LUẬN THẬP TRỤ TỲ BÀ SA
Tác giả: Bồ tát Long Thọ
Hán dịch: Đời Hậu Tần, Tam Tạng Pháp sư Cưu Ma La Thập
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 16

Phẩm 31: HỘ GIỚI

Bồ-tát này hành trì các đạo thiện như thế.

Nơi đạo thiện, bất thiện

Tổng tướng và biệt tướng

Đều phân biệt nhận biết

Có hai thứ quả báo.

* Mười đạo nghiệp thiện:

Quả báo của tổng tướng: Là hoặc sinh lên cõi trời, hoặc sinh vào cõi người.

Quả báo của biệt tướng: Hành thiện lìa bỏ sát sinh có hai thứ quả báo: 1. Sống lâu. 2. Ít bệnh.

Hành thiện lìa bỏ trộm cướp có hai thứ quả báo: 1. Giàu lớn. 2. Riêng có tiền của.

Hành thiện lìa bỏ tà dâm có hai thứ quả báo: 1. Vợ trinh thuận. 2. Không bị người ngoài phá hoại.

Hành thiện lìa bỏ nói dối có hai thứ quả báo: 1. Không bị người hủy báng. 2. Không bị người khác lừa dối.

Hành thiện lìa bỏ nói hai lưỡi có hai thứ quả báo: 1. Được quyến thuộc tốt đẹp. 2. Không bị người khác hủy hoại.

Hành thiện lìa bỏ nói lời thô ác có hai thứ quả báo: 1. Được nghe âm thanh tùy ý vui thích. 2. Không có tranh cãi.

Hành thiện lìa bỏ nói lời tán loạn có hai thứ quả báo: 1. Người tin nhận lời mình nói ra. 2. Lời nói quyết định.

Hành thiện lìa bỏ tham lấy có hai thứ quả báo: 1. Biết đủ. 2. Ít ham muốn.

Hành thiện lìa bỏ giận dữ gây não hại có hai thứ quả báo: 1. Tại nơi chốn sinh ra thường cầu sự việc tốt đẹp cho người khác. 2. Không vui mừng vì việc não hại chúng sinh.

Hành thiện chánh kiến có hai thứ quả báo: 1. Lìa bỏ dua nịnh, quanh co. 2. Đối tượng nhận thức đều thanh tịnh.

* Mười đạo nghiệp bất thiện: Cũng như vậy.

Quả báo của tổng tướng: Là hành theo loại thượng thì đọa vào địa ngục, hành theo loại trung thì đọa vào súc sinh, hành theo loại hạ thì đọa vào ngạ quỷ.

Quả báo của biệt tướng: Hành bất thiện sát sinh có hai thứ quả báo: 1. Thọ mạng ngắn. 2. Mắc nhiều bệnh.

Hành bất thiện trộm cướp có hai thứ quả báo: 1. Bần cùng. 2. Mất của cải.

Hành bất thiện tà dâm có hai thứ quả báo: 1. Có vợ xấu ác lại không trinh thuận. 2. Bị người khác hủy hoại.

Hành bất thiện nói dối có hai thứ quả báo: 1. Bị người hủy báng. 2. Bị người lừa dối.

Hành bất thiện nói hai lưỡi có hai thứ quả báo: 1. Có quyến thuộc xấu ác. 2. Quyến thuộc có thể bị hủy hoại.

Hành bất thiện nói lời thô ác có hai thứ quả báo: 1. Tai nghe tiếng ác. 2. Thường tranh cãi.

Hành bất thiện nói lời tán loạn có hai thứ quả báo: 1. Lời nói không ai tin nhận. 2. Lời nói không có thứ lớp.

Hành bất thiện tham lấy có hai thứ quả báo: 1. Tâm không biết đủ. 2. Nhiều dục không chán.

Hành bất thiện giận dữ gây não hại có hai thứ quả báo: 1. Tánh ác. 2. Vui mừng não hại chúng sinh.

Hành bất thiện tà kiến có hai thứ quả báo: 1. Tâm dua nịnh, quanh co. 2. Rơi trong nẻo tà kiến.

Đã biết pháp yêu thích

Nơi pháp tâm không động

Ở trong các chúng sinh

Tâm từ bi càng lớn.

Pháp yêu mến: Là chỉ yêu mến nơi pháp, không còn sự việc nào hơn. Ở đây, pháp là mười đạo nghiệp thiện như trước đã nói.

Pháp ưa thích: Là chỉ ưa thích nơi pháp, không có sự việc gì vượt hơn.

Nơi pháp tâm không động: Là cho đến bỏ mạng vẫn không bỏ pháp.

Bồ-tát hành pháp như vậy nên càng tăng tâm từ bi thương xót chúng sinh. Trong Địa thứ nhất, tuy đã có từ bi, nhưng không bằng Địa này. Vì thông tỏ nhân duyên của nghiệp tội phước, vì thấy chúng sinh đều đáng thương xót, vì hệ thuộc nơi nghiệp, không tự tại, nên Bồ-tát không có tâm giận dữ, ghét bỏ với bất cứ người nào. Hành trì như thế nên từ bi càng hơn hẳn. Bồ-tát nghĩ như vầy:

Than ôi, các chúng sinh

Rớt sâu nơi tà kiến Ta nên nói chánh kiến

Khiến họ vào chánh đạo.

Bồ-tát thông đạt nhân duyên của nghiệp tội phước nên hành tâm từ sâu xa đối với các chúng sinh. Bồ-tát nghĩ như vầy: Chúng sinh thật đáng thương, do không biết thật tướng của các pháp, nên hành nhiều nơi vọng tưởng, sinh các tà kiến, nhân nơi tà kiến sinh khởi các phiền não. Do phiền não nên sinh khởi các nghiệp. Do nhân duyên nghiệp khởi nên luân chuyển trong sinh tử. Trước tiên, ta phát tâm cầu đạo quả Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng, vì hóa độ chúng sinh, nên nay ta giảng nói chánh kiến. Những chúng sinh này là nên hóa độ, nay sẽ vì họ giảng nói chánh kiến khiến nhập nơi chân đạo tất được độ thoát. Nghĩ như vậy rồi, Bồ-tát biết chúng sinh có vô số thứ phiền não, gọi là:

Quán phiền não sinh khởi

Cùng các phiền não cấu

Vô số nghiệp ác đen

Nhận vô số khổ não.

Thương xót các chúng sinh

Phần nhiều đều thiếu sót Quan sát các thứ xong Là đều như ta có.

Tức thì dùng tâm bi

Phương tiện phát nguyện lớn Làm sao khiến chúng sinh Diệt trừ hết khổ ấy.

Phiền não, phiền não cấu uế: Thuộc về sử gọi là phiền não, thuộc về triền gọi là cấu. Phiền não thuộc về sử là tham, sân, kiêu mạn, vô minh, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới thủ, tà kiến, nghi. Đó là mười thứ căn bản, tùy theo kiến đế, tư duy của ba cõi sẽ phân biệt đoạn trừ, nên gọi là chín mươi tám sử. Không phải sử gồm thâu là không tin, không hổ, không thẹn, dua nịnh, quanh co, đùa cợt, hối, cố chấp, biếng trễ, thối chí, ham ngủ, sân hận, keo kiệt, ganh ghét, kiêu căng, không nhẫn, ăn không biết đủ, cũng dùng kiến đế, tư duy của ba cõi để phân biệt đoạn trừ nên có một trăm chín mươi sáu triền cấu. Có người nói: “Phiền não là ở trong tâm sâu, còn cấu uế là ở nơi tâm cạn”. Có người nói: “Các chướng, cái gọi là triền cấu, các thứ còn lại đều là phiền não”.

Nghiệp ác đen: Là bảy nghiệp đạo bất thiện, chúng cùng với tham lấy, sân não, tà kiến, tương ưng nơi tư duy có thể sinh quả báo khổ.

Vô số khổ não: Là vô số sự ác trong thân gọi là khổ. Vô số sự ác trong tâm gọi là não. Lại nữa, khổ trong đời này gọi là khổ, sau đó bị đọa nơi đường ác gọi là não.

Phần nhiều đều thiếu sót: Là hoặc các căn của thân thể, hoặc tiền của cần dùng cho đời sống, hoặc không đầy đủ các công đức như tín, giới v.v… nên gọi là thiếu.

Các câu còn lại: Vì dễ hiểu, như đã nói trong kệ, không cần giải thích nữa.

Suy nghĩ như vậy rồi, Bồ-tát lại nghĩ:

Chúng sinh rất đáng thương

Rơi vào hàng Nhị thừa

Ta vì họ phát nguyện

Khiến trụ nơi Đại thừa.

Việc này, như Bồ-tát Kim Cang Tạng, trong Kinh Thập Địa tự nói: Bồ-tát này xa lìa mười nghiệp đạo bất thiện, cũng khiến chúng sinh trụ nơi mười đạo nghiệp thiện, vì chúng sinh nên cầu tâm thù thắng, tâm tốt, tâm vui, tâm thương xót, tâm từ bi, tâm lợi ích, tâm hộ trì, tâm ta hiện có, tâm đạo sư, tâm thâu giữ, tâm nhận giữ, và nghĩ như vầy: Các chúng sinh này thật rất đáng thương xót, họ rơi vào ý tà, kiến tà, đi trên đường tà vạy nguy hiểm, ta nay nên khiến họ trụ trong đường chánh kiến chân thật.

Các chúng sinh này chủng loại không đồng, cạnh tranh nhau, luôn mang tâm giận dữ, lửa sân não cháy bùng, nhưng ta sẽ giúp họ an trụ trong đại từ vô thượng.

Các chúng sinh này không có chán đủ, tham cầu lợi ích của người khác để tự sống theo tà mạng, ta sẽ khiến nghiệp thân, miệng, ý của họ trụ trong thanh tịnh. Do tham lam, sân hận, ngu si nên các chúng sinh này thường khởi lên vô số kiết sử phiền não, không có phương tiện để tự ra khỏi, ta sẽ diệt trừ khổ não ấy, khiến họ trụ nơi xứ không còn khổ não.

Các chúng sinh này do vô minh che lấp trí tuệ nên đi trong rừng rậm mù mịt của tà kiến, không thể tự ra khỏi nẻo tà kiến nguy hiểm ấy, ta sẽ cứu vớt khiến họ có được mắt trí tuệ vô ngại. Do mắt tuệ này có được không từ nơi người khác, nên có khả năng thấy được tướng như thật của các pháp.

Các chúng sinh này rơi vào nơi sông dài sinh tử, sắp rơi vào hầm sâu địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, A-tu-la, rơi vào lưới tà hiểm nguy. Vô số cỏ ác phiền não che phủ, nếu không có vị Đạo sư dẫn dắt, thì không thể sinh tâm xuất ly. Đạo nói là không phải đạo, không phải đạo cho là đạo. Quân ma giặc oán luôn theo đuổi, không có thầy thiện nên bị trôi theo ý ma, xa lìa pháp Phật. Những chúng sinh như thế, ta nên khiến họ vượt qua các nẻo sinh tử đầy nguy hiểm này, được trụ trong thành Nhất thiết trí không sợ hãi, không suy hoại.

Các chúng sinh này bị trôi nổi nơi dòng chảy của dục, dòng chảy của hữu, dòng chảy của kiến chấp, dòng chảy của vô minh, bao nhiêu đợt sóng lớn của nghiệp tội đã nhận chìm trong sông tham ái, theo từng lớp sóng xoáy của sinh tử, không thể tự mình vượt khỏi. Vì bị giác (tầm) dục, giác sân, giác não, là những thứ nước mặn ngâm dầm cho tan rữa. Vì bị La-sát thân kiến bắt giữ, nên đi vào rừng sâu của năm dục, bị vui mừng cấu nhiễm, thúc giục nơi đất liền ngã mạn.

Thật đáng thương xót, không có bến bãi, không người cứu hộ. Đối với sáu nhập chỉ là xóm làng trống vắng, không còn sức phát động, không có người khéo độ. Chúng sinh như vậy, ta nay nên đem thuyền bè đại bi, đại trí vững chắc để cứu vớt, đưa họ tới bờ bến an ổn nơi Nhất thiết trí không còn sợ hãi.

Các chúng sinh này bị nhiều khổ não đáng thương, bị giam nhốt trong lao ngục sinh tử ưu bi khổ não, ôm lòng tham, giận, yêu ghét, rơi vào bốn điên đảo, bị rắn độc bốn đại cắn mổ, bị oán gia năm ấm tàn hại, bị giặc vui mừng gian trá vây hãm, nơi sáu nhập là xóm làng trống vắng, chịu vô lượng khổ não. Ta nên phá bỏ nhà ngục sinh tử đó, khiến được tự tại nơi Niết-bàn an lạc vô ngại. Các chúng sinh này thật đáng thương, tâm trí hẹp kém, ưa thích lợi nhỏ, luôn bị chìm mất, không có tâm của Nhất thiết trí. Nếu cầu xuất ly thì ưa thích thừa Thanh văn, Phật-bích-chi. Ta nên khiến họ có được tâm lớn, khiến vui thích pháp rộng lớn của Phật.

Bồ-tát hành như vậy

Tức được lực trì giới

Khéo biết khởi nghiệp thiện

Khiến chúng được tăng trưởng

Đó tức là Phật tử

Vào sâu Địa Ly Cấu.

Lực trì giới: Là nhất tâm thanh tịnh hành đầy đủ mười đạo nghiệp thiện. Giới tức được lực phước đức tu tập.

Khéo biết khởi nghiệp thiện: Là khéo nhận biết tự làm phát sinh và tăng trưởng đạo thiện. Cũng khiến cho các chúng sinh vào sâu, là việc làm càng trở nên sâu xa, tận cùng nơi nguồn ngọn.

Phật tử: Là người có khả năng hành theo giáo pháp. Ở Địa thứ nhất mới sinh, đến Địa thứ hai thì tăng trưởng. Bồ-tát này nên siêng hành tinh tấn như vậy.

Nếu Bồ-tát đạt đến

Biên vực Địa Ly Cấu

Bấy giờ tức được thấy

Trăm ngàn các vị Phật.

Trong Địa thứ nhất đã nói Tam-muội Ban chu, thấy pháp Tam muội của Phật hiện tại hỗ trợ. Đó là dùng ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, bốn mươi pháp bất cộng để niệm Phật, không tham chấp nơi hết thảy các pháp, cũng nói lợi ích nơi Tam-muội, có thể thành tựu uy lực của quả báo.

Hỏi: Trong Địa thứ nhất, Bồ-tát đã đến biên vực của Địa thứ nhất tức có thể thấy chư Phật, nên khi mới vào Địa thứ hai, tức phải thấy chư Phật ngay. Vì sao nói phải đến biên vực của Địa thứ hai mới thấy chư Phật? Nếu như thế thì lúc vào Địa thứ hai, Tam-muội ở Địa thứ nhất phải mất, rồi sau mới lại được chăng?

Đáp: Mới vào Địa thứ hai, Bồ-tát cũng thấy chư Phật, cũng không mất Tam-muội này. Vì không hiểu rõ nghĩa của kệ nên ông mới nêu vấn nạn như vậy. Trong Địa thứ hai, ban đầu chỉ thấy trăm vị Phật, cho đến biên vực của Địa ấy mới được trông thấy trăm, ngàn vị Phật. Thấy chư Phật rồi, tâm rất hoan hỷ, muốn được pháp Phật nên càng siêng hành tinh tấn.

Có thể đem bốn sự

Cúng dường nơi chư Phật

Nơi trụ xứ chư Phật

Lại nhận mười đạo thiện.

Bốn sự: Là y phục, thức ăn uống, ngọa cụ, thuốc men.

Các nghĩa còn lại: Có thể nhận biết.

Hành trì như vậy rồi

Theo Phật nhận đạo thiện

Đến trăm ngàn vạn kiếp

Không hủy cũng không mất.

Không hủy: Là không khiến cho giới bị thiếu sót, giảm sút.

Hoặc do sự việc được thanh tịnh nên gọi là không hủy. Không mất: Là đều không hành lại nữa gọi là không mất.

Bồ-tát này đã qua Địa thứ nhất vào Địa thứ hai như vậy rồi, như nói:

Khéo lìa cấu xan tham

Thích hành xả thanh tịnh

Khéo lìa cấu xan tham

Thâm kính giới thanh tịnh.

Thanh tịnh là chỉ dùng tâm thiện hành xả, không còn các phiền não xen tạp. Kính mến sâu xa tức trụ vững trong đó, rốt ráo không bỏ. Trong Địa này, cấu uế của xan tham, cấu uế của sự phá giới, đều dứt hết không còn sót, thế nên Địa này gọi là Ly Cấu. Bồ-tát hoàn toàn không còn tâm tham lam keo kiệt, phá giới, ở trong bốn Nhiếp pháp, thì ái ngữ là hành tạo lợi ích nổi bật. Trong sáu pháp Ba-la-mật, thì giới độ là hành tạo lợi ích trội bật. Lợi là uy lực đa hành càng trở nên sâu xa.

Hỏi: Nếu ở Địa thứ hai này Trì giới Ba-la-mật đã được thế mạnh. Nay, trong đây nên giải nói rõ về phần phát sinh thế mạnh thanh tịnh sai biệt của trì giới Ba-la-mật?

Đáp:

Nói lược Thi-la độ

Có sáu mươi lăm phần

Sinh, lực, tịnh, sai biệt

Trong luận nhiều chỗ nói.

Trì giới Ba-la-mật có vô lượng vô biên, chỉ lược nói có sáu mươi lăm phần, còn những giới sinh, giới lực, giới tịnhgiới sai biệt, trong luận trước sau nhiều chỗ đã nói về tướng. Như trong phẩm Hòa Hợp Pháp Phật của Kinh Bảo Đảnh, Bồ-tát Vô Tận Ý ở trước Đức Phật đã giảng nói sáu mươi lăm thứ phần Thi-la Ba-la-mật. Thila (Trì giới) nghĩa là không não hại đối với hết thảy chúng sinh. Không hề sinh tưởng trộm cướp vật của người khác, không đắm vướng nơi ngoại sắc, không lừa dối chúng sinh. Quyến thuộc đầy đủ nên không nói hai lưỡi. Nhẫn chịu nhiều nơi lời ác, nên không có ác khẩu. Thường suy nghĩ lường tính về lời có ích, nên không có lời tán loạn. Vui mừng nơi sự an lạc của người khác, nên tâm không tham lấy. Nhẫn chịu các khổ nên không có giận dữ não hại. Không khen ngợi sư tà nên gọi là chánh kiến. Do có tâm tin thanh tịnh nên tin Phật. Biết rõ pháp chân thật nên tin pháp. Ưa thích cung kính, tôn trọng chúng Hiền Thánh nên tin Tăng. Niệm Phật nên gieo năm vóc nơi đất để lễ bái, cúng dường. Cho đến giới nhỏ, thâm tâm cũng lo sợ nên giới không suy kém.

Không nương dựa vào thừa khác nên không hủy giới. Xa lìa hành tà nên giới không bị thiếu giảm. Không khởi phiền não ác nên gọi là giới không xen tạp. Rốt ráo thường vui, pháp thiện thêm lớn, gọi là giới không cấu đục.

Theo ý mà làm nên gọi là giới tự tại. Không bị người trí quở trách nên gọi là giới được bậc Thánh khen ngợi. Thường ở trong niệm an tuệ nên gọi là giới dễ hành trì. Hết thảy không lỗi lầm nên gọi là giới không thể quở trách. Giữ gìn các căn nên gọi là giới khéo hộ trì.

Được chư Phật hộ niệm nên gọi là giới danh văn. Biết lượng lấy vừa đủ đúng như pháp nên gọi là giới thiểu dục. Dứt bỏ keo kiệt tham lam nên gọi là giới tri túc. Thân tâm xa lìa nên gọi là giới xa lìa. Lìa bỏ lời nói đông ồn nên gọi là giới A-lan-nhã. Không nhìn mặt người khác để mong có chỗ chứng đắc nên gọi là giới đầy đủ Thánh chủng.

Thuộc về căn thiện nên gọi là giới hành đầu-đà vi tế. Sinh vào cõi trời, người, nên gọi là giới hành đúng theo lời nói. Cứu độ hết thảy chúng sinh nên gọi là giới của từ. Nhẫn chịu tất cả khổ nên gọi là giới của bi. Tâm không thoái lui nên gọi là giới của hỷ.

Lìa bỏ thương ghét nên gọi là giới của xả. Hàng phục tâm nên gọi là giới tự thấy lỗi lầm. Che chở tâm kia nên gọi là giới không nhầm lẫn. Khéo hộ trì giới nên gọi là giới khéo thâu giữ. Thành thục chúng sinh nên gọi là giới bố thí.

Không nguyện ước điều gì nên gọi là giới nhẫn nhục. Không biếng trễ thoái lui nên gọi là giới tinh tấn. Tích tập hỗ trợ pháp thiền nên gọi là giới thiền. Căn thiện đa văn không biết chán đủ nên gọi là giới trí tuệ. Từ đa văn được trí tuệ nên gọi là giới cầu đa văn.

Tích tập hỗ trợ bảy giác pháp nên gọi là giới thân cận tri thức thiện. Lìa bỏ đạo tà nên gọi là giới lìa tri thức ác. Quán vô thường nên gọi là giới không tham thân. Siêng gom chứa căn thiện nên gọi là giới không tin dựa thân mạng. Thâm tâm thanh tịnh nên gọi là giới không hối.

Hành thanh tịnh nên gọi là giới không giả trá. Thâm tâm vô cấu nên gọi là giới không nóng bức. Khéo dấy khởi nghiệp nên gọi là giới không lo. Không tự cao nên gọi là giới không kiêu mạn. Lìa bỏ nhiễm dục nên gọi là giới không đùa cợt.

Tâm chân chất, ngay thẳng nên gọi là giới không tự cao. Tâm điều hòa nên gọi là giới có hổ thẹn. Tâm ác không sinh nên gọi là giới điều phục thiện. Diệt trừ phiền não nên gọi là giới vắng lặng. Hành như lời nói nên gọi là giới làm theo lời Phật dạy.

Hành bốn Nhiếp pháp nên gọi là giới hóa chúng sinh. Không làm mất pháp của chính mình nên gọi là giới hộ pháp. Xưa nay thanh tịnh nên gọi là giới viên mãn hết thảy nguyện. Hồi hướng nơi đạo vô thượng nên gọi là giới đạt đến pháp Phật. Tâm bình đẳng đối với hết thảy chúng sinh nên gọi là giới đắc Tam-muội Phật.

Sáu mươi lăm phần giới này là của Đại đức Xá-lợi-phất. Giới thanh tịnh của các Bồ-tát thì vô tận.

Giới sinh: Là nói gọn có tám thứ, bốn từ thân sinh, bốn từ miệng sinh. Từ thân sinh: Là lìa bỏ giết hại, lìa bỏ gây khổ não cho chúng sinh, lìa bỏ trộm cướp, lìa bỏ tà dâm. Từ miệng sinh: Là lìa bỏ nói dối, nói hai lưỡi, nói lời thô ác, nói lời tán loạn.

Tám thứ giới này từ thọ sinh, là pháp thọ, hoặc dùng thân, hoặc dùng miệng, hay dùng tâm thọ, hòa hợp thành hai mươi bốn thứ, chỉ dạy người khác thọ cũng có hai mươi bốn thứ. Tùy hỷ thọ cũng có hai mươi bốn thứ. Khi tu tập hành trì cũng có hai mươi bốn thứ, tổng cộng thành chín mươi sáu thứ đều hệ thuộc nơi cõi Dục. Từ đấy sinh khởi suốt ngày đêm. Vì sao? Vì tâm thọ nhận ban đầu đã diệt, đến tâm thứ hai này thường sinh cả đêm ngày. Dùng phước đức cũng như vậy. Vì sao? Vì tâm bố thí ban đầu đã diệt, theo sau là tâm thứ hai, lúc dụng công mới sinh khởi thường xuyên. Đó gọi là nghiệp thiện của thân. Có thứ thuộc về mười đạo nghiệp thiện, có thứ không thuộc. Hệ thuộc nơi cõi Dục là như thế.

Hệ thuộc nơi cõi Sắc có hai thứ: 1. Từ thân sinh. 2. Từ miệng sinh. Từ thân sinh: Là lìa mười đạo bất thiện, là không thuộc về tội. Từ miệng sinh: Là lìa bỏ lời nói tán loạn.

Giới này dùng thân thọ, miệng thọ, tâm thọ, hai lần ba là sáu. Giáo hóa người khác cũng sáu, tùy hỷ cũng sáu, khi tu tập cũng sáu, bốn lần sáu là hai mươi bốn, cộng với chín mươi sáu đã nói ở trên là một trăm hai mươi. Như thế là từ hành sinh giới.

Lại có khi chứng đạo sinh giới, khi thoái đạo sinh giới, giới sinh ra khi mới chào đời. Do sự rộng nên ở đây chỉ lược nói.

Giới lực: Là tùy theo Ba-la-mật tăng trưởng, giới chuyển biến được lực, tùy chỗ chứng đắc nơi các địa mà giới cũng được lực kiến cố.

Giới tịnh: Như trước đã nói, là không hủy hoại, khuyết giảm. Lại nữa, tướng của giới tịnh và bất tịnh được nói trong bảy pháp phạm hạnh. Như kinh nói: Do bảy thứ dâm dục gọi là giới không tịnh: 1. Tuy đã đoạn dâm dục nhưng tâm bị nhiễm khi để cho người nữ tắm rửa, xoa. 2. Tâm bị nhiễm do ngửi mùi hương người nữ hay nói cười với họ. 3. Tâm bị nhiễm khi mắt cùng nhìn nhau. 4. Tuy có bị ngăn trách, nhưng tâm bị nhiễm do nghe âm thanh của người nữ. 5. Trước đã cùng nói cười với người nữ, sau đó, tuy đã chia lìa, nhưng vẫn nhớ nghĩ không bỏ. 6. Ngay lúc đó tự hạn chế không dâm dục, nhưng về sau lại hành động. 7. Mong sinh lên cõi trời để thọ lạc cùng thiên nữ, thân sau được giàu sang, thế nên đoạn dâm dục. Đó gọi là bảy thứ bất tịnh. Lìa bỏ bảy sự việc này gọi là giới thanh tịnh.

Giới sai biệt: Có hai thứ: Là hữu lậu và vô lậu. Có ba thứ: Là hệ thuộc cõi Dục, hệ thuộc cõi Sắc và không hệ thuộc.

Có bốn thứ: Là chánh mạng gồm thâu hai thứ chánh ngữ, chánh nghiệp. Chánh mạng không gồm thâu cũng có hai thứ chánh ngữ, chánh nghiệp. Có năm thứ: Là giới của phàm phu, giới của Bồ-tát, giới của Thanh văn, giới của Phật-bích-chi, giới của Phật vô thượng.

Có sáu thứ: 1. Thuộc cõi Dục, chánh mạng gồm thâu thân, miệng. 2. Chánh mạng không gồm thâu. 3. Thuộc cõi Sắc, chánh mạng gồm thâu nghiệp thân, miệng. 4. Chánh mạng không gồm thâu. 5. Chánh mạng vô lậu gồm thâu thân, miệng. 6. Chánh mạng không gồm thâu.

Có bảy thứ: Là bảy đạo nghiệp thiện. Có tám thứ: Là như trước đã nói: Thân bốn thứ, miệng bốn thứ. Có chín thứ: Là bảy thứ đạo nghiệp thiện thuộc cõi Dục, hai thứ như trước đã nói. Có mười thứ: Là giới đạo có ba thứ, giới đối trị có ba thứ, chỉ là giới có ba thứ, là chín thứ cộng với giới hữu lậu, giới vô lậu là mười.

Như thế là vô số sự phân biệt về chỗ sai biệt của giới.

Hỏi: Trong thừa Thanh văn nói thân nghiệp, khẩu nghiệp gọi là Thi-la. Hai nghiệp thiện này gọi là tốt, hai nghiệp bất thiện gọi là xấu. Nghiệp thân, miệng thiện ấy gọi là Thi-la. Trong Luận này tức dùng đấy làm Thi-la hay còn Thi-la nào khác?

Đáp:

Không chỉ nghiệp thân, miệng

Gọi đó là Thi-la

Tu gần gũi vui hành

Cũng gọi là Thi-la.

Ba sự việc này là một nghĩa. Đó là tu tập, gần gũi, vui hành.

Hỏi: Nếu cho tu tập, gần gũi, vui hành gọi là Thi-la, thì tất cả pháp đều nên gọi là Thi-la. Vì sao? Vì thường tu tập, gần gũi, vui hành, thế nên nay ông mới nói đến tu tập Thi-la tối thắng.

Đáp:

Nếu vô ngã, ngã sở

Xa lìa các hý luận

Tất cả không thủ đắc

Gọi là thượng Thi-la.

Nếu không nhận biết thật tướng của pháp trong, ngoài, tức nhân nơi Thi-la sinh khởi kiêu mạn, tham chấp. Mở ra môn các tội, cho nên hoặc nơi nội pháp không thấy có ngã, ở trong ngoại pháp không có ngã sở. Biết pháp trong, ngoài rốt ráo là không, là vô sở đắc, cũng ở nơi rốt ráo không, không giữ lấy tướng hý luận. Đó gọi là Thi-la tối thượng. Vì sao? Vì trong Thi-la như vậy, hãy còn không có tâm lầm lẫn, huống gì là thân, miệng! Thế nên, chư Phật, Bồ-tát là người khéo hành Thi-la bậc nhất, đối với tất cả pháp không thể thủ đắc, gọi là thượng Thi-la.

Như trong kinh Ca-diếp nói: Đức Phật bảo Tôn giả Ca-diếp: Thi-la là vô ngã, vô phi ngã, không tạo tác, không chốn tạo tác, không người tạo tác, vô hành, vô bất hành, vô danh, vô sắc, vô tướng, vô vô tướng, phi thiện, phi phi thiện, phi tịch diệt, phi phi tịch diệt, phi thủ phi xả, không chúng sinh, không nhân duyên của chúng sinh, không thân, không miệng, không tâm, không thế gian, không pháp thế gian, không dựa vào thế gian. Không do Thi-la mà tự cao, không do Thi-la mà hạ thấp người, không do Thi-la mà khởi tăng thượng mạn, không do Thi-la mà phân biệt bỉ, thử. Này Ca-diếp! Đó gọi là Thi-la của các Hiền Thánh, lìa ba cõi, vô lậu, không bị trói buộc.

Như trong Phẩm Thi-la, Bồ-tát Vô Tận Ý nói với Tôn giả Xálợi-phất: Thi-la gọi là không phân biệt là chúng sinh, không nói là ngã, không nói là thọ giả, mạng giả, không nói là người, không nói là người nuôi dạy, không nói là sắc ấm, thọ tưởng hành thức ấm, không nói là địa chủng, thủy hỏa phong chủng.

Thi-la gọi là không phân biệt là tướng mắt, không phân biệt là tướng sắc, không phân biệt tướng tai, tướng thanh, tướng mũi, tướng hương, tướng lưỡi, tướng vị, tướng thân, tướng xúc, tướng ý, tướng pháp. Thi-la gọi là không phân biệt là thân, là miệng, là tâm. Thi-la gọi là thâu giữ tâm nên là tướng của một tâm, là lựa chọn các pháp nên là tướng của tuệ.

Thi-la gọi là đến chốn không, đến chốn vô tướng, không xen tạp nơi ba cõi, không tác, không khởi nhẫn vô sinh. Thi-la gọi là không từ đời trước tới, không đi đến đời sau, cũng không trụ ở khoảng giữa. Thi-la gọi là không trụ, tâm ý thức không cùng với niệm hòa hợp. Thi-la gọi là không nương dựa vào cõi Dục, không nương dựa vào cõi Sắc, không nương dựa vào cõi Vô sắc.

Thi-la gọi là lìa tham trần, trừ sân cấu, diệt vô minh tối tăm, không thường, không đoạn, không trái với các tướng duyên sinh. Thi-la gọi là lìa tâm ngã, xả tâm ngã sở, không trụ nơi thân kiến. Thi-la gọi là không tham vướng nơi danh, tướng, không hòa hợp với danh sắc.

Thi-la gọi là không bị kiết sử sai khiến, không bị các triền che lấp, không trụ trong chướng ngại của nghi hối. Thi-la gọi là không trụ ở căn bất thiện tham, vượt qua căn bất thiện sân, đoạn dứt căn bất thiện si. Thi-la gọi là không vội gấp, không nóng bức, tâm khinh an, diệu lạc. Thi-la gọi là không đoạn mất chủng tử của chư Phật nên không phá bỏ pháp thân, không phân biệt pháp tánh nên không đoạn chủng tử của pháp, tướng vô vi nên không đoạn chủng tử của Tăng. Này Tôn giả Xá-lợi-phất! Đó gọi là Thi-la vô thượng tối thắng của các Bồ-tát. Thi-la như vậy tức không cùng tận, chỉ trừ Thi-la của Phật, các Thi-la khác đều có cùng tận. Đó là:

Từ Thi-la phàm phu

Sau đến Phật-bích-chi

Đều có tướng cùng tận

Bồ-tát thì vô tận.

Từ phàm phu cho đến Thi-la hiện có, tuy thọ nhận quả báo lâu dài, nhưng rốt cuộc cũng quy về cùng tận. Thi-la hiện có của các A-la-hán, Phật-bích-chi, cũng đều cùng tận. Còn Thi-la của Bồ-tát là không ngã, không ngã sở, xa lìa tất cả sở đắc, diệt trừ hết hý luận, nên không cùng tận. Như Bồ-tát Vô Tận Ý, trong phẩm Thi-la nói: Thi-la của các phàm phu theo xứ sinh hết thì Thi-la cũng hết. Năm thông của ngoại đạo thoái chuyển, lúc chấm dứt thì Thi-la của họ cũng chấm dứt. Mười đạo nghiệp thiện của con người chấm dứt thì Thi-la của con người cũng chấm dứt.

Phước đức của chư Thiên cõi Dục hết thì Thi-la của họ cũng hết. Chư Thiên cõi Sắc với bốn thiền, bốn vô lượng chấm dứt thì Thila của chư Thiên cõi ấy cũng chấm dứt. Chư Thiên cõi Vô sắc theo xứ sinh định chấm dứt thì Thi-la của chư Thiên ấy cũng chấm dứt.

Hàng hữu học, vô học, nhập Niết-bàn chấm dứt thì Thi-la của họ cũng chấm dứt. Các Phật-bích-chi do không có tâm đại bi nên Thi-la của họ cũng chấm dứt.

Này Đại đức Xá-lợi-phất! Chỉ có Thi-la của các Bồ-tát là không cùng tận. Vì sao? Vì từ Thi-la của Bồ-tát xuất sinh các Thi-la khác nhau, do nhân vô tận nên quả cũng không cùng tận. Thi-la của Bồ-tát là vô tận nên Thi-la của Như Lai cũng vô tận. Thế nên Thi-la của bậc Đại nhân gọi là vô tận.

Hỏi: Khi ông giải thích sơ lược về Thi-la, nói có sáu mươi lăm loại Thi-la, trong Thanh văn có tám thứ Thi-la, bốn thứ từ thân sinh, bốn thứ từ miệng sinh. Sự việc như vậy há là không chống trái nhau?

Đáp: Không chống trái nhau. Vì sao?

Tuy không thể Thi-la

Lợi ích nên gọi phần

Tám thứ nghiệp thân, miệng

Tức là thể Thi-la.

Tuy sáu mươi lăm thứ phần không phải là thể của Thi-la, nhưng tám loại Thi-la thô có nhiều lợi ích cho thân, miệng, nên gọi là phần Thi-la. Phàm cái gì có thể đem lại lợi ích đều gọi là phần, như voi, ngựa, quạt lọng gọi là phần của vua. Thế nên thiền định, trí tuệ v.v… tuy không phải là thể của Thi-la, nhưng vì tạo lợi ích cho Thi-la, nên cũng gọi là phần Thi-la.

***

Phẩm 32: GIẢI THÍCH VỀ ĐẦU ĐÀ, phần 1

Bồ-tát hành pháp Thi-la như vậy.

Thấy mười lợi nên mặc

Hai sáu thứ y pháp

Lại do thấy mười lợi

Nên suốt đời khất thực.

Tỳ-kheo muốn hành đầy đủ phẩm trì giới nên mặc hai mươi sáu thứ y, do thấy rõ mười lợi:

  1. Do hổ thẹn.
  2. Do ngăn nóng lạnh, muỗi mòng, trùng độc.
  3. Do biểu thị pháp nghi của bậc Sa-môn.
  4. Hết thảy hàng trời, người khi thấy pháp y đều cung kính, tôn quý như đối với chùa tháp.
  5. Do tâm chán lìa nên mặc y nhuộm, không phải tham đẹp.
  6. Do tùy thuận pháp vắng lặng, không phải bị phiền não thiêu đốt.
  7. Mặc pháp y có điều xấu ác dễ thấy.
  8. Do mặc pháp y thì không cần dùng vật khác để trang nghiêm.
  9. Do mặc pháp y là tùy thuận tu tập tám Thánh đạo.
  10. Do mặc pháp y hoại sắc này nên ta tinh tấn hành đạo, không để tâm bị nhiễm ô dù chỉ trong chốc lát.

Do thấy mười điều lợi ấy nên mặc hai thứ y:

  1. Y cư sĩ.
  2. Y phấn tảo.

Sáu loại là:

  1. Kiếp bối.
  2. Sô-ma.
  3. Kiêu-xa-da.
  4. Y lông thú.
  5. Y bằng gai đỏ.
  6. Y bằng gai trắng.

Vì thấy có mười điều lợi nên khất thực suốt đời:

  1. Các thứ cần dùng nuôi sống đều do mình, không tùy thuộc người khác.
  2. Chúng sinh cho ta ăn, ta khiến họ trụ nơi Tam bảo, sau đó mới ăn.
  3. Nếu có người cho ta ăn, nên sinh tâm bi, ta phải siêng năng tinh tấn, khéo giúp họ trụ trong hành bố thí. Chú nguyện vậy xong mới ăn.
  4. Tùy thuận hành theo lời Phật dạy.
  5. Dễ đầy đủ, dễ nuôi dưỡng.
  6. Là pháp hành phá trừ kiêu mạn.
  7. Là căn thiện vô kiến đảnh.
  8. Thấy ta khất thực, người khác tuy có tu tập pháp thiện, cũng sẽ hành như ta.
  9. Không có những nhân duyên gì với các nam, nữ lớn nhỏ.
  10. Thứ lớp khất thực, nên có tâm bình đẳng đối với chúng sinh, tức là gieo trồng pháp hỗ trợ Nhất thiết chủng trí.

Phật tuy cho thỉnh thực

Do muốn tự lợi rồi

Cũng lợi ích người khác

Không vậy, không thọ thỉnh.

Tự lợi: Là có khả năng hành đủ các Ba-la-mật. Lợi tha: Là giáo hóa chúng sinh, khiến họ trụ nơi Tam bảo. Hành giả lợi mình, lợi người như vậy.

Vì thấy có mười lợi

Thường không bỏ nơi vắng

Thưa hỏi và nghe pháp

Giáo hóa cho đến chùa.

Tỳ-kheo chấp nhận ở chốn A-lan-nhã, tuy làm tăng trưởng vô số công đức, nhưng đây chỉ lược nói là thấy có mười thứ lợi ích, nên suốt đời không từ bỏ chốn A-lan-nhã ấy. Những gì là mười điều lợi ích?

  1. Đến, đi tự tại.
  2. Không có ngã và ngã sở.
  3. Tùy ý an trụ, không có chướng ngại.
  4. Tâm càng vui thích tu tập trụ xứ A-lan-nhã.
  5. Trụ xứ ít dục, ít việc.
  6. Không tham tiếc thân mạng, vì đầy đủ công đức.
  7. Xa lìa các lời nói huyên náo, đông người.
  8. Hành các công đức, nhưng không cầu báo đáp.
  9. Tùy thuận thiền định dễ được nhất tâm.
  10. Trụ nơi xứ trống vắng như vậy, dễ sinh tưởng không chướng ngại.

Thăm hỏi các bệnh nhân, đi đến các chùa chữa trị.

Nếu có nhân duyên gì

Đến ở nơi chùa tháp

Trong tất cả các việc

Không bỏ tưởng thanh vắng.

Tỳ-kheo tuy trọn đời chấp nhận pháp sống chốn A-lan-nhã, nhưng có nhân duyên gì phải đến tá túc nơi chùa tháp thì vẫn cứ đến. Pháp Phật có thông, có ngăn, không như A-lan-nhã của ngoại đạo, nên gọi là xứ thường lạc, thanh vắng, tịch tĩnh.

Tỳ-kheo đối với tất cả pháp không bỏ tưởng không, vì thể của các pháp rốt cùng đều là không.

Hỏi: Vì nhân duyên gì mới đến ở chùa tháp?

Đáp:

  1. Vì đưa các người bệnh đến.
  2. Vì người bệnh nên xin những thứ thuốc men.
  3. Vì người bệnh nên xin đến chăm sóc.
  4. Vì người bệnh nên nói pháp.
  5. Vì giảng nói pháp cho những Tỳ-kheo khác.
  6. Nghe pháp giáo hóa.
  7. Vì cung kính cúng dường bậc Đại đức.
  8. Vì cung cấp cho Thánh chúng.
  9. Vì đọc tụng kinh thâm diệu.
  10. Dạy người khác đọc tụng kinh thâm diệu.

Vì những lý do ấy mà đến ở nơi chùa, tháp.

Tinh tấn hành các giác

Theo pháp A-lan-nhã

Tỳ-kheo đã an trụ

Nơi chốn A-lan-nhã

Luôn nên sinh tinh tấn

Vô số các pháp thiện

Tâm gánh vác vô ngã

Diệt trừ mọi sợ hãi.

A-lan-nhã tinh tấn: Là nếu Tỳ-kheo đã đoạn dứt tâm tham, không tiếc thân mạng, lợi dưỡng, thì ngày đêm luôn siêng năng tinh tấn tu tập, như cứu lửa cháy đầu, thân nương dựa nơi A-lan-nhã.

Giác: Đó là sinh ra các giác thiện như giác xuất sinh, giác không sân, giác không não hại.

Lại nữa, tưởng nhớ Phật là bậc Chánh Biến Tri, là bậc tôn quý trong chúng sinh. Pháp Phật là nói về thiện, chúng đệ tử tùy thuận hành đúng đắn.

Lại nữa, còn tùy thuận không, tùy thuận vô tướng, tùy thuận vô nguyện. Các giác gọi là giác tùy thuận A-lan-nhã.

Lại nữa, còn tùy thuận giác bốn thắng xứ, tùy thuận các giác sáu Ba-la-mật. Đó gọi là giác tùy thuận A-lan-nhã.

Lại nữa, Phật giảng nói hạnh của Bồ-tát xuất gia, tại gia cho trưởng giả Úc-già: Nếu Bồ-tát xuất gia nên thọ nhận pháp A-lan-nhã, suy nghĩ như vầy: Vì sao ta trụ nơi A-lan-nhã? Không phải ta chỉ trụ nơi A-lan-nhã nên gọi là Sa-môn, mà ở chốn A-lan-nhã có nhiều chúng sinh xấu ác bất thiện, không giữ gìn các căn, không tinh tấn, không tu tập pháp thiện, chỉ như nai hươu, như khỉ vượn, như chim chóc, như Chiên-đà-la thấp kém, không thể gọi là Tỳ-kheo. Nay do sự việc gì mà ta trụ nơi xứ A-lan-nhã? Nên xác định đầy đủ về sự việc ấy. Này trưởng giả! Đó là những sự việc:

  1. Niệm không tán loạn.
  2. Được các Đà-la-ni.
  3. Hành tâm từ.
  4. Hành tâm bi.
  5. Năm thần thông tự tại an trụ.
  6. Đầy đủ sáu Ba-la-mật.
  7. Không bỏ tâm Nhất thiết trí.
  8. Tu tập trí phương tiện.
  9. Thâu giữ các chúng sinh.
  10. Thành tựu chúng sinh.
  11. Không bỏ bốn Nhiếp pháp.
  12. Thường nhớ nghĩ đến sáu tư niệm.
  13. Vì đa văn nên không bỏ tinh tấn.
  14. Chánh quán, lựa chọn các pháp.
  15. Ứng hợp chánh giải thoát.
  16. Biết được quả.
  17. Trụ nơi chánh vị.
  18. Giữ gìn pháp Phật.
  19. Tin quả báo của nghiệp nên gọi là chánh kiến.
  20. Lìa bỏ tất cả suy nghĩ, nhớ tưởng, phân biệt, nên gọi là chánh tư duy.
  21. Tùy theo chỗ tin, ưa của chúng sinh mà giảng nói pháp, gọi là chánh ngữ.
  22. Diệt trừ các nghiệp nên sinh khởi nghiệp gọi là chánh nghiệp.
  23. Phá bỏ tập khí phiền não gọi là chánh mạng.
  24. Được đạo vô thượng nên gọi là chánh tinh tấn.
  25. Quán pháp không hư vọng nên gọi là chánh niệm.
  26. Vì được tất cả trí tuệ nên gọi chánh định.
  27. Không sợ nơi không.
  28. Không sợ nơi vô tướng.
  29. Không chìm mất nơi vô nguyện.
  30. Nên dùng trí khi thọ thân.
  31. Nương dựa vào nghĩa, không nương dựa vào lời.
  32. Nương dựa vào trí, không nương dựa vào thức.
  33. Nương dựa vào kinh liễu nghĩa, không nương dựa vào kinh không liễu nghĩa.
  34. Nương dựa vào pháp, không nương dựa vào người.

Này Trưởng giả! Những thứ như thế gọi là các sự việc tạo lợi ích của Bồ-tát, Tỳ-kheo xuất gia nên sinh khởi.

Tùy thuận pháp A-lan-nhã: Đó là bốn thiền, bốn tâm vô lượng, các thần thông: thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm trí, túc mạng trí v.v…

Diệt trừ mọi sợ hãi: Là người này dựa vào ba nhân duyên nên có thể diệt sợ hãi: 1. Thấy rõ tướng của pháp không có ngã, ngã sở, nên có thể trừ bỏ mọi sợ hãi. 2. Do có sức mạnh của phương tiện. 3. Do có tâm lực gánh vác nên có thể trừ bỏ được sợ hãi.

Thấy không có ngã, ngã sở: Như đã nói trong Địa thứ nhất, về sức phương tiện để trừ bỏ năm thứ sợ hãi.

Trong phần Luận này, gọi là sức phương tiện tức là niệm, chánh tư duy về quả báo của nghiệp. Nên suy nghĩ như vầy: Các vua nước lớn ở trong chốn cung điện rộng lớn được hầu hạ bảo vệ với bốn binh voi, ngựa, xe, bộ, nhưng khi nhân duyên của nghiệp đã hết thì cũng thọ nhận vô số sự suy não. Lại, nếu nhân duyên của nghiệp được giữ gìn thì tuy đi trong đường nguy hiểm, ra biển cả, giữa chiến trận, cũng được an ổn không lo lắng. Nhân duyên của nghiệp nơi kiếp trước của ta hoặc ở tại xóm làng, hoặc ở nơi A-lan-nhã, theo nhân duyên ấy tất nhận lấy quả báo. Suy nghĩ như vậy rồi nên diệt trừ hết mọi sợ hãi.

Lại suy nghĩ như vầy: Nếu ta vì giữ gìn thân, thì khi đi vào thành ấp, xóm làng, bỏ xứ A-lan-nhã, thì ta không thể hơn được người giữ gìn nghiệp thiện của thân, nghiệp thiện của miệng, nghiệp thiện của ý. Như Phật nói với vua Ba-tư-nặc: Nếu người hành nghiệp thiện của thân, hành nghiệp thiện của miệng, hành nghiệp thiện của ý, thì đó gọi là người khéo tự hộ trì. Người ấy nếu nói: Tôi khéo tự hộ trì, thì đó là lời nói thật. Này đại vương! Người ấy tuy không có bốn binh hộ vệ, nhưng cũng có thể gọi là khéo tự hộ vệ tốt nhất. Vì sao? Vì sự hộ vệ như vậy gọi là sự giữ gìn bên trong, không phải sự giữ gìn bên ngoài. Cho nên ta cho người hành nghiệp thiện của thân, hành nghiệp thiện của miệng, hành nghiệp thiện của ý, thì gọi người ấy là khéo tự giữ gìn.

Lại suy nghĩ như vầy: Ở nơi A-lan-nhã này, những thứ chim, thú, loài bò sát v.v…, chúng không có hành thiện của thân, không có hành thiện của miệng, không có hành thiện của ý, nhưng do ở cách xa xóm làng nên chúng không sợ hãi. Tâm trí của ta, há lại không bằng các thứ chim thú ấy sao? Suy nghĩ như vậy nên trừ bỏ được mọi sợ hãi.

Lại nữa, do nhớ nghĩ đến Phật, nên ở nơi A-lan-nhã có thể phá trừ hết thảy mọi việc sợ hãi. Như kinh nói: “Tỳ-kheo các ông ở nơi A-lan-nhã, hoặc ở nơi gốc cây, hoặc ở nơi nhà trống vắng sinh sợ hãi, ngất xỉu, rợn tóc gáy, thì nên nghĩ: Ta là Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”. Khi suy nghĩ như vậy thì mọi sợ hãi liền diệt.

Người không sợ hãi là người tâm không khiếp nhược, quyết định cầu đạo, như kệ nói:

Tỳ-kheo trụ thanh vắng

Nên dùng tâm lực đảm

Trừ diệt các sợ hãi

Niệm Phật không còn sợ.

Nếu người tự khởi nghiệp

Sợ hãi không được thoát

Không sợ cũng không thoát

Sợ tức mất chánh lợi.

Biết khó tránh như vậy

Mà phá lợi ích khác

Tức hành việc tiểu nhân

Tỳ-kheo không nên làm.

Nếu có điều sợ hãi

Nên sợ nơi sinh tử

Tất cả những sợ hãi

Sinh tử đều là nhân.

Thế nên người hành đạo

Muốn thoát khỏi sinh tử

Cũng cứu giúp người khác

Không nên sinh sợ hãi.

Như trong Kinh Phật Ly Bố Úy nói: Về pháp sợ hãi, như có Samôn, Bà-la-môn ở nơi A-lan-nhã nên suy nghĩ như vầy: Do nghiệp thân bất thiện, nghiệp khẩu bất thiện, nghiệp ý bất thiện, niệm không thanh tịnh, xem mình là cao khinh thường người khác, tâm lười biếng, tưởng nhớ vọng động, tâm không định, ngu tối, nên sinh sợ hãi. Trái lại, nghiệp thân thanh tịnh v.v… thì không còn sợ hãi.

Lại nữa, Phật vì Trưởng giả Úc-già giảng nói: Bồ-tát xuất gia ở nơi A-lan-nhã nên nghĩ như vầy: Ta vì sao lại ở nơi đây? Tức thời tự biết, vì muốn lìa sợ hãi, nên mới đến nơi này. Sợ hãi cái gì? Là sợ những sự ồn ào, sợ các thứ nói năng. Sợ tham dục, sân hận, ngu si. Sợ kiêu mạn, tức giận, ganh ghét người khác được lợi dưỡng. Sợ sắc thanh hương vị xúc. Sợ ma năm ấm, sợ những sự ngu tối làm chướng ngại. Sợ nói không phải lúc, sợ không thấy nói thấy, sợ không nghe nói nghe, sợ không biết nói biết, sợ không hiểu nói hiểu. Sợ những Sa-môn cấu uế. Sợ phải ở chung với kẻ mình ghét. Sợ phải sinh vào những xứ của cõi Dục, Sắc, Vô sắc. Sợ phải rơi vào nẻo ác như đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh cùng các xứ nạn.

Nói tóm lại là sợ tất cả pháp ác, bất thiện, do vậy nên đến ở nơi A-lan-nhã. Nếu người tại gia ưa thích đời sống ồn ào, không tu tập đạo, trụ nơi những niệm tà, thì không thể lìa được những sợ hãi như thế. Có các Bồ-tát quá khứ đều sống nơi xứ A-lan-nhã, lìa các sợ hãi, được xứ không sợ hãi, được hết thảy trí tuệ. Tất cả chư Bồ-tát nơi đương lai cũng đều ở nơi xứ A-lan-nhã, lìa mọi sợ hãi, được tất cả trí tuệ. Chư Bồ-tát hiện tại cũng trụ nơi chốn A-lan-nhã, lìa mọi sợ hãi, được xứ không sợ hãi, nên thành tựu tất cả trí tuệ. Do vậy, ta sợ hãi hết thảy các pháp ác, vượt qua mọi thứ sợ hãi, nên trụ nơi xứ A-lan-nhã.

Lại nữa, tất cả mọi sợ hãi đều phát sinh từ sự chấp vướng nơi ngã, tham đắm vào ngã, yêu mến ngã, nhận lấy ngã, phát sinh ngã tưởng, ngã kiến, tôn quý ngã, phân biệt về ngã, bảo vệ ngã. Nếu Bồtát không xả bỏ sự tham đắm về ngã, thì khi trụ nơi xứ A-lan-nhã, hoàn toàn không đạt được lợi ích gì.

Lại nữa, nếu trưởng giả thấy có pháp sở đắc thì không trụ nơi xứ A-lan-nhã. Những người trụ nơi ngã và ngã sở, thì không thể trụ nơi xứ A-lan-nhã. Người trụ nơi điên đảo, thì không thể trụ nơi xứ A-lan-nhã. Này trưởng giả! Cho đến sinh khởi tưởng về Niết-bàn hãy còn không thể trụ nơi xứ A-lan-nhã, huống chi là sinh khởi tưởng phiền não. Này trưởng giả! Ví như cỏ cây nơi xứ A-lan-nhã, chúng không có chút kinh sợ. Bồ-tát cũng như vậy, sống nơi xứ A-lan-nhã nên sinh tưởng cỏ cây, tưởng ngói đá, tưởng bóng trong nước, tưởng hình trong gương. Đối với lời nói, nên sinh tưởng tiếng vang, đối với tâm nên sinh tưởng huyễn hóa. Như vậy, ở trong ấy, ai là sợ hãi, sợ hãi cái gì? Bấy giờ, Bồ-tát tức chánh quán nơi thân, thấy không có ngã, ngã sở, không có chúng sinh, không có thọ giả, mạng giả, không có người nuôi dưỡng, không có nam nữ, không có người biết, không có kẻ thấy. Sợ hãi chính là phân biệt hư vọng, ta tức không nên thuận theo sự phân biệt hư vọng đó. Trụ nơi xứ A-lan-nhã, Bồ-tát nên xem mình như cỏ cây, lại nhận biết hết thảy pháp đều cũng như vậy. Hiểu rõ, đoạn dứt mọi sự tranh chấp, gọi là xứ A-lan-nhã. Không có ngã, không có ngã sở, không có chốn hệ thuộc, gọi là xứ A-lan-nhã. Do vậy, không nên vui thích chúng tại gia, xuất gia trụ nơi xứ ồn ào, náo nhiệt. Chư Phật không cho Tỳkheo sống nơi xứ A-lan-nhã cùng với người xuất gia, tại gia hòa hợp.

Hỏi: Phật không cho phép cùng với tất cả mọi người hòa hợp chăng?

Đáp: Không phải vậy.

Phật cho bốn hòa hợp

Loại khác thì không cho

Do vậy nên gần gũi

Loại khác, nên xa lìa.

Bồ-tát sống nơi xứ A-lan-nhã được phép hòa hợp với bốn chúng. Đó là những việc nhập chúng nghe pháp, giáo hóa chúng sinh, cúng dường chư Phật, tâm không lìa khỏi Nhất thiết trí, là được hòa hợp. Cho nên chỉ cho phép hòa hợp với bốn sự việc ấy, còn người khác thì không nên gần gũi.

Lại nữa, Bồ-tát nên nghĩ như vầy: Vì sao chư Phật cho phép ta trụ nơi xứ A-lan-nhã? Ta nên gần gũi nơi đó. Có khi nơi ta ở không phải là A-lan-nhã mà cho là A-lan-nhã, hoặc có sự lầm lẫn chăng?

Hỏi: Những gì là trụ xứ A-lan-nhã, Bồ-tát phải biết?

Đáp: Trụ xứ A-lan-nhã do Phật nói đến trong kinh, nghĩa là không trụ vào tất cả các pháp, không duyên nơi các trần, không chấp giữ tướng của tất cả pháp, không tham nơi sắc thanh hương vị xúc, quán tất cả pháp đều bình đẳng, không có nơi chốn nương dựa trụ chấp, gọi là trụ xứ A-lan-nhã.

Do tự tâm thiện, không trái ngược với trụ xứ gọi là trụ A-lannhã. Bỏ tất cả gánh nặng, trụ nơi khinh an an lạc gọi là trụ A-lannhã. Thoát khỏi tất cả phiền não, không trụ nơi sự sợ hãi, gọi là trụ A-lan-nhã.

Vượt qua các dòng chảy được an trụ gọi là trụ A-lan-nhã. Trụ vào Thánh chủng gọi là trụ A-lan-nhã. Đạt được chỗ sâu xa của tri túc gọi là trụ A-lan-nhã. Sống với thiểu dục dễ đầy đủ, dễ nuôi dưỡng gọi là trụ A-lan-nhã. Sống với trí tuệ đầy đủ gọi là trụ A-lan-nhã. Sống với chánh hạnh, đa văn gọi là trụ A-lan-nhã. Ba môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện luôn hiện tiền gọi là trụ A-lan-nhã. Sống với sự đoạn trừ trói buộc, được giải thoát, gọi là trụ A-lan-nhã. Sống tùy thuận nơi mười hai nhân duyên gọi là trụ A-lan-nhã. Sống với sự vắng lặng hoàn toàn, mọi việc đã làm xong, gọi là trụ A-lan-nhã.

Trụ xứ A-lan-nhã là tùy thuận nơi phẩm giới, hỗ trợ phẩm định, được lợi ích nơi phẩm tuệ, dễ thành tựu phẩm giải thoát, dễ đạt được phẩm giải thoát tri kiến, dễ hành các pháp trợ Bồ-đề, có thể thâu giữ các công đức Đầu-đà.

Trụ xứ A-lan-nhã thông đạt các đế. Xứ A-lan-nhã thấy biết các ấm. Xứ A-lan-nhã thấy các tánh đồng là pháp tánh. Xứ A-lan-nhã lìa khỏi mười hai nhập. Xứ A-lan-nhã không quên mất tâm Bồ-đề. Xứ A-lan-nhã quán không chẳng sợ hãi. Xứ A-lan-nhã có khả năng hộ trì pháp Phật. Xứ A-lan-nhã người cầu giải thoát không mất công đức. Xứ A-lan-nhã có khả năng chứng được Nhất thiết trí, tức có thể làm tăng ích cho xứ A-lan-nhã. Bồ-tát hành như vậy, mau chóng đạt được đủ sáu Độ. Vì sao? Vì nếu Bồ-tát sống nơi A-lan-nhã, không tham tiếc thân mạng, đó gọi là hành bố thí Ba-la-mật. Ba thứ nghiệp thiện thanh tịnh, hành pháp Đầu-đà vi tế, đó gọi là Trì giới Ba-la-mật. Không có tâm giận dữ đối với các chúng sinh, tâm từ hiện bày khắp, chỉ vui thích thừa Nhất thiết trí, không vui nơi thừa khác, đó gọi là Nhẫn nhục Ba-la-mật. Tự lập thệ nguyện luôn ở nơi A-lan-nhã, chưa chứng được chánh pháp thì trọn đời không rời khỏi xứ ấy, đó gọi là Tinh tấn Ba-la-mật. Do được thiền định nên không quán xứ sinh, tu tập căn thiện, đó gọi là Thiền Ba-la-mật. Như thân A-lan-nhã cũng như vậy, như thân Bồ-đề cũng như vậy, trong như thật không có sai biệt, đó gọi là Bát-nhã Ba-la-mật.

Phật cho phép bốn pháp

Trụ nơi A-lan-nhã.

Những gì là bốn pháp? Như Đức Phật bảo Trưởng giả:

  1. Đa văn.
  2. Khéo nhận biết nghĩa quyết định.
  3. Vui thích tu tập chánh niệm.
  4. Tùy thuận hành như đã nói.

Người như thế nên trụ nơi xứ A-lan-nhã.

Lại nữa, có những Bồ-tát phiền não còn sâu dày, người này nếu ở những nơi chốn náo nhiệt thì dễ sinh phiền não, nên trụ nơi xứ A-lan-nhã để hàng phục các phiền não.

Lại nữa, Bồ-tát được năm thần thông, người này muốn giáo hóa, thành tựu các chúng Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, cũng nên trụ nơi xứ A-lan-nhã.

Lại nữa, có Bồ-tát nghĩ như vầy: Nơi chốn được chư Phật khen ngợi và cho phép chính là xứ A-lan-nhã.

Lại nữa, trụ nơi xứ A-lan-nhã thì hỗ trợ, làm viên mãn tất cả pháp thiện, căn thiện tăng trưởng, sau đó mới đi vào xóm làng giảng nói pháp, giáo hóa chúng sinh. Thành tựu những công đức như vậy nên mới có thể trụ nơi xứ A-lan-nhã.

Lại nữa:

Trong Kinh Quyết Định Vương Phật vì A-nan, nói:

Tỳ-kheo A-lan-nhã

Nên trụ bốn, bốn pháp.

Bồ-tát trụ nơi xứ A-lan-nhã phải:

  1. Xa lìa người tại gia, xuất gia.
  2. Muốn đọc tụng kinh thâm diệu.
  3. Dẫn dắt chúng sinh khiến họ được công đức của xứ A-lan-nhã.
  4. Đêm ngày không lìa niệm Phật.

Lại có bốn pháp:

  1. Không sinh tâm giận dữ đối với chúng sinh, cho dù chỉ trong khoảnh khắc.
  2. Không nên trong khoảnh khắc nào đó khiến thùy miên che lấp tâm.
  3. Không nên sinh khởi tưởng chúng sinh, dù chỉ trong khoảnh khắc.
  4. Không được quên mất tâm Bồ-đề, dù chỉ trong khoảnh khắc.

Lại có bốn pháp:

  1. Thường phải an tọa nơi thanh vắng, không ở nơi tụ tập đông đảo.
  2. Thường vui thích kinh hành.
  3. Không có tưởng mới, cũ khi quán các pháp.
  4. Không nên lìa khỏi sự thâm diệu nơi ba pháp không, vô tướng, vô nguyện.

Lại có bốn pháp:

  1. Hành bốn thiền, không hành thiền thế gian. Hành bốn tâm vô lượng, duyên nơi chúng sinh, sinh tâm bi nhưng không giữ lấy tướng chúng sinh.
  2. Tuy hành tâm từ nhưng không duyên nơi chúng sinh. Tuy hành tâm hỷ, nhưng không tham an lạc. Tuy hành tâm xả, nhưng không bỏ chúng sinh.
  3. Tự thấy nơi thân có bốn hành Thánh chủng, nhưng không tự cao, khinh thường người khác.
  4. Tự hành đa văn, hành theo những gì đã nghe hiểu.

Lại nữa:

Không trí, không tinh tấn

Mà trụ xứ thanh vắng

Tức phạm phải bốn pháp

Còn phạm bốn pháp khác

Lại phạm vào ba việc

Phật đã nói như thế.

Tỳ-kheo A-lan-nhã đối với các công đức phải siêng năng tu tập. Vì sao? Vì trong công đức A-lan-nhã, hai sự việc ấy có khả năng phát sinh các công đức. Nếu Tỳ-kheo ngu tối, biếng trễ ở nơi xứ A-lannhã thì phạm bốn thứ phi pháp là: 1. Ngủ nghỉ nhiều. 2. Tham nhiều lợi dưỡng. 3. Dùng nhiều nhân duyên để hiện bày tướng kỳ dị. 4. Hiện rõ tướng không ưa thích sống nơi xứ A-lan-nhã.

Lại có bốn pháp:

  1. Tăng thượng mạn, chưa chứng đắc nói là chứng đắc.
  2. Đối với kinh thâm diệu, tâm thường ghét bỏ.
  3. Hủy hoại pháp không, vô tướng, vô nguyện.
  4. Khởi tâm giận ghét người hành trì kinh sâu xa.

Lại có ba việc:

  1. Ở nơi xứ A-lan-nhã không tinh tấn, không trí tuệ, có khi gặp người nữ, lại rơi vào phi pháp.
  2. Hoặc phạm Tăng-tàn, hoặc phạm tội nặng.
  3. Hoặc bỏ giới, hoàn tục.

Lại nữa:

Nói rộng pháp thanh vắng

Cùng với pháp khất thực

Ngoài mười đức đầu-đà

Đều cũng nên nói rộng.

Mười hai pháp đầu-đà, trên đây đã giải thích rộng hai pháp. Mười công đức đầu-đà còn lại cũng nên nhận biết như thế. Vì sao? Vì hai pháp ấy (Ở A-lan-nhã, khất thực) là mở ra mười môn Đầu-đà, phần còn lại tức dễ hiểu.

  1. Mặc y phấn tảo.
  2. Ngồi ăn một lần.
  3. Thường ngồi một mình.
  4. Sau bữa ăn ngọ không nhận các thức uống phi thời.
  5. Chỉ có ba y.
  6. Y mềm.
  7. Tùy nơi trải tòa ngồi.
  8. Ở bên cội cây.
  9. Ở chỗ đất trống trải.
  10. Ở nơi bãi tha ma.

Y phấn tảo: Là những mảnh vải gói tử thi, đã vất bỏ, lượm về may thành y mà mặc. Nhận là tâm sinh, hoặc miệng nói.

Ngồi ăn một lần: Là trước đã nhận thức ăn nơi nào rồi, sau đó không được nhận thêm nữa.

Thường ngồi: Là đêm cũng không nằm.

Sau bữa ngọ không nhận các thức uống phi thời: Là sau bữa ăn, không nhận thức uống phi thời. Các vật như đường phèn v.v… thì có thể ăn.

Chỉ có ba y: Là chỉ nhận ba y, không có y dư khác để dành.

Y mềm: Là từ lông thú mềm, lông thô xấu dệt thành y, như y Yết-chiên-khâm-bà-la.

Tùy nơi trải tòa ngồi: Là xem nơi nào ngồi được thì ngồi không khiến người khác dậy nhường chỗ cho mình.

Ở bên cội cây: Là vui thích ở bên cội cây, không ở nơi bị che khuất.

Ở chỗ đất trống: Là ở chỗ đất trống không.

Ở nơi bãi tha ma: Là thuận theo tâm chán lìa, thường ngủ đêm ở bãi tha ma.

Đó gọi là mười hai hạnh Đầu-đà khiến cho giới thanh tịnh.

Mặc y phấn tảo có mười điều lợi:

  1. Không dùng y này thì lẫn lộn với người tại gia.
  2. Không dùng y này thì hiện bày tướng cầu xin y.
  3. Cũng không có phương tiện để nói về tướng có được y.
  4. Dùng y này nên không phải đi bốn phương cầu xin.
  5. Nếu không được y thì cũng không lo buồn.
  6. Nếu được y cũng không vui mừng.
  7. Y phấn tảo là loại vật thô kém dễ có được nên không mắc lỗi lầm.
  8. Thuận với hành lúc đầu nhận bốn pháp y.
  9. Y phấn tảo được nhập vào loại y thô xấu.
  10. Y phấn tảo không bị người tham chấp.

Ngồi ăn một lần cũng có mười điều lợi:

  1. Không có sự mệt nhọc vì phải xin lần thứ hai.
  2. Ăn nhẹ nhàng vì nhận ít.
  3. Không phải vất vả do sự cần dùng.
  4. Trước khi ăn, không mệt mỏi.
  5. Nhập vào pháp hành thực tinh tế.
  6. Sau khi ăn, thức ăn dễ tiêu hóa.
  7. Ít bị trở ngại, lo lắng.
  8. Ít bệnh tật.
  9. Thân thể nhẹ nhàng.
  10. Thân được nhiều an lạc.

Thường ngồi một mình cũng có mười điều lợi:

  1. Không tham sự vui thích của thân.
  2. Không tham thích sự ngủ nghỉ.
  3. Không tham thích các đồ nằm.
  4. Không nằm nên không bị khổ vì hông phải dính nơi chiếu.
  5. Không theo sự tham muốn của thân.
  6. Dễ cho việc tọa thiền.
  7. Dễ đọc, tụng kinh.
  8. Ít ngủ nghỉ.
  9. Thân nhẹ dễ đứng dậy.
  10. Ít để tâm mong cầu y phục, đồ nằm.

Sau bữa ngọ không nhận các thức uống phi thời cũng có mười điều lợi:

  1. Không ăn nhiều.
  2. Không bội thực.
  3. Không tham các thức ăn ngon.
  4. Giảm thiểu sự mong muốn.
  5. Ít bị trở ngại, bực bội.
  6. Ít bệnh tật.
  7. Dễ đầy đủ.
  8. Dễ nuôi.
  9. Tri túc.
  10. Thân không mỏi mệt khi tọa thiền, tụng kinh.

Chỉ có ba y cũng có mười điều lợi:

  1. Không vất vả phải nhận gì thêm ngoài ba y.
  2. Không khổ nhọc vì phải lo giữ gìn.
  3. Ít vật dụng cất chứa.
  4. Chỉ những thứ đang mặc trên thân là đủ rồi.
  5. Giới hạnh tinh tế.
  6. Việc đi lại không rườm rà.
  7. Thân thể nhẹ nhàng.
  8. Tùy thuận nơi trụ xứ A-lan-nhã.
  9. Không luyến tiếc những chốn đã ở.
  10. Luôn tùy thuận hành đạo nghiệp.

Nhận y thô bằng lông thú mềm cũng có mười điều lợi:

  1. Thuộc loại y thô xấu.
  2. Ít điều cầu xin.
  3. Tùy ý ngồi đâu cũng được.
  4. Tùy ý có thể nằm.
  5. Giặt giũ dễ dàng.
  6. Lúc nhuộm cũng dễ.
  7. Ít bị mối mọt cắn phá.
  8. Khó rách.
  9. Lại không nhận y khác.
  10. Không làm mất tâm cầu đạo.

Tùy nơi trải tọa cụ ngồi cũng có mười điều lợi:

  1. Không phải khổ nhọc tìm Tinh xá tốt để ở.
  2. Không vất vả đi tìm đồ nằm ngồi tốt.
  3. Không gây phiền hà cho bậc Thượng tọa.
  4. Không gây lo lắng cho bậc Hạ tọa
  5. Thiểu dục.
  6. Ít việc.
  7. Theo chỗ có được mà dùng.
  8. Ít dùng thì ít bận rộn.
  9. Không tạo nên sự tranh cãi.
  10. Không chiếm lấy đồ dùng của người khác.

Ngồi bên gốc cây cũng có mười điều lợi:

  1. Không mệt nhọc do phải tìm phòng xá.
  2. Không mệt nhọc do phải tìm đồ nằm ngồi.
  3. Không mệt nhọc do phải tìm nơi ưa chuộng.
  4. Không mệt nhọc do phải nhận đồ dùng.
  5. Không quan tâm vào những tên gọi.
  6. Không có chuyện gây tranh chấp.
  7. Tùy thuận bốn pháp y.
  8. Ít và dễ được, nên không mắc lỗi lầm.
  9. Tùy thuận tu đạo.
  10. Không có nhiều người đến làm rầy.

Ở nơi bãi tha ma cũng có mười điều lợi:

  1. Thường được tưởng vô thường.
  2. Thường được tưởng chết chóc.
  3. Thường được tưởng bất tịnh.
  4. Thường được tưởng hết thảy ở thế gian không có gì đáng vui.
  5. Thường được xa lìa những người mình yêu mến.
  6. Thường được tâm bi.
  7. Xa lìa những thứ đùa cợt.
  8. Tâm thường chán lìa.
  9. Siêng hành tinh tấn.
  10. Có thể trừ bỏ mọi sợ hãi.

Ở chỗ đất trống cũng có mười điều lợi:

  1. Không cần tìm nơi gốc cây.
  2. Xa lìa sở hữu của ngã.
  3. Không có tranh tụng.
  4. Nếu đến nơi khác cũng không luyến tiếc.
  5. Ít đùa cợt.
  6. Có khả năng chịu đựng gió mưa, nóng lạnh, ruồi muỗi, trùng độc.
  7. Không bị các thứ âm thanh làm rối loạn.
  8. Không khiến chúng sinh phiền giận.
  9. Tự mình cũng không có gì buồn giận.
  10. Không có nhiều người đến quấy nhiễu.

HẾT – QUYỂN 16