HỒNG LIÊN HOA THỦ NHÃN

 

Hồng Liên Hoa Thủ (Tay cầm hoa sen hồng):

Tay thứ bảy trong tám tay thuộc Liên Hoa Bộ của Mật Pháp, là Pháp Kính Ái.

Câu thứ 70  trong Chú Đại Bi là:”Bà Đà Ma Yết Tất Đà Dạ” dịch nghĩa là thành tựu Thiện Thắng tức Hồng Liên Hoa Thủ Nhãn trong tướng tay Đại Bi.

Đại Bi xuất tướng câu 70: Bà Đà Ma Yết Tất Đà Dạ

– Thiên Thủ Thiên Nhãn Đại Bi Tâm Đà La Ni: Bản dịch của Tam Tạng BẤT KHÔNG Pháp Sư ở Đời Đường, là tướng tay thứ 22 trong Kinh Văn:

“Nếu mong cầu sinh về các Cung Trời thì nên cầu nơi tay Hồng Liên Hoa (Hoa Sen hồng)”.

Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh: Bản dịch của Tây Thiên Trúc GIÀ PHẠM ĐẠT MA Pháp Sư ở Đời Đường, là tướng tay thứ 25:

“Nếu người nào vì sinh về cung Trời thì nên cầu nơi bàn tay cầm hoa sen hồng”.

Thiên Quang Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Bí Mật Pháp Kinh: Tướng tay Ấn thứ 25 là:

Nếu người muốn sinh ở cung điện của chư Thiên nên tu pháp Hoa Sen hồng, tượng THIÊN HOA QUÁN TỰ TẠI…chỉ có tay trái cầm hoa sen hồng, co cánh tay phải chỉ lên trời,vẽ tượng xong.

Tướng Ấn tác Khai Phu Liên Hoa ấn.

Thiên Hoa Quán Tự Tại Bồ Tát

25) Hồng-Liên-Hoa Thủ Nhãn Ấn Pháp

Kinh nói rằng: “Nếu muốn được sanh lên các cung trời, nên cầu nơi Tay cầm Hoa-Sen-Hồng”.

Thần-chú rằng: Bà Đà Ma Yết Tất Đà Dạ [70]

𑖢𑖟𑖿𑖦 𑖮𑖭𑖿𑖝𑖧
PADMA  HASTAYA

Chơn-ngôn rằng: Án– thương yết lệ, tát-phạ hạ.

𑖌𑖼_ 𑖭𑖽𑖎𑖨𑖸 _ 𑖭𑖿𑖪𑖯𑖮𑖯
OṂ_ SAṂKARE _ SVĀHĀ

OṂ (cảnh giác) SAṂKARE (chính tác ) SVĀHĀ (Viên mãn Phước Trí ) Hoa sen hồng (Padma) là hoa sen có màu đỏ sáng.

Sao ghi là: “Hoa đỏ nhân mặt trời mà nở vì dùng anh lửa làm chổ thành, cho nên hoa đỏ dùng màu lửa làm nghĩa “Thiêu đốt hết” và hay ví dụ cho Trí Tuệ.

Do chư Thiên rất thích loài hoa hồng đỏ nên thường hay ủng hộ cho người đem loài hoa này cúng dường. Như người xưa nói “Quả báo của cõi Trời thứ sáu có màu hồng vì ưa thích màu này vậy”.

Kinh có ghi “Dùng hoa có màu Trí Tuệ để được sanh lên các cõi Trời” Trời có bốn loại là:

  1. Thế Gian Thiên: là các vị vua
  2. Sinh Thiên: là chư Thiên của ba cõi (Tam Giới)
  3. Tĩnh Thiên: là bốn Quả và Bích Chi Phật
  4. Nghĩa Thiên: là các chúng Bồ Tát

Các chư Thiên như vậy thì  hay khéo giải nghĩa các Pháp nên dùng Trí Tuệ mà sanh.

Do vậy, hoa sen hồng biểu thị cho Trí Tuệ.

Bồ Tát Quán Thế Âm dùng bản nguyện Từ Bi, cầm hoa sen hồng biểu thị cho nghĩa Thiên Ái (sự yêu thích của chư Thiên)

Hành Giả làm hình hoa sen hồng, đặt trước Bản Tôn, trì tụng Chú Đại Bi thì tùy nguyện được sanh Thiên. Nếu là người không có Trí Tuệ thì sanh vào cõi Trời nhiễm đắm ngũ dục (niềm vui của đời) giống như hoa sen vậy.

Kệ tụng:

Chư thiên khoái lạc thắng nhơn gian
Phát nguyện vãng sanh đa trở nan
Đản tự thủ trì hồng liên hoa
Đàn chỉ vãng sanh phi đẳng gián.

[Khoái lạc Cõi TRỜI hơn nhơn gian,
Muốn được sanh về thật gian nan.
“HỒNG LIÊN HOA THỦ” thường trì niệm,
Khoảng tay co duỗi được sanh về.]

Được thân “NGƯỜI” thì rất khó và ít,  còn đọa xuống “TỨ ÁC THÚ” thì rất dễ và nhiều, như được thân NGƯỜI mà gặp “PHẬT RA ĐỜI” còn khó gấp muôn phần. Gặp “PHẬT RA ĐỜI ĐÃ KHÓ”, như gặp được “HỒNG LIÊN HOA THỦ” để tu trì còn khó gấp vô lượng phần.

Bởi vì sao? Vì nếu “Qúy-vị” thường trì niệm “HỒNG LIÊN HOA THỦ”, thì khi xả báo thân, trong khoảng khảy móng tay, liền được sanh làm TRỜI, NGƯỜI.

Nếu làm NGƯỜI  thì không lạc vào “TÀ ĐẠO”

Nếu làm TRỜI thì không lạc vào “BỐN CÕI KHÔNG” thuộc cõi trời “VÔ SẮC GIỚI”.

Kinh Lăng Nghiêm nói: “Như Tỷ-khưu Vô Văn , đã đạt được Tứ thiền, vọng ngôn cho rằng mình đã chứng Thánh. Khi phước báo ở cõi trời hết, tướng suy xuất hiện, nên phỉ báng rằng chứng quả A La Hán còn phải chịu sanh tử. Ông liền đọa vào địa ngục A-tỳ.”

Lại nữa, sanh lên  CÁC CÕI TRỜI vô cùng khoái lạc rất khó tu hành, lại rất dẽ lạc đường như sanh về “BỐN CÕI KHÔNG” thuộc cõi trời “VÔ SẮC GIỚI”.

 

VÔ SẮC GIỚI 

Lại nữa A Nan! Từ trên đảnh của Sắc Giới, lại tẽ ra hai đường:

(TÀ CHÁNH KHÓ PHÂN)

THỨ NHẤT

Nếu nơi tâm xả, phát minh trí huệ, sáng suốt viên thông, bèn ra cõi trần, thành A La Hán, vào Bồ Tát Thừa, hạng này gọi là Hồi Tâm Đại A La Hán.

 

THỨ HAI 

“BỐN CÕI KHÔNG” thuộc cõi trời “VÔ SẮC GIỚI”. 

1) Không Xứ

Nếu nơi tâm xả được thành tựu, thấy thân chướng ngại, tiêu ngại vào không, hạng này gọi là Không Xứ.

2) Thức Xứ

Chướng ngại đã tiêu, vô ngại vô diệt, trong đó chỉ còn A Lại Da Thức và nửa phần vi tế của Mạt Na Thức; hạng này gọi là Thức Xứ.

3) Vô Sở Hữu Xứ

Sắc và Không đã tiêu, tâm thức đều diệt, mười phương tịch lặng, chẳng có chỗ đến; hạng này gọi là Vô Sở Hữu Xứ.

4) Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ

Dùng tánh thức chẳng động để diệt sự nghiền ngẫm, thành ra ở nơi vô tận lại tỏ bày tánh tận, như còn mà chẳng còn, tận mà chẳng tận, hạng này gọi là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.

Hạng này xét cùng cái Không, nhưng chẳng tột lý Không; nếu từ thánh đạo Bất Hoàn Thiên mà xét cùng, hạng này gọi là Bất Hồi Tâm Độn A La Hán.

Nếu từ Vô Tưởng Thiên của ngoại đạo mà chấp thật Không, chẳng biết quày đầu, mê muội hữu lậu, chẳng nghe chánh pháp, bèn vào luân hồi.

A Nan! Những cõi trời kể trên, mỗi mỗi đều là phàm phu đền trả nghiệp quả, khi nghiệp quả trả hết bèn vào luân hồi. Thiên Vương các cõi ấy, đều là Bồ Tát tu Tam Ma Địa, lần lượt tiến lên, hướng về đường tu của Bậc Thánh.

A Nan! Cõi Tứ Không này, thân tâm dứt sạch, tánh định hiện tiền, chẳng có sắc thân của nghiệp quả; từ đây đến cùng, gọi là Vô Sắc Giới.

Ấy đều do chẳng rõ diệu tâm sáng tỏ, tích chứa vọng tưởng, chấp thân trung ấm, tùy loại thọ sanh, vọng có tam giới, nên vọng theo bảy loài mà chìm đắm.

(KINH LĂNG NGHIÊM)

Kệ tụng:

Khoát đạt không, bát nhân quả,
Mảng mảng đãng đãng chiêu ương họa.
Khí hữu trước không bệnh diệc nhiên,
Hoàn như tỵ nịch nhi đầu hỏa.

(Chứng Ðạo Ca)

[Nói tất cả PHÁP đều không, không có NHÂN cũng không có QỦA,

Buông lung phóng đãng, mang tai họa.

CHẤP NGOAN KHÔNG, BÁT NHÂN QỦA đây là hầm khổ đọa,

Cũng như một người tránh nạn chết chìm, lại bị chết vì lửa.]

Tóm lại, nếu “Qúy-vị” thường trì niệm “HỒNG LIÊN HOA THỦ”, thì khi xả báo thân, trong khoảng khảy móng tay, liền được sanh làm TRỜI, NGƯỜI.

Nếu làm NGƯỜI  thì không lạc vào “TÀ ĐẠO”

Nếu làm TRỜI thì không lạc vào “BỐN CÕI KHÔNG” thuộc cõi trời “VÔ SẮC GIỚI”.

Đời đời kiếp kiếp đều được gặp chánh pháp tu hành, cho đến khi thành  PHẬT ĐẠO. Cho nên nói : “Gặp PHẬT RA ĐỜI ĐÃ KHÓ”, như gặp được “HỒNG LIÊN HOA THỦ” để tu trì còn khó gấp vô lượng phần” là vậy.

Kính lạy đời quá khứ,
Chánh Pháp Minh Như Lai.
Chính là đời hiện nay,
Quán Thế Âm Bồ Tát,

Bậc thành công đức diệu,
Đủ lòng đại từ bi,
Nơi trong một thân tâm
Hiện ra ngàn tay mắt

Soi thấy khắp pháp giới
Hộ trì các chúng sanh
Khiến phát lòng đạo sâu
Dạy trì chú Viên Mãn
 
Cho xa lìa đường ác (TỨ ÁC THÚ)
Được sanh trước Như Lai
Những tội nặng vô gián
Cùng bịnh ác lâm thân,
Khó nỗi cứu vớt được
Cũng đều khiến tiêu trừ
 
Các tam muội, biện tài
Sự mong cầu hiện tại
Đều cho được thành tựu
Quyết định chẳng nghi sai

Khiến mau được ba thừa
Và sớm lên quả Phật
Sức oai thần công đức
Khen ngợi chẳng hay cùng!

Cho nên con một lòng
Quy mạng và đảnh lễ.

Kệ tụng Việt dịch:

Vui thú cõi trời hơn thế gian
Phát nguyện vãng sinh bao khó khăn
Hồng liên hoa thủ siêng tu tập
Búng tay tức khắc đã về nhà.

 

THIÊN-THỦ THIÊN-NHÃN
QUÁN-THẾ-ÂM BỒ-TÁT QUẢNG-ÐẠI VIÊN-MÃN
VÔ NGẠI ĐẠI-BI TÂM ÐÀ-RA-NI 

( Đại Bi Sám Pháp – HT. Thích Thiền-Tâm)

Hồng-Liên-Hoa Thủ Nhãn Ấn Pháp
Thứ Hai Mươi Lăm

Bà Đà Ma Yết Tất Đà Dạ [70]
𑖢𑖟𑖿𑖦 𑖮𑖭𑖿𑖝𑖧
PADMA  HASTAYA

Án– thương yết lệ, tát-phạ hạ.
𑖌𑖼_ 𑖭𑖽𑖎𑖨𑖸 _ 𑖭𑖿𑖪𑖯𑖮𑖯
OṂ_ SAṂKARE _ SVĀHĀ