Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

ĐẠI BÁT NIẾT BÀN KINH SỚ

Đời Nguyên,Viện Sùng Thánh Sa-môn Sư Chánh thuộc tông Thiên Thai soạn thuật.

 

PHẨM 19: THÁNH HẠNH

PHẦN 1

Phẩm này nói về bốn môn: thứ tự, thích danh, gốc ngọn và thuyết chẳng thuyết.

Thứ tự: Hà Tây cho rằng trước là môn nói rộng lược về quả Niếtbàn, kế là năm hạnh nói về tu nhân Niết-bàn, sau là muời đức nhóm họp công đức khuyên thực hành nhân. Xưa cho rằng: Năm hạnh là nói về nhân, mười đức nói về quả. Khai Thiện cho rằng năm hạnh là nói về năm hạnh hữu, mười đức nói về hạnh không. Ở đây cho rằng chẳng phải ý nghĩa như thế. Hà Tây y cứ theo văn “từ quả nói nhân” thuộc về nghĩa thừa nhiếp không liên quan. Vì sao? Vì trước nói về quả viên cực, còn năm hạnh thì nói nhân thứ bậc, vuông tròn chẳng đồng loại, nên nghĩa chẳng hợp. Còn các sư xưa cho năm hạnh là nhân, lẽ ra chẳng nên nói việc làm của Phật là hạnh Thánh. Nếu nói mười đức là quả thì cũng chẳng nên nói Bồ-tát tu hành kinh đại Niết-bàn được mười công đức. Vả lại, năm hạnh chẳng phải viên nhân, mười đức chẳng phải cực quả nên chẳng thành thứ tự.

Khai Thiện nói năm hạnh là hữu cũng chẳng đúng. Hạnh Thánh là khai đạo pháp không. Hạnh Phạm là tu mười một “không”, trụ trong giai vị bình đẳng. Hạnh Trời là lý Đệ nhất nghĩa. Hạnh Trẻ thơ thì chẳng đến chẳng đi. Hạnh Bệnh là mật ngữ của Như Lai, như thế đâu chỉ là nghĩa của hạnh hữu.

Nói mười đức là nghĩa “không” thì cũng chẳng đúng. Mười là số lượng của pháp. Xưa chẳng được, chẳng nghe, chẳng biết, nay được nghe biết, đã nghe một câu, nửa câu thì thấy được chút Phật tánh, đâu chỉ một bề y cứ theo hạnh “không”.

Ở đây nói thứ tự: nghĩa là trước do thọ thực mà nói chẳng thọ thực để giảng rộng về đại bát Niết-bàn thí rồi. Nay nhân nơi bệnh mà nói về chẳng bệnh. Bệnh có ba thứ; một là chẳng thể chữa trị; hai là phải chữa trị mới lành; ba là chẳng cần trị. Chẳng thể chữa trị hay chẳng cần chữa trị đều chẳng cần phương thuật.

Dùng cách trị bệnh có hai: một là theo thứ tự; hai là không theo thứ tự. Chữa trị theo phương pháp này thì gọi là tu hành. Vì có tu cho nên có chứng, có chứng nên có mười công đức, có công đức cho nên không bệnh, không bệnh cho nên thể hiển bày, thể hiển bày nên thấy tánh, thấy tánh cho nên cùng khắp pháp giới, thâu nhiếp tà ác, thâu nhiếp tà ác xong thì phó chúc, thiêu thân, phân bố xá-lợi. Nếu theo nghĩa này thì khéo thành thứ lớp.

Giải thích danh từ: văn kinh ghi: “Thánh là việc làm của chư Phật Bồ-tát, cho nên gọi là hạnh thánh”. Câu này có hai ý: một là việc làm của Bồ-tát tức là hạnh thứ lớp; hai là việc làm của chư Phật tức chẳng phải thứ lớp. Đó là nói “có một hạnh tức hạnh Như Lai”, nay gọi chung là hạnh thánh. Nghĩa này chưa rõ cần phải phân biệt giải thích. Vì sao? Vì Thánh là chánh, còn việc làm của Bồ-tát trước cạn sau sâu, chân chẳng biết tục, tục chẳng biết trung. Tức là thiên mà chẳng phải chánh, nhưng gọi chung là hạnh Thánh thì chưa phải là ý riêng. Như nói có một hạnh là hạnh Như Lai, thì một hạnh tức tất cả hạnh, một trí là tất cả trí. Cho nên biết viên hạnh gọi là Thánh, gọi là chánh. Vì thế trong văn kinh nói kinh Đại thừa này gọi là Phật thừa, Phật thừa này là tối thắng tối thượng, bậc căn tánh viên mãn tu hạnh Như Lai ở Phật thừa này.

Kinh Pháp Hoa nói: “Phật tử hành đạo rồi, đời sau thành Chánh giác” chính là nghĩa này. Văn kinh có hai đoạn là giải thích chung và giải thích riêng. Mọi người phần nhiều theo cách giải thích chung mà không biết cách giải thích riêng. Nay từ ý riêng giải thích nên gọi là hạnh Thánh.

Nói hạnh Phạm, Phạm tức là thanh tịnh, vào các hữu, đồng với trần tục, đây là y cứ theo công năng mà giải thích tên nên gọi là hạnh Phạm. Hạnh Trời là y cứ theo đế lý để đặt tên. Hạnh Trẻ thơ là y cứ theo dụ để đặt tên. Hạnh Bệnh là y cứ theo đối trị mà đặt tên. Hạnh Như Lai là y cứ theo người cơ Viên đặt tên.

Nếu nói chung về hạnh, thì chẳng trụ gọi là hạnh, nghĩa là tự chứng ngộ chẳng dính mắc, lại khiến người cũng chẳng trụ nên gọi là Hạnh. Văn kinh nêu năm hạnh, một hạnh, mà Thánh hạnh là đầu tiên, nay y cứ theo đầu tiên mà đặt tên, nên gọi là hạnh Thánh.

Cành gốc: Có người cho rằng hạnh Bệnh là gốc, từ bệnh sinh ra bốn hạnh kia, nghĩa này không đúng. Người này thấy văn nói về hạnh Bệnh ở trước mà cho là gốc. Đây chỉ là đọc văn, đâu liên quan gì đến suy nghĩa. Vì sao? Vì bệnh đồng với nghiệp ác của người, thuộc về cành lá, sao lại lấy ngọn làm gốc? Văn kinh ghi: “Bồ-tát trụ trong đại Niếtbàn chuyên tu tập năm hạnh, thế thì Niết-bàn là gốc. Nói Niết-bàn tức là hạnh Trời, duyên vào Niết-bàn mà hóa tha thì gọi là hạnh Phạm. Lý Niết-bàn đã hiển bày, nương vào lý tự tiến tu thì gọi là hạnh Trời; nương vào lý mà hóa tha đồng với điều lành gọi là hạnh Trẻ thơ, đồng với ác thì gọi là hạnh Bệnh. Như thế thì chẳng lấy hạnh Trời làm gốc ư, mà lại bỏ theo ngọn?

Có Sư cho rằng năm hạnh đồng là hạnh Bệnh, dẫn văn cho rằng: “Năm hạng người này đều bị bệnh mà tu hành, chỉ có Phật mới vô bệnh”, nghĩa này chẳng đúng. Năm người bị bệnh tu tập hạnh thánh để trừ bệnh của mình thì đâu thể nói là hạnh Bệnh, chỉ có Phật vô bệnh mới hiện được hạnh Bệnh. Nếu theo thứ lớp năm hạnh, thì hạnh Bệnh ở sau; nếu y cứ theo nghĩa một hạnh tức năm hạnh, thì một hạnh Bệnh có năm hạnh Bệnh. Ngài Ca-diếp suy về Phật, vì Phật vô bệnh tức là hạnh thánh, suy quả vô bệnh tức là hạnh Trời; đại bi huân kết vào tâm tức là hạnh Phạm; giống như đứa trẻ kia tức là hạnh Trẻ thơ; và như người thường bị bệnh tức hạnh Bệnh. Một đầy đủ năm gọi là viên hạnh, là hạnh Như Lai, bốn hạnh kia cũng giống như thế. Nếu nói theo chung riêng thì cũng lấy hạnh Trời làm chung, bốn hạnh kia là riêng. Tuy giải thích như thế nhưng chẳng trọn vẹn.

Có người cho năm hạnh là nhân, một hạnh là quả, nghĩa này chẳng đúng. Đã đều gọi là hạnh thì đâu thể phán định nghiêng về một bên. Có Sư cho rằng năm hạnh là riêng, một hạnh là chung, một chia thành năm, năm gom thành một, gom chia khác nhau, lý tuy như thế, mà hạnh chẳng phải như thế. Cảnh giới chư Phật thì Nhị thừa và Bồ-tát chẳng thể biết được. Trên thì có thể gom hoặc chia cảnh dưới, dưới chẳng thể chia cảnh trên.

Phẩm này nêu tên năm hạnh nhưng chỉ nói ba hạnh, không nói hai hạnh còn lại. Vì sao? Vì hạnh Trời là hạnh chung, là gốc của các Thánh, ý này có thể thấy cho nên xa chỉ tạp hoa.

Nay nói thêm rằng: “Vì trong Tạp hoa từ đầu đến cuối chưa đầy đủ các nghĩa sự lý, hạnh nguyện, nhân quả của Bồ-tát thiên viên, chẳng bằng chỉ cho kinh, khiến nhờ sự chỉ bày mà tìm về xưa, thấy văn rộng ấy chẳng vượt khỏi nhất lý. Sơ trụ trở lên là hạnh của các vị trời nên gọi là hạnh Trời; hạnh tức là trời cho nên gọi là hạnh Trời; vì các vị trời tu hành cho nên gọi là hạnh Trời; nhân nơi trời mà hành tiến tu nên gọi là hạnh Trời; xa chỉ cho trời nên gọi là hạnh Trời. Có chung có riêng, suy nghĩ sẽ tự biết.

Hạnh Bệnh, thì trước đã hiện nói, sau khi chứng đạo tự hiện rõ, cho nên không nói hai hạnh ấy, chỉ nói ba hạnh mà thôi. Nay nói thêm rằng: “Đã chẳng nói hai hạnh thì hoàn thành hiện phẩm chưa có”. Nếu thế thì nên nói kết luận phẩm trước phát khởi phẩm sau. Bệnh và vô bệnh kết luận cho nhau. Trước nói thường là trả lời câu hỏi của ngài Ca-diếp, nói hành nhân quả tức là khởi phẩm sau. Nếu chẳng thế thì chỉ nói bốn hạnh, chẳng nói một hạnh.

Văn phẩm được chia làm ba:

1/ Nêu cả năm và một.

2/ Giải thích cả năm và một.

3/ Kết luận về năm hạnh.

– Trong phần một trước nêu hạnh thứ lớp. Gồm có bốn:

1/ Nêu người tức là Bồ-tát.

2/ Nêu pháp sở duyên, là đại Niết-bàn.

3/ Nêu tên tức thứ lớp năm hạnh.

4/ Kết khuyến, nghĩa là có trị thì lành, không trị thì chẳng lành, vì thế cho nên khuyên.

Nêu hạnh chẳng thứ lớp, gồm có ba: một, nêu tên hạnh tức là nói “lại có một hạnh.” Hai, nêu người chẳng theo thứ lớp, tức là Như Lai. Ba vì nhân hạnh của Như Lai, tức là người ở địa vị nhân.

Đại thừa là viên nhân, Niết-bàn là viên quả, tức ngay nơi nhân là quả đầy đủ không thiếu, đó là một hạnh tức tất cả hạnh. Vì người này sẽ hết bệnh, cho nên không khuyên.

Hỏi: Hai hạnh năm và một đều duyên Niết-bàn, nghĩa ấy thế nào?

Đáp: Tuy đều duyên Niết-bàn, nhưng lập hạnh có khác. Một là duyên Niết-bàn, nên lấy Niết-bàn làm hạnh, mỗi hạnh đều là Niết-bàn, mà có thiên viên. Người chẳng thấy nghĩa này mà vọng nói nhân quả, gom chia, thật là lầm lẫn.

 

PHẦN 2

Từ câu “Ca-diếp thế nào là Bồ-tát v.v…” trở xuống là phần thứ hai gồm cả giải thích. Văn có ba: Là Thánh hạnh, Phạm hạnh và Anh nhi hạnh (hạnh trẻ thơ).

Hạnh Thánh có hai ý:

Giải thích cả hạnh thứ lớp và hạnh chẳng thứ lớp.

Kế là khen ngợi kinh.

Đầu tiên là giải thích năm và một; trước giải thích hạnh Thánh, có ba: Một là giải thích Giới hạnh; hai là giải thích Định hạnh; ba là giải thích Tuệ hạnh.

Đầu tiên giải thích Giới hạnh lại gồm có ba: Một là giải thích giới hạnh; hai là giải thích giới quả; ba là giải thích tên các hạnh. Giải thích về giới hạnh thì trước giải thích thứ lớp, sau giải thích chẳng thứ lớp.

Giải thích giới hạnh thứ lớp có hai: Một là lập tâm; hai là lập hạnh.

Lập tâm có hai: Một là duyên gặp người; hai là duyên gặp pháp. Sau đây là duyên gặp người.

Nếu từ Thanh văn nghe là dụ cho việc gặp người nuôi bệnh, gặp Như Lai là dụ cho thầy thuốc, nghe kinh Đại Niết-bàn là gặp thuốc hay, nghe rồi sinh tín là lập tâm ưa thích nhàm chán, cầu đạo Vô thượng tức là Bát-nhã, nói có đại chánh pháp tức là Pháp thân, nói chánh hạnh là Giải thoát. chư Phật là Phật bảo, đạo Vô thượng là Pháp bảo, đại chúng là Tăng bảo. Trong đó, chẳng phải không có pháp duyên, vì từ số nhiều mà đặt tên nên gọi là duyên gặp người, tức kiến lập tâm.

Kế là nói về pháp duyên: “Lại có kinh Phương Đẳng” tức là nói từ kinh này mà nghe được ba Đức, ba Bảo v.v… nói ưa thích tìm cầu là sinh khởi tâm ưa thích, nếu xa lìa các yêu thích là khởi tâm nhàm chán. Được pháp làm duyên thì sẽ kiến lập tâm, đó là đối trị. Đã gặp được nhân

duyên, ưa thích, nhàm chán rõ ràng, chấn động khiến cho ma sầu não.

Từ câu “bấy giờ, Bồ-tát v.v…” trở xuống là phần thứ hai nói về lập hạnh. Có hai ý là thọ giới và giữ giới. Văn nói về thọ giới có hai là cầu thầy và thọ giới, như văn kinh đã ghi.

Từ câu “đã xuất gia v.v…” trở xuống là đoạn hai, nói về giữ giới, gồm có pháp và dụ.

Dụ có hai là dụ và hợp.

Dụ có năm tội: Bốn Trọng cấm, Tăng tàn, Thâu-lan-già, Ba-dậtđề và Cát-la.

Văn hợp lại có sáu, tức thiên thứ ba, chia làm hai là ba mươi Xả đọa và chín mươi Đọa để hợp với văn dụ. Hoặc có thể nói xả đọa được chia làm hai là kinh túc sám và đối thú sám. La-sát có hai cách giải thích: Một là dụ cho ác tri thức bên ngoài, hai là dụ cho tâm điên đảo bên trong. Như trong phần thanh tịnh trì giới ghi ở chỉ quán bốn.

Từ câu “nếu Bồ-tát có thể, v.v…” trở xuống là đoạn hai nói về giới chẳng thứ lớp. Gồm bốn:

1/ Đầy đủ cành gốc.

2/ Đầy đủ lý sự.

3/ Đầy đủ khinh trọng.

4/ Đầy đủ thệ nguyện.

Nói căn bản tức là tánh trọng; quyến thuộc trước sau tức là phương tiện khởi sau khi đắc đạo; hai điều này thuộc về nhiếp luật nghi giới. Chẳng phải các ác giác tức là phòng hộ ý căn, là Định cộng giới, hai giới này thuộc về Nhiếp thiện pháp giới. Hồi hướng Đại thừa tức nhiếp chúng sinh giới. Tánh trọng làm gốc lưu xuất ra các giới.

Kế là từ câu “Này Ca-diếp v.v…” trở xuống là nói lại có hai thứ giới đầy đủ sự lý.

Nói cành gốc ở trước đều thuộc về sự, nhiếp phàm phu năng hành, giới chánh pháp thì tương ưng với lý, là giới mà bậc Thánh thọ trì.

Thứ ba, từ câu “lại có hai loại v.v…” trở xuống là nói về có đủ giới khinh trọng.

Các sự lý nói ở trước đều là Trọng. Từ câu dứt sự chê bai của thế gian về sau là khinh. Bồ-tát giữ gìn đầy đủ bình đẳng không khác nhau với tánh trọng giới. Tiếp tử, xưa gọi là tiếp tức chỉ cho các loại cây lê thị. Các sư Trung Quán âm là “đế”, là tên của Quảng Thành Hầu đời Hán. Lễ ký lại ghi: “Vì kẻ sĩ hái dưa cắt ngang, chỉ bỏ rễ mà thôi”. Ý nói các ông chẳng được cất giữ. Nói hoàng mộc chẫm, có hai cách giải: một, cho rằng đây là chiếc gối gỗ, bên trong rỗng như loại cổ hoàng (trống); hai là đoạn làm gối có các đường vân đẹp giống như hoa vàng. Ba-la-tái, Lương Vũ Đế gọi là song lục, loại này mới có vào thời gần đây. Khiên đạo tức ăn hai lần, bát đạo hạnh thành đều là các trò vui.

Thứ tư, từ câu “này người thiện nam v.v…” trở xuống là nói đầy đủ thệ nguyện. Giữ vững tâm là thệ; mong mỏi đạt đến là nguyện. Văn có hai là nguyện cho mình và nguyện cho người. Phần Tự thệ có mười hai câu: trong lời thệ chẳng khởi tâm phá giới.

Kế là có sáu thệ nguyện chẳng thọ của tín thí bên ngoài.

Thứ ba, có năm thệ nguyện, nói chẳng bị nội căn ngoại trần phá hoại.

Từ câu “Bồ-tát hộ trì, v.v…” trở xuống là nguyện cùng với người hộ trì.

Văn kinh nêu mười loại giới. Chỉ một pháp hộ trì mà chung cho chín loại kia. Giới thanh tịnh và giới thiện pháp thuộc về pháp nhiếp thiện. Bất khuyết, bất tích nếu thuộc về già cấm là thuộc về luật nghi. Nếu thuộc về ly quá là thuộc về thiện pháp. Năm giới sau, nếu y theo ý vận chuyển rộng lớn thì đều thuộc về nhiếp chúng sinh. Bất thoái tức là và, quán rượu, cung vua không lui sụt giới đã thọ. Tùy thuận nghĩa là tương ứng với lý. Rốt ráo tức tất cả đều đầy đủ. Ba-la-mật tức đây kia đều cùng tột. Chỉ giữ tâm giới tức đầy đủ tất cả giới, đó gọi là một giới tất cả giới. Giới là pháp giới, nhiếp tất cả pháp, đó là giới hạnh tròn đầy.

Kế đến, từ câu “Bồ-tát tu trì v.v…” trở xuống là nói về giới quả. Nếu nói theo báo nhân chiêu cảm quả báo, tức là gần thì cảm quả báo trời, người. Nếu nói theo tập nhân chiêu cảm tập quả, thì xa cảm pháp nhân thường trụ. Nay chẳng phải gần, chẳng phải xa, mà chỉ lấy Bất động địa làm quả. Xưa có ba cách giải thích: một là cho địa thứ tám làm Bất động địa; hai là cho Sơ địa thành tựu chân giải là Bất động địa; ba là y cứ theo kinh Thập Địa phối hợp Nhị địa và thi-la, ở đây nói bất động tức là Nhị địa. Ở đây cho là chẳng phải. Vì trước đã gồm nói về hạnh thứ lớp như đã phân biệt ở trên, thì nay hợp luận về quả, thì phải y cứ theo chứng đạo. Nếu chứng đạo là đồng xứ, thì đồng xứ tức Sơ địa. Nếu chỉ y cứ theo thứ lớp ba học để nói về quả, thì nhập lý gọi là Trụ, trụ là Bất động. Thập trụ là giới quả. Từ trụ sinh ra công đức gọi là Hạnh, hạnh lấy tự tại làm nghĩa, thì Thập hạnh là quả định. Đất bao hàm nghĩa năng sinh, chuyên chở muôn vật và vô sở úy, tức là tuệ quả. Đây là ý nghĩa hạnh thứ lớp. Nếu y cứ theo viên để nói về quả giới thì chính là Sơ trụ. Ý của văn kinh không đơn thích mà phải hợp luận, đó chính là dùng Sơ địa chứng đạo đồng xứ để nói về giới quả. Như thế rất hợp với nghĩa gồm nói về quả ở trên. Đến phần giải thích thì nghĩa này sẽ được hiển bày.

Văn có bốn là nêu, dụ, giải thích và kết luận. Nêu thì như văn kinh.

Nói Bất động nghĩa là thường nên bất động, vì lạc nên chẳng đọa, vì ngã nên chẳng thoái, vì tịnh nên chẳng tan.

Hỏi: Thích luận nói rằng tám gió chẳng làm lay động, nhưng gió Tùy-lam thổi đến thì tan nát như cỏ mục. Vì sao ở đây nói gió tùy-lam bình thường chẳng thể làm lay động?

Đáp: Luận giải thích theo kiếp tận.

Thứ ba, từ câu “Bồ-tát v.v…” trở xuống là giải thích, gồm có ba: một, là y cứ theo ba Đế để giải thích.

Sắc, thanh, hương, vị là quả lành trong tục đế. Địa ngục là quả ác trong tục đế. Thanh văn, Bích-chi-Phật là người trong chân đế. Dị kiến, tà phong là pháp trong chân đế; sinh tử, thiện ác, Niết-bàn, nhân pháp đều chẳng thể làm lay động, không đọa lạc, không thoái thất, không tan nát đó là nói lên thường, lạc, ngã, tịnh của giai vị giới quả thuộc trung đạo.

Kế là, thứ hai y cứ theo ba chướng để hiển bày ba thân.

Ba độc là phiền não chướng. Bốn trọng, hủy báng chánh pháp là nghiệp chướng. Bỏ giới trở về thế tục là báo chướng. Báo chướng diệt thì pháp thân hiển bày. Nghiệp chướng tiêu thì ứng thân hiển lộ. Phiền não chướng dứt thì báo thân hiện tiền. Nếu đạt đến Sơ địa ba thân hiện thì ba chướng diệt.

Thứ ba y cứ theo bốn đức.

Ma phiền não chẳng làm lay động tức là đức tịnh. Chẳng bị ma ấm làm đọa lạc tức là đức lạc. Chẳng bị ma trời làm lui sụt là đức ngã. Chẳng bị ma chết làm tan hoại là đức thường. Nói Sơ địa này có bốn đức thường, lạc, ngã, tịnh là giới quả thì hai nghĩa đều thích hợp.

Thứ tư, từ câu “này người thiện nam v.v…” trở xuống là kết luận về giới Thánh hạnh.

Từ câu “Nầy người thiện nam! Thế nào gọi là hạnh Thánh v.v…” trở xuống là phần thứ ba giải thích cả danh từ Thánh hạnh. Văn có ba: nêu lên, giải thích và kết luận.

Phần giải thích có ba: một, nêu hai hạng người Thiên và Viên, để hiển bày giải thích cả hai.

Thứ hai, nêu riêng hai pháp định, tuệ để thành tựu giới.

Thứ ba, nêu chung bảy Thánh tài, bảy Giác pháp để giải thích bậc Thánh.

Bậc Thánh thực hành pháp Thánh, pháp Thánh thành tựu cho bậc Thánh nên gọi là hạnh Thánh. Nếu chứng đạo đồng xứ thì nên dùng giai vị sở địa giới, định, tuệ có đủ bảy Thánh tài, bảy giác đạo để giải thích bậc thánh.

Thứ ba là kết kuận như văn kinh ghi.

Từ câu “Này thiện nam v.v…” trở xuống là đoạn hai nói về hạnh định tuệ. Văn có hai phần:

Nói về định có thứ bậc.

Nói về định tròn đầy.

Sau nói về quả, Khai Thiện dùng bốn Niệm xứ quán để giải thích hạnh định, các Sư đều thuận theo. Nghĩa này chẳng đúng vì có hai điều sai lầm trái với kinh, hại cho nghĩa. Nói trái kinh, văn kinh ghi: “Thực hành pháp quán này thì được bốn niệm xứ, được bốn Niệm xứ rồi trụ trong Kham nhẫn địa”. Nếu nhất định cho Thánh hạnh là bốn Niệm xứ, thì lẽ ra kế là vào giai vị Kham nhẫn. Nếu chưa được Kham nhẫn thì làm sao được bốn Niệm xứ. Nói hại nghĩa, nay nói về định mà dùng bốn Niệm xứ là thuộc về tuệ. Sau nói về tuệ hạnh nên dùng tám định, vậy lẽ ra cũng nên nói giới hạnh là định hạnh, điều sai này chẳng nhỏ.

Ở đây chia ra mười sáu pháp đại thắng, tám bội xả, chín tưởng, đã chẳng phải là căn bản thì đều có quán tuệ biết được vô thường, vô ngã. Ngã là gốc của các điều ác, nên được đặc biệt nói đến. Các sư thấy lập vô ngã quán thì liền cho là niệm xứ.

Văn có hai:

Nói pháp môn đặc biệt cao quý.

Nói tám bội xả.

Đầu tiên được chia thành hai là tu và chứng.

Nói tu đức quán xét thân này từ đầu đến chân. Kế là nói về chứng, có hai: Một là nói về tướng chánh chứng; hai là từ câu “Bồ-tát v.v…” trở xuống là nói về pháp chứng này và giải đều phát khởi.

Đầu tiên là nói ba mươi sáu thứ như tóc, lông, móng, răng v.v… là chứng pháp đặc biệt cao quý này thì khai phát thấy toàn thân từ bên trong, bên ngoài và khoảng giữa mỗi chỗ đều có mười hai thứ, tổng cộng là ba mươi sáu thứ. Não là ở trên, hạch ở dưới chân, nêu chung trên dưới.

Hà Tây và Chiêu-đề đều cho là hạt đào, vì trong não có xương nhỏ như hạt đào, hạt mai. Biển Thước chỗ có ba sợi lông ở ngón chân gọi là hạch, vì trong đó có hạch.

Từ câu “Bồ-tát chỉ nghĩ v.v…” trở xuống là nói trong định đặc biệt này cùng phát khởi với giải, chẳng sinh đắm trước.

Văn này đã lược, chỉ suy nói vô ngã, nếu nói đủ thì phải nói cả khổ, không, vô thường.

Thứ hai, từ câu “trừ bỏ da thịt v.v…” trở xuống là nói về tám bội xả quán. Văn có hai là tu và chứng.

Đầu tiên là nói tu, nghĩa là quán trừ da thịt là tướng tu. Kế là, từ câu “chỉ quán xương trắng” v.v… trở xuống là nói về tướng chứng. Có hai: một, là nói về tướng chứng.

Từ câu “lại nghĩ rằng v.v…” trở xuống là nói về giải của tướng chứng, không sinh chấp đắm, tức đã dứt trừ tất cả sắc dục lại tăng tấn sự chứng ngộ, từ đoạn này trở xuống lại nói về bốn giới trọng. Nói “lại nghĩ rằng” là nói duyên nơi chứng mà khởi quán. Đầu tiên là nói trừ ba dục, tức là tướng chứng, tựa như chứng chín tưởng mà chẳng thấy văn nói về tu tập. Đó là tu bội xả mà chứng chín tưởng cũng có nghĩa này.

Kế là “quán xương màu xanh thấy mặt đất, v.v…” câu này dường như nói về quán thắng xứ, trong đó nói “khi quán xương màu xanh” là nói về tướng tu.

Từ câu “khi Bồ-tát quán như thế, v.v…” là nói về tướng tu bội xả; câu “giữa hai đầu chân mày phát ra ánh sáng mầu xanh, vàng, v.v…” là nói về tướng chứng. Câu “thấy rồi tự hỏi, v.v…” là duyên chứng mà khởi nội quán, ngoại quán. Từ câu “nếu bị sỉ nhục” đến câu “ai chịu sự sỉ nhục” là kết luận về nội quán.

Từ câu “Nếu ta chẳng nhẫn, v.v…” trở xuống là kết luận về quán tuệ. Vì thế nếu khéo biết ngăn dứt các chướng, nuôi lớn tâm định, chẳng tạo nhân của pháp ác thì không có quả địa ngục.

Từ câu “Bấy giờ, Bồ-tát v.v…” trở xuống là đoạn thứ hai nói về quả định. Trong đó nói về người câu Giải thoát, định tuệ sở tu song tu, nên nói: “quán như thế rồi, được bốn niệm xứ”. Niệm xứ năng dứt trừ các kết sử để nhập vị, vị tức giai vị Kham nhẫn. Văn có hai phần là nêu lên và giải thích.

Xưa nói về địa thứ năm thì Thiền Ba-la-mật tròn đầy. Nay nói chẳng phải như thế, nếu mỗi y cứ theo biệt viên mà nói riêng về định quả thì như trước đã giải thích, nếu hợp luận thì Sơ địa nhẫn chịu tham dục cho đến đói khát là pháp nhẫn. Chịu đựng muỗi mòng cho đến khổ sở là Sinh nhẫn. Nói thân tâm khổ não là tổng kết.

Từ câu “Ca-diếp bạch Phật v.v…” trở xuống là nói về hạnh viên định. Có người nói rằng phân biệt loại trừ phá giới lẽ ra là sau phần giới hạnh, nhưng lại nói ở đây. Có ba cách giải thích: một, cho rằng người dịch kinh lầm; hai, là muốn hợp hai địa để không khác thể, trước gọi là Bất động, ở đây nói là Kham nhẫn, thật ra chỉ một địa; ba, cho rằng đến trì giới chưa thể thấy cơ, chẳng thể hành sát sinh, đến định thì thấy cơ có thể làm các việc hủy giới. Nghĩa này chẳng đúng. Ở đây, chính là nói về ý nghĩa viên định.

Hỏi: Văn kinh này nói: “Khi chưa lên Bất động địa thì có được phá giới chăng? Sao lại nói là Viên định?

Đáp: nếu chẳng phải là viên giới thì sao được ngay nơi hủy là trì, đã đạt đến trì hủy tự tại thì định cũng như thế, ngay nơi tán là định. Chẳng khởi viên định mà hành sát sinh mới là viên định. Giới có thể hiểu thì ngay nơi giới là định, chẳng cần phải ghi nhiều. Vì thế gọi văn này là hạnh viên định.

Hỏi: Trước nói về viên giới rồi mới nói về quả viên giới, nay nói định quả rồi mới nói đến viên định, vì sao?

Đáp: Trước sau chẳng nhất định, chỉ cần hiển bày viên định. Văn có ba phần hỏi đáp:

1/ Sơ lược.

2/ Nói rộng.

3/ Ngài Văn-thù thuật.

Sự trái, lý thuận thì lẽ ra chẳng chịu quả báo ác.

Phật trả lời như văn kinh ghi.

Từ câu “Lại có hạnh Thánh v.v…” trở xuống là đoạn ba, nói về hạnh thánh. Văn có hai:

Nói về tuệ hạnh.

Nói về tuệ quả.

Nói về tuệ hạnh có hai: Một, là giải thích tuệ hạnh; hai, là giải thích tên tuệ hạnh.

Đầu tiên, là giải thích tên tuệ hạnh lại chia làm hai: một là giải thích tuệ thứ lớp; hai là giải thích viên tuệ.

Giải thích tuệ thứ lớp lại có ba: Một, giải thích tuệ tứ đế; giải thích tuệ nhị đế; ba, giải thích tuệ nhất thật.

Có người cho rằng đây là nghĩa khai hợp, trong rốt ráo không nói là Nhất đế.

Kế là từ nhất đế khai thành hai, lại khai hai thành bốn, cũng khai bốn thành mười sáu, cho đến vô lượng. Nếu hợp thì hợp vô lượng thành mười sáu, hợp mười sáu còn bốn, hợp bốn còn hai, hợp hai về một, hợp một về không.

Nay nói tuy có hợp tan, khai hợp mà danh nghĩa lại khác, đối với duyên đều khác nhau, mà phần lớn lại có liên quan nhau. Nay lược với đối với duyên Tam tạng mà nói tuệ tứ đế; đối với duyên Thông giáo mà nói tuệ Nhị đế; đối với duyên Biệt giáo mà nói tuện nhất thật đế, hoặc lấy trí làm bốn đế; hoặc cho khổ, tập, diệt, đạo đều là cảnh. Đối với cảnh mà nói trí, trí tức là đế. Cảnh năng phát trí, khiến trí vô sở hữu, trí lại năng chiếu cảnh, biết rõ cảnh vốn không. Cảnh trí giúp nhau thành tựu nên nói là Tứ đế.

Hưng Hoàng cho rằng: “Nói Thánh đế thì đó là Phật tánh Niếtbàn, chẳng phải cảnh, chẳng phải trí, chẳng phải hữu lậu, chẳng phải vô lậu, chẳng phải nhân, chẳng phải quả, chẳng phải thế gian, chẳng phải xuất thế gian, nên gọi là Thánh đế. Nếu y cứ theo các Sư, mỗi mỗi chấp một kiến đế giải thích văn thì chẳng đúng, vì nghĩa Bốn đế rất rộng đâu thể giải thích theo một bề.

Nay văn nêu lên ba loại Tứ đế: Nếu nói khổ, có tướng ép ngặt tức là hữu tác hữu đế; nếu nói: “biết khổ không khổ mà có chân đế, v.v…” thì đó là Vô Sinh tứ đế; từ câu “khổ vô lượng tướng, v.v…” trở xuống là nói về Vô lượng Tứ đế. Ba loại tứ đế này đều là quán cảnh của Bồ-tát. Bồ-tát trụ trong Đại thừa đại bát Niết-bàn tức là tuệ Vô tác tứ đế. Vì năng sở hợp luân nên có bốn loại.

Văn đầu tiên có ba lượt giải thích, giải thích rộng và kết luận. Lại chia thành sáu: Nêu lên, giải thích tên, giải thích dụng, giải thích thể, giải thích chế lập, giải thích rộng về thể.

Thứ nhất như văn kinh.

Kế là giải thích danh, tức dùng ép ngặt để giải thích khổ. Thân là gốc khổ, là nơi các khổ nhóm họp nên gọi là ép ngặt. Tập năng sinh trưởng, đó là nhân năng sinh quả. Diệt là tướng vắng lặng, không còn sinh tử. Đạo gọi là Đại thừa, tức từ nhân vận chuyển đến quả. Nếu cho rằng bốn đế là nghĩa của Tam tạng, sao lại nói đạo là tướng Đại thừa? Nếu chỉ đem đối với Tam tạng thì đạo của Bồ-tát Tam tạng giáo là trên hết, nên cũng gọi là Đại thừa.

Khổ là hiện tướng nói về dụng. Khổ là quả báo, quả thì hiển hiện. Tập là nhân tướng, nhân tướng ẩn kín nên nói là chuyển tưởng. Các sư Số Luận cho rằng: “Thấy hiển tướng, thấy ẩn kín, từ ẩn kín đến hiển bày tức là chuyển tướng”. Người thế gian nói khổ đều là y cứ theo việc hiện tiền, chẳng cần nói về sự nối nhau, nên gọi là hiện tướng. Tập là nghiệp, lực dụng của nghiệp sẽ phải nối nhau, hai tâm chuyển biến nên gọi là chuyển tướng. Diệt là trừ tướng, trừ cái bị trừ, tức là trừ Khổ, Tập. Đạo là năng trừ.

Từ câu “khổ có ba tướng, v.v…” trở xuống là phần thứ tư giải thích thể.

Nói Tập là hai mươi lăm hữu, các nhà Số Luận cho rằng: “Nối nhau chẳng dứt gọi là Tập”. Các Luận Sư cho rằng: “Chiêu quả là tập”. Tập này làm nối nhau trong hai mươi lăm hữu, năng chiêu cảm hai mươi lăm hữu, v.v…

Từ câu “pháp hữu lậu, v.v…” trở xuống là đoạn năm nói về chế lập.

Y theo hai thứ nhân quả của hữu lậu vô lậu mà lập bốn đế này.

Kế là từ câu “Ba tướng v.v…” trở xuống là đoạn sáu nói về tướng Tứ đế.

Nói mười lực v.v… là Đạo. Trang Nghiêm nói rằng: “Quả địa chẳng phải là Đạo, Đạo mới là nhân, nhưng nói mười lực, tức trong nhân phần tu mười lực, vô úy”. Khai Thiện cho rằng: “Đạo chung cho nhân và quả”. Quả địa lấy Bồ-đề làm đạo, Niết-bàn làm diệt, cả hai không khác thể, mà nghĩa thì khác.

Từ câu “này người thiện nam! v.v…” trở xuống là thứ hai, nói rộng về bốn đế, gồm có bốn chương. Chương khổ đế có ba:

1/ Lược giải tám khổ.

2/ Giải thích rộng tám khổ.

3/ Hội thông.

Thứ nhất nói tám khổ lại gồm tám chương:

Mới xuất tức mới gá vào chi thức, chỉ có thân căn, chưa đủ sáu căn, tức mới gá thai. Đến cuối cùng là hết một thời kỳ. Tăng trưởng tức sáu bào tăng trưởng. Xuất thai tức khi sinh ra. Chủng loại sinh tức sau khi ra khỏi thai thì răng, lông, tóc, v.v… các loại phát triển.

Diệt hoại có hai giải thích: Một, đến lúc tuổi già thì bệnh tật tăng trưởng, tướng khỏe mạnh diệt hoại; hai, là từ sinh đến lớn gọi là tăng trưởng, từ trưởng đến già là diệt hoại.

Bệnh khổ lẽ ra phải nêu đủ bốn đại, nhưng chỉ nói ba đại, là vì địa đại chuyển động chẳng bằng gió và lửa, cho nên lược bỏ. Tạp bệnh và khách bệnh là thuộc về địa đại.

Tử gồm có ba câu về phước và mạng, có thuyết cho rằng chỉ mất tài vật nhưng mạng vẫn còn là phước tận; tài vật còn mà mạng chẳng còn là mạng tận, cả hai đều tận thì có thể tự biết.

Hà Tây cho rằng: Mạng vốn được một ngàn năm, mà chỉ được có một trăm năm là do phước đã hết nên mạng theo đó mà vong, nên nói là phước tận mạng chẳng tận. Mạng tận chẳng phải phước tận, tức phước nghiệp vốn chưa tận nhưng mạng đã tận nên phước theo đó cũng hết, nên nói là mạng tận phước chẳng tận. Cả hai đều tận thì có thể hiểu.

Nay nói thêm rằng: Lại có hai nghĩa khác nhau nên có tổn hoại:

một là do hai nhân ở quá khứ khác nhau; hai là do phung phí tài vật và sát sinh mà dẫn đến phước và mạng ở hiện tại suy tổn có khác nhau.

Buông lung phá giới thì mạng căn chấm dứt, trái lại thì gọi là chẳng buông lung. Trì giới mà xả bỏ mạng căn thì gọi là hoại mạng. Lại có người giải thích rằng đó chẳng phải xả mạng mà chính là tạo tội, gọi là tử thi, không còn gốc lành tuệ mạng. Hàng xiển-đề hủy báng pháp gọi là buông lung; phá bốn trọng cấm gọi là phá giới.

Loại thứ năm, sáu, bảy, tám như văn ghi. Tám khổ, bảy khổ đầu có thể tánh riêng, một loại khổ sau là gom chung bảy khổ trước, không có thể tánh riêng. Nay y cứ theo văn kinh thì năm ấm lừng lẫy cũng có tự thể riêng, trong đó năm ấm thiện ác lẫy lừng là thể của khổ, phương tiện ấm thạnh thì chẳng phải thể của khổ, v.v…

Kế là từ câu “Này Ca-diếp v.v…” trở xuống là đoạn thứ hai nói rộng về tám khổ, văn tự có tám câu. Đầu tiên nói về khổ sinh, lại có ba ý:

  1. Nói sinh là gốc khổ.
  2. Nói sinh tử liên quan nhau.
  3. Nói sinh có nhiều tội lỗi.

Đầu tiên là nói sinh khổ là gốc của bảy khổ kia. Lại phân biệt nêu ra một khổ, thì sáu khổ kia cũng lấy sinh làm gốc.

Từ câu “chúng sinh thế gian v.v…” trở xuống là ý thứ hai nói sinh tử liên quan nhau, gồm có pháp và dụ. Trong phần pháp thuyết lại có hai: trước nói phàm phu tham đắm. Kế là nói Bồ-tát nhàm chán.

Trong phần dụ có hai gồm dụ và hợp. Trong dụ được chia làm hai: dụ nhàm lìa và dụ tham đắm. Trong nhàm lìa lại có bốn: một, là nói về sinh đáng ưa thích; hai, nói về tử đáng chán ghét; ba, là nói về sinh tử liên quan nhau; bốn, là nói Bồ-tát xả bỏ cả hai.

Đầu tiên hỏi đáp có sáu câu, thật ra chẳng có người hỏi đáp, mà chỉ là cảnh sinh và quán trí của Bồ-tát đối chiếu nhau mà giả lập ra chủ khách. Người nữ dụ cho sinh quả mê hoặc phàm phu, khiến sinh ra tham đắm, trí quán của Bồ-tát mới sinh khởi dụ cho việc mới về nhà. Khôi ngô xinh đẹp là điều chúng sinh ưa thích, chuỗi anh lạc dụ cho nơi sinh ra quả nhiều vinh hoa. Chủ nhà dụ cho Bồ-tát xem xét, người nữ dụ cho sinh quả đối với trí.

Kế là từ câu “lại thấy ngoài cửa, v.v…” trở xuống là ý thứ hai nói về chết đáng ghét.

Hỏi đáp cũng có sáu câu. Tử là sau khi sinh, nên nói ở ngoài cửa. Quả tử dối gạt người nên dụ cho người nữ. Xấu xí là cảnh tử, làm hoại quả nên khiến cho mọi loài chán ghét. Sinh tử trái nhau nên nói là nứt nẻ, khí huyết đã cạn nên gọi là trắng tái. Về việc chủ nhà cầm đao, có hai cách giải thích: Một, Dung Thành cho rằng một bề nhàm chán nên dụ là cầm đao; hai, Chiêu-đề cho rằng trí tuệ là đao, nếu tử chẳng đi thì dùng trí tuệ để dứt.

Thứ ba là từ câu “chủ nhà hỏi, v.v…” trở xuống là nói sinh tử liên quan nhau.

Sinh ở trước tử nên là chị, tử ở sau sinh nên là em. Chẳng bao giờ lìa nhau nên nói là cùng ở bên nhau. Trở vào hỏi công đức thiên, tức là Bồ-tát xem xét biết sinh và tử luôn luôn đi chung.

Từ câu “chủ nhà nói rằng v.v…” trở xuống là ý thứ tư nói về Bồ-tát xả bỏ cả hai. Văn có ba đoạn, thứ nhất nói đều xả bỏ.

Thứ hai cả hai đều đi.

Xưa cho rằng từ kim cương tâm trở xuống, cho nên nói trở về chỗ mình.

Thứ ba, là Bồ-tát vui mừng.

Từ câu “khi ấy v.v…” trở xuống là phần thứ hai dụ cho tham đắm.

Hỏi đáp bốn câu, đầu tiên nói cả hai cùng đến nhà kẻ phàm phu.

Phàm phu thiếu nghiệp lành nên nói là nhà nghèo cùng.

Từ câu “người nghèo kia v.v…” trở xuống là câu thứ hai, nói về người nghèo hèn yêu thích.

Từ câu “Công đức thiên nói v.v…” trở xuống là câu thứ ba, nói sinh cảnh nghiệm xét tâm phàm.

Từ câu “người nghèo đáp v.v…” trở xuống là câu thứ ba, nói về tâm phàm ứng hợp với cảnh.

Đã ưa thích sinh, thì phải nhận chịu tử.

Từ câu “Ca-diếp! Bồ-tát, v.v…” trở xuống là hợp dụ. Trước hợp với Bồ-tát nhàm chán.

Sau là hợp với phàm phu tham đắm.

Từ câu “Bà-la-môn v.v…” trở xuống là đoạn ba, nói về tội khổ của sinh, có năm dụ: Thứ nhất là dụ pháp thiện cạn mỏng, có bốn câu.

Bà-la-môn tịnh hạnh dụ cho Bồ-tát, đầu tiên muốn tu Bát-nhã, cuối cùng được đạo thanh tịnh. Bà-la-môn tuổi nhỏ giới hạnh còn cạn mỏng. Bị cơn đói ép ngặt là dụ cho ba đường khổ ép ngặt. Quả am-la trong bãi phân là dụ cho trong khổ vô thường có quả báo sinh lên cõi trời.

Từ câu “người trí, v.v…” trở xuống là câu thứ hai nói về hạnh sâu xa quở trách.

Từ câu “người nhỏ tuổi, v.v…” trở xuống là nói người có hạnh cạn mỏng hổ thẹn.

Nói chẳng tham ưa niềm vui cõi trời, chỉ muốn trong tu đạo rồi xả bỏ.

Từ câu “người trí nói v.v…” trở xuống là câu thứ tư, Bồ-tát khuyên xả bỏ.

Từ câu “Này thiện nam! v.v…” trở xuống là hợp dụ, chỉ hợp với hai câu, chẳng hợp với hai câu trước.

Từ câu “này Ca-diếp! v.v…” trở xuống là dụ thứ hai.

Người bán thức ăn là dụ cho Phật; ngã tư đường dụ cho bốn loại sinh; bát dụ cho kinh giáo; chứa đầy thức ăn dụ cho Phật nói năm giới, mười điều thiện chiêu cảm quả trời, người. Nói đem bán nghĩa là dùng pháp này độ sinh; nói từ xa đến là dụ cho từ trong đường ác đến; đói khát thiếu thốn dụ cho quá khổ. Hỏi rằng: “Thật có việc này hay chăng?”. Người bán trả lời dụ cho Phật đáp chỉ có một loại độc là chẳng tránh được vô thường, tức là tử diệt. Lại xem xét rằng nếu đó là pháp vô thường, vì sao Như Lai lại dạy người tu tập, nên hỏi rằng: vì sao lại bán?”. Phật lại trả lời là người có trí tuệ sâu xa thì xả bỏ, phàm phu vừa nghe thì liền nhận lãnh.

Hai dụ thứ ba và thứ tư rất dễ thấy.

Từ câu “thí như bờ nguy hiểm, v.v…” trở xuống là dụ thứ năm nói về quả sinh tử.

Thứ hai là quán già, thứ ba là quán bệnh, hai đoạn này dễ hiểu, nhưng sinh chắc chắn phải ở trước tử, còn bệnh thì không hẳn ở sau già. Nay trước nói già sau nói bệnh, vì lúc còn trẻ mà bị bệnh thì có hy vọng chữa lành, khi bị bệnh thì mau chết, cũng như sắp đổ mà lại đẩy thêm vào, cho nên sắp bệnh ở sau già.

Nói thân tâm an ổn, gồm có hai cách giải thích: một, chỉ cho an ổn là bệnh, như cha con Đại Hữu, Tiểu Hữu sau mười năm mới được gặp mặt, ban ngày vừa vui mừng nhau, qua đêm thì chết. Đó là nói an ổn là bệnh.

Thứ tư là quán khổ chết, văn có hai:

1/ Quán về chết.

2/ Từ câu “phàm chết v.v…” trở xuống là nói cảm thương tha thiết.

Thứ nhất. Thế nào là chết? Nếu hơi thở còn thì sống. Khi hơi thở đã dứt thì chẳng biết khổ, nếu thọ báo ở địa ngục thì đó là thân sau, đâu có liên quan gì đến khổ chết. Việc này thật khó biết. Ví như vặn hỏi về diệt, lúc chưa diệt là diệt hay lúc đã diệt mới gọi là diệt, tiến lùi thật khó nhất định, dường như xưa có nay không, xưa không nay có, v.v… nay chỉ lấy theo nghĩa sắp dứt mà chưa dứt để nói là khổ chết. Còn nói một cách rốt ráo thì Bồ-tát cũng chưa hoàn toàn tránh khỏi sự sinh và chết, nhưng nói chỉ trừ Bồ-tát trụ trong Niết-bàn, gồm có ba cách giải thích:

1/ Cho Phật là Bồ-tát.

2/ Cho rằng Bồ-tát Kim Cương Tâm chỉ một lần chuyển liền thành Phật.

3/ Bồ-tát Sơ địa tuy chưa thoát khỏi sinh tử, nhưng chí cầu Niếtbàn chẳng bị sinh tử não loạn.

Nay cho rằng cách giải thích thứ nhất nói đó là Phật ứng làm Bồtát thì chẳng hợp với ý kinh. Kế là nói Bồ-tát Kim Cương Tâm một lần chuyển, đó chính là tử rồi, vì sao còn nói là trừ. Thứ ba nói Bồ-tát tuy chẳng bị sinh tử làm loạn động mà chẳng tránh khỏi sự chết, vậy làm sao trừ được.

Ở đây nói trừ tức là Bồ-tát Viên giáo, đạt được phiền não tức Bồđề, sinh tử tức Niết-bàn, chẳng cần phải diệt nữa, sinh tử chẳng phải là sinh tử, cũng chẳng phải là Niết-bàn. Sinh tử còn chẳng phải sinh tử, thì sinh tử đâu thể là sinh tử. Bồ-tát chẳng sinh tử như thế tức là bị Trừ, chẳng bị sinh tử làm hại.

Văn ghi: “Như mưa kim cương, phá hoại tất cả” Vậy mưa này có phá được kim cương chăng? Nếu chẳng phá được thì nghĩa lợi ích chẳng thành, nếu phá được thì nghĩa bền chắc chẳng thành… sự chết làm tổn thương tất cả như mưa kim cương, chỉ có Bồ-tát chẳng bị tổn thương. Kim cương nói ở dụ sau chỉ là kim cương vụn nát, chẳng thể làm tổn thương kim cương tảng, kim cương khối, cho nên Bồ-tát chẳng bị sự chết làm chết được.

Nói rắn độc ma-la, Hà Tây nói đây là loại rắn đen, độc của nó chỉ cần chạm vào quần áo cũng có thể làm chết người, người khác chạm vào quần áo này cũng bị chết. Nói sao A-kiệt-đa, sao này xuất hiện vào tháng tám, nếu có người được tinh chú này thì sẽ giải trừ được các chất độc.

Kế là, từ câu “nói sự chết, v.v…” trở xuống gồm mười câu, tha thiết cảm thương, rất là đáng buồn, nếu nói xa lìa thì thành hai mươi câu.

Nói ở nơi hiểm nạn, tức là nỗi khổ của bệnh đã trở nặng. Nói không tư lương tức nghèo thiếu pháp thiện. Nơi chốn xa cách trở tức con đường ở cõi chết thật vô cùng. Nói không có bạn bè tức hồn phách cô độc, đi đến phương xa mà không ai đi theo. Trong suốt mười hai canh không chút tạm ngừng nghỉ, ngày đêm đi mãi chẳng trước chẳng sau, nên nói là không bờ bến. Như vực sâu muôn nhẫn, nên nói là thăm thẳm. Vì trong đó tối tăm, bên ngoài ánh sáng chẳng chiếu vào được nên không có ánh sáng. Chết là con đường cùng, các nẻo đường đều bít nên nói vào mà không có cửa. Lại nói chết chẳng từ sáu căn mà vào nên nói không có cửa nhưng lại có chỗ đến, nên nói là nơi chốn. Lúc bấy giờ hoảng hốt, nói tuy không có chỗ đau, thầy thuốc đành bó tay, nên nói chẳng thể chữa trị. Hiền thánh chẳng thể chế ngự nên nói đi không có gì ngăn chặn được, đến thì chẳng thể thoát khỏi. Lúc mới chết thấy vẫn còn y nguyên, chẳng thấy có gì tổn hoại nên nói là không phá hoại. Thân thuộc đau buồn nên nói là sầu khổ. Lại chẳng phải cọp, sói, chim thú ăn thịt nên nói chẳng phải sắc xấu xí. Không ai chẳng sợ chết nên nói mọi người đều kinh sợ. Đây là thân hậu ấm cho nên nói là ở bên thân, mà chẳng biết được tốt xấu, nên nói chẳng hay biết. Nếu y cứ theo nghĩa này thì mạng đã dứt, thân trung ấm là khổ chết.

Thứ năm, quán khổ thương mà chia lìa.

Từ duyên lìa mà sinh tức là hoại khổ. Nếu nói về hoại khổ là trong nhân nói quả, tức chỉ cho thọ lạc làm thể, ở đây cũng thế, tức chỉ cho ân ái là khổ chia lìa. Văn kinh nói xả bỏ thân mạng yêu thích nghĩa là tuy thân mạng dứt là khổ chết thuộc về đời trước. Nay nói xa lìa thân mạng yêu thích và các y báo như quyến thuộc v.v… là khổ thương yêu mà chia lìa. Thích luận ghi: “xa lìa người khác thì dễ, xa lìa thân thuộc là khó; Xa lìa thân thuộc là dễ, xa lìa cha mẹ thì khó; xa lìa cha mẹ là dễ, xa lìa thân mình là khó; xa lìa thân mình thì dễ, xa lìa tâm mình thì khó”.

Đảnh sinh là thấp sinh, luận Thành Thật nói người thế tục đứng bên cạnh các vị trời giống như đứa bé ăn xin ở bên vua, vì sao lại nói hai vị vua giống nhau. Nhưng Đảnh sinh là ứng cho nên được so sánh với các vị trời, nếu là thật báo thì chẳng bằng. Tuổi thọ của vị thiên chủ dài lâu nên chớp mắt chậm; thế chủ tuổi thọ ngắn nên chớp mắt nhanh, nhặt hơn. Kim luân vương rất nặng chẳng thể thăng lên. Nhưng nhờ phước đức mà nặng thành nhẹ. Nói mao và vĩ, xưa ghi mông vĩ thì chẳng đúng. Lông ngắn thì chỉ gọi là Mao, dài thì viết là Tiêu.

Văn sau nói người nhiều nghề nghiệp gọi là mao sĩ, tức là lấy từ nghĩa đức độ rộng lớn. Lưu Hiếu Tiêu gọi là nhậm phưởng là mao kiệt trong nước, tức chữ mao này.

Khi xưa, vua Ngụy có hạt châu quý hiếm chiếu sáng mười hai cỗ xe, huống chi là hạt châu của đảnh sinh chẳng chiếu xa mười do-tuần ư? Ở đây nói ổ của bánh xe. Lại kinh nói trong giải áo, tức là nói năng lực công đức chứ không nói về lớn nhỏ.

Bảo nữ sinh được một ngàn người con, nên mới gọi là bảo nữ. Pháp Hiển Truyện ghi: “Vương phi sinh một khối thịt như trái dưa, có một ngàn múi, một múi sinh một người con”. Thích luận ghi: “Cù tân là bảo nữ, không thọ thai”.

Hai văn trên ghi khác nhau làm sao hội được thông được? Đây là do mỗi thời đại xem trọng sinh con và chẳng sinh con khác nhau.

Thứ sáu, là quán khổ ghét mà phải gặp mặt nhau.

Đã từ duyên hội hợp mà sinh tức là khổ, cảnh trước mắt ép ngặt tâm, tâm lãnh chịu cảnh ép ngặt sầu não cho nên khổ. Gọi là khổ ghét mà phải gặp mặt nhau.

Thứ bảy, là quán khổ mong cầu mà không được.

Lại y cứ theo khổ thương yêu mà xa lìa và chán ghét mà phải gặp nhau ở trước, tức đối với ái thì cầu hợp mà lại xa lìa, đối với oán muốn xa lìa mà lại gặp. Cả hai cầu chẳng được tức là khổ mong cầu mà không được.

Thứ tám, tổng kết bảy thứ khổ trước để thành khổ năm ấm lẫy lừng.

Như trước có giải thích, khổ chắc chắn có tự thể riêng. Từ câu “bấy giờ, Bồ-tát Ca-diếp v.v…” trở xuống là đoạn thứ ba hội thông khổ đế. Xưa nói trong A-hàm có nói trong ba thọ có lạc thọ, nay nói trong năm ấm đều là khổ, không có nghĩa lạc. Xưa nay nói nghĩa trái nhau.

Khai Thiện chia đoạn này làm bốn lần hỏi đáp, có bốn chương. Các sư Trung Quán chia làm hai, ba phần sau là chương phụ chỉ lập câu hỏi. Nay trước là hỏi, sau là đáp. Phần hỏi có ba: Một là bác bỏ; hai là lập năm câu hỏi; ba là kết luận. Đầu tiên là nói lãnh chỉ và bác bỏ.

Từ câu “vì sao v.v…” trở xuống là vặn hỏi. Câu thứ nhất và câu thứ tư là đồng y cứ vào duyên của lạc. Câu thứ hai là y cứ vào thể của lạc.

Câu thứ ba và câu thứ năm là đồng y cứ vào nhân của lạc.

Thứ nhất, là y cứ vào duyên của lạc.

Trong kinh A-hàm, khi xưa Phật bảo Thích-ma-nam rằng: “Nếu sắc chắc chắn là khổ thì chẳng nên tìm sắc. Nếu sắc chắc chắn là vui, thì chẳng nên chán sắc”. Nhưng nay chỉ hỏi về không lạc chẳng nên cầu sắc, nếu tìm mầu xanh, vàng v.v… thì nên biết có lạc, vậy nay vì sao nói hoàn toàn không có lạc.

Nay nêu đủ sáu căn đối với sáu trần để làm duyên của lạc.

Từ câu “như Phật nói kệ v.v…” trở xuống là câu thứ năm và câu thứ ba, đồng y cứ theo nhân của lạc, mà nghĩa khác nhau. Câu trước nêu điều thiện làm nhân của lạc, nhưng chỉ nói điều thiện thế gian. Nay lại nêu pháp thiện xuất thế của Thanh văn và Bồ-tát làm nhân của lạc. Gồm năm bài kệ, chia ra làm bốn: Hai bài đầu nói về điều thiện của Thanh văn làm nhân của lạc.

Kế là bài kệ nói về pháp thiện của Bồ-tát, là nhân của lạc.

Một bài kệ cuối cùng kết luận về Đại thừa

Nói Bồ-tát rốt ráo, tức chẳng đồng với Phật rốt ráo, vì đó là phần rốt ráo.

Từ câu “bạch Đức Thế Tôn v.v…” trở xuống là phần thứ ba kết luận ý chẳng đúng.

Các kinh chỉ nói về giáo xưa, còn nay Đức Phật nói là chỉ cho giáo nay, nên chỉ có khổ mà không có lạc.

Từ câu “Phật bảo Ca-diếp v.v…” trở xuống là chương thứ hai, Như Lai đáp chia làm hai, thứ nhất là khen lời hỏi.

Từ câu “này người thiện nam v.v…” trở xuống là phần chánh đáp, có hai ý đáp chung và đáp riêng. Trong phần đáp chung lại chia ra hai là đáp và nói về nghĩa. Thứ nhất như văn kinh ghi.

Khi xưa thuận theo ý người, cho khổ là lạc. Hôm nay tùy theo ý mình nên nói tất cả đều khổ. Trước ngài Ca-diếp lập năm câu hỏi theo thứ lớp nêu ra. Bấy giờ, Đức Thế Tôn dùng một câu trả lời năm câu hỏi, giải thích một cách khéo léo hai thuyết xưa mà chẳng trái nhau. Thật chẳng có lạc mà hàng phàm phu chấp đắm, gượng sinh ý tưởng cho là lạc.

Từ câu “Ca-diếp bạch Phật v.v…” trở xuống là phần nói về nghĩa. Lại vặn hỏi Phật giải nghĩa cùng khổ. Gồm có hai là trước hỏi, sau nhận lãnh, tin hiểu. Thứ nhất, có ba: một là lầm thưa hỏi; hai, là điên đảo hỏi; ba, là y cứ theo sự để hỏi.

Thứ nhất lầm vấn nạn: Ý của Phật thì cho khinh là hạ khổ, cho nên thành nhầm lẫn mà nhận lãnh, tin hiểu. Ca-diếp nêu tám khổ gồm ba phẩm, hạ thì đọa ba đường, trung thì cõi người, thượng là cõi trời.

Nếu hạ khổ có vui, thì trong ba đường phải có vui.

Từ câu “nếu có người v.v…” trở xuống, kế là vặn hỏi điên đảo.

Từ câu “bạch Đức Thế Tôn v.v…” trở xuống là thứ ba, y cứ theo sự để vặn hỏi.

Như người chịu phạt đánh một ngàn roi, một roi đầu tiên mà lại nghĩ là vui hay?

Từ câu “Đức Phật bảo v.v…” trở xuống là đáp, có hai: một, là khen lời hỏi; hai, là đáp.

Nhưng câu hỏi thứ ba, ý nói phạt một roi thật là nêu trong hạ khổ mà nghĩ là vui, tức là nếu miễn được nhiều roi kế tiếp, mà cam chịu một roi cũng có thể lấy đó làm vui.

Từ câu “từ nghĩa này v.v…” trở xuống là đáp.

Chỉ đáp câu thứ ba y cứ vào sự mà vặn hỏi. Trước lầm nhận lãnh điên đảo vặn hỏi tự nhiên cách xa. Ta (Đức Phật) thật chẳng nói hạ là khổ nặng, hạ là khổ nhẹ, vì sao thầy (Ca-diếp) lại lầm nhận, nên chẳng đáp hai câu ấy, đồng thời cũng chẳng phải như thế, đối với hạ lạc mà nghĩ là khổ nên chẳng cần đáp, chỉ đáp câu thứ ba, đáng lẽ chịu một ngàn roi, nhưng chỉ mới chịu một roi đầu tiên, nghe nói được tha thì đó chẳng phải là hạ khổ mà nghĩ là vui hay sao? Như người phải chịu hình phạt phải chết, nghe nói tha chỉ phạt một trăm roi cũng giống như thế, trong hạ khổ mà nghĩ là vui.

Phần hỏi đáp thứ hai là lãnh giải, trước lãnh thọ sau thuật thành.

Có chỗ cho rằng đoạn văn này là một câu hỏi, nói người này chẳng phải vì một roi đầu tiên mà nghĩ là vui, chỉ vì thoát được nhiều roi mới nghĩ là vui. Đây là ý lãnh hội, chẳng phải câu hỏi.

Nói thật chẳng dối là theo thế gian mà nói. Xưa nói có lạc là tùy tình, nay nói không lạc là đạo lý như thế.

Từ câu “này Ca-diếp v.v…” trở xuống là thứ hai, giải thích riêng năm câu hỏi, nhưng chỉ có ba đoạn văn. Thứ nhất là đáp câu hỏi về thể của lạc; thứ hai là đáp câu hỏi về nhân của lạc; thứ ba là đáp câu hỏi về duyên của lạc.

Thứ nhất lại có ba: Một là nêu giáo; hai là điểm ba thọ; ba là kết hư thật.

Sau là văn thứ nhất, trước nêu hai giáo.

Ba thọ giáo là ba khổ giáo, có thể thấy.

Từ câu “Này người thiện nam v.v…” trở xuống là văn thứ hai điểm ba thọ.

Giáo xưa cũng có ba thọ, trong đó khổ khổ là khổ thọ, hoại thọ và lạc thọ. Hành khổ là xả thọ. Đây là giáo Tiểu thừa, nghĩa lý chưa rốt ráo, chỉ là đơn, chỉ là thuyết của luận Thành Thật. Nay nói cực giáo là chỉ phức. Đầu tiên nói khổ thọ gồm ba khổ, khổ khổ là tâm duyên cảnh khổ, cảnh khổ ép ngặt tâm, kết hợp nêu lên nên nói là khổ khổ.

Lạc chẳng trụ lâu dài, chỉ tạm thời hiển hiện, duyên lạc đã dứt tức là hoại khổ. Bị vô thường xâm đoạt là hành khổ. Hai thọ kia mỗi thọ đều có hai khổ, hoặc một khổ, cho nên văn ghi là hai.

Nay giải thích chẳng đúng như thế, trước đã chỉ phức sao bây giờ là chỉ đơn (riêng) hoại khổ là lạc thọ. Cho nên biết một thọ có hai khổ. Lạc thọ cũng có hoại khổ và hành khổ. Thể của lạc có thể bị hoại là hoại khổ, lại bị vô thường ép ngặt nên cộng thêm hành khổ. Xả thọ cũng giống như thế, xả phải lìa khổ nên có hoại khổ mà không tránh khỏi vô thường nên có hành khổ. Nhưng hai cảnh này chẳng cần có cảnh ép ngặt nên không có khổ khổ.

Từ câu “do nhân duyên này v.v…” trở xuống là kết luận hư thật. Có hai: Một, là kết luận xưa nói là lầm thấy vui.

Chẳng phải thật, nhưng vì phàm phu nên nói là có lạc. Bồ-tát chẳng phải như thế, thấy đều là khổ.

Văn kinh ghi: “Trong sinh tử thật có vui”.

Văn kinh sau lại ghi: “Trong sinh tử thật không có vui”.

Đó là thuận theo vọng chấp của thế gian. Tam tạng Chân Đế chấp sinh tử có vui không có vui, đều là sự tranh luận như trước đã nói.

Từ câu “Này thiện nam. Trong sinh tử, v.v…” trở xuống là kết luận nay nói thật khổ, rất dễ thấy.

Từ câu “Ca-diếp bạch Phật” trở xuống là lời đáp thứ hai trả lời câu hỏi thứ ba, thứ năm y cứ theo câu hỏi về nhân. Có hai: Thứ nhất Ca-diếp lại nêu câu hỏi xin đáp.

Có chỗ cho rằng đó là câu hỏi mới. Ở đây cho là chẳng phải, đó chỉ là nêu lại câu hỏi pháp thiện thế gian và xuất thế gian ở bài kệ trên thêm vào các từ ngữ mà thành, chứ chẳng phải câu hỏi khác.

Ý Phật đáp rằng: Ta nói pháp thiện chiêu cảm quả vui, xa hơn thì được Bồ-đề an vui, chứ ta chẳng nói trong sinh tử có vui.

Đầu tiên là nói căn bản của Bồ-đề tức căn nhân của quả Phật. Lại nói trưởng dưỡng Bồ-đề tức là liễu nhân quả Phật. Xưa nói: từ trước chẳng được chấp sinh nhân, nay cho rằng có nhân duyên, cũng được nói như thế.

Từ câu “Này thiện nam thí như thế gian, v.v…” trở xuống là câu đáp thứ ba, trả lời hai câu hỏi về duyên lạc. Có hai là chánh đáp và giải hoặc. Chánh đáp lại có hai: Trước nói về duyên vui, sau nói về duyên khổ. Duyên chẳng nhất định nên không có vui.

Sau nêu ra các châu báu đều là nhân khổ, hãy nêu một việc: ví như cất nhiều vật báu lúc đầu thì cho là vui, cho đến khi bị mất thì rất khổ não.

Từ câu “Này thiện nam v.v…” trở xuống là ý thứ hai, nêu giải hoặc kết, có ba: một, kết luận Bồ-tát biết khổ.

Kế là kết luận Nhị thừa chẳng biết, nên tùy tình mà nói.

Thứ ba, lại nêu Bồ-tát để kết luận.

 

 

PHẦN 3

Đầu quyển nói rộng về Tập Đế, Văn có ba:

1/ Nói về Tập đế.

2/ Hội thông.

3/ Phân biệt.

1. Nói về Tập đế lại có ba là: a) Nêu tên, b) Giải thích thể, c) Nói về đúng sai. Trong phần nêu tên, trước là lập chương môn. Sau là giải thích Tập nhân, có thể sinh Tập quả nên nói là nhân duyên của các ấm.

Từ câu “Tập nghĩa v.v…” trở xuống là thứ hai giải thích thể. Giáo xưa lấy nghiệp phiền não làm Tập. Trong phiền não có mười kết sử. Nay chỉ nói về phiền não, chẳng nói về gốc của nghiệp vốn là phiền não, phiền não nhuận nghiệp. Trong phiền não chỉ nói về tham ái. Ái là hoặc nhuận nghiệp trói buộc trong các cõi, cho nên phải chịu sinh tử.

Kinh Hoa Nghiêm nói: “Không nghiệp, không phiền não thì Khổ đế không có trụ, vô minh không thể hiện hành, bình đẳng thực hành ở thế gian”.

Mười hai nhân duyên chẳng sinh chẳng diệt là bình đẳng mới gọi là Tập đế. Trong đây có bảy phần luận bàn. Thứ nhất, nói về Tập nhân, quả đã khởi tức là trong năm ấm đã hình thành ái. Kinh nói: “Trở lại ái hữu này” tức là ái thân năm ấm.

Thứ hai, “Ái có hai loại v.v…” trở xuống là nói về hai loại ái. Thân mình tức là ngã, vật cần dùng tức là ngã sở. Thứ ba, lại nêu hai loại ái là muốn được và đã được.

Thứ tư, tức là ái trong ba cõi.

Thứ năm, nói ba loại ái. Nghiệp nhân duyên ái lấy báo làm nhân nên vời lấy quả khổ. Như bồ câu, chim sẻ nặng về dục, đều là quả của nghiệp nhân đời trước chiêu cảm thành. Phiền não nhân duyên ái vì Tập nhân cho nên sinh ái, rất dễ hiểu. Kế là khổ nhân duyên ái, vì thoát khổ lớn mà sinh ái đối với khổ nhỏ. Như sợ khổ chết mà chữa lành bệnh, nhưng phương pháp chữa thật là đau đớn, do đây mà bệnh lành liền sinh tâm ái.

Thứ sáu, nêu bốn ái tức là bốn việc.

Thứ bảy, nêu năm loại ái và năm ấm.

Từ câu “Này thiện nam v.v…” trở xuống là thứ ba, nói về đúng sai.

Nếu bất thiện ái thì đó là Tập, nếu là thiện ái thí đó chẳng phải Tập. Trong đó lại có ba phần phân biệt dứt trừ. Thứ nhất là dùng Thánh đối với phàm để phân biệt. Kế là nêu Bồ-tát đối Nhị thừa để phân biệt. Thứ ba, là dùng đế và phi đế để phân biệt.

Cho nên nói “ái của phàm phu gọi là Tập, chẳng gọi là Đế. Ái của Bồ-tát gọi là Thật đế, chẳng gọi là Tập”. Sở dĩ ái của Bồ-tát gọi là Thật đế chẳng gọi Tập là y cứ theo trí giải. Phàm phu chẳng như thế nên gọi là Tập. Nếu lấy theo nghĩa này thì Tục chẳng gọi là Đế. Nếu so sánh với sự thấu suốt thì được gọi là Đế, nếu tùy theo thế tình thì gọi là Tục.

2. Hội thông:

Từ câu “Ca-diếp bạch Phật v.v…” trở xuống là phần hội thông. Xưa hoặc nghiệp là Tập; nay vì sao chỉ nói là ái là nhân của khổ. Trước là hỏi, sau là đáp. Trong phần hỏi, trước dẫn bốn kinh, kế là nêu câu hỏi.

Đầu tiên là dẫn kinh nói sáu xúc, tức sáu thức chấp lấy trần cảnh mà sinh ra sáu xúc đối, đây cũng là tập duyên, do thức tâm này mà dẫn sinh ra quả ở vị lai. Như trụ xứ của bốn thức là năm ấm lẫy lừng.

Từ câu “Vì sao? v.v…” trở xuống là chính thức kết thành câu hỏi.

Kế là, Đức Phật đáp có hai: trước là khen lời hỏi, sau là đáp. Thứ nhất như văn kinh ghi.

Trong phần đáp ý nói giáo xưa giáo nay không trái nhau, cho nên nói: “Ngày hôm nay nói ái là gốc của ấm giới, tức là y cứ theo giáo nay”. Văn có hai: Một, nói ái là căn bản; hai, nói tội khổ của ái. Về căn bản có pháp thuyết và dụ thuyết.

Gồm ba dụ: đại vương, áo dơ và đất ẩm, như văn rất dễ hiểu.

Từ câu “Bồ-tát v.v…” trở xuống là nói về tội khổ của ái. Có hai: Một là nêu chương; hai là giải thích rộng.

Giải thích cũng có chín chương đều chia ra hợp và dụ. Một chương đầu là vì Nhị thừa mà lập dụ; tám chương sau là vì phàm phu mà lập dụ.

Thứ nhất như văn kinh.

Nhị thừa chưa dứt trừ tập khí như chưa trả hết nợ. Tám chương sau vì phàm phu mà lập dụ. Y theo văn kinh rất dễ hiểu.

3. Phân biệt:

Từ câu “Vì nghĩa này v.v…” trở xuống là đoạn thứ ba, phân biệt chọn lọc.

Khổ Tập là nhân quả thế gian đã nói xong, đối với khoảng giữa của bốn Đế (sau Khổ Tập, trước Diệt Đạo) mà kết luận khổ tập hữu tác ở trước và phát khởi bốn Đế vô sinh ở sau. Quên trước tức quên sinh tử, quên sau tức quên Niết-bàn, y cứ vào sinh diệt trong văn này mà liệu giản, khiến cho ba phần là thứ hai, thứ ba và thứ tư được hiển bày (ba phần: Là bốn Đế vô sinh, bốn Đế vô lượng và bốn Đế vô tác). Vì sao? Vì nếu thấy có khổ thì có khổ sinh, nếu có khổ sinh thì có khổ diệt. Đã biết khổ tức không có khổ, thì khổ sẽ không sinh, khổ không sinh thì khổ không diệt.

Kinh Đại Phẩm ghi: “Ngay nơi sắc là không, chẳng phải sắc diệt rồi mới không. Tánh sắc tự không, trong không thì vô sinh vô diệt”.

Kinh Tịnh Danh ghi: “Năm thọ ấm rỗng rang, là không, chẳng có sinh khởi, đó là nghĩa khổ”.

Nếu như thế thì biết khổ tức không khổ mà có chân đế. Tập từ khổ sinh, đã biết khổ tức không khổ thì đâu có tập, biết tập thì không có tập là chân đế. Khổ tập đã diệt thì gọi là Diệt đế. Diệt vốn chẳng sinh thì nay chẳng diệt, đó biết là diệt tức không diệt mà có Chân đế.

Đạo là để biết Khổ Tập, đã không có gì để trị cũng không có phép trị nên Đạo chẳng hai, đó là biết Đạo tức chẳng đạo mà có Chân đế.

Lại nhờ vào khoảng giữa của bốn Đế để phân biệt vô sinh, nghĩa là nói hai bên vô sinh. Nhân quả thế gian đã chẳng sinh; nhân quả xuất thế gian cũng chẳng sinh thì không có bốn Đế. Đã biết Khổ Tập thế gian thì không có Khổ, Tập, cũng biết Diệt Đạo, xuất thế cũng không có Diệt Đạo, đó là bốn Đế vô sinh, ý này thật vô lượng chỉ nói lược mà thôi. Nếu muốn phân biệt nêu phần thứ ba, tức biết khổ tức không khổ mà có thật, thì y cứ vào thật. Trong đó lại có hai ý là thứ lớp thật và chẳng thứ lớp thật. Thứ lớp thật là bốn Đế vô lượng, chẳng thứ lớp thật là bốn Đế vô tác. Lại y cứ vào đó mà phân biệt bốn Đế. Gồm bốn chương. Chương thứ nhất là phân biệt khổ.

Có hai bản nói khác nhau. Bản xưa nói phàm phu, Thanh văn, Duyên giác đều có Khổ đế. Bản mới san định thì trong Tập đế chia phàm phu và Nhị thừa thành hai hạng khác nhau, phàm phu chỉ có khổ, không có đế, Nhị thừa thì có khổ có đế. Ở đây đối với Nhị thừa thì gồm cả cho và đoạt. Xưa nói Khổ là cảnh, Đế là trí. Phàm phu vô trí chỉ có cảnh, vì vậy chỉ có khổ không có đế. Nhị thừa có chút phần trí, nên có khổ và đế, mà không có chân đế. Vì thế chẳng thể quán khổ, biết khổ tức không khổ, nên chẳng chân thật. Về Tập đế thì cũng giống như thế.

Hai đế là Đạo và Diệt chẳng nói về phàm phu, vì chỉ có ở Nhị thừa và Bồ-tát. Đạo diệt có chân ngụy khác nhau, vì Nhị thừa chẳng thể quán Diệt đế chẳng phải Đế, nên chẳng phải Chân, còn Bồ-tát thì biết rõ, nên đạt được chân thật.

Từ câu “Này thiện nam” trở xuống là nói rộng về Diệt đế, tuy Diệt Đạo nhờ vào trung gian của sinh diệt đế kia để phân biệt, nhưng vì sinh diệt Diệt đạo chưa giải thích, nên lại giải thích, còn ba loại bốn Đế khác như bốn Đế vô sinh… sau sẽ giải thích rộng, kế là giải thích Diệt đế. Văn có ba ý: Thứ nhất, nêu hai chương, kế đến giải thích ba kết.

Nêu hai môn quán diệt và Diệt đế. Nếu quán diệt tức là chương đoạn, quán Diệt đế là chương xa lìa. Nhị thừa nguội thân bặt trí diệt chỉ có hai việc đoạn lìa, còn Bồ-tát đầy đủ trí đức, v.v…

Từ câu “Cái gọi là đoạn v.v…” trở xuống là giải thích tám chữ đầu về quán diệt đế.

Sự dứt hoặc này, không thể lấy đó làm đoạn.

Từ câu “Nếu phiền não v.v…” trở xuống là giải thích chương quán Diệt đế, gồm có dụng và thể.

Trong dụng gồm có năm câu: bốn câu đầu là bốn đức, có chỗ nói là năm đức, nay nói bốn đức là nói theo dụng.

Thứ hai, từ câu “Đối với sắc thanh v.v…” trở xuống là y cứ theo rốt ráo vắng lặng, là nói theo thể.

Thứ ba, từ câu “Này thiện nam! Bồ-tát, v.v…” trở xuống là kết luận như văn kinh ghi.

Trong phần giải thích có dụ và hợp.

Nói nhờ đèn sáng là dụ cho tám Chánh đạo, nhưng đèn sáng chiếu soi vật, vật tuy thường và vô thường khác nhau, nhưng rốt cuộc chỉ một đường mà tùy duyên nên nói khác.

Nói Đà-la-phiêu: Hà Tây cho là chân thật đế, Cầu-na là trang nghiêm, anh lạc công đức v.v… Xưa nói là chủ đế, y đế. Phi-đà-na tức là phi chân, phi Cầu-na tức là phi tục.

Từ câu “Ca-diếp bạch Phật v.v…” trở xuống là phần thứ hai hội thông. Khi xưa Phật nói nhiều thuyết khác nhau, nay chỉ nói tám đạo.

Vì thế phải hội thông. Văn kinh có hai đoạn là hỏi và đáp. Trong đoạn hỏi có hỏi và bắt bẻ. Hỏi có ba: một, nói chẳng tương ưng; hai, giải thích chẳng tương ưng; ba, kết luận chẳng tương ưng.

Đầu tiên như văn kinh. Kế là giải thích. Nêu mười bốn kinh mà phần nhiều là giáo A-hàm, v.v… từ tín tâm cho đến bố thí, nói đều là Đạo nhưng có khác nhau.

Kế là từ câu “Bạch Đức Thế Tôn v.v…” trở xuống là bắt bẻ, gồm có ba:

  1. Dùng nay bắt bẻ xưa.
  2. Dùng xưa chất vấn nay.
  3. Kết luận thành lỗi.

Văn thứ nhất cho rằng nếu xưa đúng thì nay sai.

Thứ hai, cho nay là đúng, vì sao khi xưa chẳng thấy nói đến.

Thứ ba kết luận, như văn kinh ghi.

Phật đáp có hai phần, trước là khen.

Từ câu “Này thiện nam v.v…” trở xuống là chánh đáp.

Ý trong phần pháp thuyết là theo căn cơ khác nhau, nên nói có khác nhau, hợp tất cả đều là một Đạo đế, cho nên lý đồng.

Từ câu “Thí như thầy thuốc, v.v…” trở xuống là dụ thuyết, có sáu dụ: Thầy thuốc, uống nước, thợ bạc (thợ kim hoàn), đốt lửa, một thức, một sắc. Tất cả đều có trước dụ sau hợp. Thứ nhất dụ thầy thuốc, rất dễ hiểu.

Hà Tây cho rằng Ni-bà-la là nấu nước cây Ha-lê, Bát-trú-la là nấu nước lá cây này thành thuốc, nên lấy tên cây làm tên nước uống.

Nói Ba-ni, đây là một loại nước ở Đông Thiên Trúc. Có kinh ghi là Uất-trì, nay chưa nhất định được, nhưng từ lâu đã truyền ghi là Uấtđặc. Sa-lị-lam là một loại thức uống ở Trung Thiên Trúc. Ba-lợi là một loại thức uống của Thanh Luận sư. Ba-da là nước có hòa thuốc.

Thứ ba, dụ thợ kim hoàn.

Nói năm loại là Tín hành cho đến Kiến đạo, tức Tín hành và Pháp hành, người trong kiến đế đạo. Tín giải là Kiến đạo cũng gọi là Kiến đắc, là người trong tư duy đạo. Bốn người trong hai đạo mỗi đạo chia làm lợi và độn, vào tư duy lại thành tín giải độn. Pháp hành thì rất dễ hiểu. Xem qua như thế, nếu thường tập thì thành lợi, chẳng tu tập thì độn, qua lại chẳng nhất định. Có vài người cho rằng mười lăm tâm là Kiến đế đạo; mười sáu tâm trở lên là Tư duy đạo. Các Luận gia thì chẳng như thế, cho mười sáu tâm đều là Kiến đế đạo. Các Luận gia chia ra lợi độn trong năm pháp quán dừng tâm. Trong đó nhập kiến đạo không có lợi độn. Thí như nước lặng yên, tùy ý bơi thuyền hoặc nhanh hoặc chậm, khi thuận gió xuôi dòng thì không có lợi độn. Ba văn còn lại rất dễ hiểu.

Từ câu “Này thiện nam v.v…” trở xuống là đoạn thứ ba, tổng kết.

Từ câu “Ca-diếp bạch Phật, v.v…” trở xuống là đoạn thứ ba nói về vô lượng tứ Thánh tuệ. Có ba đoạn: một, nói về vô lượng vô lượng; hai, kết thành bốn vô lượng tuệ; ba, kết thành hai vô lượng.

Có người cho rằng văn này hội thông bốn đế. Khai Thiện cho rằng đây là nhiếp pháp tận, chẳng tận. Ở đây cho là chương vô lượng vô lượng tuệ. Thứ nhất như văn kinh hỏi đáp.

Trong phần hỏi, trước là nêu việc, xưa nói lá cây trên mặt đất là dụ cho vô lượng vô lượng. Lá trong tay ít là dụ cho hữu tác vô sinh. Nên biết, trước kia người nói thì ít, người chẳng nói thì nhiều. Nhiều như thế, Tứ đế gồm thâu tất cả. Nếu gồm thâu tất cả thì chẳng nên nói là nhiều, nếu chẳng gồm thâu tất cả thì lẽ ra có đế thứ năm.

Phật đáp là vừa gồm thâu tất cả vừa chẳng gồm thâu tất cả, đều gọi là bốn Đế. Danh nhiếp thì phân biệt hết tất cả tướng mạo, kia chẳng nói nhiếp thì chẳng tận tất cả. Vì danh đồng mà nghĩa thì khác nên có tận và chẳng tận. Nay Đức Phật đáp là dùng danh để gồm thâu từ trước, cho gồm thâuhết tất cả.

Từ câu “Ca-diếp lại bạch v.v…” trở xuống là quy kết vô lượng vô lượng làm bốn vô lượng tuệ. Văn kinh gồm có hỏi và đáp.

Trong phần đáp có hai, đầu tiên chỉ y cứ để nói về trí, kế đến là giải thích tướng của đế. Đầu tiên như văn kinh ghi.

Nếu nói đủ về đế trí thì phải có ba phẩm. Nhưng hạ phàm chẳng cần nói, nên không bàn đến, chỉ nêu bậc trung và bậc thượng. Nếu y cứ vào pháp thì phải nêu bốn loại Tứ đế để sắp xếp trung thượng. Hữu tác và Vô sinh như trước đã nói, còn vô lượng thì nay sẽ nói. Nói vô lượng thì chẳng phải vượt ngoài bốn Đế mà chỉ là nói đến một loại bốn Đế khác. Cho nên văn kinh ghi: “Phân biệt so lường có vô lượng chủng loại”. Nếu nói đến cùng tận thì từ địa ngục cho đến Phật, từ phàm đến Thánh, tất cả năm ấm đều khác nhau. Trong mỗi ấm lại chia ra có vô lượng giới và nhập, Thanh văn, Duyên giác đâu thể biết được vô lượng khổ đế này. Lại từ địa ngục cho đến Phật, hành nghiệp đều khác nhau, mỗi hành nghiệp lại chia ra tính lường có vô lượng loại, Thanh văn, Duyên giác cũng chẳng thể biết được vô lượng Tập đế này. Lại từ địa ngục cho đến Phật nên dùng thân nào, nên nói pháp gì để giúp cho họ tu học. Mỗi pháp của thân phân biệt so lường có vô lượng pháp môn làm quyến thuộc; Thanh văn, Duyên giác cũng chẳng thể biết được đó là vô lượng đạo đế. Lại từ địa ngục cho đến Phật, khi được Giải thoát do nhân duyên khác nhau nên mỗi Giải thoát lại có vô lượng Giải thoát. Phân biệt so lường lại vô lượng như thế thì hàng Thanh văn, Duyên giác cũng chẳng thể biết được vô lượng Diệt đế. Bốn cảnh đã khác thì hữu tác vô sinh, trí của Nhị thừa cũng chẳng thể đạt đến. Tên gọi đồng khác là tướng bốn Đế, như mặt đất chỉ một tên mà có vô lượng, tướng của nó rộng lớn nay sẽ nói lượt.

Trong phần chánh thức nói về bốn Đế có bốn chương. Đầu tiên là nói về Khổ đế, trong đó kinh chỉ y cứ theo ấm, nhập, giới và lặp lại về ấm, để nói lược tướng khổ. Đầu tiên là nói về ấm.

Kinh nói: “Biết các ấm khổ là người Trung trí, phân biệt được các ấm có vô lượng tướng là người Thượng trí”. Vậy làm sao phân biệt được ấm sáu đường? Ấm nghĩa là ngăn che, tức ngăn che pháp lành trời người và pháp lành vô lậu. Ngăn che pháp lành trời người thì đọa vào ba đường. Ngăn che pháp lành vô lậu thì luân hồi trong các cõi. Ấm của Nhị thừa thì ngăn che đức và đẳng, ngăn che bốn đẳng tâm thì không thể giáo hóa chúng sinh, ngăn che bốn đức thì chẳng thể đến đảo châu báu. Ấm của Bồ-tát thì ngăn che sinh tử và Niết-bàn, ngăn che sinh tử thì dùng đại bi nhổ gốc khổ, ngăn che Niết-bàn thì khởi đại Từ ban vui. Ấm của Phật thì ngăn che Sự Lý pháp giới. Ngăn che Sự thì Ứng thân thích ứng khắp các loại căn cơ; ngăn che Lý thì Pháp thân biến hiện khắp tất cả cõi. Vả lại, ấm của sáu đường là khổ, ấm Nhị thừa là lạc, ấm Bồ-tát là song thị, ấm của Phật là song phi. Phân biệt như thế Nhị thừa đâu thể biết được.

Biết các ấm khổ gọi là trung trí, phân biệt các ấm có vô lượng tướng là bậc Thượng trí, làm thế nào để phân biệt sáu đường, gọi là nhập môn, cũng gọi là hội nhập. Tức nhãn căn và sắc trần hội nhập hữu vi cho đến ý căn và pháp trần hội nhập hữu vi. Nhập của Nhị thừa là nhập vô thường vô ngã, hội nhập vô vi. Nhập của Bồ-tát tức nhãn căn nhập vào thí và hội nhập Đàn ba-la-mật cho đến ý căn cũng giống như thế. Nhãn căn nhập vào các môn giới, nhẫn, tinh tấn, thiền và tuệ, hội nhập vào các Ba-la-mật, cho đến ý căn cũng giống như thế. Nhập của chư Phật tức là Phật nhãn nhập vào phổ môn, nhập vào Từ, Bi, Hỷ, Xả của pháp giới, pháp giới cảm ứng mà hội nhập biển Nhất thiết trí, cho đến ý căn cũng giống như thế. Trong các kinh nói sáu căn là môn tịch tĩnh, môn bình đẳng, nghĩa này rất nhiều, v.v… Vả lại nhập của sáu đường là nhập môn khổ, nhập của Bồ-tát là nhập vào môn vừa vui vừa khổ, nhập của chư Phật là vào môn chẳng phải vui chẳng phải khổ.

Biết phần, tánh của giới gọi là Trung trí, phân biệt các giới có vô lượng tướng gọi là Thượng trí, làm sao phân biệt được? Tánh phần nhãn giới của sáu đường chỉ thấy sắc, chẳng thể nghe được âm thanh. Tánh phần của cõi sắc chỉ đối với nhãn căn chẳng thể đối với nhĩ căn. Cho đến tánh phần ý giới chỉ có thể biết pháp, chứ chẳng thể thấy nghe. Tánh phần của pháp giới chỉ đối với ý căn, chẳng thể đối với nhãn căn, nhĩ căn.

Giới của Nhị thừa, thì tánh phần của nhãn giới chỉ là vô thường, khổ, không, vô ngã, chẳng được thường lạc cho đến ý giới cũng giống như thế. Giới của Bồ-tát, thì tánh phần của nhãn giới chỉ thấy sắc không, chẳng thể tức không tức giả tức trung, cho đến tánh phần của ý giới chỉ có thể tức không, chẳng thể tức trung tức giả. Giới của Phật thì nhãn là tánh phần của pháp giới pháp tánh, thấy được sắc, nghe được thanh, ngửi được mùi, phân biệt vị, biết xúc chạm, rõ các pháp, tức không tức giả tức trung, không thể nghĩ bàn, đầy đủ tất cả vô lượng Phật pháp, cho đến ý cũng giống như thế.

Vả lại sáu đường lấy khổ làm giới, Nhị thừa lấy vui làm giới, Bồ-tát lấy vừa khổ vừa vui làm giới, Phật lấy chẳng khổ chẳng vui làm giới.

Từ câu “Biết sắc là tướng hoại v.v…” trở xuống là nói rộng y cứ theo ấm.

Phân biệt các sắc có vô lượng tướng hoại gọi là bậc Thượng trí. Trong đó sắc của sáu đường hoại pháp thiền và định. Sắc của Nhị thừa hoại nhân và quả. Sắc của Bồ-tát phá hoại hữu hoại vô. Sắc của Phật phá hoại các họai trên. Hoại là pháp giới, chẳng hoại chẳng phải chẳng hoại, cũng đều là pháp giới. Lại sắc của sáu đường phá hoại các pháp vui, sắc Nhị thừa phá hoại khổ, sắc của Bồ-tát phá hoại cả hai đúng, sắc của Phật hoại cả hai sai.

Biết thọ là tướng giác gọi là người Trung trí, phân biệt thọ có vô lượng tướng gọi là người Thượng trí. Trong đó thọ của sáu đường là thọ thuận, thọ nghịch, thọ chẳng thuận nghịch, nếu nghịch thì khởi sân giác, nếu thuận thì khởi tham giác, nếu chẳng thuận chẳng nghịch thì khởi si giác. Thọ của Nhị thừa thì đối với ba giác, mỗi giác đều khởi năm phần Pháp thân, trong đó giai vị Tu-đà-hoàn mới là giác ngộ vô lậu. Thọ của Bồ-tát là thọ Phật pháp thì biết mười lực, bốn vô úy, các Ba-la-mật. Khi thọ chúng sinh thì giác biết bốn tâm vô lượng Từ, Bi, Hỷ, Xả. Thọ của chư Phật là tự giác giác tha, ngay nơi giác mà bất giác, chẳng giác chẳng phải chẳng giác, tất cả đều là pháp giới.

Biết tưởng là tướng chấp thủ gọi là Trung trí, phân biệt chấp thủ này có vô lượng tướng gọi là người Thượng trí. Chấp lấy của sáu đường là chấp thủ nhân, ngã, chúng sinh, thọ mạng, sắc, hương, vị, xúc. Chấp thủ của Nhị thừa là chấp vô thường, khổ, không, vô ngã, Niết-bàn. Chấp thủ của Bồ-tát tức chẳng chấp hai bên, chỉ giữ lấy Trung đạo. Chấp thủ của Như Lai là chẳng chấp chẳng phải chẳng chấp, tất cả đếu là pháp giới.

Biết hành tướng là tạo tác gọi là Trung trí, phân biệt hành có vô lượng tướng mà Thanh văn, Duyên giác chẳng thể biết được, đó là người Thượng trí. Hành của sáu đường tạo tác ra hai mươi lăm hữu. Hành của Nhị thừa tạo ra Niết-bàn. Hành của Bồ-tát tạo các Ba-la-mật. Hành của chư Phật tạo mà chẳng tạo, tức chẳng tạo chẳng phải chẳng tạo, tạo tác đều là pháp giới.

Biết thức phân biệt gọi là Trung trí, phân biệt thức có vô lượng tướng biết thì đó là người Thượng trí. Trong đó, phân biệt của sáu đường là chấp chặt đây kia, uống đắng ăn độc. Phân biệt của Nhị thừa là nhàm lìa sinh tử, đắm mê Niết-bàn. Phân biệt của Bồ-tát là hai bên hội nhập Trung đạo. Phân biệt của chư Phật thì chẳng phải biên, chẳng phải trung. Văn y theo Khổ đế đã hết.

Thứ hai là biết ái làm nhân duyên sinh ra các ấm là người Trung trí, biết tất cả ái gọi là Thượng trí. Ái của sáu đường là nhân duyên của các ấm thân sau. Ái của Nhị thừa là nhân duyên của năm phần Pháp thân. Ái của Bồ-tát là Vô đẳng đẳng sắc cho đến Vô đẳng đẳng thức. Ái của chư Phật là nhân duyên cõi sắc cho đến thức Giải thoát.

Thứ ba, biết phiền não diệt là người Trung trí, biết diệt phiền não cũng chẳng thể tính lường gọi là người Thượng trí. Phàm phu sáu đường cũng có diệt nhưng lại sinh. Diệt của Nhị thừa thì như tro lạnh chẳng còn khởi. Bồ-tát thì tự mình đã diệt lại khiến cho người cũng diệt được phiền não. Diệt của chư Phật thì một diệt tất cả diệt, tức là pháp giới.

Thứ tư, biết đạo lìa bỏ phiền não gọi là Trung trí, phân biệt vô lượng vô biên phiền não năng lìa là Thượng trí. Đạo của sáu đường lìa ác của thiện, lìa thiện của ác. Đạo của Nhị thừa lìa vô lậu của lậu. Đạo của Bồ-tát thì lìa trung của hai bên. Đạo của chư Phật thì chẳng lìa chẳng đến. Vì sao? Vì tất cả các pháp là Phật đạo, động thì thấy tu đạo phẩm, bất động thì cũng thấy tu đạo phẩm, vừa động vừa bất động cũng thấy tu đạo phẩm, chẳng phải động thấy, chẳng phải bất động cũng thấy tu đạo phẩm v.v… Đó là phân biệt vô lượng Tứ Thánh đế.

Từ câu “Biết thế đế v.v…” trở xuống là đoạn thứ ba, kết luận bốn vô lượng thành hai vô lượng. Văn có hai: Một, là nói về Nhị đế; hai, là nói về tuệ Nhị đế. Thứ nhất nói về Nhị đế.

Văn kinh nói biết thế đế là bậc Trung trí, phân biệt thế đế có vô lượng vô biên là người Thượng trí; biết rõ ba Pháp ấn là Trung trí, biết Đệ nhất nghĩa vô lượng vô biên chẳng thể so lường là bậc Thượng trí. Người thế gian chỉ nói Đệ nhất nghĩa đế, chân đế Niết-bàn chỉ được một, chẳng được hai, huống chi là vô lượng vô biên.

Nay văn kinh nói Đệ nhất nghĩa đế chẳng thể tính kể, đâu chỉ là một loại. Ở đây nói vô thường Niết-bàn v.v… là chân đế, khác với các nhà Số Luận. Số Luận cho rằng bốn Đế, mười sáu đế đều thấy chân, đắc được quả Thánh, đều là Đệ nhất nghĩa. Các Luận gia cho rằng chỉ một vô ngã mà thông cả chân tục, còn tất cả đều là Thế đế, nhưng theo đó đều gọi là chân, vì vô thường mà dứt hết các điên đảo thường lạc, v.v… Khổ tập thì tùy chân, nên theo đó mà gọi là Chân.

Kinh Tịnh Danh nói: “Chẳng sinh chẳng diệt là nghĩa vô thường, đều là Thật tướng, đều là Đệ nhất nghĩa, lại là ba pháp ấn”.

Từ câu “Bấy giờ, Văn-thù v.v…” trở xuống là thứ hai, nói về tuệ Nhị đế. Đầu tiên đưa ra sáu loại Nhị đế xưa giải thích: Hữu không, Hư thật, Thế lưu bố (cũng gọi là tùy sự), Tương tục, Tương đãi và Nhân sinh.

Hữu không chỉ cho Đại phẩm, Hư thật và Lưu bố chỉ cho A-tỳđàm, Tương tục, Tương đãi và Nhân sinh chỉ cho luận Thành Thật. Vả lại, giải thích ý thì đồng mà tên thì khác như: Phàm thánh, Hư thật, Không hữu, Giả thật, Sự lý, Thân sơ. Xưa giải thích rằng: tục là phù hư, Chân là chân thật, Thế là một đời, Đệ nhất nghĩa là không có lỗi, Tục đối đãi với chẳng tục, chẳng tục gọi là Chân, Chân đối đãi với chẳng Chân, chẳng Chân gọi là Tục. Hư thật đối đãi thì danh từ chân tục sinh. Có người hỏi rằng Chân là chân thật thì có thể gọi là Đế, còn Tục là phù hư thì sao gọi là đế được?

Đáp rằng: có chân thật và phù hư.

Nếu thế thì nghĩa đế có hai: Tục thì dùng Phù hư để giải thích đế; Chân thì dùng Thật để giải thích đế. Hưng Hoàng cho rằng Đế không hề có hai, vì duyên nên có hai, tục đối với Phàm là thật, chân đối với Thánh là thật, đều dùng thật để giải thích Đế, chứ chẳng lấy phù hư. Nay hỏi: Chân đối với Thánh là thật, Thánh có trí Chân chiếu thì có thể gọi là Đế. Phàm đối với Tục là thật, phàm không có trí chiếu Tục, thì đâu được gọi là Tục đế. Nếu Phàm không có trí chiếu Tục mà đối với Tục là thật, được gọi là Tục đế, vậy phàm không có trí chiếu chân, đối với Chân cũng là thật, lẽ ra cũng được gọi là Chân đế. Phàm đối với Chân không có trí, chẳng gọi là Chân đế, thì phàm đối với Tục vô trí thì đâu được gọi là Tục đế. Vả lại, thánh đối với Chân là thật gọi là Đế, vì sao Thánh đối với Tục chẳng thật mà chẳng được gọi là Đế? Cho nên bậc Thánh không có quyền trí, nay nói đế lại là xét thật. Kinh Tịnh Danh nói: “Tứ đế là Bồ-đề chẳng luống dối”, tức là xét thật này lại có tùy tình xét thật và tùy trí xét thật. Vì tùy tình trí xét thật nên tùy phàm tùy thánh, theo chân theo tục thì gọi là Đế. Ví như một sắc mà phàm phu cho là hữu, hiền thánh cho là không. Như một mặt trời mà kẻ say người tỉnh thấy chuyển và chẳng chuyển khác nhau. Nghĩa một đế hai đế cũng giống như thế. Xưa nói hai đế chỉ là một thể chẳng khác. Long Quang cho rằng đã nói là hai đế, thì lại là một thể ư? Hai đế có hai thể cũng đều thông, trong đó duyên giả pháp là thế thể, lý vô tướng là chân thể. Tuy có hai thể mà có thật tướng tức tục, tuy danh tướng chẳng phải danh tướng, thật không có danh tướng mà chẳng ngại danh tướng. Lại nói hai đế một thể, Không là gốc của lý, nên lấy Chân làm thể, Tục làm dụng. Hoặc nói từ tục mà có chân, tục là thể, chân là dụng.

Khai Thiện cho rằng hai đế đều dùng Trung đạo làm thể. Các nghĩa này chẳng đúng. Nếu có hai thể, thì thế đế chẳng phải là bậc nhất, bậc nhất chẳng phải là thế đế. Cho nên chẳng tương tức, chẳng được có tương tức. Nếu là một thể chỉ là một đế không có hai đế. Nếu hai đế thì lấy Trung đạo làm thể, thì chấp tướng chướng chân, vô tri chướng tục, còn cái gì là chướng trung? Trí hai đế chẳng thể thấy Trung thì đâu được lấy đó làm thể. Nếu hai đế hai thể thì hai thể khác nhau, chẳng nói về tức nhau. Nếu hai đế một thể thì chỉ là một đế, vậy tức nhau với cái gì?

Kinh Nhân Vương Bát-nhã nói: “Nhị đế chẳng tức nhau, giống như hai sừng trâu”. Đại Phẩm nói: “Ngay nơi sắc là không”. Kinh Tịnh Danh ghi: “Năm thọ ấm rỗng không, chẳng sinh khởi, đó là nghĩa khổ”. Kinh này đều nói hai đế tức nhau.

Xưa hợp bốn Đế thành hai đế, có chỗ nói Khổ Tập thế gian là thế đế, Đạo diệt xuất thế là chân đế. Có chỗ nói ba Đế là thế đế, chỉ có diệt đế là chân đế. Hoặc nói bốn Đế là thế đế, tức thế đế là chân đế. Văn kinh ghi: “Biết khổ chẳng phải khổ mà có chân đế, ba Đế kia cũng giống như thế”.

Nay nói không chỉ bốn Đế khai hợp khác nhau, mà hai đế khai hợp cũng chẳng phải một, về sau sẽ nói rõ. Đoạn văn này gồm hai phần hỏi đáp. Một gồm có ba: một, là xét định; hai, là từ câu “Bạch Đức Thế Tôn v.v…” trở xuống là định hai đế có trong nhau chăng.

Thứ ba, từ câu “Nếu có v.v…” trở xuống là vặn hỏi hai ý.

Vặn hỏi rằng: Nếu nói có tức là nhất đế, chân tục tức nhau, nên trong chân có tục, trong tục có chân. Hai đế chẳng khác nhau, nên nói là như một. Nếu nói không tức là luống dối. Thật ra nói có, nói không, nhất định là một, nhất định là khác, đều là luống dối, đều có ra từ kinh mà hiển bày cho nhau. Nếu nhất định có, nhất định không thì thành đoạn thường luống dối.

Từ câu “Này thiện nam v.v…” trở xuống là Như Lai trả lời.

Hai đế tức nhau, chẳng đoạn chẳng thường, chắc chắn chẳng phải luống dối.

Từ câu “Bạch Đức Thế Tôn v.v…” trở xuống là phần hỏi đáp thứ hai.

Ý hỏi là thành một đế ư? Cho nên mới nói là không có hai đế. Như dài ở trong ngắn thì không còn dài, chân tại tục thì mất chân, chỉ thành một đế.

Đức Phật đáp có hai ý: Một là, được nói về đại ý. Lý thật Trung đạo chỉ có một thể, dùng phương tiện tùy duyên khéo léo mà nói có hai.

Hai là, từ câu “Nếu tùy ngôn thuyết v.v…” trở xuống là phần thứ hai, giải thích rộng, có tám loại:

1/ Thế, xuất thế

2/ Danh, vô danh

3/ Thật. chẳng thật

4/ Định, bất định

5/ Pháp, chẳng phải pháp

6/ Cháy, chẳng phải cháy 7/ Khổ, chẳng phải khổ 8/ Hòa hợp.

Cũng có thuyết lập sáu thứ hai Đế. Như nói các đế không hữu, hư thật v.v… đều nói hai lý có hư có thật rõ ràng nên chẳng phải ý kinh. Nay văn kinh nói: “Thuận theo chúng sinh mà nói hai đế”. Như tùy người say mà nói mặt trời xoay chuyển, thì nên dùng ý này để giải thích văn kinh. Có Sư cho rằng bảy loại mỗi loại khác nhau. Nay nói bảy loại hai đế do Đại sư Trí Giả lập ra, danh tuy chẳng đồng, mà nghĩa hội về một, đó là: Sinh diệt, vô sinh, thiền tục phức chân, thiền tục thiền trung, phức tục thiền trung, phức tục phức trung, viên hai đế.

Nếu theo văn của Pháp Hoa Huyền Nghĩa thì danh tướng hơi khác mà ý nghĩa đều đồng, người đọc nên biết. Lại trong mỗi loại đều có ba loại là: tùy tình, tùy trí và tùy tình trí, nay muốn dùng bảy loại hai đế này để giải thích văn kinh.

Ý nghĩa của Phật khó biết, nay nêu lên kiến giải của một Sư mà thôi. Tám loại chẳng đồng tức gồm tám đoạn. Thứ nhất là y cứ theo hai hạng người là thế gian và xuất thế gian để xét định hai đế, mà bao gồm đến bảy loại sau.

Mỗi loại hai đế đều có hai ý này. Thế tình nhiều tưởng nên gom vào Thế đế. Đây là y cứ vào tùy tình trí mà xét định hai đế.

Kế là từ câu “Năm ấm hòa hợp v.v…” trở xuống là y cứ vào danh, vô danh để xét định.

Tổng hợp các ấm thì gọi là sinh, thuộc về thế đế, tức ấm lìa ấm, biết như thật tánh tức chân đế. Đây là y cứ theo tứ đế hữu tác mà lập.

Thứ ba, là từ câu “hoặc có pháp v.v…” trở xuống.

Kia nói Thế đế có danh, các danh gọi là thể, vật ứng với danh. Chân đế chỉ có danh mà không có thật, nay văn này trái với điều ấy. Thế đế chỉ có danh suông mà không có chân thật, chẳng sinh chẳng diệt, tương xứng với pháp tức là chân đế; chẳng thể ngay nơi sắc mà không, cho nên có danh mà vô thật, năng tức sắc là không nên có thật có danh. Đây là y cứ theo Tứ đế vô sinh mà lập.

Thứ tư, nói tuổi thọ chúng sinh như vòng lửa xoay tròn, là y cứ theo đơn tục phức chân để nói về hai đế.

Giả danh, huyễn hóa, sóng nắng, vòng lửa quay chỉ có danh mà không có thật, hợp với thế lưu bố tức là thế đế. Chân và trung hợp thành chân đế. Nếu chỉ lấy chân làm Đệ nhất nghĩa thì chẳng được nói Khổ, Tập, Diệt, Đạo là Đệ nhất nghĩa, đều chỉ cho bốn Đế, tức chân và trung hợp. Đây là nói trong vô lượng Tứ đế, chân và trung đồng là Đệ nhất nghĩa đế. Văn trước nói: “Đệ nhất nghĩa vô lượng vô biên, chẳng thể so lường”.

Thứ năm, Từ câu “Thế pháp có năm v.v…” trở xuống là y cứ thiền tục thiền trung để nói về Nhị đế.

Văn trên dùng sóng nắng, vòng lửa, v.v… để dụ cho nhân và ngã của Thế đế. Năm pháp như vòng lửa, vòng lửa dụ cho pháp; pháp dụ đồng nêu đồng là thiền tục. Tâm không điên đảo biết như thật, tức thiền chỉ Trung đạo cho là như thật. Đây là nói về khổ tập của hữu tác và vô sinh là tục, chỉ Nhất thật đế ở sau là chân.

Thứ sáu, Từ câu “Này thiện nam! Hoặc đốt hoặc cắt, v.v…” trở xuống là căn cứ theo phức tục thiền trung để nói về hai đế.

Hoặc đốt, hoặc chết là nói về trước sau của Thể pháp đầu cuối:

hoặc cắt, hoặc hoại là nói về đầu cuối của pháp phân tích. Tức lấy hai trước làm hữu, hai sau làm vô. Hữu vô này hợp làm Tục, tức là phức tục, thiền chỉ cho trung đạo phi hữu phi vô, cho nên không đốt cắt, tức là Đệ nhất nghĩa, là nói chân tục của hữu tác vô sinh ở trên đều là tục, chỉ có Nhất thật đế ở sau là chân.

Thứ bảy, từ câu “Có tám tướng khổ v.v…” trở xuống là y cứ theo phức tục đơn trung để nói về hai đế.

Về phức tục thì như trước đã nói, còn phức trung tức chẳng phải thiền chỉ lý, ngay nơi sự mà lý, pháp giới tròn đầy gồm đủ, gọi là phức trung. Đây là hợp chân và tục của hữu tác vô sinh là tục, chỉ có nhất thật không thể nghĩ bàn nói ở sau mới là chân đế. Tuy văn kinh chẳng hiển, nhưng theo nghĩa suy mà tự thành. Nhưng một phần hỏi đáp này vẫn còn là hai đế phức tục phức trung.

Thứ tám, từ câu “Này thiện nam v.v…” trở xuống gồm dụ và hợp, nói về hai đế tròn đầy.

Chân tục tức nhau đều chẳng thể nghĩ bàn, thí như cha mẹ hòa hợp sinh con. Một người nhiều tài năng dụ cho viên tục, mười hai nhân duyên hòa hợp, ba đạo tức ba đức, tức Đệ nhất nghĩa, dùng để hiển bày cho viên chân. Đó gọi là không thể nghĩ bàn hai đế, tất cả hai đế đều nhập vào trong đó. Vì phương tiện tùy tục mà nói các loại hai đế có vô lượng vô biên, nhưng chỉ nói bảy loại đâu có gì phải kinh ngạc. Nếu biết được như thế thì gọi là Tuệ Thánh hạnh. Xưa nay đều mê lầm văn nói về hai đế này. Nay lại nghĩ dùng bảy loại đế của Đại sư Thiên Thai để giải thích ý nghĩa tám phần thì hợp với chân, thuận với Thánh tuệ.

Từ câu “Văn-thù-sư-lợi v.v…” trở xuống là phần thứ ba nói về Tuệ Thánh hạnh của Nhất thật đế. Nếu văn trước nêu bốn, nêu hai đồng để hiển Nhất thật, sao chẳng từ bốn Đến ba, mà lại vượt qua ba để đến hai? Chẳng phải không có ba Đế, nhưng văn kinh này gom bốn về hai thì ý nghĩa thích hợp hơn. Nếu thúc bốn về ba thì ý nghĩa có chút bất tiện nên chẳng nói đến ba Đế.

Có nhiều cách giải khác nhau, ở đây cho quả Phật thường trụ là nhất, nương vào nhất thật đế, dẫn kinh Thắng Man rằng: “Nhất Khổ diệt đế tức là chân thật”. Các sư Địa Luận cho rằng: “Dứt vọng thì hiển bày thức A-lại-da, tức là chân thật”. Các sư Trung Giả cho rằng: “Dứt đoạn thường, bày Trung đạo là Nhất thật đế”. Hưng Hoàng thì chẳng dùng các nghĩa này, vì năng y sở y của quả Phật đâu phải là nhất thật?

Vọng hoặc và A-lê-da là một hay là khác? Nếu là một thì đã dứt vọng hoặc cũng dứt cả A-lê-da, nếu là khác thì đối với vọng mà nói thật, đâu có một thật. Đối với biên mà nói trung, thì trung lại thành biên, cũng chẳng phải nhất thật. Nhưng tất cả pháp đều không, rốt ráo thanh tịnh, thật đã vô sở hữu thì không hề có thật và chẳng thật, đế và chẳng đế, tất cả chỉ là duyên phương tiện mà giả lập ngôn giáo. Theo văn kinh thì chính là dùng một đại thanh tịnh làm Nhất thật đế, là pháp chánh chân. Cho nên kinh Hoa Nghiêm ghi: “Pháp tánh xa lìa”. Cho nên hôm nay nói: Nếu nói chẳng phải kia là đây thì chẳng phải là Nhất thật đế. Nếu tùy duyên mà nói khác nhau thì mới đạt được ý mà không phạm lỗi. Văn kinh hiển nhất thật rất rõ ràng. Văn được chia làm hai: một, là nêu tông; hai, là luận nghĩa. [Thứ nhất có hỏi và đáp.

Trong phần đáp có tám lần nêu “này Thiện nam”, hai lần đầu cộng thành nghĩa thứ nhất. Cho nên có bảy nghĩa khác nhau.

Thứ nhất y cứ theo cảnh.

Thứ hai, y cứ vào tâm.

Thứ ba, y cứ theo ngôn thuyết. Nói thêm rằng cũng có thể nói y cứ theo ngôn hạnh.

Thứ tư là y cứ theo người.

Thứ năm là y cứ theo giáo.

Thứ sáu, là y cứ theo nhân duyên.

Thứ bảy là y cứ theo quả thể.

Từ câu “Bồ-tát Văn-thù v.v…” trở xuống là thứ hai, nói về nghĩa, có bảy chương. Đầu tiên là y cứ theo cảnh để nói về nghĩa, có hỏi và đáp. Trong câu hỏi trước là lãnh giải và thưa hỏi.

Nhìn qua thì dường như hỏi ba pháp: Như Lai, hư không và Phật tánh có khác nhau, nhưng xét theo lời đáp ở sau thì chính là hỏi ba pháp trên và Nhất thật đế có gì khác nhau.

Phật đáp có ba ý:

1/ Xướng chươngmôn .

2/ Giải thích.

3/ Kết luận.

Thứ nhất là xướng chương môn, lại có hai: Một là xướng bốn Đế của giáo xưa; hai là xướng Nhất thật giáo nay.

Hưng Hoàng gọi môn thứ nhất là môn Thật diệt, kế là môn Diệt thật. Theo giáo thì nói là Thật diệt, theo lý thì nói là Diệt Thật, cũng là lấy thật trong giáo Tứ đế làm Thật đế. Vì hư không, Phật tánh đều là lý thật, tức là Đế thật, nên gọi là Đế. Thứ nhất là xướng bốn Đế của giáo xưa.

Mỗi đế có ba câu: Khổ là cảnh khổ, Đế là giáo khổ, cũng là trí khổ, Thật là lý Khổ đế vì không hai là thật. Lại nói: Trừ một câu nói khổ, hai câu còn lại cũng được chắc chắn là thật. Lại chỉ dùng thật trừ hai câu kia, chỉ dùng thật là Đế.

Từ câu “Như Lai v.v…” trở xuống là chương hai, đề xướng môn Nhất thật.

Ba thứ đều là thật. Chẳng phải khổ tức chẳng phải cảnh, chẳng phải đế tức chẳng phải giáo, là thật tức là lý. ba Đế sau cũng như thế. Như Lai, hư không và Phật tánh cũng như thế. Khi hiển là Như Lai, khi ẩn gọi là Phật tánh, hư không thì ẩn hiện chẳng khác.

Từ câu “Nói khổ v.v…” trở xuống là phần thứ hai giải thích hai môn, chỉ y cứ theo bốn Đế, nên gồm bốn phần riêng. Trong mỗi đế, trước đều có giải thích Thật đế, Thật đế đây tức là thật trong bốn Đế của giáo xưa, kế là giải thích đế thật, tất cả đều như văn kinh.

Từ câu “Có khổ, v.v…” trở xuống là kết luận đúng sai, có hai:

Kết kuận ba pháp khác bốn Đế, cho nên Đế là thật.

Kết luận ba pháp hữu vi vô lậu, cho nên thật.

Nói có khổ tức Khổ đế, nhân khổ tức Tập đế, khổ tận tức Diệt đế, đối trị khổ là Đạo đế.

Hỏi: Chẳng hư chẳng thật thì gọi là Thật, vậy chẳng hư chẳng thật thì lẽ ra phải gọi là Đế?

Đáp: Đúng như lời vừa hỏi.

Hỏi: Nếu hai đế bình đẳng, vì sao Nhị thừa gọi là Đế, Như Lai gọi là Thật?

Đáp: Cho và đoạt khác nhau. Nhị thừa biết rõ khổ này, lại biết khổ chẳng phải khổ, nên cho gọi là Đế, nhưng chưa tận cùng lý thật, nên đoạt mất từ thật.

Từ câu “Văn-thù bạch Phật v.v…” trở xuống là giải thích môn y cứ theo tâm. Trước hỏi, sau đáp.

Ý hỏi rằng: Đế có gồm thâu các điên đảo chăng? Nếu gồm thâu, vì sao nói chẳng điên đảo là thật, nếu chẳng nhiếp thì trái với lời nói ở trước, là gồm thâu hết các pháp, tiến lùi hai đường đều phạm lỗi.

Nhưng văn sau nói gồm vào Khổ tập, mà ở đây chỉ nói về Khổ đế, vì chỉ y cứ theo nghĩa quả báo từ nhân sinh.

Phần hỏi đáp thứ ba giải thích chương y cứ theo ngôn thuyết.

Trong đó có hai việc rất dễ thấy. Nói thêm rằng: Xét lời Phật đáp thì đã y theo dứt hoặc, tức là biết đã y cứ theo hạnh.

Từ câu “Bồ-tát Văn-thù nói, v.v…” trở xuống là phần thứ tư, y cứ theo người để làm câu hỏi.

Điều mà Nhị thừa nói là Thật, không Thật.

Đức Phật chẳng quyết định là thật hay chẳng thật, chỉ y cứ theo bên dứt hoặc là thật, mà chẳng phải nghĩa thường trụ nên chẳng thật.

Từ câu “Văn-thù-sư-lợi, v.v…” trở xuống là phần thứ năm, y cứ theo giáo để vặn hỏi.

Lời ma nói có gồm trong Thánh đế chăng?

Ý Phật đáp thuộc về bốn Đế, ma nói thuộc về Khổ đế và Tập đế.

Hỏi: Hai mươi lăm đế của ngoại đạo thuộc về đế nào? Lại lời nói của ngoại đạo sẽ phá hoại mấy đế trong bốn Đế?

Đáp: Ở đây nói chỉ hoại Khổ và Tập, chẳng hoại Đạo và Diệt. Vì sao? Vì ngoại đạo nói: Đầu tiên từ minh sinh giác, sau đó sinh năm đại, năm vi, v.v… sinh giác là nhân hoại Tập đế của Phật. Đại và vi là quả hoại Khổ đế của Phật pháp.

Từ câu “Văn-thù-sư-lợi, v.v…” trở xuống là thứ sáu, giải thích môn y cứ theo nhân thể.

Ngài Văn-thù lặp lại lời Phật: “Nhất đạo thanh tịnh là Thật đế”. Rồi ngoại đạo cũng nói: “Nhất đạo thanh tịnh là Thật đế”.

Ý Phật đáp là ngoại đạo chỉ có Khổ, Tập mà không có Diệt Đạo. Trong chẳng phải diệt mà nghĩ là diệt tức gượng chấp Phi tưởng là Niếtbàn; chẳng phải đạo mà nghĩ là đạo, tức vọng chấp các giới gà, giới chó là đạo; chẳng phải quả cho là quả tức là chấp muôn vật là quả của vị trần thế tánh; chẳng phải nhân tưởng nhân, tức vọng chấp thế tánh như cát bụi là nhân của muôn vật.

Hỏi: Trước nói chẳng hoại Diệt và Đạo, nay nói chấp phi tưởng, giới gà, giới chó v.v… thì chẳng phải là hoại sao?

Đáp: Ở đây là khởi vọng chấp ngang trái, trước nói thì chẳng phải như thế. Kia nói hai mươi lăm đế là nói thẳng vào minh sơ sinh giác v.v… trong sáu đế chỉ nói chủ đế, y đế, đâu có chỗ nào nói chấp Phi tưởng và giới chó, cho nên biết chẳng hoại hai đế Đạo Diệt.

Lại hỏi: Ngoại đạo có khổ đế, vì sao trước nói phàm phu có khổ, không có đế?

Đáp: Chỉ nói có cảnh khổ là Khổ đế, chứ chẳng phải là trí khổ.

Từ câu “Bồ-tát Văn-thù, v.v…” trở xuống là giải thích môn y cứ theo quả thể, gồm có hỏi và đáp. Trong phần hỏi có ba:

1/ Nói ngoại đạo có bốn đức.

2/ Giải thích.

3/ Kết luận.

Thứ nhất như văn kinh ghi.

Từ câu “Vì sao v.v…” trở xuống là giải thích. Có hai mươi bốn lần chấp có Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, tức có bốn phần:

1/ Tám lần chấp có Thường.

2/ Năm lần chấp có Lạc.

3/ Ba lần chấp có Tịnh.

4/ Tám lần chấp có ngã.

* Nói về tám lần chấp Thường:

  1. Vì đều có nhân quả nên biết là có Thường.
  2. Nêu nhân sát sinh phải chịu quả báo xấu cho nên Thường.
  3. Y cứ vào năng chuyên niệm cho nên thường.
  4. Nêu sự nhớ nghĩ y cứ theo sở niệm.
  1. Nêu tu tập.
  2. Nêu số tính.
  3. Y cứ theo đọc tụng.
  4. Y cứ theo hình tướng, như văn kinh.

– Kế là chấp Lạc có năm loại.

Thứ nhất y cứ theo nhân quả.

Thứ hai y cứ theo tâm có cầu.

Thứ ba y cứ theo nhân có lạc.

Thứ tư y cứ theo duyên của lạc.

Thứ năm y cứ theo ba phẩm.

– Ba lần chấp có Tịnh:

  1. Y cứ theo nhân của tịnh.
  2. Y cứ theo duyên của tịnh.
  3. Y cứ theo vật chứa tịnh.

* Tám phần chấp có Ngã:

  1. Y cứ theo tạo tác.
  2. Y cứ theo tướng mạo.
  3. Y cứ theo phân biệt mùi vị.
  4. Y cứ theo tạo tác làm việc.
  5. Y cứ theo tâm mong cầu được sữa.
  6. Y cứ theo tên gọi.
  7. Y cứ theo việc ngăn ngại.
  8. Y cứ theo bè bạn.

Từ câu “Bạch Đức Thế Tôn v.v…” trở xuống là phần thứ ba tổng

kết nói ngoại đạo lẽ ra có thật đế.

Từ câu “Phật nói v.v…” trở xuống là Như Lai đáp. Văn có ba đoạn là sơ lược, giải thích rộng và kết luận. Đầu tiên hai ý là bác bỏ và giải thích. Thứ nhất là bác bỏ, như văn kinh.

Kế là, từ câu “Vì sao v.v…” trở xuống là giải thích vì sao bác bỏ.

 

PHẦN 4

Đầu tiên, Như Lai trả lời rộng về các câu hỏi để phá bốn chấp ở trước. Văn có ba phần:

Rộng phá chấp Thường.

Lược phá chấp Lạc và Tịnh.

Rộng phá chấp Ngã là thường.

Thường và Ngã là đầu mối các chấp, cho nên rộng phá. Đầu tiên là phá Thường, văn có ba đoạn:

Nói lý của ngoại đạo sai trái.

Nói lời của ngoại đạo lầm lẫn.

Chánh đáp.

Thứ nhất lại có ba: nói sai trái, nêu lỗi và kết luận sai lầm. Đầu tiên như văn kinh ghi. Vì sao nói là sai trái, vì gượng chấp có Thường. Thường thì chẳng phải duyên sinh, đã duyên sinh thì vô thường. Nhưng các ngoại đạo lại chấp tự nhiên, chẳng phải từ duyên sinh. Nếu là tự nhiên thì pháp trần đối với ý mà khởi chấp này chẳng phải là duyên sinh hay sao? Cho nên ngoại đạo đều là vô thường.

Từ câu “Phật tánh vô sinh, v.v…” trở xuống là nêu lỗi tức nêu đúng đối với sai. Xưa nói vì đó là Phật tánh của quả tương lai nên chẳng sinh diệt. Nếu là duyên sinh tức sinh diệt. Ở đây nói chẳng phải như thế, nêu chánh đối với tà chấp.

Kết luận là sai trái: Chính là lý một đạo thanh tịnh. Tánh của Phật tánh là chẳng sinh chẳng diệt đâu chỉ giải thích là đương quả. Vì nghĩa này nên kết luận nghĩa ấy sai lầm.

Từ câu “Này thiện nam v.v…” trở xuống là đoạn thứ hai nói về lời của ngoại đạo lầm lẫn. Văn có ba ý:

Nói về lời sai lầm.

Phá chấp.

Nêu đúng để bày sai.

Nói lầm lẫn, vì không thấy chân lý Phật tánh, Tam bảo nên điều nói ra sai lầm, chẳng chân thật. Nếu thấy lý này thì lời nói chân thật.

Từ câu “Các phàm phu v.v…” trở xuống là ý thứ hai phá chấp.

Trong lần tà chấp thứ tám mà ngài Văn-thù nêu ở trước là chấp hình tướng mặt đất, y phục, xe, v.v… đều là Thường, nay phá chấp Thường này.

Từ câu “Tất cả hữu vi v.v…” trở xuống là ý thứ ba chỉ ra điều sai.

Từ câu “Pháp hữu vi v.v…” trở xuống là đoạn thứ ba, chánh thức đáp, có ba: một, là nói về hai môn sắc và tâm; hai, là nói về tâm vô thường; ba, chỉ nói về sắc vô thường.

Xưa nói tất cả pháp hữu vi đều gom vào ba nhóm, dẫn phẩm Phạm Hạnh nói: “pháp sắc, pháp phi sắc, pháp phi sắc phi phi sắc”. Trong đó, cho phi sắc phi phi sắc là nhóm vô tác, lại dẫn phẩm Thánh Hạnh rằng: “Bạch bốn lần Yết-ma, sau đó mới đắc”. Tức đắc vô tác. Nghĩa này chẳng đúng. Nói phi sắc phi vô sắc chính là Trung đạo xa lìa hai bên, xa lìa không hữu, chứ đâu phải vô tác; cho là vô tác hữu vi, lỗi này chẳng phải nhỏ. “Bạch bốn lần Yết-ma, sau đó mới đắc” đây là nói về thọ giới, đắc giới, chưa đủ để chứng minh trong đạo vô tác. Vì sao? Vì tác và vô tác đều thuộc về thiện hữu lậu. Các xiển-đề chỉ tin hữu tác, chẳng tin vô tác. Nếu y cứ theo giáo Tiểu thừa thì vô tác hữu lậu, nếu theo ý kinh này thì vô tác vô lậu. Như trước dẫn phẩm Thánh Hạnh: “Thọ giới vô tác làm chứng minh”. Thế nào là vô tác? Kia nói rằng: Nếu chẳng chấp nhận có nghĩa vô tác, vì sao văn sau lại nói: “Nói không có vô tác là tranh luận”. Đáp: Các sư Số Luận cho rằng vô tác là sắc; các Luận sư cho rằng vô tác là vô sắc. Chấp mỗi bên như vậy dẫn đến tranh luận. Nay ta lập luận rằng: Hữu tác, vô tác thì rốt cuộc chẳng chấp sắc, huống chi mỗi bên lại chấp riêng. Ta lại nói rằng: Hữu tác hay vô tác, thì rốt cuộc chẳng nên khởi chấp nhất định. Tiểu thừa thì hữu tác, Đại thừa thì vô tác, nhờ đó sẽ không gây tranh luận. Vả lại, văn chỉ nói về sắc và tâm, đâu gượng lập tác và vô tác. Như các sư Số Luận cho tâm là tâm vương, tâm sở thuận theo tâm vương mà khởi. Vả lại, thức là tâm vương, tâm sở là tưởng, v.v… sắc gồm mười một loại là năm căn, năm trần và vô giáo sắc. Các Luận sư cho rằng mười bốn sắc là năm căn, năm trần và bốn đại. Nhưng ở đây chỉ nói về bốn đại, năm sắc. Văn sau lại nói mười một sắc. Vì sao? Vì đắp đổi nhau hiển bày một bên, không chỉ ở một nơi mà thôi.

Từ câu “Tâm là vô thường v.v…” trở xuống là đoạn thứ hai nói về tâm vô thường, có bốn ý: 1/ Nói về vô thường; 2/ Phá chấp Thường; 3/ Lặp lại vô thường; 4/ Lặp lại nghĩa phá chấp Thường.

1/ Đầu tiên có nêu bốn câu:

Phan duyên khác nhau.

Sáu thức khác nhau.

Sáu trần khác nhau.

Tương ưng khác nhau.

2/ Từ câu “Này thiện nam v.v…” trở xuống là phần thứ hai phá chấp Thường, có bốn phần:

Nói chẳng phải chỉ có thức duyên.

Sáu thức lẽ ra chẳng khác.

Sở nhân lẽ ra chẳng khác.

Danh lẽ ra chẳng khác.

3/ Từ câu “Này thiện nam v.v…” trở xuống là đoạn thứ ba lặp lại vô thường, có năm phần: Nói về ba Thánh tâm khác nhau: Nói về ba phàm tâm khác nhau; Nói về ba thọ tâm khác nhau; Nói về ba tâm độc khác nhau: Nói về ba loại tâm khác nhau.

Đầu tiên như văn kinh ghi. Ba tâm phàm khác nhau. Nói tại gia xa lìa nghĩa là thân sống ở tại gia mà tâm xa lìa thế tục.

4/ Từ câu “Này thiện nam v.v…” trở xuống là đoạn thứ tư lặp lại về ý phá chấp Thường, chính là tám phần phá chấp ở trước. Văn cũng có tám phần tuy không đối đãi nhau, nhưng hoặc phá ý trước, hoặc sinh khởi ý sau mà chẳng phá.

Tự nói thêm rằng: Bảy phần trước là phá ý trước, một phần sau là sinh khởi ý sau.

Lại có ẩn hiển khác nhau. Ẩn có bốn chẳng phá nhân quả, sát sinh, toán số, hình tướng mà lại thừa sinh ý sau là các câu đã làm, hay làm, sẽ làm, chẳng oán chẳng thân, vật của ta vật của người. Phần thứ tám cuối cùng là tổng kết nói vô thường.

Nay nói thêm rằng: Cho nên chỉ có phần thứ nhất phá phần thứ ba chuyên niệm; Phần thứ hai phá phần thứ tư là nhớ nghĩ; Phần thứ ba phá phần thứ bảy là đọc tụng; Thừa ra phần thứ tư, thứ năm, thứ sáu; Phần thứ bảy phá phần thứ năm tu tập; Phần thứ tám phát sinh ý sau cũng là thừa. Văn kinh mỗi đoạn đều có ẩn hiển, đó đều là tùy nghi, phàm phu chẳng thể so lường được.

Từ câu “Nay ta đối với sắc pháp v.v…” trở xuống là đoạn ba, chỉ nói sắc là vô thường. Có hai ý: Một, kết luật ý trước, hai là phát khởi văn sau.

Từ câu “Sắc này vô thường v.v…” trở xuống là nói về vô thường, gồm mười câu:

Lúc mới sinh khác nhau.

Thời gian khác nhau.

Giai vị khác nhau.

Năng lực khác nhau.

Hình dáng khác nhau.

Quả báo khác nhau.

Tên gọi khác nhau.

Hoại và hợp khác nhau.

Thứ lớp sinh khác nhau.

Thứ lớp diệt khác nhau.

Tất cả đều nêu ngoại để đối luận với trung gian, hoặc lược nêu trước sau để đối nhau.

Từ câu “Nếu vô thường v.v…” trở xuống là ý thứ hai phá năm phần chấp lạc, ba phần chấp tịnh ở trên. Có hai phần, trước là chánh phá, sau là chỉ ra đã đáp ở trên.

Nói vô thường tức khổ là phá chấp lạc. Nếu khổ tức bất tịnh là phá chấp tịnh.

Nhân Ca-diếp hỏi ta đã trả lời ở trên. Có ba cách giải thích:

Thứ nhất, Khai Thiện cho rằng trong phần nói về Tuệ Thánh Hạnh của bốn Đế ở trên, đầu tiên nói Khổ đế, cho năm ấm đều là khổ, Ca-diếp bèn nêu các câu hỏi nói có duyên của lạc và nhân của lạc, theo đó thì lẽ ra phải có lạc, không phải khổ. Đức Phật sau đó trả lời trong khổ cũng nghĩ là vui một cách ngang trái. Đó tức là đã trả lời.

Thứ hai, Dung Thành cho rằng trong phẩm Như Lai Tánh nói Phật có tánh chân ngã, Ca-diếp liền nêu mười hai câu hỏi để tìm hiện dụng; Đức Phật bèn nêu dụ hạt châu trên trán lực sĩ v.v… để đáp rồi.

Thứ ba, các sư phần nhiều y cứ theo phần cuối của phẩm Trường Thọ Ca-diếp hỏi: Thế gian cũng nói Phạm thiên là thường có khác gì với Phật nói? Phật đáp: Là ngoại đạo trộm được lời này, giống như dụ trộm trâu. Cho nên nói đã đáp. Trong lời ghi của Hà Tây tức là đã đáp trong quyển bảy.

Các sư Trung Quán cho rằng trong phẩm Tứ Đảo có nói đủ các điên đảo như tịnh, lạc, v.v… Trong đó lại chẳng còn phá suốt tất cả, chỉ lược pháp lạc, tịnh, cho nên nói là đã đáp ở trên.

Từ câu “Này thiện nam v.v…” trở xuống là đoạn ba nói về vô ngã để đáp sáu phần chấp ngã ở trên. Văn có hai phần:

  • Nói chung về vô ngã.
  • Chính thức phá chấp.

Kế là giải thích hai chương. Trong phần phá chấp Thường ở trước cũng theo thứ lớp là nêu lên và giải thích. Trước giải thích thì nói rộng, còn ở đây trong chương giải thích thì lược. Trước cũng y cứ theo sắc tâm để phá thường, ở đây phá ngã cũng y cứ theo sắc tâm.

Từ câu “Sắc tức chẳng phải ngã v.v…” trở xuống là giải thích môn thứ nhất, trước nói sắc chẳng phải ngã.

Vì sao sắc chẳng phải ngã? Vì phá hoại được.

Từ câu “Pháp phi sắc v.v…” trở xuống là giải thích chương Phi Sắc.

Phi sắc tức tâm, tâm thì không nhất định, vì từ cảnh sinh. Lạc duyên tâm, thì tâm liền có lạc; khổ, chẳng khổ chẳng lạc cũng giống như thế. Đã từ duyên nên vô thường vô ngã.

Từ câu “nếu các ngoại đạo v.v…” trở xuống là phần thứ hai chánh phá chấp. Trên có tám phần chấp, ở đây lại có chín phần, cũng không có chính thức đối nhau từng cặp. Nay chỉ tùy cơ khác nhau, chẳng phá câu thứ nhất là tạo tác, câu thứ tư là tác nghiệp, thừa câu thứ nhất là chuyên niệm, câu thứ hai là nhớ nghĩ, câu thứ bảy là ba pháp. Cho nên câu thứ ba phá câu thứ bảy ở trước, câu thứ tư phá câu thứ tám, câu thứ năm phá câu thứ sáu ở trước, câu thứ sáu phá câu thứ năm ở trước, câu thứ tám phá câu thứ hai, câu thứ chín phá câu thứ ba ở trước. Chẳng theo thứ lớp, chỉ nêu câu nào phá câu nấy chứ không có ý gì khác.

Từ câu “Này Thiện nam! Các ngoại đạo này v.v… trở xuống là đoạn thứ ba kết luận quở trách lỗi lầm. Gồm có hai dụ: thứ nhất là dụ đứa bé, thứ hai là dụ cho người mù bẩm sinh. Đứa bé dụ cho hạnh sai lầm, người mù dụ cho giáo sai lầm.

Như đứa bé suốt ngày chỉ lo đùa giỡn mà chẳng biết giữ gìn gia nghiệp, ngoại đạo cũng giống như thế, làm những việc vô ích, khổ tâm chẳng thành tựu tịnh hạnh, cho nên nói không có tuệ phương tiện.

Như người mù bẩm sinh chỉ nghe được bốn thí dụ mà chẳng biết được màu sắc chân thật của sữa. Ngoại đạo cũng giống như thế, thầm tin Vi-đà đâu biết được thường lạc, cho nên văn kinh ghi: “Mà hỏi người khác, v.v…”.

Từ câu “Văn-thù bạch Phật v.v…” trở xuống là phần thứ hai nói về viên tuệ. Xưa nói phá mê chấp bốn Đế, hai Đế, một Đế. Lại nói phá tâm phân biệt ở trước, là nói về rốt ráo thanh tịnh, không có chỗ chấp đắm. Các nghĩa này chẳng đúng. Vì trước nêu chương nói thứ lớp năm hạnh, hai hạnh giới, định còn không phá chấp đắm, chứ đâu chỉ tuệ hạnh. Tuệ hạnh bị phá thì giới, định tự phá. Ba hạnh bị phá tức là phá hạnh Thánh, hạnh Thánh bị phá thì năm hạnh cũng phá, nếu năm hạnh phá thì không có chỗ tu tập, không tu tập thì không chứng, không chứng thì phá mười công đức. Nghĩa này chẳng đúng, nên biết văn này nói về hạnh viên tuệ. Văn có bốn:

  • Phát khởi.
  • Chánh nói.
  • Lãnh thọ, tin hiểu.
  • Kết chương.

Trong phần phát khởi không nói bốn Đế, hai Đế mà chỉ nói nhất thật. Vì sao biết được? Khi xưa trong giáo đầu tiên là thuộc về Tích pháp Tứ đế. Trước đã có nói thì chẳng phải ít có, cũng chẳng phải là vô thượng. Cho nên, theo thứ lớp sau đó phát khởi viên tuệ.

Chánh nói có hai: một, là nói về chẳng Niết-bàn chỉ bày viên tuệ; hai là y cứ theo chẳng còn chuyển để chỉ bày viên tuệ.

Chẳng Niết-bàn có ba ý: một, là chỉ thẳng; hai, là y cứ theo chẳng chuyển; ba, là Như Lai, hư không theo chiều dọc để chỉ bày.

Chỉ thẳng có hai ý: một, là nói vì sao; hai, là chỉ chân lý.

Nói Vì sao là có hai ý: một, gởi gắm ngài Văn-thù, than trách là chưa đạt nên nói là vì sao. Hai, là hỏi ngài Văn-thù vì sự chưa đạt này mà làm đầu mối phát khởi, nên nói là Vì sao.

Kế là chỉ chân lý, như văn kinh ghi.

Thứ hai, Từ câu “Này thiện nam! Nếu chấp có ngã, v.v…” trở xuống là nói chẳng chuyển, trải qua các việc theo chiều ngang để chỉ viên tuệ. Nói chẳng chuyển là trải qua bảy việc: chẳng quả, chẳng nhân, chẳng chuyển, chẳng sinh, chẳng xuất, chẳng tác và chẳng tạo đều là ngay nơi sự mà lý, đều là thường trụ.

Từ câu “xoay bánh xe pháp, v.v…” trở xuống là theo chiều dọc kết thành viên tuệ thường trụ.

Hoặc cho rằng Như Lai là y cứ theo quả lý, Phật tánh là y cứ theo nhân lý, còn hư không thì chung cho nhân quả.

Từ câu “Này thiện nam v.v…” trở xuống là đoạn hai, nói về chẳng còn xoay bánh xe pháp. Có hai ý:

Vì khác nên chẳng còn chuyển.

Vì đồng nên chẳng còn chuyển.

Thứ nhất đã có hai việc khác thì đâu được nói là còn. Về khác có tám câu: ngôn ngữ khác; chúng khác; căn khác; đức khác; lợi ích khác; chủ thỉnh khác; sở thuyết khác; âm thanh biến khác.

Đầu tiên, xoay bánh xe pháp là vì năm vị Tỳ-kheo: Kiều-trầnnhư, Thập Lực Ca-diếp, Bạt-đề, Át-bệ, Ma-Nam-câu-lợi. Ở đây là nói chung.

Từ câu “Lại nữa, hễ có người nói, v.v…” trở xuống là đoạn hai, nói vì đồng cho nên chẳng còn, có ba phần là pháp, dụ và kết. Thứ nhất trong pháp nói đồng cho nên không còn.

Từ câu “Thí như v.v…” trở xuống là giải thích không còn. Gồm có ba dụ: dụ thứ nhất, nói sinh thiện diệt ác; thứ hai là chỉ diệt ác; thứ ba, là chỉ sinh thiện, các nghĩa này đồng nhau cho nên không còn.

Từ câu “Vì thế v.v…” trở xuống là ý thứ ba kết luận chẳng còn.

Từ câu “Bấy giờ v.v…” trở xuống là phần thứ ba thọ lãnh tin hiểu, phát khởi thùy tích.

Từ câu “Bấy giờ v.v…” trở xuống là phần thứ tư, kết luận.

Đầu tiên là đối luận với Ca-diếp, khoảng giữa là đối đáp với ngài Văn-thù, nay đến tuệ thánh đã xong, lại đối đáp với ngài Ca-diếp, thật khéo léo từ đầu đến cuối.

Từ câu “Ca-diếp v.v…” trở xuống là thứ hai, giải thích tên gọi của hạnh.

Hỏi: Vì sao sau giới tuệ đều có giải thích tên của hạnh, còn về định hạnh lại không có?

Đáp: Đầu tiên và cuối cùng đã giải thích, khoảng giữa đã lược bỏ, nên không có. Văn kinh này có bốn đoạn. Trước Đức Phật đã tổng hợp, tức là kết luận chung đã xong. Bây giờ, thứ nhất là ngài Ca-diếp hỏi.

Thứ hai Như Lai kết luận riêng.

Thứ ba, Ca-diếp hỏi.

Thứ tư Như Lai khai và kết thứ lớp năm hạnh.

Năm hạnh này vốn là năm hạng người bị bệnh hành xứ. Nói pháp môn này hàng Nhị thừa đạt được nghĩa hữu tu, tức Thanh văn, Duyên giác nghe như thế rồi sẽ cung kính thực hành theo, nên gọi là Thánh hạnh. Vả lại, có Biệt Bồ-tát căn tánh chuyết độ, theo thứ lớp tu tập, cũng gọi là hạnh Thánh. Nếu là sở hành của chư Phật, Thế Tôn, thì gọi là hạnh Thánh. Đó là kết viên hạnh. Như Lai thực hành pháp này cho nên chẳng lập Đối trị. Gặp hay chẳng gặp đều được lành bệnh. Đó là chánh thức kết luận về người và pháp môn này. Xưa nay chưa thấy ý kết thúc này, nên chẳng lập hai cách giải thích theo Biệt Viên. Nếu hàng Nhị thừa và hàng biệt căn tánh bị bệnh hành xứ nghe Phật nói mà tu tập thì lành bệnh, không tu tập thì không lành, đây là kết hạnh thứ tư.

Từ câu “vị Đại Bồ-tát v.v…” trở xuống là thứ hai nói về quả tuệ hạnh. Văn có năm:

  • Nêu tên gọi của đạo.- Giải thích nghĩa địa. – Nói về thể của địa
  • Nói về dụng của địa
  • Kết hạ địa so sánh với Thượng địa.

Thứ nhất như văn kinh.

Xưa nói đạt được tuệ quả thì được hai địa, tức Vô úy địa, là từ Sơ địa đến Lục địa; từ Thất địa đến Pháp vân địa gọi là Tự Tại Vương địa. Sở dĩ được quả của hai địa này là Tuệ hạnh dứt phiền não, thông đạo nhanh nhẹn, nhạy bén. Ở đây cho là chẳng phải như thế. Vả lại, hai hạnh giới, định chẳng dứt hoặc, thông đạo chậm, lụt. Vì sao? Xưa cho rằng Bất động và Kham nhẫn đều là Sơ địa, tên khác mà thể đồng, nếu đồng thì quả giới, định sao chẳng phải là Nhị địa thông đến Pháp Vân địa. Nay nói chỉ là một địa tự tại vãng sinh, chính là Dụng Vô úy, chẳng nên chia ra hai địa.

Từ câu “Nếu có Bồ-tát, v.v…” trở xuống là giải thích nghĩa của địa.

Văn kinh này hợp với kinh Thập địa. Địa kinh cho rằng Sơ địa lìa năm thứ sợ hãi. Nay văn kinh này cũng như thế, chỉ tên gọi hơi khác mà nghĩa thì đồng. Trong đó nói chẳng sợ tham, sân, si v.v… là thuộc Vô bất hoạt ý, Vô tử úy. Chẳng sợ đường ác v.v…” trở xuống là thuộc vô ác đạo úy. Nói ác có hai loại v.v… trở xuống là thuộc vô ác danh úy. Cũng chẳng còn sợ Sa-môn v.v… trở xuống là thuộc Vô đại chúng oai đức úy. Vô tử úy tức Thường, Vô bất hoạt và Ác đạo úy là Lạc; Vô ác danh úy tức là Tịnh, Vô Đại chúng úy tức là Ngã. Có đủ bốn đức, không có năm việc sợ hãi, nên ở địa này gọi là Vô úy địa.

Từ câu “Cũng chẳng còn sợ v.v…” là thứ ba nói về thể của địa, Văn có ba ý:

Nêu vị mà thể đã nhập.

Từ câu “này người thiện nam, trụ vô úy, v.v…” trở xuống là nêu ra sở chứng của thể.

Từ câu “Đó gọi là v.v…” trở xuống là kết luận.

Thứ nhất như văn kinh ghi.

Kế là nói về sở chứng, ở địa này được hai mươi lăm Tam-muội nên gọi là Tam-muội Vương. Tất cả Tam-muội đều nhập vào trong ấy,

tức là Tam-muội Trung đạo Đệ nhất nghĩa gom giữ các Tam-muội, như Tam-muội Tục đế, Tam-muội chân đế đều nhiếp thuộc vào đó, nên được gọi là Vương. Nhất đế, Tam đế tức thể của nó. Xưa nói hai mươi lăm Tam-muội dứt trừ được hoặc ba cõi, nên Bồ-tát Lục địa gọi là Vô úy địa đồng với A-la-hán. Nay chẳng theo nghĩa này. Nếu Nhị thừa dứt hai mươi lăm Hữu được gọi là Vương thì có thể cho là đồng, đã chẳng được gọi là Vương thì đâu thể nói là đồng. Văn kinh nói hạnh Thánh thì đó là hạnh của chư Phật, chẳng phải cảnh giới của Thanh văn, Duyên giác, nên đâu thể gọi là đồng. Vả lại, Bồ-tát Lục địa dứt trừ các hoặc trong ba cõi, là Bồ-tát Thông giáo, chẳng phải ý nghĩa văn này. Các sư lầm dùng không tương quan gì đến ở đây. Giải thích hai mươi lăm Tam-muội thì như Pháp Hoa Huyền Văn quyển bốn có nói, trong đó giải thích hai mươi lăm, mỗi thứ đều có ý bốn Tất-đàn. Tuy có hai mươi lăm loại, nhưng đều là Vương. Vì giải thích khác nhau, cho nên đặt tên khác nhau, đó là ý thế giới tất đàn, trong hai mươi lăm Tam-muội, các Tam-muội như Nhật quang, Nguyệt quang v.v… là ý Vị nhân Tất-đàn, các Tam-muội như Bất thối, Tâm lạc, v.v… là ý Đối trị Tất-đàn; như các Tam-muội Thường, Lạc v.v… là ý Đệ nhất nghĩa Tất-đàn. Mỗi Tammuội đều có bốn ý: một, là nói về lỗi lầm của các hữu, như ba hoặc; hai, công đức của bản pháp là Tu ba Đế Tam-muội; ba, là kết luận thành tựu các hạnh, tức thành tựu Tam-muội nhập Sơ địa; bốn, từ bi phá các hữu liền được lên Sơ địa thì sẽ hiện thân khắp mười pháp giới, vào kháp các hữu, giúp người khác cũng phá được các hữu. Người xưa giải thích ý này hoàn toàn không có ý nghiêng về một bên.

Từ câu “Này Thiện nam! Bồ-tát nhập các Tam-muội vương như thế, v.v…” trở xuống là phần thứ tư nói về dụng của địa. Có hai ý: một, là nói về lực dụng tự tại; hai, là nói sinh dụng tự tại. Lực dụng tự tại có ba cặp: Thứ nhất là cặp y chánh. Tu-di là y báo, tâm chúng sinh là chánh báo. Thứ hai là một cặp tự tha. Nạp người vào mình, hóa mình thành người. Thứ ba, ít nhiều thành một cặp rất dễ thấy.

Kế là nói về sinh dụng, đầu tiên nói chung về sinh các xứ, tức mười giới xứ.

Kế là, nơi sinh riêng, tức là mười cõi.

Phá núi Tu-di, bao trùm thế giới, tán hợp mười phương mà chẳng nhiễm, ở nơi địa ngục mà không khổ, đó là dụng của địa.

Từ câu “Này Thiện nam là kết đoạn năm v.v… trở xuống là so sánh thấp với cao, như văn kinh ghi.

Hỏi: Công đức của các Bồ-tát đều bình đẳng, vì sao lại có cao

thấp khác nhau?

Đáp: Xưa nói bình đẳng trong bình đẳng đều đồng chẳng khác nhau, không bình đẳng trong bình đẳng, cho nên lại có sâu cạn. Hưng Hoàng cho rằng: “Nếu nói theo chiều ngang thì một địa có đủ các công đức; nếu nói theo chiều dọc thì có cao thấp. Ngang dọc cũng giống như thế, đâu có nhất định, dựng lên tức đứng thẳng dọc, v.v…

Từ câu “Bấy giờ, trong chúng v.v…” trở xuống là chương hai, khen ngợi kinh. Kinh nói về hạnh Thánh. Nếu y giáo vâng giữ thì đổi phàm thành Thánh, nên đáng được khen ngợi. Văn có bốn ý:

  1. Khen ngợi giáo không cấu nhiễm.
  2. Như Lai nói lại lời khen ngợi.
  3. Ca-diếp tự thệ nguyện.
  4. Như Lai nói lại lời thệ nguyện.

Khen ngợi giáo có hai: Một, lời của các nhà dịch kinh; hai, là khen ngợi giáo.

Đầu tiên các nhà tập kinh thuật về nội đức và oai nghi bên ngoài. Nội đức thì có đại oai đức, tức nói chung thể dụng của Vô úy địa. Oai là đức dụng bên ngoài, đức là nội chứng, nội đức ngoại đức đều đầy đủ, nên nói: “có đại oai đức”. Nói đại thần thông là khen ngợi ngoại dụng. Như Tự tại địa có dụng dời núi lấp biển, được đại tổng trì tức được hai mươi Tam-muội Vương, giữ gìn các Tam-muội. Được vô sở úy thì đầy đủ như Phật đã nói. Các công đức như trên đều đã đầy đủ, liền đứng dậy khỏi chỗ ngồi là nói về oai nghi bên ngoài.

Từ câu “Bạch Thế Tôn v.v…” trở xuống là chánh thức khen ngợi giáo. Có hai: Trước là lãnh thọ ý chỉ của Phật, kết luận so sánh bậc dưới với trăm ngàn công đức của bậc cao.

Kế là khen ngợi giáo Biệt viên thứ lớp và chẳng thứ lớp nói ở trên.

Vì sao cho rằng chư Phật, Thế Tôn chẳng bằng kinh Đại thừa? Vì kinh Đại thừa là mẹ chư Phật, mẹ sinh ra con, cho nên giáo ấy được sáng tỏ tôn sùng. Kinh nói do năng lực của Phương đẳng nên sinh ra chư Phật; nếu y cứ theo đạo chẳng thể tự mở mang truyền bá, thì Phật năng thuyết giáo, vậy Phật hơn giáo. Phật năng hoằng giáo là nói theo hóa tha, giáo sinh ra Phật là nói theo tự hành. Tạng Vương khen ngợi ở trên là y cứ theo tự hành.

Từ câu “Bấy giờ v.v…” trở xuống là ý thứ hai, Như Lai nói lại lời khen ngợi, có ba câu: một, là thuật lại; hai, là giải thích; ba, là kết luận.

Thứ nhất, văn kinh ghi.

Kế là giải thích, gồm có phần thuyết pháp, khai dụ và hợp.

Khai Thiện cho rằng đó là dụ cho năm thời giáo. Trong đó, Phật hợp với bò, lưu xuất ra mười hai loại kinh là chỉ cho thời giáo đầu tiên; Tu-đa-la chỉ cho Bát-nhã, vì Tu-đa-la là pháp bản, Bát-nhã là hạnh bản, Phương đẳng chỉ cho các kinh Tịnh Danh, Tư Ích vì khen ngợi Bồ-tát. Bát-nhã là Pháp Hoa, vì kinh Pháp Hoa nói về Đại tuệ bình đẳng, Đại tuệ bình đẳng là Bát-nhã. Còn Niết-bàn có thể tự hiểu. Lại nói Bát-nhã đầu tiên nói trong mười hai năm, cuối cùng thì gần với Niết-bàn, tức sau Pháp Hoa, rồi dẫn phẩm Tất Cánh trong Thích luận để chứng thành. Cho nên, Tu-đa-la tức kinh Tịnh Danh, Phương đẳng là Pháp Hoa, Bátnhã là Bát-nhã. Chiêu-đề cho rằng: Ba thời là trước nói về giáo, hai thời sau là nói về lý; ba giáo là mười hai thể loại kinh tức là tạng Tiểu thừa, Tu-đa-la tức Tạp tạng, Phương đẳng là Bồ-tát tạng. Phật dạy chẳng ngoài ba tạng này. Hai lý tức Bát-nhã là nhân, Niết-bàn là quả, tu hành nhân Bát-nhã thì được quả Niết-bàn.

Hưng Hoàng cho rằng: Phật nói pháp gồm mười hai thể loại kinh, học được mười hai loại này là thông suốt được Tu-đa-la, biết các pháp bản tức thông Phương Đẳng, đạt Phương Đẳng thì sinh ra Bát-nhã, Bátnhã đã sinh thì rõ biết niết-bàn.

Các Sư Trung Quán cho rằng: Đầu tiên là từ nhiều nói về ít, từ rộng nói về lược. Đầu tiên khen ngợi mười hai thể loại kinh, mười hai thể loại có cả Đại và Tiểu, đó là chung. Lại khen ngợi riêng Tu-đa-la, lại lấy Tu-đa-la làm chung mà khen ngợi riêng Phương Đẳng, Phương Đẳng chưa phải là ít có, nên lại khen ngợi riêng Bát-nhã, trong Bát-nhã lại khen riêng một câu Phật tánh của Niết-bàn. Như từ bò sinh ra sữa cho đến thành đề hồ, cho nên Niết-bàn là cuối cùng.

Các nghĩa này chẳng đúng, vì sao? Vì mười hai thể loại kinh có cả Đại và Tiểu, đâu chỉ có Tiểu thừa. Vả lại, nếu cho mười hai thể loại kinh là giáo đầu tiên, mà giáo Tiểu thừa đâu phải là giáo đầu tiên nên chẳng thể sử dụng. Vì sao lại cho Tu-đa-la là Bát-nhã, các kinh khác chẳng có văn xuôi ư? Sao lại lấy Bát-nhã làm Pháp Hoa, danh đã chẳng đúng thì nghĩa làm sao hợp? Dù cho Bát-nhã gần với thời Niết-bàn, thì thời giáo thứ tư trái với thứ lớp năm thời.

Chiêu-đề cho rằng đó là ba giáo hai lý, nhưng văn này thuật lại lời khen ngợi giáo, vì sao phải dụ cho lý, nếu đúng như lời Chiêu-đề nói thì đó là khen ngợi kinh khác, chứ chẳng khen ngợi giáo này. Còn như lời Hưng Hoàng nói thì đó là theo thứ lớp sinh giải chứ chẳng phải khen ngợi giáo. Bồ-tát Tạng Vương nói: “chư Phật có vô lượng công đức, nhưng chẳng bằng kinh Đại Bát-niết-bàn”. Nếu nói từ giáo sinh giải thì chẳng phải ý khen ngợi của văn này. Như lời các sư Trung Quán là từ rộng đến lược mà cho cuối cùng là cao siêu, nhưng văn kinh ghi: “Đề hồ là trên hết, tất cả vị thuốc đều chứa đựng trong đó”. Nếu nói rộng thì đâu hơn lời này, đã là rộng thì chẳng được khen ngợi.

Các sư đều muốn bao gồm, thâu nhiếp mà chẳng biết phân tích, chia chẻ nên lạc mất chánh tông, thí như đến Hàm Đan học tập, hai hạnh đều chẳng đạt được gì. Nay y cứ theo kinh, tức như Tạng Vương nghe Phật nói Biệt giáo theo thứ lớp, Viên giáo chẳng thứ lớp. Giáo thứ lớp thì phát sinh công đức của Bồ-tát Tiệm hạnh, giáo chẳng thứ lớp thì sinh ra công đức của chư Phật. Vui mừng khen ngợi cả hai giáo, Phật lại giúp sức cho niềm vui ấy nên kể lại và khen ngợi. Nếu thứ tự nương nhau sinh khởi đến chỗ tột cùng huyền diệu thì càng thêm được khen ngợi.

Bò dụ cho chủ của giáo Niết-bàn, sữa dụ cho Giới Thánh hạnh, lạc dụ cho Định Thánh hạnh, bơ sống là Tuệ Thánh hạnh của bốn Đế, bơ chín dụ cho Tuệ Thánh hạnh của hai Đế, đề hồ dụ cho tuệ Thánh hạnh của Nhất thật đế. Như thứ lớp năm vị thì đề hồ là quý nhất, còn năm hạnh dần dần chuyển đến hạnh sâu xa lìa nhất thật, nên nói tối thắng tối thượng. Đây là nói lại lời khen ngợi Nhất thật giáo kia. Nếu chỉ nói thật tuệ, thì nhất tuệ tức tất cả tuệ là pháp giới, gồm thâu tất cả tuệ, chẳng do thứ lớp. Phật tức là đề hồ nhiệm mầu trên hết, tất cả các vị đều hòa hợp trong đó; Như Lai tức người đề hồ; Nhất thật đế là pháp đề hồ. Người đề hồ nói pháp đề hồ, pháp đề hồ thành tựu cho người đề hồ. Người và pháp là một chẳng hai, trong đó các pháp đều là đề hồ. Thứ lớp và Nhất thật là một không hai; khen ngợi nhất thật của năm hạnh tức khen ngợi năm thật của nhất thật. Giải thích như thế thì hai nghĩa là thứ lớp và khen ngợi giáo đều thành. Nếu theo thứ lớp trong một đời giáo hóa, thì từ Phật lưu xuất ra mười hai thể loại kinh là chỉ cho thời Hoa Nghiêm, Hoa Nghiêm là đầu tiên tức mười hai thể loại kinh. Tu-đa-la là một tạng trong ba tạng. Vì chúng sinh chẳng kham nhận Đại thừa, nên phải nói giáo Tiểu thừa. Giáo Phương Đẳng bác bỏ Tiểu chê trách Thiên, xưng dương Đại, khen ngợi Viên giáo Bát-nhã thì ba hạng người đồng được nghe mà chỉ trở về Nhất thật, dẫn Tiểu trở về Đại, tiếp Thiên thành Viên và trụ trong phương tiện, tức chưa chứng được Tiểu quả thì cho phép học chung đạo Ma-ha-diễn. Đại Bát-niết-bàn là giáo cùng tột; tức đã trụ ở Tiểu quả, bác bỏ ba tu mà nói Thường Lạc cao siêu. Nếu thế vì sao chẳng nói Pháp Hoa. Pháp Hoa phá Tiểu quả, diệt Hóa thành, dẫn đến đảo châu báu, đồng với Niết-bàn. Vả lại, vào thời Như Lai Ca-diếp, hai muôn Đức Phật Đăng Minh đều nói Pháp Hoa, cho là giáo cùng tột mà chẳng nói Niết-bàn. Nay đức Thích-ca thùy tích vào đời ác trược, cần lấy tên khác để hiển rõ thường lạc, hai giáo đồng cùng tột, nên chẳng nói Pháp Hoa là ý ở đây. Vả lại, phần trước vì ít người thuần thục nên dùng Pháp Hoa để thành thục cho họ, phần sau chưa thành thục nên dùng Bát-nhã đào thải, nay lại dùng Niết-bàn để thành thục. Thích luận ghi: “Bát-nhã đến sau Pháp Hoa”, tức là nghĩa này. Khen ngợi giáo này cũng trái với thứ lớp một đời giáo hóa, giới là đầu của Thánh hạnh, bao gồm rất rộng như văn kinh đã nói, lại đồng nghĩa với sở chiếu nói trong kinh Hoa Nghiêm. Định là chánh của Thánh hạnh, đồng với nghĩa định tạng trong Tu-đa-la. Tuệ Thánh hạnh của Tứ đế dùng ba tu đại Niết-bàn để bác bỏ sự sai lầm của Tiểu vô lậu, hợp với nghĩa quở trách của Phương Đẳng. Tuệ thánh hạnh của hai Đế thì chân tục tức nhau, hợp với nghĩa ngay nơi sắc là không của Ma-ha-diễn. Tuệ hạnh của Nhất thật đế tức là giáo Niết-bàn. Có thể biết như thế thì thứ tự một đời giáo hóa và một bộ kinh đều thành tựu, ý nghĩa không trái nhau.

Từ câu “Vì nghĩa này v.v…” trở xuống là đoạn ba, kết luận khen ngợi.

Từ câu “Ca-diếp bạch rằng v.v…” trở xuống là phần thứ ba, Cadiếp tự nguyện, có ba ý: một, là lãnh thọ; hai, là thương xót người; ba, là tự thệ nguyện.

Tự thệ có bốn ý: một, là thệ dùng da, xương của thân chánh báo làm giấy bút để truyền bá và giữ gìn năm hạnh.

Thứ hai, là thệ dùng tiền tài y báo làm cho người no đủ, khiến kinh được truyền bá.

Thứ ba, là thệ dùng trí lực chiết phục nhiếp thọ.

Thứ tư, là thệ đối với người đồng ưa thích thì dùng hết ba nghiệp thờ kính họ.

Từ câu “Bấy giờ v.v…” trở xuống là thứ tư, Phật nói lại lời thệ, gồm có ba ý: Một, là khen ngợi; hai, là thọ ký; ba, là ấn chứng. Thứ nhất là khen ngợi.

Từ câu “Nay ông v.v…” trở xuống là thọ ký, có hai: một, là thọ ký vượt lên tu hành thành đạo quả.

Hai, là thọ ký xoay bánh xe pháp.

Từ câu “Về quá khứ v.v…” trở xuống là dẫn chứng, có hai đoạn: một, là dẫn xưa; hai, là ấn chứng cho hôm nay. Dẫn việc xưa, có ba: một, là nói về hạnh khi xưa của Bồ-tát; hai, là nói về các vị trời mưu bàn; ba, đến ép ngặt thử thách để trình bày. Nói về hạnh xưa, như văn kinh ghi.

Từ câu “Ta tu tập v.v…” trở xuống là các vị trời mưu bàn.

Hai bánh xe dụ cho phước và đức.

Từ câu “Này Đại tiên v.v…” trở xuống là ép ngặt thử thách, đầu tiên là dụ ba cách thử: đốt, đập và mài.

Kế là hợp với ba cách thử: một, là nói nửa bài kệ để thử xem có trí hay không có trí; nếu biết được văn nghĩa chưa hết thì là người có trí; nếu chẳng biết thì là kẻ vô trí. Hai, thị hiện thân đáng sợ để thử xem có sợ hay không sợ, nếu tâm vững chắc, chẳng sinh sợ hãi; nếu tâm yếu đuối thì sợ hãi. Ba, là đòi thân mạng để thử có xả bỏ hay không.

Nửa bài kệ, chỉ nói về vô thường, mà chưa nói thường, nên nói là nửa bài. Hữu vi có ba tướng, vì sao chẳng nói sinh diệt mà chỉ nói trụ? Có người giải thích rằng vì bài kệ chỉ có bốn câu, quá ngắn cho nên lược bớt.

Hỏi: Nếu lược vì sao chẳng lược các chữ khác?

Đáp: Việc này cũng có ý nghĩa của nó, vì pháp trụ chẳng hiển bày được sự dời đổi còn mất của sinh diệt mà chỉ hiển bày sự đầu cuối và khoảng giữa nên lược bớt.

Hỏi: Ba tướng dời đổi đâu thể có trụ, trụ tức là Thường, Thường thì chẳng dời đổi và khác với vô thường.

Đáp: Nói đây là trụ của vô thường, nhưng ba tướng tự là vô thường, mà có trụ của vô thường cũng nên có Thường của vô trụ.

Kinh nói nghĩa “không” mà bài kệ này nói về “Không Thường”, đâu phải là “không”? Các sư xưa giải thích rằng vô thường chẳng phải là “không”, nhưng “Không” này là phương tiện, sau đo mơí được không. Cách giải khác rằng: Vô thường là tên khác của “không”. Kinh Đại Phẩm ghi: “Vô thường tức là tướng động, tướng động tức tướng “không”. Kinh Tịnh Danh ghi: “Bất sinh bất diệt là nghĩa vô thường”. Nay cũng vô thường là nghĩa bất sinh bất diệt.

Nói vắng lặng là an vui. Thể của Niết-bàn chẳng sinh chẳng diệt, mà nay nói tịch diệt là lạc, thì cũng được nói sinh diệt, sinh rồi thì tịch diệt, sinh là an vui hay chăng?

Đáp: Người nhậm đạo thì lệ với ở đây, người không nhậm đạo thì không lệ, tướng sinh khởi diệt, trừ tướng chính là lấy nghĩa trừ sinh trừ diệt, là vui vắng lặng. Sinh là khởi tướng Niết-bàn vô sinh, cho nên chẳng lệ với ở đây.

Vượt qua mười hai kiếp: Các kinh Xuất diệu, Phật Tạng đều nói là vượt chín kiếp. Hoặc có chỗ cho rằng vì nhân duyên khác nhau, nên Phật nói có thêm bớt.

Từ câu “Này Thiện nam v.v…” trở xuống là dẫn chứng nay.

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.