Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

A Di Đà Kinh Yếu Giải
Tam Tạng Pháp Sư Cưu-Ma-La-Thập dịch
Tây Hữu Sa-môn Ngẫu Ích Trí Húc giải
Thích Nhất Chân Việt dịch

doahong

Vốn dĩ rằng: Chư Phật thương xót quần mê, nên tùy cơ thi thiết giáo hóa. Tuy quy về nguồn thì không hai, nhưng phương tiện lại có nhiều môn. Song trong mọi phương tiện ấy mà chọn lấy một phương tiện nào trực tiếp nhất, viên đốn nhất, thì không gì hơn là “niệm Phật cầu sinh Tịnh Độ”. Lại trong tất cả pháp môn niệm Phật này mà cầu được một pháp môn giản dị nhất, ổn thỏa nhất, thì không gì hơn là “tín, nguyện, chuyên trì danh hiệu”. Cho nên ba kinh Tịnh Độ đồng lưu hành trong thế gian, cổ nhân chỉ chọn riêng Kinh A Di Đà làm khóa tụng hàng ngày, thì không phải là các vị ấy đã thấy rằng một pháp trì danh này là thích ứng cho cả ba căn, vừa nhiếp sự, lý không chút sót, vừa gom tông môn lẫn giáo môn không gì ngoài, thì không phải là càng bất khả tư nghì nữa hay sao?

Chú, sớ xưa giờ qua bao triều đại không phải là ít người [làm,] song thời thế lâu xa thành mất mát hết, các bản còn lại chẳng có bao nhiêu. Hòa Thượng Vân Thê sáng tác Sớ Sao quảng đại tinh vi; sư bá U Khê trước thuật Viên Trung Sao cao sâu quảng bác, vốn như mặt trời mặt trăng (: hai vầng sáng) trong không, ai có mắt cũng đều phải thấy. Có điều văn thì phú nghĩa thì phồn, bờ bến chẳng thể dò tìm, đến như kẻ sơ cơ thiển thức thì tín nguyện khó mà với nương. Cho nên [tôi] chẳng lượng mình là kẻ dung tục mà vẫn trước thuật Yếu Giải thêm nữa. Thật chẳng dám đọ với hai Ông để khoe tài, cũng không dám cưỡng cùng hai Ông đồng sánh. Ví như “ngó nghiêng thì thanh non, ngó ngang thì thành dãy, dù đều chẳng nói hết được chân cảnh của Lô Sơn”, song chỉ miễn mỗi trường hợp đều không mất cái giá trị được thân kiến Lô Sơn mà thôi. Giờ đây sẽ giải thích về năm lớp huyền nghĩa của Kinh văn.

1: Thích Danh

Thứ nhất giải thích tên Kinh: Kinh này lấy người năng thuyết và sở thuyết làm tên. “Phật” là vị giáo chủ năng thuyết của cõi này, tức Thích-Ca-Mâu-Ni Như Lai. Ngài chuyển theo nguyện lực đại bi sinh vào đời ác năm trược, dùng “tiên giác” để giác “hậu giác”, không pháp nào không biết, không pháp nào không thấy nên gọi là Phật vậy.

Thuyết” là hài lòng với những hoài mong của mình. Phật lấy việc độ sinh là điều hoài mong nơi mình. Nay cơ thành Phật của chúng sinh đã chín, Phật vì họ ứng theo thời mà thuyết pháp khiến được độ (: cứu cánh) thoát, nên mới “hài lòng”.

A Di Đà” là vị đạo sư sở thuyết của cõi kia, dùng bốn mươi tám nguyện mà tiếp các chúng sinh tín nguyện niệm Phật, khiến sinh Cực Lạc thế giới, vĩnh viễn nương vị bất thối. Phạn ngữ là A-DiĐà, theo nghĩa xứ này là Vô Lượng Thọ hay còn có nghĩa là Vô Lượng Quang. Tóm yếu mà nói, công đức, trí huệ, thần thông, đạo lực, y chính trang nghiêm, thuyết pháp hóa độ mỗi mỗi đều vô lượng, song chỉ tạm nêu lên hai điều thọ mệnh và quang minh làm đại biểu mà nói thôi.

Kinh” là pháp tắc giáo huấn, là lẽ thường huấn dục. Mọi thứ kim khẩu tuyên thuyết đều gọi chung là “Kinh”. Nay đối lại với năm chữ Phật Thuyết A Di Đà đàng trước tức là chung và riêng hợp lại, mà thành ra tựa đề của Kinh. Ba phương diện giáo, hành, lý mỗi phương diện đều có chung có riêng, đầy đủ thì như Thai Tạng có nói rõ, cần thì tự tìm mà tra khảo lấy, ở đây không bàn nhiều.

2: Biện Thể

Thứ hai phân tích về Thể: Các kinh Đại Thừa đều lấy Thực Tướng làm chính Thể. Thế nào là Thực Tướng? Tức tự tính của tâm đang hiện có ngay trước mặt ở ngay trong một niệm chính là Thực Tướng. Tâm tính hiện đang có ngay trước mặt ở ngay trong một niệm của chúng ta không ở trong, không ở ngoài, không tại khoảng giữa, chẳng phải quá khứ, chẳng phải hiện tại, chẳng phải vị lai, chẳng phải xanh vàng đỏ trắng, chẳng phải dài ngắn vuông tròn, chẳng phải hương, chẳng phải vị, chẳng phải xúc, chẳng phải pháp, tìm mãi rồi ra chẳng nắm bắt được mà không thể bảo là nó không có! [Tuy tâm tính ấy] nơi “lý cụ” và “sự tạo” có đủ trăm “giới” ngàn “như”, nhưng chẳng thể nói là nó có. Nó lìa tất cả các duyên lự phân biệt ngữ ngôn văn tự tướng, mà duyên lực phân biệt ngữ ngôn văn tự tướng cũng chẳng thể lìa cái Thực Tướng này mà riêng có tự tính được. Lìa tất cả ngữ ngôn văn tự tướng mà ngữ ngôn văn tự cũng chẳng thể lìa Thực Tướng này mà riêng có tự tính được. Tóm yếu mà nói, nó lìa tất cả tướng mà tức chính là tất cả pháp. Chính cái chỗ nó lìa tất cả tướng nên là không có tướng, chính cái điểm nó tức là tất cả pháp nên không phải là không tướng. Do không có tướng cũng không có không tướng nên bất đắc dĩ cưỡng gọi là “Thực Tướng”.

Cái Thể thực tướng này chẳng phải tịch chẳng phải chiếu, song lại là tịch nhưng lại hằng chiếu, chiếu mà lại hằng tịch. Chiếu mà hằng tịch nên cưỡng gọi là Thường Tịch Quang Độ. Tịch mà hằng chiếu nên cưỡng gọi là Thanh Tịnh Pháp Thân.

Lại, chiếu hằng tịch nên cưỡng gọi là Pháp Thân, tịch hằng chiếu nên cưỡng gọi là Báo Thân.

Lại, “tính đức” tịch chiếu nên cưỡng gọi là Pháp Thân, “tu đức” chiếu tịch (: tịch chiếu) nên gọi là Báo Thân.

Lại, tu đức chiếu mà hằng tịch nên gọi là Thọ Dụng Thân, tu đức tịch mà hằng chiếu nên cưỡng gọi là Ứng Hóa Thân.

Phải biết tịch và chiếu không phải hai, tính và tu không phải hai, thân và độ không phải hai, chân và ứng không phải hai, không gì chẳng phải là Thực Tướng. Thực Tướng không có “hai” cũng không có “không hai”. Thế nên toàn thể cái Thể này làm ra y báo, làm ra chính báo, làm ra pháp thân, làm ra báo thân, làm ra tự làm ra tha, cho đến người nói và người được nói đến, người độ và người được độ, người tin và những gì được tin, người nguyện và những gì được nguyện, người trì và pháp được trì, người sinh và nơi sinh đến, người ca ngợi và điều được ca ngợi, tất cả các cặp hai ấy không gì lại không phải là dấu ấn của thực tướng chính Ấn này vậy.

3: Minh Tông

Thứ ba nói lên Tông chỉ: Tông là con đường chính yếu trong sự tu hành, là điểm then chốt để mà hội thể, và là cương lĩnh của vạn hành vậy. Nhấc “cương” lên ắt các mắt lưới đều mở ra, nắm lấy “lĩnh” thời các vạt áo, tay áo đều theo vào, nên tiếp ngay sau phần Thể cần phải nói rõ lên Tông.

Kinh này lấy Tín, Nguyện, Trì Danh làm Tông yếu cho sự tu hành. Chẳng phải Tín thì không đủ để khởi lên Nguyện. Chẳng phải Nguyện thì không đủ để dẫn đến Hành. Chẳng phải diệu Hành trì danh thì không đủ để mãn sở nguyện của mình mà chứng được sở tín. Thế nên trong Kinh trước nói lên y báo, chính báo của Cực Lạc để sinh Tín. Kế khuyên là hãy phát Nguyện để dẫn đến Hành. Kế chỉ cho bẩy ngày trì danh để lên thẳng “bất thối”.

Tín là tín tự tín tha, tín nhân tín quả, tín sự tín lý. Nguyện là chán lìa sa-bà vui cầu Cực Lạc. Hành là chấp trì danh hiệu nhất tâm bất loạn.

Tín tự là tin vào cái Tâm hiện đang có ngay trước mặt ở ngay trong một niệm của mình, vốn không phải là khối thịt cũng không phải là [tâm] duyên hình ảnh, mà là dọc thì không trước sau, ngang thì không bờ bến, suốt ngày tùy duyên, suốt ngày bất biến, mười phương cõi nước nhiều như vi trần trong hư không vốn chỉ là các sự vật hiện ra ở trong Tâm [ngay trong] một niệm của mình. Ta nay tuy là mê mờ đảo hoặc, giả như có thể một niệm hồi tâm thời quyết định được sinh Cực Lạc, vốn có sẵn hết trong Tâm của chính mình, không còn gì phải nghi ngờ nữa, như thế gọi là “tín tự”. Tín tha là tin Thích Ca Như Lai kia không nói lời hư cuống, Di Đà Thế Tôn quyết không nguyện hư giả, sáu phương chư Phật tướng lưỡi dài rộng quyết không có hai lời. Tùy thuận theo lời răn dạy chân thực của chư Phật quyết chí cầu sinh không nghi hoặc gì nữa, như thế gọi là “tín tha”.

Tín nhân là thâm tín rằng tán loạn xưng danh mà vẫn là chủng tử thành Phật, thì huống gì là “nhất tâm bất loạn” sao lại không thành nhân để sinh Tịnh Độ được, như thế gọi là “tín nhân”.

Tín quả là thâm tín rằng Tịnh Độ là nơi các bậc thượng thiện tụ hội, đều do Niệm Phật tam-muội mà được sinh, ví như trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, hay như bóng phải theo người, vang phải theo tiếng, quyết không hề uổng phí, như thế gọi là “tín quả”.

Tín sự là thâm tín rằng do bởi chỉ ngay hiện giờ một niệm hiện tiền không thể cùng tận, thế nên tất cả thế giới trong mười phương, do y theo Tâm mà hiện, cũng không thể cùng tận. Thực sự có cõi nước Cực Lạc ở bên ngoài mười vạn ức cõi, cùng cực thanh tịnh trang nghiêm, không giống như ngụ ngôn của Trang Tử, như thế gọi là “tín sự”.

Tín lý là thâm tín rằng cõi nước Cực Lạc tuy ở xa mười vạn ức cõi, song thực không ra khỏi cái Tâm một niệm nhỏ nhoi đang hiện có trước mặt đây ngay bây giờ của mình, bởi vì thể tính của cái Tâm ngay trong một niệm của chúng ta thực không có bên ngoài. Lại nữa thâm tín rằng Tây Phương y báo hoặc chính báo hoặc chủ, bạn đều là hình bóng hiện ra trong chân Tâm diệu minh đang hiện có ngay trước mặt ở ngay trong một niệm của mình. [Do đó,] toàn thể sự tức là lý, toàn thể vọng tức là chân, toàn thể tu tức là tính, toàn thể tha tức là tự. Do Tâm mình có khắp nên Tâm Phật cũng biến khắp, do Tâm Phật biến khắp nên Tâm tính của tất cả chúng sinh cũng biến khắp, ví như ngàn ngọn đèn trong một phòng, ánh sáng ngọn này ánh sáng ngọn kia biến khắp lẫn nhau, lớp lớp giao nhau không ngăn ngại nhau, như thế gọi là “tín lý”.

Tin như thế rồi ắt Sa-Bà tức là cõi uế do chính Tâm mình cảm mà ra, mà uế của tự tâm thì đúng lẽ là phải chán lìa. Cực Lạc tức là cõi tịnh do tự Tâm mình cảm mà thành, mà tịnh của tự tâm thì đúng lý là phải vui cầu.

Chán uế thì cần phải xả cho đến cứu cánh mới không thể xả được nữa, vui tịnh thì cần phải thủ cho đến cứu cánh mới không thể thủ được nữa. Thế nên Diệu Tông Sao mới nói: “Thủ, xả có cùng cực thì với không thủ không xả mới chẳng phải khác đường.” Nay giả như không y theo sự nơi thủ xả mà chỉ đề cao không thủ không xả tức là chấp lý phế sự. Mà đã phế nơi sự, thì lý cũng chẳng viên. Nếu thấu được toàn sự tức lý thì thủ cũng chính là lý, mà xả cũng tức là lý, một đằng thủ một đằng xả không đằng nào lại không phải là pháp giới, cho nên tiếp theo sau Tín là trình bày về Nguyện vậy. Nói “chấp trì danh hiệu nhất tâm bất loạn” là: Danh là để gọi lên đức. Một khi đức đã không thể nghĩ bàn thì danh hiệu cũng công đức, cũng không thể nghĩ bàn. Công đức của danh hiệu không thể nghĩ bàn, nên mới khiến cho tán loạn xưng danh mà thành Phật chủng, huống gì chấp trì đến mức nhất tâm bất loạn thì sao lại có chuyện không lên thẳng địa vị bất thối được kìa!

Song các thực hành thiết yếu về Tịnh Độ được trình bày trong các Kinh lại ngàn vạn sai khác như quán tượng, quán tưởng, lễ bái, cúng dường, ngũ hối, lục niệm v.v… mỗi hành mà thành đều sinh Tịnh Độ, mà chỉ duy một pháp trì danh này thu nhiếp các căn cơ là rộng nhất, ra tay thực hành là dễ nhất. Nên Thích-Ca Từ Tôn ở trong Kinh này không ai hỏi mà tự nói, đặc biệt hướng về bậc Đại Trí Xá-Lợi-Phất mà nêu lên, có thể nói rằng trong các phương tiện đây là phương tiện đệ nhất, trong các liễu nghĩa đây là liễu nghĩa vô thượng, trong các viên đốn đây là viên đốn tối cực, nên cổ nhân mới nói: “Minh châu cho vào nước đục, nước đục không thể không trong. Phật hiệu cho vào tâm loạn, tâm loạn không thể không là Phật được!”

Tín, Nguyện, Trì Danh lấy đó làm nhân chân thực của Nhất Thừa, bốn loại Tịnh Độ lấy đó làm diệu quả của Nhất Thừa. Nêu nhân lên ắt quả sẽ tùy đó mà theo, nên mới lấy Tín, Nguyện, Trì Danh làm Tông chính của Kinh. Còn như tướng trạng của bốn loại Tịnh Độ thì tại Diệu Tông Sao và Phạm Võng Huyền Nghĩa có trình bày tường tận, ở đây không cần phải nói ra hết, đợi đến phần sau trong văn giải thích về y báo, chính báo sẽ tóm lược lại mà chỉ điểm ra. 4: Minh Lực Dụng

Thứ tư nói về lực dụng: Kinh này lấy sự vãng sinh bất thối làm lực dụng. Vãng sinh có bốn Độ, mỗi Độ đều luận nói thành đủ cả chín phẩm được. Nay tạm thời nói lược qua về các tướng trạng được sinh về bốn Độ:

Nếu ai chấp trì danh hiệu mà chưa đoạn được kiến, tư hoặc, thì tùy theo [tâm niệm phật của] người ấy hoặc tán hoặc định mà tự trong Đồng Cư Tịnh Độ phân thành ba nhóm chín phẩm.

Nếu ai chấp trì danh hiệu đến mức “sự nhất tâm bất loạn”, thì trước tiên kiến, tư hoặc cứ tự nhiên mà tàn rụng, ắt sinh Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Độ.

Nếu ai chấp trì danh hiệu đến mức “lý nhất tâm bất loạn”, thời phá ra thông thoát từ một phẩm cho đến bốn mươi mốt phẩm vô minh, ắt sinh Thực Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ, cũng gọi là phần chứng Thường Quang Tịnh Độ.

Nếu vô minh đoạn tận ắt là thượng thượng Thực Báo, cũng là cứu cánh Tịch Quang vậy.

Bất thối có bốn nghĩa: Một là niệm bất thối, hai là hành bất thối, ba là vị bất thối, bốn là tất cánh bất thối.

Một, niệm bất thối là phá vô minh hiển Phật tính sinh thẳng về Thực Báo, phần chứng Tịch Quang.

Hai, hành bất thối là một khi kiến, tư hoặc đã tàn rụng, thì trần sa hoặc cũng bị phá, sinh Phương Tiện Độ tiến hướng đến quả cùng cực.

Ba, vị bất thối là mang theo nghiệp vãng sinh tại Đồng Cư Độ, mượn hoa sen làm thể chất, vĩnh viễn lìa khỏi các duyên thối chuyển.

Bốn, tất cánh bất thối là bất kể chí tâm, tán tâm, hữu tâm, vô tâm, hoặc hiểu hoặc không hiểu, chỉ cứ danh hiệu Di-Đà lọt qua căn tai, hoặc danh Phật ở sáu phương hoặc danh tự của Kinh này một khi đã lọt vào tai, thì giả như có đến ngàn vạn kiếp sau, rốt cuộc đều nhân nơi đó mà được độ thoát. Như nghe tiếng trống bôi độc xa gần đều chết, hay như ăn chút kim cương cũng quyết không thể tiêu được.

Lại nữa, chỉ người mang theo nghiệp sinh Đồng Cư Tịnh Độ chứng vị bất thối mới đều ở cùng với các bậc Bổ Xứ, và cũng đều một đời nữa ắt bổ nhiệm vào Phật vị.

Phàm cùng ở một chỗ với các bậc thượng thiện, nghĩa là sinh Đồng Cư, thời cũng tức là sinh qua ba Độ kia theo chiều ngang. Một đời nữa bổ nhiệm vào Phật vị, nghĩa là “vị bất thối”, thì tức là đã viên chứng cả ba loại bất thối vậy.

Như lực dụng này thì ngàn kinh vạn luận cũng đều chưa từng có, đem so với [cái đạo lý của Thiền Tông nói rằng:] “chính nhân đốn ngộ chỉ là thứ bậc xuất trần, đời đời không thối mới mong lên đến thềm Phật” kia, thì quả là không thể nào sánh ngang nhau được! Các bậc sĩ thuộc Tông Môn và Giáo Môn sao lại không suy xét vậy kìa?

5: Giáo Tướng

Thứ năm là Giáo tướng: [Kinh] đây là thuộc về tạng Đại Thừa BồTát nhiếp, lại là không hỏi mà tự nói, tức do đại Từ triệt để gia trì, có thể khiến cho các hữu tình nhiều chướng ngại trong thời mạt pháp y theo đây mà lên thẳng vị bất thối. Nên tuy tương lai sau khi kinh pháp diệt tận, vẫn do bi tâm hoằng nguyện [mà Thích Tôn] đặc biệt lưu lại Kinh này trụ thế trăm năm, quảng độ hàm thức. Ví như thuốc a-dà-đà vạn bệnh đều trị (: trì), viên dung dứt tuyệt mọi đối đãi, không thể nghĩ bàn. Tạng thâm áo của Hoa Nghiêm, tủy bí nhiệm của Pháp Hoa, tâm yếu của tất cả chư Phật, chỉ nam cho vạn hành của Bồ-Tát đều không ra khỏi Kinh này vậy. Muốn diễn tả ca ngợi đến đâu thì cùng kiếp cũng chẳng tận, người trí hãy tự mà hiểu lấy.

Vào đến văn Kinh gồm ba phần: Trước tiên là phần Tựa (Giáp1), hai là phần Chính Tông (Giáp2), ba là phần Lưu Thông (Giáp3). Ba phần này gọi là sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, thiếu một phần nào cũng không thể được. Phần Tựa như đầu của người, năm giác quan đều có đủ. Chính Tông như thân của người, tạng phủ không hề thiếu. Phần Lưu Thông như tay chân của người, vận động không lưu trệ. Nên Trí Giả đại sư giải thích Pháp Hoa Kinh, trọn một phẩm đầu đều cho là Tựa, mười lăm phẩm rưỡi ở giữa là Chính Tông, mười một phẩm rưỡi ở sau đều là Lưu Thông. Lại một thời nọ, [Ngài] đem hai môn Tích, Bổn mỗi môn phân làm ba đoạn, tức từ Pháp Sư đến An Lạc Hành năm phẩm đều là Lưu Thông của Tích Môn. Do bởi phần Tựa thì phải tổng quát đề ra cương lĩnh của trọn bộ Kinh, và Lưu Thông ắt phải pháp thí mới không bị tắc nghẽn cho đời sau, quan hệ này không phải nhỏ nhặt chút nào. Người đời sau không hiểu rõ vừa thấy văn Kinh mới vào nghĩa lý bèn cứ thế mà phán là vào Chính Tông rồi, đến mức Tựa và Lưu Thông chẳng hơn gì chiếc mũ tám tấc ba cùng một đôi hài cỏ mà thôi (: chỉ còn là khuôn sáo), thì làm sao có thể nói là “lời đầu cũng thiện, lời giữa cũng thiện, lời cuối cũng thiện được?!”

Phần Tựa Giáp1 phân hai Ất:

Ất1 là tựa chung / Ất2 là tựa riêng.

Ất1 lại phân hai Bính:

Bính1: nêu lên pháp hội, thời, xứ / Bính2: kể ra đại chúng cùng nghe.

Nay là Bính1:

Như vầy tôi nghe: Một thời Phật tại nước Xá-Vệ cây Kỳ vườn Cấp Cô Độc,

Như vầy” là nói lên lòng tín thuận, “tôi nghe” là nói lên việc “sư thừa”, “một thời” là nói lên chỗ cơ cảm, “Phật” là nêu lên vị giáo chủ, “nước Xá-Vệ cây Kỳ vườn Cấp Cô Độc” (: Xá-Vệ v.v…) là nói lên chỗ thuyết Kinh vậy.

Như vầy” là: Thực Tướng [vốn là một nguyên] lý vi diệu xưa nay không biến đổi nên gọi là “như”. Y theo lý thực tướng này niệm Phật cầu sinh Tịnh Độ thời quyết định không sai gọi là “vầy”.

“Tôi nghe” là: A-Nan rõ biết về nguyên lý của Thực Tướng chẳng phải ngã chẳng phải vô ngã, A-Nan do không phá bỏ “giả danh” nên vẫn xưng “tôi”. Do căn tai phát ra nhĩ thức đích thân lắng nghe viên âm [của Phật] như hư không ấn vào hư không nên gọi là “nghe”.

“Một thời” là:Thời” không có thực pháp, đặc biệt lấy chỗ thầy trò đạo hợp với nhau, rốt cùng về một chỗ, người nói kẻ nghe trọn vẹn, nên gọi là “thời”.

“Phật” là: tự giác giác tha, giác hành viên mãn, là đại sư của trời người, nên gọi là “Phật”.

Xá-Vệ” theo nghĩa xứ này là Văn Vật, là tên của một nước lớn thuộc miền trung Ấn Độ, nơi vua Ba-Tư-Nặc lập đô.

“Cây Kỳ vườn Cấp Cô Độc” là: Thái tử của vua Nặc tên Kỳ-Đà, nghĩa là chiến thắng. Đại thần của vua Nặc tên Tu-Đạt-Đa trưởng giả, dịch ra theo xứ này là Cấp Cô Độc. Trưởng giả Cấp Cô trải vàng mua vườn của thái tử để cúng Phật và Tăng. Còn lại một ít đất chưa trải hết, Kỳ-Đà cảm kích ca ngợi, không lấy thêm vàng nữa mà thí luôn chỗ ít đất còn lại chưa trải vàng, nên mới gồm luôn cả hai tên gọi là “cây Kỳ vườn Cấp Cô Độc” vậy.

Bính2, kể ra đại chúng cùng nghe gồm ba Đinh: Đinh1 là chúng Thanh Văn / Đinh2 là chúng Bồ-Tát / Đinh3 là chúng trời người.

Chúng Thanh Văn đứng đầu hết là vì: Một là tướng xuất thế, hai là thường tùy tùng [Phật], ba là Phật pháp nhờ vào Tăng mà được lưu truyền.

Chúng Bồ-Tát ở giữa là vì: Một do tướng bất định, hai do không thường tùy tùng [Phật], ba là biểu trưng cho nghĩa của trung đạo. Chúng trời người kê ra sau hết là vì: Một là tướng thế gian, hai là do phẩm chất phàm thánh xen tạp, ba là để cho thấy chức năng ngoại hộ theo hầu, thì đúng pháp phải như vậy.

Đinh1, chúng Thanh Văn lại gồm ba Mậu:

Mậu1, nói về loại nêu lên số / Mậu2, hiển rõ vị ca ngợi đức / Mậu3, kể ra tên các thượng thủ.

Nay là Mậu1:

cùng đại tỳ-khưu Tăng một ngàn hai trăm năm mươi người, “Cùng” có nghĩa là cộng chung.

Đại tỳ-khưu” là người xuất gia thọ giới cụ túc. “Tỳ-khưu” là Phạn ngữ, bao hàm ba nghĩa nên không dịch ra: (1) Một là nghĩa khất sĩ, nghĩa là một bát nuôi thân, không tích chứa gì hết, chuyên cầu yếu đạo xuất ly. (2) Hai là nghĩa phá ác, nghĩa là chính huệ quán sát phá ác phiền não, không đọa ái kiến. (3) Ba là nghĩa khủng bố ma, nghĩa là phát tâm thọ giới, yết-ma thành tựu, nên ma sợ hãi vậy.

Tăng” là: Nói đủ là tăng-già, xứ này dịch là “chúng hòa hợp”. Về lý hòa thì ắt là đồng chứng giải thoát vô vi nên gọi là lý hòa. Về sự hòa thời có sáu loại, chính là thân hòa đồng trụ, khẩu hòa vô tranh, ý hòa đồng duyệt, kiến hòa đồng giải, giới hòa đồng tu, lợi hòa đồng quân nên gọi là sự hòa.

Một ngàn hai trăm năm mươi người” là: Thầy trò của ba anh em ngài Ca-Diếp-Ba cộng thành một ngàn người, thầy trò của hai ngài Xá-Lợi-Phất (: Thân Tử) và Mục-Kiền-Liên là hai trăm người, các vị con trưởng giả nhóm ngài Da-Xá là năm mươi người, đều được độ thoát trước tiên hết sau khi Phật thành đạo chưa được bao lâu. Do cảm ân sâu của Phật nên thành chúng thường tùy tùng Phật.

Mậu2, hiển rõ vị ca ngợi đức:

đều là đại a-la-hán được chúng biết đến:

“Đại a-la-hán” là hiển rõ vị, “được chúng biết đến” là ca ngợi đức.

A-la-Háncũng bao hàm ba nghĩa: (1) Một là nghĩa ứng cúng, tức là quả của khất sĩ. (2) Hai là nghĩa sát tặc, tức là quả của phá ác. (3) Ba là nghĩa vô sinh, tức là quả của khủng bố ma. Lại, [Ala-hán] có ba loại khác nhau là huệ giải thoát, câu giải thoát và vô nghi giải thoát. Đây là vô nghi giải thoát nên mới gọi là “đại”. Lại, thực (: vốn) ra là pháp thân đại sĩ mà hiện ra làm thanh văn chứng pháp tịnh độ bất tư nghì này nên gọi là “đại” vậy.

Theo Phật chuyển luân, lợi khắp người trời, nên “được chúng biết đến”.

Mậu3, liệt kê tên các thượng thủ:

Trưởng lão Xá-Lợi-Phất, Ma-ha Mục-Kiền-Liên, Ma-ha CaDiếp, Ma-ha Ca-Chiên-Diên, Ma-ha Câu-Hi-La, Ly-Bà-Đa,

Châu-Lợi-Bàn-Đà-Già, Nan-Đà, A-Nan-Đà, La-Hầu-La, KiềuPhạm-Ba-Đề, Tân-Đầu-Lô-Phả-La-Đọa, Ca-Lưu-Đà-Di, Maha Kiếp-Tân-Na, Bạc-Câu-La, A-Nâu-Lâu-Đà, với như vậy các đại đệ tử,

Đức hạnh và tuổi lạp đều tôn quý nên gọi là “trưởng lão”.

“Xá-Lợi-Phất” theo nghĩa xứ này là Thu Lộ Tử cũng có nghĩa là Thân Tử tôn giả, mẹ ngài xinh đẹp, mắt như chim thu lộ, ngài theo [họ] mẹ mà được tên như vậy, trong chúng thanh văn là: Trí huệ đệ nhất.

Ma-ha Mục-Kiền-Liêntheo nghĩa xứ này là Đại Thải Thục Thị: Thần thông đệ nhất.

“Ma-ha Ca-Diếp” theo nghĩa xứ này là Đại Ẩm Quang tôn giả, thân có ánh sáng mầu vàng kim: Đầu-đà thắng hành đệ nhất, truyền tâm ấn của Phật, là sơ tổ của tây thổ.

“Ma-ha Ca-Chiên-Diên” theo nghĩa xứ này là Đại Văn Sức tôn giả, chủng tộc bà-la-môn vùng Nam Thiên Trúc: Luận nghị đệ nhất.

“Ma-ha Câu-Hi-La” theo nghĩa xứ này là Đại Tất tôn giả, chính là cậu của ngài Xá-Lợi-Phất: Vấn đáp đệ nhất.

“Ly-Bà-Đa” theo nghĩa xứ này là Tinh Tú tôn giả: Vô đảo loạn đệ nhất.

“Châu-Lợi-Bàn-Đà-Già” theo nghĩa xứ này là Kế Đạo tôn giả, nhân căn độn nên điều hòa hơi thở mà ngộ đạo, chỉ trì một bài kệ mà nhập định diễn thuyết biện tài vô tận: Nghĩa trì đệ nhất. “Nan-Đà” theo nghĩa xứ này là Hỉ tôn giả, là em họ (: em ruột) của Phật: Nghi dung đệ nhất.

“A-Nan-Đà” theo nghĩa xứ này là Khánh Hỉ tôn giả, em họ của Phật và là thị giả: Đa văn đệ nhất.

“La-Hầu-La” theo nghĩa xứ này là Phú Chướng tôn giả, thái tử con Phật: Mật hành đệ nhất.

“Kiều-Phạm-Ba-Đề” theo nghĩa xứ này là Ngưu Thi tôn giả, đời trước ác khẩu cảm dư báo này: Thọ thiên cúng dường đệ nhất.

“Tân-Đầu-Lô” theo nghĩa xứ này là Bất Động tôn giả, là tên của tôn giả, “Phả-La-Đọa” theo nghĩa xứ này là Lợi Căn, là họ của tôn giả, trụ lâu trong thế gian đáp ứng cho đời mạt pháp cúng dường: Phúc điền đệ nhất.

“Ca-Lưu-Đà-Di” theo nghĩa xứ này là Hắc Quang tôn giả, là sứ giả của Phật: Giáo hóa đệ nhất.

“Ma-ha Kiếp-Tân-Na” theo nghĩa xứ này là Phòng Tú tôn giả: Tri tinh tú đệ nhất.

“Bạc-Câu-La” theo nghĩa xứ này là Thiện Dung tôn giả: Thọ mệnh đệ nhất.

“A-Nâu-Lâu-Đà” hoặc còn đọc là A-Na-Luật-Đà, xứ này dịch là Vô Bần tôn giả hoặc còn dịch là Vô Diệt hoặc dịch là Như Ý, cũng là em họ của Phật: Thiên nhãn đệ nhất.

“với như vậy các đại đệ tử” là câu tóm kết chỉ cho các vị còn lại.

Các đại đệ tử (: thường tùy chúng) như vậy vốn là pháp thân đại sĩ cũng thị hiện làm thanh văn, tạo thành chúng có ảnh hưởng. Nay nơi hội này cùng nghe các công đức mà Tịnh Độ nhiếp thọ ắt có thể đắc được lợi ích của đệ nhất nghĩa tất-đàn, cứ tự nhiên mà tăng chính đạo tổn sinh tử, tự tịnh Phật độ, nên còn gọi là chúng đương cơ vậy.

Đinh2, chúng Bồ-Tát

Cùng chư Bồ-Tát Ma-Ha-Tát: Văn-Thù-Sư-Lợi Pháp Vương Tử, A-Dật-Đa Bồ-Tát, Càn-Đà-Ha-Đề Bồ-Tát, Thường Tinh Tiến Bồ-Tát, với như vậy các đại Bồ-Tát.

“Cùng” là nối theo chúng Thanh Văn ở trên mà nói tiếp.

Bồ-Tát Ma-Ha-Tát” theo nghĩa xứ này là “đại đạo tâm thành tựu hữu tình”, ý nhằm nói lên ý nghĩa “vận chuyển cả bi và trí, lợi gồm cả tự lẫn tha”.

“Văn-Thù-Sư-Lợi” theo nghĩa xứ này là Diệu Cát Tường hay còn nói là Diệu Đức. Phật là Pháp Vương, Bồ-Tát (: Văn-Thù) nối tiếp gia nghiệp của Phật nên gọi là “Pháp Vương Tử”, trong chúng Bồ-Tát ngài là trí huệ đệ nhất. Nếu chính mình chẳng phải là thực trí dũng mãnh thì không thể chứng hiểu pháp môn tịnh độ được, thế nên ngài mới đứng đầu hết.

“A-Dật-Đa” theo nghĩa xứ này là Vô Năng Thắng, chính là tên của bồ-tát Di-Lặc, tương lai sinh xuống thành Phật, hiện tạiđịa vị đẳng giác, chính thức lấy việc cứu cánh nghiêm tịnh Phật độ là nhiệm vụ chính yếu của mình, nên kê ra hàng thứ.

“Càn-Đà-Ha-Đề” theo nghĩa xứ này là Bất Hưu Tức, là do bao kiếp tu hành không tạm ngưng nghỉ.

Thường Tinh Tiến” là do tự lợi lợi tha không biết mệt mỏi vậy. “với như vậy các đại Bồ-Tát” cũng là lời kết các vị kể trên và chỉ ra những vị còn lại. Các Bồ-Tát ở địa vị thâm sâu này cũng đều cầu sinh Tịnh Độ, do vì phải không lìa thấy Phật, không lìa nghe Pháp, không lìa thân cận cúng dường chúng Tăng thì mới có thể mau lẹ viên mãn Bồ-Đề vậy.

Đinh3, chúng trời người

Và Thích-Đề-Hoàn-Nhân các trời, vô lượng chư thiên cùng đại chúng.

“Và” là nói cũng cùng với Thanh Văn, Bồ-Tát ở trên.

Thích-Đề-Hoàn-Nhân” theo nghĩa xứ này là Năng Vi Chủ, tức là vua của trời Đao-Lợi, bậc chủ của bốn thiên hạ vậy.

các trời” là như bốn vua bên dưới, và cả Dạ-Ma, Đâu-Suất, Hóa Lạc, Tha Hóa, cho đến Sắc cùng Vô Sắc Giới bên trên, nên nói làvô lượng chư thiên” vậy.

Lại nóicùng đại chúng” nghĩa là mười phương trời người, tám bộ tu-la, người cùng chẳng phải người v.v… không ai không tụ hội về, không ai lại không thuộc về căn cơ được nhiếp trong pháp môn Tịnh Độ vậy.

Phần Tựa chung Ất1 đã xong.

Ất2 là phần Tựa riêng, tức Tựa phát khởi vậy:

Pháp môn Tịnh Độ vi diệu này thậm thâm bất khả tư nghì, không ai có thể hỏi được, thế nên Phật tự nói lên danh tự, y báo, chính báo của cõi kia để mà phát khởi. Lại, trí Phật xét cơ không hề sai lầm, thấy đại chúng này có khả năng nghe được diệu môn Tịnh Độ để mà thu hoạch lấy bốn lợi ích, nên chẳng đợi ai hỏi mà tự Ngài phát khởi. Như quyển hạ kinh Phạm Võng, Ngài tự nói lên địa vị và danh hiệu như là: “Ta nay Lô-Xá-Na v.v…” Trí Giả đại sư cũng phán đó là Tựa phát khởi. Y theo đó làm lệ thì hiểu Kinh đây cũng vậy.

Bấy giờ, Phật bảo trưởng lão Xá-Lợi-Phất: Từ đây phương Tây qua mười vạn ức cõi Phật có thế giới tên gọi Cực Lạc, cõi ấy có Phật hiệu A-Di-Đà hiện giờ đang thuyết pháp.

Do bởi pháp môn Tịnh Độ nhiếp trọn cả ba căn, viên dung dứt hết mọi đối đãi, không thể nghĩ bàn, thu trọn siêu hết tất cả mọi pháp môn, rất thâm sâu khó tin nổi, nên đặc biệt phải gọi (: nói với) bậc đại trí huệ để mà nói cho. Bởi chẳng phải đệ nhất trí huệ thì chẳng thể nào nhập thẳng vào mà không nghi gì hết được vậy.

“Từ đây” là từ thế giới Sa-Bà này; “phương Tây” là ngang thẳng suốt về hướng Tây, nêu lên nơi chốn muốn chỉ ra; “qua” là vượt lên khỏi; “mười vạn ức” thì cứ ngàn vạn là một ức, nay lại nhân ức đó lên mười vạn nữa.

cõi Phật” tức ba ngàn đại thiên thế giới, là nói chung cho cảnh giới giáo hóa của một vị Phật, gọi là một “cõi Phật”. Tạm thời theo cõi này mà nói thì một núi Tu-Di, đông tây nam bắc mỗi phương một châu cùng một nhật nguyệt soi chiếu, cùng một tiểu Thiết Vi sơn bao quanh, thì gọi là bốn thiên hạ. Một ngàn lần bốn thiên hạ gọi là một “tiểu thiên thế giới”. Một ngàn lần tiểu thiên thế giới gọi là một “trung thiên thế giới”. Một ngàn lần trung thiên thế giới gọi là “đại thiên thế giới”, ắt có mười vạn Tu-Di v.v… nên gọi là “ba ngàn đại thiên thế giới”.

Về phương Tây qua khỏi các cõi Phật như thế tổng cộng mười vạn ức là [đến] thế giới Cực Lạc vậy.

Hỏi: Tại sao Cực Lạc lại cố định ở phương Tây?

Đáp: Đặt câu hỏi như thế là không đúng! Giả như Cực Lạc ở Đông, thì ông lại sẽ hỏi tại sao ở tại Đông? Như thế chẳng phải là hí luận hay sao? Huống gì từ Sa-Bà mà nhìn thì ắt Cực Lạc tại Tây, giả như từ cõi Phật [thứ] mười một vạn ức mà nhìn thì ắt Cực Lạc lại ở bên Đông rồi. Có gì đâu để mà phải nghi như thế!

có thế giới tên gọi Cực Lạc” là lời tựa mở đầu về tên của cõi nước y báo. Quá khứ, hiện tại, vị lai trôi chảy gọi là “thế”, đông tây nam bắc, bốn góc, trên dưới các phương là “giới”. Đã là y báo thì ắt phải dọc theo ba thời để bàn thời kiếp, ngang theo mười phương để định mức ranh, nên nói là “thế giới”.

Nói “Cực Lạc” là: Phạn ngữ là Tu-Ma-Đề, dịch theo xứ này là Cực Lạc, cũng dịch là An Dưỡng, cũng dịch là An Lạc, cũng dịch là Thanh Thái v.v…chính có nghĩa là vĩnh viễn lìa các khổ, an ổn đệ nhất vậy. Nói đủ thì như các văn dưới có giải thích chi tiết. Song cõi Phật có bốn, mỗi loại đều phân thành tịnh và uế, chính là: (1) Phàm Thánh Đồng Cư Độ thời năm trược nặng thì là uế, năm trược nhẹ thì là tịnh.

– Phương Tiện Hữu Dư Độ thời nếu độ thoát sinh tử mà chứng nhập vào bằng lối vụng về là “tích không quán”, thì là uế. Nếu độ thoát và chứng nhập vào bằng cách thiện xảo là “thể không quán”, thì là tịnh.

– Thực Báo Vô Chướng Ngại Độ thời nếu tuần tự theo ba quán mà chứng nhập thì là uế. Nếu nơi một tâm ba quán một lúc mà chứng nhập thì là tịnh.

– Thường Tịch Quang Tịnh Độ thời nếu chứng từng phần thì là uế, nếu chứng viên mãn cứu cánh thì là tịnh.

Nay [Kinh nói “có thế giới tên gọi Cực Lạc” thì] chính là chỉ cho Đồng Cư Tịnh Độ, mà cũng chính là gồm đủ cả ba Tịnh Độ trên theo chiều ngang.

Ở đây là luận theo Tu đức, không luận Tính đức. Tính đức ắt tất cả vi trần, theo chân lý của Pháp, đều có đủ bốn loại cõi Phật tịnh uế. Nay chiếu theo phương diện cặp ba [năng tu là] Tín, Nguyện, Hành, thì Đồng Cư Cực Lạc mà do danh hiệu Di-Đà bất tư nghì làm cho phàm phu cảm được là tối cực thanh tịnh vậy. Sự việc này thì cả mười phương cõi Phật cũng đều không cõi nào có được.Cái “Đồng Cư” mà chỉ riêng Cực Lạc này có mới là tông chỉ của Tịnh Độ Cực Lạc. Dưới đây nói về nghĩa xứ đều theo tông chỉ này vậy. Cõi này có Phật hiệu A-Di-Đà

Là lời tựa mở đầu về tên của vị giáo chủ chính báo. “Phật” là tên chung, “A-Di-Đà” là tên riêng. Phạn ngữ A-Di-Đà theo nghĩa xứ này là “Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang v.v…” cũng như phiên dịch ra sao thì bên dưới có giải thích đầy đủ.

Phật” có ba thân, mỗi thân đều kể cả đơn và kép: Pháp Thân đơn là chỉ cho lý tính được chứng, Báo Thân đơn là chỉ cho trí huệ và công đức năng chứng, Hóa Thân đơn là chỉ cho hình sắc tướng hảo được hiện ra.

Pháp Thân kép thì một là Pháp Thân [tức] tự tính thanh tịnh, hai là Pháp Thân ly cấu diệu cực. Báo Thân kép thì một là Báo Thân [do chính Phật] tự thọ dụng, hai là Báo Thân do tha thọ dụng. Hóa Thân kép thì một là Hóa Thân do thị hiện mà sinh ra, hai là Hóa Thân do cảm ứng mà hiện; lại một là Hóa Thân theo cõi Phật, hai là Hóa Thân tùy theo loại.

Tuy luận ra thành ba thân đơn kép, nhưng thực ra thì chẳng phải một chẳng phải ba mà lại là ba mà lại là một, không dọc ngang, không đồng khác, lìa lỗi lầm dứt sai trái, bất khả tư nghì.

Nay nói “A-Di-Đà Phật” thì chính là chỉ cho Hóa Thân thị hiện sinh ra trong Đồng Cư Độ, nhưng vẫn tức là Báo Thân, tức là Pháp Thân vậy, nên mới khiến nghe danh là chắc chắn được bất thối vậy.

Lại nữa, thế giới và Phật mà đều nói là “có” thì [“có” này] gồm đủ bốn nghĩa: (1) [Nói “có” là] nêu lên cảnh thực một cách đích xác, là để khiến cho [chúng sinh] vui cầu. (2) [Nói “có” là] nói lời chân thành chỉ rõ ra, là để khiến cho [chúng sinh] chuyên nhất. (3) [Nói “có” là để] phân biệt rõ ra [Cực Lạc,] chẳng phải là thành càn-thát-bà hay quáng nắng, chẳng phải là tạm hiện bày hay chỉ vòng vo, chẳng phải là hư vọng duyên theo bóng, chẳng phải “bảo chân”, “thiên”, “đãn”, cốt để phá ma, tà, quyền và tiểu vậy. (4) [Nói “có” là] hiển rõ ra trọn vẹn về “tính cụ”, là để khiến cho [chúng sinh] thâm chứng vậy. hiện giờ đang thuyết pháp.

để phân loại rõ ra hai cái “có” về y báo và chính báo ở trên không thuộc về quá khứ đã diệt, cũng chẳng phải là vị lai chưa thành, chính thực là đang thuyết pháp độ sinh, thế nên đúng ra cần phải phát nguyện vãng sinh mà đích thân bái kiến thuyết (: nghe) pháp để mau thành chính giác vậy.

Lại nữa, “có thế giới, có Phật (: hai “có”) ngay hiện giờ” là phần Tựa khuyến phát lòng tin. “Thế giới tên Cực Lạc” là phần Tựa khuyến phát nguyện vậy. “Phật hiệu A-Di-Đà” là phần Tựa khuyến hành cái hành vi diệu là trì danh.

Lại nữa, “A-Di-Đà” là tựa nói về Phật, “thuyết pháp” là tựa nói về Pháp, thuyết pháp tất phải có thính chúng (: hải hội “hiện giờ”) là tựa nói về Tăng. Phật, Pháp, Tăng đồng một thực tướng là tựa nói về Thể. Từ đó mà khởi lên Tín, Nguyện, Hành là tựa nói về Tông. Tín, Nguyện, Hành thành ắt được vãng sinh gặp Phật nghe Pháp, là tựa nói về Dụng. Duy một Phật giới là cảnh sở duyên, không tạp bất cứ gì khác, là tựa về Giáo Tướng vậy. Văn thì giản lược mà ý thì chu tất vậy.

Phần Tựa Giáp1 mở đầu đã xong trọn vẹn.

Phần Giáp2 là Chính Tông Phần lại phân hai (: ba) Ất: Ất1 trình bày diệu quả của cõi kia theo y báo và chính báo để mở lòng Tín.

Ất2 chính thức (: đặc biệt) khuyến chúng sinh phát Nguyện trì danh để lập nhân.

Ất3 chính thức chỉ bày hành giả chấp trì danh hiệu để lập Hành. Tín, Nguyện, Trì Danh là yếu chỉ của trọn bộ Kinh. Tín và nguyện là Hành thuộc về huệ, Trì Danh là Hành thuộc về hành. Được sinh hay không được sinh hoàn toàn do nơi có hay không có Tín, Nguyện. Còn phẩm vị cao hay thấp thì hoàn toàn do nơi Trì Danh sâu hay nông. Thế nên “huệ Hành” là tiền đạo, “hành Hành” là chính tu, như mắt và chân cùng hoạt động vậy.

Văn của Ất1 phân hai Bính:

Bính1, trình bày về cõi nước y báo vi diệu. Bính2, trình bày về chủ, bạn chính báo vi diệu.

Bính1 lại phân hai Đinh:

Đinh1, nêu lên danh nghĩa tổng quát. Đinh2, giải thích riêng các trang nghiêm.

Nay là Đinh1:

(: Đinh1, đưa ra để giải thích. Đinh2, giải thích rộng.

Đinh1 lại phân hai Mậu: Mậu1 là đưa ra. Mậu2 là giải thích.

Nay là Mậu1:) Xá-Lợi-Phất! Cõi kia cớ gì tên gọi Cực Lạc?

Mậu2 là giải thích gồm hai Kỷ:

Kỷ1, giải thích theo năng thọ dụng. Kỷ2, giải thích theo sở thọ dụng.

Nay là Kỷ1:

Chúng sinh cõi kia không có các khổ, chỉ thọ các lạc, nên gọi Cực Lạc.

“Chúng sinh” là người năng thọ dụng, từ địa vị đẳng giác trở xuống [đến phàm phu] đều có thể được gọi bằng hai chữ này. Nay [Kinh dùng hai chữ này là] tạm dựa theo người dân [ở Cực Lạc] mà nói, lấy phẩm hạ hạ làm lệ mà nói luôn cho phẩm thượng thượng vậy. Sa-Bà khổ sướng lẫn lộn, những gì thực sự khổ là “khổ khổ” bởi vì bức bách thân tâm vậy; sướng là “hoại khổ” bởi vì không cửu trụ vậy; không khổ không sướng là “hành khổ” bởi vì bản tính chuyển di vậy. “Cõi kia” vĩnh viễn lìa khỏi ba khổ này, không giống như cái sướng đối lại với khổ ở cõi này, “nên mới gọi là Cực Lạc”.

– Chính vì (: phân biệt đại khái thời) [chúng sinh tại] Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh Độ năm trược nhẹ nên không có “phần đoạn” khổ và tám khổ, mà chỉ hưởng thọ các lạc không bệnh không chết, du hành tự tại, đồ ăn cõi trời y áo cõi trời, thượng thiện tụ hội v.v…

– [Chúng sinh tại] Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Độ thể quán đã thiện xảo nên không có các khổ “trầm không trệ tịch”, mà chỉ hưởng thọ các lạc du hí thần thông.

– [Chúng sinh tại] Thực Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ trong một tâm mà viên chứng (: tâm quán viên) nên không có cái khổ “cách biệt bất dung”, mà chỉ hưởng thọ các lạc vô ngại bất tư nghì.[Chúng sinh tại] Tịch Quang Tịnh Độ cứu cánh bình đẳng nên không có cái khổ pháp thân rỉ lậu, chân thường lưu chuyển, mà chỉ hưởng thọ cái lạc viên mãn cứu cánh xứng với thực tính.

Tuy nhiên chúng sinh ở Đồng Cư do trì danh nên thiện căn và phúc đức đồng với Phật, vì vậy viên tịnh cả bốn Độ, viên thọ cả mọi lạc. Lại nữa, chỗ tối thắng của Cực Lạc không ở ba cõi trên mà lại ở Đồng Cư chính là vì trên thì Đồng Cư của mười phương đều phải chịu nhượng thua điểm kỳ đặc này [của Cực Lạc,] dưới thì có thể so sánh cùng cõi [Sa-Bà] này, cho nên phàm phu nhập vào đây là hơn hết mà [rất là] ung dung, siêu theo chiều ngang mà độ thoát lên. Phật nói khổ, sướng, ý chính là ở nơi điểm này.

Đinh2 giải thích riêng các trang nghiêm gồm bốn Mậu:

Mậu1, nói về trang nghiêm của đất cây. Mậu2, nói về trang nghiêm của ao lầu hoa sắc. Mậu3, nói về trang nghiêm của nhạc trời mưa hoa. Mậu4, nói về trang nghiêm của pháp âm.

Giờ là Mậu1:

(: Kỷ2, giải thích theo sở thọ dụng:

Ở đây cũng lại là giải thích luôn cả lý do “không có các khổ chỉ thọ các lạc” ở trên.

Dưới nữa, trọn một khoa giải thích rộng rãi cũng vậy.) Lại Xá-Lợi-Phất! Cõi nước Cực Lạc bẩy lớp lan can, bẩy lớp lưới võng, bẩy lớp hàng cây đều là bốn báu, bao quanh giáp vòng, thế nên nước ấy tên gọi Cực Lạc.

Lan can” để làm đẹp biên bờ, “lưới võng” để làm đẹp trong không, “hàng cây” để làm đẹp mặt đất. Mỗi thứ đều nói “bẩy lớp” là tiêu biểu cho bẩy khoa đạo phẩm.

đều là bốn báu” là tiêu biểu cho bốn đức thường, lạc, ngã, tịnh.

bao quanh giáp vòng” là nơi cõi ấy Phật, Bồ-Tát cùng chư Thanh Văn (: v.v…) số đến vô lượng, ắt có vô lượng trụ xứ, nên cũng có vô lượng bẩy lớp lan can, lưới võng, hàng cây có khắp nước kia, chốn chốn trang nghiêm không thể cùng tận, nên mới nói là “bao quanh giáp vòng” vậy. (: “đều là bốn báu” ắt công đức của chính các vị ấy phải thâm sâu, “bao quanh giáp vòng” ắt hiền thánh phải có khắp. Đó là chân nhân duyên của Cực Lạc vậy.)

– Các thứ trang nghiêm này của Đồng Cư Tịnh Độ là do nghiệp thiện tăng thượng mà cảm được, cũng do viên năm phẩm quán mà cảm được, lấy năm trần vi (: thắng) diệu thuộc duyên sinh mà làm thể.

– Các thứ trang nghiêm này của Phương Tiện Tịnh Độ là do trí quán “tức Không” mà cảm được, cũng do “ba quán tương tợ” mà cảm được, lấy năm trần vô lậu thuộc diệu Chân Đế mà làm thể.

– Các thứ trang nghiêm này của Thực Báo Tịnh Độ ắt là do trí quán “diệu Giả” mà cảm được, cũng do “ba quán phần chứng” mà cảm được, lấy năm trần vô tận thuộc diệu Tục Đế mà làm thể.

– Các thứ trang nghiêm này của Thường Tịch Quang Tịnh Độ ắt là do trí quán “tức Trung” mà cảm được, cũng do “ba quán cứu cánh” mà cảm được, lấy năm trần xứng tính thuộc diệu Trung Đế mà làm thể.

Muốn cho dễ hiểu nên [tôi] mới phân biệt như trên, nếu đúng ý mà nói thì (: thực ra) trang nghiêm cũa bốn cõi, mỗi thứ một không thứ nào lại không phải là pháp thuộc nhân duyên sinh; mỗi thứ một không thứ nào lại không tức là Không, Giả, Trung. Thế nên tịnh cảnh của Đồng Cư Cực Lạc mới Chân Tục viên dung, không thể hạn lượng được. Những gì nói dưới đều phỏng theo đây không cần phải nhắc lại để thêm dài dòng.

Hỏi: Đồng Cư, Phương Tiện, Thực Báo ba Độ này mà nói có tất cả các trang nghiêm như lan can, hàng cây, ao lầu, mưa hoa v.v… thì đã đành, song cõi Thường Tịch Quang đã là duy lý tính, thì làm sao mà cũng có các trang nghiêm này được?

Đáp: Mỗi một thứ trang nghiêm không thứ nào lại không phải là toàn thể lý tính, và mỗi một lý tính lại đủ hết vô lượng trang nghiêm, thì mới là quả y báo cứu cánh của chư Phật. Nếu cho rằng Tịch Quang không có đủ năm trần thắng diệu, thì có khác gì “Pháp Tính thiên chân” vốn là sở chứng của Tiểu Thừa?

Mậu2, nói về trang nghiêm của ao lầu hoa sắc:

(: Đinh2, giải thích rộng phân làm hai Mậu:

Mậu1, giải thích riêng về sở thọ. Mậu2, hợp năng thọ sở thọ lại mà giải thích.

Mậu1 lại phân hai Kỷ:

Kỷ1, giải thích chỗ sinh. Kỷ2, kết luận đưa ra Phật lực.

Nay là Kỷ1:)

Lại Xá-Lợi-Phất! Cõi nước Cực Lạc có ao bẩy báu, nước tám công đức tràn đầy bên trong, đáy ao thuần dùng cát vàng trải đất. Bốn bên thềm đường vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành, trên có lầu gác cũng do vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não để mà trang điểm. Hoa sen trong ao lớn như bánh xe, màu xanh quang xanh, màu vàng quang vàng, màu đỏ quang đỏ, màu trắng quang trắng, sạch thơm vi diệu. Xá-Lợi-Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu như vậy công đức trang nghiêm.

Đoạn trên nói về trụ xứ, giờ đây nói đến sinh xứ.Ao bẩy báu” là ao do bẩy báu (: do vàng, bạc v.v…) mà thành, không giống như phương này do đất đá mà thành.

nước tám công đức” là: Một lắng sạch (: lắng trong), khác với phương này đục ngầu; hai trong mát, khác với lạnh nóng; ba ngọt ngon, khác với các vị mặn nhạt dở hơn; bốn nhẹ mềm, khác với chìm nặng; năm thấm trơn, khác với ướt mục hoại sắc: sáu an hòa, khác với xiết mạnh; bẩy trừ đói khát, khát với phát lạnh; tám trưởng dưỡng các căn, khác với tổn hoại các căn cùng độc hại tăng bệnh, chìm đuối v.v…

tràn đầy bên trong” là không giống (: khác với) như phương này hoặc khi thì khô cạn, hoặc khi thì tràn lan.

đáy ao thuần trải cát vàng” là không giống (: khác với) như phương này chỉ là bùn bẩn.

đường thềm bờ ao bốn báu hợp thành” là không giống (: khác với) như phương này chỉ là gạch đá. Cấp bậc là “thềm”, lối bằng là “đường”, nhà tầng là “lầu”, lầu cao là “gác”, cũng dùng bẩy báu nghiêm sức không giống (: bẩy báu lầu gác khác với) phương này chỉ là đất, gỗ, sơn quét. Lầu gác là nơi ở và là nơi của Pháp Hội, chỉ cần thai sen trong ao báu nở ra là có thể bước lên bốn bờ vào trong Pháp Hội gặp Phật nghe Pháp vậy.

hoa sen lớn như bánh xe” là: Bánh xe vàng của Luân Vương to lớn bốn mươi dặm, giờ hãy tạm nêu loại hoa nhỏ nhất ra mà nói: Nếu theo Quán Kinh và Vô Lượng Thọ Hội trong Bảo Tích ắt các phẩm loại lớn nhỏ thực đều không thể đo lường được do thân tướng nơi Đồng Cư Tịnh Độ không đồng đều mà ra vậy. [Hoa] “màu xanh” gọi là ưu-bát-la, “màu vàng” gọi là câu-vậtđầu, “màu đỏ” gọi là bát-đầu-ma, “màu trắng” gọi là phân-đà-lợi. Màu ắt có quang, giai do tịnh nghiệp cảm thành (: Do sinh thân có quang nên thai sen cũng có quang), không giống như hoa ở phương này có màu mà không quang vậy. Lại, hoa sen của Cực Lạc quang, màu vô lượng, song Kinh này (: ở đây) cũng chỉ nói tóm gọn mà thôi.

sạch thơm vi diệu” là ca ngợi tóm gọn về bốn đức của hoa sen: Có chất mà chẳng phải hình là “vi”, vô ngại gọi là “diệu”, chẳng phải hình ắt chẳng phải bụi trần nên là “sạch” vậy. Thai sen như thế thì đủ hiểu sinh thân thế nào rồi!

Kỷ2, kết luận hiển ra Phật lực:

Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu như vậy công đức trang nghiêm.

Kết lại mà nói là “thành tựu như vậy công đức trang nghiêm” là cho thấy mọi loại trang nghiêm trụ xứ, sinh xứ nói trên đều do nơi đại Nguyện, đại Hành, công đức xứng tính của A-Di-Đà Phật mà thành tựu được, nên mới có thể trang nghiêm khắp hết bốn loại Tịnh Độ và nhiếp khắp hết tất cả phàm thánh trong mười phương ba đời khiến cho đều được vãng sinh vậy.

Lại nữa, Phật dùng đại Nguyện làm nhân thiện căn “nhiều” cho chúng sinh, dùng đại Hành làm duyên phúc đức “nhiều” cho chúng sinh, khiến cho người Tín, Nguyện, Trì Danh niệm niệm thành tựu công đức như vậy, mà đều là đã thành, chứ chẳng phải là hiện giờ [đang thành cũng] chẳng phải là sẽ [thành.] Như thế ắt dùng đủ mọi trang nghiêm của A-Di[-Đà] làm bổn chất tăng thượng để mang lấy [chất ấy mà] khởi lên trong tự tâm của chúng sinh đủ mọi trang nghiêm, [do đó nên] toàn thể Phật tức là chúng sinh, toàn thể “tha” tức là “tự”, nên mới nói là “thành tựu như vậy công đức trang nghiêm”.

Mậu3, nói về các trang nghiêm nhạc trời và mưa hoa:

(: Mậu2, hợp năng thọ sở thọ lại mà giải thích, lại phân hai Kỷ: Kỷ1, theo năm căn năm trần để nói về thọ dụng. Kỷ2, theo căn tai và thanh trần nói về thọ dụng.

Kỷ1 lại gồm hai Canh:

Canh1, chính thức nói. Canh2, kết luận hiển ra.

Nay là Canh1:)

Lại Xá-Lợi-Phất! Cõi nước Phật kia thường trổi nhạc trời, vàng ròng làm đất, ngày đêm sáu thời mưa hoa mạn-đà-la trời. Chúng sinh cõi ấy thường vào buổi sớm mỗi người y cách đựng các hoa quý, cúng dường phương khác mười vạn ức Phật, tức ngay giờ ăn về đến bổn quốc, ăn cơm kinh hành.

Xá-Lợi-Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu như vậy công đức trang nghiêm.

Các tiếng nhạc vi diệu do chư thiên tấu lên hằng không gián đoạn, nên nói là “thường trổi nhạc trời” (: Nhạc là thanh trần, đất là sắc trần, hoa là sắc và hương hai trần, ăn là vị trần, đựng hoa, rải hoa, kinh hành là xúc trần. Năm căn của chúng sinh đối lại với năm trần đủ rõ. “Thường trổi” tức là sáu thời vậy.)

Địa giới trong sạch do bẩy báu trang điểm, thể của nó là vàng ròng, nên nói làvàng ròng làm đất”, là địa giới trang điểm bằng bẩy báu, thể là vàng ròng vậy.

Phần đầu của ngày, phần cuối của ngày (: Ngày phân đầu, giữa, cuối) gọi là “ngày ba thời”. Phần đầu của đêm, phần giữa của đêm và phần cuối của đêm (: Đêm phân đầu, giữa, cuối), gọi là “đêm ba thời”, nên nói là “ngày đêm sáu thời”.

Song ở cõi kia Phật và Bồ-Tát ai nấy (: y báo chính báo mỗi thứ) đều có thân quang (: quang minh), chúng sinh nào sinh về cũng đều có thân quang, thường sáng không tối, không cần phải mượn vào ánh sáng của mặt trời mặt trăng thì làm sao phân thành ngày đêm được? Hoặc lấy hoa nở chim kêu làm ngày, hoa khép chim đậu làm đêm, tạm thời thuận theo thói thường ở phương này mà giả nói là ngày đêm (: thành thời phận) vậy.

Mạn-đà-la” là tên của hoa trời, nghĩa theo xứ này là “thích ý” hoặc nghĩa là “bạch hoa”, từ trong không rơi xuống, nên nói là “mưa”.

Chúng sinh” là trên từ đẳng giác xuống tới phàm phu, “y cách” là đồ để đựng hoa, “các hoa quýtức các hoa trời mưa xuống, nói lên các hoa ấy không phải chỉ có một loại mạn-đà-la này thôi, mà phải như là bốn loại hoa mà Pháp Hoa Kinh nói (: trong Diệu Kinh), tiêu biểu cho bốn địa vị nhân là trụ, hành, hướng, địa. “Cúng dường tha phương Phật” là hiển rõ lên [điều rằng] nhân chân thật sẽ hướng về “cực quả”. Đức của quả không ở đâu mà lại không có vậy, [nay] chỉ nói “mười vạn ức” là tạm thời căn cứ theo chỗ Cực Lạc cách Sa-Bà này mà nói mười vạn ức cõi (: Phật), ý nói rằng được sinh cõi Cực Lạc rồi mà muốn trở lại cúng dường Thích-Ca, Di-Lặc thì đều không có gì là khó. Nếu căn cứ theo thần lực của Di-Đà (: A-Di) trợ vào, thì xa nào mà không đến được.

“Vừa đến giờ ăn về đến bổn quốc” (: Giờ ăn là sáng sớm, nên nói là “tức ngay”) là nói cho thần túc của các chúng sinh ấy tự tại (: bất khả tư nghì) không lìa khỏi cõi kia mà thường đến khắp mười phương, chẳng cần phải gia thêm thời gian để quay về vậy. Đoạn văn này nói rõ lên tại Cực Lạc một thanh, một trần, một sát-na cho đến rảo bước, búng tay trọn đều cùng với Tam Bảo khắp mười phương thông suốt vô ngại. Lại hiển rõ lên [điều rằng] tại Sa-Bà ắt trược nặng ác chướng nên cùng với Cực Lạc không cách mà cách; sinh Cực Lạc thời công đức rất sâu mà cùng với Sa-Bà cách mà không cách vậy.

Ăn cơm kinh hànhlà: Trên đã nói là “giờ ăn” nên giờ mới nói là “ăn cơm”, nghĩ đến ăn ắt đồ ăn tự đến, không đợi phải làm lụng sắp xếp. Ăn xong thì bát tự biến đi, chẳng phải nhọc nhằn rửa lau thu cất, nên chỉ cứ kinh hành trên đất báu (: vàng hoa, nhạc vui thú), tự nhiên tiến tu mà thôi. Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh Độ sự vui sướng ở nơi đó tự nó đã như thế, thì huống gì tại ngay nơi cõi kia lại có thể siêu ngang qua Phương Tiện, Thực Báo và Tịch Quang thì niềm vui sướng ấy lấy gì để mà có thể nói được đây!

Canh2, kết luận hiển ra:

Xá-Lợi-Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu như vậy công đức trang nghiêm.

Mậu4, nói về các trang nghiêm pháp âm, lại phân hai Kỷ: Kỷ1, nói riêng về hai loại pháp âm. Kỷ2, kết thúc ca ngợi công đức thành tựu.

Kỷ1 gồm hai Canh:

Canh1, âm của chim hóa. Canh2, âm của gió cây.

Canh1 lại gồm hai Tân:

Tân1, chính nói về pháp lợi. Tân2, đưa ra để giải thích trừ nghi.

Nay là Tân1:

(: Kỷ2, theo căn tai và thanh trần mà nói về thọ dụng:

Do phương này căn tai là bén nhậy nhất nên đặc biệt y nơi pháp âm để nói rộng [về thọ dụng.] Thực ra Cực Lạc nhiếp căn cơ của pháp giới [chúng sinh,] năm trần mỗi trần đều viên diệu, đều phát sinh ra tất cả các pháp môn vậy [chứ không riêng gì chỉ nơi thanh trần.]

Kỷ2 lại phân hai Canh:

Canh1, nói riêng. Canh2, tổng kết.

Canh1 lại gồm hai Tân:

Tân1, tiếng của hóa hữu tình. Tân2, tiếng của hóa vô tình.

Tân1 lại phân hai Nhâm:

Nhâm1, pháp lợi theo âm của chim. Nhâm2, đưa ra để giải thích lược nêu ra.

Nay là Nhâm1🙂

Lại nữa, Xá-Lợi-Phất! Nước kia thường có đủ loại chim chóc kỳ diệu muôn màu, bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá-lợi, calăng-tần-già cùng chim cộng mạng. Các loài chim này đêm ngày sáu thời hót âm hòa nhã. Âm này diễn nói năm căn, năm lực, bẩy phần bồ-đề, tám phần thánh đạo, các pháp như vậy. Chúng sinh cõi ấy nghe âm này rồi trọn đều niệm Phật niệm Pháp niệm Tăng.

Đủ loại chim chóc kỳ diệu muôn màu” là nói chim kia vừa nhiều vừa đẹp. Tạm mượn các tên chim mà cõi này ưa thích để nói cho những gì tương tợ [ở cõi kia.] (: Dưới tóm lược đưa ra sáu loại:) “Xá-lợitức (: xưa dịch là) chim thu lộ, Kỳ Thiền Sư nói là xuân lộ, có thể là vậy. cùng bạch hạc, khổng tước, anh vũ là bốn loại, là các chim xứ này đều có, người người đều coi quý.Ca-lăngtần-già” nghĩa theo xứ này là diệu âm, do chưa ra khỏi mạng trứng mà đã có âm thanh vượt hơn hết các loài chim khác, xứ đây không có chim này. Chim cộng mạng” một thân hai đầu, thức riêng mà báo đồng, cũng không có ở xứ này. Các vùng tuyết sơn ở Tây Độ mới có hai loại này. Song đều không thể so được với chim chóc kỳ diệu của Cực Lạc, nên chỉ đặc biệt nói lên những gì tương tợ (: Đều mượn các loại cõi này ưa thích mà nói cho những gì tương tợ) vậy thôi.

Nói “ngày đêm sáu thời hót âm hòa nhã” ắt rõ Tịnh Độ cũng không lấy việc chim đậu yên một chỗ làm ban đêm, mà phải hiểu là thực không có ngày đêm, chỉ giả nói ngày đêm thôi. Lý do là bởi thân hóa sinh vào hoa sen vốn không có mê mờ ngủ nghỉ, nên không cần phải đêm nằm vậy.

Năm căn, năm lực v.v…” là ba mươi bẩy đạo phẩm, không nói ra bốn niệm xứ, bốn chính cần, bốn như ý túc là do văn lược qua vậy. Ba mươi bẩy phẩm này chung cho cả bốn giáo.  Gồm các pháp sau:

Bốn niệm xứ là: Một, thân niệm xứ. Hai, thọ niệm xứ. Ba, tâm niệm xứ. Bốn, pháp niệm xứ.

Bốn chính cần là: Một, ác pháp đã sinh làm cho đoạn. Hai, ác pháp chưa sinh không để cho sinh. Ba, thiện pháp chưa sinh làm cho sinh. Bốn, thiện pháp đã sinh làm cho tăng trưởng.

Bốn như ý túc là: Một, dục như ý túc. Hai, tiến như ý túc. Ba, tâm như ý túc. Bốn, tư duy như ý túc.

Năm căn” là tín, tiến, niệm, định, huệ vậy: (1) Tin vào chính đạo và pháp trợ đạo gọi là tín căn. (2) Hành chính đạo và các thiện pháp trợ đạo, cần cầu không dừng, gọi là tinh tiến căn. (3) Niệm chính đạo và các thiện pháp trợ đạo, ngoài ra không niệm gì khác, gọi là niệm căn. (4) Nhiếp giữ tâm trong chính đạo và các thiện pháp trợ đạo, cứ tương ưng như thế không tán, thì gọi là định căn. (5) Vì [để đạt] chính đạo và các thiện pháp trợ đạo, quán theo bốn Đế là khổ v.v… gọi là huệ căn.

Năm lực” là: (1) Tín căn tăng trưởng phá được nghi hoặc, phá các tà tín và phá cả phiền não, gọi là tín lực. (2) Tinh tiến căn tăng trưởng phá mọi thứ giải đãi thuộc thân, tâm, hoàn thành được đại sự xuất thế, gọi là tinh tiến lực. (3) Niệm căn tăng trưởng phá các tà niệm, thành tựu tất cả công đức chính niệm xuất thế, gọi là niệm lực. (4) Định căn tăng trưởng phá được loạn tưởng, phát các thiền định thuộc sự và lý, thì gọi là định lực. (5) Huệ căn tăng trưởng dừng được các hoặc của Thông Giáo và Biệt Giáo, phát chân vô lậu, gọi là huệ lực.

Bẩy phần bồ-đề” cũng gọi là “bẩy phần giác”: (1) Một, khi dùng trí huệ quán các pháp mà khéo lọc lựa riêng ra chân và ngụy, không chọn lầm các pháp hư ngụy, gọi là “Trạch Pháp giác phần”. (2) Hai, khi tinh tiến tu các đạo pháp mà khéo giác rõ được, không hành sai lầm theo khổ hành vô ích, thường chăm chỉ [trụ] tâm trong chân thực pháp mà hành, gọi là “Tinh Tiến giác phần”. (3) Ba, nếu tâm được pháp hỉ mà khéo giác rõ ra được pháp hỉ này, không y theo pháp điên đảo mà sinh hoan hỉ, trụ trong pháp chân thực mà hỉ, gọi là “Hỉ giác phần”. (4) Bốn, nếu khi đoạn trừ các kiến, phiền não mà khéo giác rõ ra được là trừ các hư ngụy chứ không làm hao tổn thiện căn chân chính, gọi là “Trừ giác phần”. (5) Năm, nếu khi xả các cảnh mình thấy và khởi niệm bắt theo mà khéo giác rõ ra được cảnh được xả kia là hư ngụy không thực, vĩnh viễn không đeo đuổi nhớ tưởng nữa, gọi là “Xả giác phần”. (6) Sáu, nếu khi phát ra các thiền định mà khéo giác rõ ra được các thiền là hư giả, không sinh ái kiến vọng tưởng, gọi là “Định giác phần”. (7) Bẩy, nếu khi tu đạo xuất thế mà khéo giác rõ ra được thường làm cho định huệ quân bình, hoặc khi tâm chìm lỉm thì phải Niệm [bằng cách] dùng ba giác phần Trạch Pháp, Tinh Tiến và Hỉ để quán sát mà khởi [tâm lên;] hoặc khi tâm phù động thì phải Niệm [bằng cách] dùng ba giác phần Trừ, Xả và Định để nhiếp giữ [tâm lại,] điều hòa cho vừa phải trung dung, gọi là “Niệm giác phần”.

Tám phần thánh đạo” cũng còn gọi là “tám phần chính đạo”: (1) Một, tu quán vô lậu hành, thấy bốn Đế phân minh, gọi là “chính kiến”. (2) Hai, do tương ưng với tâm vô lậu mà tư duy động phát, giác tri trù lượng, để khiến tăng trưởng [quán trí mà] nhập đại Niết-Bàn, gọi là “chính tư duy”. (3) Ba, dùng huệ vô lậu trừ bốn tà mệnh, nhiếp các khẩu nghiệp trụ vào trong tất cả chính ngữ, gọi là “chính ngữ”. (4) Bốn, dùng huệ vô lậu trừ tất cả tà nghiệp của thân, trụ vào trong chính thân nghiệp thanh tịnh, gọi là “chính nghiệp”. (5) Năm, dùng huệ vô lậu trừ năm loại tà mệnh chung cho cả ba nghiệp, trụ vào trong chính mệnh thanh tịnh, gọi là “chính mệnh”. Năm tà mệnh là: Một, do vì lợi dưỡng nên trá hiện ra dị tướng kỳ đặc. Hai, do vì lợi dưỡng nên tự nói ra công đức của mình. Ba, do vì lợi dưỡng nên bói tướng xấu lành nói pháp cho người. Bốn, do vì lợi dưỡng nên lớn tiếng hiện oai khiến người kính sợ. Năm, do vì lợi dưỡng nên nói các sự cúng dường mình được để làm động tâm người. (6) Sáu, do tương ưng với huệ vô lậu mà chăm tinh tiến tu đạo niết-bàn, gọi là “chính tinh tiến”. (7) Bẩy, do tương ưng với huệ vô lậu mà niệm chính đạo và pháp trợ đạo, gọi là “chính niệm”. (8) Tám, do tương ưng với huệ vô lậu mà nhập định, gọi là “chính định”.

Các đạo phẩm này nếu y theo Sinh Diệt Tứ Đế mà tu, tức thuộc về đạo phẩm của Tạng Giáo. Y Vô Sinh Tứ Đế mà tu, tức thuộc đạo phẩm của Thông Giáo. Y Vô Lượng Tứ Đế mà tu, tức đạo phẩm của Biệt Giáo. Y Vô Tác Tứ Đế mà tu thời là đạo phẩm của Viên Giáo.

Đạo phẩm của Tạng gọi là pháp môn “nửa chữ”, [sinh về] Tịnh Độ các trược [giảm] nhẹ, nên dường như không cần phải dùng đến [đạo phẩm này,] song nếu vì chủng tử tiểu thừa [kiếp] trước đã chín rồi thì có thể được tạm dùng vậy.

Đạo phẩm của Thông Giáo gọi là “sơ môn của Đại Thừa”, cả ba thừa cùng tuân hành, ở Đồng Cư Tịnh Độ phần nhiều là thuyết về đạo phẩm này.

Đạo phẩm của Biệt Giáo gọi là “pháp riêng cho Bồ-Tát”, ở hai loại Tịnh Độ Đồng Cư và Phương Tiện phần nhiều thuyết là thuyết đạo phẩm này.

Đạo phẩm của Viên Giáo gọi là “vô thượng Phật Pháp”, ai có lợi căn thì đều được nghe [về đạo phẩm này] cả trong bốn Tịnh Độ.

Câu kết nóicác pháp như vậy” là “như” các pháp niệm xứ, chính cần, như ý túc ở bên trên, và “như” tất cả các pháp khác như là bốn nhiếp, sáu độ, mười lực, vô lượng pháp môn vậy.

Tuy ba mươi bẩy phẩm thu nhiếp các Phật pháp không pháp nào lại không thu tận, song vì cơ duyên không đồng nên có thể có đủ cách khai hợp, danh nghĩa bất đồng. Tóm lại mà nói, tùy ai muốn nghe pháp nào, thì không pháp nào mà lại không “nói lên” [cho nghe,] nên khiến cho người nghe đều sinh tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. (: niệm đến Tam Bảo, phát tâm bồ-đề, phục diệt phiền não vậy. Thấy rõ Từ Oai bất khả tư nghì nên niệm Phật. Pháp hỉ nhập tâm, pháp vị đầy đủ nên niệm Pháp. Cùng nghe cùng vâng nhận, một tâm tu chứng, nên niệm Tăng. Năng niệm tức là ba quán,) Tam Bảo sở niệm cũng có các sai khác như biệt tướng, nhất thể, cho đến nghĩa ý theo bốn Giáo, ba Đế quyền thực như các Kinh Luận khác có nói rõ (: như phần lọc giản các đạo phẩm bên trên, đủ rõ).

Tân2, đưa ra để giải thích trừ nghi (: Nhâm2, đưa ra để giải thích lược nêu ra)

Xá-Lợi-Phất! Ông đừng cho rằng các loài chim này thực do tội báo mà sinh. Tại sao như vậy? Cõi nước Phật kia không ba đường ác. Xá-Lợi-Phất! Cõi nước Phật kia còn không có tên của các đường ác, huống gì lại là có thật. Các loài chim này đều do A-Di-Đà Phật muốn cho pháp âm tuyên lưu, biến hóa làm thành.

Đây là đoạn đưa vấn đề ra để giải thích, dễ hiểu nên không cần phải nói gì thêm.

Hỏi: Các tên như bạch hạc v.v… không phải là tên của đường ác đó hay sao?

Đáp: Đã không phải là tội báo ắt mỗi một danh tự đều nói lên công đức cứu cánh của Như Lai. Các tên cứu cánh như bạch hạc v.v… nói ở đây không tên nào lại chẳng phải là danh xưng đẹp đẽ của Tính Đức, thì há lại là ác danh được sao?!

Hỏi: Hóa ra các loài chim là nghĩa gì?

Đáp: Có các nhân duyên thuộc bốn tất-đàn: Bởi phàm tình ưa thích các chim này, nên thuận theo phàm tình mà hóa ra, khiến họ “hoan hỉ”. Bởi đến chim mà còn nói pháp, nên khiến người nghe “sinh thiện” vậy. Bởi [do như thế nên] đối với chim không khởi tưởng cho là hạ liệt, nên “đối trị” được tâm phân biệt vậy. Bởi các chim ấy tức Di-Đà, khiến ngộ ra pháp thân bình đẳng, không gì lại không có “đủ” không gì mà lại không “tạo”. Theo lẽ này thời thấy rõ ra các âm gió thoảng cây võng v.v… cùng tất cả các giả thật thuộc y báo chính báo, chính bản thể của mọi thứ ấy, tức là bốn đức, ba thân của Phật A-Di-Đà, không một chút nhỏ nhoi gì sai khác nhau vậy.

Canh2, âm thanh của gió cây (: Tân2, âm thanh của hóa vô tình): Xá-Lợi-Phất! Cõi nước Phật kia gió thoảng thổi động các hàng cây báu cùng lưới võng báu phát âm vi diệu, ví như trăm ngàn loại nhạc đồng thời cùng trổi. Ai nghe âm này tự nhiên đều phát sinh tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.

Tình và vô tình đồng tuyên diệu pháp: Đạo phẩm của cả bốn Giáo, vô lượng pháp môn, đồng được diễn thuyết một lúc, tùy theo mỗi loại, căn cơ nào cũng đều hiểu được, nên khiến cho người nghe đều niệm Tam Bảo vậy.

Niệm Tam Bảo là đạt được lợi ích theo bốn tất-đàn như sau: Phàm phu thoạt nghe xao động toàn thân, đó là “hoan hỉ ích”. Cùng với khí lực của Tam Bảo giao tiếp, ắt có thể phát tâm bồ-đề, đó là “sinh thiện ích”. Do đó nên phục diệt phiền não, đó là “phá ác ích”. Chứng ngộ “nhất thể Tam Bảo” là “nhập lý ích”.

Phần Kỷ1, nói riêng về hai loại pháp âm (: Canh1 nói riêng) đã giải thích xong.

Kỷ2, kết thúc ca ngợi công đức thành tựu (: Canh2, tổng kết):

Xá-Lợi-Phất! Cõi nước Phật kia thành tựu như vậy công đức trang nghiêm.

Lập đi lập lại lời kết luận nói rõ ra [công đức của cõi kia] là để cho thật thâm tín.

Tất cả mọi trang nghiêm này đều do Nguyện, Hành của Đạo Sư mà thành, do Chủng Trí của Đạo Sư mà hiện, đều do tịnh nghiệp của chúng ta mà cảm, do Duy Thức mà biến ra. Tâm Phật và tâm chúng sinh hỗ tương làm “ảnh” làm “chất” cho nhau, như ánh sáng của các ngọn đèn, mỗi ngọn tỏa khắp mà tợ như một ngọn, toàn thể lý thành ra sự, toàn thể sự tức là lý, toàn thể tính khởi lên tu, toàn thể tu ở tại tính. Có thể nói là phải suy xét cho thật thâm sâu, cho thật lâu dài vậy. Thế mà không hiểu sao [có nhiều kẻ] lại lìa Tịnh Độ này mà biện bàn “duy tâm tịnh độ” để đành đọa vào nỗi cười chê “chuột kêu ‘tức’, chim kêu ‘không’” vậy kìa!

Phần Bính1, nói về cõi nưóc y báo vi diệu đã giải thích xong.

Bính2, nói về chính báo chủ, bạn vi diệu phân hai Đinh:

Đinh1, nói về giáo chủ vi diệu (: đưa ra câu hỏi để giải thích danh hiệu). Đinh2, nói về quyến thuộc vi diệu (: phân riêng chủ bạn ra mà giải thích).

Đinh1 gồm hai Mậu:

Mậu1, đặt câu hỏi chung. Mậu2, giải thích riêng.

Nay là Mậu1:

Xá-Lợi-Phất! Theo ý ông nghĩ sao, Phật kia cớ gì gọi A-Di-Đà? Kinh này đích thực là để nói về diệu hành “Trì Danh”, vì vậy đặc biệt nêu lên câu hỏi để giải thích về danh hiệu, muốn cho người ta thâm tín vào hồng Danh vạn đức là bất khả tư nghì mà nhất tâm chấp trì không còn nghi này hay nọ nữa.

Mậu2, giải thích riêng gồm hai Kỷ:

Kỷ1, theo quang minh mà giải thích. Kỷ2, theo thọ mệnh mà giải thích.

A-Di-Đà chính thức dịch là vô lượng, vốn không thể nói được. Bổn sư dùng hai nghĩa “quang” và “thọ” mà thu tận tất cả [ý nghĩa của] vô lượng. “Quang” ắt ngang ra khắp hết mười phương, “thọ” ắt dọc lên tận cả ba đời. Ngang và dọc giao nhau thấu suốt, tức là bản thể của pháp giới. Trọn bản thể này làm thân và độ của Di-Đà, cũng tức trọn bản thể này làm danh hiệu của Di-Đà. Thế nên danh hiệu Di-Đà tức là lý tính bổn giác của chúng sinh. Trì Danh tức là Thủy Giác hợp với Bổn Giác. “Thủy” và “Bổn” không phải hai nên một niệm tương ưng [thời] một niệm [là] Phật, niệm niệm tương ưng [thì] niệm niệm [là] Phật vậy.

Nay là Kỷ1:

Xá-Lợi-Phất! Phật kia quang minh vô lượng, chiếu mười phương cõi không hề chướng ngại, thế nên hiệu là A-Di-Đà. Bản tính của tâm tuy tịch mà thường chiếu, nên là quang minh. Nay [Phật A-Di-Đà] chứng thực đến mức thấu triệt hết bản thể vô lượng của tâm tính, nên quang minh vô lượng vậy.

Mười phương ba đời chư Phật trọn đều thấu triệt được toàn thể của tâm tính, trọn đều chiếu mười phương cõi không hề chướng ngại, nên đều có thể gọi là “Vô Lượng Quang”. Song khi còn trong giai đoạn tu nhân, nguyện lực [phát ra] không giống nhau, nên tùy nhân duyên mà mỗi vị lập thành tên riêng. Nay trong bốn mươi tám nguyện mà khi xưa Phật (: Di-Đà) còn là tỳ-khưu Pháp Tạng đã phát thệ, từng có nguyện quang minh luôn chiếu mười phương, nên nay quả thành đúng như nguyện đời trước vậy.

Quang minh” của Pháp Thân dọc cùng ngang khắp nên là vô lượng (: không có ranh giới). Quang minh của Báo Thân tương xứng với chân tính nên là vô lượng. Hai điều này thì giữa Phật và Phật đều cùng một lẽ với nhau. Còn như quang minh của Ứng Thân thì có vị chỉ chiếu một do tuần, hoặc chiếu mười tuần, trăm tuần, ngàn do tuần, hoặc chiếu một thế giới, hoặc chiếu mười, trăm, ngàn thế giới. Duy [quang minh của Phật] Di-Đà (: A-Di) chiếu khắp hết mười phương vô lượng thế giới, nên riêng Ngài mới có tên là “Vô Lượng Quang”. Song ba thân không phải một không phải khác nhau, để khiến cho chúng sinh được bốn “ích” nên mới miễn cưỡng phải phân biệt như vậy.

Phải hiểu “không chướng ngại” là chiếu theo nhân dân [các cõi] mà nói. Do chúng sinh nào mà duyên với Phật thâm sâu, thì nơi đâu Phật quang chiếu đến tất cả thế gian [các chúng sinh có duyên ấy] không ai lại không thấy trọn được viên mãn vậy.

Kỷ2, chiếu theo thọ mệnh mà giải thích lại gồm hai Canh:

Canh1, nhằm nói thọ của chủ, bạn đều vô lượng. Canh2, cũng cho biết luôn thành đạo đã qua mười kiếp.

Nay là Canh1:

Lại Xá-Lợi-Phất! Phật kia thọ mạng cùng nhân dân Ngài vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, nên gọi A-Di-Đà.

[Câu này] cũng giống như nói: “Phật kia cùng nhân dân Ngài thọ mạng đều vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp.” Do vì Tây Vực hay có lối đảo văn mà thành nói như trên.

Bản tính của tâm tuy chiếu mà thường tịch, nên là thọ mạng. Nay [Phật A-Di-Đà] chứng thực đến mức thấu triệt hết bản thể vô lượng của tâm tính, nên thọ mạng vô lượng vậy.

Thọ mạng” của Pháp Thân [vốn] vô thủy vô chung nên là vô lượng. Thọ mạng của Báo Thân có thủy mà vô chung nên là vô lượng. Điều này giữa Phật với Phật đồng cùng một lẽ với nhau, [Phật nào cũng] đều có thể gọi là “Vô Lượng Thọ”. Song Ứng Thân thì tùy nguyện [của Phật và] tùy cơ [của chúng sinh] mà kéo dài thu ngắn chẳng đồng.

Nay do trong số bốn mươi tám nguyện vương của Pháp Tạng tỳkheo từng có nguyện Phật thọ vô lượng cùng người dân thọ mạng cũng (: đều) vô lượng. Giờ đây quả thành nên cũng đúng như nguyện trước, mới có tên riêng là “Vô Lượng Thọ” vậy. Theo nghĩa này ắt thực sự là có hạn lượng (: “a-tăng-kỳ” là vô biên vô lượng, đều là tên của toán số, [mà nói theo toán số thì] thực ra là vô lượng của hữu lượng). Song ba thân không một không khác, nên Ứng Thân cũng có thể tức chính là vô lượng của vô lượng vậy. Hỏi: Phật thọ vô lượng thì đó là điều có thể, song thọ mạng của nhân dân thì sao lại cũng được vô lượng như vậy?

Đáp: Do lực Nguyện căn bổn của Phật là bất tư nghì vậy. Do công đức của Tín, Nguyện, Trì Danh là bất tư nghì vậy. Tín, Nguyện, Trì Danh là chính nhân duyên, lực Nguyện căn bốn của Phật là tăng thượng duyên.

Chữ “cùng” [trong câu “cùng nhân dân Ngài”] là chữ nói tắt gom luôn mọi địa vị cao hơn, nghĩa là từ Đẳng Giác trở xuống. Chữ “Ngài” là chữ nói cho nghĩa “thể đồng với nhau”, nghĩa là thọ mạng của Phật tức là thọ mạng của nhân dân. Do đó đủ thấy danh hiệu “Quang”, “Thọ” đều vốn vì chúng sinh mà kiến lập. Do vì sinh và Phật bình đẳng nên có thể khiến cho người trì danh “chiếu” thì cùng với “quang” [của Phật] dung thông, “thọ” thì đồng với “tịch” của Phật chẳng khác vậy.

Lại nữa, do nghĩa “Vô Lượng Quang” này nên chúng sinh sinh Cực Lạc tức là sinh mười phương, thấy Phật A-Di-Đà tức thấy chư Phật mười phương, [như vậy là] có thể tự độ được, [và cũng] tức là lợi khắp hết tất cả.

Do nghĩa “Vô Lượng Thọ” này mà nhân dân Cực Lạc tức chính là “một đời nữa bổ nhiệm vào chỗ Phật”, đều quyết định đời này thành Phật, không đợi đến đời khác.

Do đó đủ thấy lìa khỏi cái Tâm “vô lượng quang, thọ” đang có ngay trước đây và ở ngay trong một niệm này thì tìm đâu ra được danh hiệu “A-Di-Đà Phật” đây? Mà [ngược lại nếu] lìa khỏi danh hiệu “A-Di-Đà Phật” thì bằng vào đâu để mà chứng thực đến mức thấu triệt hết được cái Tâm “vô lượng quang, thọ” đang có ngay trước đây và ở ngay trong một niệm này đây? Mong các vị hãy suy xét cho thật sâu vào! Hãy suy xét cho thật sâu vào!

Canh2, cũng cho biết luôn thành đạo đã qua mười kiếp:

(: Đinh2, giải thích riêng chủ và bạn gồm hai:

Mậu1, giải thích riêng. Mậu2, kết luận cho thấy rõ.

Mậu1 lại gồm hai:

Kỷ1 là chủ. Kỷ2 là bạn.

Nay là Kỷ1, đoạn này cũng là để giải thích câu “hiện giờ đang thuyết Pháp” trong phần Tựa riêng vậy:)

Xá-Lợi-Phất! A-Di-Đà Phật thành Phật đến nay đã là mười kiếp.

Văn đằng trước đã nói rõ là “Di-Đà hiện tại đang thuyết pháp”, đến văn đây lại nói rõ rằng thọ mạng trong tương lai là vô lượng, nên giờ đây lại phải nói rõ từ quá khứ thành Phật [đến nay] đã qua mười kiếp rồi vậy (: Câu này nói lên sự thành tựu của vị giáo chủ ở Cực Lạc Thế Giới). Tuy vậy song Pháp Thân vốn “không có thành cũng chẳng có không thành”, do đó không nên luận về kiếp. Với Báo Thân thì khi nhân viên quả mãn gọi là “thành”. Với Ứng Thân thì vì [vạn] vật mà hiện ra mình sinh gọi là “thành”. [Hai trường hợp này] đều có thể bàn đến kiếp được.

Lại, Pháp Thân nhân nơi tu đức mà hiển hiện ra, thì cũng có thể luận về “thành”, luận đến kiếp được. Báo Thân tuyệt không hề có chuyện “mới đắc được”, Ứng Thân thì như trăng in trong lòng sông, nên [cả hai thân này] cũng “không có thành cũng chẳng có không thành”, nên cũng không nên luận về kiếp.

Song chư Phật thành đạo mỗi vị đều có “bổn” và “tích”. Bổn địa đều không thể nào lường được, nên tạm thời chiếu theo chỗ “tích” hiện ra thành [Phật] nơi tây phương Cực Lạc mà nói ắt thành Phật mười kiếp tức chính là “ba thân mà một thân thành là tất cả ba thân đều thành”, mà cũng lại là “chẳng phải thành, chẳng phải không thành” mà luận về “thành” vậy.

Hỏi: Duy Thức Luận nói rằng quá khứ, vị lai đều chẳng phải là thực có, thì nay sao lại có thể nói là “quá khứ mười kiếp, vị lai vô lượng” được?

Đáp: Quá khứ, vị lai chẳng phải hiện tại, chẳng phải thường còn, cho nên không thể chấp là thực có được, mà cũng chẳng có lẽ nào để chấp được rằng chúng quyết định là không có. Lại nữa cái “pháp trong một sát na hiện tại” mà cho dù trong Duy Thức Luận có chấp nhận là có thực tác dụng và tự thể, song không phải Luận kia cũng nói là pháp ấy “vô gián tức diệt” không hề một chút dừng đứng, lại [tuy nói thế nhưng] đâu có bị coi là chấp [pháp ấy] quyết định là thực, quyết định là thường đâu?

Thế nên cần phải hiểu rằng do đối với hiện tại giờ đây nên nói quá khứ đã thành mười kiếp. Song quá khứ đã diệt, thì còn đâu có riêng mười kiếp chất đống ở nơi nào đó mà vẫn chưa giáo hóa hay sao?

Lại nữa đối với hiện tại giờ đây nên nói vị lai thọ mạng vô lượng. Song vị lai chưa đến, thì lẽ nào mà có riêng vô lượng kiếp dự trữ ở nơi nào đó rồi dần dà mà lại hay sao?

Đủ biết thời, kiếp không có tự tính, thế nên ba đời ngay nơi tự thể của chúng hoàn toàn là không, song không có tự tính vốn chẳng phải là đoạn diệt, nên [rốt cuộc] ba đời sai khác vẫn hiển nhiên như thế. Tuy rằng “sai khác vẫn hiển nhiên như thế” song đều là bóng dáng hiển hiện ra ngay trong một sát na ở ngay trước mặt đây. Nên mới có câu nói : “Kim cổ mười đời trước sau chẳng lìa khỏi cái niệm đang có đây!” Hãy suy xét lấy!

Phần Đinh1 nói về giáo chủ vi diệu đã giải thích xong.

Lại, thọ của Phật vô lượng mà nay chỉ nói “mười kiếp”, ắt [cái câu nói:] “hiện giờ thuyết pháp” [cho thấy là] cái thời chính pháp còn đang chưa dứt, cốt để khuyến khích tất cả chúng sinh trong ba đời mau cầu vãng sinh để cùng một thọ mạng với Phật, mới khiến một đời thành đạt được vậy.

Lại, vô số Thanh Văn, Bồ-Tát cùng với “Bổ Xứ” nói trong văn dưới đều được thành tựu trong vòng mười kiếp ấy. Điều này chính thức hiển rõ là mười phương ba đời vãng sinh, những vị không thối chuyển vừa nhiều mà vừa dễ nữa.

Đinh2, nói về quyến thuộc vi diệu lại gồm hai Mậu:

Mậu1, Thanh Văn, Bồ Tát vi diệu. Mậu2, người sinh bất thối vi diệu.

Nay là Mậu1 (: Kỷ2, bạn):

Lại Xá-Lợi-Phất! Phật kia có vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử, đều A-La-Hán, chẳng phải toán số có thể biết được. Chư Bồ-Tát chúng cũng nhiều như vậy.

Xá-Lợi-Phất! Cõi nước Phật kia thành tựu như vậy công đức trang nghiêm.

Hỏi: Vãng Sinh Luận có nói: “Nhị Thừa chủng không sinh.” Tại sao Phật kia vẫn có đệ tử Thanh Văn?

Đáp: Định tính Nhị Thừa không hồi hướng Bồ-Đề, không phát đại nguyện ắt không được sinh (: Các hàng định tính Nhị Thừa ở phương khác không sinh về Cực Lạc kia được). Nếu ai trước đã huân tập hành tiểu thừa, lâm chung hồi hướng Bồ-Đề, phát đại thệ nguyện, thì được sinh. Tuy được sinh về nước kia rồi, Phật sẽ thuận theo cơ của họ mà thuyết tiểu pháp, họ liền theo đó chứng quả, (: khiến đoạn kiến và tư hoặc, nên gọi là La-hán) lập tức chuyển vòng lại hướng về Đại Thừa, rồi ra không vướng vào Tiểu Thừa nữa. Thế nên [Thanh Văn ở cõi kia] không giống như Thanh Văn thuộc Tạng Giáo ở cõi này, phải đợi mãi đến Pháp Hoa khai hội mới được nhập vào Viên Giáo. Phải là Thanh Văn của Thông Giáo hay là Thất Trụ của Biệt Giáo do trước đó đã (: Như các vị thuộc thất trụ của Biệt Giáo cũng) đoạn kiến và tư hoặc nên gọi là A-La-Hán vậy, (: song chẳng phải thực là Thanh Văn vậy). Nguyên vì hai giáo Tạng và Thông không được nghe danh Phật của phương khác, nay đã được nghe danh hiệu Di-Đà, tín nguyện vãng sinh, thì trọn đều thuộc về căn cơ do hai giáo Biệt và Viên nhiếp vậy.

Mậu2, kết luận nêu lên cho thấy rõ:

Xá-Lợi-Phất! Cõi nước Phật kia thành tựu như vậy công đức trang nghiêm.

Thanh Văn, Bồ-Tát không thể tính toán được là đều do đại Nguyện, đại Hành trong giai đoạn còn tu nhân của Di-Đà mà thành như vậy, (: Phật cùng Thanh Văn, Bồ-Tát đều là do Nguyện, Hành trong giai đoạn tu nhân của Di-Đà mà thành, cũng là “một thành là tất cả thành” trên phương diện quả. Như thế ắt Phật, Bồ-Tát, Thanh Văn mỗi vị đều “chẳng phải tự, chẳng phải tha”, đều “tự, tha không phải hai”), nên mới nói là “thành tựu như vậy công đức trang nghiêm, khiến cho người tín, nguyện, trì danh được niệm niệm cũng thành tựu y như vậy. Ất1 “trình bày rộng rãi về diệu quả y báo chính báo của cõi kia để khai mở lòng tin” đã giải thích xong.

Mậu2, người sinh bất thối vi diệu:

(: Ất2, đặc biệt khuyên chúng sinh hãy cầu vãng sinh mà phát nguyện gồm hai Bính:

Bính1, nêu lên nhân duyên vô thượng. Bính2, đặc biệt khuyên Tịnh Độ thù thắng.

Nghĩa là “mang theo nghiệp mà vãng sinh”, ra khỏi ba cõi theo chiều ngang; đồng ở trọn bốn độ theo chiều ngang, khai hiển

ra pháp luân của cả bốn Giáo; chúng sinh viên tịnh cả bốn Độ,

viên kiến ba Thân, viên chứng ba bất thối, nhân dân đều một đời là thành Phật. Các điều thù thắng khác biệt siêu tuyệt như thế đều ở nơi hai khoa này mà chỉ điểm ra, nên cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng.

Nay là Bính1:)

Lại Xá-Lợi-Phất! Cõi nước Cực Lạc chúng sinh sinh về đều là a-bệ-bạt-trí, trong ấy có nhiều Nhất Sinh Bổ Xứ, số ấy rất nhiều chẳng phải toán số có thể biết được, chỉ đành nói là vô lượng vô biên a-tăng-kỳ thôi.

A-bệ-bạt-trí” theo nghĩa xứ này là “bất thối”, và gồm ba nghĩa: (1) Một là Vị bất thối: Do chứng nhập vào dòng thánh, không đọa vào phàm địa nữa. (2) Hai là Hành bất thối: Do luôn muốn độ sinh, không đọa vào Nhị Thừa địa nữa. (3) Ba là Niệm bất thối: Do tâm tâm [không ngừng] lưu chảy vào biển tát-bà-nhã vậy.

Nếu chiếu theo cõi này ắt Sơ Quả của Tạng Giáo, Kiến Địa của Thông Giáo, Thất Trụ của Biệt Giáo, Sơ Tín của Viên Giáo gọi là “Vị bất thối”.

Bồ-Tát của Thông Giáo, Thập Hành của Biệt Giáo, Thập Tín của Viên Giáo gọi là “Hành bất thối”.

Sơ Địa của Biệt Giáo, Sơ Trụ của Viên Giáo gọi là “Niệm bất thối”.

Nay trong Tịnh Độ thời những người tuy thuộc năm nghịch, mười ác [song do] mười niệm thành tựu, nên mang theo nghiệp vãng sinh ở hạ hạ phẩm, thời đúng lẽ đều đắc ba bất thối, do bởi Tịnh Độ không có duyên thối chuyển vậy. Lại, một khi sinh Tịnh Độ ắt đều thọ mạng vô lượng, cứ tự nhiên tiến tu thẳng đến Nhất Sinh Bổ Xứ, [rồi] quán các thế giới kia trong mười phương nơi nào không có Phật, nơi nào cơ đã chín, liền đến thị hiện thành Phật, thế nên Nhất Sinh Bổ Xứ rất nhiều, “chẳng phải toán số có thể biết được” vậy (: Tuy nhiên, căn cứ theo Giáo và Đạo, thì nếu đã là phàm phu ắt chẳng phải thuộc các địa vị Sơ Quả v.v…; nếu là Nhị Thừa ắt chẳng phải là Bồ-Tát v.v..; nếu là dị sinh ắt chẳng phải là đồng sinh tính v.v… Lại, Niệm bất thối chẳng còn là dị sinh nữa, Hành bất thối chẳng phải chỉ là Kiến Đạo, Vị bất thối chẳng phải là nhân dân. [Theo lẽ ấy, nếu cho rằng sinh về Cực Lạc là bước] nhảy vọt ắt thành đại vọng, [nếu cho là do] tiến bộ lên thì ắt [phải] bỏ đi danh xưng cũ, [vì thế nên] duy chỉ có “đồng cư” của Cực Lạc mới là tất cả đều chẳng phải, tất cả đều phải. Mười phương cõi Phật không đâu có được danh tướng như vậy, không đâu có được cấp vị như vậy, không đâu có được pháp môn như vậy. Nếu chẳng phải do chỗ cùng cực của Tâm Tính, do sự huân tập đặc thù của Trì Danh, do đại Nguyện của Di-Đà, thì làm sao mà có được như vậy?

“Nhất Sinh Bổ Xứ” là một đời này thôi là bổ nhiệm vào ngai vị Phật, như Di-Lặc, Quan Âm v.v… Nhân dân của Cực Lạc đều một đời thôi là thành Phật, người người trọn đều thực chứng Bổ Xứ, thế nên “trong ấy phần nhiều” là các bậc thượng thiện như vậy, không thể đếm biết được.

Lại nữa, cả một đại thời giáo của Thích-Ca chỉ có Hoa Nghiêm là nói về “một đời là viên mãn”, song nhân của “một đời viên mãn” này ắt phải đến mười Đại Nguyện Vương trong phẩm Phổ Hiền Hành Nguyện cuối cùng hết [của Kinh] mới dẫn về An Dưỡng, tạm lấy điều ấy để khuyến khích hải chúng của Hoa Tạng tiến lên.

Chao ơi! Phàm phu mà sánh được với đăng Bổ Xứ, quả là điều đề xướng dị kỳ, là điểm luận bàn tối cực, không thể thăm dò đong lường gì được. Những [chân lý mà người học] bẩm thọ nơi Hoa Nghiêm, đều ở ngay đây, trong Kinh này. Song thiên hạ xưa nay người tin thì lác đác mà kẻ nghi thì đông đảo, lời lẽ thì lắm thứ mà ý nghĩa thì che mờ, tôi chỉ còn cách là mổ trái tim này mà trích máu ra thôi!).

Phần đầu Ất1 “trình bày chi tiết về diệu quả y báo chính báo của cõi kia để khai mở lòng tin” đã giải thích xong.

Ất2, khuyên chúng sinh phát nguyện trì danh để thành lập nhân gồm ba Bính:

Bính1, khuyên phát nguyện. Bính2, khuyên lập hành. Bính3, tổng kết khuyên.

Nay là Bính1 (Bính2, đặc biệt khuyến khích): Xá-Lợi-Phất! Chúng sinh nào nghe hãy nên phát nguyện, nguyện sinh nước kia. Tại sao như vậy? Được cùng các người thượng thiện như vậy chung cùng một chỗ.

Phần trước đã nêu lên các diệu quả về y báo và chính báo của cõi kia để khuyến cho thâm tín. Nay lại khuyến ai nghe mà tin thì hãy theo đó phát nguyện mà cầu vãng sinh. Tín, Nguyện hai thứ này là yếu lĩnh của việc vãng sinh Tịnh Độ. Tại sao? Nếu không nghe có các tên về y báo và chính báo của Cực Lạc, hoặc được nghe nói mà lại chẳng tin, thì không được gọi là “nghe” vậy.

Nay đã được “nghe” thì tức là thuộc về sơ cơ của hai Giáo Biệt và Viên rồi vậy, nên [Phật] mới đem việc phát Nguyện bồ-đề mà dạy cho. Nguyên vì cõi kia tuy thông cho cả bốn Độ, song đã ở ngoài ba cõi của Sa-Bà này, lại chẳng phải cảnh giới Niết-Bàn “thiên không” do Nhị Thừa tu chứng, thế nên chỉ chịu phát nguyện cầu sinh tức thuộc về hoằng thệ của hai Giáo Biệt, Viên nhiếp lấy. Do đã không cầu phúc báo của người trời, lại cũng không cầu Thanh Văn, Duyên Giác, thì không phải đại nguyện Bồ-Đề thì là gì đây? Giả như hoặc cầu người trời hay cầu hướng về Tịch, thì chẳng còn là nguyện sinh nước kia nữa rồi!

(: Các La-Hán, Bồ-Tát đề cập đến trước đó chỉ có thể nói là “người thiện”, duy chỉ các vị Bổ Xứ do ở địa vị cùng cực của giai đoạn tu nhân nên mới nói là “thượng [thiện]”. Số ấy rất nhiều nên mới dùng chữ “các”.

“chung cùng một chỗ” thì cũng không khác gì nói “phàm thánh đồng cư”. Thông thường các Thực Thánh là do nghiệp hữu lậu trong quá khứ, các Quyền Thánh là do nguyện đại từ bi, nên phàm phu được cùng các Thánh Nhân ấy đồng cư. Đến khi Thực Thánh xả thân, Quyền Thánh cơ tận, thời [Thánh] thăng [phàm] trầm hoàn toàn khác nhau, [phàm] khổ [Thánh] sướng sai biệt đất trời, thì đó chỉ là “tạm đồng cư” chứ không phải là “cứu cánh đồng cư” vậy.

Lại, giữa khoảng đất trời này kẻ được thấy nghe [việc sinh về Cực Lạc] vốn ít, mà khi được thấy nghe rồi, thì người được gần gũi đi theo lại là số ít. Lại, Thánh Nhân thời Phật tuy nhiều, song như châu như báu, không thể có khắp cùng hết quốc độ [như số chúng sinh nhiều] như bụi như sao.

Lại, cư tuy đồng song những việc phải làm, phải thực hiện thì hoàn toàn không đồng.

Nay, cùng lấy nghiệp bất tư nghì cảm sinh [Cực Lạc] “chung cùng một chỗ” mà làm thầy bạn [cho nhau,] như huân xướng sáo hòa, đồng tận vô minh, đồng đăng Diệu Giác. Theo đó thời hạ phàm chúng sinh nơi Niệm bất thối mà siêu hết bốn mươi mốt địa vị của giai đoạn nhân.

Nếu bảo đó là phàm phu thì [kẻ phàm này] lại không trải qua địa vị dị sinh mà chắc chắn bổ vào chức vị Phật, cùng Quan Âm, Thế Chí không khác. Nếu bảo đó là Nhất Sinh Bổ Xứ, thì [kẻ phàm ấy] lại chỉ được gọi là phàm phu chứ không thể gọi là Đẳng Giác Bồ-Tát. Điều này màng lưới của các Giáo pháp chẳng thể nào tóm thu nổi, màng lưới của các cõi độ chẳng thể nào sánh tỉ cùng.

Phải hiểu việc “đại sự nhân duyên” của chúng ta, với cửa ải “đồng cư” này mà qua lọt được là tối nan. Chỉ duy có Đồng Cư của Cực Lạc là siêu xuất ra khỏi đồng cư của mười phương. Hiểu rõ điều này mới có thể thâm tín được lực Nguyện của DiĐà. Tin được lực Phật mới có thể thâm tín được công đức của Danh Hiệu. Tin được Trì Danh mới có thể thâm tín được Tâm Tính của chúng ta vốn bất khả tư nghì vậy.

Có đủ các thâm Tín như vậy mới có thể phát lên đại Nguyện. Hai chữ “hãy nên” trong văn Kinh tức chỉ cho thâm Tín. Thâm tín mà phát nguyện tức vô thượng Bồ-Đề.)

Hợp Tín và Nguyện này lại, chính đó là chỉ nam của Tịnh Độ, và việc “chấp trì Danh Hiệu” ở văn dưới (: Y theo đó mà chấp trì Danh Hiệu,) mới là chính Hành. Nếu Tín, Nguyện kiên cố thì cho dù một niệm hay mười niệm lúc lâm chung quyết đều được vãng sinh. Nếu không có Tín, Nguyện thì cho dù có đem danh hiệu này ra làm câu “ngữ đầu” mà trì cho đến gió thổi chẳng vào mưa tuôn chẳng ướt, chẳng khác gì như tường đồng vách sắt đi nữa, thì vạn người cũng chẳng có lẽ nào được một đắc sinh Tịnh Độ. Người tu tịnh nghiệp không thể không biết điều này vậy.

“Tại sao như vậy” trở xuống là đưa vấn đề ra để giải thích duyên cớ cần phải phát nguyện vãng sinh.

“Được cùng các người thượng thiện như vậy chung cùng một chỗ” là chỉ cho các người như vô số A-La-Hán, vô số Bồ-Tát và vô số Nhất Sinh Bổ Xứ mà văn trước nói đến. Giả như không có đại Tín, đại Nguyện thì làm sao được cùng với các người thượng thiện này chung cùng một chỗ được đây?! Kinh A-Di-Đà Đại Bổn cũng lấy việc phát nguyện Bồ-Đề làm chính, thực không khác gì với Kinh này.

Bính2, khuyến lập hành (: Ất3, chính thức chỉ cho hành giả chấp trì danh hiệu để lập Hành, gồm hai Bính:

Bính1, chính thức chỉ dạy vô thượng nhân quả. Bính2, tái khuyến.

Nay là Bính1):

Xá-Lợi-Phất! Không thể do nhân duyên thiện căn phúc đức ít mà được sinh nước kia.

Xá-Lợi-Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe nói A-Di-Đà Phật, chấp trì danh hiệu, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bẩy ngày, nhất tâm bất loạn. Người này vào lúc lâm chung A-Di-Đà Phật cùng chư Thánh chúng hiện trước người ấy. Người này chung thời, tâm không điên đảo, liền được vãng sinh cõi nước Cực Lạc của Phật A-Di-Đà.

Người sinh Tịnh Độ liền được bất thối, lại cùng các người thượng thiện chung cùng một chỗ. Một pháp môn siêu xuất theo chiều ngang bất khả tư nghì như thế, nên chẳng phải là kẻ thiện căn phúc đức ít ỏi mà có thể sinh được.

Bồ-Đề chính đạo gọi là “thiện căn”, tức là nhân chính. Các thứ trợ đạo bố thí, trì giới, thiền định v.v… gọi là “phúc đức”, tức là trợ duyên.

Bồ-Đề của Thanh Văn, Độc Giác gọi là “thiện căn ít”, phúc nghiệp hữu lậu của người, trời gọi là “công đức ít”, (: Thiện căn bồ-đề của Thanh Văn, Độc Giác là “ít”, phúc đức phúc nghiệp hữu lậu của người, trời là “ít”) đều không thể sinh Tịnh Độ được. Duy chỉ bằng cách Tín, Nguyện, chấp trì Danh Hiệu thời trong mỗi một âm thanh đều trọn có đủ thiện căn phúc đức “nhiều”. Cho dù là tán tâm mà xưng danh, thiện căn phúc đức cũng còn không lượng được, huống gì là “nhất tâm bất loạn” kìa! Nên mới khiến [cái lẽ] “cảm ứng đạo giao”, chữ thành là ấn hoại, Di-Đà, Thánh chúng không lại mà lại, đích thân làm việc (: chiếu cố) tiếp dẫn, tâm thức của hành giả không đến mà đến, mượn hoa sen báu mà làm thể chất vậy.

thiện nam tử, thiện nữ nhân” là bất kể tại gia hay xuất gia, bất luận giầu nghèo, già trẻ, cũng chẳng kể gì sáu thú bốn sinh, chỉ cần ai được nghe danh Phật tức [có nghĩa] là thiện căn nhiều kiếp thành thục, [khi ấy] ngay năm nghịch mười ác cũng đều được coi là “thiện nam, nữ” vậy.

“nghe nói A-Di-Đà Phật” tức là Huệ do nghe pháp mà thành, “chấp trì danh hiệu” tức là Huệ do tư duy pháp mà thành, “nhất tâm bất loạn” tức là Huệ do tu tập pháp mà thành.

“A-di-Đà Phật” là Danh Hiệu bao la với muôn vàn đức hạnh, lấy Danh này để có được (: khơi lên) đức thì sẽ gom hết [mọi đức] không gì không tận, nên mới lấy ngay việc “chấp trì danh hiệu” ấy mà làm chính Hành, chẳng cần phải dính gì đến các hành tham cứu, quán tưởng, hết sức là giản dị, hết sức là thẳng ngay vào.

Nghe rồi tin, tin rồi nguyện, rồi mới chịu chấp trì. Không tin, không nguyện thì coi như là không nghe, tuy cũng được coi là nhân xa, nhưng không được coi là “Huệ do nghe mà thành”. “chấp trì” ắt niệm niệm đều nhớ danh hiệu Phật, thế nên là “Huệ do tư duy”. Tuy nhiên, có sự trì và lý trì: Sự trì là tin có Phật ADi-Đà ở phương Tây, song chưa thấu đạt chính “tâm này làm Phật, tâm này là Phật”, chỉ do quyết chí nguyện cầu được sinh, như con nhớ mẹ không tạm thời quên, thì gọi là sự trì. Lý trì là tin Phật ADi-Đà ở phương Tây kia là Tâm ta có “đủ”, là Tâm ta “tạo”, tức lấy hồng danh mà tự Tâm có đủ, tự Tâm tạo ra làm cảnh để trói tâm lại, khiến không giây phút lãng quên vậy, thì gọi là lý trì. “một ngày cho đến bẩy ngày” là khắc định hạn kỳ để hoàn thành công việc. Lợi căn một ngày là đắc bất loạn, độn căn bẩy ngày mới đắc bất loạn, trung căn thì bất định hoặc hai, ba, bốn, năm, sáu ngày. Lại, lợi căn có thể được bẩy ngày bất loạn, độn căn chỉ có thể được một ngày không loạn, trung căn cũng bất định hoặc sáu, năm, bốn, ba, hai ngày. Trì cho đến nhất tâm bất loạn liền thành “Huệ do tu mà thành” vậy.

nhất tâm” cũng có hai loại, nghĩa là bất kể là sự trì hay lý trì, mà trì cho đến phục trừ phiền não, cho đến trước hết là “kiến, tư” tận trừ, thì đều gọi là “sự nhất tâm”. Lại, bất luận là sự trì hay lý trì, mà trì cho đến tâm khai tỏ thấy ra Phật bổn tính, thì đều gọi là “lý nhất tâm”.

Sự nhất tâm thời không bị kiến và tư hoặc làm mê loạn nữa, lý nhất tâm thời không bị “hai bên” làm mê loạn nữa, tức là “Huệ do tu mà thành” vậy.

Không bị kiến, tư làm mê loạn nên cảm được Phật với Thân biến hóa và chư thánh chúng hiện ra ngay trước mình. [Lúc ấy] tâm không khởi lên các điên đảo của ba Hữu trong thế giới Sa-Bà nữa, mà liền được vãng sinh về hai loại Cực Lạc thế giới là Đồng Cư và Phương Tiện.

Không bị “hai bên” làm mê loạn nên cảm được Phật với Thân thọ dụng cùng chư thánh chúng hiện ngay trước mình. [Lúc ấy] tâm không khởi lên các điên đảo thuộc về hai Kiến là sinh tử và niếtbàn, mà liền được vãng sinh về hai loại Cực Lạc thế giới là Thực Báo và Tịch Quang.

Phải hiểu chấp trì Danh Hiệu tuy đã là (: đã vừa) giản dị, mà còn cực “đốn” cực “viên” nữa. Do một niệm tương ưng tức một niệm [là] Phật, niệm niệm tương ưng tức niệm niệm [là] Phật, nên chẳng phiền quán tưởng, chẳng cần tham cứu, ngay đấy viên minh, chẳng có sót gì, chẳng còn thiếu gì. Người căn thượng thượng rốt cũng không thể vượt qua được lớp cửa này, mà kẻ hạ hạ căn cũng có thể đến được tận lãnh vực này.

Các Phật mà người kia cảm được, cũng như các độ người ấy sinh về cứ thế mà tiến hơn lên, chứ không phải chỉ cứ một mực không khác. Có thể nói là bao quát tám Giáo theo chiều ngang, thấu suốt năm thời theo chiều dọc, cho nên [Phật] mới bi tâm triệt để “không hỏi mà tự nói”, rồi lại còn thâm trầm cảm thán Kinh này là khó tin vậy.

Hỏi: Quán Kinh chuyên nói về tu quán, sao lại nói là “chẳng phiền quán tưởng”?

Đáp: Chính nghĩa này là từ Quán Kinh mà ra. Kinh ấy nhân vì thắng quán chẳng phải tâm lực của phàm phu mà với tới được, thế nên đến cách quán thứ mười ba mới khai riêng ra cách quán thấp hơn [là quán] về [Phật] tượng. Song kẻ chướng nặng vẫn không thể niệm được Phật [tượng] ấy, nên cách quán thứ mười sáu mới phải mở toát ra cánh cửa “xưng danh”. Nay Kinh này vì thời mạt kẻ chướng trọng rất nhiều nên chủ yếu chuyên về quán thứ mười sáu. Phải hiểu tuy căn của người là độn, song thân tượng của trượng sáu [tức] tám thước và danh tự của Vô Lượng Thọ Phật chưa từng bao giờ lại không phải là “tâm làm ra, tâm là đó”. Nên người quán kém hơn “chẳng phiền” gì phải quán trội hơn và người xưng danh chẳng nhọc gì phải quán tưởng vậy.

Hỏi: Các Tổ Thiên Kỳ, Độc Phong chủ trương tham câu “người niệm Phật là ai?”, vậy sao lại nói là “chẳng cần tham cứu”?

Đáp: Nghĩa này chính từ các Tổ Thiên Kỳ ấy mà ra.  Các Tổ đời trước do vì người niệm Phật không khế hợp được với bi tâm triệt để của Phật Thích-Ca, nên đứng ngoài chẳng an mới ngay nơi [câu niệm Phật] ấy mà cật vấn, cốt một phen dùng mãnh đề tỉnh lại, chứ nào phải chỉ “đêm dài rồi lại sáng”. [Thế mà] chúng ta cho đến ngày nay vẫn cứ không chịu niệm Phật với tâm chết [sạch hết mọi thứ], lại đi khổ cầu chấp lấy “miếng ngói gõ cửa” đem vào trong nhà mà khện “cha mẹ thân sinh” ra mình, thì hóa ra đối với chư Tổ lại thành ác nghịch chứ nào phải là khéo thuận theo gì đâu!

Hỏi: Nói thế đối với người tâm dứt khoát [chịu niệm Phật] thì nói được, nhưng còn kẻ chưa dứt khoát thì sao mà [tâm, Phật] tương ưng được?

Xin thưa: Ôi! Chính chỉ vì cái chỗ chưa dứt khoát ấy cho nên mới đòi ông phải dứt khoát tâm mà tương ưng. Các ông chính tín chưa khai mở được, như da bò còn sống không thể uốn nắn. Phải hiểu rằng tuy người có mắt thì không lẽ nào lại đi thắp đèn dưới ánh mặt trời, song kẻ không mắt thì cũng việc gì phải ngay trong ban ngày mà khổ công tìm kiếm đuốc đèn! Đại Thế Chí Pháp Vương Tử có nói: “Chẳng cần mượn đến phương tiện, mà tự được tâm khai.” Câu nói này là câu nói như khối lửa lớn trong [các loại] Nhất Hành tam-muội vậy. Ai dám chạm vào mà lại không bị cháy cho được?

Hỏi: Khi lâm chung thấy Phật hiện ra, làm sao bảo đảm được là chẳng phải Ma?

Đáp: Người tu tâm vốn không quán Phật mà Phật chợt hiện ra, điều ấy không phải là ý mình mong mỏi nên gọi là Ma sự. Còn niệm Phật mà thấy Phật, thì đó là tương ưng, huống gì vào lúc lâm chung chẳng phải lúc vời Ma đến, có gì đâu mà phải nghi hoặc. Hỏi: “Bẩy ngày không loạn” là vào lúc bình thường hay vào lúc lâm chung?

Đáp: là nói theo lúc bình thường.

Hỏi: Nếu là nói theo lúc bình thường, thì giả như có người sau khi “bẩy ngày không loạn” lại khởi hoặc tạo nghiệp, cũng được vãng sinh hay sao?

Đáp: Nếu đúng là người đắc được nhất tâm bất loạn thì quyết không có chuyện khởi hoặc tạo nghiệp nữa.

Hỏi: “Mười niệm” trong Kinh Đại Bổn, “một niệm” trong Luận Bảo Vương là nói theo lúc bình thường hay nói theo lúc lâm chung?

Đáp: “Mười niệm” là nói chung cho cả hai lúc. Nếu “tảng sáng mười niệm” thì thuộc về lúc bình thường, còn nếu “mười niệm được sinh” ắt cùng với “mười tiếng xưng danh” của Quán Kinh không khác, tức chỉ nói theo (: thuộc) lúc lâm mạng chung thời. Còn nói “một niệm” là chỉ y theo lúc lâm chung thôi.

Hỏi: Mười niệm, một niệm đã đều được sinh, thì cớ gì Kinh này lại cần đến bẩy ngày?

Đáp: Nếu không có công phu của bẩy ngày vào lúc bình thường, thì làm sao có được mười niệm, một niệm vào lúc lâm chung? Ngay đến các kẻ năm nghịch mười ác thuộc hạ phẩm hạ sinh mà trong Quán Kinh nói đến, vốn hiện đời chẳng từng có tu hành, song đều do nhân đời trước thành thục, nên mới cảm được vào lúc lâm chung gặp được thiện hữu, nghe là tin, nguyện. Điều này trong cả vạn [người] không có được một [người thuộc trường hợp ấy,] há có thể nào lại chẳng cần dự bị tư lương gì trước mà lại được may mắn là một trong số vạn người ấy vậy! Trong Tịnh Độ Hoặc Vấn có đả phá điều này quả là tường tận nhất, người ngày nay không thể không đọc sách đó được.

Hỏi: Tây phương cách đây mười vạn ức cõi thì làm sao sinh ngay được?

Đáp: Mười vạn ức cõi không hề ra khỏi cái Tâm Tính hiện đang có trước đây ngay ở trong một niệm, do vì Tâm Tính vốn không có ngoài vậy. Lại, nương vào lực Phật tiếp dẫn thì sinh ngay lập tức có gì là khó. Như trong kính chiếu mấy chục lớp non nước lầu gác, số các tầng lớp ấy hiển hiện ra rõ ràng, thực không có gần xa. Chiếu một cái là đều hiện rõ không hề thấy có trước sau. “Từ đây về phương Tây qua mười vạn ức cõi Phật có thế giới tên gọi Cực Lạc” cũng y như vậy. “Cõi ấy có Phật hiệu A-Di-Đà hiện giờ đang thuyết pháp” cũng y như vậy. “Người này vào lúc mạng chung, A-Di-Đà Phật cùng chư thánh chúng hiện trước người ấy. Người này chung thời tâm không điên đảo, liền được vãng sinh cõi nước Cực Lạc của Phật A-Di-Đà” cũng y  như vậy. Phải hiểu mỗi chữ một đều là Hải Ấn Tam-Muội, là những câu văn linh thiêng của Đại Viên Kính Trí vậy.

Hỏi: Đã phán Tín, Nguyện thuộc Huệ Hành, Trì Danh thuộc (: phán) Hành Hành, ắt chấp trì danh hiệu phải là trợ hành, vậy sao lại gọi là Chính Hành? Làm sao được trong mỗi một tiếng đều trọn đủ thiện căn phúc đức “nhiều”?

Đáp: Y theo “nhất tâm” mà nói Tín, Nguyện, Hành, chứ không phải là thứ tự trước sau, cũng không phải là cố định phải có ba. Bởi vì không Nguyện, không Hành thì không là chân Tín. Không Hành, không Tín thì không là chân Nguyện. Không Tín, không Nguyện thì không là chân Hành. Nay toàn do nơi Tín, Nguyện mà trì Danh Hiệu, nên trong mỗi một tiếng cả ba Tín, Nguyện, Hành đều trọn “viên” đủ trong từng tiếng một. Cho nên gọi là nhân duyên thiện căn phúc đức “nhiều”. Những gì Quán Kinh nói là “do xưng danh Phật nên trong niệm niệm một trừ được tám mươi ức kiếp tội sinh tử,” chính là những gì nói ở đây vậy. Nếu như thiện căn phúc đức không “nhiều” thì làm sao trừ được tội lớn như thế? Hỏi: Lực niệm vào lúc lâm chung mãnh liệt tha thiết nên có thể trừ được tội nhiều kiếp, hằng ngày chí tâm xưng danh cũng trừ được tội hay không?

Đáp: như mặt trời ló dạng mọi ám tối tiêu sạch, xưng hồng danh Phật vạn tội tự diệt.

Hỏi: Tán tâm xưng danh cũng có thể trừ tội và được vãng sinh chăng?

Đáp: Chắc chắn là cũng (: Công đức của danh hiệu bất tư nghì, thì sao lại không) trừ được tội, song không chắc là vãng sinh. Chắc chắn trừ tội là do công đức của danh hiệu chân thực bất khả tư nghì. Không chắc vãng sinh là bởi cứ một mực mà tán thiện thì khó địch lại với tội vô thủy tích tập. Cũng do vì tội trọng sinh tử mà chúng ta đã tạo trong vô thủy kiếp nay, giả sử các tội trọng ấy mà có thể tướng thì khắp cõi hư không cũng không thể dung chứa nổi. Nên tuy trong vòng trăm năm từ sinh đến tử, cứ mỗi ngày đêm [niệm] mười vạn [danh hiệu] Di-Đà, mỗi mỗi tiếng tận diệt tám mươi ức kiếp tội trọng sinh tử, song số tội được diệt cũng chỉ như đất nơi móng tay, số tội chưa diệt như đất của đại địa. Duy có thể niệm đến “nhất tâm bất loạn”, ắt như người dũng kiện phá thủng vòng vây mà ra, chẳng bị ba quân ức chế được nữa. Hỏi: Đã không chắc được sinh thì xưng danh có ích gì?

Đáp: Vừa (: Song) xưng danh Phật liền thành chủng tử thành Phật, y như kim cương rồi ra không thể hủy hoại được, nên đời Phật một ông lão muốn cầu xuất gia, năm trăm thánh chúng dùng mắt đạo xét đều nói không từng có thiện căn nên không chịu thế độ. Sau đến nơi Phật, Phật độ cho liền. Đệ tử hỏi Phật về nhân duyên, Phật nói, “ông này vô lượng kiếp về trước vào núi nhặt củi, bị hổ đuổi gấp leo lên cây tránh, hổ lại chạy vòng quanh cây gầm thét, do hoảng sợ quá nên thốt lên tiếng xưng ‘nam mô Phật’, nay thiện căn ấy thành thục, nên gặp Ta đắc đạo. Điều này chẳng phải bằng mắt đạo của các vị Nhị Thừa mà có thể biết nổi vậy.” Theo đó mà xét, [thì những gì] trong phẩm Phương tiện của Pháp Hoa nói về việc nếu nơi các Phật quá khứ mà có tán loạn xưng danh [đi nữa,] cũng đều đã thành Phật, thì há lại chẳng tin được hay sao?

Tôi phủ phục xuống mà nguyện xin các vị nâu sồng, bạch y, trí khôn, ngu dại đối với pháp môn viên đốn vô thượng giản dị thẳng thắn này đừng có coi đó là khó mà liền sinh thối khước, đừng có coi đó là dễ mà lơ là chẳng đốc cần, đừng có coi đó là nông mà vọng thành khinh mạo, đừng có coi đó là thâm mà chẳng dám đảm nhậm. Do vì Danh Hiệu được trì ở đây là chân thực bất khả tư nghì, và Tâm Tính năng trì cũng chân thực bất khả tư nghì. Trì một tiếng là một tiếng bất khả tư nghì, trì mười, trăm, ngàn, vạn, vô lượng vô số tiếng, ắt mỗi một tiếng đều trọn bất khả tư nghì vậy.

Bính3, tổng kết khuyến khích (Bính2, khuyến khích lại lần nữa): Xá-Lợi-Phất! Ta thấy lợi ấy nên nói lời này. Nếu có chúng sinh nghe lời nói này thời phải phát nguyện sinh cõi nước kia.

“Ta thấy” là thấy bằng mắt Phật, xét đến tận cùng tường tận rõ ràng, do Tín, Nguyện mà chấp trì Danh Hiệu, thì đích xác là thiện căn phúc đức “nhiều”. Do nhân duyên thiện căn phúc đức này, đích xác cảm được Phật cùng thánh chúng đến đón, đích xác được sinh về bốn loại Cực Lạc Thế Giới.

“lợi ấy” là xuất khỏi năm trược theo chiều ngang, viên tịnh cả bốn Độ, thẳng đến địa vị bất thối mới tận cùng. Đó là cái “lợi” của công đức bất khả tư nghì vậy. Lại nữa, “lợi ấy” là thể theo lúc mệnh chung tâm không điên đảo mà nói. Bởi vì ở uế độ mà tự lực tu hành, đối với cửa ải sinh tử là khó mà ra công nhất. Bất kể là tu ngu ngơ hay huệ cuồng loạn thì [dĩ nhiên là] tan tác chẳng chút khí sức, mà đến ngay cả người ngộ nhập vào “cửa” sâu xa, hành bước tiềm ẩn xác thực đi nữa, giả như chút ít tập khí chưa trừ, thì chẳng khỏi phải theo lực mạnh mà rơi vào nẻo lệch. Như câu Vĩnh Minh Tổ Sư nói “Mười người chín sai đường, ấm cảnh chợt hiện tiền, tự động tùy theo đi!” Câu nói này quả tê tái cả tim gan vậy! Sơ quả mịt mù lúc xuất thai, bồtát mê mờ khi cách ấm, hoàn cảnh này há còn lực đâu để làm chủ tình hình mà được thể buông lơi. Duy chỉ Tín, Nguyện, Trì Danh, do nương vào Tha Lực, vào nguyện từ bi của Phật, chắc chắn công không uổng không, Di-Đà và thánh chúng hiện ra trước an ủi dẫn đạo nên được tâm không điên đảo, tự tại vãng sinh. Phật thấy cái khổ đảo loạn của chúng sinh vào lúc lâm chung, nên đặc biệt bảo nhậm việc này, thế nên mới ân cần một lần nữa khuyến khích phát Nguyện, do Nguyện mới dẫn đạo được Hành vậy.

Hỏi: Phật đã là do “tâm làm, tâm là” thì sao không nói dứt khoát là “tự Phật” mà rồi lại cứ cho rằng “tha Phật” là hơn hết, là tại sao vậy?

Đáp: Pháp môn này hoàn toàn nằm ở chỗ “tỏ rõ tha tức tự”. Nếu kiêng nói “tha Phật” ắt là “tha” kiến chưa quên. Còn nếu thiên nặng về “tự Phật” thì lại thành điên đảo “ngã” kiến.

Lại, trong bốn ích tất-đàn thì ba ích lợi sau không khởi lên một mình được. Giả như không từ “thế giới [tất-đàn]” mà thâm phát tin tưởng hoan hỉ, thì đến ngay hai ích “thích”, “chán” còn chưa thể sinh được, huống gì đòi ngộ nhập “lý Phật”. Duy chỉ [còn cách] tức “sự trì” mà đạt “lý trì”. Cho nên Di-Đà, thánh chúng hiện ra trước, tức chính là bổn tính minh hiển; vãng sinh nước kia gặp Phật nghe pháp, tức chính là thành tựu huệ thân, không do tha mà ngộ. Pháp môn này thâm diệu, phá tận hết tất cả hí luận, chém bung hết tất cả ý kiến, duy chỉ các bậc Mã Minh, Long Thụ, Trí Giả, Vĩnh Minh mới đảm đương được hết một cách triệt để. Còn ngoài ra các kiểu thế trí biện thông, “thông nho thiền khách” có hết sức tư duy lượng độ, thì càng suy chỉ càng xa! Lại chẳng bằng các vị ngu phu, lão phụ chân thực niệm Phật mà lại được ngầm thông với Phật trí, thầm hợp với Đạo diệu vậy.

“Ta thấy lợi ấy nên nói lời này” phân minh do mắt Phật, âm Phật ấn định sự việc này, thì có lẽ nào lại có thể đi vi kháng lại, không chịu khéo thuận theo để mà nhập vào kìa?!

[Phần Giáp2] Chính Tông Phần đã giải thích xong.

Giáp3, Lưu Thông Phần:

Tín, Nguyện, Hành ba, tức yếu chỉ của trọn bộ Kinh này, đã [nói] đầy đủ rồi. Pháp môn vô thượng này rất thâm sâu khó tin, nên [Phật] đã “không hỏi mà tự nói”, lấy đó mà phát khởi [ra toàn bộ Kinh xong,] lại dẫn sáu phương chư Phật với tướng lưỡi dài rộng để cùng chứng minh mà lưu thông cho rộng rãi. Nếu chẳng có lực lưu thông này thì sao có thể khiến cho công cụ diệu pháp được không tắc nghẽn [mà thông] đến đời sau, và cho tâm yếu “viên đốn” này được vĩnh viễn truyền lại cho những ai chưa được nghe đây?

Văn [của Lưu Thông Phần] phân làm năm đoạn (Ất): (1) Một, dẫn ra sáu phương chư Phật xưng tán khuyến phát Tín để lưu thông. (2) Hai, lại nêu danh ra lần nữa để giải thích khuyến phát Tín mà lưu thông. (3) Ba, chiếu theo “đã, đang, sẽ” khuyến phát Nguyện mà lưu thông. (4) Bốn, dẫn chư Phật xưng tán “việc khó làm” thúc đẩy phát Tín để lưu thông. (5) Năm, đại chúng hoan hỉ tín thọ mà lưu thông.

Ất1 gồm sáu Bính:

Bính1 là phương Đông đến Bính6 là phương Trên. Bản dịch đời Đường gồm mười phương, phải hiểu là văn thì có đủ có lược, song nghĩa thì không hề tăng giảm.

Giờ là Bính1:

(: Tín, Nguyện, Trì Danh một pháp này viên thu, viên siêu tất cả mọi pháp môn. Dọc thì cùng với tất cả pháp môn hỗn hợp đồng với nhau, ngang thì cùng với tất cả pháp môn hoàn toàn khác hẳn. Trong các Kinh, Luận cũng có nghĩa “ngang”, đó là tùy chỗ đoạn hoặc có nông sâu, tức nơi Đồng Cư thấy ba Độ trên. Thế có nghĩa là y theo chỗ “chứng” gọi là “ngang”, song y theo chỗ “đoạn” thì vẫn là “dọc” vậy, [Phật] đã “không hỏi mà tự nói” thì ai [ngoài Phật] có thể tuyên xướng chiêu tập mà lưu thông đây? Chỉ có Phật cùng Phật mới có thể cứu xét đến tận cùng thực tướng của chư pháp. Kinh này duy chỉ là cảnh giới của Phật, duy chỉ Phật, Phật mới có thể giúp nhau lưu thông được thôi.

Văn chia làm hai Ất:

Ất1 là khuyến khắp.

Ất2 là kết khuyến.

Ất1 gồm ba Bính:

Bính1, khuyến Tín lưu thông.

Bính2, khuyến Nguyện lưu thông.

Bính3, khuyến Hành lưu thông.

Bính1 gồm hai Đinh:

Đinh1, lược dẫn nêu lên tựa đề.

Đinh2, đưa ra giải thích tựa đề của Kinh.

Đinh1 gồm sáu Mậu:

Mậu1 là phương Đông, cho đến Mậu6 là phương Trên. Bản dịch đời Đường gồm mười phương, bản dịch đây lược nhiếp vậy.

Giờ là Mậu1:)

Xá-Lợi-Phất! Như Ta giờ đây tán thán lợi ích công đức bất khả tư nghì của A-Di-Đà Phật, phương Đông cũng có A-SúcBệ Phật, Tu-Di Tướng Phật, Đại Tu-Di Phật, Tu-Di Quang Phật, Diệu Âm Phật, đồng như vậy hằng hà sa số chư Phật, mỗi vị ở cõi nước mình, hiện ra tướng lưỡi dài rộng trùm khắp ba ngàn đại thiên thế giới, nói lời thành thật: “Chúng sinh các người hãy tin vào Kinh ‘Ca Ngợi Công Đức Bất Khả Tư Nghị, Tất Cả Chư Phật Đều Hộ Niệm’ này!”

Tiếp ngay theo Chính Tông Phần bên trên tán thán rộng rãi các sự trang nghiêm về y báo, chính báo của Phật A-Di-Đà, khuyến người Tín, Nguyện, Trì Danh thẳng lên “bất thối”. Đến đây trong phần lợi ích của đại công đức xuất thế, nhất lại là bất khả tư nghì, thế nên không phải duy mình “Tôi” là Thích-Ca Như Lai tán thán, mà trọn cả sáu phương chư Phật không vị nào lại không dị khẩu đồng âm để cùng tán thán vậy.

Nóibất khả tư nghì” tóm lược có năm ý: (1) Một là do siêu lên ba cõi theo chiều ngang, chẳng đợi phải đoạn hoặc. (2) Hai là do tức ngay phương Tây có đủ cả bốn Độ theo chiều ngang, chẳng phải do từ từ mà chứng [từng Độ một.] (3) Ba là do chỉ trì danh hiệu chẳng mượn thiền quán phương tiện này nọ. (4) Bốn là do từ một đến bẩy [ngày] làm hạn kỳ, không cần phải nhiều kiếp nhiều đời nhiều năm nhiều tháng. (5) Năm là do trì một danh Phật tức được chư Phật hộ niệm, chẳng khác gì trì tất cả danh Phật vậy.

Các điều này đều do đại Nguyện, Hành của bậc Đạo Sư [DiĐà] mà thành tựu, nên [Phật Thích-Ca] mới nói “lợi ích công đức bất khả tư nghì của A-Di-Đà Phật”. Lại, Tín, Nguyện, Trì Danh của hành nhân hoàn toàn nhiếp lấy công đức của Phật mà thành ra công đức của tự chính mình, nên cũng nói là “lợi ích công đức bất khả tư nghì của A-Di-Đà Phật”. Phần dưới lại nói “công đức bất khả tư nghì của chư Phật”, “công đức bất khả tư nghì của Ta”, nghĩa là chư Phật và Thích Ca [Phật] đều lấy A-Di[-Đà Phật] làm tự [chính mình] vậy.

A-Súc-Bệ” theo nghĩa xứ này là “không động”, ngoài ra tên các Phật khác đều hiểu được. Phật có vô lượng đức thì đúng ra phải có vô lượng Danh, nhưng tùy cơ mà lập Danh, hoặc lấy theo nhân hoặc lấy theo quả, hoặc tính hoặc tướng, hoặc hành, nguyện v.v… Tuy thường thì chỉ nâng lên một góc, nhưng mỗi góc đều có đủ bốn tất[-đàn]. Cứ tùy mỗi một Danh là hiển lên một phương diện Đức được nói đến [qua Danh ấy,] thì có thọ cả kiếp mà nói cũng không thể nào nói hết được [Danh của chư Phật,] chỉ có thể lấy ý hiểu mà thôi.

Do hư không ở phương Đông không thể tận, nên thế giới cũng không thể tận. Do thế giới không thể tận, nên chư Phật hiện trụ thế gian cũng không thể tận. Tóm nêu lên tên năm vị để nói cùng luôn với hằng hà sa số chư Phật vậy. Các chư Phật như thế mỗi vị hiện ra tướng lưỡi dài rộng nói lời thành thật khuyên hãy tin vào Kinh này, mà chúng sinh vẫn cứ không sinh Tín, thật là ngoan cố tối tăm cùng cực vậy!

Nói “tướng lưỡi dài rộng” là: Một người tầm thường ba đời không vọng ngữ ắt lưỡi [đưa ra lên] đến mũi. Phật thuộc quả đứng đầu trong Tạng Giáo, ba đại a-tăng-kỳ kiếp không vọng ngữ nên lưỡi mỏng mà rộng dài, đưa ra có thể che hết mặt. Nay [tướng lưỡi ấy] làm chứng cho diệu môn Tịnh Độ đại thừa này, cho nên bao trùm khắp ba ngàn đại thiên thế giới, để nói rõ lên rằng lời nói này chắc chắn là thành thật quyết không hề sai lạc (: lý là “thành” xứng với chân lý, sự là “thực” chẳng hề lầm lạc).

Tên chính của Kinh này là Kinh “Xưng Tán Công Đức Bất Khả Tư Nghì, Tất Cả Chư Phật Đều Cùng Hộ Niệm” (: Nêu ra đề Kinh thành bổn lưu thông), La-Thập Pháp Sư thuận theo căn cơ xứ này ưa thích nói lược, nên chỉ dịch thành ra là “Phật Thuyết A-Di-Đà Kinh” (: tựa đề hiện tại, khéo hợp với diệu Hành trì danh). Huyền Trang Phápchọn lọc giữa hai bên, nên lại dịch là “Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh”. Phải hiểu cũng chỉ là văn thì có đủ có lược, nghĩa thì không tăng không giảm.

Bính2 (: Mậu2), phương Nam:

Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Nam có Nhật Nguyệt Đăng Phật, Danh Văn Quang Phật, Đại Diễm Kiên Phật, Tu-Di Đăng Phật, Vô Lượng Tinh Tiến Phật, đồng như vậy hằng hà sa số chư Phật, mỗi vị ở cõi nước mình, hiện ra tướng lưỡi dài rộng trùm khắp ba ngàn đại thiên thế giới, nói lời thành thật: “Chúng sinh các người hãy tin vào Kinh ‘Ca Ngợi Công Đức

Bất Khả Tư Nghị, Tất cả Chư Phật Đều Hộ Niệm’ này!” Bính3 (: Mậu3), phương Tây:

Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Tây có Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Tướng Phật, Vô Lượng Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại Minh Phật, Bảo Tướng Phật, Tịnh Quang Phật, đồng như vậy hằng hà sa số chư Phật, mỗi vị ở cõi nước mình, hiện ra tướng lưỡi dài rộng trùm khắp ba ngàn đại thiên thế giới, nói lời thành thật: “Chúng sinh các người hãy tin vào Kinh ‘Ca Ngợi Công Đức Bất Khả Tư Nghì, Tất Cả Chư Phật Đều Hộ Niệm’ này!”

Hỏi: Phải chăng Vô Lượng Thọ Phật chính là A-Di-Đà Phật của thế giới Cực Lạc?

Đáp: Chính là cũng được mà không phải chính là cũng được. Chính là cũng được là bởi Phật không có tướng “ngã”, song vì độ chúng sinh nên tự ca ngợi mình cũng chẳng có gì là sai. Không phải chính là cũng được, vì chư Phật cùng tên trong mười phương nhiều vô lượng, không phải chỉ có một Phật tên Vô Lượng Thọ mà thôi. (: Vô Lượng Thọ Phật mà cùng tên với Di-Đà là vì chư Phật cùng tên ở mỗi phương trong mười phương nhiều vô lượng vậy. Tuy nhiên [muốn cho rằng Vô Lượng Thọ Phật] tức chính là [Di-Đà] Đạo Sư cũng vẫn được, vì để độ chúng sinh, nên chẳng ngại gì quay sang ca ngợi lại những điều Thích-Ca Như

Lai tuyên thuyết.)

Bính4 (: Mậu4), phương Bắc:

Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Bắc có Diễm Kiên Phật, Tối Thắng Âm Phật, Nan Trở Phật, Nhật Sinh Phật, Võng Minh Phật, đồng như vậy hằng hà sa số chư Phật, mỗi vị ở cõi nước mình, hiện ra tướng lưỡi dài rộng trùm khắp ba ngàn đại thiên thế giới, nói lời thành thật: “Chúng sinh các người hãy tin vào Kinh ‘Ca Ngợi Công Đức Bất Khả Tư Nghì, Tất Cả Chư Phật

Đều Hộ Niệm’ này!”

Bính5 (: Mậu5), phương Dưới:

Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Dưới có Sư Tử Phật, Danh Văn Phật, Danh Quang Phật, Đạt-Ma Phật, Pháp Tràng Phật, Trì Pháp Phật, đồng như vậy hằng hà sa số chư Phật, mỗi vị ở cõi nước mình, hiện ra tướng lưỡi dài rộng trùm khắp ba ngàn đại thiên thế giới, nói lời thành thật: “Chúng sinh các người hãy tin vào Kinh ‘Ca Ngợi Công Đức Bất Khả Tư Nghì, Tất Cả Chư Phật Đều Hộ Niệm’ này!”

Phương Dưới” là ở dưới thủy luân, kim luân, phong luân của cõi này lại có các trời Phi Phi Tưởng Thiên v.v… thuộc cõi dưới, cứ thế cho đến  trùng trùng vô tận không thể nói không thể thuyết vậy.

Đạt-Ma” theo nghĩa xứ này là “pháp”. Ngoài ra [tên các Phật khác] đều dễ hiểu.

Bính6 (: Mậu6) phương Trên:

Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Trên có Phạm Âm Phật, Tú Vương Phật, Hương Thượng Phật, Hương Quang Phật, Đại Diễm Kiên Phật, Tạp sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân Phật, Sa-La Thụ Vương Phật, Bảo Hoa Đức Phật, Kiến Nhất Thiết Nghĩa Phật, Như Tu-Di Sơn Phật, đồng như vậy hằng hà sa số chư Phật, mỗi vị ở cõi nước mình, hiện ra tướng lưỡi dài rộng trùm khắp ba ngàn đại thiên thế giới, nói lời thành thật: “Chúng sinh các người hãy tin vào Kinh ‘Ca Ngợi Công Đức Bất Khả

Tư Nghì, Tất Cả Chư Phật Đều Hộ Niệm’ này!”

Phương Trên” là bên trên trời Phi Phi Tưởng Thiên của cõi này lại có phong luân, ngân (: kim) luân của cõi trên cùng ba cõi v.v… trùng trùng vô tận không thế nói không thể thuyết vậy.

Hỏi: Đã sáu phương mỗi phương đều có chư Phật, thì (: Các phương) chắc chắn mỗi phương cũng đều có Tịnh Độ, cớ sao chỉ thiên vị mà ca ngợi riêng phương Tây?

(: Đáp: Hỏi như thế cũng không phải là khéo hỏi, giả như ca ngợi nước của Phật A-Súc, thì ông lại nghi là thiên vị về phương Đông, cứ lòng vòng qua lại mà hí luận thôi.

Hỏi: Sao không duyên khắp hết cả pháp giới?)

Đáp: Do ba nghĩa: (1) Vì để cho kẻ sơ cơ dễ đề tâm lên. (2) Lại, vì bổn nguyện của Di-Đà thắng hơn. (3) Lại, vì [Phật A-Di-Đà] có duyên thiên về chúng sinh cõi này. (4) Lại, vì niệm một Phật DiĐà thôi tức là niệm vô lượng Phật. (5) Vì sinh về một Tịnh Độ phương Tây thôi là sinh về vô lượng Tịnh Độ vậy (: Do vì Phật độ chúng sinh, chúng sinh nhận sự giáo hóa, giữa hai bên việc khó dễ, nông sâu đều do nơi duyên. Duyên đây là ở chỗ ân đức rộng sâu, đủ cách dạy khai, có thể khiến cho hoan hỉ tin mà vào, có thể khiến cho chạm đến khơi động chủng tử đời trước, có thể khiến cho ma chướng khó che, có thể khiến cho thể tính khai phát. Chư Phật vốn từ Pháp Thân mà hé lộ dấu tích, làm kiên cố mầm chủng kết duyên [của chúng sinh,] thế hay xuất thế trọn đều bất khả tư nghì: [nên chư Phật] được tôn vinh nơi Giáo Thừa, được nêu cao nơi Hải Hội, thấm sâu vào biển khổ, từ tâm khế hợp với Tịch Quang. Thế nên các bậc Vạn Đức đều khâm mệnh thừa vâng, mọi loại quần linh đều quy kính cùng cực. Phải hiểu Phật chủng là từ duyên khởi, mà duyên tức là pháp giới. Một niệm là tất cả niệm, một sinh là tất cả sinh, một hương, một hoa, một tiếng, một sắc, cho đến thọ sám, thọ ký, xoa đỉnh, đưa tay [tiếp dẫn,] mười phương ba đời, không phương không đời nào lại không dung thông khắp. Thế nên cái nhân “tăng thượng duyên” này gọi là “pháp giới duyên khởi”. Đó chính là những gì được nói là “duyên khắp pháp giới” vậy). Nếu người ở địa vị nông biết được phương Tây thù thắng hơn các phương khác, thì sẽ có thể quyết chí chuyên cầu. Nếu người ở địa vị sâu biết được phương Tây tức nhiếp mười phương, tức đủ bốn Độ, thì cũng không cần phải xả phương Tây để cầu riêng Hoa

Tạng. Do vì nếu bảo rằng phương Tây là “quyền biến”, Hoa Tạng là “chân thực”, thì phương Tây ắt nhỏ mà Hoa Tạng là lớn vậy. [Như vậy là] hoàn toàn rơi vào tình “biến kế chấp” của chúng sinh, do bời không thấu đạt được rằng “quyền” và “thực” vốn là một thể, “lớn” và “nhỏ” đều không thực tính vậy

Phần đầu Ất1 trích dẫn sáu phương chư Phật xưng tán khuyến tín xong.

Ất2, nêu lại danh lần nữa để giải thích, khuyến tín mà lưu thông (:

Đinh2, đưa ra để giải thích tựa đề của Kinh): Xá-Lợi-Phất! Theo ý ông nghĩ sao? Ca ngợi danh công đức, vừa rồi đã nói tường tận. Cớ gì gọi là Kinh “Tất Cả Chư Phật Đều Cùng Hộ Niệm”? Xá-Lợi-Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe Kinh này rồi thọ trì, và nghe danh của chư Phật, các thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy đều được tất cả chư Phật đồng cùng hộ niệm, đều được không thối chuyển khỏi Anậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Thế nên, Xá-Lợi-Phất! Các ông đều phải tín thọ lời ta, cùng những gì chư Phật nói. “A-nậu-đa-la” theo nghĩa xứ này là “vô thượng”. “Tam-miệu Tam-bồ-đề” theo nghĩa xứ này là “chính đẳng chính giác”, tức sự giác ngộ thuộc về thành quả của Đại Thừa.

Bộ Kinh Đại Thừa này độc một mình nói lên tâm yếu viên đốn thẳng thắn đơn giản (: vô thượng), lại các danh tự tên của chư Phật đều nói lên vạn đức cứu cánh viên mãn vô thượng, cho nên ai mà “nghe Kinh thọ trì” cùng “nghe tên của chư Phật” đều được chư Phật hộ niệm, đều được không thối chuyển khỏi đại Bồ-Đề vậy. Lại, “nghe Kinh thọ trì” tức là chấp trì danh hiệu, do bởi danh hiệu A-Di[-Đà] được chư Phật hộ niệm vậy.

Hỏi: “Nghe Kinh thọ trì”, “hộ niệm không thối” đã đành rồi, song chỉ nghe danh chư Phật mà chưa trì Kinh có lẽ nào cũng được hộ niệm không thối hay sao?

Đáp: Nghĩa này có hạn cục, có thông chung. Nói hạn cục là như Chiêm Sát Kinh có nói: “Nếu với tâm cấu tạp loạn, tuy là xưng tụng danh hiệu của Ta song không có nghĩa là ‘nghe’, do [ xưng tụng như thế sẽ] không thể sinh tín giải dứt khoát, mà chỉ đạt được thiện báo thế gian, không được lợi ích thâm diệu rộng lớn. Nếu [đạt] đến tam-muội Nhất Hành ắt thành tựu tâm hành vi diệu rộng lớn, gọi là đắc được ‘tương tợ vô sinh pháp nhẫn’, mới là được nghe danh Phật mười phương.” Kinh này cũng phải hiểu như vậy. Nên cần phải nghe Kinh này rồi, thọ trì lấy pháp “chấp trì danh hiệu” do Kinh này chỉ bày, trì đến mức “nhất tâm bất loạn” mới [có nghĩa là] được (: ) “nghe danh của chư Phật”, mới “được tất cả chư Phật hộ niệm” vậy (: được ân chư Phật hộ niệm. Đó là nghĩa hạn cục vậy.).

Còn nói (: Nghĩa) thông chung là: Từ bi của chư Phật là bất khả tư nghì, công đức của danh hiệu cũng bất khả tư nghì, nên vừa nghe danh hiệu Phật bất kể là có tâm hay vô tâm, hoặc tín hoặc báng (: không) đều thành duyên chủng, ví như vào rừng chiên-đàn hoặc lậy hoặc phạt đều nhiễm hương thơm. Huống gì Phật độ chúng sinh chẳng lọc lựa (: bình đẳng giữa) kẻ oán hay người thân, luôn không mệt mỏi. Bất ngờ nghe danh Phật, Phật chắc chắn hộ niệm, thế thì còn nghi gì nữa?!

Tuy nhiên, nếu căn cứ theo Kim Cương Bát Nhã Tam Luận đều nói Bồ-Tát căn thuần thục mới được Phật hộ niệm. Chuẩn theo vị thứ thì phải là thuộc về sơ địa của Biệt Giáo, hay sơ trụ của Viên Giáo. Nguyên do vì Luận ấy chỉ y theo “tự lực” mà phán nên phải nhập vào “đồng sinh tính” mới có thể được hộ niệm.

Nay do nương vào “tha lực” nên mới ở vị thứ “tương tợ” đã được ân hộ niệm, đã có thể viên đắc ba loại bất thối ngay (: cho đến [các chúng sinh từ vị thứ] “tương tợ” trở lại cũng đều có nghĩa hộ niệm thông chung này). Dưới cho đến [các chúng sinh] vừa nghe danh Phật cũng nơi “đồng thể pháp tính” được trợ cho phát lực, cũng được nhân xa, rốt cuộc [cũng sẽ] không thối chuyển vậy. “A-nậu-đa-la” theo nghĩa xứ này là “vô thượng”. “Tam-miệu Tam-bồ-đề” theo nghĩa xứ này là “chính đẳng chính giác”, tức là sự giác ngộ thuộc thành quả của Đại Thừa vậy. [Được] viên trọn cả ba loại “bất thối”, chính là một tên khác chỉ cho sự thành Phật trong một đời, nên mới khuyên các vị Thân Tử v.v… đều hãy tín thọ. Công đức nghe danh to lớn như vậy, Thích-Ca cùng sáu (; mười) phương Phật đồng cùng tuyên thuyết, sao lại có thể không tin vậy kìa!

Phần đầu Bính1 khuyến tín lưu thông đã xong.

Ất3 thể theo “đã, đang, sẽ sinh” khuyến Nguyện mà lưu thông (:

Bính2, khuyến Nguyện lưu thông):

Xá-Lợi-Phất! Nếu có người đã phát nguyện, nay phát nguyện, sẽ phát nguyện, muốn sinh nước Phật A-Di-Đà, các người như thế đều được không thối chuyển khỏi A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, đối với nước kia hoặc đã sinh hoặc nay sinh hoặc sẽ sinh. Thế nên, Xá-Lợi-Phất! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân nếu ai có tin thì hãy phát nguyện, nguyện sinh nước kia! Người đã phát nguyện tức đã sinh, người nay phát nguyện tức nay sinh, người sẽ phát nguyện tức sẽ sinh. [Nói như thế] chính là để hiển rõ lên Nguyện do y nơi Tín mà phát ra, nguyện không phát suông vậy, ắt chắc chắn là có quả. Chẳng phải Tín thì ắt không thể phát Nguyện được, tuy Tín mà không phát Nguyện thì [Tín] cũng không thể sinh (: chẳng phải Nguyện thì Tín cũng không sinh), cho nên [Phật] mới ân cần khuyên đi khuyên lại là hãy phát Nguyện (: nói “nếu ai có tin thì hãy phát Nguyện”).

Lại, Nguyện ấy là tờ khoán của Tín, là then chốt của Hành, là sự việc trọng yếu trên hết. Nêu lên Nguyện ắt Tín, Hành có ngay trong đó rồi. Cho nên [Phật] mới ân cần đến ba lần khuyên như vậy. Lại nữa, Nguyện sinh nước kia tức chính là hai môn “thích” và “chán”. “Chán” bỏ Sa-Bà là tương ưng với hai loại hoằng thệ do y theo hai Đế Khổ, Tập mà phát ra. “Thích” cầu Cực Lạc là tương ưng với hai loại hoằng thệ do y theo Đạo, Diệt hai Đế mà phát ra. Thế nên mới đắc bất thối chuyển đối với đại Bồ-Đề Đạo là vậy.

Hỏi: Người hiện nay đang phát nguyện thì chỉ có thể nói là sẽ sinh thôi, tại sao lại được nói là “hoặc nay sinh”?

Đáp: Điều này cũng gồm hai nghĩa. Một là chiếu theo một đời mà nói chung là “nay”, ắt đời nay phát nguyện trì danh, lâm chung quyết định được sinh Tịnh Độ, đó là “nay phát nguyện tức nay sinh” vậy. Hai là giới hạn trong một sát-na mà nói là “nay”, ắt một niệm tương ưng là một niệm sinh, niệm niệm tương ưng là niệm niệm sinh. Diệu nhân và diệu quả không lìa ngoài một tâm này, như cân hai bàn thấp, cao luôn đồng thời với nhau, cần gì phải đợi đến nghiệp báo Sa-Bà dứt tận mới dưỡng thân vào ao báu? Chỉ cứ “nay” Tín, Nguyện, Trì Danh, là đài sen quang vinh, đài vàng hiện bóng, khiến (: liền) chẳng còn là người thuộc trong cõi Sa-Bà này nữa. Cực “viên”, cực “đốn”, khó nghĩ khó suy, chỉ bậc đại trí mới có thể chân chính tin được.

Ất4, dẫn chư Phật xưng tán việc khó làm để đốc thúc Tín mà lưu thông lại gồm hai Bính:

Bính1, dẫn chư Phật đồng ca ngợi. Bính2, tự kết luận ca ngợi “khó tin”.

Nay là Bính1 (: Bính3, khuyến Hành lưu thông gồm hai Đinh: Đinh1, chư Phật ca ngợi ngược lại. Đinh2, giáo chủ ca ngợi kết thúc.

Nay là Đinh1):

Xá-Lợi-Phất! Như Ta giờ đây xưng tán công đức bất khả tư nghì của chư Phật, các chư Phật kia cũng xưng tán công đức bất khả tư nghì của Ta mà nói lời rằng: “Thích-Ca-Mâu-Ni Phật có thể làm  được sự việc hi hữu rất khó, có thể ở trong cõi nước Sa-Bà, đời ác năm trược là kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, mạng trược mà đắc được A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, vì chư chúng sinh mà nói lên Pháp tất cả thế gian khó tin nổi này!”

Trí huệ và công đức của chư Phật tuy đều bình đẳng, song hành việc giáo hóa thì có dễ và khó. Nơi Tịnh Độ thành bồ-đề dễ, nơi đời trược thành bồ-đề khó. Vì chúng sinh Tịnh Độ mà thuyết pháp thì dễ, vì chúng sinh đời trược mà thuyết pháp thời khó.

Vì chúng sinh đời trược thuyết pháp “từ từ” [thứ tự] còn dễ, song thuyết pháp “đốn” là khó nhất. Vì chúng sinh đời trược mà thuyết các pháp “đốn” khác cũng còn là dễ, chứ thuyết pháp “đốn” Tịnh Độ siêu theo chiều ngang này là khó hơn hết. Vì chúng sinh đời trược mà thuyết về “diệu quán” Tịnh Độ đốn tu đốn chứng, siêu theo chiều ngang vốn đã chẳng phải dễ, mà lại thuyết về phương tiện đệ nhất kỳ đặc thắng diệu siêu khỏi tư nghì, chẳng phải cần cù nhọc sức tu chứng, chỉ trì danh hiệu thẳng lên “bất thối” này, thì lại càng là khó trong các khó!

Do bởi là điều khó tin đối với cả chín pháp giới thế gian cho nên mới nói là “sự việc hi hữu rất khó”, và (: Nên) mười phương tất cả chư Phật không một ai không xưng dương tán thán suy tôn ThíchCa của chúng ta đặc biệt là dũng mãnh vậy.

Kiếp trược” là vào thời các trược pháp tụ hội với nhau. Trong thời kiếp trược nếu chẳng phải là Hành “mang nghiệp siêu xuất theo chiều ngang”, thì chắc chắn không thể độ được.

Kiến trược” là năm “lợi sử”, tà kiến tăng thịnh, nghĩa là do thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới thủ cùng các tà kiến làm mê muội, chìm lỉm, nên gọi là trược. Ở trong kiến trược nếu chẳng phải là Hành “không cần đến phương tiện”, thì chắc chắn không thể độ được.

Phiền não trược” là “phiền hoặc” thuộc năm “độn sử” tăng thịnh, nghĩa là do tham, sân, si, mạn, nghi phiền động não loạn nên gọi là trược. Trong phiền não trược nếu chẳng phải là Hành “chính tức phàm tâm là Phật tâm”, thì chắc chắn không thể độ được.

Chúng sinh trược” là chúng sinh [mà chỉ là] giả danh, [do nơi sự] hòa hợp bởi năm ấm thô tệ từ kiến và phiền não chiêu cảm mà có được. Do bởi sắc và tâm [của chúng sinh] đều là hữu lậu, thua kém, nên gọi là trược. Ở trong chúng sinh trược mà nếu chẳng phải là Hành “thích” và “chán”, thì chắc chắn không thể độ được.

Mệnh trược” là nhân và quả đều thua kém, thọ mạng ngắn ngủi, cho đến không trọn trăm năm nên gọi là trược. Ở trong mệnh trược mà nếu chẳng phải là Hành “chẳng phí thời kiếp, chẳng nhọc cần khổ”, thì chắc chắn không thể độ được.

Lại nữa, chỉ cần sự trang nghiêm bằng Tín, Nguyện này, [với] một tiếng [niệm] A-Di-Đà Phật là chuyển kiếp trược thành thanh tịnh hải hội, chuyển kiến trược thành Vô Lượng Quang, chuyển phiền não trược thành Thường Tịch Quang, chuyển chúng sinh trược thành “hóa sinh vào hoa sen”, chuyển mệnh trược thành Vô Lượng Thọ.

Nên một tiếng A-Di-Đà Phật tức chính là pháp A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề mà bổn sư Thích-Ca đắc được trong đời ác năm trược. Nay đem toàn thể giác quả này trao lại cho chúng sinh trược ác, đó chính là cảnh giới thực hành của chư Phật, duy chỉ Phật cùng Phật mới có thể cứu xét đến tận cùng, chẳng thể bằng tự lực của chín cõi mà có thể tin hiểu nổi.

“Chư chúng sinh” là chỉ riêng cho những người thuộc năm trược ác. “Tất cả thế gian” là chỉ chung cho khí thế gian của bốn Độ, và hữu tình thế gian của chín cõi.

Bính2, tự kết luận ca ngợi “khó tin” (: Đinh2, Giáo Chủ kết thúc ca ngợi. Phần trước khuyến tín để lưu thông là phần chư Phật phó chúc. Đến phần này là Bổn Sư phó chúc. Lời phó chúc

lược phần riêng mà theo phần chung nên chỉ nói “tất cả thế

gian” không khác gì phần trước chư Phật nói là “chúng sinh

các người”. Phải hiểu là Văn-Thù, Ca-Diếp v.v… đều thuộc vào những người được phó chúc vậy.):

Xá-Lợi-Phất! Phải biết Ta nơi đời ác năm trược làm việc khó làm này là đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, vì tất cả thế gian nói lên Pháp khó tin này, đó mới là thật là rất khó! Tín, Nguyện, Trì Danh vạn người tu vạn người đi [đến,] vĩnh viễn lìa bỏ năm trược, viên tịnh bốn Độ. Như diệu Pháp chân thực khó tin này, nên không phải chỉ duy chư Phật xưng tán, mà chính tự [Thích-Ca Phật] cũng ca ngợi là “thật khó!” Giả như chẳng phải đại bi hoằng thệ bao kiếp huân tâm, thì sao mà có thể làm việc khó làm này đây?! Thế vậy mà không tin thì quả là phụ bạc Từ Tôn quá mức rồi đấy!

Ất4, đốc thúc lòng tin để lưu thông đã xong. (: Tín, Nguyện, Trì Danh một pháp thực hành này, chẳng liên quan gì đến mọi thứ ra công sức, mà viên chuyển năm trược, chỉ có Tín mới vào được, chẳng phải cảnh giới thực hành của tư nghì. Nếu chẳng phải Bổn Sư lại [nơi đây,] nhập vào đời ác, thị hiện đắc Bồ-Đề, dùng đại Trí đại Bi, thấy điều này, hành điều này, nói điều này, thì chúng sinh do đâu mà bẩm thọ được điều này đây?!

Song chúng ta ở trong thời kiếp trược chắc chắn bị “thời” thúc hạn, bị khổ bức bách. Ở trong kiến trược chắc chắn bị tà trí trói ràng. Ở trong phiền não trược chắc chắn bị tham dục ép kẹp, bị ác nghiệp chích độc. Ở trong chúng sinh trược chắc chắn ở yên trong ô uế hôi tanh mà chẳng thể giác suốt, đành chịu các kém nhược mà chẳng thể bay cao. Ở trong mệnh trược chắc chắn bị vô thường nuốt trọn, [vô thường mau như] đá lửa chớp nháng, bó tay đành chịu. Nếu không thâm tri việc [thuyết Kinh] này thật rất là khó, cứ cho rằng còn có các pháp nào đó có thể ra khỏi năm trược, [rồi cứ] trong ngôi nhà lửa khói bốc mịt mù mà hí luận lao xao. Duy chỉ thâm tri việc thật rất là khó này mới chịu chết hết mọi thứ mà gom tâm lại, thực sự [chỉ hành] một Hành này thôi. Chính vì thế nên Bổn Sư mới tận hết lời lẽ mà nói “việc này thật rất là khó!” và dặn dò thâm thiết chúng ta “phải biết…” là vậy.

Phần đầu Ất1 khuyên khắp đã giải thích xong.)

Ất5, đại chúng hoan hỉ tín thọ mà lưu thông (Ất2, kết khuyên):

Phật nói Kinh này rồi, Xá-Lợi-Phất cùng chư tỳ-khưu, tất cả thế gian trời, người, a-tu-la v.v… nghe điều Phật nói hoan hỉ tín thọ, lễ lạy rồi đi.

Pháp môn này bất khả tư nghì, khó tin, khó hiểu, nên không một ai có thể đưa ra để mà hỏi. Trí của Phật giám sát căn cơ, thấy cơ đã chín mùi (: biết duyên thành Phật của chúng sinh đã chín), nên không hỏi mà tự nói khiến đạt được bốn “ích”.

Do đã được nghe rồi, mưa [pháp] giáo hóa đúng thời nên “hoan hỉ tín thọ” vậy. Thân tâm sảng khoái vui thích gọi là “hoan hỉ”. Không một chút gì nghi hoặc gọi là “tín”. Nhận lãnh trì giữ không quên gọi là “thọ”. Cảm đại ân đức đem thân hướng về quy mạng gọi là “lễ lạy”. Y theo giáo pháp tu hành, một mạch không thối, gọi là “đi”. (: Đúng như thời mưa [pháp giáo] hóa [tất-đàn gọi là] “hoan hỉ”, đó là từ “thế giới tất-đàn” mà được ích. Không một chút gì nghi hoặc gọi là “tín”, lãnh nạp không quên gọi là “thọ”, đó là từ “vì người”, “đối trị” mà được ích. Đầu thân quy mạng, khế nhập pháp giới duyên khởi, gọi là “lễ lạy”, đó là từ “đệ nhất nghĩa” mà được ích.

Tuy nhiên, trong mỗi một ích đều có đủ cả bốn ích, tạm cứ như trên mà phân biệt vậy thôi. Như trên là bốn ích “tự hành”. Một mạch không thối chuyển, báo ân [làm cho Kinh này được] lưu thông gọi là “rồi đi”, [lưu thông đến] tận cùng mức vị lai, [thì đó

là] bốn ích “hóa tha” không tận vậy.) Phật Thuyết A-Di-Đà Kinh Yếu Giải

Lời bạt

Kinh nói: Thời mạt pháp ức vạn người tu hành, hiếm được một người đắc Đạo, chỉ y “niệm Phật” mới được độ thôi. Than ôi! Nay chính là thời ấy vậy. Bỏ pháp môn bất tư nghì này đi thì còn gì để cải thiện đây nữa. Húc tôi khi mới xuất gia tự phụ mình là Tông Thừa, coi thường giáo điển, lệch lạc vọng nói “trì danh” chẳng qua là hàng hạ, trung. Sau nhân đại bệnh mới phát ý Tây quy, lại nghiên đọc các sách như Diệu Tông và Viên Trung hai bộ Sao cùng với Vân Thê Sớ Sao v.v… mới rõ Niệm Phật Tam-Muội thực đáng gọi là vua báu vô thượng, mới chịu quyết tâm chết thôi mà chấp trì danh hiệu, đến vạn con trâu cũng chẳng lôi kéo gì nổi nữa. Gần đây bạn tôi, Khứ Bệnh đại sĩ, tu sự tịnh nghiệp đã lâu, muốn sao cho đại chỉ của Kinh này lời chẳng phức tạp mà tức thời được ngời sáng lên, nên khiến (: thỉnh) tôi viết nên Yếu Giải này. Chính tôi cũng muốn cùng khắp pháp giới hữu tình đồng sinh Cực Lạc, vì lẽ ấy nên không thể từ khước được. Cầm bút lên nhằm ngày 27 tháng chín năm Đinh Hợi, chấm dứt bản thảo vừa ngày mùng 5 tháng mười, tổng cộng chín ngày tạo thành. Tâm nguyện mỗi câu mỗi chữ đều làm tư lương, mỗi thấy mỗi nghe đồng lên “bất thối”; hoặc tín hoặc nghi đều gieo mầm Đạo, hoặc khen hoặc chê cùng về giải thoát. Ngưỡng mong chư Phật Bồ-Tát nhiếp thọ chứng minh; bạn hữu đồng học tùy hỉ gia bị.

Tây Hữu Đạo Nhân Ngẫu Ích Trí Húc gác bút mà nên lời bạt, vào năm 49 tuổi.

Phật Thuyết A-Di-Đà Kinh Yếu Giải

Lời Tựa Sau Của Bản Khắc A-Di-Đà Yếu Giải

Kinh nói: “Ba cõi duy tâm, vạn pháp duy thức”: Cổ nhân nói: “Niệm tự tính Di-Đà, sinh duy tâm Tịnh Độ”. Hợp lại mà quán ắt cái nghĩa “tâm này làm Phật, tâm này là Phật”, “ngoài tâm không Phật, ngoài Phật không tâm” quả đã minh bạch vậy.

Người sau không thấu đạt, đi bỏ Tây Phương Cực Lạc mà chỉ nói riêng “duy tâm Tịnh Độ”, đi bỏ vạn đức Từ Tôn để chỉ nói riêng “tự tính Di-Đà”. Chẳng biết gì đến “ngoài tâm có Phật, ngoài Phật có tâm” hay sao!

Sư Ngẫu Ích của tôi thâm ngộ bản thể tâm tính không có gì ngoài, nên cả Tông cả Giáo cả Tính cả Tướng gom hết vào làm một. Đã từng trước tác các sách thích yếu như Phạm Võng Hợp Chú, Phật Đỉnh Huyền Văn, Duy Thức Tâm Yếu, Đại Thừa Chỉ Quán v.v… xiển minh diệu lý “quyền”, “thực”. Lại vì chính tri mà đưa ra bộ Di-Đà Yếu Giải này, vừa mở ra đọc là thấy rõ ngay người mà Tín, Nguyện, Trì Danh mới là có thể nắm chắc đàng cán, đúng là những gì thường nói “thẳng thắn sảng khoái, lời giản mà ý trọn” vậy!

Nguyên vì đời mạt các đại sĩ hoằng pháp mỗi vị có chỗ chuyên môn, song ít ai thông được cả Tính lẫn Tướng. Duy Ngẫu Sư trước từ nguồn tâm đã đến thấu triệt, cho nên Tính, Tướng, Tông, Giáo không thứ nào lại không dạo trên “đầu mũi nhọn” mà thông hiểu [thấu đáo.] Tỏ rõ “Tâm, Phật, Chúng Sinh ba không sai biệt”, “trăm giới ngàn như tâm đủ tâm tạo”, nêu lên hễ y báo chính báo của Tịnh Độ không gì chẳng phải là “tướng phần” của tự tâm biến ra, nên với chỗ chí cực ngang, dọc của bốn Độ [ngài thấy] thực dễ như trở bàn tay. Song đây chỉ là “một giọt đặc biệt của biển Pháp” mà thôi, nếu muốn đến tận cùng đáy bờ của Ngẫu Sư, phải duyệt hết các đại bộ trước thuật Hợp Chú, Huyền Văn, Tâm Yếu v.v… của ngài. Lại phải tiến lên cầu nơi chỗ “trước khi cầm bút”, mới ngõ hầu không nhận ngón tay mà quên mất mặt trăng vậy!

Cổ Ngô Tịnh Nghiệp Đệ Tử chính tri thức Đệ tử Trầm Thuần Xã nguyện đem công đức ấn thí này thượng cầu cho tiên khảo Kháp Sở phủ quân, húy Tự Hoàn, tiên tỉ nhụ nhân Phan thị, tiên thất nhụ nhân Trần thị, vong thiếp Bành thị, vong nữ Kỳ Quan, đồng sinh Tịnh Độ vĩnh bất thối chuyển. Cùng cầu bảo hộ cho tôn nam Phu Doãn Niệm Ôn, tằng tôn Thức Thường Triệu Gia Đoan Tứ v.v… quy y Tam Bảo, thế tu phúc huệ. Phục duy ngã Phật từ bi hộ niệm.

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.