CÁC ĐIỀU LỢI ÍCH TRÌ CHÚ ĐẠI BI VÀ SỰ KỲ DIỆU CỦA MỀN TỲ LÔ
(Thư Học Phật Số 76)
Btg Bảo Đăng

(Tiếp theo Thư Họ Phật kỳ 75)

Cũng trong Kinh ĐẠI-BI, đức QUÁN THẾ-ÂM Bồ-Tát, có lời dạy rằng:

– “Bạch Đức THẾ TÔN,

Con nhớ vô lượng ức kiếp về trước….

Có PHẬT ra đời, hiệu là THIÊN QUANG VƯƠNG TỊNH TRỤ NHƯ LAI. Đức PHẬT ấy vì THƯƠNG NGHĨ ĐẾN CON và TẤT CẢ CHÚNG-SANH.

Nên:

Nói ra môn QUẢNG ĐẠI VIÊN MÃN VÔ NGẠI ĐẠI-BI TÂM ĐÀ-RA-NI.

NGÀI lại dùng tay sắc vàng, xoa nơi đầu con (thọ ký) mà bảo rằng:

– “Thiện Nam Tử, ông nên thọ trì TÂM CHÚ nầy, và vì:

KHẮP TẤT CẢ CHÚNG SANH TRONG CÕI NƯỚC Ở ĐỜI VỊ LAI

Mà:

LÀM CHO HỌ ĐƯỢC SỰ LỢI ÍCH, AN VUI LỚN.

Lúc đó,

Con mới ở ngôi SƠ ĐỊA (Bồ Tát ngôi Hoan-hỶ đỊa, trong hàng THẬP ĐỊA Đại BỒ-Tát), vừa nghe xong Thần chú nầy, liền:

Chứng vượt lên ĐỆ BÁT ĐỊA (BẤt ĐỘng-ĐỊa thứ 8 của hàng THẬP ĐỊA Đại BỒ-Tát).

Bấy giờ Con rất vui mừng, liền phát thệ rằng:

– Nếu trong đời vị-lai, Con có thể làm lợi-ích, an-vui cho tất cả chúng sanh với “THẦN CHÚ” nầy, thì xin khiến cho:

– THÂN CON LIỀN SANH RA NGÀN TAY, NGÀN MẮT.                                

Khi Con phát thệ rồi, thì:

–  NGÀN TAY, NGÀN MẮT ĐỀU HIỆN ĐỦ NƠI THÂN.

(Phụ giảng:

(Đây là nguyên do chánh vì sao mà Đức QUÁN THẾ-ÂM Bồ-Tát có đến MỘT NGÀN CÁNH TAY, và MỘT NGÀN CON MẮT.

Và từ đó đến nay (từ đời Đức PHẬT THIÊN-QUANG VƯƠNG TỊNH TRỤ NHƯ-LAI đến đời Đức PHẬT THÍCH CA MÂU NI), con vẫn:

TRÌ TỤNG THẦN CHÚ NẦY, CHƯA HỀ QUÊN BỎ 1.

Do sức TRÌ TỤNG ấy, con không còn CHỊU THÂN BÀO THAI (tức là luôn được HOÁ SANH nơi THAI SEN), thường: – GẶP PHẬT NGHE PHÁP.

Nếu có vị Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di hay kđồng nam, đồng nữ nào, muốn:

TỤNG TRÌ CHÚ NẦY.

Trước tiên phải:

PHÁT TÂM TỪ BI ĐỐI VỚI CHÚNG SANH.

Và sau đây, y theo con mà phát nguyện rằng:

– “Nam mô ĐẠI-BI QUÁN THẾ-ÂM,

Nguyện con mau biết tất cả PHÁP.

– Nam mô ĐẠI-BI QUÁN THẾ-ÂM,

Nguyện con mau được “MẮT TRÍ-HUỆ”.

– Nam mô ĐẠI-BI QUÁN THẾ-ÂM,

Nguyện con: – MAU ĐỘ CÁC CHÚNG-SANH.

– Nam mô ĐẠI-BI QUÁN THẾ-ÂM,

Nguyện con SỚM ĐƯỢC PHƯƠNG-TIỆN KHÉO 2

– Nam mô ĐẠI-BI QUÁN THẾ-ÂM,

Nguyện con mau lên thuyền BÁT-NHÃ.

– Nam mô ĐẠI-BI QUÁN THẾ-ÂM,

Nguyện con sớm được qua biển KHỔ 3

– Nam-mô ĐẠI-BI QUÁN THẾ-ÂM,

Nguyện con mau được GIỚI, ĐỊNH, ĐẠO.

– Nam mô ĐẠI-BI QUÁN THẾ-ÂM,

Nguyện con sớm lên non NIẾT-BÀN.

– Nam mô ĐẠI-BI QUÁN THẾ-ÂM,

Nguyện con mau về nhà VÔ-VI.

– Nam mô ĐẠI-BI QUÁN THẾ-ÂM,

Nguyện con sớm đồng thành PHÁP-TÁNH 5

NGẠ-QUỶ liền được tự NO ĐỦ.

– Nếu con hướng về CHÚNG TU-LA,

TU-LA Tâm ác tự ĐIỀU-PHỤC.

– Nếu con hướng về CÁC SÚC-SANH,

SÚC-SANH tự được TRÍ-HUỆ LỚN.6

Khi:

Phát lời NGUYỆN ấy xong, chí tâm xưng danh hiệu của con (Tức là niệm câu: – Nam mô QUÁN THẾ-ÂM BỒ-TÁT (niệm càng nhiều càng tốt). Lại chuyên NIỆM DANH-HIỆU BỔN-SƯ CON là:                  

Đức A-DI-ĐÀ NHƯ-LAI (tức là niệm câu: – Nam-mô A-DI-ĐÀ PHẬT)

Kế đó,

TIẾP TỤNG TRÌ ĐÀ-RA-NI THẦN CHÚ NẦY!

Nếu chúng sanh nào trong một ngày đêm:

TỤNG NĂM  BIẾN CHÚ “ĐẠI-BI”

Thì sẽ:

DIỆT-TRỪ ĐƯỢC TỘI, NGHIỆP NẶNG TRONG NGÀN MUÔN ỨC KIẾP SANH-TỬ 7

Vì thế cho nên:

Thần chú QUẢNG-ĐẠI VIÊN-MÃN, VÔ-NGẠI ĐẠI-BI, TÂM-ĐÀ-RA-NI nầy, thần lực không thể nghĩ bàn.

Vì sự lợi-ích cho tất cả Phật tử, hiện tại và tương lai….

Mà Tôi (Viện Chủ) mới quyết định hướng dẫn cho chư Phật tử nơi Đạo tràng MẬT-TỊNH tại PHÁP-HOA TỰ Tucosn, Arizona nầy, từ nay trở đi nên lấy Thần chú QUẢNG-ĐẠI VIÊN-MÃN, VÔ-NGẠI ĐẠI-BI, TÂM ĐÀ-RA-NI nầy làm chánh trong con đường tu MẬT-TỊNH của mình.

Bởi vì,

Người trì tụng ĐÀ-RA-NI nầy, khi thốt ra lời nói chi, hoặc THIỆN hoặc ÁC, tất cả:

– Thiên MA, Ngoại đạo,

– Thiên, Long, Quỷ, Thần.

Đều:

– Nghe thành ra tiếng PHÁP-ÂM THANH-TỊNH.

Đối với kẻ ấy H sẽ:

– Sanh lòng cung kính, tôn trọng như PHẬT.

Người nào trì tụng ĐÀ-RA-NI nầy, nên biết:

1/- Người ấy chính là TẠNG PHẬT THÂN.

Vì:  99 ức hằng hà-sa chư PHẬT thảy đều yêu quý .

(Phụ-chú:

(Vì thần chú ĐẠI-BI nầy do 99 ức Hằng hà-sa chư PHẬT quá khứ nhập vào trong CHÁNH-ĐỊNH mà tuyên thuyết ra, nên có người nào tin ưa, quý trọng, trì tụng CHÚ nầy Quý NGÀI (chư PHẬT) thảy đều yêu quý, là như vậy).

2/- Nên biết:

– Người ấy chính là TẠNG QUANG-MINH.

Vì:  Ánh sáng (ánh quang minh) của tất cả NHƯ-LAI đều chiếu đến nơi mình.

3/- Nên biết:

– Người ấy chính là TẠNG TỪ-BI,

Vì: Thường dùng ĐÀ-RA-NI (nầy) cứu độ chúng sanh .

4/- Nên biết:

– Người ấy chính là TẠNG DIỆU PHÁP

Vì: Nhiếp hết tất cả các môn ĐÀ-RA-NI (Thần chú).

5/- Nên biết:

– Người ấy chính là TẠNG THIỀN ĐỊNH

Vì: Trăm ngàn TAM-MUỘI thảy đều hiện tiền.

6/- Nên biết:

– Người ấy chính là TẠNG HƯ-KHÔNG

Vì: Hằng dùng KHÔNG HUỆ quán sát chúng sanh.

7/- Nên biết:

– Người ấy chính là TẠNG VÔ-UÝ

Vì: Thiên, Long, Thiện Thần THƯỜNG THEO HỘ-TRÌ.

8/- Nên biết:

– Người ấy chính là TẠNG DIỆU-NGỮ.

Vì: Tiếng ĐÀRANI trong miệng tuôn ra BẤT TUYỆT.

9/- Nên biết:

– Người ấy chính là TẠNG THƯỜNG-TRỤ

Vì: Tam tai, Ác kiếp KHÔNG THỂ LÀM HOẠI.

10/- Nên biết:

– Người ấy chính là TẠNG GIẢI-THOÁT

Vì: Thiên MA, Ngoại đạo KHÔNG THỂ BỨC NÃO.

11/- Nên biết:

– Người ấy chính là TẠNG DƯỢC VƯƠNG.

Vì: Thường dùng ĐÀRANI (nầy) TRỊ BỆNH CHÚNG-SANH.

12/- Nên biết:

– Người ấy chính là TẠNG THẦN-THÔNG,

Vì: Tự-tại dạo chơi 10 phương cõi PHẬT.

Công đức Người ấy khen ngợi KHÔNG THỂ CÙNG.

(Phụ-chú:

Vì các điều đại lợi-ích nêu trên và (nơi các trang trước) nên tôi (Viện-chủ) thành-thật mong muốn và:

KHUYẾN KHÍCH CHƯ PHẬT TỬ KHẮP NƠI, PHẢI NÊN CỐ GẮNG:

Và:  – TINH TẤN,

Mà: – TRÌ CHÚ ĐẠI-BI đừng buông bỏ.

Nếu muốn:

Được ĐẠI LỢI-ÍCH trong đời sống HIỆN TẠI, lẫn TƯƠNG-LAI và MÃI-MÃI VỀ SAU trong cuộc đời của mình, rồi dùng đấy mà:

CỨU TRỪ KHỔ NẠN (cùng đem lại những lợi-ích tốt đẹp) CHO MÌNH, VÀ TRỪ NHỮNG THỨ PHIỀN NÃO khác CHO TẤT CẢ CÁC LOẠI CHÚNG-SANH.

 Lành vậy thay !!

NAM MÔ QUÁ KHỨ VÔ LƯỢNG KIẾP:

CHÁNH PHÁP-MINH NHƯ-LAI,

hiện tiền QUÁN THẾ-ÂM TỰ-TẠI BỒ-TÁT MA-HA TÁT  (3 lần, 3 lạy).

Trước hết,

Sao gọi là cỨu trỪ khỔ nẠn cho mình?

Bởi vì trong Kinh ĐẠI-BI, đức QUÁN THẾ-ÂM BỒ-TÁT có dạy lời chắc thật rằng:

– “Bạch Đức Thế Tôn,

Nếu các hàng TRỜI, NGƯỜI tụng trì thần chú ĐẠI-BI, thì:

a/- KHÔNG BỊ 15 việc CHẾT XẤU.

Và sẽ được:

b/- 15 CHỖ SANH TỐT.

Thế nào là 15 việc CHẾT XẤU?

Đó là:

 1/- Không bị chết do: – Đói khát, khốn khổ.

 2/- Không bị chết do: –  Gông tù đánh đập.

 3/- Không bị chết do: –  Oan-gia thù địch.

 4/- Không bị chết do: – Giữa quân trận chém giết nhau.

 5/- Không bị chết do: – Cọp, sói cùng các ác thú tàn hại.

 6/- Không bị chết do: –  Rắn, rít độc cắn.

 7/- Không bị chết do: – Nước trôi, lửa cháy. 8

 8/- Không bị chết do: – Phạm nhằm thuốc độc.

 9/- Không bị chết do: – Loài sâu trùng độc làm hại.

10/- Không bị chết do: – Điên cuồng, mê loạn.

11/-Không bị chết do : – Té cây, té xuống núi.

12/- Không bị chết do: –  Bị người ác trù-ếm.

13/- Không bị chết do: – Tà Thần, ác Quỷ làm hại.

14/- Không bị chết do: – Bịnh ác lâm thân. 9

15/- Không bị chết do: – Phi mạng tự hại. 10

Tụng, Trì thần chú ĐẠI-BI:

KHÔNG BỊ 15 VIỆC CHẾT XẤU NHƯ TRÊN!

Còn sao được gọi là 15 chỗ SANH TỐT?

Đó là các việc:

1/- Tuỳ theo chỗ SANH: – Thường gặp đấng Quốc Vương (Vua) hiền lành.

2/- Tuỳ theo chỗ SANH: – Thường ở cõi nước An-lành,

3/- Tuỳ theo chỗ SANH: – Thường gặp thời đại tốt. 11

4/- Tuỳ theo chỗ SANH: – Thường gặp bạn lành.

5/- Tuỳ theo chỗ SANH: – Thân căn thường được đầy đủ. 12

6/- Tuỳ theo chỗ SANH: – Đạo tâm thuần-thục.

7/- Tuỳ theo chỗ SANH: – Không phạm cấm giới.

8/- Tuỳ theo chỗ SANH: – Thường được quyến thuộc hoà-thuận, có ân-nghĩa.

9/- Tuỳ theo chỗ SANH: – Vật-dụng, thức ăn uống thường được đầy đủ.

10/- Tuỳ theo chỗ SANH: – Thường được người cung kính, giúp đỡ.

11/- Tuỳ theo chỗ SANH: – Tiền của, châu báu, không bị kẻ khác cướp đoạt.

12/- Tuỳ theo chỗ SANH: – Những việc mong cầu, đều được toại nguyện.

13/- Tuỳ theo chỗ SANH: – Thường được thấy PHẬT, nghe PHÁP.

14/- Tuỳ theo chỗ SANH: – Thường được Long, Thiên, Thiện Thần thường theo ủng-hộ.

15/- Tuỳ theo chỗ SANH: – Khi nghe chánh Pháp, ngộ-giải nghĩa sâu.

Nếu Kẻ nào trì-tụng chú ĐẠI-BI TÂM ĐÀ RA-NI nầy sẽ được 15:

Chỗ SANH TỐT như thế !!

Cho nên:

Tất cả hàng TRỜI, NGƯỜI đều:

– THƯỜNG NÊN TỤNG, TRÌ,

– CHỚ SANH LÒNG BIẾNG TRỄ.

Khi Đức QUÁN THẾ-ÂM Bồ-Tát nói lời ấy rồi, liền ở trước chúng hội, chấp tay đứng thẳng, đối với chúng sanh khởi lên lòng TỪ-BI, mở mặt mĩm cười, nói chương cú mầu nhiệm: QUẢNG-ĐẠI VIÊN-MÃN, VÔ-NGẠI ĐẠI-BI TÂM ĐÀ RA-NI rằng:

Nam mô Đại-bi Hội-thượng Phật Bồ-tát. (3 lần) o

Thiên thủ thiên  nhãn  vô ngại  đại-bi tâm đà-la-ni.

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da.

Nam mô a rị da bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ-đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa.

Nam mô tất kiết lật đỏa, y  mông  a  rị da, bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà.

Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà tát đa, na ma bà dà, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha.  Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô, kiết mông độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt xa phạt xâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô, ma ra hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ-đề dạ, bồ-đề dạ, bồ-đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha.  Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.

Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.

Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.

Án, tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ ta bà ha, bộ-lâm.13 (5, 7, 21, 49, 108 lần mỗi ngày) o

 

MAHA  KARUNA  DHÀRANI

  1. Namo ratnatrayaya
  2. Namoarya
  3. Avalokiteshavaraya
  4. Bodhisattvaya
  5. Mahasattvaya
  6. Mahakarunikaya
  7. OM !
  8. Savalavati
  9. Sudhanatasya
  10. Namo skritvã namam ãryã
  11. Avalokitashavara lantabha
  12. Namo nilakantha
  13. Srimahapatashami
  14. Sarvadvatashubham
  15. Ashiyum
  16. Sarvasattva namo pasattva namo bhaga
  17. Mabhatetu
  18. Tadyatha
  19. OM! Avaloka
  20. Lokate
  21. Kalati
  22. Ishiri
  23. Mahabodhisattva
  24. SabhoSabho
  25. Mara Mara
  26. Mashi mashi ridhayu
  27. Guru guru ghamain
  28. Dhuru dhuru bhashiyati
  29. Ma ha bhashiyati
  30. Dhara dhara
  31. Dhirini
  32. Shvaraya
  33. Jala jala
  34. Mahabhamara
  35. Mudhill
  36. Ehy ehi
  37. Shinashina
  38. Alashinbalashari
  39. Basha bhasnin
  40. Bharashaya
  41. Huluhulupra
  42. Huluhulu shri
  43. Sarasara
  44. Siri siri
  45. Suru suru
  46. Buddhaya buddhaya
  47. Bodhaya bodhaya
  48. Maitriye
  49. Nilakansta
  50. Trisarana
  51. Bhaya mane
  52. Svaha
  53. Sitaya
  54. Svaha
  55. Maha Sitaya
  56. Svaha
  57. Sitayaye
  58. Shvaraya
  59. Svaha
  60. Nilakanthi
  61. Svaha
  62. Pranila
  63. Svaha
  64. Shrisimhamukhaya
  65. Svaha
  66. Sarvamahasastaya
  67. Svaha
  68. Chakra astaya
  69. Svaha
  70. Padmakesshaya
  71. Svaha
  72. Nilakanthepantalaya
  73. Svaha
  74. Mopholishankaraya
  75. Svaha
  76. Namo ratnatrayaya
  77. Namoarya
  78. Avalokite
  79. Shavaraya
  80. Svaha
  81. OM! Siddhyantu
  82. Mantra
  83. Pataya
  84. Svaha
  85. Brum

BỒ-TÁT thuyết Chú xong….Cõi đất sáu phen biến động 14                

Trời mưa HOA BÁU rơi xuống rải-rác.

– Mười phương chư PHẬT thảy đều vui mừng.

Còn:

– Thiên Ma, Ngoại đạo (Tà đạo) sợ dựng lông, tóc (Quá sợ hải).

– Tất cả chúng hội đều được “Quả chứng” (Chứng đạo)

– Hoặc có Vị chứng quả TU-ĐÀ-HOÀN (Thánh quả)

– Hoặc có Vị chứng quả TƯ-ĐÀ-HOÀN (Thánh quả)

– Hoặc có Vị chứng quả A-NA-HÀM (Thánh quả).

– Hoặc có Vị chứng quả A-LA-HÁN (Thánh quả).

– Hoặc có Vị chứng được BỒ-TÁT Vị như:

– SƠ HOAN HỶ ĐỊA.

– NHỊ ĐỊA (LY CẤU ĐỊA).

– TAM ĐỊA (PHÁT QUANG ĐỊA).

– TỨ ĐỊA (DIỄM HUỆ ĐỊA).

– NGŨ ĐỊA (CỰC NAN THẮNG ĐỊA).

Cho đến:

– THẬP ĐỊA (PHÁP VÂN ĐỊA).

(Phụ chú:

Quả vị THẬP-ĐỊA BỒ-TÁT nầy là cao nhất, chỉ dưới hàng NHẤT SANH BỔ-XỨ BỒ-TÁT (Bồ-Tát một đời nữa sẽ thành PHẬT, như Đức DI-LẶC BỒ-TÁT vậy).

Trên đây là nói về các quả-vị CHỨNG THÁNH trong Đạo PHẬT.

 Còn ở trên cõi TRỜI (SẮC GIỚI) thì:

Khi ấy, Đại PHẠM THIÊN VƯƠNG (Vua của cõi TRỜI SẮC GIỚI), từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y-phục nghiêm chỉnh, chắp tay cung kính bạch với Đức QUÁN THẾ-ÂM Bồ-Tát rằng :

– “Lành thay Đại-Sĩ,

Từ trước đến nay, TÔI đã trải qua vô-lượng PHẬT HỘI, nghe nhiều PHÁP YẾU, nhiều môn ĐÀ-RA-NI, song:

Chưa từng nghe nói: –  CHƯƠNG CÚ THẦN-DIỆU VÔ-NGẠI ĐẠI-BI, TÂM ĐÀ-RA-NI nầy.

Cúi xin ĐẠI-SĨ vì TÔI, nói:

HÌNH-TRẠNG và TƯỚNG-TRẠNG của ĐÀ-RA-NI ấy:

TÔI và ĐẠI CHÚNG đều ưa thích muốn nghe.

QUÁN THẾ-ÂM BỒ-TÁT bảo PHẠM VƯƠNG rằng:

– “ÔNG vì PHƯƠNG TIỆN LỢI-ÍCH cho chúng sanh, nên hỏi như thế. Nay ÔNG khéo nghe. TÔI sẽ vì CÁC ÔNG mà nói lược qua.

Nầy PHẠM VƯƠNG, những TÂM:

  1. Đại Từ-Bi,
  2. Tâm Bình-đẳng.
  3. Tâm Vô-vi.
  4. Tâm chẳng nhiễm trước,
  5. Tâm KHÔNG QUÁN.
  6. Tâm cung-kính.
  7. Tâm khiêm-nhường.
  8. Tâm không tạp-loạn.
  9. Tâm không chấp giữ.
  10. Tâm VÔ-THƯỢNG BỒ-ĐỀ

(là Tâm cầu thành PHẬT QUẢ, ĐỘ TẬN CHÚNG-SANH).

Các thứ  TÂM ấy, đều là TƯỚNG-MẠO của môn ĐÀ-RA-NI nầy.

Vậy ÔNG nên y theo đó mà tu-hành.

PHẠM VƯƠNG thưa:

– “TÔI và ĐẠI CHÚNG hôm nay mới hân hạnh được biết: -TƯỚNG MẠO CỦA MÔN ĐÀ-RA-NI nầy. TỪ ĐÂY CHÚNG TÔI XIN THỌ TRÌ, CHẲNG DÁM LÃNG QUÊN”.

(Đến đây Người Phật tử học PHẬT-PHÁP như chúng ta cảm thấy 2 điều quan trọng trong việc Tu trì chú ĐẠI-BI rằng:

1/- Trước hết là Đức QUÁN-THẾ-ÂM Bồ-Tát, Ngài từ nơi Đức PHẬT THIÊN-QUANG VƯƠNG TỊNH-TRỤ NHƯ-LAI cho đến VÔ LƯỢNG PHÁP-HỘI của vô lượng chư PHẬT về sau và cho đến nay (đời của Đức PHẬT THÍCH CA MÂU-NI) mà Ngài vẫn hằng trì tụng chú ĐẠI-BI nầy CHƯA TỪNG QUÊN BỎ.

Còn:

2/- Trong Pháp Hội BẢO TRANG NGHIÊM nầy, tại núi PHỔ-ĐÀ Sơn (Potala) (nơi miền biển NAM-HẢI)

cho đến đây.

PHẠM VƯƠNG (Vua cõi TRỜI PHẠM THIÊN) cùng đại chúng trong Pháp hội cũng trân trọng nói với Đức QUÁN THÊ-ÂM Bồ-Tát rằng:

– Từ đây chúng tôi xin thọ trì, chẳng dám lãng quên.

Cho nên, Người Phật tử (thuộc hàng phàm phu) như chúng ta đây, chớ nên quên bỏ việc trì tụng chú ĐẠI BI nầy, và cũng chớ nên nói sai lầm rằng :

– “Vì trì tụng chú ĐẠI-BI thấy bị nhiều khảo đảo, điên đão và làm ăn khó khăn, gia đình lục đục quá !! nên BỎ phần trì chú nầy mà chỉ chuyên môn NIỆM PHẬT không thôi, cho dễ dàng làm ăn và bớt bị khảo đảo” !! mà bị lâm vào việc : – Đại sai lầm – không nên (nói như vậy).

Đến đây, Tôi (Thích Hải-Quang) xin lưu ý quý chư HIỀN học PHẬT và các Hành giả tụng trì chú ĐẠI-BI lời rằng: – Bởi vì Chú ĐẠI-BI nầy là một: – CHƯƠNG CÚ THẦN DIỆU

Do:

1/- Chín mươi chín ức (99 x 100.000) hẰng hà sa chư PHẬT đời quá khứ đã thuyết dạy ra.

2/- Do nơi đức PHẬT sau cùng là Đức:

THIÊN QUANG VƯƠNG TỊNH TRỤ NHƯ-LAI dạy lại cho Ngài QUÁN THẾ-ÂM Bồ-Tát.

3/- Do nơi Đức Đại-BI QUÁN THẾ-ÂM BỒ-TÁT (tức là đức PHẬT quá khứ CHÁNH PHÁP MINH NHƯ-LAI) trùng tuyên, thuyết dạy lại cho chúng ta.

4/-  Và được chư:

ĐẠI-BI HỘI-THƯỢNG PHẬT BỒ-TÁT THỦ HỘ.

Cho nên:

Trước khi Hành giả trì tụng đến phần THẦN CHÚ ĐẠI BI bắt buộc phải ĐẢNH-LỄ Thù Ân (báo ơn) lên quý NGÀI qua các lạy như sau :

1/- NHẤT TÂM ĐẢNH LỄ: Quá khỨ CỬu ThẬp CỬu Ức, hẰng hà sa chư PHẬT, THẾ TÔN.

Cập sở thuyết: – QUẢNG ĐẠI VIÊN MÃN, VÔ NGẠI ĐẠI-BI TÂM ĐÀ RA-NI, THẦN DIỆU CHƯƠNG CÚ (1 lạy).

2/- NHẤT TÂM ĐẢNH LỄ: QUÁ KHỨ VÔ LƯỢNG ỨC KIẾP THIÊN-QUANG VƯƠNG TỊNH-TRỤ NHƯ-LAI.

Cập sở thuyết: – QUẢNG-ĐẠI VIÊN-MÃN, VÔ-NGẠI ĐẠI-BI TÂM ĐÀ RA-NI THẦN DIỆU CHƯƠNG CÚ (1 lạy).

3.- NHẤT TÂM ĐẢNH LỄ: QUÁ KHỨ VÔ-LƯỢNG KIẾP CHÁNH PHÁP MINH NHƯ-LAI, HIỆN TIỀN QUÁN THẾ-ÂM TỰ-TẠI BỒ-TÁT MA-HA-TÁT, Ư PHỔ-ĐÀ LẠC CA SƠN (tức là PHỔ-ĐÀ SƠN ở Nam Hải), BẢO TRANG-NGHIÊM ĐẠO TRÀNG.

Cập sở thuyết: – QUẢNG ĐẠI VIÊN-MÃN, VÔ-NGẠI ĐẠI-BI TÂM ĐÀ RA-NI, THẦN DIỆU CHƯƠNG CÚ (1 lạy).

4/- NHẤT TÂM ĐẢNH LỄ: ĐẠI-BI HỘI-THƯỢNG PHẬT BỒ-TÁT (3 lạy, 3 lần)

Sau khi đảnh lễ xong 4 lạy nầy rồi, Hành giả bắt đầu y theo lời QUÁN THẾ-ÂM BỒ-TÁT dạy mà đọc bài PHÁT NGUYỆN như sau:

Nam-mô Đại-Bi QUÁN THẾ-ÂM: -Nguyện Con mau biết tất cả PHÁP.

Nam-mô Đại-Bi QUÁN THẾ-ÂM: -Nguyện Con sớm được mắt TRÍ-HUỆ.

Nam-mô Đại-Bi QUÁN THẾ-ÂM: -Nguyện Con mau độ các chúng-sanh.

Nam-mô Đại-Bi QUÁN THẾ-ÂM: -Nguyện Con sớm được phương-tiện khéo.

Nam-mô Đại-Bi QUÁN THẾ-ÂM: -Nguyện Con mau lên thuyền Bát-nhã.

Nam-mô Đại-Bi QUÁN THẾ-ÂM: -Nguyện Con sớm được qua biển khổ.

Nam-mô Đại-Bi QUÁN THẾ-ÂM: -Nguyện Con mau được Giới, Định, Đạo.

Nam-mô Đại-Bi QUÁN THẾ-ÂM: -Nguyện Con sớm lên non Niết-Bàn.

Nam-mô Đại-Bi QUÁN THẾ-ÂM: -Nguyện Con mau về nhà Vô-vi.

Nam-mô Đại-Bi QUÁN THẾ-ÂM: -Nguyện Con sớm đồng thân Pháp-tánh.

Nếu Con hướng về non đao , Non đao tức thời liền sụp đỗ.

Nếu Con hướng về Lửa, Nước sôi Nước sôi, lửa cháy tự khô tắt.

Nếu Con hướng về cõi Địa-ngục, Địa ngục liền mau tự tiêu tan.

Nếu Con hướng về Loài Ngạ-quỷ, Ngạ Quỷ liền được tự No đủ.

Nếu Con hướng về Chúng Tu-la,Tu-La tâm ác tự điều phục.

Nếu Con hướng về các súc-sanh,Súc sanh tự được trí-huệ lớn.

(Sau các phần đảnh lễ, phát nguyện bắt buộc phải có rồi, thì hành giả đứng, hoặc ngồi ngay ngắn trước bàn PHẬT, tay kết ẤN ĐẠI-BI mà vào phần :  TRÌ TỤNG THẦN CHÚ ĐẠI-BI.

Tuỳ theo sức mình có thể được mà phát nguyện TỤng hoặc Trì:

– 5 biến, 7 biến, 21 biến, 49 biến, 108 biến (vào nước uống, thì bịnh gì cũng sẽ hết). Trì tiếng Việt hoặc tiếng Phạm-âm công đức đều bằng nhau…nếu nhất tâm và cung kính, không lâu sẽ được cảm ứng đạo giao với Bồ-Tát, Phật).

(Phụ giảng:

2/-  Hành giả tay bắt ấn kiết tường, miệng trì chú, dùng tâm thanh tịnh tưởng chữ RÃM màu  trắng, hoặc màu đỏ (dùng để đốt…), màu xanh lá cây tươi (giúp thanh tịnh, nhẹ nhàng, trong sạch) hiện ra trước mặt, trên đầu, quán thấy từ nơi chữ Rãm nầy phát ra ánh sáng trắng, hoặc xanh, hoặc đỏ, rồi dùng ánh sáng đó rọi khắp thân thể, hoặc chỗ, nơi nào cần đến.vv….

Đây là pháp thức “QUÁN TƯỞNG” để trấn huyệt (đóng huyệt lại) đúng pháp, không cho tà ma xâm nhập vào trong nội thân của hành giả nhất mà Tà Ma ưa độn nhập vào trong người để khống chế (tâm thần), uống máu để sống và chiếm đoạt thân mình để có nơi (nhà) ở, dần-dần mình (người đang tu hành) biến thành ra Ma, Quỷ lúc nào không hay biết. Khi chết sẽ phải bị đoạ vào trong loài quỷ vậy, chớ không được vãng-sanh hoặc thăng thiên, hay đầu thai.

Cho nên, không bao giờ để bất cứ một ai MỞ HuyỆt cho mình cả, phải nhớ như vậy chớ quên mà bị hại. Nhà mình ở cũng thế, lúc nào cũng cửa đóng then cài, nếu không ăn cướp sẽ vào nhà cướp hại dễ dàng.

Tổ (Đại Ninh) THÍCH THIỀN-TÂM đã thấy biết trước là sau nầy đa phần các người Tu và Phật tử sẽ bị Tà ma dựa, nhập và khống chế hết cả, ít có Ai được giải thoát về cõi Phật lắm, với lòng từ-bi quảng-đại ấy Ngài mới khai mở ra pháp tu MẬT-TỊNH, soạn dịch ra những THẦN CHÚ (Đàrani) (Tâm chú của Phật) từ trong MẬT-TẠNG (của Đại Tạng Kinh) hầu cứu độ các Phật tử có thiện căn (và chân thật tu hành) thoát khỏi Ma nạn, mới giữ vững được đường Tu, mới bảo đảm được vãng sanh về nơi Phật quốc (Cực lạc Tịnh Độ).

Bắt buộc phải kiêm thêm TRÌ CHÚ để  Hộ thân và tâm không bị KHẢO-ĐẢO mà lạc vào lưới của MA… lấp đi con đường quy Tây vậy. Bởi vì:

– NIỆM PHẬT được bất tư nghì CÔNG ĐỨC,

– TRÌ CHÚ được bất tư nghì THẦN LỰC

Hành giả chỉ chuyên NIỆM PHẬT mà không có TRÌ CHÚ đi kèm, cũng giống như người đang bị đủ thứ bệnh tật… mò mẫn, lê-lết mà đi, không may gặp phải GIẶC CƯỚP (MA) ồ ạt xông đến bắt, chừng đó thì: 

Không có TÂM LỰC (không biết dụng tâm), không có SỨC LỰC (để chống trả), không có TRÍ LỰC (để phân biệt chánh tà), lại không có chút THẦN LỰC (nào để đề kháng) cả, lúc đó SỢ quá, không còn nhớ Niệm Phật, á khẩu đứng tim mà chết, thần-thức sẽ đi về đâu? Cực-lạc ư !

Từ-bi phải có Trí-huệ đi kèm, Niệm Phật phải có Thần-Chú đi kèm (2 cái nầy không thể thiếu một).

Những người mà không có chánh tâm, không chân thật tu hành cần cầu giải thoát, hoặc có cái TÂM NGHI NGỜ, PHÂN BIỆT, XẤU, ÁC v.v.. thì không TRÌ CHÚ được, sẽ bị Tẩu hỏa nhập ma vậy. Cho nên trong thời kỳ Pháp diệt rất ít có người dám trì chú, hoặc biết dạy về  Ấn-chú của Phật gia cả.

Có nhiều người SỢ không dám Trì chú, lại còn phỉ-báng và ngăn cấm người Trì-chú nữa.

Chính Đức Phật cũng đã dùng THẦN CHÚ để Hàng phục Ma quân và cứu đ tử của Ngài ra khỏi Ma nạn. 

Vậy Qúy THẦY đã dùng THẦN CHÚ  gì  để  SÁI TỊNH hằng ngày, cúng Vong linh, triệu hồn, thí thực, phóng sanh, diệt tội, vãng sanh, Công phu mỗi sáng.. vv….

Hỡi ôi! có được mấy người chịu TIN, chịu TRÌ CHÚ?

Hiện nay, đa phần Phật tử chỉ thích Tụng kinh, Niệm Phật cầu PHƯỚC qua ngày và thích ngồi Thiền hơn là Trì-chú (tức là Tu theo MẬT TÔNG chân chánh của PHẬT) vậy.

Giờ chúng ta thử nhìn ra ngoài xã-hội mà xem – đã có không biết bao nhiêu người đã, đang bị Tà ma khống chế, dựa, nhập, cười khóc, nói lảm nhảm..vv…. làm cho thế giới bị đảo điên, bệnh tật hết cả. A-DI-ĐÀ PHẬT khổ thay ! khổ thay !

HỎI:

Kính thưa Cô Bảo-Đăng,

Có nhiều Phật tử khắp nơi, khi thấy chúng con thỉnh mền Tỳ-lô thì đều thắc mắc và hay nói rằng:

– “Mền TỲ-LÔ, không có gì là đặc biệt cả, chùa nào cũng có, chỉ dùng để đắp cho người “Chết” mà thôi, chứ người còn “sống” ai mà đắp chứ,  mền TỲ-Lô (hoặc mền Quang minh) nào cũng giống nhau hết. Thỉnh ở đâu cũng được mà, đâu cần phải thỉnh tận bên MỸ, Chùa PHÁP-HOA của Cô BẢO ĐĂNG chi cho xa-xôi, tốn kém chứ !!

Mặc dù chúng con đã tận mắt thấy biết sự lợi-ích của mền Tỳ-Lô nầy. Nhưng chúng con không biết phải trả lời sao nữa cho Họ tin hiểu. Xin Cô Bảo-Đăng từ-bi giảng giải cho chúng con được rõ về sự ích-lợi và  công năng của NÓ như thế nào ? giúp gì được cho người SỐNG, lẫn người CHẾT?

ĐÁP:

Cái mền Tỳ-Lô Quang Minh nầy của chùa Pháp Hoa tại Tucson, thì hoàn toàn khác hẳn với các loại mền Tỳ-Lô của các nơi khác.

Ở chỗ nào?

Vì mền Tỳ-Lô nầy do các Đại Hoà-Thượng thuộc về hàng Tổ-Sư bên Trung-Hoa hồi xưa họp lại và làm ra.

Trải qua một thời gian lâu dài (có hơn trăm năm), chiếc mền Tỳ-Lô mới truyền qua Việt-Nam do các Chùa Tàu thỉnh và sau cùng đến được nơi tay của cố Sư tổ THÍCH THIỀN-TÂM, một bậc đại tôn-sư hoằng truyền hai pháp môn MẬT-TÔNG và TỊNH-ĐỘ.

Với một kiến thức quảng bác về bộ môn MẬT-TÔNG, cố Sư Tổ nghiên cứu sâu xa thêm và bổ túc nhiều loại ấn-chú có công năng cứu độ và giải nạn cho chúng sanh đã in vào.

Trong mền Tỳ-Lô nầy thì:

– Phần chú ở giữa mền trong cái tháp đương nhiên là thần-chú :

“BẢO THÁP LÂU CÁC – ĐẠI TÙY CẦU TỨC ĐẮC ĐÀ-RA-NI”

Hai bên trái và phải là phần MẬT-TÔNG ẤN-CHÚ. Bảo Đăng sau nầy mới bổ-túc thêm (khi Bảo Đăng nhận được “Phật Ấn” của Sư Tổ Đại Ninh gởi qua) chỉ có ở dòng pháp của cố Sư Tổ và đặc biệt của Chùa PHÁP-HOA tại Tucson, Arizona nầy mà thôi, nên không có bất cứ một chùa khác nào có cả. Phật tử không biết cứ tưởng rằng:

– Mền Tỳ-Lô nào cũng giống nhau cả !

Nhưng mền Tỳ-Lô của Chùa PHÁP-HOA thì lại hoàn toàn khác thêm ở chỗ:

“THẦN LỰC” và DIỆU DỤNG bất tư-nghì, không có loại mền khác nào mà so-sánh được hết.

Bởi vì,

Suốt hơn 20 năm, từ khi chùa có được cái mền Tỳ-Lô quý giá đến nay, trước khi đưa cho Đệ tử thỉnh, bắt buộc Thầy THÍCH HẢI-QUANG hoặc BẢO-ĐĂNG đều phải Trì-chú vào hết (trì…cho đến khi nào thấy Hào quang phát ra từ tất cả Ấn, Chú (in trên chiếc mền) toả ra sáng rực, mới được ngưng). Thì chiếc mền đó mới có đầy đủ Thần lực để giải nạn cho người Sống (thoát khỏi Ma nạn), và bảo đảm chuyển được nghiệp lực cho người sắp lâm chung (đáng lẽ bị Đọa vào 3 ác đạo, mà lại được siêu sanh Tịnh-độ), thật là hy-hữu.

Còn như chiếc mền không được Trì chú vào thì không có một chút Thần lực nào cả, cũng giống như những chiếc chăn đắp bán ngoài chợ mà thôi, Ai in ra cũng được hết.

Nhưng không thể làm cho ÂM SIÊU, DƯƠNG THỚI được.

Những năm đầu,  mền Tỳ-Lô chỉ dành cho Đệ tử trong Pháp quyến (của Bổn tự Mật-Tịnh Đạo tràng)  thỉnh mà thôi.

Sau nầy nhận thấy Phật tử khắp nơi đã, đang bị nhiều chướng nạn, Ma nạn. Vì lòng từ-bi muốn cứu khổ và giải nạn cho những Đệ tử, Phật tử hữu duyên gần cũng như xa….nên mới phổ biến chiếc mền Tỳ-lô nầy.

Từ đó cho đến nay, đã có vô-số người được đại lợi ích qua Nó và bây giờ đây, chính các Phật tử, đệ tử trong dòng Pháp (Pháp duệ) ở khắp nơi trong và ngoài nước của Thầy HẢI-QUANG, của Cô đều đắp nó, cũng đã có nhiều Phật tử nhờ đắp mền Tỳ-Lô mà được cứu thoát không biết bao nhiêu là khổ nạn, Ma nạn, nghiệp- ực cho cả Người sống và những người sắp lâm chung nữa.

Bất cứ chỗ nào đến Hộ-Niệm Cô luôn khuyên nên đắp mền Tỳ-Lô cho những người sắp lâm chung, kết quả tất cả đều được siêu thoát hết, thân thể của Họ bắt đầu lạnh, cứng rồi, với nét mặt thật dữ tợn….sắc mặt đen xậm lại….mà khi được Bảo-Đăng đắp chiếc mền Tỳ-lô lên người của Họ, cùng lập tức 2 tay Bảo-Đăng bắt ấn để trên đầu của Họ mà trì chú suốt…. không đầy 5, 10 phút, tất cả thân thể của Họ trở nên mềm mại, sắc mặt tươi đẹp và toàn thân ấm lại liền, Họ luôn được an lành mà thoát hóa.

Cho nên, ít có Ai biết rõ được sự lợi-ích và công năng không thể nghĩ bàn của  mền Tỳ-Lô cả.

Mỗi khi có Phật tử thỉnh chiếc mền Tỳ-Lô, Bảo-Đăng đều chỉ dẫn cho Họ phương cách Trì-chú để sái tịnh sau khi giặc sạch và mỗi khi đắp đều cần phải Trì-chú để giúp cho hào quang phát ra từ nơi Ấn-chú trên chiếc mền đó sẽ duy-trì được lâu dài hơn.

BẢO-ĐĂNG thành tâm mong mỏi cho mọi người Phật tử có Tâm chân thật Tu hành, biết hồi tâm thức tỉnh, rồi y theo pháp môn MẬT – TỊNH (do Cố Hoà-Thượng THÍCH THIỀN-TÂM khai sáng) mà nhất dạ hành trì để bảo đảm cho bước đường giải thoát và Tây quy trong mai hậu.

Mong mỏi lắm vậy thay.

………………………………..

Sau đây là vài câu chuyện linh ứng cho người Trì chú ĐẠI-BI trong hiện đại và sự kỳ diệu của chiếc mền TỲ-LÔ. Được kể lại như sau:

Kính thưa Cô BẢO-ĐĂNG,

– Đệ tử Ưu bà-di Đ.NH ở tại Việt-Nam, trước đây cũng đã có QUY-Y TAM-BẢO rồi, nhưng sau một thời gian lâu dài dọn nhà, đã đánh mấy phái Quy-y và cũng không còn nhớ Giới thể (Quy-y) là gì nữa, cả gia đình muốn Quy-y lại, nhưng đi đến chùa nào, gặp quý Thầy, Sư Cô xin được Quy-ythọ giới lại, Quý Thầy, Sư Cô đều từ chối không cho Quy-y lại, nhất là cho những người đã Quy-y rồi mà còn phạm Giới (như là Sát sanh (đi câu cá, cắt cổ gà, cổ vịt, ra biển bắt tôm cua, cá sống, chơi với bạn xấu ác, nói láo, uống rượu say-sưa vv….)

Sau đó không lâu, con may mắn gặp được Đệ tử của Cô BẢO-ĐĂNG ở tận bên ÚC-CHÂU (Sydney), về VIỆT NAM thăm gia đình, có tặng cho con quyển HỒI-KÝ PHẬT-SỰ của Chùa PHÁP-HOA và cuốn THẬP NHỊ DANH NHƯ-LAI LỄ SÁM DIỆT TỘI….(của Cô BẢO-ĐĂNG in ấn-tống).

Gia đình chúng con lập tức hằng ngày, SÁM-HỐI, NIỆM PHẬT và trì chú ĐẠI-BI….

Con có một đứa em gái lúc học tới lớp 9 là đã bị Tà Ma theo dựa (chớ chưa có nhập),  nhưng trong gia đình không có một ai tin nhận hết, chỉ có con là để ý xem-xét kỹ và nghi ngờ mà thôi.

làm bất cứ việc gì cũng không nhớ, học đâu là quên đó, da-dẻ lúc thì vàng, lúc thì xanh mét…có khi thì rất là xinh-xắn, tánh tình lúc tỉnh-táo, lúc mê dại, lúc hiền, lúc thì nổi sân lên không chừa một ai hết… người ở trong nhà cứ nghĩ là tại vì bài vở nhiều, lại thêm khó quá học không được, thi bị rớt điểm hoài làm cho buồn nên tánh tình thay đổi khác thường,  ngủ hay nằm mộng, mị bậy bạ, không được tốt lắm vv…..

Trong nhà ai cũng đều tưởng nó bị bệnh tâm thần, hay thiếu dinh dưỡng, bệnh hoạn, hoặc thức khuya học bài nên thân, tâm mệt mỏi ..vv… Nhưng Bác-sĩ khám mà không ra bệnh gì hết, cho nên coi như không có chuyện gì đáng lưu tâm cả.

Thời gian trôi qua một cách khó khăn, nặng nề và buồn thảm, trong gia đình của con, ít còn có tiếng cười đùa nữa.

Có một ngày nọ con đang ngồi TU tay cầm cuốn Kinh Sám-hối diệt tội của in, thì Em con lại gần nói giọng nghiêm với con rằng :

– Em muốn QUY-Y với Bồ-Tát Giới BẢO-ĐĂNG.

Con ngạc nhiên nhìn mà nói rằng:

– Em lại mơ mộng hảo huyền và nói tầm bậy nữa rồi đó, mình ở Việt-Nam, còn Cô thì ở tận bên Mỹ làm sao Quy-y cho được.

Đứa Em cứ nhất định đòi bằng được là phải Quy-y với Cô BẢO-ĐĂNG.

còn bảo rằng:

– Chị lên mạng tìm Cô thử xem. Có điện thoại của Cô trên sách nè, gọi cho Cô đi….

Con mới nói với là:

– Không được đâu Em, Cô sẽ la cho một trận mà xem, vì cái tội đã làm phiền đến Cô, và cầu xin việc vô lý đó.

Em con nghiêm mặt…trả lời:

– Em biết Cô rất từ-bi, Cô sẽ giúp chị em mình mà, Chị gọi liền đi.

Con làm thinh, mà trong đầu dâng lên bao ý nghĩ….

Sáng hôm sau, vô văn phòng làm việc. Con nhìn cái điện thoại đang nằm trên bàn viết hoài, nửa muốn gọi, nửa lại không dám đôi ba lần đã cầm điện thoại lên, rồi lại bỏ xuống….Sau cùng bậm gan quay số của mà run run trong lòng, nghĩ không biết phải thưa hỏi làm sao đây.

– Có gặp được Cô hay không ? Cô có nhận lời hay không ? có bị Cô rày hay không ? những ý nghĩ quay cuồng…làm con phải gác máy xuống một lần nữa.

Ngồi định Tâm lại, Con Trì-Chú ĐẠI-BI  21 biến, niệm đức QUÁN THẾ-ÂM BỒ-TÁT xin cho con được gặp và được mọi sự như ý..vv…..sau đó con mạnh dạn cầm máy lên gọi cho mà trong lòng hồi họp…đợi chờ….

Bên kia tiếng reng….reng…. vang lên từng hồi…..rồi:

– Alô… Ai đó….Alô….!

Mới nghe tiếng Alô, Ai đó……..với giọng nói đầy uy-lực của Cô làm con giựt mình.

Trời ơi ! nếu như người có Tà Ma dựa, nhập chắc chắn sẽ không dám nghe tiếng của Cô đâu.

Sau khi nghe con kể mọi việc xong, Cô đã không rày, không từ chối mà còn được Cô tận tình chỉ dạy liền…thật là cặn kẽ, thật là rõ ràng. Giống như Cô đã biết hết trước tự sự rồi vậy, lòng từ-bi của Cô và sự hoan hỷ của Cô khó mà tả thành lời cho được. Làm cho con thương cảm muốn khóc… chỉ biết cám ơn Cô rối rít mà thôi, và hứa sẽ làm đúng y như lời Cô chỉ dạy.

Sau khi được nói chuyện với Cô, nhất là được Cô BẢO-ĐĂNG tận tình chỉ dạy cho phương cách TU đúng pháp của PHẬT, của TỔ-SƯ. Cô cũng không sợ tốn kém đã gởi về Việt-Nam tặng cho chúng Con nhiều lá Chú lớn, nhỏ để (đốt uống), mền Tỳ-Lô để đắp ngủ, khăn Tỳ-lô, Áo chú Tỳ-lô để mặc vv….

Theo y như lời Cô đã dạy qua điện thoại, con đeo CHÚ vào cổ cho Em con, đốt chú cho uống mỗi ngày và cả gia đình trì chú ĐẠI-BI, SÁM-HỐI, NIỆM PHẬT, ngủ đắp mền TỲ-LÔ…vv…..

Chồng con rất vui mừng khi được biết Cô đã nhận lời làm lễ QUY-Y cho gia đình con, Cô đã chọn ngày lành, tháng tốt để làm lễ QUY-Y, đi đâu chúng con cũng vui cười líu lo….lúc nào cũng Niệm PHẬT, TRÌ CHÚ cả, không khí nặng trỉu trong nhà dường như không còn nữa. Mọi người háo hức đếm từng ngày đó Cô. Con mỗi ngày lạy Sám-hối, trì chú ĐẠI-BI và cầu xin PHẬT, BỒ-TÁT chứng minh và gia-bị cho chúng con trong ngày lễ Quy-y.

Tối hôm đó con nằm mộng thấy có rất nhiều người trong phố đang quay quần cười nói vui vẻ lắm, thì tự nhiên có ánh sáng chiếu tới chói rực cả khu phố, mọi người đứng lên chào con rồi ra về ngủ hết, chỉ còn lại một mình đang đứng chơi-vơi chưa biết phải làm gì, tự nhiên 2 chân của con cứ đi tới chỗ có ánh sáng rực đang chiếu xuống….quang cảnh rực-rỡ không thể nghĩ bàn, con nhận thấy đức PHẬT A-DI-ĐÀ ngồi trên toà sen từ từ đáp xuống.

Con vội vàng quỳ xuống đảnh lễ PHẬT 3 lạy, khi ngước lên con lại thấy chung quanh 2 bên PHẬT có rất nhiều vị BỒ-TÁT đều giống như nhau, hào quang toả chung quanh các Ngài cũng giống y như nhau, y-phục của các Ngài cũng lại giống hệt nhau nữa, chỉ trừ có đức PHẬT là khác, Ngài đắp Y màu vàng..

Ngài nhìn con rồi mĩm cười….trao cho con một tờ giấy cuộn tròn lại giống như chiếu-chỉ của Vua vậy. Con định mở ra xem….thì có một vị BỒ-TÁT bảo với con rằng :

– “Về nhà rồi hãy xem”.

Con đảnh lễ xong, đứng dậy đi thẳng lại gần chỗ mấy vị BỒ-TÁT đang ngồi….Con cúi mình nhìn xâu vào thì thấy đức PHẬT ngồi ở trên ngay chính giữa, tất cả BỒ-Tát ngồi chung quanh chia ra 2 bên (phải, trái) của PHẬT, còn ở giữa có một khoảng trống lớn, mới nhìn thấy trong suốt, nhưng cảm giác như mặt nước vậy, thắc mắc con mới hỏi vị Bồ-Tát ngồi gần rằng :

– Khi con nhìn vào thấy trong sáng giống như “gương” mà sao trong đầu của con có cảm nghĩ như là “nước” vậy?

Có một vị BỒ-TÁT cười bảo con rằng:

– “Đây là AO THẤT BẢO, nếu ngươi nói nước thì NÓ sẽ là nước, nếu ngươi nghĩ NÓ là gương thì NÓ sẽ là gương vậy”.

Con lạy PHẬT và tất cả BỒ-TÁT 3 lạy, rồi chạy về nhà thì trời đỗ mưa….Con cầm tờ giấy cuộn tròn đưa lên cao cho khỏi bị ướt, vấp phải vũng nước làm con giật mình tỉnh ngủ, ngồi bật dậy vẫn còn bàng hoàng, trong lòng cảm thấy khoẻ-khoắn, nhẹ-nhàng hết sức.

Sáng sớm hôm ấy, Chồng con thức dậy thật sớm lau bàn thờ PHẬT, Em con quét dọn nhà cửa, còn con đi chợ mua bông, trái cây, đã chuẩn bị đầy đủ tất cả cho buổi Lễ rồi, mọi người đều tắm rửa sạch sẽ, mặc áo tràng, quang cảnh vui tươi, mọi người háo hức, con thấy hạnh phúc hơn bao giờ hết.

Chúng con quỳ trước bàn thờ PHẬT, chồng con mở loa lớn để mọi người cùng được nghe tiếng của Cô BẢO-ĐĂNG vô khóa lễ QUY-Y và ban giới. Người ở Mỹ, kẻ ở tận Việt-nam cùng rập tiếng đọc Kinh, sau đó chúng con đồng quỳ chấp tay thành kính lắng nghe thuyết pháp về Tam Quy, ngũ giới, giảng giải rõ ràng hơn 1 tiếng đồng hồ, sau đó mới ban giới cho chúng con, Cô đã chọn cho chúng con một PHÁP-DANH thật hay, đã giảng ý-nghĩa của từng cái tên, mọi người đều ưa thích với cái Pháp Danh mới của mình, nhất là đứa em gái, nó được cái tên Pháp danh mới đúng y chang cái tên mà đã từ lâu nó thầm mơ ước.

Sau khi nhận được Phái Quy-Y của gởi về từ Mỹ, con hồi hộp mở ra xem, thì giựt mình, ngạc nhiên hết sức: – Tất cả quang cảnh trong hình: – PHẬT ngồi giữa đắp y vàng, tất cả BỒ-TÁT ngồi chung quanh, y-hậu giống y như nhau, chính giữa cũng trống trơn y hệt quang cảnh mà con đã tận mắt thấy trong chiêm bao vậy. Thật là kỳ-diệu, sự cảm-ứng đạo giao không thể nghĩ bàn được, làm chúng con càng tôn kính cái “TÂM LỰC” của Cô hơn. Ngày xưa chúng con quy-y đâu có được cảm ứng và thấy  được những cảnh giới nầy bao giờ !

Con tự nghĩ:

Ở trên cõi thế gian nầy có được mấy ai chịu TIN (lời Phật), BIẾT (chánh pháp cần phải theo), chịu TU và chịu y-giáo phụng hành, nhất là có được một “Tâm Lực” vững mạnh như thế ?

Em gái con sau khi được Quy-y rồi, nó luôn đeo chú, đắp mền Tỳ-Lô ngủ, Sám-hối, Trì-chú ĐẠI-BI mỗi ngày, Nó tỉnh táo hơn trước nhiều lắm, lúc trước mỗi lần nó ngồi xuống học bài thì thấy nhiều bóng đen đi tới đi lui trong phòng, nó sợ quá tắt đèn không muốn học bài được nữa, Họ xúm lại đánh đập vào người nó, làm cho nó nhức đầu, tức ngực, mình mẩy ê-ẩm, bầm tím hết, nó sợ quá tự cắn tay, cắn chân của nó, tinh thần  luôn sợ sệt, hốt hoảng….rất là khủng khiếp.

Nay được Cô chỉ dạy phương cách trì chú ĐẠI-BI, chú HỘ THÂN, SÁM HỐI, NIỆM PHẬT nhất là phải hỒi-hưỚng để hoá giải những Oan gia trong quá khứ (mà mình đã gây tạo)….

nghe lời Cô, lấy mền Tỳ-Lô đắp lên mỗi khi ngồi học bài, nhưng khoảng một giờ sau đó nó lại nghe thấy tiếng nói thì thào của rất nhiều người kéo đến, nó lập tức tắt đèn, trùm mền Tỳ-lô kín-mít…ngồi trong mền trì chú ĐẠI-BI, chú HỘ THÂN…. Không lâu lại nghe tiếng xì-xào nhiều hơn nữa. Họ cầm cây, cầm dao, cầm búa xúm lại đập, đánh, chém vào người của nó.

Nhưng, thật kỳ diệu nó không thấy đau một chút nào hết, bình an và an toàn như ngồi trong một cái nhà làm bằng sắt vậy, tiếng la hét, tiếng búa, tiếng gậy, tiếng dao chém, đập ầm-ầm vào người của nó, nhờ cái mền Tỳ-lô che phủ…nên đều dội ngược lại,  không thấy đau, không nghe lớn tiếng, hoặc bị điếc tai chút nào cả. Nó vừa sợ, vừa mừng càng TRÌ CHÚ lớn hơn… làm Họ tức giận càng la hét lớn hơn, tiếng đập ầm-ầm càng mạnh hơn nữa, sợ quá nó không biết phải làm sao…..chợt nhớ những lời Cô BẢO-ĐĂNG đã dặn (qua điện thoại từ Mỹ gọi về chỉ dạy) trước đây, nên bậm gan nói lớn lên rằng :

– Tôi tên…. Pháp Danh là ĐĂNG-HUỆ. Tôi biết đời trước đã gây ra nhiều oan-trái, nghiệp chướng nặng nề với quý vị, nhưng hôm nay Tôi đã thành tâm sám hối, Quy-y Tam Bảo rồi, nếu quý vị để Tôi tu Tôi hứa sẽ đem hết công-đức trì chú, niệm Phật, in kinh Sám hối hồi hướng cho quý-vị được siêu-thoát,

Cô BẢO-ĐĂNG có dặn Tôi… Cô gởi vài lời nói với quý-vị là:

Quý-vị đã làm MA sống vất vưỡng, đói, lạnh không được siêu thoát đã quá lâu rồi, nay may mắn có Pháp tu Trì chú giải nghiệp tội, NiỆm PhẬt rồi, Tôi sẽ SÁM-HỐI mỗi ngày, TRÌ-CHÚ ĐẠI-BI, in kinh Sám hối để hồi hướng cho quý vị, vậy tất cả quý-vị đừng ở đây quấy phá tôi nữa, mà nên đi đến những Chùa để ở mà nghe kinh kệ cho được siêu thoát”.

Thấy chúng Nó im lặng….. mừng quá con nói tiếp rằng:

– Cô BẢO-ĐĂNG có dặn quý vị thêm là:

“Phải lựa những Chùa  (mà có HỘ-PHÁP đứng gác trước cửa) mới được và  phải thưa rằng:

“Bồ-Tát Giới BẢO-ĐĂNG gởi chúng con đến Chùa tu tập, nương nơi Ấn-Chú, PHẬT LỰC để được siêu thoát, cúi lạy HỘ-PHÁP từ bi cứu độ cho chúng con được nương náo nơi cửa PHẬT”. Rồi cùng nhau chấp tay NIỆM PHẬT lớn lên, thì sẽ được nhận liền”.

Nói xong, Em con tiếp tục Trì-chú ĐẠI-BI…..tiếng xì-xào bớt dần, rồi im lặng…. Chờ một hồi lâu mới dám tung mền ra xem, thì không thấy Họ đâu hết. Người của nó ướt đẫm mồ hôi, nhưng lần nầy thấy trong mình nhẹ-nhàng, khoẻ-khoắn một cách khác thường, chứ không đau nhức, e-ẩm như trước.

Con nghĩ, chắc chúng nghe lời  Cô bảo, nên đồng kéo nhau lên Chùa ở hết rồi.

Những ngày sau đó, sắc diện hồng hào, tươi trẻ hiện trên gương mặt xinh-xắn của nó, tay chân nhanh nhẹ, lanh lẹ, trí nhớ tiến triển nhiều hơn, luôn nở nụ cười vui với mọi người….không còn nổi Sân, la hét như trước, nhất là không còn bị chúng MA đánh đập mỗi ngày nữa.

 PHÁP PHẬT KỲ DIỆU, NHIỆM MẦU THẬT KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN,

Công năng thần diệu cỦa Câu “Thần chú” Và “chiếc mền TỲ-LÔ cũng vô cùng tận. Ít có người biết và tin việc nầy.

Bắt đầu từ đó Em con tinh tấn trì-chú ĐẠI-BI, cầu xin Bồ-Tát ban trí huệ để học hành cho mau nhớ. Trong ngày nghỉ học, nó ở nhà Sám hối, trì chú ĐẠI-BI suốt ngày, Hồi hướng cho những oan gia, trái chủ nhiều đời trước và những vong linh theo quấy phá được siêu thoát.

Tối ngủ nó nằm mộng thấy đức QUÁN THẾ-ÂM Bồ-Tát ngồi trên toà sen giữa lưng Trời mà thuyết giảng về ý-nghĩa và oai-lực của chú ĐẠI-BI cho nó nghe….rồi Ngài bảo nó viết bài chú ĐẠI-BI vào vở của nó, đang đảnh lễ BỒ-TÁT… thấy HOA từ trên Trời bay xuống thơm bát ngát.

Từ đó tới nay nó học rất giỏi, đặc biệt là nói tiếng ngoại ngữ rất hay, làm bạn bè, Thầy, Cô trong trường lấy làm ngạc nhiên vô cùng. Họ hỏi nó nguyên nhân nào mà tự nhiên thông minh dữ vậy. Nó vui vẻ trả lời là do Trì chú, Niệm PHẬT.

Kính  thưa Cô Bảo Đăng:

Giờ con mới nhận biết rằng: – Trên cõi đời hiện đang đầy ấp người xấu, ác, dùng âm binh, Bùa ngải, ếm nạn hại người, không tin Trời Phật, Thần thánh đã lan tràn khắp nơi trên thế-giới, vì thế người người đều bị Ma nạn dựa, nhập, khống chế hết cả, bệnh tật, điên khùng xảy ra cho mọi người, khí đen đang bao phủ mọi nhà, mọi người….mà nếu như tất cả mọi người Phật-tử thấy biết được và tin nhận được điều rằng:

– “Chúng ta đang ở trong tình trạng nửa sống, nửa chết, nửa siêu, nửa đọa, nửa điên, nửa khùng, nửa tỉnh, nửa mê… lúc hiền, lúc sân, lúc mê, lúc tỉnh, lúc cười, lúc khóc…vv…..hiện nay, rồi phải tự biết nghĩ rằng:

– Rồi sẽ đến phiên Ta….mà biết sợ hải vì chúng sẽ không tha cho một ai cả, sớm muộn gì cũng sẽ bị lọt vào lưới của chúng hết.

Nên phải lập tức, thực hành Pháp Tu chân chánh của Phật, với lòng TIN sâu chắc (không nghi ngờ, không phân biệt), nhất là phải được Cô BẢo-Đăng chỉ dạy tận tình, mà y-giáo phụng hành không sai khác, thì bảo đảm sẽ thoát khỏi tất cả chướng nạn.

CÔ thường dạy cho chúng tôi rằng:

Trong tất cả thứ BẢO (vật), MẠNG BẢO là hơn (tất cả).

Nếu  mạng nầy còn là “VÔ GIÁ BẢO”. (Nghĩa là: – MẠNG nầy còn, thì tất cả còn).                                                           

(Câu nầy ý nói: – Trên cõi đời nầy, không có gì cao, qúy bằng có được cái Thân (khỏe mạnh), cái Huệ-tâm (Tâm linh minh mẫn, trong sáng, đầy đủ trí-huệ và chánh kiến) của mình cả. Dù cho có thật nhiều tiền của, danh vọng cao sang, mà bị bao chướng nạn khảo-đảo (làm cho khùng, điên), thì cũng là số  không mà thôi.

Cho nên, khi biết mình chưa BỊ (nghĩa là còn tỉnh táo, còn biết phân biệt rõ đâu chánh đâu tà) phải lập tức xả bớt duyên đời, bớt giao du với bạn xấu ác (bạn không hề biết tin Trời Phật và chưa hề biết tu niệm chi cả) lo thúc liểm thân tâm mà TU TRÌ để bảo hộ cho THÂN (huệ mạng) của mình không bị ĐỌA LẠC vào 3 Ác đạo. Mà nếu để lỡ bị LẠC rồi, thì muôn kiếp khó mà quay về.

Phải nhớ rằng :

– KHỔ HẢI VÔ BỜ, HỒI ĐẦU THỊ NGẠN

(Nghĩa là Cái KHỔ nó vô BỜ, mà biết quay đầu lại thì sẽ thấy BẾN ngay).

Thưa Cô,     

Gia đình chúng con xin đảnh lễ lên chư PHẬT, chư Đại BỒ-TÁT, nhất là đức Mẹ hiền QUÁN THẾ-ÂM Bồ-Tát, kế đến gia đình chúng con thành kính cám ơn Cô BẢO-ĐĂNG đã hết lòng chỉ dạy, giảng giải rõ về Phật lý, an-ủi, khuyến nhắc và la rày (mỗi khi chúng con làm sai, nghĩ trái), chúng con đã y theo lời Cô mà siêng cần tu tập (đúng pháp), nên mới cứu được Em con và gia đình con thoát khỏi bao chướng nạn.

Ơn nầy chúng con xin tạc dạ nghi lòng và hứa sẽ là những đệ tử ngoan, triệt để nghe lời Cô chỉ dạy, không sai khác. Nam-mô A-DI-ĐÀ PHẬT,

Thành kính.

Những đệ-tử thiếu duyên ở tận quê nhà.

ĐT, ĐD, ĐH, ĐT, ĐL, ĐN, ĐC, ĐNH và tất cả đệ tử trong dòng pháp quyến..vv….

CHÚ THÍCH

  1. Chính ở nơi Đức Quán Thế-Âm Bồ-Tát là Tông chủ của Thần chú ĐẠI-BI đây, mà mãi từ đời PHẬT TQV/TT/NHƯ-LAI  đến đời PHẬT THÍCH CA bây giờ ( và mãi-mãi về sau) vẫn còn:

    Trì tụng ĐẠI-BI chưa từng tạm quên và buông bỏ, huống hồ chi là chúng ta đây hay sao?

    Vậy nên:

    Phải cố gắng trì tụng Thần chú ĐẠI-BI nầy chớ đừng quên, đừng bỏ mà tự phụ ở chính mình. Đáng tiếc lắm !!

  2. Phươngtiện khéo: Tức là dùng THIỆN XẢO PHƯƠNG TIỆN để có đầy đủ sức ĐỘ KHẮP CHÚNG SANH.
  3. Biển KHỔ: Trong biển KHỔ (khổ hải) nầy (mắt thường của chúng sanh không thể nhìn thấy được, vì NÓ không có ở cõi nầy, mà ở khoảng giữa của 2 cõi Trời DỤC GIỚI và SẮC GIỚI) có vô lượng thân xác của tất cả chủng loại chúng sanh chết chìm và nổi trôi trong đó. THẬT LÀ KHỔ BIẾT BAO.

    Trong đó cũng có đến vô lượng “thân xác QUÁ KHỨ” của mình nữa, đã và đang bị chết chìm, nổi trôi nơi biển khổ nầy, ấy vậy mà chúng ta đâu hay biết !! Thương thay.

  4. Thân Pháp Tánh: là Thân của người (đã) thành đạo, giải thoát. Theo ý của câu Kệ như sau:

    Ảo-hoá không thân tức PHÁP-THÂN (chứng đạo ca).  Vì thế nên gọi PHÁP THÂN là Thân VÔ HÌNH TƯỚNG, VÔ SANH DIỆT là như vậy.[/note]

    – Nếu con  Hướng về nơi NON ĐAO (Tức là Địa ngục đao sơn).

    NON ĐAO tức thời liền sụp đỗ.

    – Nếu con hướng về LỬA, NƯỚC SÔI.

    (là một loại Địa ngục LỬA (Hoả ngục) và DẦU SÔI).

    Nước sôi, Lửa cháy, tự KHÔ, TẮT.

    – Nếu con hướng về cõi ĐỊA-NGỤC,

    ĐỊA NGỤC liền mau tự tiêu tan.

    – Nếu con hướng về loài NGẠ QUỶ (Quỷ đói) 4 Ngạ quỷ: Tức là loài Quỷ đói, do vì khi còn sống gieo NHÂN tham-lam, ích-kỹ, bỏn-sẻn, chỉ biết có riêng mình, chớ không hề biết Bố-thí (cho người nghèo đói), cúng-dường đến các bậc đáng cúng-dường, giữ riêng đồ ăn uống cho cá nhân mình dùng chớ không bố-thí cho bất cứ một ai nghèo đói và cần đến cả.

    (Có 3 loại Ngạ-Quỷ: (Ngạ: – là đói)

    1/- VÔTÀI NGẠ-QUỶ: Là loại Ngạ-quỷ suốt đời chịu đói khổ, hoặc không bao giờ nghe đến tên thức ăn, thức uống, như có  đồ ăn, đồ uống đưa vào miệng, thì các thức ăn, uống ấy lậptức hoá thành ra LỬA và MÁU MỦ.

    2/- THIỂU TÀI NGẠ QUỶ: (Còn gọi là Tiểu tài Ngạ-quỷ): Là loại Ngạ-Quỷ có ăn được chút ít máu mủ, phẩn tiểu (nơi cầu xí, hoặc các chỗ có nhiều máu mủ – (như nhà thương, nhà xác….)

    3/- ĐA TÀI NGẠ-QUỶ: Loại Ngạ-Quỷ nầy ăn được các thức ăn của người phế bỏ (đồ ăn thiêu, thúi), ăn được máu huyết (thực nhục), đôi khi còn hưởng được các món đồ cúng-tế nữa.)

  5. Bởi vì Súc-Sanh bị cái nghiệp SI-MÊ (ngu si) không biết gì là Tam-Bảo hay PHẬT….là gì hết, dù cho Nó có KHÔN có NGOAN cho thế mấy đi nữa (như loài chó), nên phải: – NGUYỆN CHO SÚC-SANH ĐƯỢC TRÍ-HUỆ là vì lý do như vậy.
  6. Ngàn muôn ức kiếp: 1000 x 10.000 x 100.000 kiếp sanh tử. Là một con số vô-lượng tội nghiệp mà Ta đã tạo ra trong thời gian rất lâu dài, ấy vậy mà trong kiếp nầy chỉ cần nhất tâm, chí thành...(không nghi ngờ, không phân biệt, giữ tâm trong sáng mà trì): 5 biến Chú ĐẠI-BI một ngày, hoặc hơn nữa….Thì: – Tất cả vô-lượng TỘI NGHIỆP ấy thảy đều được TIÊU TRỪ hết. Mầu-nhiệm thay cho thần chú ĐẠI-BI !! Thần diệu chương cú !! 
  7. Nước trôi: Như nước lục-lội, chìm ghe nơi sông biển sóng gió. Lửa cháy: Như cháy nhà, cháy rừng, hoả hoạn….
  8. Bịnh ác lâm thân: Như bị các chứng bịnh khổ như bịnh ung-thư và các chứng bệnh nan-y bất trị khác (Tứ chứng nan-y: – Phong, Lao, Cùi, hủi) 
  9. Phi mạng tự hại: Như tự-tử, tự mình huỷ hoại tánh mạng mình.
  10. Thời đại tốt: Như là gặp được quốc gia thanh bình, thạnh-trị…..không có chiến-tranh, giặc-giả.
  11. Thân căn đầy đủ: Không bị tật nguyền, không bị quái-thai, quỷ tướng....
  12. Bộ-lâm: là việt dịch của chữ BRUM mà ra. Chữ BRUM nầy là NHỨT TỰ CHUYỂN LUÂN-VƯƠNG THẦN-CHÚ.

    Chữ nầy nếu để vào hoặc là ghép thêm vào cuối bài thần chú nào, thì NÓ sẽ làm cho bài Thần chú ấy:

    a/- Tăng gấp hai Oai thần lực.         

    b/- Giúp cho Người trì tụng thần chú ấy được MAU THÀNH-TỰU.

  13. Sáu phen biến động cực-kỳ vi-tế, Người thế gian không thể nào cảm nhận và thấy biết được, chỉ trừ ra các bậc Thần, Tiên, Phật, Thánh là cảm và thấy được mà thôi.

    6 sự BIẾN-ĐỘNG ấy là:

    a/- Phương Đông nổi, Phương Tây chìm.

    b/- Phương Tây nổi, Phương Đông chìm.

    c/- Phương Bắc nổi, Phương Nam chìm.

    d/- Phương Nam nổi, Phương Bắc chìm.

    e/- Bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc nổi, Trung-ương chìm.

    f/- Trung-ương nổi, bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc chìm.

    Sáu sự biến động nầy chỉ xảy ra khi nào chư PHẬT và chư Đại BỒ-TÁT sắp sửa, hoặc thuyết dạy hay tuyên nói ra ĐẠI PHÁP có tánh cách ích-lợi cho tất cả chúng sanh mà thôi.