BẢO KÍCH THỦ NHÃN

 

Bảo Kích Thủ (Tay cầm cây Kích báu):

Tay thứ bảy trong tám tay của Như Lai Bộ của Mật Pháp, là Pháp Tức Tai.

Câu thứ 29 trong Chú Đại Bi là:Ma Ha Phạt Xà Da Đế” dịch nghĩa là Thắng Đại Pháp Đạo (Đường lối của Đại Pháp thù thắng) tức Bảo Kích Thủ Nhãn trong tướng tay Đại Bi.

Đại Bi xuất tướng câu 29: Ma Ha Phạt Xà Da Đế

– Thiên Thủ Thiên  Nhãn Đại Bi Tâm Đà La Ni: Bản dịch của Tam Tạng BẤT KHÔNG Pháp Sư ở Đời Đường, là tướng tay thứ 29 trong Kinh Văn:

“Nếu muốn tịch trừ kẻ nghịch tặc oán địch ở phương khác thì nên cầu nơi tay Bảo Kích (cây kích báu)”.

Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh: Bản dịch của Tây Thiên Trúc GIÀ PHẠM ĐẠT MA Pháp Sư ở Đời Đường, là tướng tay thứ 26:

“Nếu người nao vì tịch trừ giặc nghịch từ phưưng khác đến thì nên cầu nơi bàn tay cầm cây Kích báu”.

Thiên Quang Nhãn Quán Tự Tại Bồ Tát Bí Mật Pháp Kinh: Tướng tay Ấn thứ 26 là:

Nếu vì ngườii thâu nhiếp cột trói giặc cướp đối nghịch nên tu pháp Kích Sao (cây kích báu). Tượng PHÁ TẶC QUÁN TỰ TẠI  Bồ Tát…. xong tay trái đưa lên trên cầm thân của cây kích dài. Tay phải mở bung đè lên eo phải, vẽ tượng xong.

Tướng Ấn là tay trái kết Tam Cổ Ấn đưa dài lên trên, quyền phải đặt ở eo.

Phá Tặc Quán Tự Tại Bồ Tát

26) Bảo-Kích Thủ Nhãn Ấn Pháp

Kinh nói rằng: “Nếu muốn xua đuổi giặc nghịch ở phương khác đến, nên cầu nơi Tay cầm cây Bảo-Kích”.

Thần-chú rằng: Ma Ha Phạt Xà Da Đế [29]

𑖦𑖮𑖯-𑖥𑖬𑖰𑖧𑖝𑖰
MAHĀ-BHAṢIYATI

Chơn-ngôn rằng: Án– thảm muội dã, chỉ nảnh hạ rị, hồng phấn tra.

𑖌𑖼_ 𑖭𑖦𑖧  𑖀𑖐𑖿𑖡𑖰   𑖮𑖯𑖨𑖸  𑖮𑖳𑖽  𑖣𑖘𑖿
OṂ_ SAMAYA  AGNI   HĀRE  HŪṂ  PHAṬ

OṂ(Quy mệnh) SAMAYA  AGNI (ngọn lửa bình đẳng) HĀRE (thâu nhiếp) HŪṂ (khủng bố) PHAṬ (phá bại)

Kích sao là binh khí có cái cán dài 1 trượng 6 thước (đơn vị đo lường của người Trung Hoa). Kích đó có 1 chỉa thẳng, hai bên đều có ngạnh chỉa cong – Hoặc mũi kích có hình 3 chỉa như mũi tên .

Hành giả đặt đứng cây kích trước Bản Tôn, tụng Chú thì bên trong phá được giặc phiền não và bên ngoài giáng phục được ba giặc là: giặc vua chúa , giặc oán địch , giặc trộm cướp .

Kệ tụng:

Nhân Quý chinh liêu dũng vô địch
Nê hà cứu giá lập công kỳ
Cao ly đầu hàng triều thánh đế
Tha phương nghịch tặc tuyệt tông tích.

[TIẾT NHÂN QUÝ, Dũng Tướng vô địch, viễn chinh tới thành LIÊU NINH,
Không nại nguy hiểm mất mạng, Cứu VUA nên lập được kỳ công.
Thuần phục quân CAO LY, đất nước an bình VUA được tôn xưng là THÁNH ĐẾ,
Bởi vì không còn tông tích của giặc NGOẠI XÂM phương khác nữa.]

Bài kệ tụng này có hai ý nghĩa: GIẶC BÊN NGOÀI và GIẶC BÊN TRONG

1) GIẶC BÊN NGOÀI:

Nếu Qúy-vị trì tụng thủ nhãn này, sẽ xua đuổi được giặc ngoại xâm ở phương khác đến, như TƯỚNG QUÂN NHÂN QÚY chẳng hạn.  Đêm lại an vui thái bình thạnh trị, nên VUA được dân chúng tôn xưng là THÁNH ĐẾ ( bậc hiền quân chỉ BIẾT lo cho dân).

Lại nữa, nếu thường trì thủ nhãn này thì đất nước không bị giặc ngoại xâm. Bởi vì sao? Vì nhân của thủ nhãn này là an vui giải thoát,  nên nhất định không có qủa khổ đao binh. Đây là BI NGUYỆN của BỒ-TÁT QUÁN-THẾ-ÂM sẽ làm cho tiêu nghiệp đao binh cho chúng ta, lớn thành nhỏ, nhỏ thành không.

2) GIẶC BÊN TRONG:

Giặc bên ngoài thì dẽ trừ vì có hình tướng,  có chổ nơi.

Còn giặc trong  “TẠNG THỨC” của chúng ta đã tạo từ vô lượng kiếp cho tới nay là  “NGHIỆP CHƯỚNG”, “BÁO CHƯỚNG” và “PHIỀN NÃO CHƯỚNG”  thì rất khó tiêu trừ, vì không hình tướng, không có chỗ nơi. Nếu có hình tướng, thì 10 phương hư không cũng không thể chứa hết được. (KINH HOA NGHIÊM)

 Vậy phải làm sao?

KINH VĂN:

Đức Phật nói: “Lành thay! A-Nan, các ông nên biết tất cả chúng sinh từ vô thỉ đến nay chịu sanh tử tương tục do vì không nhận ra “CHƠN TÂM THƯỜNG TRỤ”, thể tánh vốn trong sạch sáng suốt, mà nhận lầm các vọng tưởng. Các vọng tưởng này vốn chẳng chân thật, thế nên bị luân chuyển.”

Nay ông muốn thấu rõ quả vị vô thượng bồ-đề và phát minh chân tánh, ông phải dùng trực tâm đáp ngay lời Như Lai hỏi. Mười phương Như Lai ra khỏi sinh tử, đều nhờ trực tâm. Do tâm và lời nói đều ngay thẳng như thế, đến khoảng thời gian trước, sau, và thời kỳ trung gian tuyệt nhiên không có lời nói quanh-co.

A-Nan, nay tôi hỏi ông: “Ngay khi ông vừa mới phát tâm là do ông thích 32 tướng tốt của Như Lai, Vậy ông lấy gì để thấy và ông ưa thích cái gì? A-Nan thưa: “Bạch Thế Tôn! Sự yêu thích như thế là do TÂM và MẮT của con. Do mắt thấy tướng thù thắng của Như Lai nên tâm ưa thích và phát tâm nguyện xả bỏ sinh tử.”

Đức Phật bảo A-Nan: “Như ông nói, thật chỗ yêu thích là do tâm và mắt. Nếu ông không biết tâm và mắt ở đâu thì không thể nào hàng phục được trần lao.”

Ví như quốc vương, khi có giặc đến xâm chiến nước mình, muốn phát binh đi trừ dẹp, thì cần phải biết giặc ở nơi đâu.

Lỗi lầm là ở tâm và mắt khiến ông bị lưu chuyển. Nay tôi hỏi ông, riêng TÂM và mắt nay ở chỗ nào?

(KINH LĂNG NGHIÊM)

Mỗi câu tràng hạt (THỦ NHÃN) Phật là tâm
Phật rõ là tâm, uổng chạy tìm!
Bể Phật dung hòa tâm với cảnh
Trời tâm bình đẳng Phật cùng sanh

Bỏ tâm theo Phật còn mơ mộng
Chấp Phật là tâm chẳng trọn lành.
Tâm, Phật nguyên lai đều giả huyễn
Phật, tâm đồng diệt đến viên thành.

(NIỆM PHẬT THẬP YẾU- HT. THÍCH THIỀN-TÂM)

Tóm lại, nếu Qúy-vị trì tụng Bảo-Kích Thủ Nhãn Ấn Pháp, không những ngăn ngừa và xua đuổi được giặc ngoại xâm bên ngoài, mà còn trừ được giặc ở bên trong là NGHIỆP CHƯỚNGBÁO CHƯỚNG và PHIỀN NÃO CHƯỚNG, nên đối với “THỜI GIAN” thì việc gì trước làm trước…đối với “KHÔNG GIAN” là chỗ ở, cảnh vật, tiếp xúc với người cùng vật… đều “TỰ TẠI”,  nói chung là tất cả đều được “TA BÀ HA”.

Kệ tụng Việt dịch: 

Viễn chinh Nhân Quý bậc anh hùng
Giúp nước cứu vua lập đại công
Cao ly đầu hàng triều thánh đế
Nghịch tặc phương nào lưu dấu chân.

 

Bảo-Kích Thủ Nhãn Ấn Pháp
Thứ Hai Mươi Sáu

Ma Ha Phạt Xà Da Đế [29] 
𑖦𑖮𑖯-𑖥𑖬𑖰𑖧𑖝𑖰
MAHĀ-BHAṢIYATI

Án– thảm muội dã, chỉ nảnh hạ rị, hồng phấn tra.
𑖌𑖼_ 𑖭𑖦𑖧  𑖀𑖐𑖿𑖡𑖰   𑖮𑖯𑖨𑖸  𑖮𑖳𑖽  𑖣𑖘𑖿
OṂ_ SAMAYA  AGNI   HĀRE  HŪṂ  PHAṬ