Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

KINH THUẦN CHÂN-ĐÀ-LA SỞ VẤN NHƯ LAI TAM-MUỘI

Hán dịch: Đời Hậu Hán, Tam tạng Pháp sư Chi-lâu-câu-sấm, người nước Nhục Chi
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

QUYỂN THƯỢNG

Nghe như vầy:

Một thuở nọ, Đức Phật cùng với sáu vạn Tỳ-kheo ngụ trong núi Kỳ-xà-quật, thuộc thành La-duyệt-kỳ và còn có bảy vạn ba ngàn Bồ-tát đều là những bậc tôn túc từ mười phương cõi Phật đến.

Các vị Bồ-tát đều đã đắc pháp Đà-la-ni, ý thích không bị chướng ngại, lòng luôn nghĩ tới sự hổ thẹn, chú trọng tu hành nhẫn nhục, do đó mà được chứng đắc.

Tâm của các vị như kim cương, không gì có thể chặt đứt được, tu tập giáo pháp của Phật, muon đầy đủ pháp Phật, việc làm muốn thù thắng, ý không lìa bỏ tâm Bồ-tát và cũng chỉ bảo người khác như vậy; thực hành bố thí, kiềm chế tâm không tán loạn, đem cho những vật ưa thích mà không uổng tiếc, giữ giới thanh tịnh, trang nghiêm thân, khẩu, ý, nhẫn nhục, hòa nhã. Đó là lực, đó là lời thệ nguyện. Trải qua nhiều a-tăng-kỳ kiếp với trăm ngàn việc làm luôn tinh tấn, không biếng trễ, thiền định nhất tâm vào Tam-muội tam-ma-việt.

Tâm của các vị ấy biết ý người khác, lấy đó để tự vui.

Công đức trí tuệ của các vị thông suốt mọi vấn đề.

Tâm vững như núi Tu-di, không gì ví dụ được.

Tâm ấy như địa, thủy, hỏa, phong, không yêu không ghét, luôn có lòng Từ.

Ánh sáng nơi thân sáng rỡ không bị chướng ngại, có lòng trắc ẩn yêu thương chúng sinh, lấy pháp tâm bình đẳng làm niềm vui, cứu giúp mọi người không để rơi vào hai đường có lợi hay không có lợi, khen hay chê, có tiếng tăm hay không có tiếng tăm, khổ hay vui đều vượt qua tất cả pháp thế gian; không tụ tập nơi hội hè, tránh xa các ngoại đạo, hàng phục quân ma.

Các vị này khó gặp, giống như hoa Ưu-bát-la lâu lắm mới nở một lần, làm người không đợi phải thỉnh mời cho tất cả mọi người, nên gọi là bạn. Bạn chính là sự đạt đến Niết-bàn với áo giáp đại thệ nguyện vô cùng cực làm pháp sâu xa, mạnh mẽ như sư tử, được dấu ấn của Như Lai ấn chứng, được thọ ký không chướng ngại.

Lời nói của các vị ấy chân thật, dùng đế pháp để suy xét, có ánh sáng chiếu sáng hơn ánh sáng mặt trời, mặt trăng, danh tiếng vang khắp mười phương, được tất cả chư Phật hộ trì, không làm cho lìa xa pháp.

Các vị đều giư gìn kho pháp sâu rộng, không đoạn mất Tam bảo, công đức lan khắp vô số cõi.

Tâm các vị ấy thanh tịnh. Ở cõi của mình dù có qua lại đến chỗ Phật cũng không nhầm lẫn, luôn giáo hóa hướng dẫn chúng sinh, đã nhập vào phương tiện thiện xảo của trí Bát-nhã ba-la-mật.

Đó là niềm vui mừng của tâm người hành Đầu-đà. Nhờ giáo pháp chiếu sáng, chúng sinh được thanh tịnh, biết tướng mọi người, làm việc vui vẻ, không làm mất tâm ý, là vị thầy thuốc có ân đức trị bệnh lão tử, cúng dường vô số chư Phật ở quá khứ.

Nhờ công đức ấy mà được tướng tốt đẹp, thông suốt pháp Không, Vô tướng, Vô nguyện, thấy các pháp không thật, như huyễn, như sóng nắng, như mộng, như bóng trong nước, như âm thanh vọng lại trong núi. Biết rõ âm thanh của tất cả, thâm nhập các pháp, trả lời thông suốt tất cả vấn nạn, làm theo ý mình, vận dụng trí tuệ để hiểu rõ đạo pháp, lần lần gần với mười Lực của Phật; dùng Nhục nhãn, Tuệ nhãn, Đạo nhãn, Pháp nhãn và Phật nhãn cứu vớt những kẻ bị mê lầm tăm tối, thể nhập sâu các hạnh công đức. Hiểu biết tạng Bồ-tát, nghe pháp không lay động, đắc được Tam-muội Tướng ấn, Tam-muội Kim cang hạnh, Tam-muội Kỳ pháp tại sở tác, Tammuội Bảo minh trì, Tam-muội Bất xả nhất thiết nhân. Sau khi biết rõ các tâm Tam-muội thì chứng đắc được trí tuệ của Phật, làm theo những hạnh của Phật đã làm, vốn đầy đủ tướng tốt đẹp.

Trong đó:

Có Bồ-tát tên Nhạo Tác.

Có Bồ-tát tên Nhạo Đẳng Hữu.

Có Bồ-tát tên Bảo Thủ.

Có Bồ-tát tên Minh Hoa.

Có Bồ-tát tên Bảo Diệm.

Có Bồ-tát tên Hỷ Kiến.

Có Bồ-tát tên Ý Hỷ.

Có Bồ-tát tên Hỷ Dĩ Nhãn Kiến.

Có Bồ-tát tên Trì Địa.

Có Bồ-tát tên Hoan Hỷ Tác.

Có Bồ-tát tên Đại Xứ Phế.

Có Bồ-tát tên Đại Lợi.

Có Bồ-tát tên Tịch Ma.

Có Bồ-tát tên Ý Hỷ Hương.

Có Bồ-tát tên Nhân Trung Chi Thiên.

Có Bồ-tát tên Đế Nguyện.

Có Bồ-tát tên Đẳng Thị.

Có Bồ-tát tên Tận Kiến Đẳng Bất Đẳng.

Có Bồ-tát tên Chấp Ngự.

Có Bồ-tát tên Nhất Thiện Vô Thiện Nhi Tác Thiện Chi.

Có Bồ-tát tên Di-lặc.

Có Bồ-tát tên Vũ Âm

Có Bồ-tát tên Lưỡng Nhược Sơn Bán.

Có Bồ-tát tên Lưỡng Sơn Đảnh.

Có Bồ-tát tên Từ Hạnh.

Có Bồ-tát tên Quang Anh.

Có Bồ-tát tên Quang Thanh Dương.

Có Bồ-tát tên Khải Minh Vương.

Có Bồ-tát tên Như Đương Nhãn Sở Kiến.

Có Bồ-tát tên Quang Đẳng Tri.

Có Bồ-tát tên Tôn Quan.

Có Bồ-tát tên Thiên Quan.

Có Bồ-tát tên Thiên Nhãn.

Có Bồ-tát tên Thị Xứ Tất Cát.

Có Bồ-tát tên Khoái Tý.

Có Bồ-tát tên Đế Nghị Ý.

Có Bồ-tát tên An Xứ Ý.

Có Bồ-tát tên An Xứ Độ.

Có Bồ-tát tên Vô Sở Động Nhi Độ.

Có Bồ-tát tên Kim Cương Hành Độ.

Có Bồ-tát tên Tam Thế Hành Độ.

Có Bồ-tát tên Đế Như Sự Bất Dị.

Có Bồ-tát tên Trì Nghiêm Dục Hảo.

Có Bồ-tát tên Bất Tận Dục.

Có Bồ-tát tên Bất Khể Lưu Dục.

Có Bồ-tát tên Ý Âm.

Có Bồ-tát tên Tịnh Âm.

Có Bồ-tát tên Bão Mãn Nhất Thiết Âm.

Có Bồ-tát tên Văn-thù-sư-lợi…

Bảy vạn ba ngàn Bồ-tát ấy ở cõi tam thiên đại thiên.

Lại có Thích, Phạm, Hộ thế, tất cả trưởng giả, chư Thiên, Long, Dạ-xoa, Càn-đà-la, A-tu-luân, Ca-lưu-la, Ma-hầu-lặc, Nhân phi nhân… đều đến chúng hội, ai cũng muốn nghe pháp của Đức Phật giảng nói.

Bấy giờ, Bồ-tát Đề-vô-ly đứng dậy, sửa pháp phục, quỳ thẳng, chắp tay khen ngợi Đức Phật:

–Ánh sáng nơi thế gian không bằng ánh sáng của đạo, vì nó làm nền tảng cho thế gian và chiếu sáng, cứu giúp cho những người tăm tối.

Nay con xin tự quay về với Bậc độ đời. Nhờ bố thí mà giữ gìn được mười lực, tự điều phục tâm mình và giáo hóa người khác. Đó là vị cứu độ tất cả, ai nấy đều tuân theo.

Nay con xin quay về với Đấng ba cõi không ai sánh bằng, làm việc gì cũng đều có lợi ích. Ánh sáng đó giống như vàng ròng, âm thanh hòa nhã, thân tướng đẹp đẽ, không ai sánh bằng.

Nay con xin quay về với Đấng được tất cả chúng sinh cung kính, đã vượt qua những gì cần vượt qua, thu phục hàng ngoại đạo, trí tuệ rất thù diệu, vượt lên trên những người có trí, không ai lay chuyển được, biết rõ hành vi của tất cả chúng sinh, công đức của Ngài rất thù thắng.

Nay con xin quay về với Đấng có lòng đại Bi vô tận. Đối với ái dục, Ngài đạt được vô sở đắc. Chúng ma dù chống đối thế nào cũng không thể tùy tiện; giữ gìn giới thanh tịnh an lạc. Đối với chư Thiên, Ngài là trời trong hàng trời, tâm không hề vướng mắc.

Nay con xin quay về với Đấng không ai chống lại nổi. Nghe đức của Ngài, ai nấy đều hoan hỷ. Hình tướng sáng như châu báu, ai thấy cũng yêu mến. Thực hành bố thí, lìa bỏ tham, san, si.

Nay con xin quay về với Đấng có đức như bầu trời bao trùm tất cả, dùng bốn đế để vượt qua bốn hang sâu, dù người mù cũng đều trông thấy, nói pháp không cùng tận, làm nền tảng cho tất cả chúng sinh trong ba đời.

Nay con xin quay về với Đấng dưới chân có dấu bánh xe ngàn căm. Ngài được chư Thiên và tất cả loài người phụng thờ, dù không phải nam hay không phải nữ đều được nương nhờ, chúng ma không dám quấy phá. Ngài được chúng sinh cung kính, tôn quý, tu tập và giữ gìn các đế chánh pháp, lòng Từ bi bao la cùng khắp, làm người dẫn đường cho chúng sinh trụ vào pháp bình đẳng.

Nay con xin quay về với Đấng không ai sánh bằng. Âm thanh hòa nhã, thanh tịnh, ai nghe cũng đều vui thích, tiếng như trời Phạm thiên, vang khắp mọi nơi, chúng sinh đều nghe đầy đủ âm thanh ấy.

Nay con xin quay về với đấng có chánh pháp chắc thật, tôn quý. Ngài đã giác ngộ Không, Vô tướng, Vô nguyen, trí tuệ sâu xa không có hạn lượng, đã thể nhập vào môn giải thoát, đó là công đức.

Nay con xin quay về với Đấng được giải thoát, biết rõ các pháp do nhân duyên sinh, công đức đạt được của vị ấy không ở trong, không ở ngoài, đều bình đẳng, giảng nói như thế nào thì đều thực hành như thế đó.

Nay con xin quay về với Đấng vượt qua những sự hiểu biết, không từ đâu sinh, cũng không đi về đâu; thấy các pháp đều giải thoát vì nó như huyễn, như sóng nắng.

Nay con xin quay về với công đức của pháp, chỗ sinh hay không có chỗ sinh đều vô sinh; sinh rồi diệt không cùng tận, chỗ an trụ đúng như pháp, giống như nẻo hội nhập của Đát-tát; suy xét rồi nói đúng vơi pháp; như Đát-tát không bị lay chuyển, đức như núi lớn, thân như Kim cương.

Nay con xin quay về với Đấng an ổn như núi, thân tâm hợp ý nhau, tiếng tốt lưu cả ba đời, ai cũng nghe biết; tất cả những câu hỏi đều được trả lời, không chút phiền muộn.

Phật bảo:

–Sau khi tán thán Phật xong nếu muốn xin hỏi điều chi thì cứ hỏi.

Đề-vô-ly thưa:

–Bạch Thế Tôn! Con có điều xin muốn thưa!

Phật dạy:

–Ông hỏi điều gì cứ tự nhiên.

Bồ-tát Đề-vô-ly thưa:

–Bạch Thế Tôn! Làm thế nào mà Bồ-tát nói pháp một cách tự tại để trang nghiêm thân? Vì sao nói rằng Bồ-tát thích pháp thâm diệu, pháp nào cũng thể nhập vào được?

Vì sao nói rằng Bồ-tát biết tâm của chúng sinh?

Vì sao nói rằng Bồ-tát giáo hóa tùy hỷ?

Vì sao nói rằng Bồ-tát tâm hành là một?

Vì sao nói rằng Bồ-tát biết nhân duyên tạo tác?

Vì sao nói rằng Bồ-tát vì trang nghiêm thân mà bố thí, giữ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, nhất tâm và trí tuệ?

Vì sao nói rằng Bồ-tát ở cõi Phạm thiên?

Vì sao nói rằng Bồ-tát có trí tuệ sâu xa?

Vì sao nói rằng Bồ-tát luôn có sự thù thắng?

Vì sao nói rằng Bồ-tát đối với Thanh văn, Bích-chi-phật, tất cả chúng sinh dù thị hiện các pháp nhưng không nhập vào trong pháp đó?

Vì sao nói rằng Bồ-tát lìa sinh tử mà không nhập Niết-bàn?

Vì sao nói rằng Bồ-tát biết tất cả chúng sinh không lìa pháp thân?

Vì sao nói rằng Bồ-tát không rời bản vị mà thị hiện khắp nơi?

Vì sao nói rằng Bồ-tát được tôn quý, phước của chư vị như kho tàng?

Vì sao nói rằng Bồ-tát tùy ý mà được nhập đạo?

Vì sao nói rằng Bồ-tát biết rõ các pháp?

Vì sao nói rằng việc làm của Bồ-tát luôn an ổn chắc chắn?

Vì sao nói rằng Bồ-tát dù ở thế gian, nhưng không vướng mắc?

Vì sao nói rằng Bồ-tát tự tại, đoan nghiêm, không ai sánh bằng?

Vì sao nói rằng Bồ-tát không lìa Phật?

Vì sao nói rằng Bồ-tát tu học an ổn, chắc chắn?

Vì sao nói rằng Bồ-tát với pháp không có tâm chấp giữ, không buông bỏ?

Vì sao nói rằng Bồ-tát cứu hộ chúng sinh?

Vì sao nói rằng Bồ-tát đạt chuyển pháp luân?

Vì sao nói rằng Bồ-tát đạt A-duy-nhan?

Đức Phật dạy:

–Lành thay, lành thay! Này Bồ-tát Đề-vô-ly! Ông hỏi rất đúng, làm cho những vị ở trong hội này được lợi ích. Tương lai, chắc chắn sẽ làm người dẫn đường cho chúng sinh, chính là người làm cho Maha-diễn được tồn tại lâu dài.

Phật dạy tiếp:

–Ông hãy lắng nghe cho kỹ những lời ta nói hôm nay.

Bồ-tát Đề-vô-ly thưa:

–Bạch Thế Tôn! Con muốn được nghe!

Phật dạy:

–Bồ-tát nhờ bốn việc ma được tự tại. Bốn việc đó là gì?

  1. Ánh sáng chiếu khắp tất cả không chướng ngại.
  2. Đối với tất cả châu báu nổi tiếng đem cho người đến xin, không luyến tiếc.
  3. Nếu có người hiểu kinh đang giảng nói pháp thì không nên làm gián đoạn nửa chừng, mà phải luôn ở một bên giúp đỡ.
  4. Nếu được mời giảng pháp, không nên từ chối, nương dựa chỗ chẳng thể nghĩ bàn của Như lai mà hoan hỷ nói pháp. Đối với việc làm, Bồ-tát không mong cầu chi cả, đem pháp để bố thí.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc thể nhập sâu vào các pháp, những gì làm ra bằng trí tuệ không lìa các công đức. Thế nào là bốn?

  1. Đối với mười hai nhân duyên, nhận biết một cách đúng đắn.
  2. Thương mình và người, vì cả hai không khác.
  3. Đối với sinh tử không nghĩ rằng từ đâu đến hay đi về đâu.
  4. Đối với tất cả pháp lấy không để thấy không.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc biết rõ tâm người và công đức của họ tang hay giảm. Bốn việc đó là gì?

  1. Hội nhập Pháp thân hoàn toàn thanh tịnh.
  2. Thị hiện những sự tốt đẹp.
  3. Lấy bốn việc để quán.
  4. Tâm không bị hoại, đạt được Tam-muội.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc theo những việc làm của chúng sinh mà giáo hóa họ. Bốn việc đó là gì?

  1. Trí tuệ bình đẳng.
  2. Giáo hóa tất cả mọi người.
  3. Quán biết các pháp.
  4. Tâm đã thanh tịnh và làm mọi người thanh tịnh.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc biết rõ hành vi nơi tâm của mọi người mà giáo hóa. Bốn việc đó là gì?

  1. Trí thể nhập vào các pháp.
  2. Tuệ không bị chướng ngại.
  3. Tâm không hai.
  4. Các triền cái tiềm phục không còn khởi lên nữa.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc biết tội phước tạo ra không mất. Bốn việc đó là gì?

  1. Tất cả không có gì để đoạn.
  2. Không có gì để chấp trước.
  3. Biết do nhân duyên tạo ra rồi tùy theo đó mà thị hiện, lấy pháp để giữ pháp.
  4. Không nghĩ có ngã, không nghĩ có người, theo đây giáo hóa thì không mất đạo pháp.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc dùng bố thí để trang nghiêm. Bốn việc đó là gì?

  1. Lấy tướng để trang nghiêm.
  2. Theo sở thích của người mà thị hiện làm cho họ tốt đẹp.
  3. Sắc tướng rất đẹp đẽ.
  4. Việc làm không cùng tận.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc dùng giới thanh tịnh để trang nghiêm. Bốn việc đó là gì?

  1. Làm Chuyển luân vương không mất tâm Bồ-tát.
  2. Được làm Thích Đề-hoàn Nhân, lấy tâm Bồ-tát để tự trang nghiêm.
  3. Làm Phạm thiên, lấy tâm Bồ-tát để trang nghiêm.
  4. Lìa xa tất cả đường ác, chỉ sinh lên cõi trời và làm người trong thế gian, lấy tâm Bồ-tát để trang nghiêm.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc lấy nhẫn nhục trang nghiêm. Bốn việc đó là gì?

  1. Âm thanh như tiếng trời Phạm âm, ai nghe cũng đều được lợi ích.
  2. Âm thanh hòa nhã như chim Ca-lăng.
  3. Mọi người ai cũng ưa thích.
  4. Có công đức kiên cố.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc lấy tinh tấn trang nghiêm. Bốn việc đó là gì?

  1. Thân như Kim cương, các tà đạo không hại được.
  2. Làm bạn với tất cả chúng sinh.
  3. Làm việc gì đều hoàn tất đầy đủ, không hối hận giữa chừng, học hỏi không nhàm chán.
  4. Tâm mong thích gì đều có nấy.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc lấy thiền định trang nghiêm. Bốn viec đó là gì?

  1. Làm việc không xúc phạm đến ai.
  2. Không cười nhạo.
  3. Không làm điều xấu ác.
  4. Tự làm chủ tâm mình.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc lấy trí tuệ trang nghiêm. Bốn việc ấy là gì?

  1. Không nghĩ có ngã, không nghĩ có nhân, không nghĩ có thọ, không nghĩ có mạng, không chấp thường, không chấp đoạn.
  2. Việc làm rất thù thắng.
  3. Thể nhập tất cả.
  4. Nói pháp không sợ sệt. Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc trí tuệ đạt đến bằng Phạm thiên. Bốn việc đó là gì?

  1. Lấy tâm Từ không để nghĩ đến chúng sinh.
  2. Giáo hóa mọi người bằng cách tăng thêm lòng thương yêu.
  3. Giữ gìn các pháp đã được giữ gìn.
  4. Bình đẳng với tất cả nhưng không lìa bỏ Phật. Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc không lìa trí. Bốn việc ấy là gì?

  1. An trụ trong bốn bậc thiền, không làm Bồ-tát lay động.
  2. Vận dụng Tam-muội Tam-ma-việt và phương tiện thiện xảo nên không sinh cõi Vô sắc.
  3. Tâm tự tại, nói năng không rời chánh pháp.
  4. Thấy chư Phật khắp mười phương. Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc tự tại. Thế nào là bốn?

  1. Bên trong tịch tĩnh, bên ngoài cũng tịch tĩnh.
  2. Hiểu rõ các pháp như huyễn.
  3. Lấy trí tuệ làm năng lực.
  4. Không tự cao mà phải vượt qua.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc để nhập sâu vào trí tuệ. Bốn việc đó là gì?

  1. Biết dục nhưng không đoạn dục, thủ chứng trung đạo.
  2. Biết sinh tử nên trong đó sử dụng phương tiện thiện xảo.
  3. Nghe những gì đều biết rõ là chánh đạo hay phi đạo mà không bỏ cái được nghe.
  4. Biết vô minh để tiếp cận mười hai nhân duyên.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc dùng pháp thị hiện La-hán, Bích-chi-phật, tất cả mọi người, nhưng trong đó không mong cầu. Thế nào là bốn?

  1. Thấy các Tam-muội như huyễn.
  2. Hiểu rõ các pháp để trang nghiêm.
  3. Xem xét kỹ những sự vui thích do mình đã hành động.
  4. Tự tâm biết rõ tất cả như huyễn.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc xa lìa sinh tử không thủ chứng Bát-niết-bàn. Bốn việc ấy là gì?

  1. Nhớ nghĩ chư Phật.
  2. Tâm Từ bi bình đẳng.
  3. Dùng phương tiện thiện xảo.
  4. Không quên thệ nguyện đã phát tâm.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc biết tất cả mọi người không lìa Pháp thân. Bốn việc ấy là gì?

  1. Thấy tất cả mọi người đều tự nhiên, họ thể nhập Pháp thân cũng tự nhiên.
  2. Biết tất cả mọi người tự nhiên.
  3. Người tự nhiên, tuệ tự nhiên, không nghi ngờ.
  4. Người tự nhiên, Nê-hoàn tự nhiên mà chứng đắc pháp Nhẫn. Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc không lìa cội gốc mà thấy không cội gốc. Bốn việc ấy là gì?

  1. Luôn nghĩ nhớ Nê-hoàn, muốn đầy đủ pháp Phật, tâm ý biết khắp tất cả.
  2. Thân thị hiện Chuyển luân vương, Phạm, Ma, Thích. Trong cõi ấy tu tập tạo các công đức khiến do pháp ấy mà được lãnh hội.
  3. Thân thị hiện ngu tối để làm cho kẻ thấp kém có được công đức.
  4. Cầu xin được gì, đích thân đem bố thí. Đối với hàng tôn quý thì thị hiện rất giàu sang đến giáo hóa họ.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc đem tưởng nhập vào vô tưởng. Thế nào là bốn?

  1. Dù trong sinh tử vô thường nhưng giữ tâm thanh tịnh.
  2. Do trước đã chịu khổ nên nay được đắc trí tuệ.
  3. Thấy tất cả pháp là vô ngã.
  4. Thấy Nê-hoàn tịch tĩnh.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc lìa các kiến chấp nơi pháp. Bốn việc đó là gì?

  1. Thanh tịnh.
  2. Với Tuệ nhãn thấy khắp mọi nơi.
  3. Phật nhãn chắc chắn ở ngay hiện tiền.
  4. Đã giác ngộ các pháp, được ấn chứng Nhất sinh bổ xứ. Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc quyết định một cách tự tại không nghi ngờ. Bốn việc đó là gì?

  1. Cầu mong điều gì đều không chướng ngại.
  2. Thể nhập vào trí tuệ chân thật.
  3. Không bị che phủ.
  4. Không lìa các pháp Đà-la-ni.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc mặc dù tùy thuận theo thế tục nhưng không vướng mắc. Thế nào là bốn?

  1. Biết tường tận việc thế gian.
  2. Độ thoát tất cả mọi người.
  3. Không còn tánh thương ghét.
  4. Làm thanh tịnh nguồn gốc, không bị cấu nhiễm. Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc an trụ trong chánh pháp. Bốn việc ấy là gì?

  1. Tâm tự tại.
  2. Tuệ tự tại.
  3. Trí tự tại.
  4. Phương tiện thiện xảo tự tại. Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc. Bốn việc gì?

  1. Không lìa Như Lai.
  2. Trước mọi người khen ngợi thân tướng Phật.
  3. Đem giáo pháp chiếu rọi vào người để họ phát tâm làm Bồ-tát.
  4. Luôn nghĩ nhớ đến Phật.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc tịch tĩnh biết rõ các pháp:

  1. Dùng đạo pháp biết rõ tận tường việc thế tục.
  2. Hiểu rõ các tuệ của mọi người.
  3. Nghe việc gì đều không nghi ngờ nên đạt được pháp Nhẫn.
  4. Không nghĩ hữu hay vô, không theo tập tục người đời. Đó là bốn.

Lại có bốn việc làm thầy không tham chấp. Bốn việc ấy là gì?

  1. Tạo điều kiện làm nhân duyên cho mọi người.
  2. Tâm chất phác, thật thà, không dua nịnh.
  3. Vì sự an vui của mọi người mà xả thân mạng, luôn lo lắng cho họ.
  4. Trí tuệ đạt được không vì bản thân mà chỉ vì mọi người. Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc được mọi người khen ngợi. Bốn việc ấy là gì?

  1. Tự xả bỏ thân mình, thương yêu người khác.
  2. Bỏ tất cả sự vui thích, lấy chánh pháp để tự vui.
  3. Nghe điều gì không tự cho là thông suốt.
  4. Tự trưởng dưỡng bằng chánh pháp.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc sẽ thành tựu mọi thứ luân chuyển. Bốn việc ấy là gì?

  1. Chứng đắc các Đà-la-ni, chứng đắc tùy theo ý muốn.
  2. Vô tận diệt.
  3. Thể nhập vào tâm, bên trong hiểu rõ các pháp.
  4. Hiểu rõ người khác.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn pháp dần đến A-duy-nhan. Những gì là bốn?

  1. Đã vượt khỏi sinh tử nhưng không lìa đạo Bồ-tát.
  2. Đã đạt pháp Nhẫn vô sở tùng sinh nên thọ nhận sinh tử do không lìa pháp.
  3. Đã đạt được pháp ấn Bất thoái chuyển.
  4. Nay chứng đắc pháp ấn Đát-tát-a-kiệt, đạt đến mười đạo địa, do đấy, theo thứ lớp thảy đều thấu tỏ.

Sau khi Đức Phật giảng nói bốn việc của Bồ-tát thì tam thiên đại thiên thế giới chấn động sáu cách, ánh sáng chiếu khắp cùng tận. Chư Thiên bay trên hư không tấu trăm ngàn âm nhạc để cúng dường Đức Phật.

Mưa hoa trời phát ra tiếng:

–Lành thay, lành thay! Những công hạnh của Đức Phật đã tu hành từ vô số kiếp, hôm nay con mới được nghe. Trong chúng hội, ai nghe pháp này đều do kiếp trước đã tạo nhiều công đức, nghe rồi đọc tụng thọ trì, lại giảng nói cho người, tâm vị ấy không bao giờ quên. Những công hạnh của các vị ấy tu hành cũng sẽ giống như Đức Phật. Hôm nay chúng con được lợi ích ấy. Vì sao? Vì đã được nghe pháp này.

Bấy giờ chư Thiên và tám vạn bốn ngàn người đều phát tâm Vô thượng Bồ-đề, một vạn hai ngàn Bồ-tát pháp Nhẫn vô sinh.

Bồ-tát Đề-vô-ly thưa:

–Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có người nghe kinh này rồi đọc tụng, thọ trì, khen ngợi, phụng thờ thì sẽ được bao nhiêu pháp công đức?

Đức Phật dạy:

–Sẽ được tám công đức:

  1. Có lòng tin kiên cố, không khác gì Bồ-tát.
  2. Đích thân đem công đức ban bố cho người để họ tăng trưởng lợi ích mà lòng không bao giờ hối hận.
  3. Nuôi tâm Từ bi vô lượng, đem giáo pháp chiếu soi vào mọi người.
  4. Vì pháp nên học hỏi không bao giờ nhàm chán, giống như biển cả luôn đón nhận các dòng nước.
  5. Muốn hộ trì chánh pháp.
  6. Tự trưởng dưỡng bằng công đức của giáo pháp. Mặc dù thân chết nhưng sắc tướng vẫn đẹp gấp bội.
  7. Thể nhập vào các phước công đức, đầy đủ nguyện xưa, được chư Phật ủng hộ.
  8. Thu phục quân ma, xa lìa mọi sợ hãi.

Bồ-tát nhờ tám sự việc này, sau khi Như Lai diệt độ sẽ được các pháp công đức.

Khi ấy, đại địa ở tam thien đại thiên thế giới chấn động sáu cách, tất cả đất đai đều bằng phẳng như lòng bàn tay. Núi non, đất liền, sông biển, rạch ngòi, khe hố đều thấy giống như đất ở trong nước, những loài trong nước đều không thấy điều này. Cây cối khô héo đã trăm năm, nay đều trổ rất nhiều hoa.

Ở chỗ Đức Phật, những cánh hoa ấy đều chỉa ra nghiêng về phía Ngài. Những cây tốt tươi khác cũng như vậy. Mặt đất mọc ra hoa sen lớn như bánh xe, có vô số màu sắc và ánh sáng chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới. Từ dưới nhìn lên chẳng thấy gì cả, chỉ nghe tiếng của âm nhạc rất hay.

Khi ấy, từ núi Băng, núi Hương, cây ấy tỏa ra mùi thơm thấu khắp mọi nơi. Hoa ấy cũng từ đất hiện ra, đến rải trên chỗ Đức Phật, đầy tràn nơi mặt đất ngập cả lối đi.

Cây Phật đang ngồi cũng trổ hoa, có tiếng nhạc như nhạc trời, phía trên Đức Phật có ba mươi vạn dặm lọng hoa bằng châu báu, che kín tam thiên đại thiên thế giới.

Tôn giả Xá-lợi-phất quỳ thẳng chắp tay:

–Bạch Thế Tôn! Vì nguyên nhân gì mà hiện ra những điềm lành này?

Đức Phật dạy Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Có vua tên Thuần-chân-đà-la ở núi Hương, cùng vô số trăm ngàn Thuần-chân-đà-la, vô số Kiền-đà-la, vô số chư Thiên cùng nhau đến đây nên có điềm lành ấy.

Đức Phật nói chưa dứt lời thì thấy Thuần-chân-đà-la với tám vạn bốn ngàn kỹ nhạc và vô số người cùng nhau đi đến. Hoa từ hư không rơi xuống giống như mưa từ trên cao đổ xuống. Tất cả những người đến cung kính, lễ Phật rồi đi nhiễu ba vòng rồi đứng ra phía trước. Vua Thuần-chân-đà-la cầm đàn lưu ly. Vì sao? Vì đó là bản nguyện.

Bốn phía có bốn vạn hai ngàn kỹ nhạc. Thuần-chân-đà-la đứng ở giữa, đồng thời đánh đàn; tiếng đàn vang khắp tam thiên đại thiên thế giới. Các kỹ nhạc của các cõi trời thuộc Dục giới đánh nghe không hay bằng tiếng đàn này. Vì sao? Vì bị tiếng đàn này lấn át nên các vị trời nơi cõi Dục, cõi Sắc không sánh bằng.

Khi Thuần-chân-đà-la đến chỗ Phật đánh đàn thì các cây cối, núi lớn, núi Bang, núi Mục-chân-lân tự nhiên lay động nhè nhẹ giống như múa và tất cả đều cung kính hướng về Đức Phật, như là lễ bái. Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, tất cả đều tôn trọng cung kính. Các vị Tỳ-kheo và Bồ-tát mới phát tâm, người trong chúng hội, trời, rồng đang ngồi cũng đều reo hò vui mừng, muốn đứng dậy múa.

Bồ-tát Đề-vô-ly hỏi:

–Thanh văn đã lìa các dục, đã chứng đắc tám Duy-vụ thiền, thấy rõ bốn Đế, nay sao lại múa?

Các Thanh văn trả lời:

–Chúng tôi không tự chủ được với tiếng đàn ấy. Đang ngồi mà nghe tiếng đàn thì không sao chịu nổi và cũng không thể kiềm chế tâm mình cho yên ổn.

Bồ-tát Đề-vô-ly hỏi Tôn giả Ma-ha Ca-diếp:

–Thưa Tôn giả! Tôn giả là vị tuổi cao đức trọng, biết nhàm chán, tự giữ đúng theo giới luật, được chư Thiên và người kính mến, tôn trọng, vì sao không thể kiềm chế tâm mà lại múa giống như trẻ con vậy?

Tôn giả Ma-ha Ca-diếp trả lời:

–Ví như một cơn gió lớn nổi lên thì cây cối dù to như cây đại thụ cũng không tự kiềm chế được. Vì sao? Vì tôi không tự chủ được trước tiếng đàn của vua Thuần-chân-đà-la, ví như khi gió lớn nổi lên. Đó là nguyên do khiến chúng tôi không tự giữ tâm mình được. Hôm nay mới biết điều của Thượng nhân làm, công đức ấy không thể sánh bằng. Các Thanh văn đều bị tiếng đàn kia che lấp.

Bồ-tát Đề-vô-ly nói với Tôn giả Ma-ha Ca-diếp:

–Thấy việc làm của các vị A-duy-việt-trí, nghe tiếng đàn ấy không vị nào rung động. Người có trí nghe vậy thì rối tâm nên không thể phát tâm Vô thượng Bồ-đề. Tất cả thần lực của Thanh văn đều bị tiếng đàn ấy che lấp, nhưng âm thanh ấy không thể nào làm lay động các vị Ma-ha-diễn. Tất cả tám vạn bốn ngàn âm điệu kỹ nhạc của Thuần-chân-đà-la được oai thần Phật đón nhận, làm cho phước đức nơi bổn nguyện của ông ta được thành tựu.

Cac tiếng nhạc ấy ai cũng nghe và họ nói:

“Các pháp bình đẳng và đều giải thoát. Thượng trung hạ đều thanh tịnh hoàn toàn như nhau. Với tất cả mọi người không chấp về người. Quá khứ, vị lai, hiện tại cũng đều như vậy. Nhưng tiếng nhạc được nghe đó, hiểu rõ ra là không sở hữu. Các pháp, tất cả mọi người và âm thanh cũng đều như vậy.”

“Tất cả cõi giống như một cõi. Vì đã đồng đẳng nên không có cõi khác.”

“Hiểu rõ không có sở hữu. Vì đồng đẳng nên nói các cõi không sinh, cũng không trưởng thành. Cho nên hoàn toàn không có thức mà tự nhiên; các sở hữu không sở hữu mà tự nhiên.”

“Không thể đắc ngoại hành, không đắc nội hành. Tuệ vốn không giống với pháp, nhưng chữ và pháp cũng không có sở hữu, nên cái tên cũng như vậy.”

“Biết danh sắc không sở hữu, hành đã không chấp trước thì quá khứ an trụ không cùng cực.”

“Đã được nghe pháp căn bản diệt tận không có sở hữu, không có chỗ đến, cũng không có chỗ trụ.”

“Những gì chấp trước chỉ có danh tự, nhưng khi đã biết rõ danh tự thì danh tự và pháp đều bình đẳng như nhau.”

“Tâm bình đẳng, vì bình đẳng nên không có sở hữu. Nó vốn co lay động nhưng không biết nhau. Dù tâm có đối tượng và suy nghĩ nhưng không có chỗ sinh. Với trí tuệ biết rõ như vậy tức là thể nhập vào pháp.”

“Các căn đã đoạn trừ bình đẳng, pháp trước và sau bình đẳng.

Biết ba đời bình đẳng thì trí tuệ thể nhập vô số.”

“Con người bị danh sắc trói buộc, đó là do con người tạo ra. Từ xưa đến nay, từ sinh đến lão nó đã không có. Đã biết do nhân duyên thì còn phải diệt. Nếu nói rằng có ngã, có nhân, đó là ngược lại với căn bản.”

“Chốn trụ của ngã là bình đẳng nên không có chỗ trụ. Các pháp cũng không có chỗ trụ. Biết trụ không có chỗ trụ, đó là nghe và tin một cách hoan hỷ.”

“Ví như mưa thì có sấm chớp, đó là cách tự nhiên trên trời. Tất cả các pháp giống như ngã nên nói rằng tự nhiên.”

“Ngã và nhân là tự nhiên không. Đã biết như vậy thì thể nhập vào dấu ấn Đà-la-ni, biết rõ các cửa đã được mở tung; vì tướng đồng với tướng nên không có tướng của pháp và không có không, không có hy vọng dùng chữ. Cho nên khác với pháp mà có thượng trung hạ. Chữ nó không tự biết dùng khác bởi vì không thể thấy.”

“Tâm ấy từ xưa nay hễ có nguồn gốc là tương tục, đã biết các pháp không sở hữu vì đoạn trừ bổn tế, đã đoạn trừ bản tế thì tất cả có hành động, đã biết bản tế bình đẳng thì đó là Từ bi. Lòng Từ bi thanh tịnh thì bình đẳng với khổ vui, không mừng không buồn; đó là bậc thượng nhân đã thể nhập vào bản tế.”

“Pháp học tịch tĩnh lại càng tịch tĩnh, dù nói hay không nói thì pháp đó không tăng giảm. Cho nên không mong cầu tịch tĩnh.”

“Tiếng giữa hư không không thể nào nắm bắt được, chỉ nghe mà không thể nói. Nếu có chỗ nghe, chỗ nói thì đều không thành thật.”

Khi nghe âm thanh ấy thì tám ngàn Bồ-tát chứng đắc pháp Nhẫn vô sinh.

Bồ-tát Đề-vô-ly thưa Phật:

–Âm thanh khen ngợi ấy từ đâu phát sinh?

Đức Phật dạy:

–Vua Thuần-chân-đà-la làm ra. Như vừa nói ra thì lập tức ghi nhận lời nói.

Đức Phật hỏi Thuần-chân-đà-la:

–Âm thanh khen ngợi ấy từ đâu phát ra?

Thuần-chân-đà-la thưa:

–Do tiếng người phát ra.

Hỏi:

–Tất cả tiếng người từ đâu phát ra? Từ hư không phát ra sao?

Bồ-tát Đề-vô-ly nói:

–Này Thuần-chân-đà-la! Tất cả tiếng người không phải từ ý phát ra.

Thuần-chân-đà-la hỏi Bồ-tát Đề-vô-ly:

–Tiếng ấy từ thân phát ra hay từ tâm phát ra?

Bồ-tát Đề-vô-ly nói:

–Không phải do thân hay do tâm phát ra. Vì sao? Vì thân không thường trụ, giống như cây cỏ không sống mãi, như tường vách không tồn tại lâu dài, có lúc nghiêng đổ. Còn tâm thì không hình tướng, không thể thấy, không thể nghe, không thể nói, nó như huyễn.

Thuần-chân-đà-la hỏi Bồ-tát Đề-vô-ly:

–Nếu không phải thân, không phải tâm thì tiếng ấy do đâu phát ra?

Bồ-tát Đề-vô-ly trả lời:

–Tất cả do niệm tự nhiên mà có âm thanh.

Thuần-chân-đà-la hỏi:

–Nếu Bồ-tát nói âm thanh từ nơi miệng mà có thì nay âm thanh khen ngợi của tôi do hư không mà phát ra ư? Do đó, các âm thanh không lìa hư không?

Thuần-chân-đà-la nói:

–Nếu Bồ-tát muốn biết rằng âm thanh đều do hư không mà tự nhiên có tiếng, thì chỉ nghe âm thanh chứ không thể thấy, vì nó liền diệt; cái diệt ấy cũng là không. Cho nên nói là tự nhiên.

Các pháp sở dĩ bình đẳng vì bình đẳng như hư không. Dù có nói được hay không nói cũng đều bình đẳng cho nên nói bình đẳng như hư không.

Tất cả pháp chỉ có thể nghe mà không thể thay. Pháp mà được

nghe ấy đối với sự nghe thì không thấy pháp ấy. Nếu âm thanh của pháp không thấy được thì âm thanh ấy không biết pháp.

Các pháp không hay biết, sở dĩ nghe được là nhờ dùng phương tiện thiện xảo. Nếu như không được nghe thì dùng phương tiện thiện xảo để biết, đối với pháp không mong cầu gì cả. Không mong cầu cho nên cần phải có năng lực kiên cố, không yếu mà lại mạnh mẽ, không ai có thể dứt đoạn. Không bị dứt đoạn thì không có sinh, không sinh thì không bị lệ thuộc, không bị lệ thuộc thì nhẹ nhàng, nhẹ nhàng thì thanh tịnh, thanh tịnh thì không còn cấu bẩn, không cấu bẩn thì sáng suốt càng sáng suốt. Sáng suốt đó là gốc của tâm, gốc của tâm là lỗi lầm.

Tội lỗi ấy hết rồi thì không còn vọng tưởng. Các vọng tưởng không còn thì ngay xứ ấy từ từ chuyển lên. Chuyển lên là nhẫn nhục của Bồ-tát. Đạt nhẫn rồi thì không có đối tượng để nhẫn; nhẫn về không cũng như nhẫn về người. Vì sao? Vì cái không không lìa người.

Thế nào là không? Người là không.

Nhẫn với vô tưởng và nhẫn với hữu tưởng. Vì sao? Vì tưởng là tự nhiên nên vô tưởng. Nên nhẫn vô nguyện cũng như nhẫn hữu nguyện. Vì sao? Vì nguyện và tưởng là tự nhiên, không có gốc của nguyện.

Các pháp Nê-hoàn cũng là nhẫn sinh tử. Cho nên sinh tử ví như huyễn mộng.

Bồ-tát chứng đắc nhẫn thì không còn nghi ngờ về hữu và vô, chắc chắn biết rõ tất cả chúng sinh. Nhờ được nhẫn nên biết rõ tất cả pháp không đến không đi, biết rõ các pháp đều trụ. Các pháp đều trụ thì biết tất cả chúng sinh cũng đều trụ. Ai đã thể nhập vào pháp ấy thì được Vo sinh pháp nhẫn. Chỉ có âm thanh pháp nhẫn ấy không thể nói năng, vốn nó không thể nói. Đức Phật là Đấng Chí Tôn, dù không nói pháp nhưng khiến mọi người đều hiểu rõ.

Bồ-tát Đề-vô-ly bạch Phật:

–Lành thay! Lời nói của Thuần-chân-đà-la rất vi diệu, làm hiểu rõ pháp sâu xa, chứng đắc nhẫn, được mọi người tôn quý. Tất cả nhẫn đã thể nhập được ấy rất là sâu rộng.

Và thưa Phật:

–Vua ấy tạo bao nhiêu công đức với Đức Phật mà muon gì cũng đều được tự tại như vậy?

Đức Phật dạy Bồ-tát Đề-vô-ly:

–Ông nên biết! Sông Hằng có vô số cát, cứ lấy một hạt cát làm thành một cõi Phật, đếm hết số lượng tinh tú trong đó thì còn tính đếm được. Nhưng số lượng công đức cúng dường Phật của Thuầnchân-đà-la thì không thể nào tính đếm được.

Bồ-tát Đề-vô-ly hỏi Thuần-chân-đà-la:

–Cúng dường Phật nhiều quá như vậy, công đức tụ hội cao vòi vọi, vậy sao không mau thành Phật?

Thuần-chân-đà-la nói:

–Bồ-tát nhờ mười việc không nhàm chán. Mười việc đó là gì?

  1. Cúng dường Như Lai không nhàm chán.
  2. Tạo công đức không nhàm chán.
  3. Học hỏi giáo pháp không nhàm chán.
  4. Với năm thiền chi của bốn bậc thiền, biết không nhàm chán.
  5. Thấy các pháp không nhàm chán.
  6. Muốn giảng dạy rộng rãi về giáo pháp không nhàm chán.
  7. Muốn chỉ dạy mọi người không nhàm chán.
  8. Luôn luôn hộ trì Chánh pháp không nhàm chán.
  9. Muốn đầy đủ Ba-la-mật không nhàm chán.
  10. Muốn cảm hóa, dìu dắt, giúp đỡ người không nhàm chán.

Đó là mười việc không nhàm chán của Bồ-tát.

Thuần-chân-đà-la thưa:

–Con nghe Đại Bồ-tát có Tam-muội tên Bảo Như Lai, ai được Tam-muội ấy thì đều có đầy đủ các thứ quý báu. Nếu có ai hỏi pháp thì vị ấy giảng nói tự tại.

Phật dạy:

–Ông hãy lắng nghe Ta nói.

Thuần-chân-đà-la thưa:

–Xin vâng! Con muốn được nghe.

Phật dạy:

–Bồ-tát không đoạn mất Phật, Pháp, Tăng, đó là ba sự phát tâm, nó có tám mươi pháp báu. Tám mươi pháp báu là gì?

  1. Tâm không quên Nhất thiết trí, đó là báu.
  2. Tâm không lìa bỏ lòng tin, đó là báu.
  3. Tâm huân tập các cong đức, không giải đãi, đó là báu.
  4. Tâm kiên cố không xả bỏ lời nguyện cầu của mình, đó là báu.
  5. Đem bố thí tất cả, tâm không luyến tiếc, ngược lại còn làm tăng trưởng lợi ích, đó là báu.
  6. Làm điều gì tâm chỉ nghĩ đến Bồ-tát, đó là báu.
  7. Tâm trang nghiêm, thân không phạm ba điều thuộc thân, đó là báu.
  8. Tâm thanh tịnh, không nói lời ác, đó là báu.
  9. Tâm trang nghiêm, lòng không nghĩ điều ác, đó là báu.
  10. Tâm đã giữ giới, đem giới trang nghiêm lại thân, không ham muốn, không nghĩ đến cái xấu của người, đó là báu.
  11. Tâm không bị chướng ngại, bình đẳng với chúng sinh, đó là báu.
  12. Tâm đã nhẫn nhục được trang nghiêm, nhẫn tất cả điều ác, đó là báu.
  13. Tâm không thương tiếc thân mạng, sống theo hạnh Bồ-tát, đó là báu.
  14. Tâm không thương ghét, không bị nó làm lay động, đó là báu.
  15. Tâm kiên cố, tinh tấn, không biếng nhác, đó là báu.
  16. Tâm nghĩ làm điều gì cũng được thành tựu, đó là báu.
  17. Tâm nghĩ gì làm đúng, không quên muốn được đầy đủ hạnh Bồ-tát, đó là báu.
  18. Tâm hành thiền Tam-muội Tam-ma-việt; phát tâm rồi thì việc làm được tự tại, đó là báu.
  19. Tâm cầu pháp muốn thể nhập vào các trí, đó là báu.
  20. Được nghe pháp, tâm tu tập tụng đọc, liền được tinh tấn, đó là báu.
  21. Nói pháp, tâm không mong cầu điều gì vì vượt qua các mong cầu, đó là báu.
  22. Tâm không hư dối, đó là báu.
  23. Tâm nghĩ đến chánh đạo và làm đúng theo, đó là báu.
  24. Những gì nghe được, làm một cách cẩn thận, đó là báu.
  25. Tâm đầy đủ trí tuệ rồi, không theo sự chỉ dạy của người khác, đó là báu.
  26. Tâm có lòng Từ vô cực để tự hộ mình, đó là báu.
  27. Tâm thương yêu vô cực, bình đẳng với người, đó là báu.
  28. Tâm có sự bảo hộ vô cực rồi, lấy chánh pháp để tự vui, đó là báu.
  29. Tâm đã bình đẳng vô cực, quán thấy các pháp, đó là báu.
  30. Trong sinh tử, tâm không lấy làm đau khổ vì đã thể nhập vào công đức, đó là báu.
  31. Tâm muốn chỉ dạy mọi người, phần nhiều nghĩ nhớ đến người, không nghĩ đến bản thân mình, đó là báu.
  32. Tâm không thấy thiếu pháp mà còn phân chia cho người để họ được học, đó là báu.
  33. Với đại trí, tâm hiểu tất cả vấn đề, có thần túc làm cảm động đến tất cả, đó là báu.
  34. Tâm gần gũi Ba-la-mật, điều gì không nghe thì học hỏi, đó là báu.
  35. Tâm xa lìa người ác, luôn tu tập các công đức, đó là báu.
  36. Tâm bình đẳng với tất cả chúng sinh, nhờ sự tu tập ấy nên không có hai tâm, đó là báu.
  37. Tâm biết sinh tử là bệnh đau khổ nên thể nhập vào ý mọi người, đó là báu.
  38. Tâm làm thuốc hay để trị các chứng bệnh cho chúng sinh, đó là báu.
  39. Tâm không xem thường người thiếu trí, phải đem pháp tôn trọng họ, đó là báu.
  40. Tâm không tự cao mà nhẫn với tất cả mọi người, đó là báu.
  41. Tâm không dua nịnh, đó là báu.
  42. Nghe pháp, tâm không quên vì an trụ vào pháp, đó là báu.
  43. Tâm tận lực hộ trì chánh pháp, luôn nghĩ nhớ báo ân Phật, đó là báu.
  44. Tâm luôn muốn báo ân với sự kiên cố sâu dày, đó là báu.
  45. Nếu bị ai xâm hại, tâm không nghĩ báo thù, đó là báu.
  46. Tâm vui thích ở núi rừng vì muốn giữ gìn pháp thanh tịnh, đó là báu.
  47. Tâm luôn nghĩ đến từ giã gia đình, làm Sa-môn vì để đạt được Chánh giác, đó là báu.
  48. Tâm luôn hướng về đạo, tự kiềm chế mình, phòng hộ các điều ác, đó là báu.
  49. Tâm biết đủ, làm người khác hoan hỷ, đó là báu.
  50. Với việc đời, tâm biết đủ, đó là không nhàm chán pháp, đó là báu.
  51. Tự hộ mình, tâm không theo đến nơi đông đảo ồn náo, đó là báu.
  52. Tâm không nhàm chán các công đức, với các tướng đầy đủ những vẻ đẹp, đó là báu.
  53. Tâm không nhàm chán trí tuệ, vì muốn quyết nghi cho mọi người, đó là báu.
  54. Tâm luôn nghĩ đến Phật vì không lìa Phật, đó là báu.
  55. Tâm luôn nghĩ đến pháp vì lời nói không lìa pháp, đó là báu.
  56. Tâm luôn nghĩ đến Tăng đạt được A-duy-việt-trí tăng, đó là báu.
  57. Tâm luôn nghĩ đến giới, không lìa hạnh Bồ-tát, đó là báu.
  58. Tâm luôn nghĩ đến bố thí, không tham tiếc thân mạng, đó là báu.
  59. Tâm luôn nghĩ đến cõi trời, liền nhập vào Nhất sinh bổ xứ, đó là báu.
  60. Tâm biết rõ bản tế, tìm hiểu các sở hữu, đó là báu.
  61. Tâm biết pháp vì không hoại Pháp thân, đó là báu.
  62. Làm việc gì, tâm đều biết đúng như việc ấy, biết rõ lời nói của chúng sinh, đó là báu.
  63. Tâm biết tự tại làm no đủ cho mọi người, đó là báu.
  64. Tâm được Đà-la-ni, nghe pháp rồi không hề quên mất, đó là báu.
  65. Tâm biết bổn pháp, hiểu rõ một cách tự nhiên, đó là báu.
  66. Tâm hộ tuệ, biết thức như huyễn, đó là báu.
  67. Tâm học rất kỹ, chắc chắn, do đó mà được giải thoát, việc làm không bị hoại, đó là báu.
  68. Tâm hộ pháp, muốn biết cái tự nhiên của con người, đó là báu.
  69. Tâm biết vô thường, khổ, sinh tử ở trong ba cõi mà không bị vướng mắc, đó là báu.
  70. Tâm quán các pháp đều không có ngã, không có người, đó là báu.
  71. Tâm nhập Nê-hoàn, nguồn gốc vốn tịch tĩnh, đó là báu.
  72. Tâm biết Không, Vô tướng, Vô nguyện. Đã giải thoát vượt qua gần đến cửa Nê-hoàn, đó là báu.
  73. Tâm không sinh, không chỗ sinh, không bị hoại, không bị diệt. Ai vượt qua khỏi các điều này thì được nhẫn, đó là báu.
  74. Tâm biết như huyễn, như mộng, như sóng nắng, như tiếng vang trong núi, như bong bóng trong nước, không kiên cố, không có sự mong cầu, đó là báu.
  75. Tâm vui vẻ, biết mười hai nhân duyên trừ bỏ đoạn tận, đó là báu.
  76. Tâm hiểu biết rất rõ, không tìm cầu, không rơi vào nhị biên, đó là báu.
  77. Tâm không tham dự vào cả hai vấn đề, dùng một vấn đề mà biết tất cả các pháp, đó là báu.
  78. Tâm đầy đủ các hạnh, không thoái lui, vượt qua các danh sắc, đó là báu.
  79. Tâm nhẹ dần vì đầy đủ các pháp, đó là báu.
  80. Tâm hòa hợp ba mươi bảy phẩm để vượt các pháp, đó là báu.

Đức Phật dạy Thuần-chân-đà-la:

–Nếu tu tập đầy đủ tám mươi điều thì chứng đắc Tam-muội Bảo Như Lai. Ai đã chứng đắc Tam-muội này thì không vướng mắc vào Đạo bảo và Dục bảo.

Sao gọi là Dục bảo?

Sao gọi là Đạo bảo?

–Dục bảo là sự tôn quý trong loài người, chư Thiên, Thích, Phạm, Tứ Thiên vương, Chuyển luân thánh vương. Người tôn quý như các bậc vương hầu, người tôn quý thì ở cõi trời hay cõi người cũng tự được tôn quý. Ai đã được như vậy thì không gì mạnh mẽ bằng và vui muốn được làm Bồ-tát. Đó gọi là Dục bảo.

–Đạo bảo là lấy pháp để giáo hóa thế tục. Lấy pháp gì để giáo hóa thế gian? Đó là lấy giáo pháp. Vì sao? Vì muốn làm việc gì cũng nhờ nơi trí tuệ. Tuệ là đạo pháp. Giống như các dòng nước đều chảy về biển cả. Như núi Tu-di cao quý nhất trong các núi. Trong các vì sao, ánh sáng của trăng là sáng nhất. Như mặt trời chiếu sáng chỗ tối tăm. Trong các loài thú, sư tử là mạnh nhất. Trong loài người, vua là trên hết. Ở cõi Đao-lợi, Đế Thích là trên hết. Như trong chúng Phạm, Phạm thiên là hơn cả. Do đó, tuệ tôn quý hơn các pháp, cho nên nói là vua trí tuệ.

Vì thế, ai muốn giải thoát thì nhờ trí tuệ mà được độ, vì đó là đạo an ổn. Giống như nơi tối tăm được sáng là nhờ có ngọn đuốc, là người mạnh mẽ thu phục quân ma, là y vương điều chế thuốc thang, là thầy hiểu rõ các việc. Như giương cung bắn, dù có xa mấy cũng trúng đích. Như lực sĩ dẫn binh đi đánh được chiến thắng, địch không ai toàn mạng. Còn như dùng trí tuệ phá trừ ngu tối thì chúng đều tận diệt. Vì sao? Vì khử trừ dứt mọi cấu uế.

Tâm bình đẳng không sai khác, không tranh cãi giành giật với người, không hại hay oán hận người, việc làm đều được hoàn toàn rốt ráo vì tuệ ấy trung thực, chất phác, làm việc gì đều chí thành, đó là nhất tâm.

Tất cả đều bình đẳng, đó là nhân duyên để đoạn trừ.

Đem Thần túc hòa hợp với các công đức, đó là căn bản.

Những việc làm theo sau, đó là lực.

Đối với vô trí cho là trí, đó là giác.

Chỉ con đường tắt cho người, đó là đạo.

Đã tịch tĩnh mà lại tịch tĩnh, hướng quán mà quán, muốn làm ánh sáng chiếu nơi tăm tối. Bóng tối hết rồi thì sáng. Vì ánh sáng ấy tự nhiên, không cấu bẩn, thanh tịnh trừ bỏ các ham muốn. Trừ bỏ ham muốn thì không còn thấy các cõi đã độ thoát. Nếu không còn các cõi thì bên trong đã tịch tĩnh, thông suốt các không vì thể nhập vào Không. Lìa các nẻo kiến chấp đó là Vô tướng. Không cầu tịch tĩnh là Vô nguyện.

Đã vượt qua ba cõi, vì tướng mà không có tướng đó là tướng. Tướng ấy bình đẳng với hư không. Vì sao? Vì vô cầu đó là Bố thí.

Vượt qua ngã sở chẳng phải là ngã sở, không còn mong cầu, đó là Giới.

Ngã không có chỗ trụ, đó là Nhẫn.

Không nắm bắt, không xả bỏ, đó là Tinh tấn.

Không tăng giảm, đó là Thiền.

Không biết xứ sở, đó là Tuệ.

Được thể nhập vào tất cả là đều do tuệ. Được rồi thì tương đắc với phương tiện thiện xảo, giống như mộng. Đã trang nghiêm bằng vô ngã thì mỗi hành động đều có công đức, lìa các nẻo trụ chấp.

Phật dạy Thuần-chân-đà-la:

–Đó là Tuệ bảo. Nếu Bồ-tát đầy đủ Tuệ bảo thì đạt được Tammuội Bảo Như Lai. Ví như biển cả dung chứa các dòng nước nên chữ “Bảo” do đây mà có. Bồ-tát nào đạt Tam-muội này thì dung nạp tất cả mọi người, là nơi tập hợp các pháp, là ánh sáng trong các báu, là nguồn gốc của các báu. Cho nên đối với Tam bảo, không thể biết hết được.

Bồ-tát Đề-vô-ly thưa:

–Vua Thuần-chân-đà-la có đạt được Tam-muội ấy không?

Phật dạy:

–Ông hãy đích thân đến hỏi Thuần-chân-đà-la ấy.

Bồ-tát Đề-vô-ly hỏi Thuần-chân-đà-la:

–Ông có chứng đắc Tam-muội ấy không?

Thuần-chân-đà-la trả lời:

–Tam-muội ấy không phải làm ra, đó là niệm trụ. Dù tôi chứng đắc, hay tôi không chứng đắc thì Tam-muội không có cái để chứng đắc.

Tam-muội ấy không có sắc nên không thể biết. Thọ, tưởng, hành, thức đều không thể biết.

Tam-muội ấy không thể dùng sắc để thấy, không thể nghe, không có tướng sinh, không có tướng tận, không có tướng có; đối với tướng và tướng của tướng không thể quán, không thể thấy. Nếu nói tôi có thể thấy, tôi có thể quán thì không phải là Tam-muội. Vì sao? Vì còn có tưởng về nhân duyên.

Tam-muội không có tưởng về nhân duyên, vì Tam-muội bình đẳng với pháp. Đã bình đẳng với pháp thì ngã cũng vậy. Tất cả mọi người bình đẳng với một người. Vì sao? Vì bình đẳng với tất cả không.

Tam-muội là tướng không, mọi người không có tưởng, nếu không có tưởng tức là tướng Tam-muội. Mọi người không có nguyện, không có nguyện là tướng Tam-muội. Mọi người đều thanh tịnh, đều thanh tịnh là tướng Tam-muội. Mọi người không có ngã, không có ngã là tướng Tam-muội. Không có thân, không có mềm mại, việc làm cũng không thể thủ đắc. Nếu nói tôi biết pháp, tôi thấy pháp thì đều không thể có. Vì vậy không thể theo sự hy vọng mà có được.

Bồ-tát Đề-vô-ly thưa Phật:

–Con thấy y phục của Thuần-chân-đà-la mặc là của thể nữ và kỹ nhạc. Vậy là dâm dật, không biết thể nhập vào pháp sâu xa vi diệu, mà lại nói là tự tại như pháp.

Phật dạy:

–Bồ-tát đã nhập vào tuệ sâu xa, rõ phương tiện thiện xảo. Đạo ấy không có gì mà không làm được. Thuần-chân đã cầm đàn đánh, ai cũng nghe tiếng đàn ấy, làm cho bảy mươi ức Chân-đà-la, ba mươi ức Kiền-đà-la, tám vạn bốn ngàn trời, người đi theo đều phát tâm cầu đạo quả Vô thượng Bồ-đề.

Bồ-tát nhờ tuệ phương tiện thiện xao ấy mà liền được tiếng thơm vang lừng. Người ở địa vị tôn quý nhiều vô số nên làm nền tảng cho họ. Như người đốt lửa, nếu không bỏ thêm củi vào thì biết rằng không lâu lửa sẽ tắt.

Bồ-tát trụ một mình thì không thể làm gốc cho người, phải hòa hợp với người thì mới có thể làm lợi ích cho họ. Muốn làm cho lửa cháy lớn thì phải chất thêm củi vào. Cho nên để có ánh sáng lớn, Bồ-tát phải lấy người làm củi thì mới có ánh sáng lớn được.

Phật dạy:

–Người được Bồ-tát thọ nhận đều đã được đắc bổn.

Bồ-tát Đề-vô-ly thưa Phật:

–Thuần-chân-đà-la làm sao có thể đem những âm thanh kỹ nhạc để khiến người phát tâm cầu đạo quả Vô thượng Bồ-đề?

Đức Phật dạy:

–Vì Thuần-chân-đà-la, Kiền-đà-la đều thích kỹ nhạc nên lấy kỹ nhạc để làm cho họ vui, tất cả đều hoan hỷ.

Biết họ được vui vẻ rồi làm cho họ nghe tiếng Phật, nghe tiếng Pháp và nghe tiếng Tăng, khen ngợi Bồ-tát có đức cao quý; đem Nhất thiết trí huân tập vào tâm họ.

Chỉ cho họ nghe tiếng Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Nhất tâm, Trí tuệ, Từ bi, Ý chỉ, Ý đoạn, Thần túc, Căn, Lực, Giác, Đạo, hướng quán, duy vụ Tam-muội tam-ma-việt.

Nghe tiếng vô thường, khổ, vô ngã, tịch diệt; nghe tiếng không, vô tướng, vô tác, vô sinh, vô sở sinh, không sinh tử.

Nghe tiếng Đà-la-ni của Bồ-tát, Tam-muội Kim cương hạnh, Tam-muội Tịnh tạng chư pháp vương ấn hải ấn, Tam-muội Nhập nhất thiết chư pháp tự tứ chư pháp, Tam-muội Trang nghiêm, Tammuội Bảo Như Lai, Tam-muội Bảo tự nhiên, Tam-muội Tri thiền, Tam-muội Hoan hỷ, Tam-muội Linh địa tất tác liên hoa, Tam-muội Liên hoa tôn, Tam-muội Vô sở bất biến nhập, Tam-muội Kỳ ý sai đặc, Tam-muội Đại diện minh, Tam-muội Sư tử minh, Tam-muội Vô ương số nhân, Tam-muội Dĩ nhập bổn, Tam-muội Kim cương thự, Tam-muội Kim cương tràng phan, Tam-muội Nhược kim cương, Tam-muội Kim cương tế, Tam-muội Như địa, Tam-muội Nhược Tudi, Tam-muội Nhược kim cương trụ, Tam-muội Minh hoa, Tam-muội Kỳ tâm tự tứ, Tam-muội Tri nhất thiết nhập, Tam-muội Nhất thiết sở hành kỳ địa nhân thị, Tam-muội Thậm thâm toan, Tam-muội Khai minh, Tam-muội Tri nhất thiết nhân tâm hành, Tam-muội Sở lạc, Tam-muội Sinh tuần, Tam-muội Hàng phục chúng ma, Tam-muội Hiện chư sắc, Tam-muội Các nhập kỳ âm, Tam-muội Pháp hành, Tam-muội Tuệ địa thủ, Tam-muoi Địa thủ, Tam-muội Kiến đế sở hữu, Tam-muội Giải chư phược, Tam-muội Tắc nhập chư nhân duyên.

 

QUYỂN TRUNG

Đức Phật dạy:

–Thuần-chân-đà-la có âm thanh kỹ nhạc như vậy, nhờ âm thanh ấy mà làm cho người phát tâm cầu đạo quả Bồ-đề. Công đức ấy rất là sâu dày.

Khi Đức Phật giảng nói về công đức của Thuần-chân-đà-la, từ nơi vạt áo của đại chúng trong pháp hội đều hóa đầy hoa sen. Các vị đứng dậy, đem hoa ấy rải lên Thuần-chân-đà-la, Thuần-chân-đà-la dùng vai phải đón nhận hoa. Hoa ấy không rơi xuống đất, ông ta đem hoa dâng cúng dường Phật. Từ phía trên Đức Phật, hoa ấy hóa thành một lọng hoa bằng châu báu che khắp ngàn cõi Phật. Lọng hoa đó xen kẽ gần trăm ngàn viên ngọc quý. Ánh sáng nơi mỗi viên ngọc tỏa ra ức trăm vầng ánh sáng, mỗi vầng ánh sáng có một hoa sen nhiều màu sắc và rất thơm. Trên mỗi hoa sen có một Đức Phật ngồi giống như Đức Thích-ca Văn.

Chư Phật nói:

–Lành thay, lành thay! Này Thuần-chân-đà-la! Người được ông giáo hóa rất nhiều và họ đều phát tâm Vô thượng Bo-đề. Việc làm của Bồ-tát đã vượt qua cảnh giới của mình, nhưng thị hiện vượt qua sinh tử mà vẫn thấy như cũ. Không trụ Nê-hoàn thì vì chúng sinh mà đi trong ba cõi.

Nghĩ đến chư Phật đang ngồi, Thuần-chân-đà-la đem lọng hoa báu che phía trên, và ngay lúc đó ông ta vào Tam-muội. Tam-muội ấy gọi là Nghiêm cái, và tức thời trên chỗ chư Phật ngồi đều có lọng hoa. Các Bồ-tát, Tỳ-kheo Tăng, người trong pháp hội đều có lọng hoa và tay cầm cán lọng. Các Bồ-tát, các Tỳ-kheo Tăng đem lọng

hoa đến cúng dường chư Phật. Thuần-chân-đà-la nghĩ: “Muốn thỉnh Phật và chư hóa Phật cùng Bồ-tát, Tỳ-kheo Tăng đến núi Hương, muốn làm cho những người trong cung thất của mình và chư Thiên, quỷ thần đều được nghe pháp và được an vui, với mục đích làm cho họ thấy rõ việc cúng dường Phật làm điều căn bản, nhờ đó được phước đức.”

Thuần-chân-đà-la đứng dậy, lạy sát đất, thưa Phật:

–Xin thỉnh Như Lai, chư Bồ-tát cùng chúng Tỳ-kheo đến núi Hương. Chúng con xin cúng dường thức ăn uống bảy ngày để mọi người nhờ đó mà tăng trưởng công đức.

Đức Phật im lặng nhận lời.

Thuần-chân-đà-la rất vui mừng, liền trở về chỗ ngồi cùng tám vạn bốn ngàn người đánh đàn, tấu nhạc để cúng dường Phật, và sau đó lạy Phật rồi trở về núi Hương.

Cung điện của Thuần-chân-đà-la dài rộng ba vạn dặm, có thể đón nhận Phật và những người theo đến. Tường vách, đất cung điện màu xanh pha lê, dùng vàng ròng trời rải trên đất, ở giữa treo xen lẫn vô số châu báu. Có đầy đủ giường ngồi, chân giường làm bằng châu báu nổi tiếng; dùng vải lụa trời làm đường viền. Tòa của Phật cao một ngàn ba trăm dặm, trang hoàng bằng ngọc châu, lan can bằng vật báu và xung quanh treo cờ lọng cũng bằng vật báu, có hương đốt rất thơm dịu, phía trên có cờ phướn che phủ. Hoa trời rải đầy trên đất. Gần chỗ Đức Phật ngồi, có bốn vạn cây bằng châu báu.

Thuần-chân-đà-la nói với quyến thuộc trong cung:

–Đức Phật rất khó gặp, ví như hoa Ưu-đàm-bát. Nay đã được gặp thì hãy cúng dường cho thật tốt, bỏ những ganh ghét, dua nịnh, tham lam. Ai loạn tâm, nên chánh niệm. Hãy chí tâm cúng dường, đem đủ loại hoa thơm đẹp dâng cúng dường. Đem hương thơm của Chiên-đàn đến núi Hương xông đốt để cúng dường Thế Tôn và trổi những âm nhạc hòa nhã rất hay. Thuần-chân-đà-la ưa thích gì thì nên làm để cúng dường, vì Đức Phật là bậc tối tôn trong loài người. Đem lọng hoa, cờ lụa và y phục đặc biệt đẹp đẽ với vô số màu sắc ở cõi trời dâng cúng dường. Đức Phật rất khó gặp, ai cúng dường Ngài thì đời sau được sinh làm Tứ vương, Đế Thích, Phạm thiên. Nếu làm như vậy thì được thân hình có nhiều tướng tốt, sống lâu, giàu có, tự tại, dung mạo đẹp đẽ không ai sánh bằng, tiếng tốt đồn xa. Người nào cúng dường Phật thì được công đức như vậy. Nếu ở cõi trời thì được an lạc. Được an ổn như vậy đều do cúng dường Phật mà đạt được. Nếu muốn được đạo Bích-chi-phật, Thanh văn, Bồ-tát, nhờ cúng dường Phật mà có thể hàng phục quân ma.

Thuần-chân-đà-la dạy bảo quyến thuộc trong cung như vậy và tất cả đều tuân mệnh, đem đầy đủ các thứ hương hoa, chế biến trăm món thức ăn ngon thơm. Ở phía Nam núi Hương, các kỹ nhạc đánh đàn.

Việc làm đã xong, sự mong ước đã mãn nguyện, tiếng đàn nghe vui vẻ vừa ý, ai cũng muốn được an ổn hoan hỷ, tướng mạo thường tịch, mỉm cười với mọi người. Sự tôn kính ấy không gì che lấp được. Chư Thiên, A-tu-la đều cúng dường.

Thưa đã đến giờ, xin phiền Ngài, bậc đã nắm giữ mười lực thù thắng, không ai có thể sánh kịp, hàng phục ngoại đạo, làm cho mọi người được lợi ích. Tâm đã thanh tịnh, dứt các trần cấu.

Thưa đã đến giờ, xin phiền Ngài, bậc đã không chút bụi trần, công đức không thể đếm nổi, ý rất tôn nghiêm cùng tận, sinh nơi giàu có tôn quý, bước đi của Ngài không ai theo kịp.

–Thưa đã đến giờ, xin phiền Ngài, bậc đã vĩnh viễn không bước vào ba đường ác nữa, không còn trở lại, vứt bỏ tất cả. Ai thay Ngài cũng đều hoan hỷ. Ánh sáng của Ngài sáng hơn ánh sáng của những vì sao, mặt trời, mặt trăng. Ánh sáng của Thích, Phạm không sánh bằng. Ánh sáng ấy sáng khắp, vượt hơn ba cõi, ai thấy ánh sáng ấy giống như trong chỗ tối tăm được thấy ngọn đuốc, ai nấy đều vui mừng. Ánh sáng nào cũng bị che lấp, chỉ có ánh sáng của Ngài không chỗ nào không chiếu tới. Tất cả kỹ nhạc của chư Thiên, Long… không vui thích nên không được giải thoát, ngày càng bị cấu bẩn. Nếu ai nghe tiếng của Đức Phật thì ai nấy đều được giải thoát, trừ sạch cấu bẩn. Các lương y khắp mười phương cũng không thể nào diệt trừ cấu bẩn nơi tâm người ấy được. Phật là Bậc Lương Y, ai nghe đến Ngài thì tâm cấu bẩn liền được tiêu sạch và an lạc. Phật là Đấng Chí Tôn trong các bậc tôn quý, không ai có thể sánh bằng. Lời nói của Ngài thanh tịnh, hoàn toàn chân thật. Tất cả kẻ xấu ác đều hàng phục.

Thưa đã đến giờ, xin phiền Ngài, bậc xưa đã thực hành bố thí, nay đang bố thí, tương lai sẽ lấy pháp bố thí; xưa đã tu hành giữ giới thanh tịnh, tự đạt đến an lạc giải thoát, do kiềm giữ tâm và nhẫn nhục mà được thành tựu.

Thưa đã đến giờ, xin phiền lòng Ngài, bậc đã an trụ trong tinh tấn, tự vui bằng thiền định. Tâm của Ngài đã an định, dùng ánh sáng trí tuệ để quán sát, tâm luôn hoan hỷ.

Thưa đã đến giờ, xin phiền lòng Ngài, bậc từ bi bình đẳng với tất cả. Sự yêu thương ấy vượt qua các oán hận, công đức ấy quá hơn Phạm thiên.

Thưa đã đến giờ, xin phiền lòng Ngài…

Đức Phật dạy các Tỳ-kheo Tăng hãy ôm bát đến nhà người thỉnh mời, mãn bảy ngày rồi về.

Bồ-tát Đề-vô-ly nghĩ: “Muốn làm xe giao lộ ngang dọc bốn trăm dặm, ở giữa có hoa sen để cho Đức Phật, các Bồ-tát và Tỳkheo Tăng, mỗi vị ngồi trên mỗi hoa sen, đến núi Hương.”

Thế rồi, Bồ-tát liền nhập vào Tam-muội, tức thời sự việc đã diễn ra theo ý. Bồ-tát bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nay đã có xe giao lộ, xin Ngài hãy đến đó. Đức Phật ngồi trên hoa sen, tòa sen ấy cao bốn trượng chín thước. Các Bồ-tát và Tỳ-kheo Tăng cũng đều ngồi trên hoa sen như đã nói. Vì sao? Vì Bồ-tát đã cung thỉnh xin chư vị hãy thương xót mà đến an tọa.

Các Bồ-tát đã an tọa xong, Bồ-tát Đề-vô-ly dùng tay phải tự vận dụng thần thông bưng các hoa sen đi. Thấy oai thần biến hóa của Bồ-tát Đề-vô-ly như vậy, các vị trời ở cõi Dục, cõi Sắc đều đem kỹ nhạc, hương hoa đến núi Hương để cúng dường.

Từ nơi xa, Thuần-chân-đà-la thấy Phật đang ngồi trên xe giao lộ, biết Ngài đã đến, Thuần-chân-đà-la bảo tám vạn bốn ngàn Chânđà-la, Kiền-đà-la đem hương hoa và đánh đàn, tấu các âm nhạc đến trước đón Phật, thỉnh mời vào cung. Đến nơi, Đức Phật thăng tòa, các Bồ-tát, Tỳ-kheo Tăng cũng đều an vị.

Thuần-chân-đà-la nói với Thích, Phạm, Tứ Thiên vương:

–Đã làm xong đầy đủ. Hãy sắp bày tất cả ra.

Mọi người trong cung đều mang thức ăn uống đến cúng dường. Sau khi ăn uống và rửa tay xong, Thuần-chân-đà-la đặt ghế nhỏ ngồi trước Phật, nghe Ngài nói pháp. Phật dạy Bồ-tát Đề-vô-ly:

–Bồ-tát phụng hành Bố thí ba-la-mật có ba mươi hai việc hành trì thanh tịnh. Ba mươi hai việc đó là gì?

  1. Bồ-tát bố thí muốn cầu thành Phật phải lấy việc phát tâm làm gốc.
  2. Bồ-tát bố thí sẽ lìa đạo A-la-hán, Bích-chi-phật.
  3. Bồ-tát bố thí nghĩ muốn độ thoát chúng sinh khắp mười phương.
  4. Bồ-tát bố thí cho người, tâm không hối hận.
  5. Bồ-tát bố thí cho người, xem họ như Phật.
  6. Bồ-tát bố thí cho người, tâm không bỏn sẻn.
  7. Bồ-tát bố thí cho người, tâm không loạn mà đem cho một cách hoan hỷ.
  8. Bồ-tát bố thí cho người bằng chính tay mình đưa.
  9. Bồ-tát bố thí cho người với ý rộng rãi, không hẹp hòi.
  10. Bồ-tát bố thí cho người, không mong cầu muốn có chỗ sinh.
  11. Bồ-tát bố thí cho người với lòng không mong cầu.
  12. Bồ-tát bố thí cho người, không mong cầu đạt được tư hữu, mà phải theo lời dạy trong kinh Phật.
  13. Bồ-tát bố thí cho người vì ưa thích kinh Phật.
  14. Bồ-tát bố thí cho người vì muốn cầu Phật đạo.
  15. Bồ-tát bố thí cho người, không cao ngạo.
  16. Bồ-tát bố thí cho người vì muốn chỉ dạy mọi người.
  17. Bồ-tát bố thí cho người vì muốn cứu độ chúng sinh.
  18. Bồ-tát bố thí cho người vì muốn đem giáo pháp chỉ dạy chúng sinh.
  19. Bồ-tát bố thí cho người vì thuận theo lời Phật dạy.
  20. Bồ-tát bố thí cho người vì muốn hàng phục quân ma.
  21. Bồ-tát bố thí cho người vì cầu thành tựu quả Phật.
  22. Bồ-tát bố thí cho người vì muốn cầu làm người hùng mạnh trong loài người.
  23. Bồ-tát bố thí cho người vì muốn bít lấp đường ngạ quỷ.
  24. Bồ-tát bố thí cho người vì muốn đời sau tu tập bố thí.
  25. Bồ-tát bố thí cho người vì muốn đời sau được an vui, giàu sang.
  26. Bồ-tát bố thí cho người vì muốn đời sau được đắc đạo Bồtát.
  27. Bồ-tát bố thí cho người vì muốn luôn luôn gần gũi thầy tốt.
  28. Bồ-tát bố thí cho người vì muốn đời đời hòa hợp, hướng về chúng sinh khắp mười phương.
  29. Bồ-tát bố thí cho người vì muốn thành tựu Phật đạo.
  30. Bồ-tát bố thí cho người vì muốn thành tựu đạo Bồ-tát.
  31. Bồ-tát bố thí cho người vì muốn được ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp.
  32. Bồ-tát bố thí cho người vì muốn thành tựu cảnh giới trang nghiêm, muốn hướng về Phật, thâm nhập các kinh.

Đó là ba mươi hai việc Bồ-tát bố thí thanh tịnh. Bồ-tát nên hành Bố thí ba-la-mật như vậy.

Bồ-tát hành Thanh tịnh giới ba-la-mật có ba mươi hai việc. Ba mươi hai việc đó là gì?

  1. Nẻo hành nơi thân, Bồ-tát luôn thanh tịnh. Đó là giữ giới.
  2. Bồ-tát trừ bỏ xan tham, sân giận, ngu si, nói lời trong sạch. Đó là giữ giới.
  3. Tâm Bồ-tát khi hành động rất sáng suốt, có trí tuệ, không dối gạt Phật. Đó là giữ giới.
  4. Bồ-tát không theo ngoại đạo để hành mười điều. Đó là giữ giới.
  5. Bồ-tát dù sinh lên cõi trời hay nhân gian cung không bao giờ lìa bỏ Phật đạo. Đó là giữ giới.
  6. Bồ-tát lìa xa pháp tu của hàng La-hán, Bích-chi-phật nhưng không coi thường các vị ấy. Đó là giữ giới.
  7. Bồ-tát tránh xa kẻ dua nịnh, thể nhập vào trí tuệ của Phật. Đó la giữ giới.
  8. Bồ-tát học nhiều, có trí tuệ, tâm là đệ nhất. Đó là giữ giới.
  9. Bồ-tát rất có lòng Từ bi, luôn nghĩ đến chúng sinh khắp mười phương. Đó là giữ giới.
  10. Bồ-tát cứu giúp chúng sinh khắp mười phương để họ được đầy đủ. Đó là giữ giới.
  11. Bồ-tát không phạm giới cấm, lìa khỏi các xấu hổ. Đó là giữ giới.
  12. Việc làm của Bồ-tát không hư thiếu, luôn cẩn thận. Đó là giữ giới.
  13. Bồ-tát không phạm trung đạo, không hành trái với bản tâm. Đó là giữ giới.
  14. Bồ-tát tự giữ lấy mình, không phạm đến chúng ma. Đó là giữ giới.
  15. Bồ-tát y theo những lời dạy sáng suốt để thoát khỏi đường ác. Đó là giư giới.
  16. Bồ-tát giữ giới được sinh Thiên. Đó là giữ giới.
  17. Bồ-tát muốn đầy đủ trí tuệ của Phật. Đó là giữ giới.
  18. Bồ-tát giữ giới chặt chẽ, không trái lời Phật dạy. Đó là giữ giới.
  19. Bồ-tát không tự cao, khinh chê người khác, luôn tự kiềm chế mình. Đó là giữ giới.
  20. Bồ-tát tự kiềm chế tâm mình, không chạy theo ái dục. Đó là giữ giới.
  21. Bồ-tát giữ giới đúng lời Phật dạy. Đó là giữ giới.
  22. Bồ-tát giữ giới có lòng tin, khuyến khích, giúp đỡ, ưa thích không lừa dối. Đó là giữ giới.
  23. Bồ-tát không tham lam, keo kiệt. Đó là giữ giới.
  24. Bồ-tát giữ giới chắc chắn theo pháp giáo hóa. Đó là giữ giới.
  25. Bồ-tát vứt bỏ tài sản phú quý, muốn làm Sa-môn. Đó là giữ giới.
  26. Bồ-tát ưa thích ở chỗ thanh vắng, thích giáo pháp. Đó là giữ giới.
  27. Bồ-tát không tham ăn uống, y phục, vì muốn nhập đạo. Đó là giữ giới.
  28. Bồ-tát dứt bỏ các điều ác, thành tựu các công đức. Đó là giữ giới.
  29. Bồ-tát biểu hiện chuyên cần, lìa xa dòng họ, giữ đức công hạnh. Đó là giữ giới.
  30. Bồ-tát thâm nhập pháp hạnh thâm diệu mà không vướng mắc. Đó la giữ giới.
  31. Bồ-tát tu hành mười hai nhân duyên theo thứ lớp. Đó là giữ giới.
  32. Bồ-tát không theo ngoại đạo, lìa bốn điên đảo. Đó là giữ giới.

Đó là ba mươi hai việc Bồ-tát giữ giới thanh tịnh. Bồ-tát thanh tịnh nên hành giữ Giới ba-la-mật như vậy.

Bồ-tát thanh tịnh hành Nhẫn nhục ba-la-mật có ba mươi hai việc. Ba mươi hai việc đó là gì?

  1. Bồ-tát không ham thích bản thân. Đó là nhẫn nhục.
  2. Bồ-tát không nuối tiếc tuổi thọ. Đó là nhẫn nhục.
  3. Bồ-tát không ôm lòng sân giận với người. Đó là nhẫn nhục.
  4. Bồ-tát nhẫn nhục chịu đựng nếu có người mắng chửi, mạ nhục. Đó là nhẫn nhục.
  5. Nếu thấy người bệnh hoạn ốm yếu thì Bồ-tát thương yêu họ. Đó là nhẫn nhục.
  6. Bồ-tát không khinh thường người không được dạy dỗ. Đó là nhẫn nhục.
  7. Tuy là giàu sang tôn quý, nhưng Bồ-tát chịu để người khinh khi. Đó là nhẫn nhục.
  8. Bồ-tát bị người làm hại nhưng không sân giận, oán hờn. Đó là nhẫn nhục.
  9. Bồ-tát không có tâm sân hận với người. Đó là nhẫn nhục.
  10. Bồ-tát bị người hại, khiến phải đi vào đường nhơ, nhưng tâm không thoái chuyển. Đó là nhẫn nhục.
  11. Bo-tát ưa thích và tin tưởng Phật đạo, tâm không biếng nhác. Đó là nhẫn nhục.
  12. Tâm Bồ-tát không loạn động, luôn luôn thanh tịnh. Đó là nhẫn nhục.
  13. Bồ-tát không bao giờ sân giận người. Đó là nhẫn nhục.
  14. Bồ-tát bảo hộ người mà tâm không nghĩ đến việc ấy. Đó là nhẫn nhục.
  15. Bồ-tát luôn đem tâm hòa nhã với người. Đó là nhẫn nhục.
  16. Bồ-tát luôn đem tâm thương yêu mọi người. Đó là nhẫn nhục.
  17. Bồ-tát không tự thị, cống cao với người. Đó là nhẫn nhục.
  18. Bồ-tát luôn khiêm hạ với chúng sinh khắp mười phương. Đó là nhẫn nhục.
  19. Bồ-tát không hành động sân giận với người. Đó là nhẫn nhục.
  20. Bồ-tát tự kiềm chế mình, không xúc phạm đến ai. Đó là nhẫn nhục.
  21. Bồ-tát luôn kiềm giữ tâm để không cho ý vọng khởi. Đó là nhẫn nhục.
  22. Bồ-tát thấy mình có lỗi thì tự sám hối, quở trách chính mình. Đó là nhẫn nhục.
  23. Bồ-tát không quan tâm đến điều tốt xấu của người. Đó là nhẫn nhuc.
  24. Bồ-tát luôn thích nhớ nghĩ đến Phật đạo. Đó là nhẫn nhục.
  25. Bồ-tát thích hiểu biết rõ về giáo pháp. Đó là nhẫn nhục.
  26. Bồ-tát yêu thương chúng sinh khắp mười phương. Đó là nhẫn nhục.
  27. Bồ-tát luôn muốn bố thí cho chúng sinh mười phương. Đó là nhẫn nhục.
  28. Bồ-tát luôn đem tâm hòa nhã với chúng sinh. Đó là nhẫn nhục.
  29. Bồ-tát thích an ủi người. Đó là nhẫn nhục.
  30. Bồ-tát theo học giáo pháp, không gián đoạn bỏ dở nửa chừng. Đó là nhẫn nhục.
  31. Bồ-tát nghe được ba pháp đối trị không sợ hãi. Đó là nhẫn nhục.
  32. Bồ-tát không từ đâu sinh vui thích trí tuệ.

Đó là ba mươi hai việc Bồ-tát hành nhẫn nhục thanh tịnh.

Bồ-tát hành Nhẫn nhục ba-la-mật là như vậy.

Bồ-tát hành Tinh tấn ba-la-mật gồm có ba mươi hai việc. Ba mươi hai việc đó là gì?

  1. Không đoạn mất Phật đạo. Đó là tinh tấn.
  2. Không đoạn mất giáo pháp. Đó là tinh tấn.
  3. Không đoạn bỏ Tỳ-kheo Tăng. Đó là tinh tấn.
  4. Người được hóa độ có vô số, không thể đếm. Đó là tinh tấn.
  5. Thọ thân sinh tử mà tâm không mỏi mệt. Đó là tinh tấn.
  6. Cúng dường vô số chư Phật không chán nản. Đó là tinh tấn.
  7. Tạo công đức chẳng thể nghĩ bàn. Đó là tinh tấn.
  8. Học hỏi vô số giáo pháp. Đó là tinh tấn.
  9. Giáo hóa chúng sinh khắp mười phương. Đó là tinh tấn.
  10. Làm thành thục chúng sinh mười phương để họ chứng đắc Phật đạo. Đó là tinh tấn.
  11. Vì chúng sinh mười phương mà cung cấp những gì mình có theo sự mong cầu của họ, làm cho họ trở về với đạo. Đó là tinh tấn.
  12. Đem cho người đồ đạc tốt đẹp của mình có. Đó là tinh tấn.
  13. Giữ gìn các giới cấm. Đó là tinh tấn.
  14. Sức nhẫn nhục của mình phải nhu hòa. Đó là tinh tấn.
  15. Đầy đủ các định Tam thiền. Đó là tinh tấn.
  16. Đầy đủ các trí tuệ. Đó là tinh tấn.
  17. Lấy công đức của cảnh giới chư Phật hành để tự trang nghiêm cảnh giới khi mình thành Phật. Đó là tinh tấn.
  18. Muốn cầu có năng lực mạnh. Đó là tinh tấn.
  19. Thu phục tất cả các ma và quyến thuộc của chúng. Đó là tinh tấn.
  20. Giữ gìn giáo pháp của Phật, thu phục các ngoại đạo khác. Đó là tinh tấn.
  21. Có đầy đủ mười Lực, bốn Vô sở úy, các giáo pháp của Phật. Đó là tinh tấn.
  22. Trang nghiêm thân, khẩu, ý. Đó là tinh tấn.
  23. Không biếng nhác mỏi mệt. Đó là tinh tấn.
  24. Làm việc gì đều rốt ráo. Đó là tinh tấn.
  25. Tâm luôn luôn dõng mãnh. Đó là tinh tấn.
  26. Trừ bỏ các ái dục. Đó là tinh tấn.
  27. Độ những ai chưa độ, tạo điều kiện cho những ai chưa nghe kinh; những ai chưa Bát-niết-bàn thì làm cho họ Bát-niết-bàn. Đó là tinh tấn.
  28. Mỗi tướng đều có đầy đủ trăm phước công đức. Đó là tinh tấn.
  29. Giữ gìn, bảo vệ tất cả kinh pháp của Phật. Đó là tinh tấn.
  30. Biết rõ cảnh giới của chư Phật khong thể nghĩ bàn. Đó là tinh tấn.
  31. Đời đời thường thấy vô số chư Phật. Đó là tinh tấn.
  32. Hạnh xa lìa do tinh tấn mà có. Xa lìa thân tâm đến không có hình tướng, không có chỗ trụ, không có chỗ xuất, không có chỗ nhập, khong có chỗ sinh. Đó là không sinh lạc trụ.

Bồ-tát thanh tịnh hành Tinh tấn ba-la-mật là như vậy.

Bồ-tát thanh tịnh hành Thiền ba-la-mật có ba mươi hai việc. Ba mươi hai việc đó là gì?

  1. Nhớ nghĩ điều gì đều không bị phạm. Đó là tịnh.
  2. Hành trì không thiếu sót. Đó là tịnh.
  3. Phân biệt hoàn toàn không quên. Đó là tịnh.
  4. Tránh xa các hý luận. Đó là tịnh.
  5. Tự giữ gìn, biết đủ. Đó là tịnh.
  6. Tâm không nhớ nghĩ điều tà vạy. Đó là tịnh.
  7. Khuyến khích mọi người tạo công đức để mong cầu thành Phật. Đó là tịnh.
  8. Không phạm sáu việc. Đó là tịnh.
  9. Đạt đến Vô sở trước. Đó là tịnh.
  10. Tự quán trong và ngoài của chính mình. Đó là tịnh.
  11. Đầy đủ năm Thiền chi. Đó là tịnh.
  12. Tâm luôn nhu hòa, dịu dàng. Đó là tịnh.
  13. Không chấp thân kiến. Đó là tịnh.
  14. Bên trong thực hành thiền định. Đó là tịnh.
  15. Trở về thâm nhập sâu vào Phật đạo. Đó là tịnh.
  16. Tránh xa kẻ ác. Đó là tịnh.
  17. Thâm nhập vào trí tuệ sáng suốt. Đó là tịnh.
  18. Thâm nhập vào nhân công đức. Đó là tịnh.
  19. Nhớ nghĩ đến giáo pháp vốn tự an lạc. Đó là tịnh.
  20. Theo thứ lớp thể nhập vào các hạnh. Đó là tịnh.
  21. Ân trí tuệ không lay chuyển. Đó là tịnh.
  22. Nhờ phương tiện thiện xảo được thành tựu. Đó là tịnh.
  23. Muốn được đầy đủ Phật sự. Đó là tịnh.
  24. Thương yêu những người khổ đau. Đó là tịnh.
  25. Không tập theo sự hành trì của La-hán, Bích-chi-phật. Đó là tịnh.
  26. Thích thể nhập đầy đủ trí tuệ sâu xa. Đó là tịnh.
  27. Công đức tạo ra không thấy nhàm chán. Đó là tịnh.
  28. Tin rằng tất cả chúng sinh không có ngã. Đó là tịnh.
  29. Tất cả chúng sinh đều được Tam-muội bất loạn của Phật. Đó là tịnh.
  30. Suy nghĩ của chúng sinh đều biết rất rõ. Đó là tịnh.
  31. Biết rõ hành vi của chúng sinh. Đó là tịnh.
  32. Như vị lương y chữa người lành bệnh, Bồ-tát thọ trì kinh pháp này làm cho sinh, già, bệnh, chết của chúng sinh đều tiêu trừ. Đó là tịnh.

Bồ-tát hành Thiền ba-la-mật thanh tịnh như vậy.

Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật gồm có ba mươi hai việc. Ba mươi hai việc đó là gì?

  1. Muốn được giáo pháp của Phật không nhàm chán. Đó là cao minh.
  2. Tuần tự học các giáo pháp của Phật. Đó là cao minh.
  3. Trí tuệ sáng suốt. Đó là cao minh.
  4. Nhờ pháp nên không làm mất trí tuệ. Đó là cao minh.
  5. Thâm nhập trí sáng suốt, hiểu rõ năm ấm. Đó là cao minh.
  6. Đem trí tuệ soi vào kinh pháp để hiểu rõ đầu mối của nó. Đó là cao minh.
  7. Dùng trí tuệ để hiểu rõ A-y-đàn-câu-xá-la. Đó là cao minh.
  8. Dùng phương tiện thiện xảo từ từ giác tri mười hai nhân duyên. Đó là cao minh.
  9. Với bốn Đế, dùng phương tiện thiện xảo biết rõ tịch diệt. Đó là cao minh.
  10. Từ từ nhập vào tuệ phương tiện ngăn ngừa không nhập Nêhoàn. Đó là cao minh.
  11. Quán bên trong biết rõ tất cả. Đó là cao minh.
  12. Thọ thân sinh tử nhưng đều hiểu rất rõ trước đây. Đó là cao minh.
  13. Biết rõ các pháp không có chỗ sinh. Đó là cao minh.
  14. Cội gốc của con người không có hình tướng, nó vốn thanh tịnh, tùy theo tập tục của thế gian để hòa vào hóa độ chúng sinh. Đó là cao minh.
  15. Tất ca pháp là một pháp mà thôi. Vì sao? Vì nguồn gốc nó là Nê-hoàn. Đó là cao minh.
  16. Tất cả cảnh giới là một cảnh giới mà thôi. Vì sao? Vì vốn tự nó là không. Đó là cao minh.
  17. Tất cả chư Phật là một Đức Phật mà thôi. Vì Pháp thân không thể tính. Đó là cao minh.
  18. Tất cả việc đều không thể nhận thức thủ đắc. Vì sao? Vì tất cả đều là danh tự, dùng phương tiện thiện xảo để hiểu rõ. Đó là cao minh.
  19. Không bị chướng ngại nên đạt được trí tuệ. Vô số người đến hỏi đều trả lời thông suốt đầy đủ. Đó là cao minh.
  20. Thấu đạt các kinh pháp Phật, không bao giờ quên, vì nhờ có Đà-la-ni. Đó là cao minh.
  21. Biết rõ những việc của ma. Biết rõ như vậy thì liền xa lìa. Đó là cao minh.
  22. Biết tất cả pháp như huyễn. Ví như người giả mượn lốt thân rồng, chốc lát bỏ đi; cũng vậy, tất cả đều vô sở hữu. Đó là cao minh.
  23. Những gì thấy được giống như trong mộng, như bóng trong nước, như tiếng vang trong núi. Tất cả pháp đều như vậy. Đó là cao minh.
  24. Tất cả pháp đều là không, vì vốn nó không có chỗ sinh. Đó là cao minh.
  25. Bằng trí tuệ, biết thấu rõ nguồn tâm niệm của chúng sinh. Đó là cao minh.
  26. Đem năng lực oai thần của phương tiện thiện xảo mà nhập vào Nê-hoàn, sau đó thị hiện sinh tử. Đó là cao minh.
  27. Không, Vô tướng, Vô nguyện, tất cả pháp theo sự chỉ dạy mà chúng sinh đều được độ thoát. Đó là cao minh.
  28. Đầu mối của định và bất định đều không thấy, nhưng hiểu rõ nguồn gốc của các pháp. Vì sao? Vì tất cả pháp không có gì để nắm bắt, không có gì để chấp trước. Đó là cao minh.
  29. Được sáng suốt, không còn si ám; được ngọn lửa trí tuệ giảng nói giáo pháp cho chúng sinh đều được độ thoát. Đó là cao minh.
  30. Tất cả sinh tử vốn không từ đâu đến, cũng không đi về đâu. Hiểu biết tất cả và hòa nhập theo tập tục để giảng pháp cho chúng sinh, thị hiện sinh đó chết đó. Đó là cao minh.
  31. Không giữ gìn bốn việc, bằng trí tuệ biết khắp tất cả. Đó là cao minh.
  32. Giảng nói kinh pháp cho tất cả chúng sinh, tuần tự theo sự ưa thích của họ mà giảng nói. Nên tự kiềm chế tâm, tự giữ gìn trí tuệ, làm tất cả đều thành tựu, được chư Phật trông thấy khả năng tài cao ấy, được Bồ-tát đem oai thần của Phật đến ủng hộ.

Đó là ba mươi hai việc thanh tịnh Bát-nhã ba-la-mật.

Bồ-tát hành Phương tiện thiện xảo gồm có ba mươi hai việc. Ba mươi hai việc ấy là gì?

  1. Dạy bảo mọi người tự giữ thân mình.
  2. Không vướng mắc vào phước nhiều hay phước ít.
  3. Đối với người chỉ dạy chúng sinh mười phương cầu tìm đạo Bồ-tát hay dạy người không cầu tìm đạo Bồ-tát thì cũng xem như bậc thầy không khác.
  4. Muốn có nhiều của cải châu báu để bố thí cho người.
  5. Luôn thích tìm cầu La-da-đa để chỉ dạy người.
  6. Thị hiện thân người nữ vì muốn giáo hóa người nữ.
  7. Thị hiện thiếu niên để giáo hóa trẻ em.
  8. Thị hiện nhiều hạng người vì thương yêu chúng sinh.
  9. Ở thế gian nếu có người điên loạn thì thị hiện thân điên loạn để độ cho họ được an ổn.
  10. Nếu có người loạn tâm phiền não thì theo phiền não của họ mà giảng nói chánh pháp.
  11. Theo sở thích của chúng sinh mà đem giáo pháp đến độ họ.
  12. Giữ gìn giới cấm trăm năm, ngàn năm; nếu có người vì ham muốn mà xả giới thì đến giáo hóa họ.
  13. Nếu chúng sinh ưa thích y phục, các kỹ nhạc thì đem bố thí cho họ, ai nấy đều vui vẻ, nhân đó đem giáo pháp đến giáo hóa họ.
  14. Đầu-đà Sa-môn chí hạnh khác nhau, theo pháp hạnh của họ mà đến giáo hóa.
  15. Ni-kiền Ba Hòa và các ngoại đạo khác, Bồ-tát theo từng loại mà giáo hóa, hướng dẫn họ vào Phật đạo.
  16. Trong các dâm nữ, thị hiện hóa dâm nữ rất đẹp để giáo hóa các dâm nữ dứt bỏ tâm dâm; và hóa làm nam tử từ từ nhập vào Phật đạo.
  17. Nếu đại hội tấu các âm nhạc, lúc ấy nếu có người nào thấy thì cho họ nghe tiếng âm nhạc, tất cả ai nấy đều rất vui vẻ, rồi đem âm thanh của âm nhạc thành âm thanh giảng giáo pháp. Người nghe ai nấy đều được độ thoát.
  18. Hóa người thợ có kỹ thuật giỏi, Bồ-tát vào trong đó để giáo hóa.
  19. Thị hiện Bát-già-tuần, nếu thế gian có ai nghèo khổ, ốm yếu thì chỉ bày kho của nằm trong lòng đất, đem bố thí cho người khổ rồi giảng nói để họ phát tâm Bồ-đề.
  20. Nếu ở thế gian có người vì người chết mà kêu gào khóc lóc, Bồ-tát hóa hiện thần thông cũng sầu khổ để giáo hóa người đau khổ ấy hiểu giáo pháp.
  21. Nếu ở thế gian có người mất của cải, Bồ-tát hóa thị hiện kho của cải đem bố thí, rồi sau đó giảng nói giáo hóa họ thành đạo.
  22. Nếu có vương hầu, hoặc có quần thần, Chuyển luân vương đau buồn vì không có con, Bồ-tát hóa vào thai làm con. Sau đó, giảng nói cho cha mẹ và người trong gia đình được giải thoát.
  23. Có người buôn rất giàu, trên đường đi đã hết lương thực, Bồ-tát hiện oai thần đem thức ăn uống cho no nê, rồi sau đó giảng nói kinh pháp.
  24. Nếu có người mù bẩm sinh cả trăm, ngàn người, vạn người, Bồ-tát dùng thần thông hiện người mù rồi cho y phục, thức ăn uống để người mù được sáng mắt, và sau đó từ từ giảng nói kinh pháp để họ phát tâm cầu Phật đạo.
  25. Trong đại thành, nếu thấy người tù phạm tội bị trói buộc trong lao ngục, Bồ-tát hóa hiện làm người tù phạm tội vào trong ngục, dùng sức oai thần khiến cho những người bị tù ấy được tắm rửa, mặc áo quần, ăn uống no nê rồi sau đó giảng nói giáo pháp để họ phát tam cầu đạo.
  26. Nếu có tử tội đem ra ngoài thành, Bồ-tát dùng sức oai thần đi theo và hóa làm người, lẫn lộn vào chỗ ấy, dắt kẻ tử tội kia đi. Được cứu thoát, kẻ ấy rất vui mừng, Bồ-tát đưa thức ăn uống cho họ ăn no nê và cho y phục, rồi giảng nói giáo pháp cho họ. Kẻ ấy được giải thoát, rất vui mừng và phát tâm cầu Phật đạo.
  27. Nếu có người tranh giành kiện tụng, hoặc tranh giành tiền tài, hoặc tranh giành ruộng vườn, nhà cửa, Bồ-tát đứng giữa hòa giải hai bên. Nếu bên nào không đủ thì Bồ-tát đem tiền của hòa giải chia cho đủ. Sau đó giảng nói giáo pháp để họ phát tâm cầu đạo.
  28. Bằng phương tiện thiện xảo, tuy đẹp đẽ mà Bồ-tát thị hiện làm người xấu xí… để hành hóa thuận hợp.
  29. Hiện thân làm Sa-môn đáng kính để giáo hóa người, rồi lại làm kẻ bạch y đi giáo hóa người.
  30. Bồ-tát hành phương tiện thiện xảo, xa lìa đại chúng theo ở với ngoại đạo; y phục, nói năng theo trong bọn họ; cũng phỉ báng Phật, phỉ báng Pháp, phỉ báng Tỳ-kheo Tăng, rồi từ từ đem giáo pháp giáo hóa, hướng dẫn họ vào trong Phật đạo.
  31. Từ từ giáo hóa chúng sinh, khi họ Bát-niết-bàn cũng theo họ Bát-niết-bàn, sau đó hóa đi nơi khác.
  32. Bồ-tát hành phương tiện thiện xảo hóa hiện tự tại, hóa làm La-hán, hóa làm Bích-chi-phật, hóa làm Bồ-tát, hóa làm Phật.

Đó là ba mươi hai việc thanh tịnh của phương tiện thiện xảo.

Khi Đức Phật giảng nói về Bát-nhã ba-la-mật, Thuần-chân-đàla cùng quyến thuộc, chư Thiên, Long, Dạ-xoa, Kiền-đà-la, chín vạn ba ngàn người đều phát tâm cầu đạt đạo quả Vô thượng Bồ-đề. Theo Phật đến, có tám ngàn Bồ-tát đều chứng đắc pháp Nhẫn vô sinh. Vua Thuần-chân-đà-la chứng đắc Tam-muội Minh tuệ. Nghe Phật nói, ông ta rất đỗi vui mừng, đem lụa trời dâng cúng Đức Phật. Lụa ấy rất quý, trên thế gian không thể sánh bằng.

Khi ấy, tám ngàn người trong cung Thuần-chân-đà-la đem một ngàn lọng hoa dâng cúng dường Phật. Bằng oai thần, Đức Phật làm cho những lọng hoa lơ lửng giữa hư không và hợp lại thành một cái lọng hoa dài rộng bốn ngàn dặm che phía trên Ngài. Các phu nhân và con của Thuần-chân-đà-la thấy oai thần biến hóa ấy liền phát tâm Vô thượng Bồ-đề và tất cả thưa Phật:

–Cúi xin Như Lai chỉ dạy để chúng con được thành tựu đạo quả Vô thượng Bồ-đề.

Khi nói như vậy, Đức Phat rời khỏi cách đất bốn ngàn hai trăm trượng rồi ngồi trên hư không. Từ nơi thân của Ngài phóng ánh sáng chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới. Tất cả nhạc cụ của quyến thuộc Thuần-chân-đà-la, Ma-hưu-lặc, các vị trời ở cõi Dục, cõi Sắc không đánh mà tự kêu. Ở núi Hương, các cây hoa lá đều phát ra tiếng đàn. Âm thanh ấy rất hay. Mỗi sợi lông trên toàn thân Phật đều phóng ánh sáng, mỗi vầng ánh sáng có mỗi hoa sen và có hóa Bồ-tát ngồi với đầy đủ ba mươi hai tướng tốt. Nhờ oai thần của Phật, âm thanh của các kỹ nhạc nói ra bằng những kinh khó. Theo sự nghi ngờ của chúng, các Bồ-tát ngồi trên hoa sen dựa theo những câu hỏi về kinh khó của ho mà giải nghi.

Các âm thanh phát ra tiếng nói:

–Phải phát tâm hạnh Bồ-tát như thế nào để không quên việc tự đi đến ngồi nơi gốc cây của Phật?

Bồ-tát trả lời:

–Tâm vui vẻ với tất cả chúng sinh thì có lòng đại Từ vô cực. Do đó mà không quên.

Âm thanh hỏi:

–Ý ấy thế nào? Do đâu mà có lòng đại Từ vô cực?

Bồ-tát trả lời:

–Ý ấy do không dua nịnh, ví như tuệ. Nếu có đại Bi vô cực thì đạt đến Nê-hoàn.

Âm thanh hỏi:

–Đối với bố thí thì cho như thế nào? Do đâu việc làm không hối hận? Vì sao không cầu sinh vào đâu cả? Làm sao thực hành nguyện của Bồ-tát?

Bồ-tát trả lời:

–Không tham tiếc tất cả tài vật. Đã cho rồi, không có tâm hối hận. Luôn nghĩ đến đạo Bồ-tát, không mong cầu chỗ sinh.

Âm thanh hỏi:

–Giữ giới thanh tịnh, đối với giới làm thế nào để không tự cao? Làm thế nào để chỉ dạy người phá giới? Do đâu đạt được Đại thừa?

Bồ-tát trả lời:

–Có tâm thiện thì có giới thanh tịnh. Vì biết tất cả pháp đều không, nên không tự cao. Vì có lòng đại Từ vô cực nên có thể chỉ dạy dẫn dắt người phạm giới.

Âm thanh hỏi:

–Nếu bị người mắng chửi, đánh đập, muốn giết thì phải nhẫn nhục thế nào? Làm thế nào để tâm không sân giận, được vui vẻ?

Bồ-tát trả lời:

–Nên nghĩ rằng: “Khi ta thành Phật là làm Y vương cho chúng sinh, ai bị bệnh ta se trị hết bệnh.” Nhờ đó mà có thể nhẫn nhục, dù bị người mắng chửi, đánh đập, muốn giết thì tâm không tức giận, lại vui vẻ.

Âm thanh hỏi:

–Tinh tấn thế nào để đạt đến cứu cánh? Làm sao để không biếng nhác mà thành tựu hạnh Bồ-tát?

Bồ-tát trả lời:

–Người tinh tấn theo pháp, vì muốn cứu giúp chúng sinh tinh tấn đến tận cùng. Vì hiểu rõ tất cả đều không nên không biếng nhác.

Âm thanh hỏi:

–Làm sao để tâm ý đầy đủ và thâm nhập đúng đắn? Thiền định thế nào để tự biết mình không còn chỗ mong cầu?

Bồ-tát trả lời:

–Tâm không mê nên có đầy đủ. Tâm không dua nịnh nên thâm nhập đúng đắn. Nhờ phương tiện thiện xảo nên có thể thiền định, cho nên không có sự mong cầu.

Âm thanh hỏi:

–Làm sao có trí tuệ hiểu biết để thực hành đúng đắn? Làm thế nào để đầy đủ nghiệp pháp tuệ? Làm sao giải quyết các nghi ngờ?

Bồ-tát trả lời:

–Thích học hỏi để tăng trưởng trí tuệ. Vì hiểu biết mười hai nhân duyên nên thực hành đúng đắn. Thích bố thí pháp nên giải quyết các nghi ngờ, hiểu rõ căn nguyên của nó.

Âm thanh hỏi:

–Làm sao có nhiều trí tuệ để thấu hiểu sự nghe biết? Làm thế nào giáo hóa mọi người để tự đạt đến chỗ Chí tôn?

Bồ-tát trả lời:

–Biết khiêm tốn nên có nhiều trí tuệ. Nghe và làm đúng mới có thể thấu đạt. Vì bố thí pháp không mong cầu nên đạt đến chỗ Chí tôn.

Âm thanh hỏi:

–Từ bi thế nào để đạt đến lòng yêu thương vô cực? Làm sao đày đủ hộ bình đẳng? Làm sao đạt được địa vị Phạm thiên?

Bồ-tát trả lời:

–Tâm bình đẳng là Từ. Không nhàm chán là Hộ. Nhờ tâm hoan hỷ vui vẻ nên được làm Phạm thiên.

Âm thanh hỏi:

–Làm thế nào để Bồ-tát thấy Phật? Thấy Phật rồi hoan hỷ thế nào? Làm sao nghe pháp mà không nghi ngờ?

Bồ-tát trả lời:

–Vì tâm luôn nghĩ về Phật nên được thấy Phat, nghe pháp. Vì tâm thanh tịnh, trong sáng nên không nghi ngờ.

Âm thanh hỏi:

–Làm sao chứa nhóm các công đức? Làm sao để có nhiều trí tuệ? Làm sao biết hướng quán? Những việc như vậy phải cầu thế nào?

Bồ-tát trả lời:

–Vì không nhàm chán công đức nên tích chứa nhiều. Vì học hỏi không nhàm chán nên đạt được trí tuệ. Vì tâm không loạn, vô niệm nên được hướng quán.

Âm thanh hỏi:

–Tàng, xứ nó thế nào? Hành nó ra sao? Chỗ duyên thế nao?

Bồ-tát trả lời:

–Tàng là trống không, không có sở hữu. Xứ là Ba-la-mật. Bốn bậc thiền là hành. Nơi chốn duyên cứu độ tất cả chúng sinh.

Âm thanh hỏi:

–Ma sự là thế nào? Phật sự là thế nào? Phải làm thế nào để thành Bồ-tát?

Bồ-tát trả lời:

–Không can đảm, gan dạ, sợ sệt gọi là ma sự. Tùy thuận với

tâm Ma-ha-diễn gọi là Phật sự. Xả bỏ tất cả điều ác nên thành Bồtát.

Âm thanh hỏi:

–Làm sao để gần gũi Ca-la-mật? Làm sao tránh xa thầy ác?

Thế nào là trụ bình đẳng? Thế nào là xả?

Bồ-tát trả lời:

–Ai chỉ dạy đạo Bồ-tát thì đó là bạn hành. Người dạy bảo xa lìa tâm Bồ-tát, đó là thầy ác. Làm viec gì đều tự biết, đó là trụ bình đẳng. Lìa bỏ các tà đạo, đó là xả.

Âm thanh hỏi:

–Làm sao để giữ gìn các pháp? Làm thế nào để chỉ dạy mọi người? Dùng phương tiện thiện xảo thế nào để thành đạo Bồ-tát?

Bồ-tát trả lời:

–Tinh tấn nên có thể giữ gìn pháp. Vì có phương tiện thiện xảo nên có thể chỉ dạy mọi người. Tùy theo sự hữu – vô của người, hoặc đạo, hoặc thế tục mà khai đạo để thành Bồ-tát đạo.

Âm thanh hỏi:

–Làm thế nào để hành động bằng tuệ? Thế nào là ma sự?

Siêng năng, cố gắng thế nào để không phí mất thời gian?

Bồ-tát trả lời:

–Việc làm không nhầm lẫn nên có tuệ. Việc làm phi pháp, đó là ma sự. Luôn vâng theo lời chỉ dạy, đó là siêng năng cố gắng, khiêm tốn được mọi người kính mến.

Âm thanh hỏi:

–Đạo là gì? Phi đạo là gì? Làm thế nào để dạy người thể nhập vào đạo?

Bồ-tát trả lời:

–Sáu Ba-la-mật là đạo. Tánh hạn hẹp la Thanh văn, Bích-chiphật, cho nên chẳng phải đạo Bồ-tát. Hiểu rõ phương tiện thiện xảo để dạy người nhập đạo.

Âm thanh hỏi:

–Sao gọi là suy? Sao gọi là trấn an? Làm thế nào khổ đau được vui vẻ?

Bồ-tát trả lời:

–Nếu đạt được bảy Giác ý thì pháp ấy gọi là lợi. Trấn an là Đà-la-ni. Lấy pháp giáo hóa, không còn đói khát thì được vui vẻ.

Âm thanh hỏi:

–Cha mẹ của Bồ-tát là gì? Thân thuộc là gì? Quyến thuộc là gì? Tốt đẹp với ai?

Bồ-tát trả lời:

–Tuệ là mẹ, Pháp là cha. Ba mươi bảy phẩm là thân thuộc.

Công đức là quyến thuộc. Tốt đẹp với tất cả.

Âm thanh hỏi:

–Do đâu biết vô ngã? Do đâu có lòng Từ để nhớ nghĩ tất cả? Vô ngã và từ làm sao biết giống nhau?

Bồ-tát trả lời:

–Hiểu rõ mọi việc là không nên biết vô ngã, đó là đại Từ; và biết tất cả mọi người cũng đều không.

Tất cả sinh tử là do pháp không sinh tử. Biết như vậy cũng là sinh tử. Chỉ có hiểu rõ nó không đi, không trở lại, không ở yên một chỗ. Thực hành được như vậy gọi là đến với đạo.

Không, Vô tướng, Vô nguyện xưa nay là một tướng. Biết như vậy là hiểu rõ năm ấm đều không, không có tướng. Vì không có tướng nên không có nguyện. Nhưng một tướng là vô số tướng.

Năm ấm là không. Vì đã hiện quán nên năm ấm cũng hiện quán. Tất cả mọi người đều không, không có cũng không không. Trí tuệ là để bảo hộ không, dùng phương tiện thiện xảo để bảo hộ chúng sinh, đem lòng Từ bi vô cực để chỉ dạy mọi người. Do đó mà đạt được Nê-hoàn.

Âm thanh hỏi:

–Vì không có sinh nên không có sở hữu. Vậy tất cả các pháp do đâu biết được vi diệu của sinh tử?

Bồ-tát trả lời:

–Vì không có chỗ sinh nên không có sở hữu, cho nên tuệ diệt. Nhờ dùng phương tiện thiện xảo vi diệu nên biết có sinh tử.

Âm thanh hỏi:

–Sao gọi là quyết định? Sao gọi là trở lại? Làm sao để được nhẫn? Làm sao không còn nghi ngờ?

Bồ-tát trả lời:

–Trụ bình đẳng là quyết định. Đã nhập pháp thân thì không trở lại. Đã được pháp Nhẫn vô sinh nên không còn nghi ngờ.

Âm thanh hỏi:

–Sao gọi là cây Phật? Sao gọi là tướng Bồ-tát? Vì sao Phật gọi là Phật? Sao gọi là Tát-đát-a-kiệt?

Bồ-tát trả lời:

–Cây Phật như bầu trời bao trùm tất cả. Tu tập các pháp là tướng Bồ-tát, cho nên gọi là Phật. Do trí tuệ nên tâm không mong cầu, thân cũng vậy, nên gọi là Như Lai.

QUYỂN HẠ

Khi nghe pháp này, các con của Thuần-chân-đà-la được Hoan hỷ tín nhẫn. Mọi người đều cởi các thứ châu báu đeo nơi thân dâng lên cúng dường Đức Phật rồi cùng nhau nói:

–Chúng ta nhờ đem tất cả tài vật cúng dường Phật nên nay được nghe pháp.

Tất cả bạch Phật:

–Thật kỳ lạ thay! Những âm thanh của các kỹ nhạc đã hỏi như vậy, các hóa Bồ-tát đều giải nghi các vấn nạn ấy. Trong chúng hội không ai còn nghi ngờ gì cả. Chúng con đã xóa tan vô số tăm tối, lại được sáng suốt. Vậy ai đã làm cho các âm thanh kỹ nhạc có những vấn nạn và các hóa Bồ-tát đều giải nghi cho chúng?

Phật dạy:

–Đó là do Như Lai làm ra. Ta làm hư không có các âm thanh còn có thể được, huống chi kỹ nhạc, cây Phật. Cho nên việc làm của Như Lai không thể tính kể.

Các con của Thuần-chân-đà-la thưa:

–Chúng con muốn tất cả mọi người đều giống như Như Lai.

Tám vạn bốn ngàn phu nhân của Thuần-chân-đà-la đều đem châu ngọc trời dâng cúng Đức Phat. Những châu ngọc ấy được rải phía trên đỉnh đầu Đức Phật và chúng hóa thành tám vạn bốn ngàn tấm trướng xen nhau. Ở giữa có giường bằng ngọc báu và có tua rèm bằng lụa trời. Giữa các tấm trướng có Đức Phật an tọa đầy đủ ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp.

Thấy sự biến hóa ấy, tám vạn bốn ngàn phu nhân rất vui mừng và đều phát tâm Vô thượng Bồ-đề. Với lòng vui mừng vô bờ bến, tất cả đồng thanh khen ngợi Như Lai:

–Ngài là Bậc tự mình thanh tịnh và làm thanh tịnh người khác, tự trừ khử sạch sẽ không còn cấu bẩn, không còn chấp trước, không ô nhiễm; ánh sáng rất đẹp, mắt như hoa Ưu-bát.

Nay xin tự quay về với Bậc sáng suốt như ánh trăng rằm. Niềm vui mừng lớn không gì bằng thấy Phật. Phật đã dùng phương tiện làm cho chúng sinh đoạn trừ phiền não, nghĩa là ai nghe lời nói của Ngài cũng đều vui vẻ, ưa thích nơi thanh vắng, dùng các châu báu họp lại làm kho cất giữ Pháp bảo.

Nay xin tự quay về với Bậc vượt qua tất cả mọi nơi, như vượt biển đến bờ bên kia, đánh bại ngoại đạo, thu phục các tà kiến, trong sạch hơn hoa sen, lấy không để giáo hóa, lấy sự thật để hướng dẫn.

Nay xin tự quay về với Bậc hoan hỷ, vượt qua bốn hang sâu, lấy Tứ đế để chỉ dạy mọi người, làm con mắt dẫn đường đi trong thế gian, dưới bàn chân có bánh xe ngàn căm tốt đẹp.

Nay tự quay về với Bậc có âm thanh vui vẻ, thân cao hơn người, giảng nói chánh pháp cho chúng sinh. Phật không ai sánh bằng.

Nay tự quay về với Bậc đầy đủ mười Lực, đoạn trừ tham dục; được không vui, mất không buồn; làm người khai sáng cho kẻ mù ở thế gian. Ví như ngọn đuốc sáng trong chỗ tối tăm, đã kềm chế tâm, đạt được mười Lực, bố thí, tự mình an vui, thân thanh tịnh và giải thoát.

Nay tự quay về với Bậc không ai sánh bằng. Thân tướng Ngài rất thù thắng, trong tất cả loài người không ai bằng. Vì chúng sinh, Ngài thị hiện làm cho tất cả đều đạt được bản thể của mình, lấy nhẫn và từ để tự vui.

Nay tự quay về với Bậc được tôn quý, cung kính, như người lái thuyền vượt qua tất cả mọi nơi. Phật là Đấng Chí Tôn, thiêu đốt ba độc, phá tan những tăm tối. Tất cả kẻ ngu si đều nhờ ân đức của Ngài, ai nấy đều đến cúng dường.

Nay tự quay về với Bậc tịch tĩnh đã diệt tận các ác. Ánh sáng của Ngài xa bảy thước, màu vàng ròng. Âm thanh rất to nhưng trong trẻo, làm người đứng đầu trong loài người nên gọi là tôn quý.

Nay tự quay về với Bậc làm nền tảng cho chúng sinh. Ngài đã phá trừ những tánh cao ngạo và các ngu si, cứu độ chúng sinh, tự giữ mình đúng với đạo, làm người dẫn đường cho chúng sinh. Lời nói chắc chắn hoàn toàn chân thật.

Nay tự quay về với Bậc làm ánh sáng chiếu khắp nơi tăm tối. Chúng sinh phụng sự Ngài rất thành kính, tiếng tăm vang khắp, tất cả đều nghe pháp. Lời nói của Ngài đúng như pháp, người nghe đều hiểu rõ.

Nay tự quay về với Bậc hoan hỷ, đã an trụ vào cảnh giới của mình, chiến thắng tâm tự cao, sử dụng mà không vướng mắc, nên biết rất chí tôn.

Nay tự quay về với Bậc thoát khỏi những ham muốn của con người. Âm thanh của Ngài rất hay, nghe như tiếng Phạm thiên, biết rõ tội phước, diệt trừ tâm cấu bẩn cho chúng sinh, hiểu biết năm uẩn, làm việc rất cẩn thận, chú trọng, không ai sánh bằng.

Nay tự quay về với Bậc dứt sạch các cấu bẩn. Tâm Ngài bình đẳng, luôn ủng hộ chúng sinh, làm chủ tâm mình. Sự hiểu biết của Ngài thông hiểu tất cả mọi vấn đề, an trụ vào đạo, việc làm chân chánh, chỉ dạy rất vững chắc, ai nấy được giải thoát.

Nay tự quay về với Bậc biết thời cơ để chỉ dạy người. Đức của Ngài hiền dịu, nghe âm thanh của Ngài ai cũng hiểu rõ ràng. Dù chúng ma nhiều đến đâu, cung không thể chiến thắng được, đã vượt qua tất cả những tự cao.

Nay tự quay về với Bậc đã trừ sạch các điều ác. Những người lân cận, ai nấy đều tu theo lời dạy bảo và cung kính đến cúng dường. Đức Phật rất khó gặp, có trí tuệ vi diệu, mọi người đến thăm hỏi, ai nấy rất hoan hỷ.

Nay tự quay về với Bậc có đức độ không ai bằng. Với năng lực, tâm Ngài hiểu rõ tất cả. Dù đẹp hay xấu, tâm Ngài đều bình đẳng, đã trụ vào cảnh giới cua mình một cách kiên cố, không ai có thể lay động được.

Nay tự quay về với Bậc nắm giữ các lực. Kẽ tay, chân của Ngài có màng lưới mỏng; dưới bàn chân có nổi dấu bánh xe. Đã thoát khỏi sinh, già, bệnh, chết, là bậc thù thắng tất cả.

Nay tự quay về với Bậc có phước đức như bầu trời bao trùm tất cả mọi nơi.

Sau khi khen ngợi Như Lai xong, các phu nhân của Thuầnchân-đà-la thưa Phật:

–Mặc dù phát tâm Vô thượng Bồ-đề rất khó, vậy người nữ làm sao để tự đạt được Vô thượng Bồ-đề?

Phật dạy:

–Nhờ một việc để xa lìa thân nữ, mau được thành thân nam, tự đạt đến Vô thượng Bồ-đề. Một việc đó là gì? Nghĩa là nhờ phát tâm đạt Nhất thiết trí, tạo vô lượng công đức không sai lầm. Đó là một việc.

Lại có hai việc thân nữ mau thành thân nam để tự đạt được Vô thượng Bồ-đề. Hai việc đó là gì?

  1. Lời nói đi đôi với việc làm, không tôn thờ chư Thiên.
  2. Chỉ quy y Phật, việc làm chân chánh, không tin theo tà đạo. Đó là hai việc.

Lại có ba việc thân nữ mau thành thân nam, tự đạt đến Vô thượng Bồ-đề. Ba việc đó là gì?

  1. Giữ gìn ba nghiệp thuộc thân.
  2. Giữ gìn bốn nghiệp thuộc miệng.
  3. Giữ gìn ba nghiệp thuộc ý.

Đó là ba việc.

Lại có bốn việc thân nữ mau thành thân nam, tự đạt đến Vô thượng Bồ-đề. Bốn việc đó là gì?

  1. Bố thí không dua nịnh.
  2. Giữ giới không dua nịnh.
  3. Thường tự bảo hộ không dua nịnh.
  4. Được nghe pháp không dua nịnh.

Đó bốn là việc.

Lại có năm việc thân nữ mau thành thân nam, tự đạt đến Vô thượng Bồ-đề. Năm việc đó là gì?

  1. Sống với chánh pháp.
  2. Việc làm đúng với pháp.
  3. Không thích thân nữ.
  4. Nghe pháp rất chuyên chú.
  5. Luôn nghĩ mình là thân nam.

Đó là năm việc.

Lại có sáu việc thân nữ mau thành thân nam, tự đạt đến Vô thượng Bồ-đề. Sáu việc đó là gì?

  1. Không biếng nhác.
  2. Làm việc gì đều không quên.
  3. Tâm nhu hòa.
  4. Chất phác, thật thà, không dua nịnh.
  5. Không phóng túng.
  6. Chí thành tha thiết trong việc làm.

Đó sáu là việc.

Lại có bảy việc thân nữ mau được làm thân nam để tự đạt đến Vô thượng Bồ-đề. Bảy việc đó là gì?

  1. Luôn nghĩ nhớ đến Phật để được Pháp thân.
  2. Luôn nghĩ nhớ đến Pháp để được trí tuệ của Phật.
  3. Luôn nghĩ nhớ đến Tăng vì muốn dự vào Tăng số.
  4. Luôn nghĩ đến giới vì muốn chỗ mong cầu được thanh tịnh.
  5. Luôn nghĩ đến bố thí để khử trừ cấu bẩn phiền não.
  6. Luôn nghĩ đến chư Thiên vì muốn tâm như Bồ-tát.
  7. Luôn nhớ nghĩ loài người vì muốn họ độ thoát sinh tử. Đó là bảy việc.

Lại có tám việc thân nữ mau thành thân nam để tự đạt đến Vô thượng Bồ-đề. Tám việc đó là gì?

  1. Không lấy việc ăn uống để tự vui.
  2. Không lấy bông hoa để tự vui.
  3. Không dùng hương thơm.
  4. Không dùng những màu sắc sặc sỡ.
  5. Không đến nhà người để trò chuyện.
  6. Không ca hát để mua vui.
  7. Không ca múa.
  8. 1

Đó là tám việc.

Lại có chín việc thân nữ mau thành thân nam để tự đạt đến Vô thượng Bồ-đề. Chín việc đó là gì?

  1. Không chấp đoạn.
  2. Không chấp thường.
  3. Không nghĩ có ngã.
  4. Không nghĩ có nhân.
  5. Không nghĩ có thọ.
  6. Không nghĩ có mạng.
  7. Không nghĩ có chỗ sinh.
  8. Không nghĩ không có chỗ sinh.
  9. Tin nhân duyên.

Đó là chín việc.

Lại có mười việc thân nữ mau thành thân nam, tự đạt đến Vô thượng Bồ-đề. Mười việc đó là gì?

  1. Thương yêu chúng sinh.
  2. Không tham cầu lợi tất cả vật.
  3. Không nghĩ đến người đàn ông khác. Trọn đời không dối gạt mọi người.
  4. Không nói lời hai lưỡi, không nhục mạ.
  5. Không nói dối.
  6. Không ca hát, kỹ nhạc.
  7. Tâm không lấy đó làm vui.
  8. Không vọng niệm.
  9. Không giữ lòng oán hận.
  10. Không hiểu biết bằng phước tội của tà đạo. Đó là mười việc.

Người nữ có thể làm thân nam để mau chứng Vô thượng Bồđề. Khi người nữ có tâm thí, có tâm pháp, thấy các sắc giống như đống bọt nước; với sắc không tự cao; dù vui hay khổ đều thấy như bong bóng nước trong mưa. Nếu được vui không ham thích, còn bị khổ đau thì không ghét hận. Với an ổn không mừng, với đau khổ không buồn, quán tưởng như sóng nắng. Tâm ấy không thuộc người nam, không thuộc người nữ mà là tất cả.

Sinh tử giống như cây chuối. Nếu biết sinh tử là không thì có thể ở trong sinh tử, mà không niệm hữu, không niệm vô. Thức ví như huyễn, quán tâm ý như hóa. Nếu huyễn thì không có gì khác, không vướng mắc vào các pháp, biết tất cả bốn đại: địa, thủy, hỏa, phong.

Nếu làm nhà phải nhờ ba việc mới thành tựu, đó là: có cỏ, có đất và có cây. Con người cũng vậy, không phải ngã, không phải ngã sở, không phải mạng tạo ra, việc làm không bị chướng ngại. Đó là con mắt vốn thấy một cách tự nhiên. Mắt như bong bóng nước, chỉ nương vào thịt nhưng bên trong nó rỗng không, vốn nó rỗng không nhưng thanh tịnh. Tai, mũi, miệng, thân, ý cũng vậy.

Quán thân như bóng ảnh, quán âm thanh như tiếng vang, biết tâm như huyễn. Ai biết như vậy thì mau lìa thân nữ, được làm thân nam, tự đạt đến Vô thượng Bồ-đề.

Sau khi Đức Phật dạy như vậy, các phu nhân rất vui mừng và lạy sát chân Phật. Khi ấy, Phật mỉm cười, từ trong miệng Ngài phóng ra ánh sáng với vô lượng màu sắc chiếu khắp mười phương, rồi thu lại bao quanh thân Ngài ba vòng và nhập vào đỉnh đầu.

Tôn giả A-nan đứng dậy, sửa pháp phục, quỳ thẳng khen ngợi Phật:

–Sắc diện Ngài sáng như trăng rằm, rất thù thắng. Màu ánh sáng như vàng trong lửa. Nay Ngài mỉm cười là nguyên nhân gì? Con muốn được nghe. Đây là điều con muốn thưa hỏi.

Thâu nhiếp các trí tuệ thù thắng làm nền tảng cho tất cả chúng sinh. Nhân địa của Ngài, ai cũng cung kính. Ngài mỉm cười, chắc có điều chi hoan hỷ? Đây là điều con muốn thưa hỏi.

Lấy pháp thí để tự vui, với giới thanh tịnh, sức nhẫn nhục. Nay

Ngài mỉm cười là sự việc gì? Đây là điều con muốn hỏi.

Tinh tấn thì năng lực của căn được thành tựu, lấy việc thiền định để tự vui, trí tuệ như bầu trời che trùm tất cả. Nay Ngài mỉm cười là sự việc gì? Đây là điều con muốn hỏi.

Luôn luôn có lòng Từ bi, yêu thương che chở cho họ, bình đẳng như nhau, không thiên vị. Nay Ngài mỉm cười là sự việc gì? Đây là điều con muốn hỏi.

Đã đoạn trừ ba độc nên chứng tam nhãn, pháp nói ra như cam lồ. Nay Ngài mỉm cười là sự việc gì? Đây là điều con muốn hỏi.

Thu phục quân ma, đuổi các ngoại đạo, chỉ dạy bằng bốn Đế. Nay ngài mỉm cười là sự việc gì? Đây là điều con muốn hỏi.

Bằng mười Lực, Thế Tôn quyết đoán các nghi ngờ. Đức ấy vô lượng. Nay ngài mỉm cười là sự việc gì? Đây là điều con muốn hỏi.

Đức Phật dạy Tôn giả A-nan:

–Ông có thấy các phu nhân cùng quyến thuoc của Thuần-chânđà-la đang đảnh lễ Ta không?

Tôn giả A-nan thưa:

–Bạch Thế Tôn! Con đã thấy.

Phật dạy Tôn giả A-nan:

–Các phu nhân nhờ sự hoan hỷ đảnh lễ ta và tự phát tâm chứa nhóm các công đức. Sau khi qua đời, than nữ sẽ được làm thân nam, sinh vào cõi trời Đâu-suất, gặp đức Di-lặc đang giảng nói các việc làm của Bồ-tát, sẽ cúng dường Phật Di-lặc. Qua vô số kiếp sẽ thành Phật. Chúng sinh đều đến cúng dường. Ở trong kiếp ấy, từ từ sẽ thành Bồ-tát đạo. Thuần-chân-đà-la được thành Phật, còn các phu nhân sẽ sinh vào cõi Phật ấy và hành đạo Bồ-tát.

Thuần-chân-đà-la bạch Phật:

–Chúng con sẽ thực hành giống như Đức Phật. Sinh tử đã đoạn tận, chỉ trụ vào cõi người và cõi trời. Đã trụ vào Phật đạo, đầy đủ pháp tạng, trụ vào tuệ địa, trụ vào công đức, hiện quán Đế đạo, đã dùng phương tiện thiện xảo, đã xây dựng tâm Bồ-tát, giảng nói các pháp rõ ràng.

Theo lời nói, ai nấy đều hoan hỷ. Khi nghe pháp, chúng hội

và các Bồ-tát đều nghĩ: “Thuần-chân-đà-la lâu xa về sau sẽ thành Phật, hiệu là gì? Cõi ấy có chúng Bồ-tát cùng sự hành hóa như thế nào?”

Biết tâm niệm của các Bồ-tát, Đức Phật gọi Tôn giả A-nan, dạy:

–Qua bảy vạn bốn ngàn tám trăm kiếp về sau, vua Thuầnchân-đà-la sẽ được thành Phật, hiệu là Quần-ma-la-da-ba-phi-sa (Hán dịch là Đức Vương Minh). Cõi ấy tên Chiên-đà-duy-ma-la (Hán dịch Nguyệt minh), kiếp tên La-đa-na-tam-phi (Hán dịch Bảo đẳng hữu), đất bằng phẳng, trong suốt như lưu ly. Ánh sáng của đất ấy giống như mặt trời và đất rất sạch sẽ, không có bụi dơ. Hư không có những tấm trướng xen nhau, đều bằng các châu báu và có chư Bồtát ngồi trong đó.

Trên đường đi, thấy Phật các Bồ-tát nghĩ: “Đúng với những gì ta đã thấy. Đức Phật sẽ khai giải những điều nghi ngờ của các hóa Bồ-tát, làm cho các vị ấy đều sẽ đắc pháp Nhẫn vô sinh.”

Khi ấy, quốc độ không có thành quách, xóm làng, huyện ấp của vua. Tất cả mọi người đều ở trong những tấm trướng xen nhau, không thấy có người nữ, không nghe tiếng người nữ. Ai vãng sinh về đó đều được ngồi tòa Sư tử trong hoa sen. Chúng Bồ-tát vui với thiền định, ăn bằng pháp lạc, không có đạo khác, không nghe tiếng đạo khác, chỉ có Bồ-tát là hàng Đại thừa, không có tà đạo, không có người không tin Phật, cũng không có chúng ma, không có dân ma, không có người cầu, không có người khổ. Vì đó là kho tàng quý báu, lấy dấu ấn “không” để niêm phong.

Ở đó nghe chư Thiên và người bình đẳng giống như nhau, đều chỉ là danh từ. Phật ấy sống mười tiểu kiếp, có vô lượng chúng Bồtát làm Tăng và đã được thiền định chẳng thể nghĩ bàn. Khi Đức Phật ấy sắp Niết-bàn, trước tiên sẽ thọ ký cho Bồ-tát. Bồ-tát tên Âuđa-duy-thọ, sau được làm Phật hiệu Ma-ha-duy-thọ (Hán dịch là Đại Nghiêm). Kiếp tên La-đa-na-tam-phi, vì đối với Phật, Pháp, Tăng không bao giờ đoạn tận cho nên gọi là La-đa-na-tam-phi.

Ở trước Phật, Thuần-chân-đà-la được thọ ký, ông ta rất vui mừng sung sướng và bay lên khỏi mặt đất cách một trăm bốn mươi trượng, làm cho tất cả chúng hội rất hoan hỷ. Với công đức của mình và nhờ oai thần của Phật, Thuần-chân-đà-la ca ngợi:

–Các pháp vốn thanh tịnh như hư không, tự nhiên không có. Vì tự nhiên nên không cấu bẩn. Ai biết như vậy là trưởng tử của Phật.

Như cảnh thấy trong mộng, không thể có thật, nên không thể cầm giữ, vì nó như hư không. Ai biết các pháp như mộng thì không còn cho sinh tử là đau khổ. Như những gì nhà ảo thuật hóa hiện, trong đó không có sở đắc. Năm ấm như huyễn thì sắc như bọt nước, thọ như bong bóng trong nước, tưởng như sóng nắng, như cây chuối, không có sở đắc, sinh tử không thể đắc. Những gì mà tâm ý biết được chỉ có danh từ mà thôi.

Phật dạy:

–Nếu như huyễn thì biết năm ấm vốn như hư không, đối với sinh tử không cho là khổ, vì bốn đại bình đẳng như nhau, xem như rắn độc; sáu trần như đồng trống, giữ gìn đúng pháp là nhờ oai thần của Phật.

Những gì cất giấu, lấy đem bố thí cho người, làm như vậy thì được an vui. Nếu đã thanh tịnh thì đó là giới. Vọng tưởng đã được đoạn tận, đó là nhẫn nhục. Tự chế phục tâm mình để tịch tĩnh là tinh tấn. Chú tâm trong việc làm, không thay đổi, đó là thiền. Sở duyên không bị chướng ngại, đó là tuệ. Thọ trì môn học này là Bala-mật.

Không ngã, không nhân là Từ bình đẳng. Thanh tịnh đó là Bi. Tịch tĩnh là Hỷ, Xả.

Ai làm được hạnh ấy thì được sinh lên cõi trời Phạm thiên.

Lấy bốn sự để bố thí, chịu nhẫn như Phật, không giận dữ, tham lam; đã vượt qua, không có sở hữu, không có ngã, thọ mạng cũng vậy. Biết sáu trần là không nên đều tịch tĩnh. Ai biết như vậy, đó là Bồ-tát.

Bồ-tát thì không mong cầu, không tưởng, hữu nhân vô nhân, không tưởng hữu ngã, vô ngã. Vì không có hai tâm nên không chấp trước. Vì pháp không có sở hữu nên không có chỗ nương tựa. Nếu đi thì không có chỗ đến, còn đến thì không từ đâu, trụ vào Pháp thân không bị chướng ngại.

Chân như và Phật đồng đẳng, không có, cũng không không. Do nhân duyên hợp lại mà có, ví như sấm chớp hiện lên thì diệt ngay, tâm cũng như vậy, đi trong sinh tử mà tâm không thể nào thấy được.

Tâm như gió, không bị vướng mắc.

Tâm vốn thanh tịnh, đã biết tâm vốn thanh tịnh thì ở trong sinh tử không bị ô nhiễm. Như tường vách nhờ có đất cỏ hợp lại mà thành, còn thân ấy vô tri. Ví như sự yên lặng của gỗ đá. Với thân không thể mong cầu vì nó như gió, không thể đắc, âm thanh cũng vậy.

Nếu trong núi có tiếng vang của kỹ nhạc thì biết tiếng ấy cũng tịnh lặng, không ham muốn tiếng vang ấy. Như hư không, không rớt xuống vì không có chỗ trụ, không có xứ sở, biết rõ các pháp như hư không, không có chỗ trụ, không có chỗ dừng. Ai biết như vậy là đã trụ bình đẳng.

Nếu co lửa dữ cũng không thể đốt cháy hư không. Vậy, biết các pháp thanh tịnh cũng như hư không. Nếu có lửa dữ ở các cõi khác đến đốt thì cũng không thể nào làm hại được. Vậy, biết các pháp ấy không bị núi Tu-di, núi Già-ca-hòa làm chướng ngại. Ai biết như vậy thì có thể đi khắp các cõi.

Vậy, bốn đại: địa, thủy, hỏa, phong đều bình đẳng, vì như hư không. Ai biết như vậy thì có thể đi đến ức ức cõi.

Ở trong ba cõi nhưng vẫn có âm thanh thượng, trung, hạ.

Ở trong trăm ức kiếp cũng có âm thanh, nó không cùng tận, vì nó vốn tự nhiên.

Sắc-tâm của Phật bình đẳng như nhau và rất vi diệu vì thanh tịnh. Chư Phật bình đẳng như nhau, Bồ-tát tu hành tích chứa vô số cong đức, do biết tâm thiện và các pháp đều bình đẳng, sau đó liền được thọ ký.

Bồ-tát là nơi cảnh giới của mình với pháp thân rất thanh tịnh. Ai biết như vậy, sau mới được thọ ký.

Không tưởng sắc, không tưởng với tưởng, cũng không tưởng thọ, tưởng, sinh tử, thức; vì nhờ pháp mà được thọ ký, chứ chẳng phải thọ ký bằng năm ấm bốn đại; cho nên hư không đều bình đẳng như nhau. Ai biết như vậy là đắc pháp Nhẫn vô sinh, sau đó mới được thọ ký.

Tận là không thể tự biết, bất tận là không thể tự biết tận. Ai hướng đến tận là đắc các pháp nhẫn, sau đó mới được thọ ký.

Vô tưởng là đi thẳng đến đạo chân chánh, hữu tưởng là đi vào tà đạo, không chấp trước vào các pháp, đã vượt qua ba đời. Ai biết được như vậy thì được thọ ký.

Tự biết ngã là tự nhiên, các pháp đều tự nhiên, vô ngã cũng lại tự nhiên, hư không cũng tự nhiên. Hư không là tự nhiên vì không sở hữu. Biết ba cái tâm bình đẳng như hư không, cho nên gọi là hư không. Người biết thọ ký thì không nên cho là biết, vì có tâm mong cầu. Người không có tâm, không có ý về thọ ký, đó là được thọ ký.

Thuần-chân-đà-la nói:

–Nếu bình đẳng, các chúng hội đứng trên mặt đất, còn tôi thì ở trên hư không. Vậy biết rằng trên đất và hư không tâm đều bình đẳng, hành khắp ba đời mà không vướng mắc.

Khen ngợi như vậy xong, Thuần-chân-đà-la từ hư không hạ xuống, đến trước Phật thưa:

–Đức Phật vì con nên hiện ra nơi đời. Ngài đã nói rõ cho con từ vô số a-tăng-kỳ kiếp, con nguyện hành đạo Bồ-tát, không làm mất các công đức. Hôm nay con muốn được nghe điều đó.

Khi ấy, các Bồ-tát trong hội đều nghĩ: “Thuần-chân-đà-la quá khứ đã phát tâm với Đức Phật nào?” Biết tâm niệm của các Bồ-tát, muốn giải nghi nên Đức Phật nói với Bồ-tát Đề-vô-ly:

–Trải qua vô số a-tăng-kỳ kiếp, không thể tính đếm, về đời quá khứ xa xưa có Đức Phật hiệu La-đà-na-kỳ-đầu (Hán dịch: Bảo Anh), cõi ấy tên Thủ-ha (Hán dịch: Tịnh mạo), kiếp tên Ba-la-lâm (Hán dịch: Thanh tịnh mạo). Như Lai ấy có mười hai ức Bồ-tát rất tinh tấn và đắc pháp Nhẫn, đều là Nhất thiết trí. Phật ấy thọ sáu mươi ức năm. Cõi ấy trang nghiêm, bằng phẳng, đất bằng lưu ly, không trồng lúa gạo. Nếu có đói hay khát thì tự nhiên có thức ăn uống hiện ra trước mặt. Cõi ấy không có đạo nào khác, tất cả đều là hàng Đại thừa. Thuở ấy có Chuyển luân vương tên Ni-di-đà-la cai trị bốn thiên hạ. Vua Chuyển luân ấy cúng dường Đức Phật và sáu mươi ức Bồ-tát cả mười ức vạn năm. Vua đã tạo ra vô số công đức, có tám vạn bốn ngàn phu nhân, một ngàn người con và tám vạn bốn ngàn bề tôi của ma đều phát tâm cầu đạt đạo quả Vô thượng Bồ-đề, và cũng phát tâm cúng dường Phật ức vạn năm. Sau đó vua nhường ngôi lại cho Thái tử tên Hòa-đà-ba-lợi-lâm, rồi làm Sa-môn. Thái tử ấy lên làm vua cũng cúng dường Phật giống như đã nói ở trước. Sau đó, thái tử lập con mình lên làm vua và cũng từ bỏ để làm Sa-môn. Như vậy, họ lần lượt truyền ngôi cho nhau như trước, cho đến Phật hết tuổi thọ. Sau khi Phật Bát-niết-bàn, vị vua cuối cùng giữ gìn chánh pháp.

Phật dạy Bồ-tát Đề-vô-ly:

–Ông biết vua Chuyển luân Ni-di-đà-la thuở ấy là ai không? Chính là Thuần-chân-đà-la đó.

Bồ-tát Đề-vô-ly thưa:

–Lành thay, lành thay! Từ lâu xa không thể nghĩ bàn, vậy mà trí tuệ của Phật vẫn còn nhớ rõ, nói ra như thế.

Phật dạy:

–Trí tuệ ấy chưa đủ để nói đâu. Vì sao? Vì còn biết về chốn hành hóa của tâm ở quá khứ, vị lai và hiện tại có nhân hay không có nhân, có công đức hay không có công đức, nên trí tuệ của Như Lai không có chướng ngại.

Khi Đức Phật nói đến không chướng ngại thì có tám vạn bốn ngàn người phát tâm Vô thượng Bồ-đề.

Sau khi Thuần-chân-đà-la cùng quyến thuộc cúng dường Phật bảy ngày xong, ông ta đem tất cả những thứ hiện có của đất nước dâng cúng làm sở hữu của Như Lai và luôn luôn mời thỉnh Thế Tôn đến đây sử dụng vì lòng Từ bi yêu thương tất cả.

Thái tử của Thuần-chân-đà-la tên Di-ma-la-niết lấy chuỗi hạt châu ma-ni dâng cúng dường Phật và thưa:

–Thuần-chân-đà-la con rất thích kỹ nhạc. Cúi xin Như Lai chỉ dạy cho con phương pháp dứt bỏ tâm ham muốn kỹ nhạc ấy.

Phật dạy:

–Từ nay trở đi, ta sẽ ủng hộ ông. Khi có âm thanh kỹ nhạc sẽ làm cho nghe về sáu mươi bốn tiếng pháp để hướng đến đạo. Sáu mươi bốn pháp đó là gì? Chỉ nghe tiếng vô thường, tiếng khổ, tiếng không, tiếng vô ngã, tiếng tịch tĩnh, tiếng thanh tịnh, tiếng không sinh tử, tiếng bản tịnh, tiếng không từ đâu sinh, tiếng đúng với bổn thể của nó, tiếng bản tế, tiếng bản vô, tiếng Pháp thân, tiếng Như Lai, tiếng không có người, tiếng không có thọ, tiếng không có mạng, tiếng không đến, tiếng không có vị lai, tiếng không có quá khứ, tiếng không có hiện tại, tiếng không có xứ sở, tiếng vô sở đắc, tiếng không gì cao hơn, tiếng Bố thí, tiếng Giới thanh tịnh, tiếng Nhẫn nhục, tiếng Tinh tấn, tiếng Nhất tâm, tiếng Trí tuệ, tiếng Từ, tiếng Bi, tiếng Hộ, tiếng bình đẳng, tiếng Phật, tiếng Pháp, tiếng Tăng, tiếng không quên Bồ-tát, tiếng Ý chỉ, tiếng Ý đoạn, tiếng Thần Túc, tiếng Căn, tiếng Lực, tiếng Giác ý, tiếng vào Đạo, tiếng vọng lại, tiếng quán, tiếng phương tiện thiện xảo, tiếng đem tứ sự bố thí, tiếng dạy chúng sinh, tiếng hộ trì chánh pháp, tiếng thu phục quân ma, tiếng huyễn, tiếng như thấy trong mộng, tiếng ánh sáng như mặt trời, tiếng vọng lại, tiếng như bong bóng trong nước, tiếng Pháp thân không hoại, tiếng mười Lực, tiếng bốn Vô sở úy, tiếng mười tám pháp Bất cộng, tiếng Vô thượng Bồ-đề, tiếng Nhất thiết trí, tiếng trang nghiêm quốc độ.

Đó là sáu mươi bốn thứ tiếng. Nếu là tiếng của kỹ nhạc thì Phật dùng oai thần làm cho nghe thành tiếng pháp. Ai đã thể nhập vào điều này thì đạt được ba mươi bảy phẩm trợ đạo.

Khi ấy, trong chúng hội ai nấy rất vui mừng, lạy sát đất và thưa:

–Bồ-tát là bậc rất tôn quý, là người đã trụ vào pháp và được Phật ủng hộ.

Phật dạy:

–Đúng như các vị đã nói. Bồ-tát đã trụ vào pháp thì đều được Phật ủng hộ. Vì sao? Vì ủng hộ Bồ-tát là ủng hộ tất cả chúng sinh. Vì sao? Vì Bồ-tát phát tâm vì tất cả chúng sinh, nên gọi là lời thệ nguyện ủng hộ kẻ ngu si tăm tối, thoát khỏi sinh tử để đạt đến Nêhoàn.

Phật dạy:

–Ai biết ủng hộ Bồ-tát là người đã ủng hộ tất cả chúng sinh, đem những vật sở hữu, y, bát… cúng dường Bồ-tát hay bố thí cho mọi người. Vì sao? Vì Bồ-tát nhờ hơi thở vô ra mà được sống. Như con người nhờ có hơi thở ra vào mà được sống an ổn đầy đủ, vì muốn làm lợi ích cho tất cả.

Khi ấy, tất cả chúng hội: Thiên tử cõi Dục, Thiên tử cõi Sắc, tiên tử cõi thanh tịnh, Chân-đà-la, Kiền-đà-la, Ma-hưu-lặc… đều khen ngợi, phấn chấn làm theo lời Phật dạy. Tất cả đem các loại hoa rải cúng dường Phật.

Thuần-chân-đà-la suy nghĩ: “Từ các Tỳ-kheo, Bồ-tát lên đến Phật đều sắp trở về.”

Thuần-chân-đà-la dùng Thần túc trở lại làm xe hoa ngang dài ba trăm dặm bằng các ngọc báu, dùng vô số châu báu làm cây. Ông ta làm tòa Sư tử cao bốn trượng bảy thước cho Như Lai, lấy lụa trời vô số màu sắc, có viền rèm trải trên các tòa. Các Tỳ-kheo và Bồ-tát cùng đến ngồi. Còn các Đế Thích, bốn đại Thiên vương thì làm tòa như tòa ở cõi trời.

Làm đâu đó xong, Thuần-chân-đà-la bạch Phật:

–Xin Ngài từ bi đến an tọa.

Đức Phật và các Tỳ-kheo cùng các Bồ-tát đều đến ngồi xe của Thuần-chân-đà-la. Khi ấy, nhờ Thần túc của Thuần-chân-đà-la, chiếc xe rời khỏi cách mặt đất một trăm bốn mươi trượng. Xe ấy bay trên hư không, có tám ngàn Thiên tử, các Thuần-chân-đà-la, Kiềnđà-la đi theo. Thuần-chân-đà-la lấy vàng làm dây rồi cùng quyến thuộc đi trước, kéo xe đến đạo tràng.

Đức Phật phóng ánh sáng chiếu thấu tam thiên đại thiên thế giới. Vua A-xà-thế cùng quần thần, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di thấy ánh sáng nên biết Đức Phật sắp đến. Tất cả đem lọng lụa, cờ, hoa, hương ra khỏi thành La-duyệt để nghênh đón. Tám vạn bốn ngàn kỹ nhạc của Thuần-chân-đà-la vừa đi vừa ca hát, đánh đàn, nghe âm thanh ấy đi trước. Con và quyến thuộc của Thuầnchân-đà-la kéo xe đưa Phật đã đến núi Kỳ-xà-quật. Đức Phật xuống xe và đến chỗ ngồi, còn các Tỳ-kheo, Bồ-tát đều đứng phía trước.

Vua A-xà-thế, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, tất cả các vị tôn quý và các vua nhỏ của vua A-xà-thế đem lọng lụa, hương hoa đến cúng dường và lạy Phật rồi thưa:

–Bạch Như Lai! Bồ-tát Đề-vô-ly hỏi Phật: Thuần-chân-đà-la cùng quyến thuộc đem xe đón Phật đến đây. Vậy họ được công đức gì?

Phật dạy:

–Thuần-chân-đà-la cùng quyến thuộc đều phát tâm Vô thượng Bồ-đề. Nhờ công đức này mà chứng đắc năm thiền chi, cho đến thành Phật vẫn không mất. Đi từ cõi này đến cõi khác cúng dường chư Phật. Ai nghe pháp ấy cũng cúng dường, gần gũi các Tỳ-kheo Tăng và đều biết kiếp trước. Tất cả sẽ thành tựu với lòng đại Bi vô cực, sẽ hộ trì chánh pháp, sẽ giáo hóa chúng sinh.

Vua A-xà-thế nói với Thuần-chân-đà-la:

–Lành thay! Nhân giả được Phật khen ngợi.

Vua A-xà-thế nói tiếp:

–Công đức do Nhân giả tạo ra, xin hãy chia cho tôi một ít để tôi được công đức ấy.

Thuần-chân-đà-la trả lời:

–Nếu vua đồng ý nhận giữ công đức ấy thì tôi sẽ cùng chia cho tất cả. Vì sao? Vì công đức của Bồ-tát tạo ra đều vì chúng sinh nên không ham muốn. Hơn nữa, những công đức tạo ra đó không nghĩ do riêng mình làm. Tất cả chúng sinh cho rằng việc làm của Bồ-tát là vì tất cả nên được sự cứu giúp. Vì sao? Vì Bồ-tát là nhân duyên của tất cả chúng sinh, nhờ sự tu tập nên làm lợi ích cho mọi người.

Thuần-chân-đà-la nói với A-xà-thế:

–Lành thay! Nhân giả đã có hai vị Thiện tri thức. Hai vị đó là Đức Phật và Văn-thù-sư-lợi. Nhờ ân đức này mà được giải trừ tất cả việc làm phi pháp và các điều nghi ngờ.

Vua A-xà-thế nói:

–Hành vi của Bồ-tát rất hoàn hảo, lấy tâm làm pháp khí. Ai nghe pháp này sẽ không còn hồ nghi, không nhớ, cũng không quên.

Bồ-tát Đề-vô-ly thưa Phật:

–Bạch Thế Tôn! Vì sao nói rằng Bồ-tát có thể làm pháp khí?

Phật dạy:

–Lấy ba mươi hai việc làm pháp khí. Ba mươi hai việc ấy là gì?

  1. Bồ-tát trụ yên ổn được Phật hộ trì. Đó là pháp khí.
  2. Không dua nịnh, lời nói chắc thật không hai, tin có công đức. Đó là pháp khí.
  3. Tu tập hạnh Bồ-tát. Đó là pháp khí.
  4. Nghe rồi suy nghĩ. Đó là pháp khí.
  5. Thâm nhập vào tâm, từ từ đạt được đạo. Đó là pháp khí.
  6. Biết rõ các căn bản. Đó là pháp khí.
  7. Bố thí được giàu sang. Đó là pháp khí.
  8. Giới thể thanh tịnh, thệ nguyện viên mãn. Đó là pháp khí.
  9. Nhẫn nhục được ba mươi hai tướng tốt. Đó là pháp khí.
  10. Tinh tấn đối với tất cả pháp của chư Phật. Đó là pháp khí.
  11. Nhất tam điều trị bệnh của mình. Đó là pháp khí.
  12. Trí tuệ không chướng ngại. Đó là pháp khí.
  13. Từ là bình đẳng với mọi người. Đó là pháp khí.
  14. Bi là cứu giúp người nghèo khổ. Đó là pháp khí.
  15. Hộ là thương xót chúng sinh. Đó là pháp khí.
  16. Tâm bình đẳng là: với tất cả chúng sinh không có tâm riêng biệt. Đó là pháp khí.
  17. Làm Thiện tri thức cho người. Đó là pháp khí của tất cả các công đức.
  18. Nghe không nhàm chán. Đó là pháp khí của Bát-nhã ba-lamật.
  19. Làm Sa-môn, dù xa cha mẹ quyến thuộc nhưng tâm không đau khổ. Đó là pháp khí.
  20. Thích một mình ở trong núi, tâm chuyên nhất. Đó là pháp khí.
  21. Thích ở nơi thanh vắng để đạt thiền định. Đó là pháp khí.
  22. Đem những gì mình có cho người không có, rồi chỉ dạy họ vào đạo. Đó là pháp khí.
  23. Giữ gìn, bảo hộ các pháp để cho kẻ tăm tối được sáng suốt. Đó là pháp khí.
  24. Biết Đà-la-ni, hiểu rõ nghĩa nó, rồi đem giảng dạy cho người. Đó là pháp khí.
  25. Những gì mình ưa thích là vì mọi người, giải nghi cho họ. Đó là pháp khí.
  26. Ai nghĩ nhớ đến Phật thì mau được thấy Phật. Đó là pháp khí.
  27. Không sân giận, không hối hận, công đức ấy không biết hết được. Đó là pháp khí.
  28. Vì biết các pháp là không, nên không luyến tiếc. Đó là pháp khí.
  29. Hiểu rõ mười hai nhân duyên, vượt qua chấp đoạn chấp thường. Đó là pháp khí.
  30. Được pháp nhẫn. Đó là pháp khí.
  31. Không bao lâu được thọ ký. Đó là pháp khí.
  32. Đối với bậc Nhất sinh bổ xứ, nhờ năng lực ở trước nên không động chuyển. Đó là pháp khí.

Trên đây là ba mươi hai pháp khí của Bồ-tát.

Khi Đức Phật nói pháp này có một vạn người phát tâm Vô thượng Bồ-đề, tất cả cất tiếng thưa:

–Bạch Thế Tôn! Chúng con muốn cho tất cả đều được là pháp khí. Nay chúng con được pháp khí mà Như Lai đã nói.

Đức Phật dạy Thuần-chân-đà-la:

–Ông hãy trở về chỗ cũ, đừng cho mọi người phải mệt nhọc.

Thuần-chân-đà-la thưa:

–Người nào có tâm nghĩ đến mệt nhọc thì chẳng phải là Bồ-tát. Còn ai không nghĩ đến mệt nhọc thì đó là Bồ-tát.

Thuần-chân-đà-la thưa tiếp:

–Bạch Thế Tôn! Nguyên do gì Bồ-tát nghĩ đến mệt nhọc?

Nguyên do gì Bồ-tát không nghĩ đến mệt nhọc?

Đức Phật dạy:

–Với bốn việc Bồ-tát biết có mệt nhọc. Bốn việc biết mệt nhọc đó là gì?

  1. Nghe người nhiều vô số thì tâm Bồ-tát sợ hãi. Đây là mệt nhọc thứ nhất.
  2. Nghe sinh tử không thể vượt qua, làm tâm sợ hãi. Đây là mệt nhọc thứ hai.
  3. ghe trí tuệ Phật không hạn lượng, làm tâm Bồ-tát sợ hãi. Đây là mệt nhọc thứ ba.
  4. Nghe vố số công đức thành một tướng, làm tâm Bồ-tát sợ hãi. Đây là mệt nhọc thứ tư.

Với bốn việc, Bồ-tát biết không mệt nhọc. Bốn việc đó là gì?

  1. Muốn cứu độ tất cả chúng sinh đều đạt đến Nê-hoàn. Đây là việc thứ nhất không cho là mệt nhọc.
  2. Muốn tự mình cứu giúp vô số sinh tử, vì muốn tạo công đức nên tâm không sợ, nên không cho là mệt nhọc.
  3. Nghe vô số trí tuệ của Phật thì Bồ-tát muốn đầy đủ, tâm không sợ hãi, nên không cho là mệt nhọc.
  4. Nghe vô số công đức thành một tướng, tâm Bồ-tát không sợ hãi, nên không cho là mệt nhọc.

Đó là bốn việc biết Bồ-tát không cho là mệt nhọc.

Lại có bốn việc biết cho là mệt nhọc. Bốn việc đó là gì?

  1. Ngay ở giai đoạn trung gian, ưa thích pháp Thanh văn nên đến gần gũi.
  2. Ngay ở giai đoạn trung gian, ưa thích pháp Bích-chi-phật, nên đến gần gũi.
  3. + 4. Khi chánh pháp sắp tận, không dụng tâm, không hộ trì, không dạy người phát tâm Bồ-tát.

Đó là bốn việc biết Bồ-tát cho rằng mệt nhọc.

Lại có bốn việc không cho rằng có mệt nhọc. Bốn việc đó là gì?

  1. + 2. Không tự vui với pháp La-hán, Bích-chi-phật.
  2. Chấp nhận chịu chết chứ không lìa pháp.
  3. Nếu nghe người thiện có khả năng phát tâm Bồ-tát thì nên đến đó chỉ dạy, không lánh xa.

Đó là bốn việc biết Bồ-tát không cho là mệt nhọc.

Lại có bốn việc biết Bồ-tát cho là mệt nhọc. Bốn việc đó là gì?

  1. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn, kẻ bần cùng, ăn xin đến cầu xin thì sân giận họ.
  2. Chỉ lo lắng cho mình được ăn uống, ngồi nằm được an ổn mà không nghĩ đến người khác.
  3. Không nghĩ đến sự học hỏi, cho rằng ta biết nhiều.
  4. Có văn tuệ, thường thường vội bỏ đi, không muốn chỉ dạy cho người.

Đó là bốn việc Bồ-tát cho là có mệt nhọc.

Lại có bốn việc Bồ-tát không cho là met nhọc. Bốn việc đó là gì?

  1. Nếu có người ăn xin đến cầu xin thì đem bố thí cho họ, xem họ như Thiện tri thức của mình.
  2. Tâm hòa nhã, dịu dàng với tất cả chúng sinh.
  3. Không nghĩ rằng mình được an vui, mà muốn mọi người cũng đều an vui.
  4. Với sự học hỏi không nhàm chán, chỉ dạy cho người không có sự mong cầu.

Đó là bốn việc biết Bồ-tát không cho có mệt nhọc.

Lại có bốn việc biết Bồ-tát cho rằng có mệt nhọc. Bốn việc đó là gì?

  1. Không cầu đạo Ba-la-mật.
  2. Không lấy tứ sự để bố thí.
  3. Với chúng sinh không tinh tấn chỉ dạy nghĩa lý.
  4. Nghe nhớ điều gì cho là đã đủ, không nhớ nghĩ đến đạo Bồtát.

Đó là bốn việc biết Bồ-tát cho rằng có mệt nhọc.

Lại có bốn việc biết Bồ-tát không cho rằng có mệt nhọc. Bốn việc đó là gì?

  1. Nếu thân bị đốt cháy, không cho là đau đớn mà cầu các Bala-mật không biếng nhác.
  2. Lấy tư sự để bố thí để họ đầy đủ, không làm trái ý với người cầu xin.
  3. Tinh tấn chỉ dạy, muốn người hoan hỷ.
  4. Muốn đầy đủ các công đức, biết không nhàm chán.

Đó là bốn việc biết Bồ-tát không cho rằng có mệt nhọc.

Đức Phật hỏi vua A-xà-thế:

–Có nghe Bồ-tát không cho rằng mệt nhọc không?

Vua trả lời:

–Đã nghe rồi.

Phật dạy:

–Nghe rồi thì từ nay trở đi nếu có người hành Bồ-tát hạnh thì việc làm đừng nhàm chán cho là mệt nhọc.

Vua A-xà-thế bạch Phật:

–Sao gọi là Bồ-tát hạnh?

Giữa chúng hội gồm Thuần-chân-đà-la, Kiền-đà-la, Đức Phật giảng nói pháp, mọi người đều lãnh hội: vua A-xà-thế nghe Phật giảng nói về hạnh của Bồ-tát như vầy:

Làm theo pháp đã nghe là hành. Đối với Bồ-tát, hành không mệt nhọc, hành tâm bình đẳng với tất cả, hành kiên cố, hành chắc chắn, hành thanh tịnh, như ý sở tác, với pháp Bồ-tát hành không dua nịnh, hành bố thí, hành cho tất cả mà không tiếc, Bồ-tát hạnh không hành theo chấp hữu, hành nương vào giới thanh tịnh, hành tịch tĩnh, hành thân, khẩu, ý thanh tịnh, tâm Bồ-tát luôn nghĩ đến hành hạnh nhẫn nhục, hành trừ bỏ các oán hận, hành làm Bồ-tát, hành tinh tấn không vọng tưởng, hành đạt đến mục đích, hành đối với sinh tử không cho là khổ nhọc, hành hạnh Bồ-tát không sợ hãi, hành thiền, hành tri, hành thân tâm an vui, hành hạnh Bồ-tát tâm không tán loạn.

Bồ-tát hành bằng trí tuệ nên hành đúng pháp, Bồ-tát hành không chấp có sở đắc, hành theo lòng Từ, hành tâm hòa nhã, hành tu đại Bi, hành theo hạnh Bồ-tát, hành không sân giận, hành không, hành theo ý, hành thanh tịnh không vọng tưởng.

Bồ-tát hành không mong cầu.

Bồ-tát hành đúng thì nên hành, hành đầy đủ trí tuệ, hành theo Bồ-tát, hành lòng tin không chướng ngại, hành ý an Tam-muội.

Bồ-tát hành không gián đoạn, hành Thần túc, hành thiền, hành bằng năm Thiền chi. Hành theo hạnh Bồ-tát thì không có tội, hành bình đẳng chân thật, hành nương vào pháp, hành muốn chỉ dạy chúng sinh, hành đúng như Bồ-tát, hành việc làm không dựa vào nhân duyên, hành đúng với việc làm, hành đoạn tuyệt các tối tăm.

Với việc làm của Bồ-tát hành không nhầm lẫn, hành thanh tịnh, hành rửa sach các cấu bẩn. Bồ-tát làm như vậy là hành, hành không hối hận, hành bảo hộ chúng sinh để họ không còn lo sợ.

Bồ-tát làm như vậy là hành, hành đầy đủ theo sự mong cầu của chúng sinh, hành như mặt trời, hành như mặt trăng, hành như hoa sen không nhiễm.

Bồ-tát làm như vậy được chư Thiên cung kính, hành như Đế Thích, hành như chư Thiên, hành đạo đầy đủ.

Bồ-tát hành như vậy chúng ma đều sợ sệt. Hành trì, hành tôn kính, hành diệt sạch dâm, nộ, si.

Bồ-tát hành hạnh như vậy được vô số chư Thiên khen ngợi, hành lâu dài, hành mắt trí tuệ thanh tịnh, hành nghiêm túc, với sắc không hành chấp trước.

Bồ-tát hành như vậy không có tội. Bồ-tát đã hành hạnh như vậy được chư Thiên khen ngợi. Hành lời nói nhu hòa, hành bình đẳng, hành xả bỏ tà đạo.

Bồ-tát hành lấy tuệ làm gốc, hành dõng mãnh, hành chấn động quân ma, hành chúng hội đang ngồi và cây của Phật không khác nhau. Hành đắc Đà-la-ni, hành việc làm của Bồ-tát không nhàm chán, hành trong núi, hành năng nhẫn, hành ưa thích làm Samôn, hành hạnh Bồ-tát như ban đầu, hành muốn giải thoát và hành tâm.

Đối với tất cả, hành một cách tôn kính thì chỗ duyên hợp của Bồ-tát không mất, hành làm thành tựu, hành phương tiện thiện xảo.

Đối với thiền định, hành không mong cầu, Bồ-tát hành theo chỗ không có pháp, hành theo thế tục, hành phi thế tục, hành cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc. Bồ-tát hành như vậy thì không sợ sệt.

Hành tất cả, hành biết rõ mọi người. Nẻo hành trì của Bồ-tát giống như bầu trời bao trùm tất cả.

Khi Phật nói hạnh của Bồ-tát, có năm trăm Bồ-tát được pháp Nhẫn vô sinh, tám ngàn người trong hội phát tâm Vô thượng Bồ-đề. Tất cả đều thưa Phật:

–Chúng con sẽ phụng hành và hành đúng hạnh của Bồ-tát.

Đức Phật hiện điềm lành muốn làm cho Thuần-chân-đà-la quay về chỗ cũ. Khi ấy, quyến thuộc trong cung thất của Thuanchân-đà-la đi nhiễu Phật ba vòng, quỳ trước Phật rồi xin lui. Từ nơi thân họ phóng ánh sáng và tấu kỹ nhạc, đánh đàn, làm đại địa chấn động sáu cách, mưa hoa trời rồi trở về cung thất của mình.

Thích Đề-hoàn Nhân bạch Phật:

–Thuần-chân-đà-la cúng dường Phật, Pháp và Tỳ-kheo Tăng, chư Bồ-tát, công đức ấy đã vượt lên trên con.

Phật dạy Thích Đề-hoàn Nhân:

–Không chỉ vượt hơn ông mà công đức ấy vượt qua tam thiên đại thiên thế giới và cả các Thích, Phạm, Tứ Thiên vương, Thanh văn, Bích-chi-phật. Vì sao? Vì Bồ-tát một khi phát tâm thì vượt qua các Thanh văn, Bích-chi-phật. Tất cả chúng sinh nhờ pháp ấy mà được độ thoát. Hạnh Bồ-tát thù thắng hơn tất cả, không ai hơn Đức Phật. Cho nên biết rằng không ai sánh bằng Bồ-tát. Vì sao? Vì Phật nhờ tâm Bồ-tát mà thành tựu. Các Thanh văn nhờ Phật pháp mà thành tựu.

Thích Đề-hoàn Nhân bỗng khóc, nước mắt tuôn trào, bạch Phat:

–Bạch Thế Tôn! Con đã làm tổn hại cội gốc nên không phát tâm Bồ-tát.

Khi đó, trong chúng hội có Thiên tử tên Cụ Hoặc, nói với Thích Đề-hoàn Nhân:

–Giáo pháp của Đức Phật lưu bố khắp cõi trời, ai cũng phát

tâm Bồ-tát. Nay ông hối hận thì có lợi ích gì? Vì sao Vì ông đã đốt cháy hạt giống Bồ-tát rồi, không phải là pháp khí của Bồ-tát.

Khi Cụ Hoặc nói như vậy, có năm trăm Thiên tử trời Đao-lợi phát tâm Vô thượng Bồ-đề.

Thiên tử Cụ Hoặc thưa Phật:

–Con biết Phật từ nơi hạnh xưa, Bồ-tát được Đề-hòa-kiệt Phật thọ ký, pháp Nhẫn vô sinh. Như Lai đã nói về pháp Nhẫn vô sinh, con muốn được nghe. Cúi xin Ngài nói cho.

Phật dạy:

–Nếu Bồ-tat không có công đức thì không thể nghe pháp Nhẫn vô sinh.

Phật dạy Cụ Hoặc:

–Bồ-tát nhờ bốn việc mà được pháp Nhẫn vô sinh. Thế nào là bốn?

  1. Biết chư Phật từ quá khứ, đương lai và hiện tại đều bình đẳng không có.
  2. Bình đẳng với các pháp không khác.
  3. Bình đẳng với các cõi Phật.
  4. Bình đẳng với chúng sinh. Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc. Thế nào là bốn?

  1. Thích không mà lại biết bốn bậc thiền.
  2. Với lòng Từ bi vô cực, thích ở nơi ba cõi.
  3. Với phương tiện thiện xảo thích sáu Ba-la-mật.
  4. Với trí tuệ thích năm Thiền chi. Đó là bốn.

Lại có bốn việc. Thế nào là bốn?

  1. Đối với năm ấm mà cầu đạo Bồ-tát. Bồ-tát biết năm ấm nhưng tự nhiên.
  2. Đối với bốn đại mà cầu Bồ-tát, tin bốn đại nhưng tự nhiên.
  3. Đối với sáu trần mà cầu Bồ-tát, gần gũi sáu trần nhưng tự nhiên.
  4. Đối với các pháp mà cầu Bồ-tát, đối với các pháp tự nhiên không nghi ngờ.

Đó là bốn.

Lại có bốn việc. Thế nào là bốn?

  1. Nhờ trụ vào bản tế mà biết các pháp.
  2. Đã trụ nơi pháp của Như Lai thì đều thể nhập vào các pháp bình đẳng với ba đời.
  3. Thể nhập vào Pháp thân, biết rõ các pháp, tướng nó như hư không, không thể hư hoại.
  4. Quán các pháp bình đẳng giống nhau.

Đó là nhờ bốn việc mà Bồ-tát được pháp Nhẫn vô sinh.

Khi Đức Phật nói pháp ấy, có năm trăm Bồ-tát được pháp Nhẫn vô sinh. Thiên tử Cụ Hoặc được pháp nhan không chướng ngại.

Nói xong, Phật dạy Tôn giả A-nan:

–Ông có thấu hiểu những gì Thuần-chân-đà-la đã hỏi không?

Tôn giả A-nan thưa:

–Con thấu đạt đầy đủ. Pháp ấy rất thích hợp, thích thú không gì bằng, thật vi diệu sâu xa. Đúng như đã nói trước đây, do đó mà hiểu rõ các pháp.

Tôn giả A-nan bạch Phật:

–Pháp trước đây Phật đã giảng nói, hôm nay nghe lại thì có thể hiểu rõ ràng. Con là Thanh văn, nghe còn hiểu rõ pháp ấy, huống chi là Bồ-tát có trí tuệ vô cực, tâm như biển lớn dung chứa tất cả. Trí tuệ của các vị ấy sâu rộng, bao quát tất cả mọi nơi, thâu nhiếp các pháp, là vật báu trong các báu, làm người thay thế cho chúng sinh không ai thay thế. Nếu quán sâu vào tuệ của Bồ-tát ấy thì không có gì lường được.

Tôn giả A-nan lại thưa Phật:

–Sau này ai nghe pháp ấy sẽ được hướng đến ánh sáng của pháp. Ánh sáng từ một lỗ chân lông của Như Lai còn che lấp ánh sáng của tam thiên đại thiên mặt trời, mặt trăng, vậy mà ánh sáng từ chân lông toàn thân của Như lai không bằng ánh sáng của pháp này.

Chắc chắn không có gì vượt qua được. Vì sao? Vì ánh sáng ấy từ trí tuệ mà có. Ánh sáng pháp biết tất cả chúng sinh, cho nên pháp ấy là tối tôn không gì che lấp được. Đời sau ai nghe pháp này đều được có ánh sáng trí tuệ. Nghe rồi, thọ trì, đọc tụng, dạy bảo người nương vào trí pháp ấy thì không lìa Bồ-tát vì có tất cả. Lấy Bi vô cực làm đại hoằng thệ nguyện. Lấy từ làm áo giáp để thu phục chúng ma, dần dần đến gần dưới cây Phật.

Tôn giả A-nan thưa:

–Con nhờ oai thần của Phật mà giữ gìn pháp ấy. Nếu đọc tụng thuộc lòng và giảng nói rộng rãi cho tất cả chúng sinh thì phước ấy như thế nào?

Phật dạy:

–Nếu có người đem bảy báu đặt đầy cả tam thiên đại thiên thế giới để cúng dường cho các bậc Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, Bích-chi-phật, lên đến Đức Phật, chỗ tạo công đức ấy trải qua một ngàn năm.

Phật hỏi Tôn giả A-nan:

–Phước ấy có nhiều không?

Tôn giả A-nan thưa:

–Rất nhiều, rất nhiều! Kính bạch Thiên Trung Thiên.

Phật dạy:

–Mặc dù phước ấy rất nhiều nhưng không bằng người nam hay người nữ phụng hành hạnh Bồ-tát, đêm ngày ba lần tụng đọc, hoặc giảng nói những điều trong pháp kia; công đức này vượt lên trên công đức trước, huống chi người nói pháp này. Vì sao? Vì Bồ-tát ấy lấy bốn việc trong kinh giảng nói, giải thích ý nghĩa trong pháp ấy, cho nên gọi pháp thí là tối tôn trong các bố thí, đó là ân đức vô cùng cực. Pháp thí là sự hộ trì cùng cực. Vì sao? Vì ai nghe pháp ấy thì tâm không còn phiền não cấu bẩn và sẽ được giải thoát. Nếu đem tất cả của cải ra bố thí chẳng qua là để trưởng dưỡng sinh tử. Còn ai muốn vượt qua sinh tử thì nên đem pháp này để bố thí. Đó là theo lời dạy cách bố thí của Phật. Tất cả chúng sinh nhờ vào pháp thí mà được công đức.

Khi Bồ-tát bố thí được ba mươi hai điều. Ba mươi hai điều ấy là gì?

  1. Ý an ổn.
  2. Việc làm an ổn.
  3. Với hạnh được an ổn.
  4. Ít ham muốn.
  5. Bớt giận.
  6. Bớt si.
  7. Tự độ, lại độ người vượt qua sinh tử.
  8. Được người yêu mến.
  9. Được chư Thiên khen ngợi.
  10. Được Rồng, Dạ-xoa, Kiền-đà-la ủng hộ.
  11. Theo việc đã làm mà vượt từng phần.
  12. Có được y, bát, thức ăn, giường chiếu, thuốc thang.
  13. Tiếng tốt gần xa ai cũng biết, không bao giờ bị tà đạo làm hại.
  14. Được chư Phật khen ngợi, tu hành giữ gìn chánh pháp.
  15. Nhờ đó mà đắc Pháp thân, không sợ đường ác.
  16. Đối với chư Thiên và người không cho là khó.
  17. Sinh nơi nào cũng không lìa các Phật pháp.
  18. Sinh nơi nào cũng biết được đời trước.
  19. Sinh nơi nào cũng được yêu thương.
  20. Thân đầy đủ các căn.
  21. Được ba mươi hai tướng.
  22. Đắc Đà-la-ni, phá hoại ái dục.
  23. Biết các nhân duyên, tự nuôi sống bằng thiền định.
  24. Lấy đại tuệ tu sửa đường đạo.
  25. Tối tăm mau sáng.
  26. Tâm không nghĩ điều tà vạy.
  27. Bố thí hơn trong thế tục.
  28. Pháp tạng được theo ý muốn không cùng tận.
  29. →32. 2

Thích Đề-hoàn Nhân bạch Phật:

–Con phụng hành, giữ gìn pháp này, sau khi Phật Bát-niết-bàn nếu có người ứng với pháp khí thì con sẽ ủng hộ để vị ấy được nghe pháp. Vì sao? Vì như công đức trong kinh đã nói, nhờ công đức nên được vui vẻ.

Phật dạy:

–Lành thay, lành thay! Ở trước mặt ta, Thuần-chân-đà-la đã nói mạnh mẽ như sư tử. Đời sau, ông nên bảo hộ pháp này. Nhờ công đức ấy, nếu A-tu-luân đem binh đến thì chúng không dám tấn công. Vì sao? Vì đây là pháp yếu không ai có thể đạt được. Nhưng ai muốn giữ gìn nó mà có chỗ lo sợ là vì chỗ hiểu biết chân chánh, nên đối với pháp không mong cầu, cho nên gọi là hộ trì họ.

Phạm thiên bạch Phật:

–Nếu ở quận, huyện, thành ấp, xóm làng, có người nói pháp này, chúng con sẽ rời khỏi trụ xứ để đến ủng hộ. Vì sao? Vì Thanh văn, Bích-chi-phật, Phạm, Thích đều nhờ pháp này mà được thành tựu.

Tứ Thiên vương bạch Phật:

–Chúng con là đệ tử của Phật, sẽ phụng hành pháp này, sẽ ủng hộ để pháp này ton tại lâu dài. Nếu bộ chúng của chúng con không tin Phật pháp, hay trong loài Rồng, Dạ-xoa, Kiền-đà-la, Chân-đà-la, Ma-hưu-lặc có ai không tin thì con sẽ làm cho họ tin, rồi tùy theo tập tục bảo họ đều nói chú:

“Đa bệ án, bệ a lạp bệ loa, thiểu lạp bệ hưu, yến ma hưu yến y yến sách yến. A hòa đề duy việt đề ba lợi. Cái đa na ni, văn miết ba ca sa quân hòa, quân hòa đà.”

Họ sẽ tin và quay về Phật pháp. Ai có tâm tà, được tâm chân chánh.

Khi ấy, có Dạ-xoa không tự cao với sức của mình đều khen ngợi Phật và ủng hộ giáo pháp. Đây là điều Phật đã nói.

Tứ Thiên vương nói:

–Nếu ai tìm lỗi người ấy thì không thể được.

Phật dạy Bồ-tát Di-lặc và Bồ-tát Đề-vô-ly:

–Ta đã tu hành đạo Bồ-tát từ a-tăng-kỳ kiếp, nay lấy pháp này mà giao phó cho các ông để được tồn tại lâu dài.

Bồ-tát Di-lặc nói với Bồ-tát Đề-vô-ly:

–Sau khi Phật Bát-niết-bàn, chúng ta sẽ hộ trì, giữ gìn pháp này, sẽ dạy bảo, nói rộng rãi cho mọi người. Đời sau, nếu Bồ-tát có công đức thì sẽ mau được quyển kinh ấy. Chúng tôi sẽ giúp đỡ, ủng hộ hết lòng. Đời sau, ai được kinh này ghi chép, tụng thuộc lòng đều được an lạc, nên biết rằng đó là do Bồ-tát Di-lặc và Đề-vô-ly đã ủng hộ.

Khi ấy trong hội, ma đến bạch Phật:

–Khi Phật nói pháp cho Thanh văn, con không sợ sệt, không lo lắng. Nay Ngài nói dấu ấn của Bồ-tát trụ vào Như Lai, gần gũi đạo Bồ-tát, ủng hộ tất cả chúng sinh, nghe điều này con rất đau khổ, giống như già lại ốm yếu, như muốn ngã té. Cúi xin Như Lai hãy thương xót con. Vì sao? Vì nghe như vậy con rất đau buồn. Từ nay, xin Ngài đừng nói như vậy nữa.

Phật dạy:

–Này ma! Ngươi đừng khóc lóc, cũng đừng buồn đến như thế. Bạn ngươi còn rất nhiều, nếu ai không nghe pháp này, đó đều là bạn của ngươi. Còn những người tin thì ít lắm!

Phật lấy đất đặt trên móng tay:

–Nếu có người tin hướng về pháp này thì số người ấy ít như đất trên móng tay. Số người không tin nhiều như đất trên cả mặt đất. Số đất này nhiều vô số. Số người không tin ấy đều là bạn của ngươi. Do đó ngươi nên vui vẻ.

Khi Đức Phật giảng nói pháp này, vô số người phát tâm Vô thượng Bồ-đề, chín vạn hai ngàn Bồ-tát được pháp Nhẫn vô sinh, tám vạn bốn ngàn người được đạo Tu-đà-hoàn, tám ngàn Tỳ-kheo được A-la-hán.

Bấy giờ, tam thiên đại thiên đều chấn động đủ sáu cách, ánh

sáng chiếu khắp mọi nơi, mưa hoa trời, đàn ca kỹ nhạc không đánh mà tự kêu. Vô số hoa trời ở giữa hư không đều nói:

–Lành thay! lành thay! Ở cõi Diêm-phù chúng ta lại thấy pháp luân chuyển như Đức Như Lai đã chuyển pháp luân ở Ba-la-nại được nhiều an ổn, không bằng hôm nay được nghe nói kinh này, phước tăng lên gấp bội. Nếu có người thọ trì, đọc thuộc lòng kinh này và giảng nói tức là đã ủng hộ, thọ trì pháp.

Bồ-tát Di-lặc, Đề-vô-ly và Tôn giả A-nan thưa Phật:

–Bạch Thế Tôn! Pháp này đặt tên là gì? Nên phụng hành thế nào?

Phật dạy:

–Phap này tên là “Thuần-chân-đà-la sở vấn chư Ba-la-mật, giải chư pháp bảo phẩm.”

Khi nói kinh này xong, Bồ-tát Di-lặc, Bồ-tát Đề-vô-ly, Tỳkheo Tăng, chư Thiên, Người, Kiền-đà-la, Quỷ thần, Rồng… đều hoan hỷ, đến trước lay Phật, rồi lui ra.

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.

CHÚ THÍCH

  1.  Bản Hán thiếu.
  2.  Từ 29 đến 32: bốn pháp các bản đều thiếu.