Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng
觀世音菩薩本跡感應頌
Bành Trạch Bồ Tát Giới đệ tử Hứa Chỉ Tịnh soạn
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Giảo chánh: Minh Tiến, Huệ Trang, Vạn Từ và Đức Phong

 

QUYỂN II PHẦN 2

1. Lại càng từ bi nhìn chúng sanh, tương lân, đồng bệnh.

2. Vì thế, phóng quang gia trì bình nước, đủ dứt bệnh trầm kha, lòng Thành chiêu cảm suối thiêng, nhằm chữa hết bệnh tật.

3. Kinh truyền Bồ Tát, sớm tạo phước xứ Tây Hà. Tiên nhân giáng cơ, truyền lòng Từ nơi Đông Việt.

4. Ngọc Khê, Bành Lễ, tật dịch chẳng phải di dân. Nhà họ Trần, Phương, che chở chớ ngờ mộng bệnh.

5. Ông Du khuyên nên tin tưởng, quyến thuộc đều hưởng tốt lành. Họ Đàm hoằng dương kinh điển, lợi đẫm người cùng chí hướng.

6. Thiên Thai tu sám, cứu Vĩnh Dương Vương ngã ngựa lâm nguy. Bôi Độ trở về, ấm lòng Thiệu Tín buồn không ai hỏi.

7. Uông huynh thật hiếm có, chợt thấy phẩy phất trần. Họ Lý thương con thơ, sẻ ngậm châu linh ứng.

8. Trì kinh, vợ tiêu trừ nạn; lễ khấn, chồng tăng tuổi trời.

9. Mở cửa cam lộ, chúng sanh đều hưởng thanh lương. Ngự núi Quang Minh, con thơ thảy chẳng yểu thọ.

10. Trị bằng đạo thuật, thánh thần công xảo, há thể suy lường? Uống thuốc Già Đà, hàn, nhiệt, khí, phong, bệnh ắt khỏi hẳn.

11. Phải biết: Tấm lòng có thể cảm thông, đừng sầu lâm thời ắt ứng (đây là ca tụng sự cứu chữa các bệnh, chữa lành các bệnh tật khác)

(1) Pháp Hoa Kinh: “Từ nhãn thị chúng sanh” (Mắt từ nhìn chúng sanh). Ngũ Tử Tư nói: “Đồng bệnh tương lân, đồng ưu tương cứu” (Cùng bệnh bèn thương nhau, cùng nỗi lo bèn cứu nhau). Duy Ma Kinh: “Dĩ nhất thiết chúng sanh bệnh, thị cố ngã bệnh” (Do hết thảy chúng sanh bệnh cho nên ta bệnh).

(2) Theo Thiện Nữ Nhân Truyện, Lã Ngô Thị kiền thành thờ Quán Âm, trì chú Đại Bi, gia trì bình nước, quán tưởng Đại Sĩ phóng quang vào bình. Người bệnh uống nước ấy phần nhiều được lành.

Theo bia tháp Bảo Quang thì sư Pháp Thông đời Đường muốn trùng tu tháp cũ ở núi Cung Công, thầm niệm Quán Âm, không ăn nhiều ngày, cảm suối thiêng phun ra, người gù, kẻ bệnh uống vào liền hết sạch bệnh tật.

(3) Theo Pháp Hoa Truyện Ký, Hà Tây Vương là Thư Cừ Mông Tốn[1] quy y chánh pháp, mắc bệnh. Y Ba Lặc Bồ Tát bảo Quán Thế Âm Bồ Tát có nhân duyên với cõi này, dạy vua tụng phẩm Phổ Môn, [vua làm theo] liền lành bệnh. Do vậy, cho khắc in riêng lưu hành phẩm này ở Hà Tây, gọi là Quán Thế Âm Kinh. Xét ra, Cao Tăng Truyện chép thêm rằng: Bồ Tát Địa Trì Kinh là do Y Ba Lặc Bồ Tát truyền đến cõi này, nhưng [kinh này] do ngài Đàm Vô Sấm[2] dịch, cho nên ngờ ngài Đàm Vô Sấm chính là Y Ba Lặc Bồ Tát.

Trong Cao Vương Chứng Nghiệm, Châu Trung Thừa nói: “Nhà họ Tiết [cầu cơ] có tiên giáng đàn, nói: ‘Xứ Lãnh Nam có nhiều cướp biển, Châu Giang lại có chuyện thuyền hoa[3], dâm dật, tàn sát ngày càng thậm tệ, khiến lòng trời nổi giận, Phật sanh lòng từ bi, sai ta khuyên dụ các chúng sanh, kiền thành tụng Cao Vương Quán Âm Kinh một vạn biến, sẽ giải được hắc nghiệp’. Do vậy, khắc in, lưu hành, khiến cho kẻ thấy người nghe đều vĩnh viễn đoạn dâm, sát”.

(4) Theo Cao Vương Chứng Nghiệm, đời Thanh, Trương Tào Thị người xứ Đồng Hương, nhà ở trấn Ngọc Khê, kiền thành tụng Cao Vương Kinh. Hai mươi mấy nhà cùng sống ở nơi đó đều bắt chước làm theo. Chỉ có mình nhà họ X… là không tin Phật, còn cười nhạo. Năm Càn Long 20 (1755) xảy ra trận dịch lớn, những nhà tụng kinh đều không sao, còn cả nhà ông X… dậy không nổi.

Theo Bạch Y Kinh Cận Nghiệm, tại khu Tây Hương mới xây dựng có hơn một ngàn nhà họ Lý, bị dịch đậu mùa, mười phần chết mất tám, chín, chỉ một nhà bình an. Hỏi nguyên cớ, họ nói: “Trong nhà kiền thành thờ Quán Âm Đại Sĩ, hứa thí tặng một ngàn quyển kinh Bạch Y”. Do vậy, mọi người đều bắt chước, có bị lên đậu cũng không sao.

Theo Quán Âm Linh Nghiệm, Vương Nhật Quang ở Cửu Giang đem Quán Âm Kinh thờ trong khám, dâng cúng hương đèn. Khi ấy, ôn dịch lan truyền, những nhà hàng xóm đều bị nhiễm bệnh, riêng một nhà Nhật Quang vô sự. Mộng thấy Đại Sĩ dạy: “Ta thương xót đất này bị kiếp nạn, ngươi hãy mau đem quyển kinh này thí tặng mỗi nhà một quyển, ôn dịch sẽ tự trừ”. Tỉnh giấc, bèn chia ra tặng, [người trong vùng] đều sống sót chẳng thể tính kể được.

Sách Châu Lễ có câu: “Đại trát, tắc linh bang quốc di dân” (Tật dịch khiến cho nước nhà phải di dân). Chú thích: “Đại trát” (大札) là tật dịch, “di dân” nhằm tránh né tai nạn.

Theo Hải Nam Nhất Chước, Trần Thị ở Huy Châu mắc bệnh nguy cấp, hứa thí tặng một ngàn quyển kinh Cao Vương. Đêm ấy mộng thấy hai vị Tăng hộ trì, còn nói: “Bà thành tâm thí kinh, bệnh sẽ được lành”. Quả nhiên lành bệnh.

Lại nữa, mẹ ông Phương Khải Thuần ở Phù Lương bị bệnh bèn thí kinh, cũng nằm mộng thấy hai Tăng nhân ủng hộ.

Theo Tả Truyện, vua Tấn bị bệnh, nằm mộng thấy hai “thụ tử” (hai đứa bé con)[4].

(5) Theo Nam Hải Từ Hàng, vào đời Thanh, Du Nguyên ở Phủ Châu, cha bệnh lao, mẹ bị bệnh khí chất chứa gây nghẹn, chính ông Nguyên thì bị choáng váng, hai mắt bị thương tổn, vợ đẻ con nhưng chẳng nuôi được. Trong niên hiệu Càn Long, ông ta bèn khuyên cả nhà phát tâm thờ Đại Sĩ, thành kính, khiết tịnh tụng kinh, sám lỗi, hướng lành. Thế rồi cha mẹ không uống thuốc mà lành bệnh, mắt ông Nguyên lành lặn như cũ, sanh được một đứa con. Mẹ ông ta tám mươi tuổi bị bệnh ho ra máu. Ông Nguyên khóc lóc cầu Đại Sĩ; bà mẹ mơ màng thấy một bà cụ bảo: “Không sao cả! Ta bảo vệ ngươi, chẳng mấy bữa sẽ lành”. Từ đấy, thí kinh không ngớt.

Lại nữa, Đàm Dụng Hàng ở Hành Dương thuở nhỏ lắm bệnh, nhiều lần chết ngất. Do vậy, phát nguyện biên tập Quán Âm kinh chú và các câu cách ngôn, các toa thuốc cấp cứu thần diệu thành một quyển, mời những người cùng chí hướng khắc in, lưu truyền rộng rãi. Những người trong hội [in sách ấy] hoặc cầu có con nối dòng, hoặc cầu danh lợi, hoặc [cầu khỏi] tật bệnh, tai nạn nguy hiểm. Phàm có khổ não gì, đều được giải thoát.

(6) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, vào đời Trần, do Vĩnh Dương Vương Bá Trí té ngựa sắp chết, ngài Thiên Thai Trí Giả bèn đích thân lãnh chúng tu tập Quán Âm sám pháp. Không lâu sau, vương hơi tỉnh lại, ngồi tựa vào ghế, thấy một vị Phạm tăng cầm lò xoay quanh vương một vòng, đột nhiên hết đau nhức.

Lại nữa, vào đời Lưu Tống, Thiệu Tín ở huyện Ngô Hưng, tu tập bị bệnh, không ai dám đến thăm, bèn buồn khóc niệm Quán Âm. Chợt có một vị tăng đến xưng là đệ tử của ngài Bôi Độ[5], bảo: “Đừng buồn, gia sư sắp đến thăm ông”. Sư Thiệu Tín nói: “Ngài Bôi Độ đã mất, làm sao đến được?” Tăng bảo: “Trở lại khó khăn chi?” rồi liền dùng y trùm đầu [Thiệu Tín], lấy ra vị thuốc Hợp Hứa Tán cho Thiệu Tín uống, liền khỏi bệnh.

(7) Theo Hưu Ninh Tân Chí, Uông Cư Kính năm lên mười tuổi bị bệnh đậu nguy ngập, thầy lang nói: “Không chữa được!” Anh là Cư Nhân bèn đối trước tượng Đại Sĩ, thắp hương, quỳ niệm thánh hiệu. Cư Kính chợt thấy có người mặc áo trắng cầm phất trần phẩy quanh thân mình, không thuốc thang mà bệnh lành.

Theo Quán Âm Linh Nghiệm Ký, trong lời tựa của Hình Bộ Chủ Sự Lý Ấn Vạn có nói: “Đứa con thơ của tôi mới sanh được sáu tháng, bị bịnh đậu, nhưng đậu mọc ngược [vào trong], không dậy được. Khi ấy, lũ chim sẻ kêu cuồng lên, ta mộng thấy có người bảo: ‘Chim sẻ báo tin vui, ngậm châu trao cho con của ngươi, đừng lo nữa!’ Thức dậy thì đậu đã trổ toàn thân đứa con, nên bèn chế tấm biển có bốn chữ Linh Ứng Hàm Châu để nêu rõ sự gia hộ linh cảm”.

(8) Theo Cảm Ứng Truyện, Trương Khánh đời Tống làm cai ngục, quét dọn nhà giam sạch sẽ. Trong những tháng nắng càng siêng năng [dọn dẹp], thức ăn, thức uống, thuốc men, đồ trải nằm càng thêm sạch sẽ. Ông thường trì kinh Pháp Hoa, hễ thấy tù nhân bị xử tử ắt sẽ ăn chay, tụng kinh cho người ấy một tháng. Vợ là Viên Thị, bị nhiễm bệnh dịch chết, ba ngày sau sống lại, nói: “Thoạt đầu, tôi tới một chỗ dơ bẩn, chợt thấy Bạch Y Đại Sĩ bảo: ‘Chồng bà nhiều âm đức, con cháu ắt hưng vượng, nay còn chưa có con nối dõi’, bèn nắm tay tôi dẫn ra, tôi liền tỉnh lại”.

Lại nữa, Phan Loan Pha ở Ngô Giang, thành kính tụng Cao Vương Kinh, vợ là Vương Thị bị bệnh nguy ngập, chồng tụng kinh ấy ngàn biến, vợ liền được lành bệnh. Không lâu sau, bà ta bị sản hậu, do kiền thành cầu nguyện mà được khỏi bệnh.

Theo Trì Nghiệm Ký, vợ ông Đào Hành Phong là Tống Thị sùng phụng Đại Sĩ, tụng trì nghiêm tịnh. Năm ông Hành Phong tám mươi mốt tuổi bị bệnh nguy ngập. Bà Tống ban đêm cầu đảo Đại Sĩ, nguyện giảm tuổi thọ một kỷ để tăng thọ cho chồng, bệnh liền lành, mười hai năm sau, Hành Phong mới mất.

Theo Kính Tín Lục, Đới Nhữ Quỳ bệnh nguy ngập, vợ là Hoàng Thị đã thờ phụng Đại Sĩ từ trước, bèn quỳ tụng Cao Vương Kinh và in biếu một ngàn quyển, chồng được lành bệnh.

(9) Theo Trì Nghiệm Ký, vợ ông Đào Hành Phong là Tống Thị, ngoài bảy mươi mấy tuổi, vùng Giang Nam bị trận dịch lớn. Tống Thị bệnh tình nguy ngập, hoảng hốt ra khỏi cửa, thấy có người bảo: “Ngươi đáng mắc tai kiếp này”. Bà Tống xin gặp Đại Sĩ, liền được dẫn tới một chỗ, bảo: “Đại Sĩ ở trong đó”. Bà Tống liền thấy hai người mặc áo mão theo lối cổ, bèn phủ phục, nghe vị ngồi bên trái nói: “Nếu bà này mắc tai kiếp thì còn ai có lòng tin hướng thiện nữa!” Liền bảo bà ta hãy trở về. Giật mình tỉnh giấc thì đã hết bệnh, chỉ có xương cổ là còn đau. Một đêm mộng thấy có người cầm đồ đựng búp trà, bảo: “Vâng theo lệnh Đại Sĩ, chữa xương cổ cho nhà ngươi. Hãy uống thứ này sẽ lành bệnh”. Uống vào thấy ngon ngọt, cổ liền lành.

Theo Từ Thị Đình Huấn, đời Minh, Từ Minh Phủ chăm học siêng hành, lễ Đại Sĩ cực kiền thành, con là Khoáng lúc bé mắc bệnh nguy ngập, vợ chồng sáng tối lễ bái, cầu khẩn. Đến ngày thứ bảy, mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Đừng lo, ngày mai con các ngươi sẽ ngồi dậy được”. Chợt có âm thanh khiến cho cái kỷ thờ bị rung động, những thứ vật cúng đặt trên đĩa đựng trái cây đều rơi xuống đất, nhưng không bị hư hỏng gì. Đứa con lẩm bẩm: “Bồ Tát cứu con”. Vặn hỏi thì nó nói: “Đang trong lúc con ngất đi, Bồ Tát đến bảo: ‘Ta cứu ngươi’, trao cho một lọ nước bảo uống. Vị nước trong mát thấu tận xương, khắp thân toát mồ hôi bèn lành bệnh”. Sau này, Khoáng đỗ Tiến Sĩ dưới thời Vạn Lịch.

Theo Linh Nghiệm Ký, trong niên hiệu Thuần Hy đời Tống, Tuần Kiểm[6] xứ Nhiêu Châu là La Sanh tránh nạn lụt nên đến ở nhờ nhà Vương Tú Tài. Có đứa tớ gái bị lòa đã lâu lại còn bị đau đớn, mộng thấy có vị Tăng đem lọ nước cho uống, hai mắt sáng lại. Hỏi: ‘Thầy là người ở đâu?’ Đáp: ‘Ta ở trong nhà ngươi đã lâu! Nghe ngươi kêu khổ, lòng thương xót nên cứu giúp’. Sáng hôm sau, mắt người tớ gái sáng ngời, mà cũng hết đau đớn. Kể lại duyên cớ, mẹ ông Vương nói: “Đấy là Đại Sĩ! Nhà ta kính thờ Ngài mấy năm, linh ứng như tiếng vang”.

Đời Tống, Thị Lang Biên Tri Bạch đi đường bị cảm nắng, mộng thấy Bạch Y Đại Sĩ dùng nước rửa, từ đảnh đầu tới gót chân mát rượi; do vậy bèn soạn Cảm Ứng Tập.

Theo Đậu Liệu Định Luận, đời Tống, các con ông Vương Đán đều bị bịnh đậu chết, đứa con út vừa sanh liền bị bệnh đậu. Có người tiến cử thần y có thể chủng ngừa bệnh đậu. Thần y là một bà cụ, ngay từ bé đã trường trai niệm Phật, vân du đến Nga Mi, có ba nữ đệ tử, họ bèn thay mặt bà cụ chủng đậu cho con ông Đán, [nhờ đó, con ông Đán tuy lên đậu nhưng] không sao cả. Ông Đán bèn đem vàng, lụa tạ ơn, bà cụ nói: “Ta là người tu hành, không cần những thứ này! Nếu ông trong là khen ngợi đức hạnh của chủ, ngoài là làm gương cho đồng liêu, giữ gìn bờ cõi khiến đạt đến thái bình thì ta chịu ơn ông nhiều lắm”. Bà cụ bèn trở về Nga Mi. Sau đấy, bà cụ nói với ba người đệ tử: “Ta là từ bi Quán Thế Âm, nhằm chăm nom cho trẻ thơ trong thiên hạ không bị chết yểu, nên truyền dạy pháp để hóa độ”. Xét ra, núi Nga My theo tương truyền chính là Quang Minh Sơn trong kinh Hoa Nghiêm.

Theo Nam Hải Từ Hàng, Hồ Đức Xương kính phụng Tam Bảo từ trước, hiếu thảo với cha mẹ, phóng sanh, nằm mộng thấy thần ban cho đứa con họ Đào, nên đặt tên cho con là Kế Đào. Đứa con bị bệnh đậu đã nguy ngập, [vợ chồng ông Hồ] ấn tống Quán Âm Kinh một ngàn quyển, con liền lành bệnh.

Theo Quán Âm Linh Nghiệm Ký, vào đời Thanh, Dương Bái Luân, trong niên hiệu Càn Long, đứa con bị bệnh đậu nguy ngập. Bà vợ thắp hương, tụng kinh, tiếp đó khóc lóc, mộng thấy bà cụ áo trắng vào phòng vén màn, tay trái cầm cái thưng, tay phải cầm cái chổi nhỏ, hướng về phía đầu, mặt, ngực, bụng đứa con, quét đậu vào thưng. Quét xong, bảo: “Đứa nhỏ không còn đáng lo nữa”, bà Dương bèn ngủ thiếp đi. Đứa con liền khỏi bệnh đậu.

Theo Kính Tín Lục, Đới Nhữ Quỳ, vợ là Hoàng Thị, con lên đậu gần chết, đích thân thấy Đại Sĩ thổi hơi vào thóp (mỏ ác) ba lượt, bệnh liền nhẹ đi rồi lành hẳn.

Theo Cao Vương Chứng Nghiệm, trong niên hiệu Càn Long nhà Thanh, con ông Lý Thái lên đậu, sắp nguy hiểm tới tánh mạng, ông bèn cực lực cầu đảo Đại Sĩ, nguyện thí một trăm quyển kinh, con liền được sống sót.

Theo Nam Hải Từ Hàng, hai đứa con quan Ngự Sử Châu Hoa Khanh đều bị bệnh đậu nguy ngập. Ông bà nội đau đớn khóc lóc, bảo nếu cháu chết sẽ chết theo. Đến đêm, ông Châu mộng thấy một vị Tăng bảo: “In tặng một tạng kinh Quán Âm sẽ bảo đảm không sao!” Liền phát thệ sửa lỗi, làm lành, khắc kinh in tặng, cả hai cháu đều khỏi bệnh đậu, về sau cùng đỗ đạt.

Con gái bé của ông Chương Tông Triều ở Cối Kê bị mắc bệnh đậu đã tới lúc nguy ngập, lập đàn tụng Đại Bi Chú mấy ngàn lượt, bé không sao cả.

(10) Sách Ngụy Tử[7] có câu: “Đợi Biển Thước[8] đến trị bệnh, suốt đời chẳng lành. Dùng đạo thuật thì không gì chẳng trị được”. Theo Nạn Kinh[9], nhìn mà biết thì gọi là Thần, nghe mà biết thì gọi là Thánh, hỏi mà biết thì gọi là Công, chẩn mạch mà biết thì gọi là Xảo.

Theo Quán Âm Kinh Linh Nghiệm, trong thời Thuận Trị nhà Thanh, Châu Sĩ Nguyên bị bệnh nguy cấp, mộng thấy một vị Tăng cầm quyển sách chỉ dạy: “Đây là chân kinh của Bạch Y Đại Sĩ. Nếu kiền thành tụng sẽ trừ được bệnh. Nếu khắc in lại càng tăng tuổi thọ”. Liền cho khắc in biếu tặng rộng rãi, bệnh lập tức lành.

Đời Thanh, ông Phố X… nhiễm bệnh thời khí sắp nguy đến tánh mạng, hứa in bốn trăm quyển Quán Âm Kinh, ngày hôm sau lành bệnh.

Vợ ông Cừu Tấn là Mậu Thị, sau khi có thai, mộng thấy đến một nơi, trên đầu cửa đề “Hồng Y Thất”. Bên trong treo quần áo bằng giấy đỏ và một cỗ quan tài trống. Người bên cạnh bảo: “Những thứ này dành cho sản phụ”, bà Mậu hoảng sợ tỉnh dậy, bèn in tặng một ngàn quyển Quán Âm Kinh. Về sau, sanh con gái bình yên, tốt lành, ông Tấn càng thêm tin tưởng, ngưỡng mộ.

Theo Bạch Y Kinh Ứng Nghiệm, trong niên hiệu Gia Khánh nhà Thanh, con dâu ông Uông Phác Trai là Trần Thị bị sản hậu băng huyết, tình thế rất nguy ngập; do nhà nghèo, bèn hứa in Bạch Y Kinh, Cao Vương Kinh mỗi thứ một trăm quyển, liền lành bệnh.

Tạ Trọng Hoa tuổi đã già chỉ có một gái, nó bị nhiễm bệnh dịch rất nguy ngập. Ông Tạ cầu đảo Đại Sĩ, in tặng một ngàn quyển Quán Âm Kinh, con gái lành bệnh ngay trong hôm ấy.

Theo Kính Tín Lục, vào đời Thanh, Ngô Thiện Đường ở Hưu Ninh trong niên hiệu Càn Long bị bệnh nằm li bì, thầy thuốc đều từ chối không chữa được. Trong lúc mê mệt, vẫn thầm cầu nguyện Đại Sĩ, hứa in tặng Cao Vương Kinh một tạng, bệnh liền giảm. Thầy thuốc đến khám bệnh nói: “Bệnh chuyển biến rồi”, ông lành bệnh mau chóng.

Thái Thú đất Tương Dương là Trương Dung bị bệnh hàn, bủn rủn không dậy được, lập nguyện tụng Cao Vương Kinh trong một thời gian dài, liền lành bệnh.

Cấp Gián Trần Trung Phù làm quan coi thi ở Điền Nam, bị trúng nắng ngã bệnh, gần chết. Thề nguyện tụng Cao Vương Kinh và lưu truyền rộng rãi, không lâu sau lành bệnh.

Vào niên hiện Càn Long đời Thanh, Hà Thế Kiệt ở Sơn Âm bị trúng độc, bà mẹ hứa tụng một ngàn biến Cao Vương Kinh, in một ngàn hai trăm quyển, mấy ngày sau, bệnh cũ dây dưa hoàn toàn khỏi hẳn.

Uông Trân Bính ở An Huy bệnh đã lâu không lành, kiền thành phát tâm tặng năm trăm quyển Cao Vương Kinh, liền lành.

Vào đời Thanh, Thí Đình Phương ở Lâu Huyện, trong niên hiệu Càn Long mắc bệnh, mỗi đêm lúc đi ngủ, ngực đau không thể ngủ được. Hứa tụng Cao Vương Kinh một tạng, biếu tặng một ngàn quyển, liền hết bệnh.

Trình Nghi Hiến ở Thái Cốc mắc bệnh thương hàn đã hơn hai tháng, bỗng nhiên bị thêm thủy tả[10], đã ba lần bị tắt hơi. Người nhà thay ông ta lạy Đại Sĩ, hứa in một ngàn quyển Quán Âm Kinh, chưa đầy một hôm đã khỏi.

Ngô Thủ Phương ở Thái Hưng bị bệnh máu, phát tâm vẽ tượng Đại Sĩ, in một ngàn hai trăm quyển Bạch Y Thần Chú, liền khỏi bệnh.

Theo Giản Nam Cư Sĩ Tự Ký, trong đời Thanh, dưới triều vua Càn Long, vợ ông Giản bệnh nguy cấp, thuốc men vô hiệu. Ông bèn vì vợ tụng Cao Vương Kinh và nguyện in kinh lưu truyền trong cõi đời, bệnh giảm nhanh chóng.

Đời Thanh, vào năm Đạo Quang thứ ba (1823), ông Phó Húc Giai ở Lâm Xuyên bị bỏng vì thuốc nổ, thuốc thang không chữa được, bèn phát tâm ăn chay, tụng Cao Vương Kinh, trong một tháng liền dần dần khỏi bệnh. Cháu nội ông ta ngã bệnh, chẳng biết là bệnh ở chỗ nào, bèn cầu đảo Đại Sĩ, mới biết là chân nổi nhọt đầu đinh, đắp thuốc liền lành.

Trương Học Tảo ở Lâm Xuyên, tự chép: “Con gái tôi lên đậu, thổ tả (ói mửa, tiêu chảy) không ngừng, tánh mạng đếm từng hơi thở. Mẹ nó bèn quỳ cầu nguyện Đại Sĩ, tụng chú Quán Âm, và hứa in một trăm bộ Quán Âm Kinh. Ngày hôm sau liền lành bệnh”.

Trương Chánh Tâm năm hai mươi tuổi, nổi ung nhọt lạ, tính mạng mất còn trong sớm tối, bèn phát tâm làm lành, kiền thành tụng Cao Vương Kinh một ngàn biến, được lành bệnh, thọ chín mươi sáu tuổi.

Càn Đột bị bệnh thủy thũng[11], chữa trị trăm cách vô hiệu, muốn trì Cao Vương Kinh nhưng bệnh nặng quá không thể đọc được. Đêm mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Chẳng đọc được thì in tặng, công đức cũng chẳng nhỏ”. Ngày hôm sau liền hứa nguyện, chưa được một tháng đã hết bệnh.

Ông Phố X… trong đời Thanh do vợ sanh nở lâm nguy, thệ nguyện in năm trăm quyển Quán Âm Kinh, mẹ con bình yên. Bản in ấy còn giữ tại miếu Huyền Đế[12] ở trấn Tân Hưng.

Theo Trầm Đỉnh Nam Hải Ký, vợ góa ông X… ở Đông Việt ăn chay, niệm Phật, ham làm lành, thích bố thí. Con dâu sanh nở khó khăn, Đại Sĩ hiện thân lão ni, trao cho phù chú, chẳng những dễ sanh mà còn chuyển nữ thành nam, nhưng Bồ Tát răn kiêng thịt những loài trâu, chó, cá chạch, tôm, ếch, chim chóc v.v… và thường niệm Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quán Tự Tại Vương Phật, hoặc Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát. Lại dặn: “Phù chú này chẳng chỉ trị sản phụ [sanh khó] mà còn trị được hết thảy ác chứng. Phàm những loại bệnh chứng kỳ quái, hãy viết phù chú này, dùng mộc hương, thù du, hết thảy loại nước thơm để nuốt, thì không gì chẳng được lành”. Năm ấy, con dâu sanh, mẹ con vuông tròn. Đem truyền [phù chú] cho mọi người đều ứng nghiệm.

Theo sách Dậu Dương Tạp Trở, đời Đường, tại chùa Vân Hoa ở Trường An có Quán Âm Đường. Cuối niên hiệu Đại Trung, Khuất Nham bị ghẻ độc, chết ngất, mộng thấy Bồ Tát xoa lên chỗ ghẻ bảo: “Ta ở Vân Hoa Tự”. Ông Nham giật mình tỉnh dậy, vết ghẻ đã lành. Đến chùa thấy tượng Đại Sĩ giống hệt như chính mình đã thấy [trong giấc mộng].

Theo Khuyến Giới Loại Sao, trong niên hiệu Khang Hy nhà Thanh, Tưởng Thị ở Ngô Môn bị ung loét ở eo, chết ngất một đêm, bỗng thấy một bà cụ nói: “Ngươi hãy kiền thành tụng chú Bạch Y Đại Sĩ một vạn hai ngàn biến, khắc in, đem thí rộng rãi, bệnh sẽ lành”. Họ Tưởng lạy vâng lời, tỉnh giấc, bèn kiền thành tụng đủ số, liền lành bệnh.

Theo Kính Tín Lục, Vương Trác Nhiên làm quan võ đứng đầu xứ Thuần Hóa, bị bệnh bao tử đã bốn năm. Hằng ngày, ông Vương tụng Cao Vương Kinh và in tặng một ngàn quyển, bèn ói ra hơn một đấu huyết đã tích tụ rồi lành bệnh.

Tống Bang Bảo ở Việt Tây bị bệnh trĩ, in tặng Cao Vương Kinh năm trăm quyển, liền hết bệnh trĩ.

Vợ ông Hầu Thuần Hiếu ở Phần Dương bị mất trí đã hai năm. Chính ông ta lại bị bệnh mắt, cầu đảo Đại Sĩ, hứa in một trăm cuốn Quán Âm Kinh, hai vợ chồng đều lành.

Theo Báo Ứng Lục, đời Đường, Ngô X… làm lính đi đánh dân thiểu số, nấu con rùa trắng ăn, bị mọc ghẻ lở loét, rụng lông mày, ngón chân, ngón tay đều rụng, đi ăn xin ở chợ An Nam. Có vị Tăng bảo: “Nếu ngươi niệm Quán Âm Đại Bi Chân Ngôn ắt sẽ được thiện báo” rồi truyền dạy [chú Đại Bi]. Người lính ấy nhất tâm niệm tụng, vết thương dần dần lành, ngón chân, ngón tay lại mọc ra, bèn [xuất gia] làm tăng, hiệu là Trí Ích. A Già Đà (Agada) là tên một món thuốc ở phương Tây có thể trị hết thảy bệnh.

Sách Quốc Sử chép thêm rằng: Vương Ngạn Bá tự khoe y thuật rất giỏi, bày ba bốn cái lò, nấu thuốc khắp sân, già trẻ đứng chật cổng để thỉnh. Ngạn Bá chỉ trỏ: “Người bệnh nhiệt uống loại này, người bệnh hàn uống loại kia, người bệnh phong uống loại đó, người bệnh khí uống loại nọ”, không gì chẳng hiệu nghiệm.

Theo Bạch Y Kinh Ứng Nghiệm, vợ ông Tôn Lâm ở Trường Sa bị sản nạn, sanh con phần nhiều không nuôi được, kiền thành tụng Bạch Y Kinh. Về sau, trong đêm lâm bồn, mộng thấy Đại Sĩ trao cho viên thuốc hồng bảo nuốt, nói: “Khỏi tai ách sanh nở, mẹ con đều yên ổn”. Liền khắc kinh để rộng thí.

Theo Linh Nghiệm Ký, vào đời Tống, tượng Đại Sĩ ở chùa An Quốc tại Nhiêu Châu linh thiêng nhất. Trong niên hiệu Khánh Nguyên, vợ ông Hứa Hồi là Tôn Thị mắc sản nạn, thầm cầu đảo Quán Âm, sai con đem một chén dầu thắp đèn [trước tượng ấy]. Trưởng lão Liễu Bái chúc: “Nhà bà vững như tường, dầu tuy ít nhưng tâm chí thành, mong Đại Sĩ từ bi xót thương”. Chúc xong, do mệt mỏi bà Tôn đi nằm, mộng thấy một phụ nữ khoác áo lông trắng ôm một con rồng gỗ sắc vàng trao cho, liền sanh ra con trai, đặt tên là Long.

Theo Tây Phương Công Cứ, cư sĩ Vương Nhật Hưu đời Tống mượn bản kinh Di Đà chép tay từ chùa Kim Sơn, muốn giảo chánh, khắc ván theo bản đó để lưu truyền rộng rãi. Ngón tay bên phải chợt rung, viết chữ bất tiện, bèn giơ ngón tay niệm A Di Đà Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát, cầu xin hết bệnh phong hòng thành tựu tâm nguyện. Cầu nguyện xong, ngón tay liền không rung nữa, liền ngộ Phật, Bồ Tát ở ngay trước mắt, chỉ vì lòng tin của người đời không chân thật mà thôi!

(11) Trong lời tựa cho bộ Nam Hải Từ Hàng, Trữ Cảnh Hiền viết: “Hiền trước đây thường nghĩ tụng kinh được phước là chuyện bịa. Cưới vợ tám năm, không sanh nở. Bố vợ bảo in kinh Quán Âm, trì Quán Âm Trai thường được ứng nghiệm rõ rệt. Vợ tôi vâng lời làm theo, nằm mộng thấy điềm lành. Lúc sắp sanh, lại mộng thấy có bà cụ trao cho đứa con, bèn đặt tên cho nó là Tích. Đến khi sanh, do phù hợp với giấc mộng, bèn đặt tên như vậy, tôi vẫn cười cợt, chẳng tin. Về sau trong khi bệnh tật nguy nan, thường thấy sự linh dị, nên nửa tin nửa ngờ.

Sau đấy, đứa con thứ bị bệnh thổ tả, không có cơ hội sống sót, tôi đau xót cầu đảo Đại Sĩ, thề biên tập bộ Nam Hải Từ Hàng, sửa lỗi, làm lành. Vừa mới cầu đảo, bệnh thổ tả dứt ngay lập tức, con có thể bú sữa được. Lạ nhất là vợ tôi vốn thiếu sữa, lại thêm lo lắng vì con bệnh, bỏ ăn bỏ ngủ mấy ngày, sữa không có được nửa giọt. Sau khi cầu đảo, sữa chợt vọt ra. Tôi tự nghĩ mình đức bạc, rốt cuộc là do mang ý niệm khuyến hóa rộng rãi nên Đại Sĩ động lòng xót thương. Tụng kinh được phước, rành rành chẳng dối! Do vậy, bèn ghi lại để trình lên độc giả”.

Con ông Từ Lai Thái ở Đô Xương bị bệnh ngặt nghèo, có người khuyên hãy tụng Quán Âm Kinh, ông Từ bảo: “Thường ngày chưa thể tích lũy âm đức rộng rãi, đến lúc ngặt mới cầu Phật, làm sao ứng được?” Tiếp đó, do người ấy vẫn cực lực khuyên nhủ, bèn phát nguyện suốt đời trì tụng, in kinh một ngàn quyển, con dần dần lành bệnh.

1. Chắc vì bệnh chưa đến nỗi chết, chỉ đành sót tiếng gièm chê căn khuyết, nhưng chưa khỏi tự tổn thương, tàn phế, ắt phải nuôi dưỡng con người.

2. Tụng câu kệ của Xử Thao, mắt lại được sáng; truyền già-đà nơi Hoài Điện, chân lại vững vàng.

3. Truyền nuốt mắt dê, liền chiêm ngưỡng đóa sen tươi. Tự đếm hoa tay, thỏa lòng già khi xế bóng.

4. Mở am Tồn Tế, ghi chuyện linh ứng Dương Châu. Tăng hiệu Bán Nhai, bàn luận mãi sự hay Sơn Tả.

5. Thần cao tục đoạn, kham chữa tổn thương do thầy thuốc gây nên. Cam lộ chạm mắt, cứu chữa nạn tai do quỷ sứ trừng phạt.

6. Thị dân gãy chân, may được truyền cách chữa lành xương. Cụ Hạ đứt tay, ý nghĩa kiếm Hàm Quang chợt hiểu.

7. Nước suối Triều Âm, được mang hiệu Quang Minh. Nhật tinh ma-ni, thuận lòng người quán tưởng.

8. Than ôi! Chín lần gãy, thành nghề y, vẫn thiếu tài y thuật Hoa Đà. Nhất tâm xưng niệm tên ta, may mắn còn lưu danh Huệ Tập.

9. Tuy lòa điếc, què quặt, túc nghiệp vốn đã nặng sâu, nhưng diệt ác, thỏa cầu, bi tâm đáng nơi nương cậy.

10. Cẩn thận, đừng trả bài cho xong chuyện, oán kinh chẳng linh, lại chẳng ngã mạn, kiêu căng, lâm nguy bất biến. Đấy là sự cứu khổ thứ sáu của Đại Sĩ vậy (đoạn này kiêm ca tụng cả sự chữa lành cho người bị bệnh tật tàn phế).

(1) Sách Tả Truyện có câu: “Bệnh vị cập tử, ngô tử miễn chi” (Bệnh chưa đến chết thì ta còn phải cố gắng). Vãng Sanh Luận: “Cõi thiện căn Đại Thừa, trọn không tên gièm báng, nữ nhân và căn khuyết, giống Nhị Thừa chẳng sanh”.

Lễ Ký: “Kẻ bệnh tật tàn phế không được nuôi dưỡng là do một người (tức hoàng đế) chẳng noi theo lẽ chánh”.

Quản Tử: “Nước nào cũng đều nuôi người tàn tật. Điếc, mù, câm, ngọng, thọt chân, khô đét là những kẻ chẳng thể tự sống thì nhà cầm quyền sẽ nhận về, nuôi dưỡng. Bộ Hộ ra lệnh: một là mù mắt, hai là tai điếc, thiếu ngón, bị phù thũng thì là tàn tật; còn những kẻ si khờ, câm, mất một chi là phế tật”.

(2) Theo sách Đồ Thuyết, Tăng Xứ Thao người Thai Châu, mắc bệnh mắt, thường tụng chú Đại Bi, mộng thấy Đại Sĩ truyền dạy bài kệ, mỗi sáng lấy một chén nước sạch, niệm bảy biến [rồi dùng nước ấy] để rửa mắt, không ai chẳng được lành. Kệ rằng: “Cứu khổ Quán Thế Âm, cho con đại an lạc, và ban đại phương tiện, diệt trừ ngu si ám, Hiền kiếp các chướng ngại, các tội ác vô minh, ra khỏi nhà tăm tối, khiến con thấy ánh sáng. Tôi nay nói cách rửa, sám hối, gỡ tội mắt, khắp phóng quang minh sạch, nguyện thấy tướng vi diệu”. [Bài kệ này được] truyền tụng, [những người làm theo] phần nhiều đều linh nghiệm.

Theo Thiện Dư Đường Bút Thừa, đời Tống, Trương Hiếu Thuần có đứa cháu nội năm tuổi không đi được, nghe có người kể chuyện một nông phu ở Hoài Điện có tật ở chân đã lâu, chỉ trì danh hiệu Quán Âm cảm được Đại Sĩ dạy bốn câu kệ: “Đại trí phát từ tâm, trong tâm vô sở ngại, thành tựu nhất thiết nghĩa, không xưa cũng chẳng nay”. Nông phu tụng bài kệ này một trăm ngày bèn lành bệnh. Hiếu Thuần liền dạy cháu nội và nhũ mẫu hãy trai giới trì tụng. Quả nhiên, ba tháng sau, cháu bước đi như thường. Phàm trẻ nhỏ bị bệnh nơi chân, hễ tụng bài kệ ấy đều lành.

Theo Tăng Bảo Truyện, sư Tự Nghiêm đời Tống do có một sa-di tánh tình cẩn thận nhưng ngu độn, liền viết bốn câu kệ này bảo [sa-di] hãy tụng. Thế là đối với câu chữ thế gian, chú sa-di ấy đều có thể nói được. Tự Nghiêm còn có hiệu là Bạch Y Bồ Tát; do vậy biết bốn câu kệ này chẳng phải chỉ trị lành bệnh chân mà còn có thể tăng trí huệ.

(3) Theo Duyện Châu Chí, đời Trần, Dương Sanh Hoa ở Ích Tu do thấy bọn Hồi Hồi muốn phá miếu Quan Đế để vun vén cho Thanh Chân Tự[13] của bọn chúng, bèn đi thưa, khiến cho việc ấy phải đình lại. Về sau, gặp lúc giặc khởi loạn, Sanh Hoa bị chết giữa đường, lại còn bị khoét hai mắt. Hồn thấy Quan Đế an ủi rằng: “Ta vốn chẳng ở nơi miếu ấy, hiềm rằng ngươi do hảo tâm mà mất mạng, ta sẽ thỉnh Quán Âm Đại Sĩ đến ban mắt cho ngươi”. Liền bay lên không trung, nhìn lại, thấy Đại Sĩ mặc áo trắng, trọn đủ tướng hảo vô cùng. Quan Đế thay Hoa Sanh xin Bồ Tát hãy ban cho mắt. Đại Sĩ liền hướng trên không hô một tiếng, liền thấy đồng tử xách giỏ đậy bằng hoa sen tới. Mở ra thì thấy toàn là tròng mắt dê. Bồ Tát bèn nhặt lấy hai tròng, ban cho, bảo nuốt. Hai mắt sáng lại. Quan Đế bảo: “Không lâu nữa đại binh sẽ kéo tới, đối với bọn này thì không gì có thể sống sót được. Sau năm tới, ngươi sẽ được tin chiến thắng”, bèn tỉnh lại. Quả nhiên về sau đều ứng nghiệm.

Theo Trì Nghiệm Ký, Đinh Truyền người đời Thanh cho biết: “Bà nội hai mắt mất ánh sáng đã hai mươi năm, vào thời Càn Long, ngẫu nhiên bảo tôi: ‘Chỉ mong mắt thấy được một tấc ánh sáng thì ý nguyện tuổi bóng dâu xế chiều đã được thỏa’. Truyền thưa: ‘Chuyên tụng thánh hiệu Quán Âm thì mắt sẽ sáng lại’. Đấy cũng là lời an ủi nỗi u uất của cụ mà thôi. Bà nội tin là thật, ngày đêm niệm tụng không ngớt. Chưa đầy một tháng, một mắt chợt sáng, tự đếm được hoa tay. Lại bảo người nhà họp lại cho cụ nhìn, bảo khi vợ của hai đứa cháu nội được cưới về, cụ trọn chẳng biết mặt, nay cũng thấy mặt đứa chắt, nếu không nhờ Phật lực sẽ chẳng thể nào được như vậy. Do vậy, tôi ghi thêm chuyện này sau sách Tây Phương Công Cứ để giúp chứng tín”.

(4) Theo Giác Thế Kinh Thuyết Chứng, ở Dương Châu có một người bại liệt đã mấy chục năm. Một hôm, mò được một tượng Quán Âm bằng sành trong ao, đem thờ trong nhà, lễ bái suốt năm năm, mộng thấy một bà cụ xoa bóp thân thể, bảo hãy đứng dậy. Người ấy thưa: “Con làm sao đứng dậy được?” Bà cụ bảo: “Nay có thể đi được rồi đấy!” Lúc tỉnh giấc bèn đi đứng như thường. Mẹ quan huyện lệnh Giang Đô bèn tặng tiền xây cất Tồn Tế Am, hiện đang thờ tượng Đại Sĩ trong ấy.

Theo Kỷ Cầu Thư, trong niên hiệu Sùng Trinh đời Minh, trên đường có một người bại liệt xứ Sơn Đông ăn mày ở chợ, tánh khá nóng nảy. Sư Thủy Cốc khuyên ông ta xuất gia, ông ta bèn ăn chay. Nếu có ai chửi bới, ông ta đều yên lặng nhịn chịu. Ngài Thủy Cốc lại dạy ông ta niệm thánh hiệu Đại Sĩ và chú Chuẩn Đề. Thọ trì hai năm, mộng thấy một bà cụ hô “đứng dậy” và túm lấy hai chân ông ta, chân liền thẳng ra, không quặp nữa. Sáng dậy, nghiễm nhiên là một vị Đầu Đà đĩnh đạc, hiệu là Bán Nhai.

(5) Theo Hải Nam Nhất Chước, mẹ ông Đới Hồng Trạch ở Vụ Nguyên lễ kính Đại Sĩ, thường chế cao cứu khổ để tặng cho người khác. Trong niên hiệu Đạo Quang, đứa cháu họ bên nội lên đậu, bị biến chứng, mắt trái đã lòa. Mẹ nó mộng thấy một bà lão, bảo: Ta là Quán Âm ở tại nhà Hồng Trạch đã ba năm. Ngươi hãy nên qua đấy xin thần cao, dán vào huyệt Thái Dương bên trái”. Bà mẹ tỉnh giấc, đi ngay. Thầy thuốc chê là chuyện bịa đặt, dùng lửa đèn để trị con mắt lòa [của đứa bé], đến nỗi tròng mắt nó lọt ra, chỉ còn dính những sợi gân nên chưa rớt hẳn, [thầy thuốc] bèn trốn mất. Mẹ nó cầu khẩn Đại Sĩ, niệm Tâm Kinh hai ngàn biến rồi dán thuốc cao, tròng mắt trái từ từ thụt vào, mắt lòa lại được sáng, bệnh đậu cũng lành.

Đời Minh, Vương Lập Cốc tự ghi lại bài ký về chuyện sống lại như sau: “Tôi mộng thấy cha tôi là quan Trung Thừa [Vương] Sĩ Tánh khuyên: ‘Trong mười năm, ngươi phải chết năm lượt, hãy nên vun trồng đức để diệt tai nạn’. Do vậy, lập thệ ăn chay, trì giới kiêng giết, trộm, dâm, dối. Về sau, làm huyện lệnh Tân Cam, bèn thôi không giữ những điều ấy. Sau đấy, tôi lên miền Bắc chầu vua, một đêm, đang ngồi thuyền, bị người áo xanh bắt đi. Vua cõi âm quở mắng: ‘Mạng ngươi kể như đã hết từ lâu, được kéo dài đến nay là nhờ vào sức trai giới, cớ sao lại bỏ?’ Vua sai tống tôi vào ngục. Người ngồi bên trái xin vua hãy xét sổ sách ghi chép những chuyện tôi đã làm sau khi phá giới, thì chuyện của mỗi ngày đều được ghi rõ trong từng thẻ riêng, và những giấy tờ tôi ngẫu nhiên viết lách cũng đều giữ đủ cả. Trên mỗi thứ đều có hơi bốc lên ngùn ngụt, xanh, trắng, đỏ, đen khác nhau. [Các viên nha lại trong cõi âm] bèn dựa theo màu sắc để kiểm thì với sắc đỏ, rực rỡ nhất là đã khắc Kim Cang Kinh, Hiếu Sanh Thiên. Vẻ mặt vua hơi dịu đi, phán: ‘Có thể giữ nguyên tánh mạng, nhưng phải khoét mắt để trừng phạt’, bèn sai người khoét mắt, rồi tôi tỉnh lại, thấy người nhà vây quanh khóc lóc, bảo đã đổ thuốc bảy lượt rồi. Đêm hôm ấy, lại mộng thấy quỷ đóng đinh vào mắt, liền lòa. Do vậy, bèn bỏ nhà, tu Tịnh nghiệp, lễ sám ở U Khê, mộng thấy Đại Sĩ dùng cành dương rẩy cam lộ vào mắt. Sáng dậy, hai mắt sáng lại, sống được 12 năm nữa, hiệu là Bích Như”.

(6) Theo Nam Hải Từ Hàng, một thị dân[14] tụng Quán Âm Kinh hết sức kiền thành. Đi đường bị gãy một chân, đau buồn kêu tên Bồ Tát không ngừng; mộng thấy một vị Tăng truyền cho toa thuốc: Dùng bột đậu xanh, sao trong cái ấm mới cho đến khi bột đậu ngả sang màu tía, hòa với nước giếng, bọc giấy cho dày để bó [bột ấy] vào chân, dùng gỗ Sam[15] nẹp cứng, rất thần hiệu!

Theo Cảm Ứng Linh Nghiệm Ký, đời Thanh, Hạ Chi Hoàng kể chuyện ông cố của ông ta, vào cuối đời Minh gặp nhằm bọn cướp, bị chúng chặt đứt tay trái nhưng chẳng biết đau khổ, chỉ kinh hoảng bất tỉnh nhân sự. Sau đấy, về đến nhà, tay liền lành lặn như cũ. Người ta kinh ngạc hỏi han, nói là do tụng Cao Vương Kinh, đến già không suy yếu. Ai nấy đều khen là được Bồ Tát rủ lòng gia hộ.

Sách Liệt Tử có câu: “Hàm Quang chi kiếm, vận chi bất tri hữu; kỳ sở dung, mẫn nhiên vô tế, kinh vật nhi vật bất giác” (Kiếm Hàm Quang, sử dụng mà chẳng biết là có kiếm, nó hòa lẫn với chung quanh chẳng thấy có dấu vết, không ngằn mé, chém qua muôn vật mà muôn vật chẳng hề hay biết).

(7) Theo Phổ Đà Chí, tại động Triều Âm có ao Quang Minh, tức là Huệ Tuyền (suối trí huệ) vậy. Trong niên hiệu Chánh Đức đời Minh, Thái Hậu sai sứ cầu đảo [tại nơi đây], được chữa lành bệnh mắt nên ban cho cái tên ấy.

Mẹ của sư Thích Hữu Nghiêm đời Tống mắc bệnh mắt, đối trước thánh tượng Quán Âm, tưởng nơi tay cầm Nhật Tinh Ma Ni [của tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn], kiền thành trì tụng chân ngôn, mộng thấy Đại Sĩ nâng vầng mặt trời, mắt liền sáng.

(8) Trong Sở Từ[16] có câu: “Cửu chiết tý nhi thành y” (Chín lần gãy tay thành thầy thuốc). Phó Đại Sĩ thường nói: “Huệ Tập là Quán Âm”. Có người teo chân, cho biết đã bị chứng ấy bốn mươi năm, xin chữa trị. Huệ Tập[17] bảo: “Chỉ nhất tâm niệm ta”. Người teo chân nghe theo, trong một thời gian ngắn, bèn có thể đi lại được. Lại có một người điếc, nói đã bị điếc nhiều năm, sư bảo: “Hãy nhất tâm niệm ta”, niệm rồi lại gọi tên, thì ba lần kêu bèn khỏi hẳn. Lại có những người bị bệnh tật đã lâu, bạch lại[18], điên cuồng, sư đều dạy “niệm ta”. Ai niệm cũng đều khỏi bệnh.

(9) Pháp Hoa Kinh: “Tỏa lậu luyến tích, manh lung bối ủ, báng tư kinh cố, hoạch tội như thị” (Lùn, xấu, còng, vẹo. Lòa, điếc, lưng gù, do báng kinh này, mắc tội như thế). Đại Bi Chú Kinh: “Trừ diệt nhất thiết ác nghiệp trọng tội cố, mãn túc nhất thiết chư hy cầu cố” (Do trừ diệt hết thảy tội nặng ác nghiệp, do thỏa mãn trọn đủ hết thảy mong cầu).

(10) Theo Quán Âm Kinh Linh Nghiệm, Giang Lăng Vương đi đường, té xuống vách đá gãy lưng, điều trị mãi chẳng lành. Vương tụng Bạch Y Kinh suốt một năm vẫn chưa lành, nghĩ kinh không ứng nghiệm bèn bỏ dở giữa chừng. Đêm mộng thấy thần quở mắng: “Ngươi tụng kinh coi như trả bài cho xong chuyện, lại ngược ngạo oán kinh chẳng linh ư?” Vương bèn rửa lòng, gột chí, kiền thành tụng niệm. Sau ba tháng, lại mộng thấy vị thần trước kia đưa tay vỗ vào lưng, giật mình tỉnh giấc, lưng đã duỗi thẳng như thường.

Đời Tống, Ngô Khắc Kỷ thường khổ vì bệnh mắt. Nếu có ai khuyên hãy trì thánh hiệu Đại Sĩ bèn nói: “Lâm nguy bất biến mới thật sự là trượng phu”. Có người nói: “Ông chưa đọc sách Phật, sao biết là chẳng bằng Khổng – Mạnh?” Bèn thử làm theo, được lành bệnh, bèn tin Phật sâu đậm.

Ghi thêm: Theo Tuyên Nghiệm Ký, Sử Huề tài học siêu quần, không tin Phật, thường nói: “Phật là vị thần nhỏ nhoi, chẳng đáng để thờ!” Về sau, cả hai chân đều bị co quắp, chẳng bước xuống giường được. Thuốc men, khấn vái vô hiệu. Bạn bè bảo: “Chẳng cậy vào sức đại từ bi, chẳng thể cứu được! Hãy phát tâm tạo tượng Quán Âm, cầu khẩn sẽ ứng nghiệm”. Ông Huề do bệnh nguy ngập, theo đúng lời khuyên tạo tượng. Tượng đúc xong, mộng thấy Đại Sĩ giáng xuống nhà mình, quả nhiên được lành. Do vậy, hối lỗi đã chẳng tin Phật.

Vào đời Tống, vợ của Tri Châu xứ Tùy Châu là Thạch Thị khổ sở vì tay bị đau, thuốc men vô hiệu, phát nguyện tu bổ trọn khắp những tượng Phật, tượng Quán Âm cũ đã bị sứt mẻ, bệnh liền khỏi.

Theo Bạch Y Kinh Cận Nghiệm, mẹ của Sử Tuấn ở Phiêu Dương là Hứa Thị bị bệnh phong, loạng choạng khó đi lại. Ông Tuấn bèn cầu khẩn Đại Sĩ, hứa sẽ rộng thí kinh Bạch Y. Sau một năm, mẹ khỏe mạnh đi lại như thường.

Theo Linh Nghiệm Ký, đời Thanh, Hoa Đình Tướng nói: “Thím tôi là Vương Thị tuổi đã bảy mươi. Trong thời Càn Long, bước lên thuyền, sảy chân ngã xuống sông, xương hai chân đều bị tổn hoại, điều trị không khỏi. Thấy tôi cầu đảo, tụng Cao Vương Kinh được lành bệnh, các cô con dâu của bà ta mỗi người đều kiền thành tụng một ngàn quyển cho mẹ chồng. Chưa đầy năm ngày, cụ liền có thể đi được”.

Lại nói: “Cháu tôi là Tam Anh, làm quan coi ngục, một mắt chợt lồi ra, tối đen không có ánh sáng. Quyến thuộc tụng kinh cho nó, vừa được ba ngàn biến thì mắt lại sáng như cũ”.

Vương X… ở Tuyền Châu mắt gần mù, có vị Tăng khuyên hãy tụng chú Bạch Y một vạn biến, [anh ta làm theo] bèn lành. Về sau, bị vu hãm vào một vụ án nghiêm trọng, do siêng năng trì tụng mà được thoát.

Theo Cư Dị Lục, trong thời Khang Hy nhà Thanh, các học trò ở vùng Bảo Để như Vương Kính Tổ, cả mười bảy người bị mất ánh sáng, kiền thành trì tụng chú Bạch Y. Họ mộng thấy Đại Sĩ dùng kìm nhỏ rút hai sợi gân máu ra, mắt bèn sáng lại, thấy rõ ràng.

Hạ Huấn Tuyên ở Sùng Nhân bị bệnh mắt. Một bữa nọ thấy kinh Quán Âm, bèn trai giới phụng hành. 5 năm sau, mắt lành.

Theo Cao Vương Ứng Nghiệm, vào đời Thanh, Phan Loan Pha ở Ngô Giang, trong thời Gia Khánh, té ngựa, gần gãy xương sống, trai giới tụng Cao Vương Kinh một ngàn biến, bình phục như cũ.

2.2.2.7. Trừ tà quái

1. Bèn có: Trải y Già Lê nơi Đại Lý, đem thân trấn cõi La Sát. Kết am tranh trên ngọn Nam Đài, hoằng pháp trong hang rồng độc.

2. Nơi quán trọ, Đạo Dung khiến lũ quỷ binh dựa tòa khiếp sợ. Ẩn trong núi, Trí Khải khiến bọn nữ quỷ nắm y hàng phục.

3. Thân hiện lưng trời, cáo chẳng trốn khỏi gia hình. Mộng giáng giữa mây, quỷ mị thảy đều biệt tích.

4. Huyền Trang cầu kinh, chẳng hề bị ác quỷ quấy nhiễu. Vương Kỳ lắm bệnh, nhiều phen trị lũ ma khinh nhờn.

5. Kẻ hầu trao thuốc, bệnh tật lìa thân; bản lãnh thiên sứ, hai trẻ rời nhà.

6. Âm Thiên xe ngựa, khó lên được núi Thái Hoa. Hành Bệnh Quỷ Vương, chẳng vào được nước Kế Tân.

7. Ánh sáng bay ra bắn chết mãng xà, gái đất Việt tài giỏi trở thành vương phi. [Vung gươm] chém rắn chắn lối giữa đường, Lê Thần hào hùng như con trai Xích Đế.

8. Đứa tớ gái Tân Phường tụng kinh siêu độ ma dân. Cô gái vùng Giang Hạ giáng quỷ, được chiêm ngưỡng thánh tượng.

9. Ban vô úy cho ông Lý; trị bệnh cuồng cho cô Triệu.

10. Âu Dương trông thấy quái vật to chạy trốn. Huệ Giản mặc kệ gã đen đúa thử tài.

11. Toan kiếm chác thức ăn, phi đao khó chịu đựng; đưa em gái trở về, bởi thần chú chẳng vừa!

12. Cạnh miếu Tỷ Phảng, gã dân bướng thoát cơn trách phạt. Giữa rừng gai góc, kẻ lạc lối bèn được chỉ đường.

13. Xá Nhân, Gián Nghị, mau trừ yêu quái nơi nhà họ Vương. Uông tử, Trương Thành, cùng thoát khỏi quỷ A Ni.

14. Lệ quỷ từ đầu đến chân toàn là đèn, lui chạy vào nhà dân. Gã khổng lồ áo mão trắng toát, chẳng hại người tin Phật.

15. Đúc đỉnh có hình tượng quái vật, chỉ mong dân khỏi gặp chúng nơi núi đầm; trì chú tụng kinh, tự có thần linh ủng hộ. Đấy là sự cứu khổ thứ bảy của Đại Sĩ vậy.

(1) Theo Nhĩ Hải Tùng Đàm, Đại Lý Phủ thoạt đầu là chỗ La Sát chiếm cứ. Đại Sĩ đến ngồi xếp bằng nơi ấy, nay vẫn còn tảng đá Bàn Đà, rồi hướng về La Sát xin một khoảnh đất bằng tấm ca-sa. La Sát bằng lòng. Đại Sĩ liền mở y Tăng-già-lê[19], phủ khắp ngàn dặm. La Sát xin chừa một khoảng đất để nương náu, Bồ Tát bèn chấp thuận cho chúng dời lên sống trên đảnh núi, nay tức là cuộc đất có cái ao Hắc Bạch Nhị Long vậy. Có thuyết nói Đại Sĩ nhốt La Sát trong thạch động.

Theo Nam Ngũ Đài Sơn Thị Tích Ký, vào niên hiệu Nhân Thọ đời Tùy, trong núi có rồng độc, biến làm đạo sĩ bán thuốc ở kinh đô, [rêu rao ai mua thuốc] uống vào sẽ lập tức bay lên trời. Thật ra, là nó dùng thần thông của loài yêu quái, đem họ bỏ vào trong hang rồng trên núi để ăn thịt. Chợt có một vị Tăng đến đó, kết lều tranh trên đỉnh núi, chế phục thần thông của loài yêu quái, khiến nó ở yên trong hang động, dân được che chở, người theo đạo đông đảo. Sư bèn nhập diệt vào ngày Mười Chín tháng Sáu năm sau. Đến lúc trà-tỳ, phía Đông đỉnh núi hiện ra chiếc cầu vàng, các vị trời đứng thành hàng, âm nhạc, hoa trời, mùi hương lạ sực nức. Trên ngọn Nam Đài trăm thứ báu chói ngời, số lượng nhiều đến nỗi không thể đếm xiết. Giữa làn mây khói, hiện tướng tự tại đoan nghiêm, từ dung xinh đẹp, cao quý, anh lạc, áo châu, chói ngời cả mắt, mới biết là Quán Âm Đại Sĩ thị hiện.

(2) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, đời Lương, sư Đạo Dung du hóa vùng Giang Lăng, phá hủy miếu thờ tà thần. Trở về nghỉ tại quán trọ, một đêm Sư thấy quỷ binh rất đông. Một gã mặc giáp, ôm đao, ngồi dựa trên chiếc giường theo kiểu Hồ, quát ngài Đạo Dung: “Ngươi cho là quỷ thần chẳng linh hả? Hãy mau lôi nó xuống đất!” Bọn quỷ sắp nắm lấy tay, ngài Đạo Dung liền thầm niệm Quán Thế Âm. Âm thanh chưa dứt liền thấy một vị thiên tướng cao hơn một trượng dùng kim cang xử gạt ra, bọn quỷ hoảng sợ chạy tứ tán.

Theo Pháp Uyển Châu Lâm, vào đời Đường, Đỗ Trí Khải ẩn cư tại Thái Sơn, trì Quán Âm Kinh không gián đoạn. Trong niên hiệu Trinh Quán, Sư đang bị bệnh nguy ngập, lấy áo ca-sa đắp thân, mơ màng như đang nằm mộng, thấy mấy chục phụ nữ già trẻ đến quấy nhiễu, bảo nhau lôi Trí Khải đi, quăng xuống khe suối phía Bắc. Có kẻ nắm phải tấm y ca-sa, đột nhiên cùng nhau niệm Phật, lui bước sám hối, xin Sư hãy vì họ mà tạo tượng Phật Di Đà, niệm danh hiệu Quán Âm ba ngàn biến. Sư liền tỉnh giấc, toát mồ hôi đầm đìa rồi lành bệnh.

(3) Theo Dị Đàm Khả Tín Lục, trong niên hiệu Khang Hy đời Thanh, em gái của Trịnh Quốc Tướng huyện Tiền Đường bị hồ ly quấy nhiễu đến nỗi choáng váng, chết ngất. Khi ấy, Quốc Tướng tụng Tâm Kinh, cô ta mới tỉnh. Quốc Tướng liền cầu đảo Đại Sĩ, nguyện thí hai ngàn quyển kinh để trừ yêu quái cứu em gái. Đang trong lúc nguy cấp, Đại Sĩ hiện thân trên không trung, hô: “Nghiệt súc! Sao lại đến nơi này?” Lũ hồ thưa: “Do đói khát nên tới kiếm ăn”. Đại Sĩ đưa tay chỉ, yêu quái bay vọt lên không rồi chẳng thấy nữa. Mọi người nghe mùi hương lạ ngập nhà. Về sau, người em gái mộng thấy có người dùng thương chống vào một cái đầu đầy lông lá, nói: “Phủ của Hồ Tam Giao chân nhân đã bị tru lục rồi!”

Theo Nam Hải Từ Hàng, vào đời Minh, vợ của Vu Ngọc Bệ ở Tiền Đường bị yêu quái quấy nhiễu đã ba năm. Một đêm, mộng thấy Đại Sĩ giáng xuống, ngự trên đám mây, quang minh chói rực hư không, quỷ mị trốn biệt, bèn lễ Liên Trì đại sư, bệnh trầm kha liền lành.

(4) Theo Đường Tam Tạng Truyện, thoạt đầu, ngài Huyền Trang ở đất Thục (Tứ Xuyên), thấy có một người bệnh, thân lở loét hôi thối, bẩn thỉu, quần áo rách rưới, dơ dáy, Sư thương xót, tặng cho quần áo, thức ăn. Người bệnh dạy cho Sư bài Tâm Kinh. Do vậy, Sư thường tụng đọc. Khi đến Lưu Sa, trên con đường hơn tám trăm dặm, ác quỷ, dị loại vây quanh quấy nhiễu con người. Niệm danh hiệu Quán Âm chẳng đuổi hết được; Sư bèn tụng kinh này, vừa đọc lên, chúng nó tiêu tan hết.

Theo Quảng Dị Ký, đầu niên hiệu Đại Lịch đời Đường, Vương Kỳ thích trì Quán Âm Kinh, nhiều lần bị bệnh nặng, hễ tụng kinh thì không bệnh gì chẳng lành. Thường có loài quỷ kỳ lạ đến quấy nhiễu nhưng chẳng dám xâm phạm, chúng bèn tự tiêu diệt. Chuyện như vậy chẳng thể ghi chép xuể!

(5) Theo Thiên Hậu Chí, trong niên hiệu Hồng Vũ đời Minh, Lã Đức ra trấn giữ vùng biển, ngã bệnh bèn cầu đảo Thiên Hậu[20]. Mộng thấy một vị nữ thần mặc áo lông biếc, bông tai sáng ngời, bảo đứa hầu cầm hoàn thuốc, sáng lấp lánh như hổ phách trong suốt, bảo: “Uống thuốc này sẽ trừ được bệnh”. Vừa mới qua khỏi cổ, liền tỉnh giấc, mùi hương vẫn chưa tan. Khát nước quá bèn uống vào, liền ói ra hai vật, liền cảm thấy thần khí sảng khoái, bình phục như thường. Về sau, mộng thấy Thiên Hậu bảo: “Đấng từ bi cứu ngươi đêm qua chính là đức từ bi Quán Thế Âm, từ nay hãy nên kính phụng Ngài”. Ông Đức bèn dựng Quán Âm Đường ở Mỵ Dự[21].

Theo Cao Vương Kinh Chứng Nghiệm, vào đời Thanh, Ngô Quốc Nãi ở Sơn Âm thường tụng Cao Vương Kinh. Trong niên hiệu Càn Long, ngẫu nhiên ngủ trưa, chợt thấy hai đứa bé bước vào trong nhà, rồi lại trở ra ngay, bèn hỏi: “Ai đó?” Trên không trung có tiếng đáp: “Là thần gây dịch đậu mùa. Do ông thành kính tụng Quán Âm Kinh nên bọn chúng tránh né”. Không lâu sau đó, con cái của ông Ngô đều lên đậu, nhưng vô sự.

Theo Tống Thư, Tôn Pháp Tông khổ sở vì đau đầu. Ban đêm mộng thấy có nữ nhân đến bảo: “Ta là thiên sứ đến tạ lỗi, bản lãnh vốn chẳng sánh bằng thiện nhân, mà sứ giả cứ tưởng lầm là bằng nhau”. Nhân đấy, trao truyền phương thuốc, ông Tôn liền lành bệnh.

(6) Theo Ký Văn, vào đời Đường, Hàn Quang Tộ [được bổ làm quan ở ngoài kinh đô], dẫn gia đình tới nhiệm sở. Đường đi ngang qua Hoa Sơn, vào miếu lễ bái. Người thiếp yêu quý bị chết đột ngột, bèn vời đồng cốt đến hỏi. Bà đồng nói: “Tam lang muốn cưới người thiếp của ông, nay tuy đã cầu được [tam lang] tha cho [sống lại], nhưng khi đến huyện, rốt cuộc [tam lang] cũng sẽ đoạt lấy”. Quang Tộ đến nhiệm sở, bèn vì người thiếp đúc tượng Quán Âm bằng vàng, cầu thoát nạn. Năm ngày sau, người thiếp lại chết đột ngột cả nửa ngày rồi mới tỉnh lại, kể: “Hoa Sơn phủ quân đã chuẩn bị xe ngựa đến đón. Ra khỏi cửa, thấy một vị tăng sắc vàng ròng chặn đằng trước, kỵ binh sợ hãi, chạy tán loạn”. Ông Tộ do vậy càng thêm tin vào nội giáo[22].

Theo thiên Xiển Vi trong sách Chân Cáo[23], trong số cung điện quỷ thần ở núi La Phong, cung thứ nhất có tên là Trụ Tuyệt Âm Thiên. Phàm những người mới chết đều đến cung này để chịu phán định.

Vị tăng nước Kế Tân[24] là Chân Đế[25] tụng chú Đại Bi khiến cho bệnh dịch trong cả nước đều tiêu tan, Hành Bệnh quỷ vương phải bỏ ra khỏi nước ấy.

(7) Theo Đàm Tẩu, đời Tống, Lại Tỉnh Can dùng yêu thuật giết người để tế quỷ. Hắn mua những cô gái mười mấy tuổi từ vùng Chiết Giang để cúng quỷ. Mẹ của một cô [trong số những cô gái ấy] thờ phụng Đại Sĩ, cô bèn theo mẹ tập niệm Tâm Kinh. Khi tới đàn tế, cô được tắm gội, trang điểm, rồi bị xiềng trong căn nhà trống. Cô gái nghĩ số phận ắt phải chết bèn nhất tâm tụng kinh. Nửa đêm, có một vật từ cửa sổ trên trần rơi xuống, sáng lòe như ánh chớp. Cô vội tụng chú Yết Đế, từ trong miệng chợt phóng ra ánh sáng. Vật ấy toan tiến đến lại lùi. Ánh sáng từ miệng cô gái lớn dần, bắn vào vật ấy vang ra tiếng leng keng, nó ngã nhào xuống đất. Khi có người tuần đêm đi qua, cô bèn kêu: “Sát nhân”. Tuần cảnh phá vách cho cô ra, thấy một con bạch mãng xà to kềnh đã chết cứng, bèn bắt họ Lại và người nhà trừng trị theo đúng luật.

Theo Sưu Thần Ký, trong vùng Dung Lãnh xứ Đông Việt, có con rắn to, thích ăn trẻ gái. Mỗi tháng Tám, người ta thường cúng tế, đưa trẻ gái đến hang rắn, rắn liền nuốt ngay. Khi ấy, Lý Đản có đứa con gái tên Ký, nhận lời tuyển mộ ra đi, cầm gươm, mang theo con chồn ăn rắn (mongoose). Cô nấu mấy hộc chất mật dính, đổ vào hang rắn. Rắn bò ra, đầu to như cái bồ, mắt như cái gương to hai thước. Trước hết, nó liếm mật dính. Cô Ký liền thả chồn ra, dùng gươm chém, giết chết rắn. Việt Vương bèn rước cô Ký về làm vợ.

Theo Linh Nghiệm Ký, trong niên hiệu Thiệu Hưng đời Tống, vợ người họ Châu ở Dư Can đi đường gặp ba con rắn chắn lối, bà ta bèn nhảy qua. Rắn đuổi theo, chợt biến thành ba gã trai, nhằm đúng lúc người làng là Cung Lê Thần đi tới, thấy con rắn to vờn quanh người đàn bà mấy vòng khiến cô ta ngã nằm sõng xoài trên đất. Ông Cung bèn lớn tiếng niệm chú Đại Bi, dũng mãnh quát rắn, rắn bèn tháo lui.

Theo Hán Thư, Cao Tổ (Lưu Bang) ban đêm đi qua cái đầm, có con rắn to chắn lối, bèn vung gươm chém chết. Sau đấy, có người tới chỗ rắn, thấy một bà cụ ban đêm khóc lóc: “Con ta là con Bạch Đế hóa làm rắn, nay bị con của Xích Đế chém mất rồi”.

(8) Theo Thủ Nhất Trai Bút Ký, đứa tớ gái nhà Trần Hữu Nham chợt nổi cuồng, nói: “Ta là Hồ tam gia, đâu phải là đứa tớ gái mà dám mạo phạm ta?” Trong khoảnh khắc, lại nói giọng đất Ngô[26], xưng là họ Dương, là đầy tớ của Hồ Tam. Ông Trần cầu khẩn trăm cách, [vong linh] vẫn chẳng bằng lòng. Ông xin tụng Tâm Kinh siêu độ, nó liền gật đầu ưng chịu. Cả nhà kiền thành tụng niệm, đứa tớ gái trừng mắt quát to: “Thằng X… tụng kinh vô ích, nó vừa mới ăn canh thịt viên”. Hỏi ra đúng như vậy. Tụng đủ một ngàn biến, họ Dương bằng lòng ra đi. Đưa đến dưới cầu Tân Phường thì đứa tớ gái tỉnh lại.

Theo Dạ Đàm Tùy Lục, nhà ông X… ở vùng Giang Hạ lập đàn cúng, có bé gái ban đêm đi qua đó xem. Chợt có một con quỷ to lớn lôi nhốt trong buồng. Bé gào khóc, nhưng không ai nghe tiếng. Đến lúc tống tiễn, quỷ mang bé gái đi theo, chợt thấy ánh sáng hồng thấp thoáng, quỷ hoảng sợ bỏ chạy. Trong khoảnh khắc, ánh sáng đến gần, người theo hầu đông như mây; giữa đó có một người đeo chuỗi anh lạc khắp thân, hỏi han bé từ đâu đến, lại nói: “Ta là Nam Hải Đại Sĩ, ngươi có thể đi theo!” Trong khoảnh khắc đến một chỗ, lầu gác thăm thẳm, khác xa cảnh phàm! Đại Sĩ ngó kẻ hầu dặn dò. Không lâu sau, người hầu xách con quỷ to lớn đến, sai thần kim giáp vứt đi. Lại có một người đội mão vàng đến khấu đầu bái yết Đại Sĩ và thưa: “Mẹ cô bé này ăn chay trường thờ Phật”. Đại Sĩ bảo: “Mẹ của con thiện hạnh đáng khen” rồi bảo hãy theo người mão vàng quay về. Cô nhắm mắt bay trên không, trong khoảnh khắc thấy mẹ ngồi bên giường của một người giống hệt như mình, chợt như tỉnh mộng. Ấy là từ khi ngất đi cho đến lúc này đã hơn một tháng. Tỉnh dậy liền ăn chay trường, trì Quán Âm Kinh.

Trong Thỉnh Quán Âm Kinh, đức Phật nói: Trong thành Vương xá có nữ nhân bị ác quỷ dựa, ta dạy người nữ ấy xưng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Do sức oai thần của Bồ Tát, ác quỷ tiêu mất, được thấy thân sắc tướng khôn sánh của ta.

(9) Lý Ngạc ở Tứ Minh hay sợ hãi, đêm ngủ liền bị ác mộng, thấy những hình dạng quỷ quái kỳ lạ. Về sau, niệm danh hiệu Quán Âm, trì chú Chuẩn Đề, hết ác mộng, tâm không sợ hãi.

Đời Tống, Thích Bảo Thông tụng Đại Bi đà-la-ni đã lâu năm, có cô gái họ Triệu bị quỷ mị dựa, phát cuồng. Sư tụng chú, quỷ liền bỏ trốn, cô Triệu bèn hết điên.

(10) Theo Ngọc Đường Nhàn Thoại, đời Đường, Âu Dương Xán chuyên trì chú Đại Bi. Ngẫu nhiên đi đêm gặp mưa, từ trong hang thẳm giữa rừng rậm xông ra một vật dài hơn cả trượng chặn đằng trước. Ông Xán hoảng sợ, muốn trì chú Đại Bi, nhưng cứng miệng chẳng thể thốt ra tiếng, bèn niệm thầm mấy biến rồi mới có thể tụng rõ ra tiếng, quái vật bèn ẩn trốn.

Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, đời Lương, ngài Huệ Giản giới nghiệp cao rộng. Phía Đông tòa sảnh sự xứ Kinh Châu có căn nhà biệt lập, có lắm chuyện quỷ quái. Khi ấy, Vương Kiến Vũ đến cai trị nơi ấy, thờ Huệ Giản làm thầy, cậy Sư đến ở nơi đó. Sư thấy một người đen kịt không mắt, từ vách bước ra, Sư chỉ thầm niệm Quán Âm. Quỷ nói: “Nghe nói ngài tinh tấn nên đến thử xem. Nay thần sắc chẳng động, há còn bức bách nữa ư?” Lại trở vào vách; từ đấy, không còn thấy chuyện quỷ quái nữa!

(11) Theo Chất Trực Đàm, trong niên hiệu Càn Long đời Thanh, vợ ông Dư Tông chợt bị cảm lạnh, nói sảng: “Mẹ chồng, con dâu ta đi qua đây, đói lắm, ắt phải đem rượu thịt cho ta xơi”. Ông Dư mời Tăng tụng Tâm Kinh, Đại Bi Chú, Kim Cang Kinh. Vừa mới tụng một lượt, liền nghe người bệnh trách móc: “Thoạt đầu con đâu chịu vô, mà mẹ cứ muốn tới. Nay khắp thân con bị dao đâm, đau đớn khó thể chịu đựng được, hãy mau đi thôi!” Bệnh liền lành.

Theo Quảng Dị Ký, đời Đường, Lý Hân trì chú Đại Bi. Có người bị bệnh sốt rét, ông Hân trì chú, quỷ nói: “Vốn muốn làm khó ngươi, nay sợ Lý Thập Tứ Lang, chẳng dám đến nữa!” Ông Hân sang sống trọ ở Hà Nam, em gái ông ta chết vì bệnh dịch, mấy bữa sau sống lại, nói: “Thoạt đầu bị mấy người dẫn tới gò mả, muốn làm nhục. Một người nói: ‘Đây là em gái của Lý Thập Tứ Lang. Hắn trở về sẽ dùng thần chú làm khó bọn ta’, chúng bèn đưa về”.

(12) Theo Linh Nghiệm Ký, phía Tây thành Định Tương có miếu Tỷ Phảng[27]. Người trong thôn ngẫu nhiên nghỉ chân nơi ấy, có một người khinh nhờn thần, đêm mộng thấy quỷ tốt lôi đến đồng trống, quở trách mấy chục lượt. Chợt thấy một bà cụ áo trắng đi đến nói: “Đã quở trách rồi, hãy thả về”. Do vậy, được tha về. Khắp mình bị thanh thũng[28], ngộ ra nơi ấy gần Quán Âm Các nên được Đại Sĩ rủ lòng cứu giúp, bèn đi chợ mua hương lễ tạ.

Lý Tinh Viên ở Phù Lương từ nhà ra quán, trăng mờ mông lung, đi đứng nhiều trở ngại, bèn niệm bài kinh do Quán Âm truyền trao trong mộng. Vừa mới tụng bảy biến, mới biết đang đi trong lùm gai. Thường nghe người ta nói chỗ ấy có yêu quái mê hoặc người. Nếu không tu tập bài kinh ấy, chẳng thể nào tìm đường thoát ra được!

(13) Theo Quảng Dị Ký, đời Đường, vợ ông Vương Kỳ mắc bệnh dịch. Ông Kỳ tụng Tâm Kinh, thấy dưới đèn có ba đầu người. Vợ ông đớ mắt, không nói được, chỉ lấy tay chỉ chỗ mình thấy. Ông Kỳ bèn cầm đao hướng về chỗ vợ chỉ chém xuống. Bà vợ chợt nói: “Trong cửa sổ có yêu quái, mũi dài mấy thước. Trước giường có hai con vật giống như lạc đà, đều bị chém tiêu hết rồi”. Ông Kỳ tụng kinh bốn mươi chín biến, vợ bèn lành bệnh.

Theo Thanh Minh Đầu Hạt Lục, có hai con lạc đà nói chuyện, một con xưng là Xá Nhân, con kia xưng tên là Gián Nghị.

Đời Tống, con nhà họ Uông ở Kỳ Môn đi đường, bị mấy người trói lại đem đi, buộc vào cột của ngôi miếu cổ, thưa rằng: “Xin mời đại vương tự nhận lấy”. Uông biết là bọn họ giết người tế quỷ, bèn niệm tụng chú Đại Bi. Ban đêm, có tiếng gió rít như tiếng sấm, một con mãng xà to mắt sáng như đuốc bò tới, ba lượt tiến lại lùi. Sáng ra, cậu Uông được người khác cởi trói, liền thoát nạn.

Theo Linh Nghiệm Ký, Trương Thành ở Cát Thủy, trong niên hiệu Càn Đạo đời Tống, nghỉ đêm ở vùng ranh giới Lễ Lăng. Chủ quán tiếp đón trọng thể, rượu nồng, cỗ đầy, tâm kinh ngạc, lấy làm lạ, thoái thác không thể uống rượu rồi bỏ đi ngủ. Hồi lâu, thấy đuốc trong gian nhà chính thắp sáng, bèn nhìn trộm, thấy chủ quán lạy lục, khấn trước một bức tranh vẽ, nhiều lần nhắc tới ông khách họ Trương, biết là hắn sẽ đem mình tế quỷ. Nhìn sang bức tranh vẽ, thấy hai tròng mắt như cái chén, ông Trương vội trì chú Đại Bi. Vừa được mấy biến, thấy yêu quái từ trong bức vẽ tụt xuống, hình dạng đanh ác, bèn đóng cửa, càng dốc sức tụng chú, nghe ngoài cửa có tiếng đập phá. Trời vừa sáng, ông Trương chạy ra, nghe thấy người nhà chủ quán kêu khóc, đi hai dặm mới tạm nghỉ, nghe người ta nói: “Chủ quán chết bất ngờ”. Cật vấn sự tình thì ra nhà ấy ba đời thờ yêu quái, mỗi năm tế một người. Nếu không có người ngoài thì sẽ giáng họa xuống chủ nhà.

Theo Tùy Thư, đầy tớ nhà Độc Cô Đà[29] là Từ A Ni thường thờ quỷ mèo, thường giết người [để tế quỷ]. Tài vật [của người bị giết] sẽ nhập vào gia sản của nhà kẻ thờ quỷ.

(14) Theo Di Kiên Chí, người trong họ [của tác giả sách ấy] là Hồng Dương trở về trong đêm, chợt nghe tiếng động lớn phát ra từ khe núi như mấy chục cây gỗ to bị đốn ngã, liền tận hết sức chạy xuống gầm cầu tính tìm chỗ núp, nhưng vật đó đã đến trước rồi: Thân dài ba trượng từ đầu đến gót toàn là đèn. Ông Dương chuyên trì Đại Bi Chú nên vội niệm, vật ấy đứng thẳng, bất động. Ông Dương sợ vỡ mật, ngã lăn ra đất, nhưng vẫn tụng chú không ngừng. Vật ấy liền lùi lại, hô lên: “Ta đi đây!” rồi đi tắt qua khu nhà dân bên khoảnh ruộng mất dạng. Ông Dương về nhà ngã bệnh rồi lành, còn hai người phu khiêng kiệu đều chết. Về sau, hỏi thăm những nhà dân [nơi ấy] thì một nhà chết vì bệnh dịch, mới biết vật ấy chính là lệ quỷ (quỷ gây ra bệnh dịch).

Theo Dị Đàm Khả Tín Lục, tại Vương Gia Khẩu ở Ứng Thành, những kẻ lang thang trong thôn đi trông lúa [thuê cho người ta]. Vào ban đêm có cơn gió trốt cuốn tới, thế như xô núi, có hình dáng giống như cái tháp, tiếng rền như sấm, hóa thành một người to lớn, cao hai trượng, áo mão trắng toát, tay cầm phan trắng hướng về bọn họ phất một cái rồi bỏ đi. Mọi người sợ ngất đi, một lúc lâu sau mới tỉnh lại. Chỉ có một người trì chú Quán Âm và một người nữa không ăn thịt bò là chẳng thấy. Mấy ngày sau, mười mấy người đều chết, chỉ có hai người ấy là vô sự.

(15) Sách Tả Truyện chép: “Đúc đỉnh có hình tượng muôn vật, để dân biết là thần hay thứ yêu quỷ gian dối, để khi dân đi vào sông, đầm, núi, rừng, chẳng gặp chuyện không lành”. Các bộ kinh giảng về thần chú [trong nhà Phật] đều có chép Kim Cang lực sĩ và các chúng quỷ thần phát nguyện ủng hộ [người trì chú].

Theo Liễu Nhai Ngoại Biên, vùng Giang Nam khi làm lễ Hồi Sát[30], liền bày rượu thịt rồi trốn qua chỗ khác. Có kẻ đầy tớ ban đêm [đi công việc] về tới, [không biết là ngày Hồi Sát], quá đói bèn ngồi xổm ăn uống. Chợt thấy một con quỷ lạ lùng cao tới hai trượng, cầm chĩa ba dài chừng một trượng, áp giải một ông già tới. Tên đầy tớ trốn vào chái nhà, dòm trộm, thấy ông già ngồi ghé bên cạnh, còn quỷ ngồi ở phía trên ăn uống nhồm nhoàm. Trong chốc lát, ông già xin phép quỷ vào nhà sau để nhìn qua tình hình, quỷ bằng lòng. Tên đầy tớ thấy cái chĩa ba trong ngần, lóng lánh đáng yêu bèn vớ lấy, chạy vào buồng, đóng chặt cửa. Quỷ kiếm chĩa ba, vươn cánh tay xanh rì gõ cửa, gió quái dị từ bốn phía thổi ùa tới, buốt tận xương. Tên đầy tớ niệm chú Quán Âm, quỷ lùi bước, gió tan. Vừa mới ngưng niệm, quỷ liền duỗi chân bước vào, tên đầy tớ cảm thấy hơi lạnh từ đất xông lên, buốt tới đùi rồi tới eo, bèn vội niệm chú như trước, quỷ rụt chân lại. Gà gáy, quỷ bèn lôi ông già đi. Trời sáng dần, chĩa ba teo nhỏ dần còn chừng một tấc, nhìn rất tinh xảo. Đến nhà người bị bệnh sốt rét, chĩa ba ngân lên một tiếng, bệnh gần như mất tiêu.

Theo Thủ Nhất Trai Bút Ký, tiến sĩ Hiếu Cảm Trình Tốc Viên sang dạy học nơi đất Tần, đêm ngủ nơi chòi ngoài đồng. Cảm thấy có vật gì đè lên chân, miệng chẳng thể nói được, thân cũng chẳng thể cử động được. Dần dần, vật ấy chuyển tới bụng, liền vội thầm niệm Tâm Kinh, đến câu “Sắc tức thị Không”, liền vội lớn tiếng kêu lên, vật ấy trốn mất.

Theo Dị Đàm Khả Tín Lục, vào đời Thanh, Trần Quý ở Giang Hạ, vừa có chí nguyện vừa hiếu thảo. Trong thời Càn Long, ông qua nhà của người họ hàng bên ngoại là X… mộng thấy một khối tròn đen xì giống như hình người duỗi bàn tay to đùng kéo ông ra ngoài, đánh không ngừng. Ông hôn mê một lúc lâu mới tỉnh lại, trở nên điên cuồng, câm bặt không nói được suốt năm sáu năm. Về sau, mộng thấy một bà cụ đầu đội lúp trắng, xách giỏ, bảo hãy nuốt viên thuốc hồng đựng trong giỏ. Ông Quý muốn giữ lại để dâng cho mẹ, bà cụ ép nuốt, lấy gậy quật vào lưng. Ông Quý bèn tỉnh giấc, chẳng còn thấy khối đen tròn truy đuổi nữa, khỏi ngay bệnh điên. Ngày hôm sau, thấy ở cạnh miếu có người xách giỏ, hình dáng, ăn mặc giống như người trong mộng, muốn cảm tạ nhưng không nói được, bà cụ cũng chợt mất dạng. Đến buổi chiều, hầu [mẹ ăn] cơm, đột nhiên nói ra tiếng, cả nhà kinh ngạc, hỏi han. Ông kể lại những gì được thấy trong mộng, [người ta nói] ấy chính là Ngư Lam Đại Sĩ[31] được lưu truyền trong cõi đời; do vậy bèn vẽ tượng cúng dường.

Theo Tĩnh Hàm Bút Ký, trong niên hiệu Gia Khánh, kỳ nhân[32] là Văn Hải cùng với anh lập đàn, tập luyện [binh thư] Vũ Bị Lục[33]. Trong nhà họ đã thờ Quán Âm từ trước, Bồ Tát bèn giáng đàn khuyên: “Đây không phải là chánh đạo, tập theo sẽ bất lợi. Cha các ngươi làm lành rất nhiều, và do bà cố ăn chay, tin tưởng làm lành, nên được quả báo con cháu là hạng trâm anh hiển hách nhiều đời. Anh em các ngươi tập luyện thứ này sẽ có tai họa bất trắc, cho nên ta đến cứu”. Quán Âm Bồ Tát cho biết: “Trong ngày Hai Mươi Mốt tháng Sáu năm nay, Hải sẽ bị sét đánh”, rồi sai người anh hãy đưa tay viết, vẽ lên ngực ông Hải. Trong chớp mắt, thấy con vượn trắng đang vờn quanh thân mình đã bị thần bắt ném đi. [Văn Hải viết]: “Đến ngày Hai Mươi Mốt [tháng Sáu năm ấy], sấm sét nổ dữ dội quanh nhà, nghĩ đến mà run rẩy. Nay được nghe lời truyền bảo tại vùng Giang Hữu đang khắc sách Hải Nam Hợp Biên, chẳng dám tự giấu diếm, mà cũng chẳng dám có một chữ dối đời. Chép vào cuối sách để trên là báo ơn Đại Sĩ cứu vớt”. Xét ra Văn Hải làm quan đến chức Án Sát, thọ bảy mươi hai tuổi; đủ thấy người có thể sửa lỗi hướng lành sẽ tự hưởng phước, thoát khỏi tai họa.

2.2.2.8. Cứu vớt kẻ đọa lạc

1. Trong hội Vu Lan, dẫn dự hương trai. Địa ngục rền tiếng, vẩy rưới tịnh thủy.

2. U Minh coi trọng Quán Âm Kinh, tháp A Dục cũng nên lễ bái.

3. Da Xá vào đường quỷ chẳng sợ, Gia Huy người cõng bay lên không.

4. Thôi Quỹ chép kinh hưởng phước, Lý Huy tạo tượng sanh thiên.

5. Cứu vãn đọa lạc, mừng Lô Sơn đảnh đầu ấm áp. Oai nghi nghiêm chỉnh, mời Sa-di ngự trên tòa vàng.

6. Quận Quân thầm tụng, điện đường chao đảo. Ngô Duyệt hô lên, vạc dầu vỡ nát.

7. Tây Phương tạo phước, khỏi thành lợn dê trên mặt nước. Nam Hải hoàn hồn, đừng ngắm chốn tửu lâu xinh đẹp.

8. Tụng kinh, giữ giới, ông Thang chẳng tới non đao, lìa tối vào sáng, họ Hà trốn khỏi gậy sắt.

9. Đệ tử ngài Hám Sơn, do thầy quán tưởng, được hưởng thanh lương. Vong huynh sư Tam Quả, nương lời chúc nguyện, chóng được giải thoát.

10. Cao tăng tu sám, mệnh phụ được thăng thiên cung. Từ mẫu tụng kinh, con đã mất mừng sanh hoàng thất.

11. Quan phạm tội Ba La Di, suýt bị phạt làm trâu. Cô gái trì kinh Bát Nhã, khỏi bị đọa làm chó.

12. Dùng tâm chuyển nghiệp, Bá Thời khỏi sanh vào bụng ngựa. Nghe dạy sanh thiên, Tông Diễn cứu hầu vương thoát kiếp.

13. Am Ban Trúc tu sám, khỏi bị quỷ sứ bắt đi. Vạc dầu nở hoa sen, may được Vi Đà nâng xử.

14. Húc Đình, Thiên Trụ, mau giải oan khiên. Lưu Viện, Quế Dung chẳng đền nợ trước.

15. Rưới bằng nước tụng chú, thân ngạ quỷ đã hiện dần tiêu. Vừa mới tụng tựa kinh, sự khổ địa ngục liền dứt.

16. Mẹ ông Phạm sanh thiên, hưởng phước; vợ họ Phương làm con, thành tài.

17. Xây chùa chẳng đọa tam đồ, hiếu thảo khỏi đền túc nghiệp.

18. Gỡ sửa tóc rối, diệt trừ ngũ quỷ trêu ghẹo. Đau hơn nung, nướng, may được cả nhà trai giới.

19. Ấy là vì Đại Sĩ phát nguyện, vốn trọng tại tam đồ, nhưng tội tánh vốn không, nên có thể diệt từ một niệm. Ấy là sự cứu khổ thứ tám của Đại Sĩ vậy.

(1) Theo Hoạt Diêm La Đoán Án, ngày Rằm tháng Bảy, khắp thiên hạ lễ sám, thí thực. Quán Âm Đại Sĩ đích thân dẫn các tù nhân [trong địa ngục] đến ăn. Lại còn xem xét bốn mươi chín vụ án. Diêm Vương nói: “[Các ngươi] cũng nên biết người dẫn bọn ngươi đi ăn là ai, chính là đức từ bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Nếu các ngươi niệm A Di Đà Phật một tiếng thì các ngươi sẽ thoát tội. Cả ngục đều niệm thì cả ngục thoát tội. Nếu vạn nhất niệm không được bốn chữ thì chỉ niệm một chữ Phật cũng được thoát tội. Các ngươi có niệm được một chữ Phật hay không?”

Theo Hiện Quả Tùy Lục, Vương Kiến ở Ngô Môn chết xuống cõi âm. [Phán quan] tra án thấy là bắt lầm bèn cho hồi sanh. Vương Kiến thấy địa ngục lửa đen ngút trời, tiếng gào khóc như sấm động. Ba vị lão tăng ngồi trên ngọn cây to, mỗi lần trong ngục vang rần tiếng kêu đau đớn bèn rẩy tịnh thủy xuống, âm thanh ấy liền ngưng bặt. Hỏi ra thì đấy là ba vị Đại Sĩ Quán Âm, Phổ Hiền, và Địa Tạng.

(2) Theo Quán Âm Kinh Linh Nghiệm, khi Cừu Tấn làm quan tại Tiền Đường, ở trong nha môn có một vầng ánh sáng tròn đưa cô em gái đã mất tới. Hỏi chuyện cõi âm, cô ta bảo: “Trong cõi u minh trọng Quán Âm Kinh nhất, Bồ Tát có thể tầm thanh cảm ứng, cứu khổ giúp nạn; nhưng lễ sám, tụng kinh, hãy nên trai giới, thành kính thì mới có thể tiêu tai, được phước. Quan trọng nhất là đừng như trẻ nít đùa bỡn, khinh nhờn!”

Theo Dục Vương Chí, trong niên hiệu Thái Khang đời Tấn, ông Lưu Tát Ha làm nghề săn bắn, chợt chết bất ngờ. Bảy ngày sau tỉnh lại, kể đã đến mười tám địa ngục, đều tùy theo nghiệp nặng hay nhẹ mà chịu đựng các nỗi đau đớn, khổ sở. Chợt thấy Quán Thế Âm Bồ Tát bảo: “Ngươi đáng phải đọa địa ngục, ta cứu ngươi sống lại, hãy nên làm sa-môn. Hiện nay, tại hạ lưu sông Lạc, Tề Thành, Đan Dương, Cối Kê đều có tháp A Dục Vương, có thể đến những nơi ấy lễ bái thì khi mạng chung sẽ chẳng đọa địa ngục”. Sau khi tỉnh lại, ông xuất gia, có pháp hiệu là Huệ Đạt. Do vậy, đến các chỗ như Mậu Sơn, Trường Can v.v… lễ bái, tháp xá-lợi chợt vọt lên.

(3) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, đời Tùy, ngài Na Liên Đề Lê Da Xá, hành hóa ở phía Bắc Tuyết Sơn, thấy giữa nhân đạo và quỷ đạo thì nhân đạo vắng vẻ, hiểm trở, còn quỷ đạo thì thông suốt, tiện lợi. Một vị Tăng đồng bạn đi nhầm vào quỷ đạo. Ngài Da Xá miệng tụng Quán Âm thần chú, còn một trăm bước nữa sẽ đuổi kịp thì vị ấy đã quỷ bị hại, còn chính Ngài thì do chú lực nên quỷ không làm gì được.

Theo Linh Cảm Phú, đời Minh, Dương Gia Huy bị bệnh chết, vào cõi âm, được một người cõng lên núi cao chớn chở, vội niệm Quán Âm bèn cùng với người cõng mình bay vọt lên hư không.

(4) Theo Pháp Uyển Châu Lâm, trong niên hiệu Trinh Quán đời Đường, con rể của Vương Hoằng Chi là Thôi Quỹ chết. Về sau, [Thôi Quỹ] thường đến báo mộng với người khác, khuyên người ta lễ Phật, lại kể đầy đủ những chuyện trong địa ngục, xin chép kinh Pháp Hoa, Kim Cang, Quán Âm mỗi thứ ba bộ. Chép xong, cảm tạ: “Được giúp phước to lớn, nay xin cáo biệt”.

Theo Thái Bình Quảng Ký, Lưu Tử Cống đã chết rồi tạm sống lại, nói đã gặp bố vợ là Tô Nguyên Tông, bèn hỏi bố vợ ham làm lành, sao lại ở nơi đây? Ông đáp: “Do có lỗi nên bị ở lại đây, nay chẳng bao lâu nữa sẽ sanh lên trời. Con trưởng ta có tín nguyện, mất đi liền sanh lên trời, con út vừa trộm cắp, vừa giết chóc, hiện đang ở địa ngục”. Hàng xóm là Lý Huy nói: “Phiền ông hãy nói với con tôi, tôi phạm tội bị trói, hãy mau vì tôi tạo một tượng Quán Âm và chép một bộ Pháp Hoa thì tôi sẽ sanh lên trời”. Còn cha ông ta thì dè dặt nói: “Ta bắn chết cầm thú, hằng ngày thường có quỷ đầu trâu nung mấy ngàn viên đạn sắt đỏ như lửa, nhét vào trong thịt ta, khổ chẳng thể nói nổi!”

(5) Theo Linh Cảm Phú, hai vị Tăng ở Lô Sơn, một vị trì chú Vãng Sanh, vị kia trì chú Đại Bi cầu sanh Tịnh Độ. Người trì Vãng Sanh mất trước, đảnh đầu ấm. Vị trì Đại Bi mất sau, thoạt đầu thân lạnh, bàn chân nóng như lửa; hồi lâu sau, đảnh đầu bèn nóng, bàn chân lạnh như băng, ấy là điềm ứng nghiệm diệt nghiệp địa ngục, vãng sanh Tây Phương vậy.

Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đầu đời Tùy, có vị Tăng ở Dương Châu tụng kinh Niết Bàn, tự kiêu hãnh với hạnh tu ấy. Một chú Sa-di ở Kỳ Sơn tụng Quán Âm Kinh. Hai người cùng chết đột ngột. Đến chỗ Diêm Vương, vua bèn mời chú Sa-di ngồi tòa vàng, hết sức kính trọng; mời vị Tăng tụng kinh Niết Bàn ngồi tòa bạc, kém phần cung kính hơn, vị Tăng cả thẹn. Khi cả hai đều sống lại, vị Tăng đến chỗ chú Sa-di ở Kỳ Sơn hỏi cặn kẽ nguyên do. Sa-di thưa: “Mỗi khi con tụng kinh đều mặc áo sạch, đốt hương thơm, chú nguyện rồi mới tụng”. Ông Tăng nói: “Tội ta sâu lắm. Khi tụng Niết Bàn, oai nghi không tề chỉnh, thân miệng chẳng sạch”.

Lăng Nghiêm Kinh: “Nghiêm chỉnh oai nghi, túc cung trai pháp” (Oai nghi nghiêm chỉnh, cung kính vâng giữ trai pháp).

(6) Theo Cảm Ứng Thiên Tăng Chú, đời Tống, Lý Quận Quân đã sẵn có đức hạnh tốt đẹp, thường trì chú Đại Bi. Do bị bệnh, họ Lý đi vào cõi âm, thấy hai người quyền cao chức trọng ngồi trên tòa cao ngất ngưởng, liền thầm niệm chú Đại Bi, điện đường lay động, bên trái, bên phải đều muốn đổ nhào. Người quyền quý bảo: “Đừng tụng nữa, sẽ thả cho ngươi về. Do lúc còn sống từng nhặt được hạt châu đánh rơi, trả lại cho người ta, nên tăng thọ hai mươi năm”. Tỉnh dậy bèn lành bệnh.

Theo Hiện Quả Tùy Lục, trong thời Khang Hy nhà Thanh, Hiếu Liêm Đới Ngô Duyệt ở Tô Châu hành vi rất phóng đãng, người bị hại rất nhiều, bị bộ Công bắt giữ, chết trong ngục. Đúng lúc ấy, trong thành có người tên X… bị chết bất ngờ, sống lại, kể: “Vua cõi âm sai bỏ họ Đới vào vạc dầu. Từ chỗ đất bằng bỗng trồi lên một vạc dầu. Quỷ lấy chĩa xiên họ Đới bỏ vào vạc. Ông Đới hô lên: ‘Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da’, vạc dầu vỡ nát, trên mặt đất hoa sen trồi lên. Vua cõi âm phán: “Hắn đã có thể tụng chú cho nên không phạt được, hãy cho hắn đầu thai vào nhà xấu ác”. Bầy tôi tâu: “Gã X… ở Gia Hưng làm ác, lập đàn cầu con”. Vua liền cho ông ta đầu thai vào nơi ấy. Sang Gia Hưng hỏi thăm, mọi chuyện đều chẳng sai!

(7) Theo Kim Cang Cảm Ứng, trong niên hiệu Đại Trung đời Đường, Lý Cư nhiễm bệnh; cảm thấy gió thổi bay đến một nơi, nước rộng mênh mông không bờ mé, người và súc vật đứng trên bờ. Có người mặc áo vàng hỏi đã làm điều thiện gì. Nếu không có thì sẽ làm lợn, dê trên mặt nước. Ông Cư nói đã từng tạo một bức Tây Phương Công Đức ở chùa Tịnh Chúng, lại chép năm trăm quyển kinh trong Đại Tạng. Sứ giả dẫn vào một tòa đại điện, có vị Tăng bảo nhà vua rằng: “Người này chí tâm tạo phước, chẳng dối trá”. Vua sai đưa về. Ông Cư thấy công đức do chính mình đã tạo được khắc bia, ghi chép phân minh trong điện, liền sống lại. Thấy Quán Âm Bồ Tát đứng cười, vợ con vây quanh khóc lóc, bảo ông đã chết bảy ngày rồi.

Theo Nhân Quả Thực Lục, trong niên hiệu Gia Khánh đời Thanh, Chương Khai Nguyên ở Nam Phong thấy sai nha cầm xiềng, vác côn đến lôi đi. Phía sau chợt có người nắm lại kêu: “Người này trì Quán Âm Kinh rất kiền thành. Lại còn trích những điều dễ phạm nhất từ Kính Tín Lục để in tặng. Nếu bị đoản thọ thì làm sao khuyên kẻ khác làm lành?” Sai nha không nghe, người kéo lại cũng không buông. Sai nha bỏ đi, người nắm ông Chương bảo: “Bọn chúng bỏ đi nhưng ắt sẽ trở lại. Hãy mau tới Nam Hải cầu Đại Sĩ”. Người ấy dặn ông Chương hãy chí tâm niệm Nam Mô A Di Đà Phật và Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát thì sẽ tự đến được. Còn nói thêm: “Nếu thấy điều gì đáng ưa, hãy cẩn thận đừng động lòng đến nỗi đọa ác đạo”. Ông Chương vâng theo lời dạy, liền bay lên không. Không lâu sau, thấy những quán rượu đẹp đẽ, tranh nhau chèo kéo. Ông Chương nhớ kỹ lời dặn, không nhòm ngó tới thì không thấy nữa. Sóng bủa tận trời, biển cả đã hiện ra trước mặt. Trong biển có đảo, người qua lại đều mặc áo nhà tu. Ông Chương phục xuống đất, xưng Phật hiệu, thấy hai ba cụ già tóc bạc, dẫn một người xuống núi. Người đã kéo ông Chương [khi trước] bảo: “Đấy chính là hồn của ngươi, hãy mau lễ tạ Bồ Tát”. Ngài bèn dẫn đi thăm địa phủ, đi qua khắp hai đường thiện ác rồi mới tỉnh lại.

(8) Theo Nhân Quả Thực Lục, Lâm Tự Lân bị [cõi âm] bắt lầm, sống lại, kể chuyện đã thấy vua cõi âm phán tội Thang X… ở Hoàng Mai như sau: “Trong quân ngũ, ngươi quen thói tàn nhẫn, bắt bớ con cái người khác, tội ác ngập đầu, giải lên núi đao”. Phán quan bẩm rằng: “Trong hôm phá thành Dương Châu, họ Thang bắt được hai thiếu phụ giữ kín nhưng không xâm phạm, đem trả lại chồng họ, còn không nhận lễ tạ. Hơn nữa, mồng Một, ngày Rằm, hắn ăn chay, tụng Cao Vương Kinh”. Vua phán: “Có công đức ấy thì rất đáng kính, cho làm quan văn thất phẩm, con cháu hai đời hiển vinh, thọ bảy mươi chín tuổi, khi chết không bệnh tật gì”.

Theo Nhất Hạnh Cư Tập, trong thời Càn Long nhà Thanh, con bà Hà Thị ở Nam Hào bệnh nhiệt, thấy người chú đã mất lõa lồ, xõa tóc, nói: “Lúc sống tạo nhiều oan nghiệt, chết đi bị nhốt trong ngục Hắc Ám đã tám năm, hằng ngày bị ác quỷ đập bằng gậy sắt. Gần đây, Quán Âm Đại Sĩ giáng lâm, ta quỳ xin Ngài từ bi cứu vớt, chợt được ra khỏi chốn tối tăm. Đúng lúc ấy, đạo nhân Kính Trí từ Tây Phương đến, Ngài là thầy của vua cõi âm, có tình thân thiết cũ với nhà ta, xin [cho ta được] tạm thả về. Hãy gấp vì ta tu phước hòng được sanh vào loài người”.

(9) Đời Minh, Hám Sơn đại sư có một đệ tử bị bệnh điên, tự nói đã bị đọa hỏa ngục, cầu Sư cứu vớt. Sư quán tưởng Quán Âm, hiện ra ao nước trong mát.

Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, đời Tùy, ngài Trí Hưng tụng kinh, trì luật. Người anh đã mất của vị Tăng cùng chùa là Tam Quả báo mộng cho vợ: “Ta đọa địa ngục, nhờ sư Trí Hưng chùa Thiền Định gõ chuông, tiếng vang chấn động địa ngục, những người chịu khổ bèn cùng lúc được giải thoát”. Bà ta bèn đem mười xấp lụa tạ ơn ngài Trí Hưng. Ấy là vì khi gõ chuông, sư Trí Hưng luôn chúc nguyện Như Lai, Đại Sĩ cùng giáng đạo tràng, ngõ hầu hết thảy chúng sanh trong các đường ác nghe tiếng chuông đều lìa khổ.

(10) Đời Minh, tại núi Thiên Thai có vị tăng tên Nhất Chỉ, tu Đại Bi Sám Pháp mấy chục năm. Chi phu nhân ở Côn Sơn cúng dường Sư mười mấy năm, chưa từng biết mặt. Bà Chi mất rồi, sư Nhất Chỉ mộng thấy bà ta đến xin sám hối. Sư Nhất Chỉ tu sám pháp suốt 21 ngày, đích thân thấy trên hư không có hai đồng tử cầm phan. Một đồng tử đứng giữa, cảm tạ: “Nhờ sức sám hối của Sư, con được sanh lên thiên giới”.

Tạ Thao chôn hai con, vợ đau buồn, ngã bệnh, mộng thấy hai đứa đều đeo gông xiềng bằng sắt, khuyên mẹ hãy tự rộng lượng, làm phước cứu họ thoát tội. Bà mẹ liền giữ Quán Âm Trai, lễ Quán Âm Sám, tụng Quán Âm Kinh, lại mộng thấy con nói đã thác sanh vào cung vua hưởng phước.

(11) Theo Phổ Đà Chí, vào đời Minh, Quận Thừa xứ Ninh Ba là Long Đức Phù do xử án, đốt kinh Pháp Hoa, buộc Tăng dẫm lên. Ông Long chợt ngã xuống đất, không dậy được. Thấy thần Già Lam vâng lệnh Đại Sĩ đến luận tội: “Gã quan này phạm tội Ba La Di[34], nhưng do còn yêu dân, chỉ phạt làm trâu”. Đức Phù đau xót cầu xin, ăn chay trường, in kinh, trai tăng để chuộc tội. Lại được Đại Trí thiền sư sám hối mười lăm ngày. Ông Phù đích thân thấy hai ngọc nữ cầm phan dẫn đến trước Đại Sĩ, được tha tội.

Theo Nam Hải Từ Hàng, con gái Trương Thị là Phật Nhi tụng Quán Âm Kinh, đột ngột chết đi, sống lại, nói bị hai tên sai dịch lôi đi. Trước hết, sai dịch dùng cái mền đen trùm hai người rồi bỏ vào nhà họ Trần; kế đến dùng cái mền hoa trùm lấy cô ta, bảo: “Ngươi thiếu hắn một ngàn năm trăm đồng, nay phải nên trả nợ!” Có người mặc áo xanh nói: “Cô gái này niệm kinh Bát Nhã, hãy thả ra”. Do vậy, sảy chân ngã xuống đất, bèn tỉnh lại. Thưa chuyện với cha, ông bố đi hỏi nhà họ Trần thì ra đêm đó có ba con chó sanh trong nhà ấy, hai con đen, một con vá, con vá chết ngay. Do vậy, bèn đem tiền trả cho ông Trần. Ông Trần không lấy, bảo đem quyên tặng để giúp làm việc nghĩa.

(12) Theo Giác Hổ Tập, đời Tống, Lý Bá Thời thích vẽ ngựa. Sư Pháp Tú khuyên nhủ: “Ông là đại phu mà cứ suốt đời hết kiếp hằng ngày nghĩ đến hình dáng ngựa. Khi nhắm mắt xuôi tay, sẽ lạc vào thai ngựa không ngờ gì nữa!” Bá Thời bái tạ: “Làm thế nào để gột lỗi?” Sư dạy: “Chỉ nên vẽ hình Quán Thế Âm Bồ Tát”. Từ đấy, những bức vẽ Đại Sĩ của ông đẹp nhất thiên hạ.

Đời Tống, thần rừng hộ sơn chùa Năng Nhân tại Phước Châu [trước kia] vốn là một con khỉ bị [dân chúng] bắt sống, trói lại, đắp bùn lên [thành tượng thờ] gọi là Hầu Vương (vua khỉ). Lâu ngày nó tác quái, nhiều người bị hại. Trưởng lão Tông Diễn thương xót con khỉ oan nghiệt nặng nề bèn tụng chú Đại Bi độ nó. Ban đêm mộng thấy có người đàn bà chân khỉ lấm lem máu, dẫn con khỉ nhỏ buộc bằng xích sắt, đến bái tạ nói: “Đệ tử là Hầu Vương, nay nhờ pháp lực giải thoát sanh lên trời. Xin hãy cởi trói cho con khỉ nhỏ”. Đến sáng mở khám thờ ra xem, thấy xác khỉ bị xiềng ba vòng, từng bị bọn đồng cốt bắn trúng nách trái, bèn phá sạch hết đi, những chuyện tà quái tuyệt tích.

(13) Vào đời Minh, sư Thích Không Tuyết tu sám tại am Ban Trúc ở Tân Xương, đêm lễ Quán Âm. Mộng thấy hai sứ giả mặt xanh đến bắt. Bên cạnh có cụ già khuyên hãy ngừng tay. Một cô gái áo trắng nói: “Ông ta tu hành chân chánh, sao các ngươi lại bắt?” Hai người mặt xanh liền biến mất.

Đời Minh, Ngô Dịch Đức bắt chước người chú là Chánh Côn, ăn chay, lễ Phật, càng thêm tin tưởng sâu đậm. Chép kinh Đại Bi năm mươi quyển, kinh Kim Cang ba mươi quyển, chợt chết đột ngột, tắt hơi, hồn đi vào cõi âm. Do tội đời trước nên phải vào vạc dầu sôi; chợt Vi Đà Thiên (Hộ Pháp Vi Đà Bồ Tát) và Quan Đế đứng trên không trung. Vi Đà Thiên nâng [kim cang] xử; trong vạc sanh ra hoa sen, ông Ngô bèn tỉnh lại.

(14) Theo Kiến Văn Tùy Bút, Thái Thú Tông Tương Văn cầu cơ. Cơ dạy: “Hãy gọi gã giúp việc án từ[35] là Trầm Húc Đình đến đây”. Ông Trầm đến, cơ bút vẽ một con dao, viết: “Sẽ giết hắn để rửa sạch oán thù”. Nhóm ông Tông đều thay ông Trầm xin giải oan, [oán quỷ giáng cơ] nói: “Chẳng tham tiền tài, lụa là, chẳng cần trai sám, chỉ muốn đoạt mạng!” Họ bèn thỉnh thần Thổ Địa, hỏi đầu đuôi mối oán thù, và xin Thổ Địa đứng làm trung gian hòa giải. Thổ Địa nói: “Quỷ tên là Tào Thiên Hỷ, người xứ Giới Hưu. Đời trước, ông Trầm làm huyện lệnh nơi ấy, ăn hối lộ, vu oan, khiến họ Tào bị giam cầm, bị phạt trượng đến chết, nên nay đòi mạng. Ta đã bẩm với Thành Hoàng. Thành Hoàng tra thấy họ Trầm đời này không có tội gì, khuyên họ Tào hãy để cho họ Trầm hằng ngày niệm Tâm Kinh năm mươi lần, lấy năm tháng làm hạn, kiền thành chép năm mươi quyển Tâm Kinh đốt đi để cởi gỡ oán thù”. Ông Trầm tuân lời dạy. Về sau, do bận bịu nên hơi lười nhác, Thổ Địa giáng đàn bảo: “Trước kia ta giấu đao của họ Tào, đứng giữa giàn xếp. Nay ngươi phụ ước, họ Tào lại đòi đao”. Ông Trầm bái tạ sám hối, kiền thành tụng Tâm Kinh không dám lười nhác.

Đời Minh, Hồ Thiên Trụ chẳng theo Ngụy Đang [dấy loạn], bỏ chức quan, xuống tóc, tách họ ra làm tên, đặt hiệu là Cổ Nguyệt[36], bị vết ghẻ có hình mặt người, nói: “Ta là Lô Chiêu Dung đời Đường, ông giết chết ta, hơn sáu trăm năm vẫn còn làm quỷ. Hãy nên chép kinh để cứu vớt”. Cổ Nguyệt nhịn đau chép kinh, còn niệm thánh hiệu Quán Âm, vết ghẻ liền lành.

Theo Minh Báo Lục, con gái Lăng Tụ Cát ở Hàng Châu bị bệnh, thốt lời trách mắng. Hỏi tới thì xưng là oán thù đời trước, bảo: “Ta là Nghê Thụy Long, người Dương Châu có năm mươi mẫu đất, bị cường hào chiếm đoạt. Con gái ngươi đời trước chính là Lưu X… làm Sát Viện, nhận tiền của ta mà lại hại ta phải chết trong ngục, ngậm oan sáu mươi năm, nay đến đòi mạng”. Nói xong, kéo [con gái ông Lăng] xuống địa phủ, trong miệng rì rầm kể chuyện cõi âm: “Thoạt đầu tối như mực, mất một lúc mới nhận được mọi vật, Quỷ Môn Quan, Vọng Hương Đài, Nại Hà Kiều, đều đi qua hết. Người bị xay, xương cốt vỡ nát từng miếng kêu đau đớn, chia cho trùng kiến. Những chuyện khác đau đớn chẳng thể nói được! Lại có một chỗ đèn đuốc sáng ngời, áo mũ rỡ ràng, là nơi người lành ở. Lại đến một chỗ, sáng như ban ngày, sen nở đỏ, trắng, gió thơm lùa ngát mũi, nhà cửa đều bằng vàng, bằng ngọc, chính là chỗ ở của bậc chí thiện”. Tụ Cát bảo con gái hãy kiền thành niệm Quán Âm, mỗi ngày ba ngàn biến để cầu giải oan. Cô gái thấy quỷ sứ cho biết đã đến hạn thẩm tra, bèn mê đi. Họ Nghê tố cáo [trong đời trước] cô đã ăn hối lộ, khiến ông ta bị chết, cô gái biện bạch ông ta chết không phải do chính mình gây ra. Thần phán định: “Ông ta chết là do bị người nhà hạ độc! Tuy ngươi không biết nhưng ăn hối lộ một ngàn hai trăm lạng bạc, cũng không lẽ nào được sống sót!” Cô gái hoảng sợ, xin tha mạng. Vua nói: “Nghĩ ngươi đã sám hối, trì tụng Quán Âm, nên thả ngươi, nhưng phải tận lực làm lành để tăng thọ”, vua sai đưa về. Bèn mời Ẩn Nhai thiền sư làm lễ phóng Diệm Khẩu. Con rể là Giang X… tận mắt thấy quỷ có hình dáng mặt đen, phun lửa, nói: “Pháp sư đạo lực sâu dầy, chúng con được ăn, sắp ra đi vĩnh viễn, xin ông Lưu hãy đưa tiễn”. Cô gái tự chồm dậy, đến chỗ lập đàn, bệnh trầm kha liền hết.

Theo Tự Cầu Tập, ông Thí ở Tô Châu khinh tài trọng nghĩa, đem vàng tu bổ Đại Sĩ Điện ở Hổ Khâu, nghe có tiếng khóc, nhìn xem thì thấy bạn học là Quế X… nói mắc nợ muốn tự tử, ông bèn đem ba trăm lạng vàng trao cho. Ông Quế lạy trước Đại Sĩ, thề: “Nếu đời này chẳng thể trả được, đời sau sẽ làm chó ngựa báo đáp”. Ông Thí lại cho ông Quế ở trong vườn táo. Ông Quế có một gái, ông Thí bèn hứa sẽ cưới cho con trai của mình tên là Hoàn. Không lâu sau, họ Quế đào được hơn một ngàn lạng vàng dưới gốc cây táo, dần dần giàu lên. Trái lại, ông Thí đâm ra nghèo nàn, vợ chồng kế tiếp nhau mất đi. Ông Quế rắp tâm bội hôn, dời sang Cối Kê. Thí Hoàn nạp sính lễ, ông Quế không nhận.

Về sau, ông Quế lên kinh đô bị lường gạt, tài sản hao hụt quá nửa. Ngủ trong quán trọ, thấy có một tòa nhà to, bên cạnh có lỗ chó, liền nép xuống đất chui vào, thấy ông Thí bèn chắp tay chào. Ông Thí quát: “Súc sanh sủa bậy!” Chạy ra sau vườn, thấy vợ và hai con đều mang hình dáng chó, nhìn lại chính thân mình cũng là chó, kinh hãi hỏi: “Sao lại ra nông nỗi này?” Vợ đáp: “Ông chẳng nhớ lời thề trước tượng Đại Sĩ hay sao?” Kinh hãi tỉnh giấc, vội trở về thì hai con đã chết, vợ cũng sắp nguy, trợn mắt, nói giọng đứa con cả: “Vua cõi âm do thấy nhà ta phụ ơn ông Thí nên phạt chúng ta đều sanh làm chó [trong nhà ông ta]. Hai con đực là anh em con, còn con cái lưng có bướu là mẹ. Tới mùa Thu cha cũng sẽ sanh vào đó. Chỉ có em gái con là do có nhân duyên nên được miễn”.

Ông Quế đang kinh hãi, đau đớn thì bị cháy nhà, chẳng còn một vật gì, bèn dắt con gái sang tìm con ông Thí. Đến nơi thì nhà cửa khang trang, Thí Hoàn đã thi đậu, đã cưới con gái quan Tham Chánh. Ông Quế hối hận, nhờ người bày tỏ lòng hối tiếc và ý muốn xin dâng con gái làm thiếp. Thí Hoàn không chấp nhận. Ông Quế bước vào nhà, ba con chó vây quanh sủa ai oán, một con quả thật có bướu, biết là vợ con mình, đau đớn cùng cực, hướng về phía Thí Hoàn khóc lóc, lạy lục, kể lại giấc mộng và lời vợ nói lúc lâm chung, van nài: “Xin ân nhân mở một mặt lưới, nhận con gái tôi làm tôi tớ, cho tôi làm nô bộc để tận lực làm lụng nhằm thay cho quả báo làm chó”. Thí Hoàn thương cảm nhận lời. Ông Quế đêm mộng thấy vợ con nói: “May mà ông đã hối tội, chúng tôi được thoát thân nghiệp chướng”. Đến sáng, cả ba con chó đều chết, còn chính ông ta đến hết năm cũng không sao.

(15) Đời Tống, một vị tăng ở Hổ Khâu là Pháp Đạo do bị bệnh liền biến hình thành ngạ quỷ, bụng to, họng nhỏ. Người ta cho ăn bèn kêu là viên sắt. Đạo pháp sư tụng chú Đại Bi, đem nước đã tụng chú rưới lên, [Pháp Đạo] bèn đòi ăn cháo, dần dần khỏi bệnh.

Đời Đường, Long Đức Minh mất, vào cõi âm. Diêm vương hỏi lúc sống làm điều lành nào? Thưa: “Tôi tụng Quán Âm Kinh”. Vua mời lên tòa, vừa mới đọc tựa đề kinh, sự khổ trong địa ngục đã dứt.

(16) Theo Linh Sơn Thắng Tích, vào đời Tống, mẹ ông Phạm Trọng Yêm mất được ba tuần, báo mộng, khóc lóc nói: “Mẹ do nghiệp phải bị giam cầm nơi Thái Sơn Phủ Quân, chịu phạt không kham nổi. Xin con hãy tụng kinh Kim Cang một tạng để cứu vớt, xin đừng chần chừ, nghi hoặc. Nếu mẹ lọt vào địa ngục sẽ vĩnh viễn chẳng thể siêu sanh”. Ông Phạm khóc lóc, tỉnh giấc, liền mời Tăng phúng tụng. Đến hôm thứ sáu, mộng thấy mẹ bảo: “Nhờ con chí thành, cảm Bạch Y Đại Sĩ giáng phàm, đọc nửa quyển kinh, mẹ được sanh lên trời, hãy nên đáp tạ Đại Sĩ trọng hậu”. Trong ngày tụng kinh viên mãn, ông Phạm bèn cảm tạ chúng tăng; nhân đó, hỏi ai là người đã tụng nửa quyển kinh. Chúng tăng thất sắc đáp: “Tụng kinh chẳng thiếu một chữ, há lại có chuyện chỉ trì nửa quyển?” Có một vị Tăng ở bên cạnh nói: “Ngày hôm qua đại chúng tụng kinh, sơn tăng đứng bên cạnh yên lặng nhìn, đến nửa quyển thì Ngài đến dâng hương, liền trở về nhà bếp làm việc, nay Ngài hỏi tới, tôi xin đáp thẳng”. Ông Phạm sụp xuống lạy, vị Tăng nói: “Mạc, mạc” (đừng, đừng) rồi bay lên trời, chẳng thấy nữa! Do vậy, ông Phạm bèn dựng tòa Mạc Mạc Đường để kỷ niệm.

Theo Nam Hải Từ Hàng, Phương Nham Tú ở Huy Châu, vợ chết vì sanh nở, mộng thấy vợ bảo với Nham: “Lúc còn sống, tội lỗi đã nhiều, chịu phạt chốn âm tào. Xin hãy tụng Quán Âm Kinh một ngàn biến, in tặng một ngàn quyển để mong được siêu sanh”. Ông Nham làm theo. Về sau, bà vợ kế có mang, chợt thấy người vợ trước đi vào phòng. Đứa con sanh ra đặt tên là Nguyên Hanh, lúc trưởng thành đậu Tiến Sĩ.

(17) Theo Phổ Đà Chí, trong bài ký của Cao Sĩ Kỳ có kể: “Vợ tôi là Phó Thị, tin Phật, ăn chay, bị bệnh ngất đi rồi tỉnh lại, nói: ‘Nếu tu bổ đại điện Phổ Đà thì sẽ tăng thọ’. Mấy hôm sau, vợ mất, tôi bèn gom góp tiền bạc cùng các thứ trâm, bông tai của vợ để góp phần sửa chữa đại điện, mời tăng tụng kinh, thầm nguyện Đại Sĩ cho vợ báo mộng. Tối hôm ấy, đứa con lớn mộng thấy có vị Tăng nắm tay áo dẫn đến Phổ Đà, thấy điện đường nguy nga, đề biển là Phổ Trang Nghiêm Điện. Chúng tăng tụng kinh, lại nói: ‘Do công đức sửa chữa điện, vĩnh viễn chẳng đọa ba đường ác, sanh trong trời người, hưởng diệu lạc thù thắng’. Lại thấy mẹ mặc áo vàng váy trắng, chắp tay ở trước điện, bảo: ‘Kim Cang Bát Nhã lợi khắp các cõi nhiều như cát. Ta nương theo Phật lực ghi nhớ chẳng quên, phát Bồ Đề tâm, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển. Hãy nhắn với cha con đừng nhớ nhung mẹ nữa’, đứa con liền tỉnh giấc. Đứa con tánh tình thật thà[37], quyết chẳng phải là bịa chuyện. Do vậy bèn ghi lại. Áo vàng, váy trắng chính là những thứ đã đốt cho bà ta”.

Theo Hồ Nhuyên Tạp Ký, vào đời Thanh, Kim Hoàn ở Thiệu Hưng tánh hiếu thảo, thương yêu anh em. Trong niên hiệu Khang Hy, mộng thấy có người bảo: “Vào ngày này năm sau, ngươi sẽ bị sét đánh”. Hằng ngày Hoàn bèn lễ Đại Sĩ sám hối tội nghiệp. Năm sau, vào đúng hôm ấy, trời tối sầm, Hoàn sợ không tránh khỏi được, kinh động đến mẹ già, bèn ra ngoài quỳ dưới tháp Phật, sấm sét đánh ầm ầm chung quanh. Đến khi tạnh mưa vẫn không sao. Hỏi chuyện, Hoàn nói: “Đúng như trong mộng, tôi thấy Đại Sĩ dùng cành dương rưới nước, lại cầm gương chiếu một cái rồi đi”.

(18) Theo Quái Viên, trong niên hiệu Vạn Lịch đời Minh, Chương Tảo bị bệnh nguy ngập, phát tâm chép kinh, thờ tượng, liền mộng thấy năm con quỷ vò đầu tóc rối bù, quần áo lam lũ, bắt đi, lột quần áo trao đổi rồi bỏ đi. Chợt thấy chủ tiệm bán tượng Phật bảo: “Trang phục của ông để ở đây”, đi tìm quả nhiên tìm được. Thấy giường Thiền cao rộng, một vị Phạm tăng ngồi trên ấy, ông Tảo làm lễ. Thị đồng bảo: “Pháp Hoa đại sư đấy!” Đi ra, thấy trong đình có người đàn bà mặc áo trắng xách giỏ đứng đấy, ông Tảo vái chào, bà ta dùng cành dương gạt đầu tóc rối bù, liền tỉnh giấc, biết là Đại Sĩ cứu vớt.

Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Đường, Hứa Nghiễm sống bằng nghề bắt cá. Về sau mắc bệnh, thân đỏ như lửa, đau đớn hơn bị nung nướng, kêu: “Xe lửa đốt thân, tôm cá tranh nhau đến rỉa rói”. Có người khuyên hãy làm công đức, ông ta bèn đốt dụng cụ bắt cá, tạo hai bức tượng Đại Sĩ, cúng dường, sám hối. Cả nhà ăn chay, kiêng giết và thí Kim Cang Kinh, liền khỏi bệnh.

(19) Với câu trên, xin coi lại lời chú thích cho đoạn thứ ba, tức đoạn “nhập tam đồ” trong phần ca tụng chú Đại Bi.

Trong bài kệ của Tỳ Bà Thi Phật có câu: “Huyễn nhân tâm thức bổn lai vô, tội phước giai không vô sở trụ” (Tâm thức huyễn nhân vốn là không, tội phước đều không, chẳng hề trụ). Trong bài kệ của Câu Na Hàm Mâu Ni Phật có câu: “Trí giả năng tri tội tánh không, thản nhiên bất bố ư sanh tử” (Trí giả biết tội tánh vốn không, thản nhiên chẳng khiếp sợ sanh tử).

Tô Đông Pha nói: “Ta tạo vô thỉ nghiệp, vốn từ một niệm sanh. Đã từ một niệm sanh, vẫn theo một niệm diệt”.

Than ôi!

1. Sống là Phần Đoạn, ai trốn khỏi cực hình ngũ thống, chết bèn trầm luân, lại thọ quả báo lục giao.

2. Đau đớn, thảm thiết, xót xa, kệ từ mẫu chẳng gọi, kiêu căng, phóng túng, hồ nghi, bỏ lương y chẳng đoái.

3. Tự chuốc buồn phiền, há chẳng ngu lắm ư?

4. Huống hồ, thuốc vốn là Vô Úy, không chỉ các nạn trọn tiêu, châu quả thật Ma Ni, càng mừng sở cầu như nguyện.

5. Trần thuật phước báo, nhờ dục kéo lôi. (Trên đây là tổng kết về sự cứu khổ, tiếp theo là ca tụng sự ban vui).

(1) Lục đạo luân hồi đều thuộc về Phần Đoạn Sanh Tử. Do đời này chẳng biết đến chuyện thuộc đời khác, nên bảo là Phần Đoạn.

Vô Lượng Thọ Kinh: “Ngã ư thử thế gian tác Phật, xử ư ngũ ác, ngũ thống, ngũ thiêu chi trung, vi tối kịch khổ, giáo hóa quần sanh, linh xả ngũ ác, linh khử ngũ thống, linh ly ngũ thiêu” (Ta làm Phật trong thế gian này, ở trong đời có năm thứ ác, năm thứ đau đớn, năm thứ thiêu đốt khổ sở nhất, để giáo hóa quần sanh khiến họ bỏ năm thứ ác, trừ năm thứ đau đớn, lìa năm thứ thiêu đốt).

Lăng Nghiêm Kinh: “Bỉ chư chúng sanh, tự nghiệp sở cảm, tạo thập tập nhân, thọ lục giao báo” (Các chúng sanh ấy do nghiệp của chính họ cảm vời, tạo ra mười nhân tập khí, chịu quả báo của lục giao). “Lục giao” chính là sự “thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm, nghĩ tưởng” nơi sáu căn, cùng hứng chịu ác báo vậy.

(2) Sử Ký: “Đau đớn, thảm thiết, xót xa, chưa từng không kêu cha gọi  mẹ”. Cũng theo Sử Ký, có sáu loại bệnh chẳng trị được, thứ nhất là kiêu căng, phóng túng, thứ sáu là chẳng tin vào thầy thuốc.

(4) Theo phẩm Nhập Pháp Giới kinh Hoa Nghiêm: “Như nhân đắc Vô Úy dược, ly ngũ khủng bố, hỏa bất năng thiêu, độc bất năng trúng, đao bất năng thương, thủy bất năng phiêu, yên bất năng huân” (Như người được món thuốc Vô Úy, lìa năm sự sợ hãi: Lửa chẳng thể đốt, chẳng bị trúng độc, đao chẳng thể gây tổn thương, nước chẳng thể cuốn trôi, khói chẳng thể hun).

Trong phần giảng về Thập Địa, kinh lại có đoạn viết: “Như đại Ma Ni châu, năng tùy vương ý, vũ chúng bảo vật, như chúng sanh tâm, sung mãn kỳ nguyện” (Giống như châu đại Ma Ni có thể thuận theo ý vua, tuôn ra các vật báu vừa lòng chúng sanh, thỏa mãn ý nguyện của họ).

Như Ý Luân Chú Kinh cũng viết: “Đẳng Ma Ni châu, năng mãn hữu tình nhất thiết thắng nguyện” (Giống như châu Ma Ni có thể thỏa mãn hết thảy nguyện thù thắng của hữu tình).

(5) Duy Ma Kinh: “Tiên dĩ dục câu khiên, hậu linh nhập Phật trí” (Trước hết dùng dục để lôi kéo, rồi làm cho họ nhập Phật trí).

2.2.3. Ban vui

Trong phần này chia thành bốn đoạn. Trước hết là ban cho được mùa, hai là giáng phước, ba là tăng thọ, bốn là sanh con.

2.2.3.1. Ban cho được mùa

1. Bèn có đao đặt trên chậu, thỏa lòng Lương đế nguyện cầu, bình tưới lên trời, gỡ mối lo của Đường thất.

2. Kim thân hiện tướng, thật hợp lòng Vương Cổ mong cầu. Dấu thiêng tùy duyên, sự truyền trong bài ký Lưu Canh.

3. Động Triều Âm, cầu khẩn thiết tha, hoan hỷ đến đón. Chốn Tứ Châu vẳng nghe tiếng hát, Đông Tây trúng mùa.

4. Tưới nhuần Chiết thủy, há vì hương mộc mới thiêng? Phước đẫm Ngô Sơn, kim thân linh dị chẳng trật!

5. Thiên Hán trọn nhờ tưới đẫm, Quảng Phong cũng nhớ ân sâu.

6. Nổi sấm chớp trừ nạn châu chấu, ngăn dòng sông để dứt nước tràn.

7. Cảm bi nguyện của Đạo Châu, mưa tuyết đúng kỳ; chép thần thông ngài Vô Úy, hiện tướng thái dương.

8. Nhị Lâm tụng chú, gom thơ, ký, thành tập Quán Hà. Mạnh Túc trì kinh, lời ca tụng vang dội Cao Uyển.

9. Gỡ rối, họ Trình dốc lòng nơi pháp, thân chẳng chấp chặt hẹp hòi. Báo mộng cảnh tỉnh Trung Ý Vương, tượng Phật ắt cầu thanh tịnh.

10. Như Bích Chi thọ thực, khắp xứ Ca Bạt ấm no. Pháp Âm làm vua, trọn cõi Diêm Phù hưởng phước. Đấy chính là sự ban vui thứ nhất của Đại Sĩ vậy.

(1) Theo Cao Tăng Truyện, tập 1, mùa Đông năm Thiên Giám thứ 5 (506) đời Lương bị hạn hán, ngài Chí Công sai giảng kinh Thắng Man để cầu mưa. Pháp vừa giảng xong, trời đổ tuyết lớn. Chí Công bảo đem đặt thanh đao trên chậu nước, mưa to trút xuống.

Theo Cao Tăng Truyện, tập 3, Đường Trung Tông đón đại sĩ Tăng Già vào cung để cúng dường. Một hôm, vua nói: “Chốn kinh kỳ mấy tháng không mưa, xin hãy từ bi giải nỗi lo cho trẫm”. Sư hắt bình nước lên không trung, mưa ngọt ào ào trút xuống. Xét ra, hai vị này đều là do Đại Sĩ ứng hóa, xem chú thích trong phần sau.

(2) Đời Tống, Vương Cổ cầu mưa trên núi Mộc Bình, Đại Sĩ hiện tướng. Xin coi chuyện này trong lời chú thích thứ hai cho phần “hiện tướng ở nơi khác” [trong quyển 1], mưa to ngập đến chân.

Theo Phổ Đà Chí, học sĩ đời Nguyên là Lưu Canh chép: “Bảo Đà được sáng lập từ thời Nguyên Phong; khi ấy, trong những sự tích linh thiêng tùy duyên thị hiện thì sự cảm ứng đối với hạn, lụt, gió, sóng là nhanh chóng nhất”.

(3) Theo Phổ Đà Chí, trong niên hiệu Thuần Hựu đời Tống, hạn hán dữ dội mấy năm liền. Người đứng đầu vùng Chiết Giang là Nhan Di Trọng đến động Triều Âm cầu đảo, thấy Đại Sĩ hiện tướng hoan hỷ, mưa ngọt lập tức trút xuống.

Theo Cao Tăng Truyện, tập 3, Tăng Già đại sư đời Đường có tháp thờ ở Tứ Châu, hiển hiện các thứ thần dị. Trong niên hiệu Trường Khánh, có lời ca rằng: “Hoài Nam, Hoài Bắc hưởng phước từ đây, từ Đông sang Tây thảy trúng mùa”. Cả vùng ấy liền trúng mùa to.

(4) Theo Thiên Trúc Chí, năm Hàm Bình nguyên niên (998) đời Tống, Trương Khứ Hoa làm quận thú đất Hàng. Trời hạn hán to, cầu đảo khắp nơi vô hiệu, bèn rước tượng Đại Sĩ sang chùa Phạm Thiên để lễ bái, cầu nguyện. Trời liền mưa to, bốn phía nước ngập đến chân.

Lại nữa, vào năm Cảnh Thái thứ 6 (1455) đời Minh, vùng Lưỡng Chiết khổ sở vì hạn, Trấn Thủ là ông Tôn bèn trai giới, tắm gội, đi chân không đến chùa Thiên Trúc, đón tượng về cầu mưa. Ngay hôm ấy, mây kéo dầy, mưa liên tiếp ba ngày, những thứ khô khao đều hồi sinh.

Lại nữa, vào đời Thanh, trong lời tựa cho bộ Cảm Ứng Tụng của Kim Đình Tử có viết: “Năm Gia Khánh 24 (1819), hạn hán dữ dội, xác chết khô đầy đồng, cầu đảo khắp nơi vô hiệu, bèn truyền bọn huyện lệnh không được ngồi xe, mặc áo trắng, đi chân không sang chùa Thiên Trúc, đón Đại Sĩ, các vị Tăng như Huệ Lâm v.v… tụng kinh. Trước hết, họ dùng bình sạch đựng nước cho rỉ ra để xét nghiệm xem có mưa hay không. Sau một ngày, nước trong bình hơi trào ra, nhỏ tí tách như từng hạt châu, quả nhiên được mưa lay phay. Ngày hôm sau, nước tuôn ra ào ạt, liền mưa lớn. Do vậy, soạn bài tụng để nêu rõ sự ứng nghiệm thần kỳ”.

Theo Hồ Nhuyên Tạp Ký, tượng Đại Sĩ cũ ở chùa Thiên Trúc bị người Kim là Ngột Thuật[38] chở lên phía Bắc. Tăng chúng trong chùa dùng loại gỗ khác khắc lại tượng mới, nhưng nước lụt, hạn hán, cầu đảo không gì chẳng ứng nghiệm. Tin chắc Ngài do lòng đại từ, tùy duyên cư trụ, há có phải xá-lợi mới hiện oai thần, gỗ lạ mới bày sự dị thường ư? Câu kế tiếp xin coi lời chú thích 12 trong phần Hiện Thần Biến.

(5) Theo Cảnh Tâm Lục, tại Tứ Xuyên, nơi giáp ranh giữa Thiên Bành và Hán Phồn có suối Quán Âm, từ Đạo Bàng chảy ra. Mùa Hạ gặp trời hạn, nước suối ấy tưới tắm mấy ngàn mẫu, cả hai ấp được nhờ.

Theo Hải Nam Nhất Chước, ngoài cửa Bắc thành Quảng Phong ở Giang Tây, có suối Quán Âm, gặp năm khô khan, suối vẫn chẳng cạn, tưới tắm rất rộng.

(6) Theo Thiên Trúc Chí, năm Tường Phù thứ 9 (1016) đời Tống, châu chấu bay kín trời, vua sai sứ cầu đảo Đại Sĩ. Trời đang nắng chang chang, chợt nổi sấm, nháng chớp, mưa đá sầm sập trút xuống như bắn tên, quăng đá, châu chấu hết sạch.

Lại nữa, năm Khai Bảo thứ 5 (972) đời Tống, mưa to, nước sông chảy xiết. Vua cầu đảo thiên địa quỷ thần, mưa càng lớn hơn, bèn sai sứ sang chùa Thiên Trúc kiền thành cầu đảo. Mấy hôm sau, trời tạnh ráo, nước sông không dâng lên nữa. Sứ giả trở về, hỏi ra, thì quả thật [trời ngưng mưa] nhằm đúng hôm sứ giả vừa đến Hàng Châu cầu đảo. Từ đó, hễ nước lụt, hạn hán, tật dịch đều cầu đảo ở đấy.

(7) Theo Cao Tăng Truyện, tập 3, đời Thạch Tấn[39], Thích Đạo Châu vào núi Hạ Lan, trích huyết vẽ tượng Đại Bi Thiên Thủ Thiên Nhãn, tuyệt thực cầu mưa, được cảm ứng. Ngài lại chặt tay trái, đem đốt cúng dường tượng Đại Sĩ, nguyện xã tắc Trung Nguyên sớm dứt đao binh. Nói xong, trời nổi sấm, gió dậy, mưa to trút xuống. Lại nữa, Sư từng cắt tai trái để cầu mưa cho dân, nhịn ăn cầu trời đổ tuyết, đều được như nguyện.

Hơn nữa, đời Đường, ngài Thiện Vô Úy[40] cầu mưa ở Trung Thiên Trúc, thấy Quán Âm [hiện thân] trong vầng mặt trời, cầm tịnh bình xối nước xuống đất, đại chúng đều vui mừng cảm động.

(8) Theo Quán Hà Tập, năm Ất Tỵ (1785) đời Càn Long nhà Thanh, Tô Châu hạn hán, cư sĩ Bành Nhị Lâm (Bành Tế Thanh) kết giới hai mươi mốt ngày tụng tâm chú Đại Bi, trì thêm thánh hiệu của Tây Phương Phật (A Di Đà Phật), bỏ ăn trưa. Mãn kỳ hạn, mưa ngập nửa thước. Có thơ rằng: “Hung niên bất đáo liên hoa quốc, từ tế trường hoài tử trúc lâm, phần đắc tư nhân cơ bán nhật, chi đầu điểm trích dã thành lâm” (Cõi hoa sen chẳng bị mất mùa, rừng trúc biếc lòng Từ sẵn giúp, kẻ mọn nhịn ăn chừng nửa buổi, giọt sương ngọn trúc hóa mưa dầm).

Theo Cư Sĩ Truyện, đời Minh, Vương Mạnh Túc tên là Tại Công, là đệ tử ngài Vân Thê (tổ Liên Trì), đồng thời là tri huyện Cao Uyển. Lúc làm quan, ông Vương lễ Phổ Môn Đại Sĩ, tụng kinh Di Đà. Trời hạn hán to, cầu đảo ngoài đất trống, trời liền đổ mưa.

(9) Theo Lãng Tích Tục Đàm, tại Phước Châu có một năm mùa Hè bị hạn hán, quan Tư Đạo bèn yết kiến quan Đốc Bộ Trình Tân Đình, xin quan tối nay cùng lên Cổ Sơn, đón tượng Quán Âm Đại Sĩ – tượng này tự nhiên sanh ra trong lò gốm – [về thành] để cầu mưa. Họ Trình mỉm cười nói: “Đại Sĩ tại Tây Thiên, chẳng ở Cổ Sơn, các ông tự làm là được rồi”. Đến khi đã rước tượng vào thành, mời ông Trình dâng hương, ông Trình lại ngửa mặt lên trời nói: “Hôm nay, chính mắt thấy trời không mưa rồi, ngày mai chẳng mưa thì lại như thế nào đây? Ta chẳng thể sấp ngửa chạy đôn chạy đáo được!” Đêm ấy, trời mưa to lai láng suốt đêm đến tận sáng. Ông Trình bèn lên núi dâng hương, giữ tượng Đại Sĩ lại, một mình tụng kinh cả ngày. Ấy là vì [linh ứng] đến mức như vậy thì chẳng thể nào không hồi tâm quy hướng được!

Theo Thiên Trúc Chí, Tiền Trung Ý Vương[41] dốc sức trang hoàng điện đường chùa Thượng Thiên Trúc. Trời đại hạn, vương cầu mưa, mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Mặt ta chẳng sạch, chẳng thể thấy ngoài ngàn dặm được!” Ấy là vì [chất sơn để tô] mặt tượng có hòa lòng trắng trứng gà. Sửa đổi, trời liền đổ mưa.

(10) Theo Bồ Tát Bổn Hạnh Kinh, có vị Bích Chi Phật thấy nhân dân Diêm Phù Đề đói kém, bèn tới chỗ quốc vương là Ca Na Ca Bạt khất thực. Vua bảo: “Ta chỉ có ngần này thức ăn, nhưng dù có chết cũng sẽ dâng cơm lên Ngài là bậc thần nhân”. Bích Chi Phật thọ thực xong, hỏi nhà vua ước nguyện điều gì? Vua nói: “Dân trong nước đói kém, mạng chỉ còn trong sớm tối. Mong trừ sự khốn khổ”. Ngay lập tức gió nổi lên, thổi sạch ô uế, mưa xuống món ăn trăm vị, y phục, trân bảo, thảo mộc xum xuê, nhân dân no đủ.

Trong kinh Hoa Nghiêm, đồng nữ Bảo Quang Minh ca tụng Pháp Âm Viên Mãn Vương như sau: “Trì thủy ký doanh mãn, lưu diễn nhất thiết xứ, phổ cập Diêm Phù địa, mị bất giai triêm hợp” (Ao đã đầy tràn nước, tràn chảy khắp mọi nơi, trọn khắp đất Diêm Phù, không đâu chẳng thấm đẫm).

Ghi thêm: Theo Thiên Trúc Chí, vào đời Tống, Trần Hiên là quận thú Tiền Đường, soạn bài văn bia Linh Cảm Quán Âm có đoạn: “Giữa Hạ và Thu, mưa dầm mấy tháng không tạnh, thần dẫn quyến thuộc xông mưa lên núi. Khi trở về, trời đất tạnh ráo, trời chẳng kéo mây. Đem xe rước Ngài vào thành làm Phật sự xong thì mưa tạnh đúng lúc, nhà nông chẳng cáo bệnh, quả thật là Đại Sĩ gia hộ đất này!”

Theo Cao Tăng Truyện, tập 4, đời Minh, ngài Thiện Học hiệu là Cổ Đình, trụ tại chùa Đại Từ, có tượng Quán Âm rất linh thiêng. Trời hạn, Quận Thủ bèn cầu ngài Thiện Học làm lễ cúng dường, mưa dầm liền trút xuống.

 

Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng

Quyển 2 Phần 2 hết

[1] Thư Cừ Mông Tốn (368-433) là người sáng lập triều đại Bắc Lương vào thời Nam Bắc Triều cuối đời Tấn, thuộc sắc dân Hung Nô. Thoạt đầu Mông Tốn ủng hộ Lữ Quang ly khai nhà Diêu Tần, lập ra nhà Hậu Lương; sau đó, lại chống Lữ Quang, chiếm lãnh miền Cô Tạng, tự xưng là Hà Tây Vương. Về sau, Mông Tốn diệt nhà Hậu Lương, khống chế đường giao thông Tây Vực, trở thành vua một nước hùng mạnh. Thư Cừ Mông Tốn rất tôn sùng Phật giáo, từng thỉnh ngài Đàm Vô Sấm dịch kinh Phương Đẳng, Niết Bàn v.v… Em họ Mông Tốn là Thư Cừ Kinh Thanh (?-464) là một cư sĩ học rộng, từng sang Vu Điền học tiếng Phạn, thông thạo Phạn Văn. Chính Kinh Thanh đã đích thân thỉnh ngài Đàm Vô Sấm đến đất Lương và đích thân dịch các bộ Thiền Yếu Bí Mật Trị Bệnh Kinh, Bát Quan Trai Giới Kinh, Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh Đâu Suất Kinh v.v…

[2] Đàm Vô Sấm (385-433), tên Phạn ngữ là Dharma-raksa, đôi khi còn phiên là Đàm Ma La Thức, Đàm Ma Sám, Đàm Mô Sấm, Đàm La Vô Sấm, dịch nghĩa là Pháp Phong. Ngài xuất thân từ dòng Bà La Môn tại Trung Ấn Độ, thoạt đầu tu học Tiểu Thừa. Sau gặp được Bạch Đầu thiền sư truyền thụ kinh Đại Niết Bàn bèn phát tâm học Đại Thừa. Năm hai mươi tuổi Sư đã thông thạo các kinh Đại Thừa, kiêm hiểu Mật chú nên được gọi là Đại Chú Sư. Về sau, Sư mang kinh Đại Bát Niết Bàn, Bồ Tát Giới Kinh, Bồ Tát Giới Bổn v.v… sang Kế Tân, đến nước Quy Tư. Do thấy hai xứ này sùng trọng Tiểu Thừa, bèn sang Đôn Hoàng. Năm Huyền Thỉ nguyên niên (412) nhà Bắc Lương, Hà Tây Vương Thư Cừ Mông Tốn sai Thư Cừ Kinh Thanh cung thỉnh Sư đến Cô Tạng để Sư học tiếng Hán trong vòng ba năm, rồi bắt đầu phiên dịch kinh Đại Bát Niết Bàn, hai vị Huệ Tung và Đạo Lãng giữ nhiệm vụ Bút Thọ. Do kinh Niết Bàn Sư mang theo chưa trọn vẹn, Sư bèn trở về Vu Điền, tìm được một phần cuối kinh ấy, mang về Cô Tạng tiếp tục dịch. Nhận lời thỉnh của Huệ Tung và Đạo Lãng, Sư chủ trì công việc phiên dịch các kinh Đại Phương Đẳng Đại Tập, Kim Quang Minh Kinh, Bi Hoa Kinh, Bồ Tát Địa Trì Kinh, Bồ Tát Giới Bổn… Do Thái Vũ Đế nhà Bắc Ngụy nghe tin Sư thông thạo phương thuật, bèn sai sứ sang thỉnh, Thư Cừ Mông Tốn sợ Sư sẽ sang đất Ngụy, liền giả vờ sai Sư sang Tây Vực tìm kiếm phần sau kinh Niết Bàn (phần này về sau được ngài Nhã Na Bạt Đà La dịch tiếp vào đời Đường), rồi ngầm sai thích khách giết chết Sư giữa đường. Bản kinh Đại Bát Niết Bàn của Sư được gọi là Bắc Bản Niết Bàn để phân biệt với bản dịch Nê Hoàn Kinh của ngài Pháp Hiển dịch (thường gọi là Nam Bản Niết Bàn Kinh).

[3] Nguyên văn “hoa đĩnh” (thuyền hoa): Thuyền chở gái ăn sương.

[4] Đây là lời giải thích chữ “mộng thụ” trong nguyên bản của tụng văn: “Trần trạch, Phương môn, hộ vệ mạc nghi mộng thụ” (Nhà họ Trần, Phương, che chở chớ ngờ mộng bệnh): “Mộng thụ” (mộng thấy đứa bé) chính là điển tích vua Tấn bị bệnh, nằm mộng thấy hai đứa bé (tiếng cổ là “thụ tử”) từ trong bụng nhảy ra, bàn với nhau ‘lương y đã đến, hãy trốn kỹ vào phía dưới Cao, phía trên Hoang thì thầy thuốc không làm gì được!’ Khi thầy thuốc đến, bảo bệnh đã nhập Cao Hoang (phần dưới hoành cách mô, phía trên gan) không cách nào trị được!

[5] Bôi Độ là một sư nổi danh ở kinh đô vào thời Tống, không rõ họ tên, Ngài thường đạp lên một cái chén để vượt qua sông nên được gọi là Bôi Độ. Ngài xuất hiện đầu tiên ở Ký Châu, không giữ oai nghi, thậm chí không ăn chay, mà ăn thịt, uống rượu, quần áo tồi tàn lam lũ, không đủ che thân, thần lực khó đoán. Ngài ra vẻ hỷ nộ bất thường, nhưng lời lẽ phảng phất huyền cơ sâu xa. Ngài thường lang thang khắp nơi, tắm trong băng giá, Những chuyện thần dị của Ngài được chép trong bộ Lương Cao Tăng Truyện. Khi Ngài sắp tịch, có ngỏ lời xin một đệ tử may cho một tấm ca-sa, nói: “Ngày mai ra khỏi cửa sẽ không quay lại nữa”. Áo chưa may xong thì Ngài đã đi mất. Cả vùng chợt nghe mùi hương lạ ngào ngạt, đi tìm thấy Ngài nằm dưới gộp đá, quấn mình trong tấm ca-sa rách, đã tịch từ lâu. Từ đầu đến chân đều trổ hoa sen thơm ngát. Mấy hôm sau, có người từ phương Bắc về nói thấy Ngài lang thang tại Bành Thành. Đại chúng hồ nghi, mở quan tài ra xem thì thấy chỉ còn đôi giày.

[6] Tuần Kiểm là một chức quan võ đời Tống trấn nhậm những vùng trọng yếu, quản hạt châu huyện, huấn luyện binh lính, tuần phòng trong địa phương, duy trì an ninh, trấn áp phản loạn.

[7] Ngụy Tử chính là Ngụy Cao, tự Bá Dương, hiệu Vân Nha Tử, một nhà luyện đan nổi tiếng thời Đông Hán, quê ở Cối Kê, đại khái sống vào thời Hán Hoàn Đế (147-167), ưa chuộng Đạo giáo, ham luyện đan, được coi là tác giả của bộ Tham Đồng Khế, là sách gối đầu giường của những kẻ ham mê luyện đan, tin vào chuyện trường sanh bất lão! Trong câu nói này của họ Ngụy, chữ “Đạo thuật” chỉ cho cách luyện đan nói riêng và những cách luyện tập của Đạo giáo nói chung. Nhưng cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh mượn câu nói này để ca ngợi thần lực chẳng thể nghĩ bàn của Quán Thế Âm Bồ Tát, chứ không hề nhằm ca ngợi Đạo Giáo. Chữ “đạo thuật” trong câu “Trị bằng đạo thuật, thánh thần công xảo há thể suy lường?” hàm nghĩa: Sức thần thông chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát, làm sao có thể đem các tài khéo chữa bệnh của thế gian như Thánh, Thần, Công, Xảo đã nói trong Nạn Kinh, để suy lường lực dụng của Bồ Tát cho được!

[8] Biển Thước vốn họ Tần, tên Việt Nhân, có hiệu là Lô Y, người đất Trịnh thuộc Bột Hải (nay là Nhậm Khâu ở Hà Bắc), không rõ năm sanh và năm mất, phỏng chừng trong khoảng từ 407 đến 310 trước Công Nguyên, là danh y thời Xuân Thu Chiến Quốc. Do vậy, người đương thời gọi ông là Biển Thước (Biển Thước vốn là tên một vị thần y của Hoàng Đế trong thần thoại). Ông được coi là thủy tổ thật sự của y học Trung Hoa, sáng tạo ra cách coi mạch và chẩn bệnh, lập ra cơ sở cho cách chữa trị dựa theo biểu hiện bệnh trạng.

[9] Nạn Kinh là một bộ sách cổ về y học Trung Hoa, có tên gọi đầy đủ là Hoàng Đế Bát Thập Nạn Kinh, không rõ được hình thành vào thời kỳ nào. Theo truyền thuyết, sách này do chính Biển Thước biên soạn, nhằm giải thích những ý nghĩa khó hiểu, dễ gây vấn nạn trong bộ Hoàng Đế Nội Kinh, theo hình thức vấn đáp, hệ thống hóa học thuyết kinh lạc, mạch lý, tạng phủ, chẩn đoán v.v…

[10] Theo Trung Y Dược Điển, Thủy Tả là chứng bệnh đi tiêu ra rất nhiều nước khiến người bệnh bị mất nước nhanh chóng, có thể mất mạng. Có lẽ đây chính là bệnh dịch tả?

[11] Theo Trung Y Dược Điển, Thủy Thũng (Edema, dropsy, hay hydropsy) là chứng bệnh chân tay, thân thể sưng phù, mặt sưng húp, bóp nhẹ sẽ thấy da lõm xuống, phập phều như khắp thân được bơm đầy chất khí. Nguyên do là vì các chất dịch trong cơ thể sinh ra quá mức, ứ đọng dưới da.

[12] Huyền Đế có thể hiểu theo nhiều cách:

  1. Huyền Đế là thần ở phương Bắc, tên là Chuyên Dĩnh. Do trong thiên Đại Tông Sư của sách Trang Tử có nói Chuyên Dĩnh ở trong cung điện màu đen nên Chuyên Dĩnh được gọi là Huyền Đế. Chuyên Dĩnh là cháu nội của Hoàng Đế, tức là Đế Cao Dương trong cổ sử Trung Hoa. Theo truyền thuyết, Đế Cao Dương thọ đến chín mươi bảy tuổi.
  2. Huyền Đế là mỹ hiệu của vua Hạ Vũ. Do Hạ Vũ có công trị thủy, theo Ngũ Hành, nước có màu đen nên Hạ Vũ được gọi là Huyền Đế.
  3. Huyền Đế chính là gọi tắt của Huyền Thiên Thượng Đế, tức Chân Vũ Đế Quân, một phân thân của Ngọc Hoàng Thượng Đế. Đây là cách hiểu phổ biến nhất.

[13] Thanh Chân Tự chính là giáo đường Hồi Giáo. Đây là cách người Trung Hoa dịch chữ Masjid (nơi thờ phụng) của tiếng Ả Rập. Các giáo đường Hồi giáo hiện thời phỏng theo kiến trúc từ nhà ở cũ của tiên tri Mohamed. Trong giáo đường Hồi giáo, không được phép đặt tượng thờ, tranh vẽ hay đồ cúng, không được vẽ hình người. Các câu kinh Koran hay các họa tiết trang trí được vẽ hay khắc thẳng lên tường, nhưng thường thì vách giáo đường để trơn, chỉ khắc các câu kinh trên đầu các cửa vòm. Gian phòng chính giữa có dấu khắc để chỉ phương hướng thánh địa Mecca, khi cầu kinh tín đồ phải hướng về đó.

[14] Thị dân: Người sống ở thành phố lớn, để phân biệt với dân sống ở các hương trấn hay làng quê.

[15] Sam (Cryptomeria Japonica), còn gọi là Liễu Sam, là một loại cây thuộc loài Tùng, thường bị gọi lầm là Japanese Cedar. Cây có thể cao đến 70m, đường kính 4m, lá kim, vỏ cây nâu đỏ, có trái hình nón giống thông, gỗ có tinh dầu thơm. Liễu Sam được coi là cây thiêng tại Nhật Bản, chủ yếu trồng quanh các “thần xã” (miếu thờ thần).

[16] Sở Từ nói chung là những tác phẩm thơ ca nơi đất Sở trong thời Chiến Quốc (vua Sở là chư hầu của nhà Châu, nước Sở nằm trong địa bàn hai tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam hiện thời); nói riêng, Sở Từ là tên một tập sách hợp tuyển những bài thơ ấy, nổi tiếng chỉ kém Thi Kinh. Những tác giả nổi tiếng nhất được giới thiệu trong Sở Từ là Khuất Nguyên, Tống Ngọc v.v…

[17] Theo Phó Đại Sĩ Truyện, Huệ Tập là học trò của Phó Đại Sĩ, nổi tiếng với tài chữa bệnh và thích phóng sanh. Suốt đời Sư lo mua lại các loài vật bị đánh bắt để phóng sanh, không tiếc sức.

[18] Theo Trung Y Dược Điển, Bạch Lại là một trong các loại bệnh ma phong (bệnh cùi). Sách trích dẫn Chư Bệnh Nguyên Hầu Luận, quyển 2, như sau: “Phàm những ai bị bệnh Bạch Lại thì tiếng nói rè đục, mắt nhìn không rõ, tứ chi tê cứng, các khớp viêm đỏ, trong lòng bức rức, chân tay bải hoải… có những vết loét kín, da thường nổi những vết trắng, mắt có cườm”.

[19] Tăng-già-lê (Samghati), dịch nghĩa là Trùng Y, Đại Y hoặc Tạp Toái Y, là một trong ba y của tỳ-kheo. Loại y này chỉ đắp khi đi khất thực, thuyết pháp, hoặc cử hành pháp hội. Thoạt đầu, có đến chín loại y Tăng-già-lê khác nhau:

1. Bậc hạ là gồm chín điều, mười một điều, mười ba điều. Ba loại y này mỗi điều gồm hai miếng dài, một miếng ngắn.

2. Bậc trung gồm mười lăm điều, mười bảy điều, mười chín điều. Loại y này mỗi điều gồm 3 miếng dài, một miếng ngắn.

3. Bậc thượng gồm hai mươi mốt điều, hai mươi ba điều và hai mươi lăm điều. Mỗi điều gồm bốn miếng dài, một miếng ngắn.

Nay chỉ còn thịnh hành loại hai mươi lăm điều. Y được may bằng những miếng vải ghép lại theo chiều dọc, gọi là điều. Mỗi một điều lại được cắt thành những miếng dài ngắn xen kẽ, trông giống như thửa ruộng, nên các loại y được gọi chung là Phước Điền Y.

[20] Thiên Hậu, còn được gọi là Thiên Phi, Mỵ Châu Nương Nương, Thiên Phi Nương Nương, Thiên Hậu Nương Nương, Thiên Thượng Thánh Mẫu, Ma Tổ (thường bị đọc trại thành Mã Tổ) v.v… là một vị nữ thần được dân cư vùng Đông Nam Trung Quốc sùng bái, nhất là ngư dân. Theo ngọc phổ, bà có tên thật là Lâm Mặc, không rõ sanh và mất năm nào, chỉ biết bà đã được phong thần từ thời Tống, quê quán tại đảo Mỵ Châu, huyện Bồ Điền, tỉnh Phước Kiến. Tương truyền, bà lúc còn sống có tài tiên tri, dự đoán họa phước nên được dân chúng tôn sùng, lập miếu thờ sau khi mất. Bà được tôn lên thành vị thần bảo hộ cho hàng hải sau khi có chuyện Cấp Sự Trung Lộ Doãn Địch đi sứ Cao Ly vào năm Nguyên Hòa thứ 5 (1123) đời Tống Huy Tông, chìm thuyền, được bà che chở. Ông Lộ thoát nạn, bèn trùng tu miếu thờ, triều đình ban tặng biển đề Thuận Tế. Các triều đại kế tiếp liên tiếp sắc phong như năm 1156, Tống Cao Tông sắc phong bà là Linh Huệ Phu Nhân, Tống Quang Tông phong cho bà hiệu Linh Huệ Phi, năm Chí Nguyên 15 (1278), nhà Nguyên sắc phong cho bà hiệu Hộ Quốc Minh Trước Linh Huệ Hiệp Chánh Thiện Khánh Hiển Tế Thiên Phi. Danh xưng Thiên Hậu bắt đầu từ đời Thanh khi vua Khang Hy gia phong cho bà mỹ hiệu Hộ Quốc Tỳ Dân Diệu Linh Chiêu Ứng Nhân Từ Thiên Hậu. Lần sắc phong cuối cùng là do vua Hàm Phong ban chiếu vào năm Hàm Phong thứ 7 (1857) và cũng là mỹ hiệu dài nhất Hộ Quốc Tỳ Dân Diệu Linh Chiêu Ứng Hoằng Nhân Phổ Tế Phước Hựu Quần Sanh Thành Cảm Hàm Phù Hiển Thần Tán Thuận Thùy Từ Đốc Hựu An Lan Lợi Vận Trạch Đàm Hải Ninh Điềm Ba Tuyên Huệ Đạo Lưu Diễn Khánh Tĩnh Dương Tích Chỉ Ân Châu Đức Phổ Vệ Tào Bảo Thái Chấn Vũ Tuy Cương Thiên Hậu Chi Thần, nhằm ca tụng nữ thần linh ứng, oai linh, nhân từ, dẹp yên sóng gió, tạo phước lợi, che chở nhân dân, giữ yên bờ cõi. Tín ngưỡng thờ Thiên Hậu theo chân người Hoa phổ biến khắp vùng Đông Nam Á. Các nơi được gọi là “chùa Bà” ở Việt Nam chính là miếu thờ Thiên Hậu.

[21] Mỵ Dự là tên gọi khác của đảo Mỵ Châu, quê hương của Thiên Hậu.

[22] Nội giáo chính là đạo Phật. Gọi như vậy vì đạo Phật dạy tu tập nơi chân tâm bản tánh, chứ không phải chú trọng luyện nơi thần thức hoặc cầu trường sanh bất lão.

[23] Chân Cáo là một kinh điển trọng yếu của phái Thượng Thanh trong Đạo Giáo, do đạo sĩ Đào Hoằng Cảnh (456-536) biên soạn, gồm 12 quyển, nội dung nhằm giải thích 64 quẻ của kinh Dịch, trình bày những giáo nghĩa của Đạo Giáo. Thiên Xiển Vi có tên gọi đầy đủ là Xiển U Vi, nhằm giải thích thiên giới và tiên giới theo quan điểm Đạo Giáo.

[24] Kế Tân là một nước cổ ở Tây Vực, cho đến hiện thời, các nhà nghiên cứu vẫn còn chưa xác định dứt khoát vị trí nước này. Nói chung, có ba thuyết:

1. Kế Tân là phiên âm của chữ Kophen, là danh xưng của sông Kabul theo tiếng Hy Lạp cổ. Chữ Kế Tân chỉ vùng hạ lưu sông Kabul của A Phú Hãn (Afghanistan).

2. Kế Tân chính là quốc gia về sau này được ngài Huyền Trang gọi là Ca Thấp Di La, tức vùng Kashmir hiện thời.

3. Kế Tân là phiên âm của chữ Kapisa, tức vùng bình nguyên từ Kafiristan cho đến hạ lưu sông Kabul, bao gồm cả miền Tây Kashmir.

[25] Chân Đế (Paramārtha, 499-569), còn được dịch âm là Ba La Mạt Đà. Sư là một trong bốn vị thánh tăng được xưng tụng là “tứ đại dịch giả” của Hán Truyền Phật giáo (ba vị kia là Cưu Ma La Thập, Bất Không, Huyền Trang). Sư vốn là người xứ Ưu Thiền Ni ở Thiên Trúc, tu tập chủ yếu theo truyền thống Du Già Hành Phái (tức Duy Thức), được coi là vị học giả có uy tín nhất thời đó về Vô Tướng Duy Thức. Sư đi nhiều nước, do từ Kế Tân vào Trung Quốc, nên thường bị lầm tưởng là người xứ Kế Tân. Sư được Lương Vũ Đế thỉnh đến thành Kiến Nghiệp (Nam Kinh) vào năm Thanh Thái thứ 2 (548). Vừa đến nơi, Hầu Cảnh làm loạn, Lương Vũ Đế băng hà. Sư phải lánh nạn đến đất Tô Hàng, vừa lánh nạn vừa theo đuổi việc dịch thuật. Sư dịch được tất cả 76 bộ kinh luận, trong đó có những bộ hết sức quan trọng như Nhiếp Đại Thừa Luận, Câu Xá Luận, Kim Thất Thập Luận… Tuổi già, Sư cảm khái “hoằng pháp không đúng thời, thường bị trở ngại” bèn ngồi thuyền trở về Ấn Độ vào năm 562, nhưng thuyền lại bị bão giạt vào Quảng Châu. Thứ sử Âu Dương Ngỗi dốc cạn lòng thành cúng dường, Sư tiếp tục sự nghiệp hoằng pháp, dịch kinh. Ngài vừa dịch thuật vừa giảng dạy không mệt mỏi, lại còn viết chú sớ cho những bộ kinh luận đã dịch và soạn sách như Hoằng Minh Tập, Cao Tăng Truyện v.v… Dưới ảnh hưởng của Sư, các tông phái Nhiếp Luận Tông và Câu Xá Tông được thành lập để chuyên nghiên cứu những bộ luận ấy.

[26] Ngô âm hay Ngô ngữ là một loại phương ngôn phổ biến ở vùng Giang Tô, phía Nam các tỉnh An Huy, Thượng Hải, Chiết Giang, Tây Bắc tỉnh Giang Tây, gồm nhiều loại nhỏ hơn (gồm giọng Thái Hồ, giọng Thai Châu, giọng Đông Âu, giọng Vụ Châu, giọng Xử Cù, giọng Tuyên Châu). Giọng nói vùng Tô Châu (tức giọng Thái Hồ) được coi là giọng đặc trưng nhất của Ngô ngữ. Ngô ngữ khác biệt tiếng Quan Thoại rất lớn, nó có âm điệu, nhịp điệu biến đổi liên tục và còn giữ nhiều nhân tố ngữ âm cổ nên nếu không phải người địa phương sẽ khó thể hiểu người xứ Ngô nói gì, chỉ cảm thấy âm điệu líu lo, ríu rít, thánh thót mà thôi.

[27] Tỷ Phảng (Fall Armyworm) còn gọi là Niêm Trùng, có tên khoa học là Spodoptera Frugiperda, là một loài côn trùng hại lúa. Chúng đẻ trứng nở ra sâu, trông giống sâu róm, to từ 3 đến 5 cm, mầu nâu có những vạch vàng, ăn hại ngũ cốc rất dữ. Chúng lột xác biến thành bướm trông giống con ngài hay con nắc nẻ, đẻ trứng rất nhiểu. Sử Trung Hoa thường chép rất nhiều trận đói do Tỷ Phảng cắn hại hoa màu.

[28] Thanh thũng là những vết xanh bầm nổi lên dưới da do những mao huyết quản bị vỡ. Có những trường hợp máu còn đọng lại thành từng thành đám xanh bầm loang rộng, có thể gây thành nhọt loét.

[29] Độc Cô Đà là con thứ sáu của Độc Cô Tín (Đại Tư Mã thời Ngụy Văn Đế), vốn thuộc sắc tộc Tiên Ty. Dòng họ Độc Cô này được coi là một trong tám dòng họ lớn của nước  Ngụy thời ấy. Độc Cô Tín có ba con gái đều là hoàng hậu. Cô út có tên là Độc Cô Già La, chính là Văn Hiến Hoàng Hậu, vợ của Tùy Văn Đế. Theo Tùy Thư, Độc Cô Đà thường sai Từ A Ni dùng tà thuật để cướp tiền bạc của người khác, thậm chí sai Miêu Quỷ ép hoàng hậu Độc Cô Già La lén lút lấy tiền bạc từ công khố ban thưởng cho hắn. Về sau sự việc bị phát giác, vua toan giết Độc Cô Đà, nhưng nhờ hoàng hậu và các anh là những công thần van xin, Độc Cô Đà mới được tha chết, đuổi về làm dân. Vua hạ lệnh hễ ai thờ Miêu Quỷ sẽ bị xử tử ngay lập tức. Từ đấy, tục lệ thờ Miêu Quỷ mới chấm dứt.

[30] “Hồi sát” (回煞) là một thứ tín ngưỡng thông tục trong tang ma Trung Hoa đã có từ trước thời Tần. Sát (煞) có nghĩa là tính ngày người chết trở về thăm nhà, mà Sát cũng có nghĩa là các hung thần, tai vạ. Do vậy, Hồi Sát thường được hiểu thành “đẩy lùi hung tai, hung thần”. Theo tín ngưỡng dân gian, linh hồn người chết sẽ quay trở lại nhà do Sảnh Thần (眚神) dẫn đường trong một thời gian ngắn sau khi chết. Ngày giờ ấy thường được giới đạo sĩ tính ra, gọi là ngày Hồi Sát hay Tiếp Sảnh (接眚: thường trong vòng từ bảy ngày đến mười bốn ngày sau khi chết). Ngày hôm ấy, phải mời đạo sĩ cử hành cúng tế, yểm đảo với mục đích ngăn ngừa những tà thần theo hồn người chết về bắt người thân chết theo (người Việt thường gọi là Thần Trùng). Đồng thời thân nhân người chết đêm ấy phải ăn một số côn trùng đã hấp và biếu tặng một loại bánh gọi là bánh Trạng Nguyên (hay Tiếp Bài Cao) cho những hàng xóm thân thích để họ khỏi bị Thần Trùng quấy nhiễu. Có những trường hợp theo bói toán, bị kỵ tuổi quá nặng, đến tối hôm Hồi Sát, cả nhà phải bỏ trốn đi nơi khác mấy ngày.

[31] Trong những chuyện ứng hóa của Đại Sĩ, xin coi lại trong phần Hiện Tướng Ở Nơi Khác, Đại Sĩ có biến thành một thiếu nữ xách giỏ bán cá chép vảy vàng óng ánh khiến cho dân phu đang làm trong mỏ tranh nhau ra coi. Khi mọi người vừa ra hết thì núi sụp, cô gái cũng biến mất. Người ta vẽ lại hình tướng này để thờ, bức tranh ấy thường gọi là Ngư Lam Đại Sĩ (Đại Sĩ tay xách giỏ cá). Trong Tây Du Ký, Ngô Thừa Ân đã bịa chuyện con cá chép ở dưới ao trong núi Phổ Đà nhờ nghe Đại Sĩ giảng kinh nên có thần thông, thừa dịp Bồ Tát đi vắng, trốn xuống trần làm yêu quái, vây hãm thầy trò Đường Tăng. Tôn Ngộ Không bèn đến méc Đại Sĩ. Đại Sĩ vội chặt tre, đan giỏ bắt cá, không kịp mặc áo khoác, không trang điểm (?!), xuống trần thâu hồi con cá chép ấy!

[32] Kỳ nhân là người thuộc chế độ Bát Kỳ thời Mãn Thanh. Kỳ (Gūsa), thường được phiên âm là Cố Sơn, là hình thức tổ chức quân đội của Mãn Châu do Nỗ Nhĩ Cáp Xích (Nurhachi, vua sáng lập nhà Thanh) đặt ra. Tất cả trai tráng người Mãn được chia thành tám Kỳ (tám màu cờ), thời bình thì canh tác, săn bắn, thời chiến thì trưng binh. Tám màu cờ là Hoàng Kỳ, Hồng Kỳ, Lam Kỳ, Bạch Kỳ (bốn Kỳ này gọi là Chánh Kỳ), Tương Hoàng Kỳ, Tương Hồng Kỳ, Tương Lam Kỳ, Tương Bạch Kỳ. Tương (鑲) là viền, tức là cờ được viền quanh một nếp vải khác màu, chẳng hạn Tương Bạch Kỳ là cờ trắng thêu rồng, viền mép màu đỏ. Trai tráng thuộc Kỳ nào thì được điều động bởi vị chỉ huy và quan chức thuộc sắc cờ đó. Mỗi một Kỳ có từ 13 đến 15 vạn quân. Cho đến nay, một số gia đình gốc quý tộc Mãn Châu vẫn tự xưng là “kỳ nhân”.

[33] Vũ Bị Lục là một tác phẩm dạy về cách tập luyện võ nghệ, điều binh, đã mất tên tác giả.

[34] Ba La Di (Pārājika) có thể hiểu theo hai cách:

1. Tứ Ba La Di trong Cụ Túc Giới, do tăng sĩ nếu phạm phải bốn giới này thì không còn tư cách tăng sĩ, khiến cho tăng chúng mang tiếng xấu lây nên gọi là Ba La Di (vứt bỏ, tàn hủy).

2. Mười tội Ba La Di theo Phạm Võng Bồ Tát Giới: sát sanh, trộm cắp, dâm dục, vọng ngữ, bán rượu, phô phang tội lỗi của tứ chúng, khen mình chê người, keo kiệt và nhục mạ người khác,  sân tâm chẳng nghe lời răn bảo, hủy báng Tam Bảo.

Theo ngữ cảnh trong đoạn này, chỉ có thể hiểu Ba La Di theo cách thứ hai vì Long Đức Phù không phải là tăng sĩ. Hơn nữa, ông Long đốt kinh Pháp Hoa, bắt Tăng sĩ giẫm lên, quả thật đã phạm tội hủy báng Tam Bảo.

[35] Nguyên văn “mạc hữu”, đây là những người không có quan chức, chuyên giúp việc biên soạn án từ cho các quan.

[36] Chữ Hồ (胡) tách ra thành Cổ (古) và Nguyệt (月).

[37] Nguyên văn “Tử Dư đốc thực”; đây là một thành ngữ ca ngợi người tánh tình thật thà, chín chắn. Tử Dư chính là tên tự của Tăng Sâm, là đệ tử đắc ý của Khổng Tử.

[38] Ngột Thuật (Wanyan Wushu, ?-1148), có khi ghi là Ngột Truật, hoặc Ô Châu. Ông này họ Hoàn Nhan, tên là Tông Bật, là đại tướng và là con thứ tư của Kim Thái Tổ (Hoàn Nhan A Cốt Đả – Wanyan Aguda). Ông ta giỏi bắn cung, cưỡi ngựa, thông thạo chiến thuật, sách lược, từng được phong làm Đô Nguyên Soái, lãnh chức Hành Đài Thượng Thư Sự, đặc trách hành quân tiêu diệt nhà Tống. Từng bị Hàn Thế Trung và Nhạc Phi vây đánh tơi tả, nhờ gian thần Tần Cối mật báo quân tình, hãm hại Nhạc Phi và Hàn Thế trung, Ngột Thuật mới hoàn thành sứ mạng tiêu diệt sức đề kháng của Nam Tống, buộc vua Tống xưng thần với nhà Kim. Do vậy, người Hoa rất căm ghét, tạc tượng vợ chồng Tần Cối và Ngột Thuật bằng sắt quỳ trước mộ Nhạc Phi. Người đến lễ bái Nhạc Phi thường dùng chày sắt đập lên đầu tượng bọn họ, khạc nhổ, chửi mắng ầm ĩ. Tuy tượng bằng sắt mà bị dân chúng đập mãi cũng bị hư hoại, phải thay tượng mấy lần!

[39] Tức nhà Hậu Tấn (936-947) do Thạch Kính Đường sáng lập, là triều đại ngắn nhất của Trung Quốc (chỉ tồn tại 11 năm). Gọi là Thạch Tấn để phân biệt với triều Đông Tấn do Tư Mã Viêm sáng lập, Hậu Tấn của Tư Mã Duệ (hậu duệ nhà Đông Tấn, bị mất miền Bắc, phải lui về Nam, lập kinh đô tại Kiến Khang) và chánh quyền của Tấn vương Lý Khắc Dụng (cha của Lý Tồn Úc, hoàng đế khai quốc nhà Hậu Đường).

[40] Thiện Vô Úy (Subhakarasimha, 637-735), còn dịch là Tịnh Sư Tử, là tổ sư của Mật Tông Trung Hoa, chuyên hoằng truyền Thai Tạng Giới Mạn Đà La. Cùng với hai vị Bất Không, Kim Cang Trí, Sư được cõi đời xưng tụng là Khai Nguyên Tam Đại Sĩ. Sư là người Trung Ấn Độ, thuộc dòng Sát-đế-lợi. Năm mười ba tuổi được truyền ngôi làm vua xứ Ô Trà, nhưng bị các anh em dấy binh làm phản. Sau khi đánh bại họ, Sư truyền ngôi cho anh rồi xuất gia. Trước hết, Sư xuống Nam Ấn Độ, học Pháp Hoa tam-muội tại một ngôi chùa gần biển, gom cát thành tháp, tu tập Thiền pháp và học tập rất nhiều kinh luận. Kế đó, Sư theo học với trưởng lão Đạt Ma Cúc Đa (Pháp Hộ – Dharmagupta) ở học viện Na Lan Đà, được ngài quán đảnh. Ngài có thành tựu, được danh hiệu Tam Tạng Pháp Sư từ nơi ấy. Sau khi triều bái các thánh tích, hóa độ các ngoại đạo tại Ấn Độ. Biết duyên hóa độ ở Ấn Độ đã xong, Sư theo đường bộ vượt qua các xứ Đột Quyết, Thổ Phồn để đến Trung Hoa vào năm Khai Nguyên thứ 4 (716). Lúc ấy, Sư đã 80 tuổi. Ngài Thiện Vô Úy được Đường Huyền Tông tôn làm quốc sư, từng trụ tại các chùa Hưng Phước, Bồ Đề Viện, Đại Thánh Thiện v.v… để phiên dịch kinh điển, dạy dỗ đệ tử. Năm Khai Nguyên thứ 10 (724), Sư xin về nước, nhưng vua giữ lại. Ngài thị tịch năm Khai Nguyên 23 (735) tại Lạc Dương, thọ 99 tuổi, tăng lạp 80 năm. Ngài dịch những bộ kinh điển trọng yếu nhất của Mật Tông như Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì Kinh (kinh Đại Nhật), Tô Bà Hô Đồng Tử Kinh, Tô Tất Địa Yết La Kinh, Thất Câu Chi Phật Mẫu Chuẩn Đề Đại Minh Đà La Ni Kinh, Kim Cang Đảnh Du Già Trung Lược Xuất Niệm Tụng Pháp, Kim Cang Đảnh Mạn Thù Thất Lợi Bồ Tát Ngũ Tự Tâm Đà La Ni Phẩm, Quán Tự Tại Như Ý Luân Bồ Tát Du Già Pháp Yếu. Đệ tử đắc pháp của ngài là Nhất Hạnh, Huyền Siêu, Bảo Tư và Diệu Tư.

[41] Tiền Trung Ý Vương (929-988) tên thật là Tiền Hoằng Thục, vua cuối cùng của xứ Ngô Việt. Ông là hậu duệ của của Tiền Vũ Túc Vương (Tiền Liêu). Sau khi Triệu Khuông Dẫn dẹp tan các nước, thống nhất sơn hà, lập ra nhà Tống, ông liền quy phục nhà Tống để tránh cho xứ Ngô Việt khỏi lâm vào cảnh binh đao.

 

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.