Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

VĂN CÚ KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA

SỐ 1718

QUYỂN 01

Đời Tùy, Thiên Thai Trí Giả Đại sư thuyết

TỰA SỚ PHÁP HOA CỦA NGÀI THIÊN THAI

Kính Trung, Sa-môn Thần Quýnh thuật

Tựa ghi rằng: Chí lý thì vô danh, mà danh lưu truyền khắp tứ thiên hạ. Chân thừa thì bất động, mà động thì xuất trong ba cõi. Chứng giáo tức sự mà ngưng nhiên, tất đàn tùy duyên mà hóa vật, không mưu tính cất nhắc, công chẳng lớn ư? Kinh Diệu Pháp Liên Hoa kịp làm hạt giống nhân đức mạnh mẽ xuất thế vì một đại sự nhân duyên mà thuyết, nhưng cây cỏ thuốc không giống nhau nên sự thọ nhuận thành có sai khác, căn cơ, thích nghi chẳng một, sự lãnh thọ giáo cũng không đồng. Thiết lập Quyền thừa thì chuyển Tứ đế pháp luân nơi Lộc-uyển, hiển bày thật thì ba phen biến thành Tịnh độ nơi núi Linh-thứu. Ý chỉ sâu xa, văn từ chân thật, đạo đức cao vời, người người tôn kính, rõ gốc xa của thọ lượng,hiểu dấu tích gần của Già da. Mưa gió va đập diễn ra để phế bỏ những điều đã thuyết ngày xưa, ví như nơm lưới(là phương tiện để bắt cá, thỏ). Khai thị ngộ nhập để thu hoạch giá trị hiện nay, ví như cá, thỏ. Bồ tát nhiều như vi trần tăng trưởng đạo giảm số lần sinh, hàng Thanh văn ở thảo am hổ thẹn Tiểu ham thích Đại, Dược Vương thiêu đốt cánh tay để cúng đường, đức Phật Đa Bảo hiện toàn thân để chứng minh, viên mãn cùng cực vọt lên hư không mầu nhiệm không thể nói hết.

Có Thiên Thai đại sư, pháp hiệu Trí Khải xưa ở trước Đức Như Lai đích thân nghe được kinh điển này, địa vị ở Ngũ phẩm, tiếng tăm chấn vang hai triều đại, không trải qua sự giảng phô bày mà thấu hiểu thông suốt Phật thừa, sức mạnh Đà-la-ni nhạo thuyết không cùng, thường vì vua Trần mà ở điện Thái Cực giảng kinh Nhân Vương Bát-Nhã, vạn thừa đều khuất phục, trăm quan tùy hỷ. Lại, theo Quán tâm giải thích tên kinh Nhân Vương Bát-Nhã: Vi diệu lìa hữu vô, lấy chân tánh làm phép tắc, nhờ chiếu sáng thành thông suốt, trình bày danh giảng giải tông khác với cổ đức.Năm nghĩa khảo xét lý đều nương nhờ Thánh giáo. Tự ngài Trí Giả hoằng pháp hơn ba mươi năm,chỉ có sớ Duy-ma là vào, đời nhà Tùy vâng lệnh vua Dạng đế mà soạn văn mầu nhiệm này.Riêng phần Quán Đỉnh Pháp sư ghi chép đã là hai mươi quyển. Nếu không phải là bậc trí, thì không thể như thế được, đây là nói chánh đáng vậy. Đến sau khi ngài diệt độ hơn một trăm năm đến đời Đường Thiên Bảo năm Mậu Tý có Hòa thượng Lãng chùa Thanh Thái ở quận Đông Dương tu pháp môn Mi thọ, mục túc lương trì, thừa giới đều gấp, bao gồm nội ngoại, thâu hoạch đầy đủ bảo khí từ bi, ngồi trong thạch thất nương giữa hư Không sinh, đối với việc giảng giải trao truyền có thứ tự, mặc nhiên tán thán rằng: Quán nghĩa thú kia sâu xa vi diệu khế hợp Phật thừa, suy tìm xu thế của văn thì có khi không thứ lớp, hoặc văn liên tục nghĩa đứt đoạn, hoặc văn sau nghĩa trước, hoặc trường hàng trước trình bày chương kia, hoặc ở sau thuật thẳng nghĩa kia, hoặc trong kệ trước nêu bày số kia, hoặc sau danh kia không thứ lớp, song ý thánh khó đo lường chỉ ngưỡng mộ thâm tín mà thôi! Nay vì những người nghe phần nhiều khuyến thỉnh rằng: hạng thượng căn dễ ngộ xem xét không mê muội, hạng trung căn hạ căn tìm văn lầm mất ý chỉ. Hoặc giả lại lần lượt so sánh như vậy thì sự hoằng truyền càng thêm rộng lớn, Hòa thượng nhiều phen tính toán, sự đã không được bèn chuyên niệm Đại sư cầu thêm hay không? Nhân mộng sở cảm mới bắt đầu phân chia thứ bậc, bởi cũng tùy theo tình huống thành thật suy nghĩ, không cẩu thả tìm cầu đồng khác liền có sự tăng giảm ở khoảng giữa kia, kính trọng các học giả hiểu hết nguồn gốc ý nghĩa kia, cầu hiểu biết như cầu y phục,vác vàng bỏ đá sỏi, thuyết pháp chân thật không làm hư vọng trợ giúp gió huyền bằng cây quạt lớn thêm, bớt đan khứu thì trăm giới ngàn như đồng khế hợp, Hóa thành Bảo sở cùng tận thân cận bến cầu. Lại nhờ đức Di-lặc ân cần dạy bảo, về với Văn-thù phụ giúp lục đúc luận thành Phát trí luận, một lời nói khen ngợi người hướng đến những người có tài trí, đều lựa chọn hợp với văn trước nhẹ nhàng nơi đế lý, đồng ở đời Đức Phật Không Vương cùng phát tâm, mười sáu vị Sa-di đều thay nhau giảng giải Kinh Pháp Hoa, như bóng tối che lấp cây cỏ gặp ánh nắng mặt trời chiếu soi trừ tai nạn che lấp khốn khổ nuôi dưỡng bằng châu ngọc thành thật hổ thẹn ghi chép lời Phật dạy, sao không nhìn kỹ sự huyền bí của rồng nhãn mặt châu mày mới mong dò xét được sự mầu nhiệm của bậc Đại sĩ, tắm gội suối đạo mà có nguồn gốc.

(Phần Thượng)

Phẩm Thứ 1: TỰA

(Đức Phật xuất thế là khó, truyền dịch kinh này lại càng khó hơn, tự mình khai ngộ rất khó, được nghe thầy giảng giải lại càng khó hơn, biên chép cũng rất khó…)

Theo giải thích đề kinh đã nói như trên. Tựa là lời chỉ dạy có thứ lớp rõ ràng, cũng như chủ và khách đối đáp, hẳn có ngôi thứ trình tự. Theo các nhà chú giải kinh thì phần Tự có ba nghĩa: Thứ tự, Do tự, và Thuật tự. Như năm việc thành tựu ở đầu mỗi kinh gọi là Thứ tự. Phật phóng hào quang, sáu điềm lành hiện là Do tự (lý do). Hỏi đáp, giải thích nội nghi để dẫn vào chánh thuyết là Thuật tự. Đầy đủ ba nghĩa này nên gọi là Tự (bài tựa).

Phẩm: Trung A-hàm gọi là Bạt-cừ, Trung Hoa dịch là phẩm, vì nghĩa loại đồng, tụ hợp thành một đoạn cho nên gọi là “phẩm”, hoặc đức Phật tự xướng phẩm như Phạm Võng, hoặc kết tập dựng lập như Đại luận, hoặc người dịch thêm đầy đủ như ngài La-thập. Nay phẩm Dược Vương Bổn Sự là đức Phật tự xướng, Diệu Âm Quán Âm là thuộc về các kinh gia mà người dịch chưa nghe. Phẩm này ban đầu cho nên nói “đệ nhất”. Đức Phật phó duyên hành đạo bằng hai cách nói pháp:

Tán hoa và quán hoa. Người kết tập: nương theo thuyết mà truyền lại. Các luận giả thì nương kinh mà giải rõ, đều không có tiết mục. Các bậc giảng sư trước đây chỉ mở bày rộng nghĩa lý mà không phân chia chương đoạn. Nếu hoàn toàn dụng ý như đây, thì e rằng người đời sau không hiểu hết nghĩa kinh. Lại, như Phật thuyết hai cách quán hoa, tán hoa, việc kết tập tùy theo nghĩa mà lập phẩm. Kinh Tăng Nhất nói Khế Kinh một phần, Luật một phần, A-tỳ-đàm một phần. Khế Kinh lại chia làm bốn: Tăng nhất, Trường, Trung, Tạp.

Tăng Nhất A-hàm nói nhân quả của Trời, người, Trường A-hàm phá tà kiến, Trung A-hàm nêu nghĩa sâu, Tạp A-hàm nói rõ thiền định, Luật chia làm Ngũ bộ và Bát thập tụng, A-tỳ-đàm mở ra Lục túc và Bát-kiền-độ… A-hàm nói thí giới tuệ… lục độ đều đầy đủ, nghĩa là căn tánh đạo định… tám thứ nhóm tụ. Ngài Thiên Thần tạo luận lấy thất công đức phân làm phẩm Tựa, lấy ngũ thị hiện phần làm phẩm Phương Tiện, các phẩm còn lại đều có xứ phần. Xưa thì ông Bằng ở Hà Tây và ông Dao ở Giang Đông lấy ý này mà chia làm làm tiết mục kinh văn, sau này đặc biệt rườm rà. Có ngài Quang Trạch chuyển soạn tinh tế, như nhiều lớp mây mù che lấp bầu trời nhờ có ba thứ ánh sáng chiếu soi rõ ràng. Hỏi bến bờ vì sao không quý? Ngài Đàm Loan nói trình độ tinh tế như vi trần mây khói lẫn lộn bay đi, hoặc là quá, hoặc là không kịp. Long Sư ở Lư sơn phân chia làm ba phần: Tựa, Chánh tông, Lưu thông. Hai mươi bảy phẩm tóm tắt chỉ có hai thứ: từ phẩmTựa đến phẩm Pháp Sư là nói phương tiện, nói chân lý, lý một mà nói ba, từ phẩm Bảo Tháp trở xuống là thân phương tiện, thân chân thật, là thật xa xướng gần. Lại từ phẩm Phương Tiện đến phẩm An Lạc Hạnh là nhân môn, từ Tùng Địa Dũng Xuất sắp xuống là quả môn. Theo ngài Long Thọ phân chia văn Kinh đồng. Theo ngài Huyền Sướng thì, từ phẩm Tựa đến phẩm Đa Bảo là phần Nhân, từ phẩm Khuyến Trì đến phẩm Thần Lực là phần Qủa, từ phẩm Chúc Lụy đến hết kinh là phần hộ trì. Lại có sư nói rằng: Từ phẩm Tự đến phẩm Thọ Học Vô Học Nhân Ký là thể của Pháp Hoa, từ phẩm Pháp Sư đến phẩm Chúc Lụy là nêu rõ công đức thọ trì, từ phẩm Dược Vương đến hết kinh là nêu bổn nguyện tốt đẹp của các Bồ-tát. Có sư phân làm bốn đoạn: Đầu là đoạn Tựa, từ phẩm Phương Tiện đến phẩm An Lạc Hạnh là đoạn Khai tam hiển nhất, từ phẩm Tùng Địa Dũng Xuất đến hết phẩm Phân Biệt Công tức là đoạn Khai cận hiển viễn, các phẩm còn lại là thuộc đoạn lưu thông. Ngài Quang Trạch theo ấn thọ kinh, ba đoạn đầu thứ lớp mỗi mỗi chia làm hai: là Thông tựa và Biệt tựa. Chánh thuyết là nhân môn quả môn. Lưu thông nghĩa là tự hành hóa tha. Hai Tựa mỗi mỗi có năm. Hai Chánh thuyết mỗi mỗi có bốn. Hai Lưu thông mỗi mỗi có ba, hợp cộng thành hai mươi bốn đoạn…

Xét rằng phần chia tiết của kinh văn đều do lòng người, hoa lan hoa cúc đều có vẻ đẹp riêng, người đời sau không nên vịn theo mà tranh luận thị phi, không được Tam ích, mất đi Nhất đạo. Tam ích: là Thế giới… ba thứ tất-đàn. Nhất đạo: Là Đệ nhất nghĩa tất-đàn. Ngài Thiên Thai Trí giả phân chia văn làm ba: Phẩm đầu là Tựa, từ phẩm Phương Tiện đến hết mười chín kệ của phẩm Phân Biệt Công Đức tổng cộng mười bảy phẩm rưỡi, gọi là Chánh thuyết. Tiếp theo kệ đến hết kinh gồm mười một phẩm rưỡi, gọi là Lưu thông. Lại có khi phân chia làm hai: Từ phẩm Tựa đến phẩm An Lạc Hạnh thứ mười bốn là dựa theo Tích môn khai quyền hiển thật, từ phẩm Tùng Địa Dũng Xuất đến hết kinh gồm mười bốn phẩm là dựa theo Bản môn khai quyền hiển thật. Bản môn vàTích môn, mỗi môn đều có ba phần: Tựa, Chánh thuyết và Lưu thông. Phẩm đầu là Tựa, từ phẩm Phương Tiện đến phẩm Thọ Học Vô Học Nhân Ký là Chánh, từ phẩm Pháp Sư đến phẩm An Lạc Hạnh là Lưu thông. Từ phẩm Tùng Địa Dũng Xuất đến câu: “Đức Di Lăc đã hỏi việc kia được Phật đáp”, nửa phẩm ấy về trước gọi là Tựa, từ câu: “Phật bảo A-dật-đa” đến hết bài kệ phẩm Phân Biệt Công Đức gọi là Chánh thuyết, từ đó đến hết kinh là Lưu thông. Nay ghi chép theo ba đoạn trước để hiểu văn. Kinh được chia.

Hỏi: Một kinh tại sao có hai tựa bài?

Đáp: Hoa Nghiêm mỗi mỗi nơi đều nhóm họp chúng, A-hàm mỗi một thiên đều như vậy. Kinh Đại Phẩm thì trước kinh sau kinh đều có phụ chúc, đều không trái vậy. Một bộ Kinh, hai bài tựa đâu có gì ngăn ngại? Nay không an lập theo năm nghĩa, vì Bản môn không phải kế tiếp phần đầu. Tích môn chỉ riêng lưu thông vì thuyết pháp chưa xong. Ý có hay Không sao nói như vậy? Nay văn biên chép phân làm bốn:

  1. Liệt số.
  2. Lý do.
  3. Dẫn chứng.
  4. Thị tướng.

1. Liệt số gồm:

  1. Nhân duyên.
  2. Ước giáo.
  3. Bản tích.
  4. Quán tâm.

Từ Kinh “Như thị” đến cuối là “nhi khứ” đều dùng bốn ý hiểu văn, nhưng nay lược đổi hoặc ba, hai, một, thông suốt được ý thì không phiền đến bút mực văn chương rườm rà.

1. Lý do: Hỏi: Nếu lược thì một, nếu rộng chẳng phải bốn, tại sao như thế? Đáp: Rộng thì khiến kẻ trí thoái lui, lược bớt thì ý không đều đủ. Nay tôi ở khoảng giữa mà nói, khiến dễ hiểu nghĩa. Nhân duyên cũng gọi là cảm ứng. Những chúng sinh không căn cơ thì tuy ở gần mà không thấy, người có thiện căn thì tuy ở xa cũng có thể thông suốt, cảm ứng được đạo. Cho nên, dùng nhân duyên giải thích. Xét rằng hạng chúng sinh cầu giải thoát, căn cơ này nhiều, thì Thánh nhân khởi ứng, lẻ ra cũng nhiều, nghĩa này lại rộng, như nói ở giữa là như thế nào? Song Đại kinh nói:Từ thiện căn lực có vô lượng môn, lược thì thần thông như cơ cảm khắp mười phương, rộng lớn như hư không.Nay luận về quốc độ Sa-bà, dùng âm thanh làm Phật sự thì cửa cam lộ mở ra. Y theo giáo mà giải thích, tức ở khoảng giữa mà nói rõ. Nếu ứng cơ thiết lập giáo, thì giáo có quyền thật cạn sâu không đồng, cần dựa vào ngón tay chỉ mà tìm mặt trăng, tức là quên Tích mà tìm Bản. Ngài Triệu Châu nói: “Không phải Bản thì không lấy gì để nêu Tích, không phải Tích thì không thể hiển bày Bản, cho nên dùng Bản, Tích để giải thích. Nếu tìm Tích thì Tích rộng lớn, uổng tự mệt nhọc, nếu tìm Bản thì Bản cao ngất, cao không cùng tận. Như kẻ ngày đêm đếm báu của người khác, tự mình chẳng có được nửa phần tiền. Chỉ có quán tâm mình cao rộng nắm được lẽ cảm ứng vô cùng của Thánh,thì mới có cơ hội đến được chỗ cảm nhận lợi ích cho mình. Thế nên, dùng Quán tâm để giải thích.

2. Dẫn chứng: Phẩm Phương Tiện nói “Chư Phật khắp mười phương vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời”. Như thế Trời, Người, Tiểu thừa, chẳng phải Nhất chẳng phải Đại. Lại chẳng phải Phật sự nào mà không thành cơ cảm. Thật tướng gọi là Nhất, rộng lớn gọi là Đại, Phật chỉ đây là Sự. Xuất hiện ở đời, đó gọi là “một đại sự nhân duyên”. Lại nói dùng đủ loại pháp môn để tuyên thị Phật đạo, phải biết đủ loại thanh giáo hoặc vi tế, hoặc thô trược, hoặc quyền hoặc thật, đều vì Phật đạo mà làmcác thứ phương tiện, ví như cái nơm là phương tiện để bắt cá. Đại kinh nói: “Lời nói thô và lời êm dịu đều quy về Đệ nhất nghĩa” là nói đây vậy. Phẩm Thọ Lượng nói: Nay Thiên nhân A-tu-la đều cho rằng ta tuổi nhỏ xuất gia ra khỏi cung dòng họ Thích đi đến thành Già-Da không bao lâu thì chứng đắc Tam-bồ-đề, nhưng thật ra ta thành Phật đã trải qua vô lượng vô biên A-tăng-kỳ kiếp, dùng phương tiện đây để dẫn dắt làm lợi lạc chúng sinh. Phẩm Phương Tiện lại nói:

Ta xưa lập thệ nguyện mong muốn cho tất cả chúng sinh cũng đồng chứng đắc đạo này giống như ta không khác. Lại nữa, phẩm Ngũ Bách Thọ Ký nói: Bên trong ẩn chứa hạnh Bồ-tát ngoài thị hiện Thanh văn, thật sự tự mình đã thanh tịnh cõi Phật mà thị hiện chúng sinh có ba độc, lại hiện tướng tà kiến. Các đệ tử ta cũng như vậy, phương tiện độ chúng sinh, đây tức là thầy trò đều dùng pháp môn lấy tuệ làm Bản, thì giới và định làm Tích. Lại Giới Định Tuệ mỗi thứ chia làm ba phần: Tác tiền phương tiện bạch tứ yết-ma xong là ba phần của Giới, hai mươi lăm phương tiện chính quán trải qua duyên, lại khéo xuất nhập trú trong ngàn Tam-muội… là ba phần của Định. Nhân duyên sở sinh pháp tức Không tức Giả tức Trung là ba phần của Tuệ. Vì căn cứ ba phần để chỉ bày bốn thứ tướng, nên dùng nghĩa đây. Từ “Như thị” cho đến “tác lễ nhi thoại” trở lại đều tạo bốn ý tiêu văn, nhưng căn cứ nghĩa đây so sánh mà biết thì dễ, mà phân biệt hiển bày lời kia thì khó, hành giả khéo tư duy, lời khác ý đồng như ngàn xe cùng dấu bánh xe, muôn dòng cùng tụ hội.

Tựa có Thông tựa, Biệt tựa. Từ “Như thị” cho đến “khước tọa nhất diện” là Thông tựa, từ “Nhĩ thời Thế tôn” cho đến hết phẩm là Biệt tựa. Thông tựa chung cho các giáo, Biệt tựa chỉ riêng một kinh. Thông tựa chung cho năm, sáu hoặc bảy kinh v.v…

“Như thị”: Là nêu thể pháp được nghe. “Ngã văn”: Là người năng trì. “Nhất thời”: Là thời gian nghe trì hòa hợp, không phải thời khác. “Phật”: Theo Phật được nghe, “Thành Vương-xá núi Kỳ-xà-quật” là nơi nghe giữ lời Phật dạy. “Cùng Đại Tỳ kheo”: Là cùng số bạn nghe trì, đây đều do nhân duyên hòa hợp thứ tự tương sinh. Lại nữa, “Như thị”: là Kinh của chư Phật ba đời, trước hết đều để hai chữ “Như thị”, đạo của chư Phật đồng không tranh chấp với thế tục, đây là Thế giới Tất-đàn. Đại luận nói: Nêu ra thời gian nơi chốn khiến cho chúng sinh tin, là Vị nhân Tất-đàn. Lại để đối phá hai chữ “A Âu”của ngoại đạo là bất như bất thị, đó gọi là Đối trị Tất-đàn. Lại “Như thị” là lời tin thuận. Có tin thì mới lãnh hội được lý đã nghe, có thuận thì mới thành Đạo trí tuệ của bậc thầy, tức là Đệ nhất nghĩa Tất-đàn. Theo nhân duyên mà giải thích thì rất rộng, không thể chép đủ…

Căn cứ Giáo mà giải thích: Kinh dạy chư Phật ba đời đầu Kinh đều để hai chữ “Như thị”. Phật trước có các kinh tiệm, đốn, bí mật, bất định. Tiệm lại có Tam tạng, Thông, Biệt, Viên. Nay Phật cũng như vậy. Các kinh không đồng thì Như thị cũng khác, không nên một chìa khóa mà mở hết mọi cửa. Lại, lời của Phật và A-nan hai văn không khác, gọi là “Như”. Năng thuyên thuyên sở thuyên, gọi là “thị”. Nay A-nan truyền laị văn Phật nói thế nào thì truyền đúng thế ấy, là “thị”. Không thể dùng tiệm văn để truyền đốn, dùng văn Thiên giáo để thuyên Viên giáo. Truyền thuyên nếu sai thì văn không “Như”. Văn không như, thì lý không “thị”, nghĩa đây khó hiểu phải thêm ý cho rõ ràng tường tận. Lại, dựa theo Tiệm giáo phân biệt: Đức Phật dạy Thế đế thì có văn tự, Chân đế thì không có văn tự. A-nan truyền văn tự Tục đế của Phật cùng với Phật thuyết không khác cho nên gọi là “Như”, do vì văn tự Tục đế này hợp với lý Chân đế, cho nên gọi là “thị”. Đây là “Như thị” mở đầu các kinh thuộc Tam tạng giáo. Đức Phật dạy “Sắc tức là không không tức là sắc”. Sắc không, không sắc không hai không khác. Không và Sắc không khác, gọi là “Như”. Tức sự mà chân, gọi là “thị”. A-nan truyền lại lời của Phật không khác gọi là “Như”. Năng thuyên tức sở thuyên, gọi là “thị”. Đây là Như thị mở đầu các kinh thuộc Thông giáo. Phật dạy “Sinh tử là hữu biên, Niết-bàn là vô biên. Xuất sinh tử hữu biên nhập Niết-bàn vô biên, xuất Niết-bàn vô biên, nhập Trung đạo”. A-nan đã truyền lại pháp Xuất hữu biên nhập vô biên, xuất vô biên nhập Trung đạo, cùng Phật thuyết không khác, gọi là “Như”. Từ cạn đến sâu không gì chẳng gọi là “thị”. Đây là “Như thị” mở đầu các kinh của Biệt giáo. Phật dạy “Sinh tử tức Niết-bàn cũng tức Trung đạo”, huống gì Niết-bàn sao lại chẳng phải Trung đạo? Chân như pháp giới thật tánh thật tế, khắp tất cả nơi đều là Phật pháp. A-nan truyền lời đây cùng Phật thuyết không khác, cho nên gọi là” Như”. Như như bất động, gọi là “thị”. Đây là “Như thị” mở đầu các kinh Viên giáo.

Nếu động tục nhập “Như”, là nghĩa của Tam tạng giáo, Bất động tục, tức “Như” là nghĩa của Thông giáo, Động như nhập Như là nghĩa của Biệt giáo, thì Bất động như mà Như, là nghĩa của Viên giáo… Nếu Như thị của Đốn giáo và của Viên giáo đồng, thì Như thị của Bất định giáo trước sau hỗ tương cho nhau. Bí mật thì ẩn mà không truyền. Bày diễn lưới giáo bao trùm biển pháp giới sợ còn có chỗ thiếu sót huống chi một mắc lưới, hoặc vì một mình giương lưới? Lại nhất thời chụp được bốn mũi tên không để cho rơi xuống đất, cũng chưa dám gọi là nhanh, đốc thúc lừa ngu rượt đuổi rùa què, một còn chẳng được huống gì là bốn!

Căn cứ Bản, Tích để giải thích “Như thị”: Ba đời mười phương ngang dọc đều như vậy, quá khứ xa thẳm hiện tại mênh mông, vị lai lâu dài, thảy đều “Như thị”, thế thì nơi nào là Bản? Nơi nào là Tích bản? Nếu căn cứ đức Thích Tôn tối sơ thành đạo, thì hai chữ “Như thị” ở

đầu kinh là Bản, thời gian chặng giữa làm Phật thuyết kinh thì ngày nay “Như thị” mở đầu các kinh đã thuyết đều là Tích. Lại, “Như thị” mà Anan truyền, gọi là Tích. “Như thị” từ Phật thuyết, là Bản. Lại, “Như thị” mà thầy trò thông đạt chẳng phải mới ngày nay, cũng chẳng phải trung gian, gọi là Bản; mà cũng là trung gian, cũng là ngày nay, gọi là Tích.

Căn cứ Quán tâm mà giải thích: Quán các nghĩa của “Như thị” theo ba Tất-đàn trước của Tứ Tất-đàn đều là pháp nhân duyên sinh, tức là Thông quán, Nhân duyên “tức Không tức Giả” là Biệt quán. Hai pháp quán này là phương tiện đạo để được nhập Trung đạo đệ nhất nghĩa. Cả hai đều chiếu Nhị đế cũng Thông cũng Biệt quán. Phần đã nói ở trên đều là Trung đạo chẳng phải Thông chẳng phải Biệt quán.

Đoạn văn dưới nói: “Nếu có người nào tin lời ông (Thân-tử) nói, thì được thấy ta (Phật Thích-Ca), cũng được thấy ông và các Tỳ-kheo tăng cùng các vị Bồ-tát”, đó là lời kinh nói về Quán. “Tin” là luận về căn cơ, “thấy” tức là “ứng”, tức là nhân duyên. Lại, “tin” có cạn sâu, “thấy” có quyền có thật, đủ các thứ phân biệt không đồng, tức phân biệt giáo. Lại “tin lời kinh Pháp Hoa” thì thấy được nguồn gốc thật tướng. Nếu thấy Thân-tử biến hóa, thì thấy nguồn gốc của Long-đà. Nếu thấy được Thích Tôn mới thành đạo thì cũng thấy các Phật trước thành đạo từ lâu xa. Nếu thấy một ngàn hai trăm Tỳ-kheo, tám vạn Bồ-tát, thì cũng thấy rõ nguồn gốc của các vị kia. Lại nghe Kinh tâm tin thành không nghi ngờ, thì biết lòng tin này thanh tịnh sáng suốt, tức là “thấy Phật”. Tuệ tâm luôn luôn phân minh, là “thấy Thân-tử”. Các tâm sở phân minh là “thấy chúng Tỳ-kheo”. Tâm từ bi thanh tịnh, là “thấy các Bồtát”. Căn cứ tâm để làm bốn giải thích thỏa đáng rõ ràng. Nếu giải thích các kinh khác chỉ dụng ba ý, vì chưa phát sinh Bản hiển Tích. Phải biết ba giải thích của kinh này đồng với các kinh khác, một giải thích không đồng kinh khác. Bốn bước giải thích hai chữ “Như thị” đã xong.

“Ngã văn”: Hoặc nghe như thị bởi kinh vốn không đồng trước sau xen nhau nêu lên, nay theo lệ chia làm bốn để giải thích. Đại luận nói: “Nhĩ căn không bị hư, tiếng ở trong phạm vi có thể nghe và ý muốn nghe”. Các duyên hòa hợp cho nên nói: “Ngã văn”. Hỏi: Lẽ ra nói “nhĩ văn”, sao nói “ngã văn”? Đáp: “Ngã” là chủ Nhĩ căn, nêu “ngã” là thâu nhiếp các duyên. Đây là giải thích theo nghĩa thế giới Tất-đàn. A-nan đăng tòa xưng là “ngã văn”. Đại chúng cảm động vì vừa thấy đức Như Lai ở đây xưng là “ngã văn” (Tôi nghe). Hàng vô học bay lên hư không thuyết kệ, kinh Phật nói rõ ràng, Văn-thù kết tập, trước hết xướng đề, tiếp nói “Như thị ngã văn”, khi ấy chúng đều cảm động khóc. Đây là giải thích theo nghĩa Vị nhân Tất-đàn. A-nan ngồi trên tòa cao xưng là “ngã văn” để loại bỏ sự nghi ngờ trong chúng, vì thân A-nan gần giống Phật, chỉ thấp hơn Phật ba đốt tay, nên chúng nghi đức Thích Tôn lại một lần nữa xuất thế, hoặc đức Phật ở cõi khác đến hoặc A-nan thành Phật. Nếu xưng “ngã văn” tức loại bỏ ba sự nghi, đây là giải thích theo nghĩa Đối trị Tất-đàn. A-nan là hàng Học nhân, tùy theo thế tục mà xưng “ngã văn”, trong Đệ nhất nghĩa không có “ngã” không có “văn”. Từ xưa đến nay, các sự giải thích đồng là một ý Nhân duyên vậy thôi.

Nếu căn cứ Giáo mà giải thích: Thích luạn nói: Hàng phàm phu có ba loại ngã: kiến, mạn và danh tư. Bậc Học nhân có hai loại. Hàng Vô học có một loại. Ngài A-nan là hàng Học nhân, không có tà ngã, có thể chế phục mạn ngã, mà tùy theo danh tự của thế gian gọi là “ngã” thì không có lỗi. Đây là dùng ý Tam tạng để giải thích “ngã”. Thập Trụ Tỳ-Bà-Sa luận nói: Tứ cú nói về “ngã” đều rơi vào tà kiến. Trong chánh pháp của Phật không có ngã, thì ai nghe? Đây là dùng ý của Thông giáo. Đại kinh nói: A-nan là bậc đa văn, biết “ngã, vô ngã”, là bất nhị, đồng thời phân biệt “ngã,vô ngã”. Đây là dùng ý Biệt giáo. Lại nữa A Nan biết “ngã, vô ngã” là bất nhị, nên phương tiện làm thị giả truyền trì trí tuệ vô ngại của Như Lai, dùng âm thanh tự tại mà truyền Quyền truyền Thật có gì mà không được? Đây là dùng ý Viên giáo giải thích về “ngã”.

Lại, kinh Chánh Pháp Niệm nói: Có ba A-nan. Nghĩa là: A-nanđà, Trung hoa dịch là Hoan hỷ, thọ trì Tiểu thừa tạng. A-nan-bạt-đà, Trung hoa dịch Hoan Hỷ Hiền, thọ trì Tạp tạng. A-nan-bà-già, Trung hoa dịch là Hoan Hỷ Hải, thọ trì Phật tạng. Kinh A-hàm có Điển-tạng A-nan thọ trì Bồ-tát tạng. Bởi chỉ một người mà đầy đủ bốn đức, truyền trì bốn pháp môn, nghĩa đó tự rõ.

Giải thích theo Bản tích: Nếu chưa hội nhập, thì có thể nói Anan tùy thế tục mà xưng là “ngã”. Nếu phát Tích hiển Bản, ở chỗ đức Phật Không Vương đồng thời phát tâm, phương tiện thị hiện làm người truyền pháp, thì sao không thể được?

Giải thích theo Quán tâm: Quán các pháp là do nhân duyên sinh tức Không tức Giả tức Trung. Tức Không là ngã vô ngã, tức Giả là phân biệt ngã, tức Trung là chân diệu ngã… Giải thích chữ “văn”( nghe): Anan sinh vào đêm Phật thành đạo, làm thị giả Phật hơn hai mươi năm, khi chưa làm thị giả Phật thì phải không nghe. Đại luận nói: “Khi A-nan kết tập pháp, tự nói rằng: khi Phật chuyển pháp luân lần đầu, ta lúc đó không thấy”. Như vậy dần dần nghe, nên biết không nghe hết thảy. Xưa giải thích A-nan được lực Tam-muội (tên) Phật giác, tự có khả năng nghe. Kinh Báo Ân nói: A-nan cầu bốn nguyện: Những kinh chưa nghe nguyện Phật nói lại một lần nữa. Lại nói: Phật khẩu mật vì A-nan mà nói. Kinh Bồ-tát Xử Thai nói: Đức Phật từ trong kim quan hiện ra cánh tay vì A-nan mà lập lại hiện tướng nhập thai. Các kinh đều nghe, huống chi thuyết ở các chổ khác ư! Văn đây nói: A-nan được thọ ký liền nhớ đến bản nguyện hộ trì Phật pháp ngày trước đều như ngày nay. Đây là giải thích theo nghĩa nhân duyên.

Nếu căn cứ về Giáo: Hoan hỉ A-nan: Mặt sáng như trăng rằm, mắt như hoa sen xanh, thân gần thừa phụng tôn chỉ của Phật, ví như cái bát chưa đựng đầy nước, trao truyền giáo pháp để hóa độ người như rót nước từ bát vào bình khác, đây là truyền pháp được “nghe mà nghe”. Hoan Hỷ Hiền ở vị Học đắc “Không, Vô tướng,Vô nguyện”, các căn nhãn nhĩ tỹ thiệt… không còn lậu, truyền trì pháp “nghe mà không nghe”. Cái mà Điển Tạng A-nan hàm chứa thọ nhận, nhiều như mây lớn giữ mưa, đây là truyền trì pháp “không nghe mà nghe”. A-nan Hải là bậc đa văn, tự nhiên có thể hiểu rõ pháp thường và vô thường. Nếu biết Như Lai thường không thuyết một trăm tám mươi ba pháp, đó gọi là Bồ-tát đầy đủ đa văn. Phật pháp như nước trong biển lớn chảy vào tâm A-nan, đây là truyền trì pháp “không nghe mà không nghe”. Kinh này thuộc về A-nan Hải trì Diệu pháp “không nghe mà không nghe”. Bản tích giải thích: Như bốn giải thích về “nghe” ở trên đều là Tích dẫn mà Bản địa không thể nghĩ bàn… Quán tâm giải thích: Quán pháp do nhân duyên sinh, là quán “nghe mà nghe”, quán Không là quán “nghe mà không nghe”, quán Giả là quán “không nghe mà nghe”, quán Trung là quán “không nghe mà không nghe”… Nhất niệm quán là diệu quán vậy.

Giải thích chữ “Nhất thời”: theo Ngài Tăng Triệu nói: “Thời là khi Pháp vương bắt đầu mở vận hội” là giải thích theo Thế giới Tất-đàn. Luận nói: “Ca-la” dịch là thời thật, là chỉ thời gian đệ tử trong sự tu, như thời ăn, thời mặc áo…. Đây giải thích theo Vị nhân Tất-đàn. “Tam-mada” là thời giả, phá tà kiến ngoại đạo. Đây giải thích theo Đối trị Tấtđàn. Nếu thời cùng đạo hợp, là giải thích theo Đệ nhất nghĩa Tất-đàn… Nếu Kiến đế trở lên, Vô học trở xuống thì gọi là “Hạ nhất thời”. Nếu ba người đồng nhập Đệ nhất nghĩa, thì gọi là “Trung nhất thời”.Nếu đăng địa trở lên gọi là “Thượng nhất thời”. Nếu sơ trụ trở lên, thì gọi là “Thượng thượng nhất thời”, Kinh này là “Thượng thượng nhất thời”, đây là căn cứ Giáo mà phân biệt. Bản tích: Các nhất thời nói bên trên, là Tích. Nhất thời lâu xa thật đắc, là Bản. Quán tâm giải thích: Quán tâm trước là Không, tiếp là Gia, sau cùng là Trung quán, là quán tâm theo thứ tự vậy. Quán tâm tức Không tức Giả tức Trung, là viên diệu quán tâm.

“Phật”: Kiếp sơ thì không bệnh, kiếp tận thì nhiều bệnh, thọ mạng dài thì vui, thọ mạng ngắn thì khổ, Đông thiên hạ thì giàu mà thọ mạng dài.Tây thiên ha thì giàu châu báu, nhiều trâu dê. Bắc thiên hạ thì không ngã, không thần thuộc. Thời gian nơi chốn như các chổ đó không cảm được Phật xuất thế. Khi tám vạn tuổi, Khi thọ một trăm tuổi. Chúng sinh ở Nam thiên hạ chưa thấy quả mà tu nhân, cho nên đức Phật xuất hiện cõi ấy. Ly-Xa-Tử nói: “Nước Ma-kiệt -đề như ao lớn, nên Phật xuất hiện ở nước ấy như hoa sen lớn”. Vô Thắng nói: “Phật với chúng sinh bình đẳng không hai, vì các ông đam mê ngũ dục nên không thấy Phật đó thôi. Chẳng phải đức Phật bỏ các ông mà xuất hiện ở nước Ma-kiệt-đề”. Đây là giải thích theo nghĩa Thế giới Tất-đàn. Mặt trời nếu không xuất hiện trong ao thì hoa chưa sinh hay sinh rồi… cũng úa tàn chết, không nghi ngờ gì. Phật nếu xuất hiện ở đời thì có Sát-lợi, Bà-la-môn Cư sĩ, Tứ thiên vương cho đến trời Hữu đảnh. Đây là giải thích theo Vị nhân Tất-đàn. Căn tánh Tam thừa cảm Phật mới xuất thế, các hàng khác không thể cảm Phật. Khéo đoạn nhân Hữu đảnh thì vĩnh viễn vượt dòng sinh tư. Đây là giải thích theo Đối trị Tất-đàn. Đức Phật đối với pháp tánh không động không xuất, có thể cho chúng sinh cảm thấy động xuất, nhưng đức Như Lai thật không động xuất. Đây là giải thích theo Đệ nhất nghĩa Tất-đàn. Đều là giải thích theo Nhân duyên. Phật gọi là Giác giả, Tri giả, ngồi dưới gốc cây Bồ-đề giác tri tổng tướng biệt tướng thế gian xuất thế gian. Giác thế gian tức Khổ,Tập. Giác xuất thế gian tức Đạo, Diệt. Cũng có thể giác tha. Ngài hiện thân ở thế gian như Trưởng lão Tỳ-Kheo, thân cao một trượng sáu, thọ tám mươi năm. Dưới cây Bồ-đề đoạn hết tập khí phiền não của ba mươi bốn tâm mà thành Chánh giác. Đây tức là nghĩa Phật tự giác giác tha theo Tam tạng giáo. Mang hình bóng một Trưởng lão Tỳ-Kheo, tức hiện thân tôn quý đặc thù, ngồi dưới gốc cây nhất niệm tương ưng đoạn hết tập khí còn sót lại, tức nghĩa Phật tự giác giác tha theo Thông giáo. Riêng hiện tương tôn quý đặc thù ngồi đài hoa sen, thọ chức danh làm Phật, tức nghĩa Phật tự giác giác tha theo Biệt giáo. Ẩn ba tướng trước, chỉ thị hiện tướng bất khả tư nghì như hư không, tức nghĩa Phật tự giác giác tha theo Viên giáo. Cho nên, kinh dạy: “Hoặc thân Như Lai một trượng sáu, hoặc thấy thân lớn thân nhỏ, hoặc thấy ngồi trên đài hoa trăm ngàn đức Thích-ca thuyết pháp môn tâm địa, hoặc thấy thân đồng hư không biến khắp pháp giới không có phân biệt, tức nghĩa này vậy. Đó gọi là căn cứ Giáo mà phân biệt giải thích.

Giải thích theo Bản tích: một đức Phật là bản, ba đức Phật là Tích. Trung gian thị hiện, thường nói sinh, thường nói diệt, đều là Tích. Chỉ có bốn đức Phật ở bản địa đều là bản. Giải thích theo Quán tâm: Quán tâm do duyên sinh, trước là Không, tiếp đến là Giả, sau cùng là Trung, đều là thiên giác. Quán tâm tức Không tức Giả tức Trung, là viên giác…

Giải thích chữ “Trụ”: Là năng trụ sở trụ. Sở trụ tức là thành Vương-xá, ở cõi Ta-bà. Năng trụ tức là bốn oai nghi. “Trụ” là ở thế gian chưa mất, đây là giải thích theo Thế giới Tất-đàn Lại “trụ” là trụ thập thiện đạo, trụ trong tứ thiền, đây là giải thích theo Vị nhân Tất-đàn. Lại, “trụ” là trụ trong ba Tam-muội, đây là giải thích theo Đối trị Tấtđàn. Lại, “tru” là trụ Thủ-lăng-nghiêm tức là giải thích theo Đệ nhất nghĩa Tất-đàn. Dựa theo Giáo giải thích: Theo Tam tạng giáo thì Phật từ “phân tích môn” phát sinh chân vô lậu, trụ Hữu dư, Vô dư Niết-bàn. Theo Thông giáo thì Phật từ “thể môn” phát sinh chân vô lậu, trụ Hữu dư,Vô dư Niết- bàn. Theo Biệt giáo thì Phật từ “thứ đệ môn”mà nhập, trụ tạng bí mật. Theo Viên giáo, thì Phật từ “bất thứ đệ môn” mà nhập, trụ tạng bí mật. Ba Phật trước thì năng, sở trụ đều thô, một đức Phật sau thì năng, sở trụ đều diệu. Nay kinh này thì Viên Phật trụ diệu trụ.

Căn cứ Bản Tích giải thích: Tam tạng Phật ưng nhập Niết-bàn, từ bi hiện tích sinh thân trụ thế. Thông Phật thệ nguyện từ bi, phò giúp trừ các tập khí còn sót lại, độ chúng sinh làm Phật sự. Biệt, Viên Phật đều từ bi huân pháp tánh, thương xót chúng sinh trong biển khổ nên rũ lòng từ ứng khắp pháp giới để cứu độ. Nên biết: bốn đức Phật trụ Bản Phật trụ, vì lòng từ nên trụ trong thành Vương-xá cõi Ta-bà. Uy nghi trụ thế gian, gọi là Tích trụ.

Quán giải thích: Quán trụ cảnh, hoặc trụ cảnh vô thường, tức là các cảnh tức Không tức Giả tức Trung. Dùng pháp vô trụ mà trụ trong cảnh, nên gọi là “trụ”.

Thành Vương-xá: Thiên Trúc gọi là “La-duyệt-kỳ-Già-la”. La-duyệt-kỳ, Trung hoa dịch “Vương-xá”. Già-la, Trung hoa dịch là “Thành”, Nước tên Ma-già-đà, Trung hoa dịch “Bất hại”, là không có hình pháp giết hại. Cũng gọi Ma-kiệt-đề, Trung hoa dịch “Thiên La”. Thiên La là tên vua, lấy tên vua đặt tên nước. Đời tiền kiếp vua này là cha của Bác-Túc. Từ kiếp xa xưa, có vị vua làm bá chủ của một ngàn nước nhỏ, một hôm vua tuần du trong núi gặp con sư tử cái, lúc mọi người tản mác vua cùng sư tử giao hợp, về sau đủ ngày tháng thì sư tử cái đến cung điện sinh con. Vua biết là con mình mà dối nói ta không có con, đây chính là trời ban cho ta để nuôi làm thái tử. Vì trên chân người đó có nhiều vết loang lổ, nên người đời gọi là Bác-Túc. Về sau nối ngôi làm vua, vua này ưa ăn thịt bảo người đầu bếp rằng bữa ăn không được thiếu thịt. Một hôm, không may thiếu thịt người đầu bếp vội đến phía Tây thành, giết một đứa trẻ làm bữa ăn cho vua. Vua ăn khen ngon liền bảo phải thường dâng thịt đó. Người đầu bếp cứ mỗi ngày bắt một người làm thịt, cảnh tượng trong nước thê thảm khủng khiếp, ngàn nước nhỏ dấy lên phế bỏ vua. Vua vào trong núi Kỳ-xà-quật có các Lasát quỷ vương phụ giúp, nhân đó vua cùng với sơn thần thề nguyền lấy một ngàn cái đầu của ngàn vua để tế thần. Sau đó vua bắt lấy được chín trăm chín mươi chín vị vua, chỉ còn thiếu một vua Phổ Minh. Về sau, dò la bắt được. Vua bị bắt liền khóc lớn, than rằng: “Ta chưa từng nói dối mà nay phải bội tín!”. Bác Túc hỏi han cớ sự rồi thả vua Phổ Minh. Vua về nước mở đại thí, lập thái tử, rồi trở lại chịu chết thân tâm vẫn tự tại yên vui. Bác Túc hỏi, vua trả lời vì được nghe thánh pháp. Nhân đó thuyết pháp tán thán tâm từ bi, hủy bỏ tập khí sát hại, liền thuyết kệ Tứ phi thường… Bác Túc nghe pháp chứng đắc Không bình đẳng địa, tức Sơ địa. Ngàn vị vua mỗi người đều lấy một giọt máu và ba sợi tóc để tế sơn thần. Bác Túc cùng ngàn vị vua ấy lập Xá thành, chọn giữa năm hòn núi, lập nên một đại quốc, còn ngàn vua nước nhỏ đều truyền ngôi cho con, ngàn vua con lần lượt biết hiểu việc của nước lớn. Lại, dân chúng ở trong năm hòn núi bảy phen làm nhà đều bị cháy. Dân chúng bàn luận rằng do chúng ta phước mỏng số phải bị hỏa hoạn nhiều lần, chỉ có vua mới có đủ phước lực nên nhà kia không cháy, từ nay về sau nên bỏ nhà của ta làm nhà của vua (để khỏi bị cháy). Do tránh bị cháy cho nên gọi là Vương-xá thành. Lại nữa, Bác Túc cùng một ngàn vị vua làm nhà ở trên đất ấy, cho nên gọi làVương-xá. Lại, Bác Túc đắc đạo “ân xá” cho ngàn vị vua, ngàn vị vua được ân xá trên đất ấy, nên đặt đất ấy là Vương-xá. Chữ “Xá” là tha tội, mà các nhà viết kinh mượn âm chép chữ ốc Xá (là nhà) vậy. (Nhân duyên này rút ra từ Đại luận và các kinh)…

Căn cứ Giáo giải thích: Kinh Tượng Pháp Quyết Nghi nói: Tất cả đại chúng chỗ thấy không đồng, hoặc thấy rừng Sa-la toàn là đất sỏi cỏ cây vách đá, hoặc thấy bảy báu thanh tịnh trang nghiêm, hoặc thấy rừng này là nơi du hành của ba đời chư Phật, hoặc thấy rừng này tức là cảnh giới bất khả tư nghì của chư Phật, là thể pháp chân thật. Qua đây biết bốn sự thấy không đồng, Sở trụ đã vậy, Năng trụ cũng như thế. Đây là căn cứ Giáo để phân biệt. Bản tích, Quán tâm sẽ nói phần sau.

“Núi Kỳ-xà-quật”: Trung hoa dịch Linh Thứu, cũng gọi là Thú Đầu, cũng gọi là Lang Tích. Lương Vũ đế nói: “Vua dẫn thơ tiếng chim hót trong rừng ví như đôi vợ chồng người quân tử”. Sách Nhĩ Nhã nói: Tựa như chim Chí. Lại giải thích: Sơn Phong giống như hình chim Thứu mạnh mẽ, phong gọi là núi. Lại nói: Phía Nam núi có rừng Thi-đà, loài chim Thứu sau khi ăn thây chết, thường nghỉ đậu ở trên núi, người thời ấy gọi là Thứu sơn. Lại giải: Đức Phật đời trước, Đức Phật đời nay đều ở trên núi này. Nếu sau khi Phật diệt độ thì A-la-hán trụ. Pháp diệt thì Bích-chi-phật trụ, không có Bích-chi-phật thì quỷ thần ở, đã là nơi thánh linh ở. Tổng có ba việc, do đó gọi là núi Linh Thứu. Gồm có năm tinh xá: Bễ-bà-la-bạt, Trung hoa dịch Thiên chủ huyệt. Tát-đa-bàn-nacầu-ha, Trung hoa dịch Thất diệp huyệt. Nhân đà Thứ-thế-la-cầu-ha, Trung hoa dịch Xà thần sơn. Tát-bà thứ hồn trực Ca-bát-bà-la, Trung hoa dịch Thiểu độc Lực sơn. Thứ năm là Kỳ-xà-quật sơn.

Hỏi: Kiếp lửa đốt cháy thiên địa, thành quách cháy sạch sẽ, tại sao Đức Phật trước Đức Phật sau đồng ở trên núi này?

Đáp: Kiếp sau tái hiện lại kiếp trước. Người có thần thông biết tên kiếp trước đặt tên cho ngày nay đó thôi! Ví như họ kiếp trước là Cùđàm, dùng họ ngày xưa đặt cho họ ngày nay.

Theo Giáo giải thích núi, cũng như giải thích nghĩa thành đã nói…

Quán giải thích: “Vương” tức tâm vương, “xá” tức ngũ ấm. Tâm vương tạo nhà (xá) này, nếu bẻ gãy ngũ ấm thì nhà là Không, Không là thành Niết-bàn, quán này không sâu như thấy đất cây, v.v… Nếu quán nhà ngũ ấm tức Không, Không tức là thành Niết-bàn, tức là theo Thông giáo vậy. Nếu quán nhà ngũ ấm do diệt sắc vô thường này thì thâu hoạch được sắc thường, thọ tưởng hành thức cũng lại như vậy, bốn đức thường lạc ngã tịnh này là nơi du hành của chư Phật. Nếu quán ngũ ấm tức pháp tánh; pháp tánh không có thọ tưởng hành thức, thì tất cả chúng sinh tức là Niết-bàn, không thể còn diệt nữa, là “nhà Không tịch rốt ráo”. Niết-bàn như thế tức là thực thể của chân như…

Quán tâm giải thích “núi Linh Thứu”: Nếu quán sắc ấm vô tri như “núi”, thì thức ấm như “Linh”, ba ấm kia như “thứu”. Quán “Linh thứu” này vô thường, tức Chiết quán (phân tích quán). Quán “Linh thứu” này tức Không, là Thể quán. Quán “Linh” tức trí tánh, là Liễu nhân, trí tuệ trang nghiêm, “Thứu” tức là Duyên nhân tụ tập phước đức trang nghiêm; “Núi” tức là pháp tánh, là chánh nhân bất động. Ba pháp gọi là bí mật tạng, tự trụ trong đó, cũng dùng để độ người. Văn dưới nói: Phật tự trụ trong Đại thừa, tức trụ ở hai Biệt, Viên quán.

“Trung”: ở giữa, ở trong: Phật ưa Trung đạo, từ trong cõi trời giữa ngày giáng sinh ở giữa nước, giữa đêm diệt độ, đều tiêu biểu Trung đạo, nay ở trong núi thuyết Trung đạo.

Giải thích chúng đồng văn, chia làm ba:

  1. Chúng Thanh văn.
  2. Chúng Bồ-tát.
  3. Tạp chúng.

Các kinh phần nhiều nói như vậy. Xưa phân biệt theo Sự theo Nghĩa. Theo Sự: Là theo hình dáng tích thân sơ, Thanh văn hình dáng ra khỏi ràng buộc thế tục, dấu tích gần với Như Lai, chứng ngộ kinh, vì thân cho nên nêu trước. Trời, người khác, thì hình dáng y phục, dấu tích không phải hầu hạ phụng thờ, chứng ngộ kinh, vì sơ cho nên nêu sau. Bồ-tát hình dáng không câu nệ, dấu tích không định nơi chốn, đã không đồng tục lại khác với Tăng, nên nêu lên ở giữa. “Theo Nghĩa”: Hàng Thanh văn ham vui Niết-bàn. Trời, người thì đắm trong sinh tử, mỗi bên đều có sự thiên lệch. Bồ-tát không ham vui Niết-bàn cũng chẳng đắm sinh tử, ở giữa cầu tông chỉ nên ở giữa hai bên. Ý của Thích luận cũng như vậy. Nay đây chỉ một giải thích mà như hai cách giải thích xưa. Giải thích về Sự như nhân duyên, giải thích về Nghĩa như theo giáo. Bản tích giải thích: Hàng Thanh văn trong bí mật, ngoài hiện tướng, đâu từng giữ lấy chứng Niết-bàn? Trời, người đều là đại Bồ-tát đâu thể tham đắm nhiễm sinh tử? Đều là Tích dẫn dắt nhị biên, mà Bản thường là Trung đạo. Quán tâm giải thích: Quán từ Giả nhập Không tức riêng phá sinh tử, quán từ Không nhập Giả tức riêng phá Niết-bàn, Trung đạo chánh quán không còn trước sau…

I. LIỆT NÊU HÀNG THANH VĂN chia làm hai:

  1. Tỳ-kheo.
  2. Tỳ-kheo-ni.

Tỳ-kheo lại có hai: Trí thức nhiều và Trí thức ít. Xưa gọi là “Đại danh văn, Tiểu danh văn”, tuy nhiên không có căn cứ. Nay y văn phân tích như đây.

– Hạng trí thức nhiều, chia làm sáu: Loại, Số, Vị, Thán, Liệt danh và Kết.

1. Loại: Đều là một loại Đại Tỳ-kheo, thí như các loại người khắp các phương giàu sang hay nghèo cùng đều có thứ bậc, nay các Tỳ-kheo đều là chúng có tri thức, có danh, đức cao lớn (Đại đức). Luận giải thích rõ chữ “dữ”: nghĩa là cùng, nêu bảy lần nhất để giải thích nghĩa chung: nhất thời, nhất xứ, nhất giới, nhất tâm, nhất kiến, nhất đạo, nhất giải thoát. Nếu trải qua giáo thì nên mỗi mỗi nêu rõ bảy cái Nhất. Tam tạng một lần bảy Nhất, Thông giáo nêu hai lần bảy Nhất, Biệt giáo nêu vô lượng lần bảy Nhất. Viên giáo nêu một lần bảy Nhất. Nếu chưa phát sinh Tích thì chính là bảy Nhất trong Tam tạng và Thông giáo. Nói rõ hai ý này có bao nhiêu cái khác nhau? Thời, xứ, giới, giải thoát thì đồng; ba loại tâm kiến, đạo thì khác. Nếu đến khai tam hiển nhất, tức được nhập bảy Nhất của Viên giáo. Pháp Hoa luận nêu bốn hạng Thanh văn. Nay chia Trụ quả làm hai: Chiết pháp trụ quả là Tam tạng Thanh văn, Thể pháp trụ quả là Thông giáo Thanh văn. Chia Ứng hóa làm hai: Đăng địa là Ứng hóa Biệt giáo Thanh văn, Đăng trụ là Ứng hóa Viên giáo Thanh văn. Chia Phật đạo Thanh văn cũng làm hai: Khiến người khác thứ tự nghe Phật đạo là Biệt giáo Thanh văn, khiến người khác không theo thứ tự nghe Phật đạo, tức Viên giáo Thanh văn. Nghĩa Thanh văn rộng lớn như vậy, tại sao dùng sự chứng Niết-bàn để phê phán?

“Đại”: Thích luận nói “đại” cũng gọi là Đa (nhiều) cũng gọi là Thắng (thù thắng). Tính chất đáng tôn trọng, làm vua cõi trời v.v.. được mọi người cung kính, cho nên gọi là “đại”. Vượt lên trên chín mươi lăm thứ ngoại đạo, nên nói “Thắng”. Hiểu biết tất cả các kinh sách, nên gọi “đa”. Lại, số lên đến một vạn hai ngàn, cho nên nói “đa”. Nay nêu rõ: vì có đại đạo nên có đại dụng nên có đại tri, cho nên nói “đại”. Thắng: Đạo thắng, dụng thắng, tri thắng, cho nên nói “thắng”. Đa: Đạo đa, dụng đa, tri đa cho nên nói đa. Đạo tức Tánh niệm xứ, rộng lớn hơn tất cả trí của ngoại đạo. Dụng tức Cộng niệm xứ, vượt hơn thần thông của ngoại đạo. Tri tức Duyên niệm xứ. Đa, là nhiều hơn Tứ vệ-đà của ngoại đạo. Căn cứ Giáo để giải thích “Đại, đa, thắng”: Đại, là người có địa vị đáng tôn kính, là giải thích theo Tam tạng. Đại, là đại lực La-hán cung kính. Đa: Biến tri pháp sinh diệt tức vô sinh diệt. Thắng: Là thắng Tam tạng tứ môn, đây là giải thích theo Thông giáo. Lại, Đại là thể pháp đại lực La-hán tôn kính. Đa, là hằng sa Phật pháp đều biết. Thắng, là hơn hàng nhị thừa. Đây là giải thích theo Biệt giáo. Lại, Đại là các đại Bồ-tát được cung kính. Đa, là pháp giới pháp bất khả lượng đều biết hết. Thắng là hơn các Bồ-tát. Đây là giải thích theo Viên giáo. Bản tích giải thích: Các đại đức này từ kiếp xa xưa từng được chư Phật quở trách, nhắc nhở, vốn đã được Thắng tràng Tam-muội siêu vượt các ngoại đạo, trước kia đã thành tựu Chủng trí biết khắp. Tích: ngày nay phụ giúp Phật hành hóa thị hiện làm “đại, đa, thắng” trong ái kiến, muốn dẫn vị Sửa thành vị Lạc, cho nên làm “đại, đa, thắng” trong Tam tạng. Muốn dẫn vị Lạc thành vị Sinh tô, cho nên thị hiện “đại, đa, thắng” trong Phương-đẳng. Muốn dẫn vị Sinh tô thành Thục tô, cho nên dạy Chuyển giáo làm “đại, đa, thắng” trong Bát-nhã. Muốn dẫn vị Thục tô thành Đề hồ, tức làm “đại, đa, thắng” trong Pháp Hoa. Như thế giải thích “đại, đa, thắng” theo Bản địa kia rồi vậy

Giải thích theo Quán tâm: Không quán là đại, Giả quán là đa, Trung quán là thắng. Lại căn cứ trực tiếp Trung quán: tâm tánh rộng lớn như hư không, nên gọi là “đại”. Cùng lúc ngăn nhị biên nhập biển tịch diệt, nên gọi là “thắng”. Song chiếu nhị đế phần lớn bao dung nhất tâm nhất thiết tâm, cho nên gọi là “đa”.

“Tỳ-kheo”: Ngài Tăng Triệu nói: Đời Tần gọi là: Tịnh mạng khất thực, phá phiền não, năng trì giới, bố ma, một tên ở Thiên Trúc bao hàm bốn nghĩa đây, đời Tần không dùng bản dịch cho nên còn gọi tên cũ. Ngài La-thập nói: Ban đầu mới ra khỏi nhà thê tử phải nên khất thực tự nuôi thân mạng thanh tịnh, sau để vượt ra khỏi nhà tam giới thì phải phá phiền não, tự giữ gìn giới, đủ hai nghĩa này thì thiên ma rất sợ hãi ra khỏi cảnh ấy. Thích luận nói: Bố ma, phá ác, Khất sĩ. Ma thì ưa sinh tử. Vị kia đã ra khỏi nhà sinh tử lại hóa độ người khác, đều lìa ba cõi, trái với ý ma, cho nên ma dùng sức chế phục, khiến bị năm thứ trói buộc, làm ngược lại thì ma chỉ sầu muộn sợ hãi mà thôi, cho nên gọi là bố ma. Người xuất gia quyết phá bảy chi ác nơi thân khẩu, cho nên nói phá ác. Xét rằng người tại gia có ba hạng như pháp: 1. Làm ruộng; 2. Buôn bán; 3. Làm quan, dùng để nuôi thân mạng. Người xuất gia Đức Phật không cho làm những việc đó, chỉ xin ăn để nuôi sống thân mạng, yên tâm tu đạo, giữ phước lợi cho đàn-việt. Ba nghĩa nương nhau thành tức là nghĩa Tỳ-kheo. Niết-bàn Bảo Lương đều nêu phá ác tức Tỳ-kheo, như thế là nói không đủ. Nay nêu rõ ba nghĩa này thích ứng chung từ đầu đến cuối. Như khi mới xuất gia bạch tứ yết-ma, vô tác giới lực trùm khắp tất cả cảnh trái ngược vô tác ác. Ban đầu tu thiền định phát sinh định cộng giới, ngăn ngừa hàng phục ý địa tham sân không sinh khởi. Ban đầu tu quán tuệ phát tương tự đạo cộng giới, năng hàng phục phiền não. Thế thì hàng sơ tâm cũng gọi là “phá ác”, đâu riêng gì hậu tâm? Bố ma: Ban đầu xuất gia cạo tóc lãnh thọ giới pháp rồi khiến cho ma buồn rầu, sau tu định muốn hàng phục phiền não, tu tuệ muốn phá phiền não. Thế thì hàng sơ tâm cũng khiến cho ma sợ hãi, đâu riêng gì hậu tâm? Khất sĩ: Ban đầu lìa tà mạng, tự xin ăn để nuôi sống, sau tu thiền lịch cảnh cầu định, tu tuệ duyên lý cầu vô lậu, đều là Khất sĩ, huống chi tâm tương ưng mà chẳng phải Khất sĩ ư? Vì đủ nghĩa đây nên gọi chung là Tỳ-kheo. Các nhà chú giải kinh đều tán thán Tỳ-kheo hậu tâm. Đây đều là ý của Tam tạng giáo. Như lịch duyên cầu chân đạo, gọi là Khất sĩ. Phá lậu hoặc làm chướng lý, gọi là phá ác. Tu hành như đây, khiến bốn ma sợ hãi, tức nghĩa của Thông giáo. Như trải qua ba đế mà cầu lý, gọi là Khất sĩ, trừ lậu hoặc của Thông Biệt, gọi là phá ác. Khiến cho tám ma mười ma sợ, là nghĩa Biệt giáo – Tức nơi sinh tử cầu mùi vị Thật tướng, gọi là Khất sĩ. Thông đạt phiền não tức Bồ-đề, gọi là phá ác. Cõi ma tức là cõi Phật, đó là nghĩa Viên giáo. Nếu chưa phát Tích, thì chỉ nêu hai nghĩa trước. Nếu đã hiển Bản, thì đầy đủ ý sau. Căn cứ Bản tích giải thích: Vốn đã lên đỉnh núi Niết-bàn khác biệt với vô minh si ái là cha mẹ, kết nghiệp là vợ con, v.v… vượt ra khỏi nhà Phần đoạn và Biến dịch, từ lâu đã trừ ngũ trụ thì có ác nào mà không phá? Đã thâu hoạch pháp hỷ chân thật như ăn vị sữa ngon, hoàn toàn không còn gì để xin nữa. Gìn giữ Trung đạo, đạo cộng giới Ba-la-mật, giới độ nhiếp chúng sinh. Hàng phục cõi ma thì cõi Phật như cảnh, có thể tùy ý cỡi xe. Bản địa công đức đã thành tựu từ lâu, vì muốn điều phục chúng sinh, Tích, thị hiện ngũ vị Tỳ-kheo để truyền trao dẫn dắt cho chúng sinh… như trước đã giải thích.

Quán tâm giải thích: Quán nhất niệm tâm tịnh như hư không, không bị nhị biên bó buộc ngăn ngại, bình đẳng đại tuệ vô trụ không chấp trước, tức gọi xuất gia. Dùng Trung quán tự nuôi sống pháp thân tuệ mạng, gọi là Khất sĩ. Quán ngũ trụ phiền não tức là Bồ-đề, đó gọi là phá ác. Tất cả các bên điên đảo đều là Trung đạo tức là bố ma…

Giải thích chữ “Chúng”: Thiên Trúc gọi là Tăng-già, Trung hoa dịch là “Chúng hòa hợp”. Một người không thể gọi là hòa hợp, bốn người trở lên mới gọi là hòa hợp. Sự hòa không biệt chúng, Pháp hòa không biệt lý, Đức Phật thường cùng một ngàn hai trăm năm mươi người: ba anh em Ca-diếp cùng đệ tử tổng cộng là một ngàn người. Hai ngài Thân Tử, Mục-kiền-liên cùng hai trăm năm mươi người đệ tử lại, nói ngài Da-xá có năm mươi người. Tạp A-hàm quyển bốn mươi lăm nói: Trong năm trăm Tỳ-kheo có chín mươi người đắc tam minh, chín mươi người câu giải thoát, số còn lại chỉ có tuệ giải thoát.

Thích luận nói có bốn hạng Tăng: Không nương tịnh mạng, nên

gọi là Tăng phá giới. Không hiểu pháp luật, gọi là Tăng ngu si. Tu ngũ phương tiện, gọi là Tăng tàm quí. Khổ pháp nhẫn trở đi, gọi là Tăng chân thật. Trong chúng này chẳng phải ba hạng trước, mà chỉ là Tăng chân thật. Nếu giải thích theo bốn giáo, thì Tăng đây gồm cả thiên viên năm vị. Người trong chúng Đồng văn nay chính là chứng tín trong Viên giáo. Bản tích giải thích: Bản cùng với lý thật tướng hòa hợp, lại hòa hợp cùng với căn cơ của pháp giới chúng sinh, nhưng trong Tích môn thì thị hiện là Tăng bán tự sự lý, trải qua ngũ vị giáo để dẫn dắt các chúng sinh… Quán giải thích: Hàng sơ học ở Trung quán nhập tương tự quán, vì chưa phát ra được Tàm chân thật đệ nhất nghĩa, chỉ hổ thẹn (quý) với Thánh nhân, tức là Tăng có tàm quí. Nếu quán tuệ, phát ra thì là Tăng chân thật. Nếu khác với đây tức là hai hạng Tăng trước. Không y quán hành, gọi là Tăng phá giới. Không hiểu quán tướng, gọi là Tăng ngu si. Đây là nêu nghĩa loại đã xong.

1. Số: “Một vạn hai ngàn người”. Bản tích: Bản là một vạn hai ngàn Bồ-tát, Tích là một vạn hai ngàn Thanh văn. Quán: Quán mười hai Nhập, một Nhập đủ mười pháp giới, một giới lại có mười giới, mỗi một giới đều có mười như thị, tức là một ngàn. Một nhập đã là một ngàn, thì mười hai nhập tức là mười hai ngàn pháp môn.

2. Vị: “đều là A-la-hán”. Kinh A-nan-bạt gọi là Ứng chân. Kinh Thuỵ Ứng nói Chân nhân đều là Vô sinh, giải thích là La-hán. Bản dịch xưa gọi là Vô trước, Bất sinh, Ứng cúng, hoặc nói không dịch tên bao hàm ba nghĩa, vì hạt lúa vô minh đã bị bóc vỏ, cho nên trong ruộng đời sau không thọ quả báo sinh tử, cho nên nói Bất sinh. Vì đoạn hết chín mươi tám sử phiền não, nên gọi Sát tặc. Đầy đủ công đức Trí, Đoạn, có khả năng làm phước điền cho Trời người, nên nói Ứng cúng. Bao hàm ba nghĩa này giải thích A-nan La-hán, hoặc nói ban đầu mới học vô sinh, sinh mà chưa vô sinh. Ban đầu tuy bố ma mà ma chưa sợ lắm. Ban đầu tuy Khất sĩ chưa phải rõ ràng Ứng cúng. Nay được Vô sinh nhẫn, phá hết giặc phiền não, là ruộng tốt, dùng quả đối nhân mà giải thích ba nghĩa của La-hán. Nếu luận thành tựu thì nên chọn ba nghĩa quả, nếu chung với sơ học thì cũng nên chọn ba nghĩa nhân. Giải thích như đây đều là trong ý Tam tạng và Thông giáo. Nếu theo Biệt giáo, Viên giáo thì nghĩa không như vậy. Không phải chỉ sát tặc mà cũng sát không tặc. Không tặc là Niết-bàn, cũng phải phá cho nên nói nghĩa sát tặc. Bất sinh đối với sinh cũng bất sinh bất sinh, vô lậu là bất sinh. Chẳng những ứng cúng mà còn là Cung ứng. Tất cả chúng sinh là Cung ứng, đều tán thán công đức của hàng Sơ địa Sơ trụ. Bản tích: Bản là được Nhất thừa Bất thọ Tam-muội, đối nhị biên không còn chấp trước cho nên nói Bất sinh. Đoạn ngũ trụ hoặc, cho nên nói Sát tặc. Có thể làm phước cho chín đường lợi ích chúng sinh, cho nên nói Ứng cúng. Đây là nghĩa Bản. Phượng tiện độ chúng sinh trải qua ngũ vị giáo truyền trao làm bất sinh, là nghĩa Tích. Lại Bản là Pháp thân, Tích thị hiện lợi mình. Bản là Bátnhã, Tích thị hiện Bất sinh. Bản là giải thoát, Tích thị hiện Sát tặc…

Quán tâm: Không quán là Bát-nhã, Giả quán là Giải thoát, Trung quán là Pháp thân. Lại quán tâm: quán Giả nhập Không cũng có ba nghĩa, cho đến quán Trung đạo. Sát giặc vô minh, không sinh tâm Nhị thừa; cúng dường người này, như cúng dường Thế Tôn. Kinh Phương Đẳng nói: “Cúng Phật và Văn-thù không bằng thí cho người hành

Phương đẳng, một bữa ăn đủ nuôi thân thể”. Văn dưới nói: “Chê, khen Phật thì tội phước nhẹ hơn chê khen người trì kinh”. Vì sao? Vì Phật không có tưởng thực (không tưởng việc ăn uống), từ lâu ngài đã lìa bát phong, không bị tổn ích.Thí cho người trì kinh thì nhục thân nối tiếp báo mạng, sinh pháp thân, tăng tuệ mạng, cho nên có ích. Chê bai làm họ buồn phiền, thoái tâm, hối hận, để mất thời cơ tốt không thể cứu vãn được, cho nên tổn hại lớn…

3. Tán thán: Có năm câu tán thán ba đức trên. Pháp Hoa luận nói: Câu đầu tổng, câu sau biệt.Phải biết các câu đều tán thán A-la-hán. “Các lậu đã hết, không còn phiền não”: hai câu này tán nghĩa “Sát tặc” trên. “Lậu” là ba lậu. Thành luận nói: “Thất đạo, cho nên gọi là lậu”. Luật nói: “Người si tạo nghiệp, mở cửa các lậu”. Luận Tỳ-đàm nói: Lậu rơi trong sinh tử. Luận, Luật nói khác nhau mà đồng rõ nghĩa lậu, bởi do giặc cuồng mê đánh mất hết lý thật, bần cùng cô độc tạo ác nghiệp, gây nên khổ sinh tử, đánh mất pháp thân tuệ mạng, bỏ báu vật quý giá đều là nghĩa “tặc”. Không thích ứng là nghĩa Bất sinh là tán tán thán đức. “Phiền não”: tức chín mươi tám sử là Lưu, Ách, Triền cái… bức não người tu hành. Phiền não là năng nhuận, lậu nghiệp là sở nhuận. Năng sở đã tận, chính là nghĩa Sát tặc, đâu được tán thán nghĩa bất sinh? “Được lợi mình”, một câu là tán thán Ứng cúng. Nhân quả trong ba cõi đều gọi “người khác”. Trí Đoạn công đức, gọi là “lợi mình”. Lợi mình đầy đủ cho nên thành Ứng cúng. Hai câu: “dứt sự ràng rịt trong các cõi, tâm được tự tại” (tận chư hữu kết, tâm đắc tự tại), là tán thán Bất sinh. “Các cõi (chư hữu)” tức hai mươi lăm cõi, là chổ ở của chúng sinh. “Sự ràng rịt (kết)” là nhân khiến sinh trong hai mươi lăm cõi. Nhân tận thì quả mất, là tán thán nghĩa Bất sinh, không đúng tán thán Sát tặc. Lahán chỉ ứng Kết tận mà chưa ứng Hữu tận. Hữu tận, là trong nhân nói quả. Lại “tận” là không còn lâu xa nữa. “Tâm được tự tại”, định đầy đủ gọi là “tâm tự tại”. Tuệ đầy đủ, gọi là tuệ tự tại. Tuệ tự tại thì chưa hẳn tâm tự tại. Tâm tự tại chắc hẳn tuệ tự tại. Nay nói tâm tự tại tức là định tuệ đầy đủ. Đều là người giải thoát. Người Câu giải thoát thì không còn sinh nữa (sinh quyết định tận), nghiệm biết tán thán đức Bất sinh. Nếu y Pháp Hoa luận, thì gọi là Thượng thượng khởi môn. Đó là lấy sau giải thích trước. Luận nói: “do các lậu tận, cho nên gọi là La-hán, do tâm được tự tại cho nên gọi là hữu kết tận” Như vậy truyền dần giải thích lên trên.

Giải thích theo Bản Tích: Bất sinh bất sinh gọi là Đại Niết-bàn, dòng phiền não kia đã khô cạn từ lâu nên không còn đọa lại vào Nhị thừa và phàm phu tức Bản bất sinh. Công đức Thật tướng Trí Đoạn của Pháp thân gọi là Bản lợi mình, chứng đắc vương Tam-muội phá hai mươi lăm cõi, hiển xuất Ngã tánh, đầy đủ tám tự tại ngã gọi là Bản sát tặc. Theo Tích: thị hiện công đức Nhị thừa.

Giải thích theo Quán tâm: Trung đạo chánh quán không lọt, đọa vào Không Giả nhị biên, nhị biên phiền não diệt. Năng quán tâm tánh gọi là thượng định, y châu (ngọc trong áo) bí tạng là vật của mình, tức là “lợi mình”. Chánh quán Trung đạo thì đoạn Kết Hoặc. Không “kết” cho nên “hữu” cũng đoạn, Nhị biên không thể buộc tâm, cho nên gọi là “tự tại”. Tuy có phiền não mà như không phiền não. Không đoạn phiền não mà nhập Niết-bàn, tức nghĩa kia vậy.

4. Liệt danh: Lược nêu tên hai mươi mốt vị Tôn giả, các đệ tử của Phật đều đủ các hạnh, nhưng ẩn chứa công năng viên mãn, mỗi vị tùy theo một đức mà đặt tên muốn dẫn thiên về sự hay tốt của vị đó. Kinh Tăng Nhất A-hàm nói: Kiều-trần-như Tỳ-Kheo đều cùng tên thượng tọa,đây tùy đức đại nhân tướng. Xá-lợi-phất với trí tuệ thâm lợi, Mụckiền-liên với thần thông đệ nhất, đều nêu mỗi vị một pháp, ý dẫn chứng sự hay tốt riêng (sở trường) của mỗi người. Nếu muốn hiểu rõ danh cần phải hiểu sự tu hành của các vị kia, tùy theo đức mà lập hiệu, nếu không xét qua thì không thông hiểu. Mỗi một vị La-hán theo lệ có bốn sự giải thích… “Kiều-trần-như” là họ, Trung hoa dịch là Hoả-Khí dòng Bà-la-môn, do dòng họ tu theo thần lửa cho nên ngài cũng tùy theo. Hoả có hai nghĩa chiếu và thiêu, chiếu thì tối không sinh, thiêu thì vạn vật không sinh, do đó lấy “Bất sinh” làm họ. “A-nhã” là tên, Trung hoa dịch là Dĩ tri, hoặc gọi Vô tri. Vô tri chẳng phải là không có sở tri, mà là tri cái Vô (Không). Nếu dựa vào Nhị đế thì là tri Chân đế, lấy Vô sinh trí làm tên. Các kinh Vô Lượng Thọ, Văn-Thù Vấn và luận A-Tỳ- Đàm Bà- Sa đều gọi “Liễu Bản Tế, Tri Bản Tế” .Nếu căn cứ vào Tứ đế, thì là tri Diệt đế, nhưng các kinh phần nhiều gọi là “Vô tri”, hoặc dịch là “Đắc đạo”. Kinh Tăng Nhất A-hàm nói: Trong Phật pháp ta hàm chứa vị khoan dung nhân đức bác ái hiểu biết, người đầu tiên thọ pháp vị đó là đệ nhất Câu-lân-như Tỳ-kheo, cho nên lấy A-nhã đặt tên.

Giải thích theo Nguyện: Đức Phật thuở xa xưa gặp thời đói khát hóa làm con cá lớn mắt đỏ, nín hơi không thở, chỉ hiện tướng chết. Lúc ấy có năm người thợ mộc cầm dao búa tới làm thịt cá. Khi ấy Phật thệ rằng: “Đời sau, khi thành Phật ta sẽ độ cho những người này trước”. Nguyện trước kia hợp với vô sinh, cho nên gọi là A-nhã. Lại, thời Phật Ca-diếp có chín người học đạo nhưng có năm người chưa đắc quả, thề trong pháp hội của đức Thích-ca sẽ khai ngộ đầu tiên. Bản nguyện dẫn dắt khiến đắc vô sinh trước, nên gọi A-nhã.

Giải thích theo Hạnh: trí sinh hoặc diệt, là hạnh Trí Đoạn. Xét rằng đêm dài tối tăm ngủ mãi không có người nào thức, mặt trời chưa xuất hiện, sao sáng hiện trước, Kiều-trần-như Tỳ-kheo ban đầu đắc Vô sinh trí, thí như sao sáng tại khởi đầu của các ánh sáng. Ánh sáng trí tuệ của mọi người không ai trước Kiều-trần-như cho nên gọi là A-nhã. Ban đầu phá bóng tối, chẳng có gì qua ánh sáng sao, Kiều-trần-như cũng vậy. Tất cả mọi người diệt bóng tối, không ai trước Kiều-trần-như, nên gọi A-nhã. Lúc trước khi Thái tử bỏ nước và vương vị vào núi học đạo, vua cha lo lắng sai năm người đuổi tìm theo hầu. Năm người ấy tên là Câu-lân-an-ty cũng gọi là Thấp-ty, A-duyệt-thị, Mã-tinh-bạt-đề, Maha-nam, và Thập Lực Ca-Diếp, được sai phục vụ Thái Tử. Hai người bên mẫu thân, ba người bên phụ thân. Hai người lấy dục làm tịnh hạnh, ba người lấy khổ hạnh làm tịnh hạnh. Thái tử siêng hành khổ hạnh, hai người liền bỏ đi, còn lại ba người. Thái tử bỏ khổ hạnh, trở lại thọ ăn uống tô dầu mè uống nước ấm, thì ba người còn lại cũng bỏ đi. Sau khi Thái Tử đắc đạo, trước hết ngài tìm năm anh em Kiều-trần-như để thuyết Tứ đế, ban đầu giáo hóa hai người, Câu-lân đắc pháp nhãn tịnh, còn bốn người chưa đắc. Ba người khất thực,sáu người cùng ăn. Lần kế tiếp giáo hóa ba người, cả ba đều đắc pháp nhãn tịnh. Hai người khất thực,sáu người cùng ăn thời thuyết pháp thứ ba thì năm anh em Câulân cùng tám vạn chư thiên đều viễn ly trần cấu, năm người đắc pháp Vô sinh. Đức Phật ba phen hỏi: “Hiểu pháp chưa?” thì ba phen đều đáp “Đã hiểu”. Thần đất xướng lên, thần hư không truyền đến Phạm thế đều vang lên “Đã biết”. Câu-lân là người đầu tiên, trước nhất thấy tướng Phật đạo, người đầu tiên nghe tiếng trống pháp, người đầu tiên thấm nhuần hương đạo, người đầu tiên nếm vị cam lộ, người đầu tiên vào dòng chánh pháp, người đầu tiên chứng nhập chân đế, đắc đạo ở cõi Diêm-phù, trước hết thảy nhân, thiên, La-hán. Cho nên Kinh Thập Nhị Du nói: “Khi Phật thành đạo, năm đầu tiên độ năm người, năm thứ hai độ ba anh em Ca-Diếp và đệ tử họ, năm thứ năm độ Thân-tử và Mục-kiền-liên”. Phải biết A-nhã là trước tiên hết. Đây là giải thích theo Nhân duyên.

Tam tạng giáo: Mù ví như vô sinh trí, gương như Vô sinh cảnh, đó là ấm nhập giới vậy. Sáu phần của thân thể là đầu v.v… ví như nhân hiện tại, bóng trong gương ví như quả vị lai. Nếu mở mắt nhìn vào gương thì thấy cái bóng, tức là ảnh đối hình hiện tại, gọi là bóng sinh, vì ngu nên không đoạn tuyệt. Nếu nhắm mắt như mù thì không có cái bị thấy, không thấy sáu phần là nhân không sinh, không thấy bóng trong gương là quả không sinh. Cho nên Kinh A-hàm nói: Nếu cho rằng có sắc, sắc là tịnh, thì tịnh tức sinh chẳng phải bất sinh. Nếu nói có thọ tưởng hành thức, thức là tịnh, thì tịnh tức sinh chẳng phải bất sinh. Nếu nói có thọ, thọ là lạc, thì lạc tức sinh chẳng phải bất sinh. Cho đến sắc, sắc là lạc, thì lạc là sinh không phải bất sinh. Nếu chấp có tưởng hành, hành là ngã, thì ngã là sinh chẳng phải bất sinh. Cho đến sắc, sắc là ngã, thì ngã là sinh chẳng phải bất sinh. Nếu chấp có thức, thức là thường, thì thường là sinh chẳng phải bất sinh. Cho đến sắc, sắc là thường, thì thường là sinh chẳng phải bất sinh. Ví như cầm gương soi thấy mặt, thì mặt là sinh chẳng phải bất sinh. Nếu cho rằng: có ngũ ấm, thì đều là sinh chẳng phải bất sinh. Nếu có thể biết sắc chẳng tịnh, cho đến thức chẳng thường, và có thể biết sắc vô thường, khổ, không, bất tịnh cho đến thức vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, thì đó gọi là bất sinh chẳng phải là sinh. Như người mù cầm gương soi thì không thấy hình bóng sinh, đó gọi là bất sinh chẳng phải là sinh. Đã biết bất sinh, thì đâu còn ở trong đó mà chấp ngã là sắc, chấp ngã khác sắc, ngã ở trong sắc, sắc ở trong ngã cho đến thức cũng như vậy. Quán như thế, thì từ nhân hiện tại quả vị lai thảy đều bất sinh, như người mù đứng trước gương không thấy bóng, đó gọi là dùng Trí quán để quán ấm vô sinh. Quán Nhập, Giới: Phàm nói biển tuy là sâu, rộng nhưng cũng có bờ bên này, bờ bên kia, bởi vì ít nước! Nếu mắt thấy sắc rồi ái nhiễm đắm tham vui, thì tạo nghiệp của thân khẩu ý. Đó gọi là đại hải, làm đắm chìm tất cả thế gian Thiên, nhân, A-tu-la. Nên biết: nhãn là đại hải, sắc là sóng cả, thọ sắc đây cho nên ngược dòng. Trong đó khởi cái thấy bất thiện là rồng cá dư, khởi tâm đố kỵ hại người là quỉ La-sát nam, khởi nhiễm ái là nữ quỉ, khởi thân khẩu ý là bị uống nước tự chìm. Đó gọi là ở nơi nhãn sắc vô tri mà sinh vô minh ái, ái sinh cho nên gọi là hành, hành sinh cho nên gọi là nghiệp. Nghiệp trói buộc thức nhập trung ấm, đó gọi là thức sinh, thọ trong bào thai. Ngu bào chưa thành, gọi là danh sắc sinh. Ngũ bào thành rồi, gọi là lục nhập sinh. Lục nhập chưa có thể phân biệt khổ lạc gọi là xúc sinh. Phân biệt khổ lạc, gọi là thọ sinh. Đối với trần khởi nhiễm, gọi là ái sinh. Rong ruổi tìm cầu khắp bốn phương, gọi là thủ sinh. Tạo thân khẩu ý gọi là hữu sinh. Ứng thọ ngũ ấm đời vị lai, gọi là sinh sinh. Ngũ ấm đời vị lai biến đổi, gọi là lão sinh. Ngũ ấm đời vị lai hoại, gọi là tử sinh. Trong lòng chất chứa sầu lo, gọi là ưu sinh. Cất tiếng thương khóc kêu la, gọi là bi sinh. Thân tâm khốn khổ động lòng, gọi là khổ não sinh. Đó gọi là khi nhãn thấy sắc tức có tụ khổ lớn ba đời mười hai nhân duyên , chẳng phải bất sinh. Mắt, tai mũi, lưỡi, thân, ý, nhãn giới… cho đến pháp giới, cũng đều như thế, đó gọi là Nhập giới sinh chẳng phải bất sinh.

Thế nào là không sinh (bất sinh)? Khi quán mắt và sắc, không gieo hạt giống khổ (vào thức) thì mầm mống khổ không sinh. Không bừa bãi phóng uế thì ruồi nhặng không bu. Nếu cái hạt giống không sinh, thì mầm không sinh. Như mùi xú uế đã không sinh, thì ruồi nhặng cũng không sinh được, cho nên, gọi là Không sinh.

Thế nào là hạt giống khổ? Khi mắt thấy sắc khởi lên các tâm ham thích, hay giận dữ đó là hạt giống khổ. Nhớ pháp ngũ dục, tức sinh mầm khổ. Sáu căn nắm bắt sáu trần, đó là nơi tuôn ra xú uế. Trong sáu trần các niệm thiện ác đua nhau khởi, ví như ruồi nhặng. Nếu biết mắt và sắc đều là vô thường, khổ, không, vô ngã thì không sinh cái tâm ham thích, không khởi niệm dục, dựa lấy cảnh mà không sinh tâm thiện ác, thì hành (nghiệp) cũng không sinh. Tai mũi lưỡi thân ý cũng như vậy. Chính nhãn giới cho đến pháp giới cũng như vậy. A-nhã trước tiên đã chứng đắc Bất sinh trí theo nghĩa của Tam tạng giáo này, nên gọi là Anhã Kiều-trần-như. Thông giáo quán vô sinh: Thì như người huyễn cầm gương huyễn, lấy sáu phần huyễn soi gương huyễn thấy bóng huyễn. Bóng chẳng phải do gương sinh, chẳng phải do mặt sinh, chẳng phải gương mặt hợp lại sinh, chẳng phải lìa gương và mặt mà sinh. Đã không phải từ bốn câu ấy thì chẳng phải ở trong, ở ngoài, ở giữa, chẳng thường tự có cũng không có chổ diệt, đi không tới Đông Tây Nam Bắc. Tánh vốn không sinh; chẳng phải diệt sinh mới là không sinh. Tánh vốn không diệt, chẳng phải diệt diệt mới là không diệt. Không sinh không diệt, cho nên gọi là Vô sinh. Thọ tưởng hành thức cũng lại như vậy. Lại, quán huyễn sắc như bóng huyễn trong gương huyễn, quán thọ như bọt nước, quán tưởng như lửa bốc cháy, quán hành như cây chuối, quán thức như huyễn. Mà huyễn không từ vật huyễn sinh, không từ thầy huyễn sinh, không phải vật và thầy hợp lại mà sinh, không phải lìa thầy và vật mà sinh. Bốn câu cầu huyễn sinh, sinh không từ đâu đến. Bốn phương cầu huyễn diệt, diệt không có chỗ đi. Tánh vốn không sinh, chẳng phải diệt sinh mới là không sinh. Tánh vốn không diệt, chẳng phải diệt diệt mới là không diệt. Không sinh không diệt, cho nên gọi không sinh. Quán căn trần như làng xóm, là chỗ ở của giặc kết sử, từ trước đến nay mỗi mỗi không thật, vì vọng tưởng mà khởi, nghiệp lực căn cơ dàn xếp giả làm không tụ. Vô minh thể tánh vốn tự không có, do vọng tưởng nhân duyên hòa hợp mà có. Có vốn tự không có, do nhân duyên mà thành. Nghiệp khổ phiền não như quay vòng lửa. Quán phiền não kia vốn không có, đều như trên nói, đây là ý của Thông giáo…

(Phần Hạ)

Biệt giáo quán vô sinh trí: Gương ví như pháp giới, mắt ví như trí quán, xanh vàng đỏ trắng lớn nhỏ dài ngắn ví như mười pháp giới. Xanh ví như nhân quả địa ngục, vàng như nhân quả ngạ quỷ, đỏ như nhân quả súc sinh, trắng như nhân quả nhân thiên. Sắc tượng nhỏ ví như nhân quả Nhị thừa, sắc tượng lớn ví nhân quả Thông giáo Bồ-tát, sắc tượng ngắn ví nhân quả Biệt giáo Bồ-tát, sắc tượng dài ví nhân quả Phật, đều ở trong gương phân biệt không sai. Nếu muốn tự chánh thì khiến chín nhân quả không sinh, một nhân quả sinh. Nếu muốn chánh tha thì khiến họ chín nhân quả không sinh, một nhân quả sinh. Y pháp giới hành Bồ-tát hạnh, theo thứ tự dùng chiết Thể quán trí, đoạn Tứ trụ sinh, khiến cho không sinh. Tiếp đến, dùng Hằng sa Phật pháp đoạn dứt khách trần phiền não, khiến vô tri không sinh. Sau dùng trí tuệ thật tướng đoạn vô minh, khiến căn bản phiền não không sinh. Nếu không có Tứ trụ thì Phần đoạn không sinh. Nếu không có vô tri, thì phương tiện không sinh. Nếu không có vô minh, thì thật báo không sinh, sinh cũng bất sinh, bất sinh cũng bất sinh, cho nên gọi bất sinh. Đó gọi là Biệt giáo vô sinh trí.

Căn cứ Viên giáo quán vô sinh trí: Quán gương tròn đầy không quán mặt trái, không quán bóng trong gương, chẳng trái chẳng tối chẳng mặt chẳng sáng, không chấp các thứ hình dáng, không chấp các thứ đài gương, chỉ quán tròn đầy, không có bờ mé không đầu đuôi, không sáng tối, không đồng khác sai biệt. Dụ cho đối với Viên quán không chấp tướng mạo của mười pháp giới, không thiện ác không tà chánh, không lớn nhỏ… tất cả đều tiêu diệt, chỉ duyên thật tướng của các pháp, pháp tánh Phật pháp, hoặc sắc hoặc hương đều là thật tướng. Quán phiền não nghiệp sinh tức vô sinh, vô sinh bất sinh cho nên gọi vô sinh. Ấm nhập giới khổ tức là pháp thân, không phải hiển hiện cho nên gọi là pháp thân. Chướng tức là pháp thân, tham sân si tức là Bát-nhã. Chẳng năng sáng tỏ cho nên gọi là Bát-nhã. Vô sở khả chiếu, tánh tự rõ ràng, nghiệp hành trói buộc đều gọi là giải thoát. Chẳng phải đoạn trói buộc thì mới được giải thoát, cũng không có cái thể đáng để trói buộc, cũng không có khả năng trói buộc nên gọi là giải thoát. Giải thoát tức nghiệp bất sinh, Bát-nhã tức phiền não bất sinh, pháp thân tức khổ bất sinh, Đó là ba bất sinh tức một bất sinh, một bất sinh ấy tức là ba bất sinh, chẳng phải ba chẳng phải một cho nên nói bất sinh, huống chi biến dịch phiền não nghiệp khổ mà chẳng phải bất sinh ư! Đây là Viên giáo quán vô sinh trí.

Bổn tích: Kiều-trần-như vốn tự không sinh, chẳng phải ban đầu không sinh, muốn làm cho Sửa thành Lạc, cho nên Tích là sơ giáo bất sinh. Làm cho Lạc thành Sinh tô cho nên Tích là Thông giáo bất sinh. Làm cho Sinh tô thành Thục tô, cho nên Tích là Biệt giáo bất sinh. Làm cho Thục tô thành Đề hồ, cho nên Tích là Viên giáo bất sinh. Nhưng Bản địa kia trú nơi pháp môn chữ A (không), nghĩa là tất cả pháp ban đầu không sinh. Nếu nghe pháp môn chữ A, thì hiểu tất cả nghĩa đều chẳng sinh chẳng bất sinh. Thị hiện Tích dẫn hóa có thể là sinh bất sinh. Chúng sinh nếu có thể hội nhập bất sinh theo nghĩa của Viên giáo thì đồng với A-nhã. Chẳng Bản chẳng Tích chẳng sinh chẳng bất sinh, tức Đại sự nhân duyên đối với đây đã xong. Cho nên đoạn văn dưới nói: Phú-lâu-na biến hóa bao nhiêu việc, nếu ta nói đầy đủ thì e rằng chúng sinh nghe sẽ sinh tâm nghi ngờ, tức nghĩa này vậy. Kinh A-hàm nói: Anan cầm lồng đèn đi sau Phật, Đại Phạm vương cầm lồng đèn theo sau Kiều-trần-như. Đây đều là bày Tích mà muốn hiển Bản. Quán tâm bất sinh, là căn cứ vào tam quán thì có thể biết bất sinh, đây không phiền nói nhiều.

“Ma-ha Ca-Diếp”: Trung hoa dịch là Đại Quy Thị, do tổ tiên học đạo, gặp con linh qui đội bản đồ Tiên mà ứng. Theo đức mạng đó nên lập họ là Quy. Chân Đế Tam Tạng dịch là Quang Ba, là vị Cổ tiên do thân ngài có ánh sáng hơn các ánh sáng khác, che phủ khiến các ánh sáng khác không hiện rõ, cho nên gọi là Quang Ba, cũng dịch là Ẩm Quang. Ca-Diếp thân sáng.

Có thể chiếu sáng các vật, gọi là Tất-bát-ba-la-diên, hoặc Thềtỳ-lê, là cây Tất-bát-la vậy. Cha mẹ cầu đảo ở Thần cây mà sinh được ngài, nên lấy tên cây để đặt tên ngài, Bạt-kỳ Tử sinh nơi tụ lạc này nên lấy làm hiệu. Ngài con nhà giàu có. Kinh Tăng Nhất A-hàm nói: Ngài là con vị trưởng giả giàu có ở thành Vương xá tên Ca-tỳ-la, vợ tên Đàn-na con tên Tất-bát-la con vợ tên Bà-đà, gia đình ngài giàu gấp đôi vua Bình Sa Vương, mười sáu nước lớn không cùng làm láng giềng. Phó Pháp Tạng nói: Sau khi đức Phật Tỳ-bà-thi điệt độ, tháp tượng sắc vàng bị hư hoại, lúc ấy có người con gái nghèo xin được vàng ngọc cùng ngài tu sửa phết vàng lên tượng, ngài rất hoan hỷ tu sửa tượng rất sáng, sửa xong ngài phát thệ nguyện cùng làm phu phụ. Trong chín mươi mốt kiếp ở cõi Trời cõi người, thân thường có sắc vàng, tâm thường thọ lạc. Kiếp cuối ngài thác sinh vào gia đình bà-la-môn Ni-câu-luật ở nước Ma-kiệt-đà, sợ hơn vua thì phạm tội nên ngài giảm bớt một phần ruộng cày chỉ dùng chín trăm chín mươi chín cặp trâu và vàng thôi! Lại Kinh dạy: Nhà có phẩm vật rất nhiều chồng chất lên nhau cho đến giá trị trăm ngàn lượng vàng, dùng đinh đóng vào đất bảy thước vẫn không xuyên thủng phá được, vẫn như cũ không khác, sáu mươi kho vàng lúa, một kho chứa ba trăm bốn mươi hộc, loại kho chứa tiền và lúa. Lại kinh chép rằng: Lấy lúa cúng dường Bích-chi-phật. Nhọc nhằn vượt qua cõi Đao-lợi, rồi một ngàn phen trở lại tọa lạc, thân có ba tướng. Nói rõ về sắc, vàng như loại Diêm-phu-na-đà, ở đáy nước đục vẫn sáng thấu lên mặt nước, ở trong tối, bóng tối không còn. Ngài Ca-diếp thân sáng hơn cả vàng này, thân sáng chói đến một do tuần, ngài chỉ thiếu hai tướng so với Phật là không có bạch hào và nhục kế, cho nên khi chư thiên thỉnh ngài kết tập kinh điển có tán thán rằng: “Tuổi cao dục nhuế mạn đã trừ, hình dáng ngài như trụ vàng tía, toàn thân trang nghiêm vi diệu không sánh kịp, mắt trong sáng như hoa sen, đem của cải hiến dâng, xả bỏ gia nghiệp dục vọng mà xuất gia, thân mặc y báu vô giá cắt làm Tăng-giàlê để chồng bốn lớp làm tòa dâng Phật”. Như vậy ba phen xả bỏ thế tục, không ai sánh kịp, đó là “xả đại”, ở nơi tụ lạc Bạt-kỳ gặp Phật cúng y báu, Phật trao cho y phấn tảo làm đại y, y này là đại y của đại thánh, lại không thô nặng nên Ca-diếp nói: Ta thọ nhận y của Phật, tưởng y như thầy như tháp, chưa từng gối đầu huống chi đắp nằm. Đại y ấy khiến cho ta tinh tấn tu hành, cho nên nói “thọ đại”. Trong hàng đệ tử Phật nhiều tên Ca-diếp như ba ngài Thập Lực Ca-diếp… đều là bậc đại nhân, tuy đồng tên nhưng ngài là vị lớn nhất cho nên gọi là Đại Ca-diếp. Ở tụ lạc Bạt-kỳ ban đầu từ Phật nghe tăng thượng giới định tuệ liền đắc vô lậu, thọ pháp khất thực theo hạnh Đầu-đà suốt mười hai năm, đến già cũng không bỏ. Về sau Phật dạy ông tuổi đã cao, có thể xả hạnh khất thực trở về với chúng để thọ thực, có thể xả thô y nặng phấn tảo mà thọ y hoại sắc nhẹ của cư sĩ cúng! Ca-diếp bạch Phật: Phật không xuất thế con sẽ làm Bích-chi-phật, thệ trọn đời hành khổ hạnh đầu đà, con nay không dám buông bỏ sự tu tập lại học theo thứ khác, lại muốn làm sáng tỏ đời sau, đời vị lai sẽ nói: “Thượng tọa Ca-diếp được Phật ngợi khen, chúng ta cũng học hành khổ hạnh khó làm”. Nghe xong Phật nói: “Lành thay! đó là hạnh lớn”. Kinh Tăng Nhất A-hàm nói: “Trong pháp của Phật, hành mười hai pháp Đầu-đà là khổ hạnh khó hành”. Đại Ca diếp là vị thực hành đệ nhất. Ngài tu hạnh này đã lâu, râu tóc không cạo, y phục rách cũ xấu, ngài đi đến chỗ Phật thì các Tỳ-kheo thấy vậy liền khởi tâm kiêu mạn, đức Phật bảo ngài đến chia nửa tòa cùng ngồi. Ca-diếp không dám ngồi. Phật dạy: “Ta có Tứ thiền, thiền định hơi thở, tâm từ đầu đến cuối không có hao tổn, Ca-diếp cũng như vậy. Ta có đại từ bi nhân đức bao trùm tất cả, ông cũng như vậy thể tánh cũng từ bi, ta có đại bi cứu độ chúng sinh ông cũng như vậy. Ta có Tứ thiền Tammuội: l. Vô hình. 2. Vô lượng ý. 3. Thanh tịnh tích. 4. Bất thoái chuyển, thì ông cũng như vậy. Ta có lục thông, ông cũng như vậy. Ta có Tứ định:

l. Thiền định. 2. Trí định. 3. Tuệ định. 4. Giới định, thì ông cũng như vậy”. Kinh Tăng Nhất A-hàm nói: Có Bà-la-môn bạch Phật: Hôm qua có Bà-la-môn đến nhà con, là người nào? Phật chỉ Ca-diếp. Người đó nói: “Đây là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn”. Phật dạy: “Pháp luật Sa-môn, pháp luật Bà-la-môn ta đều biết, Ca-diếp cũng như vậy”. Công đức của Ca-diếp cùng đồng ta không khác, vì sao không ngồi? Các Tỳ-kheo nghe Phật khen ngợi Ca-diếp thì tâm sợ hãi, lông tóc dựng đứng. Phật dẫn chứng nhân duyên: Xưa có vị Thánh vương hiệu là Văn-đà-kiệt, tài cao tuyệt đỉnh, Thiên đế tôn kính tài đức của ngài liền sai ngàn ngựa xe lập thành cổng chào nghênh đón, vua Thiên đế cùng quần thần mời Thánh vương ngồi chung một tòa, chung vui xong rồi tiễn vua trở về hoàng cung. Xưa Ca-diếp dùng tòa sinh tử ngồi chung với ta, nay ta thành Phật dùng tòa chánh pháp đáp lại công lao trước đây. Khi ngồi đối diện với Phật, hàng thiên nhân đều cho là thầy của Phật. Lại Ca-diếp cùng A-nan thường thuyết pháp cho Tỳ-kheo-ni, có một Tỳkheo-ni không vui nói: “Như đứa trẻ con mua bán kim ở trước ông thầy châm cứu mà bán kim”. Ca-diếp bảo A-nan: “Tỳ-Kheo-ni này ví ông là thầy châm cứu, còn tôi là đứa trẻ bán kim.” Qua hai lời nói ấy, Phật bèn thuyết Kinh Nguyệt Dụ rằng: ngày ngày thường tăng tiến như người mới học chỉ có Đại Ca-diếp, ông nghe không? Ở trong Đại chúng được chia nửa tòa, ông nghe không? Ở trong Đại chúng được tán thán công đức rộng lớn đồng Phật, ông nghe không! Tại sao người ấy lại là trẻ con bán kim? Người ấy bị vu khống bị Phật quở trách. Vị đại: Ở trong Đại chúng gọi là Đại, đối trong một ngàn hai trăm năm mươi người gọi là Đại, ở trong năm trăm người gọi là Đại, trong bốn đại đệ tử gọi là Đại, làm chủ ngũ sơn tự, là vị Thượng tọa Tri sự ở cõi Diêm phù đề cho nên nói “vị đại”. Sau khi đức Phật thiêu thân thành tro than nơi ấy mọc lên bốn cây Bát-đa-la, đây là tiêu biểu ngài Ca-diếp kết tập ba tăng kỳ kiếp pháp, làm tam tạng tứ A-hàm.

Trong bài tựa của ngài Tăng Triệu có viết: “Cái tông chỉ tuyệt đối rốt ráo mầu nhiệm thật xứng ở nơi gọi là: Sự vắng lặng vượt khỏi ngôn ngữ, không thể truyền đạt, mà các Thánh hiền thường dùng. Đức Thích-ca dùng tông chỉ đó thiết lập giáo tột cùng, ngăn phòng thân khẩu nghiệp chế ra giới luật, phân rõ thiện ác mà dẫn dắt chúng sinh thâm nhập khế kinh, diễn bày đạo lý u huyền, biện minh mà dùng pháp tướng”. Đây tức nói rõ Tam tạng Giới, Định, Tuệ vậy. Kinh Tăng Nhất nói rõ nhân quả nhân thiên, kinh Trường A-hàm phá tà kiến, kinh Trung A-hàm nêu rõ nghĩa sâu mầu, kinh Tạp A-hàm nói rõ thiền định, đều do công của Đại Ca-diếp. Nếu luận riêng về sự kết tập thì A-nan tụng Tu- đa-la, Ưu-ba-ly tụng Tỳ-Ni, Ca-diếp tụng A-tỳ-đàm, nên gọi là Đại kết tập vậy. Sau khi Như Lai diệt độ truyền pháp lại cho Ca-diếp, vì ngài có thể vì tất cả chúng sinh làm chỗ nương cũng như Như Lai. Vì sao vậy? Phật dạy: Vì nếu có người hành khổ hạnh Đầu-đà thì pháp của ta còn tồn tại, Ca-diếp có khả năng gánh vác Phật pháp khiến cho giáo pháp tồn tại lâu dài, cho đến khi trao truyền y pháp cho Phật vị lai rồi mới nhập diệt nên nói là trì pháp đại. Ca-diếp đem tóc Phật bí mật lên cõi trời lễ Phật vì chư thiên thuyết pháp rằng: “Làm thiện sinh lên cõi trời, làm ác bị đắm chìm trong cõi dục, vô thường như sương đọng trên hoa gặp ánh nắng mặt trời thì tan biến”. Thuyết xong rồi bỏ đi. Chư thiên khóc lóc than rằng: “Đường nhỏ ngõ cùng toàn đau khổ nguy hiểm, gầy yếu nghèo khốn cô độc, mong hằng thương xót. Nay ngài diệt độ thì ai bảo hộ che chở?”

Căn cứ Giáo, giải thích Đẩu tẩu: Đẩu tẩu là rũ sạch mười hai lỗi như: Cầu mong y tốt thì khổ, được nhiều thì sợ, bị mất thì lo buồn. Y phấn tảo thì không bị năm thứ sợ: nước, lửa, đạo, tặc, vương nạn. Nếu cất chứa nhiều, thì may vá, giặt, cất cũng nhọc công nhiều, cho nên chỉ có ba y. Nếu dùng bữa ăn trong Tăng chúng, phải mưu tìm công việc giúp Tăng cho nên chỉ khất thực, nếu ăn dư, ăn vặt là làm nhiễu động mất thời gian tu tập cho nên chỉ ăn một bữa. Không nên ăn nhiều bởi vì ăn nhiều thì khó tiêu sinh buồn ngủ biếng nhác, ăn ít thì sợ thiếu đói, không đủ sức tu hành, cho nên phải ăn vừa lượng. Lại dùng nhiều bát thì chỉ vướng bận rửa ráy gìn giữ cho nên chỉ dùng một bát. Các loại nước uống phải làm lụng cực nhọc mới có, nên không được uống nhiều.

Ở nơi phòng xá thì dễ sinh tâm nhiễm đắm nên phải ở dưới gốc cây. Ở dưới gốc cây ở cũng sinh lòng bảo thủ tham đắm,cho nên phải ở nơi gò mả. Ở nơi gò mả dễ sinh lòng thương xót buồn rầu, nên phải ở nơi đất trống. Nếu nằm thì tiêu hao công đức, tăng trưởng lười biếng, cho nên phải thường ngồi. Hai điều nói cách dùng y, sáu điều nói cách ăn uống, bốn điều nói về chỗ ở. Nay chỉ ước lược pháp khất thực để làm rõ hạnh Đầu-đà. Khi khất thực được dễ dàng thì sinh tâm vui, gặp khó khăn thì sinh giận, được tốt thì đắm, xấu thì buồn, vui buồn khởi lên sắc tướng tức sắc ấm, thọ sự vui buồn này tức thọ ấm, chấp chọn tướng vui buồn tức tưởng ấm, lo buồn có được tức là hành ấm, phân biệt vui buồn tức thức ấm. Vui buồn tức ý và pháp, là hai Nhập trong tam giới. Giới nhập ấm tức Khổ đế. Ta năng khất thực là chấp hữu ngã hay vô ngã, lấy khất làm đạo hay lấy khất làm thật? Suy xét như vậy thì sẽ: khen thì mừng, chê thì giận, ta năng bị quở trách tức nghi, không hiểu biết rõ là si, là bị mười sử, bốn đế trải qua ba cõi tức tám mươi tám sử gọi là Tập đế. Nếu biết bốn tướng điên đảo trong khất thực thì tương tự tương tục vì bị ngăn che nên gọi “thường”, thích ý gọi là “lạc”, động chuyển tạo tác che lấp cho nên gọi là “ngã”, da mỏng che lấp gọi là “tịnh”. Biết bốn thứ che lấp không có bốn thứ điên đảo, siêng năng ngăn ngừa hai điều ác sinh hai điều thiện, tu Tứ định căn lực, giác đạo là Đạo đế. Trong pháp khất thực, không chấp ngã thì diệt được si, si diệt nên ái diệt, ái diệt nên sân diệt. Sân diệt nên không còn kiêu ngạo thì mạn diệt, cho nên bị quở trách thì không còn nghi.Không còn ngã, cho nên ngã kiến diệt, ngã kiến diệt nên biên kiến diệt, không chấp là đạo thì giới thủ diệt, không chấp là thật nên kiến thủ diệt, không tà chấp nên tà kiến diệt. Diệt được mười thứ này thì tám mươi tám sử diệt, tám mươi tám sử diệt nên tử phược diệt. Tử phược diệt, nên quả phược diệt. Quả phước diệt nên hai mươi lăm hữu diệt. Đó gọi là Diệt đế. Nếu trong pháp khất thực mà không thấy bốn chân đế, thì sẽ bị xoay chuyển trong biển khổ của vòng sinh tử, Nếu có thể thấy bốn chân đế, thì đoạn sinh tư. Sinh tử đã tận rồi thì không còn thọ các hữu, đó gọi là quán tuệ trong pháp khất thực đẩu tẩu. Y pháp trụ xứ pháp cũng lại như vậy. Đó gọi là Tam tạng Đầu-đà.

Thông giáo Đẩu-tẩu: Duyên chân chứng tịch thì gọi là trú xứ, Không tuệ làm thức ăn, Không tâm hành các hạnh làm y phục. Thường tánh Không, khi đều là tánh không thì Không tuệ đẩu tẩu đều như huyễn hóa. Vọng tưởng các ác, tịch diệt không khởi, nên tâm sở tâm pháp không hành vì bất khả đắc. Cho nên trong các thứ tương ưng thì Không tương ưng là đệ nhất, trong các khổ hạnh thì hạnh Không là đệ nhất, trong các đẩu tẩu thì không tuệ đẩu tẩu là đệ nhất. Đó là tóm lược xong phần giải thích hạnh Đẩu tẩu theo Thông giáo.

Biệt Bản giáo đẩu tẩu: Y nơi pháp thân lấy đó làm trú xứ, dùng trí tuệ Bát-nhã làm thức ăn, lấy tất cả hạnh trang nghiêm làm che chở (y phục) để ngăn các ác khổ hắc nghiệp. Bát-nhã Đẩu tẩu rũ bỏ các phiền não ác. Pháp thân Đẩu-tẩu rũ bỏ Khổ ác sinh tử. Hạnh đẩu tẩu trước rũ bỏ Khổ phiền não phàn đoạn. Đẩu-tẩu tiếp theo rũ sạch nghiệp Khổ phiền não biến dịch. Đây là hành Đẩu-tẩu theo Chánh quán Trung đạo, vượt qua sự hành trì Khổ hạnh của Nhị thừa v.v…

Viên giáo Đẩu-tẩu: Nơi ở, y áo, thức ăn chỉ là một pháp mà phân biệt nói thành ba. Một Đẩu tẩu là hết thẩy Đẩu tẩu. Hết thảy Đẩu-tẩu là một Đẩu-tẩu. Không phải hết thảy cũng không phải một. Tất cả Đẩu tẩu, không tướng nào không phải Thực tướng. Chư Phật sở hành là hạnh của Như Lai các , vượt qua các thanh tịnh của Bồ-tát v.v…

Giải thích Đẩu-tẩu theo Bản tích: Bản: vốn cùng Như Lai đồng tòa rốt ráo lý Không, đồng đắc pháp thân rộng lớn, đồng đắc trí tuệ vô ngại, đồng đắc vô lượng công đức, bên trong thì xả pháp ái, bên ngoài thì không cấu nhiễm, trong ngoài Đẩu-tẩu vốn đã thanh tịnh. Tích: muốn dẫn vị Sữa, là Đẩu tẩu trong sự. Tiếp theo, dẫn vị Lạc, là Đẩu-tẩu trong Không. Tiếp theo, dẫn Sinh-tô là Đẩu-tẩu trong Biệt giáo. Tiếp theo, dẫn Thục-tô Đẩu-tẩu trong Viên giáo.

Giải thích Đẩu-tẩu theo Quán tâm: Tức Không Đẩu-tẩu rũ sạch chấp tướng. Tức Giả Đẩu-tẩu là rũ sạch Trần sa hoặc,tức Trung Đẩutẩu là rũ sạch Vô minh hoặc. Nhất tâm Trung quán thì Đẩu–tẩu là rũ sạch Năm trụ.

“Ba anh em ngài Ca-diếp”: Ca-diếp như trước giải thích; Ưu-lâutần-loa, cũng gọi Ưu-lâu-tỳ, cũng là Ưu Vi, Trung hoa dịch là Một-qua Lâm. Na-đề Ca-diếp Tàu dịch Hà, cũng gọi là giang. Gia-da Ca-diếp cũng gọi Kiết Di, cũng gọi là Tượng. Nhà ở phía Nam thành Vương xá cách bảy dặm. Vào thời Phật Tỳ-bà-thi, ba người cùng là cột trụ của Phật pháp. Khi chưa xuất gia kết nghĩa thành anh em. Người anh là thầy của Bình Sa Vương, có năm trăm đệ tử và hai người em, mỗi người đều có hai trăm năm mươi đệ tử cùng thực hành theo pháp thuật của người anh. Phật vì thu phục ba người, mà thị hiện mười phép biến hóa: Không trúng độc của rồng, rồng phun lửa mà không bị cháy, nước biển Hằng không làm chìm, ba phương hái quả, phương bắc lấy lúa tám cánh, lên cung trời Đao-lợi lấy nước cam lồ, biết các nghi về quá khứ, biết suy nghĩ trong hiện tại và vị lai, lửa đốt không cháy, nhấc búa lên mà không hạ xuống. Phật còn thị hiện thêm các điềm lành, tuy nhiên vẫn còn tà chấp không đổi. Còn nói: “Đức Cù-đàm tuy có thần thông quảng đại nhưng không bằng Chân đạo của tôi. Phật liền bảo: “Ngươi không đắc đạo, ngươi chưa phải A-la-hán.” Nói xong thì người anh cùng đệ tử hóat nhiên khai ngộ, qui phục theo Phật. Hai em thấy vậy cũng đều quy y theo Phật, hợp thành một ngàn Tỳ-Khưu.

Căn cứ về giáo: Như Kinh Tăng Nhất A-hàm nói: Ưu-lưu-tỳ có thể ủng hộ tứ chúng, cung cấp tứ sự khiến không còn nghèo thiếu, là hộ trì chúng bậc nhất. Na-đề Tỳ-kheo tâm ý vắng lặng, hàng phục các kết, là tinh tấn bậc nhất, Gia-gia Tỳ-kheo quán rõ các pháp đều không còn chỗ đắm trước, là bậc khéo giáo hóa bậc nhất. Đó là là trong thời giáo pháp của Phật như vị lạc. Nếu chuyển nhập vào Sinh-tô tức nên thẹn với Tiểu thừa mà hâm mộ Đại thừa, so sánh có thể biết. Nếu chuyển Nhập Thục-tô thì nên theo nghiệp lãnh thọ giáo. Nếu chuyển nhập Đềhồ thì như trong kinh này, được thọ ký làm Phật.

Bản tích: Trụ nơi ba đức. Lâm tức Bát-nhã, Thành tức Pháp thân, Thủy tức Giải thoát. Đó là bí mật Bản tạng. Tích thì nương theo Lâm Thành Thủy để độ chúng sinh.

Quán tâm: Chánh quán tâm tánh. Trung đạo bất động như bức thành ngăn chặn địch, không động mà động, như nước thanh tịnh các bên điên đảo, song chiếu khô tươi, như rừng cây sum xuê, ba pháp phụ giúp cho nhau tức như cây liền cành, như anh em vậy.

“Xá-Lợi-phất” gọi đủ là Xá-lợi-phất-la, Trung Hoa dịch là Thân tử, lại chữ “Xá Lợi” dịch là Châu. Mẹ ngài là người thông minh, đôi mắt sáng như ngọc, cho nên sinh ra ngài đặt là Châu Tử. Lại, “Xá-lợi” dịch là Thân, vì mẹ ngài hình thể rất đẹp, cho nên sinh ra ngài đặt là Thân Tử.Người thời đó gọi tên con hiển lộ mẹ nên lấy đó làm hiệu. Cha đặt tên Ưu-ba-đề-xá hoặc Ưu-ba-thế, Trung Hoa dịch Luận nghĩa tức luận về nghĩa là vợ, luận về tên là con, là nêu lên đức của người cha trong gia đình. Thích luận giải thích: Tên tôi là Đề-xá, theo tôi tức là Ưu-ba- đề-xá, Ưu-ba là theo, Đề-xá là tên tắt. Lại, “Xá” tiêu biểu cha, “Lợi” tiêu biểu mẹ, cha mẹ hiển bày nên gọi Xá-lợi-phất, “Phất” là con. Ngài dòng Bà-la-môn, họ Câu-tiêu-đà, Kinh Tăng Nhất nói: “Trong Phật pháp người có trí tuệ siêu việt, có khả năng giải quyết mọi nghi ngờ, thì Xá-lợi-phất là đệ nhất”. Kinh Bản Sinh nói việc xưa: Trong quá khứ cậu cháu ngài đều là thợ dệt vải biết kho báu của vua nên đào đất để trộm trân báu được rất nhiều, quan coi giữ bạch vua! Vua ra lệnh khi trộm kia tìm đến đây thì rình bắt. Người cháu sai cậu trở lại trộm tiếp, nên cậu bị bắt, cháu sợ mọi người biết bèn chặt đầu cậu. Vua sai đem tử thi cậu để ngã tư đường để dụ người thân. Sau nhân khách mua bán tụ tập đông đảo ồn ào, cháu chở hai xe củi che thi thể. Vua lại sai người canh giữ, nhân trẻ con đang ca hát múa xướng ném lửa vào thiêu đốt. Lại, đi đến quán rượu, người coi giữ đang say mèm, bèn lấy bình rượu đựng cốt cậu mà đi. Vua lo lắng sợ bọn xảo quyệt liền sai người nữ nghiêm phòng cẩn thận, ở bên bờ nước và căn dặn trước người nữ kia nếu có ai đến nắm chặt lấy mà kêu. Người cháu núp trong bộng cây nổi trên mặt nước. Người đề phòng cho là người, đến xem chỉ là bộng cây nên không canh giữ, nhiều ngày tiếp không phòng bị. Nhân đó người cháu đến được và thông dâm với nữ kia. Người nữ bèn giữ chặt lấy áo, người cháu trao cho cánh tay người chết. Người nữ kêu lớn thì chỉ giữ được cánh tay người chết. Người nữ sinh một đứa con trai đoan chánh, vua sai vú nuôi ẳm bỏ đi, nếu ai khóc thì bắt lấy kẻ đó. Liên tiếp mấy ngày liền đói khát mới lần đến dưới lò nướng bánh, người làm bánh cho ăn mà khóc, vua lại đuổi đi. Nhân ở quán rượu, người theo dõi đang say, người cháu bồng đứa trẻ mà đi qua nước khác. Bậc hiền ở nước ấy bàn mưu: nếu lấy con gái của Đại thần thì không sao. Đứa trẻ lớn lên và đặt tên tự là Nhi, lại cầu hôn con gái của quốc vương nước cũ, và được chấp thuận. Người cháu dùng năm trăm kỵ sĩ, mặc toàn một loại y phục để đi rước con dâu. Trông thấy của cải, nghi ngờ, nhà vua hỏi mới biết của cải trộm ngày xưa. Bèn tha: “Do sự gian trá của ngươi mà nay con của ngươi lấy được con gái của ta làm vợ” Người cháu tức là Xá-lợi-phất ngày nay, và Điều-Đạt là người cậu trước kia vậy.

Gá thai: Cha tên Ưu-bà-đề-xá học thông kinh sách, mình mặc giáp sắt đầu đội nón lửa, một mình đến thành Vương xá đánh trống thách đấu luận nghị, Quốc sư Đà-la tự biết thua kém, nên phong tước và gả con gái cho. Người vợ một hôm nằm mộng thấy người đội mão tướng soái tay cầm chày kim cang đập nát tất cả núi rồi sau đứng lên một hòn núi. Khi tỉnh dậy thân thể nặng nề liền hỏi chồng. Người chồng nói: “Nàng đã mang thai. Đứa trẻ sinh ra sẽ đả phá tất cả luận sư, chỉ thua một người và sẽ làm đệ tử người đó”. Người cậu tên Câu-si-la, luận thường hơn chị. Người chị đã mang thai “người trí” nên luận thắng em. Người em tự nghĩ: đây chẳng phải là sức của chị, quyết có người nào có trí tuệ hơn gá thác vào thai, ở trong thai còn như vậy huống chi khi sinh ra ư! Do đó người em gắng tìm tòi học khắp nơi đến nỗi không rảnh mà cắt móng tay, nên người đời ấy gọi ông là “Phạm chí móng tay dài”… Lúc ấy có hai con rồng Nan-đà, Bạt-nan-đà thường bảo vệ thành Vương xá, nước Ma-kiệt-đà, mưa thuận gió hòa nước không có năm đói, vua và thần dân thiết lập đại hội An Lạc Hạnh bài trí ba tòa cao: Vua, Thái tử và Luận sư. Bấy giờ Thân Tử chỉ mới tám tuổi, đến thẳng chỗ hội và hỏi: “Người ở ba tòa đủ chưa?” Mọi người đáp đủ. Liền vượt lên tòa luận nghị. Quần thần nho sĩ xấu hổ không dám đối mặt luận. Và nghĩ: “Nếu thắng đứa bé, chẳng vinh dự mà thua thì nhục nhã vô cùng. Nên nhờ người hầu chuyển lời hỏi đến Thân tử. Cậu bé đối đáp qua người đại diện chuyển lại. Tất cả cờ của các Luận chủ đều hạ xuống, không ai có thể đương đầu. Thế là, vua và thần dân hết sức ca tụng Thân tử và bảo: “Bậc trí tuệ ra đời, đất nước sẽ thái bình mãi mãi”. Năm lên mười sáu tuổi, ngài nghiên cứu tất cả các kinh sách cõi Diêm-phu-đề từ cổ chí kim, không việc gì mà không biết diễn xướng mầu nhiệm, Luận sự mười sáu nước không ai hơn ngài, là Đệ nhất luận nghị của Ngũ Thiên Trúc, hầu thầy Sa Nhiên Phạm chí, đạo thuật của thầy thì Thân tử đều đắc, thầy có hai trăm năm mươi đệ tử về sau đều theo Thân tử mà thành tựu. Sa Nhiên khi sắp chết vui mừng mà cười, Thân tử hỏi… Đáp: Thế tục không có con mắt, bị ái ân trói buộc, ta thấy vua nước Kim chết, phu nhân gieo mình vào lửa thiêu theo, nguyện đồng sinh một chỗ.” Nói xong thì mạng chung, về sau gặp được thương nhân nước Kim hỏi ra thì quả nhiên như vậy. Thân Tử hối hận chưa học hết, học thuật của thầy, mà thầy cũng không truyền trao pháp này cho. Vì ta chẳng phải là vua ấy. Vì thầy giấu vậy. Tự biết mình chưa thông đạt, lại cầu học pháp thù thắng mà không có thầy nào có khả năng chỉ dạy. Tuy không học được một pháp này, nhưng các pháp khác ngài đều thông suốt, là đệ nhất trong chúng ngoại đạo. Một hôm đang đi trên đường gặp ngài Ngạch Tỳ (Mã Thắng) oai nghi đàng hoàng, nhân hỏi về thầy và pháp của ngài Mã Thắng đáp rằng: “Các pháp đều từ duyên sinh vì vậy nên thuyết nhân duyên, các pháp cũng từ duyên diệt, thầy ta dạy như vậy.” Vừa nghe xong, Thân tử liền đắc quả Tu-đà-hoàn, và theo đến chỗ Phật, sau bảy ngày thì thông đạt hết thảy biển Phật pháp, và sau mười lăm ngày thì đắc A-la-hán. Ngày sau ngài làm Hòa thượng cho La-hầu-la, làm thầy của Kiều-phạm-ba-đề, trong chúng Thanh văn thì ngài là đệ tử đắc lực, bên phải của đức Phật. Điều-đạt phá tăng dẫn năm trăm Tỳ-kheo đi, chính Thân Tử giáo hóa họ quay trở về… Lao Độ Sai thách đấu phép lực với Ngài: Độ Sai hóa làm Quỷ Da-xoa, Thân-tử hóa làm Tỳ-Sa-môn thiên vương. Mỗi mỗi các phép đều thắng, Độ Sai phải hàng phục… Thiên vương, bao nhiêu việc đều vượt, Độ được hàng phục tất cả. Kinh A-hàm nói: Thân Tử như mẹ ruột của bốn chúng, Mục Liên như mẹ nuôi của bốn chúng… Kinh Trung A-hàm quyển hai nói: Có một vị Tỳ-kheo sống ở An cư, được xưng tụng là: Thán Mãn Từ Tử. Là người thiểu dục tri túc tinh tấn, ở chỗ vắng lặng, nhất tâm chánh niệm trí tuệ vô lậu, cũng hay xưng tụng thuyết những pháp này để khuyến tu. Lúc ấy Thân Tử nghe suy nghĩ ta làm thế nào để gặp được người này? Người ấy khi nào đến chỗ Phật? Có người mô tả hình tướng đẹp đẽ trang nghiêm của Mãn Từ Tử cho Thân tử biết. Sau ở rừng Anđà, Trung hoa gọi là Thắng lâm, gặp được Thân Tử bèn hỏi: Ở chỗ đức Cù Đàm tu phạm hạnh ư? Đáp: Như vậy!Lại hỏi: Vì giới định tu phạm hạnh ư? Đáp: Không. Lai hỏi: Vì tâm tịnh, kiến tịnh, độ nghi tịnh, tri đạo phi đạo tịnh, đạo tích tri kiến tịnh, đạo tích Trí Đoạn tịnh tu phạm hạnh ư? Đáp: Không. Lại hỏi: trước nói như vậy nay nói không, nghĩa ấy như thế nào? Đáp: Vì Vô dư Niết bàn cho nên tu phạm hạnh. Lại hỏi: Vì giới tịnh nên thiết lập Vô dư Niết bàn? Đáp: Không. Cho đến, hỏi: Vì đạo tích Trí Đoạn tịnh cho nên thiết lập Vô dư Niết bàn ư? Đáp: Không. Lại hỏi: nghĩa này như thế nào? Đáp: Nếu vì giới tịnh mà thiết lập Vô dư, thì đây lấy Hữu dư xưng là Vô dư, cho đến nếu vì đạo Trí Đoạn tịnh mà thiết lập Vô dư thì cũng lấy Hữu dư xưng Vô dư. Nếu lìa bảy thứ này thì hàng phàm phu sẽ Niết-bàn, phàm phu lìa bảy thứ này hay không lìa đều tùy theo giới tịnh cho đến tâm tịnh cho đến đạo tích Trí Đoạn tịnh. Nhân giả lắng nghe tôi thí dụ: Như vua Ba-tư-nặc muốn từ Câu-tát-la đến Bà-kê-đế, khoảng giữa bày biện bảy chiếc xe, vua bỏ xe đầu đi thứ hai, cho đến bỏ xe thứ sáu đi xe thứ bảy. Người Ba-kê-đế hỏi: vua đi xe đầu ư? Đáp: Không. Cho đến hỏi: đi xe thứ bảy ư? Đáp: Không. Hỏi lìa bỏ bảy xe này ư? Đáp: Không. Bảy xe này dụ cho nghĩa trên, có thể biết. Thân Tử hỏi Hiền giả tên gì? Người phạm hạnh gọi ông là gì? Đáp: Cha ta tên Mãn, mẹ ta tên Từ, người phạm hạnh gọi ta là Mãn Từ Tử. Thân Tử khen: “Lành thay! Mãn Từ Tử làm đệ tử của Như Lai, trí tuệ biện tài thông minh, quyết định an ổn vô úy, được đại biện tài đắc cam lộ vị, và tự tác chứng. Rát lợi ích được gặp ông, các người phạm hạnh sẽ y chỉ kính trọng ông. Mãn Từ Tử hỏi: Hiền giả tên gì? Người phạm hạnh gọi ông như thế nào. Đáp: cha tôi tên Ưu-ba-đềxá, mẹ tôi tên Xá-lợi cho nên gọi tôi là Xá-lợi Tử. Mãn Từ Tử liền tự trách: Ôi! Tôi nay bàn luận với đệ tử của Thế Tôn, với đức Thế Tôn thứ hai, với vị đại tướng trong Phật pháp, với một vị đệ tử chuyển lại pháp luân… mà không hay biết! Nếu biết trước thì đến một câu cũng không thể đối đáp, huống hồ bàn luận sâu xa…! Lành thay! Đệ tử của Như Lai khiến mọi người đều tôn kính!

Đức Phật thuyết một câu, Thân Tử lấy một câu làm căn bản, bảy ngày bảy đêm làm thành tiếng Sư tử hống, luận ra câu đặc biệt, ý vị kỳ lạ đến vô cùng tận. Huống chi Phật thuyết nhiều mà Thân Tử thì trí tuệ biện tài đâu có thể nói hết được! Kinh Trung A-hàm quyển hai mươi nói: Lúc đức Phật ở ao A-nậu-đạt, Long vương nói:“Trong chúng đây không thấy Xá-lợi-phất, xin Thế Tôn mời đến cho”. Đức Phật sai Mụckiền-liên đến tinh xá Kỳ Hoàn gọi Thân Tử, gặp lúc Thân Tử đang may vá y ngũ nạp, nên đáp rằng: “Ngài đi trước, tôi sẽ đến sau”. Mục-liên nói: “Đức Phật dạy tôi đến nói ông đi tại sao lại bảo tôi đi trước?”. Mục-liên lấy tay đụng vào y, y liền may xong. Thân Tử nghĩ: “Mục Liên đùa giỡn, thử sức mình, thì mình cũng thử lại xem”, liền lấy dây áo ném xuống đất nói: “Ông có thể nâng y này lên được không?” Mụcliên nghĩ Thân Tử đùa thử ta, liền gắng sức lấy lên mà không được. Khi ấy Thân Tử lấy dây buộc vào cây Diêm-phù làm chuyển động một thiên hạ, buộc lần thứ hai, ba, bốn, làm chuyển động tứ thiên hạ không đứng vững, lại buộc vào tiểu thiên trung thiên đại thiên cũng không đứng vững, lại buộc dưới chân tòa của cõi Phật khác, mười phương thế giới Phật đều rung rung mà không động. Mục-liên tự nghĩ ta thần lực đệ nhất, nay không thể động, vả lại không mất thần lực, Mục-liên thúc giục khiến đi, Thân Tử đáp: Ông đi trước, Mục-liên trở về chỗ Phật thì thấy Thân Tử ở trước Phật. Long vương thấy đất động hỏi Phật, Phật đáp do thần lực của hai người ấy, Long vương và năm trăm Tỳ-kheo sinh tâm coi thường đối với Mục-liên. Phật dạy: Xá-lợi-phất, đối với bốn thứ thần thông được tự tại, Mục-liên cũng tự tại mà không thể sánh bằng Phật lực đó thôi! Phật bảo: Mục-liên! Ông hiện thần lực đi! Mụcliên dùng bát đựng đầy năm trăm Tỳ-kheo nâng lên đặt trước Phạm cung, một chân đạp nhẹ lên núi Tu di, một chân đến Phạm cung, thân ở cõi kia mà thuyết kệ, khắp cả ngàn nước. Năm trăm Tỳ-kheo lại sinh tâm kính phục…

Ước về giáo: Nếu căn cứ Tam tạng thì trí tuệ tức là vô học thập trí đoạn kết chứng chân, phụ giúp Phật trong việc tuyên dương giáo hóa. Thích Luận quyển thứ bốn mươi nói: “Ngài Mục-liên là vị đại tướng bên cánh tay mặt của Phật tức nghĩa trên vậy. Theo Thông giáo thì Trí tuệ là như trong Bát-nhã tự thuyết để trở thành Ma-ha-tát, nghĩa là ngã kiến, chúng sinh kiến, Phật kiến, Bồ đề kiến, chuyển pháp luân kiến, phá tất cả các kiến này thì gọi là Ma-ha-tát. Các Hiền Thánh tự thuyết là pháp của mình, không như người bây giờ vọng có sở thuyết. Phải biết: Thântử chẳng những phá kiến sinh tử mà còn phá Phật kiến,Bồ-đề Pháp luân Niết-bàn kiến. Trí tuệ đây khác với sơ giáo. Theo Biệt giáo thì trí tuệ là: Nếu căn cứ ngũ vị để phân biệt, nếu từ nguyên sơ chỉ nghe giáo có vị Sữa, vị Lạc mà không nghe giáo các vị khác, rồi phát tâm tu hành chỉ hành theo giáo Sữa Lạc, đây là Trí tuệ theo sơ giáo. Nếu chỉ nghe Lạc, Lạc không do từ Sữa, tánh của thiện ác tánh vốn tự không, chẳng do tu thiện phá ác, diệt sắc, chấp Không, chỉ tu tức Không, là Thông giáo trí tuệ. Nếu từ nguyên sơ được nghe Đề-hồ là Đề-hồ. Nuôi trâu lấy Sữa, nấu Sữa thành Lạc, chuyển Lạc thành Sinh tô, chuyển Sinh tô thành Thục tô, rồi mới được Đề-hồ. Tu hành như đây, tức là Biệt giáo trí tuệ. Nếu từ nguyên sơ chỉ nghe trâu ăn Nhẫn nhục thảo liền xuất ra Đề- hồ, có năng lực trị bệnh, các bệnh đều tiêu trừ, tất cả các dược thảy đều nhập vào trong chất kia, tu hành như đây là Viên giáo trí tuệ.

Bản tích: Bản trụ thật tướng, Trí độ là mẹ, từ cảnh phát sinh trí tuệ. Cảnh tức là “Thân”, trí tuệ tức là “tử”, thương xót chúng sinh. Tích là ngũ vị Thân-tử, muốn chuyển máu phiền não ác thành Sữa (nhũ) thiện, thị hiện làm trí tuệ ngoại đạo, làm đại luận sư. Muốn nấu Sữa thành Lạc cho nên chỉ dạy Tam tạng trí tuệ, làm đệ nhị Thế tôn. Muốn dẫn Lạc thành Sinh tô, cho nên thị hiện Tiểu thừa, ấp úng lời lẽ Đại thừa, chịu đuối lý trước cư sĩ Tịnh Danh. Muốn dẫn Sinh tô thành Thục tô, cho nên an ủi làm lợi ích cho người đồng phạm hạnh, lãnh giáo trong thời Bát-nhã. Muốn dẫn Thục tô thành Đề-hồ, đó là người sơ ngộ Pháp Hoa. Đây đều là thuộc Tích môn thị hiện bên ngoài, nhưng Bản địa bên trong thì bí mật ấy đã thật có từ lâu. Quán tâm: Nhất tâm tam quán, thâu nhiếp tất cả trí tuệ. Quán tâm tức Không, nên thâu nhiếp được Lạc trí tuệ. Quán tâm tức Giả, nên thâu nhiếp được Sinh tô Thục tô trí tuệ và trí tuệ thế gian. Quán tâm tức Trung, nên thâu nhiếp được Đề-hồ trí tuệ, đó gọi là “Nhất tuệ là nhất thiết tuệ, nhất thiết tuệ là nhất tuệ, phi nhất tuệ phi nhất thiết tuệ” trong Quán tâm.

“Đại Mục-Kiền-liên” là họ, dịch là Tán tụng. Kinh Văn-Thù Vấn dịch là Lai Phục Căn. Chân Đế nói Vật-già-la, đây dịch “Hồ Đậu” là hai vật mà tổ tiên ưa thích. Nhân đó, lấy làm họ tộc. Thích luận nói: “Thân phụ ngài là Cát Chiêm sử đặt tên cho Ngài là Câu-luật-đà. Câu- luật-đà là tên cây, do cha mẹ cầu thần cây mà sinh ra ngài, nhân đó đặt tên. Lại, gọi tắt là Mục-già. Kinh Vị Lai Nhân Quả nói: Đại Mụcliên là Dạ-na, tên đồng rất nhiều cho nên nêu chữ “Đại”. Thích Luận giải thích: Xá-lợi-phất tài cao cận quý, Mục-liên hào hiệp làm trọng, trí tuệ tài năng đức hạnh của hai người sánh đồng nhau. Kinh Tăng Nhất A-hàm nói:“Trong số đệ tử ta, thần thông bay nhẹ nhàng lên đến khắp mười phương, thì Đại Mục-liên là đệ nhất”. Thích luận quyển bốn mươi mốt nói: Đệ tử bên tả của Phật. Bọn thầy trò ngoại đạo cả thảy năm trăm, đang dùng chú dời núi, trải qua một tháng đã bắt đầu di động, Mục-liên nghĩ rằng: Núi này nếu bị dời nhiều thì sẽ gây tổn hại, liền ở trong hư không trên đỉnh núi ngồi kiết già núi trở lại bất động. Ngoai đạo liền bảo nhau: “Pháp thuật của ta có thể dời núi, Kể cả mặt trời cũng phải di dời, tại sao nay lại an nhiên như trước? Đây chắc là Sa-môn kia sai khiến như vậy”. Tự biết mình sức tu yếu, bọn họ liền phát tâm qui y Phật đạo, khiến vô lượng người xuất gia theo Chánh pháp. Anh em nhà rồng: Nan-đà Bạt-nan-đà ở bên biển gần núi Tu-di, đức Phật thường bay trên không đến cung trời Đao-lợi. Rồng sinh tâm sân giận nói:“Lũ người trọc đầu sao bước qua đầu chúng ta?” Lần sau, Phật muốn lên trời, rồng phun mây mưa tối sương che lấp ba thứ ánh sáng. Các Tỳ-kheo đều muốn hàng phục, đức Phật không cho, Mục-liên nói:“Tôi có thể hàng phục được rồng”. Rồng dùng thần thông nhiễu bảy vòng quanh núi Tu-di, đuôi chạm đến nước biển, đầu gối núi Tu-di. Mục-liên hiện thân gấp đôi nhiễu mười bốn vòng quanh núi, đuôi ra ngoài biển, đầu gối cõi Phạm cung. Rồng tức giận, phun mưa đầy khắp thành sỏi cứng. Mục-liên biến sỏi thành hoa báu nhẹ mềm êm ái. Rồng càng sân giận… Mục-liên hóa làm thân bé nhỏ vào trong thân rồng, vào mắt ra miệng, vào tai ra mũi, đâm cắn thân rồng, rồng chịu đau đớn khổ sở, mới chịu khuất phục. Mục-liên thu nhiếp thần thông, thân bé thành lớn, hiện tướng Sa-môn đem hai con rồng đến chỗ Phật, được Phật qui y. Điều-đạt dẫn năm trăm Tỳ-kheo theo làm đồ chúng của mình, Mụcliên ngăn giữ khiến họ ngủ say ngáy rống như sấm hạ phong ra tiếng, Cù-già-ly dùng chân đạp mạnh họ còn không tỉnh. Thân-tử thuyết pháp khiến năm trăm Tỳ-kheo hồi tâm trở về, Mục-liên dùng thần thông đưa tay lên cao đem họ trở về khiến Tăng được hòa hợp. Kinh Tạp A-hàm quyển hai mươi chín nói: Phật ở thành Xá-vệ ngày rằm thuyết giới, Đức Phật im lặng không nói, A-nan bốn lần thỉnh. Phật nói: “Chúng không không thanh tịnh, nên ta không thuyết giới. Ông có thể sai vị thượng tọa nào trì luật”. Người tụng giới xướng lên. Mục-liên liền nhập định tìm xem trong chúng ai không thanh tịnh, thì thấy hai Tỳ-kheo Mã Sư và Mãn Túc, liền cầm tay lôi ra khỏi cửa và thỉnh Phật thuyết. Phật dạy: Ta không nói hai lời, nay không thể tự thuyết giới lại. Mục-liên nói: Chúng không thanh tịnh, tôi cũng không làm lại Duy-na.“Kỳ-vực” Trung hoa dịch là Cố Hoạt, lúc ông sống ở cung trời Đao-lợi, đệ tử của Mục-liên bị bệnh nên Mục liên dùng thần thông đến tìm, gặp lúc chư thiên ra vườn dạo chơi, Kỳ-vực ngồi trên xe không xuống, chỉ chấp tay xá mà thôi, Mục-liên giữ xe dừng lại Kỳ-vực nói: Chư thiên thọ lạc, tôi gấp lắm, không rảnh hỏi han, tôn giả muốn điều gì? Mục-liên nói mục đích của mình. Kỳ-vực đáp: “Đoạn thực là chủ yếu” rồi buông ra cho xe chạy như trước. Đế-thích thắng Tu-la nên tạo dựng Thắng đường, gác lầu bảy báu trang nghiêm đặc biệt kỳ lạ, trụ cột chi tiết đều đẹp, không liên kết nhau mà vẫn chắc chắn. Đó là do phước lực vi diệu của cõi trời có thể như đây. Mục-liên bay đến, Đế-thích dẫn Mục-liên đi xem nhà, chư thiên nữ đều hổ thẹn trốn hết không ra, Mục-liên nghĩ Đế-thích đắm lạc thú không tu gốc đạo, liền biến hóa lửa cháy, Thắng đường bỗng chốc sụp đổ, rồi vì Đế-thích nói rộng lý vô thường. Đế-thích hoan hỷ, sau đó Thắng đường nghiễm nhiên không còn sắc tro khói nữa. Mục-liên lại đựng đầy túi năm trăm La-hán như trước nói. Phạm âm của Như Lai vang rất xa, ở xa mà nghe như bên cạnh Phật không khác. Mục-liên muốn biết âm thanh Phật vang đến bao xa, bèn dùng thần lực bay qua Hằng hà sa cõi đến phương Tây, vẫn nghe âm thanh Sư tử hống của Phật như bên cạnh không khác. Mục-liên đi mãi không dừng đến khi thân mỏi thần lực hết qua đến một cõi Phật nọ vừa gặp lúc đại chúng đang ăn, liền đáp xuống, men theo miệng bát mà đi kinh hành, nghỉ ngơi. Cả chúng kinh sợ: “Sao bổng có con sâu đầu người từ đâu lại đây?”, Đức Phật cõi kia nói: Cách đây vô lượng cõi Phật ở phương Đông, có đức Phật hiệu là Thích-ca, có vị đệ tử thần túc đệ nhất chính là vị này, do muốn biết âm thanh của Phật vang xa như thế nào,nên đến đây, chẳng phải sâu đầu người. Kinh Niết-bàn nói: đức Phật tìm thị giả, tâm để nơi A-nan như mặt trời ở phương Đông chiếu qua phương Tây…

Căn cứ Giáo mà luận thần thông: Nương mười bốn loại biến hóa của Tứ thiền, nương theo quán huân tu Thập nhất thiết, nhập Vô lậu sự thiền, năng tạo mười tám thứ biến hoa. Đây tức là thần thông trong Sơ giáo. Dựa vào Không khởi tuệ, dùng tâm Không tuệ tu các thần thông, tức thần thông trong Thông giáo. Theo thứ lớp dựa vào Tam đế, tu tập đắc thần thông, dần dần chuyển nhập sâu, vượt qua nhị thừa, tức thần thông của Biệt giáo. Dựa vào thật tướng chứng đắc thần thông, không dùng hai tướng để thấy các cõi Phật. Từ Chân mà khởi, ứng với bất động chân tế mà trùm khắp mười pháp giới, là thần thông của Viên giáo…

Thuở xa xưa ngài thường trợ giúp Bích-chi-Phật cạo đầu giặt y, may vá cà sa,và phát nguyện đắc thần thông. Bản Tích: Bản: trú nơi chân tế định Thủ-lăng-nghiêm, có thể trong một niệm mà ứng khắp mười phương, thị hiện nhiều loại để làm Phật sự, do vì từ bi. Tích: làm ngũ vị thần thông để dẫn dắt khiến ứng nhập cùng cực… Quán tâm: Quán nhất tâm bỗng có nhất thiết tâm, quán nhất thiết tâm chợt không có các tâm. Tâm chẳng có-không, thì thông đạt đến thật tướng, tức thần thông quán.

“Ma-ha Ca-chiên-diên” Trung hoa dịch là Văn Sức cũng là Kiên Thừa, người gọi nhầm chữ nên nói Phiến Thằng, cũng gọi là Hảo Kiên, cũng gọi Kha-la. “Kha-la”, Trung hoa dịch là Tư Thắng, đều theo họ đặt tên. Kinh Tăng Nhất A-hàm nói: Ngài khéo phân biệt nghĩa diễn rộng đạo giáo, là đệ nhất. Kinh Trường A-hàm nói: Có ngoại đạo chấp đoạn kiến, cho rằng không có thế giới khác nên có mười lần hỏi đáp: Hỏi: không có thế giới khác?

Đáp: Nay mặt trời mặt trăng ở cõi trời hay cõi người, thế giới này hay thế giới khác? Nếu không có thế giới khác, thì không có mặt trời sáng.

Hỏi: Tôi thấy người chết không trở lại, tại sao nói họ thọ khổ, nên biết không có đời khác?

Đáp: Như người mắc tội bị bắt giữ lại, sao có thể trở về được!

Hỏi: Nếu sinh lên cõi trời, thì vì sao không trở lại? Cho nên biết không có đời khác?

Đáp: Như người bị rơi vào hầm xí, khi ra khỏi được thì có trở lại hầm xí nữa không? Lại trên cõi trời một ngày thì ở cõi này phải một trăm năm, Người đó mới sinh lên Trời năm, ba ngày chưa kịp tỉnh tâm quay về, dù họ có trở về thì ông cũng đã chết làm sao biết được?

Hỏi: Tôi bỏ tội nhân trong chảo, đậy nắp kín, nhưng rình hoài không thấy thần hồn bay ra ngoài, nên biết không có đời khác?

Đáp: Như ông ngủ ban ngày, thì người bên cạnh có thấy thần hồn bay ra không?

Hỏi: Tôi lột da róc thịt người chết, tìm thần hồn mà chẳng có nên biết không có đời khác?

Đáp: Như trẻ con chẻ củi vụn nhỏ để tìm lửa đâu thể có được!

Hỏi: Ta cân người chết lại nặng, nếu thần hồn đi thì lẽ ra nhẹ, nếu không có thần hồn đi thì không có đời khác?

Đáp: Như lửa nung sắt hợp lại thì sắt nhẹ, sắt mất lửa thì sắt nặng, con người sống có thần hồn thì nhẹ, người chết mất thần hồn thì nặng.

Hỏi: Tôi thấy người sắp chết trở lại chuyển cầu thần hồn không được, nên biết không có đời khác?

Đáp: Như người trở lại tìm đầy đủ âm thanh của mình, có thể được ư?

Hỏi: Ông tuy phá bao nhiêu thứ, mà tôi chấp điều này rất lâu không thể bỏ được!

Đáp: Như người thu hoạch cây tằm, ban đầu thấy gai lấy gai, tiếp đó bỏ gai lấy vỏ gai, tiếp theo bỏ vỏ lấy sợi gai, tiếp nữa bỏ sợi gai lấy bố, tiếp theo bỏ bố lấy lụa sống (quyên), tiếp đó bỏ quyên lấy bạc (ngân), tiếp sau bỏ bạc lấy vàng (kim). Bỏ xấu lấy tốt, tại sao không thể bỏ ?

Hỏi: Chẳng những tôi nói như vậy, mà mọi người cũng nói như vậy, tại sao cho rằng tôi sai?

Đáp: Có hai người đi buôn giữa đường gặp quỉ, quỉ hình người và nói đường trước lúa gạo cây cỏ được mùa tốt tươi, các người còn chở đến làm gì? Một người liền bỏ lại hết. Kết cục người trâu đều đói nên bị quỉ ăn thịt. Một người còn lại nói: “Nếu được lúa cỏ mới, thì có thể bỏ lúa cỏ cũ này” cho nên người ấy không bị quỉ ăn thịt. Các người nói càn, ví như quỉ nói dối. Ông không công nhận lời nói của ta, ví như người đi buôn vứt bỏ lúa cỏ cũ? Nay đã được cái mới, sao không bỏ cái cũ?

Hỏi: Tôi không thể bỏ chấp kiến này, nếu không khuyên bảo Tôi, Tôi sẽ nổi giận ngay!

Đáp: Ông như người nuôi heo, đi đường gặp phân hốt vác trên đầu đem về, giữa đường gặp mưa nước phân chảy làm nhớp đầu, có người đi bên thấy vậy bảo ông đổ đi. Ông lại sân giận người kia và bảo rằng: Bởi vì ông không nuôi heo, nên mới khiến ta bỏ”, tức là lại nổi nóng với người khuyên mình!

Cứ như vậy diễn rộng các nghĩa lần lượt phá chấp, ngoại đạo được hàng phục tán thán rằng: Khi tôn giả nói dụ mặt trăng mặt trời thì tôi đã hiểu, nhưng vì muốn biết trí tuệ biện tài của tôn giả nên mới nhiều phen hỏi. Lành thay! Ngài nói vi diệu vô cùng. Ca-chiên-diên khéo luận về tướng nghĩa cũng lại như vậy. Trong Luật dạy: Ngài luôn khéo giáo hóa mọi người qui y giữ giới, khiến người đồ tể thọ giới ban đêm, người dâm dục thọ giới ban ngày, về sau khi thọ báo bất luận ngày đêm thảy đều được an lạc hiện tiền… Lại có Bà-la-môn Thế Điển nói với năm trăm người dòng họ Thích: Có người nào có thể cùng ta luận nghị không? Năm trăm người dòng họ Thích nói: Có Cù-mật-thích và ở trong nước có một người không có trí tuệ, lời nói vụng về, tên là Châu-lợi-bàn-đặc ở trong hàng xuất gia cũng là hạng thấp kém. Ông có thể cùng hai người này luận nghị, nếu ông thắng thì chúng tôi sẽ đặt danh cho ông. Thế Điển suy nghĩ: “Nếu hơn hai người này thì chẳng hân hạnh gì, lỡ như không bằng thì rất là nhục nhã”. Về sau khi đi đường gặp Bàn-đặc, ông hỏi: “Tên gì?” Đáp: “Ông nên hỏi nghĩa, chứ cần gì hỏi tên!”. Lại hỏi: Ông cùng ta luận nghĩa không? Đáp: Ta có thể cùng Phạm vương luận nghĩa, huống chi ông là người mù không có mắt”. Lại hỏi: “Mù tức không có mắt, không có mắt tức mù đâu chẳng phiền lập lại”. Châu-lợi biến hóa mười tám phép. Thế Điển liền nói: “Người này chỉ biết bay biến mà không hiểu nghĩa”. Ca-chiên-diên có thiên nhĩ nghe xa, liền làm phép giấu Bàn-đặc, hiện thân như Ngài từ hư không mà xuống, hỏi: “Ông tên hiệu là gì?” Đáp: “Tôi tên Nam trượng phu”. Lại hỏi: “Nam tức trượng phu, trượng phu tức nam, đâu chẳng phiền lập lập lại?”. Thế Điển đáp: Thôi thôi! Để việc đó lại, nếu luận thì nên luận nghĩa sâu”. Hỏi: Không nương pháp mà đắc Niết-bàn ư? Đáp: Không nương pháp ngũ ấm có thể đắc Niết-bàn. Lại hỏi: Ngũ ấm nương vào đâu mà sinh? Đáp: Nương ái sinh. Hỏi: Làm sao đoạn ái? Đáp: Y bát chánh đạo thì năng đoạn ái. Thế Điển nghe điều này thì viễn trần ly cấu. Lệ đều như thế.

Căn cứ giáo luận nghĩa: Nương vô thường, khổ, không vô ngã, để phá các kiến chấp đoạn, thường… đó là sơ giáo luận nghĩa. Căn cứ Không, Vô sở hữu, Bất khả đắc để phá Đoạn, Thường, ái kiến. Đó là Thông giáo luận nghĩa. Thiên nữ nói: Ta vô sở đắc cho nên biện minh như vậy. Nương tứ biện tài của Tổng trì, quán căn cơ chiếu Giả đế dùng làm thuốc trị bệnh, phá kiến Đoạn Thường. Đó là Biệt giáo luận tướng nghĩa. Y vào Thực tướng rốt ráo không có, không không mà phá Đoạn, Thường kiến. Đó là Viên giáo luận nghĩa.

Căn cứ Bản tích: Bản, trụ phước đức trí tuệ hai thứ trang nghiêm, năng vấn năng đáp vì thương xót chúng sinh. Tích, là ngũ vị luận nghĩa sư.

Quán tâm: Quán trí nghiên cứu cảnh, cảnh phát sinh nơi trí, trí cảnh qua lại tức quán tâm luận nghĩa.

“A-nâu-lâu-đa”: Cũng gọi A-na-luật, cũng gọi A-nê-lư-đậu, đều là âm Phạn. Xa-thiết-nhĩ Trung hoa dịch là Vô bần, cũng dịch là Như ý, cũng gọi là Vô lạp. Xưa gặp thời đói khát ngài đã từng cúng dường một bữa cơm lúa tẻ cho một vị Bích-chi-phật, nên trải qua chín mươi mốt kiếp thâu hoạch được quả báo đầy đủ, cho nên gọi là Vô bần. Dòng họ: Sơ kiếp do gió thổi nước lớn kết cấu mà thành thế giới, ở cõi trời Quangâm khi mạng tận sinh làm loài người, thân có ánh sáng bay mà đi, lấy sự hoan hỷ làm thức ăn, không có nam nữ cao thấp. Chúng cùng sinh ở trong đó gọi là chúng sinh. Lúc đó tự nhiên đất có vị ngon như đề-hồ, sắc như sinh tô, ngọt như mật, do ăn nhiều nên mất ánh sáng hình dáng tiều tuỵ, không thể bay được, người ăn ít còn có ánh sáng thấm nhuần liền có hơn thua tùy theo tướng phải trái, đến khi mất vị đất thì ăn vỏ đất nên dân sinh khinh mạn, mất lớp vỏ đất đến ăn cặn bã của đất chuyển sinh các điều ác, mất cặn bã thì ăn lúa gạo mọc tự nhiên (hoang), ăn lúa gạo thì nam căn nữ căn sinh, hợp làm vợ chồng, do hổ thẹn cho nên làm nhà và chứa trữ nhiều lúa gạo, về sau gạo sinh ra trấu vỏ. Khi cắt sạch rồi thì không mọc tiếp gốc cây khô héo hiện ra, rồi lại sinh ra chiếm đoạt trộm cướp lẫn nhau, bèn lập ra một người có thể chia đều, gọi là điền chủ, theo lý tranh tụng, đó gọi là dân chủ. Dân chủ có con tên Trân Bảo. Trân bảo có con tên Hảo Vị. Ban đầu từ dân chủ về sau sáng lập Kim luân nối tiếp cho đến Thiện Tư, từ Ý-ma đến Tịnh-phan bốn đời làm Thiết luân, hợp có tám mươi bốn ngàn hai trăm mười một vị vua. Kinh Thập Nhị Du nói: Từ kiếp lâu xa có vị vua sớm mất cha mẹ đem nước trao lại cho em, tu theo vị Bà-la-môn, Bà-la-môn nói: Ông nên cởi bỏ áo vua theo họ Cù-đàm, nhân đó vua liền theo người ấy hiệu là Tiểu Cù-đàm trú ở vườn mía, bọn đạo tặc trộm vật đi qua vườn, những người tìm bắt tìm theo dấu tích và bắt được Tiểu Cù-đàm. Họ dùng tên bắn làm máu huyết chảy nhớp đất. Đại Cù-đàm thương xót, thâu máu huyết dưới đất đựng đầy bát đem về vườn, rồi đặt hai bên trái phải và trì chú, vị Cù-đàm này nếu thành tâm thì trời thần biến huyết thành người, đến mười tháng sau sinh ra bên phải con trai, bên trái con gái từ đó đặt tên họ là Cù-đàm. “Cù-đàm”, Trung hoa nghĩa là Thuần Thục cũng gọi là Xá Di. Xá Di là dòng họ quí tộc, vào thời đầu Hiền kiếp đức Như Lai xuất thế, thần thức Cù-đàm mới bắt đầu thác sinh. Nếu theo ý này thì Dân chủ từ trước đến nay tức họ Cù-đàm. Từ Ý-ma vương sinh ra bốn người con. 1. Diện Quang. 2. Tượng Thực. 3. Lộ Chỉ. 4. Trang Nghiêm. Bốn người này bị tình nghi bị đuổi ra khỏi nước, nên đến ở trong rừng cây phía Bắc núi Tuyết Sơn. Mọi người trong nước theo rất đông, về sau nhân chúng đông đảo lớn mạnh.Vua cha khen rằng: “Con ta có khả năng”. Bốn vị nhân đây mà có bá tánh. Lại đất nơi ấy cây Thích-ca rất tốt, Trung hoa dịch là Trực Lâm. Đã ở trong rừng lập quốc, tức lấy rừng làm họ, ngoại quốc gọi Đa-hàm. Thích-ca cũng Trực cũng Năng. Nay Tịnh-phạn thuộc dòng dõi Trang Nghiêm Vương, Trang Nghiêm tức là Ô-đầu, Ô-đầu sinh ra Ô-đầu-la, Ô-đầu-la sinh ra Ni-cầu-la, Ni-cầu-la sinh ra Thi-hưu-la, tức Sư Tử Giáp, Sư Tử Giáp sinh ra ba Phạn. Hộcphạn sinh hai con, trưởng là Ma-ha-nam, tiếp là A-na-luật là em con chú của Thế Tôn, A-nan là em họ đức Thế Tôn và là chú của La-hầu-la nhưng chẳng vì vậy mà nhờ cậy, cho nên Chu Công nói rằng: “Ta là con Văn vương, em là Võ vương, chú là Thành vương, ở trong thiên hạ chẳng khinh rẻ người nào, thấm gội ba nhà ăn ba bửa, lễ hiền thánh còn vậy huống chi những người khác ư!” Kinh Hiền Ngu nói: Thời mạt thế của Phật Phất-Sa, gặp lúc đói khát, có Bích-chi-phật tên Lợi-ra du hành khất thực không được gì cả, có một người nghèo thấy mà thương xót nên bạch rằng: Thưa Thắng Sĩ! Có thọ nhận cỏ bại này không? Vị kia thọ nhận ăn, ăn xong hành mười tám loại biến hóa, người ấy hái cỏ bại tiếp tục cúng dường, lúc ấy có một con thỏ nhảy nhót đến sau lưng bà nghèo biến làm người chết, không có bạn bè đến cứu, người nghèo đến tối mới đem được về nhà đặt trên đất, liền thành người vàng bẻ ngón tay để sử dụng, rồi đến chân, lại hiện không lúc nào hết. Mọi người và vua quan nghe vậy muốn đến chiếm đoạt thì chỉ thấy thây chết, nhưng người kia thấy thì toàn là vàng báu, do đó mà trải qua chín mươi mốt kiếp quả báo đầy đủ, cho nên hiệu Vô bần. Sinh ở cõi kia rồi từ đó về sau gia nghiệp giàu có dư dật ngày đêm tăng trưởng, cha mẹ muốn thử che các đồ vật trống không sao xem thấy trăm vị đầy đủ, mà ngoài cửa hàng ngày thường có một vạn hai ngàn người. Sáu ngàn người đến xin, sáu ngàn người đến tặng cho. Sau khi ngài xuất gia đến chỗ nào mọi người thấy đều hoan hỷ và muốn mọi người có đủ như nhà mình không khác. A-na-luật tinh tấn bảy ngày bảy đêm không chợp mắt. Phải biết ngủ như là thức ăn của mắt, đã bảy ngày bảy đêm không ngủ, nên mất nhục nhãn rồi. Đức Phật dạy ngài nên cầu thiên nhãn, buộc niệm duyên nơi tịnh sắc Tứ đại ở nửa đầu mà phát, sau đó ngài đắc thiên nhãn thấu triệt sự ngăn chướng trong ngoài sáng suốt, nơi tối tăm thảy đều thấy rõ, đối trước Phạm vương nói rằng: Tôi thấy Đại thiên thế giới của đức Thíchca như xem quả trong lòng bàn tay. Kinh Tăng Nhất nói: Trong Phật pháp ta người có thiên nhãn thấy thông suốt nhất là Tỳ-kheo A-na-luật. Khi ngài A-na-luật mù mắt, Đức Phật và các Tỳ-kheo thường vá may y. Hôm ấy Phật ở nước Xá-vệ thành Câu-tất-la, Đức Phật đã cùng tám trăm Tỳ-kheo tụ tập may ba y cho A-na-luật. Đức Phật căng vải ra các Tỳ-kheo cắt may trong một ngày xong. Đức Phật rộng vì thuyết pháp: “Người xuất gia thọ y, mọi việc lớn nhỏ, tiến dừng cũng phải cùng làm đầy đủ”. Nói xong, vô lượng người đắc đạo.

Căn cứ giáo: Nương thiền định mà phát sinh thiên nhãn là phàm phu ngoại đạo, nương vô lậu sự thiền mà phát sinh thiên nhãn, là nghĩa Tam tạng. Nương thể pháp vô lậu tuệ phát sinh các hạnh, nương các hạnh phát sinh thiên nhãn là ý Thông giáo. Nương tán thiện mà phát sinh nhục nhãn, nương định mà phát sinh thiên nhãn, nương chân đế mà phát sinh tuệ nhãn, nương tục đế mà phát sinh pháp nhãn, nương Trung Đạo đế mà phát sinh Phật nhãn, là ý của Biệt giáo. Nương thật tướng mà phát sinh thiên nhãn, thiên nhãn tức Phật nhãn, là ý của Viên giáo. Lại, nương tán thiện tu nhục nhãn, nương định tu thiên nhãn, là ý của Tam tạng. Nương Không mà tu nhục nhãn, thiên nhãn là ý của Thông giáo. Theo thứ tự mà tu ngũ nhãn là ý của Biệt giáo. Không theo thứ tự mà tu ngũ nhãn là ý của Viên giáo.

Bản tích: Bản trụ nơi thật tướng chân thiên nhãn, không dùng hai tướng thấy các cõi Phật. Tích: nêu bày nửa đầu thiên nhãn. Quán tâm: Quán nhân duyên sinh thiện tâm, tức nhục nhãn. Quán nhân duyên sinh tâm Không, tức thiên nhãn. Quán nhân duyên sinh tâm Giả tức pháp nhãn. Quán nhân duyên sinh tâm Trung, tức Phật nhãn…

“Kiếp-tân-na”, Trung hoa dịch là Phòng Túc, do cha mẹ cầu đảo ngôi sao Phòng này mà sinh con, nên lấy tên ngôi sao để đặt tên con. Vị Tỳ-kheo ấy khi mới xuất gia muốn đến ra mắt Phật vì chưa được thấy Phật nhưng đi đường lại bị mưa, ghé ngủ nhờ nhà người thợ gốm, lấy cỏ làm tòa nằm nghỉ. Lúc sau chập tối có một vị Tỳ-kheo cũng đến xin tá túc, Ngài liền nhường tòa cỏ mà nằm đất. Giữa đêm, vị Tỳ-kheo kia hỏi: Ngài định đi đâu? Đáp: “Muốn gặp Phật”. Tỳ-kheo kia liền vì ngài mà thuyết pháp, ngài bỗng nhiên đắc đạo. Vị Tỳ-kheo đến sau kia chính là Phật. Cùng ở chung phòng với đức Phật, được thấy pháp thân, từ chổ được nghe pháp đắc đạo đó mà đặt tên, gọi là Kiếp-tân-na. Tỳ-sa-môn cầm dù đi sau Kiếp-tân-na. Tỳ-sa-môn là chủ các vì sao, nên các vì sao cũng đều theo sau. Ngài khéo biết xem thiên văn, biết rõ biểu tượng trời đất. Theo đó mà gọi là Kiếp-tân-na. Kinh Tăng Nhất A-hàm nói: Ở trong Phật pháp ta, người giỏi xem Thiên văn đệ nhất là Tỳ-kheo Kiếp-tân-na.

Căn cứ giáo: Đã phá cái nhà căn trần, cùng nghỉ chung phòng Chân đế với Phật, là nghĩa theo Tam tạng giáo. Thể đạt căn trần, tức cùng Như Lai đồng ngủ chung phòng Chân đế, là ý Thông giáo. Phân biệt phòng nhà căn trần trong mười pháp giới, thảy đều thấy Phật, là ý Biệt giáo. Ở nơi một phòng nhà căn trần, 1iền thấy hết thảy phòng nhà, thấy hết thảy Đức Phật, tức ý Viên giáo.

Căn cứ Bản Tích: Bản: đã cùng Như Lai đồng nghỉ chung một lầu Thật tướng. Tích: nêu bày sự việc như trên.

Quán tâm: Quán nhà ngũ ấm chiết Không tức Không, cùng hóa Phật đồng phòng ngủ chung. Quán nhà ngũ ấm tức Giả, cùng báo thân Phật đồng ngủ chung. Quán nhà ngũ ấm tức Trung đạo, cùng pháp thân Phật đồng ngủ chung…

Pages: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.