vốn ở phàm địa chưa được Sắc định, hoặc tu Dục định, dục hoặc chưa dứt, người này có mười sáu tâm siêu dứt năm phẩm gọi là Gia gia, năm phẩm nầy đồng với bốn phẩm, tùy theo gốc đoạn phẩm kia nhiều ít, mà được gọi là Gia gia hạt giống và dùng các tên Vô học hướng quả. Nhưng sở dụng của Đại sư đều theo luận Bà-sa xưa. Nếu muốn biết lại xem xét văn kia. Lại Gia gia, có hai cách khác nhau là Người và Trời, trời là dục thiên, hai ba gia sinh mà chứng viên tịch, nhân là người ở, hoặc hai ba nhà, hoặc hai ba châu mà chứng viên tịch, hoặc trời ba đời sinh thiên, ba người có hai, hoặc trời có hai lần sinh trời có hai, người có một, người sinh hai ba lần nầy nên biết, nên các cõi trời trước ở trong loài người được thấy đạo rồi, nếu vượt qua thứ lớp tiến dứt ba bốn lần, sau ở trên cõi trời sinh hai ba chỗ. Trong loài người trở lại nầy. Thiên gia gia, ở sau cùng sinh lên cõi trời dứt kiết dư tàn gọi là được viên tịch, trong loài người nhà nhà y cứ theo đây mà nói, sáu thứ Na-hàm ở trong ấy. Trong Đại quyển luận ba mươi ba nói: Năm Na-hàm: Nghĩa là Trung sinh hạnh bất hạnh, lại có sáu thứ, năm như trên thêm hiện, lại có bảy thứ, sáu thứ như trên thêm Vô sắc. Trong Câu-xá không lập hiện chung nhưng lấy Vô sắc chung và năm thành sáu.

Bài tụng nói: Trong nầy sinh hữu hạnh, không hạnh Bát Niết-bàn, bậc thượng lưu xen tu, sẽ đến Sắc Cứu Cánh, siêu bán siêu biến hết còn đến được Hữu đảnh. Hành Vô sắc có bốn, trụ Niết-bàn ở đây.

Giải thích rằng: Bất hoàn có năm

  1. Trung: Nghĩa là cõi dục không ở sắc trung ấm mà nhập Niếtbàn.
  2. Sinh bát: Sinh cõi sắc rồi mà nhập Niết-bàn.
  3. Hữu hành: Sinh cõi sắc rồi tu hành thời gian dài mới nhập Niết-bàn, nhưng có siêng tu không mau tiến đạo.
  4. Vô hạnh: Sinh ở cõi sắc rồi không trải qua thời gian lâu tu vô công dụng hạnh mà nhập Niết-bàn siêng tu mau chóng hai đạo đều không.
  5. Thượng lưu: Ở cõi sắc muốn chuyển qua chỗ ở của Tứ thiền thiên mới nhập Niết-bàn. Thượng lưu lại có hai:
  1. Có xen tu: Tức lạc tuệ nầy
  2. Không tạp tu: Tức lạc định.

Có xen tu thì đến Sắc Cứu Cánh.

Không xen tu đến Hữu đảnh. Chữ dư trong bài tụng là không xen tu, lại có ba thứ:

  1. Toàn siêu: Nghĩa là ở cõi dục trong Tứ thiền rồi xen tu khắp, gặp duyên lui sụt, từ Phạm chúng không sinh Sắc Cứu Cánh, trung gian vượt hết nên gọi là Toàn siêu.
  2. Bún siêu: ở cõi trời Phạm chúng qua đời rồi ở trung gian lần lần thọ mười bốn thiên xứ, hoặc vượt lên một hai, cho đến mười ba, sau mới sinh lên cõi trời Sắc Cứu Cánh, đều gọi là bán siêu, chẳng phải hoàn toàn siêu nên thọ tên thông bán, hoàn toàn không thể siêu vượt gọi là biến một.

Không xen tu là sinh ở cõi Vô sắc, nhưng không có sinh ở cõi trời Tịnh Cư, từ Quảng Quả không sinh ba cõi Vô sắc, sau sinh Hữu đảnh, mới nhập Niết-bàn. Cho nên Na-hàm đây là dù sinh ở Vô sắc cũng thuộc về sắc. Nếu cõi dục không sinh cõi trời Vô sắc thì thuộc Vô sắc. Lại có chín thứ trung sinh thượng lưu đều có ba thứ, như trong Thích Tiêm có dẫn. Trong sáu chín nầy chưa nhập chung ở trước, hoặc được gọi là Lahán hướng về nhiếp. Khi ở cõi sắc hoặc có siêng tu mau chóng.

Thứ chín: Vô ngại đẳng. Từ dứt chín hoặc đều có một vô ngại và một giải thoát, dứt tên vô ngại chứng tên giải thoát, trong A-tỳ-đàm thêm hai tên như trước, ba cõi ở sau kết thành vô sinh, nói tận vô sinh là trong A-tỳ-đàm nói: Tận trí: Nghĩa là ta biết khổ cho đến biết đạo. Trí Vô sinh: Nói tu biết khổ rồi lại không biết cho đến ta tu đạo rồi không tu trở lại.

Lại nói: Ngã lậu đã hết không còn sinh, lại nói: Thế trí trí vô lậu dứt. Lại nói: Tuệ giải thoát người đều giải thoát, đều từ đây được tên gọi hai trí, các tướng trang phân biệt rộng như trong các luận. Kế giải thích thông vị chặng giữa, ban đầu nêu bày kinh để phán xét, nói cộng Thanh văn, v.v… là hai thừa thông giáo Thất địa trở xuống cùng Bồ-tát cùng tên là Thanh văn. Bát địa trở lên hơn người Nhị thừa, vì sao cũng gọi là cộng Bồ-tát?

Đáp: vì tên ban đầu sau từ gốc mà đặt tên khác nhau Biệt Viên thỉ chung khác nhau, trong Ba tạng giáo tuy có Nhị thừa Bồ-tát hạnh xa, thỉ chung phục hoặc thường khác Nhị thừa, nên không gọi là cộng, không nghe biệt lý lại không có bất cộng.

Hỏi: Thất địa tư hết, vì sao sáu địa gọi cộng Thanh văn, Bát địa gọi là Bích-chi Phật địa vì sao Thất địa gọi là cộng Bích-chi Phật?

Đáp: Thông vị từ theo chứa đủ như ở sau có phân biệt.

Nói ở sau lược giải thích. Ý nầy chánh nói Ba thừa cộng địa, vì sao các giáo phán dứt hoặc vị cao thấp khác nhau. Vì sao Ba thừa hoặc dứt trước sau, trí hạnh khác nhau. Tuy là khác nhau mà liên quan đến cộng vị, do nầy nên được gọi là cộng. Càn tuệ ở sau chánh được giải thích.

Ban đầu giải thích Thanh văn, chặng giữa năm pháp quán dừng tâm, Bốn niệm xứ, lược như trong văn huyền và Thích Tiêm có dẫn, đều mong ba tạng lập trong ngoài phàm. Nếu nói quán hạnh khéo léo nêu ra tuy có khác nhau, các tướng chung riêng nào ngại hơi đồng, chưa có nước lý nên gọi là “làng” tạm có lý giải nên gọi tánh nhẫn là nhân, kiến là kiến đế, dục hoặc hơi nhẹ nên gọi là Bạc, dục hoặc hoàn toàn mất nên gọi là lìa, trí đoạn công xong nên gọi là nói, ba tên khác gọi là Thông vị trung. Trước phá lập tựa, xưa nói dứt vị kiến tư đều khác nhau, nay ngăn ở sau trước phá chung đoạn vị kiến ấy khác nhau, chỉ là không hiểu nghĩa Thông giáo. Sao ở sau trách riêng.

Thông vị dứt kiến hai địa khác nhau, dứt kiến lại đúng không xuất nhập quán, nhân sư ở sau nhân sư không hiểu suy lỗi cùng kinh, nên nay phân tích nói không hiểu ý kinh nay nói ở sau lược chỉ bày, biệt kiến ở sau lược giải thích, nhưng tên ở sau phán đoán, lệ như ở sau dẫn nêu, mười sáu tâm nầy đồng là một vị, còn phán đoán hai đạo nào ngại dứt kiến hai địa khác nhau.

Hỏi: Ngay trong Thông giáo phán đoán kiến vị, tự phân ra hai địa, cần gì phá tha tự lập mượn biệt, lập dứt kiến vị lại đồng Thông giáo.

Đáp: Chỉ duyên đồng thông cho nên được là thông, thông tuy hai, địa khi đoạn vẫn rút bớt, Ba thừa chung nên tuy rút bớt mà lại dài, cho nên phải phân ra ba địa bốn địa, hoặc khi mượn biệt, biệt kiến lại dài, vần có hai ý, nếu y cứ lý nói thông đến Phật địa. Nếu y cứ giáo đạo nói ba bốn địa, tuy hai ý đều là nghĩa biệt kiến đều dài, vì riêng dài nên mượn giáo đạo dùng phán xét hai địa dứt kiến không hẹp. Nếu nói theo nghĩa thông thì không xuất quán, nếu y theo nghĩa biệt, thì chỉ nói mỗi địa đều có thể phá kiến, do đây thành khác, vì riêng dài nên ở sau hai lần, thông dụng bốn địa đều dứt kiến vị, nhiều người không thấy gọi là nghĩa thông đủ, cần gì mượn biệt, đây là Đại sư nêu bày chung kinh luận, có phán xét đây là thuộc về mượn tên khác gọi là vị chung. Hà: nếu định thuộc về thông không nên Địa tiền mà lập phục vị. Nếu định thuộc về biệt thì không nên hành hướng thuộc về gốc lành căn bản, cho đến bốn địa cộng dứt kiến hoặc cũng giống như vậy, cho nên lập cách nầy chỉ bày người hậu học, khiến xưa nay khác thuyết rõ ràng rất dễ thấy. Nói mượn biệt ở sau là nói mượn vị, trước mượn Biệt giáo thỉ chung gọi là Thông, Thông giáo Địa tiền không có vị để nói, nên mượn Biệt giáo trong ngoài phàm vị, chỉ gọi là Thông giáo Sơ địa, Nhị địa Thông giáo địa hậu cũng không có phục vị, nên chỉ dùng Biệt giáo Pháp vân Phật địa, do gọi Thông giáo Cửu địa Thập địa cho là bất định, nên có hoặc để nói. Đại phẩm chép: Thập địa như Phật, phải biết tức là tên khác gọi Thông, nên trong Lăng-già kệ thứ bảy tụng phẩm rằng: “Viễn hành Thiện tuệ Pháp vân Phật là chủng tánh Phật”. Ngoài ra đều là chủng tánh Nhị thừa, nầy cũng có tên khác là Thông vị. Nếu là biệt vị đâu phải viễn hành trở xuống thuộc về Nhị thừa ư? Cận đại giải thích vị Địa tiền phục hoặc chánh là ở đây nêu. Nếu mượn ở sau thứ lớp là chỉ mượn riêng Thập địa gọi là thông Thập địa, thì kia đây Địa tiền chung làm đạo hoặc, thông tuy không vị, tức chưa dứt hoặc thi1 không vào địa. Bốn tên khác là Bồ-tát thông vị, nầy chỉ y cứ theo Bồ-tát, tu quán dứt kiến bất định. Như đây trở xuống là Bồ-tát vị dứt kiến, phân cựu sư trước ba địa bốn địa dứt nghĩa kiến, bạc tức bỏ Bồ-tát ở vị dứt kiến tư. Cựu Sư nói: Ở sau bài tựa trùng lặp, cựu sư hai địa sáu bảy là vị dứt tư, nhưng lục địa ở sau nay nhà khó, trước nạn lục địa, lục địa lìa dục, dứt lìa dục hoặc, vì sao nói đồng với La-hán kế đó dù nói, dù trệ ở Ba quả hành bốn quả hướng, còn một phẩm cũng gọi là Hướng. Vì sao được đồng với Lahán? Nếu Thất địa ở sau thứ lớp khó địa thứ bảy, nếu phẩm sau cùng hết gọi là đệ thất, nầy thì có thể như vậy trong sáu địa trước chỉ gọi là lý dục sắp hướng đến thuộc quả, Sơ thiền phẩm đầu cũng thuộc về đã nói, dứt một phẩm đầu thật chưa nói vong, nên cũng không thể đồng với La-hán, nay như ở sau, nay vì nêu bày thì không chấp tên chung Thập Địa, chỉ dùng mười độ đối quả gọi là Tiện, do Biệt giáo nhiều nghĩa dùng mười độ đối với Thập địa, nên cũng y theo đây để nêu bày ý nầy.

Lập ý nầy, cũng sợ người sau không hiểu kinh luận đối với quả có cao thấp, không biết Biệt giáo gọi là ý thông, kế nầy đều là ở sau gồm lui sụt suy ra công.

Kế là hỏi: Ba thừa cộng vị mượn nghĩa đã thành, lập riêng Bồ-tát e không thành chứng, kế ý đáp, kinh luận đều có hai chỗ nói văn, ý đều nói riêng Bồ-tát trí đoạn, ban đầu dẫn Đại luận ba chỗ, ý dẫn Càn tuệ riêng ở vị Bồ-tát dứt hoặc, nếu cùng Nhị thừa thì không gọi là sơ diễm, sơ diễm tức là đoạn vị, trong luận lập riêng Bồ-tát do Sơ địa mà thành đoạn vị, cho nên trong Đại luận bảy mươi tám phẩm Đăng Chú nói:

Thập địa có hai:

  1. Bồ-tát Sơ địa là diễm
  2. Thinh văn kiến địa là sơ diễm.

Nếu riêng Bồ-tát địa tức Hoan Hỷ địa là sơ diễm, văn luận đã do Bồ-tát Sơ địa mà làm sơ diễm, nên nay lấy đó để so sánh giải thích, ở cộng phục đạo còn được dùng làm Bồ-tát sơ diễm, nay chỉ lấy lại cộng đoạn vị, làm riêng Bồ-tát sơ diễm, có gì không được, nên biết văn này riêng phán vị Bồ-tát Thông giáo, văn sau tự có riêng vị Bồ-tát, tức Biệt Bồ-tát vị.

Nói ba thứ Bồ-tát:

Tức Bồ-tát cộng địa trung căn, cũng đồng Nhị thừa ba bốn địa dứt. Lại trong Đại phẩm ở sau dẫn Đại phẩm so sánh giải thích.

Thứ mười Phật địa còn gọi là Bồ-tát, so sánh các vị trước không có Bồ-tát ư? Nên nói đâu được không có chặng giữa và ban đầu?

Nói lân cực: Là từ riêng Phật địa sang Thập địa, nay mượn tên khác, bèn nói Thập địa lân cực. Nếu không có ở sau nhiều lần dẫn trong Đại phẩm, từ Sơ địa, đều nói Bồ-tát tu trị địa nghiệp, nên trong Đại phẩm nói:

1- Mười, 2- Tám, 2- Năm, – Mười, – Mười hai, – Sáu, – Hai mươi mốt, 8- Năm, 9- Mười hai, 10- Phật (nay lược bỏ bài tụng) văn ấy mỗi đoạn nêu bày giải thích đầy đủ, nên biết nầy cũng khai riêng về Bồ-tát, kế dẫn trong Đại luận, từ Bồ-tát mà được gọi là nhẫn, cho đến các tên du hý thần thông, nên biết tên nầy riêng thuộc Bồ-tát, tên Nhẫn trong Đại phẩm cũng giống như vậy, như đây về sau chánh nêu bày ý nay, nương hướng sở dẫn còn được riêng khác địa vị Bồ-tát, y theo đây dùng làm mượn tên khác thông, riêng đối Bồ-tát có lỗi gì?

Kế hỏi: dứt chín phẩm dục sao chế hai quả. Ý đáp: Thánh chế tên quả thôi dứt mỏi mệt, tán địa hoặc trùng đặt tên thành khó nhiều, e là khó lui sụt đặt hai tên quả.

Kế hỏi: Phàm thiền vì trị tán loạn, dục tán đã nhiều nên đặt ra nhiều cách trị?

Ý đáp: Thiền từ địa lập định tán trái nhau, đâu thể có dục mà lập nhiều thiền.

Kế hỏi ý: Trước riêng vì Bồ-tát đặt tên nhẫn, Lục Thất địa về trước đã có trí đoạn đồng với Nhị thừa, vì sao Bồ-tát đặt riêng tên Nhẫn.

Trong lời đáp có ba nghĩa nên Bồ-tát gọi Nhẫn, ban đầu dẫn mười lăm mười sáu tâm nêu bày, như mười lăm tâm. Tuy đã có bảy trí tám nhãn, chưa vào quả vị nên nói so sánh Nhẫn cũng gọi là Nhân. Bồ tuy dứt kiến tư các địa nhưng tập chưa hết, vị chưa đủ, nên chỉ gọi là Nhẫn, còn hai ý nên thấy.

Kế y cứ Biệt giáo phá tư giả, trước mượn tên khác chỉ hiển bày nghĩa chung, nay chánh ở biệt lại hiển bày nghĩa dọc, nên kế nói.

Hỏi: Khai đầu chương không nêu bày Biệt Viên, vì sao đến nầy lại giải thích Biệt Viên?

Đáp: Chỉ nói về không vị chánh ở Tạng thông vì hiển nghĩa thông lại mượn tên khác, nếu nói về thỉ chung nghĩa trụ dường như biệt. Nếu nói về văn chỉ cần biết viên dung, nên ở trong đây nói vị Biệt Viên. Nói Mười hạnh xuất giả lại không liên quan với trước, trong đây ý dọc từ giả nhập không, nên riêng Thập hạnh không liên quan đến không trước, chỉ nêu bày Tạng Thông ý là ở đây, nên hiển bày trong thể rằng: Nếu nói ba người thì có các vị Đại Tiểu.

Kế trong vị Viên chỉ nói Bát tín đến tín thứ mười dứt hết tập, tập thông giới ngoại trần sa vô minh, nêu bày cũng nên nói không liên quan gì đến trước, ở đây không nói, từ ban đầu đến nay ba đế viên tu, cùng nghĩa thứ lớp không hề liên quan nhau, đây nói thô hoặc nhậm vận dứt, đồng với thứ lớp, cho nên không cần nói không liên quan nhau, dẫn trong kinh Hoa Nghiêm, sợ người không hiểu thô hoặc trừ trước, ban đầu chứng Sơ trụ lại mong Thập tín nên nói giới nội tập hết.

Kế Hoa Nghiêm ở sau chứng vị Sơ trụ, cận đại giải thích nghĩa Địa tiền đều phục.

Thế nào là bỏ Thông trụ qua Mâu-ni? Đây là lần thứ hai văn ý chỉ viên dung.

Vì sao ở sau giải thích ý Hoa Nghiêm? Ban đầu văn giải thích lược, nếu vậy ở sau gạn khó, đã có Bồ-tát qua Phật, há không có Thinh văn qua Bồ-tát ư?

Ở sau đáp: Phật đạo thuộc về Biệt Viên địa trụ, còn có thể qua Tạng Thông Mâu-ni, rõ ràng qua Bồ-tát Tạng Thông, nầy y cứ đường phần, so sánh như đây quyết định, lại nữa ở sau nói đồng khác, đồng dứt kiến tư được gọi là công dụng, khéo léo nêu ra khác nhau. Đây tuy hiện trước phá tư giả vị trí dụng đều khác, cùng là xét phân trong các kinh luận, trí đoạn khác đồng, văn đầu nêu bày bốn giáo dứt tư trí dụng đều khác.

Kế nếu nói ở sau phán xét một bề đã nói văn đồng khác, văn đầu là phải Thông giáo Ba thừa tự tướng so sánh. Kế nếu nói ở sau tức dùng Bồ-tát Biệt Viên so sánh Thông Tạng, Nhị thừa đồng dứt kiến tư mà trí đều khác, cũng có thể nói trí đoạn đều khác, tức là Thông giáo không dứt biệt hoặc, trong đây chưa nói dứt biệt hoặc, nên không nói.

Lại thông Ba thừa tự tướng mong, cũng có thể nói: Trí đồng dứt dị tập hữu tận khác với bất tận.

Kế hỏi: Khoa sau phân biệt siêu quả đồng vô bốn.

Ban đầu hỏi nên hiểu.

Trong lời đáp ban đầu nói có siêu vượt tuy không ở sau nói quả tuy vượt qua phẩm số không lỗi, như người có thần thông và người thường đi chậm mau khác nhau, há không có số dặm.

Kế hỏi: Phàm luận siêu: Phải là lợi căn. Ngài Thân Tử lợi căn sao không siêu vượt ư?

Ban đầu nghe ba đế chỉ được Sơ quả.

Trong lời đáp nói bảy ngày hoặc mười lăm ngày. Trong Đại luận quyển ba mươi tám chép: Thân Tử thấy cậu luận nghị với Phật, có thuyết nói: Nghe Át-bệ nói ba đế hoặc nói: Trải qua bảy ngày, hoặc nói: Trải qua mười lăm ngày được quả Vô học, A-nan làm thị giả, trong Đại luận nói: Phật tìm thị giả tâm sở A-nan như mặt trời hướng Đông chiếu phía Tây khi kết trong pháp hội, Ca-diếp quở trách: “Ông như lừa vào bầy ngựa. A-nan nghe rồi: Ở chỗ vắng lặng siêng năng tu tập, chưa vô học, buông thân muốn nằm đêm đầu đến gối, chưa đến giữa gối đắc quả A-la-hán, nên biết vậy trước chẳng phải không có trí lực, do A-la-hán không được làm thị giả, cho nên không thủ chứng, như ngài La-thập đến Thiên-trúc, người trong nước kính trọng do năm vị Sa-di làm thị giả, y theo ở đây theo Phật rồi trở lại, đều không nên dùng Đại tăng làm thị giả, Bồ-tát Thông Giáo ở sau một phen đến lại rõ nghĩa không siêu việt, nên nói: Cũng sẽ có siêu việt, Bồ-tát không đâu mà không gánh vác chúng sinh cho nên bất luận siêu việt.

Trong luận siêu việt là tự y cứ người đi khác nhau suy nghĩ tạm chẳng được không phá. Siêu quả ở sau bốn thứ luận khởi. Nói bốn đoạn, vốn ở ngoại đạo khi tu thế thiền đã dứt tư hoặc, gọi là bổn đoạn, khi tùy theo bổn đoạn phẩm số nhiều ít, nên khiến ngày nay nhập mười sáu tâm quả siêu khác nhau, vốn được Phi tưởng, tức là đã dứt tư hoặc Bát địa ở sau, mười sáu tâm nên gọi là A-la-hán hướng, chỉ gọi là A-na-hàm, do khi phàm địa dùng trí hữu lậu trí lực kém nên chỉ gọi là Na-hàm, khi đắc Na-hàm, mười sáu tâm nầy khởi vô lậu được hữu lậu trước gọi là ấn Trì định, vốn được Sơ thiền đến Nhị ,Tam, Tứ so sánh thuyết nên biết chín phẩm cõi dục, tùy theo thế trí dứt nhiều ít. Nếu vốn dứt chín nay gọi là Tam hướng, nếu bảy tám phẩm được gọi là Nhị quả, dứt sáu phẩm gọi là Nhị quả hướng, dứt năm bến, v.v… chỉ gọi là sở quả, khác nhau kế đoạn ý như nói hướng, hoặc ba hai phẩm gọi là Gia gia nên nói ba bốn phẩm, hoặc sợ văn lầm, hoặc trong luận Bà-sa khác nhau. Thiện lai: Như trong thứ tư có nói, chánh tập hết chỉ là ba tạng Phật. Viên Nhân nói tối siêu.

Hỏi: Trước nói gánh vác cho nên không siêu việt vì sao khác nhau?

Đáp: Đây nói siêu: Do viên mong khác nhau nên được gọi là siêu, nên dẫn kinh Anh Lạc chứng minh siêu việt hay không siêu việt. Trong kinh Bổn Nghiệp nói: Bồ-tát Kính Thủ bạch Phật rằng: Chư Phật Bồ-tát dùng đại phương tiện đại tuệ bình đẳng chiếu các pháp giới, làm đốn Đẳng giác làm tiệm tiệm giác. Đức Phật nói: xưa Ta ở pháp hội có một ức tám ngàn Đại sĩ Vô Cấu, tức ở pháp hội đạt nguồn pháp tánh đốn giác không hai, tất cả các pháp đều một hợp tướng, đều ở mười phương nói Anh Lạc nầy. Đại chúng đều thấy một ức tám ngàn đốn giác Như lai, nên biết kinh ấy chỉ có Chánh giác, Huyền Văn thứ năm phán xét là Sơ trụ, ta Long nữ cũng vậy đều gọi là đốn giác.

Nói Vô Cấu: Lại y cứ sáu, tức để rõ Vô Cấu Tịnh Danh. Tuy thành Phật đạo, nói Sơ trụ siêu việt, hành đạo Bồ-tát, đây là không siêu việt, lý thật tướng ở sau tức câu thứ tư.

Ba bốn môn phân biệt, văn đầu nói cần ý môn, là vì thông lý, nên mười sáu môn đều phá kiến tư, nay nói nhập không phá kiến tư rồi, nên lại phải phân biệt môn năng nhập, là nghĩa nầy nên phải nói các môn, các môn tuy đều có trí đoạn có thứ lớp hay không có thứ lớp, kiến tư đều chướng nên phải nói môn. Nếu trong tức môn thông, là nay văn chánh ý, còn ba năng sở vì hiển viên cực, kia đây trở thành một trăm mười sáu môn quán ở tư nầy. Lại nếu biết các môn, quán các kinh luận rõ ràng sẽ thấy, do các kinh luận không ngoài mười sáu.

Ban đầu, giải thích ba tạng bốn môn, ban đầu nói trong hữu môn.

Ban đầu dẫn luận khởi quán, như đây ở sau lập quán phá hoặc. Vườn Nai ở sau nói người được lợi ích. Nói Câu-lân năm người: Nghĩa là Trần-như, Át-bệ, Bạt-đề, Mười lực Ca-diếp và Câu-lợi Thái tử. Khi Đức Phật mới thành đạo muốn độ hai vị tiên, do ban đầu xuất gia ở chỗ hai vị tiên tu tập định thế gian, muốn báo đáp đến ân, nên muốn độ trước.

Trên hư không có tiếng nói rằng: Hai vị tiên đã chết, kế đó Phật nghĩ độ năm người nên đi đến Vườn Nai, năm người lập chế, Đức Phật đến thì chế phá, năm người cung kính trải ngọa cụ nghe pháp đắc đạo, năm người đắc đạo trong cõi Diêm-phù-đề, là đầu tiên của tất cả trời người, đều là lực hữu môn.

Lại Át-bệ nói ba đế: Như luận kệ nói: Tất cả trí chúng sinh trừ Phật Thế tôn, muốn so sánh Xá-lợi-phất, trí tuệ và học rộng, ở trong mười sáu phần, vẫn còn không bằng một, vì thấy Át-bệ có thứ lớp oai nghi mà đến hỏi: “Thầy ông là ai?”

Át-bệ đáp: Thái tử Tất-đạt bỏ sinh già bệnh xuất gia tu đạo, đắc Tam-Bồ-đề, là thầy tôi.

Thân Tử lại hỏi: Sư nói pháp gì?

Đáp: Tuổi tôi còn nhỏ, học giới còn cạn, đâu thể diễn được nghĩa đệ nhất.

Ngài Thân Tử nói: hãy nói lược pháp yếu.

Át-bệ nói: Các pháp từ duyên sinh, pháp nầy nói nhân duyên, đều là pháp nhân duyên, thầy tôi nói như. Thân Tử nghe rồi chứng được Sơ quả, đầu tiên Át-bệ sáng sớm ra Phật bảo rồi, ngày nay những việc đã gặp ắt là lợi người, nên nói lược pháp, cho nên nói lược ba trong bốn đế, các pháp từ duyên sinh khổ đế. Pháp nầy nói nhân duyên tập đế, là pháp duyên và tận diệt đế.

Thân Tử nghe rồi lại dừng chỗ ấy, ngài Mục-liên thấy đi trước đón rước mà nói rằng: Ông được cam lồ nên cho tôi được cùng nếm.

Thân Tử lại làm như nghe mà nói, Mục-liên nghe việc đó cũng chứng sơ quả. Một người thấy Phật, Phật bảo: Thiện lai, đều được Lahán.

Ngàn hai trăm người: Ba anh em Ca-diếp có một ngàn vị, Ưu-lâu Ca-diếp có năm trăm, hai anh em đều có hai trăm năm mươi người, Mục-liên, Thân Tử có hai trăm năm mươi người, nay văn thiếu năm mươi người.

Trong Đại luận hỏi: Các Tỳ-kheo nầy vì sao thường theo Đức Thế tôn.

Đáp: Như người bệnh được lành thường theo thầy thuốc giỏi, như các sao vây quanh mặt trăng, là nói lên đức cao quý của Phật. Trong Đại luận ở sau nói dụng môn là khéo cần phương tiện.

Nói phương tiện: Bát-nhã lấy không chấp làm tông, nếu không có phương tiện ở môn khởi chấp, dụng có thì rơi vào cái có, cho đến các môn cũng. Trong Đại Tập ở sau dẫn Phật thế nhập y môn được lợi ích.

Thế nói không môn, nên ở sau chứng thể môn, nói là già chết ai là già chết, trong Đại luận dẫn Tạp A-hàm nói: Mười hai nhân duyên từ vô minh đến già chết, nếu có người nói là già chết, nếu nói ai già chết đều là tà kiến, cho đến vô minh cũng giống như vậy, nếu nói không có ai già chết phải biết là luống dối, nầy gọi là sinh không, nếu nói không có già chết nầy phải biết là luống dối, đây gọi là pháp không, cho đến vô minh cũng giống như vậy, kinh Phật kia ở xóm làng điều trâu, bảo các Tỳ-kheo, ban đầu, chặng giữa và sau thiện, cho đến phạm hạnh thanh tịnh, đó gọi là kinh đại không, nếu có hỏi nói: Thì ai già chết, già chết thuộc về ai, kia tức đáp, ngã tức già chết nay già chết thuộc về ngã già chết là ngã sở, nếu vô minh lìa mà sinh minh thì ai già chết, già chết thuộc về ai, già chết thì dứt, dứt căn bản ấy thì vô minh diệt, vô minh diệt thì các hạnh diệt. Đủ hai không nên gọi là Đại không, nên biết Tiểu thừa không ở ngã sở, gọi là pháp không, không ở ngã nhân gọi là chúng sinh không, nếu các Bồ-tát dùng không Niết-bàn Hằng sa Phật pháp, gọi là pháp không nhân, nghĩa là Tiểu thừa chẳng nói pháp không, chưa hiểu ý kinh, dù có dạy bảo nói người Thanh văn chỉ được sinh không, lại nhượng lời Bồ-tát cùng đoạt.

Tu-bồ-đề không trí nói riêng, v.v… tuy được La-hán nào phát thiên trường, nhà đã quán không. Đức Phật ở Đạo-lợi an cư một hạ, Phật dùng thần lực chế các trời người, không biết nơi chốn, thọ tuổi hạ rồi, Phật nhiếp thần túc muốn trở lại Diêm-phù-đề. Lúc bấy giờ Tu-bồđề ở trong hang đá, tự nghĩ rằng: Phật ở Đao-lợi xuống ta sẽ đến chỗ Phật lễ Phật, hay không đến, lại tự nghĩ, Phật thường nói pháp. Nếu người cùng trí tuệ lực quán pháp thân Phật đây là thấy Phật tối tôn. Khi Phật đã từ Đao-lợi xuống Diêm-phù-đề, bốn chúng nhóm họp trời người thấy nhau, trong tòa có Phật và vua Chuyển luân, các vị trời nhóm họp, chúng hội trang nghiêm, trước chưa từng có. Tu-bồ-đề nghĩ: nay đại chúng nầy tuy là đặc biệt thế không dừng lâu, pháp ma diệt đều quy về vô thường, do đây vô thường quán môn đầu, đều biết các pháp không, chẳng có thật, khi khởi pháp quán nầy liền được chứng đạo, lúc bấy giờ tất cả chúng đều muốn thấy trước Như lai lễ bái cúng dường.

Có Tỳ-kheo Liên Hoa sắc thường bị người khác kêu là dâm nữ muốn trừ tên xấu lại hóa thành luân vương có bảy báu và ngàn người con, mọi người thấy việc ấy đều tránh tòa, hóa thành Luân vương, thấy Phật rồi trở lại thân cũ, Tỳ-kheo đầu tiên lễ Phật, Phật bảo cô ni rằng: Chẳng phải ông trước lễ ta, chỉ có Tu-bồ-đề đầu tiên lễ ta. Vì sao? Vì Tu-bồ-đề quán pháp không là thấy pháp thân, được chân cúng dường trong cúng dường là hơn hết, chẳng phải cúng dường sinh thân gọi là cúng dường.

Chỉ Quán Phụ Hành Truyện Hoằng Quyết phần một trong quyển sáu.

 

 

PHẦN 2

Đại phẩm được che chở: nói Thêm là ở chỗ có thể thêm, do không của Tu-bồ-đề tương ưng tương tự với không của Bát-nhã, cho nên Phật thêm khiến thuyết ấy không. Bát-nhã là trí nên cũng thêm ngài Thân Tử, nên chỉ thêm hai vị nầy, nên nói muốn dùng đại không đều là tiểu không, do trong Bát-nhã nói đủ hai việc nầy, cho nên chỉ thêm hai người nầy.

Trong kinh Pháp Hoa nói: Chúng ta tuy vì các Phật tử nói các pháp Bồ-đề, trong Đại phẩm Phật bảo Tu-bồ-đề: Ông phải vì các Bồtát nói Bát-nhã Ba-la-mật như các Bồ-tát đã được thành tựu. Tu-bồ-đề nói rồi: lúc bấy giờ các Bồ-tát Thinh văn bốn chúng tám bộ trời rồng khởi ý nghĩ nầy, vì tự lực của Tu-bồ-đề là Phật lực, Tu-bồ-đề biết tâm niệm của đại chúng bảo ngài Thân Tử rằng: đâu chỉ có đệ tử Phật có nói pháp, đều là Phật lực, Phật nói pháp tướng không trái nhau, người Nhị thừa không có sức năng thuyết. Trong Đại luận quyển năm mươi ba chép: Lúc bấy giờ Tu-bồ-đề khởi ý niệm nầy. Chư Phật ba đời từ Bátnhã Ba-la-mật sinh ra, Tu-bồ-đề là hàng Tiểu căn, vì sao Đức Phật khen ngợi muốn nói Bát-nhã phải biết chỗ ông nói?

Đáp: Tu-bồ-đề nói đều là nương ý chỉ của Phật, chính như các Đại Bồ-tát Đại Phạm vương không nương ý của Phật còn không thể nói, huống chi Tu-bồ-đề ở trước Phật có thể tự ý nói. Thân Tử có nói cũng giống như vậy. Trong Đại luận ở sau khéo dùng phương tiện, ý cũng đồng với trước trong Hữu môn có nói môn thứ ba so sánh nói rất dễ thấy, trong môn thứ tư nói Xa-nặc: Là dẫn người phân biệt lẫn lộn. Đức Phật sắp nhập Niết-bàn, tâm A-nan buồn lo. A-nê-lâu-đậu nói: Đức Như lai không bao lâu sẽ nhập Niết-bàn, nếu có nghi gì đều nên thưa hỏi.

Vì sao ưu sầu? vì mất lợi pháp. A-nan nhân trước nầy bạch Phật rằng: Ở đầu tất cả kinh để chữ gì, cho đến Xa-nặc ác miệng làm sao trị tẩn.

Đức Phật nói: ở đầu tất cả kinh đều để các chữ Tôi nghe như vầy, Xa-nặc ác miệng y phạm pháp trị, nếu tâm điều hòa mềm mỏng nên vì họ nói kinh Na-da Ca-chiên-diên, lìa có lìa không mới đắc đạo được, nói lìa có lìa không tức là đều sai. Nếu quán cảnh, cũng nên nói tạm khác nhau với trước chẳng phải pháp thật trước có sau không ở đây cho nên đều phi đây là cảnh, thực hành quán nầy gọi là quán, như đây ở sau nói trong môn được lợi ích. Nói câu cảng, xưa nay tân dịch chưa thông, lại vì Dự lưu dịch là câu cảng, nước thông, thông nước gọi là nước câu ngòi rảnh gọi là cảng, bốn môn sau là nói môn khác lý đồng.

Ban đầu chánh nói rõ môn khác lý đồng, hữu pháp thì chứng, y lý thông tranh cãi chặng giữa ban đầu chánh thông.

Bạt-ma: Thời Tống Văn Đế đến cõi nầy, được vua sắc ban cho trụ Kỳ-hoàn, khi lâm chung để lại sách tự nói đã chứng, truyền đến cõi nầy và tăng chúng nước ngoài. Bài kệ có ba mươi sáu hàng. Trước quy kính ba bảo rồi, kế nói quán bất tịnh, sau nói đắc hai quả; cuối cùng nói: Kia đây A-tỳ-đàm nói năm pháp nhân duyên, thật nghĩa tu ở trì gọi là không thể thấy, các luận đều khác đoan lý tu hành không hai, tìm nương theo Tỳ-đàm mà đắc đạo nên phân tích thành luận không đắc đạo, nhưng chấp khác đoan không thực hành khế lý. Nhưng Chân đế vắng lặng chẳng phải văn kệ khư là khứ là hoặc. Luận chủ, quở trách Lê-bạt-ma soạn Luận Thành Thật, vì sao ở sau tranh biện có không, luận văn tuy phân ra đại tiểu nói tranh nay thông dụng, thuận lý ắt không có lý của lỗi cho nên tranh, Bồ-tát không tranh chặng giữa, Đức Thích-ca ban đầu gặp trong ba A-tăng-kỳ. Luận Câu-xá nói: Ở ba vô số kiếp đều cúng dường bảy muôn, lại như kế cúng dường năm, sáu, bảy ngàn Đức

Phật. Giải thích: Sợ tăng-kỳ cúng dường bảy muôn năm ngàn Đức Phật. Tăng-kỳ thứ hai bảy muôn sáu ngàn, tăng-kỳ thứ ba bảy muôn bảy ngàn bài tụng rằng: “Ba vô số kiếp mãn.

Nghịch kế gặp Thắng Quán Nhiên Đăng Bảo Kế Phật”. Sơ Thíchca Mâu-ni: Giải thích rằng: Đệ nhất tăng-kỳ sơ gặp Thích-ca Mâu-ni, đệ nhất tăng-kỳ mãn gặp Phật Bảo Kế, đệ nhị mãn gặp Phật Nhiên Đăng thứ ba mãn gặp Phật Thắng Quan. Đại luận: tăng-kỳ thứ hai kếna Thi -khí, thứ ba là Tỳ-bà-thi, là chia nầy âm khác, sáu độ đủ như quyển ba có dẫn, nhân luận thì chỉ Thích-ca, v.v… trong Bà-sa kia giải thích Bồ-tát, nói nhân thì chỉ Thích-ca ba tăng-kỳ kiếp, nói quả thì chỉ Di-lặc sắp thành. Vì sao vậy ư? Thích-ca quả đã thành cho nên chỉ nhân hạnh, vì khiến mến mộ quả mà hành nhân, nhân Di-lặc đã mãn cho nên chỉ đương quả, đều khiến quán nhân để biết quả, nên các Thánh giáo đều nói nhân Thích-ca, như nói khổ hạnh xưa của Bồ-tát, đều nói quả của Di-lặc, như trong kinh nói Di-lặc há sinh:

Ngài Long Thọ gạn rằng: Trong Đại luận giềng mối quyển bảy hỏi: Quán thật tướng các pháp và tu từ bi khiến ba độc kém mỏng, kém mỏng nên hay nhóm họp công đức thanh tịnh, như người lìa dục ở học địa kết còn có thượng hoặc nên gọi là bạt, như Sơ quả kiến hết tư còn cũng chưa gọi là bạt, như Phật đã nói dứt dâm nộ si gọi là Tư-đà-hàm, nên gọi là Bạt, các nghĩa bạt như vậy tức là dứt, sao ông chưa dứt mà gọi là bạt.

Luận nói: Nếu khi được Vô sinh nhẫn là dứt chánh phiền não, khi được quả Phật dứt các tán tập, là thuyết chân thật, nầy vẫn còn thông để phá ở tàng. Lại trong Đại luận quyển năm, phân tích rộng Bồ-tát Sáu độ rằng: Ca-la-diễn kinh nầy không đọc diễn kinh chẳng phải Đại Bồtát, không biết thật tướng, tự cho lợi căn ở trong Phật pháp làm các luận nghị, làm kiết sử trí căn, v.v… kiến độ còn các chỗ mất so sánh luận Bồtát, nên văn nầy ban đầu giải thích luận dẫn Ca-chiên-diên-tử nói nghĩa Bồ-tát, phải biết đại luận vì phá nên dẫn, nên luận phân tích rằng: như người tiểu nhân không thể nhảy qua nương ngòi, rãnh nhỏ huống chiso sánh sông lớn há không chìm mất. Thế nào là chìm mất? Như nói xưa Bồ-tát làm Đại Tát-tha-bà-độ, nước biển lớn gió giữ thổi thuyền, bảo người đi buôn rằng: Ông nắm tóc tôi sẽ đưa ông qua, các người năm rồi dùng năng lực tự sát, nước biển lớn không chứa thây chết, tức thời mau chóng gió thổi đến bên bờ, đại từ như vậy mà nói không phải Bồ-tát, được Đức Nhiên Đăng thọ ký thân bay lên hư không thấy Phật mười phương đứng ở hư không khen ngợi Đức Nhiên Đăng được thọ ký rồi, ông ở đời sau thành Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni, được thọ ký như vậy sao nói chưa phải Bồ-tát, ba A-tăng-kỳ chưa có tướng tốt cũng không có chủng tướng nhân duyên, thấy Đức Phật Nhiên Đăng thân bay lên hư không thấy Phật mười phương, há chẳng phải đại tướng, vì Phật đã được thọ ký sẽ được thành Phật, cũng là đại tướng, bỏ đại tướng nầy mà lấy ba mươi hai thanh tịnh, ba mươi hai tướng Luân vương ma-la cũng có thể làm. Điều-đạt cũng có ba mươi tướng, người khác đều có phần, nhiều như mắt xanh tay dài, ông sao dùng trọng tướng, sao kinh nói ba tăng-kỳ Bồ-tát không trồng nhân tướng tốt như ngài Na-đà Phật Tỳbà-thi. Nguyện được thân xinh đẹp sắc vàng đời đời được vui thọ sinh khắp nơi, thường được khổi ngô, do là các phước nầy, sinh trong dòng Ca-tỳ-la họ Thích, được ba mươi hai tướng xuất gia được Vô học, Phật nói năm trăm Tỳ-kheo trong đó Nan-đà thứ hai là tướng dễ được, vì sao trong chín mươi mốt kiếp gieo trồng, trong một đời được, đây làm đại phu, lại sơ tăng-kỳ không biết thành Phật hay không thành, v.v… hoặc ẩn hoặc diễn chỗ nào nói lời nầy?

Ca-chiên-diên-tử nói: Phật nói tuy trong ba tụng không nói nghĩa lý nên như. Tỳ-đàm Bà-sa nêu ra thuyết nầy, như trong Thủ-lăng-nghiêm nói bốn lần thọ ký, có người tâm chưa phát cùng thọ ký hoặc vừa phát tâm cho thọ ký, người khác đều biết mình không biết, có người khác mình biết hết. Vì sao hai tăng-kỳ không biết thành Phật.

Lại nói: Gieo trồng tướng tốt, duy ở cõi dục, cõi sắc vì sao không được gieo trồng, như các Phạm vương thường thỉnh Phật xoay bánh xe pháp, vì sao nói thượng giới không được, lại không tiếc thân mạng gọi là Đàn, chẳng biết ba không nên không gọi là Tịnh, cho đến Bát-nhã cũng phải biết ba việc đều không. Nói phân địa dứt tranh: Là nói Nhị thừa và Bồ-tát còn không thể chia, chia đất thành bảy phần là pháp toán số, là thế tục, trong Bát-nhã ít thừa nhận.

Lại nói: Muốn ở trong loài người gieo trồng nhân tướng, như Bàgià Độ rồng là Bồ-tát Thập Trụ, A-na-bà-bạt-đa Long vương là Bồ-tát Thất Trụ La-hầu A-tu-la vương cũng là Đại Bồ-tát, vì sao nói đạo khác không gieo trồng tướng ư? Nói một tư mười tướng, là trong khoảng sátna có sáu mươi sinh diệt nhất tâm không trụ không thể phân biệt, làm sao có thể trồng đại tướng, không nên không rõ tướng tâm gieo trồng, nhiều tâm hòa hợp mới gieo trồng được, cũng như vật nặng nhiều người có thể gánh vác, một người không thể gánh vác. Nếu nói căn cơ của đệ tử Thích-ca thuần thục, tạng diễn các kinh cũng không có nói ở đây, phát ra từ tâm ông, các thứ như vậy phá phá ba tạng tướng tốt, nếu vậy diễn tướng làm sao?

Đáp: Đại luận quyển hai mươi chín chép: Thế nào gọi là tướng tốt trong đại thừa, Chư Phật mười phương ba đời đều vô tướng, vì sao nói tướng, một tướng còn không có vì sao nói ba mươi hai tướng.

Đáp: Trong Phật pháp có hai thứ thế đế, nghĩa đệ nhất đế, thế đế hữu tướng. Nghĩa đệ nhất đế vô tướng. Lại phước đạo, tuệ đạo, lại hai thân sinh pháp.

Lại tướng tốt nghiêm thân vô úy bất cộng trang nghiêm chúng sinh, lại vì hai thứ chúng sinh nên hiện hai thân, đặt tên là vì nói tướng tốt, biết pháp giả danh không vì họ nói ba mươi hai tướng.

Hỏi: Năng lực vô úy cũng có tướng tốt, vì sao nói pháp thân vô tướng?

Đáp: Tất cả các pháp đều vô tướng. Hiện sắc thân là vì thấy sắc sinh vui phát đạo tâm, nói tướng không có lỗi, ở trước giải thích nhiều, mỗi đều khai thành ba giáo ý, do bác bỏ ba tạng mới xứng ý chỉ kinh.

Hỏi: Vì sao không nhiều không thiếu, chỉ có nói ba mươi hai tướng ư?

Đáp: Thân trượng sáu thiếu thì trang nghiêm không đủ, nhiều thì lẫn lộn.

Hỏi: Sao gọi là hảo?

Đáp: Tướng thì đại trang nghiêm thân hảo thì tiểu trang nghiêm thân. Nếu nói Đại thì đã nói tiểu, lại nữa tướng thô hảo tế, chúng sinh thấy Phật thì thấy Phật, tốt của Phật thì khó thấy.

Hỏi: Phật đoạn ngã của chúng sinh, vì sao tướng tốt tự nghiêm thân kia?

Đáp: Đã có pháp mầu trang nghiêm tâm ấy, thân không có tướng tốt hoặc sợ độ tâm sinh kiêu mạn, nghĩa là thân tướng của Phật không đủ, không thể nhất tâm thọ đạo, như đồ đụng không sạch đựng thức ăn ngon người thấy không vui, cho nên tướng tốt tự nghiêm thân kiaLại tâm trang nghiêm khai đạo Niết-bàn, tướng tốt trang nghiêm khai đường trời người, lại tâm trang nghiêm ba cõi tâm tức. Thân trang nghiêm là tâm ba ác dứt.

Nhưng trong đây nói ba kỳ trăm kiếp, hơi khác với Câu-xá. Câuxá thì đạo thọ về trước bốn Ba-la-mật đủ, đến vị quả Phật hai Ba-la-mật đủ, nên tụng rằng: Chỉ do bi khắp thí bị phân tích thân không giận, khen ngợi Phật Để-ca.

Kế là Vô thượng Bồ-đề, sáu pháp Ba-la-mật-đa ở bốn vị như vậy, một hai lại một hai như thứ lớp tu viên mãn.

Ban đầu một- Là bố thí

Kế hai- Là giới nhẫn Kế một- Nói tinh tấn Kế hai- Nói thiền trí.

Như kế đối bốn câu, do khen ngợi Để-ca siêu vượt chín kiếp, nên từ Tỳ-bà-thi Phật chín mươi mốt kiếp thần trí hai Ba-la-mật đủ, nếu theo trong Đại luận ba A-tăng-kỳ đủ sáu Ba-la-mật, không trái nhau ư? cũng không trái nhau.

Trong Đại luận, ba tăng-kỳ chỉ là sự thiền sự trí đủ. Nếu đến dưới thọ cương cũng là duyên lý thiền trí mới mãn.

Trong Câu-xá chép: Nhân thời đã dứt, Bát địa hoặc là đã chưa dứt Hữu đảnh, mà chỉ dùng hữu mãn, nên trong Đại luận chẳng có tên hữu mãn trước đến dưới thọ vương, mới nói dụng ba mươi bốn tâm dứt hoặc kiến tu trong ba cõi, nên biết bấy giờ mới được vô mãn. Nay văn lại dùng Đại luận phân tích lập nghĩa Bồ-tát ba tạng, nên cón có tên là Phục đạo. Chữ bán là dẫn chứng chỉ có tiểu. Kế năm nói. Thí như ông Trưởng giả chỉ có một người con, tâm thường nhớ nghĩ, đi đến minh sư, sợ không mau thành, tìm đem trở về, vì nhớ nghĩ nên ngày đêm hết lòng, dạy bán tự mà không dạy luận Tỳ-đà-la, vì sức chưa kham nhậm, hợp dụ mà nói. Nói bán tự vốn là chín bộ kinh, luận Tỳ-già-la: Nghĩa là kinh Phương Đẳng.

Giải thích rằng: Luận đây là Tự bổn.

Hà Tây nói: Căn bản của văn tự thế gian, kinh nhờ âm thinh, luận nói thông bốn hiện tại, quở trách thế pháp, khen ngợi pháp xuất gia, ngôn từ thanh nhã, nghĩa lý sâu xa. Tuy là ngoại luận mà không tà pháp, sẽ là điều quyền xảo mà Đại sĩ đã làm, nên dùng luận nầy dụ kinh Phương Đẳng, Pháp Hoa gọi là mười hai năm, y cứ người quyền đồng với Nhị thừa, y cứ lý tức hai đế chân tục y cứ hoặc thì kiến tư đều phá.

Hỏi: Nghĩa có thể như vậy là sao?

Đáp: Nhị thừa đều có mười trí lại dứt kiến một vô ngại một giải thoát, dứt tư chín vô ngại chín giải thoát. Bần nghèo của pháp, v.v… như chồng cày ruộng không nghĩ đến Đế vương, vợ dệt vải không để ý đến Hoàng hậu Nhị thừa cũng. Pháp Hoa về trước tuy nghe tuy nói tự thấp kém chẳng có phần mà không mong nhận lấy.

Kế là Thông giáo bốn môn:

Ban đầu là hữu môn, là nói có huyễn hóa, tức hữu môn chánh thể, như vậy ở sau phá hoặc kiết thành, nếu nói giả thật ở sau không môn chánh thể, như đây ở sau phá hoặc kiết thành, nếu nói tất cả pháp ở sau thể không hữu môn, như vậy ở sau phá kết thành. Đã nói ở sau chẳng phải không chẳng phải thể hữu môn, như đây ở sau phá hoặc kiết thành. Ban đầu trong hữu môn nói các pháp không sinh mà Bát-nhã sinh. Trong Đại luận quyển sáu mươi hai trước dẫn kinh nói:

Ngài Thân Tử bạch Phật rằng: Thế nào là sinh Bát-nhã Ba-lamật?

Đức Phật nói: Sắc không sinh Bát-nhã Ba-la-mật sinh, cho đến trí Nhất thiết chủng không sinh Bát-nhã Ba-la-mật sinh.

Thân Tử hỏi: vì sao sắc không sinh?

Đức Phật nói: Sắc không khởi không sinh không được mất, cho

đến chủng trí cũng như vậy, đây là Bát-nhã sinh, sinh tức là có cho nên chứng hữu môn, tuy đủ ba giáo nay ý ở thông. Trong Không Môn nói: cho đến Niết-bàn cũng huyễn hóa. Trong Đại luận quyển năm mươi ba dẫn trong kinh nói: Các Thiên tử nghĩ: Ai sẽ nghe Tu-bồ-đề nói: Tu-bồđề biết các Thiên tử nghĩ nên bảo các Thiên tử rằng: Như huyễn như hóa nghe pháp như vậy, cho đến Niết-bàn cũng như huyễn như hóa.

Luận giải thích rằng: Phật là bậc nhất trong tất cả chúng sinh, Niết-bàn ở trong tất cả pháp là bậc nhất, do hai pháp danh tự từ nhân duyên sinh, giả khiến hữu pháp thắng Niết-bàn là khiến cho như huyễn, huống chi Niết-bàn, do không có pháp thắng Niết-bàn nên giả lập nói phân tích ba tạng như trong văn, thể mà luận phá, nầy phục nạn chung.

Nạn rằng: Người thông đã quán các pháp như huyễn, huyễn vốn không sinh nay không có chỗ diệt, gọi là thể, thể thì không phá, nay vì sao nói thể phá kiến tư gọi là phá pháp biến.

Đáp: Đây y cứ tức thể mà luận phá không phá mà phá nên nói thể phá.

Kế dẫn trong chứng nói: Hỏa diệm, v.v… đều chứng bốn môn mà không thể chấp, cho đến giải thích trong nghĩa đệ nhất.

Nói: Bốn câu tất cả thật, v.v…, bốn môn nhập trì, v.v… đều là ý nầy, nên bài kệ khen Bát-nhã chép:

Bát-nhã Ba-la-mật dụ cho

Như lửa lớn nhóm họp bốn bên

Mà không thể chấp

Không chấp cũng không thể chấp

Tất cả chấp đều xả

Đây gọi là không thể chấp

Không thể chấp mà chấp

Đây tức gọi là chấp.

Giải thích rằng: Câu đầu nói thật tướng Bát-nhã tức là sở thông, câu kế dụ cho sở thông, câu thứ ba dụ cho năng thông không thể chấp, câu thứ tư môn quán đều vong, câu thứ năm năng sở đều vong, câu thứ sáu chung kết, câu thứ bảy thứ tám, nói không chấp, nên gọi là đắc nhận nghĩa cũng bao gồm ba pháp lại giải thích thành thông. Nếu không ở sau nói môn thể lìa tranh cãi.

Hỏi đáp ở sau cùng ba tạng nói khác chữ đáng, nghĩa là bằng đáng. Trong hữu môn sẽ có mà bát không, không môn sẽ không mà bác có, cũng gọi là như thật khéo độ. Trong Đại luận quyển bảy khéo dưa ra hai thứ thuốc để dụ cho: Như dùng kim, thuốc gọi là chuyết độ, dùng chú thuật gọi là xảo độ, cũng như hai độ. Nếu dùng bè cỏ gọi là chuyết độ, dùng phương tiện thuyền gọi là xảo, hai thuyền gọi là phương, Thinh văn hóa nhân khổ hạnh đầu đà, đầu hôm, nữa đêm, gần sáng tâm siêng năng thiền quán, khổ nhọc hành đạo gọi là Chuyết độ. Bồ-tát hóa nhân quán các pháp thật, không ràng buộc, không giải tâm được thanh tịnh, gọi là xảo độ. Xảo như hỷ căn, chuyết như thắng ý, xảo chuyết hình tướng tuy như vậy, tâm lượng so sánh hạnh không khiến lẫn lộn sai trái, nầy phân tích tiểu tông sự tướng đầu đà chuyên căn bản thiền quán các vô thường, khổ hại thân miệng không biết các pháp rốt ráo thanh tịnh, nầy do diễn giáo rốt ráo thanh tịnh, nầy do diễn giáo dụng phân tích chuyết độ, người hành đạo khéo tự linh động. Ba con thú qua sông là trong Đại kinh có dụ cho. Ba người như thú đáy nước chân như, tượng tuy được vẫn phân ra hai biệt, tiểu tượng được bùn, thông Bồ-tát, đại tượng được thật tức thấy bất không, thấy bất không, lại có hai thứ: Nghĩa là nhưng không nhưng, nay văn lại dùng Bồ-tát đắc nê để cùng Nhị thừa.

Kế phân biệt bốn môn chặng giữa ban đầu nói lược khác nhau, trong Đại kinh ở sau nói đồng khác. Kinh nói: Nghe Đại Niết-bàn có đạo Vô thượng, v.v… đủ như trong Thích Tiêm nói trong Thánh hạnh, nay nói sự tướng thứ lớp không khác ba tạng, lại như giới định và tuệ sinh diệt, ba Thánh hạnh nầy hoàn toàn như ba tạng, nếu vô sinh, v.v… ba tuệ Thánh hạnh thì khác ba tạng, nay theo thuyết ban đầu nên nói chẳng khác, lại y cứ giáo đạo ban đầu không biết viên, còn bỗng nhiên trong Thích Tiêm thứ lớp năm hạnh.

Trong môn ban đầu nói giải thoát tức là bất không, là trong Đại kinh câu thứ năm trong văn giải thoát, trăm giải thoát ấy bao gồm mà nói không ngoài bốn môn, phần nhiều nói chẳng phải có chẳng phải không, phải biết trăm câu là môn năng thông.

Ba Đức Niết-bàn là lý sở thông, vì nghĩa trăm câu ấy bao gồm Biệt Viên, nên nay khiến ở môn biệt dẫn ra, Như lai tạng mười dụ, hai văn khác nhau, các văn dẫn dụng, hoặc nói Phật tạng là tùy theo tiện nói, văn ở trong Phương Đẳng Như lai Tạng Kinh, một quyển kinh ấy Đức Phật nói cho Bồ-tát Kim cương Tạng nghe, văn tuy có mười nghĩa nhưng giống như chén, do hai văn đầu đồng một nghĩa. Văn đầu nói: Ta dùng mắt Phật quán sát tất cả chúng sinh, trong phiền não có trí nhãn của Phật có thân Như lai, ngồi kiết già an nhiên bất động. Nầy Thiện nam, thì như mắt trời chưa xem xét trong chỗ rải hoa trừ bỏ hoa rồi lại được hiển hiện, Phật thấy chúng sinh cũng giống như vậy. Về sau chín dụ cho bao gồm chín lần kệ tụng, văn xuôi đều có bốn, năm hàng, nay lược theo cốt yếu đều lấy một hàng để biết tướng dụ.

Ban đầu nói: Thí như biến hoa héo tàn hoa kia chưa nở, người có mắt trời xem thấy thân Như lai không nhiễm.

  1. Thí như cây cao có vô lượng mật bầy ong vây quanh phương tiện khéo léo lấy, trước xua bầy ong kia đi.
  2. Thí như tất cả lúa gạo mà cám chưa được chà sạch, người nghèo cho là vật đáng bỏ.

– Như chốn giấu chỗ không sạch không thể thấy, người có mắt trời bèn thấy liền bảo cho mọi người biết.

– Như trong nhà người nghèo có cất châu báu, người chủ đã không hay biết, thấy của báu lại không thể nói.

– Thí như hột trái yêm-ba không thể đập vỡ, trồng nó dưới đất sẽ thành đại thọ.

– Thí như cầm kim tượng đi đến ở phương khác bên trong ngăn che vật uế bỏ ở chỗ vắng.

1/ Thí như cô gái nghèo chan sắc rất xấu xí, có mang con tướng quý sẽ làm vua Chuyển luân.

2/ Thí như đúc đài lớn dùng vô lượng vàng vòng người ngu tự xem bên ngoài chỉ thấy đất cháy đen, trong văn đều dùng tánh Phật hợp dụ, như trong kinh Ni-kiền nói: Có tên thành là Uất-xà-đình, vua tên là Nghiêm Xí có Đại Tát-giá vào nước ấy, vua từ xa ra đón rước Đại Tát-giá thấy vua ngồi dưới một gốc cây, vua rất cung kính, do đó vì vua mà nói pháp trị nước, cho đến vì vua nói thân tướng Phật và chủng tánh, cho đến khiến vua quán thân Như lai rằng: Đại vương phải biết y thân phiền não quán thân Như lai, y ấm giới nhập quán thân Như lai, vì sao, thân đây là là Như lai tàng, tất cả phiền não các cấu chứa trong Phật tánh đầy đủ, như vàng trong đá, lửa trong cây, nước trong đất, lạc trong sữa, dầu trong mè, lúa trong hột, tượng trong khuôn, thai trong bụng, mặt trời trong mây, cho nên ta nói trong phiền não có Như lai tạng.

Trong kinh Ni-kiền tuy cũng có tên Như lai tàng mười dụ cũng phần lớn đồng với văn nầy, nhưng đã dẫn lụa xấu trong Tát-giá không có, nên biết phải dẫn trong kinh Phương Đẳng. Trong kinh Niết-bàn không có đồng, Niết-bàn chẳng phải là năng danh sở danh, nên nói là phi hữu, nhân tục lập bày gọi là Niết-bàn hữu, đã chẳng phải sắc thinh, làm sao mà nói kiến diệu hữu sắc, nghe tên Niết-bàn. Như các bình nước rượu lạc, v.v… cũng trăm câu văn, văn ấy nói: Lại giải thoát gọi 22 là bất không, như các binh nước rượu lạc tô mật, không có nước, v.v… lúc bấy giờ vẫn cố gọi là các bình nước, các bình như vậy chẳng thể nói không và dùng bất không. Nếu nói không thì chẳng được có sắc, hương, vị, xúc. Nếu nói bất không mà thật không có các rượu nước, trong môn phi hữu phi vô nói tuyệt bốn, v.v… trong ý chỉ là lý sở chứng, vì lý không có bốn, cũng không có bốn câu làm sao có trăm phi, môn thứ tư nầy tuy thuộc bốn câu, nay nói theo lý nên nói tuyệt tứ, cho đến hữu môn cũng giống như vậy, nên dẫn trong Đại kinh phi thường phi đoạn gọi là Trung đạo, do chứng ở lý lại là đều phi, như đây trở xuống phán xét được mất. Nếu được ý thì được nhập Sơ địa gọi là kiến thật. Nếu không được ý chỉ thành Địa tiền phương tiện vị. Nếu y theo trước nói ba tạng bốn môn, sau mỗi môn đều nói được mất, vì lìa văn rườm rà ở đây nói chung.

Kế nói viên trong bốn môn ban đầu phân biệt đồng khác, vì sao ở sau chung gạn khởi, quán kiến tư ở sau chánh giải thích.

Ban đầu nói hữu môn, tức chỉ kiến tư là nhân sinh ra pháp không thể nghĩ bàn, sinh pháp tức giả, giả là hữu môn, do chẳng có không trung mà chẳng có giả, nên nói cho đến nghĩa đệ nhất cũng là nhân duyên. Trong Đại kinh ở sau dẫn chứng, pháp ba-bồ-đề cũng là nhân duyên nên biết tất cả không phi hữu.

Kế trong không môn nói ba đế: Cũng là ba đế đều không, cũng là giả trung đều không. Nói hai pháp ngã và Niết-bàn nầy đều không, ngã là tục, Niết-bàn chân, hai đế đều không, chỉ có trung không, trung không cũng nên nói bệnh không cũng không. Đây tức ba đế đều không.

Kế là môn vừa không vừa hữu, một trung tất cả trung, y cứ song chiếu nên tên môn thứ ba, không có chân thật cũng không, phân biệt bất tận cũng có.

Kế dẫn văn nhiều dùng làm chứng, trong một hạt bụi cũng không, quyển kinh lớn bằng cõi Đại thiên cũng có. Nghĩa Đệ nhất cũng không, khéo phân biệt cũng có, đại địa một cũng không, các thứ mầm cũng có không, có danh tướng cũng không, giả danh tướng cũng có, cho đến Phật cũng không, nhưng có chữ cũng có. Đã y cứ Trung đạo chiếu cả hai đế, tất cả không phi vừa không vừa có.

Kế phi không phi hữu môn: Cũng là mười trung tất cả trung, y cứ vào song chẳng phải nói tên môn thứ tư, không hữu cho đến phi không phi hữu cón ba môn trung, đều nói một hữu tất cả hữu, chỉ có môn thứ ba nói tuy hỏi ẩn ý mà thật đủ khắp.

Vì sao ở sau nói môn hỗ dung lại nương bốn môn riêng mà nói tướng ấy, lý ba đế mỗi đối không thiếu. Vì sao ở sau giải thích, một môn tức là ba môn.

Ban đầu nêu nhân duyên, nhân duyên tức không, không tức giả, giả tức pháp giới, nay nói về hành tướng bốn môn đều thuận theo căn tánh đều có riêng biệt tùy theo nương một môn.

Ban đầu y theo giáo môn thấu suốt đại thể, tất cả lại dùng vô sinh làm đầu, nay nói ý chỉ giáo phân biệt mười sáu môn đều dứt kiến tư, cho nên trong phân biệt nêu ra nguyên ý ấy, ý ở viên môn, nên nêu chung bày bốn, lại mỗi giáo tuy có bốn tùy theo giáo kinh luận, trong mỗi giáo mới nhập lại khác nhau. Nên Bốn niệm xứ nói: Tạng giáo nhiều dụng hữu, Thông giáo nhiều dụng không, Biệt giáo nhiều dụng vừa không vừa hữu. Viên giáo đa dụng phi không phi hữu, lại chỉ do không hữu đối nhau mà nói. Hai giáo Tạng biệt phần nhiều y theo hữu môn, hai giáo thông viên phần nhiều y theo không môn, chỉ cần phân biệt giới nội giới ngoại, riêng dụng tuy vậy lại thuận theo con đường lớn, cho nên nay văn vô sinh làm đầu, trong văn lại phải đầy đủ nêu bày bốn vì riêng giản nên nêu chung bày, như thượng hạ kết thành vô sinh, nếu vậy ở sau khai quyền.

1- Gạn khởi

2- Chánh khai.

3- Dẫn chứng.

Nếu vậy chỉ nên dẫn văn kinh Pháp Hoa để chứng minh hiển thật, cần gì lại dẫn Đại phẩm Tịnh Danh?

Đáp: Trong bộ ấy thật không khác Pháp Hoa, đã hiển thật đồng nên được làm chứng, đã dẫn trong kinh Pháp Hoa khác các quyền rồi, Tịnh Danh đại phẩm bao quyền không khai, nên khai quyền ấy lại nhập vào thật tức là Pháp Hoa ý quyền bổn thật, người khác không nói mười sáu môn nầy, sẽ lấy gì làm con đường năng thông, phá giả khác nhau lẫn lộn khó hiểu, lấy gì để phân biệt các không các hữu, cho đến các giáo phi không phi hữu, như trên đã nói lại nương một pháp lấy đó làm cách thức. Nếu thấy các giáo vị dụ chuẩn đích nên theo.

Lại mười sáu môn nầy, ba giáo Tạng Thông viên, tùy theo môn đã nêu bày liền có thể quán sát, chỉ có phân biệt bốn môn hỏi khác trước sau, như nay đã nêu bày, chỉ là luận tâm ban đầu dứt kiến tư khác nhau. Nếu nói về lý xa thẳng ở giáo đạo trông mong tâm cực quả duyên lý sinh tín, tức dùng sở tín lập thành bốn môn, chúng sinh lý đủ bị hoặc ràng buộc, ban đầu tâm đốn văn mà tu hạnh tiệm, đến sau mười hai hạnh mới tu tạo, đến địa sau cùng mới bạt chứng chút phần, sau tín tập quán ban đầu dứt kiến tư đủ như Tạng Thông, nên nói thứ lớp chẳng

khác ba tạng, từ đầu đến sau trải qua mười sáu môn, tự hành hóa tha hoặc ngang hoặc dọc, nếu được ở sau mở nói tức lý để kết ý môn dẫn chứng như văn, trên không sinh sau chung kết bổn ý dụng môn, nầy nói y môn vô sinh, tức Đại kinh ở trước viên môn vô sinh, phá dọc kiến tư, tức dọc mà chẳng phải ngang dọc đều nhiếp tất cả, nếu chỉ phá dọc chưa liên quan đến các hoặc, nếu được nguyên ý vốn ở viên dung, nên ở trong đây nêu đủ các môn phá vị kiến tư, trước phân biệt sau khế hội nên viên bốn môn đều thông suốt kiến tư tức là pháp giới đều có đủ ba đề, e người mê ý chỉ nên ở trong đây là chỉ bày ý môn, nếu được ý, suốt ngày thứ lớp ý chẳng phải thứ lớp, nên nói chẳng phải môn phương tiện, đây là thứ ba chỉ bày ý chỉ văn quy về. Nếu tiêu thế văn không thể ở trong mỗi câu chấp, mỗi phẩm tư thường là ý chỉ văn luận. Nếu người tu quán, và tìm văn chỉ, không thể một câu mê ở diệu thể, nên trong Bốn niệm xứ hỏi rằng: Nếu vậy nói thẳng Đại, vì sao trước Tiểu.

Đáp: Kinh đủ hai ý. Nếu trước đại là như chiếu núi cao thuần giúp ở Đại, vẫn bao gồm hai cơ lợi độn khác nhau. Nếu trước tiểu, như ban đầu ở Vườn Nai, nhưng nay trước tiểu ý ấy có mười:

  1. Vì dụng, cũng như trong Tịnh Danh trước vì chúng thường.
  2. Vì phá chày của đệ tử ở trước, sau là cây chùy của Tịnh Danh.
  3. Vì nhiếp, như trong thất của ngài Tịnh Danh trước vô thường.

– Vì hội, trong Đại phẩm hội tông đều là Đại thừa.

– Là khai, như trong Pháp Hoa quyết liễu các pháp.

– Học giả, hiểu biết nội điển, ngoại điển lìa tà yểm sai lầm.

– Là vì biết, biết Phật phương tiện không nên phá ngay.

  1. Chỉ bày đời sau ngồi thiền nội chứng tà chánh không phân biệt.
  2. Người Học, biết trong ngoài lời nói hành động thô lỗ.
  3. Người Học, biết môn đại tiểu thành biên tập.

Nay y cứ tự hạnh dường như thiếu ba pháp ở trước, bao gồm lợi tha phải đủ mười ý, vì ý nầy nên phải lập môn khắp, nên dùng ý nầy gồm thông trên dưới.

Kế nhập giả phá khắp, ý văn đầu là đại bi lợi vật, cho nên Nhị thừa chỉ trụ ở không, chẳng thể từ không xuất giả lợi vật, phân biệt tiểu chánh nói xuất giả lợi vật, phân biệt tiểu chánh nói xuất giả ý như văn, khéo léo ở sau chỉ bày tướng giả quán. Giữa hư không trồng cây giống như tướng xuất giả, đã dùng đại bi làm lợi ích chúng sinh, nên ở trong sinh tử có phương tiện, như trồng cây giữa hư không biết bệnh biết thuốc. Trong Đại luận quyển hai mươi tám dẫn kinh Võng Minh Bồ-tát nói: Ngài Xá-lợi-phất bạch Phật, là Bồ-tát đã nói có năng giải, là được công đức lớn, vì sao Bồ-tát nầy cho đến được nghe tên kia, được lợi ích lớn, huống chi nghe pháp đã nói ư?

Bạch Đức Thế tôn! Như người trồng cây, không nương vào đất mà muốn khiến hoa trái, nhánh lá ấy thành trái hột, điều nầy khó có thể được, hành tướng các pháp cũng giống như vậy, không chấp tất cả mà được Bồ-đề. Nay cũng như vậy, Bồ-tát chứng không mà chẳng trụ không, có khả năng ở giữa hư không phân biệt thuốc bệnh, tuy biết không thật mà thường để lòng, từng mũi tên chống nhau.

Đại luận chép: Bồ-tát tuy thực hành các pháp chưa đủ Phật pháp nên không chấp chứng, không chấp chứng là nói chẳng trụ không, như Phật đã nói: Thí như người mặt bắn mũi tên lên hư không chống nhau không để rơi xuống đất, Đại Bồ-tát dùng tên Bát-nhã bắn ba không môn, sau dùng phương bắn tên Bát-nhã, không để rơi xuống đất Niếtbàn, tâm đại bi này vì lợi ích chúng sinh, đây là bổn ý nhập giả, nếu trụ ở sau ý kết.

Kế trong duyên nhập giả mới nói đồng thể buồn thương, lại y cứ xuất giả, thấy chúng sinh khổ đồng với khổ của mình, gọi là đồng thể, chẳng phải nói là duyên đồng thật thể. Nhớ bổn thệ, vốn làm lợi sinh sách phát khiến cho nhớ, nên dẫn người Nhị thừa để khích lệ ý chí trước. Người lợi trí, nên biết trụ không hữu, bỏ lỗi người mà không theo lỗi pháp. Khéo léo, đã xuất giả rồi mà không bị giả làm ô nhiễm, khiến trí giả ràng buộc mạnh. Tinh tấn, là thệ giữ vững bổn nguyện không để một niệm tưởng sợ sệt.

Kế dẫn ngài Tịnh Danh ba là an ủi dẫn dụ, đây là Đại sư phán, thích luận Trí Độ trong phẩm hỏi bệnh vì ba lần an ủi dẫn dụ, nói ba, cũng gọi là ba quán cũng gọi là ba giáo. Nói nhập không, là kinh ấy nói thân có các khổ, đây y cứ Thông giáo, cũng do ba tạng giúp thành ở thông, trong hai giáo thuộc về Bồ-tát. Người Nhị thừa không có bi nguyện làm sao ủy dụ. Ở trong văn ấy ban đầu y cứ theo quả, kế y cứ theo nhân.

Trong ban đầu y cứ theo quả là nói khổ ở sau bốn, nói thân vô thường là khác nhau với vô thường của phàm phu chấp, không nói nhàm lìa chẳng đồng với Nhị thừa tự cho đầy đủ đối với thân sinh nhàm chán, nói thân có khổ, không nói vui với Niết-bàn. Nói thân vô ngã mà nói dạy bảo chúng sinh, nói thân vắng lặng, không nói rốt ráo vắng lặng, đều như ban đầu giải thích.

Kế y cứ theo nhân, tức y cứ theo Tập đế, nói hối tội trước, Bồ-

tát vì người khác lý phải hối tội, người Nhị thừa trách với không đồng, phàm phu thuận theo tội không hối khác nhau hữu bộ chấp ở tội tánh từ hiện mà nhập lỗi, nên nói không nói nhập ở quá khứ, khiến các chúng sinh quán nhân quả nầy, đều là ba giả chung thuận nhập không. Ở sau trong văn nhập: Nay bệnh của ta phi chân phi hữu, bệnh của chúng sinh cũng phi chân phi hữu, văn nhập giả ở hư không trung gian, nên nói trung gian tức là nhập giả ủy dụ, cũng gọi là Biệt giáo ủy dụ, văn nhập giả ấy có năm ý đầy đủ, nên dẫn Biệt giáo chứng minh thứ lớp giả, văn ba quán ấy đều y cứ lợi tha, cho nên ba quán đều nói ủy dụ, nay nhập không tức thuộc về tự hành, tuy không dẫn ra mà ý kia vẫn đồng. Nói nhận giả có năm ý.

Trong kinh nói: Do bệnh của mình mà lo bệnh người, chứng minh trong văn nay đồng thể đại bi, v.v… tự bi bi tha. Ta xưa có hoặc sinh tử luân hồi cho nên khởi bi lợi loài hàm thức kia, nghĩa đồng thể đầy đủ như trước có giải thích. Nếu dùng văn chỉ thích đồng thể, thấy các chúng sinh thể tánh đồng với mình không khác thể tánh mười phương ta đã biết chúng sinh không biết, chẳng phải thệ mà thệ quán lợi mình bốn ý sau y theo đây nên biết.

Hỏi: Do bệnh mình lo bệnh người, tự đã bị bệnh làm sao có thể lợi tha, trước đã nhập không lại không nên có, như không kia do mình lo họ, nghĩa đó làm sao thông.

Đáp: Có hai ý:

  1. Bốn trụ đã dứt còn có vô minh nên sinh niệm nói: Vô minh của ta cũng vậy, huống chi kiến tư của chúng sinh, do nhẹ lo nặng cho nên xuất giả.
  2. Vô minh nhẹ, bốn trụ nặng, đâu được lấy nhẹ mà lo ở nặng, chỉ do khổ xưa thương nhớ nay nên ý thứ hai dẫn kinh nói: Phải biết đời trước khổ vô số kiếp.

Ý thứ hai: Như bố y đăng cực biết khổ vui của người, nhớ bốn hoằng thệ nguyện xưa làm lợi ích cho họ, nên ý thứ hai chánh đúng nghĩa nay, kế dẫn trong kinh nói: Phải nghĩ lợi ích chúng sinh, nhập không thì bỏ tha, nhân giả thì nghĩ họ.

Kế dẫn trong kinh nói: Nhớ tu phước nghĩ tịnh mạng, ở đây nói đủ hai nghiêm phước tuệ.

Phước là phước nghiêm, tịnh mạng là tuệ.

Nói tịnh mạng: Là không có tà năm tà, cho đến không thấy lý trung đều gọi là tà mạng, nên dùng tuệ nghiêm phán xét thuộc về tịnh mạng, đương niệm ở tuệ thì phước lợi sinh.

Kế dẫn trong kinh nói: Chớ sinh lo buồn v.v… là duyên khởi tâm mạnh mẽ. Nên như trong kinh nói Bồ-tát ở trong sinh tử mà có sức mạnh, nếu có lo buồn hoặc đọa hai đường, nên khuyên chớ lo mà thường khởi tinh tiến, nếu không có tinh tấn thì sinh lui sụt, từ không ở sau phân biệt, có pháp thì dụ hợp.

Trong pháp ban đầu nói lợi căn độn căn trụ không xuất giả, bốn câu khác nhau, dụ cho xen nhau nêu bày với văn pháp trước sau, trong pháp hai căn lợi độn, nhập không ở trước nhập giả ở sau, trong dụ cho nhập giả ở trước nhập không ở sau, lại pháp nói trong nhập không nhập giả, đều lợi trước độn sau, thí như trung nhập không lợi trước độn sau, nhập giả độn trước lợi sau, tùy văn nói tiện nên không có ý riêng. Lại pháp nói trung bèn dùng lợi căn đối với trụ không, mà năm việc phân biệt, lợi căn tức là lợi trí, trụ không tức chẳng có bốn việc, nên đem lợi căn để đối với bốn việc mà làm phân biệt, thiếu bốn việc, chưa hẳn độn căn, đủ bốn việc chưa hẳn lợi căn.

Kế dụ cho năng lực trong thân thì như lợi trí mạnh mẽ thí như tinh tấn, còn ba việc đều phải có tiến để nhiếp ba việc khác, cũng có thể mạnh mẽ bao gồm dụ cho bốn việc, để đối với thân lực, năm dụ cho đầy đủ, sao có thể có công, chỉ là độn căn Thinh văn năm việc đều không, làm sao có thể có công lợi tha. Nay trụ không ở sau hợp năm duyên, lại lặp lại có dụ cho ở đây thích hợp, văn đầu bao gồm nói: Trụ không xuất giả đều có hai thứ, đủ như pháp, thì dụ là dùng lợi trí đối với bốn việc mà nói.

Kế có năm duyên: Là giải thích câu thứ hai có năm việc đầy đủ, nếu đối với năm pháp trước thiếu không có thứ lớp, có thân thuộc như thiên tánh tức đồng thể, có y cứ lược là cốt yếu, tức là bổn thệ, có kế sách nói ỷ mưu kế tức khéo léo. Có sức nghĩa là mạnh mẽ tức lợi trí, có gánh vác cho là mạnh mẽ tức tinh tấn.

Kế nhập giả quán trung, nêu bày ba pháp, thiếu một không thể được, như trong Đại kinh hai mươi ba giải thích trong công đức thứ bảy chép: Này người thiện nam: Phật và Bồ-tát là thầy thuốc hay gọi là thiện tri thức, vì sao, biết bệnh biết thuốc, ứng bệnh cho thuốc, thì như thầy thuốc khéo làm tám món thuật, trước xem tướng bệnh sau cho thuốc. Trong Đại kinh dạy đạo chân vị, nên ở Thất địa. Nay nói về tợ vị nên ở Địa tiền, giải thích biết bệnh chặng giữa ban đầu nêu bày.

Kế giải thích, giải thích sơ căn bản, trước khởi kế dứt. Ban đầu lại có ba.

  1. Nói thấy căn bản
  2. Từ đây trở xuống nói từ bổn khởi chấp.
  3. Từ đây trở xuống khởi thành khổ tập, từ trên chìm đắm ở sau gọi là đọa trụy, thăng trầm lại xen nhau gọi là hồi, kết nghiệp thành tập đọa lạc là khổ, khổ tập lại xen nhau xoay vần vòng lửa ở sau nói dứt. Trước dụ cho, biết tâm ở sau hợp, biết khởi nhân duyên chặng giữa ban đầu nêu bày.

Kế giải thích chặng giữa trước dùng năng nói sở, đó gọi là tướng trong ngoài.

Kế chánh giải thích, kế giải thích tướng ngoài sản là dưỡng vậy, dục là gồm thâu. Chữ súc bộ thảo nên viết chữ Súc có bộ Hòa, nghĩa là chứa nhóm, là tán khí. Bần là không có phước đức, không có tài sản. Phú là phước. Trong Châu Lễ nói: Tài của đầy đủ là hình mạo, tướng bên trong là đầy đủ vĩ đại, cũng như Hốt Tươi bỏ ngôi vị, như trong các kinh bỏ quốc thành thê tử, và đời trước ở cõi nầy.

Như Trung Tử nói: Xưa gọi là đắc chí, chẳng phải là nghĩa của hiên ngang là ở thân chẳng là có trong tánh mạng, các vật đến nương nhờ mà không thể đi được, đi ấy cũng không thể dừng, cho nên không thể dùng hiên ngang buông lung ý kia. Phá nói: Trang Tử bác bỏ, người đời nay trang nghiêm há chẳng phải nay cũng như đến đi nương nhờ mà không thể đi, tuy tợ phân tích ý kia còn tạm tìm cầu, tìm cầu chưa khế hội phân tích trở lại tìm cầu, cùng Phụ Đảnh, v.v… cong thẳng khác nhau, cùng Hốt Tươi, v.v… phải trái cách nhau nhiều, lấy củi đánh cá tự vui, hái củi như Trịnh Hoằng, đánh cá như ngủ phủ, nầy thời an bần để tự xử. Đánh trâu không liên quan đến: Chẳng phải lý đến tìm cầu thành can. Phụ giúp vua gọi là tướng. Như Nịnh Thích đội Tế Hoàn Công, bèn ở bên thành trâu ăn, đến đêm tối gõ sừng trâu mà ca rằng:

“Bờ núi Nam có đá trắng sáng

Dưới là suối lạnh văn chương sáng

Có con cá chép dài nửa thước

Sống không gặp lửa ăn của Nghiêu và Thuấn

Quần áo vải thô đến cẳng chân

Từ sáng giữ trâu đến nửa đêm.

Đêm dài vằng vặc lúc nào sáng

Huỳnh độc huỳnh độc nêu bày quan

Lúc nào dùng ông làm Tướng quốc”.

Tối Tề Hoàn Công nghe kêu vào làm tướng quốc.

Phụ đảnh: Là chỉ việc cầu lợi gọi là “yêu” cũng trái lại với Nghiêu xưa.

Y Doãn mời tướng thường đội đảnh mà bảo rằng: “Nếu sai ta làm tướng quốc, thì như đảnh gia vị?”. Đảnh: Trong văn nói: Ba chân hai quai là đồ báo của năm gia vị.

Trong sách Nhĩ Nhã nói: Tuyệt đại gọi là “nãi”, trong sách Hán Thư Giao Tự Chí nói: Xưa Thái Hạo nói dựng một đảnh tượng trưng một thông, Huỳnh Đế làm ba đảnh tượng trưng ba tài. Hạ võ làm chín đảnh tượng trưng cho chín châu, nên Y Doãn đảnh đội nhà Thương.

Thái Tông cũng dùng mưu kế mà đợi Văn Vương. Chuyên văn chuyên võ, v.v…: Thị hiếu khác nhau, thường là hiền lương xưa riêng về thị hiếu chẳng phải một, văn võ nên biết. Như trong kinh Ni-Càn chép: Hắc Vương Tử nhiều ganh ghét, có Vương tử Thắng Tiên vì tánh ưa giết nhiều, có Vương Tử Vô Úy đại bi thái quá, có Bà-tẩu Thiên tử hành sự quá chậm, có Thiên vương tử lả lơi đùa giỡn, vua Ba-tư-nặc vì tánh tham ăn, có Vương Tử Nghiêm Xí vì tánh bạo ngược.

Nghiêm Xí hỏi Ni-càn-tử rằng: Có ai không có lỗi hay chăng?

Đáp: ở đây có Phật là người không có lỗi, Bồ-tát xuất giả cần phải tu tiệm, để biết bịnh chúng sinh khác nhau, lập ra thuốc để trị bệnh, như đây ở sau kết ý, như văn, thì như văn có xa gần, biết trong trùng số có nhiều bổn văn khác nhau, nhưng y toán pháp mà hợp lại, nên biết trong văn, có hợp số, có đới căn bản số hợp, tìm xem nên biết.

Phái: Là dòng nước khác nhau, như dòng nước lớn có dòng nước nhỏ, nay cũng như vậy, kiến tư trùng số nầy, mỗi văn đều có các chỉ quán tín pháp, chánh là xuất giả sáu mươi bốn lần, nhưng văn còn lược không giúp nhau, trong tướng bệnh hết khổ tập.

Nói kia đây: Là do có trông mong không cho đến không nói.

Nói sâu cạn, v.v…: Từ hữu cho đến phi hữu phi vô là đơn phức cho đến bặt lời.

Nói nặng nhẹ: Là đối với mỗi kiến đều có nặng nhẹ, lại trong các kiến nặng đều do năng trị trị sở trị, sở trị chưa phá, pháp phá chưa hết có các kiến nặng sinh, lại nhập không ở sau làm thành nhập giả phương tiện.

Ban đầu chánh chỉ bày: Nói làm tu thì rõ, là do ban đầu có phương tiện và kiến tư đã phá. Ở sau các ý nêu bày như.

Người Nhị thừa ở sau bác bỏ tiểu, mà Bồ-tát ở sau quán thành phá biến, biết bệnh tư chặng giữa ban đầu nêu bày, giải thích trùng số chặng giữa ban đầu chánh giải thích.

Kế nêu rộng so sánh lược, ba y cứ nêu bày đều như văn, nầy duyên một đế. Chữ đế phải từ nơi nói, bốn mươi dặm nước là bốn đế hạ hoặc, dứt tư chỉ gặp duyên một chân đế, hoặc trong bốn đế tùy duyên một đế, như mười dăm nước, nên gọi là một đế, chữ giả nên tùy theo nước, nên trong Đại kinh nói Tu-đà-hoàn đã dứt như bốn mươi dặm nước, còn bao nhiêu ngại như đầu sợi lông. Tư hoặc tuy nhiều mà chẳng khởi khắp.

Nhị thừa nhập thẳng, v.v… là kế nói phương tiện nhập giả, đều phải trước dụ phân biệt, để xuất giả phương tiện, các giáo đều như vậy, nhưng cốt yếu trông mong khắc quả, dài ngắn khác nhau, mà phân giáo khác, như đây tập đâu đồng với tập pháp tướng, nên trước gồm biết, sau quán giúp phát, riêng tu đều có phương pháp, tu quán kết thành, đối với pháp dùng chung chỉ quán nghiên cứu, so sánh lại tục đế Hằng sa Tammuội sự tu đều khác nhau, tu tập như thế giúp khai pháp nhãn đâu cùng giúp thuận hoặc đời trước nếu tùy theo hiện tình, độc sách Xuân Thu tụng Tả Truyện, suốt ngày tâm dạo ở chiến trận miệng diễn âm mưu, nói trợ Phật pháp là xa.

Lại như trong hướng thuyết vẫn thuận giáo đạo, nếu theo thật nghĩa lược dự biết nầy, nhưng chuyên về Tam-muội đến thanh tịnh sáu căn, thì thấy nghe khắp ba ngàn sắc thanh, muốn nói một kệ không thể cùng tận, huống chi đến Sở Trụ phát không thể nghĩ bàn, trên thì kiến tư dưới thì kết khuyến, năm bộ chẳng thể không để lòng, khuyên khiến dự làm giúp nhân pháp nhãn, nêu biết năm bộ dùng làm so sánh ví dụ, nói năm bộ: Như kinh Di Giáo Tam-muội, nhân La-tuần dụ Tỳ-kheo khất thực không được Phật sai chia cho Tăng năm bộ để suy nghiệm phước của tăng, đồng tên sau khi Phật diệt độ, việc ấy thì khác nhau.

  1. Bộ Đàm Vô Đức pháp tên là bốn Phần
  2. Bộ Tát-bà-đa pháp tên là Thập Tụng
  3. Bộ Sa-di Bít pháp tên là năm Phần- Bộ Bà-thô-phú-la luật vốn chưa truyền đến – Bộ Ca-diếp-di pháp tên là Giải thoát.

Tăng-kỳ là bộ căn bản, phản xuất năm bộ trước năm bộ như vậy tu tập ở trong tâm, há để vào hông ngực, Tập Chỉ Quán, cũng giống như vậy, rộng tu tập các câu làm lý do khai phát không thể nghĩ bàn đối với lý cùng rõ đối với trí càng hiển bày.

Kế nói biết thuốc pháp. Trong kinh Lăng-già cũng nói: Trí có ba thứ, thứ năm lại nói, năm độ có ba, đều nói thế gian cho đến thượng thượng, nhưng kinh ấy phân thuộc về ba người. Trong Đại Phẩm nói hộp cơ cho thuốc, tức như ở văn sau trao thuốc, tông nầy khiến tu tập ở trong tâm, nên có khác với hai kinh.

Ban đầu nói: Trong thuốc pháp thế gian.

Ban đầu dẫn trong Đại luận.

Kế dẫn trong Đại kinh Kim Quang Minh, đều nói thế pháp, tức pháp xuất thế, nhưng hai kinh nói đồng mà có hiển mật, Đại kinh ở sau Pháp Hoa, đã khai quyền rồi, cho nên hiển nói. Trong Kim Quang Minh chỉ nói thế gian đều nhân kinh nầy, nầy chính mật chỉ bày. Lại trong Đại kinh tuy nói là Phật nói nhưng không nói sở thuyết tức là diệu lý hiển thầm tuy vậy ý thuận theo thứ lớp, vả lại dẫn văn làm chứng thế pháp là thuốc, cũng là trị thế bệnh của chúng sinh, dùng làm thềm thang xuất thế, biết rõ thế pháp tức pháp xuất thế, trong mỗi thế pháp không đâu không vì muốn cho chúng sinh xuất thế, lấy năm giới làm pháp xuất thế, do Phật xuất thế mới chế giới nầy. Thế tức xuất thế, nên dẫn năm hành năm thường và mười pháp lành, tức là năm giới.

Hỏi: Trong biết bệnh chỉ nói kiến tư mà không nói bệnh trần sa vô minh.

Kế biết trong thuốc, vì sao nói xuất thế và xuất thế thượng thượng pháp ư? Thuốc pháp thượng thượng nên trị bệnh trần sa vô minh vì sao thuốc và bệnh không đối đãi nhau.

Đáp: Nói chung thuốc và bệnh nên đã hỏi, nay nói biết bệnh biết thuốc và cách trao thuốc, đều là Bồ-tát từ không xuất giả, phá hoặc trần sa, phải biết khắp thế pháp đồng có ba, cho nên ở đây Bồ-tát khi mới nhập không, trước dùng một môn phá bệnh kiến tư, sau khi xuất giả trước cũng phân biệt kiến tư của chúng sinh, khiến họ trước phá, phá rồi cũng giúp họ rộng tu thuốc pháp, trị bệnh vô minh, nên bệnh vô minh chẳng phải chánh ý nhập giả, nếu chúng sinh có chỗ phải dùng thuốc pháp thượng thượng, cũng nên vì họ nói pháp thượng thượng, ở đây khiến tu giả trung hai thứ pháp quán, Trung đạo cũng thuộc về quán giả.

Nói ngã thường tợ như năm giới, như trong kinh có Trưởng giả hỏi Phật, vì sao chỉ có năm giới không nói bốn và sáu.

Phật nói: chỉ nói năm là căn bản nhất trong trời đất. Ban đầu là đầu tiên của thần khí, do biết trời đất chế ngự âm dương thành tựu muôn vật linh hồn chúng sinh, trời chủ trì hòa âm dương, địa chủ trì sinh muôn vật, người chủ trì năm tạng. Tổ của thần muôn vật của trời đất, cho nên chỉ có năm.

Lại nói: Năm giới sở trì, khiến thành năm thể đương lai, thuận theo pháp ngụ thường năm đức. Sát sinh trái với nhân từ, trộm cắp trái với nhân nghĩa, dâm loạn trái với lễ nghĩa, tửu điếm trái với trí tuệ nói dối trái với tin trọng.

Thương xét không giết gọi là nhân, thanh liêm không trộm gọi là nghĩa, phòng hại không dâm gọi là lễ, giữ tâm ngăn rượu gọi là trí, không nói lời phi pháp gọi là tín, năm pháp nầy chẳng thể không làm theo thứ lớp mà thiếu, không thể trong chốc lát mà phế bỏ, quân tử vâng giữ để lập thân, dụng không tạm ẩn, nên nói năm giới, lại nói: Lỗi không giết ở trong hai nghi, không trộm như Thái tổ không tà hạnh như hư không, không nói dối như bốn mùa.

Lại Năm hành tợ năm giới: Là lược dùng Bạch hổ thông bát vật chí ý, để hội giải thích tướng ấy, mộc chủ phương Đông, phương Đông chủ can, can chủ nhãn, nhãn chủ xuân, xuân chủ sinh, sinh tồn thì mộc an, nên nói không sát để phòng mộc, kim chủ phương Tây, phương Tây chủ phế, phế chủ tỷ, tỷ chủ thủ, thu chủ thâu thâu tạng thì kim an, nên không trộm để phòng kim. Thủy chủ phương Bắc, phương Bắc chủ thận, thận chủ nhĩ, nhĩ chủ đông, dâm thạnh thì thủy tăng, nên không dâm để cầm thủy, thổ chủ trung ương, trung ương chủ tỳ, tỳ chủ thân, thổ chủ bốn mùa, nên nói trong kinh nói: Không nói dối như bốn thứ, thân biến bốn căn, nói dối cũng vậy, khắp ở các căn trái tâm thuyết, hỏa chủ phương Nam, phương Nam chủ tâm, tâm chủ thiệt, thiệt chủ hạ, rượu loạn thêm hỏa, nên không uống rượu để ngăn hỏa. Năm kinh giống ngũ giới: Đã lược như trước có giải thích. Trong đây khai lễ nhạc làm hai, không nói xuân thu, lại cùng đề vị đối với nghĩa hơi khác, do tên năm hành cùng tên năm kinh khác nhau, nên khiến cho như.

Trong Lễ Nhạc nói: Tức là nhân cúng tế mà dùng, chẳng phải nói uống thường, chẳng phải cúng tế mà uống cũng trái với lễ nghi ở đời, huống chi là Phật chế.

Xưa chế Lễ nhạc để ngăn dâm loạn, nay tập quán nước Trịnh, nước Vệ lại tăng thêm tà trược, nên nhạc khí xưa chỉ thổi quả bầu, gõ phẫu gõ khánh chuông chung mà thôi, nên Nguỵ Văn Hầu hỏi Tử Hạ rằng: Ta trang nghiêm mà nghe nhạc xưa thì chỉ sợ nằm, nghe âm thanh của nước Trịnh nước Vệ thì không biết mỏi mệt.

Xin hỏi: Nhạc xưa ở các nước như thế nào? Nhạc tân ở nước nầy như thế nào?

Tử Hạ nói: Nói về nhạc xưa là vua Thỉ Tần dùng văn lại loạn dùng võ, tu thân tề gia binh thiên hạ, nên ở đây phát nhạc xưa.

Nói về Nhạc Tân: Ưu tạp tử nữ không biết cha con, đây là phát ra nhạc tân.

Nói về nhạc thì trời đất thuận theo bốn thời, dận có đức mà ngũ cốc được hưng thạnh, tật bệnh không khởi, chẳng có yêu quái, được an lành, nên nói nhạc dùng để phòng dâm, trong kinh Thư nói phòng sát hại: Nghĩa là mao thư thứ thượng chuyên phòng bạo sát, nghĩa là thượng dùng phong hóa hạ, hạ dùng phong thứ thượng.

Thượng thư phòng trộm: Là chuyên nói về đức của Đế Vương nghĩa nhượng, nên phòng về trộm, dễ dàng so lường với âm dương. Như Khổng Tử có ba bị bốc kinh, biết thiên văn, trong đó biết việc người, hạ biết địa lý, sai khiến dối gạt không vâng làm, như vậy ở sau kết khuyên. Nhập giả ở sau chỉ bày pháp quán sở tu. Muốn biết các pháp nầy, như hướng sở đối chưa thành khéo tu, nếu chung rõ quán dùng năng lực Tam-muội, biết thân nầy đủ giống như trời đất, biết đầu tròn giống trời, chân vuông giống đất, không chủng trong thân tức là hư không. Đại tiết có mười hai pháp mười hai tháng, tiểu tiết có ba trăm sáu mười pháp, ba trăm sáu mươi ngày, pháp mũi thở ra vào gió trong núi đầm khe hang, pháp hơi miệng ra vào, gió giữa hư không, nhãn pháp nhật nguyệt, cách mở đóng ngày đêm, pháp tóc như ngôi sao, pháp lông mi như Bắc đẩu, pháp mạnh như sông suối, pháp cốt như ngọc thạch, pháp nhục như địa thở, pháp mao như tòng lâm. Năm tạng ở pháp trời, năm sao ở pháp địa, năm nhạc ở pháp âm dương có năm hành, ở pháp thế có năm thường, ở pháp nội có năm thần, pháp tu hành có năm đức, pháp trị tội có năm hình phạt, nghĩa là Hắc nhị phí Quan đại tịch, chủ lãnh làm năm quan, năm quan như ở sau quyển tám dẫn trong Bác vật chí, nghĩa là câu mang, v.v…

Thăng Thiên nói: Năm mây hóa thành năm rồng, tâm vì Chu Ty cứ, thân vì Huyền Võ, gan vì Thanh Long, phế thành Bạch hổ, tỳ vì câu trần.

Lại nói: Năm âm năm minh lục nghệ đều từ đây khởi. Cũng lại phải biết pháp nội trị, giác trong tâm là trong Đại vương của bạch tụng, xuất thành ngũ quan thị vệ, phế làm tư mã, can làm tư đồ, tỳ làm tư không, tứ chi làm con dân, tả làm tư mạng, hữu làm tư lục, chủ tư nhân mạng, cho đến tế (rốn) làm Thái nhất quân, v.v… Trong thiền môn nói rộng tướng ấy, đại bi ở sau nói nhãn trí khai phát, nhưng thế ở sau kế phán xét sâu cạn.

Nói lậu khí, v.v…: Là pháp thiền như nước, tâm tánh như khí, tâm hạnh như lậu, thế thiền như thái y, tâm hạnh như vũ vũ, thối thất như sắc thoát.

Kế biết thuốc pháp xuất thế.

Ban đầu nêu bày chung các pháp, ý chung hai giáo.

Kế lại như ở sau y cứ lược tăng thêm số, đủ như trong huyền văn y cứ số tăng số, hai giáo số trước, tức là tướng ấy, nay văn không y cứ giáo, chỉ có thông suốt dùng giáo phán xét lại đồng với y cứ giáo, trong đây trời người cũng thuộc về Ba tạng. Như tăng thêm một trong đó cũng thêm số nói giáo trời người, nay lại không nói, mà nay thêm số khắp giáo Đại Tiểu. Lại như trong Tăng Nhất A-hàm có bài kệ nói:

“Do phương tiện nầy rõ một pháp”.

  1. Từ hai pháp
  2. Từ ba pháp–
  3. Năm, sáu, bảy, tám, chín, mười.

Pháp mười một chẳng đâu mà không rõ, từ một tăng một đến các pháp, nghĩa phong tuệ phúc không thể hết, mỗi pháp khế hợp với nghĩa kinh cũng sâu xa, cho nên gọi là “Tăng Nhất A-Hàm” ba tạng giáo hóa không khác nhau, cho đến tất cả kinh luận Đại thừa, cũng từ một pháp tăng đến vô lượng, lại như trong Đại kinh có hai mươi văn, cũng từ hai pháp cho đến mười pháp, là mỗi ởsau nói ý tập thuốc pháp, vì muốn ở sau phá hoặc kết thành.

Kế thuốc pháp xuất thế thượng thượng trong đó có pháp thí hợp.

Ban đầu nói pháp, trong đó y cứ tăng số, vì muốn nhiếp khắp, trong mỗi số, tuy đến vô lượng, gồm nhiếp hạnh cốt yếu không qua hai pháp, như tức hành nhân nếu có thể gồm biết mười lớp hai pháp thỉ chung không thiếu, mới có thể nói đạo, nghĩa là chân tục, giáo hạnh, tín pháp, thừa giới, phước tuệ, quyền thật, trí đoạn, định tuệ, bi trí và chánh trợ, mười pháp nầy thiếu một không được, do nhiếp hết tất cả tăng số, nên suy nghĩ kỹ dùng làm hành tướng. Nhưng thuốc pháp gặp văn tướng danh mục, tuy cùng thuốc pháp xuất thế mà danh đồng. Giải thích nghĩa đều phải quy về Viên Biệt, như các văn Bốn niệm xứ sáu niệm, văn tướng tự hiển bày, còn các văn tên cũng bao gồm, như các văn tám chánh, chín tưởng, mười trí v.v… không thể tạm trái với thâm giáo. Như trong chín tưởng tức do bốn kiến làm ô uế ấm v.v… như vậy bốn kiến phàm phu gọi là Tịnh, đắc quán mà biến nên gọi là bất tịnh, cho đến xương trắng, tức là kiến chân, tiến đến tưởng thiêu thật tướng vô tướng, trước sau đã như vậy trung gian so sánh nói, mười trí cũng vậy, ắt không thể y theo mười trí Tiểu thừa, mà tiêu văn nầy, thí như ở sau dụ cho biết tướng thuốc pháp, ban đầu chung dụ cho tăng số, vì bệnh dùng thuộc nên có thêm bớt. Lại thế xuất thế không đâu mà không vì trị bệnh kiến tư, nên nói gần mà ý xa, nhập giả ở sau đúng như văn, lại như ở sau dụ cho riêng.

Ban đầu dụ cho nương kinh Phật để rõ thuốc pháp. Da thịt chất nước trái cây như thứ lớp để đối với bốn tất-đàn, gốc cộng nhánh lá như thứ lớp để đối với tín giới định tuệ, núi sông đất bằng dụ cho bốn môn, vì trong bốn môn đều có bốn môn tất và tín v.v… thổ địa bốn phương dụ cho bốn giáo, trong mỗi giáo đều có bốn môn, như mỗi phương đều có núi, nói rõ khô y cứ, dụ cho chung bốn giáo đều có quyền thật chân tục định bất định, v.v… Có định như đốn tiệm, bí mật như bí mật bất định.

Lại Bồ-tát nhập giả dùng chánh giáo của Phật đối với định bất định dùng cùng khác nhau, dùng mầm để bẻ dùng gốc để đào, dùng quyền làm mầm dùng thật làm gốc, gốc mầm đều có khô y cứ khác nhau, dụng chân như khô dụng tục như ướt. Lại biết ở sau rõ dụng dược đối trị khác nhau, khéo biết trao pháp hợp thời không sai, Bồ-tát nhập giả tuy chưa thể khởi chân bí mật hóa, trong vị tương tự cũng có nghĩa phần tợ bí mật, như quyển nhất nói hoặc được hoặc không được, v.v… Bồ-tát nhập giả ở sau hợp trung, nhưng hợp với bốn tất, bốn tất ở ban đầu khắp vào các giáo, nêu ban đầu nhiếp ở sau đều ở trong tất, nên ở sau tin, v.v… lược mà không thích hợp, muốn trị ở sau nói thể thuốc pháp khắp đại y là riêng vị xuất giả, tức mười hạnh. Lại như đại kế ở sau dụ cho khai quyền tức thuốc pháp sở y của Bồ-tát, y vào nơi mặt đất, vì tùy theo bệnh, nên có thêm bớt, địa không có phân biệt mà dùng dược khác nhau, thuốc pháp ở sau hợp, văn tợ ở một thuyết hay nhiều, chánh đáng ở nhiều khế hội một. Sao khi chưa khai quyền không nói nhiều và một, quán hợp đại địa, dứt hợp đại hà, lại như ở sau lại do bốn đế dụ cho, chỉ quán đã khai không nêu ra bốn đế, cho đến từ trước đến nay thế và xuất thế đến thượng thượng v.v… không ngoài bốn đế, nên mỗi đế đều nói các thứ. Thang ẩm v.v… lại dụ cho bốn đế lập trị khác nhau, mỗi bốn đế đều có định tuệ, tức là chỉ quán, định tuệ là đạo, nêu đạo liền biết đầy đủ bốn đế, nghĩa là tuệ thang định ẩm, trong sinh diệt có hai, tuệ thổ định trở xuống, trong vô sinh có hai, định viêm tuệ châm. Trong vô lượng có hai, định hoàn tuệ tán. Trong vô tác có hai, phải dùng ý giáo giải thích, nhập giả ở sau hợp, trong cái hợp trước hợp bốn đế, khổ tập khác nhau tập đế. Tập của khổ gia gọi là khổ tập, khổ quả khác nhau tức khổ đế, đạo diệt như văn, các thứ ở sau hợp bốn chỉ quán đủ bốn bốn đế, lập trị khác nhau nên nói các thứ.

Lại nữa, ở sau Bồ-tát xuất giả soạn luận thông kinh, trước dụ cho.

Kế hợp, trong dụ cho trước gồm nêu dụ cho, vì sao trở xuống là giải thích.

Văn đầu nói: Thần nông, là y dược thời Huỳnh Đế, sau tuy có diệu y đều ở thần nông.

Hoa tha là: Trong Liệt Tuyện chép: Tự văn hóa, người Tiểu nước Bái, chuyên du học nêu cao hiếu kinh liêm sỉ, tránh mà không đến, hiểu thuật dưỡng sinh, người đương thời đến năm ấy lại trăm năm, giống như hai mươi, tinh chế phương thuốc, tâm hiểu phân ra tiêu lượng, không cần cân lường, nếu bớt thuốc không kịp thì uống mè nóng, chốc lát như say mổ bụng lấy chỗ bệnh, nếu còn trong ruột thì lại cắt ruột rửa sạch may ruột lại thoa dầu hai ba ngày thì bình phục trở lại. Đây ví dụ rất nhiều. Biển Thước: Ở sau có nói: Là thầy thuốc nước Việt nhân qua nước Tề gặp Hoàn Hầu nói: “Vua bị bệnh trên thớ thịt”.

Hoàn hầu nói: “Quả nhân không bị bệnh, vì sao? Muốn trị không bệnh làm công.

Năm ngày sau gặp vua nói: “Vua bị bệnh ở huyết mạch”.

Năm ngày sau gặp lại nói: Vua bị bệnh ở ruột và dạ dày. Năm ngày sau Biển Thước lui về. Hoàn Hầu sai người theo hỏi lý do.

Biển Thước nói: Bệnh trên thớ thịt có thể là thuốc sao nóng, ở huyết mạch có thể là châm cứu, ở ruột và dạ dạy có thể là rượu thuốc. Qua mấy chỗ nầy sau đó ở cốt tủy, mạng Ngài không thể trị kịp.

Thần Nông như Phật. Hoa tha, v.v… như Bồ-tát xuất giả, y kinh soạn luận gọi là tác phương.

Kế giải thích trong hương thổ v.v… là các nơi không đồng, lập thuốc cũng khác, tợ như trung biên căn cơ thấy đều khác, ở phương Tây thì Đại thừa Tiểu thừa hạn cuộc ở các bộ, cõi nầy thì tu tập dung thông lẫn nhau, lấy Tiểu thừa giúp Đại thừa, việc làm không ngăn trệ mà chơi thuận hòa nghi. Có người khỏe mạnh, v.v… là lợi căn độn căn, các nơi đều có lợi độn, khỏe bệnh, ăn vì bệnh duyên cho nên chua lạt đến khác, lợi căn độn căn do bệnh đều có khác.

Như trong Đại kinh nói: Hoặc do hiểu nghĩa mà sinh kiêu mạn, hoặc do đọc tụng mà sinh kiêu mạn, quý tánh nhan mạo, ăn uống lợi dưỡng, ở chỗ bạn mới, sinh kiêu mạn khác nhau, sinh kiêu mạn đã như vậy, các hoặc cũng vậy, thuốc có nặng nhẹ: La đốn tiệm, trong tiệm viên đậm ba lạt, cũng có thể lần lượt thay nhau thành đậm lạt. Bệnh có nặng nhẹ.

Một tham một sân đều có dày mỏng, vì quá khứ hiện tại duyên tập khác nhau, trong đây đều giải thích ý soạn luận. Đức Phật đầu tiên nêu ra hợp thần nông, đời sau hợp hoa tha v.v… Giải thích luận ở sau dẫn chứng ý soạn luận. Bồ-tát ở sau nói thỉnh Phật thêm ý, làm thành pháp nhãn đại bi lợi vật.

 

PHẦN 3

Trong ba lần trao thuốc, cũng trước gồm nêu thuốc và bệnh, chúng sinh ở sau nói riêng trao thuốc, trước nói trao thuốc thế pháp như Khổng Khâu, v.v… Họ Khổng tên Khâu tự Trọng Ni, Châu Công là họ tên Đáng. Trước lễ nhạc theo chân đạo sau khai mở, lại nương đất nầy đầu tiên giáo hóa. Ta sai ba Thánh cũng nói là Chấn Đán, đủ như trước đã nói.

Trong kinh Thanh Tịnh Pháp Hạnh chép: Bồ-tát Nguyệt Quang khen ngợi Nhan Hội, Bồ-tát Quang Tịnh khen Trọng Ni, Bồ-tát Ca-diếp khen ngợi Lão Tử, Thiên-trúc là chỉ Chấn Đán nầy thành ở kia, y theo các mục lục, du suy theo kinh nầy dùng làm nghi ngại, văn nghĩa đã chánh hoặc là mất tên người dịch, cho đến nay đã dẫn kinh Tượng Pháp Quyết Nghi các ý diệu thắng định cũng như vậy, như sau khi nhập Niếtbàn phân bổn ở mục giả, đến Đại Đường khắc định mới nhập vào chánh kinh há cho là người bấy giờ chưa quyết tiện xếp vào ngụy giả.

Đại sư thân chứng vi ban đầu nương không nên dùng lầm.

Kế là trao trong xuất thế.

Ban đầu nói chung tùy theo căn cơ trao thuốc, là cùng thuốc pháp thượng thượng hợp nói, tuy hợp hai văn mà vẫn lìa bốn giáo, nên biết dùng Tạng thông mà làm thuốc pháp xuất thế, Biệt Viên dùng làm thuốc pháp thượng thượng, nên tiêu văn trước phải dùng bốn giáo mười sáu môn, mỗi môn có bốn tất, nếu không thế thì dùng cái gì trao cho người?

Kế nói trong biệt do bốn giáo giúp nhau, tên hạ trung thượng thượng, như trong Đại kinh bốn người quán nhân duyên trí, ở trong một căn đều đủ bốn nghĩa, chỉ là bốn tất.

Ban đầu trong ba tạng.

Trước nói kinh Phật, tuy là ở sau nói luận Bồ-tát đều có nêu thích kết, còn ba căn y theo đây nên biết. Trong luận Bồ-tát, thích nghe tức thế giới, sinh thiện tức là người, phá trược là đối trị, kiến chân là nghĩa đệ nhất, ba giáo sau y theo đây nên biết. Ở sau bỏ văn lược chỉ có hai đoạn, trước nói bốn tất, tức là kinh Phật.

Kế nói bốn môn tức là luận.

Dù không nêu bày riêng một luận, hoặc bao gồm hoặc đầy đủ, so sánh nên biết. Nếu nhập ở sau là nói chung trao thuốc phải đúng nghi.

Pháp ban đầu nói nghiệp mười sáu đạo diệt, trị mười sáu khổ tập. Trong mỗi môn nói bốn tất, so mười sáu môn có bổn kinh của Phật, Bồtát xuất giả lại ở trong bốn môn, đều nêu bày ý Phật để làm lợi người khác, tức là chánh ý của giả trí.

Nói tùy theo thứ âm thanh ấy v.v… Lại do xuất giả hợp cơ khéo nói gọi là diệu âm, chẳng phải nói một âm pháp thân hiểu khác, cho đến một mây cũng giống như vậy. Nếu từ ý văn thì diệu ích, diệu ích nầy còn ở văn sau trong lợi ích có nói rõ, cho nên văn nầy từ dọc mà nói, như một này ở sau mây hiện thân, mưa nói pháp, trời mưa không có riêng tư mà bẩm thọ có khác, ba cỏ hai cây đều được lợi ích khác nhau, tùy theo thấy nghe kia chẳng ai không mong được lợi ích, nên nói là sinh trưởng, nên biết trong đây nếu hoàn toàn không bao gồm nguyên ý của văn, thì làm sao vị thứ lớp xuất giả, liền trao cho họ bốn môn Viên giáo.

Kế nói vị nhập giả: Trong giải thích ở trước nói ý vị. Nếu chuyên dùng ba giáo trước ở sau căn phá vị giả, thì khiến phàm phu tự dứt bờ mé, lúc nhập không trước kiến sau tư vị hạnh dài xa. Như bảy lần sinh tư hết, nếu một phen qua lại, cho đến như trên phá kiến phá tư trùng số vô lượng, thì vị nhập còn không thể đến, huống chi nhập giả, nên nói lần lượt xa xôi, vì thế phải biết các giáo để rõ vị, quyền vị hạ căn nhập giả chưa trông mong, thật vị thượng căn một đời sẽ được, một tư một kiến còn tức pháp giới, huống chi là xuất giả. Nhai là bờ.

Trong sách Nhĩ Nhã nói là thủy tân, lại nói: Bờ trùng lặp gọi là ngạn, nay ngay ở sau chánh giải thích. Ban đầu nói ba tạng, ở chặng giữa trước là Nhị thừa.

Kế là Bồ-tát, đầu tiên nghe pháp trước, như văn, thí như v.v… là dụ cho người Nhị thừa nên trong phẩm Sư Tử Hống trong Đại kinh quyển hai mươi sáu, bắt bẻ rằng: Nếu chúng sinh có Phật tánh, vì sao có lui hay không lui ư? Đức Phật dùng dụ để đáp, thí như hai người đều nghe ở phương khác có núi bảy báu, núi có suối trong, vị ấy ngon ngọt, nếu có ai đến thì sẽ mãi dứt được nghèo khổ, uống nước ấy thêm lợi ích sống lâu, nhưng đường đi thì nguy hiểm khó khăn. Hai người ấy một người thì trang nghiêm, một người thì Không Vãng, trên đường gặp một người ôm nhiều của báu, hai người lại hỏi: Nơi ấy có núi bảy báu phải không?

Người ấy đáp: “Thật có”, hai người nói “ta đã được rồi, chỉ có lo đường nhiều nguy hiểm có giặc trộm, sỏi sạn gai gốc thiếu ở nước cơ, đến thì ngàn muôn con đường rất ít, nghe việc nầy rồi có một người hối hận, có một người lại nói: Có người đến được ta cũng đến được như họ, không đến để chết vì trông mong ở chỗ ấy được nhiều như nguyện uống nước, của báu nhiều lại có chỗ dừng nghỉ, như cúng dường cha mẹ cung cấp cho bà con dòng họ, lúc bấy giờ hối hận trả lại thấy tâm kia nóng họ thông suốt rồi trở lại với ta làm sao thành ở lại đi đường, hành nhân ở sau hợp, núi Niết-bàn có nước Phật tánh.

Hai người, như hai hạnh Bồ-tát thực hành khác nhau, sinh tử như nguy hiểm, gặp người như Phật, giặc như bốn ma, các như phiền não, thiếu ở có nước như không tu đạo, lại dụ lui sụt, vãng dụ cho không lui sụt, thối là người Nhị thừa nầy, thối Đại rồi sau về Vườn Nai chấp Tiểu, đến trong Bồ-tát thấy các việc của Bồ-tát không thể nghĩ bàn đều phải gào khóc tiếng rung chuyển cõi Tam thiên. Ở Đại thừa nầy rồi như hạt giống hư, đến pháp mới sinh lo lắng hối hận, hối mà không đối với hối trước không đợi ở sau, bỗng nhiên chấp chứng nay mới được nghe nếu y theo nghĩa nầy thì Pháp Hoa về trước không có việc xuất giả, nhưng đối với nghĩa Bát-nhã mà dường như xuất giả.

Kế nói trong hàng Bồ-tát, nói tâm lại một phen chuyển, là không đợi trải qua tóa tịch của Tiệm giáo, bổn tập huân tức năng tu tập.

Kế nói Thông giáo phá kiến giải của họ nói là một thuyết, ở trong các kinh có một thuyết nầy tùy theo căn cơ, chưa thể thông khắp các ý, cho nên thiên chấp, nhưng Phật ở sau chánh giải thích.

Người Nhị thừa độn căn Bồ-tát, đến kinh Pháp Hoa mới khai nhập thật, nhập thật rồi sau mới vận đại bi, gọi là Xuất giả. Nếu không đến tòa tịch Pháp Hoa, người như vậy phần nhiều chấp diệt độ, Duy thức sở chấp tức dòng ấy, mà ở cõi ấy cầu trí tuệ Phật, thì chẳng phải chỗ giải thích của luận ấy. Nếu lại có người cho rằng: Pháp Hoa nầy riêng giúp hàng căn, phán xét thành Tiệm giáo. Nếu vậy Pháp Hoa Huyền Văn giải thích trong dụng rằng: Tích môn là sinh thân, chưa nhập là nhập, bèn là hai thân sinh pháp đã nhập là tiến, bổn môn chánh là sinh pháp, hai thân đã nhập là tiền, bên là sinh thân chưa nhập. “Lại bổn môn tăng đạo tổn sinh ở sau, có tám thế giới vi trần số người, đầu tiên mới phát tâm, đã chưa dạo tiệm, đây là là người đốn, há từ số ngàn Nhị thừa và độn Bồ-tát, mà phán Diệu giáo, huống chi lại hai môn càng được số bội ở các kinh, sao không tìm bổn văn của kinh, ngay thẳng bỏ phương tiện, chỉ nói đạo Vô thượng, không hai cũng không ba, trừ Phật phương tiện nói, nay phải nói thứ hai, không nghe kinh nầy không gọi là hạnh lành, khai môn phương tiện chỉ bày tướng chân thật, đồng ban cho các con mỗi người một xe lớn, cỏ cây đều y theo mỗi nơi một trận mưa, các văn như vậy không thể nói đủ, sao không nương đây làm Đốn giáo ư? Nếu hàng Thất địa ở sau dẫn trong kinh phân tích người hạ căn, trong Đại Phẩm quở trách cần gì phải tư hết mới xuất giả, tư hết tức đồng với đệ Thật địa, nên dẫn trong Đại Phẩm, nếu nhập Thật địa rồi rơi vào người Nhị thừa, cho nên bị Chư Phật Bồ-tát quở trách. Có chim lớn ở sau nêu dụ cho.

Trong Đại luận quyển bảy mươi hai hỏi rằng: Hằng không, vô tướng, vô nguyện, vì sao một người thành Phật một người thành Lahán?

Đáp: Nói Tát-bà-nhã tâm đi trên hư không cho nên thành Phật, tự độ tâm tu nên thành La-hán. Nói đại điểu, là chim lông cánh vàng, có thể từ một núi Tu-di đến một Tu-di, chim Công ở chư thiên như chim cánh vàng ở chư thiên như chim Công ở nhân gian, cho nên không đến nhân gian, cánh nó có gió độc làm cho người mù mắt, chim nầy khi mọc hai cánh chưa thành, ý muốn bay đi rồi rơi xuống duyên phược đoạn, hoặc chết trong câu khổ, trong tâm hối hận ta muốn trở lại cây thiên Xama-lê, do thân lớn nên hai cánh chưa thành nên không thể bay được.

Trong Luận Hợp chép: Thân chim là Bồ-tát, thân lớn là phần nhiều tu tập sáu độ, không cánh là không có trí phương tiện, núi Tu-di là ba cõi, hư không là vô lượng Phật pháp, chưa phải bay mà bay, là công đức chưa đủ, muốn từ Bồ-tát ba môn giải thoát, dạo ở Cực lạc Phật pháp hư không mà muốn lui sụt, tuy muốn thành Phật mà không thể được, nếu chết, là quả La-hán chết đồng với khổ, là Bích-chi Phật. Thống não, là mất bổn công đức của Bồ-tát. Nay văn có hai cách giải thích đều là Đại sư tùy theo nghĩa chuyển dụng, nghĩa là các khổ đối với cái chết gọi là chết, v.v… mà cũng chưa chết nên gọi là đẳng, dùng phương tiện và vị dứt kiến, gọi là Tứ đẳng. Do người Sơ quả tư duy hoàn toàn còn, nghĩa đồng với chưa chết. Chim đây ở sau mượn dụ cho thích hợp, như người ở sau nêu lên dụ cho để hiển bày công đức Pháp Hoa, bài tựa trị bệnh nặng, nói không thể có năm dục, do không thể nam, thông vì không thể năm dục, dùng dụ cho căn Nhị thừa lại tâm chết. Yêm là yểm, là đóng cửa. Cũng gọi là hoành môn. Huỳnh là bậc Thánh ở giữa thiên hạ mà thông lý của muôn dân. Chủ là cửa của Huỳnh gia, nên gọi là Hoành môn, cũng nói là Huỳnh hôn bế môn, nên gọi là Hoành môn.

Trong kinh Hoa Nghiêm ở sau muốn hiển bày Pháp Hoa, bài tựa trước các kinh, Hoa Nghiêm về sau ở trong Đại Phẩm như thuốc của thế gian không thể trị người bị ngăn che. Trong các kinh Đại thừa dung thông các pháp. Bồ-tát quán môn nguyện hạnh bao gồm mà không thể khiến người Nhị thừa phát tâm, đồng là dung thông, sao không dung thông giúp cho người Nhị thừa thành Phật, như nói ở tòa như điếc như câm, cho đến tự buồn bại chủng khát ngưỡng thượng thừa, mà không được ta nói chân yếu ở đây, chỉ có Pháp Hoa được thọ ký sinh hỷ tìm khắp các giáo về trước trong kinh Pháp Hoa, thật không có văn Nhị thừa thành Phật, và nói chỗ Đức Như lai thành đạo nói, nên biết đều do kèm theo phương tiện. Nếu không như vậy thì chẳng lẽ bộ viên diệu riêng cách Nhị thừa.

Hỏi: Nếu nói Phương Đẳng không thọ ký cho người Nhị thừa, vì sao phẩm biến hóa thứ hai trong kinh Lăng-già, ngài Đại Tuệ hỏi vì sao Phật, Như lai thọ ký cho hàng Thinh văn?

Phật nói: Có ba ý nên thọ ký:

  1. Vì nhập không có cõi khác, thầm khuyên tu hạnh Bồ-tát.
  2. Vì cõi nầy cõi khác, Bồ-tát ưa cầu Niết-bàn Thinh văn, khuyên bỏ tâm nầy tu hạnh Đại thừa.
  3. Đức Phật biến hóa thọ ký cho hàng Thinh văn không có pháp tánh Phật.

Ngài Đại Tuệ thọ ký cho Thinh văn là Bí Mật nói rằng: Nay nghe Pháp Hoa là hiển bày thọ ký, khác nhau với Phương Đẳng ẩn mật cùng thọ ký. Nếu y cứ lý nầy Đại Phẩm, Tịnh Danh đều phải có, đâu riêng Lăng-già, nên Phương Đẳng chép: Thứ hai, thứ ba thọ ký cho chúng ta, ý đầu tự vì mình nhập diệt.

Kế nghĩa thứ hai chỉ là phân tích ở Bồ-tát độn căn đối với thuyết ấy thọ ký đâu có quan hệ đến Nhị thừa.

Thứ hai phán phi pháp tánh Phật, đây là dùng thật mà cách quyền, chưa bằng Pháp Hoa hiển bày bổn lâu xa, cõi ta không hủy hoại mà chúng sanh thấy thiêu đốt, huống chi là Phật pháp tánh còn không thọ ký cho Bồ-tát, đâu chỉ có Thinh văn. Nên biết ba nghĩa đều khác với Pháp Hoa phải biết ngài Đại Tuệ phát khởi mật thuyết, cho nên phát hỏi việc thọ ký, nên biết nghĩa kinh ấy thuộc về Phương Đẳng, khác với Pháp Hoa, đâu đợi cố luận, thường phân tích đoạt người Nhị thừa, nên trong Pháp Hoa ba châu thọ ký nói riêng về Thinh văn: Là vì hiển bày điều các kinh không nói, cho nên trao cho tên kiếp, tên nước Bồ-tát thọ ký có văn khắp nơi, nên chỉ thông suốt nói sẽ thành Phật, cho đến bổn môn mưu sinh phải được.

Trong kinh Pháp Hoa xưng diệu tư, nói đáng nương tựa. Lại xứng đề ở sau lại đem Niết-bàn đối với giáo của Pháp Hoa. Trong kinh nói cũng có thể trị đoạn gốc lành xiển-đề, mà chỉ gọi là Đại không, gọi là Diệu.

  1. Có tâm dễ trị vô tâm khó trị, khó trị có thể trị nên xưng là diệu.
  2. Kinh Pháp Hoa đã khai chẳng phải họ được, đại trận đã phá các là đăng không khó. Tuy đồng đề hồ chẳng phải không có biệt nầy. Nhưng lại Niết-bàn riêng bị đời sau, kèm theo phương tiện nói nên lại hơi khác. Biệt giáo rất dễ thấy, sáu căn bên Viên giáo gọi là hạ căn xuất giả tên đồng công vượt Thập hồi hướng, đây là tương tự viên dung ba đế khác nhau thứ lớp vị xuất giả.

Lại năm phẩm hạ trung căn, lại tâm ban đầu trở xuống là thượng căn.

Tâm ban đầu tức là đầu năm phẩm, trong đại phẩm ở sau dẫn văn Đại phẩm chứng thượng căn. Lại y cứ theo Thông giáo, đầu năm phẩm cũng y cứ quán hạnh luận ngồi đạo tràng độ chúng sinh, lại y cứ sáu tức do ở đây, thượng đến hạ kết phán xét như văn.

Kế trong phân biệt có năm lớp hỏi đáp.

Ban đầu ý hỏi: Dùng không nêu bày giả, nghĩa là tình hạ mà đáp trung. Trước phân biệt ba căn để nêu bày xuất giả, do tình là thượng tợ trung chân hạ, tình ở năm pháp quán dừng tâm, Bốn niệm xứ, tợ ở suyễn đồng với bốn gốc lành, chân ở kiến đạo về trước. Tình nhập hạ lặp lại giải thích thượng căn. Nói xác nhân, ở trước tự chân trong vị niệm xứ, duyên khổ đế quán, chưa phát tương tự, cảnh sở duyên hoàn toàn đồng với pháp trần, tương ưng với không tưởng pháp trần, cũng được gọi là tình nhập không, chẳng phải nói vậy, phàm tình trước gọi là nhập. Nhưng Bốn niệm xứ nầy mọi người đều gọi là năng nhập, nên nói là xúc nhân, e lẫn lộn với ngoại phàm về trước, nên nói chẳng phải nói tán tình, hoặc nói phát ra tám xúc nhân mới gọi là tình nhập, chưa xét ý nầy, nếu vậy ở sau lại khó, chỉ là tình nhập ở không, làm sao có lợi ích.

Đây có ở sau đáp, cũng chỉ là tình có lợi ích, tuy chưa chứng không, khác với tán tình, tức nầy gọi là ích cần gì tợ chân, vì thông nạn trước để nói ba căn, ở thật nhập không chưa được chân ích, nếu ích ở sau lại khó, phàm nói: Lẽ ra khác với thối nhân, đã nói có ích phải nên Bất thối, không riêng thối mà đáp. Tuy chưa gọi là vị bất thối, vị nầy cần gì tất cả thối hết, lập ở sau giải thích. Nếu có thối cũng có thể thường tu. Vì sao? Vì người nầy do dùng năm pháp quán dừng tâm để trị, hoặc sâu nặng hết, nên có thể thường tu bốn quán niệm xứ.

Kế hỏi: Thông biệt thượng căn khi sơ tâm, thì có thể nhập giả, phải biết tức giả lại có thể nhập không, cho nên hai quán không giả tức nhau, cùng viên không giả tức nhau nào có khác.

Đáp: nêu bày ra ba người khác nhau, hàng Thông giáo tuy tức lúc chánh xuất giả, tợ tức nhập không, giáo thỉ chung nầy không thể nhập trung, nên biết Viên giáo tức nhau khác nhau, hàng Biệt giáo tuy cũng sơ tâm xuất giả lại tức nhập không, giáo thể chung phải trước không kế giả, tu tập Phật pháp đủ ở sau mới tu trung, nên gọi là thứ lớp, nên hai giáo nầy hằng trái với Viên giáo, huống chi Thông biệt nhập không chỉ chiếu sáu cõi, hai giáo xuất giả dài ngắn không đồng, còn chưa thể ra khỏi cái giả của pháp giới Phật, đâu thể tức trung?

Cho nên hai giáo không đồng với Viên giáo, huống chi lại sơ tâm không giả đều dùng, một đến tợ tức cả hai đều chưa đủ, dù kèm theo không nầy, tức giả mười cõi đã không có pháp tánh chẳng phải viên dung, cần gì gạn nói nào có khác với Viên giáo. Từ hàng Viên giáo bỏ nói Viên giáo khác Biệt giáo, mà nói nhất tâm cũng có thể thành biệt: Nghĩa là thắng có thể bao gồm liệt năng Biệt năng Viên, nghĩa là phần nhiều nhập kế sau giải thích tướng thứ lớp của Viên giáo văn nêu bày năm câu nhưng thành bốn câu, do câu thứ năm đồng với câu đầu, chỉ là văn lầm nên không có ý riêng. Nghĩa suy ra nên có sáu câu khác nhau, bốn câu trước như văn, trừ ban đầu đồng câu, lại thêm giả trung đối lại với không vì hai câu nói phần nhiều nhập không, ít nhập giả trung, phần nhiều nhập giả trung, ít nhập không, văn không có lược. Nếu vậy ở sau gạn về sáu câu tuy có nhiều ít, ba quán đồng thời.

Sao gọi là Viên giáo năng quán thứ lớp? Nếu nói thì chẳng phải Biệt giáo của thứ lớp. Nhưng ở sau đáp như hướng có sáu câu, tức là thắng biệt, thứ lớp của Biệt giáo gọi là liệt biệt. Viên quán tự bại hơn kém đều năng, cho nên dùng hơn mà so sánh với kém. Cả hai đều nói lợi ích của xuất giả. Muốn nói chân thật lợi ích của xuất giả, phải ở Sơ địa Sơ trụ của Biệt Viên, nầy biết ba căn tuy lợi ích mà gạn thông suốt. Đây là chỉ bày văn diệu chỉ, nên biết nói ích chánh chỉ bày ý văn, thứ lớp lợi ích của giả tướng chẳng phải không. Ở trung lại trước bao gồm bài tựa chân ứng, ở trung trước nói lý do của chân ứng. Văn nói chân ứng lại nói pháp nhãn, nên nói pháp nhãn đây chẳng phải Địa tiền, do giả không thể nghĩ bàn. Cho nên pháp nhãn chẳng phải Địa tiền, do giả không thể nghĩ bàn làm pháp nhãn.

Kế nên lấy ở sau nói lược ưng ích để sửa Tạng Thông, suy nghiệm nên biết, ích nầy quyết định ở pháp thân, ba tạng ở sau trải qua giáo chánh giải thích, phán xét hàng Bồ-tát của hai giáo trước, chẳng phải chân khởi ưng, dù y cứ theo Phật cũng chẳng phải chân ứng, huống chi lại Bồ-tát, nói Phật sai, cũng lại y cứ chân giáo đạo, theo giáo môn ấy chưa rõ pháp thân, cho nên đương giáo không có nghĩa chân ứng, nếu khai hiển nói tức là pháp thân, cùng hình tướng của ai nói không chân ứng, tức là ngài Huyền Văn vượt qua nghĩa tiết, nên có ở sau nói tướng chân ứng để phân tích Tạng Thông, như Đức Thích-ca ở đời quá khứ qua đi lâu xa được Pháp thân, ở trong sáu đường kết duyên với vật, nay ở thành vua xuất gia thành đạo, nên gọi là “ứng hữu thỉ chung” Địa tiền của Biệt giáo còn chẳng phải chân ứng huống chi lại là Tạng thông. Biệt giáo ở sau chánh nói ứng chân, tức hàng Đăng địa trở lên cho đến Diệu giác.

Ny cứ sâu gọi là uyên, thấy chúng sinh bệnh biết bệnh căn bản, như người thấy nước biết đáy của nguồn nước, thấy các thuốc pháp biết thật trong thuốc, như người thầy thuốc biết thể tánh của thuốc.

Ấn nghĩa là phù ấn, dùng đồng làm khiến cho thiên hạ đồng, nay cũng như vậy, sử dụng các giáo cùng căn cơ không sai, nên gọi là đồng, cho nên vô minh là nguồn gốc của bệnh, Trung đạo là thuốc phụ tạng, chân chủng trí biết như in không sai, không thể nghĩ bàn là mắt thấy không lầm. Hòa quang ở sau giải thích hiện thân, đồng bốn trụ trần xứ xứ kết duyên, làm nhân Tịnh độ là đầu tiên lợi vật, căn cơ chúng sinh biết rành về tám tướng thành đạo, đích thân nghe pháp cuối cùng được lợi ích chân thật, nhưng có giáo đạo để y cứ lược về Sơ địa.

Kế là nói về Viên giáo, chứng đạo không có riêng, cho nên chỉ nói, cho đến cũng giống như vậy, nếu được ởsau đối với tà phân biệt, mà cũng có thể làm nên phải quyết tránh.

Vì sao ở sau giải thích giản tà? Nói do thân hữu lậu giống như vô lậu. Như Ưu-ba-cúc-đa điều phục ma xong, muốn thấy Đức Như lai như hình mặt trời, bảo ma rằng: “Ông hãy hiện thân cho ta thấy”.

Ma nói vâng theo lời dạy nhưng khi hiện thân Sư không được đảnh lễ. Liền ở trong rừng phát ra ánh sáng rực rỡ, tám bộ chúng nương hư không mà xuất hiện, Cúc-đa thấy rồi, sinh tâm ít có, bất giác làm lễ, dùng kệ khen rằng:

Vui thay nghiệp thanh tịnh

Thành tựu diệu quả nầy,

Chẳng trời Tự Tại sinh

Không đâu chẳng khởi nhân

Mặt như mầu vàng tía

Mắt tịnh như hoa sen

Xinh đẹp hơn nhật nguyệt

Kỳ diệu hơn rừng hoa

Lắng trong như biển lớn

Bất động hơn Tu-di

Ấn bước như Sư tử

Xem nhìn đồng trâu chúa

Vô lượng trăm ngàn kiếp

Tịnh tu thân miệng ý

Nên được thân thù diệu

Vừa thấy cũng vui mừng

Huống chi ta không vui.

Ma được lễ hiện lại.

Trong Phẩm Tứ Y Đại kinh chép: Nếu ma biến thành hình Phật, có ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm như vậy đến với ông, ông phải xét định hư thật ấy.

Bạch Đức Thế tôn! Các ma còn biến hóa được hình Phật, huống chi không thể làm giống A-la-hán.

Phẩm Tà Chánh chép: Thiên ma Ba-tuần làm hoại pháp, làm giống bốn chúng, làm giống bốn quả Phật. Lão Tử v.v… Là họ biến hóa kinh hồ chính là Đạo sĩ Vương Phù ngụy soạn, nay lại làm theo, mượn sai Lão Tử hóa thành Phật, cũng là dùng hình hữu lậu làm tướng vô lậu, cũng nêu bày đồng với ma trời hóa thân, huống chi lại kinh ấy hóa thành mười hồ, đâu quan hệ gì đến ngã ấn, thay đổi giải thích làm các dê. Trong Đại kinh có ba mươi lăm văn, có đủ như trong Thích Tiêm đã dẫn, còn chẳng phải ba tạng năm thông, là chưa dứt hoặc, nên không có vô lậu thông, thần thông sở đắc cũng y căn bản mong tâm khác nên thông dung cũng cao siêu, các ngoại đạo ấy còn không có các pháp niệm xứ noãn đảnh, nên nói Thế trí, như vậy hiện chỉ là thân như ý thông chút phần, vì sao so sánh ba tạng năm thông, còn nêu ba tạng, đâu đồng Biệt Viên, hóa ngữ ở sau trách đoạt.

Lôi đồng: như âm dương phát lôi đồng sinh ra muôn vật, cũng là chữ lôi, nghĩa đồng với trước, nên biết ởsau chỉ bày lợi ích chân ứng.

Ba kết phá pháp biến, y theo văn thứ lớp phá hết vô minh mới có thể nói buồn cũng là thủ ý, không có thứ lớp để nói, trước nương ba đề dùng ý để phân tích văn.

Kế nêu chỗ cốt yếu để kết chỉ bày. Ban đầu ba đế, chặng giữa trước y cứ theo chân đế, trước nói về chân tướng, ở trong văn tướng, trước lại nêu ra phàm tình, chưa phá kiến vị còn chưa có thứ lớp nhập chân, huống không có thứ lớp nhập thật.

Ban đầu nêu riêng kiến ý thì bao gồm cả tư, nên kế văn nầy kiến tư điều nêu, trong dụ cho lược ba dụ cho, như người mù hỏi mầu sữa, đủ như trước đã dẫn, như dây như chày.

Trong phẩm Tánh Như lai của Đại kinh nói: Thí như có vị vua sai một vị Đại thần dắt một voi trắng đến trước các người mù, mỗi người mù đều dùng tay rờ voi.

Vua hỏi các người mù: Voi giống như gì? Người sờ trúng vào ngà thì nói voi giống như gốc củ cải, người đụng tai nói voi như cái sàng, người sờ mũi nói như cây chày người đụng vào chân, nói voi như cái cối, đụng vào lưng nói voi như cái giường, sờ vào bụng nói giống hũ, chạm vào đuôi nói như sợi giây, thứ lớp hợp các dụ nói: có thuyết nói sắc là Phật tánh, có thuyết nói thọ là Phật tánh, tưởng hành thức ngã cũng giống như vậy, đều chấp câu phi nên nói nào có quan hệ gì, lìa cái không có voi nầy mới biết đều phải. Cho nên bao gồm nói bất chẳng tức chẳng lìa, chẳng tức nên phàm phu khởi thị, chẳng lìa nên phàm phu lại không, cho nên đều chấp đều gọi là kiến, dùng sáu pháp như sắc, v.v… hợp thành bảy pháp như ngã, v.v…, nên bảy dụ thông không cần phải đối chiếu nói mê sảng v.v… là nên làm chữ nghệ nầy trong giấc ngủ nói. Trong Đại kinh quyển mười tám chép: Thí như hai người làm bạn với nhau.

Một người là Vương Tử (năng hóa), một người là người nghèo (sở hóa), hai người như vậy làm bạn với nhau. Lúc bấy giờ, người nghèo (tà ngã gọi là bần) thấy Vương tử này có một con dao tốt bậc nhất (Phật tánh) trong tâm tham đắm (ưa thích Phật pháp) Vương tử cầm con dao trốn đi nước khác, (Bồ-tát xả ứng việc cảm ứng mật ý nên nói trốn đến chuyển hóa phương khác, nên nói “tha quốc” người nghèo sau ngủ nhờ nhà người (thọ thân trong năm đường) tức ở trong mộng nói mê con dao con dao” (vô minh tối tăm vọng nói có ngã từ đây về sau Thinh văn lập bày giáo hóa tức do tương tự một tên là bàng nhân) bàng nhân nghe rồi, đi đến chỗ vua. Lúc bấy giờ vua hỏi rằng: Ông nói dao vì sao chỉ bày ngã, người này tâu với vua đầy đủ việc trên (sơ quả) nay vua dù giết hại thần phân chia tay chân, muốn được giao ấy cũng, thật không thể được (tích quán) Thần và Vương Tử làm bạn (từng thọ tiểu hóa) cùng ở một chỗ (cơ cảm tương ưng) tuy từng mắt thấy (văn tuệ) cho đến không dám dùng bàn tay chạm (tư tuệ) huống chi là phải cố lấy (Tu tuệ chỉ được văn tuệ, không có tư tư).

Vua lại hỏi rằng: Khanh thấy tướng mạo con dao giống cái gì?

Người nghèo đáp: Dao của Đại vương như sừng dê đực (sát-lợi chấp thần mầu vàng).

Vua nghe rồi vui vẻ cười nói: nay ông tùy ý đi chớ sinh tâm lo sợ, trong kho của ta đều không có dao nầy, huống chi ông từng thấy ở bên vua.

Vua hỏi các quan ông từng thấy mà không nói rồi lại thôi, tìm lập các vua tiếp nối ngôi vua.

Vua lại hỏi các quan ông ở trong kho có thấy con dao chăng?

Thần đáp: thấy.

Vua hỏi: Giống cái gì?

Đáp: giống sừng dê đực.

Lần lượt như vậy đến vị vua thứ tư đăng vị (tức quả thứ tư).

Lại hỏi các quan đều đáp rằng thấy.

Vua lại hỏi: Tướng mạo giống như cái gì?

Đáp: Như hoa Ưu-bát-la (Bà-la-môn chấp thần mầu trắng).

Lại có thuyết nói: Mầu hồng đỏ kia như đống lửa (Tỳ-xá chấp thần mầu đỏ) có thuyết nói: Cũng như Hắc-xà (Thủ-đà chấp thần mầu đen). Vua nghe cười to nói: Các khanh đều không thấy chân tướng của con dao ta, văn chú giải ở trên đều do Chương An Sớ giải thích, trong kinh tự hợp lại mà nói, nói rồi bỏ đi như Vương Tử trốn, phàm phu nói ngã như ở trong tối nói mê. Thinh văn Duyên giác hỏi các chúng sinh ngã có tướng gì? Có thuyết nói như ngón tay mẹ, hoặc nói như lúa gạo trong thân cháy đỏ như mặt trời. Đức Như lai vì dứt ngã tướng nên nói không có con dao nầy, dẫn đủ như Mị Tuyết Hạc rờ voi nói mê đều dụ cho tà thường. Tuy nói Phật tánh mà đều chấp ngã nên thuộc về kiến, nên nay dẫn ra, phá hết kiến tư chỉ là nhập không, y cứ văn tự ở sau nói ý. Văn phụ chỉ là phá hết kiến tư nên nói như thế. Nếu nói về nguyên ý thì một kiến một tư không đâu chẳng phải pháp giới. Không đồng thứ lớp nên nói ý thì không như vậy, kiến tư tức là ở sau chánh nêu ra ý văn, nếu theo văn nói chướng chân vô minh ở trong chướng, nếu theo ý nói ngoài kiến tư không có vô minh riêng, không có thể tánh riêng tức là pháp tánh. Phải biết kiến tư cũng tức là pháp tánh, nên thấy kiến tư vô minh pháp tánh. Đây y cứ tên, v.v… có năm tức luận khắp. Nếu thấy kiến tánh lẽ ra chỉ có thứ năm, thứ sáu, nay nói chung phá cần gì phải phần chứng rốt ráo danh biến.

Kế nương từ không xuất giả, cũng trước nói văn tướng kế hiển ý văn, nên nói cũng.

Ban đầu trong văn tướng đã là thứ lớp, lại y cứ pháp nhãn nói khắp không khắp, sáu căn về sau kế nói ý văn, ý văn vốn có thứ lớp giả, không thứ lớp giả, tuy tức từ ban đầu không phá thứ lớp.

Lại y cứ không thứ lớp mà nói về vị kế, tức sáu căn trần thô hoặc dứt bỏ trước, phát được tương tự giả không thể nghĩ bàn, tương tự tức là Trung đạo tướng ở trước, tức là khí phần biến vị. Chướng chung ở sau y cứ nói về quán Trung đạo để chỉ bày phá biến, Trung đạo đã là pháp phá biến, cho nên thẳng y cứ song chiếu luận biến không cần ở ý luận ngoài văn, tức chỉ vô minh bị hoặc chướng không thể nghĩ bàn hóa đạo thần thông, nếu phá hoặc nầy thì nhậm vận song chiếu, tuy ở trong văn lại không nói về tướng văn, nhưng Trung đạo nầy ở sau hai quán, lại phải văn tướng thứ lớp. Nên nêu cốt yếu ở sau lại nói chung văn chỉ, nghĩa là không có thứ lớp, có đủ như văn trước, tức quán kiến thanh tịnh, tức kiến pháp tánh, lại càng không luận thức lớp ba hoặc ba quán, kết yếu như thế mới gọi là Biến. Quán pháp sau chỉ bày kết ý biến, kết biến phải ở sau văn Trung đạo. Vì sao ở đây dự nói phá biến, nhưng văn sau nói lý biến thường là như vậy, chỉ sợ thấy hai quán không giả quán pháp trước trùng lặp, mê ở văn chỉ.

Nói văn chỉ: Là một bề trùng lặp không nêu ra nhất tâm, nên ở trong đây trước lược chỉ bày kiến tư tức là pháp tánh, đâu có trần sa ở ngoài kiến tư, có vô minh ở sau hai quán, ba hoặc đã tức ba quán thì hẳn dung thông, đây là thứ năm chỉ bày văn chỉ.

Kế giải thích Trung đạo bốn môn khác nhau, ở chặng giữa trước lại lập không giả, trước sau nêu nhập trung, ba văn đối nhau để hiển bày viên diệu.

Sinh, không sinh v.v… Thứ lớp chẳng phải thật đều nói “nhất vãng”, tự tha và song chiếu tự tha, đều chẳng phải văn chỉ, nói đồng mà ý khác nên đều gọi là Tợ. Sinh bất sinh lại lập từ giả nhập không ở trước, tức bất sinh sinh v.v… là nói ý văn. Tự tức không tự v.v… là nói lại văn thứ lớp ý hạnh văn ở trước, ý vốn không ở thứ lớp, y theo thứ lớp của văn không là tự hành, ngay tự hành, ngay tự hành đây là là hóa tha, tức chẳng phải tự tha, không sinh sinh lại lại lập xuất giả ở trước, không sinh không sinh dẫn nhập trung ở sau, hai văn giả trung so sánh nhập không mà nói, có thể do ý mà được, nên dùng ba văn lần lựa tức nhau, khiến không thành diệu không cho đến giả trung thành diệu giả trung, đây là thứ sáu chỉ bày văn chỉ, các thứ ở sau kết ý nói ở trước. Ý chỉ phụ thêm thứ lớp của văn mà nói, nên giải thích Trung đạo lại khai ra bốn chương.

Bốn chương văn đầu nói ý Trung quán, trong thứ lớp văn đầu lại trước nói về văn chỉ, nay tuy thứ lớp tức là Viên giáo, hai hoặc trừ trước chẳng phải bổn ý ý ở tâm ban đầu viên tu ba quán, nên trải qua bốn giáo phân biệt hai giáo của quán tướng kia nhưng trong đó vẫn không có, huống chi là viên diệu. Biệt giáo tuy nghe Trung quán như mù, cho nên ba giáo chẳng phải nay bàn luận, ba tạng rất dễ thấy.

Kế là Thông giáo, chặng giữa ban đầu nói lý đồng với ba tạng nên không có lý riêng để quán. Tuy không, v.v…: Giáo nầy không có trung giả, đặt tên trung cũng nói là bất sinh bất diệt. Nên biết tha y cứ lược về duyên sinh, sắc tâm làm tên ba đế, không thể nêu ra nầy, cũng được ở sau tuy nói thông xa mà nói đến được tiếp cận cho nên phải giáo chung không có thứ ba.

Kế là Biệt giáo, chặng giữa ban đầu y cứ sơ lược về đế ly hợp trung, nhưng biết mà thôi. Ban đầu tuy chưa quán nhưng khác Thông giáo đến hậu tâm mới biết, nên nói vốn biết.

Chiếu hai đế nầy, v.v… Là đà lấy có không làm tục đế, vì trong Phật pháp làm thành chân đế, có khác Tiểu nên nói là “Thung dung”. Tuy hợp chân tục mà lấy đó làm tục, chân đế không nêu ra lý thể Trung đạo, Thông giáo tuy có tên ba đế, mà thật không có thể của Trung, lý nầy ở sau y cứ theo quán dụ cho hiển bày phần chứng của chân nhân.

Ban đầu là pháp, kế dụ cho, như mắt mù, v.v… là ban đầu nêu, làm sao ở sau giải thích, cũng là hợp dụ, tuy nêu tâm vốn là mắt, do mắt mù nên chỉ xuyên qua bên mắt, bên thật không mắt gọi là bên có mắt. Bồ-tát Biệt giáo cũng giống như vậy, tuy mới biết thường mà theo thứ lớp, ngoài lý trung thật không có chân tục nghĩa là có chân tục gọi là bàng nhãn, cho nên giáo nầy trước phá hai hoặc, bên ngoài không có, bên trong trông mong tâm bên ngoài, nên biết ba đế gọi chung là bàng nhãn, ví dụ ở sau có nêu bày. Phương tiện như hai đế, kiến đế như kiến trung.

Kế nói Viên giáo hữu pháp dụ cho hợp, trong pháp ban đầu nói: Trước phá hai hoặc, v.v… Chỉ là viên quán thô hoặc dứt trừ trước, nên biết một đời Sơ trụ có thể được, nên ngài Nam Nhạc nói: Mong vào đồng luân dự chúng rất sớm, chỉ tịch sáu căn.

Thứ lớp hạnh: Sai khiến một đời trừ trước hai hoặc, tuy không trải qua cũng thành thứ lớp, hoặc Viên giáo tiếp Biệt giáo hoặc Biệt viên tiếp Thông giáo hoặc giải viên hạnh tiệm, đều hai hoặc dứt trừ trước, đều chẳng phải ý nầy, ý nầy một bề chuyên ở Viên giáo.

Kế dụ cho chặng giữa ban đầu y cứ theo dụng binh, dùng dụ cho năng sở.

Kế đối trị thiết Biệt dụ cho năng, đồ gông cùm dụ cho dừng, thân lực dụ cho đế, trí mưu dụ cho quán, gông cùm là tên chung của bệnh khí. Binh là năm binh: Nghĩa là cũng đao gươm giáo mác. Thù âm là thù, dài một trượng hai nhận là vũ khí có chuôi cầm.

Nên trong sách Hoài Nam Tử chép: Dụng kinh như quyết chứa nước ở bờ đê ngàn nhận, chuyển đá viên thạch ở hóc muôn trượng, tức binh lợi, nay dùng thân mạnh khỏe dụ cho viên ba đế, binh lợi dụ cho dụng viên ba chỉ, nhiều quyền dụ cho viên ba quán, trí xiềng xích đều nương thân lực.

Một ngày là một đời. Hai dụ cho sắc là y cứ giáo để nói mới có các thứ thiêu đốt để trị.

Kế tu duyên Trung quán.

Ban đầu chánh giải thích năm duyên, năm tên gọi tuy đồng mà nghĩa khác với giả.

1- Trong giả có năm việc đầy đủ mới xuất giả được, nay đây làm đủ năm việc nên phải nhận trung, lại mong tâm có năm việc mới tu trung được, nhập không năm duyên ý cũng như.

Kế giải thích chặng giữa ban đầu nói vô duyên từ bi, đầy đủ ba từ mới gọi là Vô duyên, chữ từ đây ở sau kết thành đều chẳng phải tướng ba đế. Trong Đại kinh mười bốn phẩm văn phạm hạnh. Phẩm đầu nói:

Từ có ba thứ:

1- Duyên chúng sinh 2- Duyên pháp 3- Vô duyên.

– Duyên chúng sinh: Là duyên theo tất cả chúng sinh, tưởng như cha mẹ.

– Duyên pháp: Thầy tất cả pháp đều từ duyên sinh.

– Vô duyên: Là không chấp tướng pháp và tướng chúng sinh.

Trong Đại luận quyển hai mươi cũng chép: Từ có ba thứ:

– Duyên chúng sinh: Nghĩa là duyên kẻ oán thân mười phương trong cõi người.

– Duyên pháp: Nghĩa là duyên La-hán Bích-chi-phật vô lậu. Chư Phật, bậc Thánh, phá ngã tướng của ta, chỉ quán bốn duyên không năm chúng pháp.

– Vô duyên: Là không trụ có, không chỉ có Chư Phật có, cùng văn Đại kinh văn y rất giống, phải giải thích ra. Trong Đại luận quyển năm nói bí cũng có ba pháp như chúng sinh, v.v…, nên biết đem ba pháp từ bi để đối với ba đế, nghĩa rất rõ ràng, nay từ thắng mà nói chỉ nói là vô duyên. Nếu được vô duyên phải đủ hai pháp trước, nên biết nói về rốt ráo từ bi, không giải thích được ba thật nầy chưa đủ khắp, hai pháp trên chung với Bồ-tát, so sánh phân tích, bèn chung với Bồ-tát của hai giáo Tạng Thông, pháp duyên cũng cùng Nhị thừa chung, cho nên lại phải quán thứ ba.

Từ nếu có không, v.v… Là kết thành ba đề, trong Phẩm Phạm Hạnh của Đại kinh nói: Từ nếu có không chẳng phải có chẳng phải không từ như vậy chẳng phải cảnh giới của các Thinh văn, Duyên giác, không đâu mà chẳng khác với các thiện Bồ-tát, các thiện Bồ-tát nghe pháp dễ chuyển, nhưng có chút phần, người Nhị thừa hoàn toàn thiếu nên riêng đối với Bồ-tát, cho đến mười hai nhân duyên bảy giác chi, tám chánh đạo, mười lực vô úy Chư Phật thần thông, không ở đâu chẳng dùng lòng từ làm căn bản. Cho nên trong kinh trải quả hết các pháp đều kết rằng: Từ là Như lai, Như lai tức là từ. Ca-diếp ở sau nói:

Từ đủ đức từ ở trên, sau kết thành.

Thủ xuất sư tử, v.v… Là nói từ có dụng chiết phục.

Phẩm Phạm Hạnh chép: Đề-bà-bạt-đa xúi dục A-xà-thế thả voi say, muốn hại Như lai và các đệ tử. Lúc bấy giờ, voi đạp chết vô lượng chúng sinh, voi nghe hơi máu càng thêm say cuồng, thấy bọn ta muốn uống máu đỏ, trong hàng đệ tử của ta chưa lìa tham dục chạy tứ tán, nhân dân trong thành cho rằng ta chết mất. Điều-đạt vui mừng thỏa nguyện, lúc bấy giờ ta dùng định từ bi đưa tay chỉ bày, lập tức ở năm đầu ngón tay xuất hiện năm sư tử, voi thấy rồi sinh tâm sợ sệt, ra chất đại tiểu tiện, cúi mình lạy tạ. Này người thiện nam, lúc bấy giờ ngón tay ta thật không xuất hiện năm con sư tử, từ năng lực gốc lành điều phục được voi, cho đến văn sau nếu đã giữa hư không, lực sĩ kinh sợ, hiện làm trang nghiêm hàng phục các ngoại đạo, khiến các người nữ điên cuồng thấy như con mình, mụt ghẻ người nữ được thuốc bình phục lại. Như vậy đều là từ năng lực vô duyên, như đá nam châm nhậm vận hút sắt, trong kinh nêu sáu dụ cho, lấy nghĩa dụ cho từ, cũng như lửa mạnh không thể đốt củi, lửa đốt củi hoại nên gọi là thiêu, như cây quỳ hoắc hướng tùy theo hướng mặt trời, lỏi chuối, sấm sét, v.v…, nghĩa ấy không khác tức là khác pháp tương ưng đá nam châm có thể thâu hút. Nói về sắt ở sau có giải thích ý tu trung, nay nói từ, v.v… đủ phá nghĩa lập. Nói phá là đá vốn không hút, lửa vốn không cháy, Như lai cũng vậy, vốn độ chúng sinh.

Nói lập: Vô tình còn có thể khác pháp xuất sinh, huống chi lại pháp thân y năng lực bổn thệ, mà không thể nhậm vận thu hút chúng sinh ư?

Nếu vô minh chưa phá, lý tuy đầy đủ như đá bị nam châm ngăn cách, mà không thể hút sắt, như nước sinh lửa, v.v…

Nói từ có dụng năng dứt hoặc. Trong Đại luận quyển ba mươi lăm giải thích tánh lửa bất định nói: Nếu lửa thật nóng, vì sao có người bị rơi vào lửa mà không bị cháy? Lửa trong thân người không thể đốt thân người, trong mây nổi lửa là do sức rồng, nước không thể dập bít, dùng lửa chiếu soi lửa ấy thì diệt, nay vô minh cũng như vậy, nhân ở hai quán mà sinh vô minh, nước của hai quán không thể diệt lại dùng lửa trí Trung đạo để diệt, vì diệt vô minh, cho nên phải nói quán thứ ba. Lại trong Đại luận quyển bốn mươi chín nói: Nếu tâm đắm thiện phá thì dễ, nếu tâm chấp không phá thì khó, cho nên chấp không lại phải có phá, như trong cỏ nổi lửa có nước thì diệt, như khởi trong nước không có vật gì diệt được, cho nên lại phải dùng lửa để diệt, nay cũng nêu bày như vậy, nếu chấp hai hoặc hoặc trí để diệt, nếu chấp hai bên, hai trí thì không thể diệt. Lại trong luật nói: Vốn cho rằng nước diệt được lửa. Ý không có trong nước sinh nước, nay cũng như. Vốn cho rằng: Hai trí diệt hoặc, mà không muốn hai trí sinh hoặc, cho nên phải dùng lửa trong trí diệt lửa hai trí.

Kế đầy đủ bổn thệ thệ tức bốn thệ nguyện rộng lớn bốn thệ nguyện cũng nương bốn đế mà khởi, nhánh lá tức dụ cho hai quán cắt đứt khổ tập ở trước, sở chưa biết dứt tức là vô minh, nên dùng vô minh dụ cho ở căn bản, kế dùng đèn đuốc dụ cho hai quán sở tu đạo diệt ở trước, kế sau là tuy tu, phân tích riêng về bốn đế để nói lên vô tác. Trăm sông như hai quán trước đã tu bốn đế, Bà-dà ở sau hiển chánh, một phen mưa dầm, là như nay bốn đế vô tác sở tu, Trung đạo ở sau hợp dụ cho thể vô tác nghĩa khắp, ba phen cầu trí Phật chặng giữa ban đầu nói về thể trí, trí phải có nhãn nên bao gồm nói nhãn, nhãn trí tức là năng hiển rộng lớn, năng hiển đã rộng, sở hiển sẽ sâu sâu, dọc sâu ngang xa đều do nhãn trí giác liễu châu liền từ nhân đến quả, rốt ráo đầy đủ, hai pháp trên ở sau dùng dụ cho so sánh phân tích, nếu tu ở sau dùng dụ cho gồm hợp, tức là công năng của Trung quán.

Mắt chân là dụ cho hạnh viên giải. Hình và hai quán nhãn trí ở trước mù què, giải hạnh thiếu nên không bao giờ khế hợp với Trung.

Đến ao, v.v… giải hạnh đã khế hợp với hình trước đọa lạc, v.v…

Ẩm phục, v.v… Đích thân ăn lý vị nước của bốn đức, thể nước không khác mà có bốn tánh như lạnh, v.v… khác nhau, lý Phật tánh là một mà có bốn đức như thường, v.v… khác nhau.

Thấy tướng ao, v.v…, Khắp ao là nước, toàn nước là ao, ao Niếtbàn. Tận mé quả đức cùng tột đáy Phật tánh, gọi là thấy tướng ao, thấy pháp ngang khắp, gọi là thấy vuông tròn, thấy lý dọc cùng gọi là thấy sâu cạn, đồng thể quyền thật gọi là vuông tròn.

– Tức khác nhau nên nói sâu cạn, thấy tức Phật nhãn thấy. Uống tức trí Phật thấy biết thể một ao nước không hai, pháp tánh không nhiễm gọi là thanh tịnh, bốn học đại phương tiện, văn đầu tựa chung nương thể khởi dụng, vô mưu, v.v… là đại trí không nhờ niệm trước là vô mưu, trụ Thủ-lăng-nghiêm: Là đại định, không thể nghĩ bàn ở sau khen ngợi dụng của trí định khéo léo, khéo léo chỉ là phương tiện trong thể, nên lý xứng cơ hợp thời hóa dụng, chỉ bày không phong, v.v… việc xưa hiển dụng, cõi gió Vô sắc chỉ bày rất dễ thấy, lửa thế gian còn đốt cháy cỏ, có thể vào kiếp hỏa mà khiến không thiêu đốt được, được thể trong, nên có khéo léo phương tiện nầy, nên phương tiện nầy gọi là Đại, vì đại dụng nên học phương tiện nầy, như ngài Di-lặc xuống nương hai bậc Thánh để hiển bày khéo léo, ngài Tịnh Danh quở trách ngài Di-lặc thọ phân tích, hai bậc Thánh đều nương đồng thể khéo léo vì sao ngài Di-lặc mong Phật thọ ký một đời? Nếu thọ ký một đời chắc chắn sinh ở Đâu-suất, nên Thiên tử ấy dự đến tư kính, thiên vị ngài Di-lặc ở thiên giáo bất thối, Thiên tử đời trước phát tâm viên Bồ-đề. Ngài Di-lặc răn dè các vị trời không lẫn lộn các vị trời viên cơ mới thành, nên cảm ngài Tịnh Danh chánh thuần thục đối với các vị trời, phân tích ngài Di-lặc, trước y cứ ba đời để phân tích, nói quá khứ hay vị lai hay hiện tại, ba đời không trụ, vì sao tự cho rằng được một đời thọ ký? Tịnh Danh kế dùng như lý mà quở trách, như vô sinh diệt làm sao được thọ ký Bồ-đề, chú giải rằng: Trong kinh nói có đồng, nghĩa là do chúng sinh cỏ cây Thánh hiền mà làm tịnh kết, như chung phàm thánh và tình, phi tình. Nếu ngài Di-lặc được thọ ký, là tất cả chúng sinh Tiểu thừa Hiền thánh vô tình cỏ cây, cũng nên được thọ ký ư? Nếu chúng sinh, v.v… không được thọ ký, ngài Di-lặc cũng vậy, đâu riêng chúng sinh và Thánh hiền, v.v…có được hay không được thì không nên đồng, nếu thể đồng, thọ ký sao không đồng? lại ngăn che đều quyết lời lẽ mầu nhiệm cùng tột, cảm hóa căn cơ thành năng hóa lẫn lộn, thầm nhận phân tích riêng, chuốt lấy chê bai, cho nên chê bai rằng: Chớ khởi kiến chấp nầy ba giáo Bồ-đề tâm chấp đã phá, ngài Tịnh Danh vì nói Viên thật Bồ-đề, tùy theo yếu nói lược hai mươi lăm câu, khắp tất cả pháp không đâu chẳng phải Bồđề, nên nói là vắng lặng, là Bồ-đề, nên lược có sáu tức là giải thích phát tâm, mà nói vắng lặng và không hai, v.v… Các vị trời nầy nghe Bồ-đề rồi, đều ngộ Vô sinh, hai Đại sĩ nầy lại cúi đầu, v.v…

Ngài Di-lặc dùng quyền để ẩn thật, Đại sĩ dùng thật để ẩn quyền, nên ngài Di-lặc nói hạnh không lui sụt như cây chùy gõ thớt của ngài Tịnh Danh, ngài Tịnh Danh quở trách một đời Bổ xứ, như cây chùy gõ thớt của ngài Di-lặc, xen làm cháy thớt thành món đồ của Thiên tử, nên được pháp nhẫn do nghe Bồ-đề khiến người khó ngộ, v.v… các vị trời đắm vui gọi là khó ngộ, lý mầu nhiệm, gọi là khéo ngộ pháp, ngộ khó ngộ, ngộ về tiệm pháp rồi tự thành khó, nghe viên Bồ-đề, được Vô sinh nhẫn, nếu chẳng phải sự khéo léo của hai bậc Thánh cây chùy gõ thớt, làm sao khiến Thiên tử được mầu nhiệm nầy, đâu riêng vị cao sơ tâm nêu bày như vậy, lấy nầy mà quán riêng quở trách không dễ, thoạt vậy chê bai tổn thương mầm thiện người khác, đều không biết cơ ứng thuận hạnh an vui, còn phải đợi hỏi đáp dùng Đại thừa, người rất ưa thích pháp còn răn dè nói nhiều, nói phải có phép bít không trái hòa nghi, được tịch nhẫn y, ở thất đại từ, ngồi tòa diệu không, mới làm được lợi ích khéo léo, lợi tha như vậy trong vị danh tự đã có lợi ích lớn, đâu đợi năm phẩm cho đến Vô sinh. Lại Đức Như lai, thứ lớp nương Phật hóa tiểu để nói khéo léo, lại y cứ vườn Nai mà thực hành tiệm ban đầu, một phen đến xưng làm bất tức nói đại, nói chủng chủng, bốn thời bảy giáo đầy đủ, rút lại khác nhau, dẫn dắt khiến lìa chấp thiên tiểu, đều khiến quy hội Nhất thừa, mới được gọi là phương tiện khéo léo, trong căn nói lược chỉ nói chủng chủng, ý bao gồm từ Vườn Nai đến trước Pháp Hoa, nói lìa chấp là thông bảy phương tiện nên nói rồi sau khai tri kiến Phật, cho nên về sau soạn ý hóa, các thứ phương tiện chân thật, chân thật được hiển bày mới có quy về, lại do, v.v… là nói lại ý khéo léo dùng quyền, nên ba giáo ở trước là khác phương tiện, chớ không phải đều vì hiển bày Pháp Hoa. Trí Phật, v.v… Khen Phật đồng thể quyền mưu so sánh, thật trong quyền khó có thể nghĩ bàn, thể thật trong quyền khó có thể nghĩ bàn, thể thật quyền bao dung không thể bằng, nên bỏ trùng lặp văn trước dùng y phương tiện, kết độn căn Bồ-tát lai đến Pháp Hoa đều nhập thật, đây là càng hiển bày công khéo léo.

Nói Hoàn trung: Nghĩa là pháp giới là thủ đô thành Pháp Vương, Pháp Vương không có lý riêng không ngoài thọ hóa khế lý, gọi là ngộ Hoàn trung nếu làm chữ Hoàn nầy như trong Trang Tử có giải, do trong vòng tròn thể không không bờ mé gọi là Hoàn Trung, nay cũng giống như vậy, như lý vô tướng vô thỉ vô chung, khế hội hoàn không ở đây nên nói diệu khế, trên hai cái ở sau.

Kế nương Văn-thù hóa ngoại để rõ khéo léo, Bảo quyển sau nói: Nhân ngài Xá-lợi-phất khen ngài Văn-thù-sư-lợi thần lực trí tuệ không thể nghĩ bàn. Lúc bấy giờ, ngài Phú-lâu-na bảo ngài Xá-lợi-phất, ta cũng có thấy việc làm ấy, đồng thời Phật ở thành Tỳ-xá-ly, lúc bấy giờ Ni-càn-tử có sáu muôn quyến thuộc, ta nhập Tam-muội thấy trăm ngàn Ni-càn-tử đương thọ hóa đến vì họ nói pháp, lại thấy cười khinh nói thô ác, trong ba tháng không có thọ hóa mà lại bỏ đi, lúc bấy giờ ngài Vănthù hóa thành năm trăm đồ chúng của Dị Dạo Sư, đến chỗ Ni-càn-tử đảnh lễ bạch rằng: Tôi nghe danh đức từ xa mà đến, ông là thầy của tôi, tôi là đệ tử, xin hãy nạp thọ, để tôi không thấy được Sa-môn Cù-đàm, không nghe pháp ấy.

Đáp rằng: Lành thay! ông đã thuần thục không bao lâu nữa ông sẽ hiểu pháp điều phục của ta.

Ni-càn-tử bảo chúng rằng: Cùng Ma-nạp nầy hòa hợp ở chung, thăm hỏi lẫn nhau, các pháp họ nói ông chuyên nghe thọ, thứ lớp mà ngồi dùng pháp Ni-càn-tử. Văn-thù-sư-lợi oai nghi đặc biệt, lúc bấy giờ khen ngợi công đức ba bảo, cũng khen ngợi công đức của Ni-càn-tử, khiến họ đích thân kính phục, sau vào lúc khác biết chúng đã nhóm họp, liền nói rằng: Chúng ta đã thực hành chú thuật kinh Thủ, nên khi tán tụng công đức của Cù-đàm vào đến trong kinh của ta, là thật công đức của Cù-đàm.

Vì sao? Vì cha mẹ của Cù-đàm là dòng chân chánh vua Chuyển luân, trăm phước nghiêm thân, lúc sinh đất rung chuyển, Phạm vương đều nâng đỡ, tự đi bảy bước, miệng nói rằng: “Trong tất cả chúng tuy có ta là tôn quý nhất” cho đến rộng khen một đời hóa vật, lần lần thứ lớp khai mở chỉ bày chánh pháp kia, năm trăm ngoại đạo được pháp nhãn thanh tịnh, tám ngàn ngoại đạo phát tâm Vô thượng. Lúc bấy giờ ngài Văn-thù hóa thành năm trăm đệ tử, năm vóc gieo sát đất nói rằng: “Nam mô Phật-đà, Nam mô Phật-đà” trong ngoại đạo kia có người chưa tin hiểu, cũng đều cùng nhau cúng dường ngài Văn-thù. Văn-thù dẫn đến chỗ Phật rồi, Phật nói pháp cho họ nghe, không có ai chẳng được 20 lợi ích.

Như ngài Văn-thù xét cơ trước đồng sau khác, mới được gọi là phương tiện khéo léo. Năm minh đại tinh tấn, ban đầu văn lược nêu ra, tức do Phật thừa gọi là Phật sự, y thừa khởi hạnh gọi là đại công lực, trong kinh Pháp Hoa ở sau có dẫn chứng, lên năng đến thật, nên nói mạnh mẽ, ý lý khởi tấn nên nói nan sự, khiến Phật luân vương giải quyển bàn thật, bất động ở sau dẫn trong kinh Kim Quang Minh tinh tấn trên quả, huống chi ở nhân không làm hai bên lay động, không bao giờ lui sụt vào ba đường ác, không mất thật tướng chánh lý, mới gọi là Bồ-đề tát-đỏa.

Tát-đỏa: Là Vương Tử Tát-đỏa, bổn duyên của kinh ấy là em thân cho hổ đói ăn, không tiếc thân mạng, huống chi các tài vật lấy đây làm nhân thành đạo Vô thượng, tuy được quả Phật tinh tấn không dừng, ở trong chúng đứng dậy đảnh lễ thân cốt, nên nói tuy được Bồ-đề vần còn không dừng, huống chi phàm phu thành kính ư? Nên trong pháp bất cộng có tinh tấn không bớt, hai pháp quán trên ở sau trùng lặp y cứ lược ban cho châu báu. So sánh quyết khai quyền, đế rõ công năng mầu nhiệm của tinh tấn. Nên Phật Luân Vương thấy chúng Tiểu thừa phá giặc kiến tư, có công năng mầu nhiệm, tứ sự thiền định vô lậu ruộng vườn. Nếu thấy Đại sĩ nên phá đại hoặc được bậc đại trí, nên nói công do thiên hạ, ở đảnh thật pháp giới khai quyền kế đồng thể, cùng thật tướng minh châu, được Pháp vương thọ ký, cùng tột pháp tử ở Phật ký, nên nói: “thường cùng”, nên nói ý của thi hóa ý ở khai quyền, nên nói giải kế, như thế đều do sức đại tinh tấn.

Chỉ Quán Phụ Hành Truyền Hoằng Quyết phần ba trong quyển sáu.

PHẦN 4

Thứ ba là chánh tu Trung quán: Văn đầu trước nêu khó biết khó quán, nếu nói sơ tâm khiến quán thẳng trung, phá tế vô minh hiển bày thật tướng, phàm còn không kiết cõi dục vô minh, nên nói huyền tuyệt, chẳng phải bốn nhãn hai trí ở trước đã nói, há là nhục nhãn căn suy biết ư? Chữ cách trong văn nên nói nhãn lự kiến trí, hai trí bốn nhãn đã chưa biết lý của kiến Trung đạo, cho nên phận tích chẳng phải nhãn lự, v.v… so sánh như ở sau nêu bày giải thích, ví dụ dễ so sánh, khó dẫn khó theo dễ nên dùng hai quán không giả so sánh với Trung quán, sao chỉ có Trung đạo khó quán, hai quán nên biết không dễ. Tuy nói không dễ, mà cũng do quán thành nên biết Trung quán cũng có thể nêu bày, ban đầu nêu chân so sánh mà nói: Khi quán chân, cũng không giống Vô sắc mới quán được, nhưng quán hiện tại thô quán nhập tâm, Chỉ Quán nghiên cứu cùng tột ba giả bốn câu, tiệm sinh nhu giải phát chân vô lậu, thấy chân rõ ràng, gọi là chân trí phát, sở kiến như vậy là do quán ấm.

Kế dùng giả để so sánh, Hằng sa Phật pháp vô lượng Tam-muội, làm sao quán được, vì phát nhãn trí chỉ quán chân không, ở trong tâm không tiệm tư các pháp, các pháp tiệm phát tâm, thâm tiệm quảng tiệm, lợi tiệm dần sáng, sáng suốt thuốc bệnh, chủng trí khai phát, nên tục trí phát là chỉ do nghiên cứu chân, nay quán là ở sau chánh nêu Trung quán, nêu bày hai quán trước để có thể quán, nhưng nghiên cứu hai trí dần thấy lý Trung. Vì sao? Hễ thấy Trung đạo phải biết vô minh, thể của hai trí đã là vô minh, do quán nghiên cứu lý Trung nên hiển bày rõ, tức ở sau ba lớp quán pháp nầy, nhưng quán hai trí thể là vô minh, pháp tánh vô minh chẳng phải một chẳng phải khác, quán pháp không thôi, tự nhiên đều vọng tự nhiên đều chiếu, nói dọc như thế, chặng giữa còn chẳng phải xa, huống chi quán ấm nhập tất cả đều thật, nên biết hai trí năng phá sở phá, đều là cảnh Trung đạo sở quán, ở giữa trước giải thích trí chướng.

Nói trí chướng, có ba thứ giải thích

Giải thích lớp đầu: Hai trí tức là gia chướng của Trung trí, nên gọi là trí chướng.

Kế lại trí chướng nầy ở sau nói Trung trí bị chướng gọi là Trí chướng.

Kế lại năng chướng ở sau, nói năng sở đối nhau được gọi là trí chướng.

Giải thích lớp đầu: Hai chữ trí chướng đều thuộc về năng chướng.

Giải thích lớp thứ hai: Hai chữ trí chướng đều thuộc về sở chướng.

Giải thích lớp thứ ba: Chữ chướng thuộc chữ năng chữ trí thuộc sở.

Đến cuối quyển nầy dẫn Đạt-ma Uất-đa-la, tuy có nhiều cách giải mà không ngoài ba lớp nầy. Chuẩn theo văn hợp ở trong đây dẫn giải thích, lời giải ấy hơi phiền e ngại ý chỉ văn nên ở sau có nói.

Vì sao ở sau muốn quán Trung đạo trước phải xét ý quán? Tại sao quán hai trí vô minh nầy, để quán xét biết chẳng phải trí tướng, đã chẳng phải trí tướng tức vô minh, nên ở sau dụng quán tuy chia ra ba pháp khác nhau, chỉ vì phá vô minh hiển bày Trung quán từ đây trở xuống chánh nói về dụng quán, trước nêu bày ba phen, ba phen chỉ là tên khác của ba giả. Mỗi giả trung cũng dùng bốn câu suy nghiệm nghiên cứu. Ban đầu quán vô minh, tức thành nhân thành giả, nói trí không giả tương ưng với tâm, pháp tánh làm nhân, hai trí làm duyên tương ưng với tâm, gọi là pháp sở sinh. Tức vô minh, tức trùng lập vô minh dùng làm quán cảnh.

Quán từ đây trở xuống là chánh dụng quán. Bốn câu suy nghiệm hai trí đều được.

Hỏi: Đã nói hai trí tức là vô minh, nên dùng tự tha suy xét vô minh nầy, vì sao lại nói là từ vô minh, là từ pháp tánh?

Đáp: Trí Trung đạo gọi là vô minh, nay quán vô minh nhưng suy ra hai trí, là từ pháp tánh, là từ vô minh, cho đến cùng lìa phú suy nghiệm đều trách, đủ như nhân phá kiến thành thuyết Trung, thực hành các thuyết nầy: là kế nói: Năng suy tướng chỉ quán.

Ban đầu nói quán tướng hữu pháp dụ cho hợp, pháp nói rất dễ thấy, đến nầy cũng nên kết thành hai không, hai đế, v.v… Văn chỉ cũng vậy, đều là văn lược.

Kế dụ cho như ở sau dụ cho nói Trung.

Nói xa mong, v.v… Trong Đại luận quyển mười bốn chép: Như ban đêm thấy, cây như pháp tánh, người như vô minh, người và cây chưa xác định, nên nói bất liễu. Khởi bốn câu ở sau hợp, đã nói khởi bốn câu chấp, v.v… Nên biết là sơ tâm quán trung làm thành thứ lớp, nên hai quán ở sau nói ở Trung. Nếu chấp bốn câu không hội về lý Trung, nên thành vô thường. Nếu lìa tánh chấp tức ở vô minh, kiến ở Trung đạo, hai không sinh pháp, nên gọi là Thường.

Trước kiến tư, v.v… Lại soạn ở sở phá khác nhau, hai quán chỉ phá kiến tư, trần sa vô minh, nên nay đã phá chỉ có hai quán trí, tức là vô minh.

Nói Kim cương: Là cũng dùng Đại kinh Lợi Quắc Chúc Địa, chỉ đến Kim cương không thể xuyên suốt, tức dụ vô minh chẳng phải chỗ năng phá của hai quán trước, năng phá tức là giáp rùa sừng dê trắng của trung trí. Quyển phá ở sau kết tên, hai quán như văn, lý nầy không thể ở sau tức quán không mà quán, nên nói chẳng phải trí chẳng phải không trí.

Lại nữa, ở sau nói ba chỉ. Ban đầu nói chung dụng chỉ, cũng dùng bốn câu suy xét vô minh, cho đến hai không không khác với quán, nên lược nêu bày mà thôi, nhưng thể là tịch, thành khác với trước, cho nên phải nói về tướng, như trí ở sau nêu dụ cho. Cho nên trong Đại kinh quyển tám chép: Thí như Tỳ-kheo trì giới, quán nước không trùng thấy bụi giống trùng, tức khởi niệm nầy. Động trong đây là trùng hay trần ư? Quán lâu không thôi tuy biết là trần cũng không rõ ràng, Thập Trụ thấy tánh cũng giống như vậy, nay hoàn toàn chưa thấy nghĩa đồng không rõ, nên được mượn dùng Thập Trụ ấy làm ví dụ, vô minh như trùng pháp tánh như trần, tuy dùng bốn câu suy xét đều được, cũng chưa thấy rõ pháp tánh, người và gốc cây ở trước dụ cho ý cũng như vô minh. Nếu nói ở sau hợp dụ nên biết, trước sinh tử sau kết tên, nên biết. Lại nữa, trở xốung là dùng sáu mươi bốn lần, như vậy ở sau lại chỉ bày tướng phương pháp bốn câu. Câu tức là mỗi môn thì gọi là Năng Thông, do mỗi câu đều là lý năng thông, tùy dùng một môn đều nên kiến thật, vì người bất liễu cho đến nhiều người, lập bày nhiều môn, tuy lập nhiều môn kiến sẽ tùy theo một, tức dùng bốn câu làm chỗ tu quán, chẳng phải lý sở quán gọi là xứ. Nên trong quyển năm chánh dùng bốn câu làm pháp tu quán. Pháp nghĩa là phương pháp, tức là pháp nhập lý năng thông, cho nên pháp nầy cũng có thể gọi là Xứ, vì chỗ năng thông đến chỗ sở thông, nên nói nhân môn, hai chỗ tên đồng năng sở khác nhau, tùy dùng một câu đã được thấy lý, lại không có câu khác nên gọi là dung, từ hành đã vậy hóa tha cũng vậy, tha cơ khác nhau tùy câu thấy lý, tức gọi đắc nhập, lấy đó làm dung, nên cần các câu mỗi câu nghiên cứu thử, khế hội có tương ưng tức là dung. Nếu chấp, v.v… là phải phán dụng tướng được mất, tuy phá bốn câu phải lìa năng chấp, chấp tức môn hoại tức gọi là Thâu.

Kế quán pháp tánh tức nối tiếp giả. Vì sao? Vì quán vô minh cho rằng vô minh diệt chỉ có pháp tánh, tuy làm lời giải thích nầy chưa phá vô minh, phải biết đây là giải của tình tưởng, cho nên lại phải quán chấp của pháp tánh là từ đâu sinh, vô minh là niệm trước, pháp tánh là niệm sau, ở giữa trước lặp lại nêu pháp tánh để giải, giải nầy thành hoặc làm cảnh sở quán.

Trước là pháp, kế là dụ cho. Trong dụ cho nói trốn gốc cây, v.v…đều chỉ từ trước đến nay quán thì dụ vô minh, trước quán vô minh tức là pháp tánh, như quán bụi và gốc cây, trùng và người đều được. Nay quán pháp tánh như quán bụi và gốc cây, lại chẳng phải minh liễu, tức ngay ở sau chỉ bày pháp quán, nên phải quán phá tướng bất liễu, nên đổi quán mà suy ra pháp tánh, chép đủ như phá kiến nối tiếp giả trung, y theo trước cũng nên kết thành các tướng ba quán ba chỉ, văn lược không nói. Như vậy ở sau dùng sáu mươi bốn lần cũng nên được mất như trước, văn lược không nói, tuy chưa, v.v… là khuyên ở hành là phải dùng chỉ quán, tuy nói sáu mươi bốn mà không nêu ra chỉ quán, nên khuyên thường học, không được đường khác, ba quán chân duyên tức giả đối đãi nhau.

Ban đầu nói tự hành, trước nêu ra đối đãi nhau làm cảnh sở quán, tức trước quán ở quán trí pháp tánh vô minh. Vì trí vì chẳng phải trí là lập chung. Nên biết trí nầy chưa thấy lý Trung tức là vô minh, vô minh chẳng phải trí, chẳng phải trí nầy đợi ai đặt tên, nên có hai đối đãi tự tha, ngang dọc, Chư Phật hiện đang đối ngã là ngang, ngã ngộ ở ngay trông mong nay thành dọc, như vậy ở sau thứ lớp nêu bày câu quán pháp, nếu duyên tu ở sau y cứ câu phá chấp, nhưng phá nhân duyên cộng lìa tự thứ, duyên ở Địa tiền, nên nói vô thường, chẳng phải nói phần đoạn sinh tử vô thường, nếu nói duyên tu sinh trí minh: Nghĩa phải vô thường sinh ở thường, vì không có lý nầy nên nói làm sinh thường, nếu Chư Phật và ngã ấy tương lai là chân tu, chân tức là chứng, chứng không gọi là tu, giải thích ở sau nầy nương giải thích khác ấy để nói lỗi tánh. Từ chân trở xuống chánh phán xét bốn câu ở sau nói lược quán thành không chấp bốn câu, cầu tướng ngang dọc không thật có, nên trí cũng không thật có, vì sao ở sau giải thích? Vì sao thể vô minh không thể được, đãi trí Chư Phật nói là vô minh, Phật trí vốn không có vô minh đều được. Vô minh sở quán không thật có, quán trí năng quán cũng chẳng thật có, nên nói cũng không, nếu chấp ở sau nói mất.

Ban đầu xếp thuộc về trí chướng tức là mất. Kế nếu không chấp ở sau tức là được.

Ban đầu nói: Bốn môn tức môn năng thông, để thành môn, nên gọi là đắc năng thông, nếu được khế hợp ở sau nói lý sở thông, khế hợp lý nầy nên gọi là đắc sở thông, tuy quán lý thật bốn câu mà chẳng phải bốn. Trong nầy thiếu sáu mươi bốn lần chỉ là lược. Nếu có ở sau kế nói hóa tha.

Hỏi: Quán hai giả trước vì sao không nói tướng hóa tha?

Đáp: Quán pháp trước chưa khắp tự hành chưa đủ, cho nên đến nầy mới gọi lợi tha, văn đầu gồm nêu, đó gọi là ở sau giải thích riêng.

Ban đầu giải thích duyên tu trung, pháp trước kế là dụ, trong pháp đầu nói vô thường sinh thường như trước nói thường, trước vì phá nên nói không nên vô thường, sinh thường, nay nói tùy cơ nên nghe được lợi ích, nói đồng mà ý khác không thể một phen chuẩn, vô thường trông mong thường vô thường La-tha, nên trong Phá Mười Tiên của Đại kinh nói: Như trong pháp của ông nhân là thường quả là vô thường, ngại gì ngã pháp nhân là vô thường mà quả là thường, nay cũng như vậy, nhân ở nhân duyên tu vô thường, sinh ở quả chân tu thường trụ. Lại nói: ở sau dụ cho tha sinh, Y lan như vô minh, Chiên-đàn như pháp tánh, nên trong Đại kinh Xà Vương nghe pháp được thọ ký rồi, tự khen rằng: Ta thấy thế gian, từ hạt Y lan sinh cây Y lan, mà không thấy Y lan sinh cây Chiên-đàn, nay ta thấy được từ hạt Y lan sinh cây Chiên-đàn.

Cây Chiên-đàn: Tức là tâm ta không có căn tín. Nói không căn: là ta ban đầu không biết cung kính Như lai, nay mong sinh tên nên nói không có căn Như lai mong Như lai ta vì người khác là tự Pháp vương chủng tánh, tự lúc sinh lúa nên gọi là chủng, giống lúa không thay đổi, nên gọi là Tánh, pháp tánh từ trong thân ta mà sinh nghĩa như chủng, từ vô thỉ đến nay giống ấy không tahy đổi nên gọi là Tánh, khác nhau từ Phật mà sinh tín tâm, nên gọi là tự, các nhân diệt cộng sinh. Do pháp tánh bên trong và quán trí bên ngoài vô minh diệt rồi, liền được Bồ-đề, nên gọi là Cộng. Hoặc nói ở sau ly sinh, chẳng phải trong chẳng phải pháp tánh, chẳng phải ngoài chẳng phải duyên tu, lìa hai pháp nầy nên gọi là không nhân, mà được nầy, v.v… chẳng phải ngoài nói là chẳng phải duyên tu, lìa hai pháp nầy nên gọi là không nhân, mà được các pháp nầy, v.v… tuy chẳng phải trong ngoài mà không đâu không có trí của Trung đạo sở đắc.

Nói, v.v… Mỗi cuối câu đều phải kết nói được trí tuệ nầy, do lìa chấp nên gọi là đắc tu vô đắc, v.v… là kết giải thích văn trước để thành ba quán lìa lỗi của tánh nên gọi là Vô đắc, lìa lỗi được trí nên gọi là đắc, chứng vô đắc nên gọi là được Vô đắc, tức Vô đắc nầy tạm gọi là đắc, đắc và vô đắc đều không thật có. Nghĩa bao gồm song giá lại có thể song chiếu đắc và vô đắc, các Bồ-tát kế ở sau nói Bồ-tát soạn luận lợi tha, tức Bồ-tát soạnluận nêu bày môn. Địa Luận Pháp Tánh Y Trì của ngài Thiên Thân, tức thuộc tự sinh, đây là luận chánh ý, nên nói chánh chủ, tha cộng vô nhân nêu bày ở đây nên biết. Trung luận nêu bày không, Không làm chánh chủ, các cõi, v.v… ba pháp y cứ theo đây cũng vậy, há là bày bốn môn nhiếp giáo hiển môn, thuộc về tất cả các giáo bốn môn, bốn môn tuy khác mà thông lý chẳng khác, nếu được ý nầy không có chỗ sai trái.

Mâu thuẫn: Chữ mâu là binh khí, dài hai trượng lập ở binh xa, chữ Thuẫn cũng là binh khí, tức là bàng bia, thuẫn đây là chữ lan thuẫn mâu đây là ngưu minh đều chẳng phải ý văn như nước Sở có bán cái mâu và cái thuẫn, có người đến mua mâu, nói mua là lời, mâu nầy đâm thủng ngàn thuẫn, có người đến mua thuẫn nói mua là lời, thuẫn nầy không có mâu nào đâm thủng. Mua mâu vẫn ở, mua thuẫn là đến, người mua mâu người nói bán, lại cùng với mâu của ông hoại thuẫn của ông là được mấy thuẫn, người bán không đáp tự trái nhau. Nếu dùng ở sau dùng trong bốn môn luận bốn tất để tu chỉ quán, kinh luận ở sau nói công năng của môn, như thế ở sau nói công năng quán hạnh trong môn. Duẫn cũng là hợp. Minh nhãn ở sau nêu được nói mất.

Hỏi phân biệt ở sau. Ban đầu hỏi chặng giữa vô minh pháp tánh đã là tức nhau. Pháp tánh tức vô minh, nên cần phải phá, vô minh tức pháp tánh, nên cần phải hiển bày, hai pháp chẳng hai nên đều phá hiển, nếu hai pháp có hai thì lý không thành.

Ý đáp: Hai pháp không thể chỉ có giả danh, nếu có giả danh ắt không có tịnh trụ, nên pháp tánh hiển bày vô minh, khi vô minh phá hết, pháp tánh vẫn không, huống chi đặt tên vô minh, nên không phá hiển mà phá mà hiển.

Kế ý hỏi: Như đến chỗ đáp, vô minh đã tức là pháp tánh, nhưng chỉ có pháp tánh mà sao có vô minh, mà văn trước nói, hai pháp tức nhau. Nếu tức nhau, sao chỉ có vô minh tức là pháp tánh, lại có pháp tánh tức vô minh, nay văn chỉ nêu một bên để hỏi nên nói không mà lại vô minh cùng ai tức nhau, cũng lại nên nói: Pháp tánh tức vô minh, vô lại pháp tánh cùng ai tức nhau, nên không luận một bên ở sau, là ở mê chỉ bày lý rõ lý không hai, cho nên tức nhau, suy tìm lý không hai mật đối tức đủ cần gì trùng tập đều ở sau một đối ư?

Nếu chỉ bày tánh mê nên còn đối sau, trong lời đáp có hai dụ.

1- Ý dụ: Là đủ dụng hai đối, vô minh như băng pháp tánh như nước, như làm một câu không biết đầu tiên hai câu ở sau. Vì mê băng là chỉ nước thành băng, vì mê nước chỉ băng thành nước, như mê pháp tánh tức chỉ vô minh, như mê vô minh tức chỉ pháp tánh, nếu mất ý nầy đều mê hai pháp, nên biết người đời chẳng những không biết tức pháp tánh vô minh, cũng chính là không biết tức vô minh pháp tánh, cũng như tánh y cứ vốn không có hai tên, giả lập hai tên để chỉ bày mê, vì chấp hai tên không rõ không hai, nên dùng hai pháp lại xen tức nhau, e mê băng nước lại dẫn châu để dụ, châu chẳng phải nước lửa gặp duyên nên sinh, lý tánh chẳng phải hai từ duyên nên nói.

Kế nói vị: Ban đầu giải thích trung vị tu tướng, chứng tướng cũng là còn văn thứ lớp, nên nói hai quán dùng làm phương tiện, Địa tiền thể chân và do tùy duyên, có thể nhập địa song giá phương tiện, nên đến Sơ địa nhậm vận song giá, Địa tiền không giả có thể nhập địa song chiếu phương tiện, nên đến Sơ địa nhậm vận song chiếu, nên thể chân chỉ do chỉ kiến tư, tức dùng quán không mà chiếu chân đế, giả quán tùy duyên y cứ theo đây nên biết. Cho nên Trung đạo gọi là Trung đạo vị.

Kế tu từ đây phân tích trở xuống quyền vị. Trước lập ba vị: Nghĩa là Thông giáo bát địa Biệt giáo Sơ địa Viên giáo Sơ trụ, nếu biệt tiếp theo ở sau bao gồm bài tựa thông biệt vị tu chứng, muốn phân tích ở quyền cho nên trùng lặp bài tựa.

Ban đầu nói Thông giáo do Biệt tiếp theo mới được nói Thất địa luận du, Bát địa nói chứng.

Hỏi: Quyển ba nói biệt tiếp theo trong thông, vì sao nói Bát địa nghe Trung đạo, Cửu địa phục vô minh, Thập địa phá vô minh mới được gọi là Phật.

Không đồng với đây?

Đáp: Ban đầu từ Tứ địa, cuối đến Cửu địa đều được gọi là tiếp, ba căn khác nhau nên vị khác nhau, bốn địa là trên sáu bảy là giữa, tám chín là dưới, văn từ giữa nói nên nói Thất địa, trước hơi khác kinh nên từ ở sau mà nói. Nên trong Đại Phẩm chép: Bồ-tát Thập địa như Phật, trải qua ở sau vị định ấy, nên trong các kinh luận phần nhiều nói ở sau.

Nói như Phật: Thập địa của Thông giáo gọi là Phật địa, được người tiếp năng phá vô minh, vô minh phá rồi, như Phật địa kia đồng được tám tướng, nên gọi là như. Như đây trở xuống phân tích quyền vị. Hai ý Thông biệt, tuy phá vô minh mà quyền vị còn cao nên phải phân tích phá.

Hỏi: Càn Tuệ chính là sở tu của sơ tâm, làm sao phân tích nói sơ không được tu?

Đáp: Nêu kém so sánh hơn một để phân tích, như trong Càn Tuệ bao gồm tam Hiền, sơ tâm chỉ có thể tu năm pháp quán dừng tâm còn không có niệm xứ huống chi có Bát địa đạo quán song lưu, tức khiến bị phá vô minh tiếp. Lại sơ tâm kế ở sau phân tích. Biệt giáo ban đầu lập tín tâm, còn chưa nhập tín, há nói về hồi hướng, trong văn chỉ nói đến hồi hướng văn lược. Nên quyền vị phàm phu kia không có phần, nói tu trung cũng nương thứ lớp, thật mà nói ba quán Viên tu, do hai quán tâm tu ở Trung đạo, cho nên đến đây là gọi là Viên tu, nên Bốn niệm xứ nói, Bồ-táthướng viên tu tức là ý nầy. Kế nay nói ởsau chánh hiển viên vị, ban đầu lập năm phẩm dẫn trong kinh Pháp Hoa giải thích thành ba quán, giữa tòa trống nương nhà giả, lại do định tuệ trợ giúp giải thích nhẫn y, tòa rốt ráo cho nên không viên, y vắng lặng nên trung viên, thật từ lớn nên giả viên, lại thật y tòa cả ba đều nói Như lai, cho nên viên, bắt đầu từ sau vị tương tự, thấy hạt ở sau nêu dụ cho tợ. Trong Đại kinh quyển mười bốn nói: Thấy có hai thứ.

  1. Thấy Tướng mạo.
  2. Thấy rõ ràng.

Thấy tướng mạo, như xa thấy khói gọi là thấy lửa tuy không thấy lửa thật chẳng phải luống dối, hư không thấy hạt bụi lại nói thấy nước, nếu thấy hoa sen lại nói thấy gốc, giữa hàng thấy sừng lại nói thấy trâu, thấy người nữ mang thai lại nói thấy dục, nếu nói thân ngữ lại nói thấy tâm, trong mỗi câu rộng như câu đầu, như vậy đều gọi là thấy tướng mạo.

Thấy rõ ràng: Như mắt thấy sắc, Bồ-tát thấy đạo, Bồ-đề Niếtbàn, cũng giống như vậy, và xem trái cây trong lòng bàn tay nghĩa cũng đồng, như vậy đều gọi là thấy rõ ràng. Nếu thấy tướng mạo gọi là thấy tương tự, thấy rõ ràng gọi là thấy rốt ráo, phần chứng cũng được gọi là phần liễu, nên tợ vị nầy dẫn tướng mạo ấy gọi là thấy tương tự, thật chẳng phải kiến tánh, tuy chưa kiến tánh khác nhau với phàm phu luống dối xưng là kiến, cho nên các dụ cho nói: Thật chẳng phải luống dối, năm phẩm còn được quán hạnh gọi là kiến, huống chi lại tương tự mà chẳng phải kiến, nêu bày như ở sau kế dẫn nêu giải thích thành, nay năm phẩm ở sau chánh nói trung vị.

Kế dẫn trong kinh Hoa Nghiêm để chứng Sơ trụ, sáu căn tịnh vị giới nội hoặc hết, lại gọi là vô dư, tiến phá vô minh mới qua mâu-ni, ba tạng mâu-ni chưa dứt biệt hoặc, giáo môn quán hạnh lại xếp vào viên, nên sở trụ tâm qua Mâu-ni.

Bắt đầu từ đây trở xuống là hiển bày công năng quán Bất đãi, v.v… Là lặp lại phân tích Thông giáo Thất địa mới tiếp.

Hà là hoan hỷ: Phân tích Sơ địa của Biệt giáo mới chứng Trung: Nên trong Lăng-già quyển năm nói: Đại Bồ-tát trụ Như như rồi lên Hoan hỷ địa, thứ lớp như vậy cho đến Pháp Vân, nên biết đều là Sơ địa trở lên nói giáo đạo. Trước giáo sau chánh phán quyền thật, giáo càng thật, vì càng thấp, giáo càng quyền vị càng cao, nên Thông giáo ở Bát địa Biệt giáo ở Sơ địa, Viên giáo ở Sơ trụ. Trong kinh Pháp Hoa ở sau dẫn chứng quyền thật. Phương tiện chứng quyền thật sự chứng thật.

Ngã tức Thích-ca, các vị mười phương ba đời, v.v… mượn lời phát tích ấy, để thành văn khai quyền, lại kế ở sau lại trải qua giáo phán, trước chỉ nêu bày hai song lưu nhập trung, nay lại nói chung nên bao gồm ba tạng, giáo ấy lại ở thấp mà vị ấy rất cao, nên vị song lưu chỉ ở Phật, nên nói phải phân khoa tiết hai nghĩa, dù nói đi đến là nói lược, nói vị viên thật, vị ấy tuy thấp mà phá công nhiều, đến Sơ trụ thì lúc bấy giờ một phen nhiếp thì nhiếp tất cả. Tuy nói một phẩm mà thật có vô lượng.

Kế nêu dụ cho như văn.

Kế lại như ở sau dẫn nêu bày giải thích như bốn thiền là một nhập khác nhau, do đó mà nói, phẩm chẳng phải chỉ có chín, nên biết Sơ trụ phá phẩm nhiều, hai quán trước sau đồng, y theo văn thứ lớp, đến nầy mới biết dọc phá khắp e mê văn xa, nên dự ở hai quán trước sau kết, nay đến trong đây chánh phải kết xứ, nên chỉ lược kết lại chỉ ở trước, nay Trung đạo quán ở sau lược kết ba lần Trung quán ở trước để thành hai không, gọi là phá pháp khắp, vô minh là kết lần đầu ở trước, pháp tánh là kết lần kế ở trước, không y các kiết thứ ba ở trước, không nương bốn câu kết thánh tánh không, không nương không chấp kết thành tướng không, y theo trước phá kiến ở hai giả sau, mới kết hai không, nên nay cũng phải như.

Kế dẫn ngài Tịnh Danh để chứng hai không. Phật có đủ hai không nên cúi đầu đảnh lễ, đủ hai không nên sạch hết các pháp, lấy không dụ không nên nói như không, lại không có tánh tướng nên nói vô y. Nếu nhập Sơ trụ nhiếp tất cả trụ, trụ đã phá hoặc cho nên một phá nhiếp tất cả phá, từ đầu đến sau đều trừ một phần, nên gọi một phá tất cả khác.

Kế y cứ ngang môn: Ban đầu nói ra ý.

Trước là pháp

Kế dụ cho, từ cạn đến sâu nên gọi là thẳng bít môn, môn ý, v.v… nên gọi là đồng, đều nêu bày ý nên gọi là Tịnh, nếu hoành, v.v…

Kế nói ý môn, ngang dọc tuy khác không đâu mà chẳng thấy thật, cũng là thứ thông, thông tất cả hạnh, đều đến cùng tột.

Hoành môn: Ở sau chánh giải thích Hoành môn, trước nêu tám bất, một là luận nêu bày đủ nên trước nói. Luận thứ nhất bài tựa quy kính chép: Không sinh cũng không diệt, không thường cũng không đoạn, khác nhau cũng không khác, không đến cũng không đi, có thể nói là nhân duyên khéo diệt tất cả hý luận. Con cúi đầu lễ các pháp của Phật, trong thứ nhất là tám bất nầy? Nói Phật đã nói nghĩa đế bậc nhất, một luận ở sau nêu bày chỉ rộng, Trung luận ở sau dẫn luận nhiếp tướng, dùng hai nhiếp sáu và cấu tịnh, v.v…

Luận hỏi: Các pháp có vô lượng vì sao chỉ dùng tám phá nầy?

Đáp: Pháp tuy vô lượng, tám phá nầy hết, phải biết các văn nêu bày môn tướng không ngoài tám phá nầy, đến duyên gọi là dị thế, nên nói rộng cho nên trong luận nói:

Nói bất sinh là tất cả tà chấp và bốn tánh, sinh và vô sinh đều không thật có. Bất sinh vô sinh đâu được có diệt, vì diệt vô sinh, nên sinh vốn không, còn sáu câu y theo đây nói.

Hỏi: Không sinh không diệt đã gồm phá tất cả các pháp, cần gì lại nêu sáu câu khác ư?

Đáp: Vì thành hai pháp đầu nên nêu bày sáu câu khác. Lại tin ưa khác nhau tùy nghi nói khác nên kinh Bổn Nghiệp Anh Lạc, quyển hạ Đại kinh Đại luận quyển sáu, nói phá các pháp đều nêu bày tám, đồng không với Trung luận. Nên kinh Anh Lạc chép: Tám phá không tức nhau Thánh trí không hai, không hai cho nên là mẹ của Chư Phật Bồ-tát nầy. Chư Phật Bồ-tát đều nói tám bất, nên biết tám bất không nhiếp hết môn nghĩa. Lại nay Thụ môn ba đế nghĩa đủ, độ nhập hoành mỗi môn môn ba đế, nên khiến hoành môn không ngang không dọc, do dọc mong ngang không dọc không ngang, từ đầu đến cuối đều có ngang, như một vô sinh tất cả vô sinh, cho đến không ngoài cũng giống như vậy. Nhiếp ngang dọc nầy đều nhập nhất tâm, đủ như thuyết sau, tám bất nầy đã vậy các môn nêu bày như vậy, cho nên nay văn độ nhập các môn, đủ như Trung luận ban đầu hai nhập và sáu pháp. Cho nên nay văn trước dùng các pháp đều nhập Vô sinh, còn bảy pháp xoay vần lại xen nhau nhập, cho đến tất cả hoành môn cũng vậy, cho nên lại nói vô sinh độ nhập.

Ban đầu nói: Nếu môn vô sinh đến cũng như vậy là đem môn vô sinh trung ấm nhập cảnh giới cả mười đều xen nhau phát, đến nhập các môn.

Kế nếu môn vô sinh quán tâm ở sau, là đến trong môn vô sinh mười pháp thành nương văn đầu và cảnh không thể nghĩ bàn, trong cảnh có mười như mười giới thành ba ngàn lại vào các môn, trong đây còn lược chỉ nói các thứ năm ấm, tức là lược nêu năm ấm thế gian, một tánh tướng, v.v… tức là lược nêu văn mười như trong thế gian ba đời, lại vào các môn.

Kế nâu môn vô sinh phát chân chánh đẳng, là dùng môn vô sinh phát tâm Bồ-đề, lại vào các môn, nếu môn vô sinh an tâm ở sau là đem an tâm chỉ quán lại vào các môn, ba pháp trước nầy nêu bày văn đều lược, nhưng đến phá khắp văn tướng hơi rộng.

Chánh y cứ phá khắp nói độ nhập, từ các văn tướng nương đến, không trụ không hạnh, lý cũng phải đủ. Trong hai môn ấy hoặc lúc không là thiếu lược.

Kế nếu môn vô sinh biết có không, v.v… ở sau là dùng phá khắp dọc ba quán trung nhập không văn đến chỉ là văn hư không phá kiến, cũng lược phá tư, cho đến các vị bốn môn phân biệt. Nếu môn vô sinh phá kiến, v.v… ở sau là đem nhập giả trung biết bệnh, trong biết bệnh trúng số, trong trúng số thấy biết có văn trúng số, còn trong biết bệnh các nghĩa và các văn biết thuốc trao thuốc đều lược. Nếu môn Vô sinh quán trí chướng, v.v… ở sau, là đem nhập chặng giữa ban đầu quán văn vô minh, văn trước đã dùng bốn câu suy phá, phá rồi bèn nói: nếu đối với một quán được ngộ, các câu liền dùng chung, nên biết một câu được ngộ, ngộ tức ba quán hiện tiền, kèm theo hai quán trước tu trung, còn ba câu như ở văn, từ tự diệt ở sau là có văn sắp nhập Trung quán pháp tánh, từ tự đãi ở sau là văn sắp nhập Trung quán chân duyên.

Ban đầu trong môn Vô sinh nói nhân thành giả, y cứ vô minh pháp tánh dùng làm tự tha cộng vô nhân, v.v… khiến nhập Trung đạo, văn Trung đạo ban đầu lấy không giả trước tương tức với trung, đã đủ ba đề nên nay bốn câu, trong mỗi câu đều kết ba đế, nối tiếp tương đãi cũng giống như vậy. Lại trong mỗi giả đều ban đầu nói tự sinh.

Kế nói ba câu, ở văn rất dễ thấy. Trong văn nối tiếp nói tự diệt, v.v… Trước quán pháp tánh nói: Vì ngay vô minh diệt pháp tánh sinh,nên trong văn nầy lấy diệt đặt tên, vô minh sinh diệt, vô minh tức là tự diệt, pháp tánh sinh, tức là tha sinh, không sinh mà sinh tức là tha diệt, pháp sinh gọi là tự, diệt không diệt sinh, tức là cộng, diệt lìa diệt không diệt, tức là không nhân, pháp tánh cũng vậy, vì sao? Vì không diệt sinh là tự, không diệt mong diệt diệt tức thành tha, nay chung vô minh mà nói, nên đều nói diệt, trong tướng đãi nói: Tự đãi, v.v… Trong tướng đãi ở trước, nói đãi trí, nói vô trí đợi ở Chư Phật, gọi là Tha đãi, đãi ngã đương lai gọi là tự đãi, cộng và vô nhân nêu bày ở đây nên biết. Nếu môn vô sinh ba quán kết thành ở sau, là văn tương kết phá pháp khắp, trước ở hai quán sau kết xong. Đến sau quán thứ ba, chỉ kết ở trước, nay văn độ nhập đã ở sau quán thứ ba, sau quán thứ hai nên lược không nêu ra, nên biết kết biến chánh nên hợp ở cuối quán thứ ba nếu môn vô sinh như trên, v.v… chung kết nếu được ở sau kế nói rõ hai kinh.

Ban đầu nói chung nhập tướng.

Kế vì sao ở sau là chánh nói hai kinh.

Trước nói không hạnh; kế nói Kim cương; ban đầu trong không hạnh nói đế không hạnh, tức là cảnh mầu, trí là y cảnh khởi giải, Bồ-đề là phát tâm, an tâm như văn phá kiến tư, v.v… tức là phá khắp sinh tử Niết-bàn chặng giữa tức là nêu chung thỉ chung hạnh vị giáo, v.v… chỉ ở sau trong văn đạo phẩm thông bít cho đến chánh trợ, vị là thứ vị, thông nhiếp an nhẫn cho nên lý ái, đều ở trong vị, qua ly ái rồi nhập vị Sơ trụ, ắt có khởi giáo nên nói giáo.

Kế Kim cương: Ban đầu lại dẫn kinh sáu trần không trụ.

Kế là cảnh trí ở sau nói mười thừa. Cảnh trí không trụ cho đến không thể vô minh, v.v… Lại nêu mười thừa ba văn đầu, để phá khắp văn là vốn độ nhập. Không có Sơ địa, v.v… lại dẫn trong văn kinh không trụ, nhập địa bèn nói không nên trụ, do chưa cùng tột, huống chi lại trụ ở cảnh trí sơ tâm, cho đến nếu chưa phá hết, cho nên không phải trụ, tức là vô trụ mà trụ, nầy thì cũng gọi là không nên trụ, nên nói tuy các pháp không trụ, do không có pháp trụ mà trụ Bát-nhã, nầy thì ba đế lại chung sơ hậu, sáu tức đều được gọi là vô trụ mà trụ, vô trụ nầy ở sau lại phán vị, cho nên Nhân Vương ở sau giải thích phán. Thông Đồ chép: Ba chỗ nầy đều phá vô minh, cho nên được phần Kim cương vô trụ. Thích-ca ở sau nói rốt ráo Kim cương, nếu vậy ở sau giải thích nghi thường dùng đã giải thích nhưng nói Kim cương chỉ ở phục đạo, nên nói đoạn đạo vô Kim cương, nên dùng Đẳng giác làm Kim cương, Diệu giác chỉ có dứt mà không có Kim cương. Trong Nhân Vương nói Thích-ca sở nhập, nên nay trích dẫn. Phật có Kim cương chung đến Sơ trụ tột ở Phật, không ở đâu chẳng có nghĩa Kim cương vôtrụ , vì phá tha giải nên dẫn Phật có theo để dễ giải thích, có không chẳng ở tại dụng mà ở Đẳng giác, công quy về Diệu giác. Hai luận đã nói cũng không ngoài mười thừa vô trụ.

Nói độ khác: Khác nghĩa là âm khác, do nghĩa vô sinh độ nhập môn khác như ở đời dây đàn ông trúc, dây đàn ông trúc mà khác nhạc có khác, đàn ống trúc như ngang, các khúc như dọc.

Chương đầu căn bản diệu tuệ chỉ quy, công rộng lớn của độ khác nếu như vậy, nhập đạo và lý còn ba pháp thuộc về sự, ngàn lời đều giải có chút phần để nói.

Kế lại phân biệt: Ban đầu hỏi nên biết.

Ý đáp: Vô sinh đối với các tên thành hai nghĩa.

Ban đầu chánh chỉ bày môn tự hành năng thông, nên nói: Ba mươi hai Bồ-tát, mỗi vị đều nói môn sở nhập, nếu nói ở sau nêu ra giải tha. Nay giải ở sau nêu ra nhà nay chánh giải, ban đầu chỉ bày môn năng thông. Bồ-tát nầy nói ở sau tự hành. Duyên lợi tha ở sau kế nói hóa tha, trước nói các Bồ-tát đều tự nói môn sở nhập, nên thành tự hạnh, trong đây nói ba mươi hai Bồ-tát, mỗi vị đều nói, chẳng phải riêng thuật rồi cũng làm lợi tha, tha duyên khác nhau nên phải nói mỗi mỗi duyên. Đây thì, v.v… là khen môn có vô lượng không ở đâu chẳng có lợi ích tha, những gì, v.v… Là kết trả lời câu hỏi trước. Lại kế ở sau lại ở mỗi môn để rõ bốn tiết được bốn tất lợi ích, tức là cái đúng ấy. Nếu không có bốn món tất thì phải độ nhập, hoan hỷ tức thế giới, tin thiện tức là nhân, chấp pháp tức đối trị, muốn độc tức nghĩa đệ nhất, lại phải kế ở sau nói các môn không diệt có bốn môn tất lợi ích hỷ sinh, trở xuống là chữ Bát tức môn Bốn tất, dụ cho kết như văn.

Kế nói nhất tâm: Ban đầu nói lại ý. Bắt đầu từ ngoài, ngoài cùng đến Phật pháp, đều có tà chấp, cho đến các tư, đều quán phá hết, phá lập đều nêu bày tất cả kinh luận, nên kiến tư phá vị đại tiểu khác nhau, bốn môn phân biệt sở nhập đều khác, nêu ra mượn thuốc và bệnh trao thuốc, v.v… trải qua tất cả. Nhập trung lại có các vị khác nhau, độ nhập hoành môn môn lại có vô lượng, cho nên mỗi môn đều nói tất cả tướng ấy đã rộng, người muốn tu quán là để tâm khó đúng nên phải kết rút chỉ bày ý chánh kia, gọi là nhất tâm, đây là chánh nói ý môn nhất tâm vô sinh, theo như môn vô sinh có ngàn lớp.

Kế nói các môn hành dọc, độ nhập nhất tâm, tuy các thứ ở sau kết thành nhất tâm, nhưng nhất tâm ở sau chia môn giải thích, trước giải thích chung môn, đối ở sau, v.v… có các tướng khác nhau nên gọi là chung. Lợi là nêu chung với riêng, vì chưa rõ ở sau riêng, ở chặng giữa ban đầu lược chỉ bày pháp quán. Nếu không được, là kế nói ý độ nhập, tìm văn rất dễ thấy.

Nói huyền siêu là trong nhất tâm đầy đủ, không còn có thứ lớp, khác nhau với dọc trước nên nói huyền siêu. Xuất Giả Độ Nhập Trung chép: Lặp lại lược đã nhập, tự hạnh tuy phá nhưng chưa bỏ phân biệt, nên gọi là sơ.

Kế vì lợi tha lại phân biệt rộng, nên gọi là phức phá rồi lại nên gọi là đáo nhập. Cũng gọi là nhập lại vì chưa đến trước, các tướng như vậy cũng nhập nhất tâm, nên nói diệu không, cho đến song chiếu, tất cả đều chẳng đúng ý cũng như. Nói song chiếu giả của hai đế, do giả tức trung, vì sao ở sau giải thích kết như vậy, v.v…

Kế y cứ nhất tâm khi tri kiến Phật đã ở mỗi niệm chỉ quán hiện tiền, y cứ tâm niệm nầy gọi là chúng sinh. Sao trước nay hoặc ngang hoặc dọc đã nhập nhất tâm, một niệm khởi không lìa ngã, ngã tức Chúng sinh, trái mỗi niệm tâm, tâm tịch mà chiếu, tịch nên gọi là chỉ, chiếu nên gọi là chỉ, chiếu nên gọi là quán, nhất tâm đã. Các tâm nêu bày cũng vậy, chỉ quán làm nhân nhãn trí làm quả, trong mỗi niệm không đâu không có chỉ quán nhãn trí, cần gì sơ tru mới gọi là khai, như khai Ba thừa chỉ là nghĩa khai chấp cận ấy, nghĩa là ngay chúng sinh cũng là điểm chỉ bày nói tình vắng lặng, tức là Phật tri kiến Ba thừa. Nay nầy chỉ là khai thừa nhận khai của khai thông, chưa phải khai phát khai của khai kiến, nên văn sau nói nầy quán Thánh, v.v… để phán khai vị, nên trong kinh Pháp Hoa nói dẫn chứng trong thanh tịnh sáu căn, nhưng chỉ dẫn ý căn, do ý tịnh nên các căn thanh tịnh, nên chỉ dẫn ý để nhiếp các căn. Hai Hiền mười Thánh đều dẫn Nhân vương. Hiền Thánh ở nhân nên có quả báo, Phật không có quả báo, nên gọi là Tịnh, nay nói chung tịnh uế đã khác, có nghĩa báo khác nhau có thể chứng rốt ráo. Trong Đại kinh cũng nói ở sau mượn tiểu nói đại chứng báo Diệu giác, Tiểu thừa cũng do có hiện báo, gọi là hữu báo nên trong quyển hai mươi bảy chép: Chúng sinh ràng buộc gọi là sắc, danh sắc ràng buộc chúng sinh. Sư tử hống khó nói, nếu có danh sắc là ràng buộc, các A-la-hán chưa lìa danh sắc, cũng còn ràng buộc.

Phật nói: Nầy thiện nam: Hai món giải thoát là:

  1. Tử đoạn
  2. Quả đoạn

Nói tử đoạn là các bậc A-la-hán đã dứt phiền não, các kiết hư hoại, chưa dứt quả nên gọi quả ràng buộc, không được nói danh sắc ràng buộc, tuy chưa dứt quả mà quyết định đoạn, phiền não tức là hột của quả, ấm quả tức là quả của tử gia, Đại thừa tuy đồng. Tiểu thừa khi nhập Vô Dư dứt hẳn quả, chỉ có hiện báo vô sinh hậu báo, nghĩa ấy hơi đồng nên được tướng hiển. Có báo thân nên đồng với tử quả, không vời lấy hậu báo gọi là không quả tử, thế dẫn trong kinh Kim Quang Minh cũng chứng báo thân tuy đồng danh báo, nghĩa báo lại khác, khác nhau Tiểu thừa, cách thế báo, nên lặp lại dẫn, cảnh gọi là pháp thân, trí gọi là báo thân, cảnh trí tương ưng năng khởi hóa dụng, gọi là ứng thân, y cứ theo ý kinh ấy chữ ưng bình hô, trí nên ở cảnh gọi là ứng thân, kinh ấy tức dùng báo thân là ứng thân.

Khởi hóa dụng: Là nên đọc khứ thinh, tức hóa thân, cho nên phẩm Tam thân kinh ấy chép: Hóa thân ứng thân thối thất, tùy các chúng sinh hiện các thứ thân, gọi là hóa thân, tương ưng như như như như trí nguyện lực, được hiện tướng tốt đầy đủ, gọi là ứng thân, dứt tất cả phiền não, đầy đủ tất cả pháp, chỉ có như như, trí như như, pháp thân như như làm trí như như là nơi nên nương tựa.

Kế dẫn tánh báu giải thích Kim Quang Minh.

Kế trải qua nhất tâm, do một bề ngang dọc không hai nhất tâm, trải qua các tâm, tất cả các tâm không đâu chẳng phải vô minh, cho nên sơ tổ quán chung vô minh, chung đã chẳng phải nên khai chung xuất riêng, trong tâm vô minh đầy đủ các tâm.

Hỏi: Văn trước chỉ nói quán thức ấm vì sao có các tâm dục?

Đáp:

  1. Các tâm không ra khỏi thức.
  2. Vì đối với người tiện nghi, nên phải gồm nêu bày.

Hỏi: Tham, v.v… tức thuộc về phiền não sao gọi là quán tâm?

Đáp: Tuy là phiền não thuộc thiện ác ấm, huống nầy chỉ quán các dục tâm vương. Nếu vậy, có gì khác với phiền não?

Đáp: Đây là phiền não chẳng phải cảnh phiền não, do quán pháp ấy xưa quá khứ hiện tại xưa tập sinh, không đồng với sau nên hợp ở đây, thật phiền não ấy chẳng phải báo ấm, tuy tức thuộc về ấm mà ấm bất tận, cho nên văn sau lại nêu các ấm, nói lịch nghĩa là xem xét, do biệt mong chung nên gọi là dư, không ngoài vô minh nên nói nhất tâm.

Kế: Trước nay ở sau nêu bày các ấm nhập

Hỏi: Lẽ ra ở cuối quyển bảy nói mười thừa xong nêu bày các ấm nhập đều tu mười thừa, vì sao ở đây nêu bày ư?

Đáp: Do nghĩa tiện, từ sơ đến nầy riêng y cứ thức tâm, từ đây trở đi, cho đến lìa ái, y cứ đủ về năm ấm mới thành pháp tướng, nên trong thông bít, đã xem xét đế duyên, đế duyên phải đầy đủ năm ấm, đạo phẩm niệm xứ không thể nói riêng một thức ấm, chánh trợ chỉ là giúp cho đạo phẩm, ở sau ba pháp chỉ là nói các vị thứ lớp của quán ấm, nên phải ở đây nêu bày các ấm nhập, đem các ấm nhập cộng thành cảnh quán.

Hỏi: Trải qua các nhất tâm cái nào khác với bốn ấm?

Đáp: Có đồng có khác đủ như trước có phân biệt. Lại trải qua các nhất tâm, dùng tâm đối tâm mà nói chung riêng, nếu nêu bày các ấm dùng ấm đối ấm, mà nói thô tế báo phi báo khác nhau vì pháp tướng khác nhau, nên phải nói riêng, tuy là nói riêng nên biết đồng khác, ấm không ngoài tâm tâm không lìa ấm, ấm năng ngăn che, tâm thường tạo tác, tạo thân che sơ đều do tâm làm cảnh.

Kế là hỏi đáp phân biệt, đáp chặng giữa, trước đáp nhập không nhân duyên, ở chặng giữa trước gồm đáp, sao ở sau nêu bày riêng, nói về sinh tử ở sau có giải thích.

Văn đầu giải thích vì tự nêu ra, tự đã có ở sau giải thích vì nêu ra tha. Hiền thánh giải thích là tuệ mạng, các thần thông ở sau giải thích là vô lậu. Lại pháp vị ở sau giải thích là pháp vị, nhưng phải suy nghĩ phân biệt nêu bày đồng xuất giả tướng nhân duyên, tự thoát đồng đại bi, thoát tha đồng bổn thệ, tuệ mạng đồng lợi trí. Vô lậu đồng phương tiện, pháp vị đồng tinh tấn, mỗi pháp khế hội khiến nghĩa tương đương, giả ở sau không nên nói nêu bày ở sau, muốn dùng trước sau một nêu bày năm duyên nên cũng có năm duyên. Phàm quán không ở sau kế đáp nhập giả không có bốn môn, ý không chung đại tiểu, v.v…, tiểu tạng đại diễn thiên ba viên một, các pháp nầy đều phá kiến tư nhập không, quán năng phá y môn khác nhau, nên nêu bày mười sáu môn để phân tích thể không lẫn lộn, như thể hư không các không lại khác nhau, kiến tư đoạn xứ Ba thừa chung hữu, Biệt giáo nhập không tuy riêng ở Bồ-tát, trí dứt lại đồng, nêu tâm hằng khác, nay văn nói dọc tương tự Biệt giáo, ý văn lại khác, nên nay văn nói những việc đã nêu, nên đối biệt phân biệt khiến cùng nêu khác, để lập thứ lớp, bổn nguyện không thứ lớp, nên nói phân biệt nhàn. Sợ người mê nên nương bốn giáo để phân biệt, ý văn vốn ở một viên dụng.

Trí chướng ở sau nương văn sau nầy để dẫn Đạt-ma Uất-đa-la giải thích nghĩa trí chướng. Đạt-ma Uất-đa-la Hán dịch là Pháp Thượng, sau khi Phật diệt độ tám trăm năm, là A-la-hán ở trong Bà-sa, dùng ba trăm bài kệ làm một bộ, gọi là Tạp A-tỳ-đàm. Vua của luận nầy giải thích nghĩa, văn thường phân biệt. Đại sư trích dẫn hoàn toàn leo phá phân tích. Cũng như Huyền Văn có giải thích mười hai bộ kinh, tuy không chánh dùng mà còn đủ ý ấy, nay văn đầu từ phiền não đến làm sao nói trí thành chướng, tức gạn khởi, trí có hai thứ:

Đáp: Đã thuật nghĩa ấy lại thuận tông ấy, chớ đem văn nay để xen lẫn ý kia.

Ban đầu gạn rất dễ hiểu. Trong lời đáp nói chứng trí, là trí của Phật và Bồ-tát. Nói thứ trí là trí Nhị thừa, trí Nhị thừa tuy được gọi là trí nhưng chưa thuận thật tướng, nghĩa phải nên biết, có công năng phá phiền não nghĩa phải ở trí, nói thể trái, v.v… là giải thích thức trí, thức thuận ở tưởng tánh là phân biệt, trí nầy trái thể nên gọi là thể trái, trí nầy thuận tưởng nên gọi là Tưởng thuận, thuận trí Nhị thừa trái với trí Phật, làm chướng trí Phật và Bồ-tát nên nói trí chướng.

Lại Phật có hai chướng, v.v… phiền não chướng của Phật trước đã dứt trừ xong, vô minh lại hết gọi là lìa hai chướng, nên dẫn trong kinh Niết-bàn chứng hai giải thoát. Tâm nghĩa là trí vô lậu, nghĩa là chứng trí, trí không bị chướng gọi là trí giải thoát.

Kế dẫn trong Địa Trì giải thích ý Niết-bàn. Địa Trì gọi là tuệ Niếtbàn gọi là trí, tên khác mà nghĩa đồng.

Kế nếu dùng ở sau giải thích Địa Trì tuệ giải thoát, trong Địa Trì đối với tất cả sở tri, biết không chướng ngại, gọi là trí tịnh, nên giải thích rằng: Do minh cho nên đối với trí có ngại. Nếu phá vô minh biết không có chướng ngại, tức là vô minh chướng chứng trí, gọi là trí chướng, phá vô minh nên được trí không chướng.

Kế dẫn nhập Đại thừa, để chứng vô minh là nghĩa trí chướng, nhưng vô minh gọi là đồng cho nên phải phân biệt vô minh xuất thế mới gọi là Trí chướng, hai chướng đều gọi là phiền não, lại càng khó. Vô minh và ái đều là phiền não, vì sao chỉ dùng vô minh phiền não, để làm trí chướng. Từ vô minh trở xuống giải thích, ái là phiền não, phiền não khác trí, vô minh tuy cũng gọi là phiền não, phiền não tức trí, cho nên vô minh chẳng đồng với ái, cho nên phân ra hai chướng khác nhau.

Kế dẫn nêu bày giải thích trí chướng, phần đoạn là sinh sinh tử chẳng phải vô vi. Nếu vô vi sinh tử sinh tử tức vô vi, vô minh cũng như vậy, tức thể được gọi là trí, cho nên nói vô minh được gọi là trí chướng, ái tức bốn tục ở sau giải thích phiền não tức hoặc của trí, nên khi có trí tuệ thì không có phiền não, khi có phiền não thì không có trí tuệ, cho nên trong văn nói, giải hoặc không chung, phiền não tức chướng gọi là phiền não chướng.

Nói vô vi sinh tử: Là nhiếp vào Đại thừa lập bảy món sinh tử, có phương tiện sinh tử, tức vô vi sinh tử, có nhân duyên sinh tử, tức pháp giới sinh tử, hai sinh tử nầy ở cõi biến khác, nên sinh tử ấy tức vô vi, nên mượn nêu bày nay tức hoặc của trí. Lại nữa, ái khiến cho các cõi nối tiếp nói. Lại giải thích trùng lập ái và vô minh, thể ấy khác nhau, ái từ quả khởi làm nối tiếp quả sau, nên nói khiến cho các cõi nối tiếp, đây là nói công năng của ái, khiến cho tâm phiền não ở sau giải thích công năng của ái chỉ là phiền não, tuy vô minh ngăn che ở sau, nêu ra công năng của vô minh, để nói phiền não.

Chiêu vời sinh tử không gì hơn ái, nên từ cương mà đặt tên, cho nên ái chỉ gọi là phiền não, không gọi là trí chướng, vô minh không rõ ở sau, là chánh giải thích, công năng của vô minh là nghĩa trí chướng, vô minh và ái đều trái với giải thoát, mà vô minh không đồng với nhanh gốc của ái, vô minh là gốc trái với giải thoát, trái tức là chướng.

Kế tánh ái ở sau nói ái là nhánh, gốc đã có tên trí chướng, cho nên ái chỉ gọi là phiền não. Kế vô minh tánh mê ở sau giải thích lại vô minh đích thân chướng trí, cho nên nghĩa chương trí hiển bày. Kế vô minh có hai thứ ở sau, lại phân biệt vô minh đồng thể khác, để nói thể tướng của hai chướng khác nhau.

Trước hỏi, tuy có cái khác của mê sự mê lý, cả hai đã đồng được gọi là vô minh, vì sao vô minh được gọi là trí chướng; kế dẫn trong Địa Trì để đáp, nếu chung, thì sở chướng đã chung gọi là trí, nên khiến năng chướng chung gọi là chướng, nay nói riêng là trí thể của sở chướng đã khác nhau, nên khiến năng chướng vô minh khác nhau, cho nên Nhị thừa có trí vô ngã, mà thành sở chướng, tức do phiền não mà thành năng chướng, pháp của Chư Phật, Bồ-tát vô ngã trí, mà thành sở chướng, nhân vô ngã trí mà thành năng chướng, do sở chướng của Nhị thừa, làm năng chướng đối với Phật và Bồ-tát. Đối với Nhị thừa được gọi là trí, ở Phật Bồ-tát chỉ gọi là Chướng, đây cũng tức trí là chướng, gọi là trí chướng. Nếu vậy ở sau phán xét đến Địa Trì, nhân pháp vô ngã đều là mê nhân pháp vô ngã, cả hai đều gọi là lý, cả hai trí vô ngã đều gọi là tịnh trí, phiền não là trí đều là gia chướng của lý trí, từ trì sở tri trở đi, tức là sự trí bị chướng làm trí chướng.

Kế nếu vậy ở sau gạn vể sở giải, mê sự mê lý đều gọi là trí chướng.

Sao là định, từ chiếu sự chiếu lý, khế hội hai giải đều có đạo lý, do người xưa giải thích có hai khác nhau, hoặc do các pháp bị chướng, gọi là trí chướng, hoặc do vô minh chướng đối với trí Phật gọi là trí chướng, luận chủ đều thừa nhận nên nói tuy hai hai mà không hai, chỉ là một trí năng chiếu lý sự, sự lý tuy khác mà trí thể chẳng khác. Lại tâm trí là chướng ở sau lại nêu ra khác giải. Có người nói: Tâm trí là chướng, tâm là phân biệt, phân biệt là sự, sự ngại như thật, ở đây giải thích chấp mê lý, gọi là trí chướng, do diệt tưởng diệt tâm, nêu pháp Tiểu thừa pháp đối với giải thích về đại, như người Tiểu thừa nhập định diệt tận tưởng diệt tâm, cũng gọi là diệt trí, đây là đoạn diệt, nay diệt trí chướng tâm không tự thể diệt, tức bỏ phân biệt nhập vô phân biệt, nên biết phân biệt thật không thể vả lại chẳng phải điều nhiên ở sau giải thích lại trì chướng và trí Trung đạo, chẳng phải điều nhiên ở sau giải thích lặp lại trí chướng và trí Trung đạo, chẳng phải rõ ràng khác nhau, trí chướng là vô minh vô minh là pháp tánh, cho nên trí chướng không thể cắt đứt.

Kế ở sau dẫn kinh chứng minh, phước còn một mảy may, không đâu chẳng cùng tột. Phải biết phân biệt trí thể không xả, vì giúp đạo môn trước phá phiền não, nếu phá phiền não, phá hoặc trí nầy, thể là chứng trí cho nên không lỗi, người làm ở sau phá kiến chấp. Kiến tư cho là khác nhau của hữu đoạn không đoạn, nói về trí thể ấy thể vốn không khác nhau, như các ý giải thích ở trước nói lên vô minh tuy nói trí chướng, thể chướng tức trí, lại từ trước nay các giải cũng không ra ngoài giải thích Trung quán ở trước; ban đầu nói nghĩa trí chướng, chia làm ba cách giải thích.

Ban đầu nói trí là chướng, tức là trí là năng chướng, hai chữ trí chướng đều thuộc về Năng.

Kế nói từ sở chướng, gọi là Trí chướng, tức là chứng trí bị chướng, gọi là trí chướng, hai chữ sở chướng ngại đều thuộc về sở chướng.

Kế nói lại trí sở tri ngại, gọi là trí chướng, tức chữ chướng làm chữ trí, chữ sở.

Kế hỏi đáp: Lặp lại giải thích ngăn ngại; Ban đầu ý hỏi: Trong kinh Anh Lạc nêu bày vị thỉ chung, chỉ nói Sơ địa ba quán hiện tiền văn song lưu ở trước vì sao có được ba chỗ song lưu.

Ý đáp: Mượn nghĩa tướng thành ở lý không có lỗi mượn bát địa Biệt giáo thành thấp, bên Thông giáo mượn Sơ trụ Biệt giáo thành cao bên Viên giáo, không thể chuyên chấp trong kinh Anh Lạc vị định của Biệt giáo ở Sơ địa. Nói vị phân biệt đều không gì hơn kinh Anh Lạc, cho nên mượn đó để thành cao thấp. Một hỏi đáp lượm lặt mà có, văn cũng không có thứ lớp.

Chỉ Quán Phụ Hành Truyền Hoằng Quyết phần bốn trong quyển sáu.

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.