Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

CHỈ QUÁN PHỤ HÀNH TRUYỀN HOẰNG QUYẾT

SỐ 1912

QUYỂN 05

Sa-môn Trạm Nhiên Tỳ Lăng đời Đường soạn.

PHẦN 1

Trong giải thích chánh quán, trước nói ý tới, cũng gọi là kết trước sanh sau. Trong đó, trước lược kế rộng. Văn đầu kết trước, nay y trở xuống là sinh sau. Hỏi: Trong năm lược trước có hạnh có giải, có nhân có quả, vì sao chỉ nói sáu lớp là giải. Đáp: Nói đại ý thì quán ở hạnh giải tự tha nhân quả, y đã khỏ hiển, lại thực hành các giải thích hạnh giải nhân quả v.v…, không phải gọi đã có hạnh quả v.v… nên đại ý là chung, tám thứ kia là riêng. Riêng là giải thích riêng hạnh giải nhân quả. Như giải thích một trong mười chương thiền Ba-la-mật, cũng là đại ý. Từng ý chung riêng v.v… cũng như thế. Nếu lại có người y theo năm lược ở trước, tu hành chứng quả hay lợi tha v.v… tự là đường. Trước như quyển ba ở trước ghi. Như ý luận văn chỉ thuộc ở giải, trong thuộc giải sợ giải chẳng khắp nên phải nói rõ danh thể và nhiếp pháp. Mới kham thành mười cảnh mười thừa dưới. Như trong đại ý tuy nói phát tâm mười thứ khác nhau và bốn Tam-muội nói hạnh khác nhau. Chỉ nêu số đầu nói tướng chẳng đủ, cho nên chưa thiệp với mười cảnh mười quán. Phương tiện nhìn năm hơi giống hạnh thỉ, nếu nhìn chánh quán toàn chưa nói hạnh, cũng trải hai mươi lăm pháp y cứ sự sanh giải, mới có khả năng làm phương tiện chánh tu. Cho nên sáu trước đều thuộc giải, đều nương vào giáo mà lập, nên nói y Tu-đa-la làm phân biệt thiên thô nên nói Diệu giải. Lại chỗ nương giáo chẳng phân biệt Đại Tiểu, thiên viên khác nhau. Vì cùng thành một Viên giải, lại tên Tu-đa-la gọi chung ba tạng. Như Đạt-ma Uất-đa-la nói: Luận vốn cũng gọi Tu-đa-la, lại trong mười hai không phải cục ở một bộ, trước sau chung gọi là Tu-đa-la, cho nên chỗ dẫn trước hoặc luận, hoặc luật hoặc đại hoặc tiểu cùng thành Diệu giải, cho nên nay chỉ chung là Tu-đa-la. Nói sanh sau, là dùng các giải trước mới tiến hành được. Như trong Thích Danh trước là Đãi, kế là Tuyệt. Tuyệt chỉ là khai chung đức gặp dị, cùng thành nghĩa tuyệt. Hiển thể bốn đoạn đều là trước Thiên sau Viên để làm Đãi tuyệt. Thể là sở thuyên, tên là khai hiển, thể cũng tùy tên, dùng sở khai thể nhiếp khắp các pháp. Pháp tướng khó nói vẫn phân ra sáu nghĩa, là ở khắp sự lý nhân quả tự tha, mỗi pháp đều chung giới nội, giới ngoại. Lại dùng sáu nghĩa lần lượt thâu nhau, lại dùng năm môn xếp pháp được nhiếp, mới hiểu trong thể sở nhiếp dung nhau lại hiển trong dung thật quyền chẳng xen lạm, lại dùng bốn chương quyền thật hiển nhau, Viên giải hơi nhanh. Lại dùng giải này dắt dẫn thanh tịnh. Sự lý dung tức nên gọi Diệu giải. Y theo Diệu giải này để lập chánh hạnh như giải hạnh này lấy ở diệu lý cũng còn khó đương, huống chi là chỉ riêng một văn trong bộ, do đâu mà bước lên diệu vị viên chân. Phải biết chưa thấy ý dung chung nên phải khéo hiểu các đại chương câu tỏa quán đãi ở trước, thâu nhiếp ý văn, nắm vào một tâm, vẫn phải mười pháp hòa hợp thành thừa. Một điều đình cảnh cảnh đều nghiên cứu, dù cho chưa ngộ có thể làm diệu nhân, các vị Thanh văn lên cực quả. Phương đẳng đờn chiết, Bát-nhã bị gia lại, đến Pháp Hoa ba thỉnh bốn chỉ cũng phải rộng lược, năm Phật khai quyền pháp thí nhân duyên hết lòng trịnh trọng, vẫn có chưa liễu hại đến Niết-bàn đâu có đời mạt độn căn ngầm chỉ một câu phân biệt Phật thừa, tuy câu khéo thông, nếu chẳng phải sáu căn phải là năm phẩm. Cho nên luận Quán Tâm nói: Hay đáp hỏi là hứa cho năm phẩm ấy. Ấy là tự tâm diệu đạt đâu đợi văn khác. Nếu đọc văn còn mê thỉnh chẳng tụ nêu, cho nên sáu lớp trước đều là Diệu giải. Cho nên trong mỗi văn đều dùng thứ lớp hiển chẳng thứ lớp và khai quyền v.v… chỉ tùy tự ý lược nói quán tâm mười giới ba đế, là chánh ý chỉ khiến một tâm quyền thật mà tu Diệu quán. Cho nên nói y giải mà lập hạnh. Ca Minh trở xuống là nói rộng ý tới, trước nói được nhân pháp, trong đó trước nói tự hành mà được, là đều dùng chánh quyển Diệu hạnh đối sáu chương trước mà diệu giải. Trước thí dụ giải hạnh giúp nhau. Cao có khả năng tục minh để thí dụ cho quán hạnh, minh có khả năng nhiên cao để dụ cho quán giải. Mắt hay dắt chân dụ cho chỉ giải, chân hay đạt mắt dụ cho chỉ hạnh, nêu cả hai dụ đồng dụ hai pháp. Tướng chi dữ canh lại chi dữ tư. Dựa văn cùng khác ý phải thông nhau lại là nhờ tư, nhờ ích, cho nên biết không có sáu chương trước, hạnh không do đâu mà đủ. Hạnh giải trở xuống là nhân hạnh mà chướng sanh, nói nguyện do chướng sanh ba chướng v.v… là bó chung mười cảnh để làm ba, bốn, đủ như văn sau trong chín song bảy chiếc mà nói. Do quán ấm nên các cảnh đều sanh, chướng ở chỉ quán khiến chẳng sáng sạch. Văn từ lời nói cách chữ làm đối, nghĩa là tối tăm nhiều lớp che sáng, sáng tức là quán, tán lớn động định, định tức là chỉ. Chữ trùng bình thượng hai âm đều chung. Đốn vị từ bình, sâu dày từ thượng. Cự là lớn, lớn không hai tiếng nghĩa cũng chung hai, sẽ khởi cùng lậu đều được gọi lớn. Nghĩa là ma chướng thường đến, đến càng sâu nặng. Lại từ đối tiện đặt tên ma chướng là hôn tán mà nói. Hôn tán là năng chướng, trọng cự là tướng chướng, ế động là dụng chướng, định minh là sở chướng. Sở chướng tuy vốn có, Định minh tạp cũng yếu. Năng chướng là tập vô thỉ nên hôn tán năng lực rất mạnh. Chẳng thể v.v… là quán ma chướng thể tánh, nếu ma chướng khởi sẽ hại quán đọa ác. Nay muốn lập quán khiến chớ tùy chớ sợ, sợ thì một bề hại ở chánh tu, tùy thì vẫn cần xét phân biệt tiến chăng. Nếu khi chướng khởi đều làm ác thì hướng hết vào đường ác. Chướng chẳng thuần ác cho nên đọa đường ác y cứ nhiều phần mà nói, như bệnh phiền não v.v… khi bảy cảnh khởi thì tùy đó đều đọa vào sanh tử, hai thứ sau khởi thì đọa ở phương tiện, chỉ hai cảnh sau ở trong sơ tâm và bảy cảnh trước vốn là trôi lăn, đều có nghĩa kéo vào đường ác. Cho nên nói phần nhiều thuộc về trôi lăn. Lại phải phân biệt bệnh là vô ký hoặc sanh thiện ác. Phiền não một bề thêm lớn điều ác trong nghiệp tế độ tự phân ra thiện ác. Ma cũng khiến người rơi vào thiện ác. Thiền tuy độn thiện khởi bác bỏ, cho nên ác. Y kiến đạo hạnh cũng có thiện ác, mạn một bề là ác. Cho nên bên ác thì kéo rơi vào ác, bên thiện thì kéo rơi vao thiện. Nếu y cứ Lý quán mà nói Thiện Ác thì hai cảnh sau cũng gọi là ác huống chi bảy cảnh trước. Cho nên trong Tịnh Danh ở chương Tu-bồ-đề bác bỏ ba vô vi là ba đường ác, ấy thì bên sợ thì đồng, đồng ngại chánh tu bên tùy thì dị, đường ác nghĩa khác. Phải dùng trở xuống là chánh nói lập quán. Chẳng vì sợ cho nên đến được bình đẳng. Tuy Đinh Minh Hôn Tán thể đều vốn có, không có hai thể, thể một tên khác. Cho nên tên Hôn Tán gọi là không thật thể, lại dùng vắng lặng mà làm tánh. Cho nên biết hôn tán căn nói tuy mạnh phải tu vắng lặng để đạt hôn tán, chiếu thể hôn này một quán mà ba, gọi tức hôn mà minh, vắng lặng thể tán này ba chỉ mà một, gọi tức tán mà vắng lặng. Đây là bệnh vắng lặng chiếu v.v… chín cảnh, thành không thể nghĩ bàn chỉ quán đại cương. Như đây trở xuống là y giải khởi hạnh lập thí dụ. Thí dụ hướng về chỉ quán của vắng lặng, hai nhóm trên là chỉ, hai nhóm dưới là quán, nghĩa là động tán đều thêm, càng lớn chỉ tịch. Hôn ám càng mạnh thì càng nhiều quán minh. Truyền nghe bặt trần giải rằng: Trư khai dụ cho chỉ giải, các dòng dụ cho chỉ hạnh, củi cháy dụ cho quán giải, gió ích dụ cho quán hạnh, một lần giống được nhưng trái ý văn. Trước dùng Cao Minh mà dụ cho Giải hạnh rồi, đây chỉ dụ cho hạnh tức hôn, tức tán, mà chiếu mà vắng lặng. Chỉ y hai dụ đều đối chỉ quán, giải thoát này là chánh. Trư khai v.v… dụ chỉ hạnh, là Đại luận quyển ba mươi trong giải thích Nhẫn độ có nói: Nếu người thân ác như trư khai kim sơn, thể vàng cáng chân. Nay dụ an nhẫn ba chướng bốn ma càng chuyển thêm vắng lặng. Các dòng như Đại kinh nói: Các dòng sông chảy ra biển đều mất tên cũ. Muôn dòng đều hội thể chẳng thêm bớt. Chín cảnh di thú chỉ thể không thiếu. Chi tịch ở động, động tăng ở tịch. Cho nên dùng Trư lưu mà dụ ở động, lại dùng Kim Hải mà dụ ở tịch. Sở dĩ trư di càng nhiều mà thể vàng không thay đổi. Sông càng chảy vào mà tánh biển chẳng thêm. Củi cháy v.v… là dụ quán hạnh, nhiều củi lửa càng mạnh, mạnh chẳng chọn củi. Ma chướng càng sáng, sáng chẳng chọn cảnh. Phong ích cầu la, Đại luận quyển bảy trong giải thích Phật phát ra ánh sáng. Hỏi: Từ dưới chân cho đến nhục kế, mỗi đều sóng sáu muôn ức ánh sáng, ở đây cũng đếm được. Vì ánh sáng này chiếu ba ngàn cõi nước còn chẳng khắp huống chi là mười phương. Đáp: Thân quang là gốc của các ánh sáng. Từ gốc tuôn ra vô lượng ánh sáng như trùng Ca-la-cầu-la, thân nó rất nhỏ gặp gió chuyển thành lớn, cho đến có thể nuốt tất cả. Ánh sáng cũng như thế v.v… Được cơ có thể độ, càng thêm vô hạn. Nay cũng như thế. Sức quán chưa thành, chỗ chiếu chưa sướng, gặp cảnh thành chiếu dụng nó càng sáng. Các pháp sanh nên Bát-nhã sanh, cho đến chẳng phải sanh chẳng phải chẳng sanh. Cho nên mượn Cầu-la để du cho năng sở. Quán chiếu ở tối, tối tăng ở sáng, cho nên lấy củi gió mà dụ cho tối, lại lấy lửa sâu mà dụ cho sáng. Do đó củi nhiều mà tướng lửa càng mạnh, gió mạnh mà sâu càng lớn. Kim cương này trở xuống là quán thành cùng ích. Văn trước đã dụ hạnh giải công sâu. Kim cương v.v… là khen công sâu của giải. Chỉ quán giải thành dứt ba hoặc hết. Nhọc gượng v.v… là khen hạnh đức xa. Chỉ quán hạnh chứa vượt hai tử. Văn Tuyển Cam Tuyền Phú chép: Nắm (xem) thấm nhuần cương của đạo đức. Cương tức là chất rắn của Kim thạch. Trận là bày, tức nêu bày. Thái Công trong Lục thao có các trận Thiên, địa, nhân, mây, chim. Nay Kim cương quán không trận nào chẳng phá, đã ba hoặc đều dẹp, như năm trận đều hoại. Ngoài quách gọi là giao, ngoài giao gọi là dã (dã là đồng cỏ hoang), quách như ba trăm, giao như bốn trăm, dã như năm trăm. Cho nên phá hai chết quá năm trăm gọi là vượt giả. Nếu đến Sơ trụ hạnh tuy chưa tột, lại dùng trung hạnh mà há đồng cư và phương tiện hai chết. Lý tuy không sai nhưng giải nhờ hạnh mà mãn. Được tên kim cương cắt được ba hoặc. Hạnh nhờ giải mà tiến, được tên cao cường vượt được hai chết. Lại mượn tùy sự mà được tên chẳng phải một. Văn tuy đều nói ý thật cùng giúp nhau tuệ tịnh trở xuống là nói tướng giúp nhau. Tuệ chỉ là quán giải, hạnh chỉ là quán hạnh. Hạnh được ở giải thì hạnh chẳng lầm, giải được ở hạnh thì giải có khắc. Cho nên nói tuệ tịnh ở hạnh. Hạnh tiến ở tuệ chiếu nhuận trở xuống là tiếp nêu bốn dạ để dụ giúp nhau giải như mặt trời chiếu, hạnh như mưa thấm nhuận. Chiếu nhuận đều bằng, muôn vật sẽ thành. Hạnh giải không lệch các đức đều đủ. Giải như người buôn bán dẫn đường, hạnh như người buôn bán thành đạt. Có dẫn có đạt thật là điều đáng mong. Hạnh giải đầy đủ thật tướng chẳng xa. Giải tịnh ở hạnh, thì hạnh như ngọc không có dấu vết. Hạnh nghiêm ở giải, thì giải như vật trang sức đáng ưa thích. Kia đây giúp nhau, nên nói giao lạc. Một thế trở xuống là lấy dụ này mà dụ cho hạnh giải như Chiếu Nhuận v.v… cũng gọi dị thể. Cho nên y cứ một thật mà nói hạnh giải. Dắt dẫn lẫn nhau lại hiển ở thật. Như thể hai tay chỉ là một thể, chẳng hai mà hai lại hay tịnh thể, hai mà chẳng hai. Không phải chỉ trở xuống là nói hóa tha mà được, diệu hạnh đã mãn khởi giáo lợi ích người khác, nên nói chẳng phải tự hành mà thôi tức là vị Sơ trụ. Lại tính chung trở xuống tức là khởi giáo. Thác là rộng, là lớn. Giá là chỉ (ngăn), tức như bốn ma. Chướng là chướng ngại, tức như ba chướng. Ba, bốn đều thật đủ như sau nói. Khải là khai, đây y cứ hạ căn chân xuất giả vị. Trung thượng chẳng phải thế, như quyển sáu. Tư Tượng v.v… tượng là thành vật, là người thợ làm ra đồ vật (bình đựng v.v…). Nói tự tha công thành. Nếu hạnh giải chẳng khắp, tự tha sẽ giảm mất. Cho nên Đại sư cùng Cát Tạng Thư nói: Nếu có giải mà không hạnh thì chẳng thể hàng phục chúng sanh, có hạnh mà không giải thì ngoài thiếu hóa tha. Nhân sư v.v… là khen hạnh giải đầy đủ, đáng làm thầy người, là báu của nước đời Hậu Hán, vua Linh Đế băng rồi, lúc đó Hiến Đế có Mẫu tử rất tin Phật tông, bác bỏ bai Lão Trang, soạn luận ba quyển ba mươi bảy thiên. Thứ hai mươi mốt Samôn cứu bàn kế đúng sai, lập lời hỏi rằng: Lão Tử nói người biết không nói, người nói không biết. Lại nói: biện luận hay như nói ngọng. Lại nói: Quân tử thẹn lời nói có lỗi, nếu Sa-môn biết chí đạo sao chẳng ngồi mà làm. Nói không phải quấy luận suông cong ngay há chẳng phải là giặc đức hạnh sao? Đáp: Lão cũng có nói, nếu ông ấy không nói làm ao ta nói được? biết mà chẳng nói thì chẳng thật có, chẳng biết mà chẳng nói là người nghe. Hay nói mà chẳng thể làm là thầy trong nước, làm được mà chẳng nói được là dụng của nước, làm được nói được là báu của nước. Trong ba phẩm chỉ chẳng thể nói chẳng thể làm là giặc của nước. Nay nói tự làm khuôn phép cho mình, làm khuôn phép cho người, nên nói là báu của nước. Mâu Tử lại nói: ôm vàng chẳng hiện ngoài người, ai biết trong đó có ngọc vi, có thêu nhiều màu chẳng ra khỏi cửa, ai biết trong có màu sắc?. Ngựa nằm trong chuồng, chẳng ăn thì ngựa dở ngựa giỏi đồng bầy. Học trò ngậm miệng chẳng nói thì ngu và trí chẳng phân. Nay tục sĩ trí không mao tuấn mà muốn chẳng nói lời. Chẳng nói một phu mà tự như Đại nói. Nếu đám này ngồi mà được đạo thì như không mắt muốn thấy, không tai muốn nghe há chẳng khó lắm ư? Cho nên nay tự hành đã mãn phải dùng giáo lợi người. Thí như nói làm đều được mới là quốc bảo. Như trong Xuân Thu, Tề Oai Vương năm thứ hai mươi bốn, Ngụy Vương hỏi Tề Vương rằng: Vua có báu chăng? Đáp: Không. Ngụy Vương nói: Quả nhân ở trong nước tuy thế (nhỏ) mà có châu kính tấc mười hạt, chiếu xe trước sau đều hai mươi cổ, sao cho nước muôn thừa mà không báu ư? Oai Vương nói: Gọi quả nhân báu và vua báu khác nhau. Có tôi như Đàn Tử v.v… đều giữ một cõi thì khiến Sở Triệu Yên đều chẳng dám xem thường, nếu giữ trộm cướp thì đường không lượm của rơi. Do đây làm tướng thì soi ngàn dặm đâu chỉ mười hai cổ xe ư? Ngụy Vương hổ thẹn mà bỏ đi. Đây thì nói được làm được là quốc bảo. Mà lại trở xuống là nói giống Phật thừa làm thí, tức có thể hóa tâm. Hỏi: học giả Viên đốn vốn tập vô duyên, đâu đến Sơ trụ mới nói học Phật? Đáp: kính mến cực vị gọi là học Phật mà thôi. Lại trong sách lệ trở xuống mà khiến nói như làm. Như lai cũng dùng chỗ chứng mà lợi người, cho nên khuyên nói chứng để ích lợi người, tức trở xuống là dụ. Nếu dùng quyền pháp dạy người. Pháp môn tuy khai mà chẳng gọi là khuynh tạng, nay ở một tâm mà khai môn lợi vật là khuynh, kho Bí mật bày châu chân thật. Tâm đã chẳng cùng, tạng cũng vô lượng. Tạng đã vô lượng thì châu vô biên. Chứa tất cả pháp nên gọi là Tạng.

Lý thể không thiếu dụ như lấy châu. Ấy là mở bày giác tạng (kho giác) vốn có của chúng sanh, chẳng phải từ ngoài đến. Các châu này v.v… là kế mượn dụ để khen thể dụng. Trước chung y cứ châu để khen thể, kế riêng y cứ dụ để khen dụng. Văn trước nói châu này có thể dụ cho Nội diệu thể, Hạnh giải nhân quả tất cả đều đầy đủ, phát ra ánh sáng dụ cho tuệ, mưa báu dụ định tuệ tưc trí đức, định tức đoạn đức là thể định tuệ. Hai đức này tức là hai đức tự lợi, lợi tha, trí tức là tự lợi, đoạn tức lợi tha, tự tha này hai mà chẳng hai lấy ba đức này vì tha mà nói. Nay khen chỗ nói là châu này v.v… chiếu tối v.v… là khen dụng, nói chiếu tối là năng lực của ánh sáng, phá tối không sáng kia. Nói phong phiếm là sức của mưa. Làm giàu cho kia cái thiếu pháp tài. Nói đêm sáng là chuyển giải thích chiếu tối. Nói tế cùng là chuyển giải thích phong phiếm. Xoay vần sanh nhau trở xuống là giải thích định tuệ tức nhau trên. Phá hoặc đủ đức, trí đoạn đồng thời. Trì hai luân trở xuống là thí dụ công thành có chỗ đến. Hai luân vận xa là dụ cho định tuệ Ngang chu, hai cánh bay cao là dụ cho định tuệ dọc cực. Chữ là vô (trống) sỉ là bay. Cho nên Đại sĩ Tuyết Sơn bị Đế-thích thử tài xem là có thể gánh mang gánh nặng bình đẳng được chăng. Như xe có hai bánh thì chuyên chở được, chim có hai cánh thì sẽ bay lên được. Tuy thấy trì giới nhưng chưa biết người ấy có trí sâu chăng? Trong kinh vốn dụ thừa giới đầy đủ, nay mượn để dụ định tuệ đồng thời. Ngọc Nhuận v.v… là dụ cho chỉ quán hạnh thành công bày được ra ngoài. Ngọc Nhuận là dụ cho chỉ đức, xanh tươi là dụ cho quán đức. Lưu Tử nói: Núi ôm ngọc mà cỏ cây nhuận, sông chứa châu mà bờ chẳng khô. Hoài Nam Tử cũng nói: Suối có châu bờ chẳng khô. Bích: kinh Sơn Hải nói: Núi cao nhiều xanh tươi. Quách Phác nói: Bích là ngọc. Thuyết Văn nói: Thanh là sắc đẹp, tiện là sắc tốt. Cũng như thông trúc mùa đông vẫn mầu xanh, đều là vẻ xinh tươi. Có người nói: Chỉ quán giải hạnh như ngọc nhuận bích tiên. Đây chưa khéo ý văn. Trong đây ý nói do hạnh giải ở trước mà chỉ quán thành tựu, công năng bày ra ngoài, tự tha đều lợi ích. Nếu lại chỉ làm hạnh giải mà giải thích thì văn nào phiền tạp.

Hương thành trở xuống là nói pháp ân khó báo đền. Đã hạnh giải thành tựu thì mắc ân sâu của Phật, như tan nát thịt xương cũng chẳng thể đền đáp đức Ngài. Hương thành, là nơi Bồ-tát Ba-luân tu thấy VôKiệt chẻ tủy để chuộc thân cũng như đồng tử Tuyết Sơn thấy La sát gieo mình mà chuộc bằng kệ. Những si độn ấy v.v… là kế nói lỗi tự tha đều cho thiếu Diệu giải Diệu hạnh ở trước. Trước nói lỗi tự hành vì không có lòng tin. Lại như Pháp Hoa nói: Các con ở sau uống thuốc độc khác làm mất bổn tâm, là uống chất độc kiến tư khác. Năm trược chướng nặng nên nói vào sâu vì độc sâu nên mất tâm Bồ-đề, vì không tin nên như voi không bị câu móc. Đã không có móc câu tín cho nên nghe mà chẳng thể hiểu. Cho nên Đại Kinh quyển hai mươi ba nói: Vì như voi say điên cuồng bạo ác muốn giết hại nhiều. Có người điều phục voi thì dùng câu móc lớn móc vào vòi thì nó liền nghe lời, tâm dữ đều dứt. Chúng sanh cũng như thế, vì phiền não nên gây ra nhiều điều ác. Các Đại Bồ-tát dùng câu móc Phật pháp, khiến người nghe pháp do đây mà trụ. Vì nghĩa ấy nên nhân duyên nghe pháp là gần Đại Niết-bàn, phải biết đời trước có móc câu nghe pháp, nên khiến đời này nghe liền hiểu. Thiếu mắt trí tuệ, càng giải thích mà không hiểu. Cho nên kinh

Đại Phẩm chép: phải dùng mắt trí tuệ để quán biết các pháp thật, cho nên biết phàm phu đui mù, Nhị thừa chột mắt, ngoài nghe chẳng hiểu do trong mắt trí, không có mắt trí nên nghe cũng chẳng khác. Toàn thân đều bình đẳng, đều dụ cho không thực hành vì không làm nên chẳng thể dứt hoặc, nên nói chẳng trước. Lý thấp là bệnh và cùi hủi đều dụ cho chẳng giác chẳng hiểu cho nên chẳng biết. Xưa bác bỏ bai Đại thừa cho nên hạnh giải toàn thiếu các ương kia còn chứa còn gọi là người lớn tội, vì nói những lởi ấy lại thêm tội bác bỏ bai thì có tổn mà không lợi ích. Kinh nói: Nếu chỉ khen Phật thừa, chúng sanh chết trong khổ, nên nói đâu nhọc phải nói. Nếu trở xuống là túng thích. Nếu là giả thiết, mượn khiến chán đời chẳng thể cầu đại. Cho nên kinh nói: Không phải sức tầm thường của ta mà được vật. Phạm phụ v.v… là nêu loại chứng mà giải thích. Chán Đại Tập, quen tiểu như bỏ cội rễ mà theo cành lá. Cho nên Đại Phẩm chép: Bỏ thâm Bát-nhã Ba-la-mật như bỏ cội rễ mà tu tập Nhị thừa, chỗ phải làm như vin cành lá, đó là việc ma. Vin cánh lá sẽ đọa, nắm gốc sẽ chắc, nắm cành vô thường thì rơi xuống đất Nhị thừa, nắm gốc Bồ-đề tâm ắt chắc. Cẩu hiệp làm việc, là Đại Phẩm nói: nầy người Thiện nam, gần gũi các kinh khác chẳng học Bát-nhã, như con chó chẳng theo đại gia xin ăn, lại xin người giúp việc, là việc ma của Bồ-tát. Bồ-tát cũng như thế, bỏ thân Bát-nhã, lấy chỗ hành kinh của Nhị thừa ấy là việc ma. Đại luận giải thích rằng: Có người trước ở trong pháp Thanh văn thọ giới, sau thấy thân Bát-nhã nhưng vẫn mê đắm chỗ học trước mà bỏ Bát-nhã. Lại có đệ tử Thanh văn, trước học Bát-nhã chẳng hiểu nghĩa thú chẳng được tư vị, còn chuộng kinh Thanh văn mà cầu đạo. Lại có Thanh văn trước học Bát-nhã lại muốn tín nhận kinh Thanh văn khác mà hủy bỏ lời Bát-nhã. Kinh ấy trước sau bất định, nghĩa chẳng tương ưng, cho nên bỏ đi. Trong pháp Thanh văn pháp nào chẳng có, sáu đủ Tỳ-đàm tức là Bát-nhã, năm bộ luật tạng tức là Thila. Trong Tỳ-đàm phân biệt nghĩa thiền, tức là Tam-muội. Trong kinh Bản Sanh khen nhẫn, tiến v.v… tức là sáu độ đầy đủ. Nay văn quen nói đủ các ý. Kính Nhĩ Hầu v.v… có người chẳng biết khỉ và Đế-thích có nghe người nói Thiên đế bay đi. Sau ở trong rừng mà thấy bầy khỉ bảo là Đế-thích mà rất kính trọng đảnh lễ. Ngói gạch v.v… cũng là Đại Kinh ý dụ ao xuân lại vin nắm cành lá và ngói gạch, như chẳng biết pháp. Cẩu Hiệp làm việc và kính lạy khỉ như chẳng biết người. Lại một thứ người thiền thấp kém dạy người pháp nhân đều lỗi. Ngầm dẫn tuệ văn về trước các lỗi hiển bị chê chẳng đạt chướng nạn còn lỗi ở tiểu huống chi là đại? Trong đó trước nói nhân sai. Chẳng đạt, vì chẳng thể dùng tha hóa an tâm sáu mươi bốn phen, cho nên thành lỗi, huống chi chín thừa ư? Thể tâm v.v… là nói pháp hóa tha là sai. Tuy thể đạt như không, chẳng phải thể pháp thật trí tuy từ chối chẳng chịu, chẳng phải vô tác xả giác, tuy điều hòa dung chung, chẳng phải lẫn lộn đồng với pháp giới, tuy giác cầu tìm, chẳng phải phản chiếu nguồn tâm, tuy mất hút rời nhau nhưng chẳng phải khế lý vắng lặng, tuy hiểu vốn Vô sanh chẳng phải trí soi cảnh mầu. Các dụng như thế đều là một đường. Cho nên nói một triệt. Triệt là vết xe đi. Cho nên biết đây là mê hẳn mười quán và cảnh sở quán. Chướng nạn muôn nẻo, là song bác bỏ tự tha. Như mười cảnh dưới cùng phát. Đã chẳng liễu tự phán, phán tha tất cả đều lỗi. Mù què v.v… là không giải như mù, không hạnh như què. Sư nói: Nếu là đệ tử thì phải biết, cho nên đều đọa lạc. Nếu mượn Bách luận người ngoài bị phá, bèn tự cứu rằng: Nếu thần không chạm thân thì chẳng nên đến. Thân thần nhờ nhau sẽ có chỗ đến. Như mù què giúp nhau sẽ đi xa. Nay một người có hai, một bước chẳng đến lên. Kế mù què là giải thích thí dụ trước không mắt gọi là mù, chân thọt gọi là què. Đã mù và què mà lại đi đêm, không giải không hạnh mất mặt trời Phật giáo, đi đêm vô minh. Chẳng nên trở xuống là tổng kết phi khí. Chẳng nên đối với người không hạnh giải trên mà nói diệu giải hạnh. Cao thượng là như trước người có tín có hạnh giải, tức cao thượng ở văn này. Thấp kém là như người không tín không hạnh giải, sẽ yếu kém giáo này.

Khai chương rất dễ thấy, cái gọi là chỉ quán khai làm mười. Phải nói chỉ quán sở quán khai làm mười. Chỉ là văn lược nên chỉ nói chỉ quán. Lại mười cảnh này tức là văn trước thể được hiển. Trước y cứ sở hiển năng nhiếp, nên đặt tên là Thể. Nay đối với cái do năng quán phát ra nên đặt tên cảnh. Lại trước từ lý mà nói nên thể chỉ là một, nay từ bên sự nên cảnh có mười. Vì sự tức lý nên mỗi cảnh đều không thể nghĩ bàn. Vì lý tức sự nên mỗi pháp đều khác nhau. Trong đây văn mười nghĩa mười. Ý khiến sở quán đồng thành một thật, và nói lên năng quán chỉ ở một cực. Cũng có thể nghĩa mười như trong phân biệt. Cũng có thể nghĩa ba, nghĩa là trái ba chướng tức ba đức. Kế ý trong sanh khởi, do quán ấm nhập mà sanh ra chín cảnh giới, năng sở giúp nhau, thứ lớp sanh nhau mà thành mười ý. Nhưng sanh khởi này lại phụ văn tướng. Một nhà soạn thuật lập ra chương môn đều sanh khởi. Nếu y văn dưới mười cảnh cùng phát thì không còn thứ lớp. Đây thì từ hạnh. Văn đủ hai nghĩa, một ở trong mười. Đại Phẩm nói: Thanh văn y niệm xứ v.v… lá dẫn chứng nghĩa kế cho nên Đại Phẩm và Đại Bát-nhã, hễ nêu pháp môn thì đều dùng năm ấm làm đầu. Năm ấm chỉ là cảnh niệm xứ mà thôi. Lại hành nhân trở xuống là nghĩa hiện tiền. Văn dưới phân biệt dùng hai nghĩa này. Nói gánh nặng, năm ấm là gánh vác, sanh tử nhiều lần nên nói nặng. Phàm phu chẳng bỏ, Nhị thừa chẳng gánh. Người Bồtát vừa bỏ vừa gánh. Vì bỏ nên bỏ hẳn sanh tử, vì gánh nên vào sanh tử. Cho nên Bồ-tát bỏ gánh năng gánh. Hành nhân (người tu) cũng như thế, vì bỏ vì gánh cho nên phải quán. Sau phát tướng lạ v.v… là trong mười cảnh ấm đủ hai nghĩa ắt ở đầu, chín thứ kia đã do quán ấm mà sanh khác là thứ lớp. Như chỗ nêu dưới đây. Nay ta dùng mười pháp này làm cảnh, khác nhau nẻo thường, lập riêng thanh tịnh chân như vô sanh vô lậu. Như thế mà quán, như lìa không này lại tìm không riêng. Nay y kinh nương hạnh lấy ấm làm đầu, chín cảnh sau tùy phát mà quán, mỗi cảnh đều dùng mười thừa pháp quán. Lão Tử còn biết quán thân là tai họa, mà người thế gian gìn giữ thân nhơ tìm tịnh lý khác. Có lỗi rất nặng.

Năm ấm trở xuống là nói do ấm mà sau sanh phiền não, nói ấm hợp với bốn đại là sợ văn này lầm. Phải nói ấm hợp với bốn phần. Báo pháp năm ấm từ vô thỉ đến nay chưa từng lìa nhiễm, nếu chẳng quán ấm thì thuận phiền não. Nên nói nếu chẳng quán sát v.v… như đóng thuyền trở xuống là vì người chưa quán nêu thí dụ. Dụ gồm hai ý: Trước vì chẳng quán là thí dụ thuận dòng. Nếu nó trở xuống là do quán ấm động phiền não mà cảnh ngược dòng làm thí dụ. Hối tố như quán ấm. Thỉ giác theo dòng như phát phiền não. Thuyền là chuyên chở trên nước. Bôn, Nhĩ Nhã nói đường lớn) gọi là Bôn, trong sân gọi là Tẩu. Bôn là dáng chạy nhanh. Theo mà chẳng biết đi nhanh. Tinh là chạy tan, đi nhanh như chạy tan. Tố là ngược dòng. Đã quán trở xuống là hợp quán ấm dụ. Bốn đại trở xuống là nói quán phiền não kế sanh bệnh hoạn. Thân bệnh tức là ấm cảnh trước, tâm bệnh tức là cảnh phiền não trước. Vô thỉ thường theo thân bệnh không hề ngược dòng, nên gọi là đẳng, cũng là trước nói chẳng quán, nên nói trong tình bất giác. Nay Đại phần trở xuống là nói do quán hai thừ trước mà động bệnh hoạn. Đại là bốn đại, lại chỉ cho sắc ấm, vì bốn ấm kia chuyển thành phiền não, gọi là bốn phần nên nói đại phần. Phần có bốn phần tức phiền não ở trước. Trước đã quán ấm lại quán phiền não, nên nói đều quán. Do hai quán này kích động sắc, nên nói xung kích mạch tạng. Đủ như quyển tám giải thích. Vì xung kích nên khiến bốn mùa trái với năm tạng, cũng là năm hành khác nhau nên gọi là Trái. Nên bốn rắn độc khởi riêng thành bệnh. Vô lượng các nghiệp trở xuống là do quán ba cảnh mà sanh ra các nghiệp. Cũng trước nói chẳng quán nên chẳng phát. Cho nên tâm tán thiện thường chẳng phát nghiệp tướng. Nay tu trở xuống là chánh nói nhân quán để phát nghiệp tướng. Kiện nghĩa là đã quán đại phần, bệnh nghĩa là đã quán bệnh cảnh, ba thứ đều quán nên nói chẳng thiếu. Nhân quán đông nghiệp nên nói động sanh tử luân, nghiệp tướng là năng vận sanh tử là sở vận. Xe chở sanh tử gọi là sanh tử luân. Nên Đại luận nói: Xe sanh tử chở các kết tạp phiền não của người nơi chỗ trống tự tại chuyển đi không thể ngăn cản. Là nghiệp đời trước mình làm tự chuyển thành các thứ hình. Nghiệp lực là lớn nhất, bậc nhất trong thế giới. Hoặc mầm thiên v.v… là nói nghiệp tướng khởi tổn ích khác nhau. Câu đầu là nhân thiện tập nẩy mầm sanh tướng. Ác hoại trở xuống là ác tập nhân hoại diệt tướng. Thiện thị trở xuống là nói thiện báo quả tướng. Ác lại trở xuống là nói ác báo quả tướng. Vì ác trở xuống là nói nhân quán ở nghiệp mà sanh việc ma. Trong văn chỉ làm tướng sanh sau, thiếu chẳng quán thì chẳng phát. Nhân quán bèn phát tướng. Nếu nhìn văn trước phải nói từ vô thỉ đến nay chỉ thuận theo hữu lậu, dẫn nếu thiện sanh ác diệt, cũng tùy cõi ma. Nay quán nghiệp khiến ác diệt, thuận theo Niếtbàn để hiện sanh, cho nên thuận Bồ-đề, ma sợ xuất gia mà gây trở ngại. Cũng có thể do quán ba cảnh, tuy sanh sự thiện cũng thuận Bồ-đề, tuy diệt sự ác cũng thuận Niết-bàn. Vì ác động nên song nhắc lại văn trước hai ác tập báo. Vì thiện sanh nên cũng nhắc lại văn trước hai thiện tập báo. Nếu thiện diệt ác sanh thì thuận cõi ma nên chẳng bị trở ngại. Nếu quá trở xuống là do quán ma nên sanh ra các thiền cũng phải nói: Nếu chẳng quán sát, tập xưa chẳng hiện. Vì dụng quán tức là hạnh lục hiện tại gây ra, cho nên đồng tập xưa có các thiền hiện nị tịnh ngang dọc. Đủ như trong Thiền cảnh ở sau nói. Thiền có trở xuống là nói thiền sau phát thấy. Dật là buông lung. Nếu biết trở xuống là nói thấy sau sanh mạn. Dùng quán mà quán thấy, tâm thấy tạn dứt. Cho nên người vô trí bảo được Niết-bàn, người tăng thượng mạn chẳng phải toàn không pháp. Chỉ là chẳng hiểu pháp môn Đại Tiểu, thềm bậc cạn sâu. Lạm sanh căng cao gọi là tăng thượng mạn, ở pháp tăng thượng chưa được cho là được mà kiêu mạn với người. Đây chỉ là nêu chung tướng thượng mạn. Từ Tiểu thừa trở xuống là nêu riêng Đại Tiểu đều có tướng ấy. Trước trong Tiểu thừa chấp ngang bốn thiền làm bốn quả như trước đã nói. Đại thừa cũng có ma đến cùng ký, là nói trong Đại thừa do ký sanh mạn. Cho nên, phẩm Bất Hòa Hợp trong kinh Đại Phẩm nói: Ma làm Tỳ-kheo đến chỗ Bồ-tát, ông ở Chư Phật được ký Bồ-đề cha mẹ anh em chị em v.v… tên đó, nếu mê đắm thì thành tăng thượng mạn. Thân tử bỏ mắt v.v… là thân tử lui sụt Đại thừa rồi liền trải sanh tử, nghĩa như kiến mạn. Nếu Tiểu tập khởi thì trước phá kiến mạn nên nói nếu kiến mạn tịnh. Đại Phẩm nói: đẳng (v.v v.v…) là dẫn ở tập tiểu mà thôi. Kế Đại Phẩm chép: Có Bồ-tát trở xuống là nói sanh bác bỏ bai. Như Đại Phẩm chép: Chẳng lâu người tu nghe thâm Bát-nhã, khởi bác bỏ bai thì đọa vào địa ngục. Phẩm Tùy Hỷ nói: Nếu Bồ-tát chẳng thực hành sáu độ lâu dài, chẳng thường cúng dường Phật, chẳng trồng gốc lành, chẳng theo bạn lành, chẳng khéo tự tánh không v.v… chấp tướng hồi hướng, chẳng nên vì Bồ-tát như thế mà nói Thâm Bát-nhã. Cho đến chủng trí mười tám không v.v…, Bồ-tát như thế nghe sẽ khởi bác bỏ bai, đủ như ở phẩm Tín Báng ở trước. Cho nên Bồ-tát Tam Tạng ngoại phàm và tăng kỳ thứ hai còn có nghĩa bác bỏ bai người nội phàm và tăng kỳ thứ ba mới chẳng bác bỏ bai. Biệt giáo sơ tâm chẳng bác bỏ bai, giáo nói Trung đạo, Trung đạo lý sâu, biết lý sâu này nên khỏi bác bỏ bai. Đây v.v… trở xuống là xếp ba Bồ-tát đều thuộc quyền. Mười này trở xuống là xếp cảnh vị. Tám thứ trước ở phàm rất dễ thấy, hai sau nói ở bậc Thánh phương tiện, đã là Viên giáo thật đạo phương tiện. Phương tiện nhìn thật gọi thật là Thánh. Viên là Thánh pháp khiến thành cực thánh. Người được Thánh pháp nên gọi bậc Thánh. Cho nên biết mười cảnh vị đều ở phàm. Ấm nhập trở xuống là xếp cảnh ấm hiển thì ấm nhập cảnh hiển, chín cảnh kia thì ẩn. Lại chín cảnh kia phát thì hiển, chưa phát thì ẩn. Lại tám trở xuống là xếp cảnh gần xa. Phiền não v.v… bảy chuyển quán còn khó, nên gọi là xa. Hai cảnh sau mượn khiến chưa quán đã thành phương tiện, nên gọi là gần. Lại phiền não v.v… cách chân còn xa huống chi là Trung đạo, nên gọi là Xa. Hai thứ sau chẳng như thế, cho nên gọi là gần. Lại nếu chẳng hạ dục là nói phát sanh lẫn nhau, trước nói về ý nghĩa. Sợ sau phát được chẳng biết tiến chăng, cho nên phải dự nói khiến biết tướng mạo. Lại văn mười phát này tuy nêu mười, nghĩa bèn hai mươi gọi mười cặp. Dẫu trừ thứ mười cũng có mười tám. Cùng phát trở xuống là chánh nói cùng phát. Trước nêu chương môn. Chín thứ trước đối nhau nên gọi là chín cặp, hai thứ sau chẳng đối chỉ gọi bảy chiếc, bảy chiếc chỉ là ba bốn một cặp. Mỗi trong mười đều khắp mười cảnh. Lại chín cặp trước chính nói về hỗ phát, một cặp sau chỉ là thâu nhiếp mười cảnh xếp thuộc ma chướng. Thứ lớp, là dưới giải thích mười cặp. Trước thứ và bất thứ đều có ba nghĩa nhưng một hai đối tức ba chỉ quán. Đây chẳng nói ở hiện tại tu quán, chính là chỗ phát ba tướng khác nhau một cho nên khác với ba trong đại ý ở trước, đều kết hiện văn thành ba chủng tướng. Nay nói pháp bất thức, đều là pháp giới gọi là bất thứ. Phát tu hai thứ chẳng gọi là Đốn. Chỉ là đối nhau nói khác như văn. Lại phát tu dễ thấy nên ở giải thích như trước, pháp nghĩa hơi rộng nên giải thích sau. Văn trước nói pháp là tự nêu văn làm mười, lệ cũng phải nói ấm nhập là pháp giới. Cái gọi nhãn v.v… là môn tịch tịnh đủ như quyển bốn dẫn, đâu cần bỏ đây v.v… chẳng đồng với Nhị thừa bỏ sanh tử này cầu Niết-bàn kia. Hộp đựng đầy báu nên gọi là Rương báu. Kinh này chứa đầy báu thật tướng. Phương trượng mượn bệnh, là Tịnh Danh tự giả bệnh nằm trên giường Thế tôn đại từ đâu chẳng thương xót. Phật biết ý nghĩ của ông ấy soi xét cơ duyên khiến các Thanh văn và các Bồ-tát đều kể lại việc khất thực xưa mà từ chối chẳng có khả năng đi thăm bệnh. Lúc đó gặp do đó mà nghe bị đàn sự. Lại nghe Vănthù nghe bịnh đến thăm bệnh, tuy theo ý Phật vẫn nói là khó đối đáp. Đại chúng do đây mà kính mến phong đức vô số ngàn muôn mà theo xem đã vì các vua chúa, đại thần cùng đến nhân bệnh mà nói rộng vô thường mau chóng. Văn-thù vừa đến nói lời Phật sai, nhưng sau tự hỏi sanh diệt của bệnh. Đại sĩ đáp rộng điều phục ủy dụ, nói rộng việc không thể nghĩ bàn của Bồ-tát và xem chúng sanh là rốt ráo không Phật đạo, ở đây mở chung môn Bất nhị. Thất chứa tòa cao, cơm thơm xông khắp, khiến vời vời sự chê cười bỏ hoa, phải chịu lễ tòa khúc phục, hai Đại sĩ nói luận chỗ Nhị thừa chẳng biết, khen kính Đại thừa thành ích bơ sống và các Đại sĩ đều gặp đề hồ. Giáo này được hưng đều do mượn bệnh. Tật ích đã xong, suy công có chỗ về. Lại đến am viên phục tông ấn định. Vì đem năng nhân mà quán mình người thì bệnh đều là pháp giới. Đến quả dùng bệnh để lợi ích người, cho nên khiến Tịnh Danh lấy bệnh làm hóa đạo. Tất cả các pháp đều ở trong bệnh. Như đời Đường thỉnh tượng bình đẳng khiến vua đích thân đến thất. Đã chí kính rồi muốn đề ký trên vách, vách ở trước mắt đi lâu chẳng đến, dứt tâm dục ra gần xa như trước, khen dấu nghe nay cũng chẳng diệt. Song lâm hiện bệnh, là Phật nhân ở song lâm nhân bảo đau lưng mượn Thuần- đà thỉnh ở rộng khai Thường Tông, nhờ chiết đoạt ba tu chỉ bày ba điểm. Đáp ba mươi sáu hỏi diễn nói năm hạnh mười công đức, sáu sư phiên tà, mười tiên thọ đạo, như thế v.v… giáo hiện bệnh này hưng. Nghiệp vì pháp giới trong dẫn Pháp Hoa, tội phước là nghiệp, do đạt sâu nên gọi là pháp giới. Mười phương tức mười giới. Do đạt mười giới tức pháp giới nên thấy giới lý khắp gọi là sâu đạt sâu. Văn đầu là chân. Không nghiệp phá các nghiệp nên nói nghiệp này phá được nghiệp. Kế nếu chúng sanh trở xuống là giả nghiệp. Biết ở không nghiệp đạt khắp các nghiệp. Cho nên dùng nghiệp này mà lập giả nghiệp, kế nghiệp cùng chẳng nghiệp trở xuống là quán nghiệp Trung đạo. Nghiệp tức là giả, chẳng nghiệp tức là không, giả nghiệp gọi là phước, không nghiệp gọi là thoát, song phi hai bên đều chẳng thật có Phổ môn thị hiện v.v… là dẫn vật riêng tốt, lại đối ba văn. Nếu hiện sáu giới là trói buộc, hiện Nhị thừa giới là thoát, Phật Bồ-tát giới là song chiếu phược thoát tự chẳng có chứng đắc nghiệp thân tự tại, Pháp Hoa Tam-muội không thể nghĩ bàn sao có thể hiện thân ba mươi ba này. Chẳng phược chẳng thoát mà hiện phược thoát. Hà thí đẳng, thí là cũng nhiều. Ngoài sư Phương Đẳng, đức ấy cũng nhiều, là sao? Thế phương đẳng sư chỉ cần xếp hữu lậu nghiệp tướng còn chẳng thể đạt nghiệp không nghiệp giả, huống chi là nghiệp trung. Nay đạt nghiệp pháp giới, đâu chỉ xứng đáng làm Thế Phương Đẳng Sư. Nếu có v.v… đã pháp quán giới ma cũng vốn như, nếu khiến ở làm cũng có ma. Như thuốc đi đường giày thoa thuốc có thể đi đây đi đó, việc ma như giày, viên quán như đồ (thừa), quán ma tức như, gọi là kham thừa ngự. Quán được tâm tánh v.v… là quán tánh ba độc còn gọi là thượng định, huống quán Thiền tâm là pháp giới? Lấy tà vào chánh, tà tức là chánh, kiến tức pháp giới. Đối với kiến chẳng động cũng gọi như thế. Văn kinh cũng chung, nếu phân biệt, đủ như trong Văn Sám Tịnh ở trên nói: Lấy kiến là môn kết trước dùng tà tướng. Môn là gọi là năng thông suốt, lấy tà vào chánh là nghĩa năng thông. Lấy kiến làm cậy nhờ kết trước đối với kiến chẳng động. Tịnh Danh chép: Bồ-tát đối với các kiến mà chẳng động, đối với sanh tử chẳng bỏ, tức là nghĩa cậy nhờ. Phàm nói cây là thuận theo người. Kiến tùy quán chuyển, mặc tình quán chiếu, kiến tức pháp giới, không chỗ nào chẳng tùy, lại là phiền não mà thôi. Lược xếp đồng khác. Nói riêng mạn thì có tám thứ. Đây thuộc về tăng thượng, trong phiền não lợi độn chẳng chuyên tăng thượng. Nay từ chung mà nói cũng thuộc phiền não, vô là không, đại mạn là giả. Chân xuất giả vị, hiện các thứ thân hình, điều phục chúng sanh, nên gọi là Đại mạn. Đại Kinh quyển ba mươi nói: Bồtát nếu thấy chúng sanh có kiêu mạn, thì hiện làm đại mạn. Song phi thuộc trung, so sánh sẽ thấy. Nếu chỉ kiến (thấy) ở không v.v…, chỉ quán sâu về không, thể không vốn diệu. Chúng sanh tình cách gọi là không chẳng không. Cho nên nay đạt không tức là pháp giới. Từ không hiện ra tức là dục. Đối không chẳng không, ba đế nghĩa đủ. Để ác v.v… để ác tức là tám cảnh ấm v.v…, Nhị thừa yếu kém, tứclà cảnh Nhị thừa còn là pháp giới huống chi là ba Bồ-tát. Lại Bồ-tát trở xuống là lại nhờ quyền thật để hiển bày ba đế. Quyền là tục, thật là chân. Song phi là hiển trung, mỗi sau là kết như văn. Trong Tạp chẳng tạp nói vừa phát ấm nhập, chỉ phát ấm giải cũng gọi là phát. Giáo ngang đều đạp, giao nhau mà khởi là giao ngang, song song đều khởi gọi là đồng thời, kế nhau mà khởi gọi là đạp. Lại đều là ắt ở đồng loại như thiền cùng kiến, phiền não cùng thiền chẳng thể đều khởi. Các thứ khác so sánh sẽ biết. Thứ bất thứ, Tạp bất tạp đều nói bất cụ. Thứ cũ có thể biết, Bất thứ cụ, là tuy thấy các cảnh đều là pháp giới. Chỗ khởi cũng có Cụ, bất cụ. Chỗ khởi tạp loạn hai nghĩa y cứ mà biết. Nói chung riêng. Chung tức là đều, đều khởi mười cảnh nên gọi là Chung cụ. Tuy cụ khởi mười, ở trong mỗi đầu số chẳng đủ gọi là Chung bất cụ. Trong chung thiếu một nên gọi là riêng. Trong riêng lại thiếu gọi là riêng bất cụ, mỗi mỗi trong chín lại đầu số chẳng đủ gọi là Riêng bất cụ. Cho nên trong Thành, bất thành ở sau chỉ văn này nói trong Cụ bất cụ chỉ nói đầu số. Nay nói thể phân thỉ chung, là ở trong đầu số có thỉ chung. Kế nói ngang dọc, tên chung là bối xả, gọi là ngang pháp. Dùng thiền nhìn thiền gọi là hoại, lại trong Sơ thiền có đủ căn bản vị tịnh các pháp, nên gọi là ngang. Nhưng nếu vị nhìn tịnh tuy có cạn sâu nhưng đều ở Sơ thiền, nên gọi là ngang. Nói phát bảy bối xả gọi là Ngang bất cụ là trong diệt thọ tưởng thiếu một đường này. Các pháp khác mà so sánh là từ như phát bốn thiền, mượn thiền so sánh giải thích tướng ngang dọc, tự chín cảnh kia y theo thiền nên biết. Song trong các cảnh thiền kia tuy có ngang dọc như chẳng kịp thiền rất là đầy đủ. Muốn nói lược. Cảnh ấm nhập đầu là chẳng luận phát, chẳng luận ngang dọc cụ bất cụ v.v… kế trong phiền não lợi độn sử đầy đủ gọi là Hoành cụ, trong lợi đơn phức đến hết không lời gọi là Dọc cụ. Trong độn sát-na ba độc rất nặng gọi là Dọc cụ. Bất cụ so nói: Trong bệnh bốn đại năm tạng và quỉ ma v.v… gọi là hoành, sanh nhau khắc nhau, gọi đó là Thụ, cụ và bất cụ so sánh sẽ biết. Tế độ trong nghiệp đối nhau gọi là Thụ, trong ba thứ ma gọi là hoành. Trước ác sau thiện và rơi vào Nhị thừa gọi là Thụ, trong kiến đủ khởi ngoại và Phật pháp gọi là Thụ. Bốn câu bốn môn đối nhau là Ngang. Trong mạn bảo được các thiền gọi là Ngang. Bảo được sơ quả cho đến bốn quả gọi là Dọc. Trong Nhị thừa bốn đế đối nhau gọi là Ngang, nhân duyên đối nhau gọi là Dọc. Lại Nhị thừa đối nhau gọi là dọc. Lại trong bốn đế hai. Hai đối nhau và trong nhân duyên lấy trí nhìn cảnh cũng gọi là ngang. Trong Bồ-tát đương vị tự hành gọi là ngang. Ba giáo đối nhau gọi là dọc. Tu chẳng tu, văn dưới nói tác ý chẳng tác ý, tên khác mà nghĩa đồng. Như trong cảnh phiền não dưới mà nói, là không có câu tu phát cảnh phiền não dưới, chỉ có phiền não các pháp và pháp thân v.v… đều ba mươi sáu. Nay chỉ nêu câu pháp ấy làm ví dụ, pháp thì khác nhau. Nếu muốn phân biệt ba mươi sáu câu, trước biết tu phát đều bốn câu, một câu đều thành bốn, gồm ba mươi hai, tu phát tâm hai, bốn đều ở hai câu đầu, ý nghĩa rất dễ hiểu, đều hai câu dưới phải nói lược. Trước tu sau chẳng tu gọi là câu thứ ba, một bề duyên lý gọi là câu thứ tư. Trước tu sau chẳng thành gọi là câu thứ ba. Khi phát duyên lý gọi là câu thứ tư. Dung tham nầy mà cùng thành ba mươi hai. Hỏi: Chín cảnh dưới chẳng phát không tu, vì sao mười cảnh đều nói tu phát? Đáp: ở đây phải phân biệt nếu quán ấm phát là thông tu thông phát, quán ấm phát chín là thông tu biệt phát. Nếu quán phiền não phát tám cảnh dưới, là biệt tu biệt phát. Nếu quán phiền não mà sanh ấm giải là biệt tu thông phát. Lại nếu quán đường chung phiền não mà phát túc tập phiền não, cũng gọi là chung tu biệt phát. Nếu quán tục tập tham dục mà phát túc tập sân nhuế, cũng gọi là biệt tu biệt phát. Lại nếu quán ấm nhập, ấm giải chưa khởi là tu mà chẳng phát. Nếu phát sanh ấm giải và chín cảnh giới chưa thể tiến quán thì gọi là phát mà chẳng tu, vừa tu vừa phát, chẳng tu chẳng phát, y theo đây sẽ biết. Nếu quán đường chung phiền não mà phát tục tập phiền não thì cũng gọi là tu phát. Chín thứ kia cũng. Cho nên chín cảnh dưới gọi là tu phát, huống chi tùy người tác ý muốn tu có phát chẳng phát. Cho nên cũng chín cảnh chung gọi tu phát. Tu phát đã thành mười sáu câu. Phát tu lại thành mười sáu câu và bốn câu căn bản hợp thành ba mươi sáu câu. Nhưng phải suy nghĩ phân biệt, nghĩa sử chẳng lạm, ích chẳng ích. Hỏi: Vì sao thiện ác đều nói tổn ích? Đáp: Vì tùy các cảnh túc tập nặng nhẹ và năng lực hiện quán thuần tạp khác nhau, cho nên đều có tổn ích khác nhau. Ở trong đó trước phải xếp vào thiện ác, kế nói tổn ích. Như ấm nhập cảnh thể là vô ký thì chẳng nói thiện ác. Nhân quán vô ký mà phát thiện ác, dụng quán khác nhau thì có tổn ích. Nếu bệnh phiền não mạnh thì đều là ác, thiền và hai sau đều là thiện, nghiệp ma kiến cảnh chung đều thiện, bất thiện. Như trong nghiệp sáu độ là thiện, sáu tế là ác. Ma hiện tướng ác và khiến đọa ác, tức thuộc về ác. Nếu hiện tướng thiện và khiến đọa thiện và Nhị thừa v.v… thì tức là thiện. Ngoại trong kiến, ngoại lấy ác làm gốc, cũng sanh khởi thiện, nương Phật pháp mà khởi, lấy thiện làm gốc, cũng có ở ác. Kế nói tổn ích, chiếu tức là quán, tinh tức là chỉ. Tuy có thiện ác nhưng do sức quán. Nếu quán thiện ác như các sông chảy về biển phong ích tìm la thì một bề là ích. Tùy cảnh mà chuyển, chướng ngại tu chỉ quán thì một bề là tổn. Cho nên quyển một nói: Tùy người kéo dắt vào đường ác tuy tổn chỉ quán lại phải dùng quán mà chiếu hôn chướng hoặc phải dùng chỉ mà vắng lặng tán chướng. Cho nên văn trước nói dùng quán mà quán hôn, dùng chỉ mà chỉ tán. Đây thì các cảnh tổn gọi là ích, chướng mà không phải chướng tức là ý này. Nếu các cảnh khởi, chẳng còn tu quán chỉ nhờ cảnh này để làm tự được đây thì ích mà gọi là tổn. Lệ theo đó sẽ biết. Hai cảnh sau tuy có nghĩa tổn mà quán đạo dễ chánh, vừa tổn vừa ích và đều tổn ích, lệ theo đây mà biết. Trong khó dễ cũng nói thiện ác, như đã nói trong tổn ích, chỉ phải lại nói tướng khó dễ mà thôi. Chẳng lầm lấy bỏ,tức văn đều nói chẳng thể tùy chẳng thể sợ, đều dùng chỉ quán nghiên cứu. Tức văn đầu nói dùng quán mà quán hôn v.v… Cho đến mười pháp ẩn hiện xem xét. Kế trong ba chướng nói: Nhị thừa v.v… là nghiệp chướng. Có nghiệp xuất thế lại thuộc về nghiệp, lại vì năng lực suy nghĩ thù thắng nên cũng được gọi là nghiệp. Lại Nhị thừa cũng do nghiệp vô lậu mà thành. Cảnh Bồ-tát là ba người khác nhau ba tạng hữu lậu, chung với sơ, Nhị địa đồng ở ba tạng, Tam địa trở trên đồng ở người học, Bát địa trở lên đồng với người vô học, thành nghiệp lậu, vô lậu. Biệt giáo trụ hạnh nhìn Thông giáo mà nói, mười hướng phi lậu phi vô lậu nghiệp, đăng địa chứng đồng chẳng gọi là cảnh. Phân biệt tuy như thế, nếu y cứ vào bị chướng đều ở sơ tâm, nghĩa chung ở sau nên đây phân biệt. Nếu thế, năm trước là hữu lậu, phải là nghiệp hữu lậu cũng là lược nghiệp chướng. Đáp: Nói chung mười cảnh thì đều có đủ ba chướng. Nay lại tùy gọi tiện và tùy tăng hơn mà nói, nếu dùng cảnh khác đối với mình gọi là Báo ấm và phiền não, cho nên nay dùng Nhị thừa và Bồ-tát gọi là thuộc nghiệp chướng. Lại vô lậu này v.v… đều y cứ vào túc nhân, nếu trước đã chứng thì phải xuất giới (ra khỏi ba cõi) sao ở phương này lại luận phát, huống chi so với viên, gọi là chướng. Cho nên nói chẳng đến năm phẩm sáu căn.

Kế giải thích bốn ma, nghiệp thiền thuộc về hạnh ấm của Nhị thừa, Bồ-tát. Trong nghiệp thì nghiệp thiện cho đến thiền đều khởi hạnh lành, cho nên thuộc hạnh, huống trong hạnh ấm thì chỗ nhiếp rộng nhiều, cho nên trong Tiểu thừa chung Đại địa mười, Đại thiên địa mười, Đại phiền não địa sáu, Đại bất thiện địa hai, Tiểu phiền não địa mười và mười bốn Bất tương ưng hành. Trong Đại thừa biến hành năm, Biệt cảnh năm, Đại thiên địa mười một, Tùy phiền não hai mươi, Bất định bốn. Các pháp tâm sở trong Đại tiểu thừa, trừ thọ tưởng thì thuộc hạnh ấm, cho nên nghiệp thiện đều là đại thiện và thuộc Thông đại địa Bất tương ưng hành. Các thứ kia đều thuộc về phiền não ma. Hỏi: Trong Câu-xá nói: Uẩn chẳng thuộc vô vi, sao dùng hạnh ấm mà nhiếp hai cảnh Nhị thừa, Bồ-tát? Đáp: Đó là nói lấy ấm chẳng nhiếp vô vi, nay nói chưa chứng thật đạo, vẫn thuộc về ấm. Hiện tại phát tập cũng là hữu vi. Gọi ma v.v… vì nó cướp đoạt tuệ mạng và phá thực hành. Hỏi: Vì sao chỉ thuộc thân? Đáp: Nếu phước tuệ đối nhau, thì chỉ thuộc phước, mà phước thuộc thân. Nếu trí đoạn đối nhau thì đoạn thuộc giải thoát, giải thoát hiện thân điều phục chúng sanh. Nếu thế thì chỉ thuộc thân thôi có quan hệ gì đến pháp thân? Đáp: Thể của chỉ là vắng lặng, tức là pháp thân, thể của quán là dụng, tức là Bát-nhã, huống chi ba thân một thể, nên tức là pháp thân.

Kế hỏi trở xuống là phân biệt. Hỏi rất dễ thấy không? Đáp: Kế nêu chín cặp tức dùng hai đầu mà đối ba chỉ quán, phải biết chỉ là nhìn túc tậpxưa, chẳng phải hiện tu, cho nên văn hiện tu không có ba nghĩa. Thế thì bảy dưới chỉ là phân biệt hai đối trước mà thôi, đều có thứ và bất thứ cho đến tạp, là tạp độc trong nhân duyên xưa. Hỏi: Câu trước nói xưa là nhân, nay là duyên, câu này vì sao nhân duyên ở xưa. Đáp: Vì nay tu hành nhìn tập chủng xưa, nên xưa là nhân. Nay giúp phát nên nay là duyên. Nếu quả hiện đều nói đủ nhân duyên, đều dùng nội tâm làm nhân. Tri thức và giáo v.v… lấy đó làm duyên, cho nên hai văn trước sau đều theo một nghĩa, ý cũng chẳng khác. Nếu đời trước đến nay chỉ làm Bồ-đề, tuy có ma v.v… gọi là chẳng xen lẫn. Nếu gồm danh lợi dẫu có cảnh Nhị thừa Bồ-tát Phật thì cũng gọi là tạp. Sở nhân v.v… gọi là sở y. Xưa y cảnh nào thì y đó là lâu. Lại trong sở y có mạnh yếu, có lâu mau. Nói thô tế trụ cho đến bốn thiền, vì bốn thiền có nhiều tháo bậc, cho nên mượn thiền mà xếp. Nói v.v… là cho đến vị tịnh và niệm Phật v.v… truyền luận mạnh yếu. Lại trong mười cảnh kiến mạn, Nhị thừa Bồ-tát phần nhiều nương vào thiền, ma thuộc vị đáo, phiền não nghiệp mạn hoặc thuận hậu phát (phát sau), nên được dùng thiền mà xếp mạnh yếu. Thiện dễ phát v.v… là thiện ác cũng y cứ tổn ích mà xếp, lại dùng căn giá bốn câu mà xếp vào khó dễ. Bốn câu ác sắp diệt v.v… là xếp vào canh bất canh câu đầu là biểu thị điều ác sắp diệt, nên nói cáo tạ như người ác cùng ở nay muốn bỏ đi, nên nói cáo lui. Kế thiện sắp trở xuống là biểu thị thiện dục sanh, nên nói biết nhau như khách hiền mới tới, trước phải chào chủ, nên nói biết nhau. Tướng thiện ác này một lần đến rồi chẳng đến nữa, tức là tướng ác diệt thiện sanh. Kế thiện trở xuống là biểu thị thiện dục sắp diệt. Như gặp lành biết dữ phải cầu thể giúp nên nói cầu cứu, thấy tướng này rồi cố gắng ở thân nghiệp. Kế ác trở xuống là biểu thị ác muốn sanh. Như lén làm ác cầu tha thứ chẳng bắt ra quan phạt tội, nên nói cầu thọ. Thấy tướng này rồi nguyên thân nay đền trả chẳng chịu đường ác. Tướng thiện ác này đến rồi lại đến tức là tướng ác sanh thiện diệt. Nói bốn canh là nói vềnhiều lần chẳng thôi. Trong đây đều phải nghiệp quyết dùng đạo trí pháp nhãn mới xếp được người nếu thiếu sức mình cũng phải dựa vào giáo. Như không văn y cứ thì suy trước mà hiểu. Phàm tình vội nói e lụy cho đời sau. Cho nên lại khuyên hãy rất cẩn thận nghĩa là chớ xếp lầm, hãy rất cố gắng cẩn thận chỗ thọ nhận.

PHẦN 2

Trong liệu gian này đều có mười sáu phen hỏi đáp:

– Hỏi đáp một là hỏi chung các cảnh vì sao chỉ có mười. Như cảnh ấm nhập các ấm khác nhau. Riêng phiền não cũng là vô lượng, các bệnh các nghiệp cho đến hai giáo Nhị thừa phương tiện chánh hạnh, Bồ-tát ba giáo các vị khác nhau, cho nên nói pháp như trần sa sao nhất định là mười? Đáp: Thật như lời hỏi. Pháp tánh như đất, hạt giống như cảnh, quán hạnh như mưa phát như nảy mầm, lược đếm pháp có đến mười. Kế hỏi mười cảnh trở xuống có chín hỏi đáp, vì bốn câu thành chung riêng. Trước chung hỏi khởi, kế trong đáp trước đáp chung mười câu văn tự có mười. Ở ấm cảnh đầu nghĩa cũng chung mười. Chỉ y theo hai nghĩa, ấm phải ở đầu. Văn dưới tuy nói riêng cũng ở đầu. Trong đó ý văn lại thuận về chung. Người tu chung lấy ấm thân làm trước, các kinh lấy chung ấm làm quán đầu. Ấm sắc ở đầu cho nên nói các kinh đều từ sắc khởi, chẳng phải ấm chung ở mười. Cho đến Bồ-tát nghĩa đều chung mười. Chung trong đây chỉ y cứ vào tên chung nghĩa nó cũng riêng. Lại như mười cảnh đều được gọi là ấm, mà từ nhân quả ấm riêng đều khác, cho nên nghĩa vốn riêng. Ấm cảnh đã thế thì chín cảnh kia cũng.

Trước gọi chung là ấm, vì ấm là gốc ấm cảnh. Phiền não và nghiệp gọi là ấm nhân, bệnh là ấm hoạn ma là ấm chủ, chẳng dục khiến người ra khỏi ba cõi. Thiền là thiện ấm, lại đối mười cảnh nên thiền là thiện ấm. Nếu nói chung thì dục sáu, nhân bốn cho đến niệm xứ các giáo phục vị đều thuộc về thiện ấm. Nay cho Nhị thừa làm ấm riêng nên chẳng y theo chung. Hai cảnh kiến mạn còn gọi là ấm nhân. Nghĩa nhân đồng trước văn ở lệ sau, nên nói lại thế. Nhị thừa Bồ-tát tuy chưa xuất giới (ra khỏi ba cõi) nhưng nghĩa trái sanh tử, trong ngoài khác nhau. Khác ở tám trước nên nói là riêng, lại nếu cảnh này phát là thuộc giới ngoại ấm nên gọi là riêng, mười nghĩa tuy khác, chung chưa lìa ấm nhiếp riêng từ chung, nên chung gọi là ấm, chín cảnh nhiếp riêng ý cũng như thế. Thiền là nghiệp bất động, đối cõi dục động nên gọi là vô động. Nghiệp là dụng của phiền não, phiền não không nghiệp thì không đến dụng, quả vị lai tiếp tục nghiệp vô động, văn nhân tiện mà giải thích, nên nói nghiệp là dụng của phiền não ý văn chánh nói thiền là dụng của phiền não. Tuy ở giới hệ bèn có dụng trường thời thọ vui, cho nên nói dụng. Ma tấcg lãnh cõi Dục, tuy tấcg lãnh cõi Dục nhưng ý muốn khiến người kết thêm ba cõi. Hai chủ Thích Phạm đều có tấc lãnh, đều đệ tử Phật chán sợ sanh tử, nên chẳng được gọi chủ phiền não. Nói Biệt phiền não, là phát tâm xuất thế, tuy có phiền não khác nhau bảy thứ trước, nên gọi là Biệt. Đây từ nhân mà xếp: Nếu từ quả mà xếp thì bảy thứ trước có hoặc chung, hai sau có hoặc riêng, nghĩa chung nhân quả. Ý văn từ nhân, lại từ quả phải chọn ba thứ Bồ-tát, như Bồ-tát Tam Tạng chưa phá hoặc chung cũng gọi là riêng. Cho nên phải từ nghĩa đầu làm chánh vua nay bệnh nặng, là ý Xà Vương lấy thân ghẻ làm bệnh, Như lai Kỳ-bà lấy nghịch làm bệnh. Hỏi: Xà Vương chỉ có hại cha một nghịch, sao nói năm nghịch? Đáp: Một thuộc năm, nên gọi chung là năm. Nghịch tức là nghiệp nên nghiệp cũng gọi là bệnh. Ma hay làm bệnh, ma chẳng ganh vời người về sắc thân báo mạng, chỉ ghét người hóa đạo dân mình. Nay nói bệnh là do thân bệnh, mà lui đạo Bồ-đề. Ba tai là bệnh bên ngoài. Nói thiền cũng gọi là bệnh. Tai họa là tên khác của bệnh. Hồng Phạm Năm Hành chép: Hễ có hại đều gọi là Tai. Xuân Thu chép: Trời trái thời làm tai ương. Lại Liệt Truyện chép: Lửa trời gọi là Tai. Tuy có nói này nhưng thật chẳng biết, trời có chỗ tai ương chia đều, nên biết không phải chỗ Nho Tông nói. Câu-xá chép: Phải bảy lửa một nước, bảy lần nước lửa thì sau có một gió. Tức qua bảy hỏa tai kế có một thủy tai. Như thế qua bảy lần bảy hỏa tai, bảy lần thủy tai, lại thứ lớp qua bảy lần hỏa tai rồi mới có một phong tai, chung thành tám nhân bảy bằng năm mươi sáu hỏa, bảy lần thủy tai và một phong tai. Vì sao? Vì hỏa đến Sơ thiền, thủy đến Nhị thiền, phong đến Tam thiền. Khi Nhị thiền hoại thì Sơ thiền sẽ hoại, khi Tam thiền hoại thì Sơ và Nhị sẽ hoại. Cho nên kiếp kiếp đều hoại Sơ thiền, là thuận Sơ thiền một kiếp tuổi thọ. Phải trải tám kiếp mới đến Nhị thiền, là thuận tám kiếp tuổi thọ trời thứ ba Nhị thiền. Phong tai phải trải qua sáu mươi bốn kiếp mới đến Tam thiền, là thuận tuổi thọ của trời thứ ba Tam thiền. Cho nên Sơ thiền trong có giác quán hoạn, ngoài có hỏa tai, Nhị thiền trong có hỷ hoạn, ngoài có thủy tai, Tam thiền trong có lạc hoạn, ngoài có phong tai, Tứ thiền không có hoạn cũng không có tai. Nay nói suyển tức hỷ lạc, là đối với Đệ tứ thiền không có suyển tức, nên ba thiền dưới chung với suyển tức. Văn thiếu giác quán lược nói hỷ lạc. Bồ-tát Nhị thừa là bệnh không, ba Bồ-tát này đã chưa thấy trung nên cùng Nhị thừa đồng có bệnh không. Nói bệnh không cũng không là dẫn Tịnh Danh làm chứng. Không là bệnh nên nói là bệnh không, bệnh chẳng phải không nên nói cũng không, tức là trong không, không ở thiên không nên nói cũng không. Phiền não kiến mạn là nghiệp bổn, bổn là nhân. Nhân ở ba thứ này đều làm nghiệp. Nghiệp vô lậu của Bồ-tát Nhị thừa cũng như phân biệt ở trước các thứ kia thuộc hành ấm ma. Hành nhiếp pháp rộng cho nên các thứ kia đều nhiếp trong ấy tức là thuộc về ấm ma. Phiền não kiến ma v.v… cũng gọi là Thiền. Thiền chỉ là định. Đã chung tâm sở cũng gọi là Định. Định này lại chung phiền não kiến mạn, cho nên ba thứ này đều gọi là Thiền. Ma là vi đáo định quả, vị đáo địa này cũng gọi là Định. Được định này rồi bỏ thọ mạng mà sanh lên đó, nên gọi Định quả. Bồ-tát Nhị thừa tịnh thiền. Đại Kinh đã dùng bốn thiền căn bản gọi là Trung định, cho nên nay lấy đây làm tịnh thiền. Tịnh thiền thuộc về thượng định. Cho nên kế giải thích thượng định thuộc về Bồ-tát Nhị thừa, hai định trung hạ thuộc tám cảnh kia. Nhưng trong thiền cảnh chỉ dùng căn bản thuộc về trung định Đặc Thắng chung minh phải hai câu nhiếp, chín tưởng đã qua, đều thuộc về thượng định, bảy cảnh kia đều thuộc hạ định. Nói ba định, thì Đại Kinh quyển hai mươi lăm chép: nầy thiện nam! tất cả chúng sanh đều có đủ ba định, tức thượng trung hạ. Thượng định là Phật tánh, trung định là tất cả chúng sanh đầu có đủ Sơ thiền, vì có nhân duyên nên hay tu tập. Hạ định là thuộc mười đại địa tâm số định. Nhưng tám cảnh dưới thật thuộc thiện ác, nay dùng tám cảnh đối với tâm số định đều gọi là định nên dùng đại địa chung tâm sở. Vì đại địa định chung thiện ác. Kinh giải thích thượng định tuy nói ở Phật, trung định đã nới ở Sơ thiền, cho nên nay đem tên Bồ-tát Nhị thừa làm thượng định, ấm nhập ngã kiến thuộc về chúng sanh kiến. Nếu nói chung thì mười sáu tri kiến chẳng lìa ấm nhập. Nay từ riêng mà nói nên chung gọi tên ấm là chúng sanh ấm chấp ngang trái gọi là ngã, chỗ sở chấp gọi là ấm nhập. Phiền não có đủ năm kiến, như trong chín mươi tám sử năm kiến đầy đủ, chín mươi tám này gọi chung là phiền não, cho nên nói phiền não thuộc về năm kiến. Bệnh thọ giả, mạng giả, kiến giả. Mạng là tính liên tục, thọ là tính một kỳ, tầm thường tuy khi chấp bệnh rất thiết, sợ liên tục dứt, sợ một kỳ ngắn, từ gượng mà nói nên đối hai thứ này. Nghiệp thiền v.v… tác giả giới thủ kiến. Chấp ta có làm và tu thiền định, nên gọi là tác giả. Thiền không phải xuất đạo (đạo xuất thế) mà chấp là xuất đạo nên gọi là Giới thủ. Ma là dục chủ, cho rằng khu sách do ta gọi là sử tác giả, khổ vui do ta gọi là sử thọ giả khiến đời sau lại ở cõi Dục gọi là sử khởi giả. Lại sanh tử chỉ thuộc Biên kiến, tức sanh tử chỉ là ấm nhập trước sau. Lại giải thích thuộc biên nên nói lại. Ở sanh thì chấp thường, ở tử thì chấp đoạn, nên gọi là biên. Mạn thuộc về ngã kiến, do ngã nên có mạn, nên mạn thuộc ngã. Nhị thừa Bồ-tát khúc kiến nhiếp, không phải Đạo viên trực nên gọi là Khúc. Đại Kinh nói: Nếu thấy Bồ-tát từ Đâu-suất xuống cưới vợ sanh con, vượt thành xuất gia cho đến nhập diệt, ấy gọi là Nhị thừa khúc kiến. Tuy nêu Nhị thừa mà thật gồm giáo đạo. Như vì Bồ-tát địa tiền hiện thân gọi là báo thân, không phải tự thọ dụng, quyền bày thân khác không phải chân thật, nghĩa phải có khúc. Mười sáu tri kiến này văn ở Đại Phẩm, Đại luận có giải thích rộng. Nay chỉ đối tám, các thứ kia chưa đối là xếp vào trong tám, tức sanh giả kiến, là chấp sanh ra chúng sanh như cha mẹ sanh con. Hai là dưỡng dục kiến là chấp ta hay nuôi người. Ba là chúng số kiến, là chấp ta có năm ấm mười hai nhập, mười tám giới. Bốn là nhân kiến là chấp ta là hành nhân. Năm là thọ giả kiến là chấp ta thân sau sẽ thọ giả báo. Sáu là khởi giả kiến là chấp ta tạo quả báo đời sau. Bảy là tri giả kiến là chấp ta năm căn biết được năm trần. Tám là kiến giả kiến, là chấp ta căn trần thấy được sắc và khởi tà kiến. Nêu tên và thứ lớp đủ như kinh luận và trong Pháp giới Thứ đệ. Vừa rồi là theo nghĩa mà dẫn chẳng theo thứ lớp. Ngoài tám thứ trước nếu nhập vào tám kiến trước, thì sanh giả dưỡng dục là thuộc vào cảnh ma. Ma tuy khác nhau chỗ chấp Phạm vương nhưng khí loại rất giống. Chúng số thuộc ấm cảnh. Thọ giả, khởi giả thì thuộc về nghiệp cảnh. Nhân giả, tri giả, kiến giả thì thuộc về phiền não cảnh ấm nhập ngã, là chấp ngã, ngã sở gọi là ngã mạn. Câu-xá văn đồng, Ấm tức ngã sở, năng chấp tức ngã. Phiền não tức mạn mạn, Câu-xá nói: người khác hơn bảo mình bằng thì gọi là quá mạn, nghĩa đồng với phiền não. Bệnh chẳng như mạn. Luận nói: Đối với nhiều phần hơn cho mình kém là Ty mạn. Như bệnh chẳng bằng người mà còn sanh mạn. Nghiệp thiền kiêu mạn, luận nói bằng nhau thì gọi bằng nhau, tuy nhiên bằng nhau về tâm cao cử nên gọi là mạn, đẳng đều là được thiền mà đều tự cao, nên tụ căng gọi là kiêu, lấn hiếp người khác gọi là Mạn. Ma kiến đại mạn, luận nói đối với người khác hơn cho mình hơn thì gọi là Quá mạn. Như lai thật hơn Phật cũng mạn. Tăng thượng mạn, luận nói chưa được bảo được, Nhị thừa Bồ-tát ở vị chưa tột, cảnh này khi khởi chưa thể dùng quán, chánh ở tăng thượng. Luận trong bảy mạn chỉ khai tà mạn nghĩa là đối với người có đức cho là mình có đức, cũng có thể nhập vào hai cảnh ma kiến vì hai cảnh kia chẳng tôn người. Gọi chung là trong Nhị thừa dùng bốn đế, bốn niệm xứ mà nhiếp chín cảnh, nhân duyên bốn đế chỉ là chung riêng, bốn đế nhiếp pháp gọi là nghĩa vừa tiện. Cho nên chỉ nói bốn đế mà không nói nhân duyên. Ấm nhập toàn là cảnh bốn niệm xứ, ấy là khổ đế, bốn niệm thuộc cảnh ấm nhập. Lại dùng bốn niệm xứ thể riêng. Biệt đối, bệnh hoạn tức là thân thọ niệm, cũng thuộc về khổ đế. Thiền là pháp niệm thọ niệm tức thuộc về tập đế, tịnh thiền cũng thuộc đạo đế. Phiền não kiến mạn thiền và tâm vương trong nghiệp nhân tập nhau, tức tâm niệm xứ tập đế nhiếp các tâm sở và tân sở trong nghiệp tập nhân, cùng ma cùng pháp thuộc niệm xứ tập đế. Bồ-tát pháp, niệm xứ, đạo diệt đế, vì trong pháp niệm thuộc pháp rộng nhiều, tức là hữu vi vô vi. Nếu luận Niệm Xứ thuộc uẩn, thì niệm xứ tức chẳng nhiếp pháp vô vi. Nếu chỉ ở trong bốn đế thì thuộc khổ đế, cho nên nói bốn niệm xứ thuộc bốn đế. Lại đối chung, chỉ dùng cảnh niệm xứ thuộc khổ đế, quán niệm xứ thuộc trí đạo đế. Như đối này là niệm xứ, chỉ thuộc bốn cảnh Ấm nhập, Thiền định, Nhị thừa, Bồ-tát, đủ nhiều ý này nên khai hợp mà giải. Nếu lại y cứ chín niệm xứ, thì bảy thứ trước thuộc phương tiện tức chỗ dùng của hai cảnh sau. Nếu nhiếp tám thứ trước phải như giải thích ở trước suy nghĩ sẽ thấy.

Bốn hoằng nhiếp chín: Bốn đế đã là cảnh bốn hoằng, y theo phân biệt trước cũng có thể hiểu. Hỏi: cảnh pháp chỉ chung v.v…, bốn câu hỏi sau chỉ dùng riêng mà hỏi chung. Ý hỏi đầu: Cảnh, pháp và danh đã chung nhau thì người năng quán có chung chăng? Pháp tức là đường thể mười cảnh, danh là tên trên pháp, dùng mười pháp này chung chưa lìa ấm cho đến gọi chung là pháp Bồ-tát. Đó gọi là pháp chung. Văn nói gọi chung ấm nhập cho đến gọi chung Bồ-tát, đó là tên chung. Pháp danh đã chung cho nên lại hỏi hành năng hành nhân là có chung chăng? Ý đáp, tức dùng đều chung mà đáp. Vì sao? Vì chín trước chưa phát tâm, trước còn gọi Bồ-tát, cho nên Bồ-tát cảnh mà được chung kia, trong văn lại nêu chín cảnh gọi chung Bồ-tát, ấy thì cũng biết người tu cũng chung. Nói chưa phát tâm gọi Bồ-tát, đây là cứ vào lý tánh tất cả chúng sanh đều sẽ thành Phật há chẳng phải Bồ-tát ư? Hỏi: Cảnh danh dung chung, vì sao pháp lại nói chung. Đáp: Danh mời pháp, danh ấy đã chung thì pháp chẳng cách. Gọi chung Nhị thừa v.v…, luận Pháp Hoa nói có bốn thứ Thanh văn, tức là trụ quả, ứng hóa, thối Bồ-đề, tăng thượng mạn. Nay nói Phật đạo tức là ứng hóa. Nói tăng thượng mạn thuộc tám dưới là Nhị thừa chánh phải trụ quả. Nay nói cảnh phát không phải tám cảnh trước, lại không phải Bồ-tát nghĩa đồng trụ qua, thồi tâm Bồ-đề cũng ở chín dưới. Nếu thối là Nhị thừa thì thuộc cảnh Nhị thừa, nếu thối Viên vào Thiên thì vẫn thuộc cảnh Bồ-tát. Nếu Đại Tiểu đều mất thì mới có tám dưới. Trong thiên lại phải phân ra lậu và vô lậu để đối mười cảnh nên phải xét kỹ. Nói Phật đạo, lại y cứ phát tâm, chẳng phải viên cực. Kế một hỏi đáp. Trong đáp hợp chữ mà giải nghĩa, tức dùng nghĩa riêng tên chung mà đáp. Trước hỏi chung là vô thường chăng. Hỏi: Mười cảnh trước đã được gọi chung Bồ-tát Nhị thừa, tám thứ kia không phải ba thừa được gọi là ba thừa. Hai chẳng phải vô thường là vô thường chăng? Ý đáp: Tám không phải ba thừa mà thân hết, hai chẳng phải vô thường mà có nghĩa vô thường cho nên dẫn thật tánh ra khỏi ba cõi cũng có vô thường. Bồ-tát còn như thế huống chi là Nhị thừa? Cho nên hai cảnh sau đều là vô thường. Kế hỏi đáp, trong đáp phân chữ mà giải nghĩa. Trước hỏi chung là hữu lậu chăng. Lại dùng tám thứ trước mà hỏi lại hai sau, nếu cho là vô thường, mà vô thường là lậu, vì sao lại dẫn thật tánh mà nói trụ cõi vô lậu? Ý đáp: Chung đều là lậu, có nghĩa khác nhau. Giáng Phật đến nay đều gọi là Lậu. Có nghĩa khác, vì mười cảnh riêng nên ấm đến kiến mạn có lậu giới nội, Bồ-tát Nhị thừa có lậu giới ngoại, nội ngoại khác nhau nên nói có khác. Luận Bảo Tánh kia nói vô lậu, là nhìn nội mà được tên. Nếu ở giới ngoại vẫn gọi là lậu. Vô thường đảo nghĩa cũng giống như thế. Nếu dùng đại pháp mà hình (xử tội) thì trong ngoài đều lậu. Kế một hỏi đáp trong đáp trước hỏi chung là thiên chân phải chăng? Dùng cảnh Nhị thừa mà hỏi chín cảnh kia, hai sau không phải hữu lậu, đều được tên hữu lậu, Nhị thừa là thiên chân, chín thứ kia cũng phải thiên chân. Trong đáp cũng phân chữ mà đáp vẫn chưa hội viên, nên đều là thiên. Chân có khác nhau nên nói chân khác. Bồ-tát Nhị thừa có chân giới ngoại tám cảnh kia có chân giới nội. Kế hỏi đáp: Trong hỏi nói nghĩa không thể hiểu, như trước đã giải thích pháp Danh thân, cho đến vô thường hữu lậu thiên chân cũng chung mười cảnh, là một bề chung cũng biệt chăng? Đáp: Khác nhau vốn Biệt đâu cần lại hỏi, cho nên nói: Mười cảnh tức là nghĩa biệt. Ba câu hỏi này là thành ba câu dưới đây, tức câu Biệt thứ hai xong. Kế lại có trở xuống tức là câu thứ ba, chẳng còn hỏi Biệt, ở trong đáp Biệt liền giải thích ra. Nên nói lại có vừa chung vừa riêng, ở trong đó lại phân ra vừa chung vừa riêng, cùng là chung là riêng, tuy đều thuộc câu thứ ba mà đều đồng khác. Trước ấm nhập cảnh đều có hai nghĩa, nên gọi là vừa chung vừa riêng. Vì sao? Vì thân vốn quán đầu, hai nghĩa khác chín nên gọi là cũng riêng. Lại khiến nghĩa ấm chung nhập chín kia, lại khiến chín kia đều được gọi là ấm, nên gọi là cũng Thông. Vì chín kia thiếu hai nghĩa, nên chỉ được các cảnh xoay vần khác nhau, nên gọi là Riêng. Xoay vần cùng chung nhau nên gọi là chung. Cho nên thì một pháp có đủ hai nghĩa, nên nói vừa chung vừa riêng. Một pháp hai hướng đối khác nên hai, chỉ nói là chung là riêng. Nói hai nghĩa: Một là Biệt đáng ở đầu; hai là cùng thông với chín thứ kia. Chỗ nói hai hướng và đối với khác, vì khác cho nên riêng, chẳng khác cho nên chung. Ấm cảnh đều khác, khác này cũng chung, có riêng Biệt ở đầu toàn khác chín kia, nên nói cũng Biệt, dùng cũng Biệt này mà đối cùng Thông nên nói cũng Thông, chín kia chẳng cho nên chỉ nói là chung là riêng. Vì không có hai nghĩa đầu. Chín cảnh dưới phát có thể làm quán, chẳng phát làm sao quán. Cho nên thiếu nghĩa đầu. Các giáo được nêu chẳng xem là đầu vì thiếu nghĩa thứ hai, không có hai nghĩa này thì chẳng gọi cũng riêng. Đã không phải cũng riêng nên chẳng thành cũng chung. Nếu thế, dưới đem phiền não bệnh hoạn để hỏi ấm nhập, hai cảnh này cũng có hai nghĩa, đâu riêng ấm nhập. Vì sao? Phiền não cũng là gốc các pháp, hỏi đồng nghĩa đầu, vốn là trị hoặc hỏi đồng nghĩa kế. Bệnh cảnh cũng như thế. Ý đáp: Trước nói phiền não trong nghĩa không hai, ngăn dùng Đại Kinh để vặn hỏi, hỏi rằng: Nếu vậy phiền não không được xem là gốc các pháp, vì sao kinh nói: Phiền não cùng thân tuy không trước sau, phải do phiền não mà được có thân, phải biết phiền não chắc chắn là gốc của thân, đâu thiếu ấm nhập làm gốc quán. Cho nên nay ngăn nói nhân, phiền não mà có thân, phiền não đã thuộc đời quá khứ vì sao lại được làm cảnh quán. Tuy vốn vì tự hoặc đâu lại tự hoặc mình đã dứt ư? Cho nên các giáo đều trước quán ấm, vì hoặc hiện tại chấp ấm mà sanh. Chỉ khiến quán ấm, hoặc sẽ chẳng sanh thì bệnh thường không khởi. Dưới đáp bệnh không hai nghĩa, rất dễ thấy. Sau đây không câu hỏi liền giải thích tướng câu thứ tư. Đều không thể nghĩ bàn. Như chẳng thứ lớp đều là pháp giới thì lại nói Thông Biệt với ai? Một ấm tất cả ấm, đủ như cảnh không thể nghĩ bàn nói: Văn chỉ nêu ấm mà chẳng nói chín thứ kia, vì ấm đã nhiếp khắp thì chín thứ kia sẽ từ ấm sinh. Lệ ấm cũng phải một hoặc là tất cả hoặc tất cả, hoặc là một hoặc, chẳng phải một chẳng phải tất cả. Cho đến Bồ-tát một nguyện là tất cả nguyện, tất cả nguyện là một nguyện không phải một, không phải tất cả. Kế là hỏi đáp, riêng hỏi ấm cảnh. Chín cảnh kia từ phát được tên, đều có tên gọi khác nhau. Khi ấm giải khởi cũng là phát được, phải lập tên riêng. Ý đáp: Ở ấm sanh giải tuy là phát được, vì không có tướng lại thuộc về ấm. Như phiền não khởi quán đối với phiền não mà sanh viên giải. Giải thoát này khi khởi cũng không gọi tên riêng. Nay cũng như thế, giải này sanh rồi thì sanh chấp khởi ái, hoặc bệnh hoặc nghiệp mà có tên riêng. Tự do chấp v.v… không liên quan tới ấm giải, cho nên ấm giải chẳng có tên riêng, nên nói nếu giải phát v.v… Đây thì trở xuống là lược xếp vị thứ công năng. Nói khí phần, tức vào tướng trước năm phẩm chỉ được trở xuống là kết xếp. Nhân ở ấmgiải mà sanh tướng khác. Tuy cũngthuộc ấm mà chẳng được gọi vừa chung vừa riêng. Nói chỉ được chung riêng v.v… là chỉ được là Thông là Biệt. Khi giải này sanh thì nghĩa đồng với chín sau. Đồng phát sanh được, cho nên cũng chung với chín là chung là riêng. Lại chẳng phải ấm cảnh, cho nên khác nhau ấm vừa chung vừa riêng. Hỏi: Rõ ràng ngăn cách mãi, như đáp hỏi trước, mười cảnh khác nhau tức là nghĩa Biệt. Biệt này vẫn Thông cho nên lại hỏi: Cũng có mười cảnh rõ ràng khác hẳn, có cùng chung chăng? Đáp: Văn nêu đủ rọ ràng khác hẳn. Điều nghĩa là điều khoa, tức là mười khoa khác hẳn. Bốn niệm ấm riêng, là nếu chỉ nói ấm, tên ấm còn chung, nếu nói bốn niệm quán ấm cho đến vô ngã quán giới thì chẳng được gọi là ấm, nhân biệt ấm v.v… mà nói không tụ, kinh Tịnh Danh nói: Lạc quán nội nhập như không tụ. Đại Kinh nói: Như xóm làng trên hư không, nhìn xa thì có, nhìngần thì không. Nhập cũng như thế phàm phu, tức là người có trí biết là không. Vô ngã quán giới, Đại Kinh chép: Kẻ nhiều mê đắm ngã thì là phân biệt pháp mười tám giới, trong mỗi giới tìm ngã chẳng thật có. Năm pháp dừng tâm phiền não biệt. Ngũ đình tâm chỗ tự đều khác nhau, đâu lại được gọi là quả v.v… phiền não tám niệm bệnh riêng, là tu chín tưởng sợ khiến tu tám niệm, lấy sợ làm bệnh còn khác nhau. Ở bốn đại chẳng điều đâu đồng nghịch bệnh và thiền bệnh v.v… Mười nghiệp lành riêng là ba nghiệp trong mười chỗ đối đều khác còn chẳng phải mười ác đâu đồng với vô lậu và vô động v.v… Năm hệ ma riêng, bốn y chỗ răn và Lăng-nghiêm hết lời ngăn cấm, khác nhau ấm ma, hạnh ấm các ma, cho nên trong phẩm bốn y, của Đại kinh, bốn y Bồ-tát xô đuổi ma bảo rằng: Nếu Thiên ma Ba-tuần lại đến thì sẽ dùng năm hệ mà trói buộc ông. Chương An giải thích rằng: Hệ có hai thứ: Một là năm Thi hệ, hai là Hệ năm xứ. Năm thi hệ là như bất tịnh quán thì tự ái ma năm xứ y lý mà thấy biết ma. Cho nên trong kinh Thủ-lăng-nghiêm, Xá-lợi-tử hỏi Phật: Nói Tam-muội này có bị các ma phá rối chăng? Phật nói: Có muốn thấy việc suy não của các ma chăng? Vâng! chúng con muốn thấy, Phật phát ra ánh sáng giữa hai đầu chân mày thì thấy các ma đều bị năm trói buộc. Xá-lợi-phất nói: do ai làm như thế? Phật nói: Là nhờ năng lực của Tam-muội Thủ Lăng-nghiêm. Chỉ có cái gọi là Tam-muội ấy, ma muốn làm chướng ngại thì tự thấy năm ràng buộc. Phật diệt độ rồi cái gọi là Tam-muội ấy cũng giống như thế. Sáu Diệu môn thiền riêng, số sáu môn trước sau khác nhau đâu đồng tâm sở và thượng định v.v… Đạo phẩm kiến biệt, Đại Phẩm chỗ tự tức giới nội, kiến tức giới thủ, với mười sáu tri kiến và biệt kiến v.v… Vô thường khổ không mạn biệt, hai thừa Đại Tiểu đều có thượng mạn, nếu trong Đại thừa chưa được quả Phật, tự bảo đã rốt ráo thì gọi là tăng thượng mạn. Nếu trong Tiểu thừa chưa được bốn quả mà bảo đã được bốn quả thì gọi là Tăng thượng mạn. Nay trong Tiểu thừa do quán vô thường mà gọi là cực lý đâu đồng Thế Thiền gọi là bốn quả ư? Lại khác nhau tám mạn và tám cảnh ở dưới. Bốn đế nhân duyên Nhị thừa riêng, tự là Tam Tạng Nhị thừa đâu đồng Nhị thừa trong thông, cho đến thượng mạn, Phật đạo v.v… ư? Bồ-tát sáu Độ riêng, là ba kỳ hoặc đâu lại đồng với người chưa phát tâm v.v… Đây thì điều nhiên hai nghĩa nên biệt một là y theo năng trị mà lập riêng mười thứ này, như ấm giống đồng mà chia ba khoa khác. Chín năng tự kia y theo đây mà biết. Hai là mười thứ nay biệt biệt chẳng đồng, nên còn gọi là Biệt.

Hỏi năm uẩn trở xuống là sáu phen hỏi đáp là thành ý Không thể nghĩ bàn như trước đã nói. Trước phải quán ấm, ấm có sắc tâm, tức là bốn ấm xem là năng quán, hay ngoài bốn ấm mà có năng quán riêng. Nếu ngoài sắc tâm có năng quán riêng, thì cảnh sở quán nhiếp pháp chẳng hết, nếu chỉ bốn ấm xem là năng quán thì vì sao lấy ấm mà quán ấm? Trong đáp có hai y: Một là y cứ tướng Không thể nghĩ bàn mà đáp, hai là y cứ nghĩ bàn nêu so sánh mà đáp. Ý một không thể nghĩ bàn, sắc tâm từ vô thỉ vốn là lý tánh cảnh mầu diệu trí, mà tùy vọng chuyển nên chẳng hay chẳng biết nay đã nghe tên biết ấm tức là đó, tức là bốn ấm tâm mà năng quán. Cũng có thể trở xuống là nêu lên so sánh đáp, dẫn trong Tiểu thừa có thiện, ác, vô ký cho đến pháp tánh vô đẳng đẳng ấm. Sơ tâm tuy lấy ác và vô ký xem là sở quán, biệt lập thiện ấm xem là năng quán, quán mãi không thôi, thì ác vô ký ấm chuyển thành thiện ấm, tức thành hướng lai năng quán thiện ấm. Phải biết khi mới quán tuy hai mà một, khi ấm chuyển tuy một mà hai, cho đến chuyển thành vô đẳng đẳng ấm cũng giống như thế. Vì sao? Vì sở quán tuy chuyển mà lại lập năng quán, cho nên tuy một mà hai. Tuy lập riêng năng quán mà sở chuyển làm năng, cho nên tùy hai mà một. Tuy xoay vần chuyển nhau trọn thành ngoài ấm, lập riêng năng quán. Thiện ác ấm v.v… vị ở ngoại phàm, phương tiện ấm, vị ở nội phàm, vô lậu âm tột ở La-hán, pháp tánh ấm ở cõi Phương Tiện được pháp tánh ấm, trong ấm không gì bằng, cho nên dùng vô đẳng mà giải thích pháp tánh, đâu không phải trở xuống là kết. Tiểu thừa trở xuống là so sánh Tiểu thừa, bèn trong một mà nói hai. Huống không thể nghĩ bàn cảnh giới tức nhau, cho nên không thể nghĩ bàn tức ấm là quán mà cảnh trí rõ ràng.

Kế hỏi: Đã nói ác vô ký ấm chuyển thành thiện ấm, cho đến chuyển thành vô đẳng đẳng ấm, như thế xoay vần chuyển sở thành năng, vì riêng chuyển quán, quả ấm cũng chuyển. Ý đáp: Trong hướng lập hỏi dùng hướng Tiểu thừa so sánh đáp làm hỏi. Nay đáp dùng thẳng tướng không thể nghĩ bàn trước mà đáp ý. Y cứ riêng Tiểu thừa chẳng nói báo chuyển, cho nên y hai văn Đại Phẩm, Pháp Hoa đều là nghĩa viên quán báo ấm chuyển. Nếu Báo chẳng chuyển, thì làm sao lấy cha mẹ sinh ra làm căn, đều thấy nghe Tam thiên đại thiên. Đại Phẩm sắc tịnh, ý ấy cũng như thế, cho đến khi vị sáu căn thanh tịnh cũng được gọi là Báo ấm chuyển.

Kế hỏi: Mười cảnh và năm phần. Ở đây hỏi sanh riêng không liên quán đến hướng đáp. Trong đáp trước Biệt kế đồng. Nói năm phần, là tự lấy năm này mà xếp chỗ được thiền có tiến lùi v.v… các tướng khác nhau. Nay nói mười cảnh là nói cảnh sở quán, mười pháp khác nhau, đâu được mười cảnh đồng với năm phần. Nay phải trở xuống là ép hội khiến đồng thì có hai hội chung riêng. Trước dùng năm phân phán hcung mười cảnh. Bốn thứ trước rất dễ hiểu, đạt tức tùy phát, đều dùng tự cảnh mà thể đạt ở cảnh v.v… Nếu ở hạ biệt, ở cảnh thì cảnh tự làm năm phần. Như xếp trong thiền cũng có y cứ thiền y cứ phẩm chung riêng hai phán. Cho nên nay cũng như thế. Nếu y cứ quán làm năm phần, thì Tạng Thông Biệt Viên bốn giải khi khởi, từ trước đến sau là tiến, trước ba tùy một là trụ, được một phải từ là hộ, được rồi lại mất là thối, được rồi tự biết là đạt. Nếu y cứ phẩm, thì ba giáo đều có nghĩa y cứ phẩm, nay lại từ viên, như viên giải phát thì trước từ Sơ phẩm, cuối đến Vô sanh là Tấn phần. Ngang đến hai phẩm lại cho đến sáu căn, gọi là Trụ phần. Bản chất từ Sơ phẩm cho đến mười tín tác ý căng trì, gọi là Hộ phần. Vừa được một phẩm liền sẽ thể đạt, chỗ được chưa sâu tức là Đạt phần. Nếu y cứ về cảnh, thì phiền não khi khởi lấy tham nhìn sân gọi là Thông. Y cứ các hoặc, thì trong tham cạn sâu mới gọi là Biệt. Y cứ các phẩm tiến và trụ rất dễ hiểu. Phòng chẳng dục trừ gọi là hộ, khởi rồi tụ mất, gọi là Thối, tự biết lả hoặc gọi là Đạt. Các việc khác đều như trên mà phán, hoành thụ thì ngang là chung, dọc là riêng hai phen đối nghĩa, y cứ trên mà biết, chẳng thể ghi rõ. Nhưng y cứ thiền làm chánh, chín cảnh bàng thông. Cho nên chẳng thể lệ thiền rõ ràng. Ngang dọc trước ý cũng như thế. Nhưng năm phần trở xuống lại chung câu hỏi, hỏi rằng: Năm phần xếp thiền khác với mười cảnh, đã được gặp nhau cũng có thể gặp được sáu tức mười địa chăng? Cho nên làm chung rằng: Năm phần mười cảnh đều là pháp tướng nghĩa lý tuy khác mà gượng làm hội chung. Sáu tức mười địa cả hai đều là vị, cho nên chẳng thể dùng năm phần mà xếp. Như nói tiến đến Diệu giác, chẳng thể lại khiến lui sụt đến sáu căn. Các hộ trụ khác là nói đây. Năm phẩm có dung không phải chánh ý của văn, lại cũng chẳng thể dùng sáu tức mà xếp địa. Kế hỏi niệm tánh duyên tánh v.v… Ở đây lấy tùy tự ý văn mà hỏi. Hỏi này chánh hiển cảnh không thể nghĩ bàn. Trong đây một câu hỏi gồm có hai ý, trước hỏi duyên niệm tánh lìa, kế y cứ lìa này để hỏi mười giới. Pháp tánh lý năng niệm gọi là niệm tánh lìa. Pháp tánh lìa sở duyên gọi là Duyên tánh lìa. Đã lìa ở năng sở tánh cũng chẳng phải số lượng. Chỉ quán một pháp tánh, tánh tịnh như hư không, vì sao trong tánh không mà đủ mười pháp giới. Nếu đủ mười pháp giới tức là Duyên niệm. Nếu cũng có Duyên niệm thì đâu được gọi là lìa. Trong đáp có hai ý. Trước lược bày ý hỏi, kế giải thích không thể nghĩ bàn. Văn đầu gồm hai, trước nêu chung không thể nghĩ bàn. Vô tướng trở xuống là chánh đáp hai nghĩa. Trước nói vô tướng mà tướng. Trước đáp mười giới vô tướng mà có tướng mười giới. Quán trí rõ ràng. Kế đáp duyên niệm, tuy không năng sở mà quán trí rõ ràng. Quán là năng quán mười giới làm sở. Điểm không luận giới, giới không có giới tướng. Tuy nói năng sở nhưng duyên niệm vốn không. Nó giải trở xuống là kế giải thích nghĩa không thể nghĩ bàn. Nó giải chỉ rằng núi Tu-di và hạt cải dung nhập vào nhau. Việc này rất hiếm lạ, thế gian ít có nên gọi là không thể nghĩ bàn. Nói Tu-di dung chứa hạt cải, tức là chui vào hạt cải. Hạt cải dung chứa Tudi, nghĩa là hạt cái chứa đựng núi Tu-di, lửa mọc hoa sen, Đại Kinh chép: Trong lửa mọc hoa sen, ấy có thể gọi là ít có. Người có khả năng vượt biển, Đại Kinh quyển mười sáu nói: Nếu có người nói: Ta vượt được biển, có thể nghĩ bàn chăng? Phật nói cũng có thể nghĩ bàn, cũng chẳng thể nghĩ bàn. Nếu người vượt được thì chẳng thể nghĩ bàn, nếu Tu-la vượt thì có thể nghĩ bàn. Như giải thích này thì chỉ là theo sự. Nếu chỉ theo sự thì làm sao hiển được lý không thể nghĩ bàn. Như Tăng Nhất A-hàm nói: Có bốn thứ sự không thể nghĩ bàn, tức là thế giới, chúng sanh, rồng, cõi Phật. kinh Hoa Nghiêm cũng nói Tự Tại Thiên Vương có cô con gái quí tên là Thiện Âm, ở trong một tiếng nói phát ra trăm ngàn âm nhạc, mỗi tiếng nhạc lại phát ra trăm ngàn âm thanh. Đây chỉ là người chẳng thể lường biết gọi là không thể nghĩ bàn. Lại có chỗ giải thích núi Tu-di chui vào hạt cải v.v… ấy là thần lực cho nên như thế. Thần lực chính là xưa không nay có, chẳng phải pháp thường trụ. Có người nói: Lớn nhỏ không tướng nên có thể chui vào nhau. Có người phá rằng: Nếu nhỏ tự là nhỏ, lớn tự là lớn thì tự tánh lớn nhỏ chẳng được chui vào nhau. Nếu nhỏ là lớn nhỏ, lớn là nhỏ lớn. Đây là tánh nó lớn nhỏ, đâu thể chui vào nhau. Chỗ ông lập nhỏ không có tướng nhỏ, lớn không có tướng lớn, đây là tánh khác lớn nhỏ cũng chẳng chui vào nhau. Nếu nói nhỏ là nhỏ của lớn nhỏ, lớn là lớn của lớn nhỏ, gọi là cộng tánh lớn nhỏ cũng không thể chui vào nhau. Nếu nói nhỏ là không phải nhỏ của lớn nhỏ, lớn là không phải lớn của lớn nhỏ, đây là không có nhân lớn nhỏ, nên cũng không chui vào nhau. Nếu đem lý gởi sự như kinh Hoa Nghiêm thí dụ trong một hạt bụi có quyển kinh lớn bằng cõi đại thiên. Một niệm như hạt bụi, các pháp như quyển kinh. Hạt cải và Tu-di lấy thí dụ cũng như thế. Nếu mất ý nay, lý thật khó chung. Từ giải nay trở xuống tức nhà nay của chánh giải. Chỉ y cứ một niệm tâm tánh chân như khế với lý này cho nên có dụng khó nghĩ bàn. Lý tánh tuy không năng duyên sở duyên mà năng sở rõ ràng. Tu lý này nên gọi là năng hành, khế lý này gọi là năng đáo. Đáo nên có dụng y cứ chứng lý mà giải thích. Cho nên nói lý thì hơn sự. Văn nay nói lược. Phải y Tịnh Danh Sớ Giải thích Phẩm Bất Tư Nghì. Kinh nói: Bồ-tát có giải thoát gọi là không thể nghĩ bàn. Nếu Bồ-tát trụ vào giải thoát ấy, đem núi Tu-di cao rộng mà nhét vào hạt cải cho đến một phẩm đều nói như thế, vì chứng giải thoát nên sự dụng vô cùng. Nên nói cho đến cùng kiếp chẳng thể nói hết. Trong sớ chỉ dùng ba quỉ mà nêu văn kinh này, lý không gì chẳng hết. Các Phật, Bồ-tát cũng giải thoát, tức chân tánh quỉ cũng gọi là chân tánh giải thoát. Nếu Bồ-tát trụ vào giải thoát ấy tức quán chiếu quỉ, cũng gọi là thật tuệ giải thoát. Hay dùng núi Tu-di cao rộng v.v… tức là tư thành quỉ, cũng gọi là phương tiện tịnh giải thoát. Văn ấy đủ lấy ba giáo ba quỉ mà so sánh giải quyết, mới hiển bày tâm tánh viên cực ba quỉ. Nay bỏ ba giáo sáng thẳng tâm tánh đem chân tánh quỉ hợp cũng thật tuệ gọi là năng đáo. Hay theo lý khởi dụng, nên nói lý thì hơn sự. Hỏi: Chân tánh tự hòa hợp với thật tuệ, có quan hệ gì đến ngoại cảnh mà nói lớn nhỏ chui vào nhau là do khế lý? Đáp: Song tục tánh này ở khắp pháp giới. Mê nói trong ngoài, ngộ chỉ một tâm. Cho nên bốn nhãn hai trí muôn tượng sum nhiên. Phật nhãn chủng trí chân không sáng suốt vắng lặng. Nay tuy mới quán đâu khiến thuận mê. Chế tâm từ lý đều là tâm tánh. Kế hỏi: Là mỗi nhân tâm đủ nhân mười giới hay mỗi giới quả đủ quả mười giới. Đáp: Trong đáp chung ở trước có nói đủ tướng có. Pháp nhĩ (như thế). Một niệm nhân tâm đạo lý đủ mười, một quả giới đâu phải một giới, nhưng nói một quả đủ ở mười quả, quả đã cách vượt khắp hiển giống kho, nếu biết tùy khởi một tâm trong mười, một thông cả mười, cho nên một quả đủ mười nhân, một nhân đủ mười nhân, nên nói nhân chung lý thì dễ biết. Trong văn trước nói nhân chung. Kế nói quả cách. Trở về nhân chung, chỉ nêu trước sau, khoảng giữa so sánh mà biết. Trước Từ Đồng Nữ, như Tâm Luận chép: Từ đồng nữ Trưởng giả muốn theo bạn vào biển lấy ngục. Xin pháp mẹ ra đi. Mẹ bảo ta chỉ có mình con, sao bỏ mẹ mà đi. Mẹ sợ con đi bèn ôm lấy chân con. Đồng nữ nắm tóc mẹ kéo dứt mẹ liền buông ra. Đến biển trên đảo thấy vành sắt nóng từ trên hư không rơi xuống đỉnh đầu, bèn phát thệ rằng: Nguyện tất cả khổ của pháp giới đều nhóm họp về thân con. Nhờ sức nguyện mà vành lửa liền rơi. Từ đó chết rồi sanh lên cõi trời thứ sáu, trái ý mẹ làm đứt tóc thành tâm địa ngục phát thệ nguyện lớn liền thuộc cõi Phật. Dẫn chưa được ký khinh được ký. Tuy chưa được ký đã thuộc tâm Phật. Khinh được ký mà thành cõi địa ngục. Cho nên Đại Phẩm quán không chẳng chứng phẩm nói rằng: Ta chứng bạt trí (không lui sụt), còn người khác không được, bèn khinh bác bỏ người khác. Vì việc ấy nên xa lìa Bồ-đề, xa lìa thiện tri thức. Nếu tức thân mà sám hối lâu dần lại nương Bát-nhã Ba-la-mật. Nếu chẳng tức hối thì phải biết là tội nặng ở bốn cấm hơn năm tội nghịch. Phải biết là Bồ-tát Chiên-đà-la. Lại dẫn trở xuống là nói lược quả cách bày hỏi hiển tướng. Từ sự lý mà nói tức mười giới quả đều đủ mười quả. Nên nói phàm thánh đều đủ năm ấm, ấm tức là quả. Phàm tức sáu phàm, Thánh là bốn thánh. Tuy lại đều đủ, chẳng thể Thánh ấm như phàm ấm. Nói chẳng thể là ý nói phàm ấm khác nhau thánh ấm. Lại Phật đủ trở xuống làn nêu một quả Phật đủ cả mười giới. Nhưng chẳng thể vì Thánh ấm đồng phàm, tự là quả Phật hay đủ mười giới, trọn chẳng phải Phật địa ngục giới xem là phàm phu địa ngục giới. quả Phật đã mãn nói theo sự. Đã đủ mười giới. Sơ địa Sơ trụ phân đủ mười giới. Cho đến phàm phu chỉ là lý cụ. Ấy thì mỗi giới quả đều đủ mười chẳng lộn lạo nhau. Một lần từ dễ lại nói nhân chung cho đến giới cách. Lý mà nói đó, một niệm nhân tâm thật đủ mười giới trăm giới nhân quả. Vì sao? Vì như nói khởi một giới tâm đủ cả mười giới mười như mười như chỉ là pháp nhân quả mà thôi. Tướng đến nhân duyên vì thuộc về nhân, quả báo thuộc quả. Phải biết một niệm thường đủ trăm giới y chánh nhân quả. Cho nên không Phật Tạng nói: Phật thấy trong tâm tất cả chúng sanh đều có Như lai ngồi kiết già, có đủ quả Phật, quả kia cũng như thế. Cho nên địa dưới tuy đủ nhân quả, mà chỉ là lý tánh. Do đó có quả cách mà nói. Kế hỏi: Một niệm đủ mười là nhậm vận đủ mười giới, vì đãi ngộ duyên tác ý hiện khởi tên đủ mười ư? Nếu y theo đáp trước nhân chung dễ biết. Đã nói một tâm đủ một giới xong. Nhưng quán đáp trước hình trạng giống như tác niệm, cho nên lại đặt câu hỏi này mà giải thích nghi. Trong đáp nói pháp tánh tự nhĩ, là pháp phàm thánh thảy đều tự nhĩ. Tự nhĩ chỉ là tên khác của tự nhiên. Hỏi: Đã nói tự nhĩ đâu khác ngoại chấp. Đáp: Quyển ba ở trước đã lược phân biệt. Như Pháp Hoa Huyền chép: Ngoại đạo đã bị sơ giáo phá còn khác nhau với hai giáo thông biệt huống chi so viên cực với ngoại đạo tự nhiên. Nếu trong phá tánh mà nói không phải tự nhiên, là vì phá chấp nên lý sẽ tự nhiên. Như trong quyển một giải thích một hoằng, pháp tánh tự nhiên như thế, v.v…, Tiểu thừa còn thế huống chi là thật lý. Hỏi: Một tâm đã cụ, chỉ quán ở tâm đâu cần quán cũ. Đáp: Nhà quán môn rất khác các thuyết, gồm nhiếp tất cả mười phương ba đời hoặc phàm hoặc Thánh tất cả nhân quả, bởi do quán cụ, cụ tức là giả, giả tức hư không. Lý tánh tuy cụ nhưng nếu chẳng quán và chỉ nói quán tâm thì chẳng xứng lý, Tiểu thừa cũng có quán tâm, chỉ mê một tâm thì đủ các pháp mà thôi. Hỏi: Nếu chẳng quán cụ là thuộc giáo nào? Đáp: Biệt giáo giáo đạo từ sơ tâm đến chỉ nói thứ lớp sanh mười giới. Đoạn cũng thứ lớp, cho nên chẳng quán cụ. Hoặc bẩm Thông giáo tức lý không ngơ, hoặc bẩm ba Tạng vắng lặng chân không, như thế v.v… sao người phải quán cụ. Vì sao? Tạng Thông chỉ nói tâm sanh sáu giới, quán có khéo việcng, tức lìa chẳng đồng. Cho nên hai thứ này cụ chẳng cần quán, còn chẳng biết cụ huống chi là biết hư không. Nếu chẳng như thế, sao gọi là phát tâm rốt ráo chẳng khác. Thành Chánh giác rồi làm sao hiện thân cõi ở mười giới. Lại người học dẫu biết trong tâm đủ ba ngàn pháp, mà chẳng biết tâm ta khắp ba ngàn ấy, kia đây ba ngàn cùng khắp cũng như thế. Nếu thuận phàm tình sanh nội ngoại kiến hải chiếu lý, thể vốn không có bốn tánh, ba pháp tâm, Phật, chúng sanh không khác nhau. Hay biết đây mà y theo tâm mong biết, lại mười thừa này được tên đều đồng, cùng có năng sở đối nhau.

Thứ nhất là quán ấm nhập y chương giải thích riêng. Trước trong giải thích ấm nhập, trước lại nói cảnh, kế nói tu quán. Văn đầu trước phụ tiểu tông lược giải thích ba khoa, nói cảnh ly hợp. Tức năm ấm trở xuống là nêu tên. Ấm trở xuống là giải thích tên. Văn nay chỉ dùng hai nghĩa nhân quả mà giải thích tên, tức dùng nhân quả nhiếp hết các thứ. Trong Bà-sa nói ấm nghĩa là gì? Đáp: Là các nghĩa tụ, lược tích, tổng.

Như các thứ tạp vật xem là một nhóm, sắc cho đến thức nhóm ở một chỗ, nên gọi là nhóm. Cho đến (gồm) ở ba đời nội ngoại nên gọi là Tổng. Khoảng giữa các tên y cứ nói mà biết. Hỏi: Năm thủ uẩn có gì khác với uẩn. Đáp: Uẩn chung lậu và vô lậu, thủ uẩn chỉ hữu lậu. Uẩn và ấm do mới và cũ dịch ra khác nhau. Uẩn là chứa nhóm nghĩa đồng với ấm. Y theo Câu-xá sắc nhiếp năm căn, cho đến hai vô tác. Hành nhiếp các tâm sở chỉ trừ hai thứ thọ, tưởng, thức tức là tâm vương nay là cảnh quán đầu. Nhập mới gọi là xứ. Bà-sa chép: Nhập nghĩa là gì? Đáp: Là các nghĩa thâu môn, thâu đạo, (kho), (lẫm), (ruộng), (sông), (biển). Ấy là nghĩa nhập, tùy tên mà giải thích cũng rất dễ thấy. Văn nay thiện nhập cho đến thâu môn đều là nghĩa (đường) nhưng giải thích trên nghĩa đầu nói căn trần gặp nhau. Nghĩa kế nói căn là chỗ được ngoại trần liền do tâm, tâm sở đi vào căn cảnh, khiến trần được vào gọi là thâu đạo. Nên luận ấy nói môn và đạo đều là năng chung, khiến tâm, tâm sở được đi vào. Y theo Câu-xá, pháp thân rất rộng. Giới Bà-sa nói: Giới nghĩa là gì? Nghĩa giới là phân biệt. Như trong núi có ngọc báu chủng loại khác nhau. Câu-xá loại rằng: Tụ sanh môn chủng tộc là nghĩa uẩn, xứ, giới. Lệ với văn Bồ-đề rất dễ hiểu ý. Trong Câu-xá rộng dùng ba nghĩa tộc, trì, tánh mà giải thích giới, căn, trần, thức kia như thường rất dễ hiểu. Pháp giới nhiếp bốn cũng đồng pháp nhập, cho đến rộng dùng hai mươi hai môn phân biệt nghĩa giới. Nêu tên đầy đủ nói tướng ra thể không phải ý văn nay. Chỉ nương các luận để nói khai hợp mà làm cảnh quán. Cho nên kế nói. Bà-sa trở xuống là nói cảnh cảnh khai hợp đồng với Câu-xá. Tụng rằng: ba thứ Ngu, căn, lạc, nói ba thứ uẩn, xứ, giới. Ngu tức là mê, căn là ba phẩm, lạc là ưa thích. Nay nói cảnh quán chẳng cần hai nghĩa, cho nên chỉ từ mê. Nói phần ít là đem pháp vào pháp giới gồm đủ tâm sắc. Nay văn lược giới, lại từ nhập mà nói, nên nói pháp nhập gồm sắc tâm thành hai phần ít. Ý chỉ là tâm, mười thứ khác chỉ là sắc. Nếu y cứ giới, pháp giới cũng có hai, mười giới là sắc, bảy giới là tâm, bốn ấm trong ấm đã thuần là tâm, nên không cần phân biệt. Ở pháp nhập trong pháp giới nói hai phần ít vì trong pháp nhập có bốn thứ pháp, tức là sắc vô biểu, pháp tâm sở, bất tương ưng hành, ba pháp vô vi. Cho nên vô biểu là sắc, tâm sở là tâm, bất tương ưng hành là phi sắc phi tâm, pháp vô vi là không thuộc ba nhóm. Vô vi ở dưới thuộc cảnh Nhị thừa. Đắc chẳng phải đắc, là ở dưới giúp đạo quán trung. Hai định Vô tưởng lại ở cảnh thiền, các thứ khác đều ở đây. Nếu y kinh bộ Đại thừa pháp tướng, đồng thời ý thức duyên hiện năm trần và trần pháp lạc tạ thuộc về chỗ thâu, phần nhỏ thuộc sắc, phần nhỏ thuộc tâm. Nay lại quán tâm, tâm tức là thức. Lại y cứ năm thức và năm ý thức đều là thức thứ sáu, đều dẫn khởi ba tâm thọ v.v…. Nếu theo Thành luận thì năm thức định nghĩa không khởi ba tâm. Tuy đồng khác này nay lại trước quán các thức làm cảnh. Hỏi: Thức ấm là Vương hữu tông tâm vương cùng số đồng khởi, vì sao riêng ở tâm vương tu quán? Đáp: đây chỉ là tông chấp, ý thì chẳng thế, ngay đó nghĩa quán tâm phải quán vương. Số người trở xuống là gồm bày hai luận tướng khác nhau. Số người tức là sư Tát-bà-đa phá Thành Luận Sư nói: Tâm tụ là một sao dung trước sau. Luận sư lại phá sư Tát-bà-đa rằng: Tuy đồng tâm tụ, bốn tâm đều khác, tự có thể ấy mà cùng tương ưng. Nay, đều chẳng theo hai luận đồng khác, chỉ lại dùng tâm làm cảnh sở quán. Nói tựu hạ lại nương không môn đế xếp trước sau, hoặc trước hoặc sau đều chẳng được số thiệp ở vương. Cho nên nói chẳng được dùng số cách vương. Số ở trước sau, vương ở trung ương gọi là số cách. Cho nên tâm vương không phải trước thì sau. Bốn niệm trở xuống là giải thích nghi. Nghi rằng: Vì sao niệm xứ vương ở trung ương? Giải thích rằng: Ở lời nói chẳng phải khởi thứ lớp, cũng chẳng phải y cứ hạnh. Lại phân biệt trở xuống là chính bày cảnh tướng. Ba khoa khác nhau. Chỉ luận ấm. Vì trong giới nhập, tâm giới tâm nhập thì có phần ít và toàn phần khác nhau. Năm ấm tuy khai không có phần ít, chứng minh trước y cứ ấm, sau nêu giới nhập. Lại ba khoa này đã khai hợp khác nhau. Muốn đem thức giới mà làm cảnh đầu đâu lại chẳng được, chỉ vì thức có nhiều tên, vì ấm ở đầu, lại vì tên lược cho nên dùng trước. Cho nên y theo kinh luận nói ấm chẳng đồng, đều từ tâm tạo, kiến ái là uế, cho nên hai chỗ khởi gọi ô uế ấm, cùng khởi thiện ác đều gọi là ấm. Hai thứ trước chỉ là quả báo ấm mà thôi. Biến hóa tức là thợ khéo. Năm gốc lành, chung riêng niệm xứ chỉ hợp làm một. Và nhuyến v.v… bốn thứ gọi là năm phương tiện, cũng gọi là năm gốc lành. Năm pháp quán dưỡng tâm chỉ là đối trị năm chướng, cho nên chẳng nói. Năm thứ Niệm xứ v.v… có khả năng làm vô lậu, làm phương tiện gần. Kế dẫn Đại Tiểu giáo làm chứng, lại trong chánh pháp niệm tuy chỉ nêu sáu. Hoa Nghiêm đã nói các thứ năm ấm, tức chung mười giới. Thế gian trở xuống là kế lược bày cảnh tướng khó nghĩ lường, cho nên nêu so sánh để phân tâm rất dễ hiểu. Như loại ấm của người trong thế gian còn chẳng thể cùng tận, huống chi là ấm của sáu đường. Ấm sáu đường còn thế, huống chi là bốn thánh xuất thế. Trong đây dự lấy báo ấm để so quyết. Khiến biết văn sau nói ấm không thể nghĩ bàn. Phàm nhãn trở xuống là nêu thí dụ. Nội nhãn thế trí cũng như phàm nhãn, bị ba hoặc che chướng gọi là Ế, còn chẳng thấy ở chân đế gần huống thấy được Trung đạo xa. Di sanh trở xuống là hợp dụ. Giới nội thiên chân gọi là một góc. Giới ngoại viên trung gọi là biên biểu. Bốn góc gọi là ngung, như nai khát trở xuống là dụ cho người chẳng biết tùy theo sắc thinh ở đời. Nếu thiên tiểu thì chẳng hề nghe thấy lý chân diệu. Dẫu khiến trở xuống là cùng nói ra. Chỉ thấy tiểu pháp. Đại tập trở xuống là dẫn chứng. Phật ra đời gặp Thánh cũng còn trụ tiểu, đều chấp một môn chấp khác chẳng đồng theo môn Tỳ-đàm dùng bảy phương tiện đều là thương kiến, nói khác là năng đoạn. Theo môn Thành thật chỉ quán không tâm gọi là kiến, nói một năng đoạn. Phải biết diệt rồi viên môn chẳng đổi huống chi là Phật mất rồi. Nêu Phật mất rồi chẳng biết làm so sánh. Cho nên Long Thọ sau Phật diệt độ mà soạn luận phá chấp. Một là Tỳ-đàm Vương Số đồng thời khác là Thành Luận Vương Sở trước sau. Bốn câu ba giả đều như huyễn hóa. Nhưng giới nội trở xuống là muốn bày thức tâm mà làm cảnh quán. Trước lại chung nắm tâm làm lý do sanh khởi, tức trước chỗ dẫn kinh luận. Phật bảo thọ dụng là dẫn A-hàm Đại luận để chứng tâm tạo. Nếu muốn trở xuống là nêu cả hai thí dụ thế và xuất thế ấm như điều như bệnh, một niệm thức tâm như rễ, như hoa, người khác trị bệnh, Thanh bất quá một thứ, hai thứ, đốt chẳng qua một huyệt hai huyệt. Nếu thế, quán tâm thì đủ, vì sao thứ bốn phá khắp văn cuối lại lệ với quán ở ấm giới nhập kia? Đáp: Muốn dung các pháp bày cảnh quán khắp. Cho nên văn dưới lệ với giới nhập khác. Nếu bày cảnh thể quán tâm tức đủ, vì tâm khắp nên nhiếp các pháp khác. Lại không phải chỉ tâm nhiếp tất cả, cũng là tất cả nhiếp tâm. Cho nên Bốn Niệm Xứ nói: Chẳng phải chỉ Duy thức mà cũng dung Thanh duy Hương duy vị v.v… Nay sẽ từ rộng đến hẹp chánh bày cảnh thể. Ba thứ Ấm giới nhập đều có thể làm cảnh. Khinh mạn khó bày, cho nên gấp chỉ. Lược hai ở ấm như bỏ trượng đến thước lược bốn từ thức như bỏ thước theo tấc, vì giới nhập nhiếp rộng nhiều. Ấm chỉ hữu vi, trong hữu vi nghĩa gồm cả sắc tâm. Cho nên bỏ sắc giữ tâm, tên tâm lại gồm tâm và tâm sở. Nay lại quán tâm vương mà bỏ tâm sở. Cho nên trước quán thức. Các thứ kia lệ theo đó.

Hỏi: Năm thức, năm ý thức và thức thứ sáu đều sanh ra ba tâm như thọ v.v…, những gì là thức tâm và chỗ sanh ba tâm là cảnh quán nay? Đáp: Năm thức, năm ý thức chắc chắn là cảnh nay chưa thuộc phiền não mà ở vô ký, ở trong thứ sáu thủ năng vời báo, vẫn phải phát được bèn thuộc cảnh phiền não, các phân biệt khác mới thuộc cảnh nay. Lại năm thức này và năm ý thức tuy ở cảnh nay, vẫn ở văn sau trong trải duyên đối cảnh mà nói. Lại nếu tham lấy ý không thể nghĩ bàn đề đối dụ thì một tâm niệm mười giới ba khoa, như trượng, một giới năm ấm như thước, chỉ ở thức tâm như tấc. Nếu đạt tâm đủ tất cả pháp rồi mới độ nhập tất cả sắc tâm, như mỗi thước mà đều là tấc. Và mỗi trượng đều là thước, cho nên trượng thước toàn thể là tấc. Quán tâm trở xuống kế nói quán pháp năng quán. Pháp quán không phải mười đối căn có khác. Tuy là căn khác chỉ là không thể nghĩ bàn, quán quán không thể nghĩ bàn cảnh, bèn đến lìa ái chẳng lìa cảnh. Cho nên mười quán này văn mười nghĩa mười. Căn ba ý hai phần xa gần. Gần là hẹn Sơ trụ, xa là ở cực quả. Lại thứ vị ba dưới tuy không phải pháp quán, nhưng đều quán lực theo nhau gọi quán nên gọi là mười quán. Lại đủ mười này khiến quán sẽ thành, nên gọi là thành quán, cũng gọi là thành thừa. Suy nghĩ rất dễ thấy, đã tự đạt dưới sanh (hạ sanh) khởi thứ lớ, nay văn rất dễ thấy. Trong bốn niệm xứ lấy bốn pháp đầu đều cùng thành trên cầu dưới hóa. Cho nên văn ấy nói: Trên cầu cảnh không thể nghĩ bàn quán phiền não tức Bồ-đề. Ở phiền não này trên cầu Bồ-đề chẳng cầu gì khác. Sanh tử Niết-bàn cũng giống như thế. Vì muốn dưới hóa nên phải phát tâm, tức phát hoằng thệ. Ta dùng pháp nào trên cầu dưới hóa. Cần phải an tâm trang nghiêm trên cầu, lấy định tuệ này hóa độ chúng sanh dưới hóa. Nếu không có quả trên thì dưới hóa chẳng thành. Cho nên biết quả thành là phá khắp. Nếu phá chẳng khắp thì phải biết thông bít. Dưới trở xuống là sanh khởi đồng với văn nay. Do đây mà quán bốn pháp trước dùng không trước sau, thông bít v.v… ba thứ thành tựu, bốn thứ trước, thứ vị đều ba để xếp bảy trước. Hay khéo dùng là mười như chỉ tay, thí như trở xuống là nêu thí dụ. Tỳ-thủ v.v… Tỳ-thủ là thợ khéo nhà trời. Trường A-hàm nói Thiên đế đánh thắng Tu-la, lại tạo một nhà gọi là Tối thắng, Đông Tây dài trăm do-tuần, Nam Bắc sáu mươi dotuần, nhà có trăm gian. Gian có bảy đài Chi lộ, trên mỗi đài có bảy ngọc nữ, mỗi ngọc nữ có bảy sử nhân, đều do Thiên đế cấp dưỡng cơm áo và đồ trang nghiêm. Trong ngàn thế giới nhà này không gì sánh nổi, nên tên là Tối hơn. Nay nói được hơn là do chiến đấu hơn mà xây nhà này. Trước lược nêu thí, văn dưới tự hợp. Chung quanh cách mỗi thước đều chung một đỉnh, mười pháp vô gián như sơ, không quá lộn lạo như chẳng kín, mười pháp khác dung nhau, mười pháp viên thừa xuất xứ từ các quán trên như trỉ Thiên thượng (đứng tưởng trời giữa trời) nghĩa là ở Cực lý nghĩa bậc nhất thiên. Nguy nga vòi voi là lời khen ngợi. Con không phải Biệt giáo giáo đạo biết được huống chi là ám chứng thợ việcng mà làm khuôn phép được. Quỉ là độ, tắc là chuẩn, là không phải ám chứng mà lường biết được. Nói khéo hoạch, là như bọn Trương Cố được bút mực diệu. Pháp quán của nhà nay cũng giống như thế. Đồ là viết vẽ chỗ sanh, y giáo tu tập được Đại cương Phật giáo cũng như khuông quách. Khuông quách là vật bao quanh ngoài vật. Được ý Phật pháp cũng như bước chân y giáo tìm chân cũng như tả tượng. Cùng thật thể quả giáo gọi là cột pháp. Y thật sanh giải, nghĩa như tinh linh mười pháp chỗ đến như sanh khí, từ nhân đến quả gọi là phi động, huống chi người đọc văn biết được như chẳng phải ruộng, vườn, v.v… mười quán này trở xuống là hợp dụ, lấy một hợp này mà chung hợp hai dụ. Sau cùng trong kết đồng kết hai người. Song hợp này văn y cứ ý rộng, trước đối hai dụ, kế lại giải thích văn. Trước hợp thắng đường, là ngang dọc các hợp chẳng thưa chẳng kín. Từ đầu trở xuống là hợp cao vòi vọi. Ý viên trở xuống là hợp chẳng phải thợ việcng. Nếu hợp dụ sau thì ngang dọc v.v… hợp với khuông quách bức chân, mầu nhiệm, v.v… hợp với đồ tả v.v… Từ trước trở xuống là hợp sanh khí v.v…, không phải đọc văn là hợp người ruộng vườn,. Kế lại giải thích rõ văn hợp này. Nói ngang dọc, là mười pháp này có chung có riêng. Riêng là như cảnh không thể nghĩ bàn, cùng đáy thật tướng gọi là dọc, bao khắp mười giới gọi là ngang. Phát tâm trên cầu gọi là dọc, y cảnh phát thể gọi là ngang. An tâm thấu lý gọi là dọc, sáu mươi bốn phen gọi là ngang. Phá khắp hoặc cũng gọi là dọc. Các môn nhìn nhau gọi là ngang. Chung đến đảo châu báu gọi là dọc. Giảo giảo tắc trước gọi là ngang, Đại Phẩm đến sau gọi là dọc, phẩm phẩm đối nhau gọi là ngang. Chánh trợ đến sau gọi là dọc pháp pháp nhìn nhau gọi là ngang. Thứ vị chí cực gọi là dọc, vị vị nhiếp khắp gọi là ngang, an nhẫn tiến sau gọi là dọc, trái thuận đối nhau gọi là ngang vô trước nhập trụ gọi là dọc, lìa ba pháp tợ gọi là ngang. Đây lại đơn y cứ Viên thừa là giải. Nếu nhìn thiên thừa gọi ngang gọi dọc, cũng như ngang dọc nói lên chẳng ngang dọc. Nếu không thể nghĩ bàn chẳng phải ngang chẳng phải dọc mà hay làm ngang dọc mà nói ngang dọc. Lại luận chung ở mỗi vị mười tự tương đối nhau là ngang mỗi chí cực đương pháp dần sâu là dọc. Lại cũng có thể bảy pháp trước gọi là ngang, biết thứ vị bỏ tên là dọc. Lại huyền văn đối tín lại gọi dọc riêng nhiếp hết các pháp, nên nói thâu thúc. Mười pháp lý kín là vi, khai thô tuyệt đãi là diệu, chẳng lạm thiên tiểu gọi là tinh, an bố thứ tỷ gọi là xảo, sơ thì phân biệt cảnh viên cực là chân, lấy thiên tiểu làm ngụy. Trung thì phát tâm đến, biết thứ vị là chánh. Chỉ có thứ bảy chánh trợ làm trợ, lấy trợ thêm chánh gọi là tướng thêm sau thì thứ chín an nhẫn thứ mười vô trước. Khiến làm chẳng thôi được vào Sơ trụ. Hoặc quán hoặc nói lý ở Nhất thừa gọi là ý viên, pháp được nói chẳng xen lẫn thiên tà gọi là pháp xảo. Pháp khắp các giáo là cai, gồm thâu nhập mười là quát. Vì cai nên chu, vì quát nên bị, khắp ở bốn giáo mười sáu môn. Cho đến năm thời tám giáo một kỳ thỉ chung, nay đều khai hiển thác nhập Nhất thừa, khắp gồm các giáo bị nhập một thật. Nếu đương phần còn chẳng phải thiên giáo chủ biết được, huống chi là ám chứng thế gian ư? Qui viên cũ phương pháp có khuôn phép, y lý an tâm trước có tắc. Chẳng thứ lớp phá không thông bít mà nói thông bít. Cho đến trong chánh trợ đều có tắt. Vô Trước chẳng ở tương tự khởi ái sau có tắt. Đến Sơ trụ gọi là Tát-vân. Tát-vân tuy tức vốn ở rốt ráo. Sơ trụ phần được cũng có thể chung dụng. Bởi Như lai trở xuống là khen ngợi. Mười pháp đã là Pháp Hoa sở thừa, cho nên lại nghe Pháp Hoa mà khen. Nếu nói theo tịch, tức chỉ thời của Phật Đại Thông Trí Thắng xem là nhiều kiếp. Đạo tràng Tịch Diệt xem là Diệu Ngộ. Nếu y cứ bản môn chỉ xưa ta làm đạo Bồtát xem là nhiều kiếp, vốn khi thành Phật xem là Diệu Ngộ. Hai môn Tích Bản chỉ là cầu ngộ mười pháp này. Thân tử v.v… Tịch Trường muốn nói vật có chưa phải lúa, sợ nó đọa khổ bèn lập phương tiện. Hơn bốn mươi năm các thứ điều nhiệt, đến hội Pháp Hoa mới được khai quyền, động chấp sanh nghi, hết lòng ba lần thỉnh năm ngàn vị đứng dậy đi mới không còn nhánh lá, điểm bày bốn, một diễn năm, Phật chương Bị người gốc lành gọi là nói pháp. Trung căn chưa hiểu cũng bày thí dụ. Hạ căn khí kém còn đợi nhân duyên. Ý Phật liên miên ở đây mười pháp. Cho nên mười pháp văn cuối đều thí dụ xe lớn. Nay văn chỗ bằng là ý ở đây. Người làm chưa thấy còn chỉ Hoa Nghiêm, chỉ biết tên Hoa Nghiêm viên đốn mà không biết bộ ấy nói kiêm đới, toàn mất ý bặt đãi của Pháp Hoa, biếm tỏa diệu giáo có khả năng hiển riêng. Nghiệm hai văn tích bản xét lời nói năm thời. Viên cực chẳng nhầm, đâu còn nghi gì, cho nên kết rằng chánh ở đây.

 

PHẦN 3

Quán tâm trở xuống là chánh giải mười pháp. Trước giải thích cảnh. Hỏi: Trước dẫn các văn nói rộng cảnh rồi. Trong đây chỉ phải nói năng quán mà quán. Vì sao lại nói cảnh không thể nghĩ bàn? Đáp: Trước tuy bày thể mà chỉ thẳng tâm, tâm là văn gốc tất cả pháp, cho nên bày thể là tâm, nhưng chưa bày rõ tướng không thể nghĩ bàn, cũng sợ người mê. Như thợ tạo vật có năng có sở, năng sở giống khác. Cho nên văn nay diệu quán mà quán khiến thành cảnh mầu, thì cảnh mới xứng lý. Lại dùng sở quán mà hiển năng quán. Cảnh diệu nghĩa thành thì diệu quán ở đây lập. Vì nghĩa ấy cho nên lại nói cảnh. Lại vì biết cảnh diệu làm gốc chín thừa, xưng bản tu chín mới kham vào vị. Cho nên làm mười thừa diệu quán, ở trong đó trước nói nghĩ bàn, kế nói không thể nghĩ bàn. Trước trong khả nghĩ bàn thì văn mười nghĩa mười ý chỉ ở hiển không thể nghĩ bàn. Trong đó trước nói ý nghĩ bàn, khiến không thể nghĩ bàn dễ hiểu. Nói dễ hiểu, là đã nghe nghĩ bàn mười giới trải biệt (khác) bày mười giới này đồng ở một tâm, thì trong một tâm mười giới rất dễ hiểu. Cho nên trong khả nghĩ bàn đây là địa ngục cho đến cõi Phật không nói mà thôi. Nói thì có thứ lớp, mười giới rõ ràng thô tế chẳng trái. Người thấy chú nói chẳng phải chỗ dùng ngày nay, lại bỏ nghĩ bàn riêng cầu không thể nghĩ bàn là xa. Như vì thật mà bày quyền, quyền là thật quyền, khai quyền hiển thật, thật là quyền thật. Tương đãi và tuyệt đãi, thứ và bất thứ đều như thế. Cho nên văn dưới giải thích cảnh nghĩ bàn, hoặc đến chín giới mà ngưng. Hoặc khi đến Phật pháp giới thì cõi Phật thật là không thể nghĩ bàn, chín giới sau cũng nói là nghĩ bàn. Như cảnh nghĩ bàn sau trong văn này nói cõi Phật rằng: Quán này năng độ, sở độ v.v… rốt ráo viên cực đâu gì hơn đây. Nói nghĩ bàn là ý như vừa nói. Pháp nghĩ bàn trở xuống là nói lý do nghĩ bàn. Do Đại Tiểu thừa đều nói tâm sanh. Vì giáo quyền nên chẳng nói tâm cụ. Tuy hoặc sáu hoặc mười đều thuộc nghĩ bàn. Nếu quán trở xuống là chánh bói tướng nghĩ bàn, trong Phật pháp giới, năng độ sở độ đều là thật tướng, đều là pháp giới mất hẳn, cái gì thiện cái gì ác. Mất hẳn giới nội trước ba thiện ba ác, cái gì có cái gì không, mất hẳn ba hữu trước và Nhị thừa không, thì ai độ ai chẳng độ, mất hẳn ba giáo bốn hoằng năng sở. Tuy mất hẳn các pháp thứ lớp rõ ràng. Nếu bỏ nghĩ bàn phải biết là hai thứ nhân pháp đều mất. Cho nên năm lược đại ý, bốn đoạn Thích Danh, bốn khoa hiển thể, sáu nghĩa nhiếp pháp, năm môn thú Thiên Viên và ý bất thứ cũng như thế. Nắm sanh giải ấy để dắt phương tiện mới thành được mười pháp diệu quán nay, còn chín cảnh dưới lại dời quán này làm các cảnh quán. Thuốc A-già-đà trị khắp các bệnh. Đây là kết xếp, đã chẳng phải một tâm lại xếp tự biệt, nên nói sở nhiếp. Biệt thì thời gian nhiều đi xa. Đây thì mượn pháp hiển viên không thể nghĩ bàn trở xuống là chánh nói cảnh không thể nghĩ bàn, văn khác mà nghĩa một, ý chẳng phải một khác. Vì ba đế pháp tướng chẳng ngoài tu tánh tự tha. Trong đó trước dẫn Hoa Nghiêm. Lại nhắc lại dẫn đầu mà bày văn cảnh tướng. Trước nói tâm tạo tức là tâm cụ, cho nên dẫn văn tạo để chứng tâm cụ. Trong kinh quyển mười tám nói: Bồ-tát Như lai Lâm nói kệ rằng: Tâm như người thợ vẽ tạo các thứ năm ấm, trong tất cả thế giới, không pháp nào chẳng tạo. Như tâm Phật cũng như thế. Như Phật, sanh cũng vậy. Tâm, Phật và chúng sanh, ba pháp không khác nhau. Nếu người muốn cầu biết ba đời tất cả Phật phải biết quán như thế. Tâm tạo các Như lai, chẳng hiểu văn nay làm sao hiểu kệ tâm tạo tất cả, ba pháp không khác nhau. Nói tâm tạo chẳng ngoài hai ý: Một, y cứ lý tạo tức là cụ; hai, y cứ sự tạo thì chẳng ngoài ba đời. Ba đời lại có ba: Một là quá khứ tạo ở hiện tại, quá hiện tạo ở đương lai. Như vô thỉ đến nay cho đến hiện tại. Cho đến tạo ra tất cả nghiệp ở hết đời vị lai chẳng ngoài mười giới trăm giới ngàn như Tam thiên thế gian; Hai là hiện tạo ở hiện, tức là hiện đồng nghiệp chiêu cảm, đuổi theo cảnh tâm khắp đó gọi là Tạo. Vì tâm có nên tất cả đều có, vì tâm không nên tất cả đều không. Như ở đời một quan chỗ thấy khác nhau, là sợ là ái là thân là oan; Ba là các bậc Thánh biến hóa tạo ra, cũng khiến chúng sanh khắp tâm chỗ thấy. Đều do lý cụ mới có sự dụng. Nay muốn tu quán chỉ quán lý cụ, đều phá đều lập đều là pháp giới. Nhậm vận nhiếp được chỗ hiện của quyền thật như vừa dẫn kinh, tuy lại các thứ chẳng ngoài mười giới ba thế gian. Pháp giới trở xuống là giải thích danh từ pháp giới. Hỏi: Pháp giới và pháp tánh danh nghĩa khác nhau thế nào? Đáp: Danh khác nghĩa khác mà thể là một. Nói pháp giới, pháp tức là các pháp, giới là giới phần, vì tường khác nhau nên tất cả các pháp đều dùng ba đế làm giới phần. Vì nói ba đế nên phải thêm mười để hiển bày tướng trạng. Cho nên giải thích ba chữ ly hợp khác nhau, bị thành ba đế. Nói pháp tánh, cũng là các pháp có ba đế tánh, tánh cũng là tánh phần chẳng thể đổi, cho nên ba đế tánh mịt mờ thỉ chung không tay đổi cũng có thể giới pháp tánh pháp tức là thật tướng, thể của thật tướng ba đế đầy đủ. Cho nên nay trong văn giải thích ba chữ này. Trước là y cứ chân đế làm sở y mà giải thích. Mười số là giả, sở y là không, hay từ ở sở mà mười pháp đều không, cho nên mười thứ này dùng pháp không làm giới, nên nói mười pháp giới. Đây lại trở xuống là kế y cứ tục đế làm cách dị mà giải thích. Mười pháp khác nhau gọi là giới. Cho nên tên mười pháp có giới phần, gọi là mười pháp giới. Đây lại trở xuống là kế y cứ Trung đạo làm pháp giới mà giải thích. Mười pháp đều là chân như pháp giới, nên gọi mười pháp giới. Nếu đọc ba chữ mười pháp giới trong đây, tùy nghĩa làm câu. Phen đầu mười chữ gọi riêng, chữ pháp giới hợp gọi, phen kế chữ mười pháp hợp gọi, chữ giới gọi riêng, phen sau ba chữ mười pháp giới hợp gọi. Y đây mà đọc, văn tùy lời mà suy nghĩ thì ba đế nghĩa hiển. Ba đế vô hình đều chẳng thể thấy. Song tức giả pháp có thể mượn sự mà nói, tức pháp giả này tức không tức trung. Hai thể không, trung, hai và không hai tâm tánh chẳng động giả đặt tên trung, mất nêu ba ngàn giả đặt tên không mà gọi. Tuy mất mà còn, giả lập giả gọi. Mười pháp giới trở xuống là kế giải thích trong cảnh pháp tướng sở nhiễm. Trước nói ba thứ thế gian, kế nói mỗi thế gian đều đủ mười như. Ba thế gian chỉ là mười giới năm ấm thật pháp, giả gọi chúng sanh và cõi sở y. Trong đó trước giải thích năm ấm thế gian. Trước nêu mười thứ năm ấm. Thích Luận trở xuống là kế dẫn một luận hai kinh. Giải thích pháp giới đủ nghĩa năm ấm. Trước dẫn Đại luận, ý rằng: Niết-bàn là năm ấm vô thượng. Kế dẫn kinh Vô Lượng nghĩa mà giải thích thành Đại luận. Vì sao biết được Niết-bàn cũng gọi là vô thượng năm ấm? Kinh nói không là chẳng thể đều không. Nghiệm biết chỉ không ấm chín giới mà thôi. Kế dẫn Đại Kinh mà giải thích Vô lượng nghĩa. Vì đâu biết được Niết-bàn gọi là ấm? Đại Kinh đã nói sắc thường, thọ tưởng v.v… thường, phải biết Niếtbàn chỉ không có vô thường chín giới ấm mà thôi. Như trong Câu-xá, uẩn và thủ uẩn đều gọi là Uẩn. Nay cũng như thế, thường và vô thường đều gọi là ấm. Năm ấm trở xuống là kế giải thích chúng sanh thế gian. Như năm ngón tay thì giả gọi là nắm tay. Đại luận trở xuống là kế dẫn một luận chứng Thành thật giới cũng gọi là chúng sanh. Đại Kinh trở xuống là chứng thành khác nhau nghĩa thế gian ấy. Quyển ba mươi bốn chép: Ngoại sắc nội sắc đều mười thời dị. Nội sắc dị, một là Ca-la-la thời dị, hai là A-phù-đà thời dị, ba là Thủ thời dị, bốn là Bào thời dị, năm là Sơ sanh thời dị, sáu là Anh hài thời dị, bảy là Đồng tử thời dị, tám là Niên thiếu thời dị, chín là Thạnh tráng thời dị, mười là Lão tử thời dị. Ngoại sắc cũng như thế. Mầm thân nhánh lá hoa quả thời dị. Cho nên dùng dị này để giải thích thế gian. Mười chỗ ở trở xuống là giải thích cõi nước thế gian. Trước nêu bốn cõi làm chỗ ở cho mười giới ấm chúng sanh. Nhân vương trở xuống là kế dẫn kinh chứng Phật có chỗ ở cũng gọi là độ. Chín giới trước gọi là ấm gọi là sanh, có cõi để ở lý ở chẳng nghi. Sợ chẳng tin Phật gọi là ấm gọi là sanh cũng có độ ở. Cho nên chỉ dẫn chứng cõi Phật ba nghĩa. Ba mươi thứ này trở xuống là tổng kết từ tâm. Hỏi: Ở trong không thể nghĩ bàn chỉ nói bốn Thánh pháp nào chẳng nhiếp, sao lại phải nói sáu đường pháp tà? Đáp: Vì thật bày quyền từ thật khai ra. Nay muốn bày thật đâu được chẳng luận. Chung y cứ một hóa có năm ý nói: Một là chỉ đường cho trời người; hai là vì khiến chán bỏ luân hồi; ba là vì biết cảnh tướng tự thệ của Bồ-tát; bốn là vì biết chỗ nhiếp pháp của cảnh không thể nghĩ bàn; năm là vì muốn cho biết khắp pháp môn tánh ác. Nay văn chánh tại thứ bốn thứ năm gồm dùng thứ hai thứ ba. Hỏi: Y giáo môn nào mà lập ba thế gian? Đáp: Theo Đại luận giải thích một trăm lẻ tám Tam-muội đến giải thích Tam-muội Năng Chiếu Nhất Thiết Thế Gian rằng: Được Tam-muội ấy nên chiếu ba thứ thế gian, tức là chúng sanh thế gian, trụ xứ thế gian và năm ấm thế gian. Đến giải thích Tam-muội Nhất thiết trụ xứ rằng: Người được Tam-muội ấy thì thích ở thế gian chẳng thích ở phi thế gian. Vì thế gian có lỗi vô thường. Thế gian có ba thứ cũng như trước nêu. Phi thế gian là chỗ không có tất cả pháp, chỗ thật là đáng sợ. Lại chỉ hữu lậu mà gọi là thế gian. Chỗ Nhị thừa ở gọi là phi thế gian, nên nói đáng sợ. Đại luận quyển mười sáu trong phẩm Phạm Hạnh giải thích mười hiệu, đến giải thích Thế Gian Giải rằng: Có sáu thứ thế gian: 1/ Thế gian gọi là ấm (năm ấm thế gian); 2/ Thế gian là gọi A-tăng-kỳ thế giới (cõi nước thế gian); 3/ Thế gian là gọi tất cả phàm phu (sáu đường chúng sanh); / Thế gian là gọi Liên Hoa (Nhị thừa); / Thế gian là gọi các Bồ-tát (cũng thuộc Nhị thừa); / Thế gian là gọi năm dục (lại lập nhân pháp thế gian). Cho nên biết sáu thứ này tuy thêm nhân pháp, cũng chẳng ngoài ba. Vì trong mười như trên lại gồm nhân pháp. Nay y nghĩa khai mười giới đều ba. Lại mười thứ trở xuống là kế giải thích mười như. Mười như chỉ là Pháp Hoa thật tướng quyền thật chánh thể. Cũng là thể của xe, cũng là thể của đảo châu báu. Nay cảnh là thể cho nên phải nói. Kinh nói các pháp thật tướng tức là các pháp tướng như thế. Đã nói các pháp nên thật tướng tức mười. Đã nói thật tướng, nên mười tức thật tướng. Cho nên khiến giải nay chẳng đồng với khác. Ở tâm một niệm chẳng y cứ mười giới thâu sự chẳng khắp. Chẳng y cứ ba đế y cứ lý chẳng trọn, chẳng nói mười như nhân quả chẳng đủ. Không có ba thế gian y chánh bất tận. Nói mười như, là Nam Nhạc đọc văn đều dùng như làm câu cuối. Đại sư Thiên Thai thì y nghĩa đọc văn gồm thực hành ba chuyển: Một là dùng như làm câu, như tức là không; Kế dùng tướng tánh v.v… làm câu. Tướng tánh khác nhau tức là giả; Kế dùng thị làm câu. Như ở Trung đạo thật tướng, thị tức là trung vì mỗi giới đều có ba đế. Nghĩa tuy như thế, thường đọc nhiều y tướng tánh làm câu. Theo kệ văn nói tánh tướng nghĩa v.v… trước giải thích mười giới năm ấm mười như. Trong đó lại giải thích chung, kế giải thích riêng. Trước thiện ý chung để quán ở riêng, thì khiến nghĩa linh nhiên rất dễ thấy. Trước giải thích tướng có pháp thí hợp. Trong dụ lửa nước để dụ khác nhau. Nắm mà riêng khác nên gọi là tướng, như sắc mặt người hiện ra trước nên gọi là Tướng. Nói Hưu Thủ, là Nhĩ Nhã nói: Hưu là mình. Quang Nhã nói là mừng, phủ là ác. Mười giới đối nhau thiện ác rất dễ hiểu. Xưa Tôn Lưu v.v…, dẫn sự để chứng tướng trước hiện. Cuối Thời Hán, ba người cùng đến xem tướng. Thầy tướng thấy Tôn và Lưu có tướng làm vua bèn nói cho biết. Tào Tháo chẳng được thầy tướng nói gì, biết thầy tướng bèn vén áo bày ra, thầy tướng thấy xong thì khóc lớn. Đảnh thiên hạ bốn biển phân ba. Trà khổ thái. Đến cuối đời Hậu Hán thì ba người này quả chiếm cứ ba nơi. Tôn làm vua nước Ngô, Lưu làm vua nước Thục, Tào làm vua nhà Ngụy trước sau hai vua Hán cùng Vương Mãng mười tám năm. Lưu Huyền một năm, hợp bốn trăm hai mươi sáu năm. Cuối đời Hậu Hán thời vua Hiến Đế, Đổng Trác làm loạn, giết Thái Hậu, đốc Lạc dương năm tinh thất độ năm núi lật nhào, Thiên cẩu lưu hành, đất luôn rung chuyển. Cầu vòng trắng xuyên mặt trời, khí đỏ bay vào cung vua, thóc một hộc năm mươi muôn, đậu một hộc hai mươi muôn. Châu huyện đều quyền ủng hộ, các quan chết đói. Đến niên hiệu Kiến An một Tháo làm Tư lệ giảo úy. Tháo vốn người huyện phái họ Tao, tên Mạnh Đức. Hán Tào tham chi hậu ít nhiều cơ cảnh, có quyền số thích loài chim bay chó chạy chơi bời vô độ. Người đời chưa lấy làm lạ. Chỉ có Nam Dương hà ngung đẳng dị chi. Bổn vị phải có riêng, thầy tướng chẳng biết. Ngung gọi bào rằng: Ta thấy học trò trong thiên hạ chưa có ai như ông. Thiên hạ sắp loạn chẳng phải kẻ sĩ gánh vác thế gian thì chẳng cứu được người an được là do ông đó. Khi làm giảo úy biết Thượng thư lệnh sự, hai năm Viên Thiệu xưng Thiên tử, tám năm Tháo còn làm mục ở Ký châu, mười ba năm Tháo làm Thừa tướng, mười tám năm Tháo tự xưng Ngụy Công (vua Ngụy). Mười chín năm Lưu Bị, Lưu Chương chiếm cứ Ích châu. Bị tự là Huyền Đức, người ở quận Trác, cha của Bị thờ châu quận thuở nhỏ mồ côi, mẹ bán giày và đồ thêu mà sống. Nhà ở bờ rào gốc Đông nam có cây dâu cao hơn năm trượng. Thường thấy trên cây như có cái lộng nhỏ che xe kẻ qua lại lấy làm lạ. Có người cho rằng: Người xuất gia này có lẽ là quí nhân. Thời nhỏ đùa giỡn bảo rằng: Tôi sẽ nương cái lọng này. Con người chú bảo chớ dối nói mất dòng họ ta. Khi lớn lên chẳng thích đọc sách, chỉ thích phóng ngựa chạy chơi, nghe âm nhạc nhà trần và quần áo đẹp, cao bảy thước năm tấc, tay dài quá gối, ít nói, thương người dưới, mừng giậng không hiện ra sắc mặt. Đây là danh hiển tướng, đến niên hiệu Kiến An thứ hai mươi, Tháo giết Hoàng hậu và Hoàng Thái tử, năm thứ hai mươi mốt tự xưng vua nước Ngụy. Năm ấy, Lưu Bị tự xưng Hán Trung Vương, Tôn truyện chẳng thể ghi đủ. Tào Tháo tướng ẩn như Bát giới, Tôn Lưu tướng hiển như hai giới. Hoặc đã được Vô sanh tướng bày ra ngoài, tức như Di-lặc xa gần đều ghi. Ký xa như Bồ câu và chim Sẻ thành Phật. Trong phẩm Pháp Sư nói một câu một kệ ta đều đã thọ ký và Thường Bất Khinh v.v… kỳ gần, như Di-lặc và chín trăm chín mươi lăm Phật trong kiếp hiền. Pháp Hoa hai môn Tích Bản. Các kinh hội cuối được Vô sanh ký cho đến Nhất sanh bổ xứ v.v… Cũng như Lăng-nghiêm bốn thú thọ ký. Phật bảo Kiên Chí, ác ma ấy nay trở xuống dần dần sẽ được Tam-muội Thủ Lăng-nghiêm, cho đến thành Phật. Kiên Chí bảo Ma: Như lai đã thọ ký cho ngươi. Ma nói: Tôi chẳng tịnh tâm, sao Như lai lại thọ ký cho. Phật muốn dứt nghi cho tất cả chúng sanh nên bảo Kiên Chí rằng: Thọ ký có bốn thứ: Một là thọ ký kẻ chưa phát tâm, hoặc có trôi lăn sáu đường sanh chốn nhân gian ưa thích Phật pháp, qua trăm ngàn ức kiếp sẽ phát tâm, qua trăm ngàn ức A-tăng-kỳ kiếp hành đạo Bồ-tát cho đến cúng dường Phật và hóa chúng sanh, đều trải qua ngần ấy kiếp sẽ được đạo Bồ-đề. Ca-diếp bạch Phật rằng: Nay con đối với tất cả chúng sanh đều nghỉ đó là Thế tôn. Phật nói: Lành thay nhân giả. Chẳng nên vọng so lường chúng sanh. Chỉ có Như lai mới có thể lường biết chúng sanh; Hai là thọ ký kẻ vừa phương tiện, người ấy nhiều kiếp sẽ gieo trồng các gốc lành, ưa thích đại pháp, có tâm từ bi, phát tâm liền trụ ở Địa vị Bất thối, cho nên phát tâm mà thọ ký; Ba là mất ký (ngầm thọ ký), có Bồ-tát chưa được nghĩ rằng: Bồ-tát này chừng nào sẽ được Bồ-đề, tên kiếp cõi nước số chúng đệ tử như thế nào. Phật dứt nghi này bèn thọ ký cho, cả chúng đều biết, riêng Bồ-tát này chẳng biết; Bốn là ký vô sanh nhẫn, ở trong đại chúng hiện rõ thọ ký cho. Bốn ký trong kinh thì thọ ký chưa phát tâm là thọ ký rất xa, ngầm ký là kế xa, ký phát tâm là thọ ký kế gần, thọ ký vô sanh là thọ ký rất gần. Cho nên nay nói xa gần đều thọ ký. Nay người tu quán đều tùy thật quán chẳng theo quyền, nên chiếu mình người mười giới đầy đủ. Tánh như thế, trước trong chánh giải có pháp thí họp, tánh đã có ba, lấy tướng lệ theo đây tướng cũng phải ba, cho nên đầu cuối văn đều có ba đế. Như trong dụ dưới tu nói Toại nhân v.v… Toại là vật lấy lửa. Cõi này chưa có người chuyên lấy lửa. Sau gọi vật lấy lửa là toại. Tự Thống nói: Đêm có phong hoạch làm toại không phải chánh ý nay Trịnh Huyền nói: Kim toại là gương lấy lửa, cây toại là dùi gỗ lấy lửa. Luận Ngữ nói: Toản toại đổi lửa bốn mùa khác nhau. Đại Kinh nói: Nhân toại, nhân toản, nhờ tay, nhờ cỏ khô, bốn pháp hòa hợp mà có lửa. Văn nay nói lược chỉ nói toại nhân. Chỉ quán như dùi lửa cảnh quán như toại, trợ đạo như cỏ, vận công như tay, dứt hoặc tánh hiển như có lửa, tự mình đã trừ hoặc cũng bị người khác gọi là thiêu đốt tất cả. Thế gian trở xuống là phá khác, trước phá chung, kế phá riêng. Đây là phá chung. Từ xưa nói Niết-bàn là tông thường trụ, vì kinh Pháp Hoa chẳng nói Phật tánh thì chẳng phải Thường tông, nên nay phá đi. Lại có thầy trở xuống là phá nói riêng Pháp Hoa mười như chẳng nên phân đều nói quyền thật. Lại Niết-bàn trở xuống là dẫn văn kinh Tịnh Danh mà so sánh phá. Thể lực v.v… các ý khác nghĩ sẽ thấy. Trong giải thích nói bệnh phiền não nên v.v… là lại y cứ lực dụng bốn Thánh để nói. Nếu chuẩn chung ý, hễ kẻ có tâm đều kham nhậm dụng mười giới. Kế loại giải tức là giải riêng. Phải y cứ mười giới mà nói riêng, tướng nhiều khó thấy cho nên nói tóm tắt. Niết-bàn tức là vô dư. Pháp thô gọi là Tướng. Nói giải thoát tức là pháp lạc. Pháp tế gọi là Tánh. Người được vô dứ có thể biểu thị Nhị thừa, được pháp lạc thì tánh sẽ không đổi. Năm phần làm thể, cũng là sắc tâm dùng giới làm sắc, các thứ khác làm tên. Chia làm chi phần, năm pháp hòa hợp gọi là pháp thân, thân tức là Thể. Nói năm pháp tức là đạo đều giới, sự lý các định, vô lậu chánh tuệ hai thứ Giải thoát và Liễu giải thoát trí, rộng giải như luận. Vô hệ làm năng lực, là trạch diệt lìa ba cõi hệ. Người tu Nhị thừa thì có năng lực này. Sau đã có trong ruộng chẳng sanh. Sanh ấm ở vị lai gọi là hậu hữu. Ấm lại sanh ấm gọi là ruộng hậu hữu. Nếu vào vô dư và chỗ vô sanh thì gọi chẳng sanh. Luận nói: Bổn hữu, trung hữu, đương hữu. Đương hữu tức là hậu hữu. Vì

Vô sanh nên nói vô báo. Ruộng nghĩa là sanh. Cõi này người xưa dùng săn bắn làm ruộng, ruộng là thủ thú, thì bốn mùa khác nhau, Xuân sưu, Hạ miêu, Thu tiễn, Đông thú. Nay vì sanh năm giống lúa nên làm ruộng, xưa gọi là ruộng. Nên Nhĩ Nhã nói ruộng là đất, tức chỗ lấy năm giống lúa, tức là không có chỗ sanh báo. Đại Kinh quyển ba mươi bốn chép: Nghiệp đen thì báo đen, nghiệp trắng thì báo trắng, tạp nghiệp thì tạp báo, nghiệp chẳng phải trắng chẳng phải đen thì báo chẳng phải trắng chẳng phải đen. Chẳng phải trắng chẳng phải đen gọi là vô lậu. Ca-diếp hỏi rằng: Thế tôn trước nói vô lậu không có quả báo, nay sao nói báo chẳng phải trắng, chẳng phải đen? Phật nói nghĩa có hai: Một là vừa là quả vừa là báo, hai là chỉ có quả không có báo, ba nghiệp đen v.v… vừa là quả vừa là báo. Nhân đen v.v… sanh nên được gọi quả, hay làm nhân nên cũng gọi là báo, vì nhân vô lậu sanh nên gọi là quả chẳng làm nhân khác nên gọi là báo. Quả tức là tập quả, báo là báo quả. Từ tập nhân sanh nên gọi là từ nhân đến báo mới làm được nhân khác (vì khác làm nhân). Nay vô lậu này chỉ có quả mà không có báo. Cho nên vô lậu chẳng thọ báo sau tức nghĩa chẳng sanh ở trong loại Phật, Bồ-tát. Hỏi: Trong chung đã lấy sắc tâm làm thể, trong đây chỉ lấy chánh nhân làm thể, vì sao lại thiếu sắc. Đáp: Viên giải thích chánh nhân chỉ là sắc tâm, như khổ đạo làm chánh nhân, chẳng phải toàn tâm, huống chi tu đức tánh đức đều chẳng lìa sắc tâm. Nhân duyên có nghịch thuận, lại y cứ nhân duyên mà làm giải thích nghịch thuận. Vì nghĩa tiện nên lệ với pháp khác, thuận pháp giới nội như bốn thú v.v… nghịch pháp giới nội như Nhị thừa trước thuận pháp giới ngoại cũng như Nhị thừa chỉ vì vô minh làm duyên có khác. Khi đến giới ngoại giới nội hạnh dứt thì phải giới ngoại vô minh nhuận sanh. Nghịch pháp giới ngoại như Bồ-tát, Phật. Lại Bồ-tát nhiều loại khác nhau như ở sau nói. Nghịch pháp giới ngoại đã dùng Trung đạo làm nhân, phải biết đều lấy phá vô minh vị. Nói cách khác đến y theo đây biết là tướng tánh, thể ba thứ chỉ là ý chung nói nhân duyên. Lực chỉ là công năng của nhân duyên. Tác giả là dụ nói vận dụng của nhân duyên quả báo chỉ là tập quả của nhân duyên và quả báo mà thôi. Cho nên biết lược nói tức dùng nhân duyên làm gốc mà nói rộng thỉ chung, nên phải nói mười. Cho nên giới ngoại đều lấy phá vô minh vị. Nếu y Đại thừa ba Phật, vì Phật có Báo thân nên gọi là báo, đủ như huyền văn y cứ sau hiện đời nói chín nói mười, cho đến nghĩa dứt hết các hoặc v.v…

Lại như kinh Đại Anh Lạc quyển tám chép: Bồ-tát Tuệ Nhãn hỏi Văn-thù rằng: Tướng tốt của Như lai là có báo hay không báo? Vănthù đáp: Sắc thân của Như lai thì có báo, pháp thân thì không báo. Tuệ nhãn lại hỏi: Bỏ tham dục thì nội tâm tịnh mà được đại quả, pháp sáu độ không phải là báo vô tướng thì vì sao mà được thành pháp thân? Văn-thù nói: Pháp thân của Như lai có hay không? Tuệ Nhãn nói: Sắc thân là có pháp thân là không. Như tôi quán sát thân Như lai chẳng phải báo chẳng phải không báo. Theo đây thì phải dùng bốn câu phân biệt, nghĩa là sắc có báo còn pháp không báo. Sự vừa báo vừa không báo, lý chẳng phải báo chẳng phải không báo, cho nên chẳng đem không báo làm nhất định. Kế nói chúng sanh thế gian chỉ giả thật khác nhau, các thứ kia như trước nói. Kế nói cõi nước, phải dùng bốn cõi ngang dọc nêu lên giải thích, đủ như trong Tịnh Danh Sớ. Đó nói tùy thấy khác nhau, đây nói chỗ y đều khác. Nay luận phải phân ra chỗ ở đều khác. Nếu như Huyền Văn dụng giáo nhiều ít. Nay chỗ chưa luận cho nên Tịnh Danh Sớ bốn cõi đối nhau mười thứ khác nhau để nêu thiên khí mầu cơm khác nhau, chín thứ trước là nghĩa thế gian của văn nay: 1- Đồng cư tự khác; 2- Đồng cư và phương tiện khác nhau; 3- Phương tiện tự khác; – Phương tiện và thật báo khác nhau; – Thật báo tự khác; – Thật báo và Hạ phẩm tịch quang khác nhau; – Cùng Trung phẩm tịch quang khác nhau; 8- Cùng Thượng phẩm tịch quang khác nhau; 9- Các cõi chung đối tịch quang khác nhau. 10- các cõi chẳng phải cấu, Tịch quang chẳng phải tịnh. Chín thứ trước chính nói các cõi khác nhau, thứ mười chỉ nói thể các cõi mà thôi. Độ tuy khác chẳng khác tịch quang. Tịch quang tuy vắng lặng chẳng khác các cõi. Văn nay chẳng luận thể các cõi, vì thành nghĩa thế gian khác nhau. Ở trong Đồng cư khai riêng thiện ác. Văn nay nói mười giới sở y đều khác nhau, còn phải nói mười độ khác nhau, lại hợp sáu độ để làm thiện ác. Như giải thích mười như cũng hợp bốn đường và hợp trời người. vô lậu là cõi phương tiện. Cõi Phật, Bồ-tát nghĩa chung ba cõi. Phật thì chỉ ở thượng phẩm tịch quang. Phàm một tâm trở xuống là kết thành lý cảnh. Như chỗ giải thích trước vốn ở một tâm. Viên dung ba đế đã giải thích rồi. E người sanh mê nên lại kết khiến vào một niệm. Phải biết thân cõi một niệm. Phải biết thân cõi một niệm Tam thiên. Cho nên khi thành đạo xứng với bổn lý này mà một thân một cõi ở khắp pháp giới. Nói vô tâm mà thôi là hiển bày tâm chẳng phải không. Nói giới nhĩ, nghĩa tâm sát-na không xen hở, tiếp nối mãi chưa hề dứt mất, vừa một sát-na Tam thiên đầy đủ. Y cứ tám tướng dụ, suy nghĩ sẽ biết. Nếu đủ Tam thiên thì đủ ba đức. Cho nên kinh Kim Quang Minh quyển một nói: Y pháp thân khi mới phát tâm hiển bày tâm bất thối, tâm kim cương, tâm Như lai. Bất thối tức là tâm giải thoát, kim cương tức là tâm Bát-nhã, Như lai tức là tâm pháp thân. Cho nên biết nhân tâm mà quả thể đầy đủ. Lại giới nhĩ, giới là yếu. Thi nói giới nhĩ cảnh phước, tức là tế niệm, chỉ khác vô tâm Tam thiên đầy đủ. Cho nên Đại sư đối với Tam-muội giác ý pháp quán tâm thực, lại tụng kinh pháp tiểu chỉ quán v.v… các văn, tâm quán chỉ dùng tự tha v.v… mà quán suy ba giả, du chưa nói một niệm Tam thiên đầy đủ. Cho đến trong quán tâm luận chỉ dùng ba mươi sáu câu hỏi mà trách bốn tâm, cũng chẳng thiệp ở một niệm Tam thiên, chỉ đối với bốn niệm xứ lược nói quán tâm mười giới mà thôi. Cho nên đến chỉ quán chính nói quyển pháp, đều dùng Tam thiên làm chỉ nam, chính là nói rốt ráo cùng tột. Cho nên trong lời Tựa nói: Trong tâm tôi thực hành pháp môn có lý do, vậy xin hãy tìm đọc, tâm không duyên khác.

Hỏi: Tam thiên này là sơ tâm quán hay hậu tâm cũng quán? Đáp: Sơ hậu chẳng hai. Hỏi: Trong tâm phàm có đủ các tánh Chư Phật, Bồtát, có thể đều quán trung tâm hậu tâm, giới như dần giảm cho đến thành Phật, chỉ một pháp giới, vì sao hậu tâm cũng đủ Tam thiên? Đáp: Một nhà viên thiện. Nói pháp giới, phải nói mười giới tức không, giả, trung. Sơ hậu chẳng hai mới khác các giáo. Nếu thấy ý Quan Âm Huyền Văn thì sự lý phàm thánh tự tha thỉ chung tự tánh v.v… các ý tất cả rất dễ thấy. Văn ấy trong phân biệt Duyên Liễu có chép: Như lai chẳng dứt tánh ác, xiển-đề chẳng dứt tánh thiện, điểm một ý này các dính mắc tự nêu. Vì chẳng dứt tánh thiện cho nên duyên nhân vốn có. Văn ấy nói: Liễu là hiển liễu trí tuệ trang nghiêm, duyên là giúp đỡ phước đức trang nghiêm. Do hai thứ làm nhân, Phật có đủ hai quả. Nguyên nhân quả này vốn là tánh đức. Tánh đức duyên liễu vốn tự có. Nay Tam thiên tức liễu nhân tánh không. Tam thiên tức giả tánh duyên nhân. Tam thiên tức trung tánh chánh nhân. Cho nên nó giải chỉ biết xiển-đề chẳng dứt chánh nhân, chẳng biết, chẳng dứt tánh đức liễu nhân, cho nên biết thiện ác chẳng ngoài Tam thiên. Đó lại hỏi: Đã có tánh đức thiện, lại có tánh đức ác chăng? Đáp: Có đủ. Hỏi: Xiển-đề và Phật dứt những thiện ác nào? Đáp: Xiển-đề dứt tu thiện, chỉ còn tánh thiện. Như lai dứt tu ác chỉ còn tánh ác. Hỏi: Tánh đức thiện ác vì sao chẳng dứt. Đáp: Tánh đức chỉ là pháp môn thiện ác, nên chẳng thể dứt. Tất cả thế gian chẳng thể hủy. Như ma đốt quyển kinh đâu thể khiến cho tánh pháp môn hết. Nếu đốt ác phổ cũng chẳng thể khiến pháp môn ác hết. Hỏi: Xiển-đề chẳng dứt tánh thiện, nên sau lại khởi thiện, Như lai chẳng dứt tánh ác phải nói sau nay lại khởi ác. Đáp: Xiển-đề chẳng đạt tánh ác nên sau này lại khởi tu ác, chẳng rõ tánh thiện nên sau này lại bị tu thiện nhiều. Cho nên tu thiện là khởi được, liền lấy tu thiện mà tự tu ác, thì khiến tu ác chẳng được khởi. Phật tuy chẳng dứt tánh ác mà liễu đạt được tánh ác, mà đối với pháp ác được tự tại. Chẳng bị tu ác làm nhiễm. Cho nên tu ác chẳng khởi được cho nên Phật mãi không tu ác, tự tại dùng pháp môn ác. Nếu Xiển-đề đạt tu ác thì không khác Như lai. Cho nên biết ở thiện ở ác khéo đạt tu tánh. Ở tu chiếu tánh, dùng tánh liễu tu. Người biết điều nầy mới cùng nói tánh đức ba nhân sanh tử Niết-bàn phiền não Bồ-đề. Mười hai nhân duyên tức là ba đức. Như thế vô lượng lý đều chung. Văn ấy lại hỏi: Xiển-đề dứt thiện hết là Lê gia che chở, tất cả hạt giống là nội ngoại huân tập, lại hay sanh thiện. Thức này đã vô ký nào khác chân như. Lại hạt giống này trụ ở đâu mà chẳng sớm huân, cho nên biết quyền thuyết mà chẳng phải liễu nghĩa. Nếu có thuyết nói Phật khởi thần thông hiện ác hóa vật thì tác ý chung này đồng với chung của ngoại đạo và Nhị thừa kia, khác nhau với gương sáng mặc tình hiện hình ảnh. Như Đại Kinh quyển ba mươi hai chép: Hoặc có Phật tánh người xiển-đề có người nào có gốc lành không? Thầy xưa gọi là ác cảnh giới tánh. Hoặc có Phật tánh người gốc lành có, người xiển-đề không, Sư xưa gọi là tánh nhân duyên. Lại có Phật tánh hai người đều có, Sư xưa gọi là tánh liễu nhân. Như giải thích này cũng là ý bất liễu nghĩa của Biệt giáo nói. Nếu liễu nghĩa thì phải nói Xiển-đề gốc lành nhân đều có tánh đức mà Xiển-đề không tu thiện còn người gốc lành có, Kiến-đề có tu ác còn người gốc lành thì không, hai người đều không, chẳng có tánh bất thối vì chưa vào Sơ vị. Nêu lệ nói như tám tướng thiên vật, tướng là vật năng thiên hay sở thiên Câu-xá tụng chép: Đây gọi sanh sanh v.v… ở tám. Một có năng, tức bốn tướng bản và bốn tướng tùy, gọi là tám. Tướng lớn gọi là bản, tướng nhỏ gọi là Tùy. Vì tám thứ này nên khiến tất cả pháp thành tướng hữu vi. Nói sanh sanh, tức là tiểu sanh sanh đại sanh v.v…, đẳng (v.v v.v…) tức là ba tướng kia. Nói tiểu trụ đại trụ, tiểu dị dị đại dị, tiểu diệt diệt đại diệt. Ở tám – một có năng, là chung vô cùng khó. Cái gọi là tiểu tướng ở một có năng, năng tướng đại tướng, đại tướng ở tám có năng, tức một đại tướng khi khởi sẽ khởi với ba đại tướng và bốn tiểu tướng đều, cùng một bản pháp nên gọi là tám. Ba đại tướng kia cũng đều như thế. Cho nên tám tướng này nhìn ở bàn pháp chẳng trước chẳng sau. Tâm có đủ Tam thiên cũng giống như thế. Tam thiên như tám tướng, một tâm như bản pháp. Nay tâm trở xuống là hợp thí, một niệm còn không, ai nói ngang dọc. Phải biết trong tâm một niệm pháp Tam thiên này thật không phải ngang dọc, không phải thức là (chẳng nghĩ), không phải nói là chẳng nghĩa. Cho nên Đại Kinh quyển ba mươi ba chép: Phật tánh, chẳng gọi là một pháp, chẳng gọi là mười pháp, chẳng gọi là trăm pháp, chẳng gọi là ngàn pháp, chẳng gọi là muôn pháp. Khi chưa được Bồ-đề thì tất cả thiện ác vô ký đều gọi là Phật tánh. Văn kinh đã nói không phải một cho đến không phải muôn. Lại nói: Thiện ác vô ký tức là Phật tánh. Thiện, ác, vô ký tức là Tam thiên. Cho nên biết Tam thiên không phải Tam thiên đầy đủ ba Phật tánh. Văn sau kết thành nghĩa ba đề, đều y lý cảnh. Nếu không có lý cảnh thì y cứ gì luận đế. Hỏi: Không thể nghĩ bàn này lại chỉ thứ lớp để giải thích mười giới cùng nghĩ bàn có gì khác. Đáp: Thật ra là không khác. Tư nghì bèn làm từ tâm sanh nói không thể nghĩ bàn làm một tâm cụ mà nói dùng sanh hiển cụ, đu cần phải hỏi.

Hỏi: Trở xuống là kế nói tu đức không thể nghĩ bàn cảnh tức là tự tánh phải nói hành tướng, cho nên dùng hỏi đáp suy xét mà làm hành thể. Như lý tánh trước vốn không lỗi tánh. Y cứ tu môn nói phải nói lìa chấp. Cho nên y cứ bốn tánh để làm nêu hỏi. Nhưng trong câu hỏi này lại y cứ sở khởi đối ý tự đủ mà làm nghiên cứu. Thật ra chỉ là suy lý tâm sẳn có, vì sợ sanh chấp nên phại hạch đây. Cho nên trở xuống là đáp văn chỉ lìa bốn câu chấp cảnh như ngang v.v…, lại qui về bản tánh một niệm Tam thiên. Lại hỏi đáp này cũng gọi là phân biệt. Trước nói lý tánh. Lại nói tu cụ tức gọi suy xét mà làm phân biệt chẳng có đường nào khác. Lại lý cụ này biến thành tu cụ, mỗi tu cụ đều là lý cụ. Do đó đem lý đi tu mà phân biệt, khiến biết tu cụ toàn là lý cụ. Bèn đạt lý cụ tức không, tức trung. Cho nên cảnh mầu văn đầu Chương An phân biệt rằng: Pháp tánh tự như thế không phải do làm mà thành, như trong một hạt bụi có quyển kinh lớn, cho nên biết Chương An hiểu sâu huyền chỉ? Đáp: là song phá tánh này khác nhau ba giáo, ba giáo trước hoặc y cứ lý xa hoặc y cứ sự hành, hoặc y cứ Tục đế. Suy pháp nhân duyên, sanh tức Vô sắc. Nay đây chẳng như thế. Y cứ lý vốn không, bốn tánh chấp tướng. Phàm tình dễ chấp, y cứ chấp phá tánh. Nhờ hai luận mà phá, luận tùy giáo đạo thuận vật cơ duyên. Sợ người mê chấp quyền tức thành lỗi tánh. Cho nên nhờ phá khiến thành viên cực. Nói không mất vô minh, tức thức A-lê-da từ vô thỉ thường có, nên nói không mất. Một là mất, hằng là chẳng mất, khác nhau đều sanh và hiện hành v.v… Nếu từ trở xuống là bày các chấp nhân để thành lỗi tướng tâm thành tự tánh duyên tức tha tánh. Nếu pháp tánh trở xuống là dùng tha phá tư. Pháp tánh chẳng phải tâm chẳng phải duyên. Lại nêu chỗ chấp mà y cứ lý phá nó. Lý pháp tánh đã không phải tâm duyên. Địa do sở chấp nghĩa phải ở tâm. Pháp tánh không phải tâm, nếu cho tâm cụ, pháp tánh không phải duyên cũng phải duyên cụ, đâu được chẳng cho nhiếp luận lê-da. Đây tức phá Địa sư. Nếu nói trở xuống là dùng tự phá tha, lại lấy đạo lý mà phá sở chấp, ngoài pháp tánh không có lê-da riêng. Nếu cho lê-da y trì thì chấp pháp tánh y trì. Nếu chẳng liên quan, thì nghĩa lý đều trái. Cho nên chẳng liên quan nghĩa sẽ chẳng thành. Nếu tức là phải, thì đâu được chẳng cho pháp tánh y trì. Phá này nhiếp sư. Lại trái trở xuống là kế dẫn kinh luận bày chấp có lỗi. Kinh luận đều nói chẳng phải trong chẳng phải ngoại v.v… và chẳng phải tự tha v.v… hai luận sư đâu được đều chấp một bên. Kinh tức là văn Đại Phẩm. Cánh tựu trở xuống là y cứ dụ xét lỗi. Văn đầu trước định. Nếu y trở xuống là trưng trách. Bốn câu trở xuống là kết thành Vô sanh. Tâm dụ dưới họp. Sợ người viết lầm, trong dụ đã dùng miên và tâm đối nhau. Nay hợp phải nói tâm dụ cho pháp tánh, miên dụ cho lê-da. Mộng sự thì dụ cho sanh tất cả pháp. Nếu người ngủ cũng có lúc chẳng ngủ, thì chỉ phải đổi là ngủ dụ cho lê-da. Nếu nói người ngủ cũng có lúc chẳng việc mộng. Nay văn chỉ lấy lúc mộng làm dụ. Bốn câu suy mộng tuy chẳng thật có, mà việc mộng chẳng phải không. Nếu vì nó nói lại y bốn câu chẳng thể thuận chấp nói tự tha v.v… Tam thiên đây cũng giống như thế. Hai sự đâu được đều chấp một bên. Nhưng tuy phá chấp, nói thì thuận cơ. Sao chỉ nói Nhĩ quán cũng tùy nghi. Cho nên quán tâm luận trung quán ở một câu đều sanh ba mươi sáu pháp. Do đây đã nói phá theo chiều ngang xong. Kế y cứ phá dọc. Trước phá ngang chỉ y cứ lê-da pháp tánh xem là nội ngoại đã khác tạng Thông. Tạng Thông chỉ y cứ tâm cảnh v.v… sanh diệt. Cho đến chẳng phải sanh chẳng phải diệt đối nhau gọi là dọc. Trong đây thì dùng Tam thiên bốn chấp làm sanh, dùng bốn câu Tam thiên không thể được làm diệt. Cho nên sanh diệt này còn khác biệt huống chi là tạng chung. Cho nên biết nếu chấp lê-da và pháp tánh v.v… bèn thành nghĩa biệt. Nay muốn nói viên cho nên phải phá. Bốn câu này cũng là phòng bị chuyển chấp cho nên nói, suy vừa sanh vừa diệt đơn sanh đơn diệt bị phá chẳng sanh, cho nên chuyển chấp song cộng sanh các pháp, cho nên phái phá. Đều là chẳng sanh hai, chẳng sanh hợp, vì năng sanh. Cho nên nói tánh nó trái nhau cũng như nước lửa. Nước lửa hòa hợp cả hai đều tổn hoại, làm sao sanh pháp? Phá câu thứ tư diệt là năng sanh, chẳng diệt là sở sanh, đã nói song phi tức không năng sở, vì sao lại sanh pháp Tam thiên, vừa ngang vừa dọc. Hai trước bốn câu đơn y cứ ngang dọc đã bị phá đở, lại sợ song chấp ngang dọc năng sanh, cho nên lại thôi. Nói vừa ngang vừa dọc, là ở dọc bốn câu, mỗi câu chấp ngang. Câu đầu y cứ bốn tức là văn trước. Câu diệt kế là bốn, là nói sanh tự diệt tha diệt sanh, cộng diệt sanh, không nhân diệt sanh thư ba thứ tư y theo đây sẽ hiểu. Tướng kế đã thế thì phá cũng y theo đó mà biết. Đây là dùng ngang dệt dọc mà làm tướng chấp. Nếu nói chung thì bảo ngang và dọc mới sanh các pháp. Phá cũng y cứ mà biết. Nói chẳng phải ngang chẳng phải dọc, là đơn y cứ song chấp đã đều bị phá, liền bảo đều lìa sanh pháp Tam thiên. Câu-xá còn chẳng thể sanh Tam thiên đều lìa vì sao sanh ra pháp. Hỏi: Song phi tâm tánh tướng ấy thế nào? Đáp: Ngang đã là sanh, dọc là sanh diệt, song là chỉ là sanh là diệt, song phi chỉ là song phi sanh diệt. Tâm thể thật ra chưa kế song phi, chỉ là kế đây, nghĩa là năng sanh, cho nên phải phá. Đã chẳng thể dùng ngang dọc sanh v.v…, sanh tức vô sanh. Nói năng trở xuống là kết thành cảnh không thể nghĩ bàn. Trước tuy kết thành cảnh lý tánh rồi. Nếu chẳng suy xét nào khác chim bay trên hư không, đây tức kết thành cảnh tu đức. Đại Kinh trở xuống là dẫn chứng. Sanh này sanh v.v… bốn bất khả thuyết, ý nghĩa bao gồm. Cho nên chung dẫn chứng hai trước bốn câu đều chẳng sanh, sanh sanh v.v… văn đã thành cảnh dọc xong. Nếu chứng ngang thì sanh sanh chỉ là tự, sanh bất sanh chỉ là tha, bất sanh sanh chỉ là tự, sanh bất sanh chỉ là tha, bất sanh sanh chỉ là cộng, bất sanh bất sanh chỉ là ly. Thứ ba chỉ là đều chấp ngang dọc, thứ tư chỉ là song phi ngang dọc. Chỉ chứng một, hai tức chứng ba, bốn. Hỏi: Cảnh lý tánh ở trước và trong văn phân biệt của Chương An đều nói một tâm nhậm vận đầy đủ. Nay đây đâu được đối duyên mà thôi? Đáp: Nay đây chính thôi một niệm khởi tâm đã đủ Tam thiên, nên thôi cụ này làm tâm, làm duyên, nếu thôi khởi này khởi chẳng thật có, niệm cùng Tam thiên đều chẳng thật có chẳng được mà được ba đế rõ ràng.

Phải biết trở xuống là kết trước sanh sau. Kết trước là tự hành, sanh sau là hóa tha. Nếu Tự hành xong thì có hóa tha, nên dẫn nhiều nghĩa kết trước sanh sau. Trước y cứ hai đế. nghĩa bậc nhất đế kết trước tự hành thôi pháp chẳng sanh. Nếu thế đế là muốn vì người mà nói. Nói phải bốn câu để sanh Tam thiên, cũng là nêu so sánh. Nói có Tam thiên đâu vì người nói. Như Phật bảo trở xuống, tức trong kinh Đại Phẩm, Phật bảo Đức Nữ. Thế tôn hỏi Đức Nữ đáp. Văn đáp đều là kết trước tự hành. Phật nói có như thế là sanh sau hóa tha. Kế dẫn Long Thọ và lại dẫn Đại Kinh bốn bất khả thuyết để kết trước, vì có nhân duyên để sinh sau. Tức có nhân duyên lợi tha. Tuy bốn câu dưới giải thích các văn kết trước sanh sau, bốn câu vắng lặng giải thích tự hành trước để kết trước, từ bi thương xót giải thích hóa tha trước để sanh sau. Hoặc Thánh hoặc phàm, phàm muốn lợi tha đều phải bốn câu ngang dọc phá chấp. Bèn có thể bốn câu từ bi làm tha song đây là tha cùng hậu khởi giáo, nghĩa nó khác nhau. Đó chỉ thật báo tám tướng bị vật, phát khởi quyền thật bày khai phế v.v… Đây chỉ sơ tâm y lý sanh giải, vô tánh chấp rồi làm tha bốn nói. Cũng chung lậu vẫn ở tập quả vô sanh nhẫn vị. Bốn chấp thật phá, phó vật nói bốn. Hỏi: Trong tự hành trước phá đủ bốn tánh, nay hóa tha này vì sao đều một, đám thọ hóa lại thành tựu hành, vì sao cùng tự hành ở trước khác nhau. Đáp: bậc Thánh háo phải hợp nghi kia, người thọ thành quán thật lìa bốn chấp, nếu nó chấp tự Phật há tăng chấp mà vì nói. Ba câu kia theo đây phải biết. Hoặc làm thế giới trở xuống là chánh nói đậu vật. Y bốn tất-đàn, làm bốn câu mà nói. Tức mười sáu phen nói cảnh hóa tha. Hóa tha trùm khắp, nên nêu mười sáu. Nếu thọ giả tùy dụng một câu hoặc hai, ba, bốn trong quán tâm luận y cứ bốn tánh đều ba mươi sáu câu hỏi. Vì trách khắp nên khắp sanh pháp, vẫn lược bốn tất trực nêu tự v.v… Nay chỉ y cứ bốn tất đối với nó vẫn chung. Nay bốn trong thế giới đấu nếu nói tâm cụ tâm tức là tự, thiện tri thức tức tha. Vì thủy ngân tha hòa vàng vòng tự tức là cộng. Tự nhĩ là tên khác của vô nhân, bốn thứ này đều phải thuận nghĩa vui mừng, thành tất thế giới. Vì người trong bốn nói chỉ người tin. Tin tức là tự. Nói chỉ phát tâm, phát tâm là tự. Nếu nói thấy Phật, Phật tức là tha. Châu tự đãi tha nước trong tức là cộng. Lại tha từ gốc lành khiến ta tự thấy cũng là cộng. Chẳng phải nội chẳng phải tự, chẳng phải ngoại chẳng phải tha tức là vô nhân. Tiên ni, vì chứng bốn câu vô trước liền thuộc ở lìa, lìa tức vô trước. Nếu hữu trước thì như Tiên-ni Phạm Chí. Đối với Tiểu thừa sanh tín còn khó huống chi là Đại thừa. Đại luận quyển bốn mươi bảy nói: Nếu trong Phật pháp có trưng pháp mà có thể được Tiên ni ở trong tất cả pháp đều chẳng hề tin. Vì sao sanh tin, tin Bát-nhã Ba-la-mật, chẳng vì có tướng, chẳng vì vô tướng, chẳng chấp tướng nên trụ trong tín hạnh. Luận hỏi: Vì sao trong đây dẫn Tiên-ni? Đáp: Kinh này các thứ nhân duyên nói pháp không cho đến, không có vi tướng để được. Tâm người nghi lạ, chẳng tin lý này khó thấy. Cho nên Tu-bồ-đề dẫn trong Tiểu thừa còn có pháp không huống chi pháp Đại thừa. Luận văn dẫn ý Tiên-ni có trước tên pháp không Tiểu thừa còn khó huống chi là tin pháp không Đại thừa pháp không Tiểu thừa như trong A-hàm là Lão tử ai Lão tử. Hai thứ ấy đều so đây mà biết. Phật chỉ đều tịnh trở xuống là nói Phật ý thể tánh, tức nói tự hành hóa tha tức nhau. Chẳng ở nhân duyên v.v… tức là nghĩa đế bậc nhất. Lại bốn trở xuống là trong hóa tha là pháp đầu. Nếu vì những người mà lại y cứ dụ mà nói thể tánh tức nhau vì mù bốn nói, bối v.v… đều là đó. Như trước bốn nhân bốn là mười sáu đều nói khế với tất-đàn. Cho nên nói thấy sữa, tức người Thế đế lấy pháp kết dụ. Phải biết trở xuống là kết ý. Chẳng nói tức là im, tức là suốt ngày nói im tức nhau. Suốt ngày song phi nói nín, suốt ngày song chiếu nói nín, phá tức chẳng nói, lập tức bốn nói, lại phá tức song giá. Lập tức song chiếu, kinh luận như trước đã dẫn. Thiên thân trở xuống là lại bày bổn ý của hai luận. Trước nói lỗi, Luận chủ hợp căn cơ đều nói một môn. Luận sư đều chấp thiên hoằng thành tranh đến nỗi khiến kẻ hậu học tình thấy khác nhau. Thỉ thạch, tức như tên bắn đá, nghĩa là chẳng thể vào. Vì các chấp nên chẳng vào viên lý, như tên đá kia. Kế nếu được trở xuống là nói được. Nếu y cứ hai luận nguyên ý luận chủ và được ý tất đàn văn nay, thì bốn đều có thể nói. Theo lý đều chẳng thể nói. Tuy chẳng thể nói như mười sáu phen trước đều là tùy nghi mà nói. Nếu tùy trở xuống là đại thể của giáo môn, đậu vật tuy dùng biến thích thời ý đại thể giáo môn của Phật ra đời đều là nhân duyên hòa hợp bèn sanh các pháp. Cho nên hoặc tự hoặc tha hoặc vô nhân v.v… đều thuộc về cộng. Cho nên nay lại nói theo đại thể, nên nói vô minh pháp pháp tánh. Vô minh là pháp tăm tối, lại pháp ở pháp tánh, như đơn là thuốc pháp, lại pháp ở đồng v.v… Nhân duyên hòa hợp có thành kim dụng. Ấy thì vô minh là duyên, pháp tánh là nhân. Nói tối tăm hòa hợp sanh ra các pháp. Tự hành cũng quán nhiễm nhân duyên sanh, hóa tha thì dùng tịnh nhân duyên sanh. Tự tha đối nhau thì dùng nhiễm tịnh hòa hợp nhân duyên sanh. Lại tự hành nhiễm có trong có ngoài. Nội là vô minh, ngoại là tha cảnh. Vì nội đủ cho nên tha cảnh năng huân. Cho nên quán sở huân chỉ thấy lý cụ. Các luận giáo đạo chẳng thấy thật này tuy trong ngoài huân dùng, lập các nghĩa chủng. Chẳng rõ huân mới là ý vốn có. Cho nên hạt giống chỉ đồng minh sơ. Cho nên giáo đạo ấy chẳng phải nói chân thật. Nay quán các nhiễm tịnh này tuy khác, tức lý chẳng khác, chỉ y cứ với nhân duyên này mà thôi, nhiều thứ lớp tha cộng v.v… lý nó chẳng khác. Cho nên biết phàm suy ra pháp bốn câu, đều suy ra các pháp tánh đã hòa hợp. Do đó thôi một chí lý nhiễm tịnh duyên khởi. Nhân biên, duyên biên, đều chẳng thể sanh. Hai chẳng sanh hợp nên lý vô sanh hòa hợp còn không lìa hai đâu có. Chẳng có mà có, ba đế rõ ràng. Một tánh trở xuống là giải thích tánh phẩm. Một tánh tuy ít mà chẳng không, là duyên thành pháp sanh ra tất cả vô minh tuy nhiều mà chẳng có, là suy tánh này nên một pháp cũng không, chẳng ít chẳng nhiều. Diệu lý ở đây, là so trở xuống là giải thích lại câu trên. Chỉ pháp tánh là vô minh thì nhiều mà chẳng phải nhiều, chỉ vô minh là pháp tánh thì một chẳng phải ít. Cho nên gọi trở xuống là kết hóa tha cảnh mầu. Nếu giải trở xuống là lại y giáo thể trải qua ba

12

khoa ba thứ thế gian trước và giới như v.v… chuyên bày tướng cảnh mầu ba đế. Tuy trước y cứ thức tâm đến đây lại kết chung thành ba đế, biết ấm đều là cảnh mầu. Trước một tâm trở xuống là chánh nói tâm trước tạo các pháp. Một ấm trở xuống là năm ấm trước, một nhập trở xuống là mười hai nhập trước, một giới trở xuống là mười tám giới ở trước. Ba khoa tức là năm ấm thế gian một chúng sanh trở xuống tức là chúng sanh thế gian trước, một cõi nước trở xuống là cõi nước thế gian trước, một tướng trở xuống là ba xứ như trước. Nếu pháp tánh trở xuống là dùng giáo thể ý kết trước đã trải thành ba đế. Văn đầu tức là kết thành ba đế. Như thế trở xuống là so sánh. Nếu một pháp tất cả pháp trở xuống là kết thành ba quán. Một không tất cả không trở xuống là giải thích hướng ba quán thành tướng chung. Chẳng phải chỉ không (không ngơ) không cũng chẳng giả trung. Giả trung cũng như thế. Nếu Tịnh Danh Sớ cũng nói tướng chung là tướng ba quán thì khác với ý này. Cho nên văn đó nói: Có ba thứ ba quán: Một là Biệt tướng, tức là Biệt giáo; hai là Thông tướng cũng là tổng tướng, nói giống văn nay mà ý lại khác. Nó chỉ là ý chung tướng trong bộ Phương Đẳng. Như phẩm quán chúng sanh v.v… ba quán, tuy không ba quán, vẫn khác. Như Phật đạo là giả, vào môn không hai là trung. Ý nó cũng như thế; Ba là một tâm ba quán chánh đáng là tổng nay. Nếu nhân duyên trở xuống là kết thành ba trí. Lệ trên dưới tức là dùng quyền thật mà so sánh ba quán. Cũng phải như trước đối ba pháp xong kế nói tướng chung. Cho nên nói một quyền tất cả quyền. Nếu tùy trở xuống là kết thành ba lời, là hay nói tiếng lời thành giáo để bị vật. Cho nên dùng ba chỉ quán giáo như tiệm v.v… mà kết. Cho nên nói đều tiệm v.v… vì thế biết chỉ quán này tức là ba lời, tùy tha là tiệm, tùy tự là đốn, tùy tự tha là bất định. Trong đại ý trước ở một viên đốn mà kết bày ba tướng chỉ quán. Nay trong cảnh mầu thâu ba chỉ quán đồng một viên đốn. Cho nên dùng ba hội này ở ba quán và ba lời v.v… Vì có giáo nên khiến thú nhập. Cho nên dùng ba đường mà đối ba giáo, hợp chẳng thật có và thú phi thú làm đốn. Đối với tất cả pháp khai đối tiệm và bất định cho nên thuộc về giả. Trước mỗi văn đều, trước là chánh kết, kế là so sánh các pháp. Chỉ ba đường này thiếu so sánh các pháp thử đẳng trở xuống là hội dị, không thể nghĩ bàn này chỉ là cảnh mầu vì sao lại nói cũng là ba quán, cho đến ba đường v.v… cho nên lại hội nó. Cảnh mầu chẳng khác được danh xứ khác, danh xứ tuy khác, nhưng đồng qui một lý. Quĩ (khuôn phép) chỉ là pháp, dùng khuôn phép khiến đầu cuối chẳng đổi, nên gọi là pháp. Pháp là chỗ chiếu nên đặt tên Đế, ba quỉ phát ra nên đặt tên quán. Trí nhìn ở quán nhân quả bèn khác đồng là chỗ phát ra. Chỗ phát thành quả nên có thể giáo tha, giáo tha nhưng chưa từng chẳng đồng với pháp. Giáo tha đã đủ, tự tha qui tông, gọi đó là thú. Các thứ trở xuống là khuyên răn. Như châu như ý trở xuống là nêu thí dụ để dụ về cảnh. Văn trước dùng Tam thiên v.v… nói riêng lý tánh cho đến mười giới riêng gồm quyến thuộc. Văn trước tuy dùng tám tướng làm dụ. Riêng vì phá tâm pháp trước sau. Tuy có mộng dụ riêng vì phá bốn câu chấp tánh. Cho nên nay chánh dùng châu mà dụ cảnh mầu, tức thídụ chung từ trước nay về lý tánh tự tha ngang dọc và kết thành v.v… Nay nghĩa châu là nghĩa thiên bậc nhất, là lý thể thiên nhiên, tức là của báu tốt nhất. Tánh không tạp nhiễm gọi là Tịnh, đều là Phật pháp nên gọi là diệu ở một sát-na nên nói giới túc (hạt cải hạt lúa). Đại luận chép: Xá-lợi-phất xưa giống như hạt cải hạt lúa, hay đủ tự tha diệu quả Bồ-đề gọi là đại công năng. Châu trong mưa chẳng thêm người, muốn sanh tất cả nguyện. Theo mong cầu nên gọi là dục, dục chẳng ngoài năm nên nêu chung năm. Lại lý vì bốn hoằng là cảnh sở duyên nên gọi là mong cầu. Bảy báu là vàng, bạc, lưu ly, xà cừ, mã não, san hô, hỗ phách. Báu chẳng ngoài bảy thứ này nên đều nêu. Tức là dụ cho đà-la-ni Vô Tác Phẩm Bảo Cự. Chân bảo (ngọc thật) gọi là lâm, tự bảo (giống như ngọc) gọi là lang. Có người nói là lang can cầu lâm đều gọi là đá giống ngọc. Nay lại y hai báu chân tợ trước đều sanh từ châu tức hai môn chánh trợ chẳng ngoài lý. Chẳng phải tự tánh nên chẳng phải nội súc, chẳng phải tha tánh nên chẳng phải từ ngoài vào. Đã lìa tự tha, tức không cộng ly. Cho nên chỉ hai câu chẳng nói ba, bốn. Từ chẳng mưu trở xuống có dụng tha hóa. Chẳng phải tung nên chẳng mưu trước sau, chẳng phải ngang nên chẳng phân biệt nhiều ít. Mặc tình bày hóa nên gọi là chẳng mưu. Xứng cơ bày đậu nên gọi là chẳng phân biệt. Tuy năm vị khác nhau mà bí mật bất định. Cho nên tung mà chẳng tung. Tuy các giáo khác nhau mà thích thời thêm bớt, cho nên chẳng phải nhiều chẳng phải ít, hoặc cơ hoặc ứng đều chẳng phải quyền chẳng phải thật. Cho nên nói chẳng làm thô diệu, gặp duyên liền hiện. Cho nên nói xứng ý phong kiệm, nhiều gọi là phong, ít gọi là kiệm. Ích vật chẳng cùng cho nên mưa xuống tràn đầy. Tràn đầy là phước. Cho đến y chánh châu cũng mưa. Đại Kinh nói: Mưa pháp vô thượng mưa xuống ruộng thân ông, chẳng phải (xưa) không nay mới có, cho nên chẳng thêm, chẳng phải (xưa) có nay không cho nên chẳng bớt. Hoặc tự hoặc tha đều chẳng ngoài ba đế. Hai dụ dưới thì nghĩ rất dễ hiểu. Đơn nêu sự dụ ý rất dễ thấy. Cho nên đối thẳng lý để nói thể dụng. Châu là sắc pháp thế gian y cứ cảm được, còn có thể như thế huống chi cảnh tâm thần không thể nghĩ bàn. Cho nên Đại luận quyển mười một nói: Châu này tùy niệm sanh ra bốn việc và âm nhạc v.v… Kế y cứ ba độc làm thí dụ nói nhất định có, nhất định không v.v… nhất định có là đã đủ, nhất định không là thiếu hẳn. Nếu nói đã có như trong kho có đầy vật, nếu nói mãi không như trong cát không có dầu, cho nên đều chẳng thể. Kế mộng dụ làm ba, trước là nêu chung việc mộng, việc mộng như ba ngàn, bỗng ngộ như một niệm, chưa ngủ như pháp tánh, pháp tánh chẳng phải không như chẳng giác (thức), pháp tánh chẳng phải có như chẳng mộng. Chẳng mộng nên chẳng phải nhiều, chẳng giác (thức) nên chẳng phải một. Vô minh ngủ nên gọi là nhiều, quán một niệm nên gọi là ít. Vô minh cùng một niệm chẳng ngoài pháp tánh. Cho nên chẳng nhiều chẳng ít. Trang Chu Mộng dụ cũng giống như thế. Vô minh như bướm mộng, ba ngàn như trăm năm, một niệm không thật cũng như chẳng phải bướm ba ngàn cũng không như chẳng phải nhiều tuổi. Vô minh trở xuống là dùng dụ thiếp hợp. Văn hợp cũng lược vô minh pháp pháp tánh hợp mộng bướm, một tâm tất cả tâm hợp trăm năm, hiểu được vô minh tức hợp pháp tánh tỉnh dậy biết chẳng phải bướm. Tất cả tâm một tâm hợp chẳng phải nhiều năm. Nói v.v… dài chẳng phải dài, nên mộng chẳng phải mộng, ngắn chẳng phải ngắn cho nên thức chẳng phải thức. Cho nên dùng tâm tánh làm cảnh không thể nghĩ bàn. Luận ấy tề vật một mộng là ngắn mà chẳng phải ngắn, trăm năm là dài mà chẳng phải dài. Nay mượn dụ cho diệu cảnh, lý hơi chung. Nếu đều là sơn hào v.v… là điêu hạc sợ chưa thể được, đủ như luận xung phạm thí cùng Tịnh Thái nói về Tề Vật. Thí bị thua, vì Tề Vật vô lý. Kế người An lạc hạnh mộng dụ sánh mộng Trang Chu, ý cũng rất dễ hiểu. Nếu tin trở xuống là khuyên tin. Nói ba dụ: Một là châu như ý, hai là ba độc, ba là ba mộng. Không phải miệng làm nên chẳng bàn, không phải tình làm nên chẳng nghĩ. Tin ba dụ này tức tin cảnh một niệm không thể nghĩ bàn. Không thể nghĩ bàn này trở xuống là nói công năng của cảnh. Y theo đây phát thệ trở xuống là nói lệ chín pháp kia đều đầy đủ. Do cảnh mà nói thì trở xuống là thâu nhập một tâm làm cảnh quán chung. Như trước đã nói sự lý tự tha đều ở một niệm. Nói đã như trên, làm không trước sau.

Kế nói phát tâm. Trước khởi chí lớn, hẹn chỗ đến gọi là Phát. Chẳng y theo giáo đạo là Chân, y ba đế lý gọi là Chánh. Bồ-đề là quả hẹn y cứ, cảnh mầu tức là đường phải đi. Tâm tức hữu tình, hay làm hay đến. Vì từ vô thỉ đến nay thường đuổi theo trần nhiễm chẳng biết vô duyên thể trùm khắp pháp giới. Chỉ theo chấp vọng ngã. Nay y Thánh

12

giáo, từ mê trái mê nên gọi là Phát. Chế lự trì này khiến trên cầu dưới hóa, lại gọi là phát. Trong đây văn bốn nghĩa chỉ có hai. Đó gọi là từ bi ý ở cự quả. Nếu từ lợi tha ý ở ích khắp. Hỏi: trước phải khởi thệ, sau quán cảnh mầu, vì sao cảnh sau mới gọi là phát tâm? Đáp: Cảnh trước đều là phát tâm, đủ như trong ý năm lược. Nay phát lại làm thành quán nên phải duyên lý lợi ích người. Ở trong đó trước bi, kế từ, nếu từ danh tiện thì phải trước từ kế bi. Nay lạu từ hành tiện nên trước bi kế từ. Ắt trước lìa khổ mới cho vui, nên lý không trước sau. Văn lại gá việc. Trong giải thích bi, trước nói thệ cảnh, trong đó trước nhắc lại chung diệu cảnh ở trước nên nói một khổ tất cả khổ. Hai khổ khổ tập đều gọi là khổ, nghĩa thuộc mười giới chỉ ở một niệm, cho nên nói một khổ tất cả khổ, chẳng nói diệu cảnh một niệm ba ngàn. Làm sao biết được một nhiếp tất cả, ba ngàn chẳng ngoài một niệm vô minh. Cho nên chỉ có nhân khổ quả khổ. Do biết vô minh chỉ là pháp tánh, cho nên khởi bi. Từ bi trở xuống là trải cảnh tư duy làm lý do khởi thệ. Cũng trước nhờ thứ lớp mới hiểu Cảnh mầu. Văn trước tức là từ xưa đến nay khởi nhân Ba đường. Luân hoàn trở xuống là nói nhân Ba đường chiêu vời ba quả ác. Mà nay trở xuống là đời nay lại khởi nhân Ba đường tập của ba cõi cũng chẳng ngoài hai tâm si ái, luôn là chỗ lầm, dụ như tằm dụ như ngài. Trăm ngàn trở xuống là kinh sợ. Nếu trở xuống là nói không có đạo diệt, chỉ có trời người, nếu bảo giả lập thường ở trong trôi lăn, dù cho muốn bỏ chỉ ham giới thiện, chẳng cầu vô lậu gọi là tướng tâm, như chợ dễ đổi, đều dụ nghịch lại tướng phước càng tội. Nếu tu tướng phước sẽ được vui trời người, thay khổ Ba đường. Lại do vui này đổi khổ Ba đường được vui trời người. Đỗ Diên Nghiệp nói phước có năm thứ: Một là thọ phước (sống lâu); hai là phú phước (giàu có); ba là khang ninh phước (mạnh khỏe); bốn là du hảo đức phước; năm là khảo chung mạng phước (ông cha sống lâu). Đây là tục Nho chỉ biết có phước mà chẳng nói chỗ cảm, cũng chẳng nói phải răn để làm thọ phước khí. Vì phước nhiều nên vời tội cũng nhiều gọi là lại ích. Cái nôm là đồ bắt cá. Tướng tâm như cá như thiêu thân, tướng phước như nôm như đèn. Tướng tâm cảm quả như vào như đến, tình tưởng hư cấu gọi là cuồng kế (chấp điên) không phải tuệ xuất thế gọi là Tà Hiệt. Du là vượt, càng kiết tập đã dày gọi là càng mê, mời khổ ắt sâu gọi là càng xa. Tâm tham ái thiếu nước chân lý nghĩa như khát. Lại tướng tâm tu phước làm nhân năm dục như lại uống nước mặn càng nhiều sanh tử, như càng khát nước. Kế nói Tổn Đạo. Có phước tướng như rồng mà có da trâu. Ba thứ Giới định tuệ như thân như thể, có tướng tâm tu như cột như trói, được quả trời người như nhập, như hướng, bỏ đọa Ba đường như cứng chắc càng đau. Cho nên Đại luận chép: Phàm lợi dưỡng như rồng bị trói buộc thân ở dưới nước, trước tổn da giới, kế tổn thịt định, sau tổn xương tuệ. Nay do tướng phước mà được lợi người trời, mất ở ba học cũng giống như thế. Vô minh như mù, giới thiện như vào, chiêu cảm quả báo như ở rừng gai góc, có tướng tâm tu cũng như chẳng chắc tướng phước có được cũng như chết chìm, sanh tử khó ra cũng như lội ngược nước. Bả nhẫn trở xuống là than không có đạo diệt, một mảy may Thiên bổn đến Bồđề, như cầm dao cầm đuốc phải nắm cán. Nếu dùng tướng tâm như nắm dao ôm lửa, nhìn thấy tướng tâm sanh tử khổ tập như đạp phải đầu cọp đuôi rắn v.v… Tủng là kinh sợ điệu là thương tiếc, lật là run sợ. Vì tiếc sợ nên phải khởi thề, kế là thường mình thương người. Trong văn chê phàm phu sanh tử cũng chê cả sáu độ Nhị thừa. Cho nên dưới kết rằng nay thì chẳng phải ngụy, chẳng phải độc. Bồ-tát Ba tạng gọi là Tạp độc, Nhị thừa sáu đường gọi là ngụy. Cho nên trước phân biệt chẳng phải chín lược một thoát đều gọi là phi. Phi tức là ngụy, dù cho trở xuống là nói chỉ có một thoát, Nhị thừa nhân quả cũng thành thệ cảnh. Tam Tạng cảnh quán chẳng thể tức sự gọi là dật lộ. Cho nên Đại Kinh quyển hai nói: Thanh văn Duyên giác cũng như (đường hẹp) chẳng thể hai người cùng đi. Sắc và không tức nhau nên gọi là cùng. Diệt sắc còn không, nên nói chẳng cùng, diệt, không của sắc gọi là dật lộ. Tu hạnh Bồ-tát nghĩa như công hành, (trái bỏ) sanh tử nghĩa như vốn xuất phiền não sanh tử làm tổn hại Niết-bàn. Cho nên như (kẻ thù). Ba cõi đều là chỗ ở của sanh tử, gọi là oan quốc. Biến khắp năm đường gọi là trải đủ, ba cõi không an gọi là tân khổ, mất nguyện Bồ-đề gọi là dứt hết. Lại phát chí nhỏ gọi là sống lại. Bỏ cha Đại thừa gọi là (đi), năm trần cầu giải như đến thôn nghèo, trừ phân phiền não, cầu tiên trí tuệ gọi là làm thuê. Sanh tử là đêm, Niết-bàn là ngày chỗ nghỉ Tiểu quả gọi là am cỏ, chưa phát đại tâm gọi là chẳng chịu tiến lên, việcng độ phá hoặc gọi là Bỉ sự. Chẳng tin v.v… là do thương tiếc. Do người Nhị thừa bỏ đại theo tiểu cho nên thương tiếc. Phương Đẳng về trước chưa khỏi sanh bác bỏ bai gọi là chẳng tin. Phương Đẳng tuy nghe nhưng không hiểu không làm gọi là chẳng biết. Cho nên Ca-diếp nói: Cũng như người mù chẳng biết phân biệt hoặc nên đáng thương. Chẳng biết phân biệt, lý rất đáng quái lạ. Lại rất đáng thương nên gọi là quái lạ tư duy trở xuống là chánh nói (buồn) thương, thương mình thương người. Tư duy là bắt đầu của hoằng thệ, ngạnh tấcg là bi nguyện tập thành. Ngạnh là xương cá mắc trong cổ họng. Đó là tướng rất đau đớn.

PHẦN 4

Tức khởi trở xuống là chánh nói khởi thệ. Trước chúng sanh khởi thệ đầu, kế y cứ phiền não khởi thệ chấp. Hoặc mình hoặc người đều duyên cảnh trải vô thỉ. Cho nên đều y cứ sự để nói bi tâm và luận phát thệ, đều phải duyên lý. Cho nên các thệ sau đều y cứ ba đế. Ba đế lại phải mượn riêng hiển chung. Từ thệ dưới so sánh đây sẽ biết. Kế chúng sanh trở xuống là chánh nói tướng thệ, cũng nhờ thứ lớp để nói chẳng thứ lớp. Văn đầu tức là tướng quán không thệ. Kế tuy biết trở xuống là tướng quán giả thệ. Kế tuy biết trở xuống là tướng trung quán thệ. Mỗi tướng quán đều có hai thệ. Thệ nguyện đã rộng khổ tập cũng dài. Vì sao trở xuống là lại giải thích tướng thệ, gồm bác bỏ thiên tiểu. Trước bác bỏ ba tạng, kế nếu thiên trở xuống là bác bỏ độn căn Bồ-tát của Thông giáo, kế nếu thiên kiến trở xuống là bác bỏ Biệt giáo giáo đạo, cũng gồm xuất giả Bồ-tát của Thông giáo. Chưa được chân ứng cũng đồng kiến ái hai quán cũng là bị vô minh buộc ràng gọi là chẳng giải thoát. Nay thì trở xuống là hiển chánh, trước là pháp, kế là dụ. Trong pháp chánh nói Trung đạo cho nên song phi độc ngụy. Độc ngụy là như trước đã giải thích. Kế trong dụ bay trên hư không mà chẳng trụ không là dụ tức không mà giả, tuy chẳng đứng đi là dụ tức giả mà không. Tuy không mà độ trở xuống là hợp thí. Độ là giả, tức là không giả chẳng hai. Cho nên trở xuống là lại dùng đấu không thiếp hợp dụ trước. Kế nói từ thệ. Cũng trước nói thệ cảnh. Trong cảnh cũng trước nhắc lại chung lạc không thể nghĩ bàn của diệu cảnh ở trước. Hai đế đạo diệt đều gọi là lạc. Nghĩa nhiếp bốn giáo, chỉ ở một niệm. Cho nên nói một lạc tất cả lạc, chẳng nói diệu cảnh ở một niệm ba ngàn. Làm sao biết được một nhiếp tất cả, ba ngàn chẳng ngoài một niệm pháp tánh. Cho nên chỉ có lạc nhân lạc quả. Do biết pháp tánh chỉ là vô minh, cho nên khởi từ. Ngã và chúng sanh trở xuống là nói riêng thệ cảnh nói không có đạo diệt. Nói xưa tuy đẳng, là chỉ cầu lạc của trời người Nhị thừa nói không có diệt. Mà chẳng biết phát tâm Bồ-đề không có đạo. Trong bị thệ ở trước nói: Không đạo diệt nghĩa gồm ở đây. Cho nên văn này lược chỉ nêu dụ rằng: Như cầm ngói gạch là dụ chẳng biết diệt, vọng chỉ ánh sáng đom đóm là dụ chẳng biết đạo. Vọng tức là thế gian và tiểu nhân quả vì cho là thật. Nay mới hiểu trở xuống là chánh y cảnh phát thệ. Trước y cứ Đạo Đế mà khởi thệ đầu, kế y cứ diệt đế mà khởi thệ kế. Tuy biết trở xuống là kế nói tướng thệ, cũng mượn thú đệ để nói bất thứ. Văn đầu tức là quán không tướng thệ, kế tuy biết trở xuống là quán giả tướng thệ. Kế tuy biết trở xuống là trung quán tướng thệ. Vẽ không trồng cây đều là văn Tư ích, trong văn Trung quán, pháp môn là nêu thệ đầu, quả Phật là nêu thệ kế. Không phải tu v.v… là giải thích thệ đầu, không phải chứng v.v… là giải thích thệ kế. Thể Trung đạo tuy không phải tu chứng cũng có thể tu chứng. Cho nên phát thệ vì mình vì người. Đó gọi trở xuống là hiển chánh. Trong đây Viên giáo chân chánh phát tâm, phải y cứ ba giáo để phân biệt độc ngụy. Nói về chẳng phải không và chẳng phải ái kiến, Bồ-tát Tam giáo chưa chứng Trung đạo gọi chung là độc. Hai giáo Nhị thừa và tâm chín phi gọi chung là ngụy. Hai giáo Nhị thừa cho đến nhập không Bồ-tát của thông biệt đều gọi là không. Ba giáo xuất giả gọi chung là Ái kiến. Tứ mới phát tâm thường quán Trung đạo. Cho nên chẳng bào giờ đồng độc ngụy không giả. Như thế trở xuống là kết thúc. Trước nói nguyện cùng cảnh trí tức nhau. Kế từ bi trở xuống là nói trí tuệ và từ bi tức nhau. Trí chỉ là giải. Y cảnh sanh giải, y giải khởi nguyên. Cảnh là sở duyên, thệ là năng duyên. Lấy vô duyên từ bi mà duyên cảnh không thể nghĩ bàn, cảnh gọi là vô duyên, thệ gọi là vô niệm. Vận từ bi này khắp che pháp giới. Cho nên hay mặc tình cứu khổ, tự nhiên cho vui. Khác nhau trở xuống là lại chê chung thứ lớp từ bi ở trước. Hai văn trước sau tuy đều bác bỏ xong. Nay hai văn rốt lại chê chung. Đó gọi trở xuống là cũng kết chung. Nghĩa chẳng khác trước cho nên lại chỉ trên. Trong đây phải nói đủ là từ bi, nói lẽ bi là tùy tiện lời mà thôi. Lại bốn hoằng này lại giúp nhau. Một niệm đầy đủ không trước không sau. Đủ như thứ một và các văn sau v.v… quán tâm là y cứ nhất niệm tâm bốn đế vô tác, mượn hoằng thệ lược nói quán tâm cũng có thể hiểu, như tướng thệ trước tức là tướng ấy.

Ba là nói an tâm. Văn đầu là giải thích tên, khéo dùng pháp tánh tự an tâm mình, cho nên nói an tâm. Trên đạt sâu dưới kết trước sanh sau. Đã tự đạt cảnh mầu, kết chánh cảnh trước sâu. Cho nên nói sâu kín.

Kế bác vận trở xuống là kết hoằng thệ trước rộng. Cho nên nói hằng cái bác quảng. Quốc ngữ nói: Đông tây gọi là quảng, Nam bắc gọi Vận, tức ngang khắp. Hằng cũng là khắp. Cảnh nhiễm các pháp đều ngang rộng. Y lý phát tâm đều dọc sâu. Lại mượn sự lý mà giải thích tên làm tiện. Chánh cảnh là lý lý sâu, từ bi thuộc sự sự rộng, đủ như trước nói. Cho nên nói như thế. Tuy có sự lý chỉ là không nguyện. Từ phải làm trở xuống tức là sanh sau. Nếu chẳng an tâm không có chỗ ghi khắc. Cho nên kế chánh nguyện mà nói an tâm. Trong cảnh Diệu trước một niệm đầy đủ bốn đế vô tác, cho nên trong bốn hoằng y vô tác đế mà phát hoằng thệ. Nay lấy năng an mà an sở an. Năng sở xứng nhau gọi là diệu hạnh. Tâm đã rộng lợi vật mà làm tròn thệ đầu. Muốn lợi chúng sanh trước phải dứt hoặc mà làm tròn thệ kế muốn lợi chúng sanh lại phải tập pháp mà làm trọn thệ thứ ba, phần phần chứng thật mà làm trọn nguyện thứ tư. Đến vị rốt ráo bốn thệ mới tròn. Nếu thế từ an tâm này cho đến chánh trợ gọi chung là ruộng nguyện. Nếu (hiểu) vô hạnh thì gọi là người (chết oan). Như kinh Thí Dụ nói: Như có một mẹ hai con, một tập bơi giỏi, hai không học bơi đứa không học bơi té xuống nước mà chết. Bà mẹ chẳng khóc. Đứa có học bơi té xuống nước mà chết, bà mẹ khóc lớn người hỏi bà đáp: Biết bơi mà chết gọi là chết oan cho nên phải khóc. Nguyện như học bơi, vô hạnh như chết. Đại Văn có hai: Trong đó trước nói chung an tâm, kế nói riêng an tâm. Chung riêng đều là y vào cảnh diệu. Vì tùy người nên chung riêng khác nhau. Hoặc nặng quán yếu nên phải tùy sự. Cho nên khiến hành tướng hoặc tín hoặc pháp, bốn tất hồi chuyển, người chẳng thấy. Liền ở riêng an mà sanh dị chấp thì mất đại sư có khả năng hợp nghi. Trước trong am chung chỉ là chỉ quán. Trong đó trước lại nói pháp thể, xem là sở an. Pháp thể là gì? Tức là cảnh mầu. Trước pháp, kế dụ. Trước pháp là chỉ cho vô minh, tức là pháp tánh chỉ pháp quán tánh chẳng quán vô minh. Cho nên Đại luận quyển sáu mươi chín chép: Nếu dùng thường và vô thường mà cầu là đều lầm. Nếu vào pháp tánh thì không lầm. Quyển chín mươi mốt nói: Pháp tánh tức thật tướng, thật tướng chỉ là pháp tánh. Như lạnh đến trở xuống là thể nên thí dụ, lạnh là dụ cho vô minh, nước là dụ cho pháp tánh. Vô minh pháp tánh gọi là lạnh kết nước miên (ngủ) che lấp tâm y theo băng nước mà nói băng vốn là nước, mộng chẳng khác tâm. Nhờ sự dẫn mê nói là che là kết. Kim đương trở xuống là kế bày năng an chỉ quán mà an pháp tánh, quán vô minh trước chỉ là pháp tánh. Như làm chảy băng thành nước giác (thức) là không có ngủ vô minh. Trong đó trước chỉ kế quán. Trước y cứ nói dụng của chỉ. Như tuyền trở xuống là nêu thí dụ. Chỉ tin lửa mà chẳng tin luân, chẳng tin trở xuống là hợp, dùng pháp tánh mà niệm pháp tánh. Văn giống như quán chỉ thành nghĩa chỉ, hệ nó và niệm đều chỉ pháp tánh. Thể đạt trở xuống là chỉ thành tướng. Quán giả trở xuống là kế nói dụng của quán. Thí dụ như ba thứ lửa – không – nước cùng dụ cho quán. Lửa kiếp sơ, kiếp như đã giải thích trước ba tai, lược như trong giải thích chung mười cảnh đã nói. Hư không tạng, Hải Tuệ hai vị này là Bồ-tát trong kinh Đại Tập. Kinh ấy rộng nhóm hợp mười phương Chư Phật các Đại Bồ-tát dừng trên hư không của hai cõi Dục và Sắc, nên gọi là Đại Tập. Bồ-tát này muốn đến ở trong chúng hội mà hiện tướng này. Bồ-tát đều từ đức đặt tên, cho nên vào chúng hiện tướng cùng tùy đức ấy. Sở dĩ không tạng hiện không, hải tuệ hiện nước đều chẳng thấy, đại chúng chỉ thấy không và nước. Tu quán cũng như thế, ngoài pháp không có pháp. Giới nhĩ trở xuống là nói quán thành tưởng đều kết hai không. Cũng trước là pháp, kế là dụ, sau là hợp. Trước pháp nói giới nhĩ, là không phải duyên vọng cảnh chỉ sanh một niệm, nghĩa là quán ta thành gọi là giới nhĩ. Giới là trợ, trợ là niệm yếu ớt. Niệm này khi khởi thì niệm và người niệm, tùy niệm liền mất, gọi là tánh không, không chẳng tướng không gọi là chẳng thật có, tức là tướng không. sở niệm gọi là pháp tánh, người niệm là giới nhĩ. Trong đây lại chỉ quán hạnh chưa nói vào chân. Như trước trở xuống là nêu thí dụ. Năng sở đều đốt cháy, có thể dụ cho mất năng mất sở, năng không cũng không. Pháp giới rỗng sáng trở xuống là hợp. Chẳng thật có cũng chẳng thật có. Chỉ chỉ là trở xuống là nói chỉ quán thể một tức chẳng hai mà hai, vắng lặng chiếu chẳng khác. Cho nên nói chỉ chỉ là trí. Vì khiến trở xuống là văn biết an rất dễ hiểu. Cho nên nay dụ nói tướng khác của chỉ quán. Cho nên biết trong đây khác mà chẳng khác. Văn dưới trong khác, chẳng khác mà khác. Bất động trở xuống là lại giải thích tức nhau. Trước nói chỉ tức là quán. Bất động trí trở xuống là nói quán chỉ là chỉ. Bất động trí chiếu pháp tánh trở xuống là cùng nói chỉ quán đồng chiếu pháp tánh. Chỉ quán được pháp tánh nên gọi là an. Cho nên nói quán trí được an cũng là chỉ an bất động ở pháp tánh ở dưới lại tức là phú thích. Câu trên quán an nên chỉ an, trong đây chỉ an nên quán an, đều do pháp tánh, cho nên không hai không khác. Cho nên kinh Kim Quang Minh một nói: Y pháp thân đại trí đại định. Pháp thân tức là pháp tánh. Trí định tức là chỉ quán, tức là pháp giới hệ duyên một niệm. Nếu đều chẳng an trở xuống là muốn nói biệt an. Ý riêng của tựa trước đều nói chỉ quán, đều chẳng được an, thì đều chẳng đúng. Tuy dùng pháp tánh để an tâm mình, mà càng thêm tối tăm tán loạn. Đã đều chẳng an là vì sao hỏi sanh sau khác phàm tâm thần trở xuống là muốn nói biệt an, trước nói tướng bất định là lý do của biệt an. Mờ tối là quán chẳng an. Cái thoi đi nhanh) là chỉ chẳng an. Địch mạnh trở xuống là dẫn việc để tả tình huống tướng chẳng an, nói sự phải nói. Lế nói: Biết thiên văn là chim. Thuyết Văn nói: Chim nước biết được trời mưa. Tối tăm tán loạn như định mạnh, quán kén như sức yếu. Việc ở thời Lục quốc, sáu nước Hàn, Tề, Sở, Ngụy, Yên, Triệu cùng nước Tân là bảy hùng. Triệu đánh nước Yên, Tô Đại là Yên bảo vua Triệu rằng: Nay thần từ ngoài đến gặp chỗ nước cạn có con trai mở miệng, con còn liền mổ thịt. Con trai khép vỏ lại giữ chặt mỏ cò. Cò nói: Nay chẳng mưa, mai chẳng mưa sẽ thấy trai chết. Trai liền bảo: Nay chẳng có mặt trời, mai chẳng có mặt trời sẽ thấy cò chết. Cả hai đều không buông tha. Có ông già đánh cá đến bắt được cả hai. Nay Triệu đánh Yên, Yên Triệu đánh nhau chỉ gây hại cho dân chúng. Thần e cường Tần là ông già đánh cá. Nên xin Đại vương liệu tính kỹ. Vua Triệu bèn thôi. Nay Văn chỉ lấy nghĩa tương ách mà không dùng cường bạo để tiện ý phàm dùng sách tục chỉ lấy một phần nhỏ không phải toàn ý. Như chung tu chỉ quán mà không phải nói chỉ thêm tối tăm tán loạn. Chẳng thể thường trái với tối tăm tán loạn, phải thề dùng biệt an để phá tối tăm. Như Tô nói Triệu, phải tuẫn mạng, là chung bày nghi sự an. Sanh từ từ (đem sống đem chặt) nên gọi là Tuẫn. Như thời Ngụy có người đào mã của Chu Vương có chôn vơ con theo. Nay quyết chết chứ chẳng bỏ tinh tấn. Tiến là hiến, cơ là bì, dù cho da xương nêu hết cũng hết mình thờ đạo. Chuyên tu chỉ quán thề chết chẳng bỏ bền chí biệt an để khiến nhập phẩm, nên nói thề khéo cho đến nhập vị gọi là Sơ trụ. An tâm trở xuống là chánh nói biệt an. Chính là nhìn chung tên riêng. Chẳng được xem là riêng thứ lớp. Nếu nhìn trở xuống là văn kết trong hội số riêng vẫn thành chung. Chung tức là viên, một tâm dưới tức chỉ viên này. Vì đối với pháp tánh mà phân tín pháp và bốn tất đàn hồi chuyển lại giúp nhau cho nên riêng. Lại dùng trong chung một chỉ một quán đối pháp đối tín, tự tha đều như thế. Trong đó trước nói giáo tha. Bồ-tát thường nuôi lợi tha làm gốc, cho nên trước (người), sau (mình). Thánh sư ba sức, Trung đạo không tuệ gọi là Tuệ nhãn. Tuệ nhãn soi cơ gọi là Pháp nhãn mặc tình đâu được gọi là hóa đạo. Đây là ba năng lực không thể nghĩ bàn. Cho nên ở một nhãn mà phân ra hai tên. Như Cúc-đa trở xuống là kế dẫn các đa hóa tướng đệ tử để chứng Thánh sư. Cúc-đa tuy ở vị La-hán mà đã ở loại phó pháp Thánh sư, cho nên biết tức là bốn y nhân dạy đệ tử leo lên cây. Như quyển bốn dẫn. Nhờ ăn mà ngộ, có một Tỳ-kheo tánh thích ăn uống, do ưa thích này mà chẳng được quả Thánh. Cúc-đa mời lên phòng đem cho sữa nai thơm, bảo đợi nguội hãy uống. Tỳ-kheo liền thổi cho nguội, bạch Tôn giả rằng đã nguội rồi! Tôn giả nói: Sữa tuy đã nguội nhưng tánh muốn của ông còn quá nóng. Vậy phải quán nước để diệt lửa tâm ông. Lại đem bát không bảo nhả đồ ăn ra rồi lại ăn vào. Tỳ-kheo nói: Đờm dãi đã nhổ rồi làm sao ăn lại được. Tôn giả nói: Tất cả thức ăn uống không khác với đây. Ông chẳng quán vọng sanh tham đắm. Nay ông phải quán tưởng ăn bất tịnh, rồi vì nói pháp mà được A-la-hán để trách cứ. Cúc-đa hiện hình giống như người nữ. Trong nhiều đệ tử có một vị Tỳ-kheo tín tâm xuất gia, được bốn thiền bảo là Tứ quả. Cúc-đa phương tiện mời đến chỗ Ngài. Giữa đường hóa thành đám giặc cướp lại hóa ra năm trăm lái buôn. Giặc cướp đến giết hại lung tung Tỳ-kheo sợ hãi liền nghĩ rằng: Ta không phải La-hán, chỉ là quả thứ ba. Bọn lại buôn chết cả rồi, có một cô gái con Trưởng giả bảo Tỳ-kheo rằng: Xin Đại đức cùng đi với tôi. Tỳ-kheo đáp: Phật không giao tôi cùng đi với người nữ. Cô gái nói tôi đi theo Đại đức sau. Tỳ-kheo thương xót cho nhìn mà đi. Tôn giả kế lại biến ra sông lớn. Cô gái nói: Đại đức hãy qua với tôi. Tỳ-kheo ở dưới, cô gái ở trên dòng. Cô gái té xuống nước la lớn: Đại đức cứu tôi, khi ấy Tỳ-kheo nắm tay kéo lên. Vì chạm tay nên khởi tâm ái dục, liền tự biết mình không phải A-na-hàm và rất mê đắm cô gái này, đến chỗ vắng muốn chung dâm mới thấy là thầy mình, bèn rất hổ thẹn đứng gục đầu. Tôn giả nói: Ông xưa tự bảo là A-la-hán, sao lại muốn làm việc ác này, bèn dẫn đến tăng bảo sám hối, rồi vì nói pháp yếu mà được A-la-hán. Cho nên biết người tu tập Thánh giáo không biết rõ thứ vị mà sanh vượt quá, cũng dễ khai giải. Từng nghe có một người tự bảo thành Phật, đợi trời chẳng sáng cho là ma chướng (che), rồi chẳng thấy Phạm vương thỉnh nói pháp, thì biết là chẳng phải Phật, nhưng vẫn tự bảo là A-la-hán. Người khác nắng chửi thì tâm sanh dị niệm, tự biết chẳng phải A-la-hán, nhưng vẫn tự bảo là quả thứ ba. Thấy người nữ khởi dục thì biết mình không phải bậc Thánh. Đây cũng do biết giáo tướng. Chẳng đãi chẳng quá, là không phải chưa dọcc mà hóa gọi là thời bất đãi, không phải cơ dọcc chẳng hóa, gọi là thời bất quá. Thời cứ tương ưng, tương ưng hành tướng phải nói pháp tương ưng hiện thân mà độ. Nay chỉ dẫn hai câu nhiếp hết ý kinh. Cho nên biết Thánh sư vị ở Sơ trụ. Sơ trụ là gốc được pháp thân, vì sanh khởi ứng hóa. Rùa mù là dụ cho Thánh sư khó gặp. Như ngoài biển lớn có một con rùa mù khi ấy trong biển có một khúc cây nổi. Cây chỉ có một lỗ chứa thân con rùa. Con rùa này ba ngàn năm mới bò ra một lần thì trăm ức ngàn năm mới gặp được bộng cây nổi. Cho nên Đại Kinh quyển hai nói: Sanh ra đời làm người là khó, gặp Phật sanh lòng tin càng khó. Cũng như ngoài biển lớn rùa mù gặp được bọng cây nổi. Cũng như một hạt cải từ trên cung trời Đao-lợi rơi xuống làm đâu gìm được vào đầu một cây kim nhọn cắm dưới cõi Diêm-phù-đề. Phật diệt độ rồi đều có bốn y. Chúng sanh đức mỏng do đâu gặp được. Kế nói phàm sư thi hóa, kém hơn Thánh sư vì không có ba năng lực. Thí như trở xuống là dụ có ba năng lực mà cũng vô ích. Cho nên khiến phàm sư thi hóa, như thầy thuốc pháp ở đời, thầy thuộc cao cấp thì chỉ nhìn sắc mặt mà cho thuốc, thầy thuốc cấp trung thì nghe tiếng, còn thầy thuốc cấp thấp thì bắt mạch. Cũng như các Thánh sư quán thấy có ba nghiệp của chúng sanh mà hóa hiện ba luân. Nhìn sắc như quán thân nghiệp, nghe tiếng như quán nghiệp nghiệp, bắt mạch như quán ý nghiệp. Chướng nặng không cơ duyên, dầu là Thánh sư cũng chẳng thể hóa. Nên nói cũng chẳng thể khởi tử v.v… Nếu chẳng hiểu trở xuống là nói không có ba thuật hoặc có hữu ích. Chỉ nhắc lại chẳng thể quán ý nghiệp mà chỉ quán hai nghiệp kia. Y theo lời nói mà làm phương cũng có được lợi ích. Thì Đại sư tự bác bỏ ta là phàm sư. Chúng sanh đã không có duyên gặp bậc Thánh mà gặp phàm sư này thì cũng được lợi ích. Cho nên nói đào thoát. Tức Đại sư tự khiêm nhường bị vật chẳng trọn, gồm bày đời sau chớ bỏ hóa đạo. Đều hỏi bệnh cho nên nói y theo lời nói. Như các văn sau đều nói: Thầy phải hỏi. Và người ấy nếu nói v.v…, tức là tướng ấy. Thân tử trở xuống là nêu trong Tiểu thừa là người khéo nói pháp, xoay bánh xe pháp dùng trí tuệ bậc nhất mà còn tự sai cơ. Đại Kinh quyển ba mươi bốn nói: Tuy có Thân Tử, Mục-liên không phải chân tri thức, sanh một xiển-đề tâm nhân duyên. Như ta xưa ở Ba-la-nại Xá-lợiphất dạy hai đệ tử: Một người quán xương trắng, một người đếm hơi thở, qua nhiều năm đều không được định. Vì duyên ấy nên đều sanh tà kiến, nói không có pháp Niết-bàn vô lậu. Nếu có thì tôi đã được rồi. Ta khéo trì giới đã thọ. Cho nên lúc này thấy hai người ấy sanh tâm tà kiến bèn gọi Xá-lợi-phất mà trách. Vì sao nói pháp trái ngược cho hai đệ tử ấy nghe, hai đệ tử của ông tánh đều khác. Một người chuyên giặt áo một người làm lò rèn. Người làm lò rèn phải dạy đếm hơi thở, còn người giặt áo phải dạy quán xương trắng. Vì dạy lầm nên sanh tà kiến. Ta bèn vì họ mà nói pháp thì hai người nghe xong đều được La-hán. Cho nên ta là chân thiện tri thức của chúng sanh. Luận Trang Nghiêm nói: Giặt áo dần trắng như xương, hay dọct hơi lò rèn thì khéo biết hơi thở. Phàm phu còn bị ràng buộc, nếu nói chung thì sáu căn năm phẩm đều thuộc phàm sư, chưa phá vô minh đều còn ràng buộc. Nếu nói riêng, thì là năm phẩm vị. Sáu căn thanh tịnh lìa hai phược, tức giống Thánh sư. Y theo văn phân biệt trong quyển một, thì lấy chung sáu căn để làm Phàm sư. Trước chỉ Thánh sư ở Sơ trụ, sáu căn còn gọi là bệnh Đạo sư, huống chi là Bồ-tát ba tạng tất cả chưa dứt. Kế kết bày như văn. Tha hữu trở xuống là xếp hạnh. Tát-bà-đa trở xuống là phiếm dẫn hai luận để nêu đồng khác, không phải dụng ý của luận. Nếu ở Tiểu tông đều y theo một môn, chưa là đạo chung phương trùm khắp. Như Tỳ-đàm quyển mười lăm nói: Độn gọi Tín hạnh, lợi gọi là Pháp hạnh. Tín hạnh là ít quán sát, pháp hạnh là quán đồng với Tát-bà-đa. Đó chỉ xếp vào vị kiến đạo. Ít quán sát là môn chánh nhân. Nay dẫn hai hạnh Đàm-Vô-Đức đều ở trước đời thứ nhất, nên nói phương tiện. Song số trở xuống là từ dung hòa chung, số cứ hạnh thành, cho nên ở kiến đạo. Luận y cứ vào căn tánh nên ở phương tiện. Như nhiều luận nói sở nhân khác nhau, tức giống nhà nay một bề căn tánh, Đức tông nhiều ít khác nhau, tức giống nhà nay căn tánh (giúp nhau). Cho nên hội mà lại hai còn. Lại A-tỳđàm trong Sử Kiền-độ chép: Người Kiên Tín có tuệ như thế, người Kiên Pháp có tín như thế, vì sao một người chỉ gọi kiên tín, một người chỉ gọi kiên pháp? Đáp: Đều tùy sở nhân, từ hơn mà đặt tên, đều là cùng có. Đây cũng giống như ý (giúp nhau). Tỳ-đàm lại nói: Định vào gọi là Tuệ, tuệ vào gọi là Pháp. Nếu y cứ vào văn đầu định tuệ đều phải dùng nội tư làm pháp. Nghe định tuệ gọi là Tín. Cho nên văn nay chỉ quán đều lập tín. Pháp hai hạnh. Sư nay trở xuống là chánh nói tướng hai hạnh của sư, thì lấy nhân lâu làm hạt giống hiện tại. Nói hiện có, phải nhờ nhân lâu. Nhân lâu khác với Đức tông phương tiện, hiện tại cũng khác nhiều luận hạnh thành. Cho nên nhà nay chỉ luận hợp giống xưa, hiện kham tu quán cho đến nghe pháp. Nghiệm nay biết xưa được tên hai hạnh. Đại Kinh quyển hai mươi chép: Như có chú thuật như có một lần nghe thì hai mươi năm sau không bị trúng thuốc độc. Nếu có tụng trì thì đến chết cũng không bị các bệnh. Là pháp Đại thừa cũng giống như thế. Nếu có chúng sanh một lần nghe qua thì về sau bảy kiếp không đọa đường ác. Suy nghĩ nghĩa ấy sẽ được Bồ-đề, tịnh thấy Phật tánh. Nghe qua tai liền thành hạt giống tín hạnh, suy nghĩ tức là hạt giống pháp hạnh. Pháp Hoa chép: Nếu có nghe, hiểu, suy nghĩ, tu tập v.v… Lại Đại Kinh chép: Một là nghe chánh pháp, hai là suy nghĩ nghĩa ấy. Kinh luận loại này đều giống tín pháp lâu xa. Nếu luận trở xuống là nhà nay xếp vào lợi độn. Lại cùng được tên khác nhau. Hai luận một bề mà phán. Đã nói trở xuống là kết trước sanh sau. Sư phải trở xuống là muốn vì nói pháp trước xét căn tánh. Định là chỉ, tuệ là quán, ông đối với hai thứ này có quyết chí nghe và suy nghĩ chăng? Người ấy trở xuống là nói rõ căn tánh được ưa chuộng. Đã biết trở xuống là bệnh tướng căn tánh định rồi, đối với một người y theo lời nói mà làm phương chỉ quán đều bốn cho nên chợt thành tám. Trong văn mỗi quán đều có ba ý: Một là bày pháp tướng, hai là chỉ rộng, ba là kết thành tất-đàn. Văn đầu ý đầu. Nam tử trở xuống là chánh vì nói pháp. Tướng nói pháp tùy có tương ưng, tức tiện dẫn dùng hoặc Nho hoặc Tiểu, hoặc Thiên hoặc Tiệm. Nói gần mà ý xa, lại vì giúp thành Viên giáo Viên quán, bốn tất tín pháp là tướng chỉ quán. Vì kẻ hậu lai làm nghi thức hóa tha nói pháp. Cho đến y cứ trở xuống là kết văn. Ở mỗi văn có thứ và bất thứ, ý lại ở viên. Trong văn nêu bốn giáo cho đến thứ lớp ba quán mà nói, là ý ở nghe đều vui mừng là thiện đều sanh, ác đều phá. Thấy tất cả lý cho nên nêu khắp. Cho nên biết đến kết văn dưới mới khai thứ lớp. Thứ lớp thì trải ba đế, chẳng thứ lớp thì chỉ y cứ một tâm. Ở mỗi phen lấy sau so sánh trước đều thành bốn ý. Nghĩa là thứ lớp ba quán có ba, một tâm ba quán là một, một ý ấy. Lão Tử nói: Trời được một vì thanh, đất được một vì minh. Hầu vương được một vì làm thiên hạ chánh. Ý lão chỉ vì hợp đạo âm dương vì làm trời làm đất được một, hợp đạo hợp thần vì làm hầu vương được một. Nay bỏ lý ấy chỉ mượn tên ấy để chứng lý nay. Khổ tập được một tức là diệt đế, nhân duyên được một tức là vô minh diệt thì hành diệt v.v… Sáu tệ được một tức là đền bở kia. Phàm dẫn sách tục đều so sánh như thế. Một là cao nhất của ba thừa. Cho nên nói chỉ đây là quyết. Quyển cho nên thích dục lạc, như trời quá hạn. Kháng cũng là hạng. Trăm trong muôn đều là số cực nhỏ, tùy tiện cùng bày, mãng là gọi chung các thứ cỏ. Nêu nó chẳng sanh là muốn hiển mưa xuống để thành sanh. Sanh tức là sanh thiện, rồng Ta-già là văn kinh Hoa Nghiêm. Trường A-hàm lại nói: Long vương A-nậu-đạt thân tâm làm mưa đầy khắp Diêm-phù-đề. Văn nay nói: Bốn phương mưa xuống chính là đó. Nói bảy ngày, là Long vương Ma-na-tư khi muốn làm mưa thì giăng mây trước đó bảy ngày, khiến tất cả chúng sanh rốt ráo các nghiệp, dần dần mới giáng mưa nhỏ vì sợ tổn thương vật. Người cũng như thế trở xuống là hợp dụ. Mà chẳng hợp bảy ngày cho đến bốn phương. Chỉ hợp ý đường chung mưa xuống. Hợp sông gồm do thêm cây đạo phẩm, đã không phải toàn lấy ở Chánh kinh, thừa thiếu tùy thời. Trước xếp hợp gốc lành chẳng sanh. Nếu hay trở xuống là chánh hợp gốc lành sanh. Có thể đối ba quán bốn giáo mà giải thích. Phát các thiền như mưa, là nếu phát thiền định thì vô lượng pháp lành, tất cả pháp môn đều do thiền mà phát. Nhu đảnh v.v… là ba tạng. Nhãn trí v.v… là vị trong Kiến đạo. Khổ pháp nhẫn là trí. Khổ tỉ nhẫn là minh, khổ tỉ trí là giác. Thuận nhẫn v.v… là các gốc lành trong Thông giáo. Ngoại phàm là tín, nội phàm là thuận. Các văn đều lược, vắng lặng vô sanh là gốc lành trong Biệt Viên. Đây đều là nhân thiền tịnh mà sanh, tức nghĩa sanh thiện. Duyên dụ v.v… là các thứ nhân duyên các thứ thí dụ. Nhân duyên chỉ là dẫn rộng xưa nay cùng thành nghĩa này. Dưới đây là so sánh như thế. Voi say như quyển đầu đã giải thích hang rắn trong Đại luận quyển ba mươi ba. Quyển bảy lại dẫn cũng đồng với ý không có móc sắt. Năm Ế, kinh luận đều nói rất giống nhau. Thành Luận chép: Thí như mặt trời, mặt trăng tánh vốn sáng sạch, mây khói, bụi mù v.v… năm ế (che mù) đều chẳng hiện v.v… là do tay của A-tu-la. Nhĩ nhã nói tối và gió gọi là ế, ế là che ánh sáng. Nay thì lấy chung năm thứ đều có thể che gọi là ế. Lại gió thổi nổi bụi mù gọi là ai, khói mây mù nổi lên gọi là ải. Ải là mây che. Diệu linh là tên mặt trời, tức là mặt trời bị che. Cũng có thể diệu là bày diệu (sao). Bảy diệu đồ chép: nhật nguyệt và năm sao gọi là bảy diệu. Nhật là dương tinh, nguyệt là âm tinh, năm sao là chấn. Nói linh là Đại Đái Lễ chép: Tinh khí dương gọi là Thần, tinh khí âm gọi là Linh. Nhĩ Nhã nói: Tám phương thần là tám linh, năm ế che tối tám phương. Cho nên, sách tục phàm giải thích thần linh biến hóa tinh vi và đạo tánh v.v… thì chẳng ngoài âm dương. Giáo ấy chưa biết đạo xuất thế. Lại Đại Kinh thí dụ nhật nguyệt lại là khói mây bụi mù và tay Tu-la che tối. Khiến các chúng sanh chẳng thấy được, đã bị phiền não che chướng, cho nên phải đối trị. Tiếp gần nêu xa. Tiêu là khí đỏ gần trời mây được ánh sáng mặt trời mầu đỏ rất dễ thấy. Mây không thật thể mà thấy được. Trung Luận, Đại Kinh đồng nhiều khác ít. Đại Kinh quyển hai mươi sáu chép: Có nhiều nhân duyên chẳng thể thấy, như dấu chim trên hư không, do gần mà không thể thấy như mí mắt, vì hư nên chẳng thể thấy như mắt hư do loạn mà chẳng thể thấy như chẳng chuyên nhất, do nhỏ mà chẳng thể thấy như bụi nhỏ, vì che mà chẳng thấy như mây che mặt trăng, do nhiều mà chẳng thể thấy như đậu trong đậu. Trung Luận thêm xa mà chẳng thấy như tiêu thì không có căn bị hư. Nay ý của văn là do phiền não nên chẳng thể thấy, do xa mà chẳng thể thấy như trong chẳng thấy, do gần mà chẳng thể thấy như chẳng thấy tục. Nương vào tán tâm lại đến đều chẳng thể thấy, là nêu các điều ác đó hiển tu định này để làm chỗ trị. Cho nên mô trần màng và bại v.v… đều là chỗ phá, đèn trong nhà kín trừ gió ngoài, phá tối bên trong. Kim bài v.v… Đại kinh thứ tám ở phẩm Như lai Tánh, Ca-diếp hỏi Phật vì sao Phật tánh khó thấy khó vào. Phật nói như trăm người mù vì trị mắt nên đến thấy thuốc giỏi. Thầy thuốc giỏi tức là rất dễ vẹt màng mắt, đưa một ngón hỏi thì đáp thấy ít. Hợp dụ rằng: Vô lượng Bồ-tát tuy thực hành đầy đủ sáu Ba-lamật, cho đến Mười Trụ cũng chưa thể thấy. Như lai đã nói thì liền ít thấy. Đây chính là Mười Trụ Biệt giáo, nên nói chưa thấy. Sớ dẫn giải thích khác: Một nói ba ngón tay là dụ cho ba thừa, hai nói dụ cho ba tuệ, ba nói dụ cho ba giáo. Trước dụ Tiểu thừa Sơ giáo là một. Bát-nhã đến Pháp Hoa là một, Niết-bàn là một, bốn nói: Tín, thuận, vô sanh là ba. Chương An nói: Đã thí dụ Phật tín (tánh) chẳng nên giải thích khác. Tức dùng ba đế mà làm ba ngón tay. Ngón tay đầu như quán không, nên nói chẳng thấy. Ba ngón tay như Mười Trụ, nên nói ít thấy, tức là viên mười trụ. Kim Bài như giáo. Cho nên văn sau nói: Bồ-tát thềm bậc mười địa còn chẳng rõ ràng, nay từ nghĩa quyết mô dứt hoặc, cho nên nói đối trị. Nếu tâm bình đẳng, thế gian là pháp sanh diệt, xuất thế là pháp chẳng sanh chẳng diệt. Do định mà biết rõ nên nói như thế. Cũng có thể thế gian sanh diệt là giới nội tục. Xuất thế chẳng sanh chẳng diệt là giới ngoại chân. Giới nội lược chân, giới ngoại lược tục. Nội ngoại chân tục tức là ba đế. Ba đế là lý, tức là nghĩa bậc nhất, cũng còn lạc định. Vào định lại là ý nghĩa bậc nhất huống chi các phàm phu. Phàm phu lý hợp tu nghĩa bậc nhất. Phật bảy phàm cho nên trong các kinh nhiều chỗ có văn nói Phật nhập định. Hữu Thiền định, Đẳng, lôi quang ở quyển chín đã giải thích. Kiến đạo tức là y nghĩa bậc nhất. Tuy trong Thành Luận vốn thí dụ muốn Định nay chung dụng. Mới thấy đế lý đều gọi Lôi quang, đều gọi Kiến đạo. Phá vô minh số v.v…, ý dùng Nhất thiết chủng trí làm nghĩa bậc nhất. Lời phá ác nhân tiện đến tai. Người ấy nếu nói tín hạnh dưới y cứ quán bốn tất. Hai câu hỏi trước nên nay nêu đáp. Ta nghe v.v… là bác bỏ pháp hạnh. Ba ác v.v… là nêu khổ thế gian, huống chi là khổ xuất thế. Đốt cháy là địa ngục, rắn lừa là súc sanh như thế v.v… khổ khổ có kỳ hạn, si tối vô minh chướng ba khổ đế trọn đến thật báo, nên nói là đại khổ. Phương ngung có thể dụ cho lý quyền thật. Bốn phương gọi là phương, bốn duy gọi là Góc. Góc như quyền, phương như thật. Nhĩ Nhã nói: Góc Tây Bắc gọi là ốc lậu. Góc Đông Bắc gọi là quạn, quạn âm di. Quách nói chưa rõ. Ma Cảo nói: Dưỡng dưỡng muôn vật. Góc Đông Nam gọi là Đột. Góc Tây Nam gọi là Áo, tức là chỗ ẩn kín trong nhà, cũng có thể nói bốn đế sanh diệt như góc bốn đế vô sanh như phương. Hai giáo giới ngoại phương góc cũng như thế. Học rộng phân biệt, y cứ theo bốn câu này đều lấy lạc làm tên. Câu đầu nói học rộng v.v… lạc tức lạc dục, văn tức tín hạnh có thể đối thế giới. Sửa đổi điều ác v.v… là nói tướng từ xưa nay mà thôi. Nếu hết một bài kệ là ý đủ nghĩa bốn tất. Bốn câu thứ lớp để đối bốn tất rất dễ thấy. Như dạy chí đạo chẳng phải đạo, bốn thứ đạo phẩm gọi là Đạo. Phần đoạn biến dịch gọi là chẳng phải đạo. Giới nội lấy Ba đường làm hầm hố, giới ngoại lấy phần đoạn làm hầm hố. Phân biệt đạo, phi đạo v.v… ngăn cách khác nhau tức ý thế giới. Nguyệt khai v.v… hoa sen xanh nhân trăng mà nở, hoa sen đỏ do mặt trời mà nở. Có người nói hoa sen trắng nhân mặt trời, đều lấy nở ra ấy là nghĩa người. Đại Kinh quyển chín nói: Thí như hoa sen bị mặt trời chiếu đều nở. Nhật hưng v.v…, Đại Kinh quyển chín nói: thì như xây cất đến tối thì nghỉ, nếu chưa xong phải đợi sáng. Nghĩa đồng với mặt trăng. Chủ giao hỏa đạo đều dụ cho quán, thương hoạch lôi manh đều dụ ở hạnh hạnh tức là thiện. Từ Thắng nêu riêng trí Nhất thiết chủng cũng thôi ở quán. Chủng trí là cao nhất trong thiện, các thiện khác chỉ là quán trang nghiêm. Oán tức là ác, biết tức là tự quán. Võ tướng có mưu như Tần tướng Vương Tiễn; Ngụy tướng Ngô Khởi, Liêm Pha; nhóm Lý Mục, Trương Lương, Phàn Khoái. Vì khéo phá trận nên để dụ phá ác, đều phải giải thích rõ là phá ác ba hoặc. Kế mây nóng lửa rối đều dụ cho ác bị phá. Dây buộc so sánh thì có thể được ý. Bảy báu trong giếng, người cũng biết tối nên chẳng thấy. Có phương tiện khéo là đốt đèn sáng lớn đem đến soi rõ thì đều được thấy, người ấy chẳng hề nghĩ là nước và báo xưa nay có. Niết-bàn cũng như thế, chẳng thể nói là xưa không nay có. Bình chậu cũng như thế. Nay nói mặt trời sáng là nêu ánh sáng sáng nhất. Chúng sanh như giếng Phật tánh như báu, chúng sanh như nhà, Phật tánh như bình, và vô minh như tối, đèn mặt trời như trí, mặt trời chiếu như thấy. Nay trong văn này lấy mặt trời giúp đèn phải dùng trí tuệ bỏ kệ văn Bát-nhã thấy báo và pháp quán thật, tức ý nghĩa bậc nhất. Đẳng quán nhập, đến nghĩa bậc nhất nên gọi là nhập, biết các pháp thật và đẳng quán nhập, Bát-nhã là cao hơn biết, cho nên phải dùng quán nhập nghĩa bậc nhất. Mặc lại mặc là minh tư chẳng dời. Tổn lại tổn v.v…, là nói lý cho đến không tổn, Triệu Công đổi dụng. Nay lại y triệu, vì chân lý cực gọi là Vô tổn, phiền não tổn hết cũng gọi vô tổn. Bác bỏ tín hạnh văn thuộc hữu vi. Tọa trì v.v… Trang Chu quí ngồi mất nên nói trì vô ích. Nay mượn ý ấy quên nghe quán lý, tùy văn nói trì, ngoài tự lý các thứ kia đều nói trì. Lại ngoại thiên nói: Kính hiếu dễ, ái hiếu khó, ái hiếu dễ, mất thân khó, mất thân dễ, khiến thân mất ta khó, khiến thân mất ta dễ, mất cả thiên hạ khó, mất cả thiên hạ dễ khiến thiên hạ mất ta khó. Chú nói thứ thì khiến thiên hạ mất ta khó. Chú nói thứ thì khiến thiên hạ tự được, đâu được chẳng mất ta ư! Lấy đó mà nói chỉ là Trang sanh không có trí quên người khác lại chê ngược người khác chẳng mất, mà khiến thiên hạ mất mình. Chú gia rằng: Thứ chưa đủ thích vong. Nay thiên hạ có thể do chẳng thứ. Kế nếu là mất sau chẳng hề mất. Mà xoay vần so rằng khó sau cùng ư! Cho nên biết ông chỗ thứ chẳng phải mất của người khác, mất của người khác đâu có liên quan gì đến thứ của ông, ấy thì ngồi mất có nói không làm. Nay mượn lời thành lý, y lý nói là mất. Phải là trở xuống là các câu đều phải biết các pháp là chỉ, tùy ý bốn tất, nói pháp nào chẳng đủ trở xuống là chỉ đủ mười độ, trong mỗi độ có đủ tất cả pháp. Thiện tuy vô lượng chẳng ngoài mười độ này cho nên cao nhất trong sanh, thiện nhất trong sanh thiện. Sáu trước rất dễ thấy. Nhân chỉ v.v… chỉ là phương tiện song phi, cho nên nói. Trong chỉ đủ các nguyện, cũng toại nguyện chúng sanh, cho nên nói tất cả có công dứt hoặc nên gọi là Lực. Đây là trung trí nên nói không hai. Chỉ đủ tất cả tức kết chung. Lại y cứ đương cơ nên nói đâu cần tu riêng. Bích định, nhà có bốn vách thì tám gió chẳng vào. Nếu được chỉ rồi lìa giới nội ngoại, trái thuận ác giác, tám gió chỉ là bốn trái bốn thuận. Tám gió trong sách. Nhĩ Nhã nói Nam là Khải phong, Đông là Cốc phong, Bắc là Lương phong, Tây là Thái phong. Từ trên xuống là Đồi phong, từ dưới lên là Đạm phong, cùng lửa là Thuần phong, hồi chuyển là Tuyền phong. Vách nhà cũng khỏi tám gió này cho nên lấy làm dụ. Cũng là tám gió bốn phương tư duy. Triệu Lộ kiến dương lộ như tán, dương như chỉ. Hy là càn, cũng như định, chỉ đại từ v.v… Từ định trị sân. Đại Minh Chú như Thích châm. Vì Đại Minh Chú là Bát-nhã, dứt trừ ác giác, tham dâm nhuế nộ si, nghi ác triêu lộ. Chỉ tức là Phật v.v… niệm Phật tự chướng đạo. Nay tu ở chỉ như Phật pháp trị chướng đạo mầu, A-già-đà và thuốc hay, cùng chú thuật khô khởi tử v.v… và nêu chỉ hay tự. Chỉ tức là thể chân v.v… dùng tên thứ lớp trong thích danh để thành lý không thể nghĩ bàn. Chỉ là Phật mẫu v.v… mẹ thật cha quyền cùng sanh con Phật. Cha mẹ tức nhau y theo trên sẽ biết, tức ý kinh Tịnh Danh. Lý thể vắng lặng chiếu soi là thầy Phật. Chỉ là thân Phật tức là hai thân pháp, ứng. Cũng có thể ba thân đầy đủ. Nhân gọi là chỉ. Quả gọi là nhãn. Định tuệ năng nghiêm, nay chỉ thuộc định nên gọi tướng tốt. Đủ tất cả pháp nên gọi là Tạng. Làm chỗ nươngcho các pháp nên gọi là Trụ xứ. Pháp nào chẳng đáng nhắc lại tiện nghi ở trước. Pháp nào chẳng trừ nhắc lại đối trị ở trước. Chính là thấy lý nên ác diệt, thiện sanh. Chánh giác v.v…, ở nhân gọi là quán, ở quả gọi là giác. Chánh Đại Biến v.v… mượn dùng khen quả trên. Năng sanh v.v… Tín giới v.v… năm thứ tức năm phần pháp 12 thân. Đã năng sanh năm phần tức là cao nhất trong sanh thiện. Hóa Đạo Đại Hành, tức đúng bệnh trao thuốc. Năng chiếu soi đạo, cũng là ý phá tối tăm, sanh được báu là dứt ác nghèo khổ chỉ phải siêng quán khai thị ngộ nhập, bốn thứ này đều là quán Vô sanh. Đủ như trong sớ y cứ quán tâm mà giải thích là nghĩa bậc nhất. Kế nói hồi chuyển. Trong bài tựa hai luận trước nói thỉ chung, là hai luận đều dùng thủy độn, chung lợi nay nói phút chốc nên chẳng đồng. Kế nói tự hành thì chỉ quán đều nói. Trước cũng nêu hai hạnh, giáo tha lấy nói pháp làm gốc, cho nên trước tín sau pháp tự hành phần nhiều ở suy tư cho nên trước pháp sau tín. Trong giáo tha trước mười sáu phen đều thuộc một người cho nên chỉ quán lìa nay trong tự hành đều ở một người, cho nên chỉ quán hợp nói. Lại trước đều hợp nay đều lìa v.v… Kế lạc vắng lặng trở xuống là chánh giải thích pháp hạnh. Ở trong bốn tất đều một chỉ một quán. Ở trong lạc dục trước là chỉ, nếu dục trở xuống là quán. Đều y thế giới vì đến lạc dục, vì ở đầu cho nên chưa nói lỗi sanh, cho nên chỉ nêu thẳng một chỉ một quán. Kế tâm ấy trở xuống là nói vì người v.v… ba thứ đều trước nói nhân đời trước sanh lỗi, kế dùng chỉ quán. Văn đầu là nhân trong thế gian dụng quán sanh lỗi. Lỗi tức là chút thiện chẳng sanh. Kế tức trở xuống là dụng chỉ. Nếu ngưng dừng trở xuống là nhân chỉ sanh lỗi. Kế phải giảo kế trở xuống là dụng quán. Nếu niệm niệm trở xuống là trong đối trị một chỉ quán. Văn đầu là nhân làm, vì người dùng quán sanh lỗi. Lỗi là ác lớn, tức đương trở xuống là dùng chỉ mà tự. Kế nếu tịnh trở xuống là dùng chỉ sanh lỗi. Tức đương trở xuống là dùng quán mà tự. Tu chỉ trở xuống là kế trong nghĩa bậc nhất một chỉ một quán. Văn trước tuy trong Thượng trị dùng chỉ dùng quán lý chẳng khai phát. Văn đầu dùng chỉ chẳng khai tức là lỗi vậy vốn là thấy lý, lý đã chẳng phát nên gọi là lỗi. Kế tức phải trở xuống là dùng quán khiến khai. Kế tu quán trở xuống là lỗi sanh. Kế phải trở xuống là dùng chỉ khiến khai tín hạnh dưới. Kế trong tín hạnh bốn tất đều một chỉ một quán. Trước trong lạc dục cũng như ý trước. Chỉ thẳng đến lạc dục nói một chỉ một quán. Thính quán trở xuống là kế trong vì người một chỉ một quán. Trước nói lỗi sanh v.v… là văn đầu sanh lỗi. Tức phải trở xuống là nghe chỉ khiến ích, hoặc nghe trở xuống là sanh lỗi,tức phải trở xuống là nghe quán khiến được lợi ích. Hoặc khi trở xuống là trong đối trị một chỉ quán. Trước nghe quán sanh lỗi, tức phải trở xuống là nghe chỉ mà trị. Hoặc đem trở xuống là nghe chỉ sanh lỗi, tức phải trở xuống là nghe quán mà tự. Hoặc nghe trở xuống là trong nghĩa bậc nhất một chỉ một quán, chẳng nói sanh lỗi. Thẳng rằng mênh mông rộng lớn là tướng được ích.

Trước là ba tấc như thuốc đời mà trị. Đây là nghĩa bậc nhất như Như lai mà trị, cho nên chẳng sanh lỗi. Kế là hồi chuyển rất dễ thấy.

Lại nữa trở xuống là giúp nhau trước nêu ý đến. Như pháp hạnh trở xuống là chánh bày tướng giúp nhau. Nếu pháp nhiều tín ít thì gọi là Tín giúp pháp, nếu tín nhiều pháp ít thì gọi là Pháp giúp tín. Cũng nói chánh trợ. Trước nói tín giúp pháp, đã nói giúp nhau, chính là hai hạnh tín pháp đều có ích. Trước bốn tất trong chỉ nói pháp hạnh, đã Tín giúp pháp, vì pháp làm chánh từ pháp hạnh mà đặt tên, nên nói như pháp hạnh, là trước nói chung tín dùng làm năng tư, quán bốn tất dưới. Nếu đủ nói rộng phải mỗi tất trên đều nói: Tùy nghe một câu cho đến đều trái. Vì tránh văn rườm nên nêu một câu đầu. Lại ngồi trở xuống là pháp hạnh lạc dục. Kế dưới có ba cái lại nghe, tức trong pháp hạnh vì người v.v… ba thứ. Lại nghe bốn tất trong quán dưới, Tín giúp pháp tức trong hai tất đều có nói nghe quán. Hai tất dưới lược so sánh chỉ rất dễ hiểu. Phá ác tức đối trị. Muốn ngộ tức nghĩa bậc nhất. Hỏi: Sao chẳng nói ngộ, mà nói muốn ngộ? Đáp: Đây là nghĩa bậc nhất trong bốn tất. Cần gì phải chứng lý gọi là nghĩa bậc nhất. Chỉ lấy tướng, không phải ba tất trước. Phụ lý khí phần tức thuộc nghĩa bậc nhất. Văn trước chỉ nói mênh mông rộng lớn mà thôi. Đây chính trở xuống là kết tín giúp pháp. Tín hạnh trở xuống là pháp giúp tín. So với pháp hạnh ở trước có thể lấy ý mà biết. Đó là trở xuống là kết Pháp giúp tín. Phàm tâm địa trở xuống là kết ý an tâm. Vì trong an chung chỉ có chỉ quán. Nay vì bốn tất v.v… nên nói theo nguyện thêm ăn uống hoàn tán âm dương ba cặp mà dụ. Trong mỗi cặp đều khắp ý trước, hợp thành ý bốn tất. Tùy chỗ nguyện là lạc dục. Ăn uống là sanh thiện, hoàn tán là đối trị, âm dương là thấy tánh, tức là nghĩa bậc nhất. Một thứ trở xuống là nói lỗi tu nghiêng lệch. Cho nên biết hai sư không phải chỉ có chỉ quán dùng riêng. Chính cũng không có một chỉ một quán trong tín pháp v.v… hai sư dẫn kệ đều chưa thấy chánh điển, đều tùy một môn được vào. Vì tự hành được bẩm, chưa gặp đường chung. Tiện dùng thiên môn khiến khắp người học, đến nỗi khiến người học kia đây trái nhau. Nếu thế thì thiện của trời người còn không làm sao khắc đến Diệu chân. Cho nên dẫn Đại kinh một bề uống sữa. Trong kinh quyển ba Phật bảo Ca-diếp: Thí như Trưởng giả có nhiều trâu, sắc tuy các thứ cùng đồng một bầy, giao cho người chăn khiến đến cỏ nước. Chỉ vì đề hồ chẳng cầu nhũ lạc. Lúc đó, người chăn rồi tự ăn. Trưởng giả chết rồi, bầy trâu đều bị giặc cướp bắt. Giặc được trâu rồi không có phụ nữ bèn mở ra tự ăn. Đám giặc bảo nhau Trưởng giả nuôi trâu chỉ vì đề hồ chẳng cầu nhũ lạc, phải tín kế gì mà được ư?

Lại bảo nhau chỉ có túi da có thể đựng đầy. Tuy có chỗ đầy chẳng biết dùi lay, nước cũng khó được huống chi là lạc tô. Bấy giờ, đám giặc vì đề hồ nên thêm nước vào, vì nhiều nước nên tất cả đều mất. Nay hai sư này chấp riêng Đại lý tịch chiếu định tuệ, nghĩa vì đám giặc chẳng biết dùi lay, Phật vì sao nói các thứ ư? Dẫn các bốn tất lại bác bỏ thiên mê. Nếu đến trở xuống là trải ba thứ chỉ quán để kết số trước. Nói nếu đến là lời lập riêng. Văn tuy chỉ đốn nếu lại y cứ riêng thứ lớp ba quán, thì mỗi quán đều có một trăm hai mươi tám cho nên mê đắm lời nếu đến. Thứ lớp ba hợp cho nên lập một tâm. Y trước lại nêu nên nói mà thôi. Người thấy sau ba phen lại nói một tâm, liền bảo đốn v.v… ngoài ba chỉ quán, lại lập một tâm, tức một tâm này chẳng liên quan đốn ở trước. Nay an tâm, là y diệu cảnh ở trước và diệu nguyện ở trước. Cho nên văn trước nói hạnh phải lấp nguyện thì hạnh nguyện tương xứng, cho nên hướng an tâm hoặc chung hoặc riêng, đều là viên đốn lấp nguyện viên đốn. Lại khai đối với thứ lớp ba quán, trong mỗi quán đều có một trăm hai mươi tám trước, đối bổn một tâm, thành bốn phiên một trăm hai mươi tám, hợp năm trăm mười hai, người chẳng thấy mà vọng sanh xuyên tạc, huống chi ba thứ không, giả, trung, chẳng khác ba thứ đốn, tiệm, bất định cho nên trước không thể nghĩ bàn, chưa từng trong tên khác mà phát làm ba quán. Quán thành làm ba trí, giáo tha làm ba ngữ, qui tông làm ba đường. Ba thứ tức là đốn v.v… ba thứ vì một bộ văn cùng thành một ý, còn sợ sợ lậu, đâu có ngầm trong kết số. Chỉ nói một tâm tức khiến diệu hạnh thành đây. Đây thì các văn trên dưới đều là rườm rà, như trong quyển đầu và ba, bốn đã toát yếu văn chỉ. Chẳng thấy ý này tụ mất an tâm. Tự an đã không giáo thì tha làm sao còn. Phải từ xưa đến nay, câu móc nương nhau, ngang dọc cao vời, trước sau quán đới mới thành hạnh nghi. Đâu có vội đó mà lập dị kế này như trong phá khắp mỗi câu kiến, mỗi phẩm trần sa vô minh đều nói tín pháp giúp nhau hồi chuyển, tức là kiến phẩm tư phẩm không biết vô minh đều sáu mươi bốn phen. Ngang dọc chẳng hai tức là một tâm. Cho nên tự tha đối nhau cũng đều có đủ một trăm hai mươi tám. Đây nói năm trăm mười hai phen là từ hợp nói tùy đế nói. Nếu hiển nhau mà nói tức dùng thứ lớp hiển chẳng thứ lớp, đủ như các văn trước sau phân biệt, đâu chỉ y cứ nghĩa chẳng thứ lớp. Sau lập ba cái một trăm hai mươi tám, chỉ y cứ ba thứ trong một không thể nghĩ bàn lấy làm ba phen, một trong ba mà làm một tâm. Ba – một cùng luận cũng có năm trăm mười hai. Hỏi: Người Viên đâu được ba quán luận riêng tín pháp giúp nhau có khác. Đáp: Thứ sáu sau có nói nhiều vào không, ít vào giả, trung v.v… Đã cho vào riêng cũng có thể quán riêng. Lại phá riêng đầu, vô sanh là đầu, vô sanh tức không. Không môn đã thế, các môn khác cũng như thế. Tùy nghi bèn thành bảy câu khác nhau, còn thành bảy phen một trăm hai mươi tám, đâu những ba đế ư? Cho nên biết tự tha đều có bảy câu. Nếu quán thứ lớp chỉ được là ba. Ba đều trở xuống là nói bốn tất trước, tuy là năm trăm mười hai phen chỉ nói tín pháp hoặc dùng chỉ quán đều nhiếp hết. Vì xếp quyền thật phải y cứ bốn tất. Cái gọi là: Thuốc đời v.v… là mượn văn trong Đại luận để thành ý nay. Cho nên chỉ thuộc thế đế, xếp vào thuốc đời. Như ở thế giới sau lại hải sanh thiện. Nếu thiện chẳng sanh lại phải phá ác. Ác bỏ chẳng bỏ đều phải chấp lấy. Cho nên nói ba đều sai rồi lại sanh đến nghĩa bậc nhất, nếu chưa vô sanh ở đây sẽ khế. Cho nên nói sai rồi lại chẳng phát lại, huống chi kết rằng: Pháp thế, xuất thế giúp nhau thành hiển. Cho nên mỗi hạnh đều trải qua bốn tất. Tuy hạnh có ba tất ắt phải lý. Nếu vào nghĩa bậc nhất thấy lý chưa sâu, lại phải lại dùng ba tất mà thành, huống chi ba tất vốn là nghĩa bậc nhất. Nên nói hiển nhau, huống chi khai quyền hiển thật thứ lớp bốn tất. Còn đều vào ở bất thứ thứ tư, huống chi đây là ba trong bốn tất không thể nghĩ bàn, huống chi ba trong không thể nghĩ bàn đều là nghĩa bậc nhất. Nếu lìa trở xuống là lại bày diệu cảnh ở trước. Vì chỗ an, chỉ quán bốn tất chỉ là phương pháp năng an mà thôi. Nếu tâm an trở xuống là giải thích nghi. Nghi rằng: Vì mỗi hạnh phải như trước các câu an chăng? Nên nay giải thích rằng: Nếu tâm an ở đế một câu liền đủ. Như trước chung an, chỉ an pháp tánh, nếu chẳng an thì bỏ chung dùng riêng. Trong riêng hoặc chỉ một tất liền đủ. Dùng quán thế giới tức nghĩa bậc nhất, hoặc dùng hai câu cho đến nhiều câu, cho đến dùng đủ sáu mươi bốn phen, cho đến dùng nhiều sáu mươi bốn phen. Cho nên nói khéo dùng phương tiện giúp tâm được an. Một mắt trở xuống là nêu thí dụ. Vì đậu nhiều người hoặc một người trước sau nên phải bày rộng. Nếu tuy được vào thì chẳng cần nhiều. Cho nên nói mắc vào một mắt lưới chim. Nói một mắt là cứ vào lời sau cùng nhập pháp, một đời làm đâu chỉ một mắt, cho nên hoặc một người dùng nhiều, hoặc nhiều người dùng một. Huống chi một người trước sau chẳng phải một mà nói được. Cho nên dưới hợp nói: Như nhiều chúng, một người cũng lưới chim gọi là la, lưới thỏ gọi là để hay ta. Chúng sanh trở xuống là hợp. Bổ là thợ săn đuổi bắt trên đất bốn phá pháp khắp. Trước lược nói ý đến. Trước lập bày câu hỏi, tức y cứ cảnh không thể nghĩ bàn trên mà lập câu hỏi. Cho nên nói pháp tánh thanh tịnh chẳng hợp chẳng tan, tức là một niệm ba ngàn trong cảnh lìa bốn tánh chấp, cho nên lược nói chẳng hợp chẳng tan. Hợp tức một niệm, tan tức ba ngàn. Chỉ chúng sanh trở xuống là ý đáp. Y cứ lý không thể nghĩ bàn và hoặc chẳng phải một khác, phá và chẳng phá tùy mê vọng nên sự phải lập phá. Chúng sanh từ vô thỉ toàn thể điên đảo, ai nói nhiều ít, chỉ thêm giải cảnh phát tâm an tâm. Tâm đã chưa an nên nói ít, hoàn toàn chưa phá nên lại nói phá. Trước dùng định tuệ ở pháp tánh nên gọi là An. Nay vì y cứ giáo bốn câu thôi trách tâm chẳng an, nên gọi là phá. Phá đều an, an đều phá, được gọi là tùy sự tâm cảnh chỉ một. Trên là thiện xảo, dưới là y cứ tâm an trên đối nói mà phá chăng. Nếu đã an ở đế, định tuệ đã phát, đó tức là phá, đâu cần đến nay lại phải luận phá. Kế nếu chưa trở xuống là chánh nói ý phá. Vì chưa an, nếu chưa phá, nay lại nói phá, nên nói: Nếu chưa tương ưng v.v… Nói có tuệ của định, vì vậy an tâm phá khắp đều là bặt đãi, đều đủ định tuệ. Nay y cứ vào sơ tâm muốn vào chưa vào, tùy sự điều phục cùng dùng khác nhau, hoặc phải có định của tuệ như an tâm trước, hoặc phải có tuệ của định như nay phá khắp. Cho nên từ hạnh đặt tên, tên chẳng dối lập. Lại trong an tâm ở trước, trước thôi pháp tánh vì nhiều từ định, cho nên nói an. Nay ở trong phá trước y cứ giáo môn nghĩa nhiều từ tuệ, cho nên nói phá. Hai văn gồm đủ, pháp thể chẳng khắp. Cho nên tín pháp trước không gì chẳng phải pháp tánh chỉ quán. Nay đây Vô sanh cũng do đồng thể chỉ quán. Song phá pháp trở xuống là muốn nói môn phá pháp Vô sanh. Lại trước nêu chung các môn khác nhau từ rộng đến hẹp để chỉ vô sanh. Cho nên trước nêu kinh luận nói về các môn tức là giáo hạnh trí lý. Văn tự tức là giáo làm môn. Bốn mươi hai Tự Đại Luân Đại Phẩm trong giải thích rộng. Đại sư Nam Nhạc chia làm hai giải: Một là y cứ chung ba thừa, hai là y cứ biệt viên đốn. Nay bỏ chung theo đốn. Đại Phẩm nói: Đại Bồ-tát cái gọi là ngữ v.v… tự v.v… các chữ vào tự môn A, tự môn A đủ tất cả pháp. Cho đến chữ trà hết các pháp, rốt ráo cùng đây chẳng trọn chẳng sanh, qua khỏi chữ trà không có chữ để nói, chẳng thể nói chẳng thể hết, tất cả pháp như hư không. Hoặc quán hạnh trở xuống là nói hạnh là môn, Tam-muội là hạnh. Đại luận nói: Bồ-tát tu ba Tam-muội gọi là các môn Tam-muội thông đến thật tướng, cho nên hay làm môn cho thật tướng. Nếu mười sáu hạnh là môn ba Tammuội, chỉ là chân đế làm môn, không phải ý văn nay. Hoặc trí tuệ trở xuống là dùng trí tuệ làm môn v.v… Hoặc lý trở xuống là lấy lý làm môn v.v… y giáo trở xuống lại sanh khởi trước chỗ lệ giáo v.v… bốn môn thứ lớp. Giáo đã ở đầu cho nên nay y giáo. Lại vì khiến giáo có công năng, hay chung đến lý, quán trí là giáo hiển sáng. Cho nên sanh khởi. Ba môn trở xuống là lấy bỏ. Ba tạng trở xuống là trong giáo lại phân biệt ba giáo như Tạng v.v…. Nói tạng ở trước phá kiến v.v…, nếu đệ tử Phật sẽ trước phá kiến hoặc tuệ hành tham chán, hoặc nghe thiện lai v.v… thành A-la-hán là thành Phật ba mươi bốn tâm đều cùng dứt, Thông giáo rất đồng. Nói đều há là chẳng ở Phật mà thôi. Biệt chỉ thứ lớp từ cạn đến sâu, nên nói dọc khắp, lại nhờ giáo đạo nên nói dọc khắp. Y thật chỉ dứt mười hai phẩm. Dọc còn chưa khắp huống chi là ngang ư! Nói ngang chẳng khắp. Như mới quán kiến tư, đủ nhiếp các hoặc. Trí năng quán nhiễm tất cả trí, mỗi vị đều thế, nên nói ngang khắp. Biệt giáo chẳng cho nên phải phân biệt. Nay không thể nghĩ bàn trở xuống là mở bày tướng viên môn. Một cảnh tất cả cảnh, chỉ cảnh không thể nghĩ bàn trước, một tâm tất cả tâm chỉ phát tâm an tâm ở trước. Y theo luận này mà phá, nên gọi là phá khắp. Các môn khác trở xuống là y cứ nói ý phân biệt chánh dùng viên môn. Cái gọi là trở xuống là chánh nêu viên môn. Nay ở viên môn lại nói về lấy bỏ. Lý tuy tức nhau sơ tâm từ dễ và tùy tiện nghi dùng nhiều Vô sanh, nên ở viên môn bỏ ba còn một. Môn vô sanh trở xuống là chánh bày Vô sanh ngang dọc phá khắp nhiếp pháp công năng, trong đó trước lược kế rộng. Trong sơ trước nói môn dọc. Trước nêu năng chung, làm sáng tỏ hai ý. Vì sao? Trở xuống là giải thích, giải thích chung hai ý. Trước giải thích nhân đến. Tịnh Danh trở xuống là dẫn chứng. Tịnh Danh, Đại Phẩm đều dùng giáo môn chung hành đến nhân, đều dùng vô sanh làm đầu. Cho nên trong ba mươi hai vị Bồ-tát của kinh Tịnh Danh kia, sơ pháp tự tại nói: Sanh diệt là hai, chẳng sanh chẳng diệt là chẳng hai. Chẳng sanh chẳng diệt tức là viên vô sanh. Bốn mươi hai chữ trong Đại Phẩm cũng Vô sanh đứng đầu, nên nay cũng như thế. Văn nêu tuy dùng hữu môn đứng đầu, y các trước lại dùng vô sanh. Chỉ quán trở xuống là nói chỉ quán hay hiển tuy có giáo này cần phải hành hiển. Cho nên sanh khởi trước nói y giáo chung hành. Nếu không có giáo thì hạnh cũng không có chỗ khắc. Vì có giáo cho nên khiến hạnh trí môn chung với lý. Sơ trụ thấy lý ngoại dụng tự tại, khiến môn vô sanh một lớp sáng tỏ, cho nên nói ngang dọc vô ngại, chỗ xúc chạm đều thông. Cho nên trong sanh khởi nói tuy không chỗ thông mà khắp thông tất cả. Thí như trở xuống là nêu thí dụ. Người gọi hành nhân, vị gọi nhập trụ. Nếu không có môn ấy giáo làm sao trùm khắp. Không có người ấy hạnh làm sao được bẩm. Bẩm giáo hạnh hạnh được đến lý, cho nên nói có người có vị. Như người vào tướng môn mới vinh hiển. Kế chung quả, trước nêu quả được thông, tức Niết-bàn vô sanh, kế định tuệ đều đủ nên gọi là chẳng sanh, trí đoạn đầy đủ, nên gọi là vô sanh. Cho nên hai pháp định tuệ đến quả mới đủ. Văn Đại Phẩm, là Vô sanh lý đủ nên nói chẳng đến chẳng đi, đến Phật mới gọi là vô sanh. Ý văn Pháp Hoa so sánh với Niết-bàn rất dễ hiểu. Chỉ quán trở xuống là nói quả năng hiển. Do quả mãn nên tự tha y chánh tất cả đều mãn. Nguy nguy là cao vòi vọi Đường Đường Nhĩ Nhã nói: Đường đường dung. Bạch Hổ Thông nói Đường Đường Minh. Như trăng cao sáng tức là quả trí. Trong các sao sáng chỉ mặt trăng là hơn hết. Kinh Quán Đảnh nói nguy nguy đường đường như trăng trong sao, xua tan mây sanh tử. Nay nói quả mãn làm lợi ích cho người. Chiếu mười núi báu v.v…, kinh Hoa Nghiêm quyển hai mươi mốt nói: Phật tử, Bồ-tát mười Địa nhân ở trí Phật mà có khác nhau, như nhân đại địa có mười núi báu, tức là Tuyết Hương Kha-lê-la Tiên Thánh Do-càn-đà, Mã Nhĩ Ni Dân Đà Chiết-ca-la Túc Tuệ và núi Tu-di. Mỗi nơi đều gọi là vương. Núi Tuyết nhóm họp tất cả thuốc tất cả thuốc, hương nhóm họp tất cả hương, Kha-lê-la nhóm họp hoa, tiên thánh nhóm họp năm thông, Do-càn-đà Dược-xoa, Mã Nhĩ nhóm họp diệu quả. Ni-dân-đà nhóm họp rồng, Chước-ca-la tự tại túc tuệ nhóm họp Tu-la, Tu-di nhóm họp các trời. Nói tự tại, tức là các Đại đức, tức dùng mười núi nhóm họp các công năng. Đối mười địa, Sơ địa trở lên tâm chứng trí Phật thềm bậc khác nhau. Chỉ có Phật mới biết. Địa này cũng như thế. Cho nên nói nhân ở Trí Phật mà có mười địa. Nay văn dùng dụ cùng kinh nêu biệt. Kinh dùng mười núi để dụ mười địa. Mười núi y từng địa dụ cho trí quả. Nay cũng lấy mười núi mà dụ cho mười địa. Tràng dụ cho Trí Phật, dưới chiếu mười núi. Thí dụ quả Phật trí khởi các địa. Cho nên hợp dụ rằng: Công cao mười địa ảnh đến bốn biển dụ cho khởi ứng, quả cũng dưới hợp. Hấp dẫn bốn cơ, nước như cơ, ảnh như ứng. Bốn giáo bốn môn bốn tất đều là thùy ứng lập giáo. Kinh Kim Quang Minh Phật lễ tháp xương, tân dịch quyển hai mươi nói: Bấy giờ, Thế tôn vì các đại chúng nói bổn duyên của mười ngàn Thiên tử ngồi kiết già trên tòa, bảo các Tỳ-kheo rằng: Các ông có ưa thấy bản thân Bồ-tát chăng? Các Tỳ-kheo chúng con muốn thấy. Bấy giờ bèn dùng tay trăm phước trang nghiêm vỗ đất liền nứt ra, có chế-đa (tháp) bảy báu bỗng nhiên vọt lên các báu trang nghiêm. Khi ấy, Thế tôn liền đứng dậy đảnh lễ, rồi đi nhiễu bên phải, xong trở về chỗ ngồi, bảo A-nan rằng: Ông hãy mở cửa tháp, A-nan vâng lời dạy mở ra, liền thấy hộp bảy báu, thấy có xá-lợi trắng như ngọc kha tuyết. Bảo các Tỳ-kheo: Các thầy hãy lễ bái thân Bồ-tát. Anan bạch Phật Như lai, Thế tôn hơn tất cả, được các hữu tình cung kính, vì sao lễ thân xương này? Phật bảo A-nan: Do đây mau chứng được Bồđề, vì báo đền pháp ân nay ta kính lễ, vì đại chúng nói Bản duyên Tát- đỏa. Tát-đỏa ấy tức là thân ta. Cho nên biết Phật địa nhân quả là do chỉ quán giáo tuy được quả Phật kính bẩm giáo thân. Cho nên nay Phật lễ xương thân. Vô sinh trở xuống là kế nói nhiếp ngang. Đây tức kếp trước sinh sau. Đại phẩm trở xuống là chánh bày môn ngang. Hỏi: Trước môn dọc Vô sinh cũng thấy bốn mươi hai chữ trước, vì sao nay lại lấy tự môn làm ngang. Đáp: Trước ở Vô sinh một môn dọc nhập, cho nên có nhân quả đối nhau cạn sâu, do đó gọi là dọc. Nay dùng bốn mươi hai chữ đều đối nhau đã tự thành ngang. Lại đều nhiếp ở bốn mươi hai chữ, thì trong mỗi chữ chỗ nhiếp lại ngang. Cho nên biết ngang dọc nhiếp đủ trong đó. Đây cũng chẳng phải ngang chẳng phải dọc mà nói ngang dọc. Ý này trở xuống là muốn rộng bày công năng giải thích nghĩa, cho nên đề khởi trước. Chỉ nói nhân quả ngang dọc Vô sinh ý cũng khó thấy. Cho nên lại phải y cứ Phật Tạng. Nay trong văn này giải thích nghĩa Phật Tạng. Trước việc kế quán trong việc thích ở trước chánh dẫn kinh để nói ngoại dụng. Kế hợp môn Vô sinh. Nói ngoại dụng. Kinh quyển thượng chép: Trong không danh tướng, giả danh tướng mà nói, đều là năng lực không thể nghĩ bàn của Như lai. Thí như có người cắp núi Tu-di bay lên hư không, bè đá qua sông (chở) bốn thiên hạ và núi Tu-di. Chân ruồi muỗi làm thang leo lên đến cùng Phạm thiên. Khi kiếp tận thiêu đốt thì khạc nhổ một cái lửa liền diệt, thổi một cái thế giới liền thành, mượn sợi tơ mà treo núi Tu-di, tay tiếp mưa bốn thiên hạ, Như lai nói tất cả các pháp vô tướng, vô vi, Vô sinh, vô diệt, khiến người tin hiểu là rất khó có, rất là ít có. Nếu ít có chỗ được cùng Phật, Pháp, Tăng tranh nhau. Vào tà đạo chẳng nghe xuất gia thọ giới. Uống một chén nước phải biết kinh nói Vô sinh ngoại dụng để hiển diệu lý nhân quả Vô sinh, ấy thì chẳng rõ Nhất thể Tam bảo thường trụ, chẳng nghe xuất gia. Nói chẳng nghe, nếu chẳng hiểu để giới này chẳng đầy đủ thì đây là đồng với Thắng-man quyển cuối để giải. Kinh ấy trở xuống trong hợp Vô sinh. Khạc thổi chỉ là dụng của trí dứt. Trí dứt chẳng hai nên khạc, thổi đồng thời. Nếu có người nói được Vô sinh, thì xin xét ngoại dụng. Phải biết trở xuống là kế nói quán tâm giải thích nghĩa Phật tạng, quán tâm tức là tu nhân trí dứt. Cho nên lại phải y cứ quán tâm mà giải thích. Một sát-na khởi gọi là một chúng sinh, tức khởi tức diệt, gọi là một kỳ. Trong niệm niệm thường sanh ba độc, tức là nghĩa ba tai ở kiếp tận. Ba độc tham đứng đầu, ba tai lửa đứng đầu, dùng chỉ quán không thể nghĩ bàn mà quán ba độc này.

PHẦN 5

Đại kinh trở xuống là dùng Niết-bàn mà giải thích nghĩa. Nhưng nghĩa Vô sinh nằm rãi rác trong các giáo, danh tướng rõ ràng chẳng gì hơn Đại kinh. Cho nên dẫn bốn câu, sáu câu giải thích nghĩa Vô sinh, chẳng ngoài tự tha, trí dứt, năng sở, việc lý, nghĩ bàn, không thể nghĩ bàn đều Vô sinh. Tức là ánh sáng nhân quả hay hiển nghĩa đều ở kinh quyển mười chín. Trước giải thích bốn câu nói chẳng nghe mà nghe một câu có các thứ nghĩa. Kinh trước nêu bốn câu chẳng nghe mà nghe, v.v… Lại dùng bốn câu chẳng đến mà đến v.v… Để giải thích chẳng sinh mà sinh, cho nên nói chẳng nghe mà nghe có các thứ nghĩa. Nay trong đó lại nói thuận Vô sinh. Cho nên dùng chẳng sinh mà sinh để giải thích nghĩa Vô sinh. Nhưng người xưa dùng bốn câu chẳng nghe mà nghe, chẳng sinh mà sinh v.v… ở trước, dưới mỗi câu chỉ là chuyển thích mà thôi. Cho nên nhiều giải thích bốn câu chẳng nghe mà nghe v.v…, các câu kia chỉ so sánh. Có người nói: Nghe chẳng nghe ngay nơi tục là chân, chẳng nghe mà nghe ngay nơi chân mà tục. Nghe nghe chỉ cho tục, chẳng nghe mà chẳng nghe chỉ cho chân. Lại nói chẳng nghe nghe từ chân khởi ứng, nghe chẳng nghe nhiếp ứng về bản, chẳng nghe chẳng nghe pháp thân bất động. Nghe nghe là ứng tích chẳng thôi. Chẳng sinh sinh, v.v… xưa cũng có nhiều giải Hưng Hoàng dùng Tuyết Sơn kệ tiêu. Chẳng sinh mà sinh là các hạnh vô thường, sinh mà chẳng sinh là pháp sinh diệt sinh sinh là sinh diệt diệt rồi, chẳng sinh mà chẳng sinh là vắng lặng làm vui. Lại đem bốn xuất kệ tiêu. Nói bốn xuất là kệ này bốn chỗ xuất ra. Người xưa gọi là Niết-bàn bốn trụ, nghĩa là chín mươi lăm, hai mươi lăm, hai mươi sáu. Chẳng sinh mà sinh xưa không nay có, sinh mà chẳng sinh xưa có nay không. Sinh mà sinh ba đời có pháp, chẳng sinh mà chẳng sinh, không có việc ấy. Lại nói bốn câu Như lai chứng Niết-bàn, v.v… mà đối. Chương An nói: y theo văn dưới nói ta nhân việc ấy liền được hiểu một câu nửa câu, được thấy Phật tánh vào Niết-bàn, phải biết đều là câu thấy Phật tánh. Chẳng nghe mà nghe là tánh liễu nhân. Nghe mà chẳng nghe là tánh duyên nhân, chẳng nghe mà chẳng nghe là tánh chánh nhân, nghe mà nghe là cảnh giới tánh. So sánh theo đây để giải thích chẳng sinh mà sinh v.v…, cũng rất dễ thấy. Tuy xưa có nhiều giải thích chưa hội được ý chỉ kinh, theo ngài Chương An giải lại là một đường. Chương An nói: Đều chẳng như thế, trí dứt nhân quả đều là Vô sinh. Chỉ vì nêu kinh riêng làm một đường, kinh kia Phật muốn nói đây chẳng nghe mà nghe, v.v…, phát ra ánh sáng chiếu khắp các thế giới mười phương. Lúc đó, phương Đông có Bồ-tát Lưu Ly Quang. Khi mới đến tất cả đại chúng không phải xanh thấy xanh, cho đến không phải trắng thấy trắng. Các Bồ-tát, v.v… thấy ánh sáng này đều hỏi nhau rằng: Đây là ánh sáng gì? Đều làm thinh chẳng đáp. Kế hỏi ngài Vănthù. Văn-thù đáp rằng: Ánh sáng đó tức là trí tuệ, trí tuệ tức là thường trụ, cho đến tức là Như lai, tức là đại từ. Phật nói: nay Ông chớ vào Định đệ nhất nghĩa rất sâu, phải dùng thế tục mà giải thích. Văn-thù nói: phương Đông cách đây hai mươi Hằng sa thế giới có thế giới tên là Mãn Nguyệt, ở đó co Bồ-tát tên là Lưu Ly Quang, ở đó thấy ánh sáng mà hỏi Phật ấy. Phật ấy đáp rằng: Ở phương Tây cách đây hai mươi Hằng sa thế giới có thế giới tên là Ta-bà, có Đức Phật tên là Thích-ca, vì các Bồ-tát nói chẳng nghe mà nghe, v.v… Bồ-tát ấy bạch Phật ấy muốn đến đây nghe chẳng nghe mà nghe. Từ đó đến đây trước hiện tướng này. Như xưa các giải thích đều từ một đường, lấy gì để biểu thị cho chỉ quang triệu, lấy gì để sinh đại nghi mười phương. Lấy di mạng vô uổng nhục của Phật ấy, đều đủ để bổ túc tình từ xa đến. Kệ tuy nhiếp rộng các việc nhưng ý lược. Cho nên biết chẳng thể giải thích như thế. Muốn hiểu văn này phải hiểu ý dùng văn kinh của Đại sư. Nếu giải thích văn ấy và ở đây vì người, thì lấy sinh sinh ở trước dùng đối bốn giáo. Lấy nghĩa tùy sinh cho tiện. Trong đây nêu kinh giải thích nghĩa Vô sinh. Cho nên y đủ thứ lớp văn kinh. Trước nêu bốn câu, kế xét dưới đây mà lược nêu tướng nhiếp. Chẳng sinh mà sinh là nhân tự hành, là vị Sơ trụ. Chẳng sinh mà chẳng sinh là quả tự hành, vị ở Diệu giác. Sinh mà chẳng sinh tức là năng hóa tha, sinh mà sinh tức là sở hóa tha. Nếu chẳng như thế làm sao gọi là khắp. Cho nên môn phá khắp nghĩa đồng một bộ. Một bộ chỉ là tự tha nhân quả năng sở. Chẳng sinh mà sinh trở xuống là kế giải thích bốn câu, tự làm bốn văn. Nhưng trong các câu hễ nói kinh giải thích, đều là Đại Kinh Phật Tự giải thích, hễ nói nay giải tức là Đại sư giải thích lời Phật giải đều dẫn Phật Tạng khạc thổi mà kết. Câu đầu thiếu kết theo nghĩa phải có. Trước chẳng sinh mà sinh là nhắc lại kinh câu đầu. An trụ trở xuống là kinh giải. Nay giải trở xuống là Đại sư giải thích. Muốn nói chỗ an nên trước giải thích Đế, kế nói năng an nên sau giải thích an trụ. Lý vốn chẳng hai, chẳng cộng chẳng lìa, y cứ việc sở an cũng giống như thế. Vì chỉ quán an nên Thế đế mới thành cảnh không thể nghĩ bàn. An tức là quán, quán này mới thành gọi là vị Quán hạnh. Vì viên quán giải nhờ ở thế đế, quán là Thánh dựng, Thánh gá thai nên gọi là gá thai Thánh. Lại sinh trong dòng Thánh gọi là gá thai thánh. Nếu vào Sơ trụ gọi là ra khỏi thai thánh. Thánh ra thai nên gọi là Xuất thai Thánh. Kế một phần lý nên nói chẳng thấy, chẳng thấy tức chẳng sinh trí đức thành. Đây giải thích chẳng sinh. Được tri kiến Phật trở xuống là kế giải thích chữ Sinh. Luận nói dưới dẫn luận chứng, các pháp tức là vô minh thế đế. Bát-nhã sinh là tri kiến Phật khai. Đây nói trở xuống là kết bày. Kinh giải thích chẳng sinh chẳng sinh trở xuống là nhắc lại câu thứ hai. Kế chẳng sinh chẳng sinh trở xuống là kinh giải gọi là Đại Niết-bàn nêu chung. Sinh tướng trở xuống là giải thích hai chẳng sinh. Sinh tướng hết cho nên tức trí dứt đức mãn. Tu đạo được nên nói quả do nhân khế. Nay giải trở xuống là Đại sư giải thích. Hai đức đã viên thích thì tướng sinh hết. Tức chỉ Diệu giác là quả vắng lặng. Nhân quả trở xuống là dùng Phật tạng kết. Kết tức là kết đồng. Kinh thích trở xuống là nêu câu thứ ba. Thế đế trở xuống là kinh giải. Nay giải trở xuống là Đại sư giải thích. Do vô minh nên hợp với pháp tánh sinh ra các pháp. Nên gọi vô minh để làm căn bản. Chỉ phá căn bản thì các pháp chẳng sinh. Tử là tên khác của chẳng sinh. Đây giải thích trở xuống là lại nói câu này chỗ dùng nghĩa chỉ, dùng dứt đức này mà giải thích trí đức ở đầu. Nếu không có dứt đức thì trí đức chẳng thành tựu, cho nên phải dùng dứt đức để giải thích trí. Nếu trong câu đầu trí đức thành thì trong câu đầu chẳng sinh chữ. Nếu trong câu này dứt đức thành thì trong câu này dưới chẳng sinh chữ. Chẳng sinh tên đồng, v.v… là phân biệt trong hai câu chẳng sinh chữ. Câu đầu trên chẳng sinh chữ câu này dy cứ chẳng sinh chữ. Hai chỗ chẳng sinh tên ấy tuy đồng mà việc lý thì khác. Câu đầu trí đức duyên lý gọi là chẳng sinh. Câu này phá việc hoặc hết mà được gọi là chẳng sinh. Dùng lý so sánh việc thì việc là dưới. Cho nên nói dưới phá. Dùng việc so sánh lý thì lý là trên nên nói trên duyên. Kế câu đầu trở xuống là phân biệt sinh chữ trong hai câu. Câu trước thuộc trí, câu này thuộc hoặc, hai chỗ sinh chữ tên tuy đồng nhưng câu đầu sinh chữ thuộc trí. Trí là thoát, câu này sinh chữ thuộc hoặc, hoặc tức là phước. Cho nên nói rất khác. Hai chỗ đều có sinh và chẳng sinh cho nên phải phân biệt vì tên đồng mà nghĩa khác. Trí dứt hai đức đã không trước sau. Nếu dùng thứ ba mà giải thích thứ nhất, cũng có thể dùng một mà giải thích ba, vì trí dứt đồng thời. Thể tuy chẳng hai mà trước vận trí để dứt hoặc. Há hoặc tự dứt mà trí mới sinh cho nên lại dùng thứ ba giải thích thứ nhất. Lại giả sử thứ ba nêu ở thứ nhất, cũng có thể dùng thứ nhất để giải thích thứ ba. Nói chẳng lụy thư lại y theo văn thứ. Lại từ nghĩa tiện cho nên như thế. Câu đầu trở xuống là Phật tạng kết, đây đã giải thích đầu, cho nên trong kết cũng o sánh câu đầu tức nhau mà kết. Văn giống trước sau, dùng sẽ đồng thời. Cho nên nói một thời chẳng thể trước sau. Kinh lại giải thích trở xuống là thuật kinh lại giải thích câu thứ ba. Đây là sơ nhắc lại kinh lại giải thích. Nay giải trở xuống là Đại sư giải thích kinh lại giải thích nghĩa. Văn kinh chỉ nói một sinh chẳng sinh. Kinh trước sau giải thích hai nghĩa tự phần. Cho nên nay Đại sư xếp ra hai tướng văn khác nhau. Trước là giải thích trước. Đã nói dứt đức biết đó hoặc diệt của tự hành. Trong đây lại giải thích đã nói Bồ-tát Tứ trụ tức là Bồ-tát dứt bốn trụ rồi thì sinh tự tại. Trước dứt bốn trụ tức như Bồ-tát Thông giáo còn hay tự tại lợi ích chúng sinh, huống chi là vào Sơ Trụ chân nhân phân khai. Vì người Thông giáo dứt bốn trụ kém, hiển ở người viên dứt năm trụ hơn. Hoặc diệt trở xuống cũng dùng Phật tạng lại kết hai giải. Hoặc diệt là hiện khạc nhổ để kết giải thích đầu. Hóa hưng là hiển thổi để kết giải thích lại. Kinh giải thích trở xuống là nhắc lại câu kinh thứ tư. Tất cả trở xuống là kinh giải. Nay giải trở xuống là Đại sư giải thích. Vì sao Bồ-tát trở xuống là nhắc lại vừa giải thích lại xem là năng hóa. Hữu lậu là sinh tiếp nối chẳng dứt nên gọi là sinh sinh, sinh sinh tức là cảnh sở hóa. Cho nên trở xuống là nhắc lại năng hóa bày ý sinh. Ý ở sở hóa, ấy là trở xuống là kết thành công năng Vô sinh. Ba câu trước đều là năng hóa tha nhân quả trí dứt, câu này tức là sở hóa tha. Bốn trụ trở xuống là Đại sư lại dùng bốn trụ trong sáu trụ của Địa trì mà giải thích Phật trùng thích Bồ-tát Tứ trụ. Địa trì Lục trụ phải là nghĩa biệt, hướng Phật còn dùng thông kém mà hiển bày viên hơn, há không dùng biệt mà hiển bày viên ư? Huống chi nay lại có Địa trì văn biệt, cho nên dẫn ra mà hiển viên diệu. Luận sáu trụ là từ Mười trụ trở xuống mới được gọi Trụ. Nếu người không có chủng tánh, v.v… là chỉ Bồ-tát mười tín, cho nên nói tuy sinh đường lành, v.v… chẳng ở trong số sáu người, tức là chẳng thuộc sáu trụ. Vì sáu người này đều bất thối, nên gọi là Trụ. Lại nói rốt ráo, chính là Bồ-tát Địa cùng chẳng phải vĩnh viễn rốt ráo chủng tánh thành tựu, tức là Mười trụ mãn. Đã dứt kiến tư nên nói không lui sụt. Được ở một người, là người đầu trong sáu. Cho đến hạnh hướng đều do trong trụ dứt kiến tư rồi mới tiến hành được. Cho nên nói luôn tăng tiến. Tức trụ thứ hai thân làm Sơ địa phương tiện. Trong chủng tánh ở trước đã vào quán không cũng đều là biệt địa phương tiện cách địa rất xa, đến hồi hướng thân tu Trung quán nên nói phương tiện. Tịnh tâm là Sơ địa, là phá đồng thể kiến. Cho nên nói: Địa tiền Ly ngã phàm phu đều chưa dứt. Tức là kiến địa của Biệt giáo. Hành đạo tích, là Biệt tu đạo vị phá đồng thể tư, quyết định rốt ráo đều phá tư. Kinh xưng trở xuống là dùng luận xếp kinh, đến Hành đạo tích gọi là chân xuất giả, mang giáo đạo nói lý do lập kiến tư. Thứ lớp đến đây còn hay lợi ích lớn, huống chi lại Viên giáo năm trụ cùng tận ư? Huống chi lại một thể trí dứt thành ư? Kinh lại trở xuống là kế giải thích sáu câu. Trong kinh sở dĩ lại nói sáu câu, là vì bốn câu trước nói thẳng nhân quả năng sở Vô sinh. Tên Vô sinh tuy tức là phá chưa phá Vô sinh cho nên nay nói đều chẳng thể nói lại bốn câu trước tuy nói Vô sinh nhưng chưa biết thế nào là Vô sinh, cho nên trong sáu câu nghĩ bàn và không thể nghĩ bàn sinh và Vô sinh tất cả đều phá. Cho nên sáu câu đều không thể nói, bèn hiển chánh ý văn nay phá khắp. Trước giải thích bốn câu đều chẳng thể nói để nói tự hành. Trong đó trước so sánh câu kinh. Xét đây trở xuống là lược nói ý câu. Nếu phá trở xuống là Đại sư trước lại nêu kinh bản cú. Mỗi câu trở xuống là đều nói chẳng thể nói, tức là nghĩa phá văn đầu là lược xếp. Nói hoặc nghĩ bàn và không thể nghĩ bàn, nên nói nghĩ bàn và không thể nghĩ bàn giải hoặc. Chẳng thứ lớp giải hoặc là không thể nghĩ bàn. Giải là năng phá, hoặc là sở phá. Cho nên giải hoặc theo nhau đồng gọi là nghĩ bàn và không thể nghĩ bàn. Hoặc cùng giải đều phải phá khắp, còn chẳng thể làm không thể nghĩ bàn mà nói, huống nghĩ bàn ư? Cho nên mỗi câu trở xuống đều nói chẳng thể nói. Hỏi: Nghĩ bàn phải phá, không thể nghĩ bàn đâu cần phá ư? Đáp: Lý chẳng phải khắp viên nên đều phải phá. Nếu phá viên là phá viên khác thiên. Chẳng phá lý viên, nên nói chẳng phá trong tâm bậc Thánh đã được Niết-bàn. Vì người chưa được mà chấp thành hý luận, cho nên phà mà thôi. Vì sao trở xuống là giải thích? Trong giải thích bốn câu nghĩ bàn, trong đó trước phá hoặc, kế phá giải. Trước hai câu trong hoặc, câu đầu giải thích thành nghĩ bàn kế giải thích thành không thể nói. Câu đầu nói hoặc giới ngoại, là lý thể chẳng sinh mà hoặc là sinh. Cho nên nói chẳng sinh sinh. Hoặc của giới nói nói là (ngọn ngành), là hoặc của giới ngoại đã là ở sinh, từ trên sinh hoặc lại sinh hoặc. Cho nên nói sinh sinh, giới ngoại tức là hoặc vô minh giới nội tức là hoặc kiến tư. Có thô tế nên có trong ngoài cho nên xếp vào nghĩ bàn. Hoặc này trở xuống là bày tướng đối đãi nhau, trước nói sinh sinh là cảnh sở hóa. Nói đều, phàm là sinh sinh đều là sở hóa. Nhân sở có năng nên thành đối nhau. Sở hóa đã chẳng thật có trở xuống là giải thích không thể nói nói năng hóa sở hóa đều không thể nói, cũng như người huyễn vì người huyễn nói pháp. Hỏi: Năng hóa đã là Biệt hoặc, vì sao lại nói tự tại? Đáp: Đã dứt thông hoặc, tức đối với thông hoặc gọi là tự tại. Nếu đối với Biệt hoặc vận là trói cột. Nhánh và gốc đều là pháp tánh, tức quán pháp tánh mà quên mất hoặc gọi là không thể nói. Kế nếu phá trở xuống là phá giải nghĩ bàn. Cũng trước giải thích hai câu thành nghĩ bàn. Kế giải thích chung thành không thể nói. Giải của giới ngoại nói là song di, là từ trước được tên cũng là khác thời đối nhau gọi là song, phải nói phá hoặc. Nay nói phần dứt, biến dịch là trong nhân nói quả. Vì hoặc phá nên sinh tử sẽ phá. Phá giới nội hoặc khiến sinh chẳng sinh, nên nói sinh chẳng sinh. Hỏi: Hoặc của giới ngoại đã là năng hóa, có khác gì với giải giới nội? Đáp: Giải của giới nội phá hoặc giới nội, mà được gọi là giải. Sinh giới ngoại đã ở cụ phược kia gọi là hoặc giới ngoại. Tuy phải phân gọi hoặc mà năng chỗ khác. Giải này trở xuống là bày tướng đối nhau. Mười sáu môn khác nên nói các thứ. Từ cạn đến sâu đều thuộc tự hành, trước sau thứ lớp kịp vị hóa tha, đối bốn giáo nói nên thành nhiều thứ nhân quả khác nhau. Như trong quyển một nói bốn hoằng. Lý còn trở xuống là giải thích không thể nói. Bốn thứ Đạo đế là hạnh năng đường diệt lý pháp tánh là lý sở đường, cho nên đều không thể nói. Kế trong phá không thể nghĩ bàn cũng trước hoặc, kế giải. Giải hoặc này chỉ điểm vô minh đối với lý viên, chẳng phân trong ngoài nhánh gốc khác nhau. Cho nên gọi là bất nghĩ bàn, trước trong phá hoặc, trước lại giải thích thành bất nghĩ bàn, nên nói chỉ là vô minh. Vô minh chẳng thật có trở xuống là nói không thể nói. Chẳng thật có chỉ là không thể nói mà thôi. Kế phá giải bất nghĩ bàn, cũng trước bày tướng không thể nghĩ bàn, cho nên nói chỉ là viên giải. Ở đây xếp ra viên nhân viên quả. Lý chẳng thiên viên trở xuống là nói không thể nói. Lý chẳng phải thiên nên chẳng thể thiên nói. Lý cũng chẳng phải viên thì làm sao có thể nói viên ư? Đem nó trở xuống là nói ý dùng câu. Phật tự trở xuống là kế nói Đại sư giải thích chỗ Phật giải thích. Cho nên trong câu đầu nêu Phật tự giải thích. Kế nay giải trở xuống là nói chỗ Đại sư giải thích. Ý phù hợp Phật giải thích chỉ hơi rộng. Trong mỗi câu đều nói nương ý chỉ này của Phật, là Đại sư tự nói đã bày ý Phật. Thuật lại ý chỉ Phật để phù hợp với cái thấy của mình. Sinh tức điên đảo trở xuống là nói không thể nói. Kế giải thích câu thứ hai. Cũng trước nêu kình giải thích. Nay giới trở xuống là nói Đại sư giải thích lại hai. Trước giải thích sinh sinh, tám tướng dời đổi toàn là hữu lậu, tám tướng dời đổi đủ như giải thích ở trước. Hỏi: Trong tám tướng nói tiểu sinh đại, trong đây vì sao lấy đại sinh sinh tiểu. Đáp: Vì có đại sinh dẫn khởi tiểu sinh. Cho nên khiến tiểu sinh, sinh ra đại. Sinh sinh cho nên chẳng sinh v.v… là nói không thể nói. Sinh của hữu lậu tức là hư không. Không chẳng thể nói hay nghĩ bàn được, cho nên không thể nói. Chỉ nói hư không, là chỉ lấy pháp tánh hư không đối huyễn giả mà nói. Thật ra phải nói huyễn giả tức là hư không. Giả này nhậm vận thành không thể nghĩ bàn, cho nên chẳng nói riêng. Trong quyển một ở trước, ý trong văn bốn hoằng cũng như thế. Giải thích câu ba cũng trước nhắc lại giải thích kinh. Kế nay giải trở xuống là nói Đại sư giải thích cũng có hai. Trước giải thích sinh chẳng sinh. Sinh tức gọi là sinh là giải thích chữ sinh ở trên. Bátnhã khi sinh do các pháp chẳng sinh. Sinh chẳng tự sinh trở xuống là giải thích chữ chẳng sinh. Tức dùng bốn câu phá dẹp các pháp. Các pháp phá còn chẳng có câu vô, làm sao có bốn câu. Cho nên Bát-nhã chẳng phải bốn câu sinh gọi là chẳng sinh. Lại khi Bát-nhã sinh trở xuống là giải thích lại, lại dùng chẳng sinh sinh mà giải thích sinh chẳng sinh. Sinh tức Vô sinh, bởi Bát-nhã khi sinh Thế Đế đã chết. Cho nên được tuy sinh mà sinh tự tại, tức là sinh chẳng sinh. Nếu Bát-nhã sinh hạnh là giải thích thành bất khả tư thuyết. Nếu Bát-nhã sinh nhắc lại ở trên là giải thứ hai trong giải đầu, lại giải đầu trong giải kế, nói Bát-nhã khi sinh, nếu tự tại sinh nhắc lại ở trên là giải thích sau trong giải thích thứ hai. Nói mà sinh ba cõi. Hai sinh này đều chẳng thể làm sinh mà nói, vì thể không phải thứ lớp. Kế giải thích câu bốn, cũng trước nhắc lại Phật giải. Nay giải trở xuống là Đại sư thanh tịnh cũng có hai. Trước giải thích chẳng sinh chẳng sinh. Còn chẳng phải trở xuống là nói không thể nói. Y cứ vào đây là xếp câu. Đã nói cực quả biết đó là giới ngoại giải. Kế giải thích câu năm. Cũng trước nêu kinh. Nay giải trở xuống là Đại sư giải thích. Cũng trước giải thích sinh, giới trong ngoài sinh chỉ là vô minh, xem hai câu hoặc nghĩ bàn trước chỉ là một niệm từ duyên sinh hoặc, hoặc này chỉ là vô minh trong chướng. Duyên sinh tức không tức trung trở xuống là nói không thể nói. Giới trong ngoài sinh, nghĩa sinh tuy khác, nay xem đồng là một niệm duyên sinh. Tức không tức trung là sao? Vì thấy một niệm tức rốt ráo không. Tức trong pháp tánh trước đối sinh sinh là nghĩ bàn. Thấy nghĩ bàn này là không là trung. Nay thấy một niệm tức đủ ba hoặc, gọi là hoặc không thể nghĩ bàn đạo lý tức giả tức không, tức trung. Đại ý đồng với trước. Kế giải thích câu sáu, cũng trước nhắc lại kinh. Nay giải thích trở xuống là Đại sư giải thích, cũng có hai. Trước giải thích chẳng sinh, cũng xem giải hai nghĩ bàn trước. Tức là giải không thể nghĩ bàn trong đây. Cho nên nói: Và giải giới trong ngoài đều là được. Được tức là đến lý, lý dứt tâm miệng trở xuống là nói không thể nói, chẳng thể lại làm viên lý mà nói. Lý không nói nên gọi không thể nói. Phật vì trở xuống là tùy kết phá khắp. Thiên viên giải hoặc đều chẳng sinh, đều chẳng thể nói nên gọi là khắp y Phật tạng trở xuống là dùng chung Phật tạng chung kết bốn câu sáu câu từ trước đến nay. Nói bốn câu trước vừa thổi vừa khạc nhổ, là kết bốn câu đầu. Trong bốn câu đầu thì câu đầu tức là thổi mà khạc nhổ, câu thứ ba kế tức là khạc và thổi. Kế câu thứ hai là thổi khạc thành tựu. Câu thứ tư là thổi khạc sở hóa. Phải biết trong ba câu trước trong các câu đều có thổi có khạc. Câu thứ tư, nếu chỉ y cứ sở hóa thì nghĩa thuộc thổi, thổi chẳng dùng riêng, nghĩa phải tức khạc. Nếu dùng sở hiển năng thì toàn là công dụng thổi khạc. Hai câu sau, tức là hai câu sau trong câu đem hai câu này mà hai hướng dụng. Ở cuối sáu câu đồng gọi là khạc, khạc chỉ là phá, phá chỉ là không thể nói. Cho nên trong sáu câu, câu câu đều nói không thể nói, nếu đem kết văn bốn câu ở trước, thì hai câu đã là giải hoặc không thể nghĩ bàn. Giải hoặc tức nhau trí dứt chẳng hai, đồng nghĩa với thổi khạc. Cho nên dùng kết trí dứt bốn câu ở trước. Đây bèn chỉ dùng thượng sinh chẳng sinh, chẳng luận hai câu dưới không thể nói. Cho nên dùng chữ sinh để kết thổi trước dùng chữ chẳng sinh để kết khạc trước. Nếu gồm câu sau trở xuống là không thể nói. Cũng kết trước, là kết thổi khạc trước đều tức nhau, cũng chẳng thể làm tức nhau mà nói. Lại Lăng-già nói trở xuống là lại dùng Lăng-già giải thích thành sáu câu. Trước giải thích Lăng-già, kế kết Đại kinh đồng với Lăng-già. Trước giải thích nghĩa Lăng-già. Kinh ấy phẩm vô thường thứ tư nói Đại Tuệ bạch Phật, như chỗ Phật nói: Vào đêm thành tối Chánh giác, đêm nhập vào Bát Niết-bàn, khoảng giữa chẳng nói một chữ, chẳng đã nói, chẳng sẽ nói, chẳng đang nói là Phật nói bạch Thế tôn, y vào lời mật nào mà nói như thế. Phật bảo y vào hai lời mật, tức là tư chứng pháp và bản trụ pháp. Nhưng một đời bày hóa há không có quyền trì giáo bị vật. Chỉ y cứ hai thứ này không hề có nói, cho nên nói chẳng nói. Nay nói tự pháp chỉ y cứ tự chứng. Tự chứng trở xuống là giải thích hai pháp trong kinh vừa nêu. Cũng trước nêu kinh mà giải thích. Giải thích đầu trong tự pháp nói Như lai, tức là Chư Phật quá khứ cho đến chư

Phật mười phương hiện tại cũng Phật ấy chứng một thể chẳng khác.

Chẳng nhiều chẳng ít gọi là chẳng thêm bớt. Lìa nói năng v.v… tức là lại giải thích chỗ lìa pháp tự chứng. Giải thích rằng trở xuống là nay giải thích ý kinh. Lìa nói năng là kinh ấy quyển bảy nói: Lìa nói năng là chẳng thể nghĩ bàn. Lìa vọng tưởng là chẳng thể nghĩ, lìa văn tự nói hai đường là phức sơ giải thích nói năng giả danh trước y cứ pháp tự chứng thì có văn tự gì. Sợ tình vọng chấp chỉ lìa năng thuyết năng tự năng danh tức kính sở thuyết sở tư sơ danh, tức là chân thể, cho nên phức sơ nói hai đường đều lìa. Vì sao? Vì ở trong tự chứng chẳng thấy năng sở gọi là lìa hai đường. Bản trụ trở xuống là kế giải thích pháp bản trụ, tức là Phật tự hành đạo sở hành và Phật vốn chứng lý thật tướng, đều chẳng phải tu thành chẳng phải tác pháp cho nên khắp tất cả chỗ. Chẳng thể sửa đổi nên gọi là Trụ. Lý là chỗ đến, đạo là chỗ làm. Cho nên nêu thí dụ rằng: Đều không phải người đi, người đến ra làm. Cho nên vốn có đạo vì người chỗ làm há hành giả làm vốn có lý thành do bản đạo mà đến cũng do người thực hành mà đến được lý. Cho nên đều chẳng do người đến năng làm. Kinh trước lại nói: Pháp bản trụ, như vàng ở trong quặng và thành đến, quặng giống gồm khác thành ắt từ viên. Kinh nói trở xuống là dẫn kinh ấy giúp giải thích. Văn kế kinh ấy tức dùng thành tựu xưa làm dụ. Phật hỏi Đại tuệ: Thành ấy và đường đều là vật trong thành, là người vào đó làm ra chăng? Đáp: Không phải sĩ phu người đi chỉ tùy đường thường trụ vốn có mà đến tướng thành thật, được vật bí tạng muôn đức, vì được vui như ý Niết-bàn, vốn mong Niết-bàn nên nói như ý. Phải biết trở xuống là kết chung ý trước, không phải miệng nói là chẳng thể bàn, chẳng phải phân biệt là chẳng thể nghĩ. Xứng bản pháp nên chẳng thể thay đổi nghĩa này trở xuống là hội đồng với trung. Bèn lấy sinh sinh làm bản pháp. Trước giải thích sinh sinh mà chỉ pháp hữu lậu. Nay chỉ thể hữu lậu toàn là lý. Hỏi: Giải thích trước vì sao nói là sở hóa, nay vì sao nói là bản pháp. Đáp: Tất cả sở hóa đều là bản pháp. Cho nên Pháp sư Hiểu nói: Nước và sóng tột sóng thấu suốt nguồn nước, sinh thuận theo duyên sinh chẳng thể nói, kết sinh sinh ở trước chẳng thể nói. Cho nên văn trước giải thích rằng: Sinh tức hư không nên chẳng thể nói. Nay cũng giống như thế. Thuận theo duyên sinh chẳng thể nói, vì sinh tức trung. Nêu câu hai, ba y theo trước sẽ biết. Chẳng sinh chẳng sinh tức rốt ráo là trí dứt rốt ráo. Các thứ kia đều đồng với trước. Đại kinh nói mười nhân duyên trở xuống là kế nói có thể nói. Phàm trong các văn chẳng thể nói sau sẽ nói có thể nói. Trước tự chứng rồi sẽ hóa tha. Trong mười hai nhân duyên chẳng nói sinh tử, đây là thuộc vị lai. Nay nói từ quá khứ đến hiện tại để thành căn cơ, cho nên chẳng lấy. Vì thế trong Đại Kinh tiếp trước chẳng thể nói văn sau. Tức nói mười hai pháp nhân duyên là sinh làm nhân. Cái gọi là mười nhân sinh làm nhân. Vì hạt giống xưa ở trong hành vô minh lại đến đời này, lại y bổn nhóm họp mà khởi ái thủ hữu. Hiện tại nghe pháp phát nhóm họp, trong đây nhân duyên lại nói bên chúng sinh mười nhân duyên, cũng phải nghĩa gồm cảm ứng nhân duyên, nghĩa là cảm Phật bốn nói tức nghĩa nhân duyên. Văn Địa Trì kia lập bốn chủng tánh. Trong đó chủng tánh Thanh văn gọi là nhập diệt hẳn, không phải nay dùng. Nhưng luận Du-già, Kinh Giải Thâm Mật, v.v… đều thuộc bộ Phương Đẳng. Bắt Bẻ rằng: Vĩnh viễn vào sách phát khiến khởi. Như trong kinh Tịnh Danh. Ca-diếp tự kể rằng đối với Đại thừa này như hạt giống hư, hạt giống hư làm sao sống lại được. Đến hội Pháp Hoa thì căn cơ được thọ ký. Cho nên văn nay lại phụ vào Phương Đẳng. Chỉ lấy bốn tánh đối với bốn giáo, nghĩa vị thầm hợp. Hỏi trở xuống là trong phân biệt văn đầu khiến lập câu thứ tư, phó cơ là lập, câu thứ sáu là phá. Trong bốn câu trước có trí có dứt tức là nghĩa phải vừa phá vừa lập. Trong đáp cũng dùng văn Đại kinh mà đáp. Văn ấy giải thích cảnh năm hạnh đã xong.

Kế nói mười công đức rằng: Mười việc công đức chẳng thể nghĩ bàn, không khó không dễ, v.v… phải biết mười đức đều chứng Trung đạo. Năm hạnh mười đức này từ xưa có nhiều giải thích. Dao Lượng nói: năm hạnh là lược, mười đức là rộng, đều dùng hai đức mà đối một hạnh. Tống sư phá rằng sáu trước đối ba tướng mạo có thể như thế, bốn sau đối hạnh hoàn toàn chẳng tương ưng. Quang Trạch nói: Hạnh và công đức là một thể mà khác tên, đều từ nhân đến quả. Khai Thiện nói: Năm hạnh cạn, mười đức sâu. Năm hạnh, là bắt đầu từ sơ tâm chót đến Địa tiền. Mười đức, bản chất từ Sơ địa cho đến Kim cương tâm. Nếu làm nghĩa riêng Khai Thiện rất thân, nếu y nghĩa viên, rất giống Quang Trạch đủ như Huyền Văn nói viên năm hành. Nhưng cũng chẳng toàn dùng kinh ấy. Chỉ văn kinh ấy gồm Viên mang Biệt, mười địa chứng đạo tuy đồng với viên. Địa tiền giáo đạo chưa hề nghe, cho nên nói chẳng thể nghĩ bàn, người nghe quái lạ. Hà Tây nói: Nếu y theo bản Phạm thì phải nói ít có đặc biệt. Độn căn tiểu trí nghe thì quái lạ sợ hãi, người dịch lược bỏ, chỉ nói chẳng thể nghĩ bàn. Chương An giải thích rằng: Sâu không có đáy nên sợ, rộng không bến bờ nên quái lạ. Không phải phân biệt mà biết được nên chẳng phải khó, trí Nê-hoàn chẳng bằng nên không phải dễ, không phải chân nên không phải trong, không phải trục nên không phải ngoài, không phải sắc nên không phải tướng, không phải tâm nên không phải phi tướng, không có tới lui xưa nay nên chẳng phải thế pháp, không ở giữa không ở một bên nên không có tướng mạo, dứt bốn lìa trăm nên thế gian không có. Trong sớ chẳng giải thích không phải vuông tròn tà nhọn. Nay giúp giải thích rằng: Không biệt nên không phương (vuông), không thông nên không viên (tròn). Không không nên không nhọn, không có nên chẳng tà. Nếu nói theo chẳng phá chẳng lập, vì chẳng phá nên chẳng khó, chẳng lập nên chẳng dễ. Chẳng phá nên chẳng trong, chẳng lập nên chẳng ngoài, chẳng lập nên chẳng phải tướng, chẳng phá nên chẳng phi tướng. Chẳng phá nên chẳng viên, chẳng lập nên chẳng phương. Chẳng lập nên chẳng nhọn, chẳng phá nên chẳng tà. Kế là hỏi: Viên có bốn môn, nếu Vô sinh nhiếp hết thì đâu cần dùng môn. Ý đáp: Nay nói Vô sinh thì nói Vô sinh nhiếp hết, nếu nói các môn khác thì phải mỗi đều nói nhiếp hết. Nay từ hạnh tiện lại nói Vô sinh. Cho đến khai thành ba mươi hai môn, đâu chỉ có bốn. Đã nói trí dứt hai đức để đều lập môn, ba mươi hai môn không hề khác nhau, tùy nêu một môn thì nhiếp hết ba mươi mốt. Trăng Không thêm không bớt. Thí dụ chẳng khác mà khác y cứ bên hoặc trí mà nói có thêm bớt. Thấy có thêm bớt mà thể trăng luôn tròn. Các môn y vào hai đức trí đoạn chỉ từ năng nhập khác nhau, mà lý thể không hề sinh diệt. Đại Kinh nói: Nhân núi Tu-di nên có đầy vơi (tròn khuyết) Câu-xá lại nói gần mặt trời nên tự thể bị che. Các kinh Tiểu thừa phần nhiều nói bạc trắng lưu ly dần dần giúp hiện nên có thêm bớt. Nay lấy ý này dụ cho không thêm bớt, ý rất tiện. Nếu Vô sinh trở xuống là dùng môn kết khắp. Hỏi: các môn Vô sinh đều gọi Vô sinh v.v… Môn gọi Vô sinh thì tất cả đều phải gọi Vô sinh, trong các câu trước vì sao lại nói Vô sinh sinh, v.v… Vô sinh sinh là câu thứ nhất trong bốn câu đầu, sinh sinh là câu thứ tư. Sinh tự tại nên là câu thứ ba. Dẫn ba câu sinh để hỏi Vô sinh. Ý đáp: Ba câu nói sinh đều là công năng Vô sinh. Kế chánh nói trong phá pháp khắp trước nêu ba chương. Trong mỗi chương đều nói từ thỉ đến chung hết nguồn cội, là trong Tiêu thăm nói ý trong chương. Hết nguồn cội là ngang khắp, hết đáy là dọc cùng. Dọc phá rõ ràng có thủy có chung. Trong mỗi kiến, mỗi phẩm tư đều là pháp giới. Môn dọc mỗi pháp cũng đều lại có từ thỉ đến chung, trong môn chẳng hai đều ngang dọc, như thế đều ngang dọc chẳng hai. Nếu muồn lại từ ba chương đều nói, thì ba hoặc đều khắp nên gọi là ngang khắp chung đến thật tướng nên gọi là đến cùng. Mỗi hoặc trí lý chẳng phải ngang dọc. Trong ngang mỗi pháp cũng giống như thế. Lại nhiếp ngang tất cả gọi là ngang khắp, không gì chẳng viên cực nên gọi là dọc sâu. Tuy có ba văn chỉ thành hai nghĩa, tức là thứ và chẳng thứ. Ngang dọc chỉ thành thứ lớp. Tuy có hai nghĩa cùng thành một tâm. Phải biết trong dọc đầy đủ có ngang cho đến chẳng hai hai thứ kia cùng loại. Cho nên nói dọc thì nói cao, cho đến không dọc mà chẳng rộng. Pháp Hoa ý xe lớn cũng như thế. Phải biết chỉ là xe lớn cao rộng. Cho nên biết ngang dọc chỉ nói tương nhập, chẳng được chẳng hai chưa khỏi tung ngang. Tuy ngang dọc đều khắp phải biết chẳng hai. Cho nên kế giải thích rằng: Không phải ngang không phải dọc. Tùy văn mà thấy, đâu hề gì mê sâu. Cho nên một nhà giải thích nghĩa trước chung kế riêng, sau lại kết nắm chỗ về của ý đầu ý tuy vì hiển chẳng hai, lại y chương môn ngang dọc giải thích, thì ở trong một, thì ngang dọc phân xét cạn sâu chẳng loạn, một môn Vô sinh trở xuống là trước nêu chương dọc, cũng trước nêu xong. Kế như đây trở xuống là nói ý chương dọc. Văn này rõ ràng mượn, ba hiển một, vì sao bỏ đây mà mạn chỉ thiên văn. Đại luận trở xuống là dẫn luận chứng ý mượn ba hiển một. Cho nên trong đây văn ba nghĩa ba. Ý ở độ nhập qui ở chẳng hai, trong một tâm phá cho nên mỗi câu trong văn sau đều có một văn một nghĩa một ý. Chẳng phiền văn nên lại lập sáu chỗ. Hoa Nghiêm trở xuống là lại dẫn ý Hoa Nghiêm để hiển bày nay. Kinh ấy hai căn mà phân ra hai ý. Đây cũng trước nói thứ, sau nói chẳng thứ. Cho nên giống đó. Nói thứ, là ý cũng thành viên đốn, chẳng thứ đồng với nay. Nếu luận văn nay y cứ quán chỉ là mượn riêng hiển chung. Toàn chẳng phải ý Biệt giáo lại thành khác. Pháp Hoa chỉ một thì khai độn thành lợi. Người đều khai, pháp cũng không hai, chính phải ý nay. Nay muốn trở xuống là hiển nguyên ý văn các giáo đã thế, nay cũng ý đó. Cho nên bày tiếp nối, là dự ở văn trước xa điểm sáu chỗ, kết toát yếu. Một là phá kiến vị sau, hai là phá tư vị sau, là trong bốn môn phân biệt, bốn là xuất giả lợi ích vị, năm là kết phá pháp khắp văn sau, sáu là văn đầu tu Trung quán. Với sáu văn này hết lòng chỉ ra, hiển bày rõ ràng Tục giả còn tối. Nếu trầm mật ẩn ánh làm sao hiểu rõ. Cho nên nghịch đế võng lãnh đến văn nêu lại, đây vẫn chẳng luận tiêu chương chỉ ý chỉ thẳng trong văn có sáu lớp này. Trước giải thích từ thấy giả vào hư không, trước nói từ giải mà được tên. Kế giải thích đương thể thọ xưng (do tên gọi). Trong văn trước lại giải thích chung rằng kiến hiện tại, v.v… là nói thấy chỗ theo mà sinh cho đến công năng hay chướng. Như ngọn lửa trở xuống là nêu thí dụ. Lửa mộng (mộng thấy lửa) là kiến hoặc, không giác là chân thể, hoặc này trở xuống là hợp. Nhưng thấy thì thấy lý trở xuống là giải thích từ giải mà được tên. Kiến hoặc trở xuống là nêu giải thích. Riêng trong bốn kiến cũng trước nêu bốn kiến. Trong một trở xuống là trước nói mười sử lợi độn trong có kiến.

Trước trong lợi nghĩa là có ngã, người ngoài chấp ngã hoặc như mè đậu chỉ hoặc chấp khắp thân, thần thân bốn câu và một khác v.v… chấp ngã chẳng mất gọi là ngã kiến, chấp ngã dứt thường gọi là Biên kiến. Do chấp dứt thường mà chẳng tin nhân quả, lại chấp ngã này xem là tự nhiên minh sơ thể tánh. Thể tánh tức là hai mươi lăm đế và sáu đế v.v… hoặc chấp từ cha mẹ, cát bụi, Phạm thiên sinh ra, đều gọi Tà kiến. Chấp tà là đạo gọi là chẳng phải nhân chấp nhân gọi là giới thủ kiến, nghĩa là nhân kiến này chung đến Phi tưởng. Tin nầy chẳng phải khác gọi là kiến thủ, là pháp của mình, ái trở xuống là nói nhân kiến hoặc mà khởi độn sử. Như thế trở xuống là trải ba cõi bốn đế hết tám mươi tám sử. Như văn sẽ thấy. Ba cõi gồm có năm mươi hai độn, ba mươi sáu lợi độn năm mươi hai là cõi dục hai mươi, bốn đế đều năm, thượng giới không sân chỉ có mười sáu, hai giới trên hợp thành ba mươi hai, cùng dục hai mươi hợp thành năm mươi hai. Lợi ba mươi sáu, là ba cõi đều có mười hai. Như trong cõi dục khổ trở xuống đủ năm, đao trở xuống có ba trừ thân biên, nhóm họp diệt đều hai trừ thân biên giới thủ, hợp thành mười hai. Hai giới trên cũng như thế ba mươi sáu và năm mươi hai hợp thành tám mươi tám. Hỏi: Bốn đế trở xuống hoặc y lý giáo vào mà phân biệt khác nhau. Đáp: Theo A-tỳ-đàm, coi trên không có sân. Hỏi: Vì sao thân biên chỉ ở khổ? Đáp: Kiến này y thân nên gọi là thân kiến, y ở thân kiến mà khởi biên kiến. Trừ ba không phải thân nên không có kiến này lại kiến khổ dứt cho nên ở khổ dưới. Hỏi: Giới thủ vì sao chỉ ở khổ đạo? Đáp: Chỉ chỗ khởi của nó. Hỏi: Giới thủ là nhân khổ đế là quả, vì sao ở khổ. Đáp: Chấp nhiều khổ hạnh coi là nhân thật, cho nên ở khổ dưới, chẳng phải ra khỏi đạo nên là vọng, gọi là xuất đạo. Cho nên lại ở chỗ đạo năng khởi. Nhóm họp diệt khác ở đây, nên không có thân kiến ví không thân kiến nên cũng không có biên kiến. Nhóm họp diệt chẳng phải đạo nên không sinh giới thủ. Lại giới thủ ở hai đế khổ đạo dưới, vốn là trong đạo thấy khổ năng đoạn, vốn là ngoài đạo thấy khổ năng đoạn, nên chỉ ở hai. Hỏi: Trong tám mươi tám, sơ quả chỗ đoạn, đã chỉ kiến hoặc, vì sao trong đó lại có năm mươi hai tư? Đáp: Tư này y kiến, kiến là căn bản, chỉ đoạn ở kiến, vì rễ hư thì cành khô, nếu mê việc tư thì trong đây chẳng nhiếp. Nên nói là pháp của mình. Ái tức chỉ cho năm kiến là pháp của mình. Hỏi: Trong tu sở đoạn vì sao không nghi? Đáp: Kiến đạo đã đoạn lý hợp không nghi. Còn ba kiến kia trở xuống chỉ lệ ở có thì ba kiến có thể hiểu. Chỉ lấy vô đẳng làm căn bản. Như chấp ngã là không, cho đến chẳng phải có, chẳng phải không. Nếu trải trở xuống là nói trải sáu mươi hai đều sinh tám mươi tám. Lãng mạn là sóng trôi. Mạn là tản mạn, chơi bời buông lung nói đảo hoặc này như sóng dồi. Năm mươi giáo kế trở xuống là nói sinh một trăm lẻ tám. Kinh này do An Thế Cao dịch vào đời Hậu Hán, chỗ lập pháp tướng hơi khác các kinh. Kinh nói được ở tại Vương-xá Bồ-tát, mười phương hỏi Phật vì sao các hạnh nhân duyên khác nhau. Phật nói: so sánh năm căn cho đến ý thức là gốc tất cả pháp, được trí mười phương Phật. Hỏi: Vì sao đầy đủ hạnh đạo? Nghĩa là thường giữ căn thức mà tu so sánh là Bồ-tát sáng, nếu không tu so sánh là Bồ-tát si. Hỏi: Vì sao chẳng tu so sánh là si mà tu so sánh là sáng? Phật dùng năm mươi pháp mà đáp trong mỗi pháp đều nói so sánh, nên nói năm mươi so sánh. Trong mỗi pháp đều có một trăm lẻ tám. Trước là một trăm lẻ tám si, kế một trăm lẻ tám dục, cho đến được một trăm lẻ tám chân, chứng minh một trăm lẻ tám tận lực. Các Bồ-tát hỏi: Một trăm lẻ tám gồm những gì? Phật nói có chỗ nghỉ chẳng tự biết trong tâm sinh tâm diệt có ấn có nhóm họp, chẳng biết là si. Chuyển nhập ý địa cũng giống như thế, thức cũng giống như thế. Đó là ý ba, là thấy sắc tốt, sắc trung, sắc xấu, chẳng tự biết trước, chẳng tự biết diệt, có ấm có nhóm họp. Cho đến xúc cũng giống như thế. Kinh ấy chỉ nêu sáu căn đều sáu, tuy chẳng nói ba đời mà kết là một trăm lẻ tám. Cho nên biết là y cứ sát-na mà làm ba đời. Đã dùng ba thứ tâm ý thức làm ý địa ba, cho nên chung ba đời. Như nói nhóm họp khởi gọi là tâm sáng lường gọi là ý, phân biệt biết gọi là thức. Ý ba đã thế. Cho nên khiến chỗ y năm căn cũng như thế. Ba đời có cái ba mươi sáu, cho nên có một trăm lẻ tám. Kinh lại hỏi rằng: Nếu con biết một trăm lẻ tám si diệt là si hay là sáng? Phật nói: Chưa sáng. Các Bồ-tát hỏi: Vì sao như thế? Phật nói: Cũng có một trăm lẻ tám si, cho đến chưa được một trăm lẻ tám tận lực. Vì trong niệm niệm chẳng lìa sáu căn sátna ba đời. Cho nên mỗi kiến đều có một trăm lẻ tám. Cho đến năm mươi cái một trăm lẻ tám phiền não. Cho nên kinh ấy chép: Khởi tâm động niệm sinh tử vô tận. Nếu theo Đại luận sáu căn đều ba thọ, ba thọ đối ba trần, ba đời thành một trăm lẻ tám. Đây là y cứ quả báo để nói ba đời. Nếu trong các luận lại dùng mười triền thêm tám mươi tám thành chín mươi tám, thêm mười tư chỉ hợp một trăm lẻ tám. Nói mười triền, luận rằng: Triền có tám là tàm, quí, tật, san và hối miên, và trạo cử, hôn trầm. Hoặc mười thêm phẩn – phú. Cho nên biết niệm niệm có đến một trăm lẻ tám. Lý chung nghĩa riêng. Đại Luận lại dùng chung mười bốn câu hỏi mà nhiếp sáu mươi hai kiến. Nghĩa là ba đời đều bốn câu và hai câu căn bản. Có câu hỏi này chẳng nên đáp. Phải biết trở xuống là kết. Tâm tối mắt mù nên chẳng thấy, tối nên chẳng giác (biết) tức là tâm vô minh tối, mắt trí tuệ mù. Nên chẳng thấy chẳng biết lý chân đế. Thế giảng trở xuống là chê lầm vì nó chẳng biết đều là kiến, nên lầm sinh lấy bỏ. Giảng là giải riêng, lời này trở xuống là nói nhầm thấy sót kinh phụ tâm. Người đời chỉ nói ba thứ trước là kiến hai bốn không phải kiến, trong sáu mươi hai có phân nửa. Nên nói thiếu ít. Cho nên sót kinh. Nói phụ tâm, nếu thực hành kiến này chỉ có lỗi sót kinh, nếu dấu biết dối lời thì có lỗi phụ tâm, trung luận trở xuống lại chứng có không đều là tánh chấp chấp tức là kiến. Không đã thành kiến, phải biết câu thứ tư cũng đều là kiến. Lại đây trở xuống là nghiệm đều chứng, cho nên biết thuộc kiến. Các ngoại đạo trở xuống là chỗ được của người tà. Nghiệm biết kiến ấy văn trước nêu chung chỗ chấp của ngoại đạo để nói người quấy. Nói bản kiếp, bản kiến, v.v… là Trường A-hàm quyển mười ba nói: Phật bảo Phạm Chí Thiện Niệm bản mạt kiến này chẳng ngoài sáu mươi hai. Bản kiếp, bản kiến mười tám, mạt kiếp mạt kiến bốn mươi bốn, hợp thành sáu mươi hai. Nói mười tám có bốn mươi bốn câu và hai căn bản. Bốn câu đầu, là một kiến, hai mươi kiếp thành bại. Hai kiến bốn mươi kiếp, ba kiến tám mươi kiếp, bốn là ùng trí nhanh chóng mà nói. Bốn câu thứ hai, một ngã và thế gian, nửa thường nửa vô thường, hai kế do cười giỡn. Ba là chấp thất ý sinh, bốn dùng trí nhanh chóng mà nói (là nói trí nhanh chóng). Bốn câu thứ ba: Một thần và thế gian có biên (bờ bến?), hai là vô biên, ba là phương trên dưới có biên, bốn là phương vô biên. Bốn dùng trí nhanh chóng mà nói. Bốn câu thứ tư: Một là ta chẳng biết chẳng thấy thiện ác có báo không báo ư? Hai là ta chẳng biết chẳng thấy có đời khác không có đời khác chăng? Ba là ta chẳng biết chẳng thấy gì là thiện gì là ác chăng? Bốn là ngu si ám độn tùy người khác hỏi đáp. Hai câu căn bản gồm: Một là định ý biết chúng sinh vị lai không nhân duyên mà có, hai là trí nhanh chóng mà nói. Kế mạt kiếp mạt kiến bốn mươi bốn câu, trong bốn mươi bốn câu đầu, bốn câu thứ nhất cótưởng: Một là ta chết đây đời sau sinh có sắc có tưởng, hai là sinh không sắc có tưởng, ba là sinh có sắc không sắc có tưởng, bốn là chẳng phải có sắc chẳng phải không sắc có tưởng. Bốn câu thứ hai: Một là có tưởng, hai là chừng ấy tưởng, ba là thiếu (ít) tưởng, bốn là vô lượng tưởng thứ hai, có hai mươi bốn câu. Bốn câu đầu, dùng có sắc không sắc đối không tưởng thành bốn câu. Như bốn câu đầu, chỉ dùng vô tưởng thay cho có tưởng. Bốn câu kế, dùng có biên vô biên để đối vô tưởng thành bốn câu. Như trong văn đều kế nói bốn câu chỉ đổi vô tưởng để thay có tưởng. Thứ ba có hai mươi bốn câu. Bốn câu đầu, có sắc không sắc đối với chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng thành bốn. Bốn câu kế, có biên vô biên đối với chẳng phải có tưởng chẳng phải không tưởng thành bốn câu. Hai trăm hai mươi bốn này đều bốn mươi bốn trước hợp thành ba mươi hai câu. Lại có dứt kiến bảy câu: Một là nếu Sa-môn Bà-la-môn soạn luận ấy, thân ta từ cha mẹ bú mớm áo cơm nuôi lớn mà sinh, chết rồi thì tiêu mất; hai là trời sinh cõi Dục đầy đủ dứt diệt; ba là các trời sinh cõi Sắc có đủ dứt diệt; bốn là không xứ; năm là thức xứ; sáu là bất dụng xứ; bảy là Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Kế thường kiến có năm câu: Chấp tất cả chúng sinh hiện tại Niết-bàn, một chấp hiện tại năm dục tự vui được Niết-bàn; hai là Sơ thiền; ba là Nhị thiền, bốn là Tam thiền; năm là Tứ thiền, hợp thành mười hai câu, và ba mươi hai câu trước hợp thành bốn mươi bốn câu. Kinh giải thích rất rộng, số tuy sáu mươi hai nhưng chẳng ngoài đơn bốn cú kiến. Nắm đầu nhổ tóc, tức trong sáu mươi hai kiến có vô đẳng kiến, đúng sai lẫn nhau. Như Đại Kinh quyển mười tám trong Dực: Kỳ-bà vì Xà vương làm ngoại đạo, nói rằng: Thấy hai đứa trẻ đánh nhau nắm đầu nhổ tóc. Chương An giải thích rằng: Hai đứa trẻ là dứt thường, có không, đúng sai lẫn nhau là như nắm đầu nhổ tóc. Nhân đã chẳng thiện, quả khổ vô biên, cho nên sinh tử rõ ràng. Như Trường Trảo v.v… kế nêu Trường Trảo cũng chẳng ngoài bốn câu. Đại Luận quyển một chép: có ngoại đạo Phạm Chí tên là Trường Trảo, cũng gọi là Tiên-ni hay Bàsai, hoặc Tác-giá-ca, hay Ma-kiện-đề, là Đại luận sư chấp tất cả luận có khả năng phá, tất cả lời có thể hoại, tất cả chấp có thể chuyển, cho nên pháp không có thật pháp đáng tin đáng kính. Như trong kinh Xá-lợi Phất Bản Mạt có nói: Mẹ Xá-lợi-phất là chị của ông. Chị mộng thấy một người, đủ như trong Pháp Hoa Sớ nói duyên Xá-lợi-phất, v.v… học xong trở về nước tìm cậu mà chẳng thấy, đến hỏi Thế tôn rằng: Tất cả luận có thể phá v.v… Phật dùng một câu trách rằng: Ông thấy là nhẫn chăng, suy nghĩ lâu chẳng được một pháp vào tâm bèn bảo Sa-môn Cùđàm chấp ngã bỏ vào hai phụ môn. Nếu ta đáp nhẫn là phụ môn thô thì mọi người đều biết mà bảo rằng: Vì sao tự nói bất nhẫn mà nay nói nhẫn, hiện thấy nói dối? Nếu đáp rằng tôi thấy bất nhẫn là phụ môn tế. Không người biết thì liền đáp rằng: Kiến ấy cũng bất nhẫn. Phật nói bất nhẫn là kiến lấy gì là phá người khác, mọi người chẳng khác, vì sao tự cao mà sinh mạn? Trường Trảo do đó chẳng thể đáp, Phật tự biết đọa phụ. Thế tôn chẳng bày lỗi ta chẳng nói phải quấy, tâm điều mềm mỏng, được pháp nhãn thanh tịnh. Tức thuộc đơn bốn câu chẳng thuộc có kiến, chẳng thuộc không kiến. Nếu theo văn sau cùng ý trong đây. Trường Trảo nghĩa phải trong đơn bốn kiến ba kiến sau và không nói kiến. Nếu nói tất cả chẳng thọ tức giống như vô kiến. Cao trước trở xuống là so sánh giải thích, tức chỉ Trường Trảo là bậc cao cấp trong hàng ngoại đạo, chỗ học đã (nổi tiếng) còn chưa xuất đơn, huống chi các người khác ám độn tùy thời hỏi đáp ư? Nay xếp trở xuống là nhà nay xếp Bản mạt chấp trước, v.v… đều chẳng ngoài đơn. Kế nói phức kiến, cú biệt có hai nên gọi là Phức. Mỗi câu đều duyên pháp trần mà khởi v.v… Ở mỗi câu trở xuống là nói phức kiến sinh hoặc. Đầy đủ trở xuống là nói câu đầy đủ, câu pháp đến bốn, nay trong một đủ bốn, nên gọi đầy đủ. Tuy là đơn phức khác nhau, đều dùng bốn làm câu pháp. Cho nên đều nói bốn chỉ trong ba mươi bốn đơn phức đủ khác, được ba câu danh mà thôi. Đơn thì bốn người, phức thì tám người, đủ mười sáu người trong phức một lấn nêu câu. Tuy giống đơn trên bốn câu đều thêm có không. Nhưng có có đồng đơn, có không chẳng đồng, đơn không chỉ ở trên có thêm không, trên không thêm có. Thứ ba thứ tư đều thêm hai câu (thêm hai câu ba, bốn). Câu pháp phải nói vừa có vừa không vừa có vừa không, chẳng phải có, chẳng phải không có, chẳng phải có không phải không không. Văn nay khai ở hai, cũng song phi hợp có không. Khai hợp này hoặc viết lầm, hoặc có ý riêng. Trong bản thứ hai, đều chẳng nêu câu, chỉ nêu thẳng rằng: Phức đủ mà thôi. Đây là khi sửa mà thêm vào, phải là vốn nghe đủ văn mà nêu giải thích. Nay thêm chẳng là nói riêng. Cho nên trên bốn đơn lại thêm sáu câu để làm câu phức, đầy đủ bốn câu một lần cũng giống đơn bốn trên đều thêm bốn câu. Nhưng cũng có có đồng đơn có không, không đồng đơn không. Lưỡng diệc (cũng hai) ở trên tuy thêm lưỡng diệc (cũng hai), đồng đơn lưỡng diệc (cũng hai). Trên song phi tuy thêm song phi, đồng đơn song phi. Cho nên ở trên đơn trước thành thêm mười hai câu, ở trên phức trước chỉ lại thêm sáu cùng đơn phức trước thành mười sáu. Ấy thì ở trên mười bốn câu lìa mà làm hai mươi tám người, kế (chấp) chỉ thành mười sáu câu mà thôi, cho nên trong sáu mươi hai đều không đủ phức. Kế một câu dưới là đủ chỗ sinh hoặc. Kế nói bặt lời nói, bặt thấy nghe, mỗi pháp trở xuống là các bốn câu sau, đều có bặt lời, đều sinh chừng ấy các hoặc chẳng thôi, cho nên nói mỗi một. Lại y cứ trở xuống là kế nói y Phật pháp mà sinh kiến. Cũng có bặt lời cùng chỗ sinh hoặc. Các thứ ấy đều như văn. Lại nữa trở xuống là đương thể gọi kiến, kiến chỉ là giả, giả chỉ là nghĩa chẳng thật. Được tên tuy khác thể kiến vẫn không khác. Sở dĩ lại ở đương thể mà lập giả danh là muốn ở mỗi lập nghĩa ba giả. Biết thể kiến là giả, cho nên trước nói thể kiến là giả, giả tức ba giả. Lại văn trước nói: Từ giải được tên thấy lý mới dứt. Vì sao thấy lý ắt thôi ba giả? Cho nên lại nói: Đương thể gọi là giả, phải dùng bốn câu phá giả. Giả đã phá nên thấy lý, cũng phải hợp rằng: giả đã sinh hoặc. Đây giải thích ba giả, vì phá hoặc nên chẳng sinh hoặc. Nếu không có bốn câu và tánh tướng thì không còn sinh hoặc. Cho nên đây chưa nói sẽ nói ở văn sau. Pháp trần trở xuống là giải thích tướng ba giả. Trước y cứ tâm mà giải thích, nhân trong nhân ngoài hòa hợp mới thành. Cho nên pháp sinh ra gọi là nhân thành giả. Vì niệm chẳng thật cho nên niệm trước diệt, diệt rồi lại sinh, sinh rồi sẽ diệt, kể hay nối tiếp gọi là tiếp nối giả. Người đãi ở mình nên đặt tên ngườ,. Mình đãi ở người, giả lập ở mình. Tướng đãi chẳng thật nên gọi tướng đãi giả. Nếu dọc đãi ý cũng giống như thế.

Nói ba vô vi: Một là hư không, hai là trạch diệt, ba là phi trạch diệt. Xưa gọi số duyên chẳng phải số duyên Câu-xá tụng rằng:

Trong đây không vô ngại.

Nghĩa là hư không vô ngại làm tánh, không phải nói chỗ thấy không một hiển sắc và lỗ dòm nhỏ. Tụng rằng:

Trạch diệt là lìa hệ,

Tùy hệ việc đều khác.

Tùy hệ ba cõi kiến, thấy các phẩm đều gọi là hệ. Chỗ hệ khác nhau gọi là tùy việc. Lìa một hệ niệm được một trạch diệt. Trạch lực chỗ được diệt gọi là trạch diệt. Trạch là dứt trí, thôi độ khiến diệt, nên gọi là trạch diệt. Phi trạch diệt, tụng rằng:

Rốt ráo ngại sẽ sinh

Riêng được phi trạch diệt.

Phi trạch diệt này có hai loại khác nhau, tức là căn trần thiếu duyên, kịp vị đã chứng, các hoặc vô tri chẳng được nối tiếp khởi, gọi là ngại đương sinh. Như khi duyên một sắc, đối với các sắc khác và bốn trần kia được phi trạch diệt, là chánh duyên là ngại đương sinh. Ba đều vô tâm đãi ngã là có. Cho nên có là giả. Khai thiện dưới đây là nói tha giải, văn sau sẽ phá. Kế y cứ sắc, là niệm trước diệt thì giả sau niệm kế tiếp, nên gọi là giả. Trong đãi cũng phải có đủ ngang dọc, đãi qua diệt thân gọi là chẳng thân là dọc đại. Người khác chẳng phải thân ta gọi là chẳng thân là ngang đãi. Phàm văn tương đãi đều có hai nghĩa, đều phải nghĩ biết. Kế y cứ y báo, chánh báo đã giả, y báo cũng như thế. Y sẽ theo chánh như bóng theo hình. Giải thích rõ như Luận sư. Như Thành Luận sư nói rõ ba giả. Văn nay tuy giải thích nghĩa cũng giống như lược. Đã nói sắc tâm y chánh ba giả, đủ hiểu phá kiến nên không có kèm theo. Chỉ đây trở xuống là nói tùy lý ba giả. Nói Đại thừa, tức là diễn môn ba giáo, vô minh huyễn hóa tên gọi đều thông. Ngoài bốn đại trụ đã từ bốn vị hòa hợp mà thành. Ngoài bốn đại trụ lại hiện trong gương, trong gương há có năng thành bốn vi, năng thành còn không đâu có sở thành huyễn trụ trong gương. Gương trụ như huyễn nên nói huyễn trụ. Lấy huyễn dụ tượng nên lại nói huyễn. Gương trụ đều không vốn là ngoại trụ. Do gương sáng nên hình ảnh hiện trong đó. Gương là ngoại trụ hiện duyên tương. Nếu thế, ngoại trụ cũng như thế. Trụ thể là do bốn đại chủng là ngoài mà khiến mộc hiện. Lại do công thợ giả đặt tên trụ phải biết ngoại trụ cũng giống như thế, v.v…

Nói bốn vi là sắc, hương, vị, xúc. Do bốn đại hòa hợp tạo sắc trụ này. Ở ngoài tức là chỗ tạo trụ, đối với tượng tức là trụ năng thành. Do có bốn vi sở tạo trụ, mà khiến trong gương sở thành trụ hiện. Cho nên ở trong gương thôi vị năng tạo và trụ sở thành, chẳng bao giờ được. Nhân thành đã không làm sao có tục đãi. Cho nên chỉ so sánh rằng: Huống trải thời tiết, tức dùng tiếp nối mà so sánh. Vì huyễn hóa trường đoản, tức dùng tương đãi mà huống. Cho nên kết chung rằng: Đâu thật có được, dùng một chữ so sánh mà quán hai câu dưới. Đại Luận quyển bốn mươi sáu rộng nói: Diễn môn tướng ba giả. Tuy nói tùy lý, mà lý có quyền thật. Thông giáo tùy quyền lý, Biệt giáo tùy thật lý. Nay nói ba giả phụ vô minh mà khởi. Cho nên biết vô minh cũng chung cạn sâu. Nay đã phá kiến lại từ nghĩa dọc, lại Thông giáo ba giả. Biệt giáo ba giả ở quyển sáu, trong Tu Trung quán ba phen. Cho nên có thứ đệ ba, bất thứ đệ ba, v.v… Lại luận chung tuy thế, nếu nói Biệt thì như Chương An nói: Thanh văn quán nhân thành, Duyên giác quán tương tục, Bồ-tát quán tương đãi. Tuy đây là đầu, sau sẽ đủ ba. Nêu dễ so sánh khó, như gương trụ vừa rồi để so sánh ngoại trụ, tức tướng nó. Nói chẳng thật, là chỉ vì các pháp từ nhân duyên, cho nên niệm niệm chẳng trụ nên đợi tha giả lập. Phải biết gương trụ và ngoại trụ, đều là ba giả chẳng thật nghĩa đồng. Tuy đồng chẳng thật tượng, v.v… dễ giải thích, ngoài trụ khó hiểu. Cho nên kinh Đại thừa lập mười dụ. Nói mười dụ thì Đại Luận quyển bảy chép: Một là như huyễn, là dụ như nhà ảo thuật làm các thứ. Tuy không có thật nhưng là sắc pháp rất dễ thấy nghe. Các pháp cũng như thế. Vô minh huyễn hóa mà rất dễ thấy nghe; Hai là hơi nóng, vì ánh sáng mặt trời gió động bụi cho nên giữa chỗ trống (sa mạc) như ngựa hoang. Người vô trí cho là có nước. Các pháp cũng như thế, ánh sáng kết sử, bụi trần các hành, gió tưởng nhớ, trong chỗ hoang vắng sinh tử mà chuyển động. Người vô trí cho là thật; Ba là như trăng đáy nước, trăng ở trên hư không bóng ở dưới đáy nước. Mặt trăng thật tướng ở trên hư không thật tế, trong nước tâm của phàm phu, tướng ngã sở hiện ra; Bốn là hư không, chẳng những chỉ có tên mà còn chẳng chân thật, hư không chẳng thể thấy. Ở xa nhìn ánh sáng chuyển khiến thấy có sắc. Các pháp vốn không xa trí vô lậu, nên thấy các tướng; Năm là như tiếng vang, ở trong núi sâu nghe có tiếng, và tiếng vỏ cây mà có tiếng vang. Người vô trí nói là có, tất cả các lời cũng giống như thế. Chỉ là trong miệng gió Ưu-đà-na chạm bảy chỗ hòa hợp mà có tiếng; Sáu là như khi mặt trời mới mọc thì thấy trên hư không có thành quách, lâu đài và người qua lại. Mặt trời lên cao thì mất. Người vô trí cho là có thật. Các pháp cũng như thế, vọng chấp ngã của ta; Bảy là như mộng trong mộng không có thật gọi là thật. Thức rồi biết không lại tự cười. Các kiết trong miên không có thật mà sinh mê đắm. Được đạo thức rồi bèn biết là không thật; Tám là như bóng, thấy mà chẳng nắm bắt được. Các pháp cũng như thế. Tuy tình cho là thật mà tìmchẳng thật có; Chín là như bóng trong gương. Chẳng phải gương, chẳng phải mặt bốn câu không thể được, chỉ có (tên gọi). Các pháp cũng như thế, không phải tự đều bốn, chỉ có tên gọi; Mười là như hóa, các trời và bậc Thánh có các biến hóa, các biến hóa không thật. Các pháp cũng như thế, đều không sinh diệt, cũng như người hóa vốn tự không sinh đâu có già chết. Lại Thích Luận dưới là hội dị, tức là hội ba hữu và ba nhiếp đề đồng với ba giả. Đại Luận quyển bốn mươi sáu giải thích rộng ba hữu ba nghĩa Nhiếp đề và ở trong phẩm ba giả mà nói cho nên được hội đồng. Nhưng luận văn ba hữu cũng ba giả, danh nghĩa có đồng có khác, thì tên tương đãi đồng, hai thứ kia khác tên. Trong hai khác tên pháp đồng nhân thành. Giả danh chỉ xem pháp giả mà lập, cho nên khác nhau nối nhau. Trong văn chỉ giải thích mà không thấy hội văn nay nêu ý giải thích, vốn ở hội đồng, cho nên phải hội, giả danh thì phải tương tục giả, vì sao? Vì đối với pháp giả đặt tên, thì bảo các pháp nối nhau gọi là trụ. Văn nay trong giải thích tương đãi có toàn dùng văn ấy. Như vật năm tấc đối một thy cứ là ngắn đối ba tấc là dài. Kia đây cũng như thế. Ở đây thì cho kia là kia, ở kia thì cho đây là kia. Vật ở Đông, v.v… như người kia ở phía Động vật thì cho vật này là Tây, cho nên nói ở Đồng cho là Tây. Ở Tây thì cho là Đông, Ta ở phía Tây của vật thì cho vật này là Đông. Kế giải thích giả danh mà có. Nói tuy có nhân duyên khác nhau, v.v… đối với pháp hòa hợp đặt một tên giả, giả danh này là thật có hay không. Hay nói cho nên có, chẳng thật cho nên không. Cho nên khác nhau, nhân duyên thật có và sừng thỏ không. Là sao? Như lạc bốn vì không phải tô bốn vi, mới có tên lạc, cho nên biết tên lạc khác nhau sừng thỏ. Như bình v.v… các tên dưới (dưới tên bình, v.v…) thì có bình thật, sừng thỏ tên dưới thì sừng thỏ không thật. Lông rùa cũng như thế. Tuy có nhưng khác nhau thể của pháp thật. Thể thì có thật tên thì giả đặt. Cho nên giả có khác nhau thật có. Nói bốn việc như sắc, v.v… hòa hợp nhân duyên. Đây không phải hòa hợp tạo lạc nhân duyên tạo lạc. Phải dùng nhân sửa duyên người mới gọi là lạc. Nhân duyên được thành phải đủ bốn việc, nên gọi bốn việc là pháp hòa hợp. Hòa hợp đủ bốn giả đặt tên là lạc. Lại như trở xuống là lại y cứ đoan nhắc lại đặt ra nhiều lớp thật pháp, lập nhiều lớp giả danh, giải thích có giả danh, Trung Luận rộng phá đoạn nhắc lại vô thường, vô ngã. Như người ngồi thiền quán đoạn nhắc lại làm đất nước lửa gió, xanh vàng đỏ trắng, v.v…, hoặc lại đều không. Cho nên đoan nhắc lại chỉ có tên gọi. Văn nay lược năm luận rất rộng, từ một sắc rất bé, hương vị xúc xem là pháp thật, giả gọi mao phần. Mao phần, là phần nhỏ của lông gọi là mao phần. Cho nên rất nhỏ đều gọi là mao phần. Hợp nhóm nên gọi là thuế, thuế là sợi lông rất nhỏ. Nên biết bảy phân tử nước là đầu một sợi lông thỏ, thỏ cũng là loại lông nhỏ. Cho đến thành áo, áo là giả danh. Nhắc lại là pháp thật. Như thế xoay vần lần lượt thành giả thật, giả danh có không so sánh như trước nói.

Luận lại nói trở xuống là kế hội ba niếp đề là tiếng Tây Trúc, dịch là giả thi thiết (giả đặt). Muốn hội khiến đồng, nên trước hỏi khởi. Đáp: trở xuống là trước hội tên kế giải thích nghĩa. Trong pháp đã nói năm chúng hòa hợp cho nên thành nghĩa đồng với nhân. Kế trong thoị giả, thọ là lãnh nạp. Do rễ thân cành lá cho nên cây có thể lãnh nạp. Lãnh nạp cây nên có cây thỉ chung, tức gọi là tương tục. Cho nên có đồng với giả danh ở trước. Dùng danh tự ấy trở xuống là hội tương đãi giả, dùng ở tên cây và tên nhánh lá. Lấy hai tên trở xuống là hai thứ pháp. Dưới tên cây nhánh lá là pháp đãi không phải cây, có cây tên sinh. Tất cả các pháp cho đến tâm sở cũng giống như thế. Luận nói: Hành giả (người tu) trước hoại tên đến thọ, kế hoại thọ đến pháp. Vì hoại pháp nên được thật tướng các pháp. Y theo nói thứ lớp, tức trước phá tương đãi cho đến nối nhau. Sau phá nhân thành, nếu luận ba giả khởi thứ lớp, thì trước nhân thành cho đến tương đãi. Xoay vần sinh kế xoay vần phá đi. Cho nên phá tương đãi cho đến nhân thành được thật tướng không thứ lớp hơi khác. Văn ý đều khác phải khéo suy nghĩ phân biệt. Anh Lạc trở xuống là chứng ba giả trước, dẫn kinh Anh Lạc. Kinh ấy có đủ nên chứng chung. Kinh Bản nghiệp quyển hạ chép: Các pháp duyên thành, giả pháp vô ngã. Có pháp tương đãi tất cả tương hư. Tương tục gọi một không chẳng thật có, đều câu trên mà nói giả tướng. Ở câu dưới là nói chung phá vì phá nhân thành cho nên tìm ta không thể được. Vì phá tương đãi nên tất cả tương hư. Vì phá tương tục nên không thể được. Thứ lớp lại chẳng đồng với văn Đại Luận. Ý Phật sâu xa ta riêng có ý. Đại phẩm trở xuống là dẫn riêng ba kinh đều chứng một giả. Đây tức nghĩa ba giả của Diễn môn. Đại phẩm, vì có duyên ngoài nên khiến nội tư sinh. Tư sinh tức là pháp được sinh. Văn Đại Kinh thứ hai giải thích trong ngoại đạo chấp thường, nói như đọc tụng pháp từ một A-hàm đến một A-hàm. Như người muốn tụng bốn kinh A-hàm có thể từ một bộ đến một bộ, do vì tương tục. A-hàm, Hán dịch là pháp vô tỷ. Pháp thọ thực cũng như thế, tiếp tục nên no. Vì ngoài kể thật gọi thế tục là thường, nên khiến phá. Tương tục là giả đủ như ở sau phá. Tịnh Danh v.v… từ phá biên mà nói là chẳng tương đãi. Bốn câu phá rồi, đãi chẳng thật có, không một niệm trụ. Dẫn diễn văn này, vì muốn hiển Tiểu Đại đồng có. Cái gọi là trở xuống là đủ nêu Tiểu Đại đều đủ ba giả. Văn trước tuy nói Tiểu môn ba giả, chưa nói bốn môn đều đủ ba giả và hoặc sinh ra. Nay đối diễn môn nên nêu lại. Như lai trở xuống là nói lý sinh hoặc, vì do sinh mê đắm nên bản ý Phật dạy người không tranh giành. Tranh giành là lỗi người nào có liên quan gì với lỗi pháp. Chỉ ba tạng môn vụng dễ sinh tranh giành. Nhưng văn Đại Luận vốn bác bỏ ba tạng xem là tránh pháp (pháp tranh giành), tức dùng diễn môn làm pháp vô tránh. Cho nên Luận nói: Phật pháp có hai: Một là chỗ tranh giành, hai là chỗ không tranh giành. Các kinh khác đã nói chỗ tranh giành, nay muốn chỉ người pháp không tranh giành, cho nên nói kinh Ma-ha Bátnhã ba-la-mật. Cho đến có tướng không tướng, có y không y, có đôi không đối, có trên không trên, phân ra làm hai môn cũng giống như thế. Nay thì dùng chung Phật pháp Đại Tiểu, đều vốn chỉ người pháp không tranh giành. Cho nên nói sinh ngữ kiến, ở mười sáu môn mà khởi giả. Như cam lộ cõi trời vốn giúp cho sống lâu. Ngu ăn chẳng tiêu lại khiến sống yểu. Phật giáo cũng như thế. Vốn khiến thông đến thường trụ Niết-bàn. Vì sinh tranh giành lại vào Tam đồ, nói ngữ kiến: Ngữ là lời dạy, y môn đều kế, tùy sinh bất cứ một kiến nào. Đã chẳng thể hiểu ý sau lời nói gọi là ngữ kiến.

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.