Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

TRUYỆN CÁC BẬC CAO TĂNG ĐỜI TỐNG

Đại Sư Thông Tuệ chùa Thiên Thọ ở Tả Nhai Tứ Tử Sa-môn Tán Ninh v.v… vâng sắc soạn
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh
Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc Xuất Bản

 

QUYỂN 16

Mục Lục

 

CHƯƠNG IV: MINH LUẬT

TRONG PHẦN 3 CỦA CHƯƠNG IV

(chánh truyện có mười chín vị, phụ có hai vị).

1. Truyện ngài Biện Tài trụ chùa Long Hưng ở Sóc Phương, thời Tiền Đường:

Thích Biện Tài, họ Lý, người ở xứ Tương Dương. Mẹ Sư lúc mang thai Sư, chợt chán ghét các chất tanh huyết cay nồng, thầm lặng ăn một bữa đạm bạc trọn ngày mà thôi, đến lúc sanh ra Sư, có mùi thơm lạ xông khắp phòng, thân tộc bà con đều lấy làm lạ.

Năm bảy tuổi, Sư đến nương tựa Thiền Sư Tịnh ở núi Hiện xin xuất gia. Đến lúc lớn lên, Sư có trí nhớ dai, mỗi ruỗi lúc thọ học kinh pháp thì lấy thân làm kỳ hạn. Chữ không hỏi lại, nghĩa chẳng nghĩ lại, thầy Sư rất quý mến. Năm mười sáu tuổi, Sư xuống tóc và thuộc danh ở chùa Đại Vân trong Bổn Châu. Kế đến, Sư vân du khắp quận, đến các danh sơn, tới chùa Ngọc Tuyền ở Kinh Châu, cầu thọ giới cụ túc. Nghe có Luật Sư Hoài Uy trụ chùa An Quốc ở Trường An, Luật sư Nghĩa Ban ở chùa Báo Ân, có các pháp môn, Sư đều đến chiêm lễ, thầy trò biểu suốt, Sư bèn phục ứng thỉnh nghiệp, có điều gì nghi thì giải quyết cho dứt, không nghĩa nào chẳng thông, cho nên hai tông, đều suy tôn Sư là Thượng thủ.

Niên hiệu Thiên Bảo thứ 1 (76), vua Huyền Tông cho rằng người ở phương Bắc bẩm chất cứng cỏi, có lắm phong tục sai lầm, xếp vào nghề sát hại, ngoài ra chuyên tập cưỡi ngựa bắn cung, không cách gì sửa đổi. Biết làm sao để chấm dứt, bèn ban chiếu mời Sư đến đó giáo giới, lâm đàn độ người. Đến đầu niên hiệu Chí Đức (76), khi vua Túc Tông lên ngôi, tại bang vực đó có Tể Thần Đỗ Hồng Tiệm tấu trình thỉnh Sự trụ chùa Long Hưng. Vua Túc Tông lại ban chiếu cho Sư kiêm thêm quản định các vị Đại đức giáo thọ nội điển ở Sóc Phương giúp họ cố gắng dạy dỗ, đổi bỏ phong tục mọi rợ Thiêm Duẫn. Theo Đạo Tỳ-ni, vua lại ban lệnh vì nước nhà mà thiết lập đạo tràng Pháp Hoa, đến lúc lên giá trở về đã đến lưỡng kinh, triều đình nhiều lần ban ấn thư, đến cuối cùng rất lưu tâm Đại thừa Đốn giáo. Đến niên hiệu Vĩnh Thái thứ 2 (766) Tặc Thần bộc cố Hoài ân, ngoài thì chiêu dụ Phiên nhung, trong thì gắng hỏi kim cách, Sư bèn khuyên răn Tuyệt Cầu chớ giết hại Hoa tộc. Đến niên hiệu Đại lịch thứ 3 (768) suy cử nhập vào các Đại đức chùa Chương Tín. Bấy giờ, phủ soái nước Quắc là Thường Công vốn kính mến danh Sư, cùng họ Nhung Nhậm công luôn gần gũi luận Đạo.

Mùa Đông niên hiệu Đại Lịch thứ 13 (778), Sự thị hiện bị bệnh nhẹ. Đến ngày mồng 8 tháng 12, Sư răn dạy môn nhân đồ chúng rồi, an tọa trên giường dây, an nhiên mà thị tịch, thọ năm mươi sáu tuổi. Qua đến tháng 2 năm sau, mới nghinh thần đến góc Tây bắc trong nội tự.

Trước đó, có Ấp tử Thạch Ngung làm lính ở trên thành. Đêm đó mọi người nghe có tiếng Đàn sáo từ phía Tây vọng lại, đó là nhạc trời, mùi thơm lạ từ hư không tỏa xuống, là điềm sanh về Tịnh Độ. Sư từ Trường An mà vụt chốc đến Tái Thượng, đã được sự tri ngộ của Quắc Công, tạo dựng phước nghiệp thành Tinh Xá ấy, đó đều do sự đôn đốc khuyên răn của Sư. Vua Đại Tông ban tặng Sư thụy hiệu là “Năng Giác Đại Sư” và thưởng ban một chiếu y tía. Thanh danh Sư vang xa ra Tái ngoại. Vào niên hiệu Thiên Phục (901-90), Túc úy Bình Vương đảm nhiệm việc làm văn bia, khen ngợi đức hạnh của Sư v.v…

2. Truyện ngài Đạo Trừng trụ chùa Chương Tín ở Kinh đô, thời Tiền Đường:

Thích Đạo Trừng, họ Lương, người ở xứ Kinh Triệu. Cha của Sư từng là Trung thư xá nhân. Sư vừa mới sanh đã biểu lộ sự kỳ đặc, chán ghét mọi vật tanh nồng. Khi được xuất gia như là quay về, chẳng đoái hoài luyến tiếc, bỗng gặp được vị Thiền tăng đưa tay xoa đầu và đặt cho tên Đạo Trừng. Bình bát, tích trượng thường mang theo bên mình, thầm hợp luật phép, gọi Sư là “Luật Sa-di”.

Sau khi thọ giới Cụ túc, Sư học Luật Nam sơn ở các học xứ, thấy các nơi ấy có chút khiếm khuyết, mà tánh Sư thì suất lược nên chẳng thường ở một chùa. Hoặc là Phụng Ân, Trang Nghiêm, Thảo Đường v.v… các chùa, nơi Sư đến bèn ở lấy Hộ sanh làm chính. Niên hiệu Kiến Trung thứ 2 (781), Sư kiết hạ tại núi Vân Hương, có hổ đến gầm thét vào cửa, Sư từ từ nói dạy răn nó, hổ ấy bèn vẫy đuôi cụp tai mà lui. Khi Sư dời đến trụ chùa Chương Tín, có người hỏi nguyên nhân. Sư bảo: “Người xuất gia đâu để dính mắc ở một nơi? Tại Tây Vực ba mùa phân chia phòng, để không bị tham trước, Quán môn dễ lập. Nếu chẳng thế thì đâu thể thông phương rộng thứ ư?

Ngày mồng 8 tháng 2 niên hiệu Trinh Nguyên thứ 2 (786), vua Đức Tông đến chùa cầu thọ giới Bồ-tát, Kinh Điện Khuynh Chiêm thiết trai rất lớn. Sư thọ nhận moị vật rồi trở lại ban thí ở hai ruộng phước. Đến niên hiệu Trinh Nguyên thứ (789), vua Đức Tông lại đến chùa Chương Tín, hỏi Sư về pháp môn tu tâm. Và ban lệnh cho phi chúa Tần ngự cầu thọ giới Bồ-tát. Đến tháng niên hiệu Trinh Nguyên thứ 16 (800) vua Đức Tông ban tặng Sư hiệu là “Đại Viên”. Tới ngày 18 tháng 9 niên hiệu Trinh Nguyên thứ 18 (802), Sư thị tịch tại chùa Chương Tín.

3. Truyện ngài Thanh Triệt trụ chùa Long Hưng ở Chung Lăng, thời Tiền Đường:

Thích Thanh Triệt, chưa rõ Sư là người xứ nào, Sư chu du khắp các pháp tịch giảng luật, thầm giữ gìn căn môn, tức không thường ở một vị thầy nào, chỉ nương tựa vào pháp lành mà thôi.

Ban đầu, Sư ở chỗ luật sư Đạo Hằng trong bắc viện chùa Khai Nguyên thuộc Ngô Uyển, gần gũi then chốt sâu mầu bao gồm lý trí, mà Chung Hoa Vọng, đều suy tôn khen ngợi. Trong niên hiệu Quý Tỵ (813) tức niên hiệu Nguyên Hòa thứ 8 thời vua Hiến Tông, ngài y theo chí nguyện soạn “ký” hai mươi quyển, cũng nhóm họp các nhà có các thuyết chính yếu đích đáng để giải Nam Sơn luật sao, đặt hiệu là “Tập Nghĩa”, hoặc gọi là “Hậu Đường”, mãi đến niên hiệu Nguyên Hòa thứ 10 (81) mới xong. Nay, các bậc giảng sĩ ở Dự Chương, Võ Xương, Tấn Lăng phần nhiều thực hành theo nghĩa đó. Từng xem bộ ký” đó rất nhiều rộng, không rõ về sau, Sư thị tịch ở đâu.

Liên hệ thử bàn:

Ngôn hạnh của Sư không là quá đơn giản ư? Thông đáp: Rông hay lược có chứng cứ gọi là “thực lục”. Ngày xưa, Thái Sử Công có thể chẳng muốn thế sự rộng đến ba hay năm đời ư? Vì trước đời Đường, Ngu các nhà làm sử chuyên thuần sơ lược. Đời sau làm sao ghi được. Nay chẳng toại Phú Đam Chức do đó. Lại cũng chẳng lai phó cáo chẳng ghi đồng. Nên các nơi có sự rộng lược chẳng đều, phải bỏ sự chê trách ấy.

4. Truyện ngài Thượng Hằng trụ chùa Cảnh Vân ở Phủ Châu, thời Tiền Đường:

Thích Thượng Hằng, họ Nhiêu, người ở xứ Nam Thành, thuộc Lâm Xuyên. Thuở nhỏ Sư đã có sự hiểu biết, đến năm phát tâm học thì phát tâm bỏ tục. Sư theo mẹ đến chốn không môn xin nhiếp thọ. Thầy dạy tụng đọc kinh sách Phật mỗi ngày đến ngàn lời. Đến tuổi tráng niên, Sư theo Đại sư Đại Tịch ở Nam Nhạc mà xin thọ giới và nghe học tinh cần vượt mọi gian khổ, khó nhọc.

Vào niên hiệu Đại Lịch (766-780), Sư chẳng xa bỏ làng nước của cha mẹ, xin được thuộc danh ở chùa Cảnh Vân, Ngài tu tập không khuyết sót, chỉ thấm thoát năm đầu mà bộ “Nam sơn sự sao” Sư đã giảng suốt rất chuyên. Đến đầu niên hiệu Trinh nguyên (78), Sư dời đến trụ chùa Long Hưng ở Dự Chương, cùng đi với Ngài Pháp Chân ở Lô Phụ, Linh Hựu ở Thiên Thai, Pháp Duệ ở Kinh Môn, Thần Thấu ở Hưng Quả, Tuệ Tấn ở Kiến Xương. Như Huân Trì hợp vận, nước sữa giúp nhau, pháp giao Vương Thần, nên Sư cùng Khương Tướng Quốc Công Phủ Ngạn, Lỗ Công Chân Khanh Dương Phùng Vị Đan, bốn người kết bạn lành, làm lành cấm phòng nên Sư giảng Luật Tứ Phần mà hạng người làm lành bỏ ác đông không xiết kể. Sư ngồi Đàn Cam Lồ trong hai mươi năm có mười tám hội, cứu vớt chúng sanh. Các hàng nam nữ được Sư độ ở Diệm-phù Đông Chấn có tới một muôn năm ngàn người.

Đến niên hiệu Nguyên Hòa thứ 10 (81), Sư bị bịnh nhẹ, đến ngày Kỷ Hợi tháng 10, Ngài thị tịch tại chùa Đông Lâm ở Lô Sơn, đón rước toàn thân về an táng trong Thạch Phần ở Nam Cương, Sư thọ bảy mươi bảy tuổi, qua năm mươi lăm mùa hạ an cư. Các hàng môn nhân v.v… trồng Tùng Bách. Bạch Cư Dị ở Thái Nguyên soạn bài minh ở tháp thờ Sư.

5. Truyện ngài Tuệ Lâm trụ chùa Vĩnh Phước ở Tiền Đường, thời Tiền Đường:

Thích Tuệ Lâm, tự là Bảo Ngọc, họ Kha, người ở xứ Tân An. Đến tuổi tết tóc, Sư tới thọ nghiệp ở Linh Ẩn thuộc Tây Phong, làm đệ tử Hòa-thượng Kim. Các pháp yếu được trao truyền, Sư không hề hỏi lại.

Đầu niên hiệu Đại Lịch (766), Sư thọ giới cụ túc tại Hội Linh Sơn. Tu học Tam giáo, mỗi điều đều lãnh hội không để sót, Ngài chẳng ham danh hoa, chỉ ưa thích suối đá. Có lần vào Thiên Nhãn hơn hai mươi năm; Thiên nhãn tức là Thiên mục, núi đó cao ba ngàn trượng, chu vi rộng ba trăm dặm, xấp xỉ như Thiên Trụ, Lô Phụ v.v… trên núi có hai cái hồ gọi là Tả Hữu mục. Leo lên núi ấy gian nan hiểm trở qua mấy ngày mới tới đỉnh. Trên đỉnh có nhiều Giao long, có 3 cái ao đầm. Cái ao hồ cao nhất người không thể đến gần được, mùi thối bay ngược nên người không thể đến gần lâu. Có thuyết nói là thần núi hiện hình con nai trắng, hằng năm vào tháng tụ hội với rồng, chắc chắn là có mưa bão dữ dội. Ngài ở đó quản lãnh nhiều yêu dị mà tâm không bị nhiễu loạn.

Đến năm Đinh hợi (807) thuộc niên hiệu Nguyên Hòa, Thái thú Lễ Bộ Viên Ngoại Thành Nam xã tìm vượt lên đó thỉnh ra đăng đàn ở chùa Vĩnh Phước. Đến mùa xuân năm Kỷ sửu (809) Thứ sử Binh Bộ Lang Trung Bùi Thường Lệ mời Sư lâm đàn tại chùa Thiên Trúc. Độ người xong, Sư trở lại chùa, giảng dạy Đồ chúng suốt hai mươi năm. Quận thú Tả Tỳ Lang Trung Lục Tắc, Hình Bộ Thị Lang Dương Bằng, Cấp Sự Trung Lô Nguyên Phụ, Trung Thư Xá Nhân Bạch Cư Dị, Thái Phủ Khanh Lý Ấu Công, Hình Bộ Lang Trung Thôi Thiện, Hình Bộ Lang Trung Lộ Dị, Tương Kế Cửu Bang Bá đều đến viện kính lễ Sư, cúi đầu thưa hỏi Tông ý Phật pháp, nhiễm chỉ Tánh tướng. Các bậc danh công ấy đều thuộc hàng thượng lưu, từ học cao độ. Hoặc hiệu là “Tỳđàm Khổng Tử” hoặc hiệu là “Thắng lực Bồ-tát”. Nếu chẳng phải Sư thì ai có thể cảm động ư?

Đến ngày 2 tháng niên hiệu Thái Hòa thứ 6 (832), Ngài thị tịch, thọ tám mươi ba tuổi, sáu mươi bốn hạ lạp. Tới ngày 12 tháng mới an táng tại phía trái gò mã não, tức phía Nam của núi, là phía Tây của chùa Vĩnh An ngày nay. Tháp đá vẫn nghiễm nhiên hiện còn.

6. Truyện ngài Tấu trụ chùa Hưng Quả ở Giang Châu, thời Tiền Đường:

Thích Thần Tấu, họ Thành, người ở xứ Lam Điền, thuộc Kinh Triệu. Vừa mới sanh mà Sư đã lanh lợi khác thường, đến tuổi tết tóc thì phát tấm xuất trần, xa kính mến giới luật, nên Sư đến Nam Nhạc, cầu Đại Sư Hy Tháo xin thọ giới cụ túc. Sư lại đến tham yết thiền sư Đại Tịch ở Chung Lăng, nhưng mục đích là muốn học Kinh Lăng-nghiêm, hạnh ở Luật Tứ Phần. Ngoài ra đối với các giáo nghĩa thì thừa sức thông hiểu.

Niên hiệu Đại Lịch thứ 8 (773), vua Đại Tông ban chế treo ba khoa kinh Luật luận, để thi chọn người xuất gia trong nước, ai trúng được Đẳng mới được độ. Sư ứng trúng kỳ tuyển chọn đó, vua bèn ban chiếu phối danh vào tinh xá Hưng Quả ở Cửu giang. Sau, theo sự trông mong của chư tăng nên Sư dời đến trụ chùa Đông Lâm, tức đạo tràng xưa của Giả Viễn ở Nhạn môn. Có Giới Đàn Cam Lồ tại ao Bạch Liên. Sư ở đó tiếp nối chấn hưng Phật sự, tuy kinh luận giúp thần, nhưng Sư trọn nghiên cứu luật thành chuyên. Sư suy yếu gầy ốm, trông rõ nét rã rời, môn nhân ở trong châu quận cùng nhau lo liệu thuốc thang nhưng Sư chẳng mong dâng thuốc đến.

Đến tháng 9 niên hiệu Nguyên Hòa thứ 12 (817), Sư bị bệnh, tới ngày 26, Ngài an nhiên ngồi thẳng mà thị tịch. Qua ngày 19 tháng 10, môn nhân đón rước toàn thân Sư an táng chung ở phía trái phần mộ Nhạn môn, tại phía Bắc Đường thuộc hướng Tây của chùa Như Tăng Thuyên an táng gần mộ của Quách văn. Sư thọ bảy mươi bốn tuổi, năm mươi mốt hạ lạp.

Sư dùng tâm tinh tấn mà quay bánh xe không lui sụt, dùng năng lực mạnh mẽ mà đánh trống vô úy. Nên đăng đàn Bỉnh pháp suốt ba mươi năm mà chỉ ăn một Bát, chỉ ngủ một giường, áo chằm dây gai, ngồi trên rơm cỏ. Do đó, Đàn thí đem đến dâng cúng Sư đều đưa vào của vô tận của thường trụ và sử dụng chung với chúng tăng. Thường đêm, Sư bưng lò cầm đuốc lễ Phật hành đạo, theo 12 giờ khắc ít có khi thiếu sót. Như vậy, trải qua bốn mươi lăm năm. Lúc Sư sống thường gặp Bạch nhạc thiên làm phép tắc, giờ ngọ đến quận cùng thân thiện, lúc Sư thị tịch thì buồn thương điếu viếng làm bài minh ở tháp thờ Sư rằng:

“Vốn kết Bồ-đề thờ hương hỏa
Cùng hiềm phiền não sấm bạt thân
Chẳng phải buồn phiền theo thầy bỏ (Đi)
Trước thỉnh Tây phương làm chủ nhân”.

7. Truyện ngài Tuệ Linh trụ chùa Thánh Thọ ở Kinh Triệu, thời Tiền Đường:

Thích Tuệ Linh, không rõ Sư là người xứ nào. Từ thuở nhỏ, Sư đã thoát duyên trần, siêng năng theo học tụng tập, đến lúc ứng pháp giới phẩm mới tròn đầy, tâm ý Sư bén nhạy đối với tỳ-ni, nghiên cứu sâu trì phạm, dùng hạnh giúp giải, tâm miệng hợp nhau. Do đó mà Sư giảng dạy danh vọng hợp như, mọi người đều kính sợ như thần minh.

Niên hiệu Đại trung thứ 7 (83), vua Tuyên Tông đến chùa Trang Nghiêm, đảnh lễ răng Phật. Bước lên Đại tháp, vua Tuyên Tông hỏi Sư về tuổi tác và ban tặng cho Sư y tía. Tháng 6 năm đó, vua ban sắc bổ nhậm Sư làm Thượng tọa ở chùa mới. Vua Tuyên Tông trông về phía Tây bắc của chùa mà phế bỏ chùa Tổng trì, bèn ban sắc chiếu rằng: “Trẫm nhân lúc rảnh việc triều chính nên đến chùa Trang Nghiêm thưởng cảnh. Chùa đó lắm điện nhiều hành lang, rui liền với đòn tay, phòng tối nhà kín sâu thẩm sơ thông, trúc dày thông biếc rũ che, vén khéo đẹp xinh. Người đi lạc lối. Đó là cung trời trong nước, cao sáng ít nơi đâu sánh bằng. Đang lúc xây dựng, vì hồ Côn Minh ở phía Tây kinh thành thế nhỏ xuống, mới xây tháp bằng cây gỗ cao ba trăm thước. Đang lúc phiên để, đi đến ngôi già-lam đó thấy được sự tốt đẹp ấy. Chùa Tổng Trì đó lập nên quy chế vào khoảng niên hiệu Đại Nghiệp (60-617, đời Tùy) cũng đồng thời với chùa Trang Nghiêm. Nay, tôn tượng thì bị hủy hoại, cỏ cây phủ hoang, Hương kinh Vũ xâm hiện còn nền móng. Chùa đó nên hứa thuận xây dựng lại để xứng với lòng ta”. Ngày 11 tháng 3, vua ban lệnh Thủ tọa Tam giáo Biện Chương Câu đứng ra sửa chùa. Đến lúc công thợ xong, suy tôn Sư làm cương nhậm. Sắc tử Duệ Xuyên ở chùa Sùng Thánh sung làm Tự chủ, Đại Đức Lâm Đàn chùa Phước Thọ là Huyền Sướng được sung làm Đô Duy-Na. Ngài đảm nhiệm chức ở chùa, Tăng chúng đều thanh tịnh thuần hòa, vua Tuyên Tông rất khâm phục kính trọng, trong chùa thường dâng cúng mật hoa lê, mầu trắng, mùi vị hơn sáp thường. Sư thị tịch ở tại chùa mới.

Nghiên tầm về hành trạng của Sư thì Sư có tham dự việc phiên dịch, chứng nghĩa trong khoảng niên hiệu Vĩnh Thái (76-766) dưới thời vua Đại Tông, cho nên có khả năng Sư thọ ngoài trăm tuổi. Như chẳng thấy Bất Không Lương Phần, cho nên tuổi tác, hạ lạp không thể biết được.

8. Truyện ngài Thường Đạt trụ chùa Phá Sơn ở Quận Ngô, thời Tiền Đường:

Thích Thường Đạt, tự là Văn Cử, họ Cố, người ở xứ Hải Ngung, Ngài phát tích từ núi Đại Phước ở Hà Dương, đến tham học tại chùa Gia Thắng ở Giang Hoài. Sư bản tánh trung hòa, giữ trọn giới pháp, chuyên giảng luật sao của Nam sơn. Sau cầu các Kinh Niết-bàn, Viên âm, Pháp Hoa, Chỉ Quán. Sư lại thông cả sách Âm phù, trăm nhà Hiền triết, ngoài ra học hết phân thời, bút tích của hai vua. Sư lại du phương tham yết thiền pháp đến chỗ tông cực.

Khi gặp nạn vua Võ Tông phá hủy Phật pháp, Sư than rằng: “Ta sanh không phải thời, chẳng tự sau ta!” Từ đó, Sư trầm mặc ẩn náu chốn núi rừng, lánh đời mà không buồn phiền. Đến lúc vua Tuyên Tông dựng lại cờ Pháp, trùng hưng tinh xá, dân chúng khắp nơi đều được Sư giáo hóa dẫn dắt. Nên Thái úy Vi Thự càng thêm sùng kính tôn trọng. Thân Sư chẳng mặc áo bông tơ thêu thùa, thất chỉ lợp bằng tranh cỏ. Bốn chúng biết nên quy hướng, các phương kính mến phong hóa, Sư trắng sạch tợ như hạc cò.

Niên hiệu Hàm Thông thứ 12 (871), khắp thành quách Tăng chúng cầu thỉnh Sư tiếp tục vì bốn chúng mà dạy răn. Sư hoặc có thú thung dung như mục đồng, có lúc tiếu ngạo ngoài ven bể. Chẳng ra khỏi ven rừng suốt trong mấy năm. Tuy các hàng quý sĩ đơn xe đến cửa, Sư cũng chẳng màng, chẳng thấy trong lời thơ thất ngôn ngũ ngôn, dùng theo thể của Nguyên Hòa. Sư có soạn “Thanh Sơn Lý đạo” truyền bá qua miệng mọi người”. Bỗng vào lúc sáng sớm ngày tự tứ, nhóm chúng trước mái hiên, chắp tay bày tỏ giã biệt, lời lẽ rất cứng rắn. Rồi bị bệnh chẳng dậy, tuyệt thực bảy ngày mà thị tịch. Lúc đó là ngày 16 tháng 9 niên hiệu Hàm Thông thứ 1 (87). Sư thọ bảy mươi bốn tuổi, năm mươi mốt hạ lạp.

Môn nhân đệ tử là Hội Thanh, truyền lang đón rước linh cửu an táng ở phía Đông nam chùa, cách ba trăm bộ. Năm sau, xây tháp nơi phần mộ. Dĩnh Xuyên Trần Ngôn soạn bài minh ở tháp thờ, Ấp Đại Phu Nhữ Nam Chu Tư Tập làm Đàn Tín. Đến niên hiệu Càn Phù thứ (877) mới lập bia.

9. Truyện ngài Đan Phủ trụ chùa Khai Nguyên ở Việt Châu, thời Tiền Đường:

Thích Đan Phủ, không rõ Sư là người xứ nào. Tánh thường kính đạt, nói năng thẳng thắng, ân cần giảng dạy, giữ gìn nhã chánh. Phong thổ ở Cối Kê, khuôn phép ở Uyên phủ. Sư xướng đạo, mọi người vâng theo, như kim vàng đến nam châm.

Sư vốn tập học nơi pháp tập của Luật sư Tuyên Văn, ngài Tuyên Văn là đệ tử tùng hạ với ngài Tĩnh Cung, như vậy, ngài (Đan phủ) tức là pháp tôn của ngài Tỉnh Cung. Sư thuận theo chánh mạng chương cán, thông suốt sâu mầu, vượt sau từ ngài Đàm Nhất, Huyền Nghiễm, ít ai có thể tìm được dấu vết. Thanh trần đối với Sư xa vời bày trước, nhưng bấy giờ có ngài Doãn Văn là một bậc tượng thủ tướng bộ phong hành. Sư phân ranh Đại luật, khi hành sự thì như cỏ bị đè sát theo gió.

Cuối niên hiệu Hàm Thông (87), Sư nêu ra môn sanh Trí Chương v.v… truyền giảng. Đến nay người nối tiếp dòng pháp của Sư hiệu còn. Có nghe rằng Sư có soạn “Thủ ký”, nhưng tìm mà chưa gặp. Ôi! Thật tiếc thay!

10. Truyện ngài Pháp Tướng trụ chùa Linh Quang ở Gia Hòa, thuộc Ngô Quận, thời Tiền Đường:

Thích Pháp Tướng, họ Du, người xứ Trường Thủy, thuộc Quận Ngô. Sư ra đời vào khoảng niên hiệu Thiên Bảo (72-76). Thuở bé, Sư rất khác lạ. Năm bảy tuổi, Ngài tìm đến thầy, cầu thọ học kinh pháp, chỉ mới một tháng mà Sư thông suốt toàn bộ Kinh Pháp Hoa. Đến tuổi hai mươi, Ngài sang chùa An Quốc ở Trường An cầu thọ giới cụ túc, tức trong khoảng niên hiệu Đại Lịch (766-780).

Sau đó, Sư bèn đến Thượng Kinh, tập học Đạo Tỳ-ni. Với mọi sự đồng dị của các bộ, Sư thảy đều thấu suốt, trải qua mười một năm, Ngài chứa nhóm thành Đạo Nghiệp. Sư trở về phương Đông truyền pháp. Người đến cầu học rất đông. Thái thú Ngô Quận tấu trình xin lập giới đàn ở chùa Khai Nguyên, tuyển chọn thỉnh Sư lâm đàn, tầm sung y chỉ, cả chúng cùng suy tôn Sư làm cương quản chùa. Sư thường trao thí quy giới cho hai chúng. Sư thực hành đeo đãy lọc, bát chẳng chứa dư, từng có con chim đến đậu bên cạnh tòa, đuổi cũng chẳng đi.

Vào giờ ngọ khắc thứ 3, ngày mồng 10 tháng 2 niên hiệu Hội Xương thứ nhất (81), Sư bảo các đệ tử Thanh Tuấn, Thanh Cao rằng: “Ta sắp tịch!” Rồi an nhiên xếp chân nằm nghiêng phía hữu mà thị tịch. Lúc đó, cả chúng đều nghe có tiếng Đàn sáo lảnh lót, đó là nhạc trời, và đêm đó, thấy được ánh sáng lạ thường. Sư thọ tám mươi chín tuổi, sáu mươi mốt hạ lạp. Tới tháng mới đón rước nhập tháp ở gò Tô Hương. Đó là ngôi tháp trắng vậy.

Sau, đệ tử Sư đúc suất Nghĩa Châu thứ sử Tào Tín, Đại Lý Ty Trực Ngô Phương sửa sang lại tháp. Khi quật khởi thấy di cốt Sư mầu như Đồng, chiếc lưỡi không rã, dường như hoa sen, răng nguyên vẹn bốn mươi hai cái, bèn dùng nước thơm tắm gội rồi an táng lại. Lúc đó là ngày 22 tháng năm Quý sửu (893) tức niên hiệu Cảnh Phúc thứ 2. Sư có người đệ tử giỏi là Công Tĩnh, ngài Công Tĩnh có đệ tử là Hành Uẩn, ngài Hành Uẩn có đệ tử là Nhân Biểu, ngài Nhân Biểu có đệ tử là Huyền Cảo, ngài Huyền Cảo vốn là vị tăng thanh bạch, cùng ngài Hồng Khải sửa sang lại chùa Linh Quang sau khi bị binh giặc phá hủy. Sau, ngài Hồng Khải và ngài Huyền Cảo đều ẩn cư tại Thiên Thai, hành tập Thiền Quán và lần lượt thị tịch tại núi, trà-tỳ đều thâu được xá-lợi.

11. Truyện ngài Văn Cử ở chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai, thời Tiền Đường:

Thích Văn Cử, họ Trương, người ở xứ Đông Dương, thuộc Vụ Châu.

Tuổi còn bé đã có chí học, Sư bèn tìm đến chỗ thầy thưa hỏi Phật thỉnh pháp. Năm mười chín tuổi, Sư mới xuống tóc thọ giới Sa-di. Đến niên hiệu Trinh Nguyên thứ 3 (786) vua Đức Tông ban chiếu độ người xuất gia, Sư đắc giới cụ túc. Sau thời gian mười lăm năm, Sư chuyên học Luật Tứ Phần. Bấy giờ, ngày đêm siêng năng, nên Sư được lên toà giảng dạy. Kế đến, Sư thông rành bộ Pháp Hoa Kinh Nghĩa Sớ, đạt được phần ruột của ngài Trí Giả. Ngài thân cao hơn 6 thước, thể hình như núi, dung mạo tợ ngọc, tĩnh như nước dừng, động tợ mây nổi, mắt chẳng liếc nhìn, miệng không đùa cợt. Trong bốn oai nghi đều là khuôn phép. Hai chúng Đan Khâu kính ngưỡng lấy làm chuẩn mực, họ đi khắp nơi để thính thọ, cùng thiền đạo của Phật Quật Tắc công đều cao siêu ngang nhau. Sau đó, có sắc chiếu ban Sư làm Đại Đức chùa Quốc Thanh.

Trước kia, Đại sư Trí Giả trả lời điều hỏi của Tùy Dương Đế về việc lập “Đạo Tràng kim Quang Minh bảy ngày”. Mỗi năm đến tháng 9, xa gần chinh trấn, Hầu Bá sai người đem đồ cúng dường đến, sự việc đã vô ngại. Các hàng Tăng tục không nơi xa nào mà chẳng đến. Người mới bổ sung đến nên thức ăn uống bị khuyết thiếu, vị Tăng Điển tòa rất lo ngại. Vào niên hiệu Thái Hòa (827-836), vị Tăng chủ sự là ngài Thanh Uẩn, hỏi Sư mua thêm mười hai khoảnh ruộng cho chùa. Từ đó, pháp hội Đạo Tràng Kim Quang Minh không còn nghe nói bị thiếu thốn nữa. Đó là do công của Sư.

Khoảng tháng , niên hiệu Hội Xương thứ 2 (82), Sư thị tịch, thọ tám mươi ba tuổi, năm mươi lăm hạ lạp. Đệ tử Ấu Thanh xây tháp ở ngọn núi phía Tây chùa, Hàn Hựu soạn văn bia khen ngợi đức hạnh Sư.

12. Truyện ngài Duẫn Văn trụ chùa Khai Nguyên ở Cối Kê, thời Tiền Đường:

Thích Duẫn Văn, tự là chấp kinh, họ Chu, người ở xứ Gia Hòa, thuộc Tú Châu ngày nay. Vừa mới chín tuổi, cha Sư đã mất, nhưng về lý là dạy bỏ Sư thờ Phật. Được thầy trao cho hai bộ kinh Duy-ma và Pháp Hoa. Với tánh thông minh nhanh nhẹn nên qua năm sau, Sư đều thông suốt. Các bậc Cao Đạt đều gọi Sư là “Trọng Lý”. Có người đùa hỏi Sư rằng: “Sau khi xuất gia, ông sẽ tạo dựng sự nghiệp thế nào?” Ngài hững hờ đáp: “Sẽ lên đài hoa sen, làm Sư tử hống”. Có người chê trách nói mát với Sư rằng: “Trước các bậc kỳ túc mà dám nói thế”. Hoặc có người bảo: “Chí muốn được lớn, ông này trong tương lai chưa dễ mà suy lường”. Đến năm mười sáu tuổi, Sư cắt đảnh Chu-La, đắp y An-Đà-hội, kế là giẫm chân đến phương Tây, vào Tung Sơn làm Đại Đức Lâm Đàn, Sư ở bên cạnh Hòa-thượng Viễn mà đắc pháp vô tác. Lúc đó, Sư hai mươi ba tuổi.

Mùa hạ năm đó, Sư đến Trung Kinh, học Tướng Bộ Luật Tông và Luận Trung Quán, vá y đi khất thực nóng lạnh khắp nơi, đã gõ được nghĩa môn thì được vào thất thầy. Then huyền khuôn luật, Sư thấy biết rất tinh vi. Tới niên hiệu Thái Hòa thứ (831), vì tư duy định tĩnh, bỗng Sư than muốn trở về. Về đã tới quê cũ, thấm thoát thời gian chưa rảnh mà giảng xướng, sau nghe chùa Thiên Trúc ở Tiền Đường có giảng kinh Đại Niết-bàn, pháy triển thành thắng tập, Sư bèn sang đó học. Chưa đầy năm mà sự nhạy bén đã lộ bày. Đến niên hiệu Khai Thành thứ nhất (836) nhân đi đến Đài Kiểu, dừng nghỉ tại chùa Gia Trường, ở đất Việt. Chúng nhờ đào luyện thanh phân, thỉnh Sư giảng nói kinh Luật, mà Sư y theo thính chúng rất nghiêm nghị. Sư thường răn dạy rằng: “Hễ là bí-sông thực hành pháp phi gia, đầy đủ luật nghi biệt giải thoát, chúng đồng phần là tự tánh. Nên đối với hình sắc mà tinh tấn, lo sợ, giữ gìn, như thế mới mau thành đạt Đạo quả. Nếu không như thế thì chẳng những đệ tử sa đọa mà đạo thầy cũng chỉ nhọc ban thí”. Nghe lời khuyên răn sách tấn đó, có người lệ trào hoen mi, thay tâm đổi hạnh, tư duy hơn một nửa vậy.

Niên hiệu Hội Xương thứ 3 (83), Sư dời đến ở chùa Tĩnh Lâm, chuyên giảng Kinh Niết-bàn. Gặp lúc vua Võ Tông gạn lọc đào thải, Sư cũng bị tìm bắt. Ngày thì mặc áo vá, đêm đắp y man điều, không khuyết thiếu tăng hạnh, chỉ trốn tránh thế tục gièm pha. Đến đầu niên hiệu Đại Trung (860) mới chấn chỉnh lại cửa Không, sửa sang pháp nghi, Sư mới phối danh ở chùa Khai Nguyên, cùng trong số ba mươi vị. Tới niên hiệu Đại Trung thứ 7 (866), các bậc Lão túc trong chùa thỉnh Sư giảng Luật thừa. Đến mùa thu năm Bính thân (876) tức niên hiệu Càn Phù thứ 3, Ngài thôi giảng mà xem đọc kinh Tạng. Tới ngày 29 tháng 6 năm Nhâm dần (882) tức niên hiệu Trung Hòa thứ 2, Sư thị hiện bịnh nhẹ mà thị tịch, thọ bảy mươi tám tuổi, năm mươi lăm hạ lạp. Để tới ngày 12 tháng 7 năm đó mới an táng tại phía nam núi Thạch Kỳ. Sư để lại di ngôn chẳng được phong thọ.

Ban đầu, mỗi lúc Sư thăng tòa diễn giảng, học chúng rất lo sợ. Trong khoảng khắc thầm kêu mọi người mới tan không. Đó là do oai đức của giới khiến như thế. Sư trụ ở ba chùa Gia Tường, Tĩnh Lâm và Đại Thiện hiện nay, giảng tướng sở ở hai mươi bảy tòa, đại kinh ở hai mươi lăm tòa. Ngài dáng mạo người xưa mà râu dài, đảnh nhọn mặt đen, giữ gìn sít sao, cứu giúp cò ở sân, chưa đủ để nói lên sự khiết tịnh ấy. Nhưng Sư cũng nghiên cứu Nho mặc, hâm mộ Bạch truyện tự soạn văn chí, dự soạn bài minh của phần mộ cất giấu trong rương tráp. Môn nhân là Hoài Ích do tìm đọc văn tịch, thấy mà buồn nghẹn, bèn theo văn chí của Sư mà xây một ngôi tháp nhỏ. Sau, môn nhân Hoài Túc, Tư Tịch bảo danh đức hư thọ tăng thêm phần hậu tựa. Tán Ninh mỗi lúc đến Cối Kê có đảnh lễ chân tướng của Sư, thấy pháp tôn Khả Tường khổ tiết tấn tu hợp hạnh đầu-đà, nên hiểu rõ sự tích Sư.

13. Truyện ngài Tuệ Tắc chùa Tây Minh ở Kinh Triệu, thời Hậu Lương:

Thích Tuệ Tắc, họ My, người ở xứ Côn Sơn, thuộc Quận Ngô. Năm chín tuổi, Sư đã cùng Tài Nghĩa, thưởng ngoạn khắp Nho kinh, khéo gieo phát mầm cành nhưng nhàm chán thế tục.

Niên hiệu Đại Trung thứ 7 (83), Sư đến chùa Tây Minh ở Kinh Triệu xin xuất gia, siêng biết trì tụng đều như đã từng tập học, hai năm sau (8), ở tại bổn tự, Sư được độ. Đến niên hiệu Đại Trung thứ 1 (860), Sư dừng ở pháp tịch của Đại sư Pháp Bảo mà đáp giảng. Năm đó, vua Tuyên Tông ban sắc Sư bổ nhậm Viên Đại Đức. Tới niên hiệu Hàm Thông thứ 3 (862), Sư đến chùa Sùng Thánh giảng “Luận Câu-xá” và “Táng phục nghi xuất tam giới đồ” một quyển. Niên hiệu Hàm Thông thứ 7 (866), Sư ở tại Tổ viện thay thế Đại sư Sướng để giảng. Niên hiệu Hàm Thông thứ 1 (87), vua Ý Tông ban sắc đặt cử Sư làm chánh viên lâm đàn. Đến niên hiệu Quảng Minh thứ nhất (880) giặc Sào đến cửa cung, ở Quan trung sắp nhiễu loạn, Sư ra Hạ Khuê ở Hoa Châu lánh loạn. Niên hiệu Trung Hòa thứ 2 (882), Sư đến Hoài Nam, Cao Tông mời Sự trụ chùa Pháp Vân. Sau khi thôi giảng, Sư trở về đất Ngô. Thứ Sử Dương Công khổ nhọc muốn giữ lại, nhưng Sư từ chối, đến chùa Quốc Thanh ở núi Thiên Thai treo tích tại đó. Niên hiệu Càn Minh thứ nhất (89), Sư đến chùa Dục Vương ở Minh Châu, soạn “Tháp ký” một quyển “Xuất tập yếu ký” mười hai quyển. Võ Túc Vương họ Tiền thỉnh Sư lâm đàn tại Việt Châu.

Đến niên hiệu Khai Bình thứ 2 (908) thời hậu Lương, ngày mồng 8 tháng 8, Sư thị hiện bị bệnh mà thị tịch, thọ bảy mươi bốn tuổi, năm mươi bốn hạ lạp, đệ tử thọ tám giới là Thứ sử Hoàng Thịnh xây tháp, an táng tại ven núi Mậu Sơn.

Bình thường, Sư chẳng thích bới móc, hay nói thẳng, luôn nhún nhường đưa người lên trên. Trừ việc giảng dạy ra, Sư luôn tụng niệm kinh chú, từ Kinh Pháp Hoa trở xuống có thể tới ba bốn mươi bổn, để giúp cho khẩu nghiệp. Sư xem đọc Đại Tạng kinh giáo hai biến, giảng sao bảy biến, Câu-xá Táng Nghi, Luận ngữ, mỗi loại vài biến. Sư thanh tịnh khổ tiết chấp trì, gần khổ ít có. Có đệ tử nhập thất là Hy Giác rất nhạy bén thông minh.

Lại có ngài Nguyên Biểu thật là bậc trinh lượng, Ngài thường nói thẳng, thích phẩm tảo nhân sự, mà cao vời nghĩa giải, tập học tỳ-ni, kiêm siêng năng ngoại học. Thư, sư, phương, thuật, không thứ gì chẳng xem đọc, Sư sớm dự học nơi pháp tịch của Đại sư Pháp Bảo ở chùa Tây Minh. Mãi đến niên hiệu Quảng Minh (880-881) thời Tiền Đường, Thần Đô bản đãng, Sư bèn đến Giang biểu, trụ chùa Đại Thiện ở Việt Châu, chuyên giảng Nam Sơn Luật Sao. Người học ở các Quận không ai chẳng tìm đến. Sư thấu suốt nghĩa lý đọc ngang, lại hay khéo giảng nói, mỗi lần Sưg giảng nói, người nghe quên cả mỏi mệt. Sư hiệu là “Giám Thủy Xà-lê”. Sư có soạn bộ “Nghĩa ký”, cũng đề hiệu là “Giám Thủy”. Trong các môn nhân của Sư thì Thanh Phước là người đứng đầu.

14. Truyện ngài Ngạn Xưng trụ chùa Hưng Phước, ở Phá Sơn thuộc Tô Châu, thời Hậu Đường:

Thích Ngạn Xưng, họ Cung, người ở xứ Thường Thục, thuộc Quận Ngô. Ngài miệt mài giới luật, xem nhẹ việc đời, chuyên cần tìm cầu bậc thầy khuôn phép, chỉ làm theo điều lành. Cuối cùng học với Kế Tông ký chủ và thành đạt được sự nghiệp, Sư bèn trở về quê cũ giảng dạy dẫn dắt. Những người cùng chung chí hướng tốt lành cùng nhau nhóm họp, phong thái luật học phát huy. Gọi đó là “Tỳ-ni Quật Trạch”.

Trước kia ở Hải Ngung, dòng họ Vu Hàm để lại sự tàn hoại, mời sửa chữa lại, gò cũ chùa xưa chung quanh chẳng còn gì, chỉ có móng tường vách mà thôi. Một đêm, có con hổ bị trúng tên của thợ săn, nằm ở gác chùa gầm thét không thôi. Sư thương xót nó, vội vã mang giày cầm đuốc xuống gác, định nhổ mũi tên giúp nó. Các đệ tử cùng nhau ngăn cản đến ba – bốn lượt, Sư đành dò xét đợi mọi người đi ngủ, mới tự cầm đuốc đến nhổ mũi tên cho hổ. Hổ le lưỡi liếm máu ở mũi tên, ngoáy nhìn lại Sư rồi nhắm mắt nằm yên. Tới sáng sớm, thợ săn Chu Đức đến chùa tìm hổ. Sư chỉ cho thấy mũi tên. Chu Đức liền chừa bỏ tâm sát hại, thôi việc săn bắn. Võ Túc Vương họ Tiền biết nên kính trọng Sư. Từng thiết lập Minh trai thỉnh Sư hành trì minh pháp. Khi đó, Sư đắp y phú kiên mà y từ trên vai rơi xuống lại hoàn trả về trên tháp. Hoặc thấy có Quỷ vật theo hầu Sư, cái gọi là bậc Đại Đức thì Quỷ thần theo hỗ trợ.

Đến tháng 6 niên hiệu Trinh Minh thứ 6 (921) thời Hậu Lương, Sư qua đời tại sơn phòng, thọ chín mươi chín tuổi.

Kế nữa, có ngài Thọ Xà-lê. Hai bên Hoài phố trinh lượng khác thường. Sư giữ gìn chánh niệm, ít khi gặp hai lần. Sư mở mang truyền bá Nam Sơn Luật sao, rất thành đạt, chẳng nhìn mặt người khác. Cuối thời Tiền Đường có dòng họ Dương, ở lâu tại Quảng Lăng, từng mời Sư cúng thí, bốn phương xa gần thảy đều kính trọng. Sư thọ thực chỉ vì chánh mạng, chẳng chứa nhóm nhiều, phòng nhà không cửa nẻo, đến lúc lâm đàn độ đệ tử, chánh giữ ngôi vị yết-ma, chưa hết ba lần yết-ma, bỗng nhiên Sư an tọa thị tịch bên cạnh phú phủ. Mọi người nghe thấy đều khen ngợi.

15. Truyện ngài Tùng Lễ trụ chùa Phước Điền ở núi Thiên Thai, thời Hậu Đường.

Thích Tùng Lễ, người ở xứ Tương Dương, khéo phụng thờ cha mẹ, rất nêu cao danh dự của quê nhà. Sau khi cha mẹ đều qua đời, Sư mới quả quyết xả bỏ nhà thế tục, lúc đó Sư đã ở độ tuổi tráng niên.

Lúc đăng đàn thọ giới cụ túc, thỉnh Giáo thọ Sư trao truyền giới răn. Sư nghĩ tánh rất trái cuối cùng khó bỏ gốc. Khi ngủ, Sư thường thấy hình ảnh ma quái quấy nhiễu. Tức giận sự hôn trược đó nên Sư đốt cháy dùi đâm biển ngạch kiêm chưởng, vì vậy mà chảy máu, hơn nửa năm sau mới tụng thông. Từ đó, Sư siêng năng cần hành trì phép luật, hoạn nạn dứt hẳn từ đó.

Vào niên hiệu Càn Hóa (911-913) thời Hậu Lương, Ngài đến Thiên Thai, bèn treo tích trượng ở tinh xá Bình Điền. Sau, suy cử Sư làm Thượng tọa của chùa. Sư trì tụng an tường, vui buồn chẳng lộ vẻ nơi thân. Sư chỉ thực hành tâm từ nhẫn, thường răn dạy đại chúng rằng: “Giữ giới Ba-la-mật là bậc Đại Sư của ta”. Phải biết người xuất gia không giữ giới pháp chẳng khác gì khỉ vượn được thoát khỏi gông cùm!” Mỗi điều hành trì, Sư đều tha thiết, mỗi lúc Bố-tát, Sư khuyên dạy chúng phải giữ gìn mến tiếc như chiếc phao nổi. Bấy giờ, đang lúc mùa hạ nắng gắt, vị tăng chủ sự đến báo sắp thiết trai cúng dường La-hán, biết làm sao vườn hoang khô rụi, xin thỉnh Xà-lê cầu nguyện. Sư bảo: “Chỉ cần đốt hương ở Chân Quân Đường. Chân Quân tức là Thái tử của Chu Linh Vương. Từ lâu nghe nói Tiên đi, dùng tiên quan mà thọ nhậm, làm chân nhân Hữu Bật bằng gỗ Đồng Bách, Vương thống lãnh ngũ nhạc ty hầu đế lúc sáng sớm, còn Vương Tử Kiều đến trị vì ở núi này. Vì thế các Tăng phường, Đạo Quán ở núi Thiên Thai đều đắp họa hình tượng Hữu Bật, chỉ dâng cúng hương hoa trái quả mà thôi. Từ đó trong thế gian gọi là Sơn Vương thổ địa là chẳng đúng”. Khi đó, vị Tăng chủ sự tới chỗ đền thờ tiên mà chú nguyện rằng: “Thượng toà cần có mưa để tưới nhuần cây khô”. Tới đêm đó, mây nổi mưa suốt ba ngày mới thôi. Thêm nữa, vị Tăng lo việc nhà trù dùng máng hứng nước để dùng, mà trên núi có cây xích thọ làm máng được, đến thưa với Sư, Sư bảo: “Ông hướng theo đường chân nhân đi chỉ sắm đủ đồ, khí cụ để dò theo”. Bỗng nhiên gió lớn nổi dậy làm ngã cây, lấy dùng đầy đủ. Sư có nhiều sự cảm động đến quỷ thần, đại loại như thế. Võ Túc Vương họ Tiền ở Lưỡng Chiết nghe vậy, thỉnh Sư vào Châu Phủ thiết lập Đạo tràng Kim Quang Minh. Đàn thí rất dồi dào, Sư đều đem ban thí chúng tăng. Thân Sư chỉ mặc y nạp vải bố, ngày ăn một bữa, suốt đêm không nằm ngủ chỉ thường ngồi và cũng không tạo dựng, chứa nhóm gì.

Sư thị tịch vào tháng 11 năm ất dậu (92) tức niên hiệu Đồng Quang thứ 3, thời Hậu Đường, thọ bảy mươi chín tuổi, năm mươi hai hạ lạp. Sau khi trà-tỳ thâu nhặt được Xá-lợi, xây tháp phụng thờ, hiện nay vẫn còn.

16. Truyện ngài Cảnh Tiêu trụ chùa Chân Thân Tháp, ở Hàng Châu, thời Hậu Đường:

Thích Cảnh Tiêu, họ Từ, người xứ Đan Khâu. Ban đầu, Sư đến nghe qua nơi pháp tịch của Biểu Công, sau Sư kính mến nghe lời Xà-Lê Nghĩa tập phu diễn ở Đan Khâu. Sư giữ tánh nghiêm nghị, ít giao tiếp với người, Cao khiết tự giữ, nhiều việc bận rộn, hình tướng xấu kém. Sau, Sư nhận lời thỉnh mà đến núi Đông bạch ở Kim Hoa giảng dạy hàng sơ học. Bấy giờ, có Ngài Huy Du ở Giang Tây là bậc luật tượng, có soạn bộ nghĩa ký đề là “Quy giám lục”, nhiều người học đến chùa Sư, gặp đang lúc Sư giảng vừa tới Thiên trì Phạm, mà đã hai – ba lần ngợi khen. Từ đó tiếng tăm Sư van xa. Mỗi sáng sớm Sư thường pha trà, một sáng nọ bỗng hóa thành sữa.

Ngài có soạn bộ ký hai mươi quyển, tên là “Giản chánh”. Ý nói do năng lực tư duy và chọn lựa nên bỏ tà thuyết mà giữ lấy chánh nghĩa. Võ Túc Vương họ Tiền mời Sư đảm nhậm chùa Trúc Lâm ở quê cũ Lâm An, sau đó không lâu lại mời Sư lâm đàn tại chùa Bắc tháp. Lúc đó là niên hiệu Thiên Thành thứ 2 (92) thời Hậu Đường. Tiếp theo lại thỉnh Sư trụ chùa Nam chân thân Bảo Tháp. Và Sư thị tịch tại đó. Đón rước an táng tại gò núi Đại Từ, vì vốn nhận làm thầy, nên hiệu tháp là “Thanh Lương”.

17. Truyện ngài Trinh Tuấn trụ chùa Tướng Quốc ở Đông kinh, thời Hậu Đường:

Thích Trinh Tuấn, họ Trương, người ở xứ Tân Trịnh, thuộc Trịnh Châu, vốn là con cháu của Tiên sanh Trương Quả thời Tiền Đường. Nay ở Vinh Dương có làng Trương Quả, bến bờ thu giả cũng hiện còn.

Sư có phong độ rộng rãi, chẳng mân mê răng tóc. Năm mười bốn tuổi, bỗng nhiên phát chí muốn lìa tục, ta chẳng biết người. Tuy cha mẹ níu kéo, anh em cản đường, nhưng không thể trở ngại Sư. Sư đến Luật sư Quy Chánh ở chùa Tướng Quốc, xin xuất gia. Thần cơ nhạy phát. Chợt trông thấy mà đánh kính. Tuy lưng có bia che nhưng chưa đủ nhiều. Với thời gian không lâu, Sư đọc tụng thông suốt các kinh Tịnh Danh, Nhân Vương, tính có mấy muôn lời. Bấy giờ, đồng bọn cười đùa bảo Sư rằng: “Chân ông có hòm rương đựng kinh”. Sư từ chối, chỉ cung kính khiêm tốn mà thôi. Đến lúc xuống tóc trở thành tăng tướng, Sư liền nghe giảng Luận Câu-xá, tùy chỗ giảng mà Sư đọc tụng trong tám phẩm có đến sáu trăm hàng. Năm mười tám tuổi, Sư đã lên tòa luận đạo. Tuổi đủ hai mươi, Sư đến giới đàn ở chùa Hội Thiện ở Tung Sơn cầu thọ giới cụ túc. Nhân đó, Sư dừng trụ tại chùa Phong Thiên, nay gọi là Khai Bảo Luật Viện, học Tân chương luật sớ, năm hai mươi ba tuổi đã giảng trao, mọi người đều lấy làm lạ.

Vào niên hiệu Đại Thuận thứ 2 (892) thời Tiền Đường, chùa Tướng Quốc bị hỏa tai, Tam môn tầng lầu, điện Phật bảy báu, gác báu bày mây, điện Văn-thù, tính ra hơn bốn trăm gian đều bị cháy rụi. Khi ấy chúng tăng trong chùa bàng hoàng lo sợ chẳng biết tìm đâu ra vết tích cũ! Có người bảo rằng: “Nếu như thỉnh được Trinh Tuấn trở về lại chùa, thì chùa sẽ thành”, bèn cùng nhau tìm đến chùa Phong Thiền, bền bỉ thỉnh Sư trở về sung cử làm Thượng tọa của Bổn tự. Trước sau chỉ vài năm, mà tạo dựng mới lại lang vũ Điện đường thêm hoa lệ. Lại thỉnh Sư làm Tân Chương Tông chủ. Sư khai hội giáng luật, Tăng ni đệ tử thường ngày có hơn năm mươi vị, cầm sớ nghe nhận. Sư luật hạnh cao như băng tuyết, ngày nắng không ý để khỏa mình, mùa lạnh rét cũng chỉ một áo kép. Ăn chỉ biết lượng, thanh ý rất cao. Từ niên hiệu Càn Hóa thứ nhất (911) thời Hậu Lương, Sư lâm đàn bỉnh pháp, cho đến lúc nhà Lương cách mạng (923), Sư độ Tăng ni hơn ba ngàn vị.

Đến niên hiệu Đồng Quang thứ 2 (92) thời Hậu Đường, ngày 12 tháng , Sư bị bệnh nhẹ mà thị tịch, thọ bảy mươi tám tuổi, năm mươi tám hạ lạp. An táng tại nghĩa trang của chùa, bên cạnh tháp Thiền sư Tuệ Vân vậy.

18. Truyện ngài Hy Giác trụ chùa Thiên Phật ở Tiền Đường, thời Hậu Hán:

Thích Hy Giác, tự là Thuận Chi, họ Thương, Gia tộc vốn ở Tấn Lăng. Ngài sanh ở Lật Dương trong gia đình Nho mặc. Gặp lúc cuối thời Tiền Đường loạn lạc, phần nhiều bị phiêu tán. Từ đó mà khốn khó, Sư có viết thuê ở nhà Cấp Sự trung La Ẩn. Tình cờ hỏi về dòng họ tên tuổi và nơi ở. La Ẩn mới nói rằng: “Con nhà họ Thương ở Tỳ Lăng sao đến nỗi này!” Than thở đôi ba phen, rồi cấp giúp đoái hoài, khuyên thẳng nên trở về quê cũ mà tu học.

Đến năm hai mươi lăm tuổi, Sư tự than rằng: “Ta chẳng gặp thời vận, hoặc phục vãng cưỡi xe, đều một thời kỳ!” Bỗng nhiên, Sư đến chùa Khai Nguyên ở Ôn Châu, cầu xin xuất gia. Lúc đó là niên hiệu Văn Đức thứ 7 (888) thời Tiền Đường. Vào niên hiệu Long Kỷ (889890) thời Tiền Đường, Sư thọ giới cụ túc, Sư tiếp tục suy lường tìm hiểu Luật bộ. Đến bẩm thọ giáo với Luật Sư Tuệ Tắc ở chùa Tây Minh, khi đó đang ở núi Thiên Thai. Ngài Tuệ Tắc là đệ tử tài giỏi của Đại sư Pháp Bảo. Vào niên hiệu Quảng Minh (880-881) thời Tiền Đường, ở Quang Trung tán loạn nên ngài Tuệ Tắc mới lánh đến Giang Biểu. Sư mới thấy được sự chướng ngăn, trọn thấy được sự giàu có của Ngài Tuệ Tắc, vì ngài Tuệ Tắc có lưu xuất tập yếu ký giải Nam Sơn sao mà chẳng xứng với hoài bảo. Vì sao? Bởi vì, Cổ Đức Vọng cùng xuyên tạc, đều tự tranh giành sư môn, lưu đãng vọng phản. Sư bèn soạn ký. Xét rộng mà đề là “Tăng Huy Lục”, bởi vì y theo Tào Thực mà gọi là: “Ánh sáng cuối đuốc tăng thêm ánh sáng mặt trời, mặt trăng, nói với cách khiêm nhường là “Tăng huy Tập yếu chi nhật nguyệt”, trọn bộ hai mươi quyển, khắp Đông Tây vùng Chiết Giang rất thạnh hành bộ “Lục” ấy. Đến lúc ngài Tuệ Tắc thị tịch, Sư mới giảng dạy ở Vĩnh Gia. Em út của Võ Túc Vương họ Tiền tên là Hoa trấn nhậm tại quận đó, rất trọng vọng kính lễ. Sư vì sự vu cáo của ngu tăng, Sư bèn dời đến chùa Đại Tiền ở Hàng Châu. Văn Mục Vương xây dựng chùa Thiên Phật, thỉnh Sư làm tự chủ ban y tía riêng đặt hiệu Ngài là “Văn Quang Đại Sư”. Học chúng bốn phương đua nhau tìm đến tấp nập.

Riêng ngoại học, Sư có nhiều sở trường, giỏi về Dịch Đạo, soạn bộ “Hội Thích ký” hai mươi quyển. Giải dịch đến thượng hạ rất nhiều và cuối văn rất hoàn bị. Sư thường vì người mà giảng giải kinh đó. Và Sư trao phó cho Đô Tăng Chánh Tán Ninh. Đến lúc già bệnh, Sư xin giải nhậm tăng chức, rồi theo chỗ ước mong, chỉ thong dong nơi sơn phòng, lấy sự ngâm vịnh làm vui. Năm tám mươi mốt tuổi, trong lúc Sư 138 đang soạn viết thư tịch, chẳng hề bảo là mỏi mệt. Trước lúc chưa tịch, Sư xả tất cả y vật, để cúng thí hiện tiền tăng. Sư lại cúng dường trai phạn chư tăng khắp cả thành. Từ đó, Sư uể oải mỏi mệt, mỗi lúc ngủ, thấy có một người mặc thuần y phục sắc tía, da dẻ mềm yếu như bông tơ vậy, ý tợ như cùng bạn. Sư vừa muốn gọi đệ tử sắp đến thì người ấy nhẹ nhàng từ từ bước xuống giường, sau đó lại như cũ. Ngài Tán Ninh nói “Tôi biết đó là người trời”. Sau khi Sư căn dặn phó thác mọi việc vừa dứt lời thì thị tịch, thọ tám mươi lăm tuổi.

Lúc sanh tiền, Sư soạn thuật phỏng theo Giang Đông Sàm thư năm quyển, Tạp thi phú mười lăm quyển, chú Lâm Đảnh Kim Lăng Hoài Cổ bách vận thi tạp thể; bốn mươi chương. Sư giữ gìn không hề buông lung, chuyên cần đối với việc giảng dạy, tha thiết với sự tiến tu. Học thì càng già mà chẳng thôi nghỉ. Quan chức thì giữ thân mà biết thối lui. Đáng gọi đó là sự cao thượng, danh tiết đều hoàn toàn. Lúc lớn lên phong nhã cao xa như tại chỗ ở. Hiệu là “Thích Thị Tây Trai”. Mộ Ngô cẩn thận uẩn tích biên tập đơn giản.

19. Truyện ngài Trừng Sở trụ chùa Tướng Quốc ở Đông Kinh, thời Hậu Chu:

Thích Trừng Sở, họ tông, không rõ Sư là người xứ nào. Từ đời ông đến cha Sư đều ở yên nơi vườn ruộng, chẳng ra làm quan. Mẹ của Sư họ Triệu, lúc mang thai Sư, bỗng nhiên chán sợ mùi hôi tanh nồng. Đến đêm sanh Sư, có ánh sáng khắp phòng, chung quanh thôn xóm đều kinh lạ. Năm bảy tuổi, Sư được bà con dẫn vào chùa, thấy tôn tượng Phật, Sư liền khen ngợi mà đảnh lễ. Lúc trở về nhà, Sư hỏi cha rằng: “Chỉ riêng mình Phật như thế, ngoài ra có ai được như vậy chăng?” Cha của Sư đáp: “Loài xuẩn động côn trùng đều là Phật, huống gì loài người!” Sư liền thưa: “Vậy, con nguyện học Phật nhờ đó mà báo đáp ân cù lao của cha mẹ!” Cha Sư im lặng mà chấp thuận.

Năm mười tuổi, Sư đến chùa Tướng Quốc, đãnh lễ ngài Trí Minh mà tôn thờ làm thầy. Sau đó không lâu có các đồng tử nhóm họp vui đùa mời gọi dụ dỗ Sư, Sư bảo: “Các ông sao ngu ngơ lẩn thẩn, ham thích vui đùa như vậy? Tuyết Sơn Thiện Tài cũng là Đồng Tử mà đâu có như thế?” Bên cạnh có người nghe thấy lạ, nói với Sư rằng: “Ngày sau, ông sẽ thành vĩ khí trong pháp môn”. Sau khi thọ giới cụ túc về sau, Sư tập học Tân chương Luật sớ. Riêng hay hướng vào Tỳ-Nại-Da Quật Huyệt. Nhưng ở đó kích nạn, đối đáp lộ bày nanh vuốt. Bấy giờ, gọi Ngài là “Luật Hổ”. Các hàng vương công, Đại nhân đến thưa hỏi được ích lợi ngày một đông. Vua Cao Tổ (Thạch kính Đường, thời Hậu Tấn) nghe rất khâm phục kính ngưỡng, bèn ban chiếu mời Sư vào nội đạo tràng, ban tặng pháp phục ca-sa sắc tía, kế đó ban tặng danh hiệu cho Sư là “Chân pháp”. Từ đó, các hàng phi chúa trong Hoàng cung, ai kính mến Phật pháp, cầu xin xuất gia, nhà vua đều ban thỉnh Sư đến làm lễ xuống tóc truyền giới. Trong ngoài như sương tuyết, không hề có vật gì khác. Ban mời Sư làm chủ Tân chương Luật tông.

Đến niên hiệu Hiển Đức thức 6 (960) thời Hậu Chu, ngày 11 tháng 10, Sư không bệnh mà thị tịch. Đầu nằm xoay về hướng bắc, mặt xoay hướng Tây hiển bày tướng Phật nhập Niết-bàn. Sư thọ bảy mươi mốt tuổi, năm mươi hạ lạp. Trước sau, Ngài lâm đàn thí giới Độ Tăng Ni hơn tám ngàn vị. Môn nhân như Tuệ Chiếu v.v… y theo pháp Tây vực mà trà-tỳ, thâu nhặt toái thâu, phân chia, xây dựng tháp gạch mà phụng thờ. Tả nhai thủ tòa Ngộ kiểu soạn bài ký cho tháp Xá-lợi.

Liên hệ thử bàn:

Ngài Trừng sở, khi thấu suốt luật thì gọi là Tông chủ hay sao? Thông đáp: Luật có ba tông; đó là phát xuất từ ba ngài Pháp Lệ, Hoài Tố và Đạo Tuyên. Mỗi Tông đều tự có chủ nên nói như vậy.

Xét hễ là tên gọi há không y cứ từ xưa hay chăng? Thông đáp: Hai chữ “Tông chủ” phát xuất từ trong kinh A-hàm.

Luận rằng: Hễ là người thì có nhân, pháp, tức là giới cấm và oai nghi. Trời thì có thiên pháp, tức là sáng sạch và tĩnh lự. Đức Phật, Thế Tôn của chúng ta với sự thấy biết bén nhạy, y cứ vào Đại thiên hóa cảnh đó mà khoan đặt pháp môn thì hẳn là nhiều. Nhưng điểm cốt yếu là không ngoài giới, định, và tuệ. Ba thứ này làm đường vượt ra làng sanh tử, chuyên nhất làm cửa, đạt đến bờ cõi Niết-bàn. Nếu là giúp thì phải mau dùng tỳ-ni. Tỳ-ni là ngăn phòng ba nghiệp. Ba nghiệp đều thanh tịnh thì sáu trần đều tự dứt, Thánh hiền tu hành, ai chẳng từ đường ấy. Nên luận rằng! Sanh tử trôi lăn do ba triền trói buộc tâm, tâm khó giải thoát. Phải biết đó chỉ là khéo nói, pháp luật khiến cho giải thoát, chẳng phải do ác thuyết. Do đó mà thấy. Luật cấm là xem xét độ đời. Vả lại, hễ Bồ-tát giới tịnh thì hiển bày lìa cấu, Bích-Chi giới hoàn bị thì dẫn dắt trí vô sư, Thanh Văn giới đầy đủ thì câu giải thoát có thể hy vọng. Nội chúng giới vững chắc thì chiêu cảm chẳng sa đọa của trời người. Từ đó mà quán xét giới pháp thật lớn vậy.

Từ chỗ suy hay theo lời mà tìm lý thì là tỳ-ni, là Mộc-Xoa. Nhân là âm thanh giáo luật mà quả là biệt giải thoát. Lấy thẳng ngay thời mà luận về các Đức Phật ba đời đều đồng chế. Rộng, theo cảnh giới mà nói 10 thì cõi tịnh mười phương đều cùng thực hành. Do đó, Ưu-Ba-Ly bảy Đức Phật thời quá khứ đều phó chúc giới luật cho Ngài.

Luận rằng: giới như bắt giặc, là khéo giam giữ. Định như trói giặc, là dùng gông cùm. Tuệ như giết giặc, làm sạch đường đi. Vì thế mà thành công lập hiệu, khắc lấy cùng tận Tam-Bồ-đề, quyết đạt tới cảnh giới thanh tịnh. Về công đức, của giới luật, thì Công không gì so sánh được, huống gì pháp này chỉ ở tại Thầy mà không ở tại trò. Chỉ nghe Phật chế, hành bên trong mà chẳng lưu thông bên ngoài, không cho phép truyền trao cho thế tục. Nên nói là “pháp trao bí phương, ban các nội chúng”. Sự có huyền pháp, vật nên tượng cầu ở nhà người, Nghiêm Quân bày răn dạy, mọi người trong nhà đều nghiêm khắc thì đồng với Phật chế giáo. Vợ con cùng cười thì đồng với Phật, lắng nghe pháp môn. Một nghe một chế, thấy được sức mạnh đó mà khoan dung cứu giúp, một âm một dương thấy mở vật ấy mà thành việc. Nếu biết được giới luật như vậy tức là nhà pháp của Phật sáng tỏ. Đại thì ba nhóm cảm ba thân ở trong quả, tiểu thì hình câu trì tận, hình nơi nhân địa, thọ đã như thế, còn tùy thì thế nào? Có oai nghi, có Tế hạnh. Vì có thuận nghịch mới sanh ra trì phạm. Do đó mà vấn đề phiền toái nhiều rộng, nhân nơi sự mà chế nghi. Mãi đến sau khi Phật nhập Niết-bàn, lập thành luật tạng, ban đầu như nước hòa với sữa hòa hợp, nghiệp của một nhà không khác nhau. Sau thì tham thần mỗi tự một gò, sự phân chia năm Bộ chẳng giống nhau, đoán bày điềm mộng. Luận Tông Luân được soạn ra, ánh sáng nối tàng cây cao, phân ảnh vẫn quy về Nguyệt quật. Hồ A-nậu nước tràn xuống hạ lưu, phải chảy đến Mạnh Tân.

Mãi đến khi Đại giáo truyền đến phương Đông, phạm thư từ tây đến cam lộ vốn là thức ăn của trời, người, đất Hán tranh thưởng. Đảo vàng bay về trên biển, phương Đông xưa nay trừ kinh đã phiên dịch, hỏi đến luật do từ ai truyền? Phát xuất từ niên hiệu Kiến Ninh thứ 3 (170), đời vua Linh Đế (Lưu Hoành) đời Hậu Hán, ban đầu dịch nghĩa Quyết Luật, tiếp theo có các luật cấm của Tỳ-kheo đưa đến, tức do Tam Tạng pháp sư Pháp Thời ở thời Tào Ngụy đi đến Hứa Lạc, thấy chư tăng ở xứ Ngụy không có luật Phạm, nên vào niên hiệu Gia Bình (29-2) thời tiền Ngụy, Sư dịch bộ “Yết-Ma Tăng Kỳ Giới Bổn”, đó là luật giới đầu tiên ở Trung Quốc. Từ đó Luật Tát-Bà-Đa trước tiên hoằng hóa ở Quang Trung, Ngũ Phần Tăng Kỳ phong hành như mưa ban, Ca-diếp-Di Bộ Giới Bổn riêng đến, Bà-Thô-Phú-la chỉ nghe tên mà thôi, huống gì là Tăng-kỳ Bộ, ngài Pháp Hiển mang về và do các Sư chú thích rằng: “đó là Căn bản Đại Chúng truyền, chẳng phải là năm Tông sau trăm năm Phật nhập Niết-bàn”. Nay các nhà soạn truyện nghi là chưa hẳn đúng. Vì sao? Vì theo sự xem xét Tăng-kỳ hiệu bản chỉ có ba mươi quyển. Nhân trên mặt văn tự có vài điểm nghi: một là gốc nhỏ mà ngọn lớn (nghĩa là trong các đoạn văn tự thì rộng mà ở quyển tăng-kỳ thì lược), hai là không hợp với ý của năm Bộ, balà không ứng đối với Đại Tập Huyền Ký. Có thuyết cho rằng: “đó là lược bản truyền ở phương này, như các kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm v.v… trong muôn ức bài tụng mà chỉ lược nêu ra một phần. Tăng kỳ cũng vậy”. Lại nói: luật Đàm-vôđức có bản Trùng dịch và bản Đơn dịch. Y cứ theo Tăng truyện là chỉ có ngài Giác Minh từ miệng bụng xuất ra. Song căn cứ theo lời tựa bản luật thì có văn trùng dịch của ngài chi Pháp Lãnh. Như vậy, xưa nay tranh cạnh nhau, không có chỉ quy, dùng nghĩa giao trưng, từ ngữ ấy sẽ dứt. Tìm bản luật văn liền biết đồng dị. Như đầu đề của giới chúng học nói: “Thi-Xoa-Kế-Lại-Ni như là y-lan bị rách”, ý nói đây là bản của ngài Giác Minh. Còn như nói: “Thức-Xoa-Ca-La-ni như lá y-la bị rách”, tức là bản của ngài Chi Pháp Lãnh. Thêm nữa, một bản chỉ ba mươi quyển, môt bản đến sáu mươi quyển, nghĩa là giấy mực phân khai bất định, là không đúng. Phân ba mươi làm thành sáu mươi. Chẳng phải là quá sai lầm ư? Như thế hai bản dịch trắng đen đã phân rõ.

Thêm nữa, từ thời Nguyên Ngụy về trước, các người thọ giới, dùng “tứ phần Yết-Ma” để nạp giới và khi hành sự tức y cứ các luật làm tùy, vì sao khác ư? Cầm bản kinh của họ Tả, chuyên theo văn truyền của Công Dương. Đến đời Ngụy, Hiếu Văn Thế có ngài Pháp Thông là môt bậc Luật tượng ở núi Bắc Đài, mới tay phanh khui, miệng giải thích. Luật sư Đạo Phú theo chỗ dựa được nghe mà ghi chép lại, bèn chép thành bản “nghĩa sớ”. Quyền dư đã thế, gây dựng nhiều ư? Thiên Luân mà chỉ hầu trung tinh, Đại Đảnh mà chỉ nêu phụ nhĩ. Ở đất Nghiệp có ngài Pháp Lệ, ở đời Đường có ngài Hoài Tố tầm theo Tổ Tát-Bà khai tông độc bộ. Kế đó lại có Đại sư Trừng Chiếu là bậc thượng sĩ ở Chung Nam, hưng thạnh ba đời, vượt xa ngàn dặm. Giao tiếp mé trời người, ưu du trong quả chứng, biết mà không gì chẳng làm, sửa lại chỗ lỗi lầm, lấy sự giữ gìn giáo pháp làm nhiệm vụ của mình. Thật xứng đáng là vĩ nhân của một đời.

Vì thế mọi người hạ nói hành sự tức lấy Nam Sơn làm Tư Nam. Đến niên hiệu Đại Lịch (766-780), các nhà Tân sớ, cựu sớ đua nhau bày những điều hay dở. Vua Đại Tông ban sắc vời các bậc luật sư của ba tông đến cùng nhau gia tâm phán định. Bấy giờ, ngài Như Tịnh làm Tông Chủ, phán định hai nhà. Đến niên hiệu Kiến Trung (780-78), mới nói là Khải Chánh, đề hiệu là “Thiên định sớ”. Đến nay, ở Đông Kinh, ba tông đều hưng thạnh. Còn như ra vào chẳng thường, khác đường đồng về, thầy trò còn khác. Còn ngài Đạo Thành giảng nói, ngài Linh Ngạc mở mang, chẳng lìa trong khoảng Tam Phụ, đều y cứ vào sự khéo léo của Bách Công. Các ngài Văn Cương, Đạo Ngạn từ Bắc đến Nam, phát xuất “Chánh Phụ Thiên” từ nhỏ đến lớn, Đạo truyền đến Quận Ngô, thuộc Cối Kê, thật là nhờ người ấy. Sư làm bậc thầy bình gia, vốn chuộng đến chỗ cảm thông, hoặc chống đối Biểu Luận, mất vật của quan, hoặc thành Đồ chứng chẳng kiết giới, hoặc bậc tài giỏi lập ở một phương, hoặc kẻ tài giỏi trong bảy chúng, thuật nghĩa sớ bén nhọn, nêu bày các văn nghi tầm thường, hoặc dán thiếp phấn noa, hoặc ngay ngắn so le. Nếu chẳng là bậc hiền triết nương thời, thì đáng là anh tài vượt khí, chẳng để cho vận mạng tượng pháp bị suy sụp, rốt ráo làm cho sao thọ chiếu xuống pháp mạng lâu dài. Đạo do người phát triển là ở đó. Gần thì lấy vị nước sống Đề chuyển chẳng bằng như trước, tòa tượng bụi lấp vẫn quán xét càng chìm. Đại tiểu thừa giao ác lẫn nhau, thượng trung hạ giẫm đạp chất chồng, khắp gởi bốn tà, hành trái bảy nhóm, oai nghi đã khuyết, sanh thiện toàn thiếu, cho rằng luật là văn chẳng cần kíp, tăng buông lung rơi rớt tự do, ngựa khiến thoát khỏi cùm, voi thiếu móc câu. Không tập học luật nghi, khó điều phục như voi ngựa, nên làm cho giáo pháp ngày một bị suy tàn. Đoản thì hạnh quả nhỏ mất, chiết thì niên xỉ giảm bớt. Hợp, với khuôn phép lớn lao chính là đoản chiết.

Lại nói là: cha từ lắm bại hoại, con thoát hoặc bỏ ác ban lành, biến đổi phạm thành trì. Hoặc chúng chủ khuyên tu, hoặc danh sư dắt dẫn. Nương gá ngoại hộ vương thần, chắc chắn trung hưng giáo pháp, như vậy thì đồng một thọ trong năm phước, tức năm đời cha mẹ qua đời. Lại nói: nghiêm gia không cách lỗ. Nên nói: tỳ-ni là thọ mạng của chánh pháp. Khoa nầy là người luyện vàng thành đan, khuyên người uống vào, Khiến gần thì tăng thêm tuổi thọ, xa thì sinh lên cảnh tiên. Nên Đức Phật, Thế tôn của chúng ta, hễ chế mỗi một điều giới đều thành tựu được mười công đức lợi ích. Đó là đặt ý ở vấn đề khiến chánh pháp thường trụ lâu dài.

TRUYỆN CÁC BẬC CAO TĂNG THỜI ĐỜI TỐNG

(Quyển 16 hết).

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.