Tịnh Độ Tân Luận
淨土新論
 Đại sư Ấn Thuận giảng
Thích Quán Tạng tập chú
Thích Pháp Chánh dịch Đại sư


Tường Quang Tùng Thư
Phật lịch 2562 – TL 2018

 

A10. Kết luận. 

Y vào sự luận cứu ở trên, có thể kết luận như sau. Tịnh độ, (1) cần phải lấy Tịnh độ Cực Lạc của Phật A Di Đà làm viên mãn (mục đích cứu cánh), lấy Tịnh độ nhân gian của đức Di Lặc làm thiết yếu (cần phải thực hiện); (2) dùng Tịnh độ của Phật A Súc an trụ tâm từ bi, an trụ trong chân như pháp tính làm căn bổn (nền tảng cho sự tu hành), dùng hạnh nguyện trang nghiêm của Tịnh độ A Di Đà làm quả vị cứu cánh (mục đích muốn đạt đến).

Trong sự tu trì pháp môn Tịnh độ phải nên biết rằng nan hành đạo, trên thực tế là mau thành đạo. Nếu như hành giả cảm nhận rằng mình là người tâm tính khiếp nhược, nghiệp chướng sâu dày thì có thể tu thêm phương tiện thiện xảo an lạc hạnh – tức là dị hành đạo: thường thường niệm Phật, sám hối. Nếu như căn cơ và giáo pháp khế hợp, muốn chuyên tu hạnh Tịnh độ của đức A Di Đà, có thể y vào lời dạy trong Vạn Thiện Đồng Quy Tập của Đại sư Vĩnh Minh Diên Thọ (tương truyền là hóa thân của Phật A Di Đà) mà tu tập nhiều thiện căn, tu nhiều tịnh nghiệp thì mới có thể thích nghi an ổn!1

Sau cùng, các hành giả Tịnh độ tu tập phương tiện thiện xảo an lạc hạnh đạo cần phải ghi nhớ những lời thánh huấn trong kinh luận: “Không thể dùng ít thiện căn, phước đức nhân duyên mà sinh cõi nước đó.” (Kinh A Di Đà) “Nếu muốn chứng đắc A bệ bạt trí (bất thoái chuyển), không phải chỉ có xưng danh niệm Phật lễ bái mà thôi.” (Luận Thập Trụ Tỳ Bà Sa). Như vậy mới có thể đạt được diệu dụng của Lạc hành đạo, không đến nổi phụ lòng từ bi của chư Phật Bồ tát!

HẾT

Pages: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

CHÚ THÍCH

  1. Ngài Ấn Thuận trong Học Phật Tam Yếu, tr. 91-94, nói:

    Chánh thường đạo và phương tiện đạo:

    Từ lúc phát khởi chánh tín để tu học thành tựu là sự tu học đầu tiên của chánh tín. Điều này lại có hai phương pháp tiến tu.

    (1) Tu tập tín tâm theo chánh thường đạo: Chánh tín (chánh tín ắt phải có chánh nguyện), trong pháp Thanh văn có xuất ly tâm, trong pháp Đại thừa có Bồ đề tâm. Phương pháp thông thường để tu học tín tâm Đại thừa, như Luận Khởi Tín nói tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, lại phải tu bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, chỉ quán để trợ giúp cho sự thành tựu. Do đây có thể thấy tín nguyện tự lợi lợi tha của Đại thừa cần phải từ sự tu tập sự hành và lý hành để hoàn thành. Nói cách khác, tín tâm không phải độc lập, mà cần phải tương ưng với mọi loại công đức, y vào sự tiến tu các loại công đức để trợ giúp hoàn thành (tín tâm).

    Thế nhưng, kinh luận nói về Bồ đề tâm, trong Bát nhã đạo có ba giai đoạn: (1) trước tiên là nguyện Bồ đề tâm, (2) kế đến là hành Bồ đề tâm, và (3) sau rốt là chứng (trí) Bồ đề tâm. Hai giai đoạn đầu cũng gọi là thế tục Bồ đề tâm, giai đoạn cuối gọi là thắng nghĩa Bồ đề tâm. Như nói “Bồ đề tâm là ly ngôn tuyệt tướng” thì đây là ước định thắng nghĩa Bồ đề tâm mà nói. Như nói “Bồ đề tâm do từ bi mà thành tựu” thì đây là ước định thế tục Bồ đề tâm mà nói. Sơ học tín nguyện Đại thừa là ước định nguyện Bồ đề tâm mà nói, tức là tín nguyện trên cầu thành Phật, dưới độ chúng sinh.

    Hành giả sơ học cần phải nghe nhiều, suy tư nhiều về vô biên công đức của Phật Bồ tát, về vô biên khổ bức của chúng sinh, về những sự cứu tế thật sự lợi ích của Phật pháp, và về các loại lợi ích của sự phát Bồ đề tâm. Điều này thật sự rất mạnh mẽ trong việc kích phát tín nguyện Đại thừa. Nếu như đã phát khởi tín nguyện Đại thừa, phải nên thọ Bồ tát giới. Đây tức là nguyện Bồ đề tâm, là chủng tử của Pháp thân. Bồ đề tâm là đại giới căn bổn duy nhất của Bồ tát. Thọ giới tức là lập nguyện, y vào giới mà tu học tức là có thể dần dần tiến tu, đạt đến sự thành tựu chánh tín Đại thừa.

    (2) Tu tập tín tâm theo phương tiện đạo: Đây là phương pháp tu học của Bồ tát tín tăng thượng. Do vì “sơ học Phật pháp Đại thừa, tâm còn khiếp nhược”, cho nên đặc biệt tôn trọng tín ngưỡng, y vào sự gia bị của Phật lực mà tu tập. Ngài Long Thọ nói: “Đây là dùng tín (nguyện) tinh tiến làm cửa mà đi vào Phật pháp, mà cũng là dị hành đạo, ưa thích tích tập công đức của Phật mà vãng sinh Tịnh độ.

    Nói đến sự viên mãn nhất phải kể đến Thập Đại Hạnh Nguyện của Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện. Đây là vì Phật là bậc viên mãn thực chứng Vô thượng Bồ đề, cho nên đem tín nguyện tập trung vào Phật bảo để tu tập. Trong Thập Đại

    Hạnh Nguyện: (i) Lễ kính chư Phật. (ii) Xưng tán Như Lai: đây là lễ nghi mà Phật tử cần phải hành trì khi gặp Phật. (iii) Quảng tu cúng dường: đây là chánh hạnh tu phước khi gặp Phật. (vi) Thỉnh chuyển pháp luân. (vii) Thỉnh Phật trụ thế: điều này đến từ việc Phạm vương thỉnh Phật thuyết pháp, và A Nan không thỉnh Phật trụ thế. Đây vốn là thường pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni, mà suy diễn đến tất cả Phật. (iv) Sám hối nghiệp chướng: như pháp sám hối bằng cách xưng niệm danh hiệu Phật của Kinh Quyết Định Tỳ Ni. Đại thừa thông cho tại gia và xuất gia, cho nên không cần dùng tác pháp sám của Tăng già, mà chuyên trọng sự sám hối trước chư Phật. (v) Tùy hỷ công đức. (x) Phổ giai hồi hướng: đây là điều được đặc biệt xem trọng trong Phật pháp Đại thừa. (viii) Tùy thuận Phật học: tức là y vào nhân hành quả hành của Phật mà tùy thuận tu học. (ix) Hằng thuận chúng sinh: tức là tăng trưởng tâm bi.

    Thập Đại Hạnh Nguyện có ba đặc điểm:

    (a) Chư Phật bình đẳng, cho nên từ một Phật (Tỳ Lô Xá Na) mà thông đến tất cả Phật, tận hư không, biến pháp giới, mà không cục hạn vào một thời điểm nào, một địa phương nào, một vị Phật nào.

    (b) Đặt nặng vào quán niệm, không những sám hối, tùy hỷ, hồi hướng, do từ tâm niệm mà tu, tức là lễ Phật, cúng dường, tán thán, v.v…, cũng là do tâm niệm. Như nói: “Thâm tâm tín giải, như ở trước mắt”, “thâm tâm tín giả, hiện tiền thấy biết”, …. Đây là dị hành đạo “trong tâm niệm Phật”, khi được thành tựu, tức là Niệm Phật Tam Muội.

    (c) Đây là chuyên y vào quả đức của Phật (nhiếp công đức của Pháp và Tăng) mà sinh khởi tín ngưỡng. Tất cả đều y vào Phật đức mà dẫn phát. Như tâm bi của Tùy thuận chúng sinh bởi vì: “Nếu có thể tùy thuận chúng sinh, tức có thể tùy thuận cúng dường chư Phật. Nếu tôn trọng thừa sự chúng sinh, tức là tôn trọng thừa sự Như Lai. Nếu khiến cho chúng sinh sinh tâm hoan hỷ, tức là làm cho tất cả Như Lai hoan hỷ. Vì sao? Chư Phật Như Lai dùng tâm đại bi làm thể.” Đây cũng giống như lý luận “Thượng đế yêu người thế gian, cho nên chúng ta cũng phải yêu người thế gian.” Đây tức là duyên cớ cho sự đặt nặng tín ngưỡng.

    Bồ tát tín tăng thượng, tín nguyện tập trung vào Phật, niệm niệm không quên Phật, có thể tùy nguyện vãng sinh thế giới Cực Lạc. Thế nhưng vì tín nguyện quán niệm cho nên là dị hành đạo. Thế nhưng, tâm tâm quán niệm công đức của Như Lai, niệm niệm thường tùy Phật học, niệm niệm hằng thuận chúng sinh, nếu như tín nguyện tăng trưởng, cũng sẽ tự nhiên dẫn phát trở thành bi hành, trí hành, vì người vì pháp. Ngài Long Thọ nói dị hành đạo có thể “tăng trưởng phước lực, tâm địa điều nhu, …, sau khi tín công đức thanh tịnh đệ nhất của chư Phật, thương xót chúng sinh, tu hành lục ba la mật.”

    Cho nên đây tuy là dị hành đạo, là pháp học của Bồ tát tín tăng thượng, nhưng các hành giả Đại thừa ở Ấn Độ đều ngày đêm sáu thời, lúc lễ Phật, tu tập pháp sám hối, tùy hỷ, khuyến thỉnh, hồi hướng. Chưa thấy các trí tăng thượng Bồ tát nào mà chỉ đặt trọng tâm vào sự tu tập bi hành và trí hành.