LUẬN A TỲ ĐẠT MA TẠNG HIỂN TÔNG
Tác giả: Tôn giả Chúng Hiền
Hán dịch: Đời Đường, Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 30

Phẩm thứ 7: BIỆN VỀ HIỀN THÁNH, phần 2

Như thế là đã nói về hai môn nhập tu. Do hai môn này tâm liền được định. Tâm được định rồi lại tu môn nào?

Tụng nêu:

Dựa đã tu thành chỉ

Vì quán tu niệm trụ

Do tự tướng, cộng tướng

Quán thân, thọ tâm, pháp.

Tự tánh các tuệ: văn

Đối tượng duyên tương tạp

Nói thứ lớp tùy sinh

Trị điên đảo chỉ bốn.

Luận nói: Đã tu thành chỉ, dùng làm đối tượng nương dựa. Vì quán chóng thành nên tu bốn niệm trụ. Không phải người không được định có thể thấy biết như thật.

Tu tập bốn niệm trụ như thế nào?

Dùng tự tướng, cộng tướng để quán thân, thọ, tâm, pháp. Nghĩa là người tu quán, chuyên tâm một hướng, dùng tự tướng, cộng tướng đối với các cảnh như thân v.v…, mỗi mỗi quán riêng, tu bốn niệm trụ, phân biệt pháp này cùng với pháp khác, có nghĩa sai biệt, gọi là quán tự tướng. Phân biệt pháp này so với pháp khác, không có nghĩa sai biệt, gọi là quán cộng tướng. Lại nơi thân niệm trụ quán tự tướng: Nghĩa là quan sát tướng riêng nơi các xứ của thân.

Quán cộng tướng: Nghĩa là quán các xứ đồng là tướng của thân, hoặc tướng sắc đồng. Hoặc quán tự tướng: Nghĩa là quán tướng riêng của thân. Quán cộng tướng: Nghĩa là quan sát thân cùng với hữu vi khác đều là vô thường v.v… Các niệm trụ như thọ v.v…, so sánh với đây nên biết.

Bốn thứ này đều có ba. Nghĩa là tự tánh v.v… Tự tánh: Nghĩa là tuệ, chỉ có ba thứ như văn v.v…

Tương tạp: Nghĩa là pháp khác, ở đây là pháp câu hữu. Đối tượng duyên: Nghĩa là đối tượng duyên của ba tuệ ấy.

Vì sao ba tuệ ấy đều gọi là niệm trụ? Do niệm khiến tuệ được trụ nơi đối tượng duyên. Niệm tuệ hỗ trợ nhau nên định v.v… vượt hơn hẳn. Do đấy đối với tuệ lập tên niệm trụ. Vì tương tạp đối tượng duyên này nên cũng gọi là niệm trụ.

Do đâu nên nói ba thứ niệm trụ?

Vì hữu tình ngu tối về ba thứ hành tướng, tư lương, đối tượng duyên, nên nói ba thứ. Hoặc phần vị thắng giải của căn đều có ba cơ nghi không đồng, nên nói ba thứ. Trong ba thứ của bốn niệm trụ đã nêu thì tương tạp có khả năng đoạn trừ phiền não, không phải hai thứ kia có thể đoạn, vì tăng giảm thái quá. Nhưng nói tương tạp cũng gồm thâu thể của tuệ, vì tuệ cùng với pháp câu hữu là cùng tương tạp. Nếu nói tự tánh tức nên không có đối tượng đối đãi. Hiển bày có đối tượng đối đãi, nên nói về tương tạp. Chỉ có do tu tạo thành thuộc về pháp niệm trụ. Có thể đoạn trừ phiền não chủ yếu là ở trong định. Vì khả năng đoạn dứt Hoặc, nên duyên nơi bốn, năm uẩn. Hoặc duyên nơi Niết-bàn, tức có thể đoạn dứt Hoặc. Trong pháp niệm trụ tác ý của cộng tướng có thể đoạn trừ phiền não. Tác ý của tự tướng vì duyên nơi phần ít cảnh, nên không có công năng này.

Ba thứ trước trong bốn niệm trụ chỉ là không tạp duyên. Niệm trụ thứ tư thì chung cho hai. Nhưng trí của ba đế chỉ có tạp duyên tức có thể đoạn trừ phiền não, chỉ trí của diệt đế, tuy không tạp duyên nhưng cũng đoạn trừ phiền não.

Niệm trụ như thân v.v… đều có ba thứ, vì duyên nơi trong ngoài đều có sai biệt. Lại trong thân niệm trụ có ba thứ: (1) Duyên nơi tự nối tiếp nhau, gọi là trong. (2) Duyên nơi thân người khác, gọi là ngoài. (3) Cùng duyên cả hai thứ, gọi là trong, ngoài.

Người do có ngã ái mà mạn thành hòa hoãn, nên quán nơi nội thân cũng như bên ngoài. Hoặc bên trong như trước duyên không chấp thọ, gọi là ngoài. Duyên nơi sự cùng nối tiếp của người khác, gọi là trong, ngoài. Đối đãi không chấp thọ và đối đãi tự thân là được hai tên gọi. Hoặc duyên nơi căn, cảnh và đều cùng có gọi là ba. Hoặc duyên nơi số hữu tình và số phi tình, duyên chung nơi hai thứ có sai biệt là ba. Hoặc duyên nơi số phi tình ngoài hữu tình cùng lông, tóc v.v… có sai biệt là ba. Do các thứ kia đều từ nội thân sinh. Vì lìa căn trụ, nên được đủ hai tên gọi. Hoặc duyên nơi hữu tình hiện tại, gọi là trong. Duyên nơi ba đời phi tình bên ngoài, gọi là ngoài. Duyên nơi hữu tình quá khứ, vị lai, nói là trong, ngoài. Vì là loài hữu tình, nên rơi vào pháp số. Lại, hữu tình kia vị lai sẽ rơi vào số hữu tình đang rơi vào pháp số. Hữu tình kia thời quá khứ từng rơi vào số hữu tình đang rơi vào pháp số. Pháp không sinh kia là loại sinh.

Ba thứ niệm trụ như thọ v.v…, mỗi mỗi thứ đều có ba, tùy theo đối tượng ứng hợp của chúng, căn cứ theo trước nên giải thích.

Bốn niệm trụ này nói là theo thứ lớp tùy sinh. Sinh lại do đâu theo thứ lớp như thế?

Sinh theo thứ lớp như thế vì cùng tùy thuận.

Hữu tình phần nhiều ở trong các sắc, vì ưa thích thọ dụng, nên không đạt được pháp thù thắng.

Ưa thọ dụng sắc lấy gì làm duyên?

Nghĩa là ở trong thọ tình ưa thích sâu xa, ưa thích nơi thọ, do tâm không điều phục. Tâm không được điều phục là do các phiền não. Tâm do tín v.v… thì có thể khiến điều phục. Tùy thuận quán về lý này nên bốn niệm trụ sinh. Hoặc tùy nơi đối tượng duyên nên sinh thô tế. Nhưng không phải do Niết-bàn trong pháp quán sau cùng của tâm này là rất vi tế. Tưởng, tư v.v… kia lúc tuần tự quán thọ, căn cứ theo nghĩa đã có thể nhận biết rõ tướng kia đồng dựa vào tâm khởi cùng an nguy.

Có Sư khác nói: Sắc có thể tụ tán, có thể lấy, có thể bỏ. Tương tợ cùng nối tiếp với bất tịnh, khổ v.v… Vì dễ nhận biết rõ, nên phần nhiều là duyên nơi thân sinh tham v.v… Nam, nữ lần lượt dấy khởi xứ tham. Quán bất tịnh, trì tức niệm và phân biệt cõi, tất cả ba môn nhập tu này phần nhiều duyên nơi thân làm cảnh. Nơi phần vị tu niệm trụ nên đầu tiên là quán. Quán này làm nhân sinh xúc khinh an. Do xúc khinh an dẫn lạc thọ sinh. Kinh nói: Thân an liền thọ lạc.

Lạc thọ như thế dựa nơi tâm mà sinh. Do tâm tịnh làm nhân nên được quả giải thoát. Do thọ v.v… này theo thứ lớp mà quán, nên niệm trụ sinh theo thứ lớp như thế.

Bốn niệm trụ này không tăng, không giảm, vì có thể đối trị bốn thứ điên đảo như cho là tịnh v.v… Quán thân bất tịnh đối trị điên đảo ở nơi bất tịnh cho là tịnh. Tuy điên đảo về tịnh duyên chung nơi năm uẩn, nhưng chỉ quán tự tánh của thân, không phải là tịnh, liền có thể điều phục chung. Như người đã quán thể của phân là bất tịnh thì cũng không ưa thích từ phân sinh ra.

Như thế đã quán thể của thân là bất tịnh, cũng không ưa thích từ thân sinh ra.

Do quán thân này là bất tịnh, nên đối với năm thủ uẩn đều không ưa thích. Vì người mê chấp tưởng tịnh của thân hữu vi nên mới ưa thích dựa vào thân sinh ra. Thế nên người quán thân là bất tịnh, đối với thân đã khởi cũng không ưa thích. Như khi có người an trụ nơi quán bất tịnh, tuy không quán gần về âm thanh v.v… làm cảnh, nhưng đối với ca hát v.v… đã dứt bỏ như phân uế. Như thế khi an trụ nơi thân niệm trụ, tuy không quán gần thọ v.v… làm cảnh, vì quán tự thể của thân là bất tịnh, nên hoàn toàn không ưa thích ba cảnh như lạc thọ v.v… Lại, tuy không quán cảnh sắc, vô sắc, cho là bất tịnh, nhưng đối với cảnh ấy không phải là không dẫn sinh hành tướng không vui thích. Thế nên điên đảo về tịnh tuy duyên nơi năm uẩn, nhưng thân niệm trụ thành, tức có thể điều phục chung. Ba niệm trụ sau, tuy đều quán riêng, nhưng so sánh với đây, nên tư duy về lý có thể điều phục chung.

Quán thọ là khổ thì có thể đối trị điên đảo ở nơi khổ cho là vui. Nghĩa là nếu có pháp cho là chân thật có thể ưa thích mong muốn cho đây là nghĩa vui. Tức ở trong các hành xen tạp của nhiều lỗi lầm tai hại thấy có công đức thù thắng đáng ưa thích. Đó gọi là điên đảo đối với khổ cho là vui. Điên đảo này tất dùng tham đắm nơi thọ làm ưu tiên. Do ở trong thọ đã tham vướng sâu xa rồi mới đối với chỗ dựa của tất cả bức não, trong hành hữu lậu vọng sinh tưởng vui. Thế nên khi quán thọ là tánh khổ liền có thể điều phục chung các thứ điên đảo chấp về lạc.

Quán tâm là vô thường thì có thể đối trị điên đảo ở nơi vô thường cho là thường. Nghĩa là hành giả tu quán, vì chán ghét thọ, nên đối với tâm của đối tượng nương dựa thấy có rất nhiều phẩm loại sai biệt, dẫn sinh quán về vô thường, khiến hiện ở trước, liền đối với hữu vi, không sinh tưởng thường, nên có thể điều phục chung các thứ điên đảo chấp về thường.

Quán pháp vô ngã thì có thể đối trị điên đảo ở nơi vô ngã cho là ngã. Nghĩa là có một loại hữu tình nghe nói ngã là vô thường, thì tâm không sinh vui mừng, bèn khởi suy niệm: Ai, người nào khiến cho tâm này có nhiều sai biệt? Người kia tức là ngã.

Vì nhằm ngăn chận chấp ấy, lại nên quán về đế, trừ ba thứ còn lại, cũng chỉ là pháp, liền đối với tất cả không khởi tưởng ngã, nên có thể điều phục chung các thứ điên đảo chấp về ngã.

Hoặc vì nhằm đối trị các thứ đoạn, xúc, thức, tư thực, như thứ lớp nên kiến lập bốn niệm trụ như thân v.v… Số lượng chỉ có bốn không tăng, không giảm.

Như thế, tu thành thục gia hạnh của hai thứ quán bất tịnh, trì tức niệm xong, có thể theo thứ lớp dẫn sinh niệm trụ thân, thọ, tâm, pháp không xen tạp của đối tượng duyên được hiện tiền. Lại, ở nơi pháp niệm trụ không tạp duyên, đã vô gián dẫn sinh pháp niệm trụ xen tạp của đối tượng duyên. Tiếp theo nên tu duyên chung nơi pháp niệm trụ của cộng tướng.

Tướng của pháp niệm trụ này như thế nào?

Tụng nêu:

Kia ở pháp niệm trụ

Quán chung bốn sở duyên

Tu vô thường và khổ

Hành tướng không, vô ngã.

Luận nói: Pháp niệm trụ của tạp duyên gồm có bốn thứ: Hai, ba, bốn, năm uẩn làm cảnh riêng. Nên chỉ duyên chung nơi năm, gọi đấy là đối tượng tu.

Hành giả kia ở trong đây tu bốn hành tướng, quán chung về tất cả thân, thọ, tâm, pháp, đó là vô thường, khổ, không, vô ngã. Tuy nhiên, khi tu tập niệm trụ này đã có căn thiện khác, có thể làm gia hạnh. Hành giả kia nên theo thứ lớp tu khiến hiện tiền. Nghĩa là hành giả kia đã tu thành thục pháp niệm trụ tạp duyên. Khi sắp sửa tu tập niệm trụ này, trước hết nên duyên chung để tu hành vô ngã. Tiếp theo quán về sinh diệt. Thứ đến quán duyên khởi. Do hành giả tu quán, trước là quán các hành từ nhân sinh diệt, liền ở nơi môn quán của nhân quả cùng hệ thuộc, dễ hướng nhập. Hoặc có người muốn khiến trước là quán duyên khởi, sau đó dẫn khởi duyên quán về ba nghĩa. Quán này vô gián tu bảy xứ thiện. Do ở nơi bảy xứ thiện đã được thiện xảo, nên có khả năng đối với các cảnh đã thấy từ trước đến nay, lập đế nhân quả theo thứ lớp quan sát.

Như thế, tu thành thục trí và định xong, liền có thể an lập thuận với hiện quán đế. Nghĩa là khổ của cõi dục, cõi trên đều riêng khác, nên đối với tám thứ đế như thế, theo thứ lớp quán, tu mười sáu hành tướng chưa từng tu.

Hành giả kia do văn tuệ, ở trong tám đế, đầu tiên khởi quán mười sáu hành như đây, như cách tấm lụa mỏng nhìn thấy nhiều sắc. Ngang tới đây được gọi là văn tuệ viên mãn.

Tuệ do tư tạo thành, căn cứ theo văn tuệ này để nêu. Tiếp theo, đối với sinh tử, sinh chán bỏ sâu xa, ưa thích công đức tịch tĩnh của Niết-bàn.

Từ đây về sau, phần nhiều dẫn sinh quán chán bỏ hiện tiền, dùng phương tiện siêng tu dần tăng, dần hơn, dẫn khởi có thể thuận với quyết trạch như thế. Tuệ do tư duy thành gồm thâu căn thiện hơn hết. Tức đã tu pháp niệm trụ duyên chung nơi cộng tướng.

Từ đấy vô gián sinh căn thiện nào?

Tụng nêu:

Từ đấy sinh pháp noãn

Quán đủ bốn Thánh đế

Tu mười sáu hành tướng

Tiếp sinh đảnh cũng vậy.

Hai căn thiện như thế

Đều đầu pháp, sau bốn

Tiếp nhẫn chỉ pháp niệm

Phẩm hạ, trung đồng đảnh.

Trên chỉ quán khổ dục

Một hành, một sát-na

Thế đệ nhất cũng vậy

Đều tuệ năm, trừ đắc.

Luận nói: Từ thuận quyết trạch do tư thù thắng tạo thành, duyên chung nơi pháp niệm trụ của cộng tướng. Về sau có thuận phần quyết trạch do tu tạo thành, căn thiện đầu tiên khởi, gọi là pháp noãn, là duyên chung nơi pháp niệm trụ của cộng tướng có sai biệt.

Pháp đã khởi như thế là đối tượng sẽ tu, có khả năng thiêu đốt củi phiền não, là tướng trước của lửa Thánh đạo. Như ở phần vị dùi lửa, đầu tiên là tướng nóng sinh. Vì pháp cùng với noãn là đồng, nên gọi là pháp noãn. Vì phần vị khởi của căn thiện này là dài, nên có thể quán sát đủ cảnh của bốn Thánh đế. Do đấy, tu đủ mười sáu hành tướng:

Quán Thánh đế khổ tu bốn hành tướng: (1) Vô thường. (2) Khổ. (3) Không. (4) Vô ngã.

Quán Thánh đế tập tu bốn hành tướng: (1) Nhân. (2) Tập. (3) Sinh. (4) Duyên.

Quán Thánh đế diệt tu bốn hành tướng: (1) Diệt. (2) Tĩnh. (3) Diệu. (4) Ly.

Quán Thánh đế đạo tu bốn hành tướng: (1) Đạo. (2) Như. (3) Hành. (4) Xuất.

Các tướng này có sai biệt như phần sau sẽ biện.

Nhưng các pháp noãn tuy duyên nơi bốn đế, nhưng theo phần nhiều nói hành nhàm chán đều cùng có, vì khi khởi hành kia thì tưởng uẩn nhiều. Hành giả tu tập căn thiện này, phẩm hạ, trung, thượng tăng tiến dần dần.

Đối với khổ, tập, diệt, đạo do Đức Phật đã thuyết giảng, sinh tín tùy thuận, quán sát các hữu luôn bị những ngọn lửa dữ thiêu đốt. Ở trong Tam bảo tín là hàng đầu, có thuận phần quyết trạch do tu tạo thành.

Căn thiện tiếp theo khởi, gọi là pháp đảnh, là duyên chung nơi pháp niệm trụ của cộng tướng có sai biệt. Tiếng đảnh là hiển bày đây là xứ hơn hết. Như sự tốt đẹp đến thời thành tựu đầy đủ, thế gian nói là người này đã đạt đến đỉnh. Nghĩa là cõi sắc gồm thâu bốn căn thiện, trong ấy hai thì có thể động và hai không thể động.

Trong hai căn thiện có thể động, phẩm hạ gọi là noãn, phẩm thượng gọi là đảnh, vì là trên cùng trong động. Nơi hai căn thiện không động, phẩm hạ gọi là nhẫn, tức đối với cảnh của bốn đế đã hết sức kham nhẫn, phẩm thượng gọi là pháp thế đệ nhất, vì trong thế gian là hơn hẳn. Cũng như đề hồ là nói về người ở nơi chốn vắng vẻ. Tu phẩm thiện này, tướng ấy như đến đỉnh, nên gọi là pháp đảnh. Hành tướng của cảnh này cùng với pháp noãn là đồng. Nghĩa là quán cảnh của bốn đế tu mười sáu hành tướng.

Hai thứ căn thiện noãn, đảnh như thế, vào thời đầu tiên đặt chân thì chỉ là pháp niệm trụ. Về sau nơi phần vị tăng tiến tức cả bốn niệm trụ đều hiện tiền. Nói đầu tiên đặt chân là làm rõ do hành tướng đầu tiên, bước theo dấu vết của bốn Thánh đế. Nói về sau tăng tiến là hiển bày về ba phẩm hạ, trung, thượng, từ đấy về sau, theo thứ lớp thường hành tập. Các pháp trước đã được, về sau không hiện tiền. Vì đối với pháp ấy không sinh tâm trân trọng. Do gia hạnh hơn hẳn đã dẫn sinh căn thiện này, nên trong các pháp đã được không sinh trân trọng. Song, pháp đảnh ấy tuy duyên nơi bốn đế, nhưng duyên nơi Tam bảo thì tín, phần nhiều hiện hành. Phẩm hạ, trung, thượng của căn thiện đảnh này, tăng trưởng dần đến khi thành mãn, có thuận phần quyết trạch do tu tạo thành. Căn thiện hơn hẳn sinh khởi gọi là pháp nhẫn, là duyên chung nơi pháp niệm trụ của cộng tướng có sai biệt. Đối với lý của bốn đế, trong khả năng nhẫn thuận, thì nhẫn này là hơn hết. Lại, ở phần vị này, nhẫn không có thoái đọa, nên gọi là pháp nhẫn. Pháp thế đệ nhất tuy đối với Thánh đế cũng có thể nhẫn thuận. Vì vô gián tất có khả năng nhập kiến đạo, nên không có thoái đọa, nhưng không quán đủ lý của bốn Thánh đế. Vì nhẫn này quán đủ, nên riêng được mang tên nhẫn. Thế nên riêng nói nhẫn này gọi là nhẫn thuận đế.

Căn thiện nhẫn này ở nơi phần đặt chân và tăng tiến đều là pháp niệm trụ, so với căn thiện trước có khác. Vì căn thiện này cùng với kiến đạo là dần dần tương tợ, vì trong vị kiến đạo chỉ là pháp niệm trụ. Nhưng pháp nhẫn này có phẩm hạ, trung, thượng. Hai phẩm hạ, trung so với pháp đảnh là đồng. Nghĩa là quán sát đủ cảnh của bốn Thánh đế và có thể tu đủ mười sáu hành tướng. Phẩm thượng có khác, chỉ quán về khổ nơi cõi dục và cùng với pháp thế đệ nhất là cùng gần gũi. Do nghĩa này, căn cứ vào căn thiện như noãn v.v… đều có khả năng duyên đủ nơi khổ v.v… của ba cõi. Nghĩa đã thành lập là không có phân biệt. Thế thì nhẫn phẩm hạ, trung, thượng đã được phân biệt như thế nào? Tức nhẫn phẩm hạ có đủ tám loại tâm. Nghĩa là Sư Du Già dùng bốn hành tướng để quán khổ nơi cõi dục, gọi là một loại tâm.

Như thế tiếp theo quán khổ của cõi sắc, vô sắc. Tập, diệt, đạo đế cũng quán như vậy, thành tám loại tâm, gọi là nhẫn phẩm hạ. Nhẫn phẩm trung giảm bớt hành tướng, đối tượng duyên. Nghĩa là Sư Du Già dùng bốn hành tướng để quán khổ nơi cõi dục, cho đến đầy đủ. Dùng bốn hành tướng để quán về đạo của cõi dục, đối với đạo nơi cõi trên giảm một hành tướng. Từ đấy gọi là phần đầu của nhẫn phẩm trung. Như thế theo thứ lớp giảm dần, lược dần hành tướng, đối tượng duyên, cho đến còn rất ít, chỉ dùng hai tâm quán khổ của cõi dục, như nơi phần vị khổ pháp nhẫn, khổ pháp trí. Ngang tới đây gọi là nhẫn phẩm trung đầy đủ. Nhẫn phẩm thượng chỉ quán khổ đế nơi cõi dục, tu một hành tướng, chỉ một sát-na. Căn thiện này khởi không nối tiếp nhau. Nhẫn phẩm thượng vô gián có do tu tạo thành. Đầu tiên mở bày môn Thánh đạo, trong công đức của thế gian là hơn hẳn. Là duyên chung nơi pháp niệm trụ của cộng tướng có sai biệt. Thuận phần quyết trạch gồm thâu căn thiện trên hết, sinh khởi căn thiện này tức gọi là pháp thế đệ nhất. Vì căn thiện này là hữu lậu nên gọi là thế gian, vì tối thắng nên gọi là đệ nhất. Do có sức của sĩ dụng, lìa nhân đồng loại, dẫn Thánh đạo khởi, nên gọi là tối thắng. Vì vậy gọi là pháp thế đệ nhất. Pháp này như nhẫn phẩm thượng, duyên nơi khổ đế của cõi dục, tu một hành tướng, chỉ một sát-na.

Như vậy, giảm lược hành tướng, đối tượng duyên. Như thế như thế là dần gần với kiến đế, nên pháp thế đệ nhất chỉ duyên nơi khổ thuộc cõi dục, tu một hành tướng chỉ một sát-na. Nghĩa là vô gián nhập vị ly sinh, vị này quyết định không có lý cùng nối tiếp, nhưng có chín căn thiện hệ thuộc cõi sắc. Tức hạ hạ, hạ trung, hạ thượng, gọi là noãn. Trung hạ, trung trung, trung thượng, gọi là đảnh. Thượng hạ, thượng trung, gọi là nhẫn. Thượng thượng gọi là thế đệ nhất.

Bốn pháp như noãn v.v… dùng gì làm Thể?

Tự tánh của noãn v.v… đều dùng tuệ làm thể. Nếu cùng với trợ bạn thì đều thuộc về năm uẩn, nhất định đều cùng có, tất có sắc tùy chuyển. Nhưng trừ đắc kia, chớ cho căn thiện như noãn của các Thánh giả lại hiện ở trước. Nhưng đã thấy đế thì không thừa nhận noãn v.v… hiện ở trước lần nữa. Người đã thấy đế, gia hạnh hiện tiền, là thành vô dụng.

Trong đây, pháp noãn khi đầu tiên đặt chân, ở trong ba đế tùy thuận duyên nơi đế nào thì nơi pháp niệm trụ hiện tại, tu vị lai bốn.

Tùy một hành tướng hiện tại, tu vị lai bốn, chỉ tu đồng phần, không phải không đồng phần. Duyên nơi diệt đế thì nơi pháp niệm trụ hiện tại, tu vị lai một. Tùy một hành tướng hiện tại, tu vị lai bốn. Không phải đầu tiên quán uẩn diệt, có thể tu phần vị tăng tiến, sau duyên nơi uẩn đạo.

Ở trong ba đế thì tùy thuận duyên nơi đế nào, thì tùy một niệm trụ hiện tại, tu vị lai bốn. Tùy một hành tướng hiện tại, tu vị lai mười sáu. Duyên nơi diệt đế thì nơi pháp niệm trụ hiện tại, tu vị lai bốn. Tùy một hành tướng hiện tại, tu vị lai mười sáu.

Đầu tiên đặt chân này chỉ tu đồng phần. Vì từ trước chưa từng được chủng tánh như thế. Vì ở trong các đế hành chưa rộng. Sau nơi phần vị tăng tiến, vì cùng với đây là trái nhau, nên hành giả kia có thể tu đồng phần, khác phần.

Đầu tiên đặt chân của đảnh, ở trong bốn đế tùy duyên nơi đế nào, thì nơi pháp niệm trụ hiện tại, tu vị lai bốn. Tùy một hành tướng hiện tại, tu vị lai mười sáu.

Về sau trong phần vị tăng tiến, ở trong ba đế tùy thuận duyên nơi đế nào, thì tùy một niệm trụ hiện tại, tu vị lai bốn. Tùy một hành tướng hiện tại, tu vị lai mười sáu. Duyên nơi diệt đế thì nơi pháp niệm trụ hiện tại, tu vị lai bốn. Tùy một hành tướng hiện tại, tu vị lai mười sáu.

Đầu tiên đặt chân của nhẫn và sau là tăng tiến, ở trong bốn đế tùy duyên nơi đế nào, tức nơi pháp niệm trụ hiện tại, tu vị lai bốn. Tùy một hành tướng hiện tại, tu vị lai mười sáu.

Đây là dựa vào tướng chung của loại nhẫn để nói.

Nói sai biệt: Là khi lược đối tượng duyên. Tùy theo chỗ lược đối tượng duyên kia thì không tu hành tướng kia. Nghĩa là duyên đủ bốn tức tu đủ mười sáu.

Nếu duyên ba, hai, một, thì tu mười hai, tám, bốn. Pháp thế đệ nhất duyên nơi khổ đế thuộc cõi dục, thì nơi pháp niệm trụ hiện tại, tu vị lai bốn. Tùy một hành tướng hiện tại, tu vị lai bốn. Chỉ tu đồng phần, không duyên nơi pháp thế đệ nhất của đế khác.

Thế nên chỉ tu từng ấy hành tướng.

Có Sư khác nói: Vì gần với kiến đạo, vì tương tợ với kiến đạo, nên chỉ tu từng ấy. Nghĩa là khổ pháp nhẫn chỉ duyên nơi khổ đế thuộc cõi dục, tu bốn hành tướng. Thế đệ nhất cũng như vậy.

Đã biện về thể tướng của căn thiện đã sinh. Nay tiếp theo nên biện về nghĩa sai biệt của các căn thiện kia.

Tụng nêu:

Thuận phần quyết trạch này

Bốn đều do tu thành

Sáu địa hai hoặc bảy

Dựa thân cõi dục chín.

Ba nữ, nam được hai

Nữ thứ tư cũng vậy

Thánh do mất địa xả

Phàm phu do mạng chung.

Đầu, hai cũng thoái xả

Dựa gốc, tất kiến đế

Bỏ rồi, được khác trước

Tánh hai xả không đắc.

Luận nói: Bốn căn thiện thù thắng noãn, đảnh, nhẫn, pháp thế đệ nhất này gọi là thuận phần quyết trạch. Do phẩm hạ, trung, thượng và phẩm thượng thượng được chia làm bốn thứ, như trước đã nói. Quyết, nghĩa là quyết đoán. Trạch, nghĩa là phân biệt lựa chọn. Quyết đoán để phân biệt lựa chọn, nghĩa là các Thánh đạo, do các Thánh đạo có thể đoạn trừ nghi và có thể phân biệt tướng của bốn đế. Phần, nghĩa là phần đoạn, tức là kiến đạo, là thuộc về một phần trong quyết trạch. Noãn v.v… làm duyên dẫn sinh phần quyết trạch. Vì thuận ích với phần kia, nên được mang tên thuận phần kia. Tức ở đây gọi là thuận phần quyết trạch.

Bốn thứ như thế đều do tu tạo thành, không phải do văn, tư tạo thành, do xa phần quyết trạch. Bốn căn thiện này đều dựa vào sáu địa. Nghĩa là bốn tĩnh lự, vị chí, trung gian. Trong cõi dục không có vì thiếu đẳng dẫn. Địa trên còn lại cũng không có, vì đây là quyến thuộc của kiến đạo.

Lại, tâm của cõi vô sắc không duyên nơi cõi dục, vì cõi dục trước hết nên đoạn nhận biết khắp. Trong ba cõi thì cõi dục là rất thô. Bốn căn thiện này có thể chiêu cảm dị thục là năm uẩn của cõi sắc, làm nhân viên mãn, không thể dẫn dắt chúng đồng phần, rất chán các hữu, ưa thích viên tịch. Tiếng hoặc (Nơi câu tụng thứ ba) là làm rõ về hai thứ có thuyết khác, nghĩa là hai pháp noãn, đảnh.

Tôn giả Diệu Âm nói: Dựa nơi sáu địa trước và cõi dục là bảy địa. Các Sư Đối Pháp thì không thừa nhận thuyết kia. Không phải do văn, tư tạo thành, vì thuận phần quyết trạch.

Bốn căn thiện này dựa vào thân của cõi dục khởi, chín xứ nơi nẻo trời, người, trừ châu Bắc câu lô. Chỉ dựa vào thân của chín xứ thuộc cõi dục, cùng nhập ly sinh. Trừ pháp thế đệ nhất của nhẫn tăng thượng, ba căn thiện còn lại, nơi ba châu khởi đầu tiên. Về sau sinh nơi xứ trời cũng nối tiếp hiện tiền. Phần khác cũng dựa nơi xứ trời khởi đầu tiên.

Có Sư khác cho: Nếu ở nơi thời trước đã từng tu trị bốn gia hạnh này, thì hành giả kia ở xứ trời đều được khởi đầu tiên. Bốn căn thiện này chỉ dựa vào nam, nữ.

Ba thứ trước thì thân nam, nữ đều cùng được chung cả hai. Loại thứ tư thì thân nữ cũng được hai thứ. Chớ cho về sau được thân nam thì không thành noãn v.v… Dựa vào nam chỉ được thân nam. Căn thiện Thánh chuyển đến đời khác, cũng không làm nữ. Vị noãn, đảnh, nhẫn cùng có chuyển hình. Hai dựa vào căn thiện lần lượt làm nhân trụ. Pháp thế đệ nhất dựa vào thân người nữ có thể làm hai nhân. Người nữ chứng đắc Thánh xong, chấp nhận có lý chuyển được thân nam. Dựa vào thân người nam, chỉ vì một nhân đã được thân nữ, vì không phải trạch diệt. Thánh dựa vào địa này, được căn thiện này, khi mất địa ấy thì căn thiện mới bỏ.

Nói mất địa là hiển bày về việc chuyển sinh lên địa trên. Phàm phu thì ở nơi địa hoặc mất, không mất, thì chỉ khi mất chúng đồng phần, tất bỏ căn thiện này. Thân Thánh do sức của kiến đạo đã hỗ trợ, nên bốn căn thiện này không có mạng chung bỏ. Vì sao biết mạng chung bỏ, chỉ là phàm phu không phải là Thánh? Do Bản luận nói: Phàm phu trong noãn thai chỉ thành tựu thân, không thành thân nghiệp.

Há không phải là phàm phu trước dựa vào địa dưới khởi pháp noãn v.v… Sau sinh lên địa trên cũng tất định xả bỏ. Căn thiện như noãn v.v… không có lỗi như thế. Do phàm phu kia bấy giờ đã xả bỏ căn thiện, vì xả bỏ đồng phần. Nghĩa là ở nơi tử hữu không có Thánh đạo hỗ trợ, nên xả bỏ các căn thiện không phải do có trung hữu của địa trên cùng khởi. Nếu các Thánh giả trụ trong tử hữu, do Thánh đạo hỗ trợ, nên không xả bỏ noãn v.v…, chỉ do trung hữu của địa trên cùng khởi xả bỏ căn thiện của địa dưới. Lúc bỏ tuy đồng mà lý do có dị biệt. Thế nên phàm phu không có mất địa xả bỏ. Thánh giả tất không có do mạng chung xả bỏ. Phàm phu mạng chung tuy bỏ pháp nhẫn, nhưng nhất định không có đọa nơi các nẻo ác, vì được phi trạch diệt sinh nơi nẻo ác. Thân là nơi chốn pháp nhẫn từng cư trú, nên các nghiệp phiền não có thể chiêu cảm nẻo ác, lại không thể hiện hành ở trong thân. Như hang của sư tử thì nhiều loài thú không cư ngụ. Hai căn thiện đầu cũng do thoái chuyển nên xả bỏ. Như vậy thoái chuyển xả bỏ là phàm phu, không phải là Thánh. Hai căn thiện sau, phàm phu cũng không có thoái chuyển xả bỏ. Vì đã dựa vào địa căn bản để khởi các căn thiện như noãn v.v… Phàm phu kia ở nơi đời này, tất định được kiến đế, do căn nhanh nhẹn, vì chán hữu sâu xa. Người dựa nơi địa vị chí, trung gian, khởi noãn v.v…, thì ở nơi đời này bất tất được nhập kiến đế.

Có Sư khác nói: Người dựa nơi định căn bản khởi noãn v.v… thì ở nơi đời này, tất định được đến Niết-bàn, vì nhàm chán hữu rất sâu. Nếu trước xả bỏ rồi, thời gian sau lại được, thì chỗ được tất không phải là thứ trước đã bỏ. Do trước đã bỏ rồi, thời gian sau lại được, thì cũng tốn nhiều công sức mới được khởi, vì ở trước đã bỏ, vì không kính trọng. Như trước đã bỏ giới biệt giải thoát, thời gian sau lại thọ, thì giới được này là chưa từng được. Noãn v.v… cũng như vậy, sau được không phải là thứ trước đã bỏ. Nếu trước đã được căn thiện như noãn v.v…, trải qua đời sống nên bỏ, về sau gặp Pháp sư khéo giảng nói về phần vị liễu nghĩa liền sinh đảnh v.v… Nếu không gặp thì trở lại tu từ gốc. Hai thứ bỏ do thoái chuyển và mất thì phi đắc làm tánh. Thoái chuyển nên bỏ tất nhân khởi lỗi mà được bỏ do mất. Hoặc có người do đức tăng tiến mà bỏ.

Được căn thiện này thì có những thắng lợi gì?

Tụng nêu:

Noãn tất đến Niết-bàn

Đảnh trọn không đoạn thiện

Nhẫn không đọa nẻo ác

Đệ nhất nhập ly sinh.

Luận nói: Trong bốn căn thiện nếu được pháp noãn, tuy có trường hợp thoái chuyển đoạn căn thiện, tạo nghiệp vô gián, đọa vào nẻo ác v.v…, nhưng lưu chuyển không lâu tất đến Niết-bàn.

Nếu như vậy thì đâu khác với thuận phần giải thoát?

Nếu không có chướng ngại thì đến gần kiến đế, tức ở đây so với hành tướng của kiến đạo là đồng. Vì là đẳng dẫn gồm thâu căn thiện hơn hẳn. Nếu được pháp đảnh thì tuy có thoái chuyển v.v…, nhưng thêm là hoàn toàn không đoạn căn thiện. Quán xét công đức thù thắng của Tam bảo làm môn dẫn sinh tâm tin tịnh.

Nếu được đảnh rồi, không đoạn căn thiện, thì vì sao kinh nói Đề-bà-đạt-đa thoái chuyển đảnh?

Do vị kia đã từng khởi căn thiện gần với đảnh. Dựa nơi phần chưa được đã thoái chuyển, mật ý nói như thế. Nếu được pháp nhẫn, thì tuy trụ nơi phần vị phàm phu, mạng chung xả bỏ, nhưng thêm không có thoái chuyển, không tạo nghiệp vô gián, không đọa nẻo ác. Nhưng tụng chỉ nói câu: Không đọa nẻo ác.

Nghĩa căn cứ theo đấy đã biết là không tạo nghiệp vô gián. Người tạo nghiệp vô gián tất rơi vào nẻo ác. Còn vị nhẫn không có thoái chuyển, như trước đã biện.

Người được nhẫn không bị đọa nơi các nẻo ác, do đã xa các thứ nghiệp phiền não hướng đến nẻo kia. Vì đã được phi trạch diệt sinh nơi nẻo ác. Do sức của nhẫn phẩm hạ đã được không sinh nơi tất cả nẻo ác. Do sức của nhẫn phẩm thượng lại được không sinh nơi phần ít sinh v.v…

Phần ít sinh: Nghĩa là loài noãn, thấp. Do hai loài này có nhiều ngu tối. Nói vân vân là làm rõ về xứ, thân, hữu, hoặc. Xứ, nghĩa là trời Vô tưởng, Đại phạm, châu Bắc. Vô tưởng, Đại phạm là xứ tà kiến. Châu Bắc câu lô thì không có hiện quán. Thân, nghĩa là như loại hoàng môn v.v…, vì có nhiều phiền não. Hữu, nghĩa là hữu thứ tám v.v…, Thánh tất không thọ. Hoặc là các Hoặc do kiến đạo đoạn, tất không còn khởi.

Được pháp thế đệ nhất tuy trụ nơi phần vị phàm phu, nhưng có thể hướng nhập chánh tánh ly sinh. Tụng không nói lìa mạng chung xả bỏ, nhưng đã vô gián nhập chánh tánh ly sinh, căn cứ theo nghĩa đấy là đã thành, không có mạng chung xả bỏ.

Do đâu chỉ pháp thế đệ nhất này có thể nhập ly sinh?

Vì đã được phi trạch diệt của phàm phu, nên có thể như đạo vô gián xả bỏ tánh phàm phu.

Bốn căn thiện này đều có ba phẩm, do các chủng tánh như Thanh văn v.v… riêng khác, tùy theo chủng tánh nào, căn thiện đã sinh, chủng tánh kia có thể di chuyển hướng đến thừa khác không?

Tụng nêu:

Chuyển chủng tánh Thanh văn

Hai, thành Phật, ba khác

Lân dụ, Phật, không chuyển

Một tọa thành chánh giác.

Luận nói: Chưa gieo trồng Phật thừa, thuận phần giải thoát, dựa vào chủng tánh Thanh văn, khởi căn thiện noãn, đảnh, tức cùng có thể chuyển sinh noãn, đảnh của Phật thừa. Là phải trải qua thời gian dài mới có thể có nghĩa phát khởi.

Nếu khởi nhẫn kia không hướng đến Phật thừa, vì gia hạnh của thừa Thanh văn là rất lâu, trải qua sáu mươi kiếp, từ quả tất thành. Bồ-tát chuyên cầu sự việc lợi tha, vì muốn cứu độ vô biên hữu tình, nên trang nghiêm bằng lời thề rộng lớn, trải qua vô lượng kiếp, nên đi đến nẻo ác như đi dạo vườn cây hoa.

Nếu không như vậy thì không có nghĩa thành Phật. Khởi nhẫn thì được phi trạch diệt đối với tất cả nẻo ác, nên khởi nhẫn kia, không hướng đến Phật thừa, vì đoạn dứt rất nhiều sự việc lợi tha. Nếu khi Bồ-tát đã gieo trồng Phật thừa, tức thuận phần giải thoát, là đã ngăn chận nẻo ác, lần lượt kiên trì gồm thâu ba thứ thí, giới, tuệ. Bấy giờ, không nhọc công khởi nhẫn của thừa khác. Cho nên noãn, đảnh của Thanh văn có thể chuyển hướng đến Phật thừa. Khởi nhẫn thì không có nghĩa chuyển thành Phật.

Dựa nơi chủng tánh Thanh văn khởi ba thứ noãn, đảnh, nhẫn, đều có thể chuyển sinh đạo của Độc giác thừa. Không phải pháp nhẫn của chủng tánh Thanh văn đã sinh, đối với Bồ-đề của Độc giác có nghĩa có thể sinh chướng ngại, nên khởi nhẫn kia cũng thành Độc giác.

Vì nhẫn này ở ngoài Phật, nên tụng nói chữ khác. Chủng tánh của Độc giác thừa khởi noãn, đảnh, cho là có lý chuyển hướng đến thừa khác, thì không đúng, vì Độc giác thừa gồm có hai loại: (1) Lân giác dụ. (2) Trước là Thanh văn.

Nếu trước là Thanh văn thì như nói về Thanh văn. Còn Lân dụ và Phật đều cùng không thể chuyển, do đều cùng có một lần an tọa là thành Bồ-đề. Tĩnh lự thứ tư là không nghiêng động, vì Tam-ma-địa là hết sức sáng rõ, có thể làm chỗ dựa cho Lân dụ và Đại giác, nên hai bậc kia đều cùng dựa nơi tĩnh lự thứ tư. Từ thân niệm trụ đến tận vô sinh, chỉ ở nơi một lần an tọa là có khả năng theo thứ lớp khởi, nên chủng tánh Lân giác dụ và chủng tánh Phật, các căn thiện như noãn v.v… đều không thể chuyển.

Từng có đầu tiên sinh thuận phần giải thoát nơi đời này tức có khởi thuận phần quyết trạch chăng? Không như vậy thì vì sao?

Tụng nêu:

Trước thuận phần giải thoát

Chóng ba sinh giải thoát

Văn, tư thành ba nghiệp

Sinh nơi người ba châu.

Luận nói: Người thuận phần quyết trạch nay sinh khởi, thì đời trước tất khởi thuận phần giải thoát. Các hữu tình mới sinh thuận phần giải thoát, nhanh chóng nhất là ba đời mới được giải thoát. Nghĩa là đời đầu tiên sinh khởi thuận phần giải thoát. Đời tiếp theo thành thục. Đời thứ ba tức khởi thuận phần quyết trạch là nhập Thánh đạo.

Nếu cho đời thứ hai khởi thuận phần quyết trạch, đời thứ ba nhập Thánh đạo cho đến được giải thoát, thì lời nói kia so với điều đã nói ở trước là trái nhau. Nghĩa là người dựa vào địa căn bản khởi noãn v.v…, người kia tất ở nơi đời này được nhập kiến đế. Hoặc người kia nên thừa nhận nhanh chóng nhất là hai đời. Nghĩa là đời thứ hai dựa vào địa căn bản khởi noãn v.v… Người kia ở nơi đời hiện tại tất nhập Thánh đạo, được giải thoát, nên thuận phần giải thoát, do văn, tư tạo thành, không phải do tu tạo thành. Các hữu tình chưa gieo trồng thuận phần giải thoát, thì ở nơi đời kia không thể sinh khởi. Thuận phần giải thoát dùng ba nghiệp làm thể, hơn hết chỉ là ý nghiệp của ý địa. Do nguyện lực của tư này đã gồm thâu, khởi thân, ngữ, nên cũng được gọi là thuận phần giải thoát.

Có người do phần ít thí, giới, văn v.v…, liền có thể gieo trồng thuận phần giải thoát. Nghĩa là ý lạc thù thắng, chí thành cùng nối tiếp, chán bỏ sinh tử, ưa thích Niết-bàn. Cùng với đây trái nhau, tuy là nhiều tu thiện, nhưng không thể gieo trồng thuận phần giải thoát. Do ý nghiệp thì hơn hẳn sự việc gieo trồng căn thiện này. Chỉ ba châu trong nẻo người mới có thể gieo trồng. Vì Bát nhã chán lìa nơi xứ khác thua kém, nên có Phật ra đời. Nếu vào thời kỳ không có Phật đều cùng có thể gieo trồng thuận phần giải thoát.

Đã nhân tiện nói về thuận phần giải thoát. Nhập quán thứ lớp là điều đang luận, ở trong ấy đã nêu rõ về các đạo gia hạnh. Pháp thế đệ nhất là biên sau của đạo gia hạnh kia. Nên nói là từ đây lại sinh đạo nào?

Tụng nêu:

Thế đệ nhất vô gián

Tức duyên khổ cõi dục

Sinh pháp nhẫn vô lậu

Nhẫn tiếp sinh pháp trí.

Tiếp duyên khổ cõi khác

Sinh loại nhẫn, loại trí

Duyên tập, diệt, đạo đế

Đều sinh bốn cũng vậy.

Mười sáu tâm như thế

Gọi hiện quán Thánh đế

Đây chung có ba thứ:

Tức, kiến, duyên, sự riêng.

Luận nói: Từ căn thiện thế đệ nhất vô gián, tức duyên nơi cảnh của khổ Thánh đế thuộc cõi dục. Có pháp trí nhẫn thuộc về vô lậu sinh, nhẫn này gọi là khổ pháp trí nhẫn. Vì sao biết nhẫn này là thuộc vô lậu? Vì từ nơi thế đệ nhất vô gián mà sinh. Do trong Khế kinh nói: Thế đệ nhất vô gián nhập chánh tánh quyết định, hoặc chánh tánh ly sinh. Bấy giờ, gọi là vượt khỏi địa phàm phu. Nhẫn này đã là thuộc về một phần của ly sinh quyết định, nên nhất định là vô lậu. Từ thế đệ nhất vô gián mà sinh, nói chữ vô lậu là muốn phân biệt về pháp thế đệ nhất. Nhẫn vô lậu này đã từ nhẫn thế gian dùng pháp khổ của cõi dục làm đối tượng duyên cho mình, gọi là khổ pháp nhẫn. Nghĩa là đối với pháp khổ từ thời vô thủy đến nay, do thân kiến đã mê chấp ngã, ngã sở. Nay vừa mới thấy những thứ chấp kia, chỉ là tánh của pháp khổ. Nhẫn có thể hiện tiền, gọi là khổ pháp nhẫn. Khổ pháp nhẫn này có khả năng dẫn khổ pháp trí ở sau sinh. Là trí kia sinh pháp đối trị chướng ngại, nên lại gọi là khổ pháp trí nhẫn. Tức trí nhẫn này gọi là nhập chánh tánh quyết định, cũng lại gọi là nhập chánh tánh ly sinh. Do đây là đầu tiên nhập chánh tánh quyết định, cũng như bước đầu nhập chánh tánh ly sinh, nên kinh nói chánh tánh gọi là Niết-bàn. Hoặc chữ chánh tánh là nói về các Thánh đạo có thể quyết định hướng đến Niết-bàn. Hoặc quyết định rõ về tướng của đế, nên các Thánh đạo được danh xưng quyết định. Cuối cùng được quyết định gọi là nhập.

Nếu như vậy thì do đâu đối với tuệ vô lậu chỉ bắt đầu kiến đế mới được mang tên quyết định?

Do vào thời bấy giờ, đối với lý của các đế, vì mới đạt được, tức khó hủy bỏ kiến quyết định. Hoặc vào thời bấy giờ đối chiếu với đạo của phần vị khác, có không phải một thứ tướng quyết định. Phiền não gọi là sinh. Như Khế kinh nói: Thế nào gọi là sinh xú uế? Nghĩa là các thứ phiền não. Đầu tiên hướng đến vị kiến đạo, nên gọi là ly sinh.

Có thuyết nói: Nói sinh là nói về căn chưa thuần thục. Vì đầu tiên hướng tới vị kiến, nên gọi là ly sinh. Đến được ly sinh, gọi là nhập.

Về xả bỏ tánh phàm phu, các thuyết nêu giải không đồng. Có thuyết nói: Tức thế đệ nhất. Có thuyết cho: Là khổ pháp nhẫn. Có thuyết nêu: Là cùng xả bỏ.

Do hai thứ này, như đạo vô gián và đạo giải thoát, nên nhẫn vô gián này tức duyên nơi khổ của cõi dục, có pháp trí sinh, gọi là khổ pháp trí. Đối với chỉ là pháp khổ, vì đạt được tuệ quyết định, nên biết trí này cũng thuộc về vô lậu. Trước nói vô lậu là chuyển khắp đến phần sau. Như duyên nơi cảnh của khổ Thánh đế thuộc cõi dục, có khổ pháp nhẫn, khổ pháp trí sinh.

Như thế lại ở nơi pháp trí vô gián, duyên chung nơi cảnh của khổ Thánh đế thuộc cõi khác, có loại trí nhẫn sinh, gọi là khổ loại trí nhẫn. Nhẫn này vô gián, tức duyên nơi cảnh ấy có loại trí sinh, gọi là khổ loại trí. Vì đầu tiên chứng biết chân lý của các pháp, nên gọi là pháp trí. Vì trí của cảnh sau này so với trước là tương tợ, nên được mang tên loại. Là nghĩa cảnh sau này tùy theo trước mà chứng. Hoặc vì theo trước sinh, nên sau được mang tên loại trước. Như thế gian nói: Con là loại của cha. Tức là từ khổ của cõi dục quyết định nhận biết được sinh. Khổ của cõi khác quyết định nhận biết về nghĩa. Như duyên nơi khổ đế thuộc cõi dục và cõi khác sinh pháp loại nhẫn, pháp loại trí có bốn duyên. Ba đế còn lại đều có bốn cũng như vậy. Tức là nghĩa duyên nơi mỗi mỗi đế có bốn tâm.

Như thế theo thứ lớp có mười sáu tâm, nói chung gọi là hiện quán Thánh đế. Do cảnh của bốn Thánh đế ở nơi ba cõi theo thứ lớp hiện ở trước, như quán thật. Địa đầu tiên tập nghiệp ở nơi cảnh của các đế có nhiều xoay vòng khắp đã thuần thục. Nay, đối với phần vị này có thể quán như thế.

Bộ khác có nói: Hiện quán chỉ là tức khắc.

Lời nói của Bộ kia là đã nêu chung, lý hoặc không có trái, do hiện quán đế gồm có ba thứ. Ba thứ đó là gì? Nghĩa là kiến, duyên, sự. Chỉ tuệ vô lậu ở nơi cảnh của các đế đã nhận biết rõ như thật, gọi là kiến hiện quán. Tức là nghĩa do kiến phân minh hiện tiền, như thật mà quán về cảnh của bốn đế. Tức tuệ vô lậu và tuệ khác tương ưng, đồng một đối tượng duyên, gọi là duyên hiện quán. Tức do kiến cùng với tâm tâm sở pháp là đồng v.v… Là nghĩa có thể nhận lấy đối tượng duyên là cảnh của bốn đế. Tức các chủ thể duyên và pháp câu hữu khác, đồng một sự nghiệp, gọi là sự hiện quán. Tức là do kiến cùng tâm tâm sở pháp và pháp câu hữu khác, giới và tướng sinh v.v…, ở trong các đế là đồng đối tượng tạo tác. Giới luật, tướng sinh v.v… là nhân của hiện quán. Vì ở nơi hiện quán nhân kia có sự dụng, nên cũng đối với nhân kia lập tên hiện quán.

Như thế nên biết pháp không tương ưng chỉ một hiện quán. Trừ tuệ, tâm tâm sở pháp còn lại, có hai hiện quán. Chỉ tuệ vô lậu là đầy đủ có ba. Các thuyết gọi là hiện quán tức khắc, nghĩa là đối với một đế khi được hiện quán, thì ở trong các đế còn lại cũng được hiện quán. Nên đối với thuyết trước chủ trương hiện quán tức khắc, nên xét kỹ, nêu hỏi suy tìm là dựa vào hiện quán nào? Nếu nói dựa vào sự thì nên tán dương nói là thiện. Do đối với khổ đế, lúc được hiện quán, thì ở nơi khổ có đủ ba, đối với pháp khác chỉ có sự. Nghĩa là khi đầu tiên quán kiến khổ Thánh đế, vì dứt hết phiền não tức gọi là đoạn tập. Vì được trạch diệt, tức gọi là chứng diệt. Vì khởi đối trị tức gọi là tu đạo. Do ở phần vị kiến khổ, đối với ba thứ như tập v.v…, có đoạn, chứng, tu và sự hiện quán. Căn cứ theo sự hiện quán gọi là tức khắc, thì không lỗi. Nếu nói dựa nơi kiến nên bác bỏ, là nói điều sai trái. Vì hiện quán này tất khiến các đế dần dần cùng riêng biệt. Một kiến lý không có nhiều hành tướng. Tùy theo tự tướng kia trong mỗi mỗi đế, câu Đức Thế Tôn nói đều thấy riêng khác.

Đã biện về hiện quán gồm đủ mười sáu tâm. Mười sáu tâm này là dựa nơi địa nào?

Tụng nêu:

Đều cùng thế đệ nhất

Đồng dựa nơi một địa.

Luận nói: Tùy theo các địa là đối tượng nương dựa của pháp thế đệ nhất, nên biết tức mười sáu tâm này đã dựa. Các tâm kia dựa vào sáu địa, như trước đã nói, nghĩa là bốn tĩnh lự, định vị chí, trung gian.

Do đâu tất có nhẫn trí như thế, trước sau theo thứ lớp cùng xen tạp mà khởi?

Tụng nêu:

Nhẫn trí như thứ lớp

Đạo giải thoát, vô gián.

Luận nói: Trong mười sáu tâm thì bốn pháp loại nhẫn gọi là đạo vô gián. Bốn pháp loại trí gọi là đạo giải thoát. Danh xưng như trước đã nói. Có thể nhẫn thuận vì từ trước đến nay chưa kiến khổ nơi cõi dục. Tuệ vô lậu của niệm đầu tiên được gọi là khổ pháp nhẫn. Do trong Khế kinh, Đức Thế Tôn tự nói: Nếu đối với pháp này, dùng tuệ thấp kém, hoặc tuệ tăng thượng, quán xét kỹ nhẫn thuận, thì gọi là tùy tín hành, tùy pháp hành. Nên biết nhẫn này tức là đạo vô gián.

Ở nơi xứ nào nói về danh xưng của đạo vô gián này?

Kinh nói: Một pháp khó có thể thông đạt, gọi là vô gián, vì là đẳng trì của tâm. Lại, Đức Thế Tôn nói: Có khổ pháp trí, có khổ loại trí, cho đến nói rộng. Không phải hai trí này đồng duyên nơi các cảnh như khổ v.v… của ba cõi để khởi, như nơi Luận Thuận Lý đã biện. Nên ở nơi đối tượng thấy biết của khổ pháp nhẫn, trong khổ của cõi dục, quyết đoán thắng giải đã sinh, gọi là khổ pháp trí. Nhẫn trước có thể đoạn mười phiền não mà được. Trí sau có thể cùng với ly hệ kia được cùng sinh.

Kinh nói: Trí sinh tùy theo nơi nhẫn trước, nên biết trí sau gọi là đạo giải thoát. Từ nhẫn này vô gián, nơi cõi sắc, vô sắc chưa từng kiến khổ, tuệ vô lậu của sát-na thứ ba sinh gọi là khổ loại nhẫn, là chủng loại nhẫn thuộc kiến khổ của cõi dục. Tiếp theo, đối với khổ loại nhẫn đã quán trong khổ của cõi trên, quyết đoán thắng giải sinh, gọi là khổ loại trí. Nhẫn trí như thứ lớp đoạn trừ phiền não mà được, gọi là đạo vô gián. Ly hệ đắc đều cùng có, gọi là đạo giải thoát. Căn cứ theo trước nên nói. Đối với ba đế còn lại, căn cứ theo khổ nên biết. Tám nhẫn trước gọi là đạo vô gián, tám trí sau gọi là đạo giải thoát. Lại, vì sao nói đối trị đoạn gọi là đạo vô gián?

Nói trí của ly hệ đắc đều cùng thời khởi, gọi là đạo giải thoát. Vì không có gián cách, nên gọi là vô gián. Vô gián tức đạo, nên gọi là đạo vô gián. Là nghĩa không có đạo đồng loại nào có thể làm gián cách, khiến đối với đạo giải thoát không làm duyên. Các đạo vô gián chỉ là một sát-na. Các đạo giải thoát hoặc là cùng nối tiếp. Đối với các phiền não đắc của đối tượng đối trị thuộc chính mình đã được giải thoát, cùng với đạo của đoạn trừ kia đều cùng thời khởi gọi là đạo giải thoát. Nói đối tượng đối trị của chính mình là muốn hiển bày về nghĩa gì?

Các đạo vô gián như khổ loại nhẫn v.v… cũng cùng với ly hệ đắc của đối tượng đối trị khác đều cùng sinh. Chớ cho ly hệ kia cũng gọi là đạo giải thoát.

Mười sáu tâm này đều kiến đế lý, tất cả đều nói là thuộc về kiến đạo chăng? Không phải vậy. Vì sao?

Tụng nêu:

Mười lăm trước kiến đạo

Vì kiến chưa từng thấy.

Luận nói: Do kiến chưa từng thấy về lý của bốn Thánh đế, gọi là kiến đạo. Nên ở trong mười sáu tâm của hiện quán thì mười lăm tâm trước là thuộc về kiến đạo. Vì nơi phần vị đạo loại nhẫn ở trong các đế đã kiến viên mãn. Khi đến đạo loại trí thứ mười sáu, tuy cũng có một thứ trước chưa nhận biết về đế, nhưng không có một đế nào trước chưa kiến, vì tất cả nhẫn đều là tánh của kiến. Do đấy, bấy giờ không gọi là kiến đạo.

Há không phải là cũng kiến đế từng chưa kiến? Nghĩa là đạo loại trí kiến đạo loại nhẫn, tương ưng với đạo của một niệm cùng có.

Các hữu tình chỉ kiến về các pháp chưa từng kiến, gọi là kiến đạo. Bấy giờ thì kiến chung các thứ từng kiến, chưa từng kiến, nên không có lỗi này. Hoặc ở đây đã căn cứ theo đế, không căn cứ theo sát-na. Không phải bấy giờ quán đế chưa từng kiến. Không phải ở trong nhiều sát-na của một đế chưa kiến một sát-na mà có thể gọi là chưa kiến đế. Như gặt lúa nơi một thửa ruộng, chỉ còn lại một cây lúa, thì không thể gọi thửa ruộng này là chưa gặt. Nên kiến pháp chưa kiến, gọi là kiến đạo, là nghĩa tướng của kiến đạo đã khéo thành lập. Vì thế Tông ta nói phẩm đạo loại trí nơi biên sau của hiện quán là thuộc về tu đạo, gồm tu hành tướng của trí cảnh khác.

HẾT – QUYỂN 30