Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

KINH A-XÀ-THẾ VƯƠNG

Hán dịch: Đời Hậu Hán, Tam tạng Pháp sư Chi-lâu-ca-sấm, người nước Nguyệt Thị
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

QUYỂN THƯỢNG

Nghe như vầy:

Một thời, Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, thuộc thành La-duyệt-kỳ cùng với chúng hội gồm một vạn hai ngàn Tỳ-kheo, Bồ-tát tám vạn bốn ngàn người, tất cả đều tôn trọng lẫn nhau. Chư Bồ-tát Ma-ha-tát đều đạt được các pháp Tổng trì, đạt đến chỗ không còn bị dục chi phối, chứng được pháp Vô sở tùng sinh, được Tuệ như thị Tam-muội, đều biết được nẻo hành nơi tâm của mọi người, đem pháp giáo hóa, khiến mỗi người đạt được điều mong muốn.

Các Tứ Thiên vương và trời Đế Thích, Thích thiên và các Thiên tử, các chúng Rồng, Dạ-xoa, Kiền-đà-la, A-tu-luân, Ca-lưu-la, Chân-đà-la, Ma-hưu-lặc, Nhân phi nhân, tất cả đều đến pháp hội. Trong lúc ấy, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi ở một nơi khác của núi này, cùng với hai mươi lăm Thượng nhân hội đủ.

Hai mươi lăm người là những người nào? Chư vị đều là Bồ-tát, đó là: Nhã-na-sư-lợi, Na-la-đạt-sư-lợi, Tam-ba-sư-lợi, Kiếp-ba-đầusư-lợi, Ba-đầu-sư-lợi,… (Kiếp xà nhân, Đà-lâu Đà-la-ni, Đà-lâu-la, Đà-ba-ni-la, Đà-mâu-ha Đa-tư-ha, Mạt-sư-ha-duy, Ca-xà-câu-la-gia, Na-ca-xà-sa-ha, Chất-đâu-ba-trầm-ma-giá, Già-ba-quát-trấn-giá-tát,

Hòa-bà-đà Ba-chi-bàn-câu-lợi, Sa-kiệt-mạt-ma-ha, Nghê-lâu-kỳphi-đà-biến, A-nan-đà-thí-xoa, Ba-chất-kỳ-la-da, A-nan-đà-a-lamduy-ha-la, Ma-chì-tra-sa, Mâu-già-chì-đà, A-dụ-dạt-tát-hòa-át1. Đây là tên của tất cả hai mươi lăm vị Thượng nhân.

Bốn vị Thiên tử cõi trời Đâu-thuật đến chỗ của Văn-thù-sư-lợi, vì muốn nghe pháp. Tên của các vị Thiên tử này là: Sa-ma-đà-cưutốc-ma-la, Vô-câu-tốc-ma, Mạn-na-la-kiền-đà-sa-ha, Ẩu-thuật-đàmduy-ha.

Lại có một số ít Thiên tử khác cùng đi đến chỗ Bồ-tát Văn-thùsư-lợi, vì muốn nghe pháp. Các Thiên tử, Thượng nhân đều ngồi, mỗi mỗi vị đều nói về trí tuệ hết sức tôn quý của Phật trí tuệ ấy là không cùng tột, không thể nghĩ bàn, không thể đo, không thể lường, không thể dùng trí phàm phu ứng hợp với thệ nguyện. Tất cả đều nói:

–Phải dấy khởi pháp với những phương tiện nào để soi sáng lãnh hội trí tuệ vô biên, cho đến Nhất thiết trí, không thể nghĩ bàn của Phật.

Bồ-tát Tuệ Thủ nói:

–Đối với công đức không bao giờ cho là đủ. Đối với mọi công đức không có chỗ mong cầu. Thực hiện được điều này là có thể đạt đến Tuệ vô cực.

Bồ-tát Tuệ Thí nói:

–Tâm bình đẳng như như, vắng lặng thì tâm ấy vui vẻ, nhu hòa tự nó gắn liền với lời dạy của Phật, tâm ấy liền nắm giữ tâm của Nhất thiết trí, luôn kiên cố đối với bốn hoằng thệ nguyện. Thực hiện được điều này thì có thể đạt đến Tuệ vô cực.

Bồ-tát Cụ Túc Bình Đẳng nói:

–Không thể so tính là bao nhiêu kiếp. Kiếp vị lai kia là vô số, vô lượng, không thể tính kể, đây là hoằng thệ nguyện, đối với hoằng thệ nguyện không tự cao ngạo. Thực hiện được điều này là có thể đến được Tuệ vô cực.

Bồ-tát Cụ Túc Hạnh nói:

–Không tự nghĩ đến điều an là có thể đến được Tuệ vô cực. Vì sao? Vì muốn làm cho tất cả đều an ổn. Thực hiện được niệm này thì không cầu, tất cả cũng đều an. Làm được như thế thì có thể đạt đến Tuệ vô cực.

Bồ-tát Liên Hoa Cụ túc nói:

–Kẻ nào không chế ngự được tâm mình thì cũng không thể chế ngự được tâm ý kẻ khác. Kẻ nào có khả năng chế ngự được tâm ý mình thì mới có khả năng chế ngự tâm ý người khác. Thực hiện được điều này là có thể đến Tuệ vô cực.

Bồ-tát Liên Hoa Cụ Hạnh Kiếp nói:

–Ai chạy theo ham muốn thì không thể cứu được ham muốn, còn không phụ thuộc vào ham muốn thì mới cứu vớt được ham muốn. Bồ-tát kia, được lợi hay không được lợi, tâm ấy không hề thay đổi. Hoặc khổ hoặc vui, hoặc hủy báng hoặc khen ngợi hoặc xấu hoặc tốt, ở đấy đều không có chỗ vướng mắc. Vì sao? Vì cũng chẳng ưu buồn, cũng không mừng vui. Thực hiện được việc này thì có thể đạt đến Tuệ vô cực.

Bồ-tát Chế Trì Chư Căn nói:

–Không niệm về tha nhân, tạo ra công đức là ta có thể làm được. Thực hiện điều ấy thì không thể vào được tuệ vô cực. Cần phải niệm một mình mà không thể không có bè bạn. Vì sao? Vì nhớ đến tất cả. Mọi người không lo toan thì ta phải lo toan cho họ. Tinh tấn liên tục không được phép lười biếng, nhằm hướng dẫn tất cả.

Thực hiện được điều này là đạt đến Tuệ vô cực.

Bồ-tát Trì Hạnh Như Địa nói:

–Hoặc giống như đất, tất cả cây cỏ, thuốc, nhà cửa, thành quách không thứ gì không lấy đất làm nhân mà đứng vững. Nhưng đất cũng không nghĩ mình là chỗ để đặt, tất cả hướng nhìn lên để được sống còn, cũng không cho đó là sự phiền hà. Bồ-tát cũng phải như vậy mà giữ lấy tâm. Phải như đất, cũng không vui, giận mà gìn giữ tâm. Phải làm cho tất cả, mỗi mỗi được như đất kia, cũng không nhớ nghĩ rồi xoay về với nhớ nghĩ. Những ai làm được việc này là có thể đến được Tuệ vô cực.

Bồ-tát Bảo Nguyện nói:

–Phải nắm giữ tâm như sự tôn quý, không tự ti, dù ở trong mộng cũng không có hai tâm. Vì sao? Vì không có ý phân biệt Lahán, Bích-chi-phật. Những ai thực hiện được việc này thì nó giống như báu vật không rời. Nếu Bồ-tát không mất cái tâm đối với tất cả mọi người thì đối với tâm châu báu, không chỗ để tham tiếc. Những ai đi theo sự cầu tìm này thì đều mở ra được con đường là Đại thừa. Vì sao? Vì vô tâm cùng với tâm ngang bằng nhau và tuệ vô tâm cùng với tuệ tâm này là bình đẳng, cũng không chỗ tăng, không chỗ giảm. Tâm ấy không chỗ tham tiếc. Thực hiện được điều này là đạt đến Tuệ vô cực.

Bồ-tát Bảo Ấn Thủ nói:

–Thấy sự sống chết của con người trong năm đường giống như rớt xuống biển. Tâm Nhất thiết trí mà thương xót nhớ nghĩ họ thì phải đưa tay ra dắt dẫn. Vì sao? Vì người không thông tuệ thì tạo ra thông tuệ làm đầu. Người tham chấp thì tạo không chỗ tham tiếc làm đầu. Người không trì giới thì dùng giới làm đầu. Người giận dữ thì lấy nhẫn nhục làm đầu. Người biếng nhác thì lấy tinh tấn làm đầu. Kẻ nào loạn ý thì vì họ tạo ra nhất tâm làm đầu. Kẻ nào vô tuệ thì vì họ tạo nên trí tuệ làm đầu. Kẻ nào không công đức thì vì họ tạo ra công đức làm đầu, đem công đức dẫn đầu ấn vào ba pháp bảo.

Sao gọi là ba?

–Khiến tất cả đầy đủ trí tuệ giáo hóa của Phật mà tạo tác.

–Tự hiểu rõ thân này là công đức quý báu đã tạo được.

–Niệm tất cả các pháp giống như hư không cho nên là hàng đầu của Pháp bảo. Đó là ba.

Những ai thực hiện được như vậy là có thể đến Tuệ vô cực.

Bồ-tát Sư Tử Ý nói:

–Thân kia tạo nên hoằng nguyện này, không chỗ khủng khiếp cũng chẳng sợ hãi, cũng không thoái lui, cũng không cởi áo, không dựng chân lông. Vì sao? Vì đối với sinh tử không có xấu ác. Cũng không vào Nê-hoàn. Sống bình đẳng với khổ, vui, không tạo ra hai tâm phân biệt. Thực hiện được việc ấy là đến được Tuệ vô cực.

Bồ-tát Sư Tử Bộ Quá Vô Cụ nói:

–Kẻ nào yếu hèn thì không thể đạt đến tuệ này. Tuệ ấy là chỗ tạo thành của bậc Đại sĩ. Vì sao? Vì loại bỏ được các điều ác, vì không dua nịnh, vì lấy sự chất phác để ứng xử thì không cao ngạo không tâm nóng giận, si mê. Chỗ tạo thành của Đại sĩ không chạy theo phi pháp. Vì sao? Vì dùng sự trung chánh thì không dâm dật, không dùng tâm độc ác. Kẻ ngu si tối tăm do không có điều ấy. Nếu thân, miệng, ý được bình đẳng, lời lẽ nói ra là ngôn ngữ chân thật, không làm mất ý của mình, thì vô cùng tôn quý điều muốn làm đều được thành tựu. Vì sao? Vì lòng chí thành đều từ pháp tự mình vui thích, do như pháp mà không tham tiếc thọ mạng. Vì sao? Vì không tham thân thể, mạng sống, không xả bỏ tất cả. Chỗ thí giúp lòng không tham tiếc, muốn khiến người nhận được chỗ cứu giúp kia. Lối vào chân chánh thì chẳng phải tà đạo.

Người nào tham lam thì vì họ tạo kho châu báu. Ai có bệnh thì vì bệnh mà cho thuốc. Ai sợ hãi thì vì họ mà làm người bảo hộ. Ai hèn kém thì vì họ mà tạo ra cõi đạo. Ai đi vào đường tà thì vì họ mà dắt vào nẻo chánh. Ai vô trí thì vì họ mà tạo trí tuệ. Tất cả là đều thuận, thì chỗ nào để lòng nỗi lên sân hận? Đại sĩ vì độ thoát mà ở trong giải thoát nhẫn nhục. Pháp nhận lãnh vốn như là chỗ trú ngụ.

Thực hiện được việc ấy thì mới được Tuệ vô cực.

Bồ-tát Tử Ma Kim Sắc nói:

–Chỗ niệm của mình như hư không. Vì sao? Vì khắp cùng mọi nơi. Do lòng thương rộng lớn mà không chỗ nào là không che chở, tâm kia thường hiện lên vẻ mặt vui mừng mà lòng rạng rỡ. Các chốn dục lạc, tâm kia không ở trong đó. Việc đem Thí giúp thì giống như bầu trời không đâu là không che phủ. Giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Nhất tâm, Trí tuệ kia cũng lại che chở như vậy. Thực hiện được việc này là có thể đến được Tuệ vô cực.

Bồ-tát Phát Ý Tức Chuyển Pháp Luân, nói:

–Có người nào mới phát tâm thì không nên để cho ma được tự tiện, không làm mất ý chư Phật, Thiên thần. Làm cho tâm trụ vững là ứng với việc chuyển pháp luân. Vì sao? Vì dùng lòng tốt đẹp để phát khởi. Vì sao? Vì tất cả các pháp là không chỗ sinh. Thực hiện được điều ấy là có thể đến được Tuệ vô cực.

Bồ-tát Chư Ngữ Tự Nhiên Phổ Vô Bất Nhập nói:

Phải nắm giữ tâm thì không nơi đâu là không tỏ ngộ. Vì sao? Vì các pháp tự nhiên vốn không, tất cả điều gì nói ra đều không. Thí như hư không, không nơi đâu là không thâm nhập đến. Bồ-tát cũng phải như vậy, tâm Bồ-tát ngộ nhập khắp nơi, hành động đúng như lời nói, trí Bồ-tát hiểu hết tất cả. Những ai thực hiện được điều này là có thể đến được Tuệ vô cực.

Bồ-tát Lạc Bất Động nói:

–Các âm sở hữu được thì không có phát tiếng, mọi tiếng vang sở hữu được nhưng không thể thủ đắc, do nhận biết vậy nên cũng không lấy gì vui, cũng không lấy gì buồn, cũng không lấy gì lười biếng. Vì sao? Vì giống như Thái sơn có thu hết gió cũng không bị lay động. Các âm tốt, âm xấu, tâm Bồ-tát cũng không lấy đó mà vui vẻ, cũng không lấy đó làm ưa thích. Vì sao? Vì không chỗ vướng mắc. Không chỗ vướng mắc thì gọi đó là Phật ngữ hoặc đạo ngữ khác, chúng hoàn toàn rỗng lặng, không sở hữu, nhìn thấy các dục có chỗ tạo tác thì chúng đều có tận cùng. Do nhận biết đầy đủ mà không cao ngạo. Thực hiện được pháp này thì mau đến chỗ thành Phật.

Bồ-tát Hải Ý nói:

–Tâm mình phải như biển là nơi thu nhận. Tuệ mà vô cùng thì giống như biển thu nhận các dòng chảy, hợp lại làm một vị. Bồ-tát đem các thứ sở hữu hợp lại làm một pháp. Vì sao? Vì dụng vi diệu, không cùng với mười hai nhân duyên biến đổi chỗ hiện hữu. Niệm Pháp thân cũng không tăng, cũng không giảm là vì tất cả làm công đức. Chỗ tạo nên công đức là muốn khiến tất cả đều được công đức. Điều này cho thấy công đức không thể hết, phải bảo vệ, không vướng mắc, không phân cắt. Lấy ý lực mà kiềm chế thân. Các chỗ có được, các chỗ tạo nên đều ngang bằng nhau không có khác. Thực hiện được điều này nên tuệ ý phát ra đầy đủ là có thể đến được Tuệ vô cực.

Bồ-tát Đại Quang Minh nói:

–Phải nắm giữ tâm thì trí tuệ ấy được sáng như Phật. Đây chẳng phải là việc làm của kẻ tục. Tâm Bồ-tát tập thành quang minh, không đâu là không chiếu sáng. Vì sao? Vì muốn khiến cho thế gian biết lấy quang minh làm pháp, tâm kẻ đó tập thành Bố thí quang minh thì không đâu là không chiếu sáng. Tập Giới quang minh thì không đâu là không chiếu sáng. Nhẫn nhục, Tinh tấn, Nhất tâm, Trí tuệ đều tập thành quang minh này thì không đâu là không chiếu sáng. Thực hiện được những việc ấy là có thể đến được Tuệ vô cực.

Bồ-tát Diệm Minh nói:

–Lấy công đức nơi tuệ tâm làm ánh sáng, thanh tịnh được chỗ sắc nhìn thấy thì không có ác. Pháp thanh, hương, vị, xúc, cũng như vậy để làm trong sạch sáu việc. Sáu việc ấy là gì? Đó là: Mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý. Các nơi này được thế thì bất cứ nơi nào cũng tạo ra niềm vui, vì chúng là dụng của tâm trong sạch. Con người trong cái nhìn của mình là muốn ai ai cũng đều thấu hiểu Phật pháp. Kẻ nào bất chính là do họ dùng pháp đoạt lấy. Sở hữu vật tốt đẹp của người không chút thương tiếc. Đã cho rồi thì không tiếc nuối.

Thực hiện được điều học này là có thể đến được Tuệ vô cực.

Bồ-tát Khả Ý Vương nói:

–Có kẻ nào mắng chửi, lăng nhục, đánh đập cũng không sân giận chỉ niệm Pháp. Vì sao niệm Pháp? Chỗ nào mắng chửi? Chỗ nào nóng giận? Ai đánh đập cũng thế. Vì bên trong không có gì gọi là được, bên ngoài cũng không có gì nghi ngại, tự mình với thân không chỗ thấy cũng không thấy ở người khác. Vì sao? Vì kẻ nào bức bách bằng chân, tay thì lấy sự hoan hỷ trao cho họ. Ai muốn lấy đầu thì tâm còn vui lên nhiều. Hoặc thành quách và châu báu, có kẻ nào bức bách lấy thì cũng không tham tiếc. Ai cầu xin vợ con thì liền đáp ứng trao cho, không có tâm nào khác. Hoặc đọc tụng khởi đầu bằng kinh này là được một chương hoan hỷ. Không vui vì Kim luân vương hoan lạc. Vì mọi người thuyết pháp mà không làm buông lơi. Xin dành cái vui cho mọi người phát tâm làm Bồ-tát, không làm Phạm thiên. Nguyện vui thấy Phật. Không tham châu báu của tam thiên đại thiên cõi nước. Thực hiện được điều này thì thường không biếng nhác. Hoan hỷ như vậy là có thể được Tuệ vô cực.

Bồ-tát Sở Thị Vô Để nói:

–Trông thấy tất cả các thứ sở hữu mà không nghĩ đến các thứ này là ngã sở, đều là cõi nước thanh tịnh. Không niệm hữu cùng vô, thấy chư Phật mà không cầu tưởng sắc. Vì sao? Vì dụng Pháp thân, thấy được tâm mọi người mà không cầu cái sở hữu của họ. Vì sao? Vì mắt đức của mình đạt được thanh tịnh, thế là có được đạo nhãn, thần túc hoàn bị. Từ việc đắc chứng Tuệ nhãn mà liền biết điều sở hữu không là chỗ đáng tham, vì vậy mà được mắt Phật, mười tám pháp đều đầy đủ. Do được mắt pháp mà đầy đủ mười Lực. Những ai hiện thực bốn hoằng thệ nguyện thì liền đến được Tuệ vô cực. Bồ-tát Tác Vô Để Hạnh nói:

–Tất cả chỗ tạo tác như chỗ tạo tác của Nhất thiết trí. Vì sao? Vì không chỗ trụ, do không chỗ trụ nên chỉ niệm các pháp. Bồ-tát thực hiện điều này là không dùng các thứ thuận. Đọa là sao? Là cũng không từ tội mà đọa, cũng không từ ma sự mà đọa. Vì sao? Vì không xả bỏ pháp, không phạm phi pháp, do thế mà đạt đến điều ấy. Nhằm vượt qua tội mà tạo ra việc ma sự. Do tương ưng ấy nên có thể đến được Tuệ vô cực.

Bồ-tát Thuyết Tức Ái Ý nói:

–Tất cả sở hữu không đi theo người nhận nó. Vì chỗ tạo tác nên trì chú đối với các ma. Do tự hiểu biết mà lìa sở hữu, cũng không chỗ nào lại tạo ra. Do biết không chỗ lại tạo ra nên chế ngự năm ấm. Do hiểu biết năm ấm nên không có ma sự. Do vượt qua ma giới mà tạo nên trung đạo không chỗ nào bị che lấp. Đã độ được rồi là không còn chỗ nào bị che lấp. Bồ-tát Ma-ha-tát thực hiện điều này là có thể đạt đến Tuệ vô cực.

Bồ-tát Sở Khởi Tức Hối nói:

–Các chỗ tạo ra tâm phi pháp mà hối lỗi và chỗ tạo tác như pháp thì hai tâm ấy không khác. Vì sao? Vì luôn phải chuyên tâm làm thiện. Thân ta có tạo được điều gì bao giờ cũng muốn cho người được tốt. Hoặc miệng, hoặc ý nói, nghĩ điều gì thì cũng muốn cho con người có điều tốt. Kẻ nào sầu ưu mà làm cho pháp rộng lớn ra là khiến sầu ưu không còn. Thực hiện như vậy thì đây là Bồtát ma-ha-tát có thể đạt đến Tuệ vô cực.

Bồ-tát Đắc Nhất Thiết Nguyện nói:

–Điều gì hiện hữu như tịnh giới chẳng hạn thì sở nguyện ắt được. Vì như tịnh giới thì không lại phạm tục. Không phạm tục là ứng với ba mươi bảy phẩm cội gốc, như Nhất thiết trí nói chung. Kẻ nào áp dụng đúng tịnh giới thì không ngăn ngại ba mươi bảy phẩm.

Đây là chỗ tạo tác của Bồ-tát ma-ha-tát, dẫn đến Tuệ vô cực.

Thiên tử Phổ Đẳng Hoa nói:

–Giống như cây có hoa, ai thấy cũng hoan hỷ. Nơi nào tạo ra tất cả công đức thì không ai là không cúi nhờ. Giống như cây Câu-kỳ trên cung trời Đao-lợi, một khi hoa nở rực rỡ thì chư Thiên không ai là không vui thích. Bồ-tát dùng pháp vì tất cả mà tạo ra mắt giống như hoa, như báu ma-ni trên trời không một vết bẩn. Bồ-tát thanh tịnh thì tâm Bồ-tát là như vậy. Người nào thực hiện được điều ấy thì có thể đạt đến Tuệ vô cực.

Thiên tử Quang Minh Hoa nói:

–Giống như mặt trời hiện ra là xua hết các tối tăm, có các sắc đều thấy rõ. Bồ-tát dùng trí tuệ nên không chỗ nào là không chiếu sáng. Những ai ngu si, nếu tối tăm xua được hết là họ mở rộng ra tầm thấy. Vì sao? Vì cuối cùng kẻ ấy phải sáng ra. Kẻ nào ở trong tối mà thấy sáng thì liền được lối đi tắt của đạo. Bồ-tát do trụ trong lối đi tắt của đạo nên ai quên mất lối đi này thì chỉ bày lộ trình đạo cho họ. Do như vậy mà có thể đạt đến Tuệ vô cực.

Thiên tử Thiên Hương Hoa nói:

–Giống như hoa Mạn-đà-la, hương của nó nghe khắp ngang dọc, trên, dưới bốn hướng, mỗi phía đến bốn mươi dặm, Bồ-tát do nghe được Tam-muội tịnh giới, gìn giữ trí tuệ lấy đó làm hương mà tam thiên đại thiên thế giới không đâu là không nghe. Hương này chữa lành không biết bao nhiêu người bệnh. Do chỗ nghe Tam-muội tịnh giới, trí tuệ kia mà Bồ-tát trụ nơi đây làm phương tiện đi đến Tuệ vô cực.

Thiên tử Tín pháp hạnh đắc nói:

–Phải trụ ở nơi pháp, phải làm theo pháp, vì như pháp Bồ-tát thì không bao giờ lười nhác, không có vấn đề hiểu mà lại không nhớ nghĩ, do thế mà được mười việc, tập sáu pháp Ba-la-mật, dùng bốn

Tâm bình đẳng, năm câu, bốn việc nói chung là ba giải thoát nhẫn nhục, lợi lạc, khiến người phát tâm. Thân kia không bỏ rơi nó, vận dụng phương tiện quyền xảo để chỉ bày, các pháp yếu đều nắm giữ, lòng tin không có khác. Đây là mười việc, những ai thực hiện các điều ấy là có thể đến được Tuệ vô cực.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bảo các Thượng nhân và các Thiên tử:

–Bồ-tát trụ nơi không chỗ trụ. Sao gọi là trụ không chỗ trụ? Vì ở trong ba cõi mà không lấy ba cõi làm đối tượng tu tập. Trong thì không lấy đó tu tập, ngoài thì không lấy đó làm đối tượng tìm cầu. Tuy là ngoài nhưng không khiến đệ tử lơi lỏng việc tu tập, cũng không bỏ mất quả vị Bích-chi-phật. Tập gọi là sinh tử. Chỗ học tập sinh tử gọi là vô sở tri. Tập chính là danh, nơi học tập danh là sắc. Tập là nhân duyên, chỗ học tập này thì có chỗ thấy. Tập gọi là ái, chỗ học tập ái thì gọi là gốc của sự hiện hữu. Tập là hữu ngã, chỗ học tập hữu ngã thì gọi là phi ngã. Tập là tham, chỗ học tập của tham là sự Bố thí không khác. Tập gọi là phạm giới, chỗ học tập này thì đối với Giới không tự cao ngạo. Tập gọi là sân giận, chỗ học tập này là Nhẫn nhục, không cao ngạo. Tập là không tinh tấn, chỗ học tập này là Tinh tấn không tự cao ngạo. Tập gọi là loạn tâm, chỗ học tập này là Nhất tâm, không tự cao ngạo. Tập gọi là vô tri, chỗ học tập này là Trí tuệ không cao ngạo. Tập gọi là không công đức, chỗ học tập này là công đức không cao ngạo. Tập là pháp thế tục, chỗ học này là đạo pháp, không tự cao ngạo. Tập là vô thoát, chỗ học tập này gọi là được giải thoát đầy đủ, không cao ngạo. Tập là có tội, chỗ học tập này là không có tội cũng không cao ngạo. Tập là hữu dư, chỗ học tập này là diệt hết không còn hữu dư, cũng không cao ngạo. Bồ-tát tu tập đến chỗ không còn gì tu tập, bảo hộ tất cả mà không chấp trước, cũng không đoạn diệt. Thực hiện được điều ấy là liền đạt đến Tuệ vô cực.

Tất cả các pháp là không chỗ chứng đắc. Vì sao? Vì không chỗ để chứng nhập cũng không chỗ nào là không thể chứng nhập. Được Nhất thiết trí này tức là đạt được Nhất thiết trí. Nói cái Nhất thiết trí vô sở đắc là được cái Nhất thiết trí không so lường sắc… cho đến cảm thọ, tư tưởng, sinh tử, thức cũng vậy. Không theo pháp số cũng không theo việc chối bỏ pháp số. Cũng không kể đến bố thí Nhất thiết trí. Vì sao? Vì Bố thí cũng không rời Nhất thiết trí. Cũng không kể đến Giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Nhất tâm, Trí tuệ. Vì sao? Vì Nhất thiết trí là từ trí tuệ. Nhất thiết trí không chỗ nào là không có, cũng không quá khứ, vị lai, hiện tại. Vì sao? Vì do đã vượt qua ba đời. Nhất thiết trí đó không do mắt nhìn thấy. Tai, mũi, miệng, ý cũng vậy. Vì sao? Vì do vượt qua các giới. Người nam, người nữ nào muốn cầu Nhất thiết trí thì phải trụ như Nhất thiết trí.

Phải trụ như thế nào? Đối với tất cả các pháp không chỗ trụ thì đây là chỗ trụ của Nhất thiết trí. Không tự niệm pháp là ngã sở. Thực hiện được điều đó là Nhất thiết trí. Tất cả nhân pháp, Phật pháp đều bình đẳng… không sai khác, đó là Nhất thiết trí. Những ai muốn được Nhất thiết trí thì phải lãnh hội từ bốn đại mới được. Vì sao? Vì là thân thì không tạo sự cố chấp về thân.

Vì sao vậy? Vì không lấy gì tạo, mà do nhân duyên tạo nên. Những ai có pháp công đức hay không có pháp công đức, những ai sở hữu nó cho đây là ngã sở thì đều chẳng phải ngã sở. Cái ngã là không có chỗ sinh mà đã không chỗ sinh thì không có chấp trước. Những ai chấp trước thì đây là không sinh, kẻ nào thấy đó là kiến chấp thì đều không có sinh. Đem cái trí tuệ hiểu được là không sinh và không có chỗ sinh mà quán sát được như vậy ấy là Nhất thiết trí.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi khi thuyết giảng pháp này thì có hai ngàn Thiên tử đều chứng được pháp nhẫn Vô sở tùng sinh. Một vạn hai ngàn người đều phát đạo tâm vô thượng bình đẳng.

Bồ-tát Lạc Bất Động nói với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Chúng ta cùng đến chỗ Phật hỏi xem Bồ-tát phải trụ như thế nào?

Ngay lúc ấy, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi hóa làm Như Lai, ngồi giữa hội chúng. Hình dáng Văn-thù mặc pháp phục như là Phật Thích-ca Văn.

Văn-thù-sư-lợi bảo Bồ-tát Ba-chi-bàn-câu-lợi:

–Nay Phật tại đây, có thể hỏi về Bồ-tát trụ.

Bồ-tát Ba-chi-bàn-câu-lợi không biết đây là hóa Phật, đến trước quỳ, hỏi:

–Thưa Như Lai! Bồ-tát có được chỗ trụ thì phải như thế nào?

Vị hóa Phật dạy:

–Như ta đã làm, Bồ-tát phải trụ như vậy.

Lại hỏi:

–Trụ như Phật là trụ thế nào?

Vị Phật ấy dạy:

–Không từ sự Bố thí, cũng không từ Giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Nhất tâm, Trí tuệ. Cũng không từ dục, cũng không từ sắc, cũng không từ vô sắc, cũng không từ thân làm, cũng không từ miệng làm, cũng không từ ý làm, vì các sở hành không chỗ vướng mắc.

Vị Phật kia hỏi Bồ-tát Ba-chi-bàn-câu-lợi:

–Hóa thì có chỗ nào từ hành không?

Bồ-tát liền đáp:

–Không có chỗ nào từ hành.

Vị Phật kia dạy:

–Như hóa, không chỗ từ hành thì Bồ-tát phải thực hiện hành ấy.

Bồ-tát Ba-chi-bàn-câu-lợi lại hỏi:

–Văn-thù-sư-lợi là Phật thì đâu cần phải hóa Phật?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Ông tự biết các pháp như hóa không?

Bồ-tát liền đáp:

–Sự thật, các pháp như là biến hóa.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:

–Đã biết các pháp là biến hóa thì tại sao lại hỏi Như Lai biến hóa?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Này nhân giả! Do đó chư Phật thảy đều là hóa hiện.

Bồ-tát Ba-chi-bàn-câu-lợi liền hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi rằng:

–Phật từ nơi đâu hóa hiện?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Chỗ hóa ra gốc là thanh tịnh.

–Do đâu mà có biến hóa?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Nên Phật không có ta, không có ngã, không có nhân, không có thọ, không có mạng, cũng không nương tựa nơi Phật trụ, cũng không nương tựa nơi phàm nhân trụ.

Bồ-tát Ba-chi-bàn-câu-lợi lại hỏi vị hóa Phật:

–Học cái gốc này từ chỗ nào để tự đến được Phật.

Vị Phật kia nói:

–Không chỗ học là Bồ-tát học. Vì sao? Vì cũng không tự niệm, ta muốn cầu điều này, cũng không cầu điều này, cũng không buồn, cũng không vui, cũng không duyên, cũng không chỗ hóa, cũng không chỗ thấy, cũng không nơi chốn, cũng không có tưởng, cũng không có tên riêng, cũng không có sắc, tất cả đều không chỗ mong cầu. Bồ-tát này học thì thực hiện sự học này vì nó là cái học bình đẳng. Thực hiện sự học này thì không chỗ vướng mắc, không chỗ ràng buộc. Thực hiện sự học này là không có ham muốn, không có nóng giận, không có si mê. Thực hiện sự học này thì không chỗ thương, không chỗ ghét. Ai học được cái học ấy thì không niệm ngã của mình để tạo ra sự học này. Đây là cách học để tạo nên sự học ấy, nên không bị đọa vào đường ác.

Vị Phật kia dạy:

–Nếu có phát tâm cầu đạt đạo quả Vô thượng Bồ-đề, muốn đến chỗ thành Phật thì phải thực hiện sự học như ta.

Lại hỏi:

–Nơi nào là chỗ Phật học?

Vị Phật kia dạy:

–Cũng không tạo tội, cũng không rơi vào tội lỗi, cũng không chỗ trao cho; cũng không nơi nắm giữ, cũng không chỗ không nắm giữ; cũng không trì giới, cũng không có giới; cũng không nhẫn nhục, cũng không ác ý; cũng không tinh tấn, cũng không lười biếng; cũng không thiền, cũng không loạn tâm; cũng không trí tuệ, cũng không chỗ biết; cũng không chỗ học, cũng không có chỗ học; cũng không chỗ thành, cũng không có chỗ thành, cũng không Bồtát, cũng không pháp Phật; cũng không tự niệm có thân, cũng không niệm người khác có thân. Chỗ thấy kia không có tưởng, cũng không pháp tưởng, cũng chẳng phải là không pháp tưởng, không phải tưởng vô tưởng.

Vị Phật dạy:

–Hiểu rõ như vậy thì Bồ-tát phải hành trì sự học ấy. Vì sao? Vì tất cả các pháp như ảo hóa, đây là tướng của chúng. Tất cả các pháp đều hợp. Vì sao? Vì tuy việc của chúng nhiều không thể kể xiết song suy niệm ra thì chúng đều là không, không có sở hữu, hợp lại tức là không. Các pháp không thể nhận biết? Vì sao? Vì các pháp như nhau mà không đặc thù sai biệt. Các pháp đều vắng lặng. Vì sao? Vì không lời lẽ, không ngôn từ, nên không có nơi chốn. Vì sao? Vì các pháp không chỗ sinh. Ai tin như vậy thì cũng không nghĩ đến chỗ hành trì cũng không nghĩ đến chỗ đắc chứng giải thoát, cũng không là Bồ-tát tự cao ngạo.

Vị Phật kia dạy:

–Nếu nghe sự học này mà không khiếp, không sợ, không hãi thì mới gọi là Bồ-tát. Giống như hư không không sợ lửa, không sợ gió, không sợ mưa, không sợ khói, không sợ mây, cũng không sợ sấm, cũng không sợ chớp. Vì sao? Vì pháp này luôn rỗng lặng. Bồtát phải như vậy, tất cả không chỗ kinh hãi, tâm Bồ-tát do như hư không mới chế ngự được các ma, nên có thể làm Phật, có thể vì tất cả mà làm việc cứu hộ. Vị hóa Phật kia thuyết lời này xong thì không hiện ra lại.

Bồ-tát Ba-chi-bàn-câu-lợi hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Nay Như Lai là chỗ để thưa trình?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi liền đáp:

–Chỗ từ đó đến là nơi mà mình thưa trình, chỗ thưa trình của mình là nơi đến từ chỗ ấy.

Bồ-tát Ba-chi-bàn-câu-lợi bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Sự hóa hiện kia không từ đâu đến, không từ đâu đi, sao gọi là từ đó đến?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Ví như hóa hiện thì đến không đường lối, đi không đường lối, các pháp cũng như thế, không chỗ từ đâu đến không chỗ từ đâu đi.

Bồ-tát Ba-chi-bàn-câu-lợi lại hỏi:

–Nơi nào là chốn của các pháp ấy?

Bồ-tát Văn-thù liền đáp:

–Tự nhiên trụ là nơi chốn của các pháp ấy.

Lại hỏi:

–Tất cả nơi chốn nào là nơi chốn của pháp kia?

Văn-thù đáp:

–Như chỗ mình tạo nên là chỗ của các pháp kia.

Lại hỏi:

–Các pháp không chỗ tạo tác là không có tội?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:

–Như vậy thì các pháp không chỗ tạo tác, không có tội. Pháp kia, cũng không có tạo tác, không có tạo ra tội, các pháp sở hữu đều chứng nhập pháp thân.

Bồ-tát Ba-chi-bàn-câu-lợi hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Không có tạo tác, không có tội, sao lại bảo con người tùy theo chỗ tạo tác kia?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:

–Xét kỹ như chỗ hỏi thì người cũng không chỗ tạo tác, cũng không có tội. Vì sao? Vì pháp của người này là Pháp thân, cũng không có tạo tác, cũng không có tội, như chỗ tạo ra, như chỗ nhận được. Ba việc này là như nhau.

Bồ-tát Ba-chi-bàn-câu-lợi lại hỏi:

–Ba việc này là đồng đều với nhau sao?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Như Lai là bình đẳng cho nên ba việc luôn là ở bình đẳng.

Lại hỏi:

–Như Lai ấy là vô tác, vô tội, vô đắc, ba việc này sao lại cùng duyên với nhau?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:

–Như Lai là vô tác, vô tội, vô đắc. Tác kia, tội kia, đắc kia là ba việc như nhau cho nên bình đẳng. Tội kia do qua rồi nên không thấy tội, tội cũng không rời ra khi sang đến vị lai, Như Lai do thế mà thuyết giảng.

Lúc này, như đang ở tại trú xứ của Phật Thích-ca Văn, các Tôn giả Xá-lợi-phất, A-nan và chư tôn Tỳ-kheo, tất cả nương theo oai thần Phật đều được nghe Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thuyết pháp.

Tôn giả Xá-lợi-phất nói:

–Lành thay! Lành thay! Việc làm của Thượng nhân, lấy pháp tạo sự cảm ứng khắp mọi nơi mà không rời Pháp thân, người trí nghe thuyết giảng này, chẳng ai là không phát tâm.

Phật dạy:

–Như qua lời lẽ, xét kỹ thì Bồ-tát học mà không chỗ học. Những điều nói ra là bình đẳng không có gì khác. Như gieo trồng hạt nào thì cho ra quả ấy. Cái mà Bồ-tát phải học là tuệ. Như vậy những điều nói ra là đúng như tuệ mà noi.

Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Như sở học của ông thì tự đạt đến tuệ này.

Bồ-tát Đảnh Trung Quang Minh bạch Phật:

–Sở học của Thanh văn là học những gì? Sở học của Bồ-tát là học những gì?

Phật dạy:

–Có giới hạn, có chấp trước, đó là đệ tử học. Không có giới hạn, không có chướng ngại là Bồ-tát học. Như Thanh văn thì sự học của họ nhỏ, trí của họ ít. Bồ-tát thì cái học rộng lớn. Chỗ nhận biết của họ không có cùng, nói ra điều gì đều không trở ngại.

Bồ-tát Quang Trí bạch Phật:

–Chỉ mình Như Lai mới tạo được sự cảm ứng, khiến chúng hội của Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đều đến đây. Vì sao? Vì ở pháp hội này những gì đã đạt được đều khiến không bị mất mát. Vì sao? Vì điều thuyết giảng của Bồ-tát Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi là sâu xa vi diệu, những ai muốn nghe thì tùy theo chỗ ấy mà mỗi một đều thọ nhận được. Phật liền tạo sự cảm ứng đối với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi. Ngay khi ấy, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi cùng với hai mươi lăm Thượng nhân và các Thiên tử đều đến đứng trước Phật mà tác lễ.

Bồ-tát Quang Trí hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Phật đang ở tại đây vì sao Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lại ở chỗ khác thuyết pháp?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Sở dĩ không ở tại đây vì Phật là bậc vô cùng tôn quý không thể sánh. Hoặc những điều tôi nêu giảng có thể là ý của Như Lai hoặc không là ý của Ngài, nên ở tại một mặt núi khác.

Bồ-tát kia hỏi:

–Thuyết pháp nào mà có thể là ý của Như Lai?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Phật tự biết pháp ấy.

Lại hỏi:

–Mặc dù như thế, song ý của Bồ-tát Văn-thù và ý của Phật được kết hợp để nêu giảng chăng?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:

–Như điều gì tôi biết chút ít thì phải thuyết giảng về điều ấy.

Liền bảo:

–Lời nào thì phải thuyết giảng?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:

–Như chỗ thuyết minh về pháp được nêu giảng mà không sai biệt, như Như Lai, như bản tế không thể luận bàn, như pháp trụ, như pháp thuyết đó là ý của Như Lai, không chỗ dừng, không chỗ đoạn, cũng không duyên, cũng không chỗ duyên, cũng không chỗ tăng, cũng không chỗ giảm. Nói lên điều thuyết giảng này mà không mất ý Như Lai. Đối với thân cũng không chỗ lỗi, cũng không khiến người khác có chỗ lỗi, cũng không mất pháp, cũng không mất sinh tử, cũng không mất Nê-hoàn. Nói lên sự thuyết giảng này thì cũng không mất ý Như Lai.

Phật dạy:

–Lành thay! Lành thay! Như điều Bồ-tát Văn-thù thuyết giảng đó có thể là ý của Như Lai. Vì sao? Vì cũng không quá mức cũng không bớt đi, trong đó vừa hợp với không chốn tưởng. Vì sao? Vì Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi luôn hành trì Tam-muội để giảng nói sự việc như vậy. Không thấy các pháp có chỗ tăng, có chỗ giảm. Như lời lẽ của Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi trình bày thì không làm mất ý của Như Lai.

Khi thuyết giảng lời chỉ bảo này có tám trăm Thiên tử chứng được pháp Nhẫn vô sở tùng sinh.

Bấy giờ, trong chúng hội lại có hai trăm Thiên tử, trước đó đã phát tâm Bồ-đề mà chưa được kiên cố đều muốn thoái chuyển. Mỗi người đều nghĩ rằng pháp Phật không bờ bến nên khó đến được với Phật. Chúng ta không dự được cái học của hàng Bồ-tát, chi bằng chọn quả La-hán, Bích-chi-phật mà Bát-niết-bàn.

Phật đều biết những vị này có thể trở thành Bồ-tát, nhưng đang có ý thoái chuyển. Phật liền hóa làm một Ca-la-việt mang bình bát đầy thức ăn trăm vị đến trước Phật, làm lễ dâng cúng:

–Xin Ngài thương xót nhận cho.

Phật liền nhận bát. Văn-thù-sư-lợi liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay bạch Phật:

–Tuy ăn nhưng phải nghĩ đến ân xưa.

Xá-lợi-phất tâm niệm:

–Phật xưa thuộc về bậc tu tập nào mà Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bảo phải nghĩ đến ân cũ?

Liền hỏi Phật:

–Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi xưa có công đức gì mà nêu sự việc ấy với Như Lai?

Phật dạy:

–Lại nhẫn thôi! Nay vì ông sẽ khai mở điều nghi ấy.

Phật liền lấy bát bỏ xuống đất. Bát ấy liền biến mất trong đất để sang các nước Phật, thẳng xuống quá bảy mươi hai cõi nước nhiều như cát sông Hằng. Cõi nước đó tên gọi là Âu-ha-sa (Hán ngữ gọi là Minh khai tịch), vị Phật của cõi này hiệu là Đồ-tỳ-la-da (Quang Minh Vương theo nghĩa Hán). Hiện giờ, bát kia dừng lại ở trong hư không, tại quốc độ của Phật ấy, cũng không ai cầm lấy.

Bát đi qua các nước Phật thì người hầu Phật nơi các nước ấy đều hỏi Phật:

–Bát này từ đâu đến đây?

Chư Phật bảo:

–Phương trên có cõi nước gọi là Sa-ha, Phật ở cõi nước này hiệu là Thích-ca Văn. Bát từ nơi Phật ấy đến. Vì sao? Vì cứu hộ tâm thoái đọa của các Bồ-tát, lấy sự biến hóa tạo thành cảm ứng.

Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Ông đi tìm bát đem về.

Tôn giả Xá-lợi-phất liền vâng theo oai thần Phật, tự đem tuệ lực nhập vào vạn Tam-muội, qua vạn nước Phật cũng không thấy cũng không tìm được bát. Từ Tam-muội trở về, bạch Phật:

–Tìm bát chẳng thấy bát đâu, chẳng nhận được.

Phật dạy:

–Bỏ ư?

Phật lại gọi Tôn giả Đại Mục-kiền-liên:

–Ông đi tìm kiếm bát về.

Tôn giả Mục-liên liền vâng theo oai thần Phật, tự nương sức thần túc nhập vào tám ngàn Tam-muội qua tám ngàn nước Phật không đâu tìm thấy, không đâu nhận được. Tôn giả Mục-liên liền từ Tam-muội trở về, bạch Phật:

–Tìm bát chẳng thấy đâu, không thể nhận được.

Phật bảo Tôn giả Tu-bồ-đề đi tìm bát về.

Tôn giả Tu-bồ-đề liền nhập một vạn hai ngàn Tam-muội qua một vạn hai ngàn nước Phật, cũng không tìm thấy, cũng không nhận được, liền từ Tam-muội trở về, bạch Phật:

–Tìm bát chẳng thấy đâu, chẳng thể nào được bát.

Khi ấy năm trăm vị Tỳ-kheo tôn túc, mỗi vị dùng thần túc đi tìm kiếm bát, cũng không thể tìm thấy, cũng không thể được.

Tôn giả Tu-bồ-đề từ tòa ngồi đứng lên thưa Bồ-tát Di-lặc:

–Nhân giả là bậc cao tài là bậc Nhất sinh bổ xứ, hiện là vị Phật đương lai. Chúng tôi đi tìm bát không thể được, mong Bồ-tát đi tìm cho.

Bồ-tát Di-lặc đáp:

–Như lời ông nói, Nhất sinh bổ xứ là thật nhưng hiện giờ cũng không bằng Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, về việc tạo ra Tam-muội và nêu tên về Tam-muội. Hãy lắng nghe điều ta nói!

Khi ta làm Phật, nhiều như cát sông Hằng đều là Bồ-tát Vănthù-sư-lợi, song lại không thể biết bước đi của ta kể cả việc đưa chân lên, hạ chân xuống. Còn như hiện nay thì quả thật chẳng sánh được, chi bằng bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, để Bồ-tát đi tìm bát cho.

Tôn giả Tu-bồ-đề liền bạch Phật:

–Cúi mong Như Lai hãy khiến Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đi tìm bát. Phật liền bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đi tìm bát về.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi im lặng nhận lời. Nhận lời chỉ dạy rồi liền tự tư niệm chỉ ngồi yên tại chỗ, không rời Phật, không bỏ hội chúng, ở nơi đây mà có thể đến chỗ có bát. Tam-muội lúc bấy giờ là không nơi nào không biến nhập, rồi ngay tại chúng hội này lấy tay chỉ đất, tay ấy hạ xuống là đi sang đến các đất Phật. Phật ở các cõi ấy đều vì Bồ-tát Văn-thù mà tiếp rước đầy đủ. Phương dưới không đâu là không nghe âm thanh kia nói rõ ấy là lời thăm hỏi đến từ Phật Thích-ca Văn. Cánh tay của Bồ-tát Văn-thù từ nơi mỗi một sợi lông phóng ra trăm, ức, ngàn ánh sáng. Mỗi một ánh sáng có ức, trăm, ngàn hoa sen. Trên mỗi một hoa sen đều có Bồ-tát. Tất cả Bồ-tát kia, vị nào cũng đều khen ngợi Phật Thích-ca Văn. Nơi các cõi đi qua này đều vì Bồ-tát mà chấn động đủ sáu cách. Quốc độ ấy đều trang nghiêm cờ phướn lọng báu. Qua nơi chốn nào đều thấy Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lấy tay phải rờ chân tất cả chư Phật, đều nói lên lời thăm hỏi của Phật Thích-ca Văn.

Vượt khỏi bảy mươi hai cõi nhiều như cát sông Hằng, đến nước Minh khai tịch tới chỗ của Phật Đồ-tỳ-la-da, trước Phật làm lễ và đạt lời thăm hỏi của Phật Thích-ca Văn. Trên cánh tay của Bồ-tát Vănthù mỗi sợi lông có ức trăm ngàn ánh sáng, ức trăm ngàn hoa sen, Trên mỗi hoa sen có Bồ-tát ngồi. Các Bồ-tát đều khen ngợi công đức của Phật Thích-ca Văn. Ánh sáng của chư Bồ-tát và ánh sáng của Phật Đồ-tỳ-la-da không lẫn lộn vào nhau. Mỗi một ánh sáng đều thấy Phật Quang Minh Vương, một bên có người đứng hầu rất tôn nghiêm. Bồ-tát tên là Quang Tôn tự hỏi Phật Đồ-tỳ-la-da:

–Cánh tay của ai đây, sao mà đẹp đẽ đến thế? Mỗi sợi lông tay là đóa sen sáng ngời!

Bồ-tát ca ngợi công đức của Đức Phật ấy.

Phật Đồ-tỳ-la-da bảo:

–Thượng phương qua bảy mươi hai cõi nhiều như cát sông Hằng có nước tên là Sa-ha, Phật ở đấy hiệu là Thích-ca Văn. Hiện nay trước mặt có Bồ-tát tên là Văn-thù-sư-lợi, thệ nguyện của Bồ-tát là không thể nghĩ bàn. Trí của Bồ-tát không đâu là không thấu đạt. Vì tiếp theo ở trước Phật Thích-ca, nên Bồ-tát Văn-thù vươn dài tay đến tận nơi này. Các Bồ-tát ở cõi này đều có suy nghĩ ấy nên cùng bạch Phật Đồ-tỳ-la-da:

–Chúng con giống như người khát nước muốn được uống nước, nguyện mong được thấy Phật Thích-ca Văn, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi và nước Sa-ha.

Phật Đồ-tỳ-la-da liền dùng tướng ở giữa hai lông mày phóng ra ánh sáng chiếu suốt qua bảy mươi hai cõi nước nhiều như cát sông Hằng, cho đến nước Sa-ha đều mở rộng cho các Bồ-tát cùng thấy. Bất cứ người nào nhìn thấy ánh sáng phóng ra ấy đều được an ổn, thân họ giống như Già-ca-việt-la. Phàm là Tỳ-kheo đều chứng quả Tu-đà-hoàn, ai đã vượt qua khỏi ba đường ác, đều là người có được Thiền duy vụ lúc ấy chứng đắc La-hán. Còn ai là thân Bồ-tát được ánh sáng này đều chứng đạt Tam-muội Nhật minh.

Các Bồ-tát nơi cõi Phật Đồ-tỳ-la-da, từ nơi đây họ đều nhìn thấy cõi Sa-ha kia cùng các chúng Thanh văn, Bồ-tát. Vì nhìn thấy cõi nước ấy mà nuớc mắt họ chảy ròng, liền nói:

–Nếu lưu ly trong ngần và ma-ni kia rớt xuống bùn nhơ, thì thật là đáng tiếc. Vì sao? Vì nước Sa-ha, các Bồ-tát như lưu ly mà sinh ở cõi ấy thì thật là đáng tiếc cho họ.

Phật Đồ-tỳ-la-da bảo Bồ-tát Ba-kỳ-đầu:

–Ông không hiểu rõ Bồ-tát ở đấy thì chẳng được phép nói về họ. Vì sao? Vì ở quốc độ ta mười kiếp hành thiền không bằng người của cõi nước Phật kia hành trì tâm Từ, từ sáng sớm đến trưa, những công đức ở đó gấp bội công đức ở cõi này. Bồ-tát của cõi ấy tuy có túc mạng, song việc hành pháp của họ chỉ trong khoảnh khắc khảy móng tay, tội của ho đều dứt hết.

Bồ-tát ở cõi Sa-ha đều hỏi Phật:

–Ánh sáng này từ đâu đến khiến thân tâm đều an ổn?

Phật Thích-ca liền bảo:

–Phương dưới qua bảy mươi hai cõi nhiều như cát sông Hằng có thế giới gọi là Âu-ha-sa, Phật nơi cõi ấy hiệu là Đồ-tỳ-la-da phóng ra ánh sáng từ tướng quang minh ở giữa hai lông mày.

Các Bồ-tát đều bạch Phật:

–Nguyện muốn nghe thấy cõi Âu-ha-sa và Như Lai Đồ-tỳ-lada.

Bấy giờ Phật Thích-ca Văn, từ dưới chân phóng ra ánh sáng chiếu xuống phương dưới, qua bảy mươi hai cõi nhiều như cát sông Hằng, đến cõi Âu-ha-sa và Phật Đồ-tỳ-la-da, cuối cùng là mở rộng toàn bộ. Bồ-tát ở cõi Âu-ha-sa thấy ánh sáng của Phật Thích-ca đi vào thân họ, đều được đầy đủ Tam-muội Ma-tỳ-đê (Hán ngữ gọi là Tu-di quang minh). Bồ-tát ở thế giới Sa-ha tận mắt thấy vị Phật ấy và quốc độ của Ngài. Giống như đứng ở mặt đất, mọi người đều nhìn thấy, trời, trăng, sao đêm. Hạ phương thấy rõ thế giới này, cũng như thế giới này thấy rõ Hạ phương, là cõi Âu-ha-sa của Phật Đồ-tỳ-lada.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi với tay phải cầm lấy bình bát rồi cùng với vô số câu-lợi-na-thuật đầy đủ trăm ngàn Bồ-tát về lại phương trên. Nơi các cõi đã đi qua, mỗi một sợi lông có hoa sen kia, ánh sáng mờ nhạt dần rồi mất hẳn. Bát tìm được liền nằm gọn trong tay, ở giữa chúng hội, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi từ chỗ ngồi đứng lên tác lễ Phật, rồi lấy bát dâng lên, Phật nhận bát. Tất cả Bồ-tát từ thượng, hạ phương đều tác lễ. Mỗi vị Bồ-tát tự đem Phật danh mà tạ Phật Thích-ca Văn. Ngay khi ấy, Như Lai khiến mỗi Bồ-tát về lại chỗ ngồi. Tất cả Bồ-tát đều vâng theo Ngài, mỗi mỗi đều ngồi xuống.

Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Điều ông thắc mắc về mối liên hệ nên dùng việc Bồ-tát Vănthù-sư-lợi trả lời cho chỗ đã đặt ra.

Nay ta vì ông mà nói rõ sự việc:

Thuở quá khứ, vô số a-tăng-kỳ kiếp không thể tính được. Bấy giờ, có Phật hiệu là Dũng Mạc Năng Thắng. Cõi đó gọi là Vô thường, đệ tử Phật gồm chúng Thanh văn là tám vạn bốn ngàn người, Bồ-tát một vạn hai ngàn người, tất cả cùng dự hội, vị Phật kia vì ba thừa mà thuyết giảng các pháp.

Phật nói:

–Hồi Như Lai Dũng Mạc Năng Thắng ở đời năm ác mà làm Phật, có Tỳ-kheo tên là Tuệ Vương thông tỏ kinh pháp, mang bát vào nước Duy trí khất thực, nhận được cơm trăm vị và rất nhiều thức ăn ngon. Lúc này có người con nhà quyền quý tên là Ly Cấu Vương được nhũ mẫu ẵm bế đứng ở ngoài cửa thành. Đứa trẻ này từ xa đã trông thấy Tỳ-kheo Tuệ Vương bèn chạy đến ôm chân và lấy làm thích thú, xin thức ăn ngon kia. Tỳ-kheo liền lấy bánh mật trao cho nó, đứa bé ăn ngay. Biết mùi vị thơm ngon, đứa bé lẽo đẽo theo Tỳkheo không còn nhớ đến nhũ mẫu nữa. Cứ thế đi đến chỗ Phật Dũng Mạc Năng Thắng, liền tác lễ Phật rồi ngồi sang một bên. Tỳ-kheo Nhã-na-la-da lấy bát đồ ăn khất thực được đưa cho đứa bé này bảo nó dâng lên Phật Dũng Mạc Năng Thắng. Đứa bé nhận bát rồi dâng bát lên Như Lai. Phật nhận bát thọ thực xong thì bát vẫn đầy. Bát đồ ăn đứa bé dâng cúng kia luôn luôn như cũ.

Lại lấy thức ăn ấy trao khắp tám vạn bốn ngàn Tỳ-kheo và Bồtát, một vạn hai ngàn người, tất cả các vị đều no đủ, nhưng thức ăn dâng cúng vẫn lại như cũ. Phật dùng oai thần khiến đứa bé vui mừng, kể cả việc đứa bé nhờ vào công đức của chính nó tức là dốc hết lòng tin, cứ thế lòng tin của nó luôn đối diện với Phật, tức ca ngợi Phật kia bằng cách đem bát thức ăn dâng cúng lên Phật, vì thế bát lúc ấy cứ đầy và thức ăn đem cúng kia cũng không vơi bớt, dù co cúng dường khắp Tỳ-kheo và Bồ-tát, thức ăn cũng vẫn đầy trong bát. Mới biết tôn kính Phật thì không bao giờ cạn hết mong cầu mà lại tăng ích. Cúng dường Phật kia thì công đức trở thành sức mạnh mà tăng lên.

Phật dạy Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Đứa bé này, do một bát thức ăn cho đến bảy ngày thức ăn kia

cũng không vơi bớt, vẫn đầy như cũ. Đức Phật A-ba-la-kỳ-đà-tha ấy chỉ bày, dẫn dắt đứa bé ấy, tự nó quay về với Phật và pháp, Tỳkheo tăng, trao cho năm giới, chỉ bảo hối tội, khuyến trợ công đức bèn phát tâm Bồ-đề, cầu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Cha mẹ đứa bé ấy tìm kiếm con mình khắp nơi, rồi đến chỗ Phật, trước Phật cung kính làm lễ Ngài rồi đứng qua bên. Đứa bé kia gặp lại cha mẹ, lễ lạy rồi ngỏ lời:

–Con nay tỏ ngộ pháp Bồ-tát, tất cả nguyện xưa, con lại dùng để phát tâm. Vì sao? Vì gặp được Phật là khó. Với lời dạy ấy thì cha mẹ sẽ nhìn thấy hình ảnh Phật và các vẻ đẹp của Ngài, tuệ Phật không nơi đâu là không khắp cùng, đạo của Ngài là đạo cứu độ, nguyện thân con được làm Sa-môn. Vì sao? Vì cái khó là được cùng hội với Như Lai.

Cha mẹ liền nói:

–Lành thay! Lành thay! Cha mẹ chiều theo ước muốn của con, vui mừng với lời cầu nguyện ấy của con. “Chúng ta cũng lại phát tâm, làm theo pháp của con thì nay phải bỏ tất cả đất đai, nhà cửa, cũng lại noi theo con mà làm Sa-môn!” Phật dạy Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Lời lẽ của đứa trẻ này khiến cha mẹ nó và năm trăm người đều phát tâm cầu đạo quả Bồ-đề vô thượng, được sống nơi Phật Aba-la-kỳ-đà-tha, đều làm Sa-môn.

Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Điều nghi ngờ của ông, tức Tỳ-kheo Nhã-na-la-da nay là Bồtát Văn-thù-sư-lợi, còn đứa bé kia, con của Duy-ma-la-hòa-da chính là thân ta. Văn-thù-sư-lợi dùng thức ăn trao cho ta, tạo ra công đức mà làm việc phát tâm. Chính đây là nguồn gốc công đức phát tâm Bồ-đề, đạt quả Chánh đẳng Chánh giác Vô thượng.

Phật dạy Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Ông muốn biết điều ấy, thì nay mười Lực của Phật, bốn Điều không sợ hãi, trí tuệ ấy không thể luận bàn, tất cả đều do Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi làm điểm phát khởi. Vì sao? Vì tâm đó là chỗ căn bản.

Phật lại dạy Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Như thân ta, cùng với a-tăng-kỳ cõi chư Phật không thể tính kể, tất cả đều do Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi làm điểm xuất phát, có tên gọi là Phật Thích-ca Văn, số lượng Phật là như vậy. Lại có hiệu là Phật Đề-thức-phất, lại có hiệu Phật Thức, lại có hiệu Phật Đề-hòakiệt, lại có hiệu Phật Duy Vệ …

Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Kể tên của chư Phật ấy từ kiếp này đến kiếp khác thì chẳng biết bao giờ cho hết, tất cả đều từ nơi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi làm chỗ xuất phát. Hiện nay có vị đang Chuyển pháp luân, có vị đang Bátnê-hoàn, có vị đang hành Bồ-tát đạo, có vị đang ở cõi Đâu-thuật thiên thượng, có vị đang trong thai mẹ, có vị đang sinh ra, có vị đang bỏ nhà cầu Phật, có vị đang ở chỗ Phật ngồi nơi cội cây, có vị đang thành Phật, … không thể nào nói hết.

Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi là cha mẹ của Bồ-tát…, đây chính là Ca-la-mật, đã nêu ra câu hỏi vì lý do nào mà đạt được quả vị Như Lai và bao nhiêu chỗ chứng đắc của ta đều chịu ân Văn-thù-sư-lợi, do vậy mà mang ân Văn-thù.

Hai trăm Thiên tử kia liền tự nghĩ: “Học các pháp thì mới có thể thành tựu, chúng ta hãy còn có thể học được. Vì sao? Vì hiện Phật Thích-ca Văn này đã được Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi dẫn dắt phát tâm để tự đi đến chỗ thành Phật. Chúng ta vì sao lười biếng?” Do suy niệm như vậy nên tâm được kiên cố đều được tâm tin tưởng hoàn toàn nơi đạo quả Vô thượng Bồ-đề.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi dùng tay biến hóa mà lấy được bát, tạo ta cảm ứng khắp nơi. Đây được gọi là cách học tập tận cội nguồn. Từ cõi này cho đến các phương dưới, qua vô số người, tất cả đều phát tâm cầu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Muời phương chư Phật hiện nay đều đem châu báu, lọng hoa để làm pháp cúng dường nên cõi của tam thiên đại thiên đều được che phủ. Từ lọng hoa kia, nghe rõ âm thanh Phật như tiếng nói của Phật Thích-ca Văn, đều là sức cảm ứng của Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi.

Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Người nam, kẻ nữ nào muốn chóng đạt Bát-nê-hoàn thì phải phát tâm Bồ-đề cầu đạt đạo quả Chánh giác Vô thượng. Vì sao? Vì có người sợ sinh tử, không thể phát tâm, là tâm Bồ-đề cầu đạt quả vị chỉ muốn cầu Thanh văn làm A-la-hán, sớm đạt được Bát-nê-hoàn. Người phát tâm Bồ-đề phải thể hiện được lời này: Ta luôn trông thấy ở trong sinh tử, nơi ấy có các Bồ-tát tinh tấn thì họ đã thành Phật. Vì sao? Vì từ quá khứ trải qua vô số a-tăng-kỳ kiếp không thể tính được, bấy giờ có Phật hiệu là Nhất Thiết Độ, thọ một vạn tuổi, trong số trăm ức đệ tử có vị Tỳ-kheo, tên là Mạc Năng Thắng, trí tuệ của vị ấy rất cao vời, sau lại có vị Tỳ-kheo tên là Đắc Đại Nguyện, thần túc của vị ấy cũng cao vòi vọi.

Lúc ấy, Đức Như Lai sửa lại y phục cầm bát, cùng các Tỳ-kheo vào nước Thường danh văn để khất thực. Tỳ-kheo trí tuệ đầy đủ đi bên phải Phật còn các Tỳ-kheo thần túc bậc nhất đi bên trái Phật. Đi sau hầu Phật là Tỳ-kheo tên Hối Trí. Tám ngàn Bồ-tát đi trước dẫn đường. Trong đó có người như trời Đế Thích, có người y phục như Thiên tử, có người giống như trời, có người giống như bốn Thiên vương, đều sai bảo người sửa sang đường sá cho Như Lai đi.

Phật bảo Xá-lợi-phất:

–Khi ấy để vào thành nước đó, Phật rẽ sang lối tắt đi ngang qua chợ. Có ba người con nhà tôn quý, cả ba đều còn nhỏ, mặc y phục cực kỳ đẹp đẽ, ngồi chung lại nô đùa. Một trong ba đứa trẻ này, từ xa trông thấy Phật đi về phía nó và các Tỳ-kheo, Bồ-tát ánh sáng thật vời vợi. Đứa bé ấy gọi hai bạn mình, lấy tay chỉ về phía xa cho thấy Như Lai sẽ đến. Thấy ánh sáng theo cùng với đoàn đẹp đến thế, hai đứa bé kia trầm trồ: Đã thấy Phật rồi. Còn đứa trẻ thấy Phật đầu tiên thì bảo:

–Đấy là một bậc tôn quý trong tất cả không còn gì sánh bằng. Chúng ta phải cùng chung nhau cúng dường. Vì sao? Vì phước cúng dường là vô lượng. Hai đứa trẻ kia liền đáp:

–Hương hoa cũng chẳng có thì lấy gì để cúng đây?

Đứa trẻ kia thì cởi chuỗi bạch châu đeo trên mình mắc vào trong tay, bảo với hai người bạn trẻ:

–Dùng bạch châu này có thể đem cúng dường Phật trí, được

gặp Như Lai, không cần phải tham làm gì.

Hai đứa trẻ kia cũng noi theo bạn, mở lấy bạch châu mang trên đầu cầm nơi tay. Cả ba đều lấy làm vui liền bảo nhau đi đến chỗ Phật giống như chúng được sang sông. Vì sao? Vì do tâm của chúng trong sạch cùng an trụ. Một đứa trẻ lại hỏi hai bạn:

–Đem công đức này để mong cầu điều gì? Một đứa nói:

–Nguyện như vị Tỳ-kheo ở bên phải Phật.

Đứa kia thì bảo:

–Nguyện được như Tỳ-kheo thần túc bậc nhất ở bên trái Phật.

Hai đứa này, sau khi nói lên lời nguyện ấy, lại cùng hỏi người bạn của mình:

–Bạn thì nguyện như thế nào?

Người bạn liền trả lời:

–Tôi muốn được như Phật, ánh sáng của Ngài không gì sánh bằng, như sư tử đi một mình, luôn có số đông đi theo tôi.

Khi đứa trẻ ấy nói lên lời này thì trên hư không có tám ngàn Thiên tử đồng nói:

–Lành thay! Lành thay! Như lời nguyện thì cả thế gian này đều chịu ân người.

Ba đứa trẻ này cùng dắt nhau đến trước Phật. Đức Như Lai bảo người hầu là Sa-kiệt:

–Ông thấy ba đứa trẻ này mới đó mà đã mang bạch châu đến không? Đứa bé đi ở giữa kia lòng vui thích, bước đi lại tinh tấn. Khi một chân đưa lên thì tội của nó lùi lại một trăm kiếp, còn một chân để xuống thì sau đó mọi việc lại phải thêm vào hàng trăm Già-caviệt-la. Đế Thích cũng ngang bằng với Phạm thiên. Công đức của một chân đưa lên kia là công đức được gặp Phật một trăm lần.

Vừa dứt lời thì ba đứa trẻ đã đến, trước Như Lai chúng tác lễ rồi mỗi đứa lấy bạch châu của mình tung lên Phật. Hai đứa trẻ phát tâm Thanh văn thì số ngọc tung ấy mỗi hạt chỉ lên đến vai Phật, còn lại một đứa phát tâm Bồ-đề cầu quả vị Phật thì bạch ngọc được tung lên đến trên đầu Phật, giữa hư không chúng hóa thành chiếc màng hoa ngọc giao tiếp giữa trời trùm khắp bốn phương trong ấy có tòa ngồi, Như Lai ngồi trên tòa ấy.

Khi ấy Phật kia mỉm cười, Tôn giả Sa-kiệt hỏi Phật:

–Như Lai cười, con hiểu là phải có ý gì? Xin được nghe Ngài nói ra điều ấy.

Phật dạy:

–Có thấy hai đứa bé phát tâm Thanh văn chăng? Vì sao? Vì đều sợ hãi sinh tử, do vậy mà không phát tâm Bồ-tát. Vì sao? Vì muốn mau chứng đắc Bát-nê-hoàn.

Người hầu kia hỏi:

–Đứa trẻ còn lại thì sao?

Phật lại bảo:

–Đứa trẻ đi giữa ấy về sau tự đạt tới quả vị Phật. Còn hai đứa trẻ làm Thanh văn, một thì trí tuệ vượt bậc, còn một thì thần túc cũng lại như thế.

Phật Thích-ca Văn hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Ông biết đứa trẻ đi giữa thời ấy nay là ai không?

Tôn giả Xá-lợi-phất thưa:

–Con không rõ.

Phật bảo:

–Chính là thân ta đây.

–Ông biết đứa trẻ ở bên phải là ai không?

Tôn giả Xá-lợi-phất thưa:

–Con không rõ.

–Đứa trẻ ở bên phải lúc ấy nay chính là Tôn giả Xá-lợi-phất, còn đứa trẻ ở bên trái kia nay là Tôn giả Mục-kiền-liên đây.

Phật bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Các ông vốn sợ sinh tử, không phát tâm Bồ-tát mà muốn mau Bát-nê-hoàn. Hãy nhìn kỹ đứa trẻ phát tâm Bồ-đề cầu quả vị Phật kia, tức là nay ta tự đi đến chỗ thành Phật, còn các ông vì không rời pháp của ta mà làm Thanh văn nên được giải thoát.

Phật lại bảo Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Ai muốn mau chứng Nê-hoàn thì phải phát tâm cầu Phật như

ta. Nói đến sự mau chóng ấy là vì không gì vượt qua Nhất thiết trí. Vì sao? Vì không có điều trở ngại, vì quả vị của nó là hơn hết, vì công dụng là vô tận, vì dùng tâm Bồ-đề cầu đạt quả Phật thì không gì có thể sánh nổi, vì có được sự tốt đẹp đặc thù, vì vượt qua các Thanh văn, Bích-chi-phật. Người nào muốn phát tâm cầu Phật thì liền được tâm của Nhất thiết trí.

Cũng vậy, khi thuyết về phẩm Đại thừa thì có vạn người đều phát tâm Bồ-đề cầu đạt quả vị Phật. Tất cả chư vị Tỳ-kheo kia như Tôn giả Xá-lợi-phất, Ma-ha Mục-kiền-liên, A-nan, Ma-ha Ca-diếp, Mâu-việt-nan-đầu-da, Hòa-trí-nan-ly-phân-đà-đầu-đà, Tu-bồ-đề…, đều đem đầu mặt đảnh lễ nơi chân Phật, đồng cất lời:

–Kẻ nam, người nữ nào muốn cầu đạo thì phải phát tâm tôn kính. Vì sao? Vì như Phật đã vì chúng ta mà nói ra trăm ngàn pháp, chúng ta lại không thể phát tâm Bồ-đề, do đấy mà chúng ta có điều hối hận là đã làm La-hán. Không như tạo tội căn bản ngũ nghịch, tội kia vẫn còn được thoát khỏi nên có thể phát tâm Bồ-đề cầu quả vị Chánh giác. Nay thì chỉ dùng lấy cái không lợi ích. Vì sao? Vì hạt giống Phật đã bị thiêu rụi. Kẻ nào chỉ là một thứ đồ vật thì mới không kham nổi tâm Bồ-tát. Vì sao? Vì giống như người chết không còn ích gì cho sự sống. Nay chúng ta đã được thoát khỏi cái vô ích. Ở trên trời, dưới trời, có loài hai chân hoặc bốn chân đều nương tựa vào đất mà được sống còn, nếu có loài nào phát tâm là tâm Bồ-đề thì chư Thiên và người đều phải chịu ân họ.

Bấy giờ, vua A-xà-thế ngồi xe tứ mã cùng với đầy đủ quần thần ra khỏi thành đi đến trước Phật làm lễ bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Mọi người do từ nhân duyên nào mà tạo ra tội?

Phật bảo vua A-xà-thế:

–Do sống theo cái ta với nhân, ngã mà tạo ra tội. Vì tham thân mà dụng có thân, cho nên tội nằm trong thân, không lìa khỏi được nó.

Vua A-xà-thế hỏi:

–Hỗ trợ cho tham ái thì gốc của nó nằm ở chỗ nào?

Phật dạy:

–Không sáng suốt là gốc.

Vua liền hỏi:

–Căn nguyên của không sáng suốt là gì?

Phật dạy:

–Chỗ tạo tác cùng với các niệm khác. Đây chính là cội rễ.

Vua lại hỏi:

–Chỗ nào giúp cho niệm khác?

Phật dạy:

–Thân kia vốn không đồng với chỗ tạo ra thì gọi đó là chỗ ấy.

Vua lại hỏi:

–Vốn nó khác thì sao gọi là chỗ giúp cho niệm khác?

Phật dạy:

–Chỗ hóa hiện như trò ảo, không sở hữu được, cho nên là khác.

Vua lại hỏi:

–Ai là kẻ biến hóa?

Phật dạy:

–Không có người tạo tác cho nên nó là biến hóa.

Vua lại hỏi:

–Không chỗ sinh, không sở hữu thì phải so tính như thế nào?

Phật dạy:

–Vì dụng của nó là không chỗ sinh, không sở hữu, nên không thể so tính.

Vua lại hỏi:

–Chỗ nghi ngờ thì từ nhân duyên nào mà khởi phát?

Phật dạy:

–Vì không chỗ để căn cứ.

Vua hỏi:

–Sao gọi là không chỗ dựa?

Phật dạy:

–Như lời nói ra, điều nghe được thì ấy là chỗ nghi. Đây gọi là điều không căn cứ.

Vua lại hỏi:

–Đạo này ở chỗ nào? Chỗ nào là tín?

Phật dạy:

–Thoát ra khỏi dâm, nô, si thì đấy là đạo.

Vua hỏi:

–Chỗ nào là niềm tin này?

Phật dạy:

–Các pháp căn bản không được chỉ bày, song tâm kia không khác cho nên là tín.

Vua A-xà-thế liền nói:

–Lành thay! Lành thay! Như điều Như Lai thuyết giảng, thì vì sao mọi người không tin tự tạo tác? Nay ta nghe theo lời của người ác ra lệnh cho kẻ hạ thần giết chết cha ta, vì cái tham lợi nước sai khiến, vì cái tham châu báu sai khiến, vì cái tham làm chúa tể muôn dân sai khiến, vì tham địa vị cao quý sai khiến. Nay ta sai bảo kẻ hạ thần sát hại cha ta. Tham thân, nghi ngờ, cô độc, không thể tự mình cởi trói, hoặc uống, hoặc ăn, ở nơi vui đùa hoan lạc. Hoặc nơi điện ngự, nghe ngóng xét dò việc nước. Hoặc ở trong cung với năm thứ dục lạc, hoặc một mình cùng với mọi thứ đều đầy đủ, ngày đêm với chúng nào quên. Uống ăn thì không thể nào tiêu, thân này cũng đâu có nằm, sắc diện cũng không hòa vui. Khi ấy, tâm ta thường là điểm dựa của lo sợ, biết không thể tránh khỏi địa ngục Nê-lê nên đem lời giải bày. Nếu mù lòa thì nhờ ân Phật mà được mắt sáng. Nếu bị nhận chìm do nước thì nương theo Phật mà ra khỏi. Những ai có nỗi khổ niềm đau thì Phật là người khiến họ được an ổn. Những ai có khiếp sợ thì Phật là người làm việc bảo hộ họ. Những ai đang bần cùng thì Phật có thể vì họ mà làm ra châu báu. Những ai mất đi lối đạo thì Phật có thể chỉ bày cho họ con đường đạo. Phật vì lòng thương rộng lớn mà không cho việc làm ấy là sự cần mẫn thái quá, tâm bình đẳng đối với tất cả, kiên cố với sự việc để làm cho tăng trưởng, thường nhẫn với khổ, vui mà không bỏ đối với bất cứ một ai. Nay thân ta như là thân của sự sợ hãi, sầu bi, chỉ có Phật là đang gia hộ ta, khiến nguy được an. Thân không có khả năng để cứu lấy, chỉ cúi xin Phật để nhận được sự cứu giúp. Không nơi quay về thì con cúi xin Ngài nhận làm nơi để con quay về. Giống như không mắt, chỉ mong sao được mắt để nhìn thấy, như ước muốn của người què là làm sao để đứng vững. Nay phải vào địa ngục A-tỳ cho đến đại địa ngục Nê-lê, điều khiến được là xin không vào. Ngưỡng mong Như Lai hãy vì con mà nói rõ điều hồ nghi của con khiến lòng được giải tỏa, đến chết cũng không còn ngờ vực, khiến trọng tội từ đó được giảm nhẹ.

Phật nghĩ đến vua A-xà-thế đã nói lên được các điều kia, sâu thẳm mà vi diệu, bệnh này chẳng thể nào trị liệu được, chỉ riêng có Phật, Bồ-tát Văn-thù-sự-lợi mới tạo được cảm ứng.

Tôn giả Xá-lợi-phất nhờ oai thần Phật, nói với vua A-xà-thế:

–Muốn giải tỏa hồ nghi thì sáng mai làm thức ăn thỉnh mời Bồtát Văn-thù-sư-lợi… đến cung vua để nhận sự cúng dường. Những vị quan và thuộc hạ đều nhận được phước kia, kể cả dân chúng nước La-duyệt-kỳ đều nhân công đức này để có thể tạo công đức cho mình.

Vua A-xà-thế liền bạch Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Mong đoái tưởng ban đại ân, sáng mai, xin được chiếu cố, mời Bồ-tát vào cung dùng bữa cúng dường.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Tạo sự đầy đủ thì có thể đó là sự cúng dường.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lại nói:

–Phật pháp đâu phải vì cơm ăn, áo mặc!

Vua A-xà-thế liền bạch:

–Phải lấy cái gì để cúng dường?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Nếu đã thấu rõ được sự vi diệu thì việc cúng dường kia xét cho cùng không chỗ nào vẩn đục, cũng không chỗ vướng mắc, cũng không chỗ nghi ngờ, không chỗ khó khăn, không chỗ sợ sệt, không chỗ kinh hãi. Như vậy là do lòng thương xót mà được.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lại bảo vua A-xà-thế:

–Ý niệm về các pháp cũng không niệm hữu, cũng không niệm vô, điều này là do lòng thương mà được. Không phải niệm tâm quá khứ, cũng không phải niệm tâm vị lai, cũng không phải niệm tâm hiện tại, ý niệm về niệm này là để lòng thương càng được nhân lên. Nhà vua không phải nhớ nghĩ đến bất cứ chỗ nào để có thể thấy được tất cả, cũng chẳng chân thành tạo ra niệm ấy là để lòng thương càng được tăng lên.

Vua A-xà-thế lại bạch Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Như lời Bồ-tát nói thì tất cả các pháp đều không có khác? Cúi xin hãy vì con nên càng thương xót nhận lời mời của con.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lại bảo:

–Nên dừng lại thôi! Đạo kia, chẳng phải là do điều ấy, hoặc từ uống ăn. Hoặc vua không niệm có ta, có ngã, thọ mạng, người, cho vì niệm ấy do lòng thương được tăng lên. Nếu tâm không chỗ nắm bắt, cũng không chỗ duyên, cũng không là bốn đại, cũng không là năm ấm, cũng không sáu suy, cũng không chấp giữ ba cõi, cũng không ở công đức, cũng không niệm không có công đức, cũng không ở tục, cũng không ở đạo, cũng không ở tội, cũng không ở vô tội, cũng không ở còn, cũng không ở hết, cũng không ở thoát, cũng không ở không thoát, cũng không ở sinh tử, cũng không ở Niết-bàn.

Thực hiện được như vậy là do lòng thương xót được tăng lên.

Vua A-xà-thế lại bạch Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Nghe pháp này tâm ý lại bội phần phấn khích, do vậy nên con muốn thỉnh Bồ-tát để con nhờ pháp ấy mà được an ổn.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Nhà vua mong cầu có được chỗ duyên, muốn được an ổn, do vậy không duyên thì không an ổn. Vì sao? Vì nhân của pháp kia là không có chỗ duyên, không có an, không niệm về pháp ấy cũng không cao ngạo. Tất cả là không chỗ niệm cho nên nơi duyên dựa an lập. Ở trong ấy không có ý ác, về sau lại không có tai biến, nếu sau có tai biến ấy là không an. Từ xưa đến chỗ sau cùng đều không có khác biệt, vì vậy mới là an ổn.

Vua A-xà-thế lại hỏi:

–Nói lên chỗ pháp nào không có sai biệt là có thể được an chăng?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:

–Nếu vô tác, rỗng lặng, không có chủ thể tạo tác thì không có tướng, không có nguyện, không có chỗ làm, cũng không có người làm ra. Ai có ý niệm về ngã, có chỗ tạo ra, không chỗ tạo ra, tức là có sai khác. Cũng không cầu, không chỗ duyên với thân, miệng, ý thì đây là tạo tác. Vì sao? Vì không có tướng sống chết, cho nên các pháp nếu có chỗ duyên thì phải biết tất cả đều không chỗ để duyên.

Vua A-xà-thế lại hỏi:

–Vì sao gọi là sống chết, không sống chết?

Bồ-tát Văn-thù bảo:

–Không niệm quá khứ cùng tận, cũng không niệm vị lai chưa đến, cũng không niệm hiện tại mà niệm vô thường. Với các pháp không niệm có chỗ tăng, có chỗ giảm. Lãnh hội được sự sống chết như thế này thì không còn sống chết.

Vua A-xà-thế lại hỏi:

–Chưa giải thoát thì phải như thế nào để hợp với đạo?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Nhà vua biết ánh sáng mặt trời, mặt trăng cùng với bóng tối hợp lại được không?

Vua A-xà-thế thưa:

–Hợp không được. Vì sao? Vì mặt trời xuất hiện thì các tối tăm bị xua tan.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lại hỏi:

–Phải chăng vua biết được bóng tối từ chỗ nào đến?

Nhà vua đáp:

–Không thể biết được xuất xứ của nó là từ chỗ nào.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Cho nên nói là lúc đạo trí đến giống như mặt trời mọc không thể biết các tối tăm đang ở đâu. Lúc đó cũng không biết bóng tối chưa thoát ra đang ở nơi nào?

Văn-thù-sư-lợi lại bảo:

–Đạo cùng với cái “chưa thoát” giống nhau. “Chưa thoát” cùng với đạo giống nhau. Vì sao? Vì hoàn toàn là cái rỗng lặng, vì chưa thoát cùng với đạo bình đẳng. Các pháp đều bình đẳng. Ai biết điều này thì “chưa thoát”, ấy là đạo. Vì sao? Vì cầu không thoát, không biết nơi chốn, cho nên gọi là đạo. Vì sự cầu kia không chỗ thoát mà không thể thấy thì đấy là đạo.

Vua A-xà-thế lại hỏi:

–Vì sao bảo rằng không thoát mà là đạo?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:

–Với không thoát thì đấy là đạo. Không tạo tác về đó là đạo.

Vua A-xà-thế lại hỏi:

–Đạo kia, phải học như thế nào?

Bồ-tát Văn-thù đáp:

–Giống như học các pháp.

Vua A-xà-thế lại hỏi:

–Để học các pháp thì cần phải có nơi chốn ư?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Học như thế thì không thể đến được đạo.

Vua A-xà-thế lại hỏi:

–Còn học như kia thì sẽ đến Nê-hoàn chăng?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Như vậy là có pháp từ Nê-hoàn đến là bảo rằng ta từ Nêhoàn lại?

Vua A-xà-thế thưa:

–Cũng không có đi, cũng không có đến.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói với vua A-xà-thế:

–Vậy học đạo mà biết là không nơi chốn, mới là đạo.

Vua A-xà-thế lại hỏi:

–Phải trụ vào con đường để học cái học ấy?

Bồ-tát Văn-thù đáp:

–Không có chỗ trụ, đấy là học đạo.

Vua A-xà-thế lại hỏi:

–Vậy người học đạo thì không trụ ở tịnh giới, Tam-muội, trí tuệ?

Bồ-tát Văn-thù đáp:

–Đạo kia, không duyên vào giới, không cầu Tam-muội, không cao ngạo là trụ ở trí tuệ.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi hỏi vua A-xà-thế:

–Có thể duyên vào giới, cầu Tam-muội, tự cao nơi trí tuệ, như vậy là có chỗ trú ngụ sao?

Vua A-xà-thế thưa:

–Không có chỗ.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Cho nên phải biết đạo là không nơi chốn để trụ.

Vua A-xà-thế lại hỏi:

–Người nam, người nữ phải như thế nào để tự mình đi đến đạo?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Những ai muốn học đạo thì không thấy pháp hữu thường, vô thường, không thấy pháp có thoát, không có thoát, cũng không thấy pháp an vui hoặc khổ, cũng không thấy pháp là ngã hoặc mọi người, cũng không thấy pháp từ nơi sinh tử đến Niết-bàn. Người học đạo như thế là đi đến đạo.

Vua A-xà-thế liền thưa:

–Lành thay! Lành thay! Như điều thuyết giảng của Bồ-tát Vănthù-sư-lợi, con cúi mong Bồ-tát Văn-thù nhận lời mời của con. Vì sao? Vì nỗi hồ nghi ở trong con. Con đã tự suy nghĩ kỹ rằng các pháp là không ta, không ngã, không thọ, không mạng, nhưng con vẫn còn có nỗi nghi ngờ.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Như không có thì không thể khiến có. Do không có nên cũng không chỗ thoát, cũng chẳng phải là không chỗ thoát. Ai nói về ngã mà cho là có chỗ thoát khỏi? Do không có thoát nên cũng chẳng chỗ thoát, cũng chẳng không chỗ thoát. Vì sao? Vì các pháp đều thoát.

Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nhận lời mời của vua A-xà-thế vì lợi ích cho vô số người.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Xin nhận sự chỉ giáo của Như Lai. Vì sao? Vì không trái với lời dạy.

Vua A-xà-thế lấy làm vui mừng hết mực liền từ tòa ngồi đứng lên đảnh lễ Phật, các Tỳ-kheo và Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi rồi ra về.

Vừa đi, vua A-xà-thế lại hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:

–Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi với đoàn tùy tùng là bao nhiêu người?

Tôn giả Xá-lợi-phất bảo:

–Năm trăm người đều được mời đến thọ trai ở vương cung.

Nhà vua bèn theo đường về lại thành. Vua liền ban lệnh cho đại quan sai người làm thức ăn trăm vị. Ngay ngày ấy cho sửa sang trên điện vua. Nơi đây, cờ phướn, màn trướng, lọng hoa được trang hoàng để đón rước. Hoa được rải khắp sàn nơi cung điện, đem danh hương xông đều khắp chốn. Sắp đặt năm trăm tòa cao, tất cả đều trải các thứ ngọc nổi tiếng được chuốt gọt đủ kiểu, màu sắc của nó đẹp vô ngần. Nội cung họp lại, tất cả điều chỉnh lại sắc đẹp bằng hương hoa khắp người. Ban lệnh cho thành, quách, các ngả tư đường, chợ, làng mạc đều phải quét dọn sạch sẽ, đặt hương hoa hai bên đường. Cạnh đường thì đều dàn dựng màn trướng, cờ phướn làm nổi bật uy nghiêm. Cổng làng nào cũng đều dựng song kết hoa đón mừng. Ra lệnh cho dân chúng, mọi người sáng sớm ấy phải đón đường nghênh tiếp cúng dường.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi liền vào đầu đêm tự nghĩ: “Ta cùng với một số ít xuất hiện đến chỗ mời hội thì cũng không tạo được sự cảm ứng, chi bằng đến cõi khác để mời chư Bồ-tát đi đến nơi ấy rồi khiến họ cung thỉnh, tất cả đều nghe lời thuyết pháp của ta.” Khi ý niệm này hiện lên, bấy giờ chỉ trong khoảng như duỗi cánh tay, Bồ-tát Văn-thù liền từ đó mất dạng, đến phương Đông, qua tám vạn hai ngàn cõi Phật, đến cõi tên là Thường danh văn. Vị Phật ở đấy có hiệu là Duy Tịnh Thủ, hiện tại có chúng Bồ-tát không có đạo khác, cõi này thường chuyển pháp luân không thoái. Tất cả các thứ cây trên cõi ấy đều là các báu, hoa, lá, quả của chúng gồm vô số sắc màu. Một khi gió thổi qua các cây này thì chỉ nghe tiếng Phật, chỉ nghe tiếng Pháp và tiếng Tăng không thoái chuyển. Ở đây cái thường dùng là nghe âm thanh của Tam bảo, cho nên cõi Phật ấy tên gọi là Sa-đà-duy-cù-trá.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đã có mặt tại nơi đây, Bồ-tát Văn-thù tác lễ, bạch Như Lai Duy Tịnh Thủ:

–Xin vì lời mời của tôi mà bảo hết chư vị Bồ-tát sang quốc độ Sa-ha, đến vương quốc A-xà-thế, dự bữa cúng dường.

Phật liền nói với chúng Bồ-tát:

–Ai muốn đi thì hoan hỷ đến dự hội.

 

QUYỂN HẠ

Bấy giờ, hai vạn hai ngàn Bồ-tát đồng cất tiếng:

–Chúng con mong muốn cùng với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đi dự hội.

Lập tức toàn thể số Bồ-tát kia cùng Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lên đường, thoáng chốc là đến một địa điểm thuộc cõi Sa-ha, tất cả đều an tọa. Nơi đây được gọi là Thất trung, vì khả năng dung nạp do oai thần của Bồ-tát ấy. Sau khi tất cả cùng ngồi rồi, Bồ-tát Văn-thù-sưlợi thuyết pháp, pháp ấy gọi là Đà-lân-ni.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói với các Bồ-tát:

–Bất cứ pháp nào có thể nhận biết thì gọi là Đà-lân-ni, vì thế nên hiểu rõ tất cả các pháp. Ý nghĩa của Đà-lân-ni là không chỗ mong cầu. Chỗ tạo tác không có sai khác, có ý niệm liền đầy đủ, chỗ hiểu biết đúng như trí tuệ. Pháp Đà-lân-ni biết rõ tất cả cội nguồn của sự vật. Ngôn ngữ của Đà-lân-ni như chân lý, tự gìn giữ không thoái đọa vì diệu dụng của nó là hướng thượng đều chứng nhập các pháp hành. Đà-lân-ni là đầu nguồn của đạo, không cắt đứt nguồn cội nơi Phật, là nguồn nắm giữ pháp, là đầu nguồn của Tổng trì nơi Tăng. Với các pháp không sợ người hỏi, tức là khả năng biết đối đáp, trước đám đông không khiếp sợ. Vì sao? Vì không có điều gì phải sợ hãi. Muốn giáo hóa chư Thiên thì tùy theo ý muốn của trời mà chỉ dạy, khiến mỗi mỗi được hiểu biết. Các loài Rồng, Dạ-xoa, A-tu-luân, Ca-lưu-la, Chân-đà-la, Ma-hưu-lặc, Nhân phi nhân và Thích, Phạm cũng vậy. Xuống nữa là tất cả các loài côn trùng, các loài chim thú, mỗi mỗi loài đều biết được và tùy theo ý muốn của các loài mà giáo hóa, khiến được như ý đều hiểu rõ có công đức hay không có công đức.

Biết hết chỗ hành chỗ trụ của mọi người khiến tâm mình vững vàng như đại địa. Đối với thế gian không chạy theo tám việc, trong đó có chỗ nào tạo công đức thì thuận làm. Với đạo không rời sự chỉ bày, soi sáng, với người thì tùy theo chỗ vui của họ mà khiến cho tất cả đều nhờ ân. Nơi đâu làm cho giới hiện thực thì khiến cho tất cả đều ở trong giới. Trí tuệ không chỗ nào là không tỏ ngộ khắp, là chỗ coi trọng của tất cả, vì thế mà không cho đó là sự nhọc nhằn, khổ sở. Tâm không có khác với pháp, biết nó là cái gốc giáo hóa của mình. Vâng theo sự giáo hóa ấy, thường đem pháp bố thí, không bao giờ chán. Việc thuyết pháp không kỳ vọng phải được, pháp kia lại không đoạn chỗ thiện căn bản nơi Bồ-tát. Vì sao? Vì lấy tinh tấn để nuôi dưỡng thành quyết tâm. Bố thí không cho là đầy đủ vì đây là diệu dụng của Nhất thiết trí. Đem lại giới mà không coi đó là đầy đủ. Vì sao? Vì cung kính tất cả mọi người. Nhẫn nhục mà không cho là đầy đủ vì là phương tiện đạt đến thân Phật. Lấy tinh tấn mà không cho là đầy đủ vì các công đức được tập hợp. Đem lại Thiền mà không cho là đầy đủ vì không có chỗ mong cầu. Đem lại Tuệ mà không chán đủ. Vì sao? Vì không chỗ nào là không niệm. Lấy pháp làm phước đức tự mình dựa vào đó để sống còn. Tất cả không chỗ do dự. Kẻ nào hành trì như vậy đó là Đà-lân-ni.

Đà-lân-ni, chính là sự tổng trì tất cả các pháp. Sao gọi là trì? Vì Không, Vô tướng, Vô nguyện, vô dục, không chỗ vướng mắc, không chỗ thấy. Do sự nắm giữ này mà không chỗ sinh, không chỗ tạo, là pháp làm nên sự nắm giữ ấy. Cũng không đến, cũng không đi, cũng không trụ, cũng không loạn, cũng không khởi, cũng không hoại, cũng không chỗ nắm, cũng không chỗ giữ. Với nẻo thoát không có tưởng chấp về thoát, cũng không chỗ trụ, cũng không phải trụ, cũng không ta, cũng không ngã, cũng không thọ mạng, cũng không người, cũng không chỗ chấp, cũng không bỏ, cũng không thật, cũng không dối, cũng không chỗ nghe, cũng không chỗ thấy, cũng như hư không, không chỗ xưng gọi, cũng không chỗ xúc chạm, cũng không chỗ nhận biết, luôn nắm giữ tất cả các pháp nên gọi là Đàlân-ni.

Lại có Đà-lân-ni nắm giữ các pháp như huyễn ảo, giống như mộng, như dợn nắng, như bọt nước tụ, như bọt nước nổi giống như biến hóa đều nắm giữ các pháp, nên gọi là Đà-lân-ni. Lại có Đàlân-ni, lấy vô thường nắm giữ các pháp, hoặc chỗ thấy vô ngã mà vắng lặng. Các pháp căn bản đều thoát ra từ Đà-lân-ni này. Với pháp không chỗ tranh, cũng không thoái đọa cũng không kỳ hẹn. Do nắm giữ tất cả các pháp ấy, nên gọi là Đà-lân-ni. Hoặc giống như đất không nơi đâu là không gìn giữ, không coi sự nắm giữ ấy là điều cần kíp. Bồ-tát lấy Đà-lân-ni đạt được làm cái gốc cho tất cả. Mọi công đức tạo ra được từ a-tăng-kỳ kiếp đều có thể hợp chung lại mà phát ra Nhất thiết trí. Tâm không đâu không nắm giữ, cũng không buông bỏ, cũng không cho đó là điều phiền hà. Vì sao? Vì như đất là nơi nâng đỡ mọi vật. Bồ-tát lấy Đà-lân-ni đạt được làm lợi ích cho tất cả. Nếu như cây cối, vạn vật do đất mà sinh trưởng thì Bồ-tát đem Đà-lân-ni đạt được để sinh ra tất cả các pháp công đức. Hoặc giống như đất cũng không động, cũng không lay, cũng không chỗ thích, cũng không chỗ ghét, hoặc giống như đất nhận hết cả nước mưa nhưng cũng không chán dứt.

Bồ-tát do đạt được Đà-lân-ni nên tất cả chư Phật, Bồ-tát, Thanh văn, Bích-chi-phật đều hỏi pháp cũng không chán đủ. Vì tất cả thuyết pháp cho đến tận cùng cũng chẳng cho là nhiều. Hoặc giống như đất, hàm dưỡng các hạt giống, gặp lúc đủ duyên thì đều được mọc lên. Bồ-tát do đạt được Đà-lân-ni nên đều hàm dưỡng các hạt giống pháp công đức, tồn tại theo thời gian. Đúng thời, các pháp liền hội đủ, cho đến ngồi nơi cây Phật mà không rời Nhất thiết trí. Bồ-tát đã đắc chứng Đà-lân-ni thì dũng mãnh như vị tướng, trong binh không ai là không tuân phục, Bồ-tát do đạt được Đà-lân-ni nên ngồi nơi cội cây Bồ-đề hàng phục chúng ma, cho nên gọi là Đà-lânni.

Lại có Đà-lân-ni, với các pháp không nơi nắm giữ. Vì sao? Vì đối với hữu thường, vô thường, cũng không vui, cũng không khổ, có thân, không có thân, không có người, không có thường, tất cả các pháp đều không chỗ nắm giữ. Vì sao? Vì không có hai tâm. Hoặc giống như đất không nắm giữ hư không. Đà-lân-ni, không chỗ nắm giữ tất cả các pháp, giống như hư không, không nắm giữ cái có sở hữu. Đà-lân-ni, với các pháp cũng không nắm giữ pháp nào, giống như nước không giữ lấy các cấu bẩn. Đà-lân-ni với các pháp cũng không nắm giữ pháp nào. Vì giống như có nơi đến mà không có nơi chốn nào để đến, vì Đà-lân-ni không nắm giữ nơi chốn. Đà-lân-ni ấy không thể tận cùng, không có tận cùng, không thể lường xét nên không chỗ nào là không chứng ngộ. Không chỗ nào là không chứng ngộ cho nên cương giới của nó là rỗng lặng. Đà-lân-ni cùng với hư không giống nhau.

Khi thuyết giảng pháp Đà-lân-ni, có năm trăm Bồ-tát đều chứng pháp Đà-lân-ni.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi vào canh hai giảng thuyết về Bồ-tát tạng, các pháp chẳng pháp nào là không từ đây xuất phát. Hoặc pháp công đức, hoặc pháp không công đức, hoặc tục, hoặc đạo, hoặc có tội, hoặc không có tội, hoặc còn lại, hoặc không còn lại, hoặc thoát, hoặc không thoát, tất cả đều vào hết tạng này. Vì sao? Vì là diệu dụng của các pháp, vì không chỗ nào là không chứng đắc, giống như cõi tam thiên đại thiên hàm nhận trăm ức cõi nước, trăm ức trời, trăng, trăm ức núi Tu-di, trăm ức biển lớn vào hết nơi tam thiên đại thiên. Cũng không pháp phàm, cũng không pháp đạo đều vào hết trong tạng Bồ-tát. Pháp Thanh văn, Bích-chi-phật, hoặc pháp Bồ-tát cũng vào hết trong tạng ấy. Vì sao? Vì đều tổng trì các hành, nắm giữ hành nơi Thanh văn, nắm giữ Bích-chi-phật, nắm giữ Bồtát, giống như rễ của cây kia đâm sâu, cắm chặt vào đất thì gốc, cành, nhánh lá hoa, quả của nó đều tươi tốt. Bồ-tát tạng không chỗ nào là không nắm giữ, không chỗ nào là không thành. Tất cả đã nắm giữ các pháp công đức thì đều nắm giữ tâm của Nhất thiết trí. Bồ-tát tạng kia, như là vật dụng đựng thì tên gọi của nó là vật nhận vô số, giống như biển chứa nhận các thứ nước, nhận các châu báu. Rồng, Dạ-xoa, Kiền-đà-la, Chân-đà-la, Ma-hưu-lặc vây bọc khắp trong biển này, vì tất cả, biển tạo ra các thứ báu kia. Tạng Bồ-tát, nhân duyên của nó là vô kể cũng như biển ấy, nhận vô số giới, là nơi thấy, nghe Tam-muội, trí tuệ. Nó là vật đựng thì thâu nhận không sót một thứ gì theo chỗ nhận thấy nên gọi là tạng Bồ-tát. Hoặc giống như biển, đã sinh đến đó là không còn uống nước khác. Vì sao? Vì đều do biển. Kẻ nào đang là tạng này thì đều là do pháp ấy, không ở bên ngoài đạo. Vì sao? Vì nhận hết pháp vị nơi Nhất thiết trí. Nên gọi là Bồ-tát tạng. Tạng ở đây gồm ba. Ba tạng ấy là gì? Là Thanh văn tạng, Bích-chi-phật tạng và Bồ-tát tạng:

Thanh văn tạng là vì nghe pháp từ người khác. Vì sao? Vì nghe âm thanh ấy.

Bích-chi-phật tạng là vì duyên vào mười hai nhân duyên. Do nhân duyên hết mà đạt đến quả vị Phật Bích-chi.

Bồ-tát tạng là thấu đạt vô số pháp mà tự nhiên đưa đến thành Phật. Còn với hàng Thanh văn hay Bích-chi-phật thì ba tạng kia Thanh văn hay Bích-chi-phật không thể có được. Khi thuyết giảng pháp này thì ba tạng kia mỗi tạng đều đạt được như sở hành. Vì sao? Vì khi nói lên điều này thì Thanh văn, Bích-chi-phật, Bồ-tát mỗi hàng đều chứng đắc nẻo hành của mình, nên gọi là ba tạng. Ai đạt được pháp Bồ-tát là liền được ba tạng. Vì sao? Vì Thanh văn, Bíchchi-phật không xa rời pháp của Phật.

Lại có ba tạng học. Sao gọi là ba tạng? Vì có Thanh văn học, có Bích-chi-phật học, có Bồ-tát học.

Thanh văn học thì cái dụng có hạn độ, vì chỉ tạo sự sáng suốt cho mình.

Bích-chi-phật học thì gọi là các học bậc trung, vì không có lòng thương rộng lớn.

Bồ-tát pháp thì nhập vào pháp thân không thể đo lường do diệu dụng là tâm Từ rộng lớn.

Thanh văn thì không học việc Bích-chi-phật, cũng không rõ việc Bích-chi-phật.

Bích-chi-phật không học việc Bồ-tát, cũng không rõ việc của Bồ-tát.

Bồ-tát thì biết rõ chỗ học của Thanh văn mà không lấy đó làm vui. Không có chỗ mong cầu ở trong đó, cũng không ở trong đó mà cầu giải thoát. Bồ-tát cũng biết chỗ học của Bích-chi-phật, không lấy đó làm vui cũng không ở trong đấy mà cầu giải thoát, biết chỗ tu học của Bồ-tát, biết vui với cái học của mình tự chăm lo niềm vui, phải ở trong nhân này để được giải thoát, chỉ bày cho Thanh văn mà thị hiện, đem hạnh Bồ-tát giáo hóa họ. Bồ-tát đối với Bích-chi-phật cũng như thế, nên gọi là Bồ-tát tạng.

Giống như dùng vật đựng nhận lưu ly. Vì diệu dụng của lưu ly nên đồ đựng kia cũng tạo ra được màu sắc của lưu ly. Bồ-tát do đạt chứng nơi tạng, do chỗ thấy các pháp không xa rời Phật, Bồ-tát vì đạt đến tạng mà các pháp được thấy đều thấy ở nơi pháp Phật. Bồtát, các pháp đều học, không chỗ nào là không học. Vì sao? Vì chỗ nhận thức lãnh hội không có khác, các pháp đều chứng như Phật chứng. Tạng Bồ-tát thì văn tự để giáo hóa là vô số, không có chỗ để lường tính. Vì sao? Vì không tăng, giảm, là sự quang minh không thể luận bàn, là ánh sáng đều chiếu vào tối tăm, là chỗ tạo ra có nhân từ, lợi lạc không có điểm cùng. Chứng được Nhất thiết trí thì không nơi đâu là không tỏ ngộ. Ai học cái học này mới gọi là học, vì đều chứng ngộ tạng, chứng nhập Ma-ha-nhã-na. Ma-ha-nhã-na là Tuệ vô cực. Người chứng, người chưa chứng, do tuệ kia mà chứng được nó.

Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi vì các Bồ-tát, sau khi thuyết giảng về tạng rồi thì lại đối với ba nơi ấy nêu giảng về Bất thoái chuyển nơi luân Kim cang hành. Khi nêu bày vấn đề này, chúng hội nghe đều chứng đạt sự việc ấy. Pháp luân kia cũng không có chỗ vận hành. Bất thoái chuyển vận hành thì không có chỗ mong cầu, tâm Bồ-tát đối với tất cả không hề có khác. Vì sao? Vì không niệm thiện ác, lấy tâm bình đẳng, mà học pháp, nhìn thấy các cõi Phật, cũng lại nhìn thấy sự bình đẳng không vướng mắc vào cái tốt, xấu kia, do chư Phật bình đẳng không sai khác. Bánh xe kia không chỗ nào là không lăn vào khắp. Vì sao? Vì không làm hoại Pháp thân, vì thế nên là pháp luân Bất thoái chuyển. Pháp luân này không đoạn tuyệt với nơi chỗ nào. Vì sao? Vì không hai tâm. Pháp luân này là chỗ thấy như thật, vì sao? Vì do Pháp luân mà đạt đến Phật, nên gọi là pháp luân Bất thoái chuyển. Những ai đi theo pháp luân Bất thoái chuyển thì đều thoát ra khỏi các tưởng chấp. Những ai tin pháp luân ấy thì đều sẽ được chứng quả như Phật, vì không dùng hai việc. Từ một việc thoát ra khỏi chỗ thoát, Như Lai là chỗ làm nhân, thoát ra khỏi chỗ thoát kia thì vô tưởng, không còn tưởng. Do vậy, các pháp có tưởng chấp kia thì không có giải thoát. Vì sao? Vì giải thoát ấy không có hai. Vì sao? Vì không có thân, miệng, ý. Vì sao? Vì chỗ thoát kia cũng không từ thân, miệng, ý nên gọi là giải thoát. Thực hiện điều ấy thì tự mình lấy đó làm theo mà không theo người khác, nên gọi là pháp luân Bất thoái chuyển. Pháp luân này không chuyển sắc. Vì sao? Vì sắc kia là tự nhiên. Thọ, tư tưởng, sinh tử, thức cũng không chuyển. Vì sao? Vì do thức là tự nhiên. Tất cả các pháp cũng không chuyển. Vì sao? Vì Pháp thân không chuyển pháp, nên đây gọi là pháp luân Bất thoái chuyển. Pháp luân này chỗ chứng ngộ là không có biên vực. Vì sao? Vì không còn sự đoạn tuyệt. Pháp luân này cũng không có chỗ vướng mắc, cũng không có đoạn dứt. Vì sao? Vì pháp luân kia không có cửa. Vì sao? Vì không hai tâm. Bánh xe của chân đế cũng không chuyển. Vì sao? Vì không thể thuyết minh. Bánh xe pháp này cũng không có thể thấu hiểu. Vì sao? Vì tiếng của pháp luân cũng không có thì làm sao thấy được hình ảnh của nó? Vậy nên chân lý nơi pháp luân do rỗng lặng nên có thể dẫn về chỗ giải thoát mà không thể đạt tới. Ví như hư không thì chẳng nơi đâu là không có mặt. Vì sao? Vì bất cứ nơi nào nó cũng thâm nhập. Do trên căn bản “không” là diệu dụng của giải thoát. Pháp luân Bất thoái chuyển cũng có thể đi, cũng có thể bước. Sao gọi là đi, sao gọi là bước? Vì như mũi dùi kim cương xuyên thủng được các thứ ngọc ngà châu báu… Vì sao bảo có thể dùng dùi xuyên thủng các pháp kia? Vì giống như dùng dùi hư không xuyên thủng tất cả. Do vậy, nên gọi là pháp, là không chốn tưởng, nên là kim cương. Vì sao? Vì nó khoan thủng tất cả các chốn mong cầu. Vô nguyện thì sánh như khoan kim cương xuyên thủng các chỗ chưa giải thoát khiến chúng được giải thoát. Pháp thân thì sánh như kim cương, các chỗ tán loạn thì theo như lý hư không mà giải thoát nó. Như Lai thì như kim cương đều xuyên thủng cái không sở hữu, giải thoát kia như kim cương siêu việt mọi thứ không giải thoát. Nê-hoàn thì thấy rõ các pháp tự nhiên.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi vì các Bồ-tát, thuyết giảng về pháp luân

Bất thoái chuyển này khiến Bồ-tát đều chứng đắc Tam-muội La-tỳcâu-tốc (theo Hán thì gọi là Phật quang minh hoa). Được Tam-muội này rồi, mỗi sợi lông nơi thân các Bồ-tát kia đều phóng ra trăm ngàn ức ánh sáng, nơi ánh sáng ấy đều có trong trăm ngàn ức vị Phật ngồi. Tất cả chư Phật, mỗi mỗi vị đi đến phương khác, ở đâu cầu Phật đạo thì đến đó để giáo hóa.

Sáng sớm ấy, vua A-xà-thế sai sứ giả đến nơi ở của Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Xin thương xót! Đã đến giờ xin Bồ-tát cùng chư vị hạ cố đến.

Khi ấy, Ma-ha Ca-diếp cùng với năm trăm Tỳ-kheo đều muốn vào thành để khất thực. Mới đi được nửa đường nghĩ còn sớm nên lại quay về. Trên đường về, Ma-ha Ca-diếp cùng với Tỳ-kheo ghé qua chỗ đón của Văn-thù-sư-lợi. Đến nơi, tất cả đều đứng ngoài cửa.

Văn-thù-sư-lợi hỏi Ma-ha Ca-diếp:

–Hiện còn sớm Tôn giả muốn đến chỗ nào?

Ma-ha Ca-diếp đáp:

–Muốn đi khất thực.

Văn-thù lại nói với Ma-ha Ca-diếp:

–Nay tôi với Tôn giả cùng khất thực.

Ma-ha Ca-diếp bảo:

–Đã đầy đủ lễ là cúng dường rồi. Vì sao? Vì pháp mà đến, chứ không phải để ăn.

Văn-thù-sư-lợi bảo Ma-ha Ca-diếp và các Tỳ-kheo:

–Vì pháp thì phải tề tựu hết về đó và cũng còn thọ trai nữa. Vì sao? Vì hiện pháp kia không mất và cũng không làm mất việc thọ trai ấy. Hợp cả hai làm một.

Ma-ha Ca-diếp bảo:

–Chúng ta luôn phải nhẫn, không vì thọ trai mà chỉ vì nghe pháp. Vì sao? Vì cả hai đều là các pháp sâu xa luôn đi liền với sự nghe ấy.

Ma-ha Ca-diếp lại hỏi:

–Hôm nay cùng với chư Đại Bồ-tát dự hội để thọ trai?

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Hiện nơi cúng dường thọ trai, người kia cũng không thoát ly

sinh tử, cũng không chứng nhập Nê-hoàn, cũng không vượt khỏi điều ham muốn, cũng không do đạo mà chứng, nơi cúng trai kia cũng không chỗ tăng, cũng không chỗ giảm, cũng đối với các pháp không chỗ nắm giữ, cũng không xả bỏ.

Ma-ha Ca-diếp nói:

–Ai làm việc bố thí này thì việc bố thí ấy là không giới hạn?

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Vâng, nhận lời mời của nơi ấy.

Văn-thù-sư-lợi tự nghĩ:

–Nay phải vào thành, việc làm thì phải tạo sự cảm động như Phật. Khi niệm ấy hình thành thì liền được Tam-muội Vô sở bất cảm động. Liền khi ấy cõi Sa-ha bằng phẳng như tấm gương. Các gò, đống, núi non tất cả đều không hiện ra. Ánh sáng không nơi đâu là không tiếp đến. Nơi địa ngục Nê-lê khổ não thì bao nỗi thống khổ kia được tiêu trừ, tất cả đều được an ổn. Còn ở cõi này, mọi người trong lúc ấy đều không dâm, nộ, si, cũng không có tâm ghen ghét, không tự cao, tự đại cũng không dấy khởi ý.

Bấy giờ mọi người đều có tâm Từ, xem nhau như cha, mẹ. Trong lúc ấy nơi đây hiện sáu cách chấn động. Các Thiên tử nơi cõi Dục, các Thiên tử nơi cõi Sắc dùng trăm thứ kỹ nhạc để cúng dường Văn-thù-sư-lợi, gồm cả hoa trời mưa xuống rơi khắp trên người Vănthù, mưa hoa theo Văn-thù-sư-lợi đến tận chỗ dừng lại. Thế là đến cửa thành, ở đây được trang hoàng hết sức trang nghiêm tận cùng các ngõ ngách. Lấy các loại hoa kết giăng đan chéo khiến hai bên đường đi đẹp hẳn lên, lấy loài hoa đặc biệt nổi tiếng rải đều lên đất nơi Văn-thù đi qua. Còn ở bên trên không gian ấy là màn, trướng, lọng che, được làm bằng các thứ báu tốt nhất. Con đường này rộng sáu trượng ba thước, có lan can suốt hai bên. Dùng các loại hoa báu làm cây, cách khoảng sắp thành hàng bên đường, lấy báu làm dây buộc liền vào các cây, lần lượt kết nối nhau. Mỗi cây này, hương tỏa khắp bốn mặt, mùi thơm bón mươi dặm còn nghe. Giữa hai cây, biến hóa có ao nước, chung quanh bờ ao là các thứ báu dùng để ngăn che, lấy lưu ly điểm xuyết trang hoàng. Cát trong ao nước đều là vàng. Nước nơi ao có tám vị. Các loại hoa đều sinh ra từ ao này, giữa ao có các loài chim le, nhạn, uyên ương… đuổi nhau đùa giỡn. Dưới mỗi mỗi cây đều có rễ nổi lên bên trên, có giá đỡ bằng các thứ châu báu. Trên giá ấy đều đặt lò hương làm bằng ngọc quý, dùng các danh hương để đốt. Cứ mỗi một giá ấy là một trăm người nữ xinh đẹp dùng hoa sen đựng danh hương chiên-đàn đưa lên. Khi Bồ-tát Vănthù-sư-lợi hiện ra Tam-muội ấy thì oai thần của Tam-muội biến hóa khắp nơi nơi.

Văn-thù-sư-lợi từ tòa ngồi đứng dậy chỉnh lại y phục rồi bảo Ma-ha Ca-diếp:

–Ông đi trước ta theo sau. Vì sao? Vì kính bậc cao niên lại ở nơi pháp Phật làm Sa-môn trước ta do vậy nên phải đi trước.

Ma-ha Ca-diếp đáp:

–Pháp kia không có trước, sau, không so tính tuổi tác mà có tôn ty.

Văn-thù-sư-lợi nói:

–Thế nào gọi là kính lão?

Ma-ha Ca-diếp đáp:

–Trí tuệ là tôn kính. Học vấn rộng nhiều gọi là tôn kính. Làm tròn việc mình đang làm thì đấy là tôn kính. Biết được hết nẻo hành của mọi người thì đấy là tôn kính.

Ma-ha Ca-diếp lại nói:

–Văn-thù-sư-lợi cũng có trí tuệ, học vấn đầy đủ, làm tròn việc mình đang làm, hiểu rõ nẻo hành của mọi người, do vậy phải là bậc tôn kính.

Ma-ha Ca-diếp lại nói:

–Nay bằng vào tuổi tác thì cũng là bậc lớn, cũng lại là bậc đáng tôn kính, nên phải đi trước, tôi xin hoan hỷ đi theo sau. Nay xin đem ví dụ để làm rõ, chỉ mong được lắng nghe: Ví như sư tử con, gan dạ, khí lực, sức mạnh của nó không như sư tử lớn, dù nhỏ song nhờ hơi sư tử lớn, nên các loài cầm thú nghe được sư tử ấy thì loài nào là không khiếp sợ? Giống như voi lớn lại có sáu ngà, tuổi của voi là sáu mươi. Nếu người dùng da thuộc làm dây để buộc voi lớn kia với dây da thuộc của sư tử con. Voi lớn nghe mùi dây da ấy là cắm đầu chạy vào núi. Tuy Bồ-tát phát tâm mà chưa thành tựu uy lực, song chẳng phải là sức mạnh của hàng Thanh văn, Bích-chi-phật đang có được. Chúng ma, chẳng có ma nào là không kinh động, sợ hãi rút lui. Sư tử con ấy thấy sư tử lớn là nó kêu rống lên, có chỗ để cho nó tác oai, tâm nó không hốt hoảng cũng không sợ hãi vội vàng. Vì sao? Vì lại bội phần vui mừng. Hiện được như vậy là Bồ-tát gặp Phật, có việc làm để Bồ-tát làm, tâm Bồ-tát không hoảng hốt, cũng không khiếp sợ. Vì sao? Vì bội phần hoan hỷ. Nay ta bước đi thì cũng phải như vậy.

Xá-lợi-phất nói:

–Muốn so lường chỗ tôn kính, hoặc là Thanh văn, hoặc là Bíchchi-phật, việc phát tâm kia phải là tâm Bồ-tát thì đấy là chỗ kính trọng. Vì sao? Vì người ấy có chỗ mong cầu đều từ tâm Bồ-tát dấy khởi.

Ma-ha Ca-diếp nói:

–Cho nên Văn-thù-sư-lợi chính là bậc được tôn kính, luôn luôn phải đi trước, chúng tôi theo sau.

Văn-thù-sư-lợi bèn phải đi trước, các Bồ-tát đi tiếp, sau nữa là các Thanh văn tháp tùng, đều theo người dẫn đường. Trời làm mưa hoa, đất hiện sáu cách chấn động, chư Thiên trên không dùng kỹ nhạc để giúp vui. Vào lúc ấy, ánh sáng tràn ngập khắp nơi. Đến thành La-duyệt-kỳ, nhưng đoàn chưa vào cửa thành. Vua A-xà-thế hay tin Văn-thù-sư-lợi tới sớm, theo sau là Bồ-tát có đến hai vạn hai ngàn năm trăm vị, còn Tỳ-kheo là năm trăm người cùng đến dự hội. Nhà vua tự nghĩ: “Ta cho làm đủ số năm trăm người, nay phải làm sao để giải quyết. Phải ngồi vào chỗ nào cho đủ?”

Lúc này, Thiên vương tên là Hưu Tức Tâm cùng Tôn Duyệtxoa tên là Kim Cang Tỳ và đầy đủ đám tùy tùng cùng đến tương kiến với vua A-xà-thế, nói:

–Chớ khiếp, xin chớ lo ngại, đừng cho đó là khó.

Nhà vua liền hỏi:

–Phải làm như thế nào đây? Mà không coi đó là khó?

Vị kia bảo:

–Văn-thù-sư-lợi đã tạo phương tiện quyền xảo nơi trí Tuệ vô cực, do công đức đầy đủ sự quang minh mà đến. Thần túc công đức, do thần túc ấy mà một bát cơm của Văn-thù-sư-lợi có cả tam thiên đại thiên thế giới người ăn, uống, thảy đều no đủ nhưng thức ăn kia không bao giờ hết. Hai vạn ba ngàn vị này có gì đáng lo? Cho nên đừng coi đó là việc khó khăn. Vì sao? Vì hiện giờ mọi việc đều đã đầy đủ tất cả. Văn-thù-sư-lợi với chỗ công đức kia là vô cùng tôn quý, nên không thể cùng tận được hết.

Vua A-xà-thế, lúc ấy rất vui mừng, tâm vua hết mực hân hoan, niềm vui bội phần, vua liền chỉ dẫn dùng kỹ nhạc, cầm hương hoa đưa lên, đích thân đi ra đón tiếp Văn-thù-sư-lợi… thỉnh tất cả đoàn vào cung. Khi ấy, trong hàng Bồ-tát có một vị tên là Phổ Thị Tất Kiến, được Văn-thù-sư-lợi ban cho pháp Tam-ma-đà-a-lâu-nậu-đà khiến sửa sang nghiêm chỉnh chỗ hội để có thể dung chứa người đến. Bồ-tát này nhận lời dạy. Ngay khi ấy, bốn mặt, Bồ-tát ngắm nhìn thì cũng là lúc tất cả đã bày biện xong. Cũng ở trong chúng hội có Bồtát tên là Pháp Lai, được Văn-thù ra lệnh phải có đủ giường và tòa ngồi. Lập tức Bồ-tát này nhận lời dạy và chỉ trong khoảnh khắc búng ngón tay là có ngay hai vạn ba ngàn giường, tòa ngồi, được trải lên trên đó các loại gấm vóc, the lụa gồm vô số màu sắc đẹp đẽ khác lạ so với màu sắc thông thường của sự vật.

Văn-thù-sư-lợi và các Bồ-tát, Thanh văn tất cả đều ngồi vào tòa ngồi. Vua A-xà-thế đến trước bạch Văn-thù-sư-lợi:

–Vật phẩm dùng để cúng dường là quá ít, xin đợi cho chốc lát, để được bày biện cúng dường đầy đủ chư vị.

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Thức ăn làm rồi có thể tự đầy đủ, chớ bận tâm.

Thiên vương Duy Sa-môn cùng với đám quyến thuộc đi theo, tất cả đến để yết kiến, đều cung kính hầu hạ hai bên. Thích Đề-hoàn Nhân đích thân cùng với đại phu nhân tên là Thủ-da và các Thiên nữ, tất cả cầm danh hương cúng dường, tung lên chỗ Văn-thù-sư-lợi và chư Bồ-tát, Tỳ-kheo tăng. Chư Bồ-tát, cũng không vì Thiên nữ, cũng không vì kỹ nhạc, cũng không vì hoa hương mà tâm có sự chuyển động. Phạm thiên lại tự hóa mình làm thiếu niên Bà-la-môn cực kỳ đẹp đẽ đoan nghiêm cầm quạt đứng bên phải Văn-thù-sư-lợi để quạt hầu. Các Phạm thiên tử cũng đều cung kính đứng hầu. Chư Bồ-tát, Tỳ-kheo tăng thì đứng ở bên trái Văn-thù. Long vương Anậu-đạt ở trên hư không nơi hội chúng này nhưng không ai nhìn thấy, cầm chuỗi hạt châu rũ xuống như tấm phướn. Từ xâu chuỗi hạt châu nước rơi xuống, nước có tám vị. Để cho việc đang làm đúng theo điều mong muốn thì dùng nước này. Văn-thù-sư-lợi và chư vị Bồ-tát, Tỳ-kheo tăng, người người trước mặt đều có chuỗi hạt châu rũ xuống, nước từ trong ấy chảy ra cung cấp đầy đủ chỗ cần dùng.

Vua A-xà-thế lại nghĩ: “Các Bồ-tát đến dự hội mà không mang bát theo, nay phải lấy đồ dùng gì mà ăn?”

Văn-thù-sư-lợi biết được ý nghĩ này của vua liền nói:

–Bồ-tát tuy không mang theo bát nhưng ở chỗ thọ thực suy niệm về bát thì từ cõi kia bát liền tự đến trong tay của Bồ-tát ấy.

Vua A-xà-thế hỏi Văn-thù-sư-lợi:

–Chư Bồ-tát này đều từ cõi nào đến đây? Tên hiệu của vị Phật nơi cõi ấy là gì?

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Cõi ấy có tên là Sa-đà-duy-cù-trà. Phật nơi cõi đó hiệu là Duy-thủ-đà-thi-lợi. Từ trú xứ ấy các Bồ-tát đến đây để thọ trai các pháp vị nhân từ. Vì sao? Vì xưa nay muốn nghe pháp, luôn có chỗ hồ nghi về lòng nhân từ.

Các Bồ-tát bèn niệm bát, ngay lúc ấy bát lại bay lên, đến ao A-nậu-đạt, theo hàng lớp bát tự làm đầy nước ao để rửa sạch. Các thể nữ rồng xinh đẹp, đồng loạt từ dưới ao trồi lên cầm lấy hai vạn ba ngàn bát đến trao cho các Bồ-tát của cõi Cù-tra, mỗi vị, mỗi vị bát đặt vào trong tay. Vua A-xà-thế đứng hầu Văn-thù-sư-lợi. Vănthù-sư-lợi liền bảo nhà vua phân phối cơm và đồ ăn. Vua đích thân làm công việc ấy, song thức ăn kia đều không vơi, vẫn như cũ. Vua A-xà-thế lại bạch:

–Thức ăn kia đã phân đều khắp, không chỗ nào thiếu, ấy vậy lại vẫn như cũ.

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Thức ăn hết chăng?

Nhà vua liền đáp:

–Không hết.

Sở dĩ chưa hết là do vì vua còn mối nghi.

Chư Bồ-tát ăn cơm xong, cầm bát ném lên hư không, bát sắp hàng mà đứng yên không rơi xuống đất, cũng không lay động.

Vua A-xà-thế lại hỏi:

–Bát này tại sao đứng yên, trụ và tựa vào đâu?

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Chỗ trụ của bát này như chỗ trụ nơi sự hồ nghi của nhà vua.

Vua A-xà-thế lại hỏi:

–Bát này cũng không có chỗ trụ là nơi chốn, cũng không ở trên đất, cũng không có chỗ dựa, cũng không có xứ sở sao?

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Như nỗi hồ nghi của vua, cũng không có chỗ trụ. Các pháp cũng như bát, không chỗ trụ, không chỗ rớt xuống.

Việc thọ trai đã xong, vua A-xà-thế liền lấy một chiếc ghế ngồi trước Văn-thù-sư-lợi, bạch:

–Xin giải cho mối hồ nghi của con.

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Dù nhiều như cát sông Hằng, Phật cũng không thể vì thế mà nói rõ hồ nghi ấy.

Vua A-xà-thế bây giờ với nỗi khiếp sợ, từ ghế ngã xuống đất, như cây lớn bị sụp đất ngã nhào.

Ma-ha Ca-diếp bảo vua A-xà-thế:

–Chớ nên sợ hãi. Vì sao? Vì Văn-thù-sư-lợi đã chứng đạt phương tiện quyền xảo nhiệm mầu, do vậy nên nói ra lời ấy. Chầm chậm, vua có thể hỏi rõ về sự việc.

Vua A-xà-thế liền hỏi:

–Chư Phật nhiều như cát sông Hằng, lời nói ấy thuộc về chỗ nêu bày nào mà không thể nói rõ chỗ hồ nghi của con?

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Này đại vương! Gọi là đã từ tâm làm nhân duyên mà có thể thấy Phật sao?

Vua liền đáp:

–Không.

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Dùng tâm vì tâm sinh nên là có thể thấy Phật chăng?

Vua đáp:

–Không.

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Dùng hữu tâm mà có thể gặp Phật sao?

Vua đáp:

–Không.

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Sinh tử với giải thoát là hai việc. Chấp trì hai việc ấy mà làm Phật ư?

Vua đáp:

–Không.

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Có pháp nên nương nhờ theo pháp ấy chăng?

Vua đáp:

–Không.

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Ai tạo ra pháp như vậy thì có thể là nói một cách xác quyết chăng?

Vua đáp:

–Không.

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Do vậy nên ta nói sự hồ nghi của vua, Phật nhiều như cát sông Hằng mà cũng không thể nói rõ. Vì sao? Nếu người nào bảo rằng mình có thể dùng bụi làm cấu bẩn hư không là có thể làm được chăng?

Vua nói:

–Không thể.

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Hoặc có người bảo là mình có thể làm cho hư không hết cấu bẩn là có thể làm được chăng?

Vua nói:

–Không thể làm cho hết được.

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Các pháp của Phật, tất cả đều như hư không. Vì sao? Vì gốc của các pháp ấy là sự giải thoát, cũng không thấy các pháp có gốc hoặc có giải thoát. Cho nên ta nói:

–Chỗ hồ nghi của vua, chẳng phải là điều mà chư Phật nhiều như cát sông Hằng có thể nói.

Văn-thù-sư-lợi lại bảo:

–Như Lai không thủ đắc tâm ở trong hay ở ngoài thì lấy chỗ nào mà tạo ra hồ nghi? Vì sao? Vì tất cả các pháp vốn đều là giải thoát. Thế thì sao lại có hồ nghi?

Văn-thù-sư-lợi lại nói:

–Gốc của sự giải thoát kia đã không có, lại gắn liền với hư không. Vì nó vốn không sở hữu các pháp nên gọi là giải thoát, cũng không tự nhiên, không có chỗ thành tựu nhưng không nơi đâu là không thấy. Các pháp có sở hữu, không sở hữu, các pháp không chỗ nhận thức nên không chỗ để có thể nhận thấy. Các pháp gọi là mặc nhiên đó là tưởng không thể nhận biết. Các pháp không khái niệm, đã vượt qua tự nhiên cho nên siêu việt mọi sự lường xét. Vì các pháp ấy đã đoạn sinh tử nên các pháp là không có xứ sở. Vì không có nguyện nên các pháp là không có nguyện. Vì không có sinh tử nên các pháp bình đẳng, không chỗ vướng mắc. Vì thanh tịnh nên các pháp đều là thanh tịnh. Vì vốn trong ngoài đều tịnh nên các pháp không có đối đãi. Vì không có bạn nên các pháp là không có bạn lữ. Vì nhất tâm nên các pháp là nhất tâm. Vì là giải thoát nên các pháp không có tột cùng. Vì không chỗ đoạn nên các pháp không có biên vực. Vì không có lường xét nên các pháp không thể nhận thấy lường xét. Vì chỗ tạo tác sai khác nên các pháp gọi chỗ tạo tác sai khác ấy là cầu tuệ. Vì không thể được an nên các pháp là vô thường. Vì không hai tâm nên các pháp đều yên định. Vì vượt quá mọi nẻo tịnh nên các pháp đều quyết đoán. Vì không chỗ cầu nên không pháp tự nhiên. Vì không thể thủ đắc nơi thân nên các pháp không hồ nghi. Vì vắng lặng bên trong nên các pháp luôn nhẹ nhàng! Vì không thẩm xét nên các pháp tịch tĩnh. Vì thản nhiên nên các pháp là không ta. Vì không có ngã sở nên các pháp là rốt ráo trọn vẹn. Vì giải thoát nên các pháp là không chỗ tụ hội, chuyển lên. Vì không suy niệm nên các pháp đều tin hết. Vì không chỗ nào vướng mắc, đoạn dứt nên các pháp là một vị. Vì là vượt thoát nên các pháp an ổn. Vì không có tưởng nên các pháp không có tưởng. Vì không bị hoại nên các pháp thảy đều không. Vì vượt những cầu mong nên các pháp không có nguyện. Vì gọi là ba cõi nên các pháp dùng để đoạn dứt ba cõi. Do không vướng mắc quá khứ, vị lai, hiện tại nên tất cả các pháp như Nê-hoàn. Đó là để sinh ra cái chưa sinh.

Văn-thù-sư-lợi bảo A-xà-thế:

–Cái gọi là không chỗ sinh có thể khiến được thanh tịnh chăng?

Vua nói:

–Không.

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Phật biết rõ các pháp như Nê-hoàn nên không làm cho thoát nỗi hồ nghi kia của vua. Vì sao? Vì phải đứng nhìn thẳng các pháp. Thấy các pháp rồi cũng không chỗ lấy, không chỗ bỏ, cũng không đối với các pháp có chỗ dừng lại. Các pháp đã không chỗ dừng cho nên an. Đã an thì liền không còn nghi. Đã không còn nghi thì liền không sở hữu cái tạo ra. Không sở hữu cái tạo ra thì gọi là không có chủ. Ở trong vô chủ này phải thể hiện nhẫn. Vì sao? Vì không dùng các pháp để tự nhớ nghĩ về ngã nên các pháp nhẫn không thể tạo ra. Cho rằng có thể làm tức là không thể làm vì các pháp không có tạo tác. Không có tạo tác, không chỗ tạo tác, tức là Nê-hoàn. Kẻ nào tin điều này thì lấy bình đẳng làm sự giải thoát, cũng không chỗ tăng, cũng không chỗ giảm. Các pháp vốn không nên không có tạo tác, nếu như có thể tạo tác thì đều vốn không. Cái vốn không này cũng chẳng phải đúng mà cũng chẳng phải không đúng, nên cái vốn không không có sai khác. Đã tin không có sai khác thì các hồ nghi không còn nữa. Mắt kia cũng không bẩn, cũng không sạch. Mắt ấy tự nhiên cho nên nó vốn không. Vốn nó không tự nhiên nên gọi là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, cũng không có bẩn, cũng không có sạch. Ý kia tự nhiên cho nên vốn nó không có. Vốn không tự nhiên nên gọi là ý. Sắc cũng vốn không thì vốn không tự nhiên. Sắc, thọ, tư tưởng, sinh tử, thức cũng không có bẩn, cũng không sạch. Thức ấy tự nhiên vốn không mà vốn không tự nhiên, nên gọi là thức. Tất cả các pháp không có bẩn, không có sạch, các pháp tự nhiên vốn không, mà vốn không tự nhiên nên gọi là các pháp. Tâm ấy cũng không thể thấy. Sắc cũng không thể nắm bắt được. Vì sao? Vì như ảo hóa, không thể bảo dùng bên trong, cũng không thể nói dùng bên ngoài. Vì sao? Vì vốn nó trong sạch, do vậy nên không có cấu bẩn. Vốn tâm kia cũng không để nhận, cũng không để tăng, cũng không để giảm, cũng không để lo, cũng không để sầu. Người nghe pháp này không có điều nghi. Vốn nó khác biệt mà nghĩ sai khác nên nó có cấu bẩn. Phải biết vốn nó sai biệt mà nghĩ sai khác. Ai không như vậy thì không thể vì đó mà khiến có. Vua không cần phải nghĩ đến điều ấy, giống như người nói rằng mình có thể khiến cho hư không có cấu uế do khói mây hoặc bụi cát. Làm như vậy, có thể khiến cho hư không cấu bẩn không?

Vua nói:

–Không.

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Tâm kia vốn do thanh tịnh nên dâm, nộ, si không đến, vì sao lại nói như hư không hiện ra ở năm thứ: Một là tro, hai là bụi, ba là khói, bốn là sương mù; năm là mây. Có thể nhìn thấy hết cả nên không thể bảo hư không tạo ra cấu bẩn. Như người nói ngã sở này tạo ra cái phi ngã sở, vì thế mà có dâm, nộ, si. Đối với tâm, lúc đầu không tạo ra cấu bẩn thì cũng không tạo nên hồ nghi. Vì sao? Vì tâm lúc đầu có chỗ tạo tác thì cũng không thể nào đề phòng được tâm sau. Tâm sau có chỗ tạo tác thì không làm trở ngại đối với tâm trước. Hiện tại tâm cũng không nơi chốn. Người trí đã nhanh chóng vạch rõ chỗ tạo ra mà không có mong cầu. Không chỗ mong cầu cho nên là tướng thanh tịnh. Tất cả các pháp không có cấu bẩn thì không nơi đâu là không sáng tỏ. Không chỗ sinh, không có xứ sở. Không có xứ sở là sinh địa của Phật. Sinh địa tức là các pháp. Là các pháp nên là sinh địa, nên không thể nêu bày. Người trí tuệ thì nơi các pháp không có giải thoát nhưng lấy pháp làm sự giải thoát các nghi ngờ. Vì không sở hữu, không có pháp cứu độ, nên hồ nghi thuộc về Pháp thân. Gọi Pháp thân thì không chỗ nào không chứng nhập nơi các pháp, cũng không thấy Pháp thân có chỗ chứng nhập. Vì sao? Vì các pháp đều là Pháp thân, như các pháp bình đẳng nên Pháp thân cũng bình đẳng. Do vậy gọi Pháp thân là chỗ chứng ngộ. Khi thuyết giảng pháp này, vua A-xà-thế chứng được pháp nhẫn. Vua vui mừng, hoan hỷ liền thốt nên lời:

–Lành thay! Lành thay! Mối hồ nghi của ta đã được giải tỏa.

Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Đây là hồ nghi rất lớn, thuộc vấn đề thuyết giảng các pháp thì cơ bản là không có. Vì sao mà hồ nghi được? Phải là nghe hồ nghi từ nơi nào?

Vua A-xà-thế nói:

–Cúi nhờ đại ân mà được sự sai bảo mọn. Nay mạng sống của con nếu hết thì không lo không đến Nê-hoàn.

Văn-thù-sư-lợi nói:

–Như điều mong cầu của vua là không có gốc. Vì sao? Vì gốc của các pháp là Nê-hoàn, nên không có chỗ sinh.

Vua A-xà-thế liền từ ghế ngồi đứng dậy, lấy y giạ nổi tiếng đẹp lạ, giá trị của nó là trăm ngàn. Vua cầm y giạ nhiễu quanh thân Văn-thù-sư-lợi. Trong lúc ấy Văn-thù-sư-lợi thân đã biến mất. Y giạ kia vẫn ở chỗ cũ, trên hư không chỉ nghe tiếng mà không trông thấy hình bóng Văn-thù-sư-lợi đâu cả. Trong âm thanh ấy nghe được lời nói:

–Nếu muốn thấy thân Văn-thù-sư-lợi thì vua phải tự mình nhìn thấy hồ nghi. Không phải chỉ thấy hồ nghi mà còn phải nhìn thấy các pháp. Như chỗ thấy thì nên làm. Rồi từ không trung nghe tiếng bảo:

–Có chỗ nào vua nhìn thấy thì liền lấy y giạ ấy cúng nơi đó. Sau đấy Văn-thù-sư-lợi ngồi vào tòa. Có Bồ-tát tên là Đắc Thượng Nguyện. Vua A-xà-thế lại cầm xấp giạ muốn dâng cúng lên Bồ-tát. Bồ-tát Đắc Thượng Nguyện nói:

–Vua cầu thoát hồ nghi để được Nê-hoàn, ta không từ chỗ cầu ấy để có chỗ nhận, hơn nữa không nhận vật có sở hữu của người phàm. Vì sao? Vì kẻ phàm bảo trong hội có kẻ tục nghe việc, do vậy mà không nhận cúng, cũng không từ cầu La-hán, Bích-chi-phật để có chỗ nhận. Cũng không từ pháp Như Lai để có chỗ nhận. Những ai không gần pháp ấy, không lìa pháp ấy, ta nhận vật này, người dâng cúng vật cũng không nhị tâm, kẻ nhận vật cúng cũng không hai tâm, cho nên gọi chỗ nhận đó là vượt quá sự giải thoát.

Nhà vua liền lấy y giạ mặc cho Bồ-tát ấy, hốt nhiên Bồ-tát chẳng hiện, không còn biết là chỗ nào, chỉ nghe thấy tiếng Bồ-tát nhưng không thấy được hình dáng, dạy bảo:

–Lấy giạ dâng cúng chỗ thân hiện ra kia, rồi Bồ-tát ngồi xuống tòa ấy. Tiếp theo có Bồ-tát Kiến Chư Huyễn.

Vua A-xà-thế lại lấy y giạ dâng cúng lên Bồ-tát như trước. Bồtát Kiến Chư Huyễn nói:

–Nếu có chấp nơi người khác có ngã thì ta không nhận vật này. Cũng không từ chỗ có khuyết, nhơ, cũng không từ đó để được giải thoát, từ nơi ấy mà nhận vật. Cũng không theo ý định, cũng không theo ý loạn mà nhận vật. Cũng không từ trí tuệ mà nhận vật, cũng chẳng từ không trí tuệ mà nhận vật.

Vua A-xà-thế liền lấy y giạ trải trên tòa ngồi. Bồ-tát kia tức thì mất bóng. Lại nghe tiếng Bồ-tát mà không thấy hình bóng, dạy bảo:

–Ai có hiện ra thì lấy y dâng cúng vị đó, rồi Bồ-tát ngồi vào tòa. Có Bồ-tát tên là Bất Kiến Huyễn Chí Nê-hoàn. Vua A-xà-thế lấy tay nâng vải lên đi về phía tòa ấy thưa:

–Nhân giả, xin thọ nhận. Bồ-tát này nói:

–Nếu tự mình còn vướng mắc vào người khác thì ta không nhận vật này. Ai không vướng mắc vào năm ấm, bốn đại, sáu suy thì cũng không vướng mắc nơi Phật, cũng không vướng mắc nơi pháp, cũng không vướng mắc nơi Tăng. Vì sao? Vì các pháp không có chỗ vướng mắc.

Vua A-xà-thế cầm lấy y giạ định mặc cho Bồ-tát thì ngay lúc ấy Bồ-tát liền biến mất, chỉ nghe tiếng của Bồ-tát, nhưng không thấy hình dáng đâu, bảo:

–Ai có hiện ra thì lấy y giạ cúng cho vị ấy! Rồi ngồi vào tòa của mình.

Tiếp nữa có Bồ-tát tên là Tư-ha-mạt. Vua A-xà-thế liền lấy y giạ dâng cúng.

Bồ-tát này nói:

–Ai không nhìn rõ thì ta không nhận vật này. Nay ông phát tâm Bồ-tát, nắm giữ tâm như Bồ-tát, tâm bình đẳng với các pháp, cũng bình đẳng với các pháp Phật, không chỗ lấy, cũng không chỗ bỏ. Với các pháp, cũng không nghi, cũng không có nghi, cũng không nghĩ các pháp có ngã, không nghĩ các pháp có chỗ thoát. Có ý niệm này thì ta mới nhận vật ấy.

Vua A-xà-thế liền lấy y giạ mặc cho Bồ-tát. Ngay lúc ấy Bồtát liền biến mất, chỉ nghe tiếng nói:

–Ai có hiện ra thì lấy y cúng cho vị đó! Rồi Bồ-tát ngồi vào tòa của mình.

Kế đến có Bồ-tát tên là Tam-muội Câu-tốc-ma. Vua A-xà-thế cầm y muốn dâng lên cúng.

Bồ-tát này bảo:

–Nếu có Tam-muội như vậy, vua không còn nghi thì mới nhận vật kia. Gốc nơi Tam-muội đều biết các pháp không có chỗ thoát thì ta mới nhận vật ấy.

Vua A-xà-thế liền cầm y mặc cho Bồ-tát này. Ngay lúc ấy Bồtát liền biến mất, chỉ nghe tiếng Bồ-tát bảo:

–Ai có hiện ra thì lấy y cúng cho vị ấy.

Rồi Bồ-tát ngồi vào tòa. Kế nữa có Bồ-tát tên là Vô Lượng Tinh Tấn nói:

–Tất cả các thứ tiếng tự nó vang lên mà không thể nắm bắt, ai làm được việc ấy thì ta mới nhận vật này.

Vua A-xà-thế lại lấy y, đứng dây mặc cho Bồ-tát này, liền khi ấy Bồ-tát biết mất, chỉ nghe tiếng Bồ-tát nói:

–Ai có hiện ra thì lấy y dâng cúng vị đó, rồi ngồi vào tòa.

Tiếp nữa, có Bồ-tát tên là Ly Sở Tác Cấu. A-xà-thế muốn lấy y mặc cho Bồ-tát đó.

Bồ-tát này nói:

–Ai không tự nghĩ đến ngã thân thì trao cúng cho họ. Cũng không nghĩ có người từ ngã chấp giữ cũng không nghĩ phải có lợi ích. Ai không nghĩ như vậy ta mới nhận vật này.

Vua lại lấy y mặc cho Bồ-tát ấy. Ngay lúc đó, Bồ-tát biến mất, chỉ nghe tiếng Bồ-tát nói:

–Ai có hiện ra thì lấy y cúng cho vị ấy rồi ngồi vào tòa.

Kế nữa có Bồ-tát tên là Đàm-ma-duy-cụ-hòa-na-la-da. Vua Axà-thế lại lấy y dâng cúng cho vị ấy. Bồ-tát này nói:

–Nếu ở hàng Thanh văn thị hiện mà không Bát-nê-hoàn, ở hàng Bích-chi-phật thị hiện mà không Bát-nê-hoàn, không trụ ở sinh tử, cũng không đến Nê-hoàn thì ta mới nhận vật cúng này.

Vua A-xà-thế liền lấy y mặc cho Bồ-tát ấy, bỗng nhiên Bồ-tát biến mất, chỉ nghe tiếng Bồ-tát nói:

–Ai có hiện ra thì lấy y cúng cho vị ấy.

Cứ lần lượt từng Bồ-tát như vậy, vua A-xà-thế lấy y dâng cúng. Ngay lúc ấy Bồ-tát liền biến mất và giường ghế, tòa ngồi kia đều cũng mất dạng. Lại nghe tiếng Bồ-tát nói:

–Ai hiện ra thì lấy y cúng cho vị ấy.

Vua A-xà-thế nói với Ma-ha Ca-diếp:

–Con từ Phật nghe đức nhân từ hết sức tôn quý của Tôn giả nay lấy y dâng cúng, xin Tôn giả nhận cho.

Ma-ha Ca-diếp nói:

–Tôi đâu dám nhận! Vì sao? Vì tôi còn dâm, nộ, si chưa diệt trừ hết, nên không thể nào nhận. Tôi cũng không rời bỏ được cái si ám, cũng không lìa điều ác, cũng không xa rời chỗ nhận biết về Khổ, cũng không Tập, cũng không tận, cũng không chứng Tận, cũng không niệm Đạo, cũng không thấy Như Lai, cũng không nghe pháp, cũng không thuộc hàng Tỳ-kheo Tăng, cũng không sinh tuệ, cũng không có mắt trong sạch, cũng không do thức có chỗ trụ mà tạo tác.

Ai cúng cho tôi vật ấy thì đức kia không thể lớn, cũng không thể đạt được quả vị giải thoát tôn quý.

Ma-ha Ca-diếp lại nói:

–Giá như đại vương tác ý giống như thế thì tôi mới nhận cho.

Vua A-xà-thế vội lấy y mặc cho Ca-diếp thì lúc ấy Tôn giả liền biến mất, chỉ nghe tiếng nói:

–Ai có hiện ra thì lấy y cúng cho vị đó.

Thế là lại lấy y thứ tự cúng cho các Tỳ-kheo. Cứ như vậy từng Tỳ-kheo một đều biến mất cho đến hết cả năm trăm vị cũng đều như thế, chỉ nghe tiếng nói của các Tỳ-kheo bảo:

–Ai có hiện ra thì lấy y cúng cho vị ấy.

Vua A-xà-thế phải tự suy nghĩ lâu lắm, rằng chư Bồ-tát, Tỳkheo tăng đều đâu mất hết, phải đem y dâng cúng cho ai đây?

Vua trở về tự tay trao cho phu nhân, người cao quý nhất trong cung, nhưng phu nhân của vua cũng biến mất. Tức thì vua A-xà-thế chứng được Tam-muội, không nhìn thấy các sắc, cũng không thấy người mẹ, cũng không thấy người nam, cũng không thấy bé trai, cũng không thấy bé gái, cũng không thấy tường, thành, cũng không thấy cây, cối, cũng không thấy nhà cửa, cũng không thấy thành hào. Vua còn có niệm khác: Cho là có ngã thân, các sắc, thức thì chúng đều dừng lại. Lại nghe tiếng nói của chính vua:

“Nếu như tất cả có chỗ thấy thì phải tự thấy chỗ hồ nghi của mình. Nếu chỗ thấy hồ nghi thì thấy tất cả các pháp như vậy. Chỗ thấy phải thấy cái không chỗ thấy, phải thấy cái pháp không chỗ thấy thì chính đấy là thấy pháp. Ai có được cái thấy ấy thì nên lấy y trao cho.”

Vua tỏ ngộ cái không nơi chốn để thấy, liền lấy y kia với ý định trở lại mặc cho mình thì vua cũng chẳng thấy thân mình đâu. Tâm, ý, thức đã không còn chỗ tưởng thì gọi là thoát khỏi tưởng, thoát khỏi hồ nghi. Thế là từ Tam-muội, trở về thấy chúng Bồ-tát, Tỳ-kheo tăng, các quan thuộc, tất cả cái gì đã có đều hiện hữu như cũ. A-xà-thế lại bạch Văn-thù-sư-lợi:

–Điều thuộc về các chúng hội đều đang ở đây, mà sao con không thấy?

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Như chỗ hồ nghi của nhân giả thuộc về chúng hội ở nơi kia được nghe.

Văn-thù-sư-lợi lại hỏi:

–Có thấy chúng hội chăng?

A-xà-thế thưa:

–Có thấy.

Văn-thù-sư-lợi lại hỏi:

–Thấy thế nào?

A-xà-thế thưa:

–Như chỗ thấy sự hồ nghi của con thì thấy chúng hội cũng như vậy.

Văn-thù-sư-lợi lại hỏi:

–Thấy chúng hội chăng?

A-xà-thế thưa:

–Có thấy. Hồ nghi của con như thế nào thì thấy chúng hội cũng như vậy.

Văn-thù-sư-lợi lại hỏi:

–Thấy hồ nghi như thế nào?

A-xà-thế thưa:

–Như không thấy chúng hội ấy là thuộc về con. Hồ nghi này ở trong, ở ngoài cũng không chỗ thấy.

Văn-thù-sư-lợi hỏi:

–Vua có nghe lời Phật dạy rằng ai tạo ác nghịch thì phải bị đọa vào địa ngục Nê-lê không?

Vua nói:

–Có nghe.

Văn-thù-sư-lợi lại bảo:

–Vua có tự biết mình phải vào địa ngục chăng?

A-xà-thế lại hỏi:

–Phật kia khi thành Phật mới có pháp sinh lên trời hay vào Nêlê ấy không? Mới có an ổn đến Nê-hoàn ấy không?

Văn-thù-sư-lợi bảo:

–Không.

Vua nói:

–Con nhận biết các pháp thảy đều không. Vì sao? Vì Nê-lê cũng lại là rỗng lặng, cõi trời, sự an ổn cũng rỗng lặng. Các pháp không chỗ có thể hủy hoại, cho nên chứng nhập pháp thân. Pháp thân ấy cũng không ở trên trời, cũng không nơi cõi người, cũng không ở Nê-lê, cầm thú, quỷ đói. Kẻ nghịch ấy cũng không rời pháp thân, kẻ làm nghịch kia thì thân đều là chỗ chứng ngộ của pháp thân… Gốc của các nghịch đều là gốc của các pháp. Quá khứ, vị lai không đến, đi thì các pháp cũng không đến, đi. Đã biết rõ về điều ấy thì cũng không vào Nê-lê, cũng không lên cõi trời, cũng không đạt Nê-hoàn.

Văn-thù-sư-lợi lại hỏi:

–Phật thuyết giảng là có nghịch ác. Vì sao bây giờ nói là không có?

Vua liền đáp:

–Con không trái với lời dạy của Phật.

Văn-thù-sư-lợi lại hỏi:

–Tại sao?

Vua đáp:

–Vô ngã là lời dạy của Phật. Xét kỹ lời dạy này thì vì vô ngã nên chính đó là không có người, cũng không có người tạo tội, cũng không chịu tội.

Văn-thù-sư-lợi lại hỏi:

–Vua đã thoát khỏi hồ nghi chưa?

Vua liền đáp:

–Từ xưa đã thoát, về sau cũng thoát.

Văn-thù-sư-lợi lại nói:

–Chỗ nghi của vua đã hết chưa?

Vua thưa:

–Từ lâu xa đã hết rồi.

Văn-thù-sư-lợi lại hỏi:

–Vì sao chúng hội này biết vua thoát khỏi sự có nghịch, không nghịch?

Vua nói:

–Vì tôn kính pháp, nắm chắc ngã, nên biết không nghịch. Giống như Bồ-tát đã có được nhẫn nhục thì đều nắm giữ cái ác, như là đã được ý nguyện tốt.

Na Kỳ Đầu Lương Gia bảo vua A-xà-thế:

–Các nghịch đã sạch do đo đạt được nhẫn.

Vua nói:

–Vì tất cả các pháp đều tịnh, không một vết nhơ, nên pháp này cũng không thể nhớp bẩn. Vì sao? Vì đạo giải thoát không có dấu vết bẩn nhơ. Do đi vào con đường đại nghịch mà không bỏ sinh tử, không thấy Nê-hoàn. Vì sao? Vì đạo giải thoát đã không thể đến gần được.

Khi nói lên lời này, vua A-xà-thế liền nhanh chóng chứng đắc tín nhẫn. Ngay khi ấy ba mươi hai người ở trước Văn-thù-sư-lợi đều phát tâm Bồ-đề cầu đạo quả Giác ngộ vô thượng. Năm trăm vị hạ quan đều đắc đạo Tu-đà-hoàn. Dân chúng nước La-duyệt đi đến đứng đầy nghẹt cả cửa cung. Họ muốn thấy Văn-thù-sư-lợi thuyết pháp. Văn-thù-sư-lợi, khi ấy liền lấy ngón chân cái ấn xuống đất khiến tường vách cung điện và đất đều là lưu ly. Tất cả mọi người bên ngoài đều thấy chư Bồ-tát, Tỳ-kheo tăng nơi hoàng cung như người soi gương thì tự thấy hình vậy.

Bấy giờ tất cả đều thấy rõ ràng cùng lắng nghe lời thuyết pháp của Văn-thù-sư-lợi. Tám vạn bốn ngàn người đều đắc đạo Tu-đàhoàn. Lại có năm trăm người phát tâm Bồ-đề cầu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Văn-thù-sư-lợi vì vua, hạ quan trong cung và mọi người thuyết giảng giáo pháp xong, ai ai cũng được an ổn. Văn-thù liền từ tòa ngồi đứng dậy cùng chư Bồ-tát, Tỳ-kheo tăng dự hội đi ra cửa cung.

Vua A-xà-thế và quan thuộc trong cung đều ra ngoài cửa thành để tiễn đưa. Khi ấy dưới cây có người đang hô lớn:

–Tự ta giết mẹ ta!

Người này phải được giải thoát. Văn-thù bèn hóa ra một người

cùng với cha mẹ đi dự hội. Cha mẹ nói:

–Đây là chánh đạo, có thể theo làm chánh đạo này.

Người con nói:

–Đây chẳng phải là chánh đạo. Ba lần nói như vậy, cùng với cha mẹ mình tranh cãi, nên nổi nóng, người con lại khởi ý giết cả cha mẹ. Người trước đó hô lớn là đã giết mẹ thấy người này giết cả cha mẹ, liền đến cạnh kẻ giết cả cha mẹ kia vốn là hóa nhân, tự đem lời giải bày:

–Chỗ ta hành động đã là phi pháp còn ở đây thì giết cả cha mẹ! Người chỉ giết mẹ tự nghĩ: “Ta chỉ giết mẹ thôi! Còn người này giết cả cha mẹ, tội của ông ta rất nặng. Đối với ông ta, thì mình hãy còn nhẹ hơn nhiều.”

Kẻ hóa nhân nói với người chỉ giết mẹ:

–Chi bằng ta đi đến chỗ Phật, Phật là chỗ quay về cho những kẻ không chỗ quay về, là nơi bảo hộ cho những kẻ không được bảo hộ. Như lời Phật dạy, ta phải vâng theo lời dạy của Ngài, không dám trái lỗi.

Kẻ hóa nhân bèn lên đường. Người chỉ giết mẹ liền đi theo sau. Như vậy, người nhận được pháp nào, ta cũng nhận như vậy. Tuy ngươi và ta có khác nhau nhưng cùng khóc lóc mà đi. Đến chỗ Phật cả hai cùng tác lễ rồi đứng lên bạch rằng:

–Con làm việc phi pháp do lầm lạc mà giết cha mẹ!

Phật dạy:

–Lành thay! Lành thay! Như lời ông nói trước sau rất mực chí thành. Vì sao? Vì không che giấu tội giết cha mẹ, cho đến trước Như Lai cũng bộc bạch hành động như vậy.

Phật dạy:

–Chớ khiếp, đừng sợ hãi, hãy theo lời dạy của ta!

Kẻ hóa nhân thưa:

–Như lời Phật dạy, xin Ngài thương xót gia hộ chúng con.

Phật dạy:

–Hãy quay lại tự xem xét các pháp của tâm, nắm giữ tâm quá khứ, vị lai, hiện tại, nắm giữ tâm như thế nào mà lại giết cha mẹ?

Phật lại dạy:

–Đã là tâm quá khứ thì đã diệt, đã tận nên cũng không thể thấy tội chỗ nào, cũng không thấy tội đang là chỗ nào. Tâm vị lai thì không thể nói lên được. Vì sao? Vì chưa sinh, chưa có, vì không có. Không có tưởng, không có niệm. Tâm hiện tại cũng không chỗ trú dừng, hoặc tâm khởi lên ý thì diệt, cũng không tụ hội, cũng không thể biết đi đến chỗ nào? Từ chốn nào đến? Cũng không thể biết xanh, cũng không biết đỏ, trắng vàng, đen. Tâm ấy không thể thấy, không có hình, cũng lại không thể nắm giữ, không có bạn, giống như ảo hóa. Với thân cũng không thể thấy ở trong, cũng không thể thấy ở ngoài, cũng không thấy ở chính giữa.

Phật dạy:

–Tâm ấy cũng không thể từ ái mà có thể thấy, cũng không thể từ sân, nộ mà có thể thấy, hoặc nằm mộng mà có thể thấy, hoặc tạo ra hoặc không chỗ tạo ra, tâm cũng không chỗ cho, cũng không chỗ nhận, vì tâm ấy vốn thanh tịnh, cũng không có tỳ vết, dơ bẩn, cũng không có tâm để trong sạch.

Phật lại dạy:

–Tâm kia cũng chẳng phải ở khoảng giữa này, cũng chẳng phải nơi khoảng giữa kia. Hoặc giống như ảo hóa nên không thể nắm giữ được. Vì sao? Vì không bạn bè. Ai biết như vậy thì không nên tạo tưởng chấp ấy, cũng không nghĩ có ngã, không ngã, cũng không nghĩ là có chỗ thấy, cũng không nghĩ là có chỗ trụ. Các pháp vắng lặng, không có tạo khởi, ai tin điều ấy thì không nhận đường ác. Vì sao? Vì không có chỗ nào là tỳ vết dơ bẩn. Tâm pháp kia cũng không chỗ sinh, cũng không chỗ vướng mắc.

Kẻ hóa nhân kia liền thưa:

–Lành thay! Lành thay! Như Như Lai, do Pháp thân mà tự thành Phật. Nay như lời Phật dạy mà biết: Đã có lòng tin thì không nghi, không tạo tội, không nhận lấy tội, không chỗ sinh, không chỗ diệt. Như các pháp con nguyện được làm Sa-môn.

Phật dạy:

–Như nguyện của ông.

Ngay lúc ấy hóa nhân kia liền như Sa-môn, lập tức bạch Phật:

–Chỗ phạm tội của con là giết cha mẹ nay đã giải thoát mà chứng đắc A-la-hán. Xin được Bát-nê-hoàn.

Phật dạy:

–Cứ theo như chỗ muốn của lòng.

Hóa Tỳ-kheo này bèn bay lên không cách đất hai mươi trượng, trong hư không liền nhập Niết-bàn, lửa từ thân phát ra lại tự thiêu đốt thân.

Kẻ giết mẹ kia thấy người này đã vào Nê-hoàn, nghe đầy đủ lời dạy của Như Lai thì tự nghĩ:

Chỗ tạo tác của người kia quá nghịch ác, nay làm Sa-môn mà được độ thoát vào Nê-hoàn. Tội của ta hãy còn có thể cải thiện, vì sao không tự quay về với Phật để cũng có thể đạt được như vậy? Liền đến trước Phật tác lễ tự bạch:

–Việc làm của con là phi pháp tự giết mẹ mình, nay đem thân tự quay về với Phật.

Phật dạy:

–Lành thay! Lành thay! Lời của ông bộc bạch là chí thành, không có khác. Như lời ông nêu thì nhận thức được lời dạy của Như Lai về chỗ tạo ra tội mà không che giấu. Lại nên quán xét pháp của tâm nghĩ đến tâm quá khứ, tâm vị lai, tâm hiện tại, chỗ nào là tâm giết hại mẹ kia? Tâm quá khứ đã không còn gì hết, cũng không ngoài, cũng không trong, cũng không nơi chốn. Tâm vị lai không thể nói ra được, cũng chưa sinh, cũng chưa có, không có tưởng, cũng không có chỗ tưởng. Tâm hiện tại không có chỗ trú dừng. Tâm có chỗ sinh thì hủy hoại, cũng không chỗ tụ, cũng không thấy có chỗ là nơi đến, cũng không thấy có chốn từ đâu lại. Tâm kia cũng không xanh, đỏ vàng, trắng, đen. Tâm kia không có hình tướng nên không thể thấy, không thể nắm giữ lấy, cũng không thể lắng nghe. Vì sao? Vì không có tiếng vang, không thể thu giữ, không có bạn, giống như trò ảo, không ở ngoài mà thấy thân, ở trong không chỗ nắm bắt, ở chính giữa cũng không có chỗ. Tâm kia cũng không vết nhơ, cũng không có ác, cũng không có nghi ngờ. Tâm kia không chỗ tạo tác, cũng chẳng có đối tượng tạo tác; không chỗ cho, cũng không chỗ được, vì tâm ấy vốn thanh tịnh, không có vết bẩn, cũng lại không sạch. Tâm kia cũng không tại đấy, ở đấy mà không đấy. Tâm kia như hư không, không thể thu giữ, không có bạn, người trí nào không niệm về tưởng này thì cũng không tạo sự ràng buộc, cũng không tạo ra trong sạch, không tạo ra có chỗ thấy, cũng không tạo ra chỗ nào, cũng không có chỗ để dừng, cũng chẳng có vướng mắc. Do tâm thoát cho nên không chỗ trở ngại, cũng không sinh chỗ ác, vì sao? Vì pháp của tâm cũng không có chỗ vướng mắc, cũng không chỗ tụ họp, cũng không ở chỗ dừng của sinh tử.

Kẻ giết mẹ kia, bấy giờ nơi các lỗ chân lông trên thân, mỗi lỗ là lỗ lửa của Nê-lê, từ tất cả lỗ ấy tạo ra sự đớn đau không thể kể hết, liền tự giải bày:

–Nay con xin tự quay về với Như Lai, xin thương xót gia hộ khiến con được an ổn.

Phật bèn dùng tay màu vàng ròng đặt lên đầu người giết mẹ kia, ngay lúc ấy lửa dữ liền tắt, bệnh khổ cũng tiêu trừ, người kia quỳ trước Phật nguyện làm Sa-môn.

Phật dạy:

–Như điều ước muốn!

Khi ấy liền trở thành Sa-môn.

Như Lai đem pháp Tứ đế thuyết giảng cho kẻ kia, tức thì chứng được Pháp nhãn, thấu ngộ sự việc kia nên chứng quả A-la-hán, liền bạch Phật:

–Nay con muốn vào Niết-bàn. Phật dạy:

–Như điều ước muốn của ông.

Sa-môn bèn bay lên hư không, cách đất một trăm bốn mươi trượng, ở trên đấy, thân liền phóng ra lửa, lửa xoay lại tự đốt cháy thân. Chư Thiên hàng trăm, ngàn người đều bay lên hư không để cúng dường.

Xá-lợi-phất bạch Phật:

–Như Lai quả thật là bậc chí kính. Vì sao? Vì kẻ tạo điều ác đều khiến được giải thoát. Chẳng ai hiểu nổi ngoài Phật hoặc Vănthù-sư-lợi và chư Bồ-tát chứng ngộ sâu xa bốn hoằng thệ nguyện thì mới biết được sự việc này. Ngoài ra, ở quả vị La-hán, Bích-chi-phật khó hiểu nổi nội dung của sự việc, còn như theo chỗ hành của mọi người thì làm sao hiểu hết được.

Phật dạy Xá-lợi-phất:

–Như Lai chánh biến tri, ở chỗ nhẫn của Bồ-tát ấy chẳng phải là quả vị La-hán, Bích-chi-phật cũng chẳng phải là chỗ hành của mọi người. Vì sao? Ví như có người chỗ làm một nơi mà cái phải đạt được ở một ngả. Như vậy, hạng người nào nhận thức được tội tạo ra, biết phải vào Nê-lê, mà được sự dẫn dắt của ta thì không vào Nê-lê mà có thể đến Nê-hoàn. Còn hạng người nào tin ở mình phải vào Nê-hoàn thì ta biết ho phải vào Nê-lê. Vì sao? Vì họ có chỗ không biết thấu đáo về nẻo hành của mọi người.

Phật dạy Xá-lợi-phất:

–Ông có thấy người giết mẹ kia nhập Bát-nê-hoàn không?

Xá-lợi-phất thưa:

–Có thấy.

Phật dạy:

–Do người này đã từng cúng dường năm trăm vị Phật một cách trọn vẹn. Lần lượt từng vị Phật một theo nghe pháp mà tâm tịnh. Vì sao? Vì hiện lại được nghe pháp ấy mà Bát-nê-hoàn. Ai biết được pháp sâu xa, hội nhập chỗ vi diệu thì vui mừng phấn khích, tâm kia không còn sợ hãi. Nếu bị cái ác làm cho mê lầm, hoặc tâm kia không đầy đủ nên phạm thì phải giải thoát. Ai tin tâm pháp vốn trong sạch thì người này không rơi vào đường ác. Vì sao? Vì không bị trở ngại.

Lúc ấy, Văn-thù-sư-lợi cùng với chư Bồ-tát, Ma-ha Ca-diếp, Tỳ-kheo tăng, vua A-xà-thế và quần thần, quan thuộc cũng đến nơi chỗ Phật.

Xá-lợi-phất hỏi vua A-xà-thế:

–Nay nghe pháp nói về hồ nghi đã hiểu rõ chăng?

Vua liền đáp lời:

–Đã nghe, đã hiểu.

–Sao gọi là nghe? Khi thuyết giảng về hồ nghi không có chỗ

được, cũng không có chỗ không được, không chỗ nắm giữ, cũng không chỗ xả bỏ. Lúc nghe pháp ấy thì từ nay về sau không còn cấu bẩn.

Khi ấy Xá-lợi-phất thưa Phật:

–Vua A-xà-thế chỗ tội còn lại như thế nào?

Phật dạy:

–Pháp mà vua A-xà-thế nghe được, giống như một hạt cải còn tội thì nặng như núi Tu-di.

Xá-lợi-phất hỏi Phật:

–Vua A-xà-thế phải vào Nê-lê chăng?

–Giống như Thiên tử Đao-lợi mặc y phục gọi là Chúng hảo bảo xuống đây rồi quay về lại cõi Đao-lợi. Vua A-xà-thế cũng lấy y phục, châu báu trang nghiêm nơi thân, giống như Thiên tử này từ trên lại xuống, tuy vào Nê-lê, Nê-lê tên là Tân Đầu vào trong đấy cũng không có khổ đau, rồi giống như Thiên tử trên đây, quay về lại chốn cũ.

Xá-lợi-phất bạch Phật:

–Hay thay! Tội của vua A-xà-thế tạo ra như thế mà được giảm nhẹ.

Phật bảo Xá-lợi-phất:

–Tôn giả hiểu gì về vua này?

Xá-lợi-phất thưa:

–Không biết.

Phật bảo Xá-lợi-phất:

–Vua A-xà-thế này do đã từng cúng dường bảy mươi ba ức Phật, từ nơi mỗi vị trong số chư Phật ấy thường được nghe pháp thâm diệu. Tâm vua không rời tâm Bồ-đề cầu đạt đạo quả Chánh giác vô thượng.

Phật lại hỏi Xá-lợi-phất:

–Ông nhìn thấy Văn-thù-sư-lợi chăng?

Xá-lợi-phất thưa:

–Có thấy.

Vua A-xà-thế xuất phát từ gốc nơi Văn-thù này mà đạt được

tâm Bồ-đề cầu đạt đạo quả Chánh giác Vô thượng. Bấy giờ là thuở quá khứ thật xa xưa, có Phật hiệu là An Ẩn Giác, kiếp tên gọi là Vô trần cấu, do trong kiếp này, có ba ức ức người đều được sự khuyên bảo của Văn-thù-sư-lợi mà chuyển pháp luân.

Phật lại nói với Xá-lợi-phất:

–Chư Phật nhiều như cát sông Hằng, vì vua A-xà-thế thuyết pháp mà không hiểu được chỗ hồ nghi của nhà vua. Vì sao? Vì chỗ phát tâm của Văn-thù-sư-lợi phải từ sự hiểu biết về sự hồ nghi ấy. Đời đời vua A-xà-thế thường theo Văn-thù-sư-lợi nghe pháp sâu xa vi diệu.

Phật dạy:

–Bồ-tát vốn xưa có chỗ tạo tác, ai là Bồ-tát thì phải lấy cái gốc phát tâm cũ của mình làm nhân, để được sự hiểu biết. Nay vua A-xàthế tuy vào Nê-lê song quay trở lại sinh lên cõi trời nơi phương trên, cách thế giới đây năm trăm bốn mươi lăm cõi, tên cõi ấy là Duy vị (Hán dịch là Nghiêm tịnh) Phật nơi cõi ấy hiệu là La-đà-na-ky-đầu (Hán gọi là Tân hảo). Vị Phật ở đây cùng với Văn-thù-sư-lợi luôn hợp ý nhau. Với cõi này, muốn nghe hiểu được các điều thuyết pháp thì phải chứng đắc pháp nhẫn Vô sở tùng sinh thì Di-lặc làm Phật thì vua A-xà-thế từ cõi kia, sinh ra ở đất nước này, tên gọi của A-xà-thế vào lúc ấy là Bồ-tát A-già-khư-tỳ. Từ nhân duyên ấy, Phật Di-lặc đem pháp chỉ dạy cho các Bồ-tát. Pháp được thuyết giảng không quá dài, cũng không ngắn mà vừa phải, bình đẳng. Lúc đang thuyết về A-già-khư-tỳ: Về thuở quá khứ của Phật Thích-ca Văn, có vua tên là A-xà-thế nghe theo lời của người ác mà giết cha mình. Từ Văn-thù-sư-lợi, vua A-xà-thế nghe các pháp, sau khi nghe thì hoan hỷ tín nhận. Tội vua tạo ra ngay lúc ấy không còn nữa. Khi Phật Dilặc thuyết giảng pháp này thì có tám ngàn Bồ-tát đều đắc chứng pháp nhẫn Vô sở tùng sinh, trở lại sau tám a-tăng-kỳ kiếp, A-giàkhư-tỳ đương hành đạo Bồ-tát để giáo hóa người, cũng đang làm thanh tịnh cõi mình. Người nào nghe pháp, hành đạo thì hoặc làm Thanh văn, hoặc làm Bích-chi-phật, hoặc hành pháp Bồ-tát đều không còn phiền não cấu uế, tất cả không còn bị trở ngại. Mọi người đều sáng tỏ nơi trí tuệ, không còn chỗ hồ nghi. Vua A-xà-thế kia, như điều đã nêu thì tám a-tăng-kỳ kiếp về sau sẽ được làm Phật. Kiếp ấy tên gọi là Thóa-viết-tỳ-đà-biến (Hán dịch là Hoan hỷ kiến) cõi tên là A-già-đàm (Hán dịch là Dược vương). Người nơi cõi ấy bị bệnh không ai là không chóng lành. Như Lai kia đương thời, hiệu là Duy-thủ-đà-duy-sa-da (Hán dịch là Tịnh Kỳ Sở Bộ), thọ mạng là bốn tiểu kiếp, có bảy mươi vạn Thanh văn đều từ bố thí được giải thoát, đều phải biết tám Thiền duy vụ. Lúc ấy hiện có mười hai ức Bồ-tát, tất cả đều chứng nhập các tuệ hiểu tường tận phơng tiện quyền xảo.

Sau khi Phật vào Nê-hoàn, pháp của Phật ấy trụ thế cho đến ức vạn năm về sau mới hết. Cõi kia, tất cả mọi người đến chết cũng không có hồ nghi. Sau khi mạng sống hết, không sinh vào tám nẻo ác. Vì sao? Vì do việc nghe pháp sâu xa vi diệu từ Phật, các bẩn cấu không hề bị vướng mắc.

Phật dạy Xá-lợi-phất:

–Không thể xem thường mọi việc. Vì sao? Vì từ xem thường mà phạm tội kia.

Phật dạy:

–Ta biết rõ các điều con người tạo ra, những người khác còn không biết, nói chi là chỗ hướng đến! Chỉ có Phật mới nhận biết mà thôi.

Xá-lợi-phất nói với hội chúng:

–Việc này thật vi diệu, là hành lợi căn mới biết điều ấy. Từ nay về sau không dám nói tội của người này nêu phước của người kia. Vì sao? Vì nẻo hành trì của mọi người là không thể nghĩ bàn. Như chỗ Phật nói ra thuộc về vua A-xà-thế đã được quảng diễn. Bấy giờ, một vạn hai ngàn Thiên tử đều phát tâm Bồ-đề cầu đạo quả Giác ngộ vô thượng, tất cả đồng xin Duy-thủ-đà-duy-sa-da khi làm Phật, được sinh vào cõi ấy. Phật đều ấn chứng là khi làm Phật nơi cõi kia thì tất cả được sinh vào cõi ấy.

Vua A-xà-thế có con tuổi lên tám, tên là Chiên-đàn-sư-lợi, ngay lúc ấy liền lấy châu báu đang đeo nơi mình, mở ra tung lên chỗ Phật, liền nói:

–Do phát tâm Bồ-đề cầu đạo Chánh đẳng Chánh giác này nếu như Đức Duy-thủ-đà-duy-sa-da khi đó làm Phật thì con nguyện làm Già-ca-việt-la. Về sau Phật Bát-nê-hoàn, con nguyện tiếp nối theo Ngài làm Phật thì chỗ vật báu tung lên đều hóa làm bảy báu đan xen nhau nơi hư không, ngang dọc ngay ngắn bằng phẳng, trong bảy báu có giường ngồi đầy đủ ngần ấy thứ ngọc ngà châu báu, những the lụa gấm vóc làm màn kia cũng lại như vậy, Phật an tọa trên giường ấy.

Khi đó, Phật mỉm cười, vô số màu sắc ánh sáng từ miệng Phật phóng ra đến khắp cùng mười phương, rồi quay về nhiễu quanh chỗ Phật ba vòng và từ nơi đỉnh đầu Phật ánh sáng đi vào.

A-nan từ chỗ ngồi đứng dậy bạch Phật:

–Như Lai không cười suông, phải có ý gì.

A-nan tán thán:

–Trí tuệ kia là rất cao vời, không chỗ trở ngại, đều biết rõ nẻo hành của mọi người, tùy theo chỗ muốn của họ mà chỉ bày, dẫn dắt, khiến đạt được sở nguyện. Trên trời dưới trời, ngôi vị đặc biệt tôn kính này chỉ có một. Ngài cười là có lý do của nó, nên cúi xin được nghe. Nếu mọi người nơi mười phương đều đứng trước nơi đây, từng người một thưa hỏi trăm ngàn ức việc, hẳn đều được giải đáp thỏa đáng không gặp khó khăn gì. Nụ cười ấy thuộc về ý nghĩa gì, xin được nghe lời dạy của Phật. Đối với quá khứ, vị lai, hiện tại, Phật đều thấu hiểu sự việc một cách đầy đủ, không chút trở ngại. Nụ cười ấy thuộc về vấn đề gì, xin được xác định chỗ nghi ấy.

Ánh sáng của Phật vượt hơn cả ánh sáng mặt trời, mặt trăng, hơn hẳn Thích, Phạm, che lấp các núi Già-ca-hòa, khiến tất cả đều thấy rõ ánh sáng của Phật. Thấy rõ ánh sáng của Phật thì con người không chỗ nào còn bị vướng mắc. Vì sao? Vì Phật không hề có một chút cấu uế. Nụ cười ấy thuộc về sự việc gì, cúi xin Ngài làm sáng tỏ điều ấy.

Phật bảo A-nan:

–Chiên-đàn-sư-lợi này đã cúng dường Như Lai phát tâm Bồ-đề cầu đạo quả Chánh đẳng Chánh giác, dần dà đến khi Duy-thủ-đàduy-sa-da làm Phật thì sinh vào cõi nước của Phật ấy, làm Già-ca-việt-la, đưa đám gia thất, nô bộc đi theo, sẽ cúng dường Phật và Tỳkheo tăng kia. Phật kia Bát-nê-hoàn, đưa trẻ này sau đó noi theo Phật ấy ở nơi Già-ca-việt-la thọ mạng hết lại sinh lên cõi trời Đâuthuật. Thọ mạng hết lại từ cõi Đâu-thuật sinh vào cõi nước của Phật kia, tự thành Phật, hiệu là Chiên-đàn-ky-tôn, sở hữu tất cả như Đức Phật trước không khác. Thọ mạng của Phật này theo chỗ sở thích, các Thanh văn, Bồ-tát cũng tùy sở thích. Từ chỗ của vua A-xà-thế, các Bồ-tát khác, tất cả đều nói:

Như Văn-thù-sư-lợi ở các phương diện cũng như Phật, không có không gian thời gian. Vì sao? Vì việc làm cùng với Phật không khác. Các Bồ-tát kia được sự chỉ dạy của Văn-thù-sư-lợi thì cũng không khác. Vì sao? Vì không sinh trở lại vào cõi ác, không sợ chúng ma, cũng không sợ tội, không chỗ nào bỏ cấu nhiễm. Hoặc nơi thành quách, quận, nước, huyện, ấp, hoặc ở chốn gò đống, nếu có sự tu học pháp kia, thọ trì kinh ấy, đọc tụng biên chép thì thấy những người này phải như thấy Phật không khác. Ở nơi nào mà được nghe pháp thì phải nghĩ đây chính là nơi chốn của Phật.

Phật bảo các Bồ-tát:

–Xét kỹ thì đúng như lời A-nan đã nói. Vì sao?

Về thời quá khứ xa xưa vô số a-tăng-kỳ kiếp về trước, có Phật tên là Đề-hòa-kiệt đã thọ ký cho ta khi ta phát tâm Bồ-đề để cầu đạo quả Giác ngộ vô thượng và thành Phật. Ta lấy tóc trải lên đất thỉnh Như Lai đi chân lên đó, chính nhờ công đức này mà được lời thọ ký: “Ông trải qua a-tăng-kỳ kiếp về sau, sẽ thành Phật, hiệu là Thích-ca Văn.”

Khi ấy, Phật Đề-hòa-kiệt nói với các Tỳ-kheo tăng:

–Về chỗ được thọ ký không phải vì chân giẫm lên tóc trải nơi đất. Vì sao? Vì đó chính là chỗ tinh thần vô cùng tôn kính. Chư Thiên, dân chúng tất cả cùng chung quy kính nơi chốn ấy. Ở đây có ai nên dựng tháp?

Ngay lúc ấy, tám mươi ức Thiên tử đều nghĩ: “Ta muốn dựng ở đây”, thì có Ca-la-việt tên là Bạt-đà-điều, liền bạch rằng:

–Con muốn dựng tháp ở đây.

Liền khi ấy tạo dựng tháp bảy báu, trang nghiêm, đẹp đẽ. Sau khi tháp xây dựng xong, Ca-la-việt đến chỗ Phật Đề-hòa-kiệt bạch: –Việc làm tháp đã hoàn thành xin được hỏi Như Lai phước đức dựng tháp kia như thế nào?

Phật Đề-hòa-kiệt nói:

–Nếu Bồ-tát ở nơi chốn đạt được pháp nhẫn viên mãn như bánh xe mà tạo dựng tháp, thì phía dưới đi xuống tận biên vực của đất, chư Thiên, quỷ, thần, tất cả sẽ lấy đất kia để cúng dường thì đều như Xá-lợi không khác. Như vậy, chỗ nhận thọ ký của Bồ-tát nhất định đạt được pháp nhẫn, tròn như bánh xe, ở trong đầy bảy báu, trên lên đến cõi trời tam thập tam, đem bố thí Phật. Có người làm tháp này thì phước đức hơn hẳn trường hợp trên.

Vị Phật kia nói:

–Như ta thọ ký cho ma nạp này về sau làm Phật Thích-ca văn thì ông sẽ tạo dựng làm tháp này. Nhân công đức ấy nên sẽ theo Phật Thích-ca Văn mà được thọ ký là a-tăng-kỳ kiếp về sau sẽ thành Phật.

Phật nói với chúng hội:

–Có biết Ca-la-việt Bạt-đà-điều thời ấy chăng?

Các người dự hội chẳng ai biết được.

Phật liền dạy:

–Nay ở trong hội đây, ông Ca-la-việt tên là Tác-la-nhất-daxà.

Ngay lúc ấy, Như Lai, thọ ký cho Tác-la-nhất-da-xà:

–Ông sẽ làm Phật, hiệu là Tu-đà-phiến (theo Hán thì tên gọi là Quyết Kiến).

Phật lại dạy:

–Nếu Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di mà dốc sức biên chép kinh này hoặc đọc tụng vì mọi người giảng giải về pháp xứ kia viên mãn như bánh xe, các thứ cát bụi, dưới thì tận cùng biên vực của đất, trên thì đến trời Tam thập tam. Kẻ trí kia chỉ lấy một hạt bụi để cúng dường tháp. Vì sao? Vì Bồ-tát từ pháp này mà được nhẫn.

Phật dạy:

–Kẻ nam, người nữ nào đem bảy báu làm đầy khắp tam thiên

đại thiên cõi Phật, ngày ba lần đem các báu ấy mà bố thí chỉ chuyên nghĩ về việc việc bố thí kia thực hành trong trăm kiếp, ngàn kiếp hoặc lại đến trăm ngàn kiếp. Những ai nhất tâm đọc tụng phẩm Axà-thế này, hoặc kính cẩn, hoặc tôn thờ, hoặc thọ trì đọc tụng vì tất cả mà thuyết giảng giải thích chỗ trí tuệ trong kinh ấy. Những ai hướng lòng tin đến kinh thì cũng không khác. Phước này vượt hơn việc làm bố thí với công đức như trên. Người nam, kẻ nữ nào trong trăm kiếp gìn giữ giới tịnh nhưng vừa nghe pháp này, tâm tin, vui, mừng thì phước kia hơn hẳn chỗ giới tịnh ấy với công đức như trên. Tuy làm người bị đánh, đập mắng, chửi trăm kiếp mà tâm không hề giận dữ thì đấy là nhẫn nhục. Những ai nghe pháp này, hướng sự tin tưởng vào việc hành nhẫn thì phước đức hơn hẳn chỗ nhẫn nhục với công đức như trên. Những ai trong trăm kiếp mà tinh tấn, cung kính, phụng sự mọi người, không cho đó là việc cực khổ, cũng không tiếc thân mạng và những ai nghe, tin pháp này, làm cho mọi người hiểu rõ sự việc trong kinh, thì phước ấy hơn hẳn sự tinh tấn như trên. Những ai đem thân trong trăm kiếp hành trì Thiền, không bằng đem pháp này giáo hóa mọi người, thì công đức kia hơn hẳn việc hành trì thiền như trên. Nếu có trăm kiếp tu tập trí tuệ nhưng nghe pháp này hiểu rõ tâm vốn thanh tịnh thì công đức ấy hơn hẳn trường hợp trên đây.

Các Bồ-tát đều bạch Phật:

–Chúng con đều sẽ dốc sức phụng hành, đạt đến các cõi Phật rồi sẽ đem pháp mà giáo hóa con người.

Phật nói với các Bồ-tát:

–Các ông dốc lòng phụng hành giáo pháp. Tất cả việc làm của các ông đều như Phật không khác. Vì sao? Vì hành pháp ấy mới hiểu rõ Phật sự.

Tất cả các Bồ-tát đến hội đều dùng hoa cúng dường, tung lên chỗ Như Lai, biến khắp cả cõi tam thiên đại thiên. Chư Bồ-tát mỗi người tự nói lên pháp này thật sự là tôn quý. Mong pháp của Phật Thích-ca Văn giảng nói, sẽ tồn tại lâu dài nơi cõi Diêm-phù-lợi để đem lại sự sáng suốt.

Văn-thù-sư-lợi luôn sẽ an trụ lâu dài. Vì sao? Vì thường phải

theo dõi lắng nghe pháp thâm diệu.

Các Bồ-tát nói:

–Dù phải nát thân này cũng chưa đủ để báo đáp ân kia.

Phật dạy:

– Kẻ nam, người nữ nào theo người khác nghe pháp này thì không đem thân báo ân kia. Muốn thấy Như Lai thì nhìn vào người nam, kẻ nữ kia, xem họ đã nghe được pháp nơi chốn nào, phải cúng dường họ như Phật. Những ai có lòng tin vào pháp này thì nhìn họ như thấy Phật.

Các Bồ-tát đều từ tòa ngồi đứng lên tác lễ Phật Thích-ca văn. Trong thoáng chốc, ở đây không còn thấy Bồ-tát. Mỗi vị đều trở về lại cõi của mình. Do pháp này mà tự ở nơi trú xứ vì tất cả mọi người giảng nói đầy đủ, nói lên được chỗ trí tuệ này. Người nghe pháp này thì nhiều vô số, họ đều phát tâm Bồ-đề cầu đạt đạo quả Giác ngộ vô thượng.

Phật nói với Bồ-tát Di-lặc:

–Nắm giữ được pháp này thì phải dốc tâm đọc tụng, phải vì tất cả mọi người nói sự việc kia một cách rộng rãi, phải thể hiện tâm từ bi cả trên trời lẫn dưới trời và cùng tất cả mọi nơi chốn.

Bồ-tát Di-lặc bạch Phật:

–Về thời quá khứ, từ các trụ xứ của Phật, con đã nghe pháp này. Gìn giữ, đọc tụng, nay lại nghe pháp này, nên cũng phải vì tất cả mà thuyết giảng rộng rãi. Mặc dù Như Lai Bát-nê-hoàn, sau đó, con ở cõi trời Đâu-thuật, song người nữ, kẻ nam nào muốn học pháp này, con đều khuyến khích, giúp đỡ bảo hộ họ. Vào đời sau cùng, khi tất cả pháp sắp chấm dứt, nếu có kẻ nào nghe được pháp kia, nơi chốn nào có kinh này, thì biết rằng đó đều là chỗ bảo hộ của con. Hoặc có ma trong đạo nhằm hủy hoại chánh pháp thì con phải hộ trì, khiến ma không thể dễ dàng phá hoại.

Phật nói với Thích Đề-hoàn Nhân:

–Phải gìn giữ kinh này, đọc tụng, dứt hết các hồ nghi. Nếu Atu-luân dấy động khởi binh, muốn đến tấn công Thiên chủ thì nên niệm kinh này tất được thắng lợi, quân binh của A-tu-luân liền bị đẩy lùi.

Phật lại dạy:

–Nếu có quận, nước, huyện, ấp, gò, hoặc chốn đống nơi nào phụng thờ kinh này thì đều phải đến hộ trì. Ai gặp phải nạn quan quyền, hoặc phải đến cửa quan thì nên niệm kinh này. Đi trong chốn giặc cướp thì phải niệm kinh này. Hoặc bị giặc cướp bắt đánh thì phải niệm kinh này. Hoặc tại đồng hoang quạnh quẽ, nên niệm kinh này. Hoặc gặp oan gia, hoặc cùng với oan gia đắc ý, thì nên niệm kinh này. Ai có lòng chí thành đối với pháp ấy thì không điều gì mà không được thuận lợi. Phật bảo A-nan:

–Gìn giữ kinh này, dốc tâm đọc tụng, lại vì tất cả mà thuyết giảng về pháp kia. Nếu có người nam, kẻ nữ, được nghe pháp này thì đều không còn hồ nghi. Các hồ nghi đã hoàn toàn hết thì cũng không còn chỗ che giấu tội, không còn bị sinh tử che lấp cũng không ở trong đạo rời xa chỗ che chở của pháp. Tất cả những ai tạo tác theo tà đạo thì không còn làm theo nữa. Suốt đời không cùng với ma sự gặp nhau. Vì sao? Vì có được diệu dụng của sự nghe pháp ấy. Những ai đã tạo nghịch ác, nghe pháp này mà tín, vui, hoan hỷ thì dứt bỏ không còn tạo tác nghịch ác nữa, cũng không nhận tội nghịch, ác.

Ma-ha Ca-diếp bạch Phật:

–Con chứng biết pháp này là nhờ Văn-thù-sư-lợi, khi thuyết giảng pháp ở chỗ thọ trai nơi cung điện của vua A-xà-thế, giải tỏa việc làm nghịch ác. Lúc ấy, được sự hoan hỷ, tín nhẫn đều từ việc giải tỏa hồ nghi. Nay con thuyết giảng pháp ấy ai có phạm tội nghịch ác thì theo pháp nhẫn này đều được giải thoát, cũng như vua A-xàthế.

Ngay khi đó, Ma-ha Ca-diếp lại nói:

–Mọi người vốn đều thanh tịnh nhưng tự tạo sự trái ngược cho là ngã sở, phi ngã sở cũng không tự biết cái gốc thanh tịnh của mình, đều đem cái trong sạch kia tạo ra tội cho mình thì sự giải thoát không còn, như vua A-xà-thế. Đấy là do cái ngu của mọi người, chỗ làm ngược lại để tự giết mình, do vậy mà nhận lấy nổi khổ sở nhọc nhằn, liền vào Nê-lê.

Ma-ha Ca-diếp nói:

–Ai phụng thờ, tín, vui nơi pháp ấy, thì chúng ta chứng nhận cho họ không rơi vào đường ác.

Phật dạy:

–Như chỗ nêu bày của ông thì tất cả chư Phật, Bồ-tát tâm hoàn toàn thanh tịnh.

A-nan lại bạch Phật:

–Cúi xin Như Lai khiến cho người đời sau luôn gặp được pháp này.

Như Lai lúc ấy, từ tướng thân phóng ra ánh sáng tỏa chiếu khắp vô số cõi Phật. Các thành tường, cây cối đều phát ra âm thanh. Pháp kia phải là như thế. Vì sao? Vì hoặc kiếp hết, lửa cháy bốc lên, người nào được nghe thì tụ hội lại để nghe. Nếu đáng được nghe pháp này thì tuy đang ở trong biển cũng quay về để được nghe pháp này.

Phật bảo A-nan:

–Như nơi thành, tường, cây, cối, âm thanh của chúng phát ra có thể nghe được thì theo như lời Phật dạy mà xét, ai đã tạo công đức, đã hành pháp Đại thừa thì đời sau đều lại được nghe pháp ấy.

Khi thuyết giảng kinh này, chư Thiên và người gồm chín vạn sáu ngàn đều chứng đắc đạo Tu-đà-hoàn. Bảy vạn tám ngàn người đều phát tâm Bồ-đề cầu đạt đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hai ngàn Bồ-tát chứng đắc pháp Nhẫn vô sở tùng sinh, tám ngàn người chứng được đạo A-la-hán. Đất nơi tam thiên đại thiên đều chấn động đủ sáu cách. Mọi tối tăm đều thông mở, tất cả đều sáng lên. Các Thiên tử cõi Dục, các Thiên tử cõi Sắc, dùng vô số kỹ nhạc để cúng dường Phật, đều lấy hoa trời, hương trời tung lên chỗ Phật, cùng tỏ bày:

–“Gọi là pháp luân, thì những người nghe pháp này đã đạt đến cho chuyển pháp luân.” Các ngoại đạo nghe pháp này liền tự hiểu, nhân đấy khiến họ chịu khuất phục thì Bồ-tát nên ấn chứng cho họ. Những ai được ấn chứng ấy thì có thể tu tập đi đến đạo tràng.

Phật thuyết giảng kinh này xong, vua A-xà-thế, chư Bồ-tát, Văn-thù-sư-lợi là phần căn bản, các Tôn giả, Thanh văn Xá-lợi-phất, Ma-ha Mục-kiền-liên, A-nan là phần căn bản. Chư Thiên, Kiền-đàla, mọi người nghe Phật thuyết giảng kinh rồi đều đến trước Phật cung kính đảnh lễ và lui ra.

 

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.

CHÚ THÍCH

  1. Tên của hai mươi vị Bồ-tát này, bản chữ Hán không chấm câu, ở đây tạm ghi từng tên như vậy. (Chú thích của người dịch)