HUYỀN TÁN KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA
SỐ 1723
QUYỂN 02
Sa-môn Khuy Cơ soạn tại chùa Đại Từ Ân
PHẦN ĐẦU
Chánh Kinh: “Bậc đại Bồ-tát tám muôn vị. Huyền Là phần năm nêu chúng Thánh đức khó nghĩ bàn, Văn có ba phần:
- Nêu các loại học số.
- Khen đức.
- Nêu tên.
Phần đầu: Tiếng Phạm là Bồ-đề Tát-đỏa-ma-ha-tát-đỏa, nói lược là Đại Bồ-tát.
Bồ-tát tu hành lược có hai môn:
Một là tự lợi lấy đại trí làm đầu.
Hai là lợi tha, lấy đại bi làm trước.
Bồ-đề nghĩa là giác, là quả mong cầu của trí. Tát-đỏa nghĩa là hữu tình, là chỗ độ sanh của tâm từ bi. Nương theo lời hoằng nguyện nên gọi là Bồ-tát, lấy hai việc này làm cảnh gọi là Bồ tát, đây là hữu tài thích.
Lại, Giác là quả mong cầu. Hữu tình là tự thân; hữu tình cầu Tambồ-đề, nên gọi là Bồ-tát.
Hoặc Bồ-đề là quả mong cầu. Tát-đỏa nghĩa là mạnh mẽ, không sợ xứ, thời cầu đại Bồ-đề mà có chí có khả năng gọi là Bồ-tát. Cả hai đều là y chủ giải thích.
Lại Bồ-đề tức là Bát-nhã. Tát-đỏa nghĩa là phương tiện. Hai pháp như thế có thể làm lợi lạc cho tất cả hữu tình, nên gọi là Bồ-tát. Cũng gọi là Bồ-đề cũng gọi là Tát-đỏa, hoặc giải thích đầu tiên đều là theo trì nghiệp thích. Ma-ha nghĩa là Đại (lớn). Tát-đỏa nghĩa như trước. Bồ-tát ở đây chỉ cho hàng Bát địa trở lên. Vì để phân biệt với Tiểu thừa ở trên và Nhị thừa nên gọi là Ma-ha-tát.
Luận Bát-nhã của Vô trước chép: Các Bồ-tát có bảy thứ “Đại”. Ở đây “Đại chúng sanh” gọi là Ma-ha-tát-đỏa. Như trong Bồ-tát Địa nói, đến chương Đại thừa ở sau sẽ nêu riêng đầy đủ.
-Chánh Kinh: “Đều không còn lui sụt đối với quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề không lui sụt.
-Huyền tán: Từ đây xuống là phần thứ hai khen đức. Có mười ba câu: Luận theo hai môn giải thích.
- Chi trên, chi dưới.
- Nhiếp lấy sự.
Chi có nghĩa là phần. Phần chi trên là Tướng chung. Phần chi dưới là Tướng riêng cho nên Luận chép: “Nên biết A-nậu-đa-la Tammiệu Tam-bồ-đề không lui sụt” đó là Tướng chung, các phần còn lại là Tướng riêng.
Đây nói Tướng chung: Thể của Vô thượng Chánh giác tức là quả vị Phật, gồm có năm pháp. Nghĩa là Tịnh pháp giới và bốn phẩm trí tâm. Luận Kim Cương Bát-nhã của Vô Trước chép: A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề là nói về Bồ-đề và đạo Bồ-đề. A-nậu-đa-la là nói về tự Tướng Bồ-đề, là Tướng giải thoát. Tam-miệu Tam-bồ-đề: Chỉ rõ Bồ-đề là tướng bình đẳng của người, vì pháp Bồ-đề nên đắc trí “Phật này”.
Đại Luận Trí độ chép: Trí và trí xứ đều gọi là Bát-nhã.
Bồ-tát địa chép: Bồ-đề, Bồ-đề đoạn đều gọi là Bồ-đề. Vậy nên chữ A nghĩa là Vô. Nậu-đa-la nghĩa là Thượng. Tam là chánh. Chữ Miệu dịch là Đẳng. Lại Tam nghĩa là chánh. Bồ-đề là giác, tức nghĩa là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ở đây có bốn thứ giác:
1. Vô thượng giác là gọi chung: Tức nói Bồ-đề là pháp giới thanh tịnh.
2. Chánh giác để phân biệt với tà giác của ngoại đạo.
3. Đẳng giác: Để phân biệt với Nhị thừa chỉ hiểu được sanh không, giác thiên lệch.
4. Cũng gọi là Chánh giác: Để phân biệt với Bồ-tát. Vì sự giác ngộ của Bồ-tát chưa đầy đủ nên quả vị chưa phải là Chánh giác.
Đây là nói về Bồ-tát đạo, tức bốn phẩm trí. Một chữ Giác ở dưới quán thông cả bốn giác trên. Một chữ Giác này đầy đủ cả ba giác kia, tất cả đều chẳng ngoài đây, dụ cho nghĩa vượt khắp. Chân lý đã giác ngộ gọi là Vô thượng giác. Nhưng trong kinh luận thường nói chân lý là thể của Vô thượng Bồ-đề, là nói theo căn bổn. Nay lấy cả hai Lý và Trí của quả vị Phật đều gọi là Vô thượng Bồ-đề. Đối với hai quả này đều không lui sụt. Sao gọi là không lui sụt? Do đầy đủ mười nhân không lui
sụt như nói phần dưới, nên đối với quả Phật có khả năng không lui sụt quyết định sẽ chứng quả Phật, niệm niệm tiến tu gọi là không lui sụt. Thoái nghĩa là mất. Chuyển là động. Từ Bát địa trở lên, tùy ý vận dụng tiến tu ở quả Đại Bồ-đề, tu tập không lui sụt, không có phiền não, lại không bị các tướng hữu công dụng khuấy động, nên gọi là không lui sụt. Do đây Bát địa còn gọi là Bất động địa, các tướng dụng phiền não không thể khuấy động.
Nghĩa lui sụt có bốn:
1. Tín lui sụt: Thứ sáu trong Thập tín gọi là tâm lui sụt. Từ đây về sau không còn lui sụt sanh tà kiến.
2. Vị lui sụt: Thứ bảy trong thập trụ là vị lui sụt. Từ đây về sau không còn lui sụt nhập vào người Nhị thừa.
3. Chứng lui sụt: Từ hàng Sơ địa trở lên mới gọi là lui sụt, pháp được chứng đắc không bị thoái mất.
4. Hành lui sụt: Từ Bát địa trở địa trở lên là bất động địa. Đều có thể tu các pháp hữu vi, vô vi. Nay, các Bồ-tát này đều đã chứng bát địa trở lên. Nói: “Ở nơi quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không lui sụt,” tức quyết định sẽ chứng đắc, nên lui sụt không phải là nghĩa không chuyển.
Lại nghĩa lui sụt có hai:
Một là: lui sụt pháp đã đắc: Sơ địa tức pháp đắc.
Hai là: lui sụt pháp chưa đắc: Tức bát địa mới đắc.
Vô thượng Chánh giác là pháp chưa đắc. Từ Bát địa trở lên mới có thể không lui sụt. Tâm mong cầu Chánh giác, tiến tới không bị lay chuyển, tùy vận dụng trong dòng pháp chuyển, gọi là không lui sụt. lui sụt ở đây tức là không chuyển.
-Chánh Kinh: “Đều đắc Đà-la-ni… chuyển nói pháp luân, không lui sụt.
-Huyền Tán: Phần chi khác ở dưới có mười hai câu. Chia mười loại thị hiện ra làm hai: Chín câu đầu nói tự lợi, một câu sau nói lợi tha.
Chín câu đầu chia làm hai: Tám câu nói về đức hữu vi. Một câu nói về đức vô vị. Tám câu đầu lại chia làm hai: Năm câu nói về phước tuệ, ba câu nói bi trí.
Năm câu phước tuệ lại chia làm hai: Ba câu trước là nội hành, hai câu sau là thiện duyên.
Nội hành lại có ba:
- Huân tu tự lợi.
- Lợi tha.
- Lợi pháp.
Trong phần thiện duyên cũng có hai:
- Gặp duyên tu hành.
- Khen ngợi sự tốt đẹp và trừ nghi.
Ba câu nói bi trí: Một câu đầu là từ bi, hai câu sau là trí tuệ.
Trong đây có ba câu: Một là: Trụ nghe pháp không lui sụt nghĩa là câu “đều đắc Đà-la-ni”.
Đà-la-ni Hán dịch là tổng trì. Nghĩa Tổng trì có hai: 1) Nhiếp; 2) Tán.
Nhiếp là trì. Ở đây chính là văn trì. Nghe ở văn nghĩa, nhậm trì không quên nghĩa là năng trì điều được nghe, đó gọi là nhiếp. Nghe tức là tổng trì, là thể của niệm tuệ .
Kinh Thập địa nói: Bồ-tát từ Bát địa trở lên, đối với tất cả pháp đều có thể kham nhận, suy nghĩ, thọ trì.
Luận ấy giải thích rằng: Kham nhận là văn tuệ, suy nghĩ là tư tuệ, trì là tu tuệ, trong một Tu tuệ mà chia làm ba dụng.
Tán có nghĩa là thí ở đây có bốn loại:
- Pháp.
- Nghĩa.
- Năng đắc của nhẫn Bồ-tát .
- Minh chú.
Thí cho chúng sanh. Trong đây có hai loại:
- Năng trì: Tức là văn trì.
- Sở trì: Gồm bốn loại còn lại.
Lại chia ra làm hai:
- Tự lợi văn trì v.v…
- Bốn loại pháp nghĩa… là nhân quả khác nhau.
Hai là Nhạo thuyết không lui sụt: Nghĩa là nhạo thuyết biện tài. Biện tài tức là bốn biện, bảy biện mà ưa nói. Tứ biện là bốn vô ngại giải.
- Pháp vô ngại giải.
- Nghĩa vô ngại giải.
Hai pháp nghĩa là lần lượt hiểu giải giáo lý trí tuệ không bị đuối lý.
- Từ vô ngại giải: Tức là giải thích ngôn âm các phương trí không đuối lý.
- Biện thuyết vô ngại giải: Tức là dùng thất biện tài nói pháp, trí không vướng đọng.
Bảy biện là:
- Tiệp biện: Biện luận nhanh, khi cần nói thì nói, nói không trùng lắp.
- Tấn biện: Nói lưu loát không đuối lý, như nước sông cuồn cuộn chảy.
- Ứng biện: Nói hợp thời cơ không thêm không bớt.
- Không sơ ý biện luận sai. Phàm khi nói các khế kinh không lầm theo tà thuyết.
- Biện luận không dứt: Nói liên tục cho đến cuối không hết ý.
- Những lời giảng nói đều có ý nghĩa dồi dào, mỗi câu mỗi lời đều có nhiều sự lý.
- Biện luận nghĩa mầu nhiệm vượt hơn tất cả nghĩa thế gian sâu xa đầy đủ như sấm sét nổ lúc trời trong sáng, từ xa nghe rõ năm thứ tiếng.
Bốn vô ngại giải có giải thích trong phẩm Phương Tiện, thường dùng trí hậu đắc và trí chánh thể làm thể. Vì ngại duyên khởi lên.
Ba là: Nói không lui sụt: Nghĩa là chuyển nói pháp luân không lui sụt.
Pháp luân là pháp sở thuyết, thường nói pháp không lui sụt này. Nghĩa là chuyển như bốn vị trước, hai loại pháp không lui sụt nên gọi là chuyển bất pháp bất chuyển.
Lại nữa, kinh Di-lặc Sở Vấn có nói: Thuyết tự phần công đức gọi là Xoay bánh xe lui sụt.
Thuyết ngoại phần công đức thì gọi là xoay bánh xe bất chuyển.
Lại nói trí gọi là lui sụt. Nói phúc gọi là bất chuyển; lại nói Bátnhã là bất chuyển, phương tiện gọi là bất chuyển; lại sự hữu vi là bất chuyển, gọi lý Vô vi gọi là bất chuyển. pháp này như bánh xe lăn nên gọi là pháp luân. Luân có ba nghĩa:
Một là viên mãn, nghĩa là tám chánh đạo v.v… Trục xe, vành xe, căm xe đều viên mãn.
Hai là nghĩa bất định: Phật từ lúc kiến đạo, chuyển sanh Tu đạo, từ tu đạo sau sanh vô học đạo. Tự đắc đạo rồi lại người nói pháp, cho an trí Thánh đạo ở trong thân chúng sanh. Như vậy lần lượt khiến cho người đắc quả Thánh rồi, lại nói pháp cho người nghe. Vì bánh xe thí dụ bất định nên gọi là luân.
Ba là nghĩa phá hoại, bọ ngựa có thể bị bánh xe nghiền nát.
Thánh đạo ở trong tâm có công năng phá hoại phiền não, phá phiền não chưa phục, trấn áp phiền não đã phục như xe báu của vua.
Cho nên dụ như bánh xe.
Bánh xe Pháp có năm:
1/ Luân tự tánh: Là trạch pháp giác chi, chánh kiến …
2/ Pháp luân nhân: Có thể sanh ra các Thánh đạo như Giáo, văn, tư v.v…
3/ Luân quyến thuộc: Thánh đạo giúp đỡ các pháp như năm uẩn.
4/ Cảnh pháp luân: Lý tứ đế… là sở duyên của Thánh đạo.
5/ Quả pháp luân: Nhờ đạo mà chứng Niết-bàn, Bồ-đề, chuyển là nói. Pháp đã gọi là luân, thuyết cũng gọi là chuyển. Nay tùy theo sở ứng nói Bát địa trở về hành năm pháp luân của vị lui sụt này, nên gọi là chuyển. Lại năm thể này tức là bốn pháp: Giáo, lý, hạnh, quả đều gọi là pháp luân. Chuyển nghĩa là động, là hiển, là vận, là khởi. Động tuyên ngôn giáo, hiển dương diệu lý. Vận Thánh đạo ở tiếng trước mà khởi chân trí ở nói sau, phá trừ hết chướng não nên gọi là Xoay bánh xe. Trong phẩm Phương tiện có nói đầy đủ.
-Chánh Kinh: “Cúng dường vô lượng… ngợi khen…
-Huyền Tán: Có ba câu: Hai câu đầu hợp thành “Y chỉ thiện tri thức không lui sụt của câu thứ tư. Cúng dường vô lượng Chư Phật, đối với các Đức Phật trồng các cội công đức”. Luận gọi là “Trồng các gốc lành”. Vì nghiệp thân tâm của mình nương vào sắc thân thu nhiếp. Bồtát tu hành chẳng qua từ thân tâm. Nay nêu ra nghiệp thù thắng của sắc thân cúng dường Chư Phật, để trồng sâu các gốc đức nhiếp lấy, tất cả các nghiệp thiện của tâm mình. Cúng dường có mười loại như Bồ-tát địa nói:
1. Hiện tiền cúng dường: là cúng dường trước tất cả Tam bảo, Xá lợi, Phật, và Tháp…
2. Không hiện tiền cúng dường: Đối với các tháp Phật khác đều tưởng niệm Phật bình đẳng, tu sửa lễ nghi cúng dường không hiện tiền.
3. Hiện tiền không hiện tiền cúng dường: Khi đối trước tháp Phật… lại nghĩ: Pháp tánh bình đẳng của một tháp Phật là pháp tánh bình đẳng của tất cả tháp Chư Phật ba đời mười phương. Cúng dường một tháp Phật, tức là cúng dường tháp Chư Phật ba đời mười phương, đó là tu cúng dường hiện tiền không hiện tiền.
4. Đối với các đối tượng như thế chỉ tự cúng dường.
5. Hoặc khởi tâm từ bi, tùy sức, của cải bố thí cho người nghèo khổ, nguyện cho họ được an vui, cũng khiến người khác cúng dường.
6. Đều cúng dường: Tự mình đã làm lại khuyên người khác thực hành pháp cúng dường này.
7. Tài, kính cúng dường: Dâng các loại hương hoa cung kính. Cho đến đem các thứ như báu quý sửa soạn của cải cung kính cúng dường.
8. Cúng dường rộng lớn: Tức là đem của cải, sữ cung kính lâu ngày, nhiều điều tốt đẹp cho đến tịnh niệm hồi hướng quả Bồ-đề. Tự mình quyên góp xin được tài vật của người, phát nguyện tưởng hóa thành trăm ngàn thân, cung kính lễ bái. Mỗi hóa thân xuất ra trăm ngàn cánh tay rải các hương hoa, phát ra trăm ngàn âm thanh ca hát, xưng tán công đức. Lại xuất ra vật cụ trang nghiêm để cúng dường. Trong châu Thiệm bộ cho đến cõi nước mười phương đều tùy hỷ cúng dường. Tuy ít có dụng công mà phát tâm cúng dường rộng lớn vô biên.
9. Cúng dường vô nhiễm: Không đem các vật khinh mạn dối trá bất tịnh buông lung, mà tu vô nhiễm cúng dường.
10. Chánh hạnh cúng dường: Nếu tu bốn Vô lượng trong khoảnh khắc. Cho đến tu ít thời tín nhẫn là nói pháp tánh chân như, khởi tâm vô tướng vô phân biệt trụ, tức là Bồ-tát giữ gìn tịnh giới. Cho đến tu hành bốn nhiếp sự, tu chánh hạnh cúng dường, nên nghĩ đây là trên hết tối diệu, tức cúng dường gấp trăm ngàn muôn lần cúng dường hơn trước không thể ví dụ. Lúc tu cúng dường nên nghĩ: Như lai là ruộng phước lớn có đầy đủ đại ân đức, là bậc tối tôn khó gặp trong chúng hữu tình, là bậc xuất chúng duy nhất làm y chỉ. Phật đã như vậy, đối với Pháp, Tăng cũng như vậy. Như trong u Tám quyển thượng có nói.
Chữ chúng có cả hai âm bình và khứ.
Dứt tất cả nghi không lui sụt: Là câu thứ năm “Thường được Chư Phật khen ngợi.
Do chư Bồ-tát từ hàng Bát địa trở lên, cho đến dứt hết các nghi lý sự. Hai nghi phiền não, sở tri đều dứt. Cho nên ở quả vị Bát địa gọi là địa Quyết định. Cho đến thường được Chư Phật khen ngợi, hoặc do Phật khen ngợi có thể đoạn các nghi. Nghi Bồ tát trụ ở ngôi vị nào? Chứng đắc gì? Nay nói rõ quả thượng vị và chỗ đắc chứng, nên dứt hết các nghi.
-Chánh Kinh : “Đem lòng từ tu thân cho đến bờ kia”.
-Huyền Tán: Trong đây có bốn câu.
Câu thứ sáu: Là vì việc gì mà nói pháp kia, đây nhập vào các việc kia không lui sụt. Nghĩa là đem lòng từ tu thân.
Luận chép: Đem tâm đại từ bi mà tu thân tâm. Ở đây giải thích lý do các Bồ tát vì việc gì; ngoài vì người nói pháp, bên trong chứng đắc các pháp, dùng pháp đại từ bi huân tu vào thân tâm, cứu khổ ban vui.
Nói về hai lợi hành trì chỉ vì lòng từ bi đều có ba như phần dưới có nói.
Câu thứ bảy: Vào cảnh giới nhất thiết trí như thật không lui sụt:
Nghĩa là “khéo nhập vào Phật tuệ”. Ở đây nói diên đảo thì nên nói: Nhập vào cảnh giới như thật Nhất thiết trí không lui sụt, tức là nhập vào trí quán chiếu, cùng câu thứ chín ở dưới có khác nhau. Nếu nương vào luận văn thì không khác.
Câu thứ tám: Y ngã không, pháp không không lui sụt. Thông đạt được đại trí, đạt được hai ngã vô trí.
Câu thứ chín: Nhập vào cảnh giới như thật không lui sụt. Đạt đến chỗ Phật tánh tận cùng ở bờ kia.
-Chánh Kinh: “Danh tiếng vang khắp cho đến trăm ngàn chúng sanh”.
-Huyền Tán: Ở đây có hai câu, họp lại thành một.
Câu thứ mười: Chỗ làm nên làm gìn giữ không lui sụt. Danh tiếng vang khắp vô lượng thế giới. Có thể gìn giữ Phật pháp không để mất. Chúng sanh nghe tiếng đều tín hướng tu học. Hóa độ vô số trăm ngàn chúng sanh, nên gọi là nên làm việc phải làm. Việc Bồ-tát nên làm là làm lợi lạc cho chúng sanh.
Phần trên là nói chi trên chi dưới. Phần dưới là nói nhiếp lấy sự. Luận có hai giải thích.
Luận về nhiếp sự: Là nhiếp lấy các việc công đức. Đầu tiên giải thích chỉ cho biết hiện các Bồ tát trụ ở địa thanh tịnh nào? Nhân vào các phương tiện nào? Ở trong các cảnh giới nào mà làm điều nên làm? Đây là nêu chung, luận dưới nhắc lại giải thích trong mười ba câu, chia ra làm ba. Ở trong câu một nói Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không lui sụt, là trụ vào cảnh giới thanh tịnh nào?
Kế là có mười câu là nhân thuộc phương tiện nào? Hai câu sau là trong cảnh giới nào để làm việc nên làm.
Luận nhắc lại trong giải thích chỉ giải thích hai câu đầu nêu, không giải thích câu thứ ba.
Địa thanh tịnh là ba địa từ Bát địa trở lên. Vì hành vô tướng vắng lặng thanh tịnh, trong đây dùng lý vô tướng tức là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ba địa sau đều ở nơi hành vô tướng, nhậm vận vắng lặng lìa chướng được thanh tịnh, gọi là không lui sụt. chẳng phải là lui sụt với các cấu nhiễm hữu tướng.
Câu thứ hai là nhân vào phương tiện nào? Có bốn loại:
1. Nhiếp lấy pháp mầu phương tiện. Nhậm trì pháp mầu dùng lực nhạo thuyết vì người mà nói pháp. Đây nhiếp cả ba câu.
Nhậm trì diệu pháp là đều đắc Đà-la-ni. Do đắc diệu pháp văn trì nhậm trì khiến không để xa lìa, trụ vào tự tâm không quên, nên gọi là 550 nhậm trì. Dùng lực nhạo thuyết là nhạo thuyết biện tài.
Nói người nghe là xoay bánh xe không lui sụt đây là vì người nói pháp không lui sụt.
2. Nhiếp lấy thịên tri thức phương tiện: Vì nương vào thiện tri thức làm những việc nên làm. Đây nhiếp ba câu. Vì nương vào thiện tri thức là cúng dường vô lượng trăm ngàn Chư Phật.
Làm những việc nên làm: Đối với Chư Phật gieo trồng các gốc công đức. Gốc đức tức là gốc lành, là điều nên làm. Do đây thường được Chư Phật khen ngợi.
3. Nhiếp lấy phương tiện chúng sanh. Vì không xả bỏ chúng sanh. Đây là nhiếp một câu, dùng lòng từ tu thân. Do lòng từ bi huân tập thân tâm, không xa lìa chúng sanh, thường hay cứu độ.
4. Nhiếp lấy trí phương tiện: Giáo hóa chúng sanh để cho họ thâm nhập vào trí kia. Đây là nhiếp ba câu. “Khéo thâm nhập vào tuệ Phật, thông đạt đại trí, đến nơi bờ kia.” Do tự có ba trí mà có thể khiến cho chúng sanh nhiếp giữ lấy ba trí. Tự thành tựu ba trí: là các chúng sanh nhiếp giữ lấy nhân của ba trí.
Trí đầu tiên là trí biết như thật, là trí tự lợi. Trí kế tiếp là trí tri sự, trí lợi tha. Trí sau là trí chân lý , trí thật tánh . Trong luận chỉ giải thích hai câu đầu này, không giải thích ở cảnh giới nào mà làm việc nên làm. Đây là nhiếp hai câu. “Tiếng tăm vang xa khắp vô lượng thế giới” là các cảnh giới nào? “Năng độ vô số trăm ngàn chúng sanh” là việc nên làm. Do Bồ-tát có đủ ba trí này nên tiếng tăm vang xa khắp các thế giới mười phương. Có thể ở trong vô lượng thế giới này, độ trăm ngàn chúng sanh làm những việc cần làm. Độ chúng sanh là việc nên làm của Bồtát. Câu đầu nói xong, kế là câu thứ hai.
Lại có nhiếp lấy sự, là nói hiện trong các địa, nhiếp lấy các công đức thù thắng, không đồng công đức Nhị thừa. Thế nên hai câu này là nêu chung, ở dưới có giải thích riêng. Hai câu là:
- Nói hiện trong các địa.
- Nhiếp lấy công đức cao quý không đồng với công đức của Nhị thừa. Vậy nên trong mười ba câu, bốn câu đầu là nói hiện ở các địa.
Chín câu sau là nhiếp lấy công đức cao quý.
Bốn câu đầu là nói hiện trong các địa là:
Câu một là nói Bồ-đề Vô thượng không lui sụt, là Bát địa, kế hai câu là Cửu địa. Câu ba là Thập địa. Thế nên trong luận giải thích nói hiện trong các địa: Bát địa trí vô công dụng không đồng địa trên, dưới. Không đồng địa dưới là: Công dụng địa dưới hành không thể động.
Không đồng địa trên là: Địa trên vô tướng hành không thể động, là tự nhiên mà hành. Địa trên là hành hạnh vô tướng thù thắng. Địa dưới là hành hạnh công dụng yếu kém. Trong Duy thức giải thích Bất động địa là: Tướng dụng phiền não không thể động; Luận này giải thích là không lui sụt. Nghĩa là công dụng bất động, hành Vô tướng bất động, nhậm vận tiến tu cùng chứng Không, Hữu, không bị hai làm động gọi là không lui sụt. Ở trong Cửu địa đắc Thắng tấn môn Đà-la-ni, đầy đủ bốn vô ngại giải thoát, tự tại. Cửu địa đắc Văn trì đầy đủ thì gọi là thắng tiến. Đầy đủ thất biện vì người mà nói pháp. Trước ở tam địa tuy đắc được Văn trì vẫn còn chưa viên mãn. Nay nói vị viên mãn ở thập địa, xoay bánh xe không lui sụt, được thọ vị thật như Chuyển luân vương. Vì địa thứ tám, thứ chín, thứ mười đồng chỉ rõ hiện trong các địa, nên luận tự kết rằng: Chín câu dưới nhiếp lấy công đức. Ba địa trên cũng đều đắc được.
Giải thích nhiếp lấy công đức thù thắng: Chỉ rõ hiện nương vào pháp nào? Nương vào tâm nào, nương vào trí gì? Nương vào cảnh giới gì mà hành trì? Nương vào đâu mà có thể làm xong? Đây có năm câu: Luận câu đầu là nêu ra, trở xuống tự giải thích riêng: Nương vào pháp nào là nhiếp lấy ba câu.
“Cúng dường vô lượng trăm ngàn Chư Phật. Ở chỗ Chư Phật trồng các gốc công đức. Thường được Chư Phật khen ngợi công đức. Luận nói nương theo vào thiện tri thức.
Nương vào tâm nào là nhiếp một câu: “Đem đức từ tu thân.” Luận chép: Ta nương vào tâm độ chúng sanh mà giáo hóa làm lợi ích rốt ráo cho tất cả chúng sanh. Các Bồ-tát thực hành đều nói tâm ta vì độ chúng sanh, hay nói ta dựa vào tâm chúng sanh, bởi rốt ráo có thể làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Nương vào trí nào nhiếp lấy ba câu. “Khéo nhập vào Phật tuệ, thông đạt đại trí, đến nơi bờ kia.” Luận chép: Nương vào ba loại trí:
Một là thọ ký mật trí: Là trí vì chúng sanh mà nói nghĩa sâu kín. Ký là giải thích cho nghĩa ký biệt, tức là câu khéo nhập Phật tuệ.
Hai là thông trí: Là trí dùng đại thần thông làm lợi ích chúng sanh, tức là câu thông đạt đại trí.”
Ba là chân thật trí: Là trí chứng đắc chân như, tức câu “đến nơi bờ kia.” Bờ kia chính là chân lý. Có thể đến là nghĩa trí chứng đắc.
Nương vào cảnh giới nào mà hành trì: Là một câu: “Danh tiếng vang khắp cả vô lượng thế giới. Các thế giới có hai:
- Khí thế gian.
- Hữu tình thế gian.
Đều là cảnh giới tu hành của Bồ-tát.
Nương vào đâu mà có thể làm xong là câu: “Có thể độ vô số trăm ngàn chúng sanh,” Bồ-tát đem ba trí ở trong cõi kia mà có thể làm các việc gì? Nghĩa là có thể độ chúng sanh. Tùy theo sự phối hợp riêng biệt ở hai câu sau. Mà Luận chính giải thích: Nương vào cảnh giới nào mà hành trì. Nương vào đâu mà có thể làm, tức là nhiếp cả ba trí. Ý văn nói là: Dùng ba trí ở trong các cảnh giới có thể làm các việc lợi ích cho chúng sanh. Nói nhiếp ba loại trí, ở Hán dịch ý nói lược không đầy đủ.
Ý cũng ắt như vậy.
-Chánh kinh: “Tên của các vị đó là… Bồ-tát Đắc Đại Thế.”
-Huyền tán: Trở xuống nêu tên có hai phần: Trước kể ra, sau kết. Hợp lại có mười tám vị Bồ-tát, đều lấy nguyện hạnh để làm tên, chia ra làm bảy ý đối. Ba vị đầu ở đây là đối với ý nghĩa: “Cứu khổ cho vui”. Mạn-thù-thất-lợi dịch là Diệu-kiết-tường: Ban vui cho chúng sanh là ở thế giới Thường hỷ ở Bắc phương của Đức Phật Vui mừng Tạng Ma Ni Bảo Tích, chúng sanh nghe tên vị Phật này có thể diệt các bốn tội trọng.
Lại nói: Thời quá khứ là Phật Long Chủng Thượng Trí Tôn Vương, cũng nói tương lai sẽ thành Phật.
Kinh Hoa Nghiêm nói: Ở núi Ngũ đài Thanh lương, cùng có một muôn vị Bồ-tát. Bồ-tát A-phược-lô-chỉ-đế-thấp-phiệt-la-da dịch là Quán Tự Tại: Quán ba nghiệp quy y mà cứu khổ chúng sanh, Hán dịch âm lược là Quán Âm.
Kinh Quán Thế Âm thọ ký nói: Sau khi Phật Di-đà diệt độ, tiếp đến Ngài sẽ thành Phật, tên là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương. Phật này diệt độ rồi, đến Bồ-tát Đại Thế Chí sẽ thành Phật, hiệu là Thiện Trụ Công Đức Bảo Vương
Bồ tát Đắc Đại Thế: Những nơi Ngài đến thế giới rung chuyển có uy lực lớn, chúng sanh gặp Ngài tự nhiên dứt hết khổ, được vui thù thắng, có hai công năng như trước.
-Chánh kinh: “Thường tinh tấn Bồ-tát… đến Bồ-tát.”
-Huyền tán: Đây là đối với ý nghĩa tự lợi, lợi tha, của hai Bồ tát thường tinh tấn tu hành làm cho chúng sanh được lợi ích, không biết chán mệt.
-Chánh kinh: “Bảo Chưởng… đến Bồ-tát.”
-Huyền tán: Ba vị Bồ tát này đối với đối với ý nghĩa cứu giúp người nghèo khổ. Bồ tát Bảo Chưởng cứu chúng sanh nghèo khổ, trong tay xuất ra của báu.
Bồ tát Dược Vương làm cây thuốc lớn, làm vua cứu trị các bệnh tật. Một Bồ tát Dõng Thí có thể thông hai việc trên. Mạnh mẽ bố thí tiền của và thuốc men, tức đều thu nhiếp hai thứ trên.
-Chánh kinh: “Bảo Nguyệt… đến Bồ-tát.”
-Huyền tán: Ba vị này là đối với ý nghĩa dẫn dắt, ánh sáng phá trừ tối tăm. Bảo Nguyệt dẫn dắt trí sáng như mặt trăng lại soi sáng. Ánh sáng mặt trăng phá hết si ám, giống như Nguyệt quang, Mãn nguyệt có thể làm hai việc trên.
-Chánh kinh: “Đại lực… đến Bồ-tát.”
-Huyền tán: Hai vị này là đối với ý nghĩa hai thần thông lớn, nhỏ. Do thể hiện thần thông là để cảnh tỉnh người có duyên khiến họ cùng phát tâm. Có thể làm rung chuyển trăm ngàn thế giới nên gọi là Đại lực. Có thể làm rung chuyển vô số thế giới nên gọi là Vô lượng lực.
-Chánh kinh: “Việt ba cõi… Bồ-tát.”
-Huyền tán: Đây là hai vị Bồ tát đối với ý nghĩa lìa nhiễm, tiến thiện vượt qua ba cõi, hai cõi lìa nhiễm. Việt là nghĩa lìa vượt qua. Bồtát Bạt-đà-bà-la dịch là Hiền Hộ, là bảo hộ giữ gìn thiện pháp không để cho mất.
-Chánh kinh: “Di-lặc… Bồ-tát.”
-Tán rằng: Đây là ba vị Bồ tát đối với ý nghĩa thế gian, xuất thế gian.
Di-lặc họ là Từ là cứu khổ sanh tử thế gian. Bồ tát Đạo sư, Bảo Tích là dẫn dắt đến bờ xuất thế. Bảo Tích dẫn dắt đến đạo quả Bồ-đề, tức Bồ-đề pháp bảo tích góp để cho chúng sanh. Đạo sư là đại Đạo sư dẫn dắt đến quả Niết-bàn viên tịch. Cho nên ba vị này hợp thành riêng để bảy ý nghĩa đối.
-Kinh: “Các vị Bồ tát như thế… cho đến tám muôn người đều hội.”
-Huyền tán: Đây là phần kết.
Triệu Công nói: Các Bồ-tát này đều là vô sanh thân. Vô sanh thân nghĩa không có chỗ nào không sanh nên gọi là vô sanh. Vì vô sanh cho nên đóng cửa ba cõi, không có chỗ nào không sanh nên thị hiện hình trong lục đạo.
-Kinh: “Bấy giờ Thích-đề-hoàn-nhân… cho đến hai muôn thiên tử đều hội.”
-Huyền tán: Phần trên là năm chúng nội bộ. Phần dưới là mười chúng ngoại hộ. Trong đây nhân, phi nhân là hai. Trong phi nhân, có thiên phi, thiên là hai. Trong cõi Trời: Dục giới, Cõi Sắc là hai.
Dục giới có ba:
- Đế-thích.
- Tứ Vương.
- Tự Tại.
Hoặc nói Địa cư, Không cư là hai. Trong Địa cư có Đế-thích, Tứ Vương là hai. Đây là phần đầu (Đế-thích).
Tiếng Phạm là: Thích-ca Đề-bà-nhân-đạt-la. Thích-ca là họ, Hán dịch là Năng, là Đề-bà thiên, là Nhân Đạt-la-đế vậy. Chánh nói: Năng Thiên Đế, Thích Đề Hoàn nhơn, dịch là Thiên Đế-thích đều là nói ngược sai. Vị trời này trụ ở đỉnh núi Diệu cao là Đế chủ của ba mươi ba cõi trời. Quá khứ gọi là Kiều-thi-ca dịch là Kiển Nhi, hoặc A-ma-bạt-đà dịch là Vô độc hại tức là nước Ma-kiệt-đà. Đây là nơi Đế-thích tu nhân trong quá khứ nên dụng làm tên nước. Nước kia xưa là xứ Chí cam lồ, tức từ kiếp sơ Đế-thích cùng đấu chiến với A-tu-la. Từ núi này xuất ra dòng sữa, đắc cam lồ dẫn đến nơi đây, nhân đó mà lấy tên. Thuở xưa Đế-thích có ba mươi hai người đồng làm bạn, có phu nhân Thiện Pháp, phu nhân Viên Sanh, phu nhân Vui mừng, phu nhân Thiết Chi, cùng tu thắng nghiệp. Cho nên sanh lên cõi trời, có Thiện pháp đường, cây Viên sanh, vườn Vui mừng, người nữ A-tu-la, phu nhân Thiết Chí. Các nhân duyên này như trong sớ Tông luận có nói.
-Chánh kinh: “Lại có Nguyệt thiên tử… cho đến cùng với một muôn thiên tử .”
-Huyền tán: Đây là Tứ vương chúng (chúng của bốn thiên vương). Tam quang là thuộc về Bốn thiên vương, không có ở cõi trời khác. Có kinh nói Quan Âm tên là Bảo Ý làm Nhật thiên tử, tức là Bảo Quang này. Đại Thế Chí tên là Bảo cát Tường làm Nguyệt thiên tử, tức Minh Nguyệt Thiên tử. Hư không tạng tên Bảo quang làm Tinh thiên tử. Đây là Phổ Hương. Nhật cung do Hỏa tinh, làm đường kính dài năm mươi mốt du-thiện-na. Nguyệt cung do Thủy tinh làm đường kính dài năm mươi du-thiện-na. Tinh cũng do Thủy tinh làm lớn nhấtlà mười tám, cho đến nhỏ bằng bốn câu-lô-xá; một câu-lô-xá dài hơn ba dặm. Các ngôi sao này ở trên hư không vây quanh bốn châu. Bốn đại thiên vương gồm: phương Đông trì quốc, phương Nam tăng trưởng, phương Tây Xú mục, phương Bắc đa văn, đều ở lưng chừng tầng thứ tư của núi Diệu cao. Cũng trụ ở đỉnh núi Thất kim. Tam Quang Tử Thiên cách mặt đất khoảng bốn muôn du-thiện-na. Về hình tướng thọ lượng, như các nơi khác đã nói.
-Chánh kinh: “Trời tự tại tử… cho đến ba muôn thiên tử đều hội.”
-Huyền tán: Không cư như trời, Dạ-ma thiên, Đổ-sử-đa thiên gọi là Trời tự tại tử. Cõi trời này đắc được dị thục quả tùy ý khởi niệm hơn hai cõi trời dưới. Hai cõi trời dưới, như quả dựa vào cây mà được, nay tùy ý muốn mà được, nên gọi là Tự tại. Lạc biến hóa thiên, Tha hóa trời tự tại gọi là Thiên trời tự tại tử, không lạc ở dị thục quả, mà lạc tự mình, lạc người khác biến làm công cụ lạc mà thọ dụng nên gọi là Đại tự tại. Lại giải thích Tha hóa thiên chủ gọi là Trời tự tại, chủ tứ thiền gọi là Trời Đại tự tại. Lại Trời tự tại là thần của Đế-thích. Đại Trời tự tại là thầy của Đế-thích. Như hai giải thích sau không có bốn, Không cư thiên, Trời Dục Dục.
-Chánh kinh: “Chủ thế giới Ta-bà… đến hai muôn thiên tử đều hội.
-Huyền tán: Trời Cõi Sắc này, Tiếng Phạm là Sách-ha, dịch là Kham nhẫn, chư Bồ-tát lúc thực hành lợi lạc, phần nhiều đều bị các khổ nạn kẻ thù ép ngặt, phải chịu đựng lao nhọc chịu do đó đặt tên, Hán dịch âm Ta-bà là sai. Các cõi Sơ thiền lớn nhỏ bằng ở Dục giới một Tứ thiên hạ, một ngàn Sơ thiền mới bằng Nhị thiền. Nhị thiền ở đảnh hỏa tai. Một ngàn Nhị thiền mới bằng Tam thiền. Tam thiền là đảnh hỏa tai. Một ngàn tam thiền mới bằng Tứ thiền. Tứ thiền là đảnh phong tai, cho đến tam thiên đại thiên thế giới, gọi là thế giới Ta-bà. Chủ thế giới Tabà là Đại phạm vương tức chủ Tứ thiền. Tiếng Phạm gọi Phạm ma, Hán dịch là Vắng lặng, Thanh tịnh, Thanh khiết, cũng gọi là Phạm khiết.
Nay chỉ nói Phạm là lược vậy.
Thi khí là ở đảnh hỏa tai tức chủ Sơ thiền ở đỉnh nhọn hỏa tai.
Quang minh là chủ Nhị thiền, gồm Tiểu Quang, Vô lượng quang, Cực quang, chủ của Tịnh thiên là chủ Tam thiền. Nhưng kinh Đại Bát-nhã quyển năm trăm bảy mươi nói: Chủ cõi Kham nhẫn là Trì Kế phạm vương. Thi khí là Đảnh Kế. Tức là nói Trì Kế Phạm vương là chủ cõi Kham nhẫn, biệt danh của Phạm vương, Quang minh là thiền chủ khác.
-Kinh: “Có tám vị long vương… quyến thuộc đều hội.”
-Huyền tán: Trở xuống nói rõ chúng phi thiên có năm: Đầu tiên là loài rồng:
1. Tên là Hỷ;
2. Tên là Hiền Hỷ. Đây là hai huynh đệ. Loài rồng này thiên thích ứng với nhân tâm, làm cho mưa gió điều hòa không phá hoại đất đai.
Rồng Hỷ là làm cho người vui, rồng sau tánh hiền khiến mọi người vui, nên do đó mà gọi tên.
3. Sa-dà-la là loài rồng ở biển mặn.
4. Hòa tu cát, Hán dịch là Cửu đầu, ở quanh núi Diệu cao, ăn các loài rồng nhỏ.
5. Đức-xoa-ca, dịch là Đa thiệt, là có nhiều lưỡi. Hoặc vì ưa nói nên gọi là Đa thiệt.
6. A-na-bà-đạt-đa, Hán dịch là Vô Nhiệt Não. Rồng ở trong ao Vô nhiệt não, lìa xa ba thứ nóng bức:
- Không bị cát nóng thiêu đốt.
- Không bị gió thổi y làm lộ hình.
- Không bị loài chim cánh vàng ăn thịt.
Không có ba điều sanh nhiệt não này gọi là Vô nhiệt não.
Kinh Hoa Nghiêm nói: Đại Địa Bồ-tát làm loài rồng trong ao này, giăng mây đại bi che hết tất cả chúng sanh. Tu pháp môn lìa khổ mà được tự tại. Từ vảy của rồng chảy ra các dòng nước ngày đêm không cạn cứu độ các loài hữu tình trong châu Thiệm bộ .
7. Ma-na-tư, Hán dịch là Từ tâm.
Kinh Hoa Nghiêm chép: Trước khi làm mưa thì giăng mây che kín bảy ngày, đợi các việc ở nhân gian xong rồi mới mua, nên gọi là từ tâm.
8. Ưu-bát-la, Hán dịch là hoa sen hồng, Rồng ở trong ao sen này nên lấy đó đặt tên.
-Chánh kinh: “Có bốn Khẩn-na-la… cho đến cùng quyến thuộc đều hội.”
-Huyền tán: Tiếng Phạm là Khẩn-nại-lạc, Hán dịch là Ca thần, Hán dịch âm Khẩn-na-la là sai vậy. Đầu tiên ca pháp Tứ đế, Kế Ca Duyên khởi, sau ca Lục độ, rồi đến Nhất thừa. Hoặc ba loại đầu tiên ca về giáo hạnh của ba thừa. Sau đó ca lý quả của Nhất thừa, nên gọi là Trì pháp. Hoặc ca giáo lý Nhất thừa , hạnh quả lần lượt như thế. Hoặc tùy theo Phật nói pháp trong một hội mà tuyên ca. như âm nhạc thế gian ca ngợi công đức của vua.
-Chánh kinh: “Có bốn vua Càn-thát-bà… cho đến cùng với quyến thuộc.”
-Huyền tán: Nhạc âm trái với năm hiếu.
Tiếng Phạm là Mạt-nô-thị-nhược táp-phược-La, Hán dịch là Khả ý âm (âm nhạc vừa ý). Cũng gọi là như ý âm. Nhạc là để làm cho người yêu thích. Trong Chánh pháp hoa chép:
- Gọi là Nhu nhuyến thiên tử.
- Gọi là Hòa âm thiên tử.
Tiếng Phạm là Kiền-thát-phược, Hán dịch là Tầm Hương Hành, tức vị thần tấu nhạc, Hán dịch âm Kiền-thát-phược là sai. Bên Tây Vực do đây gọi tán nhạc là Kiền-thát-phược, chuyên tìm khí hương làm nhạc cầu xin. Trong âm nhạc có hai loại:
- Loại không ti, trúc tức loại khánh trống.
- Loại bằng ti, trúc, tức là tiêu địch.
Không phải loại ty trúc loại dưới gọi là nhạc, loại trên là nhạc âm. Loại dưới ty trúc là mỹ, loại trên là mỹ âm. Hoặc đồng với âm khúc ca thần ở trước.
-Chánh kinh: “Có bốn A-tu-la vương cho đến cùng với quyến thuộc”.
-Huyền tán: Tiếng Phạm là A-tố-lạc, Hán dịch là Phi thiên. Tố lạc là tên khác của trời. Nói A nghĩa là chẳng phải. Vì nhiều dối trá khác việc làm của trời nên gọi là phi thiên. Như người bất nhân cũng gọi là phi nhân.
Luận Du-già Phật Địa chép: Là thuộc về đường trời. Tạp tâm nói thuộc đường quỷ. Pháp Niệm kinh Chánh là nói là đường quỷ súc. Kinh Du-già nói ba đường quỷ, súc sanh và thiên. Có thuyết nói La-hầu-a-tula là con của Sư tử, thuộc loài súc sanh. Nay nương vào Đại thừa Du-già làm chánh. Ở đây có năm loại:
1. Cực nhược: Ở trong núi non đất đai cõi người. Tức nay trong núi Tây phương có hang rất lớn và sâu, phần nhiều là cung của phi thiên. Bốn loại bên dưới theo kinh Thập địa nói.
2. Là ở dưới phía Bắc núi Diệu cao có cung La-hầu dưới biển lớn hai muôn một ngàn do-tuần.
3. Dưới hai muôn một ngàn do-tuần có cung Dũng kiện.
4. Dưới hai muôn một ngàn do-tuần có cung Hoa man.
5. Dưới hai muôn một ngàn do-tuần có cung Tỳ-ma-chất-đa-la.
Theo đây thì sâu xuống tám muôn bốn ngàn do-tuần là ở núi Tudi. Như vậy là trái với kinh Khởi thế. Kinh này nói Đông, Tây núi Tu-di cách ngoài một ngàn do-tuần có cung Tỳ-ma-chất-đa, ngang rộng tám muôn do-tuần, có thành bảy lớp là xóm làng riêng, cũng lại không.
La-hầu, Hán dịch là Chấp nhật. Lúc trời và A-tu-la đánh nhau, đem bốn thiên vương ra cùng chiến đấu. Nhật nguyệt thiên tử phóng ra ánh sáng cực mạnh bắn vào mắt Tu-la. Đây là tên nhọn của loài phi thiên nên dùng tay che khuất ánh sáng của mặt trời. Cho nên nói là chấp nhật. Đây là A-tu-la thứ tư nên biết .
Đầu tiên nêu A-tu-la Bà-trĩ, xưa dịch là Bi phược (bị ràng buộc). Trước quân của phi thiên bị trời bắt. Nói đúng là Bạt-trĩ-ca, Hán dịch là Đoàn viên, nghĩa trong chánh pháp hoa là trên hết, tức tương đương Dũng kiện. Kế đến là Chấp nhật sau cùng chư Thiên giao đấu. Lúc này có lực rất mạnh mẽ, Bạt-đà-phược đây không phải bị trói buộc.
Khư-la-khiên-đà: Khư khiên đều thuộc khứ thanh, chữ Đà là bình thanh.
Xưa dịch là Quảng kiên phược, có hình mạo rất to lớn. Kế là giải thích về Dũng kiện, sau cùng là Hoa man.
Tiếng Phạm là Phệ-ma-chất-đát-lợi, Hán dịch là Ỷ họa, vẽ các hoa văn trên thân. Hoặc gọi là Bảo cẩm (gấm báu) dùng làm mũ đội. Ở Hán dịch Tỳ-ma-chất-đa-la là sai. Đây là cha mẹ lớn nhất của trời Đếthích, cha là Xá-chi. Nhân duyên này có nói trong sớ Tông luận.
-Kinh: “Bốn Ca-lâu-la vương… cho đến cùng với quyến thuộc ”.
-Huyền tán: Tiếng Phạm là Yết-lộ-trà, Hán dịch là Diệu sí điểu. Chim này màu sắc cánh rất đêp không chỉ màu vàng. Xưa dịch là Calâu-ca, dịch. Kim sí điểu là sai.
Kinh Tăng nhất A-hàm chép: Phật bảo các Tỳ-kheo có bốn loài chim Diệu Xí tức sanh từ trứng, thai, ẩm ướt và hóa. Có bốn loài rồng cũng sanh trong bốn loại: noãn, thai, thấp, hóa.
Tỳ-kheo nên biết! Như loài chim noãn sanh lúc muốn ăn loài rồng, từ trên cây Thiết xoa nhảy xuống biển, chim này dùng cánh rẽ nước làm hai rồi bắt lấy rồng nở ra từ trứng mà ăn. Nếu muốn ăn các loài rồng từ sanh khác thì chim sẽ mất mạng. Như thế chim thuộc loài thai sanh chỉ ăn hai loại rồng thai và trứng. Loài chim thấp sanh chỉ ăn ba loại rồng trước, nếu ăn loài hóa sanh sẽ bị mất mạng. Loài chim từ thấp sanh có thể ăn rồng từ bốn loại sanh, nếu loài rồng quy y Phật thì chim không thể ăn. Vì sao? Vì Như lai thường hành trì bốn tâm vô lượng, Từ, Bi, Hỷ Xả bốn tâm này có đại thế lực, đại mạnh mẽ, không thể làm cản trở phá hoại, nên chim cánh vàng không thể ăn. Vậy nên các Tỳ-kheo nên hành trì bốn tâm: Từ, bi, hỷ, xả. Nay nói theo thứ lớp thì là loài chim bốn sanh cũng nói người có uy đức lớn, các rồng rất sợ nên uy đức rất rộng lớn. Thân chim lớn hai cánh dang ra cách ba trăm ba mươi sáu muôn dặm, bụng no đầy, dưới cổ có hạt châu như ý.
-Chánh kinh: “Con bà Vi-đề-hy cho đến cùng với quyến thuộc.
-Huyền tán: Đây là chúng nhân vương. Vì Phật nói pháp tại thành Vương-xá này nên nêu riêng .
Tiếng Phạm là Phệ-đề-sất-phất-đát-đa, xưa dịch là Suy nghĩ tử, nay dịch chữ Phệ có nghĩa là Thắng. Đề-sát là thân, tức gọi là Đông Tỳ-đề-ha. Tỳ-đề-ha là gọi người nam, Tỳ-đề-sất gọi người nữ. Đây là tên núi, cũng là tên vị thần trong núi kia. Do từ vị thần xin con nên lấy đó đặt tên, dịch âm Vi-đề-hy là sai.
Tiếng Phạm là A-đổ-đa-thiết-chuyết-lộ, dịch là Vị sanh oán, dịch A-xà-thế là sai. Vì kết oán trước khi sanh ra cũng gọi là Chiết chỉ (gẫy ngón tay). Do tạo gây ra nghịch, sau đó nghe kinh Tiểu thừa sám hối rồi còn bị đọa vào địa ngục Vô gián. Về sau đắc quả Độc giác.
Kinh Niết-bàn chép: Vua A-xà-thế không gặp Kỳ-bà trong bảy ngày tới sẽ đọa địa ngục. Nghe kinh Đại thừa sám hối rồi thì không đọa địa ngục.
Lại có kinh nói: Sau khi sám hối đắc Nhu thuận nhẫn. Lấy theo tên mẹ nên gọi là vua A-xà-thế con bà Vi-đề-hy. Trong kinh Niết-bàn cũng nói rõ việc này.
-Chánh kinh: “Các chúng lễ chân Phật rồi lui ra ngồi một nơi.”- Huyền tán: Trong phần nêu tên chúng, tiếp nói về nghi thức. Thể hiện sự tôn kính tình thâm nên ai cũng lễ xuống chân Phật, mới ngồi sang một bên cầu thọ chánh pháp.
-Chánh kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn… cho đến tôn trọng khen ngợi.”
-Huyền tán: Trong phần chúng thành tựu văn chia làm hai đoạn: Phần một là nêu chúng. Phần này nói rõ uy nghi ở chỗ Phật. Luận giải về chúng thành tựu có bốn: Phần trên đã giải thích ba, đây là phần thứ tư. Nói bốn chúng. Xưa nói: Ma, Phạm, Sa môn Bà-la-môn. Đây nói trội hơn hai cõi trời Sắc và Dục giới, trong nhân gian là đứng đầu. Cho nên Sư trí Khải nói:
- Chúng ảnh hưởng thì ngồi im lặng tại chỗ.
- Chúng phát giáo như ngài Xá-lợi-phất, Di-lặc thì ba lần thỉnh.
- Là chúng đương cơ thọ giáo được ngộ giải.
- Chúng kết duyên lúc ấy chưa ngộ giải mà kết nhân duyên về sau.
Lại có bốn chúng: Thanh văn, Bồ-tát cùng hai chúng khách, cựu. Sớ của người xưa có nhiều nghĩa. Nhưng sau đây văn dưới xét thấy có chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di là bốn chúng. Đi giáp vòng gọi là vây. Ngồi giáp vòng gọi là nhiễu quanh. Dâng tài hạnh gọi là cúng, nhiếp cả vật dụng gọi là dưỡng, nghiêm cẩn gọi là cung, kính ngưỡng gọi là kính. Rất kính là tôn. Tôn kính sâu là trọng, đúng lý luận 50 tốt gọi là Tán, gặp việc nêu đức gọi là khen ngợi. Luận giải có bốn :
- Chúng vây quanh.
- Trước sau.
- Cúng dường cung kính.
- Tôn trọng khen ngợi.
Trong luận nói cũng đồng như trong kinh này, mà thiếu nghĩa “trước sau.” Nay y theo nên nói. “Bấy giờ Đức Thế tôn bốn chúng trước sau vây quanh, cúng dường cung kính tôn trọng”. Trong văn khen ngợi mới có đầy đủ.
Nói trước sau đó là các chúng đều nhìn thấy Phật nói pháp. Tức mặt hướng ra trước mà không xoay ra sau, tức so với mỗi mỗi người đều có trước sau, mà không phải nói phương vị trước sau.
-Chánh kinh: “Vì các Bồ-tát… cho đến Phật sở hộ niệm.”
-Huyền tán: Đây là phần thứ ba… nói Như lai nói pháp… tức thời chí thành tựu. Lược có ba nghĩa:
1. Nương vào người, trước vì Bồ-tát nói kinh Đại thừa, tên là Vô Lượng Nghĩa. Sau mới nói cho chúng Thanh văn nghe pháp Nhất thừa.
2. Nương vào lợi, trước đem giáo lý Nhất thừa lợi tha giáo hóa Bồ-tát căn trí đã thuần thục. Sau đem quả Nhất thừa tự lợi mới hóa độ người Thanh văn sơ căn hồi tâm.
3. Nương vào pháp, trước nói về thể của pháp, sau nói về công năng. Cho nên lúc chưa nói kinh Pháp Hoa, Phật nói kinh Vô Lượng Nghĩa trước, gọi là “Thời chí”.
“Kinh Đại thừa:” Đây là câu nói chung, còn lại là riêng.
Thập nhị môn luận định nghĩa Đại thừa có sáu.
- Ra khỏi Nhị thừa.
- Thừa này có thể dẫn dến Phật Đại thừa.
- Sở thừa của Phật.
- Có thể diệt đại khổ, đem lại lợi lạc lớn.
- Sở thừa của các vị Đại sĩ Quán Âm…
- Có thể thấu rõ hết tận cùng các pháp.
Nhiếp Đại thừa nói: Cũng thừa cũng đại nên gọi là Đại thừa, tức là muôn hạnh vậy. Hoặc nương theo tánh Đại nên gọi là Đại thừa, tức chân như là nghĩa nương theo vận chuyển. Luận Bát-nhã Kim Cương Vô Trước nói: Bảy loại đại tên tuy có ít sai khác, mà nghĩa đồng với thứ mười một của đối pháp. Đối pháp nói tức tánh thừa này do cùng tương ưng với bảy loại đại tánh, nên gọi là Đại thừa.
- Tánh cảnh đại: Đem Bồ-tát đạo duyên với trăm ngàn giáo lý làm sở duyên, cho nên gọi kia là pháp đại.
- Tánh hành đại: Đầy đủ cả hai lợi nên gọi là tâm đại.
- Tánh trí đại: Rõ được hai vô ngã nên kia gọi là Tín giải đại.
- Tánh tinh tấn đại: Tu tập các hạnh khó hành trải qua ba đại atăng-kỳ kiếp. Cho nên kia gọi là Tịnh tâm đại.
- Tánh phương tiện thiện xảo đại: Do đầy đủ trí bi, không trụ vào sanh tử, Niết-bàn, kia gọi là tư lương đại.
- Tánh chứng đắc đại: Thành tựu các pháp: Thập lực, Tứ vô úy cùng các công đức. Kia gọi là quả báo đại.
- Tánh nghiệp đại: Tận cùng sanh tử, biên kiến lập Phật sự. Cho nên gọi là Đại thừa. Kia gọi là thời đại. Thể căn bản của thừa tức là lý chân như. Là vô tướng. Đây đồng với kinh Thắng-man.
Kinh Thắng-man nói: “Thừa tức là Đại thừa. Đại thừa là Phật tánh. Phật tánh chính là cảnh giới Niết-bàn. “Cuối cùng thì thông cả muôn hạnh lý, cũng thừa cũng đại. Thể của bảy tánh đại thì thông nơi pháp hữu vi. Đến chương Nhất thừa, sẽ biện minh đủ, đầy đủ là câu nói chung. Ba câu: “Vô Lượng Nghĩa…” Là nói pháp Đại thừa là tên riêng của kinh. Chánh Pháp hoa nói chỉ có hai câu. Luận viết lại thì có mười bảy tên. Đúng hợp với luận văn nên nói: Vì chư Bồ-tát mà nói kinh Đại thừa gọi là: Vô Lượng Nghĩa, Trên hết kinh điển, Đại thừa Phương Quảng, Giáo Bồ-tát pháp, Phật sở hộ niệm, Chư Phật Bí pháp, Chư Phật đức tạng, Chư Phật mật xứ, Năng sanh Chư Phật, Chư Phật Đạo tràng, Chư Phật pháp luân, Bền chắc xá-lợi, Thiện phương tiện, Tuyên thuyết xảo Nhất thừa, Đệ nhất nghĩa xứ, Diệu Pháp Liên Hoa, Trên hết pháp môn.
Luận mười bảy tên như sau:
1) Vô Lượng Nghĩa: Là thành tựu danh tự, nghĩa. Đem pháp môn này để nói cảnh giới. Pháp rất sâu xa, màu nhiệm. Cảnh giới ấy tức là cảnh giới trên hết của Phật. Năng thuyên giáo pháp, thuyết nghĩa kia, giáo cũng vô lượng. Do đấy, giáo danh tự và nghĩa sở thuyên đều gọi là vô lượng.
Kinh Vô Lượng Nghĩa nói: Vì tánh dục của chúng sanh vô lượng, nên pháp Phật nói cũng vô lượng. Vì pháp vô lượng nên nghĩa cũng vô lượng. Nghĩa vô lượng là từ một pháp mà sanh ra. Một pháp đó tức là vô tướng. Như thế không tướng, không tướng và bất tướng, không có tướng bất tướng gọi là thật tướng. Đại Bồ-tát an trụ vào chân thật tướng như thế rồi, phát tâm từ bi, rõ thật không vọng, ở nơi chúng sanh thật có cứu khổ; khổ dứt rồi lại vì chúng nói pháp khiến cho thọ nhận khóai lạc.
Thiện nam tử! Bồ-tát nếu tu một pháp môn Vô Lượng Nghĩa như thế thì chắc chắn mau thành quả Vô thượng Bồ-đề.
Thiện nam tử! Ví như một hạt giống có thể sanh ra trăm ngàn muôn hạt giống. Trong trăm ngàn hạt giống đó mỗi mỗi lại sanh ra trăm ngàn muôn số. Lần lượt như thế cho đến vô số, vô lượng. Kinh điển này cũng lại như thế. Từ một pháp sanh ra trăm ngàn nghĩa. Trong trăm ngàn nghĩa mỗi nghĩa lại sanh ra trăm ngàn muôn số! Như thế lần lượt nghĩa đến vô lượng vô biên. Thế nên kinh này gọi là Vô Lượng Nghĩa. Luận không chỉ lấy giáo lý sở sanh đó gọi là vô lượng mà thể của vô lượng tức cảnh chân trí. Thể là năng thành tựu, là thành tựu danh tự, nghĩa kia.
2) Kinh điển trên hết: Đây là diệu tạng trên hết trong Ba Tạng.
3) Phương quảng Đại thừa: Pháp môn Đại thừa vô lượng, tùy theo pháp của căn cơ của chúng sanh Đại thừa. Vì thế kinh này có đầy đủ trụ trì thành tựu.
4) Giáo Bồ-tát pháp: Vì hóa độ căn cơ thuần thục của Bồ-tát, tùy theo pháp khí của họ mà có thể thành tựu, không hóa độ người Nhị thừa.
5) Phật sở hộ niệm: Nương vào Phật thì có, nương vào pháp khác thì không.
6) Chư Phật Bí pháp: Pháp rất sâu xa này chỉ có Phật mới biết. bí nghĩa là tạng.
7) Chư Phật Đức tạng: Là kho tàng thiền định công đức của Phật, ở trong kinh này.
8) Chư Phật Mật xứ: Như căn cơ chưa thuần thục, chẳng phải là pháp khí, thì không cho.
9) Năng sanh Chư Phật: Nghe pháp môn này có thể thành tựu báo thân hóa thân Bồ-đề.
10) Chư Phật đạo tràng: Pháp môn này có thể thành Vô thượng Bồ-đề. Chẳng phải ở các bộ kinh khác, có thể hiển bày pháp thân trí của Chư Phật.
11) Chư Phật pháp luân: Diệt trừ hết si ám.
12) Xá-lợi bền chắc: Pháp thân công đức ba đời của Chư Phật. Bộ kinh này nêu đầy đủ không bị hoại.
13) Phương tiện khéo léo: Nương vào pháp môn này được thành Phật rồi, lại vì chúng sanh nói pháp năm thừa trời người.. thành tựu trí tuệ Phật khéo dùng các phương tiện.
14) Giảng nói Nhất thừa: Chỉ rõ thể rốt ráo Vô thượng Bồ-đề của
Như lai. Nhị thừa chẳng phải là rốt ráo.
15) Đệ nhất nghĩa xứ: Pháp môn này tức là trụ xứ Pháp thân rốt ráo của Như lai. Pháp thân của Phật gọi là Đệ nhất nghĩa. Trụ xứ của pháp thân này gọi là Đệ nhất nghĩa xứ.
16) Diệu Pháp Liên Hoa: Luận giải thích có hai nghĩa:
- Nghĩa ra khỏi mặt nước. Dùng nghĩa Sở thuyên đặt tên Hoa.
- Nghĩa hoa nở: Dùng giáo Năng thuyên đặt tên Hoa, tức là chứng trí rất sâu, A-hàm rất sâu.
Nghĩa ra khỏi mặt nước có hai ý:
a) Nghĩa ra khỏi nước không thể cùng tận: Ra khỏi xa lìa nước nhơ đục Tiểu thừa. Đây là nói về thể của hoa. Bồ-tát đốn ngộ tánh xa lìa nước đục mà tánh thể của pháp là thường nên không thể tận. Đây nói về lý tánh Nhất thừa, ra khỏi Nhị thừa, nên gọi là ra khỏi nước.
b) Lại có nghĩa Hoa sen ra khỏi nước bùn nhơ. Dụ cho các Thanh văn vào ngồi ở trong đại chúng của Như lai. Như các Bồ-tát, ngồi trên hoa sen nghe thuyết Vô thượng trí tuệ, cảnh giới thanh tịnh, chứng Như lai mật tạng.
Ý đây nói là: Bồ-tát ngồi trên hoa sen nghe thuyết cảnh giới Vô thượng trí tuệ, có thể chứng đắc mật tạng sâu xa của Như lai. Các Thanh văn hồi tâm rồi, được vào ngồi ở trong đại chúng, cũng như Bồ-tát ngồi trên trong hoa sen nghe thuyết cảnh tuệ, cũng chứng đắc mật tạng. Trước đã giải thích về thể ra của Bồ-tát đốn ngộ, đây giải thích về dụng ra của hàng tiệm ngộ về sau. Kinh này chính dùng giáo lý để hóa độ các Bồ-tát, mà bên cạnh đó cũng hóa độ Nhị thừa, nên có nghĩa này.
Nghĩa hoa nở là chúng sanh trong pháp Đại thừa khởi tưởng như người chơi vơi trên triền núi, tâm yếu hèn nên không thể sanh lòng tin, nay khai thị pháp thân tịnh diệu của Như lai khiến cho sanh tâm tịnh tín.
17) Pháp môn trên hết: Vì để nhiếp thành tựu. Nhiếp thành tựu đó là nhiếp giữ vô lượng danh cú tự thân, các kệ: Tần-bà-la, A-siểm-bà v.v…. Đây là căn bản để nhiếp tất cả danh cú tự nghĩa. Cho nên gọi là trên hết.
Đây chính là sở thuyên, là pháp môn trên hết của năng sở thuyên khác. Năng thuyên cũng là pháp môn của năng thuyên sở thuyên khác. Do nhiếp tất cả danh cú tự nghĩa. Cho nên Tần-bà-sa-la là số mười tám trong năm mươi hai số của Tiểu thừa. A-siểm-bà là số thứ hai mươi, đây là số bài kệ tụng trong các kinh Đại thừa. Kinh này đều năng nhiếp nên gọi là pháp môn, tức là hai mươi ngàn muôn ức bài kệ. Luận nói trong mười bảy câu, đây là câu chung còn lại là câu riêng. Kinh này chỉ có ba là:
- Thể dụng của Vô Lượng Nghĩa là cao siêu.
- Giáo pháp Bồ-tát hóa độ căn cơ thuần thục.
- Được Phật che chở, nương vào Phật mà có.
Ba nghĩa này trội hôn nên nêu ra.
Hỏi: Kinh Vô Lượng Nghĩa và tên thứ mười sáu gọi là Diệu Pháp Liên Hoa. Nay nói kinh Vô Lượng Nghĩa xong, Phật nhập vào Vô Tam muội Lượng Nghĩa xứ, từ Tam muội khởi ra mới nói kinh này, cũng gọi là Diệu Pháp Liên Hoa. Hai tên đâu có khác?
Đáp: Có năm cách giải thích:
1/ Gọi Liên hoa là có hai thời mà được tên: Như thời hoa sen chưa ra khỏi nước mà tánh đã ra khỏi nước cũng gọi là Liên hoa. Kinh kia cũng vậy. Nói tánh trí tuệ kia có thể xuất ra từ nước, tánh có thể khai mở mà khi ấy vẫn chưa hóa độ Nhị thừa hướng đến Nhất thừa. Nay kinh này chính là hóa độ Nhị thừa nhập vào giai vị Đại thừa, vượt ra khỏi Nhị thừa, như hoa sen ra khỏi nước rồi cũng gọi là hoa sen còn. Kinh đó chính gọi là Vô Lượng Nghĩa. Bên cạnh đó cũng mượn gọi là Diệu Pháp Liên Hoa chính là hợp với Bồ-tát, song song đó cũng khiến cho Thanh văn nghe tin hiểu không ngu ở pháp, sau đó mới hóa độ nhập. Kinh này chính gọi là Diệu Pháp Liên Hoa, song song đó cũng gọi là Vô Lượng Nghĩa. Chính là để giáo hóa Thanh văn nhập vào Nhất thừa, tuy thời vị có khác nhưng thể tánh không hai. Cho nên sắp nói kinh này Phật trước nhập vào Tam muội Vô Lượng Nghĩa xứ .
2/ Gọi kinh Vô Lượng Nghĩa là Pháp hoa, cùng với danh thể của kinh này không hai. Lúc đó chỉ giáo hóa Bồ-tát, chưa có hướng Nhị thừa quy về Nhất thừa. Nói giáo lý nương vào chân như diệu lý chính gọi là Vô Lượng Nghĩa, cũng gọi là Diệu Pháp Liên Hoa, là lúc này hóa độ Nhị thừa hướng về Nhất thừa. Nói có thể nương vào hạnh quả, chính gọi là Diệu Pháp Liên Hoa, như lúc ra khỏi nước mà song song đó, cũng gọi là Vô Lượng Nghĩa.
3/ Kinh kia y theo vào thể trí tuệ cũng gọi là Pháp hoa, kinh này ước về công năng trí tuệ mà gọi là Pháp hoa. Hội hai để quy về một.
4/ Vì kinh kia dung giáo lý gọi là Liên hoa. Bồ-tát đã tu nhân Nhất thừa, hướng đến quả Nhất thừa, không vì nói hạnh, quả Nhất thừa gọi là Pháp hoa. Do chỉ là giáo lý, không biết ứng theo bệnh cho thuốc, chỉ nói giáo lý gọi là Pháp hoa. Nay trong hội này người Nhị thừa chưa có thể được ứng bệnh cho thuốc, nên không vì nói giáo lý Liên hoa, chỉ vì kia nói hai loại hạnh quả gọi là Liên hoa, khiến cho chúng Thanh văn hướng đến vào Nhất thừa hạnh quả. Thế nên kinh dưới nói: Ngồi xe báu này, thẳng đến Đạo tràng, làm nhân hạnh, chỉ đem tri kiến của Phật khai ngộ cho chúng sanh đồng quả với Liên hoa.
Lại trong khai thị ngộ nhập, luận tự giải thích: Khai nghĩa Vô thượng. Thị nghĩa đồng. Ngộ nghĩa bất tri. Nhập nghĩa là khiến cho nhập vào không lui sụt địa. Ba nghĩa trước là quả. Một nghĩa sau là nhân. Kinh Thắng-man cũng vậy, chỉ nói nhân quả Nhất thừa gọi là Nhất thừa.
5/ Kinh ấy dùng hai thứ giáo lý là Liên hoa. Kinh này đối với giáo lý hạnh quả của Nhị thừa đều gọi là Liên hoa, có nghĩa khắp đủ như trước đã nói. Ba nghĩa trước giải thích kinh kia đây đồng thể. Hai nghĩa sau giải thích kinh này rộng, kinh kia hẹp. Do nghĩa này nên kinh Vô Lượng Nghĩa, dùng hai nghĩa gọi là vô lượng: một là pháp, hai là nghĩa. Luận nói thành tựu danh, tự, nghĩa. Danh tự có nghĩa là giáo pháp. Nghĩa là sở thuyên. Kinh Vô Lượng Nghĩa nói: Vì tánh dục chúng sanh vô lượng nên pháp cũng vô lượng. Pháp vô lượng nên nghĩa cũng vô lượng. Nghĩa vô lượng đó từ một pháp mà sanh ra một pháp đó tức là vô tướng. Nhưng nay bộ kinh này tuy đầu tiên là khen ngợi giáo lý mà văn sau phần nhiều dùng hạnh quả gọi là Liên hoa. Thật thể trên dưới các nơi trong văn kinh, cũng thông cả giáo lý hạnh quả. Phần sau giải là thiện.
Pháp hoa đã như vậy, Nhất thừa cũng như vậy. Y theo đây nên biết. – Chánh kinh: “Phật nói kinh này rồi… thâm tâm bất động.”
– Huyền tán: Văn dưới là phần sở y nói pháp uy nghi thuận theo trụ thành tựu.
Trụ là y chỉ chỗ an ổn. Nay nương vào an xứ nói pháp, nương vào oai nghi, thuận theo vào quy tắc để nói pháp. Đây chính là nói nương vào chỗ nói pháp, thuận theo oai nghi mà thành tựu.
Phật nói kinh Vô Lượng Nghĩa xong thì ngồi kiết già. Đây là nói lên chỗ trí thâm lý mới có thể nói pháp. Như trước nói kinh Bát nhã trụ niệm trước mặt rồi sau khởi nói. Ngồi có hai tướng:
- Ngồi hàng phục, để chân trái lên chân mặt.
- Cát tường tọa, để chân mặt lên chân trái.
Nay sẽ nói pháp thì ngồi cát tường. Gia là chồng lên, tức ngồi giao chân chồng lên nhau có thuyết nói chữ già. Không biết xuất xứ từ đâu, ở đây nói nương vào để dừng yên ở những gì là uy nghi phép tắc mà nói pháp. Nay nương vào ba loại uy nghi phép tắc:
- Nương vào Tam muội mà thành tựu, nên nhập vào Tam muội thân tâm bất động.
- Nương vào khí thế gian, trời tuôn rải bốn loại hoa như mưa, đất sáu phen rung chuyển.
- Nương vào chúng sanh thế gian, tám bộ bốn chúng đều vui mừng.
Nhập định chứng chân, để khởi thông suốt, nhắc nhở vật, chúng sanh hoan nghinh, nên đây chia ra làm ba. Không chỉ có an tọa mới gọi là uy nghi. Tiếng Phạm là Tam-ma-địa, dịch là Đẳng trì, là bình đẳng trì tâm mà đạt đến cảnh, tức là định vậy. Nói Tam muội là sai. Quán lý vô tướng Định gọi là Tam muội Vô Lượng Nghĩa xứ . Xứ là xứ sở. Vô Lượng Nghĩa là các nghĩa Vô Lượng Nghĩa mà giáo lý đã nêu bày. Nhờ chân lý sanh ra nên nói chân lý gọi là xứ.
Luận giải: Nương vào Tam muội mà thành tựu thì có hai nghĩa:
1/ Thành tựu năng lực tự tại thân tâm bất động. Nghĩa là nếu không nhập Tam muội thì có phân biệt dao động. Ở đây không thể chứng nói tự tại. Nay nhập vào Tam muội, thân tâm trở nên bất động, lìa hết mọi sự phân biệt dao động. Đối với pháp thuận tiện có được khả năng chứng nói tự tại. Cho nên nói là: Thành tựu tự tại lực thân tâm bất động.
2/ Lìa tất cả chướng, tùy theo lực mà tự tại: Nhập Tam muội lìa các chướng định, thuận theo nơi pháp mà chứng, nói tự tại. Nếu có chướng định thì đối với chứng và thuyết không tự tại.
Luận tiếp giải thích riêng về năng lực tự tại trước có hai:
1/ Thuận theo chúng sanh không thấy đối trị mà nhiếp lấy giác Bồ-đề phần pháp. Nghĩa là: Chúng sanh không thể nhậm vận thấy đạo vô lậu đối trị, mà suy nghĩ giác mới được. Nay Phật cũng vậy, thuận theo chúng sanh không thể nhậm vận thấy đạo đối trị. Nay cũng nhập định để suy nghĩ nhiếp lấy, giác quán sát đạo Bồ-đề phần vô lậu để đối trị.
2/ Là đối trị phiền não chấp chặt từ thời vô thỉ đến nay. Giải thích tùy theo năng lực tự tại, thì phiền não chấp chặt nghĩa là có phân biệt dao động. Phân biệt dao động nên tâm khởi ra thị phi. Tâm thị phi khởi nên hoặc ái, giận phát sanh. Hoặc Ái, nhuế sanh thì khởi ra các nghiệp. Nghiệp khởi thì bị các khổ buộc ràng. Nay để đối trị tâm phân biệt chấp chặt dao động này, cho nên nhập Tam muội, lìa hoặc chấp chặt. Luận lại giải thích: Do nhập định nên có khả năng chấn động cả thế giới, và biết việc quá khứ từ vô lượng vô biên kiếp. Nếu không nhập định thì thần biến không khởi, không thể biết việc quá khứ mà thị hiện tướng vậy.
Hỏi: Phật chẳng lúc nào không định tâm, đi đứng thường ở trong định. Không khởi diệt định mà hiện ra uy nghi, đâu cần nay phải nhập định.
Đáp: Có mười nghĩa:
1. Nhập, xuất tùy theo duyên mà động, tĩnh lợi ích chúng sanh.
2. Nếu không nhập định thì không thể phát ra ánh sáng hiện ra điềm lành. Nếu không nhập định thì e rằng chẳng phải tướng tốt của Phật.
3. Lúc muốn nói pháp thị hiện xét rõ căn cơ.
4. Vì muốn hiển bày pháp thù diệu nên nhập định, quán khiến chúng tôn trọng.
5. Nêu rõ tuệ tức là do chứng lý nhập định, mới có thể khởi. Thầy làm mẫu mực cho hậu học khiến cho tu định tuệ.
6. Thị hiện định tuệ đầy đủ, nói pháp thị hiện tuệ viên mãn. Nhập định hiển rõ định viên mãn.
7. Làm khuôn phép cho đời mạt pháp, khi nói pháp cần trước tâm phải tự tĩnh.
8. Thị hiện ra tướng thông minh khéo suy nghĩ, cũng khiến cho người khác phải xét rõ sự việc chân thật.
9. Nhập định hiện điềm lành để phát khởi ba lời hỏi đáp. Nếu không vậy thì không có những lời hỏi của ngài Di-lặc.
10. Hiển thị ra tam mật, nhập định là ý mật, phát ra ánh sáng là thân mật, nói pháp là ngữ mật. Kệ Tụng: Tóm tắc mười nghĩa này như sau:
Tùy, thụy, thẩm, diệu, sư Mãn, vị, tư, vấn, mật.
Hỏi: Lúc sắp nói pháp hoa, sao cần phải nhập định Vô Lượng Nghĩa, nguyên nhân gì không nhập vào Pháp hoa Tam muội?
Đáp: Như khi sắp thuyết Bát-nhã trước cũng phải nhập định để có thể quyết đoán. Kinh nói: Ngay thân chánh nguyện trụ niệm đối diện, sau mới nói kinh. Ở đây trước cũng nhập vào Vô Lượng Nghĩa Tam muội như thế, sau mới nói pháp hoa. Vì thể Pháp hoa tức là Vô Lượng Nghĩa. Pháp hoa Tam muội tức là Vô Lượng Nghĩa Tam muội. Kinh Vô Lượng Nghĩa là Bồ-tát thuyết. Diệu Pháp Liên Hoa vì Thanh văn thuyết. Kinh Vô Lượng Nghĩa bàn về thể xuất sanh ra Vô Lượng Nghĩa. Kinh Pháp hoa luận về công năng có thể xuất ra Nhị thừa. Thể năng tuy khác mà thật sự không hai. cho nên trước khi nói pháp hoa phải nhập vào Vô Lượng Nghĩa Tam muội. Văn dưới cũng nói có ngộ Pháp hoa Tam muội, mà không nói ngộ Vô Lượng Nghĩa Tam muội. Chỉ là tùy theo căn cơ mà cần thiết độ vật. Thích nghi theo phương tiện xảo dụng khéo sanh. Tên tuy có hai mà thể thật không khác. Lại vì giáo lý hạnh quả khác, như trước đã nói. Lại trước quán sát thể chân như của pháp, sau nói công năng nhân quả tức Pháp hoa.
-Chánh kinh: “Bấy giờ trời mưa… và các đại chúng”.
-Huyền tán: Dưới nói khí thế gian có hai: Một là hoa tuôn rải như mưa; Hai là quả đất rung chuyển.
Nay nói rải hoa như mưa:
-Mạn-đà-la dịch là Thích ý (vừa ý), vì người nhìn thấy tâm rất vui thích
-Mạn-thù-sa, Hán dịch là Nhu nhuyễn. Thể của hoa là rất mềm mại cũng khiến cho người thấy lìa hết ba nghiệp cương chiếu khóang.
-Ma-ha dịch là đại. Theo kinh bản tâm dịch gọi là: Hoa Thích ý. Hoa đại thích ý hoa nhu nhuyến hoa, đại nhu nhuyến. Bốn loại hoa lần lượt như thế là ý muốn nói pháp làm vui tâm người, điều hòa được ba nghiệp. Cũng có thuyết nói: Trời mưa làm âm vu, hoa có năm đức.
1. Che lấp sự xấu ác. Nói lên khi nghe pháp rồi thì bao nhiêu cấu chướng tiêu tan.
2. Nghiêm tịnh cõi nước: Ý nói nghe pháp rồi như các pháp lành trang sức thân. Cho nên kinh ở dưới nói: Mà thế giới này thảy đều trang nghiêm thanh tịnh.
3. Nở ra tưởi đẹp, thấy đài sen: Nói lên Phật muốn khai xiển Nhất thừa.
4. Sau hoa kết trái: Biểu hiện sau khi nghe kinh rồi thì đắc Bồđề.
5. Hương thơm bay xa người ngửi thấy đều vui mừng. Nói lên nội đức đầy đủ, danh vang khắp mười phương. Chúng sanh nghe thấy đều kính mến. Chỉ có mưa hoa này mà không phải hoa khác là nói lên nghe kinh này rồi phát tâm vui mừng xa lìa tâm chấp Nhị thừa bền chắc. Lại chuẩn bị khai giáo lý hạnh quả Nhất thừa là chân thật, cũng khai bốn pháp Nhị thừa để làm quyền tích. Nói mưa bốn hoa cũng ý nói độ tứ sanh, hưng khởi tứ niệm trụ, tu tứ chánh cần, đắc tứ thần túc, hành tứ pháp tích, chứng lý tứ đế, cắt đứt bốn lưu, đoạn bốn ràng buộc, bỏ đi bốn ách, đắc tứ diệu trí, ngộ tứ Niết-bàn, chứng được bốn đức. Mưa bốn hoa này không thêm không bớt, đem rải lên Phật để bày tỏ cúng dường, nói lên cho bốn việc của Phật đã xong cho đến khắp dùng che chở chúng sanh, chỉ rõ cho chúng biết cũng sẽ thành tựu bốn việc này.
-Chánh kinh: “Sáu loại rung chuyển khắp thế giới Phật”.
-Huyền tán: Phật Thích-ca vua cả Tam thiên đại thiên gọi đó là thế giới Phật. Các thế giới này đều rung chuyển, nên nói khắp thế giới Phật, đều rung động, đây gọi là xứ động.
Tụng ở dưới nói: Mà ở thế giới này có sáu thứ rung chuyển”. Cho nên biết chỉ là động thế giới của Phật. Thích-ca không phải là mười phương thế giới, hoặc nói rung chuyển bằng phạm vi Phật phát ra ánh sáng. Không như thế thì làm sao phóng ánh sáng thì rộng khắp, rung chuyển thì nhỏ hẹp!
Văn tụng dưới là y theo vào gần chỉ rõ hóa độ ở thế giới này tức bỏ quyền dựa vào thật. Nếu nương vào lời giải đầu tiên thì chỉ có thế giới này động, tức bỏ quyền lấy thật vậy. Chấn có nghĩa là động là khởi dậy vậy. Sáu rung chuyển có ba ý: Trường A-hàm nói:
1. Sáu thời động: Là Bồ tát nhập thai, xuất thai, xuất gia, thành đạo, xoay bánh xe, nhập Niết-bàn. Ở đây nói thời động là thời xoay bánh xe.
2. Sáu phương động: Kinh Đại Bát-nhã quyển thứ tám nói: Nghĩa là Đông hiện thì Tây chìm, Tây hiện thì Đông ẩn. Nam nổi Bắc chìm, Bắc hiện thì Nam ẩn. Giữa hiện thì bên chìm, bên nổi thì giữa chim. Nay động hoặc chính là nghĩa này.
3. Sáu tướng động: Kinh Đại Bát-nhã nói: Đó là: Động, dõng, chấn, kích, hống, bộc lắc lư không yên là động, đất như vẩy cá lồi lõm là dõng. Hoặc sáu phương hiện ra biến mất là dõng. Ẩn khuất mà có âm thanh là chấn. Xưa dịch nói là từ dưới bay lên cao là khởi, nay nói ra, đập và kích. Gây ra tiếng vang là hống. Xưa gọi sanh ra giác ngộ thì gọi là Giác. Nay nói phát ra tiếng kêu kinh dị là bộc. Sáu rung chuyển này mỗi đều tướng có ba gọi chung là mười tám tướng động.
Kinh Bát-nhã nói: Gọi là động, đẳng động, đẳng cực động. Cho đến bộc, đẳng bộc, đẳng cực bộc. Như vậy rung chuyển ít gọi là động. Các nơi chung động gọi là đẳng động, khắp nơi nghiêng động lớn gọi là đẳng cực động. Các tướng khác đều y theo đó. Nay gọi chung là sáu động, chỉ là một rung chuyển trong mười tám biến.
Kinh Thắng Tư Duy Phạm thiên nói có bảy nhân:
- Làm cho các ma sợ hãi.
- Giúp cho chúng lúc ấy không khởi tán tâm.
- Người buông lung tự giác ngộ.
- Khiến cho nhớ nghĩ pháp tướng.
- Khiến quán sát nơi nói pháp.
- Khiến người thành tựu giải thoát.
- Khiến thuận theo để hỏi nghĩa chân chính. Nay cũng có thể như vậy nên thị hiện tướng động.
-Chánh kinh: “Bấy giờ trong hội…nhất tâm quán Phật”.
-Huyền tán: Chúng sanh thế gian ở hội này có bốn.
- Bốn chúng.
- Tám bộ.
- Hai vương.
- Chúng kết vui mừng.
Tiếng Phạm gọi Ô-ba-sách-ca, Ô-ba-tư-ca. Ô-ba dịch là Cận. Ca là sự. Sách là nam. Tư là nữ. Đây chỉ cho nam nữ tại gia thành tựu giới, có thể gần gũi hầu hạ chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, nên gọi là cận sự nam, cận sự nữ. Xưa dịch là Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, dịch thanh tín nam, thanh tín nữ là sai.
Dạ xoa Hán dịch là Dũng kiện. Bay lên hư không, đi trên mặt đất giống như La-sát. La-sát gọi là Bạo ác, cũng dịch là Khả úy, đó đều là dịch âm sai. Chánh văn Tiếng Phạm là Dược-xoa, La-sát-bà.
Tiếng Phạm là Mạc-hô-lạc-già, dịch là Đại phúc (bụng lớn). Các loài trăn rắn đi bằng bụng, dịch Ma-hầu-la-già là sai. Phần khác như trước đã nói.
Vua Chuyển luân có bốn: Tụng nơi kinh Nhân vương nói: Bồ-tát phát đại tâm tu thập thiện, dài lâu ở biển khổ luân trong ba cõi, phẩm trung hạ thiện là Túc tán vương, Thập thiện thượng phẩm là Thiết luân vương. Tập chủng Đồng luân cai quản nhị thiên hạ, chủng tánh Ngân luân cai quản tam thiên hạ. Đạo chủng Kiên Đức chuyển luân vương cai quản. Thất bảo Kim quang tứ thiên hạ. Đây cùng ba loại tánh của kinh khác có khác nhau, cũng khác với Kim luân vị của kinh Thập địa. Tương ưng hợp để giải thích kinh Vương pháp niệm quyển hai nói: Kinh Du-già quyển bốn nói rộng các tướng nghiệp quả. Tùy theo chỗ ứng mà cảnh được các vật tứ luân thất bảo như kim, ngân, đồng, thiết mà lấy đó hóa độ. Thấy được sự ly kỳ của thần biến không hề có. Phát tâm thù thắng vì đạo sâu xa nên, chắp tay vui mừng, lắng tình lóng nghe nên nói là nhất tâm, quán Phật mong được nghe lời vàng.
-Chánh kinh chép: “Bấy giờ Phật phát ra ánh sáng từ sợi lông trắng giữa hai đầu chân mày”.
-Huyền tán: Phần thứ năm, y chỉ nhân nói thành tựu. Luận giải thích có hai:
1. Hiện cho đại chúng thấy các việc dị tướng bất khả tư nghì. Như lai nói cho chúng con nói, lòng khát ngưỡng muốn nghe mà sanh tâm ít có, gọi là y chỉ nhân thuyết thành tựu, cho nên Phật phát ra ánh sáng thị hiện các việc trong thế giới. Hễ Phật nói pháp là vì muốn cứu độ chúng sanh; sanh phát tâm mong cầu, khát ngưỡng đó gọi là nhân để thuyết. Đây Phật sắp nói pháp, tức làm nhân y chỉ do đó chúng sanh tâm mong cầu, khát ngưỡng Phật vì nói pháp. Phật phát ra ánh sáng xa chiếu hiện các dị tướng khó biết. Đại chúng xem thấy bèn khởi chánh niệm nghĩ Phật sẽ nói pháp, lòng mong cầu được nghe. Đã sanh tâm mong cầu ít có, kế đến thì Phật vì đó mà nói pháp. Cho nên khi phát ra ánh sáng có thể khiến cho chúng sanh sanh tâm khát ngưỡng, nên gọi đó là nhân nói pháp.
2. Trước thị hiện các việc bên ngoài như đất rung chuyển sáu cách. Sau đó thị hiện pháp nội chứng sâu kín của pháp môn này. Cho nên trước hiện ra các việc thần thông bên ngoài nói lên Phật nói pháp môn này là do có nội chứng pháp sâu kín. Lại do có nội chứng sâu kín nên ngoài hiện ra thần biến. Thần biến đã đến chỗ rực rỡ rõ ràng là biểu hiện Phật sẽ nói pháp sở chứng, nên gọi là nhân nói pháp. Tuy trước đã mưa hoa, rung chuyển mặt đất mà chưa đạt đến chỗ thù tuyệt, nay phóng ánh sáng lại càng thêm hiếm có, do nội chứng sâu kín, nên ngoài hiện cũng khó nghĩ bàn. Do là nhân nói pháp mà nêu riêng ra điềm lành này. Ở trong đây có ba điều:
- Phát ra ánh sáng.
- Chiếu soiCảnh .
- Chổ thấy.
Đây nói về phần thứ nhất.
Mi là vẻ đẹp của đầu mặt, nói lên pháp Phật nói là Đại thừa cao siêu tốt đẹp, gian là nghĩa là ở chính giữa, biểu hiện cho pháp trung đạo. Bạch là màu căn bản của các màu sắc, nói rõ pháp này là nguồn gốc của ba thừa. Cho nên Phật dùng hoa sen trắng, trâu trắng để cưỡi.
Hào là chỉ cho sự lông dài, cũng có khi gọi là lông rất nhỏ. Trong kinh Quán Phật Tam muội Hải quyển một chép: Khi còn là Thái tử sợi lông này duỗi dài ra năm thước. Khi kinh hành dưới cây lông dài một trượng bốn thước năm tấc, khi thành Phật thì dài một trượng năm thước. Cóhiện ra mười cạnh, trong ngoài đều thấy trong suốt, thả dài ra thì xoắn tròn, thu vào như trăng mùa thu đầy đặn, màu sắc rõ ràng rực rỡ như ngọc tuyết kha, quanh tròn cở bằng ba tấc. Phát ra ánh sáng có bảy nghĩa:
- Khiến cho chúng sanh tịnh tâm biết đây là bậc cao quý.
- Phá hết si ám ngu muội và buông lung.
- Có thể dẫn đạo xuất thế.
- Nói lên bên trong phát ra trí sáng.
- Cứu các khổ do phát ra ánh sáng chiếu sáng mà các khổ được dứt trừ.
- Cảnh tỉnh chúng sanh. Do thấy ánh sáng mà người có duyên tìm đến.
- Khiến nhàm chán cảnh sắc. Chúng sanh đắm chìm trong cảnh sanh tử lâu ngày, nay thấy Phật phát ra ánh sáng, bèn nhàm chán mọi sắc màu sanh tử, cho nên Phật phát ra ánh sáng. Khi Phật Niết-bàn phóng bốn ánh quang minh trước mặt. Chúng sanh cõi trời nâng thân Phật lên mà tung đầy ánh sắc vàng. Nay từ giữa hai đầy chân mày Phật phát ra ánh sáng trắng, mỗi thứ đều có biểu thị .
Nói về thần cảnh trí thông thì có mười tám biến:
- Rung chuyển.
- Chói sáng.
- Đầy khắp.
- Thị hiện.
- Chuyển biến.
- Qua lại.
- Cuốn lại.
- Duỗi ra.
- Các loài voi nhập vào thân.
- Đồng loại thì đi vào một đường.
- Ẩn.
- Hiện.
- Việc làm tự tại.
- Chế ngự thần thông người khác.
- Thi thố biện tài.
- Có khả năng lập bày sự nhớ nghĩ.
- Lập bày sự an vui.
- Phóng ánh sáng rộng lớn.
Tuôn rải bốn thứ hoa như Mưa đó là nghĩa thần biến tự tại, đất rung chuyển sáu cách là nghĩa thần biến rung chuyển. Ở đây phát ra ánh sáng minh là nghĩa thần biến đầy khắp, thấy sáu loài chúng sanh là nghĩa thần biến thị hiện. Phẩm Thần lực ở dưới sẽ nói đầy đủ.
-Chánh kinh: “Chiếu sáng ở phương Đông… đến cõi trời A-ca-ni-sất”.
-Huyền tán: Là nói về chiếu cảnh thứ hai. Một thế giới đó là một cõi tam thiên. Chiếu khắp một muôn tám ngàn thế giới Phật. Đây nói chỉ chiếu sang ở phương Đông là vì ở Tây Vức cho phương Đông là trên hết. Nói lên kinh Pháp hoa chỉ đến với căn cơ Đại thừa Phật tánh mà không các căn tánh khác. Cho nên không chiếu nơi khác. Ví như khi mặt trời xuất hiện, trước là chiếu từ trên cao. Mặt trời Phật cũng vậy, trước chiếu soi căn cơ thuần thục, nên nêu ra cõi Đông phương, là có biểu hiện vậy. Trong Chánh Pháp hoa cũng nói chiếu sáng ở Đông phương, mà không chiếu các cõi khác.
Một muôn là nêu số tròn đủ, tám ngàn là số không đủ, tiêu biểu sự đầy đủ của pháp Nhất thừa chân thật, nói rõ pháp Nhị thừa là quyền tích không đủ.
Lại muôn là nói lên muôn đức của đảo châu báu Niết-bàn. Tám chỉ cho bát chánh Bồ-đề biểu tượng là xe trâu. Do hai thể này đều là Nhất thừa, mà Kinh này sẽ giảng nói, kinh này có thể đến, người nghe đều viên thành. Cho nên chỉ chiếu như vậy mà không thêm không bớt. Ở dưới chiếu sáng cõi địa ngục, nói lên cho những nơi có khổ đau đều được cứu. Trên đến cõi trời là khuyên người vui sướng cũng phải cầu đạo Nhất thừa. Lòng từ bi của Phật rộng khắp những người có duyên đều được chiếu đến. Chúng sanh ở địa ngục tuy không đến hội không có tâm dung dự cũng được chiếu soi mà dứt trừ khổ hoạn.
Tiếng Phạm là A-tỳ, Hán dịch là Vô gián. Địa ngục Vô gián lànơi thấp nhất trong tám địa ngục. Chúng sanh thọ khổ không dứt nên gọi là Vô gián.
Tiếng Phạm là Nại-lạc-ca, Hán dịch là Khổ khí. Cũng gọi là bất khả lạc, cũng gọi là phi pháp hành xứ, tạo hành xử phi pháp, ở khắp mọi nơi; nay nói địa ngục là từ nơi chỗ lớn, gốc vậy.
Tiếng Phạm là A-ca-nê-sất-đề, Hán dịch là Chất ngại rốt ráo. A-ca nghĩa là chất ngại, Nê-sất-đề có nghĩa là rốt ráo, Hán dịch âm A-ca-ni là sai.
Trời Sắc rốt ráo là tột đỉnh của cõi chúng sanh hữu tình, nơi ánh sáng có thể đến mà không chiếu sáng ở cõi Vô sắc, vì đây không có xứ. Chữ Phỉ có nghĩa là không vậy. Phương bên thì chiếu một muôn tám ngàn cõi, phương trên dưới bao quát năm đường đều đủ khắp. Sự rung chuyển chỉ ở thế giới này, riêng cảnh tỉnh người có duyên. Phát ra ánh sáng tới một muôn tám ngàn cõi là hiển minh sự quyền thực. Cũng như ánh sáng chiếu soi cả năm đường đều thấm nhuần duyên, mà tập hợp nghe kinh, chỉ có bốn đường (bốn loài chúng sanh).
-Kinh: “Ở thế giới này… cho đến sáu loài chúng sanh”.
-Huyền tán: Đây nói chỗ ánh sáng chiếu đến có bảy:
- Sáu đường.
- Phật.
- Pháp.
- Bốn chúng.
- Bồ-tát.
- Phật nhập Niết-bàn.
- Xây tháp thờ.
Bảy nơi này lại chia làm ba:
- Thấy sanh tư đắm chìm.
- Thấy Tam bảo xuất hiện.
- Thấy sau khi Phật diệt độ lại hành hóa .
Muốn cho chúng sanh ưa thích và nhàm chán để phát tâm. Chúng sanh đắm chìm sáu đường sanh tử được chia làm sáu môn.
- Giải thích tên gọi.
- Nêu thể.
- Khai hợp.
- Xứ sở.
- Tuổi Thọ.
- Tướng nhân quả.
Giải thích tên gọi: Sáu là tên số. Đường là nơi hướng về, nơi hướng về của năm ấm giả hợp đã khởi lên nghiệp phiền não. Lập dùng tên đường theo số để giải thích vậy.
Kinh Địa trì chép: Thọ dụng tự nhiên gọi là trời.
Luận Câu-xá nói: Thần dụng tự tại sáng sạch gọi là trời. Kinh Niết-bàn chép: Vì nhiều suy nghĩ nên gọi là người.
Trong Tạp tâm nói: Ý vắng lặng nên gọi là người. Lại nói: Vì theo người khác xin, lại thường đói lo sợ thường suy nghĩ nên gọi là ngạ quỷ.
Luận Câu-xá nói: Vì đi ngang nên gọi là bàng sanh. Hoặc gọi súc sanh. Súc có nghĩa là nuôi dưỡng, là công cụ giúp đỡ con người, là loài được người nuôi dưỡng.
Tiếng Phạm là Nại-lạc-ca, Hán dịch là Khổ khí, như trước đã giải thích.
Na-lạc-ca dịch là Ác. Người gây tội ác sanh làm khổ khí nên gọi là khổ khí. Không có tên địa ngục va xứ sở bất định chẳng phải chỉ có ở đất.
Kinh Địa trì chép: Khổ ở địa ngục tăng dần lên thật đáng chán.
Tạp tâm cũng nói: Vì không thể vui sướng nên gọi là địa ngục.
Tiếng Phạm là A-tố-lạc, Hán dịch là phi thiên trước đã giải thích.
-Nêu thể: Sáu đường đều lấy Dị thục thức thứ tám mà làm tự thể, thuộc tánh vô phú vô ký. Cho nên trong Duy thức nói: Thức thứ tám này là Giới. Thú là nơi căn bản để lập ra sự sanh. Lại nói thức này có đủ: Thể của Giới, đường, sanh, không cần chấp riêng thật có mạng căn. Lại hữu tình lưu chuyển trong năm đường, bốn sanh, vậy thể của đường sanh này tức là Dị thục thức.
Khai hợp là Sáu đường tổng lại làm một, nghĩa là một kỳ hạn sanh tử. Kế dến khai làm hai là Thiện đường, ác đường, phân đoạn sanh tử, biến dị sanh tử. Hoặc khai ra làm ba là ba cõi. Hoặc khai làm bốn là tứ sanh, bốn hữu. Bốn hữu là: một là sanh hữu, hai là bổn hữu, ba là tử hữu, bốn là trung hữu. Và bốn loại sanh tử nghĩa là phương tiện sanh tử, nhân duyên sanh tử, hữu hữu sanh tử, và vô hữu sanh tử.
Hoặc chai làm năm là năm đường trừ A-tố-lạc. Hoặc khai làm sáu. Như văn kinh này nói sáu đường. Tạp tâm nói phi thiên thuộc quỷ đường. Luận Du-già nói Phật địa thuộc thiên đường. Kinh chánh pháp niệm thì nói A-tố-lạc thuộc đường quỷ và súc sanh .
Kinh Già-đà nói thuộc, đường quỷ, súc sanh và trời. Nay nương vào Đại thừa chỉ thuộc về đường trời. Theo Du-già lấy Phật địa làm chánh, thì việc làm của phi thiên phần nhiều dối trá không thật, không đồng như các chư Thiên hành sự ngay thẳng nên gọi là phi thiên. Như người bất nhân gọi là phi nhân, không nói là phi quỷ phi súc sanh. Nay kinh này tách ra nên làm Sáu đường. Hoặc khai là bảy, nghĩa là thất hữu, năm đường và nghiệp hữu, trung hữu. Hoặc khai ra làm chín là cửu hữu hoặc cửu hữu tình cư. Hoặc khai làm hai mươi lăm hữu, như phần dưới sẽ nói. Các phần khác như trong bài tụng “Nhà lửa” quyển thứ hai kinh này có giải thích. Trong kinh Du-già, Chánh pháp niệm cũng nêu ra đầy đủ. Đây nói chúng sanh trong sáu đường một muôn tám ngàn cõi ở đây đều có thể thấy.
-Chánh kinh: “Lại thấy cõi kia cho đến tu hành đắc đạo”.
-Huyền tán: Ở đây nói Tam bảo xuất hiện có ba: Phật, Pháp và Tăng.
Tăng có hai: Một là Thanh văn. Hai là Bồ-tát.
Thanh văn có bốn chúng. Luận nói người tu hành chưa đắc Thánh quả. Người đắc đạo đã đắc Thánh quả. Trong bốn chúng có hai loại này. Do mắt thấy thân Phật, tai nghe pháp, đồng thời thấy rõ chúng kia theo Phật tu hành.
-Chánh kinh: “Lại thấy các Bồ-tát cho đến tu hành Bồ-tát đạo”.
-Huyền tán: Đây là nói về Bồ-tát vậy. Nhân duyên có nghĩa là nguyên nhân. Nghĩa là Bồ tát vì cầu ra khỏi sanh tử, mau chứng quả Phật mà thành tựu chúng sanh. Vì nhân duyên này mà tu Bồ-tát đạo. Hoặc vì muốn nghiêm tịnh cõi Phật, thành tựu chúng sanh, tu Bồ-đề phần, hành Bồ-tát đạo. Hoặc vì Tu bốn nhiếp, Lục độ hành Bồ-tát đạo, các thứ nhân duyên, như thế.
Tín giải: Tin và hiểu. Trụ vị Địa tiền chưa đắc Thánh quả.
Tướng mạo là tướng oai nghi của ba nghiệp. Hành Bồ-tát phải có oai nghi tướng mạo. Trụ vào Thập địa rồi thì đắc đạo quả. Do các nhân duyên hành đạo Bồ-tát nên nhập vào hai ngôi vị.
Lại nhân duyên đó là bên ngoài gặp được duyên lành bạn tốt.
Thiện tri thức là nhân duyên lớn. Tín giải, tướng mạo là nội tu hành. Trong nội tu hành thì hành trì nội tâm gọi là tín giải. Hành về thân ngữ gọi là tướng mạo, tâm quán diệu lý gọi là tín giải. Xả đầu mắt tay chân… gọi là tướng mạo.
Hành Bồ-tát đạo: Luận nói là nương vào bốn nhiếp pháp làm phương tiện nhiếp hóa chúng sanh. Tín giải tướng mạo đều là hành Bồtát đạo.
Bốn nhiếp pháp:
a) Bố thí (sau sẽ giải thích)
b) Ái ngữ: Thường nói lời vui vẻ, chân thật, đúng pháp, không cau có, luôn mỉm cười trước khi nói, hoặc nói lời an ủi người khi gặp việc buồn phiền ôn hòa nhã nhặn mà không tự cao. Nói chuyện Phật pháp lợi ích. Đối với kẻ thù thì khởi ý thanh tịnh. Với người quá si mê thì dứt trừ nghi ngờ, đối với ruộng phước chân thật thì không có ác hạnh lừa dối không có hiềm giận mà tu hạnh ái ngữ khó hành, muốn trừ chướng cái cho họ mà vì nói… người có tâm điều hòa thịên pháp thì nói pháp Chân-đế, người nhiều buông lung thì dạy cho xa lìa. Người nghi hoặc thì đàm nói quyết trạch rõ ràng. Nương vào tứ tịnh ngữ mà khởi ra tám Thánh ngữ.
c) Lợi hành: Do ái ngữ mà trước nêu ra chánh lý, tùy theo sở học mà khởi lòng thương xót vô nhiễm khuyến dẫn, điều phục, an xứ, kiến lập, có thể khiến được tài lợi ích trong hiện tại. Sau đó làm lợi cho người xuất gia, đều được lợi ích xa lìa ái dục, được khinh an giải thoát. Đối với người thân gần bạn ác chưa trồng gốc lành, chấp vào của cải ngôi vị, rất đỗi buông lung rất sâu, hoặc ngoại đạo tà kiến phỉ báng chánh đạo, thường sanh ra các nghiệp thập ác bát triền, đối với tất cả người này đều khai giải khởi tâm đại bi. Tuy thọ đại khổ mà tâm không lao nhọc, càng sanh vui mừng. Tuy ở nơi ngôi vị tài của tối nhất mà luôn hạ mình như kẻ nô bộc. Như Chiên-đà-la, như hiếu tử v.v… không nhiễm không dối trá, mà khởi tâm chân thật thương xót, vĩnh viễn không lui sụt.
d) Đồng sự: Vì đây là nghĩa lợi. Hoặc khuyên người khác học cũng tự mình tu học. Dạy cho người biết rồi thì cùng tu đồng sự, giữ gốc lành bền chắc không sanh lui sụt. Dạy người làm như vậy nghĩ như vậy thì ta nhất định có lợi lạc. Vì người theo đó mà hành trì. Nếu không như vậy sẽ bị người nói: Ông đã không tốt, sao lại dạy tôi. Như vậy cần phải hành trì trước. Bồ-tát hành lợi tha tuy có vô lượng, nhưng nêu ra tứnhiếp này để nhiếp tất cả hạnh, nên không nêu pháp khác. Chương nghĩa như trong Vô cấu xưng số quyển hai có nói.
-Kinh: “Lại thấy Chư Phật… khởi tháp bảy báu.”
-Huyền tán: Đây thấy sự hành hóa sau khi Phật diệt độ. Có hai:
- Nhập diệt.
- Khởi tháp.
Tiếng Phạm là Ba-lợi-nê-phược-nam, Hán dịch là Viên tịch. Tức là nghĩa viên tịch, thể là viên mãn, Hán dịch âm Niết-bàn là sai. Niếtbàn lấy lục môn để phân biệt:
- Thể.
- Danh.
- Đắc thời.
- Đắc nhân.
- Năng chướng.
- Nhập ý.
Thể của Niết-bàn có bốn:
- Tự tánh thanh tịnh Niết-bàn.
- Hữu dư y Niết-bàn.
- Vô dư y Niết-bàn.
- Vô trụ xứ Niết-bàn.
Bốn thể này tức là Đại bát Niết-bàn. Có ba:
1. Tổng thể của cả bốn thứ Niết-bàn này đều là một chân như. Chân như có đủ cả ba mới thành Niết-bàn. Có thể sanh ra viên giác thì gọi là Ma-ha Bát-nhã, là thể giác tánh. Ở thân Nhị thừa, không sanh viên giác, chẳng phải là giác tánh thì không gọi là Bát-nhã,
Đại Luận Trí độ chép: Thuyết trí và trí xứ đều gọi là Bát-nhã. Hoa nghiêm nói: Tâm tự tánh thanh tịnh cũng gọi là Vô sư trí.
2. Xuất ra sở tri chướng gọi là pháp thân.
Kinh Thắng-man nói: Tại triền gọi là Như lai Tạng. Xuất triền (ra khỏi ràng buộc) gọi là pháp thân. Các hành Nhị thừa không gọi là pháp thân nên chẳng phải là nơi y chỉ của pháp công đức.
3. Xa lìa hết các sự khổ của nhị tử nên gọi là giải thoát. Trong người Nhị thừa tuy đã dứt sanh tử phần đoạn , nhị phược mà không được giải thoát viên mãn. Nhưng người Nhị thừa cũng đắc chút ít giải thoát này, ba thừa cùng ngồi tòa giải thoát. Do đây Nhị thừa cũng gọi là đắc giải thoát Niết-bàn, nhưng chẳng phải là Đại Niết-bàn, và nghĩa giải thoát không đầy đủ. Lại theo kinh Niết-bàn quyển hai nói phải có ba việc đầy đủ thì mới gọi là nhập vào Đại Niết-bàn; Bát nhã có thể chứng trí hai không. Pháp thân tức là hai lý sở chứng . Giải thoát tức là từ trí chứng lý. Khi hết chướng thì sở đắc được nhờ trạch diệt. Thể như ba điểm của chữ y, Niết-bàn cũng vậy, do trí chứng pháp thân mà đắc trạch diệt. Pháp thân là gốc nương vào đó có hai, như chữ y hai điểm ở trên và một điểm ở dưới. Riêng không thành ba việc rõ ràng là có biệt thể, lúc khác thời lý cũng không thành. Ba việc Niết-bàn là không phải một không khác, đều phải đồng thời đắc mới gọi là nhập Niết-bàn hàng dọc không thành thì Bát nhã là phẩm cuối, giải thoát phẩm giữa và Pháp thân ở phẩm trước. Ba pháp cùng thời thì đắc ba phẩm. Đây cũng không thành. Đứng từ trên xuống gọi là tung (dọc). Trước, sau ở bên thì gọi là hoành (ngang). Nếu ba thể riêng trước sau cùng chứng lý thì cũng không thành. Do khởi đại trí mà chứng lý pháp thân, lìa trói buộc mà được giải thoát. Ba việc không phải một không khácgọi là nhập Đại Niết-bàn, chẳng phải như người Nhị thừa chấp ba thể riêng mà có ba phẩm đó. Đắc riêng trước sau, hoặc cùng thời đắc mà thành nhập Niếtbàn. Các thể biệt xuất khác và giải thích danh nghĩa như trong Duy thức sao quyển mười có nói. Nay nói Đức Phật kia thị hiện nhập vào vô dư, chẳng phải nhập vào Đại Niết-bàn. Trước tiên thành Phật rồi sau mới đắc. Người đáng độ nay đã độ rồi nên nhập vào Niết-bàn. Người hưa được độ cũng tạo nhân duyên được độ. Cho nên xây bảo tháp để cúng dường xá-lợi. Tiếng Phạm là Thiết-lợi-la thể, dịch âm xá-lợi là sai. Tốtđổ-ba dịch là Cao hiển, dịch tháp là sai.
Lại luận về bản khoa chiếu cảnh như văn dưới nói: Nương vào khí thế gian, ở bên chiếu sáng một muôn tám ngàn, dọc chiếu hai cõi dưới. Nói thế gian là thấy sáu loại chúng sanh. Số chủng chủng là dưới nói …, hiện đủ loại có thể thấy được, tức ngoài chỗ thấy năm thứ. Xét các loại thấy trong đây, Luận chia ra làm bốn nghĩa:
1. Là ăn: Nghĩa là thấy Phật giúp cho thêm lớn nghĩa, nhậm trì là ăn. Nhưng dù trợ giúp tăng trưởng thịên pháp thù thắng của chúng sanh. Nhậm, trì gốc lành mà không hoại nên Phật gọi là ăn. Lại nói thị hiện y chỉ vào đó mà trụ là ăn. nếu vậy Bồ tát Bát địa trở lên đối với cũng nói thị hiện trụ thực, cũng giống như nghĩa trên. Lại nghĩa thọ dụng có nghĩa là thực. Thọ dụng pháp lạc gọi là thực.
2. Là nghe pháp: Như tên gọi là có thể biết.
3. Là tu hành: Nghĩa là bốn chúng tu hành đắc đạo và Bồ-tát thực hành đạo Bồ-tát.
4. Lạc: Nghĩa là thấy Phật nhập diệt. Sanh diệt diệt rồi, kia lấy vắng lặng làm an vui. Lại vui có năm:
- Vui Tự tánh.
- Vui Nhân.
- Vui Khổ đối trị.
- Vui Thọ đoạn.
- Vui Vô não hại.
Ở đây lại có bốn:
- Ra khỏi.
- Xa lìa.
- Vắng lặng.
- Giác pháp.
Đây là bốn pháp vắng lặng lạc sau khi nhập Niết-bàn.
Thị hiện đủ các loại thấy là: Ở đây hiển bày các tháp báu vô số Hằng hà sa để thấy. Lại thấy các việc này nên gọi là số lượng các việc thấy. Các việc này trong tụng dưới có nói. Nhập Niết-bàn rồi xây tháp bảy báu. Tháp báu cao đẹp năm ngàn do-tuần. Lại để thuật lại bảy chỗ thấy rằng: Chúng sanh ở trong sáu đường có đầy đủ phiền não khác nhau. Từ Phật trở xuống có đủ sáu sự đầy đủ, là đầy đủ có Phật, pháp, đệ tử khác nhau và thị hiện Tam bảo khác nhau; đệ tử lại có các thừa khác nhau; Thanh văn, Bồ-tát Nhị thừa khác nhau. Tức trong cõi thanh tịnh có thế giới có Phật, thấy Tam bảo gọi là có Phật. Có thế giới mà không thấy có Phật nhập Niết-bàn, rồi xây tháp thờ thì gọi là không có Phật.
Viết xong vào ngày 1 tháng 10 niên hiệu Bảo an thứ ba, tại chùa Hưng Phước.
Bản của Viên như phòng, tại Chùa Pháp long, vị tăng Pháp Ấn vì muốn chánh pháp cửu trụ nêu biên soạn.
PHẦN CUỐI
-Chánh kinh: “Bấy giờ ngài Di-lặc… mà có điềm lành này.”
-Huyền tán: Đoạn văn thứ sáu nói đại chúng hiện tiền muốn nghe pháp thành tựu, đoạn văn này có ba:
a) Di-lặc thị hiện sự hoài nghi.
b) Mọi người thật sanh tâm nghi ngờ.
c) Nêu hai ý của ngài Từ Thị, phát hỏi: Nhân trước đạo hạnh của ngài Từ Thị đầy đủ nên làm chủ. Do đó thành tựu ở hiện đời, gặp được nhân duyên tốt đẹp. Chẳng là thấy ánh sáng mà không biết, quán Đẳng trì mà không rõ hay sao? Nhưng Bồ-tát lại thị hiện tướng không biết để thưa hỏi mà cảnh tỉnh chúng sanh. Cho nên nói: Di-lặc thị hiện tướng hoài nghi. Vì căn địa của mọi người cạn thấp, không lường biết được các điềm lành của bậc Đại thánh, nhìn thấy tướng ngoài vì sanh nghi nên nói mọi người thật sanh tâm nghi hoặc. Ngài Di-lặc hiệp hai ý tự, tha mà hỏi ngài Văn-thù. Nêu dẫn nguyên nhân trước nên làm đoạn thứ ba, trong phần đầu có bốn:
- Nói điềm lành nêu dẫn nhân gì?
- Nêu sự kỳ lạ hỏi đáp.
- Nêu công thượng đức.
- Hạ mình mới trình bày.
Đây là đoạn văn đầu.
Diệu dụng vô phương gọi là thần. Thần thông chuyển khác gọi là biến. Bên ngoài ứng với các sự vật, đặt tên là điềm lành. Điềm lành tức là niềm tin, là phù hợp với ứng. Đây hỏi phát ra ánh sáng có phù hợp với ứng gì, do đó mà nói nhân này để hỏi.
-Kinh: “Nay Đức Thế tôn cho đến ai có thể đáp”.
-Huyền tán: Đây nêu sự kỳ lạ này hỏi ai, ai đáp.
Nói thuận theo vào uy nghi trụ để làm nguyên nhân hỏi. Nhập Tam muội, lý sâu của Tam muội, gọi là Bất khả tư nghì, làm mưa hoa rung chuyển mặt đất nên nói hiện ra việc ít có.
Hiện ra các việc mưa hoa, động địa, phát ra ánh sáng, chiếu soi từ xa, ngoài ứng với căn cơ sự vật đều gọi là thần biến, tức thuộc về thuật lại điềm lành nêu dẫn nguyên nhân. Chỉ nhập vào Tam muội nên gọi là việc ít có.
Ai có thể đáp: Là hói thăm xem ai là người đáp.
-Kinh: “Lại nghĩ cho đến ta nay nên hỏi.”
-Huyền tán: Nêu các vị có công đức trên hết như Văn-thù-sư-lợi…
Nay ta nên hỏi đó là tự khiêm nhưng rồi mới trình bày. Đạo quả của ngài Văn-thù-sư-lợi thành tựu đã lâu rồi. Ở đây thị hiện ra nhân cuối nối tiếp ngôi vị Pháp vương của Phật, chỉ cò Ngài được gọi là Pháp vương tử. Vì Ngài đã từng gần gũi gặp được nhiều duyên tốt, cúng dường Chư Phật, trồng sâu gốc đức. Tiến tài tiến hạnh gọi là cúng dường. Văn-thù-sư-lợi trụ vào y thứ tư, cúng dường tám Hằng sa Phật. Cùng ba y trước hợp thành hai mươi sáu Hằng hà sa Phật, chắc chắn thấy tướng ít có này. Ngài Di-lặc tự khiêm tốn nói nay ta nên hỏi. Luận chép:
Hỏi ở một người mà nhiều người muốn nghe, sanh tâm ít có. Cho nên chỉ hỏi Văn-thù-sư-lợi. Tâm chúng sanh phần nhiều chưa hiểu nên xuất phát nhiều người nghi, người hiểu chẳng nhiều nên đáp chỉ có một người.
Luận chép: Thị hiện Phật và đệ tử cùng nhau thuận theo, pháp chứng thuyết… đều không trái nhau vì hiện ra nhân tướng lớn. Tướng lớn là nói diệu pháp. Nhân nghĩa là thần biến. Nay hiện ra điềm lành làm nhân của thuyết. Lại tướng lớn đó tức là hiện ra điềm lành. Điềm lành tức là nhân pháp sở thuyết làm nhân. Lại nhân là nguyên nhân.
Hỏi: Hiện ra các nguyên nhân tướng lớn thần biến, vì sao chỉ hỏi ngài Văn-thù mà không hỏi người khác?
Đáp: Có hai pháp nên nêu ngài Văn-thù:
1. Hiện thấy các pháp, Văn-thù chứng biết được các pháp.
2. Lìa các nhân duyên mà tự tâm thành tựu pháp kia. Nghĩa là Văn-thù-sư-lợi lìa hết các mô phỏng và xa hết sự so sánh và các nhân duyên nghe từ người, cho nên nêu ngài. Chỉ cho biết hiện các điềm lành là chỉ cho chúng biết hiện ra các việc kia kia. Vì việc không phải một nnên nói kia. Như việc ấy hiện ra chìm đắm trụ diệt, thấy chúng sanh trong sáu đường hiện tại chìm đắm trong sanh tử kia gọi là hiện tại chìm đắm, thấy Phật pháp, bốn chúng, cùng chư Bồ-tát. Hiện tại trụ ở kia nên gọi là hiện trụ. Thấy Phật nhập Niết-bàn, và xây tháp thờ. Hiện tại nhập Niết-bàn, nên gọi là hiện diệt, thấy bảy việc mà đều thu nhiếp hết. Trụ chính là hiện tại, diệt không chìm đắm. Nhập Niết-bàn và việc xây tháp thờ gọi là diệt sự chìm đắm. Năm việc còn lại gọi là hiện trụ.
Luận cho rằng ngài Văn-thù có thể ghi nhận việc kia, nên mới hỏi Ngài. Văn-thù-sư-lợi đã tạo tác thành tựu, mà các nhân quả thành tựu, đó được tạo tác các pháp sở tu, có hai thứ:
1. Phước đức.
2. Trí tuệ: Tức nội đức đều đầy đủ, nhân thành tựu là Nhất thiết trí thành tựu, duyên các việc phát ra ánh sáng, mưa hoa, động đất, tức ngoại đức đầy đủ, giải thích lại nhân là tướng. Nghĩa là hiện ra các điềm lành này là nhân. Quả đó gọi là Đại pháp. Ngoài nhân Văn-thù đã đầy đủ, nội đức lại viên tròn. Cho nên biết Phật cũng nói quả pháp diệu , do đó suy ra mà hỏi.
-Kinh: “Bấy giờ Tỳ-kheo… đến…. Nay nên hỏi ai.”
-Huyền tán: Mọi người thật sự sanh tâm nghi ngờ, là vì Phật phóng ánh sáng, nói lại nhân duyên phát ra ánh sáng. Tướng thần thông, trong oai nghi lại có mưa hoa động đất. Tướng ngoài mọi người đều thấy, cho nên nói lại việc đó sanh ra nghi. Phật nhập định mọi người chẳng biết cho nên không hỏi. Vì những căn cơ, người, địa vị ở bậc hạ không thể lường thể biết được sự nhập định của Phật. Đã không biết Phật nhập định nào, cũng như dựa vào đâu để sanh nghi, cho nên không hỏi việc này.
-Kinh: “Bấy giờ ngài Di-lặc… Văn-thù-sư-lợi nói.”
-Tán là: Đoạn thứ ba dưới cùng nêu hai ý, là nguyên nhân trước hỏi. Đây có hai phần:
- Văn xuôi.
- Trùng tụng.
Văn xuôi có hai: Phần đầu này cùng trình bày hai ý.
-Chánh kinh: “Vì nhân duyên gì… cõi nước trang nghiêm.”
-Huyền tán: Phần sau nêu nguyên nhân, trước khi hỏi, mà có phần nói chung về điềm lành này. Tướng thần thông là nói trong oai nghi của Phật có mưa hoa, động địa phát ra ánh sáng v.v… là nói nguyên nhân. Ngài Di-lặc vì mình và người nên hỏi. Thấy ngoại tướng mà cùng đồng như thế. Chỉ nói lại điềm lành để sanh chứng mà không hỏi nhập định. Ngoại nhân không nghi ngờ việc nhập định, nên Tụng dưới cũng không nói nhập định.
Đều thấy cõi Phật kia trang nghiêm: Trong luận thì giải thích tổng quát ý kinh nói: Cõi nước của các Phật đó, là chỉ cho biết hiện có các pháp khác nhau trong cõi kia. Thị hiện để hóa độ bốn chúng, chúng sanh sáu đường. Hiện ra cõi uế và cõi nước tịnh diệu, không có trụ xứ chúng sanh phiền não. Vì hóa độ các Bồ-tát Thập địa mà hiện ra cõi Tịnh độ. Ở cõi Tịnh kia là bậc thượng thủ, tức là các Bồ-tát dựa vào Phật mà trụ. Phật tự tại ở trong hai cõi Tịnh và uế. Nói lại văn trước, nên trong phần chỗ thấy trước nói Phật là bậc thượng thủ. Phàm có trùng tụng thuật lại vì có mười lý do:
- Hai căn lợi độn.
- Hai chúng trước sau.
- Hai thứ vui thẳng, và không thẳng.
- Hai giải thích khó dễ.
- Hai tùy chân tục.
- Hai phần giữ, bỏ. (Văn xuôi giữ thiện, tụng văn xả ác).
- Hai quy tắc nêu ra và giải thích. (Văn xuôi nêu ra, văn tụng giải thích.)
- Trí, biện sai khác. (Văn xuôi nói trí vô tận, văn tụng biện minh vô tận).
- Giải trì sai khác (Văn xuôi là pháp giải, văn tụng là pháp trì).
- Thuyết hành lưỡng biệt (Văn xuôi vui cho người nói, văn Tụng vui cho người hành trì).
Tụng mười điều này như sau:
Lợi độn và trước sau
Thẳng cong khó chân tục
Lấy bỏ và nêu thích
Trí biện giải thuyết hành.
Văn xuôi và Trùng tụng có sáu nghĩa không đồng:
Rộng lược hoặc có không
Hợp ly và trước sau
Văn chất và ẩn hiện
Cong thẳng khác nhau.
Cho đến văn dưới mỗi việc sẽ nói rõ.
-Chánh kinh: “Bấy giờ, ngài Di-lặc cho đến ánh sáng rực rỡ cùng chiếu”.
-Huyền tán: Tiếng Phạm là Già-đà, Hán dịch là Tụng. Tụng là
Mỹ là Ca, ở trong văn tụng câu văn dùng mỹ từ, trau chuốt nên nói Ca Tụng. Lược dịch kệ là không đúng. Kệ này là tụng cầu lửa, nếu hướng đến giải thích thể nghĩa, thì kém hơn danh cú, hoặc làm nương tựa thì không bằng văn cú âm thanh, nên trong trăm pháp không lập riêng. Nhưng ở trên âm thanh lấy nghĩa xoay vần làm thể, tức danh cú văn lại không có tánh riêng không giống bài tụng Tiểu thừa thì nương vào văn và văn sĩ. Đây chính là tụng trong ba mươi hai chữ Thất-lư-ca. Gồm có sáu mươi hai bài tụng chia làm hai:
Năm mươi bốn bài tụng các điềm lành, ở trước; tám bài tụng sau, phần chánh hỏi.
Trong phần đầu lại có ba: Một hàng đầu nói nhân phát ra ánh sáng chiếu soi trước khi tụng.
- Ba bài tụng kế tụng trong uy nghi như mưa hoa, mặt đất rung chuyển.
- Năm mươi bài tụng sau nói các cảnh chiếu sáng hịên ra ở trong nhân.
Đây nói về phần đầu. Tụng trước phát ra ánh sáng, tụng sau mưa hoa. Trong sáu sự bất đồng thì có trước sau bất đồng, do thuận tiện ở văn.
-Chánh kinh: Mưa hoa Mạn-đà-la cho đến cõi đất đều trang nghiêm thanh tịnh.”
-Huyền tán: Ba hàng tụng dưới, tụng ba việc trong oai nghi. Một hàng tụng rưỡi nói về rải hoa như mưa. Nửa hàng kế là tụng về động địa. Một hàng tụng bốn chúng vui mừng. Đây tụng rải hoa như mưa, không tụng nhập định vì tự biết không hỏi, chúng cũng không nghi.
Phần Văn xuôi nói về bốn loại hoa, tụng này có hai vì hợp lý không đồng, hoa này là hương chiên-đàn, khi gió thổi thì tựa như hương xích bạch đàn bay rất xa người nghe vui sanh lòng vui mừng, “mặt đất thảy đều trang nghiêm thanh tịnh,” cũng như phần Văn xuôi nói không khác nhau.
-Kinh: “Mà thế giới này cho đến được điều không hề có.”
-Huyền tán: Hai câu tụng đầu tụng về động đất. Một hàng tụng sau tụng bốn chúng vui mừng.
-Kinh: “Từ giữa hai đầu chân mày phóng ra ánh ánh sáng cho trên đến trời Hữu đảnh.
-Huyền tán: Năm mươi bài tụng dưới là nói về chiếu cảnh, giới hạn chỗ thấy, ở đây chia làm hai:
a) Một hàng rưỡi tụng về chiếu cảnh.
b) Bốn mươi tám hàng rưỡi sau là tụng về chỗ thấy. Đây là tụng khí thế giới, tức là chiếu cảnh . “Đều như màu vàng ròng,” hiển bày nghĩa đáng tôn trọng. Anh sáng chỉ sắc trắng tiêu biểu Nhất thừa là căn bản. Chỗ chiếu sắc vàng tiêu biểu Nhất thừa đáng tôn trọng. Hoặc thị hiện tướng cõi tịnh của các cõi Phật, khiến làm nhân ngoại quả của Nhất thừa, cho nên nói như sắc vàng. Trong phần tụng dưới, nên biết trong tụng ngài Văn-thù ở dưới cũng hiện ra cõi Tịnh, hoặc sợi lông giữa hai đầu chân mày tuy trắng mà ánh sáng thì màu vàng.
-Kinh: “Trong các thế giới… ở đây đều thấy.”
-Huyền tán: Bốn mươi tám hàng rưỡi tụng thấy sáu việc. Không tụng việc nhập diệt. Đây văn chia ra làm sáu:
- Một hàng rưỡi tụng chúng sanh sáu đường.
- Nửa hàng kế là tụng về thấy Phật.
- Sáu hàng rưỡi tiếp tụng về việc nghe pháp.
- Một hàng rưỡi tụng về bốn chúng.
- Ba mươi mốt hàng kế tụng về hành đạo Bồ-tát.
- Bảy hàng tụng sau tụng sau khi Phật diệt độ thì khởi xây tháp.
Phần một: Nói chúng sanh ở trong thế gian đầy đủ các phiền não sai khác sanh tử là tổng nêu chung hoặc, nghiệp, khổ. Nơi hướng đến là khác nhau tức là quả sáu đường, hoặc quả của nơi hướng đến thể là sanh tử. Vì nghiệp, phiền não, giả hợp là hữu tình tức chủ thể (năng) hướng đến. Cho nên kinh tự giải thích: “Nghiệp duyên lành và dữ, chịu báo có tốt xấu. Chịu báu tốt xấu là quả nơi hướng đến. Nghiệp duyên thiện ác làm nhân năng hướng đến. Do thiện nghiệp làm nhân dị thục, các nghiệp tham, sân, si làm nhuận duyên mà thọ báo tốt ở trời người. Trời người là quả báo tốt, nơi chúng sanh làm thiện hướng về. Do ác nghiệp làm dị thục nhân, các nghiệp tham làm nhuận duyên nên thọ tổng báo trong ba đường ác. Ba đường ác là báo chung xấu nơi chúng sanh làm ác hướng về, gọi là nơi hướng đến, ở đây đều thấy. Trung hữu, nghiệp phiền não gọi là chủ thể hướng đến. Ngoại khí thế gian là công cụ giúp để hướng đến, trong dị thục quả gọi là nơi hướng đến. Như có bài tụng rằng:
Thú về rừng rậm
Chim về hư không
Thánh về Niết-bàn
Pháp về phân biệt.
Tức lấy nơi trở về làm nơi hướng đến.
Giả hợp thành hữu tình vì đường thiện ác là nơi sanh tử hướng đến.
Trong luận nói đầy đủ sự thanh tịnh khác nhau, tức là số đủ loại.
Phần hai: Kinh: “Lại thấy Chư Phật, Thánh chủ, sư tử.”
-Huyền tán: Nửa hàng tụng này nói thấy Phật. Sư tử chỉ cho Thánh chúa. Thánh chúa chính là Chư Phật, là câu dưới để giải thích câu trên. Tự tại vô úy nên gọi là sư tử. Thấu suốt chân tục gọi là Thánh chúa. Chúa của Thánh chúng tức là Chư Phật.
Phần ba: Chánh kinh: “Giảng nói kinh điển… đến Phật đạo thanh tịnh.”
-Huyền tán: Sáu hàng tụng rưỡi này tụng về nghe pháp. Đoạn này chia làm hai:
- Ba hàng rưỡi tụng về nghe bốn biện.
- Ba hàng tụng sau nghe pháp ba thừa.
– Ba hàng rưỡi đầu gồm: Nửa hàng đầu nghe nghĩa vô ngại. Một hàng kế nghe pháp vô ngại. Một hàng tụng nghe từ vô ngại. Một hàng tụng nghe biện tài vô ngại. Nghĩa sâu nên gọi là mầu nhiệm. Thượng thừa gọi là đệ nhất nghĩa vô ngại giải. Dạy lìa cấu nhiễm gọi là thanh tịnh. Khéo thuận tâm người gọi là nhu nhuyễn, là pháp vô ngại giải . Khế lý gọi là sâu mầu ứng cơ gọi là thích nghe. Diệu thuận theo các phương gọi là “đều ở thế giới mình”, là từ vô ngại giải vậy. Dùng các loại nhân duyên “là đạo lý của pháp. Dùng vô lượng dụ để thí dụ. Về pháp dụ đều khai lược có hai nghĩa:
- Để soi rõ Phật pháp.
- Khai ngộ chúng sanh là biện tài vô ngại giải.
-Ba hàng sau, Chánh Kinh: “Như người gặp khổ cho đến… nói cho nghe tịnh đạo”.
-Huyền tán: Đây là tụng nghe ba thừa: Thanh văn, Độc giác, Bồtát, như thứ lớp nêu ra ba hàng tụng:
Phần bốn: Chánh Kinh: “Văn-thù-sư-lợi cho đến nay sẽ nói lược ra.”
-Huyền tán: Một hàng tụng nói về thấy bốn chúng, nhân kết phần trước nói thấy bốn chúng kia tu hành đắc đạo các tướng trạng rất nhiều. “Thấy nghe dường thế đó” là kết phần trước thấy. “Và nghìn ức việc khác” là thấy bốn chúng. Nay kinh này chánh tông nói về nhất thừa. Không thể nêu ra đầy đủ sự hành trì của bốn chúng khác, là nói chúng số nhiều. “Nay tôi nói lược ra” trên nói Thanh văn, phần dưới nói Bồtát. Tức sự khác nhau giữa của các thừa.
Phần năm: Chánh kinh: “Tôi thấy cõi kia… cho đến cầu Phật đạo.”
-Huyền tán: Ba mươi mốt hàng rưỡi tụng hành Bồ-tát đạo, chia làm ba đoạn. Một hàng tụng đầu tụng về các pháp nhân duyên. Kế mười bảy hàng tụng về tướng mạo. Mười ba hàng rưỡi sau tụng về tín giải. Trong phần Văn xuôi trước đem nội hành ngoại duyên mà nói thứ bậc từ phàm đến Thánh. Nay trước tiên tụng ngoại duyên, sau nói về tự hành. Tự hành thì lấy sự hơn kém làm trước sau. Tướng mạo đó là tạp tu hữu lậu, Thập địa vô lậu, Thứ lớp tu sáu Ba-la-mật. Tín hiểu chỉ tu hữu lậu. Nếu loạn tu thì không phải thứ lớp. Hơn kém đã khác nên phân biệt có trước sau. Nhưng tu lục độ lược có ba vị. Kiến đạo từ sơ kiếp về trước, ở trong nhất hành chỉ tu một hạnh, loạn tu hữu lậu tức là tín hiểu này. Từ sơ địa đến mãn thất địa tu tất cả hạnh trong nhất hạnh trong kiếp thứ hai. Cả hai pháp hữu lậu vô lậu đều là tạp tu. Từ Bát địa đến mãn Thập địa tu tất cả hạnh trong tất cả hạnh ở kiếp thứ ba thuần tu vô lậu. Tu hai kiếp sau tức là tướng mạo này. Kinh Thập địa nói: Sơ địa hành bố thí… cho đến Thập địa tu Trí độ, với các độ khác tùy lực tùy phần mà chẳng có độ nào không tu tập. Thế nên tướng mạo ở đây tức là Thập địa tu. Có thứ lớp cho nên hành trì rộng lớn. Tín hiểu tức là từ kiến đạo về trước, sự hành trì không hơn cho nên nói loạn tu là nghĩa nhân duyên ở tụng này.
Hằng sa Bồ-tát: Tiếng Phạm là Căng-già, dịch lược là Hằng, là không đúng, là tên một vị thần sông. Trong kinh thường dùng Hằng hà sa làm thí dụ. Từ ao Vô Nhiệt não chảy ra bốn con sông lớn. Đây là một trong bốn con sông lớn đó.
- Là do ở đây cát nhiều.
- Là người đời cùng cho nước này là phước, xuống đó tắm gội tội lỗi diệt hết, bất tử sanh lên trời.
- Là dù trải qua kiếp hoại mà tên gọi vẫn thường định.
- Phật nhiều lần đến bên bờ sông này giảng nói pháp mầu.
- Mọi người cùng tin theo nên thường lấy đây làm thí dụ. Nhưng chỉ lấy nơi bắt nguồn từ cửa khẩu vuông vức bốn mươi dặm cát, lấy đó làm dụ.
Đoạn hai: Chánh kinh: “Hoặc có người hành thí… cho đến cầu trí tuệ Phật.”
– Huyền tán: Mười bảy hàng tụng về tướng mạo, trong đây chia làm hai:
- Mười lăm hàng đầu tụng về pháp lục độ.
- Hai hàng tụng tu tập viên thành hai lợi ích.
Hai hàng tụng sau là nói tám thứ gió bất động, ba tâm bi cứu chúng sanh.
Trong tụng lục độ chia ra làm sáu: Sáu hàng tụng về thí. Kế đến là hai hàng tụng về giới. Kế là một hàng tụng nhẫn. Kế là một hàng tụng về cần. Kế là hai hàng tụng về định. Phần sau là ba hàng về tuệ. Phần thí có ba: Bốn hàng đầu nói ngoại tài, một hàng kế nói nội tài, ngoại tài, một ngoại tài sau nói nội tài.
Trong bốn nội tài,ngoại tài: Thí bảy báu, bát trân, thí thành tựu độ, thí tạp vật.
Trong bảy báu thì:
- Là vàng, trong văn nói vàng có năm mầu, màu vàng là chính.
- Bạc.
- San hô là đá có màu hồng nhẹ, vân giống hình cây.
- Chân châu tức xích chân châu. Luận Phật Địa chép: Màu đỏ từ trùng xuất ra. Hoặc thể châu màu đỏ nên gọi là xích trân châu.
- Ma-ni: Như ý thần châu. Không phải lưu ly nên chai châu này có hai.
- Xa cừ: Tiếng Phạm là Mâu-sa-lạc-yết-bà, chính giữa màu trắng xanh.
- Mã não: Tiếng Phạm là Át-thấp-ma-yết-bà, Hán dịch là chữ Tạng. Hoặc dịch Thai tạng, có nghĩa là bền chắc. Màu như mã não, do đây mà đặt tên. Vì là loại báu nên đặt tên từ chữ ngọc.
Hoặc như loại đá nên dùng thạch đặt tên. Bảy báu này không đồng tùy theo địa phương xem trọng. Kế tụng nói về tám trân:
- Kim Cương.
- Chư trân, thuộc loại đế thanh đại thanh.
- Nô: thời xưa các tội nhân làm nô dịch cho quan, vào hàng thấp kém cũng là nô.
- Tỳ: nữ nô gọi là tỳ.
- Xe: là gọi chung các loại xe. Do Hạ-hầu-thì hề trọng làm ra. xưa âm là cư. Nói hành cho nên ở người. Nay là nhà xe. Nói hành là nơi ở như nhà.
- Thừa: Theo lễ nhà Chu, thì Thừa, nghĩa là có thể chuyên chở, là các loại xe ngựa, voi.
- Xe kéo trang hoàng vật báu , có người phu kéo ở trước.
Thời xưa bậc khanh đại phu đều đi xe này. Từ đời Hán về sau, thiên tử mới đi xe. Cho nên xe của vua, hoàng hậu gọi là liễn (xe kéo).
Dùng tám báu trang sức, thuyết văn gọi là xe hưng.
Lại xe không bánh thì gọi là Hưng. Thừa là chuyên chở.
Dùng các thứ báu trang sức nên gọi là bảo sức.
Kế một hàng tụng nói bố thí thành tựu độ. Trong Thành Duy thức chép: Đầy đủ bảy nhiếp thọ mới thành ra tướng độ, thiếu một thì không thành, ứng với bài tụng chép:
An trụ và y chỉ
Ý lạc và sự nghiệp
Công xảo hướng thanh tịnh
Độ thành do bảy này.
Trong đây chỉ nêu một để hướng về đạo Bồ-đề. Sáu pháp khác theo đây có thể biết. “Nguyện đắc Nhất Phật thừa, bậc nhất trong ba cõi tức là ý hồi hướng.
Một hàng tụng về tạp vật: Gọi Tứ âm Tức người xưa dùng bốn ngựa kéo một xe có thể chạy theo? Phòng dùng bốn ngựa kéo gọi là thiên tứ, nên nay người bắt chước. Xưa Hoàng đế cùng vua Xí-vưu chiến đấu ở đồng Trác lộc, thường có mây kim chi ngọc diệp năm mầu che phía trên vua có hình bông hoa, do đây mà làm ra lọng bằng hoa. Y theo vào thật lý mà giải thích: Ở bên Tây vực khí hậu nóng, người ta phần nhiều cầm dù để trang sức gọi là sức. Màn che trên xe gọi là hiển. Xe bốn ngựa ở bên có lan can, trên có lọng hoa, che màn trang sức, dùng để bố thí.
Trên bốn hàng nói về ngoại tài, kế một hàng nói về nội ngoại tài. Tự thân gọi là nội tài. Vợ con là ngoại tài. Kế một hàng chỉ có nội tài đem bố thí mà lòng vui mừng. Bố thí có năm tướng: Là dốc lòng và tín tâm, tùy thời, tự tay bố thí, như pháp hành trì, xả vật. Đó gọi là năm loại bố thí, tức là thứ tư trong bảy nhiếp thọ, sự nghiệp không nên thí cũng có năm: Bất tịnh và não hại chúng sanh không nên thí cũng như các vật làm hoại tịnh tâm của người. Như vậy thì trong năm tướng đều như pháp mà thí. Thí có năm lợi: Là thân gần, thường thích thấy , tôn kính, được tiếng tốt. Lại làm nhân về sau nên gọi là lợi của sự thí thiện. Những việc trên đây đều như kinh phát tâm Bồ-đề có nói. Trong pháp thí này nên khởi ra bốn trí.
- Nếu có của cải mà tâm không thích thí thì khởi lên trí giác ngộ.
- Không của cải mà tâm không thích thí thì khởi lên nhẫn khởi thí.
- Có của cải tâm ý vui vẻ mà không thích thí thì khởi lên tri đảo trí.
- Ưa quả thế gian mà hành thí thì khởi lên bất kiên trí. Thí để không còn tham và để người kia khởi lên ba nghiệp làm tánh, như trong Bồ-tát địa có nói.
-Kinh: “Văn-thù-sư-lợi cho đến mà mặc pháp phục”.
-Huyền tán: Đây là hai hàng tụng về giới.
Giới có ba loại:
- Giới luật nghi tức giới bảy chúng đều thọ trì.
- Nhiếp thiện pháp giới. Là tu tất cả thiện pháp của ba thừa.
- Nhiêu ích hữu tình giới: Tức lợi ích chúng hữu tình muôn hạnh tam nghiệp.
Kinh Thắng-man nói: Pháp Tỳ-ni-ba-la-đề-mộc-xoa, người xuất gia thọ cụ túc giới vì đó mà nói Đại thừa.
Trong Bồ-tát địa chép: Giới luật nghi đó là xả bỏ ngôi vị Luân vương như bỏ lá cỏ để xuất gia thọ giới cụ túc, đều gọi là giới luật nghi. Cho nên điều ở đây nói chính là luật nghi vậy. Cần phải có giới luật nghi làm căn bản thì mới có hai giới sau. Nếu phá luật nghi thì ba giới đều xả. Thế nên trong bốn pháp Ba-la-di đều là giới luật nghi. Đây nói đầu tiên xuất gia rồi mới thọ giới cụ túc. Do đây mà đầu tiên nói về giới luật nghi. Có bổn nói phi pháp phục là mặc pháp phục. Âm phi nghĩa trái lại bày ra giữ gìn. Địa phương nói phi là tán. Nay thì gọi là bị pháp phục. Bị có nghĩa là da bên ngoài! Pháp phục nghĩa là mang, đeo nên là âm (vị) Sự xuất gia rộng lớn dụ như hư không. Ở tại gia chật hẹp như địa ngục. Cho nên nói người xuất gia trì giới có năm điều lợi:
- Phật Mười phương che chở.
- Khi chết tâm vui vẻ.
- Được người trì giới làm bạn thân.
- Công đức tròm đầy.
- Đời đời thường đắc giới thành tựu tánh giới.
Luận Trí độ chép: Giới là cái bình đức, đây là lợi thứ tư.
Tụng:
Che chở khi chết vui.
Bạn giới công đức đầy
Sanh thường giới thành tánh
Đó là năm loại giới.
-Chánh kinh: “Hoặc thấy Bồ-tát… thích tụng kinh điển”.
-Huyền tán: Đây là một hàng tụng về nhẫn: Đại Tụng kinh điển suy nghĩ pháp nghĩa quán đế pháp nhẫn, nêu điều khó nói riêng là nhiếp cả hai nhẫn là nhẫn chịu đựng oán hại, an thọ khổ nhẫn.
-Kinh: “Lại thấy Bồ-tát… cho đến… suy nghĩ Phật đạo”.
-Huyền tán: Đây là một hàng tụng về chuyên cần. Ở đây có cả hai pháp nhiếp thiện và mặc pháp phục. Lược không có chúng sanh tinh tấn lợi lạc. Tinh tấn có năm: Là mặc giáp, gia hạnh, không dưới, không thoái, không đủ tức có thế lực, có chuyên cần, có dõng lực, bền chắc, không bỏ pháp thiện mà trong kinh nói. Đầu tiên phát khởi tâm dõng mạnh lợi lạc gọi là mặc giáp. Kế là khởi tâm bền chắc mạnh mẽ thì mới gọi là gia hành. Kế đến là chứng đắc chẳng tự khinh mình, cũng không yếu hèn thì gọi là không dưới. Kế là có thể chịu đựng các khổ nóng lạnh, với việc thiện kém… không sanh tâm vui đủ gọi là không thoái. Kế đến là có thể chứng nhập vào các đế hiện quán…, thích cầu công đức trội hơn về sau, gọi là không đủ. Người Nhị thừa rốt ráo vui nơi đại đạo Bồ-đề. Chư Phật rốt ráo vui nơi lợi lạc chúng sanh. Cho nên tên gọi đầu tiên là mặc giáp. Bốn nghĩa sau gọi là nhiếp thiện. Trong đây hợp lại gọi là mạnh mẽ tinh tấn.
-Chánh kinh: “Thấy ly dục… cho đến… khen ngợi các bậc Pháp vương”.
-Huyền tán: Đây là hai hàng tụng định, lìa chỗ ồn náo thường ở nơi trống vắng. Do an trú nơi tĩnh lặng, suy nghĩ nên tu thiền định sâu, dẫn phát tĩnh lự, cho nên đắc ngũ thần thông. Do sự tĩnh lự, đã làm xong nên khen ngợi các bậc Pháp vương. Cả ba pháp này do lìa dục mà có.
-Kinh: “Lại thấy Bồ-tát cho đến nghe rồi đều thọ trì.”
-Huyền tán: Một hàng tụng về tuệ, tức gia hạnh trí. Vì diệu đạt thật tướng cho nên trí tuệ sâu xa. Âm nhạc không hoại nên chí bền chắc.
Lại suy nghĩ xa xôi cho nên trí sâu, không thôi nghỉ nên chí bền chắc. Lại thêm công thưa hỏi, nghe đều có thể trì.
-Chánh kinh: “Lại thấy Phật tử cho đến mà đánh lên trống pháp”.
-Huyền tán: “Đây là hai hàng tụng về hai trí. Định tuệ đầy đủ là đắc hai trí viên mãn (căn bản trí, hậu đắc trí). Trong hậu đắc trí dùng thí dụ để giảng pháp. Giảng pháp có bốn ý:
- Vui thích nói pháp.
- Hóa độ các Bồ-tát mà không hóa độ người Nhị thừa.
- Phá trừ mười ma.
- Đánh trống pháp. Đánh trống pháp là bỏ quyền bày thật.
Ma-la dịch là phá hoại, gọi tắt là Ma. Ba-tỳ-dạ hán dịch là ác, Hán dịch âm Ba tuần là sai. Trong Tạp tạng, Phật nói ma quân có mười, nay làm Tụng rằng:
Dục ưu sầu, đói khát.
Ái, ngủ nghỉ, lo sợ
Nghi, độc và danh lợi
Tự cao khinh mạn kia.
Ma quân là như thế
Tất cả không thể phá
Trí ta tên dao định
Phá bình ném xuống nước.
Hoặc dùng chánh trí để kích chân như, dùng hậu trí để kích tục lý. Nói pháp phát ra âm hưởng, khiến cho chúng được nghe. Nhưng bố thí chỉ nói lợi tha, tuệ có cả hai lợi. Trong đây sáu độ này đều có đủ hai lợi. Trong bốn pháp chỉ nói tự lợi, lược không nói lợi tha. Thật ra chẳng phải không có.
-Chánh kinh: “Lại thấy Bồ-tát cho đến… không cho là vui”.
-Huyền tán: Hai hàng tụng dưới nói về tám thứ gió thổi bất động ba tâm bi tiếp vật.
Tám thứ gió bất động này, chữ yên âm là yên, nghĩa là an là nghỉ. Có thuyết nói là Yến. Yến nhàn, cũng có nghĩa là yên lặng.
Tám thứ gió:
- Lợi.
- Xuy.
- Hủy.
- Dự (tiếng khen).
- Xưng.
- Cơ (chê).
- Khổ.
- Là lạc.
Nay ở đây chỉ nêu có bốn. Sanh hỷ, được tiền tài, danh vị lợi lộc. Được khen ngợi trước mặt gọi là dự (vui) khen sau lưng thì gọi là xưng. Thích vui gọi là lạc. Trong bốn pháp này Bồ-tát không lấy đó làm vui. Nói cung kính là nghĩa thông suốt.
Dịch bốn điều: Xuy, dự, cơ, khổ cũng là không sanh ưu, thân tâm tịch nhiên, ngôn ngữ tịch lặng lìa xa tám thứ gió, như trong kinh Du-già phẩm thứ hai có giải.
-Kinh: “Lại thấy Bồ-tát cho đến khiến nhập vào Phật đạo”.
-Huyền tán: Đây là tụng ba tâm bi tiếp vật. Bi nghĩa là cứu khổ, hữu tình duyên thì bi duyên hữu tình khởi. Hành thì có nhiều loại. Sanh thì cũng vô cùng, chỉ nêu một hạng cứu chúng sanh khổ nặng. Cho nên nói: Phát ra ánh sáng cứu khổ ở cõi địa ngục. Hai tâm bi còn lại là pháp và vô duyên bi y theo đây cũng thành tựu. Phần dưới sẽ nói đầy đủ rõ ràng.
-Kinh: “Lại thấy Phật tử cho đến cần cầu Phật đạo”.
-Huyền tán: Mười ba hàng rưỡi tụng về sự hành đạo của tín hiểu hàng địa tiền phàm phu.
Lục độ loạn tu tức là sáu.
Một hàng tụng về cần.
Một hàng tụng về giới.
Một hàng rưỡi tụng về nhẫn.
Hai hàng tụng về định.
Năm hàng tụng về thí.
Ba hàng tụng về tuệ.
Ăn uống, đúng lượng, ít ngủ nghỉ. Đầu hôm gần sáng giác ngộ pháp Du-già là cần tức siêng năng.
Kinh Di giáo cũng nói: Đầu hôm gần sáng cũng chớ phế bỏ, nửa đêm tụng kinh để tự tiêu dứt phiền não. Không vì nhân duyên ngủ nghỉ, để một đời trôi qua mà không được gì.
Từng thử nghĩa là tạm lấy. Nay không tạm lấy nên nói là không hề. Kinh hành trong rừng, ở bên Tây vực đất ẩm thấp, phải chồng gạch lên làm đường đi, nghỉ ngơi, ăn uống, tụng kinh, như dệt lụa con thoi qua lại, nên gọi là kinh hành. Đây là để sách tấn khuyên tu bốn chánh đoạn là: Đối với pháp ác bất thiện đã sanh tu luật nghi dứt, pháp bất thiện ác chưa sanh, tu đoạn dứt. Pháp thiện đã sanh, tu phòng hộ dứt. Đối với pháp thiện chưa sanh thì tu tập dứt, để cầu Phật đạo. Cho nên, trong kinh Hoa nghiêm nói:
Phật tử khéo lắng nghe
Ta nói nghĩa như thật
Hoặc là mau ra khỏi
Hoặc là khó giải thoát.
Nếu muốn cầu trừ diệt
Vô lượng các tội ác
Nên trong bất cứ lúc nào
Mạnh mẽ đại tinh tấn.
Cũng như chút ít lửa
Củi ướt thì làm tắt
Ở trong giáo Phật pháp
Biếng nhác cũng như vậy.
Cũng như người dùi lửa
Chưa đỏ đã vội nghỉ
Thế lửa liền theo mất
Biếng nhác cũng như vậy.
Cũng như ngọc tắt lửa
Lìa duyên mà tìm lửa
Thì không bao giờ được
Biếng nhác cũng như vậy.
Cũng như mặt trời sáng
Nhắm mắt cầu thấy sắc
Đối với giáo pháp Phật
Biếng nhác cũng như vậy.
Do tâm phát tinh tấn ban đầu là hơn hết. Tin là chỗ nương của dục. Dục là chỗ nương của tinh tấn. Cho nên ở đây chỉ lấy tinh tấn làm đầu. Tín là dục y. Dục là tinh tấn y. Ở đây lấy tinh tấn làm đầu. Trong Thập tín tâm thì sau Tín là tinh tấn.
-Kinh: “Thấy người đủ giới cho đến để vì cầu Phật đạo”.
-Huyền tán: Đây là một hàng tụng về giới. Ba nghiệp oai nghi thường không thiếu bớt. Chớ khinh điều lỗi nhỏ cho là không hại, giọt nước tuy nhỏ mà dần đầy chậu lớn, nên thấy sợ sâu xa và hổ thẹn. Tịnh như hạt ngọc báu:
- Trong ngoài không có dấu vết.
- Giới đức đầy đủ viên mãn.
- Uy quang chiếu sáng.
- Mọi người đều yêu mến.
Do đây mà hột nga châu bị buộc vào cỏ, xả bỏ thân, nhạn rơi biết trước việc, rồng sanh dưới cây y lan. Bình tùy theo ý muốn, cho nên phải lấy luật nghi làm gốc.
-Kinh: “Lại thấy Phật tử cho đến vì cầu Phật đạo”.
-Huyền tán: Một hàng rưỡi tụng về chịu đựng sự oán hại. Được ít cho là nhiều gọi là Tăng thượng mạn. Cậy vào dòng họ, sắc lực, thông minh, giàu có, đạo đức, tiếng tăm hơn người tỏ ra khinh mạn đánh mắng. Bồ-tát dùng năm thứ quán có thể nhẫn cả.
- Tưởng thân thuộc.
- Tưởng chỉ có pháp.
- Tưởng có khổ.
- Tưởng vô thường.
- Tưởng nhiếp thọ.
Bài tụng:
Nên quán kẻ hại kia
Thân thuộc, chỉ có pháp
Có khổ và vô thường
Nhiếp thọ cho nên nhẫn.
Trên đây là nêu sơ lược, đồng thời rộng như trong U tán, sợ dài dòng nên không thuật lại.
-Kinh: “Lại thấy Bồ-tát cho đến vì cầu Phật đạo”.
-Huyền tán: Đây là hai hàng tụng về định. Có bốn điều xa lìa:
- Hý: Các hí luận phân biệt.
- Sất: Là lời đùa giỡn.
- Lìa sự ngu si.
- Lìa quyến thuộc xấu ác.
Không lìa thì có hai:
1. Trái với điều xa lìa thứ tư tức gần gũi duyên lành.
2. Nhất tâm trừ loạn, trái với ba điều trước. Cho nên trong kinh Di giáo chép: “Các Tỳ-kheo! Nên xa lìa nơi ồn ào, ở riêng chỗ vắng lặng suy nghĩ dứt trừ căn bản khổ, nếu thích ở chốn đông người, thì bị các khổ não.
-Chánh kinh: “Hoặc thấy Bồ-tát cho đến cầu Vô thượng đạo”.
-Huyền tán: Đây là năm hàng tụng về thí. Chia làm ba: Ba hàng đầu tụng nói về thí tứ sự. Một hàng tụng kế là thí thượng diệu. Một hàng cuối là ý lạc thí.
Tứ sự: Ẩm thực, thuốc thang, y phục, ngọa cụ. Chữ Hào không phải ngũ cốc mà ăn, các loại rau quả ngon làm thức ăn.
Thiện có nghĩa là ăn đầy đủ. Nay các thứ vật ngon cũng gọi là trân thiện. Thế tục giải thích hào thiện là ăn thịt. Nay cho là không đúng. Bồ-tát thiết lễ cúng dường Phật thì gọi là thiện.
Chiên-đàn cũng gọi là Ngưu đầu chiên-đàn. Hắc là loại chiên-đàn màu tía. Bạch là chiên-đàn màu trắng. Trong thượng diệu thí thì cúng dường cha mẹ bệnh, Pháp sư, Bồ-tát thân cuối cùng. Nếu cúng dường cho người chưa chứng quả Thánh thì thí quả cũng vô lượng.
Lại nói: Nếu giữ giới đầy đủ tuy có già yếu mà có thể giảng nói lợi lạc cho nhiều người, như cúng dường Phật, bậc Đại sư, thọ lời nói thiện thì cũng tương tợ như vậy.
Vườn rừng đẹp thanh tịnh thì: Trong lạc thí có sáu ý:
- Rộng lớn.
- Không nhàm chán.
- Vui mừng.
- Ân đức.
- Vô nhiễm.
- Tốt lành.
Trong Tụng có ba:
- Vui mừng.
- Không nhàm chán.
- Tốt lành.
Tức là cầu Vô thượng đạo. Trước nói cúng dường tứ sự tức là nghĩa rộng lớn. Mang ân nghĩa trước kia nên gọi là ân đức thí. Ba thời không hối hận, không bị nhiễm tạp nên gọi là vô nhiễm thí. Thực ẩm thí đủ cả pháp thực, không rơi vào kiếp nạn đói khát; đem y dược thí đầy đủ pháp dược không bị các bệnh; thí y phục được y bảy báu, đầy đủ tức nhu hòa thiện thuận. Đầy đủ hổ thẹn, đem thí ngọa cụ nên đầy đủ trợ duyên, sanh vào nhà từ bi vắng lặng. Đem vườn rừng thí nên trụ vào vườn giác Tổng trì, và được rừng pháp vô lậu, thí hoa được bảy giác, thí quả mà đắc bốn Thánh quả, ao tắm thí nên được ao bát giải xả cấu.
-Kinh: “Hoặc có Bồ-tát cho đến cầu đạo Vô thượng.”
-Huyền tán: Đây là ba hàng tụng tuệ. Một hàng đầu là hậu đắc trí, vì pháp thí vô tận. Kinh Ca-diếp nói: “Như hằng sa thế giới ở trong đó đầy đủ châu báu, thí cho các Như lai, không bằng đem pháp thí. Thí vật báu tuy phước nhiều nhưng không bằng một pháp thí. Một bài kệ phước còn thù thắng huống chi là nhiều. Thật khó nghĩ bàn.
Kế nói một hàng về trí chứng vô tướng, hai tướng là phân biệt , không có hai tướng tức là pháp môn không hai ở các kinh khác. Như ba hàng kia giống như nói nghĩa không hai. Ở Địa tiền học tạo hữu tướng vô tướng, lợi tha tự lợi, tức hành Nhị trí. Một gia hạnh sau là cầu chánh đạo.
Giáo Âm là chỉ dạy chỉ bảo.
Chiếu Âm tức chỉ bảo dẫn dắt. Vì tối tăm mà thành tựu việc, tức phạm sai lầm, dùng giáo chỉ rõ khiến cho rõ có thể hiểu. Lại có bản ghi là Giáo chiêu. Chữ giáo không có âm bình. Chữ chiêu nghĩa là dụ tiến (khuyên dụ tiến lên).
Chánh Kinh: “Văn-thù-sư-lợi cho đến bông kia đang xòe nở”.
– Huyền tán: Đoạn thứ sáu có bảy hàng tụng, về sự xây tháp. Đoạn này có hai:
Một hàng đầu tụng cúng dường xá-lợi. Sáu hàng tụng sau nói về xây tháp cúng dường.
Sáu hàng sau phân ba: Ba hàng tụng đầu trang nghiêm việc xây tháp. Một hàng tiếp tụng về tám bộ cúng dường. Hai hàng tụng sau nói sự thù thắng xây tháp.
Lại bảy hàng tụng này cũng chia làm hai: Năm hàng đầu tụng phần Văn xuôi trên. Hai hàng sau tụng kết sự xây tháp cao quý. Phần một lại chia làm hai: Bốn hàng tụng đầu là Bồ tát cúng dường. Một hàng sau là tám bộ cúng dường. Bồ tát cúng dường cũng có hai:
- Một hàng tụng cúng dường xá-lợi.
- Ba hàng tụng sau là xây tháp.
Y theo văn tụng này thì Văn xuôi nói về cúng dường xá-lợi, xây tháp bảy báu.
-Kinh: “Lại thấy Phật tử cho đến linh báu hòa vang.”
-Huyền tán: Đây ba hàng tụng về xây tháp. Một tụng về số, một tụng về lượng, một tụng về nghiêm sức.
Trong Bồ-tát địa chép: Như sau khi Phật diệt, xây một hay nhiều tháp cúng dường, sẽ được quả phước đức vô lượng. Được đại phước Phạm trong vô số đại kiếp không đọa vào đường ác, cũng đạt được tư lương của Vô thượng Bồ-đề.
Tiếng Phạm là Du-thiện-na có nghĩa là hạn lượng, Hán dịch âm do-tuần là sai.
Trong Câu-xá luận chép:
Cực nhỏ, nhỏ, vàng, nước
Thỏ, dê, trâu, khích trần
Chấy, rận, lúa, lóng tay
Mỗi sau tăng bảy lần.
Hai (mươi) bốn khủyu tay
Bốn khủyu một cung lượng
Năm trăm câu-lư-xá
Tám du-thiện-na này.
Đây là hơn mười sáu dặm, nếu theo kinh khác là bốn mươi dặm. Chữ túng âm là chiều dọc, chiều rộng. Xưa viết là Tùng. Trong thiết vận chỉ có ba chữ: Túng, Tung, Tũng, có bổn ghi chữ Tùng không biết xuất xứ từ đâu . Tục giải thích Nam Bắc gọi là tung. Đông Tây là hoành. Lộ có nghĩa là không che. Mạn nghĩa là che. Nói chỗ trang nghiêm hoặc lộ hoặc che. Trong phẩm Bảo tháp có giải thích đầy đủ. Đây nói lượng bảo tháp ở báo độ. Tức nhìn từ vị trí trên cao. Nếu không vậy, châu này há là đặt nhiêu tháp! Có chỗ nói Mạn mạc. Che ở bên gọi là Duy, trên gọi là mạc- Mạc là nghĩa che. Lộ đồng với úp lại mà bày ra.
Linh báu hòa vang là âm thanh điều hòa.
-Chánh kinh: “Chư Thiên, long thần cho đến thường vì cúng dường”.
-Huyền tán: Đây nói cúng dường tám bộ.
-Kinh: Văn-thù-sư-lợi cho đến hoa khai nở.
-Huyền tán: Đây là hai hàng tụng kết xây tháp thù thắng. Do xây tháp mà cõi nước lạ đẹp. Tháp cao nghiêm có trang sức các thứ báu. Như cây thọ vương nở hoa ở vườn trời Đế-thích, uy nghiêm, tốt đẹp chẳng thể sánh ví chói sáng các rừng cây nên lấy đó làm thí dụ.
-Kinh: “Phật phóng một ánh sáng… chiếu vô lượng cõi nước”.
-Huyền tán: Phần tụng lớn thứ hai có tám hàng. Chia hai: Bốn hàng tụng đầu nhắc lại điềm lạ để hỏi. Bốn hàng sau tụng nêu các sự thỉnh đáp. Phần một lại có hai: Hai hàng tụng đầu tụng lại hai việc xa gần. Hai hàng tụng sau nêu thấy hai sự mà hỏi. Hai tụng đầu tụng lại sự thấy gần, hàng tụng sau tụngsự thấy xa.
-Chánh kinh: “Chúng con thấy điều này… phóng ánh sáng”.
-Huyền tán: Hai hàng tụng này nêu thấy hai việc. Hàng tụng đầu hỏi hai việc thấy của mình và chúng. Hàng tụng sau nêu các việc thấy kia. Ý nghi ngờ việc phát ra ánh sáng là gì? Người thấy vui vẻ hỏi, vì việc không hề có thấy, xin nhân giả đáp cho.
-Kinh: “Phật tử… giảng nói ánh sáng này”.
-Huyền tán: Nêu việc thỉnh đáp, chia ra làm bốn: Một hàng đầu tụng ứng thời nêu thỉnh đáp. Hàng tụng kế nêu việc thỉnh đáp. Một hàng kế nêu việc rất lớn. Hàng tụng cuối chính là thỉnh ngài Văn-thù đáp.
-Bốn chúng vui mừng mong được nghe thắng đạo, xin quyết nghi khiến hoan hỉ. Nay chính là đúng thời hễ người nói pháp thì phải hợp căn cơ.
-Kinh: “Phật ngồi tại Đạo tràng cho đến Đây chẳng phải duyên nhỏ”.
-Huyền tán: Hàng tụng đầu nêu hai việc thỉnh đáp. Một là diệu pháp, hai là thọ ký. Hàng tụng tiếp nêu việc rất lớn. Thấy Phật và cõi Tịnh chẳng phải là duyên nhỏ.
-Kinh: “Văn-thù nên biết… cho đến vì nói các pháp nào?”
-Huyền tán: Chính là thỉnh ngài Văn- thù đáp: Chỉ nhìn thấy nhân giả, mong ngài sẽ trả lời. Trước hỏi đáp cùng nhìn nhau, đây chỉ nhìn một ngài Văn-thù mong giải quyết các điều nghi của chúng.
Kinh: “Bấy giờ ngài Văn-thù… và các đại sĩ”.
-Huyền tán: Phần thứ bảy ở dưới nêu lời đáp thành tựu của ngài Văn-thù-sư-lợi. Luận chép: “Ngài Văn- thù dùng Túc mạng trí thấy mười thứ tướng nhân quả của quá khứ, như hiện ra trước mặt cho nên có thể đáp, chẳng phải là hư cấu, suy đoán trả lời.”.
Luận chép: Tướng Nhân là ngài Văn-thù tự thấy thân mình tu hành các hạnh ở các cõi Phật kia. Nhân lúc ấy, thời nay là nhân hạnh Bồ-đề.
Tướng quả là tự thể sở y của quá khứ. Luận: Văn-thù tự thấy thân mình là Pháp sư Diệu Quang ở đời quá khứ. Đã nghe Đức Phật kia giảng nói pháp này. Nay nói lại cho chúng sanh nghe. Đó là quả quá khứ đời trước.
Quả là tự thể sở y, chẳng phải quả của nhân sở kiến. Nhân kia là quả vô lượng sanh nhân trong đời quá khứ. Phần lớn chia ra làm ba:
- Nêu tên nói chung.
- Chánh đáp lời đã nêu.
- Có hai bài tụng nêu lời Phật nói.
Đây là phần đầu:
-Kinh: “Nầy người Thiện nam như ta suy nghĩ cho đến giảng nói nghĩa đại pháp ”.
-Huyền tán: Chánh đáp lời đã hỏi. Nhưng nương vào luận bổn.
Trong phần đáp này thành tựu mười việc:
-Thứ nhất: Nhân hiện thấy nghĩa đại, tức là đoạn văn này.
-Thứ hai: “Các người thiện nam, ta ở trong đời quá khứ… “là nhân hiện thấy văn tự chương cú ý nghĩa rất sâu.
-Thứ ba: “Chư thiện nam tử… như quá khứ vô lượng vô biên” nhân hiện thấy ít có.
-Thứ tư: “Lại có Phật cũng tên là Nhật Nguyệt Đăng Minh…” nhân hiện thấy thắng diệu.
-Thứ năm: “ Sau cùng lúc Phật chưa xuất gia… “là nhân hiện thấy việc thọ dụng đại.
-Thứ sáu: “Sau khi Phật diệt độ, Bồ-tát Diệu Quang trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa”. Nhân hiện thấy hiện ra nhân nhiếp lấy Chư Phật xoay bánh xe.
-Thứ bảy: Tám Vương tử của Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh đều là pháp Sư. Từ Diệu Quang trở xuống là nhân hiện thấy pháp luân của Như lai là khéo chắc thật.
-Thứ tám: “Các vương tử cúng dường vô lượng…” là nhân hiện thấy khả năng tiến nhập.
-Thứ chín: Cuối cùng thành Phật, hiệu là Nhiên Đăng, là nhân hiện thấy sự nhớ nghĩ.
-Thứ mười: “Di-lặc nên biết! Bấy giờ Bồ-tát Diệu Quang v.v…“ là nhân hiện thấy tự thân các sự tuần hoàn. Nhân là nguyên nhân tức ngài Văn-thù dùng. Hiện lượng trí thấy các sự chứng minh đó là nhân, rồi đáp lời ngài Di-lặc cho nên nói là nhân. Hoặc mười việc này phần nhiều là đời trước làm, là nhân của bây giờ, cho nên gọi là nhân. Trong mười nhân này chia chung làm năm cặp :
Một là cặp nghĩa giáo.
Hai là cặp hy thắng .
Ba là cặp chuyển từ .
Bốn là cặp kiên tiến .
Năm là cặp tha tự .
Mười tướng này trong kinh thứ lớp nên biết. Trong đây chia chung thành bốn.
- Chỉ rõ tướng thọ lượng để đáp.
- Nêu việc xưa mà thành nay để đáp.
- Chỉ bày các việc khác mà đáp.
- Xưa nay tức nhau.
Hai tướng đầu, một tướng cuối như thứ lớp trong văn. Một tướng giữa là gồm bảy nhân nêu bày các việc khác nhau.
Nói chỉ rõ tướng thọ lượng để đáp:
Duy là suy nghĩ, là nghỉ, là mưu tính. Thốn là xét kỹ.
Luận gọi là nhân hiện thấy nghĩa đại thành tựu.
Nghĩa là nghĩa lý, là đối với nguyên nhân thành tựu tám thứ nghĩa lý đại.
Tám nghĩa đại, trong kinh có nói năm câu. Trong luận thì có tám câu. Nên nói muốn nói pháp lớn, tuôn mưa pháp vũ lớn, đánh trống pháp lớn, không đoạn trống pháp lớn, dựng cờ pháp lớn, đốt đuốc pháp lớn, thổi loa pháp lớn, giảng nghĩa pháp lớn. Trong luận phần thứ bảy mới nói bất đoạn đại pháp cổ. Nay lấy nghĩa suy ra cho nên nói phần thứ tư cũng không trái ngược luận nói nghi đó là dứt nghi. Tức muốn nói pháp lớn, muốn phá nghi trước trụ ở vị ngoại phàm khiến cho tiến tu. Đã đoạn nghi rồi thì làm cho trí thân thêm lớn thuần thục, tức rước mưa đại pháp. Trước trụ vào nội phàm mà không còn nghi ngờ. Thấm nhuần thiện nảy mầm khiến nhập Thánh vị mà muốn tăng thêm điều thiện. Ý của luận này trên dưới nối liền, nối tiếp khởi lên vì giải thích văn kinh, dưới đều y theo đây.
Luận nói: Căn thục: Là nói hai cảnh giới bí mật. Nghĩa là hai cảnh giới bí mật của Thanh văn, và Bồ-tát. Có hai câu chỉ rõ tức đánh trống pháp lớn, không đoạn trống pháp lớn. Vì từ xa nghe nên lần lượt kết hợp lại. Tức là nay chia Thanh văn thừa xưa là cảnh giới quyền mật, chỉ rõ nay nói Bồ-tát thừa là cảnh giới thật mật gọi là hai cảnh giới mật. Khiến cho căn thuần thục đó là bỏ quyền giữ thật. Nên trong Luận chép: Nhập cảnh giới mật, là khiến cho tiến lên giữ lấy nghĩa thanh tịnh thượng thượng. Dựng cờ pháp lớn là lập ra diệu trí Bồ-đề rất cao xa. Cũng như đối với cờ lọng do biết quyền thật mà có bỏ có lấy. Hành hạnh Đại thừa, đắc trí Bồ-đề lìa hết chướng tịnh. Luận nói về nghĩa thượng thượng thanh tịnh tiến thủ, là tiến lấy tất cả trí hiện có. Đốt đèn pháp lớn là đã đắc chân trí kiến lập Bồ-đề. Vì chiếu soi chân cảnh nên chứng được Niết-bàn. Như đuốc chiếu sáng mọi vật.
Luận chép: Dùng tất cả trí hiện thấy là vì tất cả kiến lập danh tự, chương, cú, nghĩa. Thổi loa pháp lớn là đắc chân cảnh tức cần phải nói giáo nghĩa. Giáo giảng thích tất cả pháp, nên gọi là tất cả pháp kiến lập danh tự. Như thế gian lấy đây làm vui, từ quả vị ban đầu khó khăn, đến cuối cùng hoàn tất nên thổi loa lên. Nay quả vị đã viên mãn, vì người nói pháp thì cũng như vậy. Cho nên trong kinh Niết-bàn nói thổi lên là biết đến thời. Luận nói kiến lập nghĩa danh tự, chương cú là khiến cho nhập và bất khả thuyết, chứng trí xoay bánh xe. Giảng nói nghĩa pháp lớn, thuyết ở giáo đó là khiến cho, thích ứng độ nhập vào chứng trí, thành tựu xoay bánh xe, trừ hết phiền não. Trong tám câu này chia ra làm bốn cặp.
- Cặp phá tiến thiện .
- Cặp Khai quyền hiển thật .
- Cặp Đắc trí chứng chân.
- Cặp nói pháp lợi sanh .
Xoay vần như thế gọi là pháp luân, tự mình chứng quả, lại giúp cho chúng hữu tình chứng được chân trí của bậc Thánh, phá diệt phiền não. Luận đã đan xen tiếp nối giải thích rõ ý kinh, cho nên tướng này nương theo tướng kia đối để giải thích ý. Tìm hiểu lý do thì kinh có năm câu tức chỉ có hai cặp rưỡi. Có phá ác tiến thiện, nói pháp lợi sanh, khai quyền nhất môn, ngoài ra là hiển thật, đắc trí chứng chân. Văn đối đều thiếu, lại không theo thứ lớp, độc giả nên biết.
-Kinh: “Các người thiện nam cho đến liền nói pháp lớn”.
-Huyền tán: Nhân hiện thấy thế gian nghe văn tự, chương cú ý rất sâu xa. Ở đây nói đại giáo nên giáo là danh tự, chương cú, hí luận của thế gian. Ý có nghĩa là ý so sánh, là lý do nói giáo. Tức là nêu việc xưa 02 thành đáp việc ngày nay. Văn này có ba:
- Nêu quá khứ.
- Kết thành việc ngày nay.
- Giải thích ý, ở đây là phần một
-Kinh: “Vì thế nên biết cho đến cũng giống như thế.”- Huyền tán: Đây là phần kết thành tựu việc ngày nay.
-Kinh: “Muốn khiến chúng sanh cho đến nên hiện ra điềm lành này”.
-Huyền tán: Đây giải thích ý đó. Phát ra ánh sáng là ý gì? Là muốn cho người nghe biết pháp khó tin. Xưa nói hai thừa chân thật, nay nói nhất thừa là thật để người xả bỏ những điều quá cũ và giữ cái mới bây giờ. Do đó mà nói khó tín. Không chỉ có lòng tin mới khó mà nghĩa lý cũng khó.
-Kinh: “Các người thiện nam cho đến a-tăng-kỳ kiếp”.
-Huyền tán: Phần dưới này có tám nhân, chung lại thành hai văn:
- Văn xuôi.
- Kệ tụng.
Văn Văn xuôi chia làm hai:
- Bảy nhân nêu ra bảy việc riêng mà trả lời.
- Một nhân đáp việc xưa nay tức nhau.
Phần một lại chia làm ba:
- Đáp khen ngợi việc ít có.
- Một đáp sự thắng diệu về sau.
- Năm phần dựa theo nêu việc đồng.
Đầu tiên khen ngợi việc ít có để đáp. Luận gọi là nhân hiện thấy ít có. Trong vô lượng thời không thể đắc, đây có bốn ý:
- Khen ngợi việc lâu xa ít có.
- Khen ngợi danh hiệu Phật ít có.
- Khen ngợi việc thắng diệu ít có.
- Khen ngợi đáp lợi ích chúng sanh ít có.
Ở đây nói ý thứ nhất.
Luận chép: Bất khả tư nghì bất khả xưng, bất khả lượng. Thị hiện trải qua a-tăng-kỳ kiếp cũng không thể đắc. Tiếng Phạm là a-tăng-xída, Hán dịch âm a-tăng-kỳ là sai, Hán dịch âm nghĩa là vô số.
Trong Câu-xá luận chép: Trong số năm mươi hai từ một đến mười cho đến cực số thì gọi là a-tăng-kỳ. Vốn là số sáu mươi, tám số kia bị thất truyền. Trong kinh Hoa nghiêm nói một trăm hai mươi số. Đây là một trăm mười hai số.
Kiếp-lạp-ba gọi tắt là kiếp, Hán dịch là phân biệt. Nghĩa là phân biệt thời phần.
Bất khả tư nghì là cảnh vượt quá tình chấp. Bất khả xưng là vượt qua cảnh ngôn ngữ. Bất khả lượng là cảnh vượt qua tính lường thí dụ. Nay kinh gọi vô lượng đó là vượt qua sự tính toán thí dụ. Vô biên là quá thời phần. Bất tư nghì là quá phần tình chấp cũng đồng như Bát-nhã vượt qua bốn phần.
Trong Bồ-tát Địa nói kiếp có hai loại:
- Số ngày đêm năm tháng.
- A-tăng-kỳ kiếp.
Trong Du-già lại nói: Hoặc một lần tăng giảm là một kiếp. Nghĩa là trải qua các nạn đói khát bệnh dịch đao binh. Hoặc có hai mươi kiếp là một kiếp. Nghĩa là trời chúng có chỗ nói bốn mươi kiếp là một kiếp, là trời Phạm phụ . Hoặc sáu mươi này là một kiếp là trời đại Phạm. Hoặc tám mươi kiếp đây là một là kiếp hỏa tai. Số ở trời Thiểu quang bằng tuổi thọ ở đây hai kiếp, hoặc là bảy kiếp hỏa mới là một kiếp thủy tai. Gọi là Cực quang tịnh thiên, hoặc tám kiếp hỏa. Một bảy kiếp thủy tai mới là một kiếp phong tai , gọi là Biến tịnh thiên. Số này cho đến bất khả số là một a-tăng-kỳ. Phàm kinh này nói ba đại a-tăng-kỳ kiếp tu nhân mới đắc quả Phật. Cùng ở kiếp Hiền gồm có mười loại kiếp sai khác. Trong Cổ nhiếp luận hoặc Địa tiền chia ra làm ba. Trong Thập địa, mỗi địa lại chia làm ba. Hợp thành ba mươi ba a-tăng-kỳ kiếp. Từ Thất địa về trước là tiểu. Địa tám, chín, mười là trung. Địa tiền là đại. Tuy có các kiếp này mà lượng khác nhau. Nay nương vào một hội Pháp Hoa của luận, này Phật nói các kiếp phần nhiều nương vào năm loại: Một là ngày, hai là đêm, ba là tháng, bốn là giờ, năm là năm. Nay nương vào vô lượng vô biên bất khả tư nghì a-tăng-kỳ, chẳng phải là các đại kiếp khác. Vì muốn hiển bày vô số đại kiếp của Chư Phật lúc lưu xuất ra ngài Văn-thù thấy rất lớn.
-Kinh: “Bấy giờ có Phật cho đến Phật Thế tôn”.
-Huyền tán: Đây khen ngợi danh hiệu Phật ít có. Nhật Nguyệt Đăng Minh là tên riêng. Như lai là tên chung. Nhật là mặt trời có hai công năng: Một là dẫn đường, hai là thành tựu. Nguyệt là mặt trăng có hai công năng: Một là trừ nóng bức, hai là mát mẻ. Đăng là đèn có hai công năng: Một là xua tan bóng tối, hai là truyền ánh sáng. Đây là ý nói Phật dẫn đại chúng từ bờ mê đến bến giác, thành thục căn khí, trừ hết các phiền não nóng bức , được cảnh mát mẻ Niết-bàn. Phá trừ hẳn
ngu si, giáo hóa chúng sanh truyền thừa pháp tạng. Đây là tiêu biểu cho tên riêng ít có.
Luận Du-già quyển tám mươi ba giải thích mười hiệu là:
- Như lai.
- Ứng.
- Chánh đẳng giác.
- Minh hạnh viên mãn.
- Thiện thệ.
- Thế gian giải.
- Vô thượng trượng phu Điều ngự sĩ.
- Trời người sư.
- Phật.
- Bạc-già-phạm.
Như lai là danh hiệu đầu tổng giới thiệu chín danh hiệu sau.
Kinh Niết-bàn chép: Như giảng nói kinh pháp mà quá khứ Chư Phật, sáu Ba-la-mật, ba mươi bảy phẩm trợ đạo, mười một pháp không, cho đến quả Bồ-đề. Cho nên nói là Như lai. Nay Phật Thích-ca, như Chư Phật quá khứ cũng theo các pháp tu sáu Ba-la-mật, quán lý mười một không cho đến quả Bồ-đề, nên nói Như lai. Ở đây tức Báo thân Phật.
Kinh Bát-nhã chép: Như lai là không từ đâu đến cũng không đi về đâu, gọi là Như lai, tức là pháp thân Phật.
Luận Thành Thật chép: Thừa đạo như thật mà lai thành Chánh giác (nương vào đạo như thật mà thành Chánh giác, nên gọi là Như lai: Nghĩa tuy lược mà chẳng phải là tông nghĩa này. Luận nói Ứng chánh đẳng giác, nghĩa là giải thoát hẳn tất cả các chướng hoặc phiền não và chướng sở tri, nên A-la-hán Hán dịch là Ứng.
Thành Duy thức nói: Ứng đã phá trừ hẳn giặc phiền não, ứng không còn phần đoạn sanh tử, ứng thọ diệu cúng dường. Như trước bổn luận đã giải thích kinh có mười lăm nghĩa tức theo Du-già và kinh này. Chỉ lấy nghĩa phá hoại giặc phiền não nên gọi là A-la-hán. Dứt trừ hẳn sở tri chướng thì gọi là Chánh đẳng Chánh giác. Thế nên trong kinh Du-già nói: A-la-hán là Cộng đức. Chánh đẳng Chánh giác là Bất cộng đức. Xưa dịch là Chánh biến tri, tức là Chánh giác Đẳng giác, Chánh đẳng giác. Như thứ lớp để phân biệt với ba loại: Ngoại đạo, Tiểu thừa, và Bồ-tát.
Minh hạnh viên mãn tức là minh hạnh túc. Minh nghĩa là ba minh.
- Túc trụ tùy niệm trí minh.
- Sanh tử trí minh.
- Lậu tận trí minh.
Hạnh là hạnh Giá, hạnh Hành. Hạnh hành nghĩa là thanh tịnh ba nghiệp hiện hành chánh mạng.
Lại bốn thứ: Tăng thượng, tâm pháp, hiện pháp, lạc trụ là trụ hành. Hai loại này cũng thuộc hạnh Hành. Thầm giữ căn môn là hạnh Già. Hai hạnh này và tam minh đều viên mãn. Do đây mà Như lai hiển bày ra ba bất hộ, không quên mất pháp. Do không tạo lỗi, đắc Tịnh lự thế gian ngăn tu khổ hạnh. Do đây mà không tạo lỗi thì ba nghiệp thanh tịnh. Tức là Tam bất hộ thầm giữ gìn căn môn. Không quên mất pháp mà đắc Tịnh lự thế gian, hiện pháp lạc trụ ngăn tu khổ hạnh. Cho nên nói “Minh hạnh viên mãn”.
Thiện Thệ tức là trong đêm dài sanh tử tu đầy đủ tất cả công đức tự lợi, lợi tha. Thệ có nghĩa là đến. Nghĩa là sau khi thành tựu quả Bồđề rồi ở trong đêm dài sanh tử có đầy đủ tất cả hai công đức mà khéo đến, đó hành sự giáo hóa nên gọi là Thiện thệ. Thế gian giải là khéo thông suốt tất cả hữu tình và khí thế gian.
Do có túc trụ trí và sanh tử trí mà ngộ nhập tất cả hữu tình thế gian, các bờ mé dựa vào trước có sau, dựa vào tất cả thời, mà có tám muôn bốn ngàn hạnh khác nhau. Tức biết ba cõi chúng sanh tâm hành đều khác nhau, và khéo rõ biết các cõi thế gian vô lượng vô biên mười phương trải qua các kiếp thành hoại. Lại đối với các pháp tự tánh của thế gian, nhân duyên, ái vị, lỗi lầm ra khỏi những nơi đến hành hóa đều khéo rõ biết. Nghĩa là biết được qủa tự tánh và nhân nhân duyên. Đây là câu tổng còn lại bốn câu dùng pháp Tứ đế phối theo mà hiểu.
Vô thượng trượng phu Điều ngự sĩ. Xưa dịch là Vô thượng sĩ Điều ngự Trượng phu. Trí không có gì bằng, nên không có gì vượt qua nên gọi gọi là Vô thượng. Ở trong hiện pháp thân Phật đầy đủ các tướng hảo gọi là đại trượng phu. Lại phần nhiều điều phục chế ngự vô lượng trượng phu là bậc trên hết, tôn quý đệ nhất. Do đây mà để phía sau. Xưa dịch là Vô thượng sĩ điều ngự trượng phu.
Trời người sư: Vì trời người có thể giải nghĩa pháp sâu xa, siêng tu chánh hạnh nên có năng lực. Các loài khác không có khả năng như thế cho nên không nêu lên làm Sư (Thầy).
Nói Phật tức Phật-đà: Là bậc đã hoàn tất đoạn hết thảy phiền não sở tri, cùng tập khí hiện Đẳng Chánh giác, chứng đắc Vô thượng Chánh Đẳng Chánh giác tức đầy đủ nhị trí, tự giác và giác tha.
Bạc-già-phạm xưa dịch là Thế tôn, thản nhiên an tọa trên tòa Bồ-
đề nhiệm mầu, nhậm vận diệt trừ hết tất cả ma quân, có thế lực lớn để phá bốn ma, như bài tụng trong Phật địa luận có nói:
Tự tại, xí thạnh và đoan nghiêm
Danh xưng, cát tường và tôn quý
Đầy đủ cả sáu nghĩa như thế
Nên biết tên chung là Bạc-già.
Bạc-già là tiếng Phạm. Phạn là đầy đủ đức. Hoặc có người dùng tiếng Bạc-già là tự có nghĩa có thể phá trừ bốn ma, và phải đầy đủ sáu đức:
- Là nghĩa tự tại, không lệ thuộc các phiền não.
- Nghĩa lừng lẫy dùng lửa trí tôi luyện.
- Nghĩa trang nghiêm ba mươi hai tướng.
- Nghĩa danh xưng: Thắng danh của Phật chẳng ai không biết.
- Nghĩa cát tường: Thường khởi phương tiện làm lợi lạc hữu tình.
- Nghĩa tôn quý: Thế gian, xuất thế gian đều tôn trọng.
Nay nói Thế tôn là thiếu năm nghĩa trước vậy.
-Kinh: “Giảng nói chánh pháp… tướng phạm hạnh”.
-Huyền tán: Khen ngợi pháp thắng diệu ít có. Phẩm tám mươi ba nói đầy đủ mười đức.
1/ Sơ thiện: Nghĩa là lắng nghe rồi sanh tâm vui mừng.
2/ Trung thiện: Lúc tu hành không có ngại khổ, xa lìa hai bên, nương theo trung đạo.
3/ Hậu thiện: Rốt ráo tột cùng là xa lìa cấu nhiễm và tất cả sự rốt ráo đều lấy ly dục làm bờ mé sau cùng. Pháp tánh lìa cấu nên người học cũng lìa cấu. Do đó màtu hành rốt ráo, đắc quả lìa cấu cho nên Luận Trí độ chép: Khen ngợi việc bố thí là sơ thiện. Khen ngợi trì giới là Trung thiện. Khen ngợi hai quả báo sanh về cõi trời, cõi Tịnh, gọi là hậu thiện. Lại nói: Thanh văn, Độc giác, Đại thừa là ba thiện. Kinh Bảo tích nói: Biết khổ dứt tập thì gọi là sơ thiện, tu chánh đạo thì gọi trung thiện. chứng diệu gọi là hậu thiện. Đây cũng gọi là sơ, trung, hậu thiện của Thanh văn. Nếu không xả Tâm Bồ-đề, không niệm hạ thừa, hồi hướng Nhất thiết trí thì gọi là Bồ-tát sơ trung hậu thiện. Nay nương theo Du-già làm chánh.
4/ Văn khéo. Kinh nói: Lời lẽ khéo mầu. Nghĩa là khéo ràng buộc danh thân v.v… và dùng tám ngữ đều đầy đủ viên mãn.
5/ Nghĩa mầu: Kinh nói là nghĩa ấy sâu xa, nghĩa là có thể dẫn phát làm lợi ích an vui.
6/ Thuần nhất: Kinh nói: Thuần túy duy nhất không xen lẫn. Nghĩa là không chung với ngoại đạo. Chỉ có Phật pháp.
7/ Viên mãn: Kinh nói: Đầy đủ. Vì vô hạn lượng nên thuộc về tối thắng tôn thắng. Nghĩa này dồi dào mà lại thắng diệu. Nên gọi là tròn đầy.
8/ Thanh tịnh: Nghĩa là tự tánh giải thoát, cho nên nương vào một sát-na mà giải thoát tự thể. Hoặc là pháp tự tánh giải thoát.
9/ Trong sáng: Là giải thoát nối tiếp, nhiều sát-na cũng gọi là giải thoát. Hoặc người học cũng gọi là giải thoát.
10/ Phạm hạnh: Là tám chi Thánh đạo , diệt đế gọi là Phạm. Đạo đế gọi là hạnh, làm nhân cho diệt . Đầy đủ bát đạo này gọi là tướng phạm hạnh. Nên biết đạo này do bốn loại diệu tướng. Thuần nhất đó là: Nghĩa thứ sáu, bảy, tám, chín tức là thuần nhất. Không tạp, đầy đủ thanh bạch trong tướng phạm hạnh. Còn lại như văn có thể hiểu. Theo nghĩa như thế phối hợp như thế cũng giống như Tân văn nói vậy. – Kinh: “Vì cầu Thanh văn… thành Nhất thiết chủng trí.” – Huyền tán: Khen ngợi sanh lợi ích ít có.
-Có Phật ra đời chỉ thuyết một pháp hoặc không nói pháp. Nay nói ba thừa, nên nói là ít có. Ứng là nghĩa hưng khởi, ở chứng, ứng đương cơ, ứng khế lí. Tùy theo căn khí mà nói pháp. Khế ứng với căn pháp tướng nên nói như vậy. Căn tánh chúng sanh có thượng trung hạ. Tổng biết nhân quả tứ đế nhiễm tịnh. Do thấp kém nên gọi là đắc Thanh văn. Tổng biết nhân quả mười hai nhân duyên sanh tử là hơi trội hơn gọi đắc Duyên giác. Có thể hành nhị lợi, tướng chung riêng đều biết, tu lục độ, rốt ráo thành Phật thì gọi là Bồ-tát, sẽ thành tựu chủng trí. Bích-chi-ca Phật-đà, Hán dịch là Độc giác, gọi tắt là Bích-chi-phật.
-Kinh: “Lại có Phật… họ là Phả-la-đọa”.
-Huyền tán: Phần thứ hai nói rõ về hậu thắng diệu để đáp. Luận gọi là hiện thấy nhân thắng diệu. Vì Chư Phật, Bồ-tát tự thị hiện ra danh tánh thọ dụng thù thắng nên gọi là thắng diệu. Trong văn có tứ diệu, trong đây thì có hai:
- Là đồng diệu.
- Là tánh đồng diệu.
Phả-la-đọa: là một họ trong mười tám họ của Bà-la-môn.
-Kinh: “Di-lặc nên biết… sơ trung hậu thiện”.
-Huyền tán: Phần này có hai diệu: Một là đồng hiệu diệu. Hai là pháp đồng diệu. Lược nói có ba thiện mà gồm thâu cả bảy đức.
-Kinh: “Thân tối hậu của Phật… có tám vương tử”.
-Huyền tán: Đoạn thứ ba này dựa theo trình bày việc đồng để đáp. Có năm nhân:
- Nhân thọ dụng đại.
- Nhân nhiếp lấy Chư Phật, xoay bánh xe.
- Nhân Như lai pháp luân thiện bền chắc, chân thật.
- Nhân năng tiến nhập.
- Nhân nhớ nghĩ.
Ở trong đây có hai: Một phần đầu Phật ở đại đạo tràng nói pháp.
Bốn phần sau là nhân hành hóa sau khi Phật diệt độ.
Nhân thọ dụng: Luận chép: Lúc ấy, vương tử thọ lạc thắng diệu, mỗi vị đều xả bỏ mà đi xuất gia. Lại đại chúng kia lúc ấy chấp nhận không sanh tâm nhàm mỏi. Đây giải thích là nhân thọ dụng. Do đại ý trong văn có hai thọ dụng:
- Tại gia thọ dục lạc.
- Xuất gia thọ pháp lạc.
Văn này có bốn:
- Nói tướng đồng với nay.
- Tuyên bố diệt khác tức.
- Thành Phật thọ ký.
- Thị hiện nhập Niết-bàn. Thị hiện tướng đồng với nay có sáu. Không có phần tựu đầu thành tựu. Sáu pháp còn lại đồng với việc ở phẩm tựa này. Phần thứ nhất giống với phần chúng thành tựu ngày nay. Phần thứ hai nói Nhật Nguyệt Đăng Minh trở xuống đồng với thời thành tựu ngày nay. Đoạn thứ ba thì giống với uy nghi thành tựu ngày nay.
Đoạn thứ tư: Bấy giờ Đức Như lai phóng ánh sáng từ giữa hai đầu chân mày đồng với phần thuyết nhân thành tựu ngày nay.
Đoạn thứ năm: Di-lặc nên biết… Bây giờ trong hội có hai mươi ức Bồ-tát cũng như nay muốn nghe thành tựu.
Đoạn thứ sáu: Có Bồ-tát tên là Diệu Quang, nay là phần đáp thành tựu. Trong phần đồng với chúng thành tựu có hai:
- Thế tục.
- Xuất gia.
Ở thế tục có ba:
- Nêu việc có con.
- Nêu tám tên gọi.
- Nói Vua hóa độ.
Đây nói phần đầu: Pháp nhĩ như thế trước phải có con, sau mới xuất gia. Vì hàng phục sự thọ lạc ở thế gian nên thị hiện cho thấy sự dục lạc không đáng quý, nói lên Đức Phật có đầy đủ các đức của trượng phu.
-Kinh: “Một tên Hữu ý cho đến tám tên là Pháp ý”.
-Huyền tán: Đây là lược nêu tám tên chia làm bốn cặp:
- Cặp Đại trí đại bi .
- Cặp Liễu hữu liễu không.
- Cặp Tiến thiện phá ác.
- Cặp Đạt ngụy biết chân.
-Kinh: “Tám vị vương tử cho đến mỗi vị thống lãnh bốn thiên hạ”.
-Huyền tán: Đây là nói vua hóa độ. Không một thế giới nào có hai vị luân vương. Vì sao nay lại nói lược mỗi vị lãnh xuất bốn thiên hạ. Nay giải thích tám người con nối nhau thống lãnh , chẳng phải là cùng lúc.
Nhưng theo nghĩa chung thì vào thời kiếp giảm Phật ra đời, kiếp tăng thì Vua Chuyển luân ra đời. Làm sao vì Phật kia có con mà làm Chuyển luân vương”. Đây là ứng với nối tiếp vua chuyển luân làm vua ở bốn châu thiên hạ. Như Phật Thích-ca làm Vua Kim luân , không phải chánh đã thọ ký, kiếp giảm dần. Do đây mà dần tăng lên tám muôn tuổi thì Nhương Khư mới xuất hiện. Đến kiếp thứ mười giảm thì Phật Di-lặc ra đời. Bậc luân vương tuổi thọ lâu dài cho nên gặp Phật Di-lặc. Hoặc Báo thân Phật và Hóa thân Phật khác nhau. Báo Phật chưa hẳn ở kiếp giảm xuất hiện. Có thể làm chuyển luân và có con. Diệu Quang hóa độ tám người con tu hành bền chắc đạo Bồ-đề đắc quả Bát địa. Cho nên biết rằng Báo thân Phật cũng là Bồ-tát. Trước nói kinh Vô Lượng Nghĩa vì Bồ-tát đã xong, kế vì Thanh văn sau nói pháp hoa. Như Phật Cổ Âm Vương, A-di-đà Phật đều có vợ con.
-Chánh kinh: “Các vương tử… đến… cũng theo vua cha xuất gia”.
-Huyền tán: Phần này nói về xuất gia có ba:
- Hình tướng tùy theo bạn chân thật.
- Hành xuất trong trần gian.
- Gặp được duyên lành, tu phước tuệ bền chắc.
Đây nói về phần đầu: Bỏ ngôi vị luân vương như người giàu cởi bỏ giày dép, hướng đến xuất gia như người nghèo gặp của báu, khóang đạt không nương tựa, từ bỏ ràng buộc.
-Kinh: “Phát ý Đại thừa cho đến đều làm Pháp sư”.
-Huyền tán: Hành xuất trong cõi trần. Đã phát đại tâm, thường siêng năng giữ giới. Có thể giảng nói diệu lý đều làm Pháp sư. Phát tâm là trụ định. Phạm hạnh là giữ giới. Pháp sư là bậc đầy đủ trí tuệ Ba Tạng.
-Kinh: “Đã trồng nhiều gốc lành đối với ngàn muôn vị Phật”.
-Huyền tán: Được gặp duyên lành, tu phước tuệ bền chắc.
-Kinh: “Lúc ấy Nhật nguyệt cho đến Phật sở hộ niệm”.
-Huyền tán: Thứ hai là nói giống thời thành tựu nay.
Hễ nói Pháp hoa thì trước nói kinh Vô Lượng Nghĩa, nên gọi là thời đến, thị hiện vì Bồ-tát mà nói pháp.
-Kinh: “Nói kinh này rồi cho đến thân tâm bất động”.
-Huyền tán: Phần thứ ba là đồng với uy nghi thành tựu ngày nay.
Có ba:
- Phật nhập định.
- Khí thế gian.
- Hữu tình thế gian.
Đây nói phần đầu.
-Kinh: “Bấy giờ trời mưa cho đến sáu thứ rung chuyển”.
-Huyền tán: Đây là nói về khí thế gian.
-Kinh: Bấy giờ ở trong hội cho đến nhất tâm quán Phật.
-Huyền tán: Là nói về hữu tình thế gian.
-Kinh: “Bấy giờ Như lai cho đến là cõi nước của Chư Phật”.
-Huyền tán: Phần thứ tư đồng với nhân nói thành tựu. Có ba:
- Phát ra ánh sáng.
- Chiếu cảnh.
- Chỗ thấy.
Như chỗ thấy ở đây chính là cõi Phật.
-Kinh: “Di-lặc nên biết cho đến thích muốn nghe pháp”.
-Tán Thứ năm là thành tựu muốn nghe pháp. Có hai:
- Thích muốn nghe pháp
- Muốn biết nhân duyên phát ra ánh sáng.
Đây nói phần đầu:
Hỏi: Vì sao Đức Phật Thích-ca phát ra ánh sáng hiện điềm lành. Bốn chúng sanh nghi, thích nghe pháp, biết nhân duyên Phật phóng ánh sáng. Phật Đăng Minh nói pháp là nói Bồ-tát không giống như ngày nay.
Đáp: Đây là nương vào bổn vị nói chung bốn chúng. Phật kia nói phát tâm đều gọi là Bồ-tát. Lại đây nêu ra hạng thấp kém nên chỉ nói bốn chúng. Kia nêu thắng chúng, cho nên nói là Bồ-tát. Như bài tụng ở dưới nói: “Lúc này bốn bộ chúng… cho đến… vì nhân duyên gì”. Do đây mà biết rõ ràng. Lại trong kinh nói tám người con là chúng thành tựu tức nói người trên hết. Lại kia thật là Bồ-tát. Hóa độ thì nói bốn chúng là báo thân hóa độ. Đây thật là bốn chúng tức hóa thân hóa độ.
-Kinh: “Các Bồ-tát cho đến vì nhân duyên gì”.
-Huyền tán: Muốn biết nhân duyên phát ra ánh sáng, suy tìm người đáp.
-Kinh: Bấy giờ có Bồ-tát… tám trăm chúng đệ tử.
*Huyền tán: Thứ sáu đồng với đáp thành tựu ngày nay. Có bốn:
- Quyến thuộc truyền đăng.
- Do đó nói ra kinh này.
- Thời gian dài ngắn.
- Đại chúng an vui
-Kinh: “Bấy giờ Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh cho đến được Phật che chở”.
-Huyền tán: Phần hai do đó nói kinh này.
Phật Thích-ca nói kinh Pháp hoa là do ngài Di-lặc hỏi, ngài Vănthù đáp, Phật Đăng Minh nói pháp hoa là do đại chúng muốn nghe. Diệu Quang đáp lời, cho nên trong bài tụng nói: Phật xuất Tam muội khen Diệu Quang khiến vui mừng tức là. Phật nhân ngài Diệu Quang mà nói kinh Pháp hoa.
Lại Phật Thích-ca nay hóa độ bốn chúng thích nghe Phật. Do ngài Xá-lợi mới nói. Phật Đăng Minh xưa hóa độ Bồ-tát muốn nghe do ngài Diệu Quang mới nói. Nay Phật xuất định ra chính là bảo với Xá-lợiphất. Trong chúng Thanh văn, tùy theo trí tuệ sâu xa, tương ứng với Phật.
Phật kia xuất định liền bảo với ngài Diệu Quang. Trong chúng Bồ-tát tùy theo trí tuệ sâu xa mà với tương ứng Phật. Đây là Thanh văn, kia là Bồ-tát, mà kinh Diệu Pháp Liên Hoa đó cũng gọi là: “Giáo Bồ-tát pháp được Phật che chở”, Danh tự này không khác với kinh Vô Lượng Nghĩa. Nhưng lấy nghĩa thể, lợi ích cho căn cơ đốn và tiệm. Chỗ mong cầu có khác việc hóa thân báo thân cũng khác. Không gọi là Vô Lượng Nghĩa như trước đã có giải thích. Nhưng Phật kia thị hiện hóa độ các Thanh văn cũng không sai. Hoặc nói hóa thân thật sự hóa độ Thanh văn, nói các sự khác cao siêu tức là nói báo thân Phật, cũng không sai vậy.
-Kinh: “Sáu mươi Tiểu kiếp… khoảng thế gian một bữa ăn.
-Huyền tán: Thứ ba là nói thời gian dài ngắn.
Luận giải: Đã dùng ngày tháng làm năm làm kiếp, cho nên gọi là Tiểu. Không thể riêng sanh phân biệt, chỉ là Phật quán căn cơ thuần thục, thích ứng chúng sanh thời gian dài, chúng ưa thích tình sâu cũng có thể thích nghe lâu, tâm rất ưa thích pháp, nên gọi là như khoảng bữa ăn. Như thế tục xem đánh cờ, hoặc nhấc búa bửa củi liền nát.
-Kinh: “Bấy giờ trong chúng cho đến mà sanh lười biếng”.
-Huyền tán: Thứ tư nói về đại chúng an vui. Thọ trì thiền duyệt pháp thực mà sanh an vui. Tận trừ nghiệp buộc thô năng sao có thể sanh ra lười biếng.
Lười biếng cũng có nghĩa mỏi mệt.
-Kinh: “Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh… Vô dư Niết-bàn”.
-Huyền tán: Trên đến nay hợp thì hiện đồng với nay. Đây là phần thứ hai, xướng diệt liền khác Chư Phật nhập diệt không giống như người Nhị thừa. Thị hiện đồng như vậy là nói nhập vào cõi Vô dư. Chỗ ứng hóa đã xong, cho nên ttìm cách xướng diệt độ. Sa-môn có nghĩa là Tức (dừng). Vì đã đắc pháp nên tạm dứng yên, cũng gọi là dứt ác. Chánh gọi là Thật-la-ma-noa, hoặc Thật-ma-na-noa, dịch là công lao, nghĩa là việc tu đạo có nhiều công lao. Bà-la-môn có nghĩa là Tịnh hạnh.
-Kinh: “Bấy giờ có Bồ-tát… liền thọ ký.”
-Huyền tán: Thứ ba, thành Phật thọ ký. Có hai: Nêu tên là Thọ kí
Cùng làm các điều thiện nên gọi là Đức tạng.
Kinh: “Bảo chư Tỳ-kheo… Tam Phật-đà.”- Tán Đây là phần thọ ký vậy.
Đa-đà có nghĩa là Như. A-già độ là nghĩa Lai. A-la-ha có nghĩa là ứng. Tam có nghĩa là chánh. Mạo có nghĩa là đẳng.
Lại tam có nghĩa là chánh. Phật-đà có nghĩa là Giác. Tức là Như lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Trong mười hiệu là ba hiệu đầu.
Kinh Tăng Nhất A-hàm nói: Phật bảo Tỳ-kheo. Chư Phật ra đời ắt có năm việc:
- Xoay bánh xe.
- Độ cha mẹ.
- Người vô tín lập ra tín địa.. Chưa phát ý Bồ-tát. Khiến phát 5. Được thọ kí làm Phật tương lai.
Trong đây cũng vậy. Ba hiệu của Phật phần nhiều nương vào ba đức: Đoạn đức, ân đức, trí đức.
-Kinh: Phật thọ ký rồi… nhập vào Vô dư Niết-bàn.
-Huyền tán: Phần thứ tư là thị hiện nhập Niết-bàn. Vì sao nhập
diệt phải giữa đêm. Là ở trong đêm sanh tử chứng đắc vắng lặng, như kinh Niết-bàn nói.
-Kinh: “Sau khi Phật diệt độ… vì người giảng nói.”
Huyền tán: Trên hợp là nhân thọ dụng đại khi Phật tại thế giảng nói, nay trở xuống nói bốn nhân hành hóa sau khi Phật diệt độ, có bốn, đây chính là nhân nhiếp lấy xoay bánh xe của Chư Phật.
Luận chép: Sau khi Phật diệt độ trong vô lượng thời mà thuyết. Giáo hóa khiến cho tâm chúng sanh bền chắc, liền nhập vào Bát địa. Bền chắc nghĩa là lui sụt. Nếu không như thế thì sao ngày nay thành Phật hoặc nhập vào Sơ địa, đắc tín bất hoại nên gọi là bền chắc.
-Kinh: “Chư vương tử… đều thành Phật đạo”.
-Huyền tán: Phần thứ tư là nhân năng tiến nhập.
Luận: Các vị vương tử kia đắc quả Đại Bồ-đề. Cúng dường là tu tài pháp, Chư Phật là duyên lành được gặp, cần có duyên lành mới tu sâu diệu hạnh thành quả vị Phật.
-Kinh: “Vị thành Phật cuối cùng tên là Nhiên Đăng.”- Huyền tán: Nhân nhớ nghĩ thứ tư.
Luận chép: vì người nói pháp để cho họ đạt được lợi ích. Văn chia làm hai:
- Tám vị vương tử thành Phật.
- Tám trăm đệ tử thành Phật.
Đây nói phần đầu.
Theo lý lẽ ra văn này thuộc phần nhân tiến nhập trước. Nhưng vì riêng nói việc thành Phật, nên là hợp nhập ở đây.
– Kinh: “Tám trăm đệ tử… tên là Cầu Danh.” – Huyền tán: Nói tám trăm đệ tử thành Phật. Có hai:
- Nhân nhiễm.
- Nhân Tịnh.
Trong diệu nghiệp không thuần, ngoài tham nhiều tiếng khen, nên gọi là Cầu danh.
Luận: Bồ tát ấy tên Cầu Danh là thị hiện biết rõ quá khứ. Nếu không như thế thành ra khiển trách lỗi người.
-Kinh: “Người này cũng vì… tôn trọng khen ngợi.”
-Huyền tán: Đây nói về nhân, tịnh gieo trồng cả phước và tuệ được gặp duyên tốt, tu tập ba nghiệp, cúng dường tài pháp. Thân cung kính ý thì tôn trọng, ngữ thì khen ngợi. Luận chép: Gieo trồng căn lành lại thị hiện đắc đầy đủ pháp vị.
-Kinh: “Di-lặc nên biết… là thân Ngài đó.
-Huyền tán: Trên đáp về việc đồng. Dưới đáp về việc tức xưa là nay. Tự thân đã đật đến sự nhân. Luận chép: Vì tự thân ngài Văn-thù thọ lạc thắng diệu. Trong đây có hai: Một là người, hai là pháp. – Kinh: “Nay thấy điềm lành này… Phật sở hộ niệm.” – Huyền tán: Đây là phần đáp tổng kết.
-Kinh: “Bấy giờ ngài Văn-thù-sư-lợi… khiến thể nhập vào trí tuệ Phật.”
-Huyền tán: Dưới có bốn mươi ba bài tụng. Tụng phần nêu bày sự riêng xưa tức nay, không tụng hai nhân đầu. Phần tiếp có hai hàng tụng không nhập vào trong lời đáp, phần thứ ba là khuyên chúng cần nên biết, chẳng phải tụng nghĩa trước. Do đây mà lại chia ra làm hai:
- Bốn mươi bài tụng đầu nêu rõ các sự riêng.
- Ba bài tụng sau tụng việc xưa tức nay.
Phần Văn xuôi nêu sự riêng có bảy nhân, chia làm ba. Nay không tụng. Tiếp lại nêu nhân thắng diệu của Chư Phật. Cho nên tụng sáu nhân, nhưng chia ra làm hai: Hai hàng tụng đầu tụng về tán dương điều ít có. Ba mươi tám hàng tụng sau tụng về trình bày sự đồng. Trong phần tán dương điều có cũng có bốn: Hai câu đầu tụng thời, hai câu kế tụng danh, một câu tụng pháp, ba câu sau tụng sanh sự lợi ích.
-Kinh: “Lúc Phật chưa xuất gia… Phật muốn nói Pháp Hoa”.
-Huyền tán: Ba mươi bài tụng trình bày việc đồng sự, trong đây có năm nhân chia ra làm hai:
Hai mươi chín hàng tụng đầu tụng nhân thọ dụng đại khi Phật tại thế tuyên dương.
Chín hàng sau tụng bốn nhân còn lại, hành hóa sau khi Phật nhập diệt. Trong phần đầu hai mươi chín hàng lại chia làm bốn đoạn:
Hai mươi hàng rưỡi nêu tướng đồng như bây giờ. Bốn hàng kế là tụng xướng diệt liền khác. Hai hàng rưỡi tiếp tụng đương lai, được thọ thành Phật. Hai hàng tụng cuối tụng hiện nhập Niết-bàn.
Trong hai mươi hàng rưỡi tụng đầu lại chia làm sáu:
- Một hàng chúng thành.
- Một hàng thời thành.
- Hai hàng rưỡi tụng uy nghi thành.
- Mười hàng rưỡi tụng nhân thuyết thành.
- Một hàng rưỡi tụng muốn nghe thành.
- Bốn hàng cuối tụng đáp thành.
Đây nói về phần đầu.
Hai câu trên là tụng về thế tục. Hai câu sau là tụng xuất gia.
-Kinh: “Phật nói kinh Đại thừa… mà rộng phân biệt.”- Huyền tán: Tụng thời thành tựu.
-Kinh: “Phật nói kinh này rồi… tên kinh là Vô Lượng Nghĩa.”
-Huyền tán: Hai hàng rưỡi tụng. Trong phần oai nghi thành có hai: Một hàng tụng nhập định. Một hàng rưỡi tụng khí thế gian và hữu tình thế gian.
-Kinh: “Trời mưa hoa Mạn-đà… tức thời đại rung chuyển.”
-Huyền tán: Tụng khí thế gian và hữu tình thế gian. Trong đây lại có năm: nhập định, mưa hoa, tạo âm nhạc, cúng dường, động địa.
Đây cùng với văn Trường hành trước sau có không rộng lược không đồng.
“Tất cả cõi Phật tức thời có sự rung chuyển lớn!” Cũng chỉ có cõi Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh bị rung chuyển, không phải cả mười phương. Trước đây nói: Mà cõi này sáu phen rung chuyển.” Nay ở nước của Phật Đăng Minh tất cả đều rung chuyển. Báo thân hóa thân chẳng phải một nên nói Chư Phật.
-Kinh: “Phật phát ra ánh sáng giữa chặn mày… một muôn tám ngàn cõi Phật.”
-Huyền tán: Mười hàng tụng rưỡi nói về nhân thuyết thành tựu. Có ba: Hai câu phát ra ánh sáng. Hai câu chiếu cảnh. Chín hàng tụng rưỡi tụng như chỗ thấy nay là Chư Phật cõi nước. Đây nói hai tụng đầu.
-Kinh: “Từ câu: Bày nghiệp báo sanh tử của tất cả chúng sanh,” trở xuống.
-Huyền tán: Chín hàng tụng rưỡi: Như chỗ nay thấy có năm:
- Nửa hàng tụng đầu tụng chúng sanh sáu đường.
- Ba hàng tụng thấy Phật.
- Một hàng tụng nghe pháp.
- Một hàng tụng thấy bốn chúng.
- Bốn hàng tụng thấy Bồ-tát, không tụng lúc Phật nhập diệt xây tháp.
Chữ xứ là qủa báo nơi đến, là nơi nghiệp nhân trở về. Hoặc xứ còn gọi là đạo lý. Do nhân thiện mà cảm quả báo thiện. Nhân ác cảm quả, ác là có đạo lý đúng. Hoặc xứ còn gọi là xứ sở là nơi thọ báo thiện ác.
-Kinh: “Có thấy cõi nước Chư Phật… do đây mà Phật phát ra ánh sáng.”
-Huyền tán: Ba hàng tụng thấy Phật, chia làm ba:
- Thấy cõi Tịnh.
- Thấy cúng dường.
- Chánh thấy Phật.
Phật Thích-ca phóng ánh sáng đều như sắc vàng. Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh thì màu sắc như lưu ly, pha lê. Vì muốn hiển bày giáo pháp Đại thừa thuần nhất nên chỉ có sắc vàng. Các công đức đều đầy đủ nên đủ loại màu sắc, cùng chiếu sáng.
Tiếng Phạm là Phệ lưu ly, dịch lược là lưu ly, có nhiều màu sắc.
Phả-chi-ca, dịch là Thủy tinh. Cũng gọi là thủy ngọc, hoặc gọi là bạch châu, dịch pha lê là sai. Luận Trí độ chép: Lấy ra từ trong hang động núi, qua một ngàn năm tuyết phủ hóa thành pha lê”. Ở Tây vực đất khô nóng không có tuyết, sao lại có vật hóa thành pha lê. Đây là chỉ cho một loại đá, nơi nơi đều có.
-Kinh: “Và thấy các trời người… đoan nghiêm thật mầu nhiệm”.
-Huyền tán: Trong hai hàng tụng này hàng đầu thấy cúng dường, hàng sau thấy Phật.
-Kinh: “Như trong tịnh lưu ly… giảng nói nghĩa sâu mầu”.
-Huyền tán: Đây nói nghe pháp.
Phật phát ra ánh sáng chiếu sáng, hoặc các sắc ánh sáng chiếu Phật. Ở phương này từ xa trông thấy trong suốt như lưu ly hiện ra thân tượng vàng nói pháp.
-Kinh: Mỗi mỗi cõi Phật cõi nước… đều thấy đại chúng kia”.
-Huyền tán: Đây nói nhìn thấy bốn chúng.
-Kinh: “Hoặc nhìn thấy chư Tỳ-kheo… nói pháp cầu Phật đạo”.
-Huyền tán: Bốn hàng tụng này là thấy Bồ-tát. Các loại nhân duyên, tín giải, tướng mạo, hành Bồ-tát đạo chỉ tụng tín giải và loạn tu hành. Một hàng tụng về cần, giới dục là để nói về tại gia xuất gia đều hành Bồ-tát hạnh. Cho nên nói Tỳ-kheo hoặc xưng là Bồ-tát, tinh tấn sách tấn. Giới là căn bổn của học, nên phải học đầu tiên. Một hàng tụng thí, nhẫn. Nói thí, nhẫn chẳng phải một mà có nhiều loại. Một hàng tụng về thiền định, một hàng tụng về trí tuệ.
-Kinh: “Bấy giờ bốn bộ chúng…. Là vì nhân duyên gì?
-Huyền tán: Một hàng rưỡi tụng phần thứ năm muốn nghe thành tựu. Trong văn văn xuôi nói có hai mươi ức Bồ-tát thích nghe pháp. Đây nói bốn bộ chúng, tức cùng hiện rõ. Trước y theo phát tâm. Đây nói chưa phát tâm.
-Kinh: “ Đấng, Trời, Người tôn phụng… chỉ ông chứng biết”.
-Huyền tán: Là đáp thành tựu. Văn văn xuôi nói bốn nhân; văn này có hai: Hai hàng tụng này là nói nguyên nhân nói kinh này. Hai hàng tụng sau là nói thời gian dài ngắn. Lược không có truyền đăng quyến thuộc, đại chúng an vui. Chữ thích là nghĩa gần, mới đầu. Vừa từ định khởi dậy có thể dẫn dắt chúng sanh đến quả vị Bồ-đề. Dùng trí tuệ xuất thế chiếu đạt cả chân tục thì gọi là thế gian nhãn (mắt thế gian).
-Kinh: “Thế tôn đã ngợi khen… đều có thể thọ trì.
-Huyền tán: Nói thời gian dài ngắn.
-Kinh: “Phật nói kinh Pháp Hoa… sẽ vào cõi Niết-bàn.
-Huyền tán: Tụng trên chỉ các sự tương đồng bây giờ, bốn bài tụng dưới là tụng phần hai: Xướng diệt liền khác (dị). Chia làm ba: Hai hàng tụng về xướng diệt. Một hàng tụng khuyên sở hóa. Một hàng tụng về đại chúng bi não. Hóa duyên đã xong, nay liền nói nhập diệt.
-Kinh: “Ông nhất tâm tinh tấn… ức kiếp một lần gặp”.
-Huyền tán: Đây khuyên chúng sanh được hóa. Tinh tấn là căn bản của pháp xuất thế. Buông lung là nguồn gốc của sanh tử. Lý cần phải tu đoạn. Huống chi đến ức kiếp mới gặp Chư Phật. Nay đã được gặp, lại không tu đoạn sao? Cho nên trong kinh nói:
-Vui thay! Phật ra đời.
Vui thay! Diễn chánh pháp.
Vui thay! Tăng hòa hợp.
Vui thay! Đồng tiến tu.
-Kinh: “Các con của Phật thảy… Phật sao diệt độ mau”.
-Huyền tán: Nói sự bi não của đại chúng.
-Thế gian trở thành trống vắng, chúng sanh hết phước nên sanh bi não.
-Kinh: “Thánh Chủ Pháp Vương… Các ông chớ lo sợ.”
-Huyền tán: Hai hàng rưởi tụng thọ ký đời vị lai sẽ thành Phật. Có hai: Một hàng tụng khuyên chớ lo buồn, vì có Phật đương lai có thể nương vào tu tập. Nói việc đồng nhập diệt là thật thường lạc. Một hàng rưỡi cuối tụng về sự thọ ký.
-Kinh: “Đêm ấy, Phật diệt độ… để cầu đạo vô thượng”.
-Huyền tán: Hai hàng tụng thị hiện nhập Niết-bàn hàng đầu hiện nhập Niết bàn. Một hàng sau thấy mất vị thầy thuốc, tinh tấn mộ đạo.
-Kinh: “Trải qua Diệu Quang ấy… nói rộng kinh Pháp Hoa.”
-Huyền tán: Hai mươi chín hàng tụng trên là tụng nhân được thọ dụng đại Phật ở tại thế, dưới đây có chín hàng tụng, tụng bốn nhân còn lại nói sự hành hóa sau khi diệt độ. Đây chia làm bốn: Một hàng đầu tụng nhiếp lấy nhân xoay bánh xe của Chư Phật. Một hàng tụng nhân thiện, bền vững xoay bánh xe của Như lai. Một hàng tụng nhân có thể tiến nhập. Sáu hàng tụng sau là nhân nhớ nghĩ (ghi nhớ).
-Kinh: “Tám vị Vương tử… rõ thấy vô số Phật.”
-Huyền tán: Đây là phần thứ hai nói về nhân khéo léo bền vững, chân thật xoay bánh xe của Như lai. Nếu nương vào Tiểu thừa thì ở trong tam vô số kiếp trở về trước gặp các vị Phật: Thắng Quan, Nhiên Đăng, Bảo Kế. Thuở sơ kiếp Thích-ca Mâu-ni gặp Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, sau đó gặp bảy muôn năm ngàn vị Phật. Đầu kiếp thứ hai gặp Phật Bảo Kế, lại gặp bảy muôn sáu ngàn vị Phật. Đầu kiếp thứ ba gặp Phật Nhiên Đăng, lại gặp bảy muôn bảy ngàn vị Phật. Kiếp thứ ba tu đủ một trăm kiếp tu hạnh nghiệp tướng hảo. Đầu tiên gặp Phật Thắng Quan, tức là Phật Tỳ-bà-thi. Do quỳ xuống chân Phật khen ngợi mà vượt qua chín kiếp. Cho nên trong kinh thường nói chín mươi mốt kiếp thuở quá khứ có Phật Tỳ-bà-thi. Nếu nương vào Đại thừa, thì phần thứ tư nương vào sự cúng dường Bồ-tát, tám hằng hà sa Chư Phật, nay mới hiểu nghĩa mười sáu phần của Niết-bàn, xưa nay đều nói ở trong Thập Địa. Nay cũng chưa nhất định chỉ nói tám hằng hà sa, hà tất phải là địa thứ mười. Ngài Chân-đế giải thích:
-Kiếp đầu gặp năm hằng sa Phật. Kiếp thứ hai gặp sáu hằng. Kiếp thứ ba gặp bảy hằng hà sa Chư Phật. Cho nên nay nói là đắc nhập vào Bát địa, vẫn nói thấy vô số Chư Phật.
-Kinh: “Cúng dường Chư Phật rồi…. việc thứ lớp thọ ký.”
-Huyền tán: Đây là phần thứ ba nói nhân năng tiến nhập, sau đó thành tựu quả Phật.
-Kinh: “Đức Phật cuối sau hết… độ thoát vô lượng chúng.”
-Huyền tán: Đây có sáu hàng tụng về nhân nhớ nghĩ. Đây chia làm hai:
Một hàng tụng nhớ về tám vị Vương tử, năm hàng tụng sau là nhớ về tám trăm đệ tử.
-Kinh: “Là Diệu Quang Pháp Sư …. gọi tên là Cầu danh.”
-Huyền tán: Hai hàng rưỡi đầu là tụng về nhân ức nhiễm. Hai hàng rưỡi sau là tụng nhân ức tịnh. Đây nói phần đầu, trong năm hàng nhớ tám trăm đệ tử.
-Quí trọng tánh tộc, cho là tôn quý, yêu thích sự lợi dưỡng cho đó là điều trước tiên. Sự tu tập phần nhiều phế bỏ nên gọi là Cầu Danh.
Đầy đủ sáu lỗi như trong văn có thể biết. Giải là mỏi mệt, lạn là lười biếng, mạn là đọa. Thứ hai tham đắm đã được. Thứ ba là cầu lợi danh chưa được. Tộc nghĩa là loại. Thời Chu Lễ thì bốn lữ là tộc. Trịnh thì gọi trăm nhà là tộc.
-Kinh: “Cũng làm các nghiệp thiện cho đến số không có hạn lượng.”
-Huyền tán: Tụng nhân tịnh có hai: Năm câu đầu là nhớ năm nhân tịnh, năm câu sau là nhớ hai quả tịnh.
-Kinh: “Đức Phật kia diệt độ cho đến nay thời chính là Ta.”
-Huyền tán: Bốn mươi bài tụng trên là tụng nêu bày việc riêng. Ba hàng tụng dưới là tụng xưa tức nay có ba: Một hàng đầu tụng về người. Hàng kế tụng về pháp. Hàng sau tụng về kết thành.
-Kinh: “Ta thấy Phật Đăng Minh cho đến muốn nói kinh Pháp Hoa.”
-Huyền tán: Đây tức là pháp.
-Kinh: Tướng nay như điềm xưa cho đến giúp bày nghĩa Thật tướng.”
-Huyền tán: Đây là phần kết thành. Phật phát ra ánh sáng để cảnh tỉnh người có duyên tu tập. Đại chúng thấy điềm lành này càng sanh lòng khát ngưỡng, Phật khởi lên thần thông ở đây là nói lên pháp này không dối. Hiển bày sự tu chứng sâu kín nên gọi là phát ra ánh sáng trợ giúp nghĩa thật tướng.
-Kinh: “Các người nay nên biết cho đến đầy đủ người cầu đạo.”
-Huyền tán: Bốn mươi ba bài tụng trên là tụng lại phần văn xuôi. Hai bài tụng dưới là phần thứ ba trong đại văn khuyên chúng nên biết, Phật nói pháp hôm nay là có hai: Một hàng tụng nêu Phật nói mưa pháp phát sanh mầm đạo khiến tinh tấn tu thiện. Hàng tụng sau nêu Phật nói pháp khiến cho người cầu đạo nghi hoặc đều trừ diệt, đoạn hết điều ác. – Kinh: “Các người cầu ba thừa cho đến khiến hết không còn sót”.
-Huyền tán: Đây là dứt nghi. Hai hàng tụng này kết thúc Phật tuôn mưa pháp lớn, nói pháp lớn.
Viết xong, vào Mùng Tháng Niên hiệu Bảo An năm thứ ba ngày
Tăng Giác Ấn tại chùa Pháp Long.
-Di điểm xong (sửa) vào Ngày 2 Tháng 10 đồng năm tại Chùa Hưng Phước.
-Tăng Giác Ấn ở chùa Pháp Long vì muốn chánh pháp trụ lâu mà làm tả điểm, có thể lấy đây làm kim chỉ nam v.v….