42 Thủ Nhãn Ấn-Pháp
Cố hòa thượng TUYÊN-HÓA, đã dùng “KỆ-TỤNG” giảng giải bằng TRUNG-VĂN.
Cố hòa thượng THIỀN-TÂM dịch ra VIỆT-VĂN, trong KINH QUÁN ÂM ĐẠI-BI TÂM ĐÀ-RA-NI.

38) Bất-Thối-Kim-Luân Thủ Nhãn Ấn Pháp

Kinh nói rằng: “Nếu muốn từ thân này cho đến thân thành Phật, Tâm-bồ-đề thường không lui sụt, nên cầu nơi Tay cầm Bất-Thối-Kim-Luân.”

Thần-chú rằng: Bồ-Đề Dạ [46]

Chơn-ngôn rằng: Án– thiết na di tả, tát-phạ hạ.

Kệ tụng:

Thô tà hộ chánh kim cang luân
Ly mỵ vọng lượng câu độn hình
Bồ đề đạo tâm thường bất thoái
Kim thân nãi chí thành Phật thân

[Dùng TRÍ KIM-CANG chuyển ĐẠI-PHÁP LUÂN, trừ TÀ-MA hộ CHÁNH PHÁP.

Tất cả  LY MỴ VỌNG LƯỢNG đều phải ẨN-HÌNH.

BẤT-THOÁI-KIM-LUÂN thủ nhãn làm cho BỒ-ĐỀ TÂM KIÊN CỐ,

Từ thân trong ĐỜI NẦY cho tới khi THÀNH PHẬT THÂN.]

Nếu QUÝ-VỊ thường trì tụng BẤT-THOÁI KIM-LUÂN THỦ NHÃN ẤN PHÁP, thì cũng như dùng TRÍ KIM-CANG (PHẬT TRI KIẾN) CHUYỂN KIM-CANG-LUÂN ĐẠI PHÁP, QUÁN THẤY 50 loại ma NGŨ UẨN đều không có THẬT TƯỚNG ,  cho nên tất cả LY MỴ VỌNG LƯỢNG đến phá qúy vị, đều bị  HIỆN NGUYÊN HÌNH, khi  qúy vị biết rõ chúng là ai, thì chúng hoảng sợ mà ẨN-HÌNH.

Đây là PHÁP HÀNG PHỤC, thuộc KIM-CANG BỘ, do đức PHẬT A-SÚC, tức là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, là giáo chủ của Thế Giới Tịnh Lưu Ly ở PHƯƠNG ĐÔNG làm bộ chủ, để trừ TÀ-MA, hộ CHÁNH PHÁP.

Lại nữa, nếu qúy vị TU trì thủ nhãn nầy được “NHỨT-TÂM”, thì cũng như người chứng được Bấtthốitrụ trong THẬP TRỤ, tức là NIỆM bất thối, HẠNH bất thối, VỊ bất thối. NIỆM bất thối là chẳng thối “BỒ-ĐỀ TÂM”, HẠNH bất thối là tinh tấn tu hành, VỊ bất thối là chẳng thối lùi về hàng nhị thừa. Bồ Tát có ba thứ bất thối này, thì dũng mãnh hướng về trước, cho nên gọi là bất thối trụ.

Từ THÂN “BẤT THỐI TRỤ” TRONG ĐỜI NẦY CHO ĐẾN KHI THÀNH PHẬT THÂN, KHÔNG BỊ THOÁI CHUYỂN “BỒ-ĐỀ TÂM”.

KINH VĂN:

7. Bất thoái trụ: Thân tâm hợp thành, nhật ích tăng trưởng, danh bất thoái trụ.

(Bất Thối Trụ – Thân tâm dung hợp, ngày càng tăng trưởng gọi là Bất Thối Trụ.)

Giảng: Bất thối trụ: Tức là niệm bất thối, hành bất thối, vị bất thối. Niệm bất thối là chẳng thối tâm bồ đề, hành bất thối là tinh tấn tu hành, vị bất thối là chẳng thối lùi về hàng nhị thừa. Bồ Tát có ba thứ bất thối này, mà dũng mãnh hướng về trước, cho nên gọi là bất thối trụ.

THẬP TRỤ

  1. Phát Tâm Trụ: A-nan! Thị Thiện nam tử, dĩ chân phương tiện, phát thử thập tâm. Tâm tinh phát huy, thập dụng thiệp nhập. Viên thành nhất tâm, danh phát tâm trụ.

( Phát Tâm Trụ – A Nan! Thiện nam tử ấy, do chân phương tiện phát ra mười bậc tín tâm kể trên, tâm tinh vi phát ra ánh sáng, mười thứ dụng xen lẫn nhau, viên dung thành một tâm, gọi là Phát Tâm Trụ.)

Giảng: Phát Tâm Trụ tức là căn lành của Bồ Tát đã gieo trồng trong quá khứ, đã tu đạo Bồ Tát, đã hành lục độ vạn hạnh, căn lành chín mùi, phát tâm đại bồ đề, trụ ở bậc này, cho nên gọi là ban đầu phát tâm.

  1. Trị Địa Trụ: Tâm trung phát minh, như tịnh lưu ly. Nội hiện tinh kim. Dĩ tiền diệu tâm, lý dĩ thành địa, danh trì địa trụ.

(Trị Địa Trụ – Trong tâm sáng suốt như lưu ly trong sạch, trong hiện vàng ròng tinh túy, dùng diệu tâm trước kia sửa sang thành địa để đi đứng gọi là Trị Địa Trụ )

Giảng: Tức là Bồ Tát trong quá khứ đã tu trị (trừ) tham sân si ở trong tâm. Vô minh, phiền não, chấp trước, tập khí… từng chút, từng chút, dần dần trừ sạch mà trụ ở bậc này, cho nên gọi là trị địa trụ. Phiền não của Bồ Tát có bớt mà chẳng tăng, còn phiền não của chúng ta phàm phu, thì có tăng mà chẳng giảm. Bớt một phần phiền não, thì tăng thêm hai phần phiền não, cho nên càng ngày càng nhiều, có tới tám vạn bốn ngàn phiền não, đây là chẳng có trị địa trụ.

  1. Tu Hành Trụ: Tâm địa thiệp tri, câu đắc minh liễu. Du lý thập phương, đắc vô lưu ngại, danh tu hành trụ.

(Tu Hành Trụ – Tâm địa biết khắp, tất cả rõ ràng, đi khắp mười phương, được chẳng ngăn ngại, gọi là Tu Hành Trụ.)

Giảng: Tức là Bồ Tát siêng tu đủ thứ pháp môn, đối với tất cả tri kiến đều thấu suốt.

               Do đó: “Siêng tu giới định huệ
                             Tức diệt tham sân si.”

Cho nên gọi là tu hành trụ.

  1. Sanh Qúy Trụ: Hạnh dữ Phật đồng, thọ Phật khí phần. Như trung uẩn thân, tự cầu phụ mẫu. Uẩn tín minh thông, nhập Như Lai chủng, danh sanh qúy trụ.

( Sanh Quý Trụ – Hạnh đồng với Phật, thọ tinh thần Phật, như cái thân trung ấm tự tìm cha mẹ, trung ấm dung thông với lòng tin, thầm nhập vào giống Như Lai, gọi là Sanh Quý Trụ.)

Giảng: Bồ Tát vì tu hành, có đủ thứ căn lành, cho nên sinh vào nhà Phật tôn quý, tất cả đều tương đồng với Phật, cho nên gọi là sinh quý trụ.

  1. Cụ Túc Trụ: Ký du đạo thai, thân phụng giác dận. Như thai dĩ thành, nhân tướng bất khuyết, danh phương tiện cụ túc trụ.

(Cụ Túc Trụ – Đã vào đạo thai, nối dòng của Phật, như thai đã thành hình, tướng người đầy đủ, gọi là Phương Tiện Cụ Túc Trụ.)

Giảng: Cụ túc phương tiện trụ: Tức nhiên Bồ Tát sinh vào nhà Phật, nên đầy đủ tất cả phương tiện pháp môn để giáo hóa chúng sinh, cho nên gọi là cụ túc phương tiện trụ.

  1. Chánh tâm trụ: Dung mạo như Phật, tâm tướng diệc đồng, danh chánh tâm trụ.

(Chánh Tâm Trụ – Dung mạo và tâm tướng đều đồng như Phật, gọi là Chánh Tâm    Trụ.)

Giảng: Lúc này Bồ Tát trụ vào tam muội chánh tâm, đạo tâm tương đồng với Phật, cho nên gọi là chánh tâm trụ.

  1. Bất thoái trụ: Thân tâm hợp thành, nhật ích tăng trưởng, danh bất thoái trụ.

(Bất Thối TrụThân tâm dung hợp, ngày càng tăng trưởng gọi là Bất Thối Trụ.)

Giảng: Bất thối trụ: Tức là niệm bất thối, hành bất thối, vị bất thối. Niệm bất thối là chẳng thối tâm bồ đề, hành bất thối là tinh tấn tu hành, vị bất thối là chẳng thối lùi về hàng nhị thừa. Bồ Tát có ba thứ bất thối này, mà dũng mãnh hướng về trước, cho nên gọi là bất thối trụ.

  1. Đồng chân trụ: Thập thân linh tướng, nhất thời cụ túc, danh đồng chân trụ.

(Đồng Chơn Trụ – Linh tướng của thập thân nhất thời đầy đủ gọi là Đồng Chơn Trụ.)

Giảng: Tức là thể đồng tử chân thật, tức cũng là chẳng có kết hôn (còn thuần NAM hoặc thuần NỮ). Bồ Tát đời đời kiếp kiếp giữ gìn bản lai diện mục (đồng thể), cho nên gọi là đồng chân trụ.

  1. Pháp Vương tử trụ: Hình thành xuất thai, thân vi Phật tử, danh Pháp Vương tử trụ.

(Pháp Vương Tử Trụ – Hình đã thành, ra khỏi thai, làm con của Phật, gọi là Pháp Vương Tử Trụ.)

Giảng: Phật là Pháp Vương, Bồ Tát là Pháp Vương tử (con của đấng Pháp Vương). Có quyền kế thừa đấng Pháp Vương, cho nên gọi là Pháp Vương tử trụ.

  1. Quán đảnh trụ: Biểu dĩ thành nhân, như quốc đại Vương. Dĩ chư quốc sự, phần ủy Thái-Tử. Bỉ sát lợi Vương, thế tử trưởng thành. Trần liệt quán đảnh, danh quán đảnh trụ.

( Quán Đảnh Trụ – Khi Pháp Vương Tử đã trưởng thành, ví như Thái Tử vua Sát Lợi đến tuổi trưởng thành, sẽ được phụ vương ủy nhiệm việc nước, nên làm lễ quán đảnh, gọi là Quán Đảnh Trụ.)

Giảng: Pháp Vương tử khi sắp thành Phật, thì phải tiếp thọ mười phương chư Phật dùng pháp thủy (nước pháp) để quán đảnh, khiến cho đầy đủ từ bi hỷ xả bốn tâm vô lượng, cho nên gọi là quán đảnh trụ.

KINH ĐẠI PHẬT ĐẢNH NHƯ LAI MẬT NHƠN
TU CHỨNG LIỄU NGHĨA
CHƯ BỒ TÁT VẠN HẠNH
THỦ LĂNG NGHIÊM

QUYỂN 8 PHẦN 2

— o0o —

TUYÊN HÓA THUỢNG NHÂN giảng thuật

 

Kệ tụng:

Nắng lại mưa qua
Chìm nổi vui buồn
Phù thế thương lưu lạc!
Nhớ thuở còn thơ
Cổ thụ bên nhà
Cùng trẻ nô đùa hát.
Rồi hỏi Hoàng Mai
Tìm lối Liên Hoa
Tóc xanh vừa điểm bạc.
Một nén tâm hương
Một chí Tây Phương
Chờ lắng bên trời nghe tiếng nhạc!
Thân người dễ mất
Pháp Phật khó nghe
Tinh tấn khuyên lên đường giải thoát.
Niệm không phải khó
Khó tại bền lâu
Khẩn nguyện cùng sanh về Cực Lạc.
Bền lâu không khó
Khó ở nhứt tâm
Sẽ thấy hoa sen lầu các!

(Niệm Phật Phải Bền Lâu Không Gián Đoạn – HT THIỀN-TÂM)

Tóm lại, nếu Quý-vị thường trì “BẤT-THOÁI-KIM-LUÂN THỦ NHÃN ẤN PHÁP” được NHỨT-TÂM, thì có khả năng trừ TÀ-MA, hộ CHÁNH-PHÁP. Tất cả LY MỴ VỌNG LƯỢNG phải ẨN HÌNH.

Từ ĐỜI NẦY cho đến khi THÀNH PHẬT, bồ-đề tâm không BỊ THOÁI-CHUYỂN.

Ly Mỵ 魑魅 là loài yêu quái ở rừng núi, mặt người mình thú, hay làm mê hoặc và làm hại người ta.  “Vọng Lượng 魍魎  là giống yêu quái ở gỗ đá trong núi sông.

Kệ tụng:

Thô tà hộ chánh kim cang luân
Ly mỵ vọng lượng câu độn hình
Bồ đề đạo tâm thường bất thoái
Kim thân nãi chí thành Phật thân

 

Bất-Thối Kim-Luân Thủ Nhãn Ấn Pháp
Thứ Ba Mươi Tám

Bồ-Đề Dạ [46]

Án– thiết na di tả, tát-phạ hạ.