Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

KINH ĐẠI THỌ KHẨN-NA-LA VƯƠNG SỞ VẤN

Hán dịch: Đời Dao Tần, Tam tạng Pháp sư Cưu-ma-la-thập, người nước Quy Tư
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

QUYỂN 1

Tôi nghe như vầy:

Một thuở, Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật tại thành Vương xá, cùng với sáu trăm hai mươi ngàn vị Đại Tỳ-kheo, bảy mươi hai ngàn vị Đại Bồ-tát, đều là những bậc từ các cõi trong mười phương tập họp đến, đều đã đạt được Đà-la-ni vô ngại biện tài, tiến vào niệm tuệ, đầy đủ tàm quý, ý chí bền vững như kim cương, khéo léo tu hành, thành tựu đầy đủ tất cả Phật Pháp. Bản thân chư vị ấy chẳng quên mất tâm Bồ-đề, cũng khiến người khác chẳng quên mất tâm ấy. Chư vị ấy khéo điều phục, mềm dẻo thu nhiếp các căn, có khả năng, biết bỏ đi những vật mình yêu thích, khéo dùng giới thanh tịnh tự trang nghiêm. Đối với các chúng sinh, tâm chư vị ấy bình đẳng, dùng sức nhẫn nhu hòa tự trang nghiêm. Ở trong vô lượng ức a-tăngkỳ kiếp, chư vị ấy cần mẫn tu các lực Tam-muội thiền định giải thoát, đến đi bằng thần thông tự tại vô ngại, khéo léo dùng trí tuệ phân biệt cú nghĩa tất cả các pháp, tâm chẳng lay động như núi chúa lớn. Đối với chúng sinh, tâm chư vị ấy bình đẳng như đất, nước, lửa, gió, khéo léo lìa khỏi ái dục, sân hận, thường thực hành tâm Từ bi, luôn để lại ánh sáng từ bi chiếu khắp chúng sinh; an trụ đại Bi, thường siêng năng quan sát tất cả chúng sinh, an trụ nơi đại Hỷ, ưa thích pháp cụ túc; an trụ nơi đại Xả được “Vô nhị trí”; lợi lộc, suy bại, hủy hoại, khen ngợi, chê bai, khổ, vui… những pháp thế gian như vậy chư vị ấy đều vượt qua. Bằng ánh sáng trí tuệ, họ tự điều phục chính mình và điều phục người khác, hàng phục các ma, ở thế gian khó gặp như hoa Ưu-đàm, ở trong chúng sinh gầm lên tiếng gầm sư tử chúa, rốt ráo được Niết-bàn, ưa thích bốn vô sở uý thậm thâm.

Chư vị đó đã được Như Lai ấn chứng, được thọ ký không lầm lẫn, đúng như lời dạy mà tu hành. Đối với nghĩa lý, ý vị của pháp tạng thậm thâm rất hợp nhau, che khuất cả mặt trời, mặt trăng; danh tiếng vang lừng khắp mười phương thế giới. Nếu vì hộ trì các Đức Phật thì chư vị ấy giữ gìn Pháp tạng còn mãi, chẳng dứt tuyệt chủng tánh Tam bảo, có thể đi qua vô biên cõi Phật, hiểu rành biết rõ mọi điều rồi tùy nghi cung cấp, phụng sự các Đức Phật Thế Tôn để nghe nhận giáo pháp, thường siêng năng tinh tấn giáo hóa chúng sinh đến được bờ kia của chúng sinh mà thuyết pháp phù hợp, biết rõ ý tưởng của tịnh, nhiệm mầu, lời nói khéo léo, là bậc Đại Y vương khéo trị các bệnh. Ở trong vô lượng, vô số cõi, chư vị ấy đã gieo trồng các thiện căn, khéo chứa nhóm tướng tốt phước đức trang nghiêm, có thể hiểu rõ trọn vẹn Không, Vô tướng, Vô nguyện, lý giải rõ các pháp như huyễn, như lửa hừng, như trăng trong nước, như cảnh tượng trong mộng, hiểu rõ hết âm thanh, lời nói của tất cả chúng sinh, khéo phân biệt pháp, thuyết giảng trôi chảy vô tận, khéo léo quan sát trí tuệ xuất thế, thành tựu đại lưc, tiếp cận mười Phật lực, đạt được ánh sáng Nhục nhãn, Thiên nhãn, Tuệ nhãn, Pháp nhãn và Phật nhãn. Chư vị ấy khéo tu tập các pháp phần trợ đạo trang nghiêm, giỏi lý giải, vượt qua tất cả các cõi. Sáng tỏ Pháp tạng của Bồ-tát thâu nhiếp, khéo léo vận chuyển bánh xe pháp bất thoái, được Tướng ấn Tam-muội, biết rõ Tammuội Kim cương trường, tất cả các pháp Tam-muội tự tại. Chư vị ấy thường thị hiện ở trước mặt, tay cầm cây đuốc bau lớn, tâm thì khiêm hạ đối với các chúng sinh, thường quan sát trí tuệ của các chúng sinh thực hành Phật sự, việc làm đã xong, đều đã chứa nhóm tất cả công đức đến hết kiếp vị lai. Công đức của chư vị ấy chẳng thể noi cùng tận được.

Tên các vị Bồ-tát ấy là Bồ-tát Bảo Trụ, Bồ-tát Bảo Hữu, Bồtát Bảo Thủ, Bồ-tát Bảo Hoa, Bồ-tát Bảo Vương, Bồ-tát Hỷ Kiến, Bồ-tát Ái Ý, Bồ-tát Ái Nhãn Kiến, Bồ-tát Trì Địa, Bồ-tát Tác Hỷ, Bồ-tat Đại Thế, Bồ-tát Đại Đức, Bồ-tát Hàng Ma, Bồ-tát Ma Cưu, Bồ-tát Nhu Thiên, Bồ-tát Mạn-đà-la Hương, Bồ-tát Bảo Hỷ, Bồ-tát Đẳng Quán, Bồ-tát Vô Cao Hạ, Bồ-tát Thiện Ngư, Bồ-tát Nhất Thiết Chúng sinh Bất Thỉnh Hữu, Bồ-tát Di-lặc, Bồ-tát Vân Âm, Bồ-tát Trì Sơn Nghiêm, Bồ-tát Sơn Tích, Bồ-tát Thượng Hữu, Bồ-tát Dũng Hữu, Bồ-tát Quang Minh, Bồ-tát Quang Đức, Bồ-tát Đăng Vương, Bồ-tát Quán Chí, Bồ-tát Quang Trang Nghiêm, Bồ-tát Tạp The Quan, Bồ-tát Thiên Quan, Bồ-tát Thiên Vương, Bồ-tát Thiên Nhãn Quán, Bồ-tát Quán Thế Âm, Bồ-tát Thiện Tý, Bồ-tát Tư Chí, Bồ-tát Thiện Trụ Chí, Bồ-tát Thiện Trụ Nghiệp, Bồ-tát Bất Động Túc Tập, Bồ-tát Kim Cương Túc Tấn, Bồ-tát Việt Tam Giới Túc, Bồ-tát Tật Biện, Bồ-tát Tốc Biện, Bồ-tát Vô Đoạn Biện, Bồ-tát Trụ Biện, Bồtát Diệu Âm, Bồ-tát Phạm Âm, Bồ-tát Hỷ Nhất Thiết Chúng Sinh Âm, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi Pháp vương tử,… bảy mươi hai ngàn vị Thượng thủ như vậy.

Bấy giờ Đế Thích, Phạm Thiên vương, các vị hộ thế cùng các bậc đại oai đức khác, các Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, Ca-lâula, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhân phi nhân… Tỳ-kheo, Tỳ-kheoni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di… ở trong tam thiên đại thiên thế giới này đều đến tụ họp nơi đây vì muốn được nghe pháp. Bấy giờ, Thế Tôn vì vô lượng trăm ngàn đại chúng cung kính vây quanh mà diễn nói pháp mầu. Lúc ấy Bồ-tat Thiên Quan liền từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa y phục, trật áo bày vai phải, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay hướng về Đức Phật, dùng kệ khen:

Thế Tôn vì đời làm đèn sáng
Trí tuệ lợi ích cho thế gian
Khiến người si mê được sáng suốt
Con nay cúi lạy Đấng Ly Thế.
Đấng Thập Lực bố thí tối thắng
Khéo tự điều tâm đến “bờ kia”
Trời, người, rồng, thần đến cúng dường
Cúi đầu kính lạy Đấng Thiêu Kết.
Thắng tướng, thế gian nhiều lợi ích
Ánh sáng tỏa khắp nơi sắc vàng
Giữ giới thanh tịnh diệu, tiếng tuyệt vời
Lạy Đấng ba cõi không ai sánh.
Độ chúng sinh đến bờ thanh tịnh
Điều phục các luận không thể lay
Khéo biết rõ hết tâm chúng sinh
Cúi lễ Đấng Đại Bi cao cả.
Chẳng sinh chấp trước, đoạn kết sử
Dùng sức hàng oán an trụ giới
Thế Tôn, kết sử cấu uế sạch
Con nay lễ Đấng hàng phục oan.
Hơn hết các báu, không tỳ vết
Thường vui, trí tuệ lấy làm đầu
Đoạn trừ tham, sân, si, phiền não
Lạy Đấng Bình đẳng như hư không.
Diễn thuyết Tứ đế độ bốn loài
Thí tịnh nhãn, thuyết pháp cam lồ
Hành hóa vì lợi người ba cõi!
Con cúi lễ Đấng Trì Luân tướng.
Thường được người, trời hay dâng cúng
Thường hóa độ, giải thoát chúng sinh
Hư không trời người đã cúng dường
Con cúi đầu lạy Bậc Nhân Thắng.
Thường ưa tập trung pháp Chánh Thiện
Ban lòng Từ đều khắp thế gian.
Đấng Nhân Tôn trụ đạo chánh chân!
Lạy Đấng Nhiep trừ tất cả đức.
Tiếng thanh tịnh giảng nói điều lành
Tiếng Phạm âm dịu dàng, vừa ý
Hiểu rõ các âm “đến bờ kia”
Lạy Đấng Mỹ diệu nói như thật.
Nẻo không, vô tướng và vô tác
Giữ gìn pháp khó thấy thậm thâm
Khéo léo tiến vào đường giải thoát
Lạy Đấng Biết rõ đạo giải thoát.
Thế Tôn thông đạt, biết nhân duyên
Thường đoạn trừ sạch Kiến nhị biên
Nói đúng nhân duyên, nghiệp quả báo
Con lạy Đấng ly kiến thế gian.
Không có người đi cùng kẻ đến
Khéo quán các pháp không khinh mạn
Thấy như huyễn hóa trăng đáy nước
Cúi đầu lạy Đấng Thiện Pháp Nhãn.
Sinh hoặc vô sinh đều vô sinh
Hoặc sinh và diệt cũng vô diệt
Đúng nơi pháp trụ làm chỗ dừng
Đấng Điều Ngự trụ nơi như thế.
Nên lời Ngài nói đều chân thật
An trụ Như như trừ khuynh động
Thân núi Kim cương chẳng lay động
Con cúi đầu lễ Đấng Như Như.
Thân, miệng, ý Ngài chẳng khác đâu
Danh tiếng vang lừng trong ba cõi
Con nay xin hỏi đấng trượng phu
Nguyện xin được Ngài thuyết giảng cho!

Bấy giờ, Bồ-tát Thiên Quan dùng kệ tán thán Phật xong, bạch Đức Phật rằng:

–Bạch Thế Tôn! Con nay có đôi điều muốn hỏi trong pháp vi diệu thù thắng của Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Giác, như Phật hứa thì con mới dám xin hỏi.

Lúc ấy Phật bảo Bồ-tát Thiên Quan:

–Này Thiện nam! Có điều gì nghi ngờ thì ông cứ hỏi, Như Lai sẽ thuyết giảng khiến ông vui lòng!”

Bấy giờ Bồ-tát Thiên Quan bạch Phật:

–Kính Đức Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát thành tựu được các loại biện tài trang nghiêm?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát thêm được Thắng trí, biết phân biệt rõ pháp thậm thâm?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát biết rõ các căn?

Bạch Thế Tôn! Sao gọ là Bồ-tát có thể hiểu biết hoàn cảnh phù hợp để nói pháp?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát biết được tâm hạnh của tất cả chúng sinh?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát biết tất cả tác nhân và quả báo, cũng biết được lỗi đã tạo ra không mất đi?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát trang nghiêm bằng Bố thí?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát trang nghiêm bằng Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát có thể thông đạt trang nghiêm phạm đạo?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát không mất thần thông?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát dứt sạch các kết sử?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát qua “đến bờ kia”?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát có thể thị hiện tất cả Thanh văn, Duyên giác và oai nghi, hình sắc của các chúng sinh không có sai biệt?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát quán sát sinh tử mà chẳng trụ ở Niết-bàn?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát quán sát cõi chúng sinh giới mà chẳng động đến pháp giới?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát chẳng thoái lui mất lợi ích mà nghĩ đến thị thiện mất lợi ích?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát có của báu lớn, cõi nước vô tận mà dùng sức phương tiện thị hiện bần cùng?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát tu hành các hạnh khiến cho cửa “hữu tác” nhập vào cửa “vô tác”?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát khéo léo quan sát các pháp?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát quyết định phân biệt tất cả các pháp?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát thực hành các pháp thế gian mà chẳng bị nhiễm ô?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát trụ ở pháp tự tại chẳng mong nhờ vào pháp khác?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát chẳng rời chư Phật?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát tự điều phục không có các pháp ác?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát làm thầy dẫn đường giỏi mà chẳng tiếc lẫn pháp?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát vì các chúng sinh làm chỗ nương tựa chân thật?

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát ở trong tất cả các pháp đạt được địa vị Quán đảnh?

Bấy giờ Thế Tôn khen ngợi Bồ-tát Thiên Quan:

–Hay thay, hay thay! Này Thiện nam! Hôm nay ông đã hỏi nhiều điều làm lợi ích an lạc thế gian, lợi ích an người trời, hộ trì các vị Bồ-tát đời vị lai.

Này Thiện nam! Ông thường đã từng ở hằng hà sa chỗ các Đức Phật Thế Tôn thưa hỏi những điều khó hiểu. Nay ông lại sẽ đem đến lợi ích, an lạc lớn cho các vị Bồ-tát vị lai, khiến cho pháp Đại thừa này được trụ thế lâu dài. Này Thiện nam! Ông đã hỏi thì hãy chú tâm lắng nghe!

Bồ-tát Thiên Quan bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Con xin lắng nghe và nhận lãnh.

Đức Phật dạy:

–Này Thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì được các loại biện tài trang nghiêm! Những gì là bốn?

Đó là:

  1. Bồ-tát đối với chúng sinh không có lòng xâm hại, xả tất cả các vật mình ưa thích mà lòng không hối tiếc.
  2. Có người thuyết pháp chẳng làm đứt đoạn lời nói của họ mà khởi lòng tùy hỷ, vui mừng khen ngợi “Hay thay” thỉnh cầu thuyết pháp.
  3. Hoặc ngày đêm, hoặc ở trong Tăng chúng, hoặc nơi tháp Phật, dùng tâm Bồ-đề thường làm người dẫn đường trước tiên.
  4. Khởi lên tâm, ý chí ham muốn ưa thích các pháp mà Bồ-tát này chuyên tâm muốn đem pháp bố thí bình đẳng chẳng mong lợi dưỡng.

Này Thiện nam! Đó là bốn pháp mà Bồ-tát thành tựu thì thành được các loại biện tài trang nghiêm.

Này Thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì được tăng thắng trí, biết phân biệt rõ pháp thậm thâm. Những gì là bốn?

  1. Thuận theo pháp nhân duyên, biết thật tánh của ngã.
  2. Biết vào thật tánh của tất cả chúng sinh.
  3. Biết hạnh sinh tử không có kẻ đến không có người đi.
  4. Biết ấn tướng hư không của tất cả các pháp.

Đó là bốn pháp.

Này Thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì biết rõ các căn. Những gì là bốn?

  1. Biết hoàn toàn pháp giới môn.
  2. Quan sát các pháp môn không có chướng ngại.
  3. Biết các thần thông.
  4. Khéo điều phục tâm, không có hai hạnh.

Đó là bốn pháp.

Này Thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì có thể biết rõ đúng lúc nên nói pháp. Những gì là bốn?

Đó là:

  1. Trí biện tài.
  2. Trí độ chúng sinh.
  3. Trí phân biệt pháp.
  4. Tự tịnh tâm của mình cũng tịnh tâm của cất cả chúng sinh. Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì biết rõ tâm hành của tất cả chúng sinh. Những gì là bốn?

  1. Trí tuệ siêu xuất, trí không có chướng ngại.
  2. Nhập vào phương tiện.
  3. Các “hữu” đã tạo tác chẳng hối hận nửa chừng.
  4. Có thể tự giác ngộ.

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì biết được tạo nhân sẽ chịu nghiệp báo, cũng biết được cái lỗi trong hành động của mình không mất. Những gì là bốn?

  1. Chẳng nói đoạn diệt, cũng chẳng nói thường còn.
  2. Đối với nghiệp báo đúng như thật mà biết.
  3. Đúng như pháp mà hiện ra tướng các pháp trong đó không ngã, không ngã sở.
  4. Biết những việc mình tạo tác chẳng mất quả báo.

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu, bốn pháp để trang nghiêm bố thí. Những gì là bốn?

  1. Trang nghiêm tướng.
  2. Trang nghiêm tốt đẹp.
  3. Sắc không ai so sánh được.
  4. Cõi nước vô tận và dùng tay báu.

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp để trang nghiêm trì giới. Những gì là bốn?

  1. Làm vua Chuyển luân mà khéo trang nghiêm tâm Bồ-đề.
  2. Làm Thích Đề-hoàn Nhân mà khéo trang nghiêm tam Bồ-đề.
  3. Làm vua Đại phạm mà khéo trang nghiêm tâm Bồ-đề.
  4. Chẳng đọa đường ác, sinh cõi thiện trời người mà khéo trang nghiêm tâm Bồ-đề.

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp để trang nghiêm nhẫn nhục. Những gì là bốn?

  1. Phát ra âm thanh Phạm, âm thanh Ca-lăng-tần-già.
  2. Nhiều người yêu mến, tâm ý vui vẻ.
  3. Kiên cố tu pháp lành.
  4. Được da màu vàng ròng.

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp để trang nghiêm tinh tấn, không thể phá hoại. Những gì là bốn?

  1. Được tất cả chúng sinh không thể hủy hoại.
  2. Vì các chúng sinh làm người bạn không mời.
  3. Đã có làm việc gì thì chuyên chí chẳng giải đãi, không mệt mỏi, chán nản.
  4. Ưa tập trung nhiều hiểu biết, trang nghiêm trí bền vững. Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp để trang nghiêm thiền định. Những gì là bốn?

  1. Không có các náo loạn.
  2. Không buông lung.
  3. Không xan tham, kiêu mạn.
  4. Chẳng xả điều phục tâm.

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp để trang nghiêm trí tuệ. Những gì là bốn?

  1. Chẳng nói đến ngã nhân, chúng sinh, thọ mạng.
  2. Đạt được biện tài vô ngại.
  3. Có thể phân biệt giỏi các cú nghĩa.
  4. Đối với tất cả các pháp không có nghi hoặc.

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp để trang nghiêm Phạm đạo. Những gì là bốn?

  1. Ở chỗ thanh tịnh phát khởi tâm Từ.
  2. Vì giáo hóa chúng sinh phát khởi tâm Bi.
  3. Hộ trì chánh pháp, phát khởi tâm Hỷ.
  4. Sinh trí Như Lai phát khởi tâm Xả.

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì chẳng mất thần thông.

Những gì là bốn?

  1. Nhập vào Tứ thiền mà chẳng thoái mất.
  2. Nhập vào bốn Định mà biết phương tiện.
  3. Tâm được tự tại biết tất cả pháp.
  4. Dùng thần thông đi đến vô lượng cõi Phật.

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì đoạn dứt kết sử. Những gì là bốn?

  1. Bên trong tự tịch tĩnh, cũng tịch tĩnh cả bên ngoài.
  2. Khéo quan sát các pháp biết chúng như huyễn hóa.
  3. Có sức đại trí.
  4. Có sức phi kiêu mạn.

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì có thể thị hiện oai nghi hình sắc của tất cả các Thanh văn, Duyên giác và các chúng sinh không có khác biệt. Những gì là bốn?

  1. Khéo phát khởi Tam-muội như huyễn.
  2. Biết tất cả các pháp tướng đúng như thật.
  3. Khéo quán sát ngũ thông.
  4. Tự quan sát thân mình như huyễn hóa.

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì nghĩ đến sinh tử mà chẳng trụ Niết-bàn. Những gì là bốn?

  1. Chư Phật hộ trì.
  2. Tự mình có tâm Bi rộng lớn.
  3. Phương tiện khéo léo.
  4. Chẳng xả bản nguyện.

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì quán sát chúng sinh giới mà chẳng động pháp giới. Những gì là bốn?

  1. Quan sát cái thật tính của mình thông đạt được pháp tánh.
  2. Quan sát tính chúng sinh chẳng nghi ngờ tánh trí.
  3. Quán tưởng chúng sinh đồng với tánh Niết-bàn.
  4. 1

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì chẳng làm mất lợi ích mà thị hiện mất lợi ích. Những gì là bốn?

  1. Đem tâm chí chuyên chú hướng về Niết-bàn.
  2. Đi vào cõi sinh tử để tu hành.
  3. Chí nguyện ham muốn tất cả Phật phap.
  4. Thị hiện làm Thanh văn, Duyên giác để điều phục. Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì có của báu lớn, cõi nước vô tận, dùng diệu lực phương tiện thị hiện làm kẻ bần cùng không có của cải. Những gì là bốn?

  1. Vì hóa độ các chúng sinh thù thắng nên thị hiện hoac vua Chuyển luân hoặc Đế Thích hoặc vua Phạm thiên.
  2. Vì hóa độ chúng sinh bần cùng nên hóa hiện làm kẻ bần cùng.
  3. Gặp người đến cầu xin thì đem tất cả của cải của mình ra cho hết.
  4. Gặp người giàu có thì thị hiện của báu vô tận, có sức tự tại. Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì khéo quan sát các pháp. Những gì là bốn?

  1. Tuệ nhãn thanh tịnh.
  2. Được Pháp nhãn sáng suốt.
  3. Phật nhãn hiện tiền.
  4. Đối với tất cả pháp đạt được ngôi vị Quán đảnh.

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì phân biệt quyết định được tất cả các pháp. Những gì là bốn?

  1. Biện luận.
  2. Trí không chướng ngại, hiểu rõ chân lý.
  3. An trụ bốn y trí.
  4. Trí không xả Đà-la-ni.

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì hành động theo pháp thế gian mà chẳng bị nhiễm ô. Những gì là bốn?

  1. Quan sát biết pháp thế gian.
  2. Siêu việt ra khỏi chúng sinh của thế gian.
  3. Đoạn trừ ái dục, sân hận, không bị ô nhiễm.
  4. Rốt ráo sáng suốt thanh tịnh.

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì đối với pháp tự tại chẳng vọng tưởng điều gì khác. Nhưng gì là bốn?

  1. Định được tự tại.
  2. Trí được tự tại.
  3. Tuệ được tự tại.
  4. Phương tiện được tự tại.

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì chẳng lìa khỏi Phật. Những gì là bốn?

  1. Tự đến gặp Phật, cung khuyên chúng sinh đến gặp Phật.
  2. Tự đến nghe pháp, cũng khuyên chúng sinh tự đến nghe pháp.
  3. Tự phát tâm Bồ-đề, cũng khuyên chúng sinh pháp tâm Bồđề.
  4. Thường chẳng lìa bỏ Niệm Phật Tam-muội.

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì khéo tự điều phục, không có các pháp ác. Những gì là bốn?

  1. Thánh tuệ xuất thế quan sát tri kiến.
  2. Hiển bày giải thoát.
  3. Khéo tập hợp các pháp nhẫn.
  4. Đoạn lìa tất cả sự chưa nhóm pháp bất thiện.

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì giỏi làm thầy dẫn đường mà chẳng lẫn tiếc pháp. Những gì là bốn?

  1. Chuyên tâm làm lợi ích cho tất cả chúng sinh.
  2. Ý chí kiên cố khong gì ân hận.
  3. Thường thực hành giáo hóa tất cả chúng sinh.
  4. Tự bỏ điều ưa thích của mình để tập trung trí tuệ tu hành. Thường vì tất cả chúng sinh tạo tác lợi ích để thành tựu lợi ích của mình.

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp để vì chúng sinh làm chỗ nương tựa chân thật. Những gì là bốn?

  1. Xả bỏ lợi của mình, thường cầu lợi cho người khác.
  2. Thường tự bỏ các niềm vui mà vì chúng sinh cầu đến các pháp lạc.
  3. Đem pháp mình nghe được vì mọi người thuyết giảng rộng rãi không mệt mỏi.
  4. Dùng pháp nuôi mạng sống, chẳng dùng y phục, ẩm thực. Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì có thể chuyển pháp luân của tất cả chư Phật. Những gì là bốn?

  1. Đạt được Đà-la-ni.
  2. Chứng đắc Vô đoạn biện trí.
  3. Nhập vào tâm, hành của tất cả chúng sinh.
  4. Chẳng quan sát giống nòi mà vì họ thuyết pháp dẫn vào cõi Niết-bàn.

Đó là bốn pháp.

Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu bốn pháp thì đối với tất cả pháp đạt được địa vị Quán đảnh. Những gì là bốn?

  1. Vượt ra các hạnh đi đứng của Bồ-tát.
  2. Chứng đắc Vô sinh pháp nhẫn, thị hiện sinh tử.
  3. Được ấn không thoái chuyển đã ấn chứng, thể nhập Như Lai ấn.
  4. An trụ Bồ-tát địa thứ mười, biết hết các Bồ-tát địa.

Đó là Bồ-tát thành tựu bốn pháp, đối với tất cả pháp đạt được địa vị Quán đảnh.

Khi Phật thuyết giảng bốn pháp như vậy, tam thiên đại thiên thế giới chấn động sáu cách, ánh sáng lớn soi khắp. Ở trên không trung hàng trăm ngàn ức chư Thiên tấu âm nhạc của trời, ca ngâm, mưa xuống hoa trời Mạn-đà-la, khen ngợi như vầy:

Như Lai Thế Tôn trong vô lượng a-tăng-kỳ kiếp đã tập trung đạo pháp Vô thượng Chánh chân, thảy đều khai thị hiển thuyết ở trong bốn pháp này. Nếu có chúng sinh được nghe kinh này, thọ trì đọc tụng lại vừa biên chép rồi ở trong đại chúng phân biệt thuyết giảng rộng rãi thì nên biết công đức của người này chẳng nhỏ. Nếu có chúng sinh nghe được các pháp bốn câu như vầy, nghe rồi tin hiểu, thọ trì, đọc tụng, ở trong đại chúng vì người thuyết giảng rộng rãi, chẳng lìa tâm Bồ-đề, người ấy chẳng bao lâu sẽ ở trong các đại chúng người, trời, gầm lên tiếng gầm của sư tử chúa. Giống như hôm nay Đức Như Lai gầm lên tiếng gầm của sư tử chúa. Chúng con hôm nay sung sướng được lợi ích, được nghe các pháp bốn câu như thế này; lại có thể tin hiểu, diễn nói các pháp bốn câu này.

Khi ấy, tám muôn bốn ngàn người, trời phát tâm Vô thượng Bồ-đề, một vạn hai ngàn vị Bồ-tát được Vô sinh pháp nhẫn.

Bấy giờ Bồ-tát Thiên Quan bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Bồ-tát phải thành tựu bao nhiêu pháp nữa để sau khi Phật vào Niết-bàn được nghe kinh này, thọ trì, đọc tụng lại biên chép, rồi ở trong đại chúng rộng rãi thuyết giảng, mở bày?

Phật bảo Bồ-tát Thiên Quan:

–Này Thiện nam! Bồ-tát phải thành tựu tám pháp để sau khi Phật Niết-bàn mà thọ trì, đọc tụng, biên chép kinh này. Rồi ở trong đại chúng phân biệt, thuyết giảng rộng rãi. Những gì là tám?

  1. Thành tựu ý chí chuyên hướng về đạo Bồ-đề.
  2. Hành Từ bi rốt ráo, đối với chúng sinh không có lòng xâm hại.
  3. An trụ đại Bi để hóa độ chúng sinh.
  4. Thường cầu pháp, làm điều lợi cho pháp, ưa thích pháp, ham muốn pháp, tìm cầu pháp, tập hợp pháp mà lòng không thấy đầy đủ như biển cả nuốt gọn các dòng sông.
  5. Bỏ thân mạng để giữ gìn chánh pháp.
  6. Gieo trồng căn lành sâu dày, tập hợp các phước đức.
  7. Phát khởi đại nguyện, được chư Phật hộ trì.
  8. Hàng phục các ma oán, lìa khỏi sự sợ hãi của mọi người.

Này Thiên Quan! Đó là tám pháp Bồ-tát phải thành tựu để sau khi Phật Niết-bàn có thể được thọ trì, đọc tụng, biên chép kinh pháp này, ở trong đại chúng vì người thuyết giảng rộng rãi. Đời vị lai, khi diễn thuyết pháp như vậy thì ở tam thiên đại thiên thế giới này cũng lại chấn động sáu cách. Những hầm sâu, gò cao, các núi dơ bẩn, sông nước, ao hồ, dòng chảy và các biển cả đều biến mất hết, cũng chẳng gây não hại đến các loài chúng sinh dưới nước.

Bấy giờ tam thiên đại thiên thế giới đều bằng phẳng như bàn tay vi diệu trang nghiêm. Ở tam thiên đại thiên thế giới này, những cây khô chết hàng trăm năm rồi đều sinh hoa lá trở lại, nghiêng mình hướng về Đức Phật. Các cây cối còn sống thì hoa trái cành lá lại càng sum suê, cùng đều nghiêng mình hướng về Đức Phật. Trên mặt đất này mọc lên những hoa sen lớn như bánh xe nhiều màu sắc đáng yêu thích, mùi thơm ngào ngạt vừa ý, ánh sáng rực rỡ soi khắp cùng tam thiên đại thiên thế giới này. Trên giữa hư không có các Thiên tử chẳng hiện hình, đang tấu các âm nhạc. Nghe tiếng nhạc này, chư Thiên ở trong núi chúa Tuyết sơn và núi chúa Hương sơn rãi thêm hương thơm vi diệu khiến cho khắp tam thiên đại thiên thế giới này đều tỏa hương thơm. Trong hai núi chúa Tuyết sơn và Hương sơn mưa xuống các hoa đẹp đều trôi về Đức Phật, đầy khắp tam thiên đại thiên thế giới, ngoài ra các cây khác cũng đều mưa hoa xuống. Ở trên không trung có một lọng báu che được một vạn dotuần. Lọng báu lớn này rủ xuống các xâu trân châu, màn lưới chuông nhỏ trang nghiêm. Trong các lưới chuông nhỏ đã phát âm thanh dịu êm làm vui lòng người, đồng thời có âm thanh nhiệm mầu lớn vang khắp tam thiên đại thiên thế giơi.

Bấy giờ, Đại đức Xá-lợi-phất thấy sự biến hiện này, chắp tay hướng về Đức Phật, bạch rằng:

–Bạch Thế Tôn! Đây là điềm ánh sáng gì? Tướng chưa từng có này khắp tam thiên đại thiên thế giới đều được trang nghiêm rất đáng ưa thích!

Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Đó là vua Đại Thọ Khẩn-na-la từ trong núi Hương sơn cùng với vô lượng Khẩn-na-la, vô lượng Càn-thát-bà, vô lượng chư Thiên, vô lượng Ma-hầu-la-già… cùng đông người vây quanh, muốn đến gặp Phật lễ bái, cúng dường. Vua Đại thọ Khẩn-na-la muốn đến gặp Phật nên trước hiện tướng đó.

Phật vừa nói xong thì vua Đại thọ Khẩn-na-la cùng với vô lượng chúng Khẩn-na-la, vô lượng chúng Càn-thát-ba, vô lượng Thiên chúng, vô lượng chúng Ma-hầu-la-già… tất cả đại chúng vây quanh. Họ tấu muôn bốn ngàn loại âm nhạc, dùng lời ca thanh tịnh vi diệu hòa với tiếng nhạc, thật khéo léo. Lại có vô lượng trăm ngàn chúng sinh tháp tùng theo họ đến. Các Bồ-tát đại lực thần thông đã kiên cố, bay lên hư không mưa xuống các loại hoa cùng khắp. Họ đi đến chỗ Đức Phật. Đến nơi rồi, họ cùng các người tùy tùng đảnh lễ dưới chân Đức Phật, đi nhiễu quanh bên phải bảy vòng, rồi đứng trước mặt Đức Thế Tôn.

Bấy giờ vua Đại thọ Khẩn-na-la đem cây đàn lưu ly trang nghiêm hoa lá bằng vàng Diêm-phù-đàn, tạo ra được do nghiệp báo thiện, thanh tịnh của mình ra để gảy. Ơ trước Đức Như Lai, nhà vua khéo léo tự điều chỉnh tiết tấu tiếng đàn với tám muôn bốn ngàn nhạc cụ khác. Khi vua Đại thọ Khẩn-na-la đang gảy đàn và tấu các nhạc cụ thì âm thanh ấy vang đều khắp tam thiên đại thiên the giới. Âm thanh của đàn và tiếng ca ngâm vi diệu này lấn át cả âm nhạc của chư Thiên cõi Dục giới.

Lúc ấy, chư Thiên ở cõi Dục đều dừng âm nhạc, cùng nhau đến chỗ Đức Phật. Khi vua Đại thọ Khẩn-na-la đang gảy đàn thì rừng núi của tam thiên đại thiên thế giới như: núi chúa Tu-di, núi Tuyết, núi Mục sơn lân đà, núi Hắc và các thảo dược, cây cối, tòng lâm đều vọt mất hết. Chúng động dần dần, động nữa rồi đều lay động hết, chúng nhấc lên dần dần, nhấc lên nữa rồi đều nhấc lên. Chúng giống như người say rượu ngã tới trước, té lùi về sau không thể tự chủ được. Các núi Tu-di… nghiêng lệch vọt mất cũng lại như vậy. Khi vua Đại thọ Khẩn-na-la đang gảy đàn, trong đại chúng của Đức Phật, từ những bậc vua cõi người đến Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưubà-di, trời, rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-nala, Ma-hầu-la-già, Thích, Phạm, Hộ Thế hoặc Nhân phi nhân và những người ly dục, chỉ trừ Bồ-tát ở quả vị không thoái chuyển, còn tất cả các đại chúng nghe tiếng đàn và các tiếng nhạc này không thể tự ngồi yên mà đều đứng dậy múa theo. Đồng thời tất cả đại chúng Thanh văn nghe tiếng đàn nhạc không thể nhịn được nên đều đứng dậy bỏ hết oai nghi, ra dáng ngang bướng ham vui giống như trẻ con múa giỡn không thể tự kiềm chế được.

Bấy giờ Bồ-tát Thiên Quan nói với tất cả các Đại Thanh văn và Bồ-tát Đại Ca-diếp:

–Tôn giả và các vị Đại đức đã lìa khỏi phiền não, được tám Giải thoát, kiến giải được bốn Thánh đế mà sao hôm nay xả bỏ hết oai nghi uốn thân múa máy như trẻ con?

Khi đó, Đại đức Ca-diếp và các Thanh văn đáp:

–Này Thiện nam! Chúng ta ở trong này chẳng được tự tại. Vì sao? Vì tiếng đàn này mà chúng ta đều chẳng ngồi yên được, bản thân chúng ta múa máy không thể kiềm chế được, tâm niệm chúng ta không thể an trụ được.

Bấy giờ Bồ-tát Thiên Quan nói với Bồ-tát Đại Ca-diếp:

–Tôn giả tuổi đã lớn, thiểu dục, tri túc, tu hạnh Đầu-đà, thường

ưa chỗ tịch tịnh, Trời, Người, A-tu-la kính Tôn giả như Phật. Sao Tôn giả không thể kiem chế để thân múa may như trẻ con. Sao Tôn giả không hộ trì thân tâm của đại chúng này?

Đại đức Ca-diếp nói rằng:

–Này Thiện nam! Như cơn lốc núi lớn thổi vào cây cối, thảo dược, tòng lâm… những thứ ấy không có sức để tự giữ yên ổn được chứ không phải bản tâm chúng muốn như thế. Nhưng chúng bị kích động nên chẳng thể tự kiềm chế được.

Này Thiện nam! Hôm nay vua Đại thọ Khẩn-na-la này gảy đàn, nhạc hòa với lời ca cực hay cùng tiếng tiêu tiếng địch kích động lòng ta như cơn lốc núi thổi vào các thân cây, nên không thể tự kiềm chế được. Thần lực thệ nguyện uy thế phước đức của đấng Thiện trượng phu này so với uy đức của bậc Thanh văn, Duyên giac thì thù thắng hơn nhiều.

Bấy giờ Bồ-tát Thiên Quan nói với Tôn giả Đại Ca-diếp:

–Nay ông hãy nhìn xem! Tiếng đàn nhạc đó không làm kinh động được thể lực uy đức của các vị Bồ-tát ở quả vị không thoái chuyển. Này Đại đức Ca-diếp! Ai nghe như thế mà sẽ chẳng phát tâm nơi đạo Vô thượng Chánh chân Bồ-đề. Vì sao vậy? So với uy lực của hữu lượng trí hôm nay chẳng bằng tiếng đàn. Do đó, khiến cho những người có uy đức lớn như thế nghe tiếng đàn này không thể tự kiềm chế được, còn những bậc hướng về Đại thừa không thoai chuyển thì tiếng đàn ấy không thể lay động được.

Bấy giờ vua Đại thọ Khẩn-na-la lại đổi điệu đàn cùng với tám muốn bốn ngàn điệu nhạc khác. Rồi nhờ uy lực của Đức Phật và uy lực căn lành đời trước của vua Đại thọ Khẩn-na-la nên các âm thanh đàn nhạc nói lên lời kệ:

Tất cả pháp hướng về tịch tịnh
Cho đến thượng, trung, hạ như vầy
Rỗng lặng tịch diệt, không phiền não
Đấng Tối Vô Cấu hiện hôm nay.
Chúng sinh ngang bằng không chúng sinh
Quá khứ, hiện tại cũng vậy thôi
Dùng âm thanh nói khiến người nghe
Tiếng này ngang bằng với pháp giới.
Các thế giới đồng không thế giới
Hiện tướng giảng nói hư không
Không sinh, không tăng cũng không giảm
Hiển thị hư vọng như hư không.
Thiện giác chư Phật đều đồng đẳng
Pháp giới quyết định không hủy hoại
Thông đạt thí, giới và trí tuệ
Nhất tướng bình đẳng, cùng vô tướng.
Các “Kết” tịch diệt mãi không “Kết”
Do vì vọng tưởng sinh phân biệt
Không giữa, không trong cũng không ngoài
Vọng tưởng điên đảo “Có” sinh ra.
Nếu pháp, phi pháp không vọng tưởng
Mong cầu các pháp Vô sở hữu
Hiểu ra danh sắc tánh thật chân
Người kia ở đời, không nhiễm trước.
Quá khứ, vị lai không thể lường
Pháp mầu rộng nói cũng như trên
Bản tế tịch diệt không tận diệt
Không có trụ xứ, không địa phương
Dùng văn tự để nói pháp Không
Mà văn tự này là Tận tướng.
Đã biết văn tự là Tận tướng
Thì đối các pháp không vọng tưởng.
Giữ tâm bình đẳng, không đối tượng
Tất cả chẳng trái với pháp tướng
Tâm và các pháp không có sinh
Biết tất cả pháp nhập bình đẳng.
Tế không tế, đoạn không chỗ đoạn
Trước sau và giữa được đồng đều
Đã biết rõ ba đời bình đẳng
Trí đó thật vô biên vô lượng.
Tham trước sắc, danh ở thế gian
Hữu biên vô biên đều tịch tĩnh
Đã biết rõ pháp tướng nhân duyên
Vô ngã, chúng sinh, mạng, vọng tưởng.
Những điều ngã kiến không khởi lên
Tất cả các pháp cũng không khởi
Nếu điều đã khởi vốn không khởi
Thuận Pháp nhãn, thường thuận theo ngay.
Tính ấy giống như chớp trong mây
Tất cả pháp như thật tính ngã
Ngã, nhân, chúng sinh tính tự không
Nhập vào Đà-la-ni ấn tướng.
Từ giác biết ba môn giải thoát
Nhất tướng, vô tướng đồng một tướng
Tất cả “hữu pháp” không ngằn mé
Pháp, tự pháp không có vọng tưởng.
Nói pháp phân biệt bằng văn chương
Hoặc thượng hoặc hạ hay là trung
Văn tự cũng không có vọng tưởng
Tìm tòi phân biệt nghĩa chân thật.
Nghĩa và văn tự cùng tương ưng
Dùng âm thanh nói không hai nghĩa
Nếu biết bản tánh thường tịch nhiên
Tính bản tế kia thường tự đoạn.
Nếu tính bản tế thường tự đoạn
Nên tu các hạnh lợi cho đời
Tìm tòi bản tế, vô bản tế
Đại Từ bi kia rất thanh tịnh
Nếu đại Từ bi tối thanh tịnh
Khổ vui đồng đẳng mà tu hành
Lại cũng không cao cũng không thấp
Đó gọi Đại trượng phu biết lợi.
Pháp nhãn tịch tĩnh, tối tịch tĩnh,
Cả kiến, bất kiến thường tịch tĩnh
Lại cũng không giảm, cũng không tăng
Tánh kia lìa “tác” thường tịch tĩnh.
Làm sao nắm giữ tiếng trên không
Tuy nghe biết được, không thể nói
Cả người diễn thuyết lẫn người nghe
Thảy đều chẳng thật, được tự tại.

Khi các tiếng đàn nhạc đang diễn ra lời pháp kệ này, tám ngàn vị Bồ-tát đạt được Vô sinh nhẫn.

Bấy giờ Bồ-tát Thiên Quan bạch Phật rằng:

–Bạch Thế Tôn! Lời kệ vi diệu này phát ra từ đâu?

Đức Phật bảo:

–Này Thiện nam! Hôm nay ông tự đến hỏi vua Đại thọ Khẩnna-la. Vua ấy sẽ vì ông mà đáp cho!

Lúc ấy Bồ-tát Thiên Quan hỏi vua Đại thọ Khẩn-na-la rằng:

–Thưa đức vua! Kệ vi diệu này phát ra từ đâu?

Vua đáp rằng:

–Này Thiện nam! Từ trong âm thanh của chúng sinh phát ra!

Bồ-tát lại hỏi:

–Âm thanh của chúng sinh từ đâu mà phát ra?

Vua đáp:

–Này Thiện nam! Âm thanh của chúng sinh từ hư không phát ra!

Bồ-tát Thiên Quan hỏi:

–Thưa vua Khẩn-na-la! Âm thanh của chúng sinh chẳng phải phát ra từ miệng ư?

Vua đáp:

–Này thiện nam! Vậy là âm thanh của chúng sinh phát ra từ thân hay phát ra từ tâm?

Bồ-tát Thiên Quan đáp:

–Chẳng phát ra từ thân, cũng chẳng phát ra từ tâm! Vì sao? Vì rằng thân ngu si không biết gì như cỏ, cây, sành, đá. Còn tâm thì không hình sắc, không thể nhìn thấy, không sờ mó được không thể tuyên nói được giống như huyễn hoa!

Vua Đại thọ Khẩn-na-la nói:

–Này Thiện nam! Nếu lìa khỏi thân tâm thì âm thanh phát ra từ đâu?

Bồ-tát Thiên Quan đáp rằng:

–Âm thanh phát sinh từ tư duy.

Vua lại hỏi:

–Nếu không có hư không thì âm thanh pháp sinh từ đâu?

Bồ-tát Thiên Quan đáp rằng:

–Nếu lìa khỏi hư không thì âm thanh không thể phát ra được!

Vua Khẩn-na-la nói:

–Này Thiện nam! Vậy nên, ông nên biết rằng, tất cả âm thanh đều phát ra từ hư không. Nên biết, âm thanh này tức là tánh của hư không. Nó được nghe rồi liền diệt mất! Nếu nó đã diệt rồi thì đồng trụ với tánh hư không. Vậy nên, các pháp hoặc nói hoặc không nói đều đồng với tánh hư không. Vì vậy chẳng xả bỏ cõi hư không được. Nếu dùng âm thanh phân biệt các pháp cũng vậy! Nếu dùng âm thanh để có thể nói pháp mà tìm cầu các pháp này ở trong âm thanh thì không thể được, hay tìm cầu âm thanh trong các pháp cũng không được.

Này thiện nam! Vậy nên nói rằng tất cả pháp không thể nói bằng lời, chỉ dùng âm thanh gọi là lời nói. Ông nên biết rằng, lời nói là không có đối tượng. Vả lại, dùng âm thanh gọi là lời nói, những âm thanh này vốn không trụ xư, mà nếu không trụ xứ thì không bền vững, chân thật, mà cho là thật. Nếu đó là thật thì không thể hủy hoại. Nếu không thể hủy hoại, thì không có khởi lên. Nếu không có khởi lên, thì không có diệt mất. Nếu không có diệt mất thì gọi là thanh tịnh. Nếu đúng là thanh tịnh thì chính là trong sạch. Nếu đúng là trong sạch thì chính là không nhiễm ô. Nếu đúng là không nhiễm ô thì chính là sáng suốt. Nếu đúng là sáng suốt thì chính là tâm tanh. Nếu đúng là tâm tánh thì chính là ra khỏi. Nếu chính là ra khỏi thì ra khỏi các tướng. Nếu ra khỏi các tướng thì chính là quả vị chân chánh. Nếu Bồ-tát ở quả vị chân chánh thì gọi là Vô sinh pháp nhẫn. Nếu chứng đắc Vô sinh pháp nhẫn thì có thể nhẫn được tất cả, cũng nhẫn được với hư không, cũng nhẫn được với người. Vì sao vậy?

Chẳng rời khỏi người thì gọi đó là hư không. Người tức là hư không, nhẫn được với vô tướng cũng nhẫn được với cả hữu tướng. Vì sao vậy?

Thật tánh của tướng này tức là vô tướng. Nhẫn với vô nguyện cũng nhẫn cả với nguyện. Vì sao vậy?

Thật tánh của nguyện tức là vô nguyện. Tất cả pháp tánh và chúng sinh tánh, tất cả sự thường còn và hoại diệt cũng nhẫn như thế. Vì sao vậy?

Tánh sinh tử của tất cả chúng sinh giống như huyễn mộng. Đó gọi là Bồ-tát đạt được Vô sinh pháp nhẫn, chẳng trái với tất cả pháp, chẳng ngược với tất cả pháp. Nếu thuận với nhẫn này thì cũng đạt được nhẫn.

Thuận theo các pháp không đi, nếu không đi thì không đến. Nếu không đi, không đến ma biết tất cả pháp thì chính là thường trụ đúng như pháp thuận theo, đúng chỗ mà tu hành thì gọi là thành tựu Vô sinh pháp nhẫn. Tất cả lời nói tức là âm thanh. Vì nói với người khác nên khởi lên âm thanh này. Vô sinh pháp nhẫn này không có thể nói, không có thể nghe. Vì sao vậy?

Nghĩa này không thể nắm bắt được vậy. Pháp nhẫn này không phải âm thanh cũng chẳng phải lời nói.

Này Thiện nam! Đức Như Lai Thế Tôn có cái uy đức lớn đồng với nghĩa không thể nắm giữ. Nói đến nghĩa Không thể nắm giữ tức là nói đến sự chứng đắc.

QUYỂN 2

Bấy giờ, Bồ-tát Thiên Quan bạch Đức Phật:

–Bạch Thế Tôn! Thật chưa từng có! Vua Khẩn-na-la này thành tựu được pháp chẳng thể nghĩ bàn như vậy!

Bạch Thế Tôn! Vua Khẩn-na-la này thành tựu được sức thần thông vi diệu thù thắng như thế, lại có thể diễn thuyết được pháp nhẫn thậm thâm.

Bạch Thế Tôn! Vua Khẩn-na-la đã ở nơi bao nhiêu Đức Phật để gieo trồng các căn lành, có được biện tài như thế?

Đức Phật nói:

–Giả sử có đếm được số thế giới nhiều như các vì sao, bằng với số cát sông Hằng thì số các Đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Giác mà vua Khẩn-na-la này đã phụng sự không thể đếm được.

Này thiện nam! Người này đã ở trong ngần ấy cõi Phật như vậy mà tu hành phạm hạnh, chứa nhóm đạo Vô thượng chánh chân; thế nên đã được biện tài như vậy.

Lúc ấy Bồ-tát Thiên Quan hỏi vua Khẩn-na-la:

–Bệ hạ đã ở chỗ các Đức Phật nhiều không suy lường được như vậy, gieo trồng vô lượng vô biên căn lành, sao không thành đạo Vô thượng chánh chân?

Bấy giờ vua Đại Thọ Khẩn-na-la nói với Bồ-tát Thiên Quan:

–Này thiện nam! Đại Bồ-tát có mười hai pháp không cho là đầy đủ. Những gì là mười hai?

Đó là:

  1. Cúng dường phụng sự các Đức Phật Thế Tôn không đầy đủ.
  2. Chứa nhóm các căn lành không đầy đủ.
  3. Tập trung nghe pháp bảo không đầy đủ.
  4. Tu Thiền giải thoát không đầy đủ.
  5. Tu Pháp quán tịch không đầy đủ.
  6. Lưu thông hiển bày pháp không đầy đủ.
  7. Giáo hóa chúng sinh không đầy đủ.
  8. Hộ trì chánh pháp không đầy đủ.
  9. Không bỏ nơi thanh vắng không đầy đủ.
  10. Trang nghiêm cõi Phật đầy các Ba-la-mật không đầy đủ.
  11. Tu tập phước tuệ không đầy đủ.
  12. Chứa nhóm pháp trợ Bồ-đề không đầy đủ.

Này thiện nam! Đó là mười hai pháp không đầy đủ của Bồ-tát. Vậy nên, Bồ-tát cầu căn lành trang nghiêm không cho là đủ.

Bấy giờ vua Đại thọ Khẩn-na-la bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Con nghe Bồ-tát có được Tam-muội tên là Bảo trụ. Nếu có Bồ-tát đạt được Tam-muội này thì tất cả pháp bảo, các pháp công đức tự nhiên mà có được.

Lành thay, bạch Thế Tôn! Xin nguyện Đức Như Lai diễn noi về Tam-muội Bảo trụ này. Bồ-tát nghe rồi, đối với tất cả pháp được tự tại, tăng trưởng theo pháp.

Bấy giờ, Phật bảo vua Đại Thọ Khẩn-na-la:

–Đúng vậy, này vua Khẩn-na-la! Quả thật có Tam-muội tên là Bảo trụ! Ông nay hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ! Ta sẽ nói về Tammuội Bảo trụ của Bồ-tát!

Vua Khẩn-na-la bạch:

–Lành thay, bạch Thế Tôn! Con nguyện xin lắng nghe và kính nhận.

Phật bảo vua Đại thọ Khẩn-na-la:

–Nếu có Bồ-tát muốn cho chủng tánh Phật bảo chẳng đoạn, chủng tánh Pháp bảo, chủng tánh Tăng bảo chẳng đoạn dứt thì tu hành chứa nhóm sinh ra tám mươi loại báu. Những gì là tám mươi loại báu?

Đó là:

  1. Chẳng quên tâm báu nhất thiết trí.
  2. Chẳng lìa bỏ tâm báu ý chí.
  3. Chẳng bỏ tâm báu tu các căn lành.
  4. Chẳng lìa bỏ tâm báu định tịch tĩnh người bền vững.
  5. Sinh khởi tâm báu bố thí tất cả.
  6. Tâm báu thanh tịnh chẳng mong báo đền mà hồi hướng đạo Bồ-đề.
  7. Tâm báu trang nghiêm thân đầy đủ ba điều thiện.
  8. Tâm báu trang nghiêm miệng lìa bốn lỗi.
  9. Tâm báu trang nghiêm ý lìa bỏ vô minh.
  10. Tâm báu trang nghiêm ý lìa bỏ ái dục.
  11. Tâm báu trang nghiêm ý lìa bỏ sân hận.
  12. Tâm báu trang nghiêm ý lìa bỏ kiến chấp.
  13. Tâm báu trì giới chẳng hủy, chẳng thủng, chẳng hoại, chẳng khuyết nên chẳng thủng, chẳng hoại, chẳng khuyết, chẳng ô nhiễm, giới trang nghiêm.
  14. Tâm báu không não hại nên đối với chúng sinh bình đẳng.
  15. Tâm báu nhu hòa nhẫn nhục thì có thể nhẫn nhịn việc khó nhẫn.
  16. Tâm báu không buồn lo, thân mạng thanh tịnh thì Bồ-đề thanh tịnh.
  17. Tâm báu không ái dục, sân hận thì không cao thấp.
  18. Tâm báu kiên cường trang nghiêm, không lo lắng.
  19. Tâm báu tất cả việc đã làm đều được thành tựu không buông thả.
  20. Tâm báu niệm tuệ kiên cố, tinh tấn thể nhập, khéo tu tập pháp trợ Bồ-đề.
  21. Tâm báu khởi lên Hiền giải thoát Tam-muội nên đạt được tâm tự tại.
  22. Tâm báu chứa nhóm pháp nên tập hợp tài sản tự tại.
  23. Tâm báu nghe chánh pháp rồi hay hộ trì nên đạt được vô úy.
  24. Tâm báu không lẫn tiếc pháp nên lòng không keo lẫn.
  25. Tâm báu thuyết pháp chẳng chờ lợi dưỡng nên hướng về chánh lưu.
  26. Tâm báu đúng như pháp đã nghe thành tựu đầy đủ nên tu hành đúng như pháp đã nghe.
  27. Tâm báu trí quán thì không hàng phục Trí.
  28. Tâm báu đại Từ hóa độ chúng sinh.
  29. Tâm báu đại Bi, quán sát chúng sinh.
  30. Tâm báu đại Hỷ, yêu thích pháp.
  31. Tâm báu đại Xả, các pháp tịch tịnh.
  32. Tâm báu chẳng chán sinh tử, chứa nhóm các căn lành.
  33. Tâm báu hóa độ chúng sinh nên chẳng trụ an lạc riêng mình.
  34. Tâm báu Bốn nhiếp vì hộ trì pháp.
  35. Tâm báu khởi thần thông nên thị hiện biến hóa tất cả thần thông.
  36. Tâm báu Thiện tri thức vì nghe pháp.
  37. Tâm báu lìa ác tri thức chứa nhóm căn lành.
  38. Tâm báu vì tất cả chúng sinh tu chân chánh như Niết-bàn.
  39. Tâm báu lìa tất cả các bệnh, kết sử nhập vào tất cả ý chí của chúng sinh.
  40. Tâm báu đối với tất cả pháp sinh tưởng an lạc thì trừ diệt các bệnh.
  41. Tâm báu khéo tu, học tập không khinh nhờn thì biết được pháp của bậc Đại nhân.
  42. Tâm báu diệt kiêu mạn thì đối với các chúng sinh khiêm nhường hạ mình.
  43. Tâm báu không dối trá thì không dua nịnh hót lừa dối.
  44. Tâm báu hòa kính thì khiến pháp trụ lâu dài.
  45. Tâm báu hộ trì pháp bảo thì báo đáp ân của chư Phật quá khứ, vị lai và hiện tại.
  46. Tâm báu tri ân, báo ân là bạn thân hoàn hảo.
  47. Tâm báu chẳng mong báo đáp thì không có đối tượng thân thiết.
  48. Tâm báu thường xuất gia thì chẳng quên điều đã làm.
  49. Tâm báu thích an lạc thì giữ gìn sự thanh tịnh.
  50. Tâm báu thánh chủng thiểu dục, tri túc thì chứa nhóm trì giới.
  51. Tâm báu trang nghiêm tất cả công đức đầu-đà thì đối các chúng sinh không có lỗi.
  52. Tâm báu thiểu dục, tri túc thì thấy tuệ không đầy đủ.
  53. Tâm báu ở một mình thì thân, ý tịch tịnh.
  54. Tâm báu cầu pháp không chán thì đầy đủ tướng tốt.
  55. Tâm báu tập trung trí trang nghiêm không chán thì đoạn được các nghi hoặc của tất cả chúng sinh.
  56. Tâm báu niệm Phật thì chẳng rời chư Phật.
  57. Tâm báu niệm pháp thì chẳng lìa nghe pháp.
  58. Tâm báu niệm tăng thì chẳng thoái Bồ-tát tăng.
  59. Tâm báu niệm giới thì chẳng xả bỏ tâm Bồ-đề.
  60. Tâm báu niệm xả thì xả thì xả được các kết sử.
  61. Tâm báu niệm thiên thì buộc ở địa vị Bồ-tát nhất sinh bổ xứ.
  62. Tâm báu biện tài về nghĩa thì hiểu hết tất cả nghĩa.
  63. Tâm báu biện tài về pháp thì chẳng họa pháp giới.
  64. Tâm báu biện tài về từ thì hiểu rõ tất cả âm thanh.
  65. Tâm báu ưa biện tài thuyết giảng thì vui thích với tất cả chúng sinh.
  66. Tâm báu chứng đắc Đà-la-ni, tùy chỗ nghe pháp chẳng quên mất.
  67. Tâm báu nương nghĩa, biết được thật tính của văn tự.
  68. Tâm báu nương trí, hiểu biết như huyễn.
  69. Tâm báu nương kinh liễu nghĩa thì ở trong kinh liễu nghĩa không sai trái, tranh cãi.
  70. Tâm bau nương pháp thì hiểu rõ thật tính của Nhân.
  71. Tâm báu quán tất cả pháp vô ngã và chúng sinh đều vô ngã.
  72. Tâm báu quán đến Niết-bàn tịch tịnh thì rốt ráo tịch tịnh.
  73. Tâm báu quán giải thoát môn Không, Vô tướng, Vô nguyện thì vào cửa Bất tử.
  74. Tâm báu quán tất cả pháp không sinh thì đạt được vô sinh pháp nhẫn.
  75. Tâm báu thấy tất cả pháp như huyễn, như mộng, như ánh lửa, như bóng, như tiếng vang, như trăng đáy nước thì chẳng trụ các kiến chấp.
  76. Tâm báu thuận theo pháp nhân duyên thì dứt sạch đoạn kiến, thường kiến.
  77. Tâm báu không vào hai pháp môn thì hiểu được “nhất đạo”.
  78. Tâm báu lìa tất cả hạnh thì đạt đến quả vị chân chánh.
  79. Tâm báu quán, an trụ chánh pháp thì tất cả pháp bình đẳng.
  80. Tâm báu tập trung tất cả pháp trợ Bồ-đề thì hiểu hết tất cả pháp của chư Phật.

Như vậy, này vua Khẩn-na-la! Nếu Bồ-tát tu tập các pháp như vậy, khéo tu, ưa tu, an trụ chân chánh để tu hành, đúng như những điều đã nói. Đó gọi là Bồ-tát Tam-muội Bảo trụ. Nếu như vậy thì Bồ-tát liền được Tam-muội Bảo trụ này. Nếu có Bồ-tát đã thành tựu được Tam-muội Bảo trụ này thì vị Bồ-tát này không có báu thế gian hay báu xuất thế gian nào mà chẳng được tự tại.

Này vua Khẩn-na-la, thế nào là báu thế gian? Thế nào là bán xuất thế gian?

Này vua Khẩn-na-la! Báu thế gian là các bậc tài năng, quý trọng của người, trời như các bậc tài năng xuất chúng của Phạm thiên, Hộ thế, Chuyển luân vương, cư sĩ, Bà-la-môn, Trưởng giả, Sát-lợi. Tuy họ có được tài năng, sự tôn kính của trời người như vậy mà chẳng buông lung. Do họ chẳng buông lung nên có thể chứa nhóm tất cả pháp trợ Bồ-đề. Đó gọi là báu thế gian. Sao gọi là báu xuất thế gian? Sở dĩ gọi bậc Tuệ thánh là báu xuất thế gian vì trí tuệ thâu tóm hết pháp thế gian. Vậy nên, nói nhập vào cửa tuệ Bát-nhã là xuất thế gian. Ví như biển cả là chủ của các dòng sông, như núi Tu-di là vua của các núi, giống như các vì sao thì trăng là chúa, như dược thảo, hỏa châu thì ánh sáng mặt trời là sự cần thiết bậc nhất. Tất cả cầm thú thì sư tử là tối cao của chúng, tất cả thứ dân thì vua là tối cao của họ. Ba mươi ba tầng trời thì Đế Thích là địa vị tối cao, trong các Phạm thiên thì Phạm vương là tối cao.

Như vậy, này vua Khẩn-na-la! Tất cả pháp xuất thế gian thì trí tuệ là trên hết. Vậy nên nói rằng Bát-nhã là vua trong các kinh, vượt qua các dòng, an trụ đạo vậy.

Đó gọi là ngọn đuốc soi sáng kết sử tối tăm.

Đó gọi là sức dũng kiện hàng phục các oán.

Đó gọi là y vương hòa các thứ thuốc.

Đó gọi là thầy biết hết kinh sách.

Đó gọi là mũi tên bắn trúng đích kết sử.

Đó gọi là sức mạnh trừ sạch kết sử.

Đó gọi là con voi lớn nhổ bật rễ cây kết sử.

Đó là không sai trái, tranh cãi, đều bình đẳng.

Đó là không đấu tranh, không kiện tụng.

Đó gọi là không trái nghịch khéo tùy thuận.

Đó gọi là không sân hận, rốt ráo diệt tận

Đó gọi là gọi là biết rõ bốn Thánh đế.

Đó gọi là niệm chánh, niệm xứ.

Đó gọi là chánh năng, chánh đoạn.

Đó gọi là thị hiện năng lực thần túc.

Đó gọi là giới chướng ngại các căn.

Đó gọi là có sức lớn hàng phục.

Đó gọi là biết về thiện, biết về trí.

Đó gọi là khai thị để thị hiện chánh đạo.

Đó gọi là tịch để định tịch tĩnh.

Đó gọi là ánh sáng làm cho tuệ sáng.

Đó gọi là làm sáng để lìa khỏi chướng ngăn che.

Đó là đến chỗ chánh đạo, được chiếu sáng.

Đó gọi là trừ đoạn, trừ kết sử, phiền não

Đó là không sóng gió vượt qua các dòng.

Đó là không thể thấy, vượt qua cảnh giới.

Đó là không cảnh giới, lìa khỏi trong, ngoài.

Đó gọi là Không, lìa khỏi bờ kiến chấp

Đó gọi là Vô tướng lìa khỏi giác quán.

Đó gọi là Vô nguyện ra khỏi tướng ba cõi.

Đó gọi là Nhất tướng không có tướng.

Đó gọi là tướng hư không không tương tợ.

Đó gọi là trừ ái dục, kiêu mạn lìa khỏi nghiệp ma.

Bố thí không vọng tưởng, chẳng nương vào giới, chẳng trụ nhẫn nhục. Chẳng khởi tinh tấn. Chẳng nhiễm trước thiền. Không ngôn thuyết môn. Không nhất thiết môn. Tự tạo phương tiện, không ngã không chúng sinh, đến bờ kia, tập trung các căn lành. Không tạo tác, không người tạo tác, vượt qua các đạo tạo tác.

Này vua Khẩn-na-la! Những điều đó chính là báu xuất thế gian, gọi là báu Bát-nhã. Báu trí tuệ này tức là cái thể của Tammuội Bảo trụ. Nếu Bồ-tát chứng đắc Tam-muội Bảo trụ thì tất cả các báu đều tập trung lại hết. Này vua Khẩn-na-la! Ví như biển cả là chúa của các dòng sông, nó tập hợp tất cả báu thì tất cả các báu đều về lại hết, rồi ở trong biển sinh ra các báu.

Như vậy, này vua Khẩn-na-la! Nếu Bồ-tát đạt được Tam-muội Bảo trụ này, vì là chúa của tất cả các chúng sinh nên Bồ-tát tập hợp tất cả báu thì tất cả pháp đều hướng về cả. Này vua Khẩn-na-la! Tam-muội Bảo trụ có thể tập hợp tất cả các Pháp bảo. Trong đó chẳng đoạn dứt hạt giống Tam bảo. Tam-muội Bảo trụ này gọi là Tập tụ các Pháp bảo.

Bấy giờ Bồ-tát Thiên Quan bạch Đức Phật:

–Bạch Thế Tôn! Vua Đại thọ Khẩn-na-la này đã thành tựu được Tam-muội Bảo trụ này ư?

Phật nói:

–Này thiện nam! Nay ông hãy đích thân hỏi vua Đại thọ Khẩnna-la. Nhà vua sẽ vì ông mà nói!

Khi ấy Bồ-tát Thiên Quan liền hỏi vua Đại thọ Khẩn-na-la:

–Thưa đức vua Đại thọ Khẩn-na-la! Bệ hạ đã thành tựu được Tam-muội Bảo trụ của Bồ-tát rồi ư?

Nhà vua đáp:

–Này thiện nam! Trong Tam-muội này không trụ, không đắc. Trong Tam-muội này không có người đắc được mà Tam-muội này chẳng phải sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Tam-muội này không sắc để thấy, không tiếng để nghe, chẳng phải là tướng trụ, chẳng phải là tướng diệt, không có tướng xứ, chẳng phải vô tướng, chẳng phải nhất tướng. Đã nói tướng ấy là đều không có tướng, không thể tạo tác. Tướng của Tam-muội ấy là tự không có tướng cũng chẳng phải vô tướng. Tu Tam-muội này tương ứng như vậy.

Này thiện nam! Tam-muội này bình đẳng với tất cả các pháp. Nếu đã bình đẳng với các pháp thì cũng bình đẳng với ngã. Nếu bình đẳng với ngã thì cũng bình đẳng với tất cả chúng sinh.

Này thiện nam! Vậy nên Tam-muội này bình đẳng với tất cả chúng sinh. Vì sao vậy? Tất cả chúng sinh tức là không tướng mà không tướng là tướng của Tam-muội. Tất cả chúng sinh tức là tướng vô nguyện mà tướng vô nguyện là tướng của Tam-muội. Tất cả chúng sinh và tất cả pháp là tướng tịch tĩnh mà tướng tịch tĩnh là tướng của Tam-muội. Tất cả chúng sinh là tướng vô ngã mà tướng vô ngã là tướng của Tam-muội. Tướng Tam-muội này không thể dùng thân mà chạm xúc được, không thể dùng tâm mà cảm xúc được. Phàm pháp có thể chạm xúc được hoặc bằng nhau hoặc chẳng bằng nhau, tất cả đều là khéo điều phục diễn nói vậy.

Khi ấy Bồ-tát Thiên Quan liền bạch Phật:

–Thật ít có, bạch Thế Tôn! Vua Đại thọ Khẩn-na-la này ở trong chỗ phóng dật như vậy mới có thể diễn thuyết được pháp thậm thâm vi diệu.

Phật nói:

–Này Thiện nam! Bồ-tát từ trong đất tuệ phương tiện sinh ra thị hiện tất cả đối tượng tạo tác mà chẳng làm cho tất cả đối tượng tạo ô nhiễm.

Này Thiện nam! Vua Đại thọ Khẩn-na-la này dùng âm thanh đàn nhạc, tiêu, địch và lời ca vi diệu điều phục bảy mươi ức chúng Khẩn-na-la khiến họ trụ Bồ-đề. Ba mươi ức Càn-thát-bà được điều phục khiến họ trụ ở đạo Vô thượng. Tám muôn bốn ngàn quyến thuộc của vua ấy an trụ Nhất thiết trí. Vua ấy có trí phương tiện rộng lớn như vậy.

Này Thiện nam! Ta xướng lên lời này: Các vị Bồ-tát này tùy nơi cư trú ở tại bổn xứ, tùy theo các chỗ ở đem lại nhiều lợi ích cho chúng sinh.

Này Thiện nam! Giống như không có củi, lửa thì chẳng cháy lên được. Như vậy, này thiện nam! Bồ-tát ở chỗ tịch tĩnh cũng như thế. Họ chẳng thể giáo hóa, dẫn dắt chúng sinh thành công rực rỡ được.

Này Thiện nam! giống như gom lại nhiều củi thì lửa cháy rực. Này Thiện nam! Bồ-tát cũng vậy. Ho ở chỗ nhiều người thì sự giáo hóa dẫn dắt chúng sinh thành công rực rỡ. Này Thiện nam! Do đó ông nên biết! Bồ-tát ở tại chỗ tôn quý thì tùy trụ xứ mà đem lại nhiều lợi ích cho chúng sinh.

Bồ-tát Thiên Quan lại bạch Phật:

–Sao vua Đại thọ Khẩn-na-la này dùng đàn và tiếng ca vi diệu cùng các âm nhạc để giáo hóa chúng sinh?

Phật bảo Bồ-tát Thiên Quan:

–Này Thiện nam! những chúng Khẩn-na-la, Càn-thát-bà và Ma-hầu-la-già… ưa thích âm nhạc. Vua Đại thọ Khẩn-na-la này khéo gảy đàn hòa với âm thanh của các nhạc cụ làm cho chúng Khẩn-nala, chúng Càn-thát-bà, chúng Ma-hầu-la-già đó khởi lên sự ưa thích vui mừng, tin hiểu, tăng thêm lòng cung kính. Khi họ đã được sự ưa thích, tin hiểu, tăng thêm cung kính này rồi, nhà vua này làm cho trong âm thanh này phát ra tiếng Phật, tiếng Pháp, tiếng Tăng, tiếng chẳng quên tâm Bồ-đề, tiếng Bố thí, tiếng Trì giới, tiếng Nhẫn nhục, tieng Tinh tấn, tiếng Thiền định, tiếng Trí tuệ, tiếng Từ, tiếng Bi, tiếng Hỷ, tiếng Xả, tiếng Niệm xứ, tiếng Chánh đoạn, tiếng Thần túc, tiếng Ngũ căn, tiếng Ngũ lực, tiếng Giác, tiếng Đạo, tiếng định, tiếng tuệ, tiếng thiền định giải thoát Tam-muội, tiếng vô thường, tiếng khổ, tiếng vô ngã, tiếng tịch, tiếng không, tiếng vô tướng, tiếng vô nguyện, tiếng vô sinh, tiếng vô khởi, tiếng vô hành, tiếng pháp tạng Bồ-tát đã tiếp thu pháp, tiếng Đà-la-ni Kim cương cú Tam-muội mãn, tiếng chuyển pháp luân không thoái, tiếng Nhất thiết quyết định pháp vương, tiếng Tam-muội Đại hải trang nghiêm, tiếng Tammuội Nhất thiết pháp tự tại, tiếng Tam-muội Bảo hữu, tiếng Tammuội Bảo hàng phục, tiếng Tam-muội Bảo cự, tiếng Tam-muội Ngụ lạc Tam-muội, tiếng Tam-muội liên hoa trang nghiêm, tiếng Tammuội Quá liên hoa, tiếng Tam-muội Nhất thiết xứ, tiếng Tam-muội Nhất thiết pháp bạch liên hoa, tiếng Tam-muội Tăng ích, tiếng Tammuội Đại phấn tấn, tiếng Tam-muội Sư tử phấn tấn, tiếng Tam-muội Nhật đăng, tiếng Tam-muội Vô lượng toàn, tiếng Tam-muội Tiền tiến, tiếng Tam-muội Kim cương trường, tiếng Tam-muội Kim cương tràng, tiếng Tam-muội Kim cương bất hoại, tiếng Tam-muội Địa trì, tiếng Tam-muội Sơn đăng, tiếng Tam-muội Sơn tràng, tiếng Tammuội Bảo tạng, tiếng Tam-muội Bảo hoa, tiếng Tam-muội Bảo tâm tự tại, tiếng Tam-muội Quán nhất thiết chúng sinh tâm, tiếng Tammuội Xuất tăng trưởng nhất thiết hành, tiếng Tam-muội Tu thâm kiên, tiếng Tam-muội Tạp biện, tiếng Tam-muội Vô quán, tiếng Tam-muội Quán Nhất thiết chúng sinh, tiếng Tam-muội du hý, tiếng Tam-muội Xuất nhất thiết thần thông cảnh giới, tiếng Tam-muội Hàng ma giới, tiếng Tam-muội Hiện nhất thiết sắc, tiếng Tam-muội Nhập nhất thiết, tiếng Tam-muội Phân nhất thiết, tiếng Tam-muội Trụ nhất thiết hạnh, tiếng Tam-muội Tuệ đăng, tiếng Tam-muội Thủ đăng, tiếng Tam-muội Quán Bồ-đề, tiếng Tam-muội Quá nhạo biện, tiếng Tam-muội Tác nhập nhất thiết công đức.

Này thiện nam! trong tiếng đàn ca và các âm nhạc này phát ra những pháp Tam-muội như thế, khiến cho các chúng sinh nhận sự hóa độ rồi ra đi. Các vị Đại Bồ-tát thành tựu được pháp hi hữu như thế khi nói đến các hạnh công đức, thần lực của vua Đại thọ Khẩnna-la này, do nhờ Phật lực nên có hoa trời Mạn-đà-la tụ lại. Các đại chúng đều dùng hoa ấy tung lên trên vua Đại thọ Khẩn-na-la. Vua Đại thọ Khẩn-na-la dùng thần lực, tay phải nắm lấy không để một hoa rơi xuống đất. Bấy giờ, vua Đại thọ Khẩn-na-la liền dùng hoa ấy tung lên cúng dường Như Lai. Khi nhà vua đang tung hoa cúng dường, nhờ thần lực của Phật nên những hoa này kết thành một lọng báu che được một ngàn thế giới. Trong lọng báu đó, vô lượng ngàn vạn ức xâu trân châu báu treo rủ xuong. Ở mỗi một xâu trân châu phát ra vô lượng vạn ức ánh sáng. Trong mỗi một ánh sáng hiện ra hoa sen báu đủ sắc đẹp đẽ, hương thơm tỏa ngát thật thích ý. Trong các đài hoa, tất cả đều hiện ra sắc tướng của Đức Thích-ca Mâu-ni Như Lai đang ngồi kiết già. Các Đức Phật này đều khen ngợi vua Đại thọ Khẩn-na-la:

–Lành thay, lành thay! Chỉ có vua Đại thọ Khẩn-na-la mới có thể giáo hóa được vô lượng chúng sinh, Bồ-tát nên phải thi hành như vậy! Đã ra khỏi thế gian mà trở lại thế gian để giáo hóa chúng sinh, sinh tử đã hết mà trở lại thọ thân. Đạt được quả vị Niết-bàn trở lại đi khắp ba cõi, sinh ra ở trong đó để giáo hóa chúng sinh.

Bấy giờ vua Đại thọ Khẩn-na-la nghĩ như vầy: “Ta nay phải làm lọng báu che lên cho từng vị Phật.” Lúc ấy, nhà vua này liền nhập vào Tam-muội tên là Trang nghiêm bảo cái. Khi nhà vua đang nhập vào Tam-muội này, có từng lọng báu vi diệu che lên từng vị Như Lai và tay phải của tất cả đại chúng đều cầm lọng báu. Họ lấy làm của mình để cúng dường Phật. Khi ấy, vua Đại thọ Khẩn-na-la lại dấy lên ý niệm này: “Ta nay sẽ thỉnh Đức Thích-ca Như lai và các vị Bồ-tát cùng Tăng chúng Thanh văn, tất cả đại chúng đến cung điện của ta trong núi Hương sơn thọ trai để cho vô lượng vô biên Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già… có dịp tập hợp lại nghe pháp. Đích thân ta cúng dường Như Lai và làm người hầu cận Ngài. Nhờ thế mà những chúng sinh ấy được lợi ích, yên vui, an lạc lâu dài.”

Bấy giờ, vua Đại thọ Khẩn-na-la khởi ý niệm ấy rồi, đảnh lễ dưới chân Phật chắp tay bạch Đức Phật rằng:

–Nguyện xin Đức Thế Tôn và chúng Bồ-tát cùng Tăng chúng Thanh văn thương xót chúng con nhận lời thỉnh mời đến núi Hương sơn bảy hôm để cho vô lượng chúng sinh được tăng trưởng căn lành. Bạch Thế Tôn! Con nay xin đảm nhận làm người hầu cận. Vì thương xót vua Đại thọ Khẩn-na-la này, xin Đức Phật và chúng Bồ-tát cùng Tăng chúng Thanh văn sẽ đến núi Hương sơn trong bảy hôm. Xin Phật thương xót con.

Bấy giờ, vua Khẩn-na-la biết Phật đã nhận lời rồi thì nỗi vui mừng hớn hở lan khắp thân mình. Vua cùng với hoàng hậu và nam nữ quyến thuộc tấu các âm nhạc cúng dường Phật, làm lễ dưới chân Thế Tôn, đi nhiễu về bên phải ba vòng, rồi ra khỏi chúng mà đi về núi Hương sơn. Lúc này vua Đại thọ Khẩn-na-la ở trong Hương sơn tự trang nghiêm chỗ ở, vườn, rừng của mình để cúng dường Như Lai, vua đã trang nghiêm một khoảnh đất vi diệu ngang dọc năm tram do-tuần: Đất bằng lưu ly xanh xen lẫn vàng Diêm-phù-đàn, các báu đủ màu sắc xen nhau chói sáng. Lúc này trên quảng trường số tòa ngồi đẹp đẽ có đến hàng trăm ngàn cái, chen lẫn vào đó là những hoa sen báu. Ngoài ra còn phô bày trăm ngàn vạn, ức, y cõi trời. Trên quảng trường lại còn vì Đức Phật Như lai bày một tòa sư tử cao ba mươi hai do-tuần, trang trí bằng các thứ báu, lan can bằng các báu vây chung quanh tòa ngồi đó. Dựng lên lọng báu, các cờ báu, vô lượng lò hương đốt kiên hắc trầm thủy. Ở trên thì giăng lụa năm sắc để hứng bụi bặm, sương móc, khắp mọi nơi treo cờ, lọng báu, lụa là ngũ sắc thướt tha, tung lên các loại hoa cõi trời. Ở bốn mặt tòa ngồi tạo ra cây báu lớn đủ màu sắc đẹp đẽ. Ở bên ngoài nhiều người đến và quyến thuộc của nhà vua đều đã tập hợp xong, nhà vua liền nói kệ để dạy bảo cho họ:

Khi được gặp Đức Phật ra đời
Giống như hoa Ưu-đàm-bát-la
Đấng Thế Tôn nay đã hiện ra
Tốt lành cung kính cúng dường Ngài.
Xả kiêu mạn, biếng nhác lừa dối
Cũng lìa huyễn hoặc và xan tham
Các cuộc chơi đùa phải bỏ hết
Tốt lành cung kính Thầy dẫn dắt.
Hoa Hương sơn, hoa đẹp trên trời
Và những loại hoa đẹp, vừa ý
Đều phải tập trung về một chỗ
Đem dâng cúng dường Đấng Nhân Tiên.
Các loại hương quý của mình thích
Kiên hắc trầm thủy và chiên-đàn
Ở trong chốn Hương sơn này có
Đốt cúng dường Bậc Thắng Chúng Sinh.
Tiếng nhạc lời ca hay của mình
Chúng Khẩn-na-la đã ưa thích
Mỗi mỗi khéo trổi các âm nhạc
Đem cúng dường Đấng Trượng Phu Tiên.
Vải đẹp, lọng báu và cờ phướng
Khéo nhuộm mềm mại hợp ý trời
Giăng bày cúng dường Đức Như Lai
Khó gặp, khó được, không ai sánh.
Cúng dường Phật xong đến cõi lành
Hoặc làm Đế Thích, Tứ Thiên vương
Hoặc làm Phạm vương, Tự Tại vương
Hoặc làm vua chúa của người, trời.
Hình sắc, danh tiếng và oai đức
Quyến thuộc, tùy tùng và trân bảo
Mọi người đều nghe lời dạy bảo
Cúng dường Phật xong được lợi này.
Chư Thiên hoan hỷ và người vui
Muốn ở sinh tử thường an lạc
Muốn thường an lạc, đầy an lạc
Phải cúng dường Đấng Thắng Chúng Sinh.
Muốn được Thanh văn và Duyên giác
Cùng thừa thắng diệu, Tối chánh giác
Lại muốn hàng phục các oán ma
Thì phải cúng dường Đấng Pháp Vương.

Lúc vua Đại thọ Khẩn-na-la dạy cho các quyến thuộc của mình như vậy rồi, họ liền tập hợp các chuỗi hoa, hương thơm, hương xoa, bột thơm, bày biện các món ăn trăm vị. Rồi vua ở trước Hương sơn vương, tấu âm nhạc, ca các bài kệ tụng, bạch Phật rằng thời đã đến:

Phật vì lợi ích ban an lạc
Dáng vui hòa nhã, lời dịu dàng
Người, trời lắng nghe, dâng hoa đẹp
Nay đến lúc Đấng Thiện Thệ đến.
Bằng mười Lực hàng phục ma quái
Hàng phục chúng khác lợi cho đời
Cấu trược, vô cấu phải tiêu thôi
Đến lúc lợi ích Thế Tôn lại.
Vui hạnh đầu-đà không đắm say
Thắng tập, niệm tuệ bền không lay
Thắng Nhân thường thoát khỏi thế tục
Lòng hoan hỷ đến làm lợi ích,
Che mờ ánh sáng nhật, nguyệt, châu
Ánh sáng Đế Thích, Phạm vương mờ
Hào quang Mâu-ni đều hỷ lạc
Sáng che ánh sáng của muôn loài.
Tiếng ca trời rồng, Khẩn-na-la
Là tiếng thêm kết, chẳng diệt dục
Tiếng Phạm âm êm dịu của Phật
Diệt trừ kết sử ban an vui.
Thầy thuốc đi khắp cả mười phương
Chẳng thể trị được bệnh phiền não
Y vương Thập lực diễn lời diệu
Diệt hết kết sử, ban an vui.
Đại danh, uy lực, không ai sánh
Không sánh, không lỗi, không lời bẩn
Phục oán, tịch oán, lìa các oán
Thế Tôn lợi ích xin đến cho!
Ban cho thí chủ tuệ cam lồ
Giữ giới, hành giới hơn tất cả
Khéo léo nhẫn nhục rèn tâm tu
Nghĩ con mà đến rất đáng thương!
Đủ sức tinh tấn, pháp tương ưng
An trụ thiền định, đủ thần thông
Tuệ đều phục ý, đủ hổ thẹn
Nguyện Đấng trăm phước tướng đáp lời!
Lòng đại Từ bi, ý bình đẳng
Lìa lỗi ái dục, không kết sử
Trụ Phật đạo, giỏi biết đạo trời
Nguyện Đức Thế Tôn đến ban vui!

Bấy giờ, Thế Tôn biết đã đến giờ vua Đại thọ Khẩn-na-la bạch Phật, liền bảo các Tỳ-kheo đều mang theo bình bát để nhận lời mời bảy hôm, sai người ở lại giữ phòng và cho biết vua Đại thọ Khẩn-nala báo đã đến lúc phải đến. Khi ấy Bồ-tát Thiên Quan nghĩ: “Nay ta sẽ hóa ra một đài báu lớn cho Thế Tôn và các chúng Bồ-tát, Tăng đại Thanh văn ngồi nơi đài báu, ngồi trên tòa hoa sen trang nghiêm roi đặt đài báu ấy ở bàn tay phải, nương hư không mà bay đến núi

Hương sơn.”

Bồ-tát Thiên Quan dấy ý niệm đó rồi, liền nhập vào Tammuội, dùng sức Tam-muội, Bồ-tát tạo ra một đài báu lớn, ngang, dọc, cao mỗi chiều đều mười chín do-tuần, đủ màu sắc đẹp đẽ, bốn góc bốn trụ trang nghiêm khác nhau. Trong đài xuất hiện trăm ngàn tòa hoa sen báu. Lại bày riêng cho Đức Thế Tôn một tòa hoa sen sư tử báu cao hơn các tòa khác bảy nhẫn. Khi Bồ-tat Thiên Quan hóa ra đài báu và các tòa ngồi hoa sen rồi, Bồ-tát bạch Phật rằng:

–Bạch Thế Tôn! Xin Ngài thương xót con đến ngồi vào tòa Sư tử nơi đài báu cùng với đại chúng Bồ-tát, Thanh văn vậy!

Bạch Thế Tôn! Nay con sẽ đặt đài báu này vào bàn tay phải đem đến núi Hương sơn.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn thương xót Bồ-tát Thiên Quan, liền thăng lên đài báu ngồi vào tòa Sư tử. Các chúng Bồ-tát và Tăng Thanh văn lần lượt lên tòa ngồi. Khi ấy, Bồ-tát Thiên Quan liền nâng đài báu lên đặt vào bàn tay phải, bay lên hư không đi đến núi Hương sơn.

Bấy giờ, chư Thiên cõi Dục giới, chư Thiên cõi Sắc giới thấy Bồ-tát Thiên Quan hiện thần biến như thế thì rất đỗi vui mừng khởi tâm hiếm có. Để cúng dường Đức Phật và Bồ-tát Thiên Quan, chư Thiên mang theo chuỗi hoa thơm, hương xoa, bột thơm, tấu các âm nhạc, đi đến chỗ đài báu, ở trên không trung, theo cúng dường Phật cho đến tận núi Hương sơn.

Lúc ấy vua Đại thọ Khẩn-na-la từ xa trông thấy Như Lai ngồi trong đài báu đến từ hư không. Thấy rồi, nhà vua cùng vơi quyến thuộc của mình, tám muôn bốn ngàn Khẩn-na-la, mang vòng hoa thơm, bột thơm, hương xoa, tấu lên tám muôn bốn ngàn âm nhạc, rồi đem lời ca cực hay, trong trẻo hòa với các âm nhạc để đến nghinh đón Thế Tôn. Đến nơi, nhà vua cùng với các quyến thuộc đảnh lễ dưới chân Phật, đem các chuỗi hoa thơm, hương xoa, bột thơm đã mang theo ra cúng dường Phật xong rồi đi trước dẫn đường.

Bấy giờ, Thế Tôn đã đến nơi nên ngài cùng các vị Bồ-tát và đại Thanh văn Tăng, Đế Thích, Phạm vương, các vị Hộ Thế, các đại chúng đến thẳng chỗ ngồi của vua Đại thọ Khẩn-na-la, ngồi vào các tòa ngồi đã bày sẵn nơi đạo tràng trang nghiêm.

Lúc ấy, vua Đại thọ Khẩn-na-la nói với Đế Thích, Phạm vương, các vị hộ thế và các Thiên tử, các vị Đại đức:

–Các vị hãy về chỗ ngồi trước đi! Tôi sẽ vì Như Lai bày biện đồ ăn thức uống cúng dường rồi cùng thọ trai.

Bấy giờ, vua Khẩn-na-la cùng các thê tử, trai gái quyến thuộc tự tay sớt thức ăn, lòng kính cẩn dâng lên, đủ các món ngon vật lạ, đầy đủ mùi vị từ nơi căn lành Bồ-tát sinh ra, đem cúng dường Như Lai, các vị Bồ-tát, tăng Thanh văn, tất cả đại chúng đều đầy đủ. Khi đã đầy đủ rồi, vua Khẩn-na-la thấy chư vị đều đã rửa bát, rửa tay xong, liền cùng với quyến thuộc của mình đến trước Như Lai, theo thứ lớp mà ngồi và muốn được nghe pháp.

Bấy giờ, Thế Tôn vì vua Khẩn-na-la và đại chúng diễn thuyết diệu pháp, dạy bày lợi lạc.

Thế Tôn liền vì họ diễn thuyết diệu pháp như vầy:

–Này vua Khẩn-na-la! Bồ-tát có ba mươi hai pháp Bố thí ba-lamật thanh tịnh. Những gì là ba mươi hai pháp?

Này vua Khẩn-na-la! Đó là:

  1. Bồ-tát không quên tâm Bồ-đề mà trước làm người dẫn đường thực hành bố thí.
  2. Chẳng khen thừa thấp, nhỏ mà hành bố thí.
  3. Các việc làm đều không có tâm chê bai mà thực hành bố thí.
  4. Có kẻ đến cầu xin, không có lòng xâm hại.
  5. Có người mời thỉnh, khởi tưởng phước điền mà hành bo thí.
  6. Các chỗ thỉnh mời, khởi tưởng phước điền mà hành bố thí.
  7. Các chỗ thỉnh mời thì khởi lên tư tưởng sư trưởng, khởi lên tư tưởng Thiện tri thức mà hành bố thí.
  8. Xả bỏ các kết sử xan tham mà hành bố thí.
  9. Không tham tiếc, vui mừng hớn hở mà hành bố thí.
  10. Duỗi tay ngay thẳng, thích buông bỏ, không chờ đợi gì mà hành bố thí.
  11. Sinh thêm “thượng tâm”, chẳng sinh “hạ tâm” mà hành bố thí.
  12. Chẳng sinh chỗ ác mà hành bố thí.
  13. Chẳng mong quả báo, không mong cầu mà hành bố thí.
  14. Ham muốn Phật pháp mà hành bố thí.
  15. Tâm không bị phiền não thiêu đốt mà hành bố thí.
  16. Lấy nhiếp hóa làm đầu mà hành bố thí.
  17. Ta phải giáo hóa, dẫn đường cho chúng sinh mà hanh bố thí.
  18. Ta phải hộ trì pháp mà hành bố thí.
  19. Ta phải thuận theo lời dạy của Như Lai mà hành bố thí.
  20. Ta nên hàng phục bè đảng ma mà hành bố thí.
  21. Ta nên vì chánh giác Bồ-đề mà hành bố thí.
  22. Ta nên làm nghiệp trượng phu mà hành bố thí.
  23. Ta nên lìa khỏi ngã quỷ, đường ác mà hành bố thí.
  24. Ta nên tập trung tu các nhân, tâm xả mà hành bố thí.
  25. Ta phải có được nhiều của cải, cõi nước để nhiếp hóa người khác mà hành bố thí.
  26. Ta nên tu pháp hòa kính mà hành bố thí.
  27. Ta phải chẳng được lìa khỏi Thiện tri thức mà hành bố thí.
  28. Ta nên đối với tất cả chúng sinh không có cái nhìn sân hận mà hành bố thí.
  29. Ta nên đem căn lành bố thí hồi hướng về đạo vô thượng mà hành bố thí.
  30. Ta nên học tâm xả của các Bồ-tát khác mà hành bố thí.
  31. Ta nên trang nghiêm tướng tốt mà hành bố thí.
  32. Ta nên làm thanh tịnh cõi Phật mà hành bố thí.

Này vua Khẩn-na-la! Đó là ba mươi hai pháp Bố thí ba-la-mật thanh tịnh của Bồ-tát.

Này vua Khẩn-na-la! Bồ-tát lại có ba mươi hai pháp Trì giới ba-la-mật thanh tịnh:

  1. Khéo tự tịnh thân. Đó gọi là giới, tham sân si thanh tịnh vậy.
  2. Khéo tự tịnh khẩu. Đó gọi là giới, chẳng tự lừa dối Phật và chư Thiên, là không có tướng hư vọng.
  3. Khéo tự tịnh tâm. Đó gọi là giới, lìa bỏ vô minh tham, sân, tà kien vậy.
  4. Tịnh mười nghiệp lành. Đó gọi là giới sinh nhân thiên.
  5. Chẳng quên tâm Bồ-đề. Đó gọi là giới chẳng tham thừa khác.
  6. Ý chí thanh tịnh. Đó gọi là giới xả bỏ huyễn, hư giả.
  7. Khen ngợi Hiền thánh. Đó gọi là giới siêng năng nhiếp thủ phi thánh.
  8. Lấy Từ làm đầu. Đó gọi là giới đối với các chúng sinh khởi tâm bình đẳng.
  9. Tâm tu đại Bi. Đó gọi là giới hướng về con đường giáo hóa chúng sinh.
  10. Ưa thích mọi học thuyết. Đó gọi là giới rốt ráo không khiếm khuyết.
  11. Có được hổ thẹn. Đó gọi là giới sợ hãi đường ác vậy.
  12. Không xuyên thủng sót lọt. Đó gọi là giới chẳng bỏ nửa chừng.
  13. Không có tỳ vết. Đó gọi là giới pháp thiện rốt ráo.
  14. Tự mình tự tại. Đó gọi là giới đến cõi Phật khác.
  15. Tôn trọng người tài năng. Đó là giới bậc trí khen ngợi.
  16. Hay vượt ra khỏi. Đó gọi là giới lìa khỏi ác đạo.
  17. Khéo an trụ. Đó gọi là giới tất cả an lạc đầy đủ hết.
  18. Các Đức Phật khen ngợi. Đó gọi là giới, chính là giới của Phật.
  19. Chẳng tự chậm trễ, khinh thường. Đó gọi là giới kiên định.
  20. Chân thật cứu vớt người thế gian, chẳng tự cao, hủy hoại người khác. Đó gọi là giới khéo bỏ hết.
  21. Tu hạnh xả bỏ. Đó gọi là giới lìa khỏi các phiền não.
  22. Tự mình tu hành. Đó gọi là giới tất cả pháp trợ Bồ-đề.
  23. Tạo nên niềm hoan hỷ. Đó gọi là giới lìa khỏi tham ái.
  24. Khéo giáo hóa kẻ khác. Đó gọi là giới theo đúng như lời nói.
  25. Điều phục xuất gia. Đó gọi là giới lìa bỏ tất cả mọi ràng buộc của gia đình.
  26. Bền vững ham muốn tu hành. Đó gọi là giới ưa muốn pháp.
  27. Quyết định thiểu dục và tri túc. Đó gọi là giới nương theo Thánh chủng.
  28. Thích tu Đầu-đà. Đó gọi là giới muốn xả bỏ tất cả các pháp ác.
  29. Không nhiễm trước, tương ưng. Đó gọi là giới quán không có chúng sinh.
  30. Thuận theo chẳng sai trái. Đó gọi là giới thuận pháp duyên.
  31. Lìa khỏi tất cả kiến chấp. Đó gọi là giới lìa khỏi chấp thường, chấp đoạn.
  32. ([11])

Này vua Khẩn-na-la! Đó là ba mươi hai pháp trì giới ba-la-mật thanh tịnh.

Này vua Khẩn-na-la! Bồ-tát lại có ba mươi hai pháp Nhẫn bala-mật thanh tịnh. Những gì là ba mươi hai pháp?

  1. Chẳng tham trước thân. Đó gọi là biết nhẫn.
  2. Chẳng trụ tuổi thọ. Đó là biết nhẫn.
  3. Không có tâm xâm hại. Đó là biết nhẫn.
  4. Chịu đựng được lời ác. Đó là biết nhẫn.
  5. Rủ lòng Từ bi đến kẻ hạ liệt. Đó là biết nhẫn.
  6. Chẳng khinh kẻ chưa học. Đó là biết nhẫn.
  7. Có thế lực lớn có thể làm kẻ khác khổ sở mà không làm. Đó là biết nhẫn.
  8. Tách rời chi thể mà chẳng khởi lòng sân hận. Đó là biết nhẫn.
  9. Không có thô nhám. Đó là biết nhẫn.
  10. Chẳng sinh sân hận. Đó là biết nhẫn.
  11. Không chỉ cho bằng lời nói suông. Đó là biết nhẫn.
  12. Có ý chí. Đó là biết nhẫn.
  13. Tâm kia không nhơ bẩn. Đó là biết nhẫn.
  14. Khong có tâm nhiễu loạn. Đó là biết nhẫn.
  15. Hộ trì tâm kẻ khác. Đó là biết nhẫn.
  16. Dùng của cải làm lợi ích. Đó là biết nhẫn.
  17. Hiểu biết đại Bi. Đó là biết nhẫn.
  18. Diệt trừ kiêu mạn. Đó là biết nhẫn.
  19. Khiêm hạ đối với tất cả chúng sinh, đó là biết nhẫn.
  20. Chẳng tăng thêm sự nóng nảy. Đó là biết nhẫn.
  21. Ưa thích tịch tĩnh. Đó là biết nhẫn.
  22. Nhàn tịnh vô vi. Đó là biết nhẫn.
  23. Tự biết lỗi mình. Đó là biết nhẫn.
  24. Người khác có khuyết điểm, chẳng nhìn thấy lỗi của họ. Đó là biết nhẫn.
  25. Được của cải hợp pháp. Đó là biết nhẫn.
  26. Có của cải là lòng tin. Đó là biết nhẫn.
  27. Tâm không phiền não. Đó là biết nhẫn.
  28. Ý niệm an lạc. Đó là biết nhẫn.
  29. Ý trước hỏi han không làm mặt giận. Đó là biết nhẫn.
  30. Thuận theo pháp thậm thâm. Đó là biết nhẫn.
  31. Thuận ba cửa giải thoát. Đó là biết nhẫn.
  32. Hiểu được vô sinh, vô khởi. Đó là biết nhẫn đối với vô sinh pháp nhẫn.

Này vua Khẩn-na-la! Đó là ba mươi hai pháp Nhẫn ba-la-mật thanh tịnh của Bồ-tát.

Này vua Khẩn-na-la! Lại có ba mươi hai pháp Tinh tấn ba-lamật thanh tịnh. Những gì là ba mươi hai pháp?

Này vua Khẩn-na-la! Đó là:

  1. Bồ-tát chẳng đoạn đứt Phật chủng, là thực hành Tinh tấn bala-mật.
  2. Chẳng đoạn dứt tăng chủng, là thực hành Tinh tấn ba-la-mật.
  3. Chịu vô lượng sinh tử, là thực hành Tinh tấn ba-la-mật.
  4. Tập hợp vô lượng căn lành là thực hành Tinh tan ba-la-mật.
  5. Cúng dường cung cấp vô lượng các Đức Phật là thực hành Tinh tấn ba-la-mật.
  6. Vì muốn bao gồm vô lượng sự hiểu biết nên thực hành Tinh tấn ba-la-mật.
  7. Vì muốn giáo hóa dẫn đường cho vô lượng chúng sinh nên thực hành Tinh tấn ba-la-mật.
  8. Muốn dùng lời nói vi diệu làm vui tất cả chúng sinh nên thực hành Tinh tấn ba-la-mật.
  9. Vì muốn cho tất cả chúng sinh đi ngược lại dòng sinh tử nên thực hành Tinh tấn ba-la-mật.
  10. Vì các chúng sinh thiết lập thích nghi nên thực hành Tinh tấn ba-la-mật.
  11. Xả bỏ tất cả tài sản của mình là thực hành Tinh tấn ba-lamật.
  12. Hộ trì tất cả giới không có hủy khuyết là thực hành Tấn bala-mật.
  13. Tất cả nhu hòa, nhẫn lưc không sân hận là thực hành Tấn ba-la-mật.
  14. Ra khỏi tất cả việc đã làm nên thực hành Tấn ba-la-mật.
  15. Muốn khởi lên tất cả Thiền định giải thoát… các Tam-muội nên thực hành Tấn ba-la-mật.
  16. Tràn đầy trí vô ngại nên thực hành Tấn ba-la-mật.
  17. Muốn dùng sự trang nghiêm của tất cả cõi Phật để trang nghiêm cõi Phật của mình nên thực hành Tấn ba-la-mật.
  18. Sức mạnh bền vững vượt đến bờ bên kia nên thực hành Tấn ba-la-mật.
  19. Hàng phục tất cả các ma truờng nên thực hành Tấn ba-lamật.
  20. Hàng phục tất cả các luận thuyết ngoại đạo nên thực hành Tấn ba-la-mật.
  21. Đầy đủ pháp thập lực Vô úy của Phật nên thực hành Tấn ba-la-mật.
  22. Hay làm xong mọi việc không ngưng nghỉ nên thực hành Tấn ba-la-mật.
  23. Tâm không khiếp nhược nên thực hành Tấn ba-la-mật.
  24. Tâm Bồ-tát dũng kiện nên thực hành Tấn ba-la-mật.
  25. Không cùng ở với tất cả phiền não nên thực hành Tấn bala-mật.
  26. Diệt trừ tất cả các phiền não kết sử nên thực hành Tấn bala-mật.
  27. Diệt tất cả kết sử nên thực hành Tấn ba-la-mật.
  28. Vượt qua các dòng nên thực hành Tấn ba-la-mật.
  29. Giải thoát kẻ chưa giải thoát, làm yên ổn kẻ chưa yên ổn, độ những kẻ chưa được độ nên thực hành Tấn ba-la-mật.
  30. Tập hợp trăm tướng phước đức trang nghiêm nên thực hành Tấn ba-la-mật.
  31. Hộ trì tất cả chánh pháp của Phật nên thực hành Tấn ba-lamật.
  32. Thần thong đến khắp tất cả cõi Phật để cúng dường, lễ bái, đi nhiễu vòng bên phải, cung kính Chư Phật nên thực hành Tấn bala-mật.

Các tinh tấn này từ tịch tĩnh sinh ra. Thân tâm an trụ tịch tĩnh, không ra không vào, không trên không dưới vì đã thâu nhiếp trong với vô sinh vô khởi.

Này vua Khẩn-na-la! Đó là ba mươi hai pháp Tinh tấn ba-lamật thanh tịnh của Bồ-tát.

Này vua Khẩn-na-la! Bồ-tát lại có ba mươi hai pháp Thiền bala-mật thanh tịnh. Những gì là ba mươi hai pháp?

Đó là:

  1. Niệm thanh tịnh.
  2. Tuệ thanh tịnh.
  3. Tinh tấn thanh tịnh.
  4. Tàm quý thanh tịnh.
  5. Chắc thật thanh tịnh.
  6. Thể tánh tâm thanh tịnh.
  7. Chẳng quên tâm Bồ-đề thanh tịnh.
  8. Cội gốc công đức thanh tịnh.
  9. Không có đối tượng nương tựa thanh tịnh.
  10. Ngã, ngã sở thanh tịnh.
  11. Khởi thần thông thanh tịnh.
  12. Thân tịch tĩnh thanh tịnh.
  13. Tu sửa tâm thanh tịnh.
  14. Bên trong tịch tĩnh thanh tịnh.
  15. Bên ngoài oai nghi thanh tịnh.
  16. Đoạn trừ các kiến chấp thanh tịnh.
  17. Quán vô ngã, vô chúng sinh, vô nhân, vô thọ giả, vô trượng phu thanh tịnh.
  18. Chẳng trụ ba cõi thanh tịnh.
  19. Pháp trụ Bồ-đề hiện tiền thanh tịnh.
  20. Tâm Bi quán chúng sinh thanh tịnh.
  21. Trừ trí chướng thanh tịnh.
  22. Trí tuệ siêu xuất thanh tịnh.
  23. Chẳng trái nhân quả thanh tịnh.
  24. Quyết định pháp nhẫn thanh tịnh.
  25. Pháp tu hành vô thường, khổ, không thanh tịnh.
  26. Chuyển phương tiện thanh tịnh.
  27. Phương tiện giáo hóa thanh tịnh.
  28. Gần đạo tràng thanh tịnh.
  29. Chẳng mong cầu thừa Thanh văn, Duyên giác thanh tịnh.
  30. Đầy đủ vô lậu thanh tịnh.
  31. Tâm chẳng tán loạn được định của Phật thanh tịnh.
  32. Quán tâm chúng sinh hợp với lời nói thanh tịnh.

Này vua Khẩn-na-la! Đó là ba mươi hai pháp Thiền ba-la-mật thanh tịnh.

Này vua Khẩn-na-la! Lại có ba mươi hai pháp Bát-nhã ba-lamật thanh tịnh. Những gì là ba mươi hai pháp?

  1. Tìm cầu tập hợp sự hiểu biết nhiều không chán không đủ, khéo tư duy phân biệt các pháp. Dùng trí tuệ của mình hiểu rõ các pháp, phân biệt rành rẽ “âm”, phân biệt rõ về giới hướng về pháp giới.
  2. Đối với các “nhập” giỏi phân biệt.
  3. Đối với pháp “duyên” giỏi biết trụ “nhân.”
  4. Đối với các “đế” hiểu biết rõ về “diệt”.
  5. Biết đến “chánh vị” mà chẳng vào “chánh vị”.
  6. Quan sát vô khởi khởi lên tự tâm.
  7. Biết các pháp vô sinh, “bản tế” thanh tịnh.
  8. Biết tất cả chúng sinh vô ngã, lìa khỏi, lìa khỏi kiến chấp điên đảo.
  9. Biết tất cả pháp là đồng một pháp “bản tế”, lìa khỏi dục.
  10. Biết các thế giới là một thế giới, đồng với hư không.
  11. Biết tất cả chư Phật đồng với một vị Phật, nhập vào pháp giới không thể nghĩ bàn.
  12. Khéo biết phân biệt tất cả chương cú, giỏi về văn tự.
  13. Biết vô ngại biện, thuyết pháp rộng rãi làm vui lòng tất cả chúng sinh.
  14. Biết Đà-la-ni không quên mất.
  15. Biết các nghiệp ma, giáo hóa các ma hướng về Bồ-đề.
  16. Quán biết các pháp như huyễn, trụ ở phân biệt có sai khác.
  17. Lý giải biết các pháp như ánh chớp, như trăng đáy nước, như mộng, như ảnh, như tiếng vang, các pháp rốt ráo không thành tựu.
  18. Hiểu biết tâm tính của tất cả chúng sinh vốn tự thanh tịnh.
  19. Khéo phân biệt, quan sát sinh tử, Niết-bàn, khéo học phương tiện.
  20. Thông đạt về Không, Vô tướng, Vô nguyện, thị hiện cửa giải thoát.
  21. Biết tất cả pháp tính vốn tịch tĩnh, vốn khong ràng buộc, ngăn ngại.
  22. Biết tất cả pháp lìa khỏi chướng ngại được sáng tỏ phá tan vô minh, tối tăm.
  23. Khéo biết trí phát xuất ra tuệ sáng suốt, vì muốn giải thoát cho tất cả chúng sinh nên thuyết pháp.
  24. Biết tất cả pháp không đến đi.
  25. Biết nghiệp đã tạo chẳng trái nhau.
  26. Biết thị hiện chúng sinh, thị hiện sinh tử.
  27. Được thành tựu bốn biện tài, là pháp giải, nghĩa, từ, và nhạo thuyết biện luận.
  28. Pháp đã nói không lầm lẫn về pháp “không”.
  29. Tự mình tịch tĩnh, điều thuận lý giải chân thật, biết tất cả Niết-bàn.
  30. Trí hướng về trí tuệ của chư Phật.
  31. Hộ trì thành trì của pháp, giữ gìn tất cả pháp.
  32. Việc đã làm rốt ráo được địa “thọ ky”, trụ ở địa Bồ-tát không thoái chuyển.

Này vua Khẩn-na-la! Đó là ba mươi hai pháp Bát-nhã ba-lamật thanh tịnh.

Này vua Khẩn-na-la! Lại có ba mươi hai pháp Phương tiện bala-mật thanh tịnh. Những gì là ba mươi hai pháp?

Quán sat bản thân không có các ác, vô lượng phước mà chẳng

dừng nghỉ nếu có ít phước cũng chẳng dừng lại, vì hóa độ chúng sinh mà thực hành bố thí chẳng mong cầu ruộng chẳng mong quả báo. Giáo hóa kẻ hạ liệt thì hiện làm người hạ liêt dạy các chúng sinh hộ trì khẩu nghiệp. Hiện làm người nữ giáo hóa các thiếu niên. Hiện thân đồng tử giáo hóa các đồng nữ. Thị hiện tất cả các hình sắc giống chúng sinh; tự mình không kiêu mạn thị hiện làm kẻ kiêu mạn, phóng túng, vì hóa độ các chúng sinh kiêu mạn, phóng túng nên thị hiện cuồng loạn để tùy theo điều hiểu biết của chúng mà thuyết pháp. Hàng trăm năm giữ giới, chỉ vì hóa độ một người mà buông bỏ giới ấy để nhận lấy tất cả các điều vui thích.

Rồi hòa đồng với họ khiến cho họ vào với pháp. Tự an trụ tu hạnh Đầu-đà, vì chúng sinh chẳng sợ hãi nên thị hiện tu hạnh xuất gia mà chẳng chê Phật pháp. Hiện làm dâm nữ; nếu ở tại cung vua thì hiện thân con gái đẹp đẽ vì hóa độ chúng sinh mê đắm dâm dục. Ở trong đại chúng, chỗ nhiều người tập hợp thì hiện các nghề khéo, hoặc hiện người sử dụng dụng cụ âm nhạc như sáo, địch, đàn cầm, đàn sắt… giỏi hạng nhất, ở trong chỗ đông người này ca múa đùa giỡn đều phát ra pháp âm, hiện các nghề khéo theo niềm vui thích của các chúng sinh là vì giáo hóa nên thị hiện ra. Hiện sức thần thông bố thí của cải cho chúng sinh, sau mới nói pháp. Nếu có chúng sinh mất của cải thì vì họ hiện ra kho báu, sau mới nói pháp; có các chúng sinh lo tên đạn bức bách thì tùy theo sự cần thiết của họ mà thị hiện, sau mới nói pháp. Hoặc có trưởng giả, cư sĩ và các tiểu vương, phụ nữ ở nội cung lo không con cái, vì sự ham muốn đó mà hóa làm người chỉ dẫn khiến họ hoan hỷ, thị hiện làm con của họ. Ở trong chỗ đông người làm chủ đám đông ấy, Bồ-tát đem mọi người đến nơi đồng trống, lương thực thiếu thốn, không biết đầu tìm kiếm rồi dùng sức thần thông hóa ra đồ ăn thức uống cho mọi người no đủ rồi kịp thời thuyết pháp, khiến cho họ được tâm không thoái chuyển nơi đạo Vô thượng. Nếu có chúng sinh từ khi sinh ra liền bị mù, cả bọn nắm đuôi nhau, hoặc một, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn cho đến một chục, một trăm… hoặc một ngàn, hai ngàn cho đến mười ngàn, đối với những người kia thì trước hiện làm người mù nghèo cùng cực, ra ngoài xin của bố thí về chu cấp cho các người mù, rồi Bồ-tát khiến cho mắt của họ được nhìn thấy các màu sắc xong, kịp thời thuyết pháp làm cho họ không thoái chuyển nơi đạo Bồ-đề. Nếu lại co hàng ngàn chúng sinh gây các tội lỗi bị vua bắt giam, Bồ-tát vì giải thoát cho các chúng sinh bị giam cầm trong lao ngục này, hiện làm tội nhân cùng vào trong đó, dùng thần lực mở hết gông cùm, ban cho quần áo, ăn uống no đủ, rồi vì họ thuyết pháp chẳng thoái chuyển nơi đạo Vô thượng. Nếu có chúng sinh phạm tội phải chết, vì giáo hóa họ nên Bồ-tát hóa làm người để thay tội nhân kia, khiến họ được toàn mạng, không lo lắng, Bồ-tát an ui, khuyến dụ khiến họ vui mừng rồi vì họ thuyết pháp, cuối cùng định tĩnh, trụ ở đạo Vô thượng. Nếu có chúng sinh tranh giành tài lợi, nô tỳ, gia súc, nhà cửa, ruộng đất, đánh đập, đấu tranh, kiện tụng nhau Bồ-tát dùng sức phương tiện hiện ra rất nhiều của báu trả lại khiến hai bên hòa hợp rồi nói pháp, khiến an trụ hạnh Bồ-đề. Vì phương tiện, Bồ-tát hiện làm thân điếc mù, câm ngọng, hiện thân tàn tật xấu xí, xả bỏ hình dáng đẹp đẽ của mình, thị hiện giống hình dáng để hóa độ chúng.

Hoặc lại hiện làm đạo sư ngoại đạo, ở xa mà đến khen ngợi Tam bảo, vì mong muốn Phật chủng; vì phương tiện mà Bồ-tát xả các thiền định, sinh ở cõi Dục hóa làm chúng sinh, hoặc vì những người “vô học” mong được an lạc, nên thị hiện Niết-bàn, để khiến cho tinh tấn tu các pháp hạnh, Bồ-tát dùng phương tiện thị hiện tu hành, được Chánh vị, hiện vào Niết-bàn, tuy chỉ mới tu hành hạnh thù thắng. Bồ-tát dùng phương tiện vì người chưa đạt được chánh vị muốn vào Niết-bàn, đối với người này trước hiện ra hình dáng Như Lai, khiến cho người ấy trụ Bồ-đề.

Này vua Khẩn-na-la! Đó là ba mươi hai pháp Phương tiện bala-mật hoàn hảo của Bồ-tát.

Khi Phật nói những Ba-la-mật này, trong các quyến thuộc của vua Đại thọ Khẩn-na-la có chín mươi vạn sáu ngàn chúng sinh phát khởi tâm đạo Vô thượng chánh chân, trong chúng của Như Lai có tám ngàn Bồ-tát chứng đắc Vô sinh pháp nhẫn, vua Đại thọ Khẩnna-la đạt được Tam-muội Trí đăng.

Khi vua Đại thọ Khẩn-na-la được nghe Phật nói pháp, được dạy

bày lợi lạc, rất đỗi vui mừng đạt được điều chưa từng có. Nhà vua đem y vô giá dâng lên Thế Tôn. Các Bồ-tát Thanh văn từng người đều được dâng y. Nhà vua đem vườn rừng nơi ở và tất cả vật dụng trong đó dâng lên cúng dường Phật.

Bấy giờ, tám ngàn người con của vua Đại thọ Khẩn-na-la đem các hoa báu trang nghiêm và tám ngàn lọng báu vi diệu để dâng cúng Như Lai. Trong khi họ đang dâng lọng báu, do thần lực của Phật các lọng báu ở trong hư không hợp lại thành một lọng báu che hàng trăm do-tuần. Tám ngàn người con của vua Khẩn-na-la thấy thần lực của Phật thì rất vui mừng, đạt được điều chưa từng có, đều chuyên tâm, chí ý phát tâm Vô thượng Bồ-đề, đều trụ quả vị không thoái chuyển. Phát tâm xong, tất cả đều bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nguyện ban cho chúng con pháp trợ Bồ-đề! Chúng con được nghe rồi, sẽ theo đó mà tu hành.

 

QUYỂN 3

Bấy giờ, Thế Tôn biết tâm ưa thích của các con vua Đại thọ Khẩn-na-la rồi, liền bay lên hư không cao bằng bảy cây đa-la, phóng hào quang rất sáng. Ánh hào quang này soi khắp tam thiên đại thiên thế giới này. Nhạc cụ của chư Thiên cõi Dục, nhạc cụ của Càn-thátbà của Khẩn-na-la chẳng tấu mà tự kêu lên, phát ra những âm thanh vi diệu. Trong núi chúa Hương sơn, các cây cối cũng đều phát ra âm thanh vi diệu. Lúc ấy ở trên thân Thế Tôn, nơi các lỗ chân lông đều phóng ra vô lượng vạn ức hào quang sáng. Mỗi một ánh sáng đều có hoa sen. Trong mỗi hoa sen có một Bồ-tát. Mỗi Bồ-tát tự trang nghiêm bằng ba mươi hai tướng ngồi trên đài hoa.

Bấy giờ, Thế Tôn dùng thần lực khiến các nhạc cụ diễn ra kệ trí tuệ, hỏi các điều nghi hoặc để cho các Bồ-tát ở trong đài hoa dùng từng kệ một đáp lại các câu hỏi ấy:

Làm sao để phát khởi
Tâm Vô thượng Bồ-đề
Tâm này chẳng thể quên
Mới đến Bồ-đề giác?
Chí chuyên tâm thành đạt
Vì các chúng sinh nên
Khởi đại Bi trang nghiêm
Tâm Bồ-đề luôn nhớ!

Ý chí kia thế nào?
Hạnh kia sẽ ra sao?
Tâm đại Bi đã nói
Sao gọi đó sinh khởi?
Ý chí không luống dối
Đã tu hành không dối
Trụ Niết-bàn chúng sinh
Đại Bi kia như vậy!

Sao gọi hành bố thí?
Thí rồi tâm rỗng lặng
Cũng chẳng mong báo đền
Hồi hướng đạo Bồ-đề.
Bố thí, bỏ tất cả
Đã thí không tiếc gì
Hướng về đạo Bồ-đề
Chẳng mong cầu quả báo!

Sao gọi trụ trì giới?
Chẳng sinh khinh mạng giới
Cứu người, hủy giới cấm
Đại thừa không gì hơn
Giới là tâm Bồ-đề
Rỗng không, chẳng kiêu mạn
Mà khởi lòng đại Bi
Cứu người, hủy cấm giới!

Sao gọi nhẫn chúng sinh?
Trách móc và mắng nhiếc
Tâm chẳng nên sân hận
Mà tăng thêm hoan hỷ.
Vì chúng sinh, thuốc thang
Trị liệu các bệnh hoạn
Khi nghe lời ác xong
Mà chẳng khởi sân hận.

Sao gọi hành tinh tấn
Sao gọi tu tập hạnh
Sao tâm không mỏi mệt
Khi tu hạnh Bồ-đề?
Tinh tấn hộ chúng sinh
Hộ pháp siêng tinh tấn
Thiện căn đều đầy đủ
Tâm kia không mệt mỏi

Làm sao tu chánh niệm?
Dũng kiện hành tinh tấn
Tu thiền định thế nào?
Tâm không có tán loạn
Không chạy theo tưởng niệm
Tuệ không có hư dối
Dùng phương tiện hành thiền
Tâm kia không rối loạn.

Sao gọi được trí tuệ?
Thấy ngay thẳng là sao?
Quyết định là thế nào?
Sao gọi phân biệt pháp?
Tu học trí tuệ tăng
Học tập tâm ngay thẳng
Quyết định hành pháp thí
Theo nghĩa mà tu trì.

Sao gọi kia cầu học?
Hiểu rộng phải làm sao?
Nghe, nói phải thế nào?
Điều gì đại nhân bỏ?
Cung kính cầu thầy học
Tập gần người hiểu rộng
Nói chẳng vì tài lợi
Đại nhân bỏ như thế!

Sao gọi là hành Từ?
Hành đại Bi thế nào?
Hỷ, Xả là thành tựu
Sao gọi trụ phạm đạo?
Bình đẳng ban lòng Từ
Đại Bi không mệt mỏi
Tùy hỷ gọi là hỷ
Phạm đạo đến được ngay!

Thấy Phật thế nào đây?
Thấy rồi lòng tin tưởng
Nghe pháp rồi thì sao?
Trừ sạch nghi thế nào?
Tu hành nghĩ đến Phật
Được gặp Đấng Đạo Sư
Lòng tin được đầy đủ
Nghe pháp rồi hết nghi!
Sao gọi phước trang nghiêm?
Sao gọi trí trang nghiêm?
Như định cùng với tuệ
Chúng trang nghiêm thế nào?
Trang nghiêm phước không chán
Học vấn trang nghiêm trí!
Tâm định gọi là định
Biết pháp gọi là trí!

Kia hành xứ chỗ nào?
Ở, dừng tướng ra sao?
Những gì kia hành xứ?
Vì sao để tu hành?
Hành xứ chỗ pháp không
Xả chính là bờ kia
Nếu hành, trụ Tứ thiền
Tu hành thoát chúng sinh.

Sao gọi là ma nghiệp?
Phật chánh nghiệp ra sao?
Tạo tác những nghiệp nào
Thì được Bồ-đề hộ?
Hạ thừa là nghiệp ma
Đại thừa là thắng đạo
Tất cả ác lìa bỏ
Thì được Bồ-đề hộ!

Gần bạn lành ra sao
Cùng bạn ác thế nào
Sao gọi xóa bình đẳng
Xa lìa nơi tà kiến?
Tán thán đạo Bồ-đề
Thân cận với người đó
Thì tịnh tâm Bồ-đề
Lìa bỏ ác tri thức.
Các hành nghiệp đã hết
Theo chánh kiến tu hành
Lìa bỏ tà tương ưng
Thì chánh kiến chẳng mất!

Làm sao hộ chánh pháp
Và giáo hóa chúng sinh?
Phương tiện gì tu hành
Để thành đạo Bồ-đề?
Tinh tấn hộ chánh pháp
Phương tiện hóa chúng sinh
Lìa bỏ dòng nhị biên
Thì đắc đạo Bồ-đề!

Tác nghiệp trí thế nào
Thế nào nghiệp vừa ý
Vì sao mau thọ giáo
Thường cung kính thuận theo?
Không tranh là nghiệp trí
Không khởi lên tranh cãi
Miệng nói khéo dịu dàng
Cung kính nhiễu bên phải!

Đạo thì tướng ra sao
Thế nào là phi đạo
Làm sao được an trú
Không suy nghĩ trụ đạo?
Lục độ là chánh đạo
Hạ thừa là phi đạo.
Học phương tiện trí xong
Khiến chúng sinh trụ đạo!

Làm sao được giàu có
Làm sao được lợi lớn
Kho báu ở chỗ nào
Sao cho chúng sinh đủ?
“Thất tài” là giàu có
Tịch tĩnh là lợi lớn
Đà-la ni – kho báu
Biện thuyết khiến sung mãn.

Cha mẹ vốn là ai
Những gì là thân tộc
Tùy tùng tướng ra sao
Người nghiêm sức trí tuệ?
Mẹ “tuệ” vượt bờ kia
Trợ đạo là thân tộc
Thiện, căn là tùy tùng
Người trang nghiêm bằng trí.

Hiểu pháp vô ngã xong
Lòng Từ lan khắp cõi!
Vô ngã và lòng Từ
Nghĩa này là thế nào?
Lẽ không nếu biết rõ
Thì tự rõ vô ngã
Chính tâm từ tối thượng
Đời nay biết là không.

Vị lai không trở lại
Các hành tánh như vậy
Nghiệp báo cũng thế thôi
Làm sao có sinh sôi?
Đệ nhất nghĩa không thế
Cũng không có người đi
Và đạo đế của đời
Nói nghiệp và nghiệp báo.

Nếu Không cùng Vô tướng
Và Vô nguyện giải thoát.
Một tướng đồng Vô tướng.
Làm sao mà đạo sinh?
Không tức là Vô tướng
Vô tướng nên đắc tướng
Một tướng, một nghĩa đồng
Nên nói cửa giải thoát.

Sao gọi là quán Không?
Sao gọi quán chúng sinh?
Không cùng với chúng sinh
Làm sao mà được sinh?
Trí tuệ quán Không đó
Phương tiện quán chúng sinh
Dùng đại Bi giáo hóa
Đưa về đến Niết-bàn.

Không sinh, không có khởi
Tất cả pháp như vậy
Các hạnh sinh ra sao?
Nghĩa này phải nên hiểu
Vô diet và vô sinh
Trí này đã thông đạt
Từ thệ nguyện phát sinh
Phương tiện này tạo thành!

Làm sao được thọ ký?
Bất thoái chuyển thế nào?
Duyên của Nhẫn ra sao?
Làm sao được quyết định?
Thọ ký – trụ bình đẳng
Pháp giới – bất thoái chuyển
Vô sinh là nhân duyên
Biết pháp được quyết định.

Đạo tràng ở chỗ nào?
Bồ-đề tướng ra sao?
Ai gọi là Như Lai?
Phật được sáng thế nào?
Hư không là đạo tràng
Bồ-đề tướng hư không
Thân tâm chẳng nương cậy
Như như gọi Như Lai!

Bấy giờ, các con của vua Đại thọ Khẩn-na-la nghe Phật nói pháp như vậy rồi, liền đạt được pháp Nhẫn nhu thuận, mỗi người đều dùng chuỗi ngọc mình đang mang dâng lên Như Lai mà bạch:

–Bạch Thế Tôn! Nhờ được gặp Phật ra đời, hôm nay chúng con mới nghe được pháp thậm thâm này. Thật là ít có, chỉ có Thế Tôn mới khiến cho trong tiếng âm nhạc nói lên lời kệ hỏi điều nghi để cho tượng Bồ-tát đáp lại lơi hỏi đó, có thể đoạn dứt các nghi hoặc của tất cả đại chúng, chúng con nghe rồi đạt được ánh sáng pháp rộng lớn.

Bạch Thế Tôn! Nắm giữ điều này là ai?

Phật đáp:

–Này các Hiền sĩ! Các ông nên biết, tất cả đều do thần lực của Như Lai! Oai lực Phật như vậy thật không thể nghĩ bàn.

Lúc ấy, con của vua Đại thọ Khẩn-na-la bạch:

–Bạch Thế Tôn! Nguyện cho tất cả các chúng sinh đều được thần lực như vậy.

Bấy giờ phu nhân, thể nữ của vua Đại thọ Khẩn-na-la, gồm tám vạn bốn ngàn người, mỗi người đều cầm trên tay xâu trân châu, đến chỗ Thế Tôn đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đều tung chuỗi ngọc lên cúng dường Đức Phật. Trong khi đang tung lên, nhờ thần lực của Phật những chuỗi ngọc ấy ở trong hư không hóa thành tám muôn bốn ngàn cái đài lớn bằng trân châu. Bốn trụ ở bốn phương được trang trí đẹp đẽ. Trong các đài bau đều có giường, tòa ngồi, các chuỗi ngọc báu, hàng trăm ngàn y trời. Trên các tòa ngồi này đều có các Như Lai ngồi kiết già tự trang nghiêm bằng ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp.

Lúc ấy tám muôn bốn ngàn phu nhân, thể nữ của vua Đại thọ Khẩn-na-la thấy thần lực của Phật thì rất vui mừng, thấy được điều chưa từng thấy, tất cả đều phát tâm nơi đạo Vô thượng Bồ-đề, đạt được không thoái chuyển, phát tâm rồi, vô cùng vui mừng, cùng nhau dùng kệ ca ngâm, khen ngợi Như Lai:

Nên cúng dường Đấng Tối Vô Thượng
Lợi ích kia không thể nghĩ bàn,
Khéo học lợi ích pháp điều phục
Chúng con đảnh lễ Đấng Thắng Nhân!
Lìa tham sân si, và dua nịnh
Tập tiếng vô úy, lìa não phiền
Từ kho báu lớn khai thị pháp
Cúi đầu lạy Đấng Ly Dục Tôn!
Ngũ nhãn thanh tịnh không nhơ uế
Khéo hay hàng phục các oán thù
Như hoa sen, chẳng nhiễm ba cõi
Được đến bờ kia, con lạy Ngài!
Ban cho thế gian mắt tuệ sáng
Làm mờ ánh sáng, mặt trời, trăng
Ra đời dòng giống Chuyển luân vương
Cầm giữ luân tướng con tán thán!
Tâm thường chẳng đắm nhiễm các sắc
Đạo Sư nương tựa cứu giúp cho
Không ai sánh bằng, huống hơn sao
Diệu âm diễn thuyết con đảnh lễ!
Với lợi, không lợi đều không nhiễm
Tất cả thế pháp đều biết cả
Giải thoát cho kẻ rơi lưới ái
Đạo sư Thế Tôn, con kính lễ!
Trụ thiền định thường điều phục tâm
Trụ mười Lực, đốt cháy kết sử
Giảng đạo pháp, chẳng ban thức ăn
Con lạy Đấng Vô Thượng phước điền!
Nói điều vi diệu, đủ tướng tốt
Đạo trái xả bỏ và lìa xa
Tiếng nói êm dịu như tiếng sấm
Cúi lễ Đấng vượt ra ba cõi!
Đấng Nhân Tôn đã lìa phiền não
Dùng thần thông dạo vô lượng cõi
Làm thuyền vững chắc cứu thế gian
Con cúi đầu kính lễ Như Lai!
Thế Tôn diễn nói tín và tấn
Độ thoát thế gian các kết nghi
Thanh văn có được hạnh lục thông
Cúi đầu khen Đấng lìa sáu đường!
Con cúi lạy Đấng sắc núi vàng
Lạy Đấng các căn điều phục định
Con nay lễ Đấng mặt trăng rằm
Lễ Đấng đức độ vượt loài người!
Diệt hết “kết sử” của chúng sinh
Vượt thoát bốn dòng sông khó qua
Hôm nay chúng con quy y Ngài
Con lễ Đấng Điều Căn Thế Tôn!
Thuở trước Ngài vốn đại bố thí
Cho kẻ cầu xin lòng hoan hỷ
Vật quý ưa thích đem cho người
Con lễ Đấng Thiện Thệ kiện thí!
Thấy chúng sinh si, mạn, mê say
Khéo biết điều này, nhân đã tạo
Đạo Thánh tối thắng không gì trên
Ngài khéo dẫn đường an nơi đó.
Bản tánh “ấm” giới thường rỗng lặng
Các “kết” không thật, chỉ hư ngụy
Thầy trừ cho đời những hối, nghi
Lời nói Thế Tôn, con khen ngợi!
Thường trụ thật pháp, các Tam-muội
Đối pháp tự tại đến bờ kia
Trí tuệ điều ngự tối vô thượng
Con cúi lạy Đấng Đại Thương Chủ!
Lìa khỏi huyễn hoặc các dối lừa
Đại lực hàng phục các quân ma
Sáng suốt, rành đường trên loài người
Giống như gió lớn, không ngại, vướng.
Đáy nước cạn dòng đến bờ kia
Kho báu của Ngài không cùng tận
Như Lai nhiều như cát sông Hằng
Ngài vốn thuở trước thường cúng dường.
Được ở trong đời không lay động
Lìa ái vượt nạn đến bờ kia Thân cận chư
Phật trụ chỗ thiện Nên kính lễ
Đấng vượt loài người!
Bỏ nỗi sợ sinh, già, bệnh, chết
Nhớ lại ngàn ức đời kiếp trước
Lưới ái rất lớn, rất đáng sợ
Mặt trời tuệ sáng, chiếu cỏ khô.
Đạo sư Độc giác ngộ các pháp
Tay chân có vân tướng cát tường
Cỏ cát tường mềm mại hiến dâng
Cát tường Thế Tôn, con đảnh lễ!
Tự tại vượt khỏi Đà-la-ni
Thường dùng pháp thí, không tài thí
Đấng Nhân tôn đánh trống pháp lớn
Con kính lễ Pháp Vương Thế Tôn!
Sinh ra từ dòng vua họ Thích
Các căn tĩnh lặng, tâm cũng tịch
Đạo Sư ba cõi thường tịch diệt
Đấng tâm tịch tĩnh, con ngợi khen!
Ma vương mang kiếm sắc bén đến
Cùng các chúng ma dưới gốc cây
Mà một sợi lông Ngài chẳng động
Cúi khen Đấng bất động như núi!
Đấng Nhân Tôn đến bờ tinh tấn
Vì chúng sinh kham nhẫn khổ đau
Chẳng còn thọ sinh, hết tử sinh
Thế Tôn thuyết nhẫn, con ngợi khen!
Được thế lực lớn, không nghiêng đổ
Khéo trụ vô úy, xứ, phi xứ
Đưa các chúng sinh trụ Bồ-đề
Thế Tôn thiện trụ, con kính lễ!
Biết các cõi không gì bền chắc
Đi xuất gia, lìa bỏ bà con
Biết ba cõi không ai trên được
Trí đến bờ kia, con ngợi khen!
Chúng sinh khổ não không ai cứu
Đem pháp Tam bảo cho đầy đủ
Đưa họ đến cõi không tai nạn
Con lạy Đấng Thế Tôn cứu đời!
Biết các căn, Ngài tu trí lực
Phá tan ác ma, quân ma ác
Âm thanh đã nói, rất nhiệm mầu
Khéo tu các căn, con tán thán!
Nghe chánh pháp, dục là căn bản
Lại đem dục này muốn Bồ-đề
Bình đẳng che đều chẳng thân sơ…
Che chở cho đời, con khen ngợi!
Đấng Thiện Thệ giác ngộ pháp rồi
Tự chuyển Pháp luân Vô thượng thánh
Biết các hành, tướng giống như mộng
Khiến cho chúng sinh hiểu chân thật.

Bấy giờ, các phu nhân, thể nữ của vua Đại thọ Khẩn-na-la dùng kệ tán thán rồi, bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Chúng con đều phát tâm đạo Vô thượng, chẳng bao giờ dùng thân nữ này để thành tựu đạo quả Vô thượng Bồ-đề.

Lành thay, bạch Thế Tôn! Nguyện xin Ngài vì chúng con thuyết pháp phù hợp, khiến cho chúng con chuyển thân nữ được thành thân nam, mau chóng thành đạo Vô thượng chánh chân.

Bấy giờ Đức Thế Tôn nói với các phu nhân, thể nữ của vua Khẩn-na-la:

–Các vị hãy lắng nghe, thành tâm suy nghĩ! Ta sẽ diễn thuyết về sự chuyển xả thân nữ thành thân nam, mau chóng đắc đạo Vô thượng chánh chân.

Họ đồng thanh đáp rằng:

–Hay thay, kính bạch Thế Tôn! Chúng con xin vâng lời lắng nghe!

Phật dạy:

–Này các vị! Thành tựu được một pháp hạnh thì bỏ được thân nữ được thân nam, mau chóng thành đạo Vô thượng chánh chân. Thế nào là một pháp hạnh?

Đó là tâm Bồ-đề, tâm Nhất thiết trí đồng là một tâm. Tâm tối thắng tất cả ba cõi, không quên trang nghiêm tất cả căn lành.

Này các vị! Đó là một pháp, nếu người nữ thành tựu thì chuyển xả được thân nữ thành thân nam, mau chóng thành đạo Vô thượng chánh chân.

Những gì là hai pháp?

Đó là:

  1. Gần gũi Phật chẳng phụng sự các trời thần khác.
  2. Xa lìa tà kiến.

Đó là hai pháp chuyển xả thân nữ, cho đến mau chóng thành đạo Vô thượng chánh chân.

Lại nữa, này các vị! Nữ nhân thành tựu được ba pháp thì chuyển xả thân nữ thành thân nam.

Những gì là ba?

Đó là:

  1. Thân giới.
  2. Khẩu giới.
  3. Ý giới.

Đó là ba pháp.

Lại nữa, này các vị! Người thành tựu bốn pháp thì chuyển thân nữ thành thân nam. Những gì là bốn pháp?

Đó là:

  1. Không có tâm dối trá mà hành bố thí.
  2. Chẳng dùng sự dối trá mà tu trì giới.
  3. Đem ý cung kính mà hướng về Thánh hiền.
  4. Nghe nhận chánh pháp.

Đó là bốn pháp.

Lại nữa, này các vị! Người nữ thành tựu năm pháp thì chuyển thân nữ thành thân nam. Những gì là năm pháp?

Đó là:

  1. Ưa thích pháp.
  2. Ham muốn pháp.
  3. Thường nghe pháp.
  4. Đã nghe pháp rồi thì Chánh niệm quan sát.
  5. Chán ghét thân nữ thường ưa được thành thân nam. Đó là năm pháp.

Lại nữa, này các vị! Người nữ thành tựu sáu pháp thì chuyển thân nữ thành thân nam. Những gì là sáu?

Đó là:

  1. Tâm nhanh chóng.
  2. Tâm nhu nhuyến.
  3. Tâm chất trực không lừa dối.
  4. Tâm chất trực không huyễn hoặc.
  5. Tâm chất trực không giả dối.
  6. Tâm chánh trực.

Đó là sáu pháp.

Lại nữa, này các vị! Thành tựu bảy pháp thì chuyển thân nữ thành thân nam. Những gì là bảy pháp?

Đó là:

  1. Niệm Phật muốn thành Phật.
  2. Thường niệm Chánh pháp muốn được Phật pháp.
  3. Thường niệm Tăng muốn mình làm Tăng.
  4. Thường niệm giới thề nguyền thanh tịnh.
  5. Thường niệm xả, bỏ các phiền não.
  6. Thường niệm Thiên sáng tỏ tâm Bồ-đề.
  7. Quán các chúng sinh với tâm hoan hỷ vậy.

Đó là bảy pháp.

Lại nữa, này các vị! Nữ thành tựu tám pháp thì chuyển thân nữ thành thân nam. Những gì là tám pháp?

  1. Chẳng tham ăn.
  2. Chẳng tham tiệc tùng.
  3. Chẳng tham trượng phu.
  4. Chẳng tham hương bột, hương xoa.
  5. Chẳng tham dạo chơi vườn rừng.
  6. Chẳng tham đùa giỡn, chẳng tham tiếng ca và các âm nhạc.
  7. Chẳng tham múa giỡn.
  8. Chẳng tham kết giao hội hè.

Đó là tám pháp.

Lại nữa, này các vị! Nữ thành tựu chín pháp thì chuyển thân nữ thành thân nam. Những gì là chín pháp?

  1. Chẳng nói có ngã.
  2. Chẳng nói có chúng sinh.
  3. Chẳng nói có thọ mạng.
  4. Chẳng nói có nhân, trượng phu.
  5. Chẳng nói đoạn kiến.
  6. Chẳng nói thường kiến.
  7. Chẳng chấp vào hữu kiến.
  8. Chẳng chấp vào vô kiến.
  9. Hiểu rõ pháp nhân duyên.

Đó là chín pháp.

Lại nữa, này các người! Nữ thành tựu mười pháp thì chuyển thân nữ thành thân nam, mau chóng thành Vô thượng Bồ-đề. Những gì là mười pháp?

  1. Đối với chúng sinh tu hành tâm Từ.
  2. Đối với của cải người khác chẳng sinh lòng tham ái.
  3. Chẳng nghĩ đến người đàn ông khác.
  4. Trọn đời chẳng nói dối.
  5. Chẳng nói hai lưỡi.
  6. Chẳng nói lời thô ác.
  7. Chẳng nói lời không có nghĩa lý.
  8. Chẳng khởi vô minh.
  9. Chẳng sân hận.
  10. Có cái nhìn chính trực nương vào nghiệp báo.

Này các vị! Đó là mười pháp, nếu người nữ thành tựu thì chuyển thân nữ thành thân nam, mau chóng đạt được đạo quả Vô thượng Bồ-đề.

Này các vị! Lại người nữ nên quan sát pháp thâm diệu: Quán sắc như bọt nước không say đắm sắc. Quán thọ như bong bóng, ở trong vui không sinh tham trước, ở trong khổ chẳng lìa bỏ, ở trong chẳng vui, chẳng khổ chẳng sinh si kết.

Quán tưởng như ánh lửa, trong đó chẳng khởi lên tưởng nam tưởng nữ.

Quán hành như tàu chuối, rõ biết các hành không có bền vững chân thật. Quán như vậy rồi chẳng trụ ở các pháp, chẳng khởi tưởng chấp trước.

Quán thức như huyễn, rõ biết tâm thức như người huyễn đi đến. Biết như vậy rồi, đối với các pháp không nhiễm trước. Quán biết thân này là sự hòa hợp của bốn đại: Đất, lửa, nước, gió. Các đại đã giả hợp làm thân giống như cỏ cây, tường vách, sành sỏi. Thân này như bóng, không ngã, không chúng sinh, không mạng, không nhân, không có trượng phu. Nương vào nghiệp đã tạo tác mà tự luân chuyển. Các cõi vọng tưởng giống như hư không tụ lại. Quán như thật về mắt thì chỉ là thịt, khi bị hủy thì tánh của mắt là không tịch. Quán kỹ như thế về tai, mũi, lưỡi, thân, ý thì tánh chúng đều không tịch. Hiểu thân như bóng trong gương, hiểu biết lời nói giống như tiếng vang. Quán tâm như huyễn. Như vậy, này các vị! Người nữ quan sát các pháp như thế thì mau chóng chuyển thân nữ thành thân nam, mau chóng thành tựu Vô thượng Bồ-đề.

Khi đó, các phu nhân, thể nữ của vua Đại thọ Khẩn-na-la nghe Phật nói pháp chuyển thân nữ này, họ nghe pháp môn này rồi rất vui mừng, được nghe điều chưa từng có, đều đảnh lễ dưới chân Đức Phật, chí tâm không xao lãng.

Khi đó, biết ý nghĩa trong tâm các phu nhân, thể nữ của vua Khẩn-na-la, Thế Tôn liền mỉm cười.

Theo pháp thường, khi Phật mỉm cười thì hàng trăm ngàn hào quang xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng, tía… từ miệng Ngài phát ra, chiếu soi khắp vô lượng, vô biên thế giới trên đến trời Phạm thế, che lấp ánh sáng mặt trời, mặt trăng, trở lại trước Phật. Rồi nhiễu Phật ba vòng, theo trên đỉnh đầu mà vào.

Bấy giờ Đại đức A-nan liền đứng dậy, sửa lại y phục, trật áo vai phải, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay hướng Phật mà nói kệ:

Con hỏi niềm vui diện kiến Ngài
Con hỏi uy đức lạ của Ngài
Con hỏi điều hay đoạn các nghi
Vì duyên cớ gì Ngài cười vậy?
Con hỏi Đấng Tịnh tối thâm diệu
Con hỏi điều lợi ích thế gian
Con hỏi Đấng Nhân Thiên tối thượng
Vì nghĩ thương ai hiện tướng cười?
Con hỏi Đấng ưa thí, điều phục
Con hỏi Đấng trì giới thanh tịnh
Hỏi Đấng ưa nhẫn, đắc nhẫn rồi
Vì lợi ích gì thị hiện cười?
Con hỏi Đấng trụ lực tinh tấn
Hỏi Đấng trụ thiền, đủ thần thông
Hỏi Đấng trí tuệ ngang hư không
Sao hiện cười, thưa đấng Vô đẳng?
Hỏi Đấng Thiện Thệ đại Bi tâm
Hỏi Đấng đại Bi thương thế gian
Hỏi Đấng đại Hỷ và đại Xả
Nhân duyên gì Ngài thị hiện cười?
Con hỏi Đấng qua bờ ba cấu
Hỏi Đấng vô cấu tịnh ba nhãn
Hỏi Đấng thường lạc, ba giải thoát
Ngài cười hẳn phải có nguyên nhân?
Con hỏi Đấng hàng phục kẻ khác
Hỏi Đấng hay nói pháp Cam lồ
Hỏi Đấng hay che tối các ma
Ngài cười, nguyện xin nói lý do?
Con hỏi Đấng giữ gìn mười Lực
Hỏi Đấng thân như sắc núi vàng
Hỏi Đấng đến được đỉnh công đức
Vì ích lợi gì mà ngài cười?

Bấy giờ, Phật bảo Đại đức A-nan:

–Ông hôm nay có thấy các vị phu nhân của vua Đại thọ Khẩnna-la chăng? Hôm nay, ở chỗ ta, họ đã gieo trồng thiện căn, chí thành pháp tâm Vô thượng Bồ-đề, muốn chuyển thân nữ thành thân nam. Họ đang đảnh lễ dưới chân ta.

Tôn giả A-nan bạch Phật:

–Con đã thấy, thưa Đức Thế Tôn!

Phật bảo Tôn giả A-nan:

–Các phu nhân, thể nữ của vua Khẩn-na-la đem lòng chí thành này gieo trồng các thiện căn, đến hết thân mạng này họ xả bỏ thân nữ được thành thân nam, sinh lên cõi trời Đâu-suất cùng Bồ-tát Dilặc hộ trì ta vô lượng, vo số kiếp, đã tập hợp đạo pháp Vô thượng Chánh chân.

Khi Bồ-tát Di-lặc thành Phật họ lại sẽ cúng dường. Cứ như vậy, họ lần lượt cúng dường hàng ngàn Đức Phật trong kiếp hiền, dần dần họ đầy đủ pháp trợ Bồ-đề.

Khi vua Đại thọ Khẩn-na-la này được thành Phật, những người nữ này sẽ sinh vào cõi của Đức Phật ấy. Đức Phật Như lai kia sẽ thọ ký cho họ.

Bấy giờ, vua Đại thọ Khẩn-na-la bạch Phật:

–Thưa Thế Tôn! Hôm nay Thế tôn đã vì chúng con mà làm

Phật sự lớn, trừ sạch đường ác, an trụ đường lành, thị hiện đạo Bồđề, trụ ở kho báu trí tuệ lớn, thành tựu tất cả căn lành xuất thế, thuyết giảng giúp thành tựu bạn Ba-la-mật, thị hiện phương tiện kheo, khuyên phát tâm Bồ-đề, nghe pháp đầy đủ, được chỉ dạy lợi lạc, yêu thích pháp thậm thâm, tất cả chúng con đều được an trụ ở địa vị không thoái chuyển.

Bạch Thế Tôn! Chúng con nay sẽ làm điều tri ân, chẳng phải không tri ân.

Bạch Thế Tôn! Hôm nay chúng con nếu dùng cả máu, thịt, tủy, não còn không thể báo ân được huống là các thứ trân bảo khác!”

Bấy giờ, trong chúng hội có vị Bồ-tát khác dấy lên ý niệm như vầy: “Vua Đại thọ Khẩn-na-la này còn bao lâu nữa sẽ được chứng đắc đạo quả Vô thượng Bồ-đề? Được thành Phật rồi hiệu là gì? Cõi nước của Đức Phật ấy trang nghiêm ra sao? Các chúng Bồ-tát lấy gì trang nghiêm? Vật thọ dụng của họ tướng loại thế nào?”

Lúc ấy, Thế Tôn biết được ý niệm trong tâm của vị Bồ-tát này. Ngài liền mỉm cười, vô lượng trăm ngàn ánh hào quang đủ mọi màu sắc từ miệng Ngài phát ra, chiếu khắp thế giới của chư Phật trong mười phương nhiều như số cát sông Hằng, chấm dứt tất cả khổ não của chúng sinh, hào quang chiếu khắp chư Thiên, thế gian rồi trở lại nhiễu quanh Đức Phật đủ một ngàn vòng rồi theo đỉnh đầu mà vào.

Bấy giờ Tôn giả A-nan liền đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu về bên phải bảy vòng, ở trước Như Lai, chắp tay mà nói kệ:

Lạy Đấng Thiện Thệ chưa từng thấy
Mỉm cười sự tướng là như vậy
Soi khắp vô lượng ức thế giới
Khắp mười phương như cát sông Hằng.
Ánh sáng Đế Thích và vua Phạm
Hộ Thế, Nhật, Nguyệt, ngọc, lửa, sao
Ánh sáng Nhân tôn làm lu mờ
Nhân gì Ngài cười, nguyện xin nói?
Diệt trừ ba ác, các khổ não
Chúng sinh lìa kết được vui mừng
Người, trời được vui mà nhiều nữa
Thanh tịnh chúng sinh vì sao cười?
Ai vì người, trời trụ Đại thừa?
Ai sẽ chứng đắc, chuyển pháp luân?
Ai đạt được Bồ-đề vô thượng?
Dũng kiện phóng ánh sáng tịnh diệu
Xin Pháp Vương đoạn nghi cho con
Và cho người, trời hết nghi hoặc!
Đại chúng hoan hỷ, nguyện muốn biết
Vì ai Ngài hiện tướng mỉm cười?

Bấy giờ Tôn giả A-nan dùng kệ hỏi Phật rồi, đi nhiễu bên phải ba vòng, trở về chỗ ngồi của mình.

Lúc ấy, Thế Tôn giống như con rồng lớn, quay nhìn mười phương rồi bảo Tôn giả A-nan:

–Này A-nan! Nay ông có thấy vua Đại thọ Khẩn-na-la này cúng dường rất nhiều Đức Như Lai chăng?

Tôn giả A-nan bạch Phật:

–Con đã thấy, thưa Thế Tôn!

Phật bảo Tôn giả A-nan:

–Vua Đại thọ Khẩn-na-la này trải qua sáu mươi tám trăm ngàn ức kiếp nữa rồi sẽ thành Phật, hiệu là Công Đức Vương Quang Minh Như lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, The Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự, Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Cõi nước của Ngài tên là Vô cấu nguyệt, kiếp tên là Hữu bảo.

Này A-nan! Đất đai của thế giới Vô cấu nguyệt này bằng phẳng như bàn tay. Đất bằng lưu ly trắng giống như màu sắc của mặt trăng, rất sạch không cấu bẩn, không có các gai góc, sành sỏi, cát đá, có đài báu đẹp trụ trong hư không.

Khi các Bồ-tát đi kinh hành trên đất thì hai bên hiện ra hình tượng Như Lai Công Đức Vương Quang Minh. Các Bồ-tát này thấy tượng Như Lai liền có ý nghĩ như vậy: “Tất cả các pháp đều như tượng!” Nếu có chúng sinh, đối với pháp có điều nghi hoặc liền hỏi tượng Phật. Hỏi tượng Phật rồi thì có thể thọ trì, được Vô sinh nhẫn. Tất cả chúng sinh đều nương nơi đài báu ở hư không mà an trụ. Cõi Đức Phật kia không có danh từ người nữ. Chúng sinh coi ấy đều hóa sinh cả. Ở trong cõi nước này không có danh từ ẩm thực, mọi người ăn thuần bằng pháp hỷ. Trong cõi nước đó không có các thừa khác, chỉ thuần một Đại thừa mà thôi. Tất cả chúng sinh ở đây quyết định theo Đại thừa. Các chúng sinh đó không hủy cấm giới và oai nghi cùng phá chánh kiến. Tất cả chúng sinh quyết định theo Phật pháp. Nước kia không có ma và Thiên ma, ngoại đạo Ni-càn cùng các đạo khác… chúng sinh ở đó không chấp trước các “kiến” thậm chí chẳng chấp trước ở thiện kiến. Tất cả chúng sinh đều thực hành hạnh sâu xa, đã được ấn không ấn chứng. Chúng sinh người, trời trong cõi ấy không khác nhau. Vật chất mà họ thọ dụng đều đồng đẳng. Tuổi thọ Đức Như Lai Công Đức Vương Minh Quang là mười trung kiếp. Nhiều lợi ích, nhiều an lạc cho trời, người. Số Bồ-tát quyến thuộc của Ngài nhiều vô lượng đều ở địa vị không thoái chuyển.

Khi Đức Như Lai Công Đức Vương Quang Minh này sắp vào Niết-bàn, liền thọ ký cho Bồ-tát Thượng Tinh Tấn:

–Bồ-tát Thượng Tinh Tấn này tiếp theo sẽ được làm Phật, hiệu là Đại Trang Nghiêm Như Lai… Phật Thế Tôn.

Ở trong kiếp này, Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo không đứt đoạn. Vậy nên, kiếp này tên là Hữu bảo.

Bấy giờ, vua Đại thọ Khẩn-na-la đích thân được nghe thọ ký rất đỗi vui mừng, được điều chưa từng có. Ông dùng thần lực thiện căn của Đại Bồ-tát muốn cho đại chúng phát tâm hoan hỷ tăng thêm thiện căn nên bay lên hư không cao bảy cây đa-la, nương thần lực Phật và tài về ngôn từ của mình nói kệ:

Thật tánh bao trùm tất cả pháp
Tánh ấy như “không” không bợn nhơ
Biết đạo nhiệm mầu như vậy rồi
Đó là trưởng tử tất cả Phật.
Như điều nhìn thấy ở trong mộng
Không thật, thấy được đều hư vọng
Đã rõ các pháp là như mộng
Đối với các pháp không lo chán.
Giống như huyễn hóa đã hiện ra
Binh chúng: voi, ngựa, bộ và xe…
Trong đệ nhất nghĩa không có thật
“Ấm” này như huyễn không thật bền.
Thể tánh của sắc như bọt nước
Các thọ như bọt nước hiện lên
Tưởng kia giống như lúc lửa hừng
Các hành không thật như bẹ chuối.
Tâm, ý, thức cùng với ba cõi
Như Lai nói: như huyễn hóa ra
Biết ấm tánh không không thật có
Ở trong các hành không nhàm chán.
Bốn đại, các giới như pháp giới
Các nhập như làng xóm rỗng không
Biết rõ các pháp như vậy xong
Giữ Pháp tạng không của chư Phật.
Bố thí tài, khéo tự điều phục
Tự điều phục bằng tịnh giới không
Tánh nhẫn thường tận – không có tướng
Tinh tấn thắng diệu thường tịch diệt
Tánh thiền tịch tĩnh không hý luận
Trí cũng không tịch không hý luận.
Nếu có thể nhập pháp như trên
Đó gọi là vượt đến bờ kia.
Lòng Từ vô ngã, vô chúng sinh
Đại Bi thanh tịnh như hư không,
Đại Hỷ, đại Xả đều rỗng lặng
Đó là phạm đạo, đạo tối thắng.
Là bốn Nhiếp pháp là tối thắng
Đức Phật nói: bao trùm khắp cả
Được pháp nhiếp này, mãi giải thoát
Đến được bờ kia của nhiếp pháp.
Chúng sinh vô ngã, vô chúng sinh
Chẳng được trượng phu và thọ mạng
Sáu căn thường tự tướng tịch tĩnh
Biết như vậy, gọi là Bồ-tát!
Không có Bồ-tát, không chúng sinh
Cũng lại chẳng sinh, không ngã mạn
Lìa hai, vô trước, không hý luận
Gọi là Vô trước, thật Bồ-tát!
Các pháp không thật như mây nổi
Không có người đi, không kẻ đến
Thể kia thường trụ tánh pháp giới
Thiện Thệ Như Như thông đạt hết.
Các pháp chẳng có, cũng chẳng không
Vì nhân duyên nên các pháp có
Như chớp vừa lóe liền tắt ngay
Tâm kia thường ưa quán như thế.
Tâm hành không sắc, chẳng nắm giữ
Thế gian như thế chẳng thể nắm
Nếu biết tâm tánh vốn thanh tịnh
Không có kết sử, các tối tăm.
Nói thân như cây, như tường vách
Si không có chủ như đá sành
Đã biết như vậy về bản tánh
Lại chẳng khởi tâm dựa vào thân
Miệng nói thanh tịnh như gió thổi,
Như tiếng vang vọng trong hang núi
Biết các âm thanh cũng như vậy
Với các âm thanh dục chẳng say.
Trụ tại hư không chẳng rơi rớt
Hư không không trụ cũng không xứ
Biết các pháp như hư không rồi
Chúng sinh trụ “chân như” như thế.
Hư không vốn không cháy, không sinh
Ngàn vạn ức kiếp mà chẳng cháy
Hiểu ra các pháp như hư không
Đến trăm ngàn cõi không thiêu cháy
Tu-di, Thiết vi và các núi
Thành lớn, thôn ấp và cỏ cây
Biết rõ chúng như hư không rồi
Thần thông đến xa ngàn ức cõi.
Địa đại, thủy, hỏa và phong đại
Bốn đại cũng giống như hư không
Biết những thứ này đều bình đẳng
Dũng kiện nương không, đến ưc cõi.
Ba cõi đã có các tiếng nói
Thắng diệu tăng thêm thượng, hạ, trung
Trăm ngàn ức kiếp nói không lường
Chẳng thấy bản tánh, biết tồn tại.
Thù thắng không có tướng sai khác
Tuy biết mà tâm không thể hiểu
Tâm ý cùng nhau vào tịch diệt
Các Như Lai đồng với các pháp
Tu căn lành hàng ngàn vạn kiếp
Vốn khi làm Bồ-tát tu hành
Biết Bồ-đề đồng với các pháp
Nên được thọ ký, đại danh xưng.
Các cảnh giới pháp, tánh sạch trong
Cảnh giới Như lai không thể lường
Biết được bình đẳng như vậy xong
Giữ đức thế thì được thọ ký.
Con nay không có các ấm, cái
Sắc, thọ, tư tưởng cùng với hành
Hiểu biết Bồ-đề được thọ ký
Chẳng nhẫn thọ ký ấm, giới, nhập.
Chứng đắc nhẫn kia vốn tịch tĩnh
Nhẫn và cho, không hai, bình đẳng
Vô lượng này là vô sinh nhẫn
Như vậy thì được thọ ký ngay.
Không thể cùng tận với vô tận
Hỏi hết, không khởi lên các pháp
Thông đạt nhẫn rồi được thọ ký
Không cú, nhập cú, không hình tướng.
Thật không có số, không hai bên
Không có làm khác, phải làm thật
Như vậy được thọ ký của Phật
Tính con nay bình đẳng với pháp
Tính mình vô ngã, đồng tánh không
Tính Bồ-đề giống như hư không
Nếu như thế, liền được thọ ký
Chính là tà hạnh, chẳng chánh chân.
Nếu đem tâm ý mà tu hành
Trong pháp bình đẳng hành thắng hạnh
Thì đều cùng trụ dưới đất thôi
Con nay trụ ở trên không này
Biết người dưới đất không đồng nhau
Chẳng chấp ba cõi, thêm tăng trí
Vậy nên được thọ ký Vô thượng!

Bấy giờ, vua Đại thọ Khẩn-na-la từ hư không nói kệ này xong thì hạ xuống, đảnh lễ dưới chân Phật, chắp tay hướng về Ngài, bạch:

–Kính bạch Thế Tôn! Ngài đã vì con làm Phật sự, thọ ký cho con đầy đủ đạo Vô thượng.

Bạch Thế Tôn! Con ở đời quá khứ đã tu các hạnh là vì bất không. Con vì chẳng dối trá nên đã tu các hạnh!

Bấy giờ, trong đại chúng có các vị Đại Bồ-tát có ý niệm như vầy:

–Vua Đại thọ Khẩn-na-la này đã gieo trồng căn lanh đầu tiên ở

chỗ Đức Phật nào? Đức Phật Như lai kia hiệu là gì?

Khi ấy Bồ-tát Thiên Quan biết ý niệm trong lòng các vị Bồ-tát nên bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Vua Đại thọ Khẩn-na-la này lần đầu tiên phát tâm Bồ-đề, gieo trồng thiện căn ở chỗ Đức Phật nào? Đức Phật Thế Tôn kia hiệu là gì?

Lúc ấy Phật bảo Bồ-tát Thiên Quan:

–Này Thiện nam! Thuở quá khứ xa xưa, cách đây vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, lúc đó có Phật hiệu là Bảo Tụ Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Giác… Phật Thế Tôn, cõi Phật này tên là Tịnh trang nghiêm, kiếp tên là Tịnh khiết. Đức Bảo Tụ Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Giác này có chúng Bồ-tát gồm sáu mươi ức vị. Tất cả chư vị ấy đều có vô lượng tinh tấn, đắc Đà-la-ni, không lay chuyển nơi đạo Vô thượng chánh chân. Phật ấy có tuổi thọ sáu mươi ức tuổi. Những vật dụng trong cõi nước kia hoàn toàn do lưu ly tạo thành. Đồ ăn thức uống ở đó thật phong phú như trên cõi trời Đâusuất. Cõi nước đó không có các thừa khác, chỉ thuần một Đại thừa thôi.

Bấy giờ, có vị Chuyển luân đại vương tên là Ni-mẫn-đà-la, tự tại trong bốn cõi, có đầy đủ bốn vạn phu nhân một ngàn người con, tất cả đều dũng kiện, đẹp đẽ, có thể khuất phục được nhiều người khác.

Khi ấy, vua Ni-mẫn-đà-la thỉnh Đức Như Lai Bảo Tụ và chúng tăng

Bồ-tát để cúng các vật cần dùng đủ một ức năm như: y phục, đồ ăn thức uống, giường nằm, thuốc thang, tất cả đồ ưa thích. Nhà vua đã tạo nên sự cúng dường vô lượng như vậy. Cúng dường Đức Như Lai xong, đức vua ấy thành tựu căn lành này. Bốn vạn phu nhân cùng với một ngàn người con, thêm tám muôn bốn ngàn chúng sinh đồng phát tâm nơi đạo Vô thượng chánh chân. Phát tâm đạo rồi, lại dùng những đồ ưa thích thường cúng dường Đức Như Lai Bảo Tụ đủ một ức năm. Sau đó, nhà vua bỏ ngôi vua trao cho thái tử tên là Tịnh Giới, tự bỏ ngôi vị quốc vương, thể nhập trong pháp của Đức Phật kia, cạo bỏ râu tóc, đem tâm tín thành xuất gia. Rồi cứ như vậy, một ngàn người con trai lần lượt nhường ngôi cho nhau, từng người một đều đi xuất gia, chỉ trừ vị vương tử nhỏ nhất tên là Giác Bi. Ông lên làm vua dùng chánh pháp trị nước, chẳng dùng binh lính, vũ khí, khéo léo, tự tại thống lãnh đất nước.

Này Thiện nam! Bấy giờ, vua Ni-mẫn-đà-la và các con xuất gia rồi, Đức Như Lai Bảo Tụ lúc đầu, nửa chừng và sau cùng, đã nói pháp cho họ có thể thọ trì.

Này Thiện nam! Ý ông thế nào? Đó là ai khác ư? Ông chớ có nghi ngờ vậy! Vua Chuyển luân Ni-mẫn-đà-la kia nay là vua Đại Thọ Khẩn-na-la này. Các con của vua ấy, nay đều tu hành đạo Bồtát.

Này Thiện nam! Vua Đại Thọ Khẩn-na-la này, ở trong pháp của Đức Như Lai Bảo Tụ kia phát tâm Bồ-đề vô thượng đầu tiên. Từ đó về sau, nhà vua luôn được gặp Phật, nghe pháp cúng dường chúng tăng, giáo hóa chúng sinh, mà chẳng mau chóng nhận lấy đạo Vô thượng chánh chân. Ta nay thọ ký cho ông ấy đạo Vô thượng này. Ông ấy sẽ được làm Phật hiệu là Như Lai Công Đức Vương Quang Minh.

Bồ-tát Thiên Quan bạch rằng:

–Bạch Thế Tôn! Chưa từng có vậy! Trí tuệ của Như Lai không thể nghĩ bàn mới có thể biết được điều xa xưa như vậy.

Phật dạy:

–Đúng vậy! Này Thiện nam! Đúng như ông đã nói. Như Lai thấy biết vô lượng vô biên. Vì sao vậy?

Này Thiện nam! Vô lượng tất cả chúng sinh đời quá khứ, Như Lai đều có thể biết hết tâm của họ. Biết như vậy khắp mười phương; biết như vậy ở mọi chỗ; biết như vậy về mọi tạo tác của họ; hoặc nghiệp thiện, hoặc nghiệp bất thiện, hoặc nghiệp vô ký, biết như vậy về tất cả sự biến chuyển trong tâm của họ, Như Lai đều biết hết! Nếu hiện tại tâm khởi lên, hoặc tâm thiện, hoặc tâm bất thiện, hoặc vô ký, khởi như vậy ở mười phương, khởi như vậy ở mọi chỗ, khởi những tạo tác như vậy thì Như Lai đều biết. Sự thấy biết của Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Giác như thế không có ngăn ngại. Nếu đời vị lai, tất cả chúng sinh sẽ khởi tâm thì Như Lai đều biết.

Khi Phật nói về trí vô ngại của Như Lai này, ba vạn hai ngàn chúng sinh vốn chưa phát tâm, lần đầu tiên ân cần, trân trọng phát tâm Vô thượng Bồ-đề.

Bấy giờ, lần thỉnh Phật và đại chúng Bồ-tát, Thanh văn để cúng dường bay hôm của vua Đại Thọ Khẩn-na-la đã xong. Nhà vua lại đem các vật dụng cần thiết ưa thích và cung điện, vườn rừng, quảng trường, đất đai, dâng cúng hết, rồi nói như vầy:

Nguyện xin Phật Thế Tôn rủ lòng thương xót chúng con, thỉnh thoảng xin Ngài đến đây với chúng con. Nếu được vậy thì sẽ rất an lạc, sẽ rất lợi ích cho các Càn-thát-bà, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già.

Bấy giờ, con trai của vua Đại Thọ Khẩn-na-la tên là Vô Cấu Nhãn đem lưới ngọc báu dâng lên Như Lai rồi bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Khẩn-na-la chúng con đắm say hương hoa, đắm say ca múa, đắm say lạc thú, nguyện xin Thế Tôn vì chúng con thuyết giảng pháp môn tu hành khiến cho chúng con rời bỏ sự cuồng say, tu tập pháp Bồ-đề trợ đạo.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Vô Cấu Nhãn, con vua Đại Thọ Khẩnna-la rằng:

–Này Hiền sĩ! Từ đây về sau, ta sẽ giúp ông khiến cho các nhạc cụ phát ra âm thanh sáu mươi bốn pháp trợ Bồ-đề vi dieu.

Những gì là sáu mươi bốn pháp?

Đó là:

  1. Phát ra tiếng bố thí
  2. Tiếng trì giới.
  3. Tiếng nhẫn nhục.
  4. Tiếng tinh tấn.
  5. Tiếng thiền định.
  6. Tiếng trí tuệ.
  7. Tiếng Từ.
  8. Tiếng Bi.
  9. Tiếng Hỷ.
  10. Tiếng Xả.
  11. Tiếng bốn Nhiếp pháp.
  12. Tiếng không quên tâm Bồ-đề vô thượng.
  13. Tiếng chẳng nhàm chán sinh tử.
  14. Tiếng tập hợp căn lành.
  15. Tiếng Phật.
  16. Tiếng Pháp.
  17. Tiếng Tỳ-kheo tăng.
  18. Tiếng Niệm xứ.
  19. Tiếng Chánh đoạn.
  20. Tiếng Thần túc.
  21. Tiếng Căn.
  22. Tiếng Lực.
  23. Tiếng giác.
  24. Tiếng đạo.
  25. Tiếng định.
  26. Tiếng tuệ.
  27. Tiếng vô thường.
  28. Tiếng khổ.
  29. Tiếng vô ngã.
  30. Tiếng tịch.
  31. Tiếng vô hành.
  32. Tiếng tịnh.
  33. Tiếng vô sinh.
  34. Tiếng vô khởi.
  35. Tiếng như.
  36. Tiếng pháp tánh.
  37. Tiếng thật tế.
  38. Tiếng vô ngã.
  39. Tiếng vô chúng sinh.
  40. Tiếng vô mạng.
  41. Tiếng vô trượng phu.
  42. Tiếng vô nhân.
  43. Tiếng vô lai.
  44. Tiếng vô khứ.
  45. Tiếng vô xứ.
  46. Tiếng vô trụ.
  47. Tiếng không.
  48. Tiếng vô tướng.
  49. Tiếng vô nguyện.
  50. Tiếng ly.
  51. Tiếng diệt.
  52. Tiếng vô sở hữu.
  53. Tiếng nhân duyên.
  54. Tiếng vô vật.
  55. Tiếng vô tụ.
  56. Tiếng vô y.
  57. Tiếng hộ chánh pháp.
  58. Tiếng hàng ma.
  59. Tiếng thiện phương tiện.
  60. Tiếng giáo hóa chúng sinh.
  61. Tiếng như huyễn, như hóa, như chớp, như trăng đáy nước, như mộng, như âm hưởng,
  62. Tiếng pháp giới chẳng hoại.
  63. Tiếng như thuyết, như tác.
  64. Tiếng tập hợp các thiện căn mà chẳng quên mất, không phóng dật.

Như vậy, này Hiền sĩ! Ta sẽ khiến cho các nhạc cụ của các ông phát ra tiếng sáu mươi bốn pháp hộ trợ đạo Bồ-đề như vậy, nó sẽ khiến cho các ông đạt được pháp không buông lung, đầy đủ pháp trợ Bồ-đề.

 

QUYỂN 4

Bấy giờ, tất cả đại chúng đạt được điều chưa từng có, chắp tay lễ Phật, nói lời như vầy:

–Thật ít có, bạch Thế Tôn! Chỉ có Như Lai mới có thể khéo hộ niệm các Đại Bồ-tát! Ngài dùng sức thần thông mà hộ trì họ.

Phật dạy:

–Đúng vậy, đúng vậy! Đúng như lời các ông nói, Như lai hộ niệm các vị Bồ-tát. Vì sao? Vì hộ niệm các vị Bồ-tát tức là hộ niệm tất cả chúng sinh. Này các vị Chánh sĩ! Nếu Phật Như lai hộ các vị Bồ-tát là đồng thời hộ trì tất cả chúng sinh. Vì sao? Vì chính Bồ-tát vì tất cả chúng sinh mà phát tâm đại trang nghiêm. Họ đã phát tâm đại trang nghiêm rồi, khiến cho vô lượng chúng sinh lìa khỏi sinh, chết, đói khổ, cứu vớt chúng sinh thoát ra, an trí vào chánh đạo. Này các Chánh sĩ! Vậy nên, sau khi ta Niết-bàn, các ông phải hộ trì các vị Bồ-tát. Nếu hộ trì Bồ-tát thì các ông nên biết là đã hộ trì các chung sinh rồi. Nếu Bồ-tát bố thí y phục, ẩm thực, ngọa cụ, thuốc trị bệnh tức là bố thí cho tất cả chúng sinh. Nếu đem đồ ưa thích bố thí cho Bồ-tát thì đồng thời thí cho tất cả chúng sinh rồi. Vì sao? Vì từng hơi thở ra, hít vào của từng vị Bồ-tát này thường vì tất cả chúng sinh vậy.

Bấy giờ, chư Thiên cõi Dục, chư Thiên cõi Sắc, Càn-thát-bà, Ma-hầu-la-già… và các đại chúng nghe lời Đức Phật đã nói, thâm tâm họ tùy hỷ. Họ dùng hoa đẹp, trân bảo, chuỗi ngọc, các thứ bột thơm tung lên cúng dường Đức Như Lai.

Lúc ấy, vua Đại thọ Khẩn-na-la có ý nghĩ như vầy: “Lúc này, Đức Như Lai và các vị Bồ-tát, chúng đại Thanh văn sắp sửa trở về.

Ta dùng thần lực, tư đây làm tạo một xe báu lớn để cho Phật, đại chúng Bồ-tát, Thanh văn đi. Ta và quyến thuộc sẽ cùng kéo xe. Đó mới là cúng dường Như Lai đầy đủ.”

Nghĩ điều đó xong, bấy giờ, nhà vua liền dùng châu báu cõi trời làm ra một cái xe báu, cao năm do-tuần, ngang dọc bằng nhau, cũng năm do-tuần, xen lẫn giữa các vật báu là vô lượng cây báu dùng để trang nghiêm. Ở trên xe này làm một tòa ngồi sư tử cho Đức Phật Như lai, tôn trí trang nghiêm. Tòa cao bảy nhẫn, trải vô lượng vải báu của trời. Ngoài ra, trên đó cũng thiết lập tòa ngồi cho tất cả Bồ-tát và các vị Thanh văn. Ngay cả các vị Thiên tử, Đế Thích, Phạm vượng, Hộ thế, Càn-thát-bà,… tất cả những người đến nghe pháp đều có tòa ngồi ở trong xe đó. Tạo ra xe báu lớn và bày các tòa ngồi xong, bấy giờ, vua Đại thọ Khẩn-na-la chắp tay bạch Phật:

–Xin nguyện Thế Tôn và các đại chúng thương xót con hãy ngồi lên xe báu.

Lúc ấy, Thế Tôn và các Bồ-tát, đại chúng Thanh văn, tất cả chúng khác đều lên tòa ngồi bày trong xe báu.

Bấy giờ, vua Khẩn-na-la dùng thần lực của Phật và thần lực của mình đem chiếc xe báu ấy đặt vào bàn tay phải, bay lên hư không cao bảy cây Đa-la, rồi tám tám ngàn người con của vua Khẩnna-la và vô lượng Càn-thát-bà, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già đều dùng vòng vàng móc vào xe báu kéo lướt trên không mà đi. Tám muốn bốn ngàn Khẩn-na-la trồi lên tám muôn bốn ngàn âm nhạc đi trước dẫn đường, dùng kệ tụng khen ngợi Phật:

Đầy đủ tám muôn và bốn ngàn
Là thân Khẩn-na-la hiện tại
Dùng nhạc hòa lời ca thanh diệu
Ca ngợi thật công đức Như Lai.
Tướng đẹp tối thắng có uy đức
Sắc đẹp tối thắng mọi người yêu
Thường trụ thanh tịnh, công đức thật
Thế Tôn có công đức lớn này
Ở trên hư không, hầu hai bên
Không thể thấy đỉnh Đức Như Lai
Giống như núi lớn vững chẳng động
Có thân như vậy, đức đáng ưa,
Tự tại trên không, tùy chỗ đến
Đạo sư có thần lực lớn này
Giống như hư không, tịnh vô cấu
Kết sử Thế Tôn đoạn hết rồi.
A-tu-la cùng chúng Dạ-xoa
Đế Thích, Phạm vương và Tịnh cư
Nhật, nguyệt, tinh tú, ngọc, ánh lửa
Những tướng tốt sáng đều lu mờ.
Năng lực trí tuệ như biển cả
Khởi phát tâm hành của chúng sinh
Ba minh chiếu sáng khắp ba cõi
Cúi đầu đảnh lễ Đức Thế Tôn.
Hàng phục bốn ma, các kết sử
Nói bốn Thánh đế, đạo Niết-bàn
Sức bốn Thần túc, không sợ hãi
Bước đi thù thắng của Như Lai.
Tuần tự tiến tới không lay động
Trụ Tam-muội, thường tập điều tâm
Nói điều vi diệu vui thế gian
Cũng chẳng nương tựa lời nói đó,
Nói năng êm dịu lời dịu dàng
Nghe xa đến Vô lượng cõi Phật
Nếu có chúng sinh nghe tiếng này
Tất cả an lạc sinh hoan hỷ.
Nước các biển trong ba ngàn cõi
Chứa hết trong một lỗ ở chân lông
Mà không hại chúng sinh dưới nước
Ngài không tổn giảm sức thần thông.
Núi non của ba ngàn thế giới
Đặt gọn vào một lỗ chân lông
Mang đến vô luợng ngàn ức cõi
Nhưng không tổn giảm thân lực Ngài.
Lại ở vô lượng trăm ngàn kiếp
Điều phục thí, chịu khổ không lường
Khéo tu học giới, hộ các căn
Nhẫn nhục, tinh tấn, thiền, tuệ lực,
Cúng dường vô lượng ức Thế Tôn
Hộ trì pháp chư Phật này nói
Tâm Ngài chẳng phát sinh nhàm chán
Đại Từ, đại Bi lợi ích đời,
Ở trong vô vi chẳng thấp hèn
Ở trong hữu vi chẳng kiêu ngạo
Giống như đại địa chẳng ngã nghiêng
Trụ trong thế pháp như sen nở.
Quan sát kỹ lưỡng các pháp không
Đều không tướng, như trăng đáy nước
Như huyễn, như hóa, như bọt nước
Như mộng, như chớp, như lửa hừng.
Thật tánh không ngã, không có nhân
Rất tịnh, không nhiễu, không chủ nhân
Giống như hư không, sạch không bẩn
Tất cả các vật tánh thật chân,
Tất cả các nhân cùng với duyên
Lưu chuyển tạo pháp không có chủ
Hiểu điều này, rõ đạo Bồ-đề
Vậy nên danh hiệu Ngài là Phật.
Các chúng sinh này được lợi lớn
Nếu gặp Đạo sư và hỏi pháp
Người ấy chẳng sợ rơi đường ác
Người này thường được đến đường lành.
Chúng con nay được cúng Thượng Nhân
Tất cả đều cúng ta cũng cúng
Rồi đem hồi hướng tâm Bồ-đề
Nguyện khiến tất cả như Nhân Tôn.
Giả sử hư không có thể lượng
Sợi lông có thể tát cạn biển
Mặt trời, trăng, sao rời hư không
Công đức của Phật không thể hết!

Bấy giờ, Thế Tôn an tọa trên xe báu, lướt hư không mà đi, phóng ra ánh hào quang vàng. Ánh hào quang này chiếu khắp cả tam thiên đại thiên thế giới. Lúc trong núi Kỳ-xà-quật ở thành Vương xá, hào quang chiếu soi thêm sáng thì ở thành Vương xá, vua A-xà-thế cùng phu nhân quyến thuộc, binh chúng, cac Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Bà-la-môn, Cư sĩ thấy điềm sáng này rồi cùng mang hương hoa, bột thơm, hương xoa, cờ, phướn, lọng báu và các nhạc cụ, ra khỏi thành Vương xá để nghênh đón Như Lai. Ra khỏi thành rồi, tiến thẳng đến núi Kỳ-xà-quật. Từ xa, họ đã nghe tiếng âm nhạc hòa lời ca vi diệu của Khẩn-na-la vang khắp trong núi Kỳxà-quật.

Bấy giờ, vua Đại thọ Khẩn-na-la dùng thần lực của Đức Phật, từ hư không hạ xuống, đem xe bằng báu lớn an trí trong núi Kỳ-xàquật.

Lúc ấy, Thế Tôn từ xe báu bước xuống, đến ngồi vào tòa ngồi đã bày sẵn tại chỗ ở của mình. Các vị Bồ-tát, chúng đại Thanh văn cùng xuống xe, làm lễ dưới chân Như Lai, rồi lần lượt ngồi vào chỗ ngồi của mình.

Bấy giờ, vua A-xà-thế và phu nhân, thể nữ, bà con nội ngoại, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Bà-la-môn, Cư sĩ… đều mang vật phẩm cúng dường của mình cúng dường Như Lai. Rồi quỳ xuống, chắp tay, thăm hỏi Phật:

–Bạch Thế Tôn! Ngài không mệt mỏi ư? Ngài đi đường có yên ổn, tốt lành không?

Thăm hỏi xong, họ lùi về ngồi một bên. Lúc ấy, Bồ-tát Thiên Quan bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Vua Đại thọ Khẩn-na-la và chúng Khẩn-na-la kéo xe Như Lai vượt hư không đến đây thì được bao nhiêu phước đức?

Phật dạy:

–Này Thiện nam! Vua Đại thọ Khẩn-na-la này và các quyến thuộc phát đạo tâm ấy, từ nay về sau sẽ đạt được Ngũ thông mãi cho đến khi thành Phật. Từ cõi Phật này cho đến cõi Phật khác luôn được gặp Phật, nghe Pháp, cúng dường chúng Tăng. Đời đời sinh ra thường biết đời trước của mình, đạt được biện tài khéo léo, âm thanh cực hay, cũng chẳng lìa bỏ sự giáo hóa chúng sinh, đời đời luôn luôn siêng năng hộ trì chánh pháp, siêng năng giáo hóa chúng sinh.

Bấy giờ, vua A-xà-thế nói với vua Đại thọ Khẩn-na-la:

–Này vua Khẩn-na-la! Bệ hạ đã đạt được lợi ích lớn. Như Lai hôm nay khen ngợi công đức của bệ hạ.

Này vua Khẩn-na-la! Công đức của bệ hạ, ta cũng mong có được chút ít.

Khi đó, vua Đại thọ Khẩn-na-la nói với vua A-xà-thế:

–Đại vương biết cho, công đức của tôi có, tôi xin cho bệ hạ và các chúng sinh hết. Vì sao vậy? Này Đại vương! Các việc công đức Bồ-tát có đều đem cho tất cả chúng sinh.

Vì sao vậy? Thưa Đại vương! vì pháp của Bồ-tát không có keo kiệt, công đức của họ có đều đem ban cho chúng sinh mà tâm họ vui vẻ không buồn, không phiền não. Đại vương nên biết! Bồ-tát đem công đức này hồi hướng về Nhất thiết trí cũng vì nuôi dưỡng tất cả chúng sinh. Vì sao vậy?

Thưa Đại vương! Vì Bồ-tát hộ niệm các chúng sinh vậy. Bồ-tát tu hành hạnh Bồ-đề là làm chỗ dựa cho chúng sinh.

Này Đại vương! Hôm nay, Đại vương cũng có được lợi ích, được Đức Phật Thế tôn, Văn-thù-sư-lợi… làm Thiện tri thức, được gần gũi chư vị để nghe kinh, thính pháp, chẳng bị các vô minh, hắc ám ngăn che, tội nghịch, tâm nghi, phiền não trừ diệt hết, được ánh sáng pháp rộng lớn, được Pháp nhãn vậy, không có phiền não, Đại vương yên ổn mà trụ. Vậy nên, này Đại vương! Phải tự khắc phục, gắng sức trở thành pháp khí. Nếu nghe được pháp, thậm chí chỉ một câu mà chẳng quên mất thì gọi là hộ trì chánh pháp.

Bấy giờ, Bồ-tát Thiên Quan bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Bồ-tát thành tựu được bao nhiêu pháp mới có thể là pháp khí?

Khi ấy, Phật bảo Bồ-tát Thiên Quan:

–Này Thiện nam! Pháp khí của Bồ-tát có ba mươi hai.

Những gì là ba mươi hai?

  1. Phật đã hộ trì là pháp khí Bồ-đề tâm.
  2. Chuyên tâm ngay thẳng là pháp khí vô vi.
  3. Thêm ý chí lớn là pháp khí căn lành.
  4. Tu hành theo đạo là pháp khí cội gốc Bồ-đề.
  5. Nhớ nghĩ chân chánh là pháp khí đa văn.
  6. Tuệ là pháp khí ra khỏi các đường.
  7. Tấn là pháp khí chứa nhóm nghĩa.
  8. Thí là pháp khí giàu có.
  9. Giới là pháp khí nguyện.
  10. Nhẫn là pháp khí ba mươi hai tướng trượng phu.
  11. Tinh tấn là pháp khí của tất cả Phật pháp.
  12. Thiền là pháp khí luyện tâm.
  13. Tuệ là pháp khí vượt chướng ngại.
  14. Đại Từ là pháp khí bình đẳng chúng sinh.
  15. Đại Bi là pháp khí cứu độ bần cùng.
  16. Đại Hỷ là pháp khí ưa thích Phật pháp.
  17. Đại Xả là pháp khí xa lìa ái, sân.
  18. Thiện tri thức là pháp khí các thiện căn.
  19. Tu tập đa văn là pháp khí Bát-nhã ba-la-mật.
  20. Xuất gia là pháp khí của sự lìa bỏ ràng buộc, chướng ngại.
  21. A-luyện-nhã xứ là pháp khí ít sự việc, không não loạn.
  22. Ưa nơi ở tịch tĩnh là pháp khí của các thiền định thần thông.
  23. Bốn nhiếp pháp là pháp khí độ chúng sinh.
  24. Hộ trì các pháp là pháp khí chiếu ánh sáng.
  25. Đà-la-ni là pháp khí nghe được tất cả các pháp chưa nghe.
  26. Biện tài là pháp khí đoạn trừ tất cả nghi hoặc.
  27. Niệm Phật là pháp khí được gặp chư Phật.
  28. Không có tâm não hại là pháp khí hộ trì tất cả căn lành.
  29. Pháp không là phap khí đoạn trừ ngã kiến.
  30. Nhân duyên là pháp khí bỏ châu báu.
  31. Vô sinh pháp nhẫn là pháp khí xả các chướng ngại được thọ ký.
  32. Duyên địa bất thoái là pháp khí vô úy.

Này Thiện nam! Đó là ba mươi hai pháp khí của Bồ-tát.

Khi Phật nói pháp này, mười ngàn chúng sinh phát tâm Vô thượng Bồ-đề cùng bạch Phật rằng:

–Bạch Thế Tôn! Nguyện cho chúng sinh được pháp khí này, cũng nguyện cho chúng con thành tựu được pháp khí này, như Phật đã nói!

Bấy giờ, Thế Tôn bảo vua Đại thọ Khẩn-na-la:

–Này Thiện nam! Ông hãy trở về chỗ ở, các quyến thuộc của ông có thể lo lắng!

Vua Khẩn-na-la bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nếu Bồ-tát có lo lắng thì đó không gọi là Bồtát. Bởi vì sao? Vì có thể nhẫn chịu sự lo lắng mới là Bồ-tát.

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát lo lắng? Sao gọi là Bồ-tát không có lo lắng?

Phật bảo vua Khẩn-na-la:

–Ông nên biết, Bồ-tát có bốn pháp thì có lo lắng.

Những gì là bốn pháp?

  1. Nghe có vô lượng vô biên chúng sinh thì tâm sinh kinh sợ.
  2. Nghe chịu vô lượng vô biên sinh tử thì tâm sinh kinh sợ.
  3. Nghe Phật Như lai có vô lượng trí tuệ thì tâm sinh kinh sợ.
  4. Nghe chứa nhóm vô lượng phước đức, trang nghiêm đầy đủ tướng tốt thì tâm sinh kinh sợ.

Này vua Khẩn-na-la! Bồ-tát thành tựu bốn pháp ấy thì sinh lo lắng.

Này vua Khẩn-na-la! Ông nên biết, Bồ-tát thành tựu được bốn pháp tâm không lo lắng.

Những gì là bốn pháp?

  1. Nghe có vô lượng vô biên chúng sinh thì ta quyết sẽ an trí họ ở đạo Niết-bàn mà không lo lắng.
  2. Nghe vô lượng sinh tử mà chẳng kinh sợ, quyết tu các căn lành, tâm không lo lắng.
  3. Nghe Phật Như lai có vô lượng trí rồi, ta quyết thành tựu mỹ mãn đại trí như thế mà không lo lắng.
  4. Nghe tập hợp vô lượng phước đức trang nghiêm, thành tựu mỹ man tướng hảo mà không lo lắng.

Đó là bốn pháp.

Này vua Khẩn-na-la! Ông nên biết, Bồ-tát lại thành tựu bốn pháp có lo lắng.

Những gì là bốn pháp?

  1. Lúc nào cũng muốn chứng được thừa Thanh văn.
  2. Lúc nào cũng muốn chứng được thừa Duyên giác.
  3. Khi chánh pháp sắp diệt thì buông bỏ chẳng hộ trì.
  4. Chẳng khuyên cho người khác an trụ Bồ-đề.

Đó là bốn pháp.

Này vua Khẩn-na-la! Ông nên biết, Bồ-tát lại có bốn pháp không có lo lắng.

Những gì là bốn pháp?

  1. Có gặp khổ bức thiết chẳng bỏ tâm Bồ-đề.
  2. Chẳng sinh tâm Thanh văn, Duyên giác.
  3. Thà bỏ thân mạng chẳng bỏ chánh pháp.
  4. Khuyên người phát tâm Bồ-đề cho dù vượt qua trăm ngàn do-tuần.

Đó là bốn pháp.

Này vua Khẩn-na-la! Ông nên biết, Bồ-tát lại thành tựu bốn pháp thì có lo lắng.

Những gì là bốn?

  1. Thấy người đến xin sinh lòng sân hận, trách mắng.
  2. Tự bằng lòng nằm yên.
  3. Chẳng tu tập, học rộng hiểu nhiều.
  4. Nếu nghe pháp rồi chẳng vì mọi người thuyết pháp lại. Đó là bốn pháp.

Này vua Khẩn-na-la! Ông nên phải biết, Bồ-tát lại có bốn pháp không có lo lắng.

Những gì là bốn?

  1. Thấy người đến xin rồi phát sinh tư tưởng Thiện tri thức, không có tâm làm tổn hại.
  2. Chẳng ưa tự an lạc, thường muốn mọi người cùng vui.
  3. Tu tập đa văn không nhàm chán, không cho là đủ.
  4. Đã nghe được pháp thì ở trong đại chúng vì người thuyết giảng lại, chẳng mong lợi dưỡng.

Đó là bốn pháp.

Này vua Khẩn-na-la! Ông nên biết, Bồ-tát lại thành tựu bốn pháp thì có lo lắng.

Những gì là bốn?

  1. Chẳng chứa nhóm đạo Ba-la-mật.
  2. Chẳng tu Nhiếp pháp.
  3. Chẳng siêng năng giáo hóa chúng sinh, có chút ít công đức tự cho là đủ.
  4. Chẳng tu vô lượng công đức của Bồ-tát.

Đó là bốn pháp.

Này vua Khẩn-na-la! Ông nên biết, Bồ-tát lại thành tựu bốn pháp thì không có lo lắng.

Những gì là bốn?

  1. Thường siêng năng tinh tấn tu các pháp Ba-la-mật như lửa cháy trên đầu.
  2. Thường siêng năng tinh tấn tập hợp bốn Nhiếp pháp.
  3. Thường siêng năng tu đầy đủ các công đức.
  4. Chứa nhóm vô lượng công đức của Bồ-tát.

Đó là bốn pháp.

Bấy giờ, Thế Tôn nói bốn pháp này rồi, sai vua Đại Thọ Khẩn-

na-la bảo với vua A-xà-thế:

–Này Đại vương! Hôm nay, Đại vương có nghe Phật thuyết giảng pháp bốn câu không lo lắng như vậy của Bồ-tát chăng?

Vua A-xà-thế liền bạch Phật rằng:

–Bạch Thế Tôn! Con đã nghe!

Phật nói:

–Này Đại vương! Vậy nên, nếu các vị Bồ-tát tu hành Bồ-đề thì chẳng nên lo lắng.

Vua A-xà-thế bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát tu hạnh Bồ-đề?

Lúc ấy, vì muốn thành tựu mỹ mãn cho Khẩn-na-la, Càn-thátbà, Ma-hầu-la-già… nên Thế Tôn khiến cho trong các tiếng nhạc phát ra pháp âm, lại muốn đáp lại việc vua A-xà-thế hỏi về vấn đề Bồ-tát tu hạnh Bồ-đề mà nói kệ tụng để hiển bày nghĩa ấy:

Nếu muốn tu hành hạnh lợi ích
Nghe được pháp rồi làm đúng theo
Tu hạnh Bồ-đề, hạnh tối thắng
Tu hành hạnh đó không lo lắng.
Tu hạnh an lạc vì chúng sinh
Hành Từ bình đẳng trong chúng sinh
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Các loại hạnh kia nhiều vô ngần.
Vì chúng sinh tu hạnh kiên cố
Người tu hành ý chí thanh tịnh
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia chẳng rơi xuống đường ác.
Tu theo bố thí, hạnh buông xả
Làm theo hạnh bỏ hết tất cả.
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Người kia không có hạnh lẫn tiếc
Tu theo tịnh giới, hạnh tịch tĩnh
Thân, miệng thanh tịnh, không hạnh nhơ.
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Người ấy không hề hủy phạm hạnh
Theo hạnh nhẫn nhục, hạnh lợi ích
Lìa khỏi hạnh lỗi lầm, sân hận.
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia không sân hận độc hại
Tu theo hạnh tinh tấn, lực trụ
Hạnh không nhàm chán trong sinh tử.
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia trọn không có biếng nhác
Tu theo hạnh thiền định Tam-muội
Thân tâm tĩnh lặng, không náo loạn.
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia trọn không có rối loạn
Tu theo hạnh trí tuệ Bo-đề
Tất cả pháp hạnh cũng như thế.
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia trọn không có vô trí
Tu theo hạnh Từ, tâm lợi ích
Đối với chúng sinh hạnh thắng
Bi. Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia trọn không có hại người
Tu theo hạnh Không, hạnh tịch tĩnh
Vô tướng, Vô nguyện, hạnh thanh tịnh.
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia trọn không có ước nguyện
Tu theo hạnh chân, hạnh thật đế
Đầy đủ các hạnh nhất thiết trí.
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia trọn không có chướng ngại
Tu theo hạnh tín, hạnh hoan hỷ
Khéo niệm, tư duy hạnh không loạn.
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia không hề có bất tín
Tu tập hạnh thiền định giải thoát
Thì đạt được diệu hạnh Ngũ thông.
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia không có gì ngăn ngại
Tu hành hạnh Phật và hạnh pháp
Cung cấp Tăng bảo, hạnh thanh tịnh.
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia thù thắng, thật tối thượng
Tu theo hạnh pháp và hạnh không
Hạnh giáo hóa tất cả chúng sinh.
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia không có nơi trụ, dừng
Tu theo hạnh Nhân, hạnh quả báo
Hạnh đoạn dứt tất cả hữu biên.
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia không thể bị nhiễm trước
Tu theo hạnh thanh tịnh, vô cấu
Hạnh giải thoát hết các kết sử.
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia không thể có phiền não
Tu theo hạnh an ổn giải thoát
Hạnh vô úy thí các chúng sinh.
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia có đủ tất cả nguyện
Tu theo hạnh tháng và hạnh ngày
Như hạnh hoa sen không nhiễm ô.
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Đó là bậc người, trời kính lễ
Tu hạnh Đế Thích, hạnh Phạm vương
Là diệu hạnh của pháp thanh tịnh.
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh đó khiến ma quân kinh sợ
Tu theo hạnh thắng, hạnh tối thượng
Hạnh đoạn trừ tham dục, sân hận.
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia không hề có sân si
Tu theo hạnh ngoại đạo cấm giới
Diệu hạnh của Tuệ nhãn thanh tịnh
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia không có chút vọng tưởng
Tu theo hạnh điều phục tịch tĩnh
Hạnh không có danh, sắc, loạn cuồng
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Đó là bậc người, trời kính lễ
Tu theo hạnh dễ, hạnh ích lợi
Hạnh thắng diệu trừ đạo sai trái
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Người kia thường có hạnh trí tuệ
Tu hạnh cầu tấn, hạnh mạnh mẽ
Hay dũng mãnh, ma quân sợ hãi.
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Người đó biết rõ chốn đạo tràng
Tu hạnh không ngăn, hạnh hiển bày
Đạt được diệu hạnh Đà-la-ni.
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia chẳng mất đi quả báo
Tu tập hạnh chánh, hạnh tịch tĩnh
Hạnh thường xuất gia ở mọi lúc
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia tu đúng như lời nói
Tu theo hạnh thắng, hạnh Trưởng giả
Làm theo thế gian không thắng hạnh.
Tu theo hạnh phương tiện tương ưng
Bỏ đi hạnh thiền lạc vi diệu
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia không hề có phiền não.
Tu theo hạnh đời, hạnh lìa đời
Hạnh Dục giới, Sắc giới, Vô sắc
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Hạnh kia không có điều sợ hãi.
Tu hạnh biến khắp, hạnh tất cả
Đầy đủ diệu hạnh, các căn lành
Tu hành hạnh Bồ-đề tối thắng
Bậc Trí kia giống như hư không.

Khi Phật nói về pháp hạnh của Bồ-tát, năm trăm Bồ-tát đạt được pháp Nhẫn vô sinh, vua A-xà-thế và quyến thuộc, Bà-la-môn, cư sĩ trong thành Vương xá và tám ngàn chúng sinh trong số quyến thuộc của Khẩn-na-la đã phát tam vô thượng Bồ-đề, cùng bạch Phật rằng:

–Bạch Thế Tôn! Chúng con sẽ nương theo các hạnh của Bồ-tát tu hành Bồ-đề như đã nói trên mà tu hành đúng như lời đã nói.

Bấy giờ, Thế Tôn nói với vua Đại thọ Khẩn-na-la:

–Hôm nay, ông hãy trở về chỗ ở của mình!

Lúc ấy, vua Đại thọ Khẩn-na-la và phu nhân cùng các con cái, tất cả quyến thuộc… đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu quanh bên phải ba vòng, sám hối Thế Tôn, tấu các âm nhạc, trời mưa xuống nhiều hoa, phóng ra ánh sáng lớn, đất đai chấn động. Quyến thuộc và vua Đại thọ Khẩn-na-la, ngay lúc ấy, liền quay trở về trong núi Hương sơn. Bấy giờ, Thích Đề-hoàn Nhân bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Vua Đại thọ Khẩn-na-la này mới có thể cúng dường Đức Phật chân thật, cúng dường pháp chân thật như thế.

Phật dạy:

–Này Kiều-thi-ca! Không chỉ một mình ông gọi là chân thật mà các Đế Thích, Phạm vương, Hộ thế đại vương, Thanh văn, Duyên giác khắp trong tam thiên đại thiên thế giới đều cho là vua Đại thọ Khẩn-na-la này chân thật thù thắng. Vì sao vậy?

Này Thiên chủ! Bồ-tát phát tâm rồi thì hơn tất cả Thanh văn, Duyên giac.

Này Kiều-thi-ca! Không ai có thể hơn Bồ-tát được chỉ trừ Như lai. Vì sao vậy?

Từ nơi Bồ-tát sinh ra Như lai, từ nơi Như Lai sinh ra tất cả Thanh văn, Duyên giác!

Bấy giờ, Thích Đề-hoàn Nhân nghe được điều Như Lai đã nói này liền rơi lệ nói như vầy:

–Ta nay vĩnh viễn bị lìa khỏi Đại thừa!

Lúc ấy Thiên tử Cù-di thưa với Thích Đề-hoàn Nhân:

–Thưa Thiên chủ phụ vương! Đúng vậy! Đúng vậy! Tất cả các hạnh, tất cả các pháp không có chướng ngại, từ vọng tưởng khởi lên, không thể phát sinh tâm đạo Vô thượng chánh chân, không thể thương xót tất cả chúng sinh, không thể tu theo tâm đại Từ. Nay Thiên chủ phụ vương lại nói gì? Đã vào chánh vị đốt cháy chủng tử thì ở Đại thừa này mãi mãi chẳng phải pháp khí kia.

Khi Thiên tử Cù-di nói lời này, năm trăm Thiên tử trong ba mươi ba tầng trời đều phát tâm đạo Vô thượng chánh chân.

Bấy giờ, Thiên tử Cù-di bạch Phật:

–Bạch Thế Ton! Hiện con muốn gần gũi với hạnh của Bồ-tát. Trăm ngàn ức kiếp tu hạnh khổ khó làm, Phật từ khi tu cho đến khi ở chỗ Phật Nhiên Đăng được Vô sinh pháp nhẫn, con nguyện xin Đức Phật nói ra chút ít, chúng con nghe rồi sẽ nương theo lời dạy tu hành và sẽ đạt được pháp đó.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Thiên tử Cù-di:

–Không có Bồ-tát nào không gieo trồng thiện căn mà được vô sinh nhẫn. Bồ-tát gieo trồng vô lượng căn lành thì sau đó mới đạt được Vô sinh pháp nhẫn.

Này Thiên tử Cù-di! Bồ-tát thành tựu bốn pháp này thì đạt được vô sinh pháp nhẫn. Những gì là bốn?

  1. Chư Phật bình đẳng.
  2. Các pháp bình đẳng.
  3. Thế giới bình đẳng.
  4. Chúng sinh bình đẳng.

Này Cù-di! Đó là bốn pháp mà Bồ-tát thành tựu thì được Vô

sinh pháp nhẫn. Bồ-tát lại thành tựu bốn pháp. Những gì là bốn?

  1. Quen thích bốn không.
  2. Quen thích đại Bi, ba môn giải thoát.
  3. Quen thích phương tiện, sáu pháp Ba-la-mật.
  4. Quen thích Thiền định và năm Thần thông.

Đó là bốn pháp. Bồ-tát lại thành tựu bốn pháp. Những gì là bốn?

Đó là:

  1. Biết tánh “ấm” tức là Bồ-đề.
  2. Biết tánh của các giới tập trung ở Bồ-đề, tin tính của Bồ-đề tức là tánh của các giới.
  3. Biết tánh của các “nhập” tập trung vào Bồ-đề, dùng tánh của Bồ-đề quán đến các “nhập”; tất cả các pháp tập trung vào Bồđề,
  4. Tánh của Bồ-đề tức là tính của các pháp, quyết định không có nghi ngơ.

Đó là bốn pháp. Bồ-tát lại thành tựu bốn pháp. Những gì là bốn?

  1. Biết tất cả các pháp trụ ở thật tế chẳng lay động.
  2. Biết tất cả các pháp trụ ở trong chân như.
  3. Tin các pháp trong ba đời tánh chẳng hoại.
  4. Quán cac pháp bình đẳng như tính hư không.

Này Cù-di! Đó là những bốn pháp mà Bồ-tát thành tựu thì được vô sinh pháp nhẫn.

Khi Phật nói pháp này, năm trăm Bồ-tát chứng đắc Vô sinh pháp nhẫn. Thiên tử Cù-di đạt được Thuận nhẫn.

Bấy giờ, Thế Tôn muốn đem kinh pháp này ấn chứng nên bảo Đại đức A-nan:

–Này A-nan! Ông hãy thọ trì kinh này! Kinh này tên là “Đại thọ Khẩn-na-la vương nhập tác nhất thiết pháp môn hạnh.” Đại đức A-nan bạch:

–Bạch Thế Tôn! Con đã thọ trì pháp chưa từng có vậy. Bạch

Thế Tôn! Kinh này rất thậm thâm vi diệu. Nghĩa kia quyết định, lời văn trang nghiêm.

Bạch Thế Tôn! Không có kinh nào khác có thể hơn được kinh này. Nay ở trong kinh này không gì mà chẳng khai thị.

Bạch Thế Tôn! Ở trước mắt con dù được pháp quang minh cũng không bằng được kinh này. Con nay tự hiểu ở trong kinh này đạt được trăm ngàn vạn ức công đức.

Bạch Thế Tôn! Con nay dùng trí tuệ có hạng lượng vào ngôi vị Thanh văn để nghe kinh ấy mà còn được ánh sáng pháp lớn lao như vậy, huống là Đại Bồ-tát thành tựu vô lượng biển cả pháp khí, dùng vô úy đại trí tu tập các pháp, vì các chúng sinh làm hạnh không mời, dùng vô lượng đại trí nghe pháp như thế thì được bao nhiêu pháp môn?

Phật dạy:

–Này A-nan! Giả sử tất cả ánh sáng mặt trăng mặt trời tam thiên đại thiên thế giới này so với ánh sáng pháp của các Bồ-tát đạt được thì chỉ cần ánh sáng của một lỗ chân lông thôi, đủ có thể làm lu mờ ánh sáng của các mặt trời, mặt trăng đó.

Này A-nan! Nếu tất cả lỗ chân lông của Phật Như Lai đều phóng ra ánh sáng thì các ánh sáng này đều có trí tuệ vậy.

Này A-nan! Như Lai có ánh sáng trí tuệ này. Như Lai dùng ánh sáng trí tuệ này có thể biết tất cả tâm hạnh của chúng sinh. Nếu có chúng sinh nghe được kinh này, đều sẽ được ánh sáng trí rộng lớn này chiếu soi. Nếu có ai biên chép, thọ trì đọc tụng thông suốt, rồi ở trong đại chúng vì người diễn nói rộng rãi, chính niệm suy nghĩ, theo đúng lời dạy mà tu hành thì người này nhất định chẳng lìa khỏi tâm Bồ-đề, giáo hóa chúng sinh, đại Bi trang nghiêm, mặc áo giáp đại Từ, hàng phục các ma.

Này A-nan! Ông nên biết, người như vậy là quyết định hướng về đạo tràng.

Lúc ấy Tôn giả A-nan bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nhờ thần lực của Đức Phật nên hôm nay con đã thọ trì được kinh pháp này.

Bạch Thế Tôn! Nếu có thiện nam, thiện nữ thọ trì, đọc tụng, biên chép kinh này, rồi ở trong đại chúng vì người thuyết giảng rộng rãi thì được bao nhiêu công đức?

Phật dạy:

–Này A-nan! Nếu có Bồ-tát, thiện nam, thiện nữ mỗi buổi sáng đem bảy báu đầy cả tam thiên đại thiên thế giới bố thí cho Tu-đà-hoàn, Tu-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán và các vị Duyên giác cho đến các Đức Phật nữa. Và cứ như thế, buổi trưa, buổi chiều, đầu đêm, giữa khuya, cuối đêm, Bồ-tát bố thí như trên, đến trọn một ngàn năm.

–Này A-nan! Ý ông thế nào? Thiện nam, thiện nữ, này có công đức nhiều lắm chang?

Tôn giả A-nan đáp:

–Rất nhiều, bạch Thế Tôn! Rất nhiều, thưa Đấng Thiện Thệ!

Bạch Thế Tôn! Nếu trong một ngày mà đã được công đức nhiều vô lượng vô biên huống là hàng ngàn năm.

Phật dạy:

–Này A-nan! Ta nay xướng lên khiến cho thiện nam, thiện nữ này vì chứng Bồ-đề, vì giáo hóa chúng sinh, vì chuyển bánh xe pháp mà thọ trì kinh này, lại đọc tụng, biên chép rồi ở trong đại chúng thuyết giảng, phước đó đã là thù thắng vi diệu, huống lại có thể nương theo lời dạy mà tu hành.

Này A-nan! Đối với kinh này, nếu có người thọ trì, thậm chí một bài kệ bốn câu thôi, ở trong đại chúng vì người thuyết giảng thì phước kia đã là thù thắng. Vì sao? Vì bố thí như vậy gọi là pháp thí, sự bố thí cao nhất trong việc bố thí. Thí như vậy tức là pháp thí. Đó là sự xả bỏ thù thắng, gọi là xả bỏ đối với pháp. Đó tên là “Thượng thọ” nghĩa là thọ nhận được pháp. Đó tên là “Thượng trì” nghĩa là gìn giữ pháp. Vì sao vậy?

Này A-nan! Bố thí pháp rồi có thể diệt hết kết sử, của báu cho rồi thêm lớn phiền não! Vậy nên, Bồ-tát vì diệt kết sử phải làm pháp thí. Chư Phật đã ấn khả. Như vậy, bố thí pháp thì có thể thu giữ tất cả công đức.

Này A-nan! Bồ-tát bố thí pháp thì có ba mươi hai công đức tiếng khen.

Những gì là ba mươi hai công đức?

  1. Có sự nhớ nghĩ chân chánh.
  2. Có được trí tuệ.
  3. Có được tinh tấn.
  4. Có xa lìa xan tham kết sử.
  5. Có ít dâm dục.
  6. Có ít sân hận.
  7. Có ít ngu si.
  8. Hàng phục các kết sử của mình, của người.
  9. Được nhiều người ái kính, chư Thiên khen ngợi, các Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà… thường theo hộ trì.
  10. Chẳng luống thọ dụng sự cúng dường của người.
  11. Y phục, đồ ăn, thức uống, ngọa cụ, thuốc men… chẳng cầu mà được.
  12. Danh tiếng vang xa, các ác quỷ… trong mười phương thế giới không thể phá hoại.
  13. Các Đức Phật Thế Tôn đã khen ngợi.
  14. Hộ trì chánh pháp, giữ gìn pháp tạng của Phật.
  15. Không rơi vào trong các đường ác.
  16. Sinh vào người, trời chẳng lấy làm khó.
  17. Luôn được gặp Phật.
  18. Chẳng lìa nghe Pháp.
  19. Chẳng lìa cúng dường Tăng.
  20. Biết được túc mạng.
  21. Sinh vào cõi Phật thanh tịnh.
  22. Sinh ra đời các căn đầy đủ.
  23. Thân được ba mươi hai tướng trang nghiêm.
  24. Làm thượng chủ.
  25. Gieo trồng căn bản chủng tử Đà-la-ni.
  26. Tạo nhân “vô đoạn biện trí”.
  27. Được quyến thuộc là người trí tuệ.
  28. Tập hợp các nhân đại trí.
  29. Mau chóng chứng đắc pháp.
  30. Chẳng khởi lòng nhớ nghĩ bất chính.
  31. Lìa bỏ tất cả tài thí của thế gian.
  32. Được biện tài đại pháp tạng vô tận.

Này A-nan! Bồ-tát thí pháp thì có ba mươi hai công đức tiếng khen.

Bấy giờ, Thích Đề-hoàn Nhân bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Chúng con cũng sẽ thọ trì kinh này. Bạch Thế Tôn! Sau khi Như Lai và Niết-bàn có “pháp khí chúng sinh” thì con sẽ khiến cho họ được nghe kinh này, khiến họ tin hiểu, con sẽ hộ vệ họ. Vì sao vậy?

Bạch Thế Tôn! Vì chúng con muốn được công đức như trên.

Lúa ấy, Thế Tôn khen Thích Đề-hoàn Nhân:

–Hay thay, hay thay! Này Thiên chủ! Ông nay mới có thể siêng năng hộ trì pháp, gầm tiếng gầm sư tử.

Này Thiên chủ! Nay ông dùng cái thiện căn hộ trì pháp này để tồn tại theo pháp của ta thì chúng A-tu-la đều sẽ hàng phục, chư Thiên được lợi ích. Vì sao vậy?

Này Kiều-thi-ca! Được thấy pháp vô úy như vậy, nên gọi là đối với các pháp không chỗ nhiễm trước.

Này Thiên chủ! Các điều sợ hãi đều do chấp trước ở ngã kiến vậy.

Này Thiên chủ! Nếu không vướng mắc chính là hộ trì chánh pháp.

Bấy giờ, chủ thế giới Ta-bà, vua Đại phạm thiên bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Con cũng xả vô lượng Thiền lạc để đi đến thành ấp, xóm làng, quận huyện mà lưu thông pháp này. Con cũng sẽ đến chỗ những người nghe pháp kia, khiến cho người nói pháp có được sức nhớ nghĩ kiên cố. Vì sao? Vì từ trong pháp này sinh ra vô lượng Thanh văn, Duyên giác, Đế Thích, Phạm vương, Hộ thế.

Bấy giờ, Tứ đại Thiên vương bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Bốn vua chúng con chính là Thanh văn của Phật, sẽ hộ trì kiên cố đối với kinh pháp này khiến được trụ thế lâu dài. Các quyến thuộc của con nếu có người không tin pháp này của Phật thì con điều phục khiến ho phải tin, ở trong pháp của Phật thêm siêng năng tinh tấn gần gũi yêu thích.

Bạch Thế Tôn! Nếu có Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tula, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già… mà có kẻ ác tâm, nếu muốn hàng phục thì phải tụng chú này. Đó là:

  1. Đa la ti.
  2. Y ti.
  3. Y na ti.
  4. Bà la ti.
  5. Hô lâu.
  6. Ma ha hô lâu.
  7. Hô lâu hô lâu.
  8. Y bà tri.
  9. Tỳ bà tri.
  10. Ba ly xa đà ni Kỳ na nê.
  11. Ba ca xa nê.
  12. Hi trì hi trì.
  13. Sinh tỳ trì.
  14. A xa.
  15. Đa xa.
  16. Ma la y để nê già hầu.
  17. Tát bà pha pha đề na.
  18. Tát bà di lợi xa pha đả khư đa na.
  19. A na ưu Đa-la tát bà phục đa na Phật đà bạt ni đa.
  20. Bốn Đại Thiên vương đã được nghe câu chú.
  21. Nhờ sức thần chú này mà các mong cầu ham muốn ngắn ngủi đều có thể hàng phục được hết.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Bồ-tát Di-lặc, Bồ-tát Thiên Quan:

–Này các Thiện trượng phu! Ta nay đem pháp Vô thượng Bồ-

đề khó được, đã tập hợp trong vô lượng ngàn vạn a-tăng-kỳ kiếp này phó chúc cho các ông, khiến cho pháp được trụ thế lâu dài, không đoạn diệt giữa chừng!

Bồ-tát Di-lặc, Bồ-tát Thiên Quan bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Sau khi Thế Tôn nhập Niết-bàn, chúng con sẽ lưu bố rộng rãi kinh pháp này, chúng con sẽ làm cho kinh pháp này đến tay các Bồ-tát có gieo trồng thiện căn sâu dày và cả các chúng sinh nữa; khiến được tự tại, hàng phục kiêu mạn, có thể thọ trì, tin hiểu kinh này. Sau khi Phật Niết-bàn, nếu có người được nghe kinh pháp này mà thọ trì, đọc tụng, biên chép, thuyết giảng thì phải biết là đều nhờ thần lực của Bồ-tát Di-lặc, của Bồ-tát Thiên Quan hộ trì.

Bấy giờ, Ma vương Ba-tuần đi đến trong pháp hội bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nếu Ngài vì mọi người nói các pháp của Thanh văn thì điều đó con chẳng sợ gì! Hôm nay, Thế Tôn diễn thuyết pháp Bồ-tát như vậy thì Bồ-tát in theo dấu ấn Như lai hộ trì tất cả chúng sinh về đường giải thoát. Ngài nói pháp như vậy chẳng khác nào hôm nay con bị trúng mũi tên lo buồn. Con nay tự biết phương tiện của con là sinh lão, nên nguyện xin Phật Thế tôn nắm lấy tay con, không diễn thuyết kinh pháp có sức công đức rất lớn như thế nữa, chớ khiến cho chúng con lại bị trúng mũi tên lo buồn!

Phật bảo Ba-tuần:

–Ngươi chớ sầu khổ! Phần nhiều chúng sinh ở tại cảnh giới của ngươi chẳng tin kinh này, có ít chúng sinh có thể tin nhận mà thôi.

Này Ba-tuần! Ông nên biết, giống như từ đại địa nhón lấy ít đất, sự tin pháp thậm thâm của chúng sinh cũng rất ít như vậy. Số người chẳng tin kinh này cũng nhiều như đại địa còn lại.

Này Ba-tuần! Ông nên vui mừng mới phải.

Này Ba-tuần! Hơn nữa, cõi chúng sinh nhiều vô lượng vô biên.

Khi Phật nói pháp này, vô lượng chúng sinh trụ nơi tâm đạo Vô thượng chánh chân, chín vạn hai ngàn Bồ-tát được vô sinh pháp nhẫn, tám vạn bốn ngàn chúng sinh xa lìa trần cấu, đắc pháp Nhãn tịnh, tám ngàn Tỳ-kheo hết các lậu hoặc, tâm được giải thoát.

Khi ấy, tam thiên đại thiên thế giới chấn động; ánh sáng lớn soi khắp, trời rưới mưa hoa, trăm ngàn nhạc cụ không tấu mà kêu, trăm ngàn vạn ức na-do-tha chư Thiên rất vui mừng, cùng ca ngợi:

–Chúng con nay ở trong cõi Diêm-phù-đề được gặp lại bánh xe pháp chuyển. Bạch Thế Tôn! Thuở trước ở tại nước Ba-la-nại, Ngài đã chuyển bánh xe pháp, làm lợi ích cho chúng sinh, nay lại thuyết giảng kinh này càng thêm lợi ích chúng sinh, thật là thù thắng! Trong số chúng sinh ấy có kẻ thọ trì kinh này thì người đó không bao lâu sẽ chuyển bánh xe pháp.

Bấy giờ, Bồ-tát Di-lặc, Bồ-tát Thiên Quan, Đại đức A-nan… bạch Phật:

–Bạch Thế Ton! Kinh này tên là gì? Thọ trì thế nào?

Phật dạy:

–Này các thiện nam tử! Kinh này tên là Đại thọ Khẩn-na-la sở vấn, còn có tên là Tuyên thuyết bất tư nghị pháp phẩm. Cứ y như thế mà thọ trì.

Phật nói kinh này rồi, Bồ-tát Di-lặc, Bồ-tát Thiên Quan, Đại đức A-nan… Tất cả đại chúng Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà… nghe Phật nói đều rất vui mừng.

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.

CHÚ THÍCH

  1.  Nguyên bản khuyết đi một pháp.