Kinh Ca Diếp Phó (Đến Dự) Phật Bát Niết Bàn

Kinh Ca Diếp Phó (Đến Dự) Phật Bát Niết Bàn
Bộ Niết Bàn, Đại Tạng Kinh, Kinh Bồ Tát, Tạng Kinh

SỐ 393
KINH CA DIẾP PHÓ (đến dự) PHẬT BÁT NÊ HOÀN
Hán dịch: Đời Đông Tấn_ Tây Vực Sa Môn TRÚC ĐÀM VÔ LAN
Việt dịch: Huyền Thanh

 

Thuở xưa, khi Đức Phật còn trụ ở đời, thời Ma Ha Ca Diếp (Mahā-kāśyapa) ở trong các vị Tỳ Khưu là bậc Tôn Trưởng nhiều tuổi nhất, tài giỏi, Trí Tuệ sáng suốt. Thân của ngài cũng có màu vàng ròng với các tướng tốt. Mỗi khi Đức Phật nói Pháp thời ngài thường ngối đối diện với Đức Phật, người dân nhìn thấy, lầm lẫn nói ngài là vị thầy của Đức Phật.

Khi ấy Ca Diếp từ giã Đức Phật đến ở tại một ngọn núi tên là Phổ Năng trong núi Y Si Lê. Núi ấy có chu vi một ngàn dặm, cách nước Xá Vệ (Śrāvastī) hai vạn sáu ngàn dặm, hay tuôn ra bảy báu rất nhiều, chẳng thiếu quả trái ngon ngọt, hương thơm nổi tiếng, thuốc tốt, có ba loại Chiên Đàn (Candana): một loại tỏa hương thơm phức, một loại chữa trị trăm thứ bệnh của con người, một loại có thể dùng để nhuộm năm màu….với mọi loại hương, thuốc hỗn tạp chẳng thể xưng đếm. Cũng có chim bay, thú chạy, cọp, sói, voi trắng, Kỳ Lân, Chu Tước, Phượng Hoàng. Hoặc có Đạo Sĩ dị học trong sạch.

Núi ấy có tảng đá vuông vức bằng phẳng có màu sắc như Lưu Ly (Vaiḍurya), cao rộng một trăm hai mươi dặm, được cái cây có hoa lá năm màu hiếm có che bóng mát, mùa Đông mùa Hạ sinh trưởng rất xum xuê, xếp bày trên tảng đá.

Ngài Ca Diếp trước sau đã dạy bảo truyền thụ cho hai ngàn Đệ Tử, đều là bậc có Đức Hạnh cao cả trong sạch, chứng đắc La Hán (Arhat) thường ngồi trên tảng đá này, tụng Kinh hành Đạo.

Lại có dòng suối thơm ngọt trong sạch chảy giáp vòng bốn mươi dặm. Trong nước ấy có hoa Ưu Đàm (Uduṃbara) hoa màu xanh biếc, hoa màu hồng, hoa màu tím.

Đệ Tử của Ca Diếp có bảy người đồng một đêm, nằm mộng:

_ Một vị Tỳ Khưu mộng thấy phần chính giữa của tảng đá vuông vức đã ngồi bị chia phá, cây đều bị nhổ bứt rễ.

_ Lại một vị Tỳ Khưu mộng thấy: dòng suối bốn mươi dặm đều bị cạn khô, hoa đều bị rụng xuống.

_ Một vị Tỳ Khưu mộng thấy Câu La (cỏ Cao La: có lá giống như Trà, có vị đắng) bên cạnh chỗ ngồi đều bị nghiêng đổ hủy nát

_ Một vị Tỳ Khưu mộng thấy đất của cõi Diêm Phù Đề (Jampu-dvīpa) đều bị hư hoại sụp xuống

_ Một vị Tỳ Khưu mộng thấy núi Tu Di bị sạt lở

_ Một vị Tỳ Khưu mộng thấy vị Kim Luân Vương chết

_ Một vị Tỳ Khưu mộng thấy mặt trời mặt trăng rơi xuống đất, Thiên Hạ bị mất ánh sáng.

Sáng sớm thức dậy, đều đem giấc mộng của mình, trình bày với ngài Ca Diếp.

Ca Diếp bảo rằng: “Trước đây khi chúng ta nhìn thấy ánh sáng thời mặt đất bị chấn động lớn, nay các ông lại có giấc mộng này. (Như vậy) Đức Phật sắp Bát Nê Hoàn (Parinirvāṇa: chỉ sự nhập diệt)”

Liền sai Đệ Tử đi vội vã đến nước Câu Di Na Kiệt (Kuśinagara). Trên đường di nhìn thấy nột vị Bà La Môn (Brāhmaṇa) cầm hoa Văn Đà La (Māndāra, Māndārava, Mandāraka). Ca Diếp liền hỏi rằng: “Ông từ đâu đến ? Muốn đi đến nơi nào ? Làm sao có được bông hoa của cõi Trời (thiên hoa) này ?”

Đáp rằng: “Tôi đến từ nước Câu Di Na Kiệt, lúc Đức Phật Bát Nê Hoàn (nhập diệt) đã trải qua bảy ngày, chư Thiên đi đến dự đều cầm hoa của cõi Trời, hương của cõi Trời cúng dường thân Phật. Đây tức là loại hoa đấy”

Ca Diếp nghe xong, tự ném mình xuống đất, khóc lóc nói rằng: “Nay Đức Phật Bát Nê Hoàn (nhập diệt), ba cõi bị mất ánh sáng, sắp tới biết nương dựa vào chỗ nào ?!…”

Liền thúc giục các Đệ Tử lên đường, chưa đến một trăm dặm liền thấy bốn vị Thiên Vương (Caturmahārājakāyikās) với Phạm (Brahma), Thích (Śakra), chư Thiên đều cầm cái lọng bảy báu, hương thơm tốt, hoa đẹp đều đi đến cúng dường Đức Phật. Chư Thiên tấu âm nhạc của 12 Bộ. Cũng có A Tu Luân Vương (Asura-rāja), các Đại Quỷ Thần tràn đầy trong hư không. Lại nhìn thấy vị vua của nước Câu Di Na Kiệt với các vị vua của nước lân cận đều đem theo Quần Liêu (quan lại, quần thần) số lên đến hàng trăm vạn người.

Thấy Ca Diếp đem các Đệ Tử đến. Lúc đó vua Quốc Quý Mạt La Phất liền sai người dân trong nước đều phải tránh đường, để cho Ca Diếp với các Đệ Tử đi được.

A Na Luật (Aniruddha) ra nghênh đón, gặp nhau rồi nói rằng: “Đức Phật Bát Nê Hoàn (nhập diệt) đã được bảy ngày, nhưng lửa Da Duy (Trà Tỳ tức dùng lửa thiêu đốt) chẳng thể cháy được. Chỉ đợi Hiền Giả đến vậy”

A Nan (Ānanda) nhìn thấy Ca Diếp liền tự ném mình xuống đất, khóc lóc chẳng tự thắng được. Có một vị Tỳ Khưu già tên là Ba Hoặc liền ngăn A Nan rằng: “Ngưng ngay ! Ngưng ngay ! Khi Đức Phật còn ở đời thường cấm chế chúng ta chẳng được tự do. Nay Đức Phật đã Bát Nê Hoàn (nhập diệt) thì chúng ta được tự tại. Đứng nên khóc lóc nữa.”

Thời có vị Trời nghe Ba Hoặc nói, liền dùng tay nhấc Ba Hoặc đưa lên. Ca Diếp liền đến trước mặt tiếp giữ nên vị Trời dừng lại, vì Ba Hoặc nói rằng: “Nay Đức Phật Bát Nê Hoàn (nhập diệt), tất cả bị mất nơi nương tựa, chỉ riêng một mình ông ngu si nên trở ngược lại vui sướng!…”

Ba Hoặc nghe lời nói ấy thời hiểu Ý ngay, liền đắc A La Hán Đạo (Arhatmārga)

Ca Diếp liền cùng với các Đệ Tử cúi đầu mặt sát đất, làm lễ, nhiễu quanh quan tài ba vòng, buồn thương nói rằng: “Ngày nay, chúng con chẳng biết cái đầu, bàn chân của Đức Phật ở chỗ nào?!…”.

Uy Thần của Đức Phật liền vì Ca Diếp mà ló ra bàn chân. Chư Thiên, người dân không có ai chẳng cảm thương. Lúc đó Ca Diếp liền nói Kệ khen Đức Phật rằng:

“_Phật là Tam Giới Thừa (cỗ xe của ba cõi)
Vượt qua vực sinh tử
Đạm bạc lên Nê Hoàn (Niết Bàn)
Vi diệu vượt Thế Gian.

_ Phật là Vô Lượng Minh (vô lượng ánh sáng)

Chiếu tăm tối ngu si
Nguyện vì tất cả người
Hiển diệu, hiện Uy Linh

_ Phật là Đại Từ Ai
Độ vô ương số người
Tôn Thể ở Kim Quan (quan tài bằng vàng ròng)
Trong sạch, vắng lặng an
Nguyện dùng Đức ưu hòa
Nhìn màu thân, tướng sáng
Khiến khắp cả Trời, Người
Hưng khởi vô lượng Phước.

_ Phật mở bày, hiện Pháp
Chúng sinh được thấm nhuần
Được dừng vòng sinh tử
Hoặc được vào Chính Đế
Đã chịu ân Như Lai
Đầu mặt lễ chân Phật (bàn chân của Đức Phật)

_ Nay chỉ thấy Kim Quan (quan tài vàng)
Tâm buồn bã, cảm thương
Tuy Phật được Vô Vi (Asaṃskṛta)
Thánh đạt, diệt chẳng thật
Thấy sau có nghi đế (nghi ngờ xem xét)
Ló chân khỏi Kim Quan
Khởi chia Sinh Tử này
Phật chẳng còn buồn nữa
Pháp Thân (Dharma-kāya), Tuệ (Prajñā) thường còn
Đừng gọi Nê Hoàn (Nirvāṇa:Niết Bàn) hẳn”

KINH CA DIẾP PHÓ (đến dự) PHẬT BÁT NÊ HOÀN

_Hết_

13/10/2011

Bài Viết Liên Quan

310

6.24 Phẩm Xưng Tán Phó Pháp Thứ Mười

KINH ĐẠI BỬU TÍCH Hán dịch: Nhà Đường, Tam Tạng Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chi Việt dịch: Thích Trí Tịnh XXXVI PHÁP HỘI THIỆN TRỤ Ý THIÊN TỬ THỨ BA MƯƠI SÁU Hán dịch : Pháp sư Ðạt ma cấp đa Việt dịch : Việt Nam Tỳ Kheo...
Đại Tạng Kinh, Đại Tạng Phiên Âm (Nguyên Thuận), Gia Hưng Đại Tạng Kinh Tuyển Lục

Tri Không Uẩn Thiền Sư Ngữ Lục - Quyển 0001

知Tri 空Không 蘊Uẩn 禪Thiền 師Sư 語Ngữ 錄Lục Quyển 0001 清Thanh 學Học 蘊Uẩn 說Thuyết 通Thông 來Lai 等Đẳng 編Biên ( 依Y 駒Câu 本Bổn 印Ấn ) 知tri 空không 蘊uẩn 禪thiền 師sư 語ngữ 錄lục 序tự 滇# 楚Sở 九Cửu 臺Đài 山Sơn 知Tri 空Không 蘊Uẩn 禪Thiền 師Sư 語Ngữ 錄Lục 卷quyển 上thượng...
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng

Phật Thuyết Đại Thừa Bồ Tát Tạng Chánh Pháp Kinh - Quyển 39

佛Phật 說Thuyết 大Đại 乘Thừa 菩Bồ 薩Tát 藏Tạng 正Chánh 法Pháp 經Kinh Quyển 39 宋Tống 法Pháp 護Hộ 等Đẳng 譯Dịch 大Đại 乘Thừa 菩Bồ 薩Tát 藏Tạng 正Chánh 法Pháp 經Kinh 卷quyển 第đệ 三tam 十thập 九cửu 西tây 天thiên 譯dịch 經kinh 三Tam 藏Tạng 。 銀ngân 青thanh 光quang 祿lộc 大đại 夫phu 試thí 光quang...
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng

A Tỳ Đàm Bát Kiền Độ Luận - Quyển 19

阿A 毘Tỳ 曇Đàm 八Bát 犍Kiền 度Độ 論Luận Quyển 19 迦Ca 栴Chiên 延Diên 子Tử 造Tạo 符Phù 秦Tần 僧Tăng 伽Già 提Đề 婆Bà 共Cộng 竺Trúc 佛Phật 念Niệm 譯Dịch 阿A 毘Tỳ 曇Đàm 八Bát 揵Kiền 度Độ 論Luận 卷quyển 第đệ 十thập 九cửu 迦ca 旃chiên 延diên 子tử 造tạo 符phù 秦tần 罽kế 賓tân...
Bộ Pháp Hoa, Đại Tạng Kinh, Kinh Bồ Tát, Tạng Kinh

Kinh A Duy Việt Trí Giả

SỐ 266 KINH PHẬT THUYẾT A-DUY-VIỆT TRÍ GIÀ Dịch Phạn ra Hán: Đời Tây Tấn, Tam tạng Pháp sư Trúc Pháp Hộ, người nước Nguyệt Thị Dịch Hán ra Việt: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh Phẩm 01: Pháp Luân Không Thối Chuyển
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng

Thất Phật Bát Bồ Tát Sở Thuyết Đại Đà La Ni Thần Kinh - Quyển 3

七Thất 佛Phật 八Bát 菩Bồ 薩Tát 所Sở 說Thuyết 大Đại 陀Đà 羅La 尼Ni 神Thần 呪 經Kinh Quyển 3 失Thất 譯Dịch 七Thất 佛Phật 所Sở 說Thuyết 神Thần 咒Chú 經Kinh 卷quyển 第đệ 三tam 晉tấn 代đại 譯dịch 失thất 三tam 藏tạng 名danh 。 今kim 附phụ 東Đông 晉Tấn 錄lục 我ngã 摩Ma 醯Hê 首Thủ...