Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng
觀世音菩薩本跡感應頌
Bành Trạch Bồ Tát Giới đệ tử Hứa Chỉ Tịnh soạn
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Giảo chánh: Minh Tiến, Huệ Trang, Vạn Từ và Đức Phong

 

QUYỂN II PHẦN 3

2.2.3.2. Ban phước

1. Bèn có Sơn Đông gấm vóc, ban cho Văn Mục an ninh. Ngăn ranh giới bằng dây lụa, cho Trung Ý Vương quy thuận.

2. Như Hoàng gặp nạn gấp, có sức thần phù trợ; Nguyên Cát tự trầm mình, ngầm được trời nâng đỡ.

3. Xe rực rỡ giáng hạ, giúp Văn Giản trổ tài văn chương. Trút bọc ban châu báu, khiến Pháp Trình y thuật kỳ tài.

4. Trao món ăn chay, Hầu gia có tướng quân khải hoàn. Đảnh lễ liên đài, họ Trương mừng chàng rể vinh quy.

5. Trương Cảnh tiêu tai, hưởng phước; Nguyên Tướng khéo bán, giàu to.

6. Lưu Cảnh mừng huynh đệ trùng phùng; Đạo Hiển được vợ con sum họp.

7. Đứa tiểu tỳ nhà ông Từ, rốt cuộc được Đại Sĩ làm mai. Lý huyện lệnh kết tình với ma, cuối cùng thỏa nguyện bình sinh.

8. Mạng do ta tạo, báo tin đậu, mộng bói rành rành. Khéo chẳng bằng vụng, bảy đề thi Phật thưởng đáng gờm.

9. Thành Thức nhờ vợ giúp, Đoan Phương giúp đỡ bạn (gồm hai đoạn).

(1) Theo Thiên Trúc Chí, Ngô Việt Vương Nguyên Quán[1] sợ Châu Toàn Trung hung tàn, bèn trai giới 120 ngày, lạy cầu Đại Sĩ ứng mộng; mộng thấy núi rừng khắp cõi đều bọc trong gấm vóc, sáng ngời như ban ngày. Nguyên Quán vui vẻ nói: “Ta có thể kê gối ngủ yên rồi”. Nguyên Quán có thụy hiệu là Văn Mục.

Lại nữa, năm đầu triều đại Tống Thái Tổ, Ngô Việt Vương Tiền Thục[2] chưa biết quyết định hành động như thế nào, bèn khẩn cầu Đại Sĩ đến chỉ dạy. Mộng thấy thần cầm sợi dây lụa màu, chăng dây ngăn ranh giới từ bờ Bắc sông Dương Tử thẳng đến vùng Dự, Chương, Mân Việt mới ngừng, bảo Tiền Thục rằng: “Đây là vật cũ của ngươi!” Lại trao cho áo bào, hốt[3], mão, mũ miện không kể xiết. Tỉnh giấc, Tiền Thục bèn vui vẻ nói: “Ta không sợ hãi gì”, bèn chọn ngày dâng biểu chúc mừng vua Tống. Vua Tống vui vẻ, bảo sứ giả rằng: “Hãy về báo với chủ ngươi: Trẫm nhờ ông ta làm phên giậu, giúp đỡ mà đạt đến bình trị thì sẽ chẳng phụ công huân khi trước”. Tiền Thục có thụy hiệu là Trung Ý.

(2) Theo Nam Hải Từ Hàng, Ôn Như Hoàng làm nghề buôn giấy ở Nhiêu Châu, kính phụng Đại Sĩ, in Quán Âm Kinh, mỗi năm thí hơn ba trăm quyển. Từ đấy về sau, buôn bán ngày càng phát đạt. Mỗi lúc nguy cấp, dường như có thần giúp đỡ.

Theo Linh Nghiệm Ký, Hứa Nguyên Cát ở Huy Châu nghèo khổ muốn tự trầm. Một cụ già ngăn lại bảo hãy kiền thành tụng chú Bạch Y của Đại Sĩ thì trời sẽ giáng phước. Ông ta liền tụng chú không ngừng, bèn được giàu to, ấn tống càng rộng. Dời nhà sang Dương Châu, con cháu hiển vinh, thịnh vượng.

(3) Theo Kỳ Cựu Tục Văn, Trình Văn Giản mỗi ngày vào canh năm niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát mấy trăm câu, đến già chẳng lười nhác. Khi đi thi, mộng thấy Đại Sĩ từ trên trời cưỡi cỗ xe rực rỡ giáng hạ. Tỉnh giấc, bèn ghi chép tỉ mỉ những chuyện cờ quạt, xe cộ thành một tập sách cho khỏi quên. Vào thi, thấy đề thi là “đức xa kết tinh phú” (hãy làm bài phú về chuyện đức xa kết cờ tinh)[4] bèn viết văn vun vút.

Theo bộ Y Khuyến của Đường Nghi Chi, vị Tăng đời Minh là Pháp Trình, mù từ bé, ngày đêm niệm danh hiệu Đại Sĩ tổng cộng mười lăm năm, mộng thấy Bồ Tát gọi “hãy bước lại” thì dường như có vật gì buộc vào chân. Đại Sĩ than: “Đời trước ngươi làm thầy châm cứu, lỡ tay làm người ta mù mắt, nay phải chịu quả báo này. Ta thương ngươi thành tâm, sẽ làm cho ngươi cơm áo no đủ”, rồi Ngài thò tay vào bọc, bốc châu báu đầy tay ban cho. Tỉnh giấc, Pháp Minh y thuật giỏi giang, kẻ theo học rất đông.

(4) Theo Địch Phàm Tùy Bút, Hiệp Trấn Hầu Biên tỉnh Chiết Giang, do bọn giáo phỉ[5] quấy rối, phải cầm quân phòng ngự ở Túc Tùng. Phu nhân hằng ngày rất lo sợ, nhiều lần mộng thấy bà lão trao cho món ăn chay, lại mộng được dẫn đến một chỗ, thấy ông Biên đang ở trong doanh trại yên ổn. Kể lại giấc mộng với người khác, họ đều nói: “Bà cụ ấy chính là Đại Sĩ, không gì chẳng nhằm khuyên phu nhân hãy ăn chay để cầu cho tướng quân sớm được quay về hay sao?” Do vậy, bà cầu đảo Đại Sĩ, mồng Một, ngày Rằm ăn chay. Không đầy nửa năm, ông Biên trở về.

Theo Kính Tín Lục, đời Thanh, Lã Kế Am nhận chức Phủ Thừa xứ Phong Tường (tỉnh Thiểm Tây). Trong niên hiệu Gia Khánh, bọn giặc cướp từ Tứ Xuyên kéo sang Thiểm Tây, ông Lã phải lo lương thực, nhu yếu phẩm cho quân đội, xông pha vào nơi nguy hiểm. Bà vợ họ Trương kiền thành lễ Đại Sĩ, khắc Cao Vương Kinh biếu tặng rộng rãi, lại còn sớm tối quỳ tụng. Về sau, do có công, ông Lã được cất nhắc lên làm quan ở châu Trực Lệ, cả nhà đều tin tưởng tụng kinh.

(5) Trong Cao Vương Kinh Cận Trưng, Trương Cảnh nói: “Tôi nửa đời bừa bãi, nhiều lần mắc phải nguy hiểm, thề nguyện tụng Cao Vương Kinh, tai nạn tiêu ngay, được hưởng phước quá phận. Hơn nữa, những chuyện sức người chẳng thể vãn hồi, mỗi mỗi đều giải quyết trọn vẹn, mới tin kinh có sức rộng lớn. Do vậy, kiền thành chép thêm vào đây”.

Theo Cao Vương Linh Nghiệm, Trương Nguyên Tướng là người đất Chiết Giang quá nghèo, gột lòng hướng thiện, trì Cao Vương Kinh hơn hai năm, có khách bỏ vốn cho ông ta buôn bán. Tính toán không điều gì chẳng được toại ý, trở thành giàu to.

(6) Đời Thanh, [anh em] Lưu Cảnh và Lưu Trí do chiến tranh bị lạc mất nhau, nhờ tụng chú Bạch Y, anh em trùng phùng.

Vào đời Thanh, Trương Đạo Hiển vợ là Lý Thị, con là Kế Phiên, gặp nạn lạc nhau, bèn kiền thành tụng chú Bạch Y suốt hai năm, vợ con trùng phùng.

Lại theo Hàng Trung Phàm, vào thời Gia Tĩnh nhà Minh, Hoàng Ngạn Sĩ và vợ là Nhan Thị tỵ nạn “giặc lùn” (hải tặc Nhật Bản) lạc nhau, bà Nhan xin vào ở trong ni am. Ông Ngạn tìm suốt ba năm không thấy tăm hơi. Ngẫu nhiên trên đường đi, vào nhà xí, thấy trong kẽ cây dương chết khô có vật gì đó, moi ra thì tìm được vàng và một cuốn sổ màu xanh, tự nhủ: “Chớ bảo nhặt được vàng đánh rơi thì lấy dùng, phải nghĩ là do Tam Bảo mà có”. Do vậy, đợi ở đó. Hai ngày sau, có vị lão ni khóc: “Phát nguyện tạc tượng Đại Sĩ, quyên mộ được ba chục lạng vàng, do tránh giặc giã nên giấu trong bộng cây, nay đã mất sạch rồi! Ta chết mất thôi”. Ông Hoàng vội trả lại. Ni sư lạy tạ, mời tới am, bảo: “Sẽ đối trước Đại Sĩ bày tỏ đức đẹp của ngài”. Ông Hoàng theo về am, gõ cửa thì thấy có người thưa rồi ra mở cửa, ấy chính là Nhan Thị, đang cầm nước mắt. Lái buôn muối là X… nghe chuyện, mời ông Hoàng về làm quản lý trong tiệm. Về sau, theo lệ, ông Hoàng được tuyển giữ chức Huyện Thừa, rồi chuyển làm Phủ Phán, sanh được hai con, vợ chồng cùng thượng thọ.

(7) Trong bộ Tân Tề Hài, Quán Sát Từ Hạo làm bạn với một con hồ ly già. Hồ ly nhìn thấy đứa tiểu tỳ tên Thái Vân bèn nói: “Đứa con gái này có túc căn. Tương lai, nó sẽ được Đại Sĩ làm mai, gả cho Động Đình Quân”. Hỏi ra, biết ông nội nó làm quan Hàn Lâm, ông Từ bèn nhận nó làm cháu nội thứ ba. Về sau, có một vị quan chức lớn, tặng bức trục[6] vẽ Đại Sĩ và tờ thư xin gả cô nương thứ ba cho con trai của Thân Đại Niên là người đất Sở[7]. Do vậy, hôn lễ bèn thành tựu.

Theo Dị Vật Chí, vào đời Đường, Lý Nguyên Bình, thấy một cô gái ở chùa Đông Dương dường như đã biết từ trước. Cô gái nói: “Em chẳng phải là người. Em từng sanh vào nhà quan Thứ Sử Giang Châu, còn chàng khi ấy làm môn lại[8], thần thái rạng ngời, lay động lòng người. Em vì không nén được tình cảm, bèn thường trì chú Thiên Nhãn Quán Âm, phát nguyện đời đời sanh vào nhà phú quý, để được vầy duyên vợ chồng với chàng. Nay sắp thác sanh vào nhà quan Thứ Sử X… Mười sáu năm nữa, chàng sẽ là Huyện Lệnh. Nếu rộng lòng chấp nhận, xin đừng kết hôn; nhưng chỉ hồng đã buộc, dẫu muốn dứt mối tơ vương, cũng chẳng được đâu!” Về sau, quả nhiên đúng như lời đã nói.

(8) Theo Bạch Y Chú Trưng Sự, Vương Hành Thiện ở phủ Thuận Thiên, nhiều lượt đi thi không đậu, cầu đảo Đại Sĩ, mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Túc căn của ngươi quá mỏng cạn, đường công danh chẳng có phần. Nếu kiền thành tụng chú Bạch Y không lười nhác, có thể hy vọng đậu khoa thi năm nay”. Tỉnh giấc, ông Vương bèn in tặng một ngàn hai trăm quyển, liền thi đỗ. Vân Cốc thiền sư nói: “Mạng do ta tạo, phước do ta cầu”.

Theo Cảm Ứng Thiên Chuế Ngôn, xưa kia có hai người học trò cùng lên tỉnh thi. Một người ngu, một người sáng dạ. Kẻ ngu ngày đêm lễ bái, cầu nguyện trước tòa Quán Âm, cầu Ngài cho biết đề thi. Kẻ sáng dạ bèn lén viết bảy đề thi, dùng hương đốt thành vết chữ, để kẻ ngu tưởng là Phật ban cho rồi ngầm giấu trong lư hương. Kẻ ngu tìm được hết sức mừng rỡ, dốc sức giồi mài nơi bảy đề mục ấy. Vào trường thi, trúng ngay một đề bèn thi đậu. Kẻ sáng dạ bị dầu thắp đèn cháy lan sang quyển thi, nên thi trượt! Lão Tử nói: “Xảo giả, chuyết chi nô” (Kẻ khéo là đầy tớ của kẻ vụng).

(9) Theo Bạch Y Kinh Cận Trưng, vào đời Thanh, Vương Thành Thức ở Vũ Tấn, trong niên hiệu Gia Khánh đi thi ở Thuận Thiên. Bà vợ nghe nói chú Bạch Y linh nghiệm bèn vì chồng kiền thành tụng hết một tạng, ông Thức liền thi đỗ.

Theo Nam Hải Từ Hàng, Từ Đoan Phương nhiều lượt dự thi nhằm được tuyển vào một chức quan ở bộ Lễ, nhưng chẳng đậu, trì Quán Âm Kinh một tạng, đậu Tiến Sĩ. Ông bèn dạy cho bạn là Mã Thiệu Nguyên, ông này tụng hơn ba ngàn quyển liền đỗ trong khóa thi mùa Thu.

1. Lại còn tích đức, chứa nhân, mới biết như tiếng vang dội lại.

2. Giữ lại tên Thiên Tích, càng phục Tư Mã phong thái cao vời. Sắc phong cho Lâm Ông, nữ tỳ tán dương phẩm đức Đề Khống.

3. Tri Khả đỗ giữa Trần, Lâu, y thuật công đức thật nhiều. Tín Chi lõa lồ nào ngại, lòng thành dễ gì có được!

4. Bảo toàn phẩm tiết phụ nữ, Bệ Cẩm thành đạt công danh. Do khéo thấu hiểu lòng trời, Như Tân vâng theo lời dạy.

5. Ông Phùng nhân từ chữa bệnh, nhờ bí phương trở thành giàu sụ. Họ Sầm vốn sẵn thiện duyên, nên địa vị tột cùng vinh hiển.

6. Đọc bài bạt của Giản Nam, linh ứng chẳng hề dối gạt. Xem bài ký của Thành Tú, công danh có thể mong cầu.

7. Dẫu thời thế đổi dời, quốc gia bãi bỏ chế độ thi cử, nhưng cầu gì được nấy, chẳng hề thấy Bồ Tát bỏ lỡ điều nào. Đấy là sự ban vui thứ hai của Đại Sĩ vậy (đoạn này kiêm ca tụng tu đức được phước)

(2) Theo Âm Chất Văn Tân Biên, trong đời Khang Hy nhà Thanh, Lâm X… chết rồi sống lại, nói: Ở trong cõi âm thấy đưa ra bảng trời. Đến tên của đứa cháu con người chị là Lục Thiên Tích, do mẹ nó phạm lỗi lắm điều, nên [thiên đình] muốn gạch tên đi. Chợt Quán Âm Đại Sĩ đến bảo: “Tuy Lục Lâm Thị[9] lắm điều, nhưng thờ Phật rất kiền thành. Thiên Tích lại thay bạn nộp tiền thuế còn thiếu, bù đắp cho chú nó làm huyện lệnh bị thiếu hụt ngân sách, lại còn cự tuyệt hạng gái lả lơi!” Diêm vương bảo ông Lâm: “Cháu ngươi do có ba điều lành nên được giữ tên lại, hãy nên gắng tinh tấn, đừng phụ lòng Đại Sĩ”. Về sau, quả nhiên Thiên Tích thi đỗ.

Theo Hàm Sử, Tư Mã Đán châu cấp cho người gặp cảnh ngặt, có ai nghèo túng chẳng thể tự sống được bèn chia lương tháng ra để giúp đỡ. Người ấy không có gì để báo đáp, bèn đem con gái dâng cho ông để làm thiếp. Ông Đán kinh hãi, từ chối, lấy đồ trang sức của vợ để [làm của hồi môn] gả cô gái ấy [vào chỗ đàng hoàng].

Theo Khuyến Giới Loại Sao, vào đời Minh, Lâm Ông là nha lại thuộc bộ Hình, thương xót, giúp đỡ những người bị tù oan. Ngẫu nhiên có một người bị hạ ngục oan ức, ông Lâm liền sáng chiều cầu nguyện Đại Sĩ, mong chỉ dạy phương cách cứu vớt. Mộng thấy Đại Sĩ dạy: “Hãy dựa vào những chỗ luận tội đáng nghi nhất trong án từ, dựa vào những chỗ phán quan thẩm định chi tiết chưa đích xác để biện bác”. Ông Lâm liền thay người ấy kêu oan, quả nhiên được tha. Người ấy biết do ông Lâm khiếu nại, bèn đem con gái đền ơn, ông Lâm không chấp nhận. Người ấy bèn chuốc rượu cho ông say, bảo con gái ép ông phải lấy. Ông Lâm ba lượt bảo “không được” (bất khả), lánh xa, không đi qua cửa người ấy nữa. Năm ông 50 tuổi, sanh ra Đại Khâm. Về sau, Đại Khâm đậu khoa thi Hương, lên kinh đô. Chủ quán trọ mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Ngày mai có con của ông Lâm Tam Bất Khả đến trọ, là tân trạng nguyên đấy”. Lúc yết bảng, quả đúng như vậy. Đại Khâm về hỏi mẹ, mới biết đức hạnh ẩn kín của cha.

Theo Bại Sử, viên nha lại ở Thái Thương là Cố X… thấy có ông Giang bị kẻ cắp vu cáo, phải vào tù, bèn kêu oan cho ông Giang được tha. Ông Giang cảm đức, đem con gái tới, xin dâng làm người thiếp hầu hạ. Ông Cố khước từ hai lần. Mấy năm sau, ông Cố chuyển lên kinh đô, làm người hầu lo việc cho quan Thị Lang họ Hàn. Khi phu nhân bước ra, ông toan tránh đi, phu nhân trông thấy kinh ngạc bảo: “Ông chẳng phải là viên Đề Khống[10] họ Cố đấy ư? Tôi là con gái ông Giang, chút mảy may nào cũng đều do ông ban cho”. Bà kể lại với quan Thị Lang, quan bèn tâu lên vua. Hiếu Tông khen ngợi, phong cho ông Cố làm Chủ Sự[11] bộ Lễ.

(3) Đời Tống, Hứa Tri Khả thi rớt, trở về, trong thuyền mộng thấy một người mặc áo trắng bảo: “Ngươi không có âm đức nên chẳng đậu. Nếu học nghề thuốc sẽ giúp cho ngươi có trí huệ”. Ông Hứa nghe theo, đạt đến chỗ hay khéo của Lô Biển[12]. Về sau, vào trường thi mùa Xuân, mộng thấy người mặc áo trắng bảo: “Thí thuốc công đức to lớn, trong khoảng Trần Lâu”. Về sau thi đỗ, thứ hạng nằm giữa hai người họ Trần và Lâu.

Theo Tiên Tâm Lục, trong niên hiệu Vạn Lịch nhà Minh, Bao Tín Chi trì Quán Âm Kinh, ngẫu nhiên thấy một tòa Phật điện đổ nát, tượng Quán Âm bị phơi ra cho mưa dầm bèn dâng cúng tiền bạc, vải vóc. Hiềm rằng chẳng đủ, mới đem bảy bộ áo vừa mới may cúng luôn. Đầy tớ xin giữ áo lại, ông nói: “Chỉ cốt sao thánh tượng được yên ổn, ta tuy lõa lồ cũng nào có thương tổn gì?” Vị Tăng ứa nước mắt nói: “Bỏ tiền bạc, quần áo v.v… vẫn chưa phải là chuyện khó, chỉ có một điểm thành tâm ấy dễ gì có được?” Về sau, Tín Chi nằm mộng thấy thần Già Lam bảo: “Bồ Tát ban cho ông con cháu hưởng phước lộc thế gian”. Sau này, con ông ta là Biện, cháu là Sanh Phương đều làm quan to.

(4) Theo Khuyến Giới Loại Sao, vào đời Thanh, Thí Bệ Cẩm ở Ngô Môn lúc còn là “chư sanh”[13] ngẫu nhiên dính dấp vào chuyện tà niệm. Thấy một phụ nữ mắt hằn ngấn lệ bèn gạn hỏi. Cô ta nói quá nghèo, chẳng cam lòng làm chuyện chôn vùi liêm sỉ ấy. Ông Thí bèn gọi người chồng ra, bảo dẫn vợ về, lấy mười lạng vàng trao cho, tuyệt không lui tới nhà phụ nữ ấy nữa, nhưng chồng cô ta cảm ân đức, thường lui tới thăm viếng, người ngoài bèn xầm xì ông Thí dan díu với cô ta. Cô ta nghe được, bèn kiền thành khấn nguyện cùng Đại Sĩ: “Con lập chí không đoan chánh, bị gièm báng chẳng oan uổng gì, nhưng chàng Thí bị vu cáo, nguyện đỗ Giải Nguyên để rửa sạch nỗi oan ấy”. Năm Canh Tý (1720) đời Khang Hy, rốt cuộc ông Thí đỗ Giải Nguyên.

Theo Linh Nghiệm Ký, Bao Như Tân nhiều lần đi thi không đậu, mộng thấy một bà cụ bảo: “Ngươi muốn được trời cho thỏa chí thì phải khéo hiểu lòng trời”. Ông Bao tỉnh giấc, bèn nói: “Đấy chẳng phải là Cứu Khổ Đại Sĩ ư?” bèn in Quán Âm Kinh một ngàn quyển và thật lòng rộng hành chuyện lợi người giúp vật liền đỗ Giải Nguyên ở phủ Thuận Thiên.

(5) Theo Khuyến Giới Loại Sao, Phùng Sanh ở Gia Định nghèo nhưng ưa làm lành, hằng ngày tìm kiếm những toa thuốc hay, hiệu nghiệm, sao ra, đem dán trên những đường phố lớn. Một hôm, đến dâng hương tại Nam Hải, gió thổi lật thuyền; đột nhiên thấy một người mặc giáp dẫn đến trước mặt Long Vương. Vua khuyên nhủ: “Ông chép toa thuốc cứu người, thiện niệm thấu đến thủy phủ, cho nên ta cứu ông”. Vua trao cho toa thuốc bí mật, bảo nhờ đó có thể làm giàu. Ông Phùng thưa: “Tôi tuy nghèo, đâu đám mong giàu có!” Vua phán: “Giàu nghèo vốn do số mạng, nhưng người có lòng lành thì số mạng cũng chẳng thể chi phối được! Như mạng ông gặp phải thủy nạn, nhưng do tâm lành nên không bị hại”. Vua trao cho toa thuốc, sai đưa về. Trong chớp mắt đã lên tới bờ, lòng biết là Đại Sĩ đã âm thầm sắp đặt, che chở, bèn theo đúng bài thuốc ấy mà cứu người, trở thành giàu có.

Theo Pháp Hoa Cảm Thông, Sầm Văn Bổn tụng phẩm Phổ Môn, thoát khỏi thủy nạn. Một hôm cúng dường trai tăng, có một vị Tăng bảo: “Thiên hạ nhiễu nhương, ông do thiện duyên nên may mắn chẳng gặp nạn, rốt cuộc sẽ hưởng thái bình, trở thành phú quý”. Nói xong, chẳng thấy nữa. Về sau, ông Bổn trở thành Trung Thư Lệnh[14].

(6) Trong lời bạt cho cuốn Quán Âm Kinh, cư sĩ Giản Nam sống vào đời Thanh cho biết: “Trong niên hiệu Càn Long, tôi ở cùng chỗ với Hiếu Liêm Trương Cấn Sơn. Cứ hừng đông là ông Trương tụng kinh. Hỏi ra thì ông bảo là tụng bài Tâm Kinh này và chú Bạch Y, kinh Cao Vương. ‘Cả ba đời nhà tôi tin tưởng trì tụng, nhiều lần được linh nghiệm’. Tôi nghe rồi bèn kiền thành trì tụng. Mùa Thu năm nay, anh tôi đậu khoa thi Hương, tôi được nhận vào học tại trường quận, lũ cháu được vào trường huyện. Càng thêm kinh sợ sự linh ứng của Đại Sĩ, Cấn Sơn chẳng lừa tôi!”

Theo Cảm Ứng Thiên Đồ Thuyết, vào đời Thanh, Tào Thành Tú gặp một vị Tăng bảo: “Nếu ngươi có thể kiêng thịt bò, thịt chó, sẽ có thể hiển đạt”. Ông Tú nói: “Tôi là hạng bắn cung, cỡi ngựa tầm thường, sao dám mong cầu công danh?” Vị Tăng bảo: “Nếu có thể sáng tối tụng chú Đại Bi, lo gì chẳng đạt được phước báo ấy?” Thành Tú bèn giữ giới, tụng chú không gián đoạn. Vào chốn quan trường, dường như có thần giúp, không đầy mấy năm, làm quan đến chức Thiên Tổng[15]. Tự ghi vào năm Càn Long 12 (1747).

(7) Tả Truyện: “Cải bộ, cải ngọc[16]; sách ấy còn viết: “Dư thủ dư cầu, bất nhĩ tì hà dã” (Tôi nhận lấy những gì tôi mong cầu, ông chẳng có lỗi lầm chi cả).

2.2.3.3. Trường thọ

1. Bèn có: Tượng vẽ cứu Nhân Thiến thoát vong hữu tiến cử. Chú [Đại Bi] che chở Tâm Dư khỏi làm vua cõi âm.

2. Rộng thí tặng kinh sách, Gia Do thọ hơn bốn mươi mốt tuổi. Năm lượt nói lời lành, Hoằng Nho thoát đại hạn tiết Trùng Dương.

3. Người bạn khuyên dạy Như Huyễn, nghi dung nhanh chóng đổi thay. Mẹ cầu thọ cho Vô Minh, cam lòng suốt đời phục dịch.

4. Cho Lã công tăng thọ hai kỷ, báo ứng chẳng sai, răn họ Uông hãy tận lực hành, tuổi già an hưởng.

5. Ngầm hành trì kinh, tựa như thánh nhân không có tướng. Phóng sanh tăng thọ, chỉ cõi âm mới biết luật này.

6. Cháu côi cút được thành danh, Thiệu Đình quyết đạt thượng thọ. Con hiếu đón về phụng dưỡng, Sĩ Ngọc càng cao tuổi trời. (tổng cộng ba đoạn).

(1) Theo Pháp Uyển Châu Lâm, vào đời Đường, Lục Nhân Thiến bị bệnh nguy ngập, biết là vì người làng là Triệu X… đã tiến cử mình làm quan dưới cõi âm. Công văn đã ban xuống, sắp chết. Nhân Thiến vẽ tượng Quán Âm trên vách chùa, bèn thoát nạn.

Theo Tân Tề Hài, Tưởng Tâm Dư lúc làm quan Trung Hàn, mộng thấy lính lệ cầm thiếp đến mời, bèn theo đến một tòa miếu, cỡi ngựa đất bay lên không trung. Không lâu sau, ngựa hạ vó dưới thềm một nơi trông rộng lớn như chỗ vua ngự. Tấm biển bên trái ngôi điện ghi là “Thiên Đường”, từng gian sáng ngời. Tấm biển bên phải ngôi điện đề “Địa Ngục”, sâu tối khó lường. Địa ngục có giếng, người ta tự nhảy xuống đó. Vua truyền mời ông Tưởng vào điện, bảo: “Ta hết nhiệm kỳ sẽ ra đi, ông hãy thay ta”. Ông Tưởng thưa: “Tôi còn mẹ già con thơ, việc chưa xong làm sao có thể đến [nhậm chức] được?” Vua nói: “Ông có tài đức, tiếng tăm, sao lại chẳng thông đạt đến mức ấy? Chuyện trên đời muốn xong bèn xong. Ta đã tâu lên Thượng Đế, không thể nào vãn hồi được đâu!” Ông Tưởng uất quá, tỉnh giấc, mồ hôi thấm ướt mền. Ngồi dậy, lại mộng thấy vào cõi âm. Trên điện bày năm cái tòa, án từ chất như núi. Nha lại chỉ tòa thứ năm bảo: “Đây là chỗ của ngài”. Ông Tưởng trông thấy thầy dạy là Phùng Tĩnh Sơn, bèn trình bày tình cảnh mẹ già, con thơ. Ông Phùng buồn bã nói: “Tôi vợ dại, con thơ, cũng là kẻ không thể đến [nhậm chức]. Việc đã đến mức này, đừng nói nhiều nữa! Hãy mau lo liệu hậu sự mà thôi!” Tỉnh giấc, ông bèn qua nhà vị quan đứng đầu địa phương là Vương Hưng Ngô chào vĩnh biệt. Ông Vương kinh hãi bảo: “Mặt ông xám như trét than, quỷ khí đầy người”. Ông kể lại giấc mộng, họ Vương khuyên nên tụng chú Đại Bi. Cả nhà bèn trai giới tụng niệm. Đến nửa đêm, ông Tưởng thấy một chiếc kiệu từ trên không trung hạ xuống, có mấy người khiêng kiệu, rõ ràng là kẻ đến đón, bèn tụng chú gấp hơn, họ liền như sương khói tan mất. Ba năm sau, được thăng chức Từ Lâm.

(2) Theo Khuyến Giới Loại Sao, Trình Gia Do ở Thái Cốc khắc Quán Âm Kinh, Kim Cang Kinh, và Cảm Ứng Thiên v.v… nhưng chưa biếu tặng. Chợt bị bệnh, không ăn uống được, mộng thấy Đại Sĩ khuyên: “Ngươi chỉ thọ bốn mươi mốt tuổi, do khắc các kinh nên thả ngươi về, hãy nên ấn loát lưu truyền ngay”. Ông Trình tỉnh giấc bèn vâng theo lời dạy, bệnh liền khỏi.

Theo Giác Thế Kinh Hội Toản, vào đời Minh, vợ ông Hàn Hoằng Nho mộng thấy người cô đã mất nói: “Vào ngày Trùng Cửu[17] năm sau, chồng ngươi sẽ bị đại hạn”. Bà vợ kiền thành cầu đảo Đại Sĩ, cầu chồng được tăng tuổi thọ. Ông Hàn ra quán, vợ dặn hãy lưu ý làm những chuyện thuận tiện cho người khác, ông Hàn bằng lòng. Ông khuyên chủ quán hãy gả chồng cho mấy đứa tớ gái đã trưởng thành, thấy con cháu một vị quan dùng bạc non cân[18] bèn tận lực khuyên họ đừng làm chuyện tổn người lợi mình. Lại thấy đầy tớ của một người có thế lực vu cáo người khác, liền thay cho người ấy kêu oan. Lại khuyên người khác đừng cậy thế, hãy giữ trọn vẹn tình nghĩa thân tộc. Có mấy môn sinh thi đậu đến yết kiến, ông liền khuyên họ đừng lấy vợ lẽ, đừng lơ là người quen biết cũ, đừng thuê nhiều người hầu, đừng xa xỉ phí phạm. Đêm ấy, bà vợ mộng thấy Đại Sĩ dạy: “Số chồng ngươi sẽ mất vào tháng Chín, nhưng do năm lượt nói lời tốt lành, tạo phước rộng lớn, nên được thọ thêm hai kỷ (24 năm) nữa”. Ông Hàn về sau đỗ Minh Kinh[19], là một vị Ấp Lệnh hiền từ.

(3) Theo Cao Tăng Truyện, tập 4, vào đời Minh, sư Như Huyễn có người bạn là Hạ Trị Thời, thông suốt nội điển. Một hôm, ông Hạ nói với sư Như Huyễn: “Ông môi hớt, răng lộ, chẳng phải là tướng người sống lâu, hãy nên cầu nguyện Quán Âm Đại Sĩ, niệm danh hiệu Ngài để cầu thọ”. Như Huyễn nghe theo, trì danh ba năm, dung mạo biến đổi.

Lại nữa, vào đời Nguyên, Thích Nguyên Trưởng tự là Vô Minh, bị bệnh rất nguy ngập. Bà mẹ cầu khẩn Đại Sĩ: “Nếu đứa con không chết, con sẽ suốt đời làm người quét tước, dọn dẹp”. Khấn xong, [Nguyên Trưởng] đổ mồ hôi, lành bệnh.

(4) Theo Nam Hải Từ Hàng, trong thời Khang Hy nhà Thanh, Lã công ở Giang Ninh phẩm hạnh trong sạch, thuần hậu, mỗi sáng tụng kinh chú của Đại Sĩ một trăm biến. Năm 52 tuổi bị bệnh nguy cấp, mộng thấy Đại Sĩ nói: “Mạng ngươi sắp chấm dứt, nghĩ ngươi ưa làm lành, tụng kinh, tăng thọ hai kỷ nữa”. Tỉnh giấc, bệnh đã lành, thọ bảy mươi sáu tuổi, không bệnh tật gì mà mất.

Theo Phụ Trì Nghiệm Ký, trong thời Đạo Quang nhà Thanh, Lưu Dực Đình ở Kim Lăng tự nói: “Tôi mỗi sáng thức dậy ắt đối trước tượng Đại Sĩ tụng bảy biến chú Đại Bi, suốt hai mươi năm không lười nhác. Một bữa trời xẩm tối, có một bà cụ bước vào, bảo: ‘Đến ngày nọ sẽ bị tai nạn, nên cẩn thận’ rồi đi ra. Gọi người nhà dâng trà thì ai nấy kinh ngạc, chẳng thấy bà cụ đâu nữa! Tới hôm ấy, đêm ngủ, thức dậy đi tiểu, ngã lăn ra đất, chân phải mắc vào trong ghế, đau không thể chịu nổi, thầm trì chú Đại Bi, mấy ngày mới lành. Ấy là vì thờ Đại Sĩ đã lâu, nên được Ngài linh thiêng che chở. Nay tuổi đã sáu mươi tám, quắc thước dị thường, đều là nhờ sức của Đại Sĩ”.

Theo Cao Vương Kinh Linh Ứng, Uông Đức Thành thuở nhỏ mộng thấy một vị lão tăng nói: “Ngươi chỉ thọ được mười tám tuổi”. Sáng dậy thưa với cha, cha cho là mộng huyễn chẳng đáng tin. Đến khi bệnh sắp chết, cha mộng thấy lão tăng nói: “Đại hạn của con ngươi đã tới, nếu chẳng có sự lành lớn lao sẽ chẳng thể vãn hồi được đâu. Hãy nên làm gấp đi!” Ngày hôm sau, cha liền đối trước Đại Sĩ, lập nguyện cứu giúp rộng rãi, khắc kinh in tặng, thí quan tài, châu cấp [cho người nghèo khó], hăng hái lập hạnh. Sau đấy, lại mộng thấy vị lão tăng nói: “Con ngươi chẳng những không chết yểu mà còn có thể mong được vui hưởng tuổi già”. Quả nhiên, [Uông Đức Thành] thọ ngoài chín mươi.

(5) Theo Cao Tăng Truyện, tập 3, đời Tống, sư Thích Tông Uyên thuở bé gặp một thầy tướng giỏi, bảo: “Uyên tuổi thọ ngắn ngủi, hãy gắng trì phẩm Phổ Môn”, liền kính cẩn vâng lời trì tụng, tu tập trong cõi tục chẳng ai sánh bằng. Trong niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc, Sư đoán trước ngày mất, thọ tám mươi ba tuổi.

Trong lời bạt của Văn Trung Lâm Tắc Từ đời Thanh có viết: “Thái Thú Đồ Tiềm Viên bị bệnh nguy ngập, mộng thấy Quán Tự Tại Bồ Tát bảo: ‘Theo luật cõi âm, hễ cứu mạng thì sẽ tăng tuổi thọ, thêm phước lộc, ông hãy gắng làm đi’. Tỉnh giấc, cả nhà bèn kiêng giết, mua loài vật đem phóng sanh. Mùa Đông năm ấy, [ông Đồ] liên tiếp được bổ làm quan ở Viên Châu rồi đến Cửu Giang, gia cảnh bèn khá lên, bệnh cũng chóng lành. Do vậy, ông Đồ bèn viết một thiên cuối cho cuốn Phóng Sanh Lục để khuyên đời”.

(6) Theo Cao Vương Kinh Chứng Nghiệm, ông Lý Thiệu Đình ở Đồng Sơn đã bảy mươi, không con cái, nuôi đứa cháu côi cút mới tròn bốn tuổi thì nó bị bệnh nguy ngập. Ông Đình sáng chiều tụng kinh và khắc in kinh biếu tặng. Đứa cháu được lành. Ông sanh được một con trai, đến năm mười sáu tuổi, nó cùng với đứa cháu đều vào học trường huyện. Ông Đình thọ đến 99 tuổi.

Theo Tứ Hương Thảo Đường Bút Ký, Mao Sĩ Ngọc ở Trường Châu do buôn bán vải thua lỗ, lại trúng sương gió, bị ho rất nặng, bèn phát nguyện tụng chú Đại Bi, liền lành bệnh. Về sau, con là Đỉnh Hanh đón về phụng dưỡng tại kinh đô, thọ tám mươi tư tuổi, không bệnh tật mà mất.

1. Bèn có Thường Cô xẻo đùi, cha thêm tuổi thọ. Kim Thị cắt tay, bố chồng tăng kỷ.

2. Sơn Anh cầu mẹ hết bệnh, được tặng chén nước tràn đầy. Vân Cô đáp tạ thần ân, khớp mộng ban cho hoàn thuốc.

3. Tràng phan cùng lay động, ngầm bảo vệ thương thế ông Bành. Hoàn thuốc bôi vết thương, thở dài thương Lưu nhi khổ sở.

4. Chim ngậm quả son, linh dị hợp mộng trao ngọc phượng. Tụng chú Bạch Y, hồn thoát khỏi Kim Kê triệu vời.

5. Văn Ngọc cảm ân, xưng tụng Phật pháp vô biên. Cảnh Hiền vâng pháp, tin tưởng linh phù bậc nhất.

6. Chấn Hỗn, Học Tảo, mẹ đều tuổi hạc tăng cao. Lưu Tễ, Truyền Anh, mẹ cũng thọ thêm mấy tháng.

7. Ấy là vì: Yêu vật, thương dân, trước hết phải có lòng hiếu kính. Thỉnh an, hầu bữa, có gì ngoài biết tuổi thung huyên.

8. Vì thế, phàm hiếu tử cầu thọ cho cha mẹ, quyết sẽ được thần linh ngấm ngầm gia hộ (Đoạn này ca tụng sự tăng thọ cho cha mẹ).

(1) Theo Khải Trinh Dã Thừa, vào đời Minh, con gái ông Thường Mang ở Ích Phiên đức tánh chí hiếu, đã hứa gả cho con trai nhà họ Vương, nhưng chàng Vương đã chết sớm. Cô Thường về nhà họ Vương thủ tiết, mặc áo vải thô mộc[20], ăn chay, thêu tượng Đại Sĩ. Sáng dậy tụng phẩm Phổ Môn, chú Đại Bi, tối tụng kinh Di Đà, chú Vãng Sanh. Cha bị bệnh nguy ngập, bèn cắt thịt đùi dâng lên. Cha mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Do con gái ông hiếu thảo nên được tăng thọ”.

Theo Tự Cầu Tập, bà Tôn Kim Thị ở Vũ Tiến tánh tình hiếu thảo. Bố chồng ưa làm lành, bà Kim bán nữ trang, ruộng nương để cung cấp. Bố chồng bệnh ngặt nghèo, muốn ăn bánh ít trần[21]. Bà Kim cắt thịt trên bắp tay để nấu súp và bún. Bố chồng ăn xong, ngủ yên. Thức dậy, bảo vợ: “Tôi vừa thấy Đại Sĩ đến, nói con dâu ông lòng hiếu chân thành thấu trời, nên cho ông thọ thêm một kỷ”. Cụ lành bệnh, quả nhiên mười hai năm sau cụ mới mất.

(2) Trong Tín Tâm Lục, Lưu Sơn Anh nói: “Tôi phát tâm quỳ tụng các kinh chú Quán Âm, Chuẩn Đề để cầu cho mẹ được lành bệnh. Thoạt đầu vì thân thể yếu đuối, gối đau không thể chịu đựng nổi, lén nghĩ mẹ bệnh đàm hỏa[22] đã lâu, chưa chắc tụng kinh sẽ lành ngay, hơi manh nha ý niệm thoái thất. Kế đó, nghĩ tới Khổng Tử đã nói: “Vô hằng vô khả tác vu y” (Người không có ý chí thường hằng sẽ không thể làm đồng cốt hay thầy thuốc được), bèn gắng sức làm. Đối với chuyện giúp người lợi vật đều hoan hỷ phụng hành. Hơn một tháng, trọn chẳng còn [cảm thấy] đau khổ gì, nhưng bệnh mẹ chợt nguy kịch, bảo tôi: ‘Mẹ bệnh mấy chục năm, có lúc phát bệnh liền lành ngay. Nay con quỳ tụng kinh văn, đâm ra bệnh nặng hơn; chắc là mẹ phước bạc chẳng thể nhận lãnh đấy chăng? Hãy ngừng, đừng tụng kinh nữa’. Tôi khóc thưa: ‘Đây là do con chưa đủ lòng thành, chưa trừ được vọng niệm’. Liền thắp hương, hướng lên trời, dập đầu đến chảy máu, thề trừ vọng niệm ngõ hầu mẹ được khỏi hẳn. Đến đêm, mộng thấy Đại Sĩ kéo mẹ cùng ngồi, trao cho một chén nước màu xanh bảo uống. Ngày hôm sau, bệnh mẹ giảm hẳn một nửa, rồi lành. Bệnh dây dưa suốt ba mươi năm, từ nay vĩnh viễn khỏi hẳn”.

Theo Mộng Viên Tùng Thuyết, Văn Tịnh Hàm Liêm Phỏng khi làm huyện lệnh Nam Xương, do mệt nhọc chồng chất thành bệnh, tình thế dần dần suy sụp. Con gái đầu lòng là Vân Cô kiền thành cầu đảo Đại Sĩ, hứa tụng Cao Vương Kinh một vạn biến. Tụng sắp đủ số, Liêm Phỏng mộng thấy Đại Sĩ trao cho ba hoàn thuốc, ép nuốt, bệnh liền giảm. Buổi chiều, ông vào nhà trong, thấy con gái dâng hương hoa, quỳ trước tượng Phật. Hỏi ra thì mọi người nói là tụng kinh đã đủ số nên dâng hương hoa cúng dường. Ông thuật lại giấc mộng, càng tin Đại Sĩ linh ứng. Về sau, ông làm đến chức Án Sát đất Lỗ (tỉnh Sơn Đông), thọ bảy mươi hai tuổi.

(3) Theo Khải Trinh Dã Thừa, vào đời Minh, Bành Hữu Nguyên ở Ích Dương kiền thành tụng Quán Âm Kinh. Cha bị bệnh, ông Nguyên cắt tay để chữa chạy. Mẹ bị bệnh nguy ngập, ông Nguyên khóc lóc cầu đảo Đại Sĩ, nguyện cắt gan cứu mẹ. Trong đêm, chợt thấy phan, tràng dẫn đường cho Đại Sĩ, ông Nguyên bèn đốt hương, đảnh lễ, cầm dao tự mổ. Rạch sáu lần mà tim cứ vọt lên, phải mò tìm gan để cắt, đau đớn ngất đi. Tỉnh lại, bảo vợ đem nấu dâng mẹ, bệnh liền lành ngay. Phổi của ông Nguyên thò ra ngoài, vết thương không khép miệng được. Mọi người xót xa khẩn cầu Đại Sĩ; đến đêm, mộng thấy Ngài dạy: “Phổi rút vào chẳng khó khăn gì. Ta muốn để ở ngoài suốt một trăm ngày để người đời nhìn vào, nhằm dạy họ hiếu thảo”.

Theo Dị Đàm Khả Tín Lục, vào đời Thanh, Lưu Thị ở Vân Huyện, phụng dưỡng mẹ chồng rất hiếu thảo. Mẹ chồng bị bệnh nghẹn hơi, liền cắt thịt đùi mình nấu cháo dâng lên, mẹ liền lành bệnh, nhưng bệnh lại phát ra, lại cắt thịt. Thế nhưng cứ cách tuần, lại lên cơn. Lưu Thị cầu đảo Đại Sĩ, nguyện bị bệnh thay. Thầy lang X… bảo xằng là gan người có thể trừ được gốc bệnh. Lưu Thị tin theo, dùng dao bén chọc dưới sườn, lôi gan ra cắt, ngã lăn ra, ngất đi. Chợt thấy Đại Sĩ vỗ về, bảo: “Con khổ quá!” rồi dùng hoàn thuốc bôi lên vết thương khiến Lưu Thị tỉnh lại, đem nấu miếng gan ấy dâng lên mẹ chồng, bệnh trọn chẳng còn phát ra nữa. Về sau, mẹ chồng biết chuyện, hết sức đau lòng nói: “Con dâu [hiếu thảo] đến mức như thế, ta nỡ lòng nào” bèn bẩm với quan xin ban thưởng cờ quạt. Đấy là chuyện trong tháng Sáu năm Kỷ Hợi (1779) đời Càn Long.

(4) Theo Củ Trai Tạp Ký, vào đời Minh, Lý Mộng Khang mộng thấy Đại Sĩ trao cho con phượng bằng ngọc bèn sanh ra con gái. Con gái tròn bốn tuổi thì mẹ mất, hết sức đau buồn! Thờ mẹ kế hiếu thảo, cha nghèo, cô dệt vải cho cha bán. Có người dòng dõi nhà quan mến mộ, xin kết hôn. Cô nói với [cha mẹ]: “Bỏ cha mẹ mình để phụng dưỡng cha mẹ người khác, con không muốn, nguyện suốt đời phụng dưỡng cha”. Cha bệnh, cô xả thân cầu đảo. Sắc thuốc trong sân, có con chim xanh ngậm một quả đỏ chót bỏ vào siêu thuốc. Cha uống vào liền lành bệnh. Năm Sùng Trinh thứ 2 (1629), cô mất năm bốn mươi bảy tuổi, đau lòng không được thỏa ý nguyện phụng dưỡng cha mẹ suốt đời. Hoàng Đạo Châu đề trên mộ cô ta như sau: “Gia Hòa hiếu trinh Lý thị nữ” (Cô gái hiếu trinh họ Lý ở Gia Hòa).

Theo Nhất Hạnh Cư Tập, vào đời Thanh, Bách Vạn An ở Thường Châu thích làm lành không mệt mỏi. Vào thời Càn Long, mẹ ông ta bị bệnh. Ông An từ Tô Châu vội trở về. Mẹ đã tắt hơi, mọi người sắp đặt quan tài, vải liệm. Ông An buồn thương, xót xa, cầu đảo Đại Sĩ, tụng chú Bạch Y một vạn hai ngàn lần, nguyện giảm tuổi thọ của chính mình để tăng thêm thọ mạng cho mẹ, rốt cuộc mẹ tỉnh lại. Cụ bệnh mấy ngày rồi ngồi dậy nói: “Thoạt đầu, ta bị hai viên nha lại [cõi âm] dẫn đi, qua chỗ Thổ Địa, Thành Hoàng rồi mới đến Đông Nhạc. Vua Đông Nhạc nói: – Con của ngươi thành tâm cầu đảo, nhờ Đại Sĩ cứu khỏi chết, nên bèn tha về”. Ông An bèn khuyên mẹ tu Tịnh nghiệp. Về sau cụ được vãng sanh Tây Phương.

Theo Bác Vật Chí, [thần núi] Thái Sơn (tức Đông Nhạc Đại Đế) chuyên triệu hồn người ta. Trịnh Huyền lại chú thích: “Kim kê (gà vàng) là tinh linh của Thái Sơn”.

(5) Theo Thánh Kinh Hội Toản, Vạn Văn Ngọc ở Kinh Sơn tự nói: “Tôi trì Đại Bi Chú, Tâm Kinh, linh dị khôn ngăn thuật trọn. Gặp hung hóa cát, khởi tử hồi sanh, quả thật chính thân tôi đã từng chứng nghiệm. Nhớ khi mẹ tôi bị bệnh nguy ngập sắp mất, tôi đau lòng khóc lóc chảy cả máu, quỳ trước tượng Đại Sĩ, tụng một biến chú Đại Bi, mẹ liền cảm thấy có người dẫn trở lại dương gian, dần dần thở thong thả, nói năng, cử động được, mấy hôm sau là khỏe hẳn. Phật pháp vô biên, quả chẳng phải là lời nói dối”.

Theo Cầu Phước Chỉ Nam, vào đời Thanh, Trữ Cảnh Hiền ở Cao An, trong niên hiệu Đạo Quang, họng mẹ bị liệt, hơn mười ngày không thể uống thứ gì được, máu tươi ngập họng, hơi thở như sợi tơ. Ông Hiền hứa sẽ thí tặng bộ Nam Hải Từ Hàng đang khắc và sách Cầu Phước Chỉ Nam mỗi thứ một trăm quyển, kiền thành tụng Tâm Kinh và niệm thánh hiệu Quán Âm. Mẹ ói ra từng khối huyết to như trứng gà rồi bèn uống thuốc được, mấy ngày sau khỏi bệnh. Căn bệnh này giống như gia nghiêm (cha) bị thoát chứng[23], đều cùng gặp nguy được an, càng thêm tin tưởng, trì tụng, lưu truyền thánh kinh (kinh Quán Âm, tức phẩm Phổ Môn và Tâm Kinh), quả thật là linh phù (bùa thiêng) bậc nhất để kéo dài mạng sống vậy.

(6) Theo Quán Âm Kinh Cận Trưng, vào đời Thanh, Hồ Chấn Hỗn ở Hoài Ninh chuyên tụng Quán Âm kinh chú. Trong niên hiệu Gia Khánh, sống nơi đất khách tại Lĩnh Nam, nhận được thư nhà, nghe nói mẹ đang bị bệnh nguy ngập, liền chí tâm sáng tối cầu đảo Đại Sĩ và thí kinh để cầu thọ, mẹ liền khỏi bệnh.

Đời Thanh, mẹ của Trương Học Tảo ở Lâm Xuyên là La Thị, dốc lòng kính tín Đại Sĩ. Năm Kỷ Hợi (1839) đời Đạo Quang, cụ đã bảy mươi hai tuổi, chợt đầu váng, bụng đau. Ông Tảo quỳ tụng Quán Âm kinh chú một ngàn biến, liền lành.

Theo truyện Lưu Tễ trong bộ Lương Thư[24], mẹ ông Tễ bị bệnh, ông Tễ tụng Quán Âm Kinh đến một vạn biến. Đêm mộng thấy một vị Tăng bảo: “Phu nhân đã tận số, nhưng do ông tinh thành chuyên dốc đến cùng cực, sẽ thọ được mấy chục ngày nữa”. Sáu mươi mấy ngày sau, cụ mất. Ông Tễ cất chòi bên mộ, có một cặp hạc trắng lượn quanh chòi.

Theo lời tựa của bộ Nam Hải Từ Hàng, Đặng Truyền Anh ở Cao An nói: “Anh tôi là Nguyên Đống đem hàm Tứ Phẩm do chính mình đã quyên được xin vua chuyển sang phong cho ông bà nội, nhưng bà nội đột nhiên trúng phong không nói được. Tôi liền kiền thành tụng Cao Vương Kinh, cầu cụ sống thêm một thời gian nữa để chờ cáo phong. Ngay hôm ấy, bà nội khỏe dần. Mấy tháng sau, bằng sắc gởi tới thì mấy hôm sau đấy, bà nội mỉm cười qua đời”.

(7) Sách Mạnh Tử có câu: “Thân thân nhi nhân dân, nhân dân nhi ái vật” (Có yêu thương người thân thì mới có lòng nhân với người khác, có lòng nhân với người khác thì mới có thể yêu thương muôn loài). Sách Lễ Ký viết: “Hiếu tử hữu vấn an, thị thiện chi nghĩa” (Người con hiếu thì có những hành vi hợp đạo nghĩa như hỏi thăm sức khỏe, hầu cơm [cha mẹ]). Luận Ngữ có câu: “Phụ mẫu chi niên, bất khả bất tri dã” (Con cái chẳng thể không biết tuổi của cha mẹ).

(8) Theo Quán Âm Kinh Cận Trưng, mẹ ông Hoàng Vân Tú ở Tân Kiến bệnh nguy ngập. Ông Hoàng sáng tối kiền thành cầu đảo Đại Sĩ, nguyện in tặng Cao Vương Kinh, mẹ được lành bệnh.

Lại nữa, mẹ của Lý Nhất Minh ở Đồng Hương tuổi đã bảy mươi, mắc bệnh nặng. Do đi mời thầy thuốc, ông Lý đi qua ngôi chùa cổ, trông thấy trên bàn thờ Đại Sĩ có cuốn Cao Vương Kinh, thầm nguyện mẹ được lành bệnh sẽ in tặng một ngàn hai trăm quyển. Ngay đêm ấy, bệnh mẹ giảm quá nửa, liền khắc in ngay trong đêm, chưa đầy nửa tháng bệnh mẹ đã khỏi hẳn.

Theo Bạch Y Kinh Cận Trưng, con gái nhà họ Lý ở Đại Hưng, theo cha đến chỗ làm quan. Cha bệnh nguy ngập, cô ngày đêm cầu khẩn Đại Sĩ, mộng thấy được Bồ Tát khẩu truyền Bạch Y Kinh. Cô niệm đến một vạn hai ngàn biến, cha khỏi bệnh, thọ tám mươi mốt tuổi.

Lại có cô gái họ Dương, cha bị nổi nhọt đinh ở chân, thuốc men vô hiệu. Cô hằng ngày lạy Đại Sĩ, quỳ tụng Bạch Y Kinh và thề nguyện khắc in biếu tặng, chỉ mấy hôm, nhọt đinh đã lành.

Lại còn có Châu Khởi Phụng ở Ngô Huyện, mộng thấy thần bảo mẹ sắp hết tuổi thọ, ông Châu liền kiền thành tụng chú Bạch Y một vạn hai ngàn biến, in tặng một ngàn hai trăm quyển, mẹ thọ tới tám mươi mấy tuổi.

Theo Nam Hải Ký, trong niên hiệu Gia Khánh đời Thanh, Túc Khải ở Quế Lâm kể: “Ông nội tôi hai đùi lở loét, gân da rữa nát. Cha tôi hoảng hốt, hằng ngày tụng Quán Âm Chú mấy ngàn biến, in tặng một ngàn hai trăm quyển, bệnh của ông nội không thuốc mà lành. Về sau, cha bị bệnh khí thống, Khải thầm cầu nguyện Đại Sĩ, hứa in tặng Nam Hải Ký, lại còn tụng chú không ngớt, chẳng đầy mấy ngày cha khỏi bệnh”.

Theo Linh Nghiệm Ký, Hoa Đình Tướng là người đời Thanh nói: “Trong niên hiệu Càn Long, tôi bị bệnh, tứ chi chẳng thể cử động, ăn uống không nuốt xuống được, khắp thân đau đớn, ngứa ngáy, đầu tóc rụng sạch. Thầy thuốc nói: “Sống chẳng quá ba ngày nữa!” Mấy đứa con bèn kiền thành tụng Cao Vương Kinh một tạng, in năm ngàn quyển, hứa mỗi năm tận hết sức mua loài vật phóng sanh. Ngay trong hôm ấy tôi có thể cử động được, ngứa đau giảm dần, chẳng mấy hôm đã lành bệnh”.

1. Bèn có: Phóng sanh, kiêng giết, Ngưng Cô thoát sản nạn. Kêu cầu, cứu khổ, Đổng Mẫu hối thiện căn.

2. Triệu Canh soạn Minh Du Xác Ký, Linh Hóa nghe Tâm Địa Quán Kinh.

3. Tri Kiệm xem sổ ghi tương lai, Soái Thị được tính thêm nửa kỷ.

4. Tự tu, răn người, Khai Nguyên được thả. Giữ phận sống yên, Dương Lượng hoàn sanh.

5. Ông Cố làm lễ, được ngắm thân quảng đại. Họ Tào trì trai, bèn uống nước thanh lương.

6. Đấy đều là tên ghi trong sổ quỷ, rốt cuộc cùng Tần điệp[25] hồi sanh. Dẫu chưa soạn Chiêu Hồn Phú, vẫn kể chuyện trong cung nhà Hán.

7. Cành liễu phe phẩy, biến thành tục mạng thang[26]. Ban bùn Mâu Ni, chính là phản hồn dược. Đây chính là sự ban vui thứ ba của Đại Sĩ vậy (đoạn này ca tụng việc đã chết rồi sống lại)

(1) Theo Ngọc Lịch Cận Báo, Viên Ngưng Cô ở Dậu Dương bị sản nạn, hồn đến địa phủ. Diêm Vương tra sổ, bảo: “Người đàn bà này phạm lỗi quá nhiều”, sai quỷ giải sang Nhị Điện chịu tội. Một viên quan trình sổ lên, thưa: “Viên thị nhà họ Tiền[27] khuyên bố mẹ chồng đừng đốt trùng kiến ba lần. Lại khuyên chồng in năm ngàn tờ Giới Sát Văn, góp tiền in tặng ba ngàn trương Ngư Lam Quán Âm Phóng Sanh Kinh, Ngọc Đế phê chuẩn cho bà ta thọ thêm ba mươi năm nữa”. Vua đứng dậy chắp tay, khen: “Lành thay! Lành thay!” sai đưa về cõi dương, liền tỉnh lại.

Theo Pháp Hoa Cảm Thông, trong niên hiệu Thuần Hy đời Tống, mẹ ông Đổng là Lý Thị ở Nhiêu Châu mắc bệnh đã chết rồi sống lại, thuật rằng: “Thoạt đầu vào âm phủ, đi trong đồng hoang mấy dặm. Đến thành, nghe tiếng người ầm ĩ, nhưng tối đen như mực, tự nghĩ: ‘Ta tụng phẩm Phổ Môn ba mươi mấy năm, nay lọt sổ quỷ, há Bồ Tát chẳng cứu giúp hay sao?’ Ngay lúc ấy, ta hô to: ‘Cứu Khổ Quán Thế Âm Bồ Tát’ khoảng trăm lần, chợt có người nắm cánh tay trái ta dẫn đi, dần dần cảm thấy sáng sủa như ban ngày, thấy Đại Sĩ hiện tướng phụ nữ, anh lạc khắp thân, chiếu ngời lóng lánh, mùi hương lạ sực nức, tướng hảo đoan nghiêm. Do vậy, bèn xin Ngài cứu mạng. Đại Sĩ dạy: ‘Số ngươi đã tận, nhờ từ trước đã có thiện căn, nên ta đến cứu giúp. Hãy nên gấp trở về, sáu năm sau sẽ lại gặp gỡ’. Ta lễ tạ thì Ngài cất bước vọt lên cao, tha thướt bay về Tây Phương. Liếc trông phan, lọng dẫn đường, vàng ngọc sáng ngời, rộn lòng, chóa mắt, đột nhiên tỉnh lại”. 5 năm sau, cụ không bệnh mà mất.

(2) Theo Minh Du Xác Ký, vào đời Thanh, Châu Triệu Canh ở Trường Châu, vợ là Trình Thị, vào năm Đạo Quang 12 (1832), bệnh gan bộc phát, liền nói giọng quỷ, khẩn cầu Triệu Canh hãy tụng chú Đại Bi để giúp siêu độ. Do vậy, hỏi quỷ có oán thù đời trước với người bệnh hay không? Đáp: “Không có!” Hỏi: “Bệnh không sao ư?” Đáp: “Chí tâm niệm Phật ắt sẽ được lành”. Tháng Tám năm sau, bệnh lại phát ra, hai mươi mấy ngày chẳng ăn uống gì được, bèn niệm Phật không ngớt. Sau đó, bà vợ hôn mê chẳng biết gì, hồn đi vào cõi âm, thấy Diêm Vương thẩm tra tù nhân, thiện ác đều rất rõ rệt. Do Trình Thị ăn chay niệm Phật, niệm Kim Cang Kinh, Đại Bi Chú, nên vua bèn thả về. Bà ta bèn kể tỉ mỉ những điều đã thấy, Triệu Canh ghi lại [thành bộ Minh Du Xác Ký] để khuyên đời.

Trong lời chú thích của Quán Âm Linh Cảm Tụng có ghi: Vị Tăng tên Linh Hóa khi chưa xuất gia, chết vì bệnh dịch, nghe vị cai quản cõi âm giảng Tâm Địa Quán Kinh[28]. Nghe xong, Quán Âm dẫn đường, tỉnh lại, về sau xuất gia trong tông Thiên Thai.

(3) Theo Triều Dã Thiêm Tải, đời Đường, Mạnh Tri Kiệm lúc nhỏ bị bệnh chết, hồn vào cõi âm, gặp người quen làm nha lại ở đó bảo: “Ngươi vốn không có phước quả, khó thể trở về được”. Kiệm thưa: “Cháu tụng Tâm Kinh, Cao Vương Kinh, ước chừng ba bốn vạn biến”. Nha lại kiểm sổ, tâu lên vua, vua phán thả về. Lại còn cầm sổ chỉ cho biết chuyện tương lai, bèn tỉnh lại. Về sau, mọi chuyện đều ứng nghiệm.

Theo Hải Nam Nhất Chước, vào đời Thanh, vợ của quan Tỷ Bộ Kim Quang Đẩu xứ Phụng Tân là Soái Thị thờ Đại Sĩ, lúc sáu mươi mấy tuổi bị bệnh mất, ba ngày sau sống lại, [kể chuyện] vào cõi âm, thấy Đại Sĩ bảo với Diêm vương: “Bà này kiền thành tụng Quán Âm Kinh, lại có công đức in tặng rất nhiều, hãy nên cho thọ thêm nửa kỷ”. Vua cho bà Soái sống lại, được đi khắp địa phủ, tận mắt thấy người thọ khổ đông đúc. Có bầy chim khoét mắt, máu tuôn khắp thân, nói đó là quả báo do giết sanh mạng chim. Lại vỏ ốc chất thành núi, lũ quỷ khoét thịt người dồn vào đó, bảo là quả báo do ăn thịt các loại ốc.

(4) Về chuyện hoàn hồn của Chương Khai Nguyên xin xem trong lời chú thích thứ bảy trong phần cứu khỏi đọa lạc. Ông ta khi đi khắp địa ngục xong, người cứu nói: “Ông trở về hãy nên tự tu, răn người, đừng lơi lỏng chí ấy” rồi sống lại.

Theo Chuyển Nhân Lục, cuối niên hiệu Thuần Hy nhà Tống, Dương Lượng bị bệnh chết đi, vào cõi âm. Diêm Vương hỏi có công đức gì, thưa: “Con niệm Quán Thế Âm Kinh”. Vua hỏi: “Làm chuyện lành nào?” Thưa: “Chẳng có điều lành nào để kể, chỉ giữ phận sống yên mà thôi!” Vua kiểm sổ, thấy đúng như lời nói, bèn cho sống lại.

(5) Vào đời Minh, Cố Vỹ ở Thường Thục tánh tình cẩn thận, trung hậu, chết trong niên hiệu Vạn Lịch. Ba ngày sau sống lại, kể: “Lúc mới chết đích thân thấy hình dáng thật sự của Đại Sĩ, giống như tượng Ngài đang đi được thờ tại chùa Hổ Khâu, nhưng thân to lớn hơn, từ trên không trung hạ xuống. Vỹ đầu mặt đảnh lễ. Trong khoảnh khắc, Bồ Tát ẩn hình, coi khắp địa ngục rồi tỉnh lại”.

Tào Học Cứu ở Thái Thương chết vì bệnh dịch, thấy bà cụ mặc áo trắng bảo: “Ngươi trì trai, ta cứu ngươi”. Thưa: “Bồ Tát cứu con, con nguyện trì trai”. Bà cụ bảo uống nước, tâm cốt thanh lương bèn sống lại; thì ra đã chết một ngày đêm rồi. Bèn suốt đời ăn chay, thờ phụng Quán Âm.

(6) Theo Tả Truyện, người nước Tấn bắt được gián điệp của nước Tần, đem giết ở Giáng Thị. Sáu ngày sau, gã gián điệp ấy sống lại.

Thời Chiến Quốc, Tống Ngọc soạn bài Chiêu Hồn Phú. Theo Bác Vật Chí, cuối đời Hán đại loạn, có kẻ quật mồ chôn cung nữ thời Tiền Hán, các cung nữ vẫn còn sống, đều đi ra, bình phục như cũ. Quách Hậu[29] nhà Ngụy nhận họ làm tay chân, hỏi chuyện trong cung thời Hán, họ đều trả lời rành rọt.

(7) Với câu trước, xin hãy xem lời chú thích thứ 18 trong phần cứu đọa lạc.

Theo Kiến Văn Lục, vào đời Thanh, Thang Sính ở Phiêu Thủy nhà nghèo, nuôi mẹ có hiếu. Chợt bị bệnh mất đi, hồn đến Đông Nhạc. Ông Sính xót xa xin [Đông Nhạc Đại Đế] hãy thương mẹ ông ta không người hầu hạ, phụng dưỡng. Vua sai đưa sang chỗ Khổng Thánh định đoạt. Trở về gặp Phổ Môn Đại Sĩ, bèn xót xa khẩn cầu cho sống lại. Đại Sĩ bảo: “Đấy là lòng hiếu thảo. Lại từng cự tuyệt gái lả lơi, tương lai sẽ cao xa, hãy nên cho hoàn hồn gấp”. Quỷ thưa: “Xác đã mục thì làm thế nào?” Đại Sĩ sai Thiện Tài lấy bùn Mâu Ni, sắc như Chiên Đàn, dùng bùn bọc thây ba lớp, những chỗ hư nát trông hoàn hảo như thường. Hồn từ miệng chui vào [xác], bèn sống lại. Về sau, Thang Sính đỗ Tiến Sĩ thời Thuận Trị, suốt đời trai giới.

Theo Thập Di Ký, trong năm Đình Hòa nguyên niên (92) đời Hán, nước Nhục Chi tiến cống Phản Hồn Hương. Về sau bị dịch lớn, vua đốt lên, những ai chết chưa quá ba ngày đều sống lại.

2.2.3.4. Được con

1. Bèn có: Bảy ngày thân thể biến hóa, kể mãi chuyện đẹp Tự Cô. Khoảnh khắc đổi hình, ai nấy gọi tên Phật Tứ.

2. Cúng ngàn vàng dựng gác, sanh liên tiếp anh em. Hứa kỳ hạn sáu ngày, Tín, Trung cùng già cả.

3. Mây màu vờn quanh, thơm ngát tranh Lý Thanh ẵm trẻ, trăng tròn, hoa trổ, Phan Chiếu ngâm vịnh nhà thêm người.

4. Hương vòng in chữ, ấm lòng Chương Tảo lúc tàn niên; dương liễu làm con, ứng Tân Trai thiết tha bái vọng.

5. Họ Cát truyền kinh, quan dân được lợi. Thí chủ Phan công, tăng sĩ sanh đôi.

6. Chú cháu họ Phó, nối gót quy y. Anh em họ Lý, chen vai tin tưởng.

7. Văn Sản sanh được con trai, cháu vốn giống cậu. Tử Thúy có người nối dõi, cháu phải hầu cô.

8. Tươi cười ban tặng, đền bù họ Trâu sửa lỗi . Khớp với điềm mừng, ông Hùng trừ sạch đa nghi.

9. Lương Văn xây dựng Bạch Hoa Am, Long Tướng mộng được trao con đỏ. 

10. Chí Thuần khắc ván, khen ngợi “như vang ứng tiếng”, Đạo Đức mộng lan, may đã cải tà quy chánh.

11. Mừng được hậu duệ dằng dặc, ca tụng trọn khắp đất Kinh, Hành. Vịnh câu “con cháu đông đầy”, tiếng ngâm rền miền Huy, Vụ (tổng cộng hai đoạn).

(1) Theo Thuật Dị Ký, cụ Hoàng ở Kinh Châu đã già và góa vợ, dốc lòng ham làm lành. Có một gái tên là Tự Cô, tuổi vừa mười bốn, học chữ với cha, thông minh, hiền hậu, thêu tượng Bạch Y Đại Sĩ, lễ bái hết sức kiền thành. Một đêm, Tự Cô mộng thấy Đại Sĩ nói: “Cha ngươi hiếu nghĩa, chẳng nên không có ai nối dòng. Hiềm rằng tuổi đã già [không thể có con được nữa], ta biến ngươi thành con trai”. Bảo cô ta nuốt viên thuốc màu hồng, cô ta cảm thấy một luồng hơi nóng xông thẳng xuống dưới, ngủ mê mệt suốt bảy ngày, tỉnh dậy thì đã thành thân trai. Nhà chàng rể kinh ngạc cho là dối trá, kiện lên quan để kiểm nghiệm thật hư, người tới xem đông nghịt. Tôn Nguyên Phương đề thơ rằng: “Trong mơ biến hóa sao kỳ lạ, má hồng bỗng chốc biến mày râu”.

Theo Kỷ Cầu Thư, vào đời Minh, Dương Hoàng ở Đương Đồ tận lực học Nho. Gặp lúc quân binh vây làng, chẳng nỡ lìa phần mộ tổ tiên, giấu thê thiếp và con trai trong rừng sâu, một mình canh mộ. Quân lính kéo đến, bắt được ông, vội đem dìm chết. Đứa con trai lên mười, từ trong rừng thấy cha bị chết đuối, cũng gào khóc chạy ra, gieo mình xuống nước chết. Khi ấy là ngày Mười Sáu tháng Ba năm Bính Tuất (1646) đời Thuận Trị. Đến sáng, hai cái xác ôm nhau nổi lên, ai trông thấy cũng ứa lệ. Vợ ông ta là Lục Thị thôi ăn mặn, thờ tượng Đại Sĩ trong nhà, sáng tối niệm Phật, vừa niệm vừa tuôn nước mắt. Mộng thấy một bà lão dẫn một đứa nhỏ, bảo “tặng cho ngươi”. Tỉnh dậy, bèn cầu: “Nguyện người thiếp là Trương Thị đang có mang sẽ sanh được con trai thì là do Bồ Tát ban cho”. Cuối năm, người thiếp sanh con gái, bà Lục khóc lóc: “Nay đã hết rồi!” Đến mùa Xuân, bà mời các vị bề trên trong họ đến nói: “Chồng tôi không có con, tài sản đơn bạc nên chia cho các cháu trai. Tôi xin thâu tô để có cái lo toan cơm áo nuôi con gái”. Nói chưa xong đã đau đớn khóc ròng. Mọi người bất nhẫn, nói: “Đợi tới giáp năm ông Hoàng, sau khi làm Phật sự xong sẽ bàn định”. Đến kỳ, hội họp thân tộc, ngày hoàn tất trai đàn nhằm đúng hôm Mười Sáu tháng Ba, đứa bé gái khóc oa oa không ngớt, Trương Thị ôm nó đặt lên gối, chợt như bị bóng đè chẳng tỉnh. Bé gái khóc càng dữ. Bà Lục phải kêu ầm lên thì bà Trương mới tỉnh, bồng con lên thì nó đã biến thành thân nam, nhìn nhau kinh hãi, ngạc nhiên. Họ hàng xúm lại thấy mặt mũi nó vẫn như cũ, nhưng ở chỗ kín còn vằn vện dấu máu, mới biết Bồ Tát báo mộng chẳng sai, rồi đem nó lễ trình trước bàn Phật, đổi tên là Phật Tứ (Phật ban cho). Trương huyện lệnh sai xét nghiệm, tra hỏi tông tộc, phê rằng: “Nếu sự biến hóa của đứa con không thật, lũ cháu trai há chẳng muốn chia điền sản ư?” Hạc Động Tử[30] nói: “Linh cảm đến mức ấy, đá nứt vỡ, trời rúng động vậy”.

(2) Theo Hiện Báo Tùy Lục, đầu đời Thanh, Đàm Hiến Khanh nhà giàu có nhưng không có con trai, người trong họ ngắm nghé phân chia tài sản. Ông Hiến giận, dùng năm ngàn lạng vàng tổ chức đàn tràng Đại Bi Sám, lễ sám suốt bốn mươi chín ngày, người thiếp bèn sanh con trai, bọc thai trắng tinh. Người vợ cả bèn phát tâm quyên tặng một ngàn lạng vàng để dựng Bạch Y Các; không lâu sau lại sanh con trai, bọc thai cũng trắng như lần trước. Anh và em đều vào học trường huyện.

Theo Trần Hoài Tích Bút Ký, Uông Mậu Huy ở Kỳ Môn không có người nối dõi, bèn niệm và tặng Cao Vương Kinh, rộng làm các thiện sự, mộng thấy Đại Sĩ ẵm một đứa trẻ bảo: “Ngươi hãy khéo đỡ lấy. Sáu ngày sau sẽ đến ẵm đi, sẽ lại ẵm đến một đứa trẻ nữa”. Thế rồi ông sanh liên tiếp hai đứa con trai, trưởng là Nhân Trung, thứ là Nhân Tín. Sau này, Nhân Trung mất năm sáu mươi tuổi, [lúc ấy, người nhà ông Uông] mới hiểu được ẩn ngữ trong giấc mộng.

(3) Theo Trì Nghiệm Ký, vào đời Minh, Hình Khoa[31] Lý Thanh có một con trai chết vì bệnh đậu, mẹ nó bèn kiền thành tụng Cao Vương Kinh. Ông Thanh mộng thấy Đại Sĩ ẵm một đứa trẻ đến, bảo: “Như vân, như nguyệt”. Sáng dậy, ông X… tặng cho ông Lý bức tranh thêu Quán Âm ẵm đứa bé giống hệt như trong giấc mộng. Trên bức tranh ấy có bài thơ, [mở đầu bằng câu]: “Thái vân hương nhiễu hải thiên triều” (Mây màu vờn biển thơm trời thẳm). Câu cuối bài thơ là: “Hoàn lai đan quế nguyệt trung phiêu” (Trở về, quế thắm nhẹ lay trăng), phù hợp với hai chữ “vân” và “nguyệt”. Về sau, quả nhiên sanh con trai.

Theo Linh Ứng Ký, Phan Chiếu ở Ngô Giang đốt sớ cầu con trước tượng Đại Sĩ. Năm sau, giữa Xuân, sanh được một trai. Làm thơ kỷ niệm có câu: “U Yên lão khứ tuyết doanh điên, hỷ kiến hoa sanh nguyệt hựu viên” (U Yên già khọm, tuyết đầy non, mừng thấy hoa đơm, nguyệt lại tròn).

(4) Theo Quái Viên, Chương Tảo tuổi gần bảy mươi, không có con trai, lễ Đại Sĩ, mộng thấy trước tòa của Đại Sĩ, chuỗi hương vòng in một chữ Tử (con), rồi người thiếp sanh được một trai.

Dương Tâm Trai ở Nhạc Châu, triều bái Phổ Đà, mộng thấy Đại Sĩ bẻ cành liễu trong tịnh bình ban cho, bảo: “Cho nó làm con ngươi”. Đứa con trai sanh ra được đặt tên là Tự Liễu.

(5) Theo Cao Vương Cảm Ứng Ký, đời Đường, Cát Trường Niên ở Hành Dương không người nối dõi. Vị lão tăng khuyên ông Cát tụng Cao Vương Kinh, bảo: “Sanh con sẽ có điềm lạ là bọc thai kép màu trắng”. Vợ chồng bèn tụng kinh đủ một tạng; về sau, sanh được ba con trai, đều có bọc thai kép màu trắng. Quan Thái Thú chính mắt thấy sự linh nghiệm ấy, bèn cho khắc ván ấn tống. Vợ chồng Giang Tể ở Vũ Dương thọ trì kinh cũng được quả báo tốt đẹp.

Theo Khoáng Viên, Phan Hải Tân ở Thuận Thiên không con, nỗ lực làm lành, cúng dường chùa Tăng. Có hai vị lão tăng cảm kích, thề trước tượng Đại Sĩ, nguyện làm con ông bà để báo đáp. Một hôm, ông Phan đang ngồi trong gian giữa, chợt thấy hai vị Tăng đi vào nhà, vợ bèn sanh đôi hai con trai. Cho người sang chùa hỏi thăm hai vị lão tăng thì họ đã viên tịch cùng một lúc.

(6) Theo Ứng Nghiệm Ký, Phó Quốc Trấn ở Tân Kiến không con, chú là Quảng Nghiêu đông con trai; do vậy, khuyên: “Chú tụng Quán Âm Kinh nhiều năm, sao cháu không bắt chước?” Ông Trấn bèn kiền thành tụng, năm sau sanh con. Thí kinh hai ngàn quyển lại có thêm con, cùng thi đậu làm quan.

Theo Bạch Y Linh Nghiệm, Lý Tá Nghiêu ở Hành Sơn không con, anh là Thọ Nghiêu có được quyển kinh Bạch Y bèn cùng nhau mở trai đường, thờ tượng Đại Sĩ, tụng kinh, thí tặng, mỗi người đều có một con trai.

(7) Theo Cảm Ứng Ký, Thái Thú Tùng Giang là Phí Vĩnh Niên in tặng Cao Vương Kinh, sanh được một con. Truyền cách này cho cháu là Giang Văn Sản, anh ta cũng sanh được một con trai, năm mười tám tuổi, nó đậu khoa thi Hương.

Theo Nam Hải Từ Hàng, vào đời Minh, Long Tử Huy ở Lô Lăng không người nối dõi, em gái ông ta có được quyển kinh Bạch Y, đọc những chuyện linh ứng do cầu con, bèn khuyên chị dâu trì tụng. Chị dâu phát nguyện ăn chay, tụng kinh. Năm sau, sanh được một trai, khôi ngô khác thường.

Theo Tấn Thư, Hà Vô Kỵ[32] tàn ác giống như cậu hắn. Sách Tả Truyện có câu: “Điệt tùng kỳ cô” (Cháu làm bầy tôi cho cô)[33].

(8) Theo Nam Hải Từ Hàng, vào đời Thanh, Trâu Lỗ ở Lâm Xuyên, trong thời Ung Chánh kiền thành tụng Quán Âm Kinh, sanh được hai con. Tự nhủ: “Chưa chắc đã là sức của Bồ Tát”, tâm liền bê trễ. Hai đứa con chợt chết yểu, bèn kiền thành cầu đảo Đại Sĩ, thệ nguyện thí kinh. Vợ mộng thấy Bạch Y Đại Sĩ tươi cười, đáng mến, ẵm một đứa bé đặt lên chõng, hôm sau liền sanh con. Hơn một năm sau, lại mộng thấy giống như trước, lại sanh một con.

Lại nữa, Hùng Thiên Ích ở Ích Dương, sáu mươi tuổi, không con, thấy Quán Âm kinh chú linh nghiệm, bèn ăn chay tụng niệm, ấn tống. Vợ nằm mộng thấy gấu[34], vui vẻ kể với chồng, ông vẫn cho là huyễn mộng. Mùa Xuân năm sau, quả nhiên sanh con trai phù hợp giấc mộng.

(9) Theo Phổ Đà Chí, vào đời Minh, Đô Ty[35] huyện Định Hải là Lương Văn do cầu con được cảm ứng, bèn bỏ tiền cậy vị Tăng trong chùa là Dục Quang dựng Bạch Hoa Am.

Theo Từ Lâm Tập, chư sanh Hà Long Tướng ở Quảng Châu đã năm mươi tuổi nhưng không có người nối dõi, bèn thờ tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn, sáng tối kiền thành lễ tụng. Mộng thấy Đại Sĩ trao đứa bé đỏ hỏn, bèn sanh liên tiếp ba con trai.

(10) Theo lời bạt của Cao Vương Kinh thì Hồ Chí Thuần ở Phù Lương cùng với vợ họ Uông tụng Cao Vương Kinh. Bà Uông mộng thấy nhiều người đến xin kinh, bèn hứa in ra biếu tặng. Độ một tháng sau có thai, sanh con nhằm đúng ngày khởi công khắc bản in. Trong lời bạt, ông Thuần viết: “Bồ Tát như vang ứng theo tiếng, chẳng thể nghĩ bàn”.

Theo Minh Tường Ký, thời Lưu Tống, Tôn Đạo Đức theo Đạo giáo, làm quan Tế Tửu[36], tuổi đã năm mươi mà không con. Một vị sa-môn khuyên ông Tôn hãy chí tâm lễ tụng Quán Âm Kinh. Ông liền bỏ không theo Đạo giáo nữa, dốc lòng thành tụng Quán Âm, liền có giấc mộng lạ, vợ sanh được con trai.

Theo Tả Truyện, người thiếp của Trịnh Văn Công là Yến Cật mộng thấy thiên sứ trao cho cành lan, bảo: “Cho nó làm con nhà ngươi”, liền sanh ra [Trịnh] Mục Công, nên đặt tên là Lan.

(11) Theo Linh Ứng Ký, Giang Liên ở Miện Dương phát nguyện tụng Bạch Y Kinh để cầu con. Mộng thấy Đại Sĩ trao cho đứa bé bảo: “Thưởng cho ngươi dốc lòng thành tụng kinh”. Qua năm sau bèn sanh con trai.

Theo Cảm Ứng Ký, Kha Thắng Xuân ở Vũ Xương tuổi đã năm mươi, không con, vợ chồng ngày Rằm, mồng Một ăn chay, tụng Cao Vương Kinh trọn đủ tám tạng. Trong ba năm, liên tiếp sanh hai trai, một gái.

Theo Quán Âm Kinh Cận Nghiệm, Tông Duy Viên ở Kinh Quận, vợ họ Trương nhiều lần bị sản nạn, bèn trai giới tụng Bạch Y Kinh, sanh con có bọc thai kép màu trắng, đặt tên là Đại Sĩ Bảo (Đại Sĩ che chở), thông minh, tuấn tú bất phàm.

Đời Thanh, Tả Phiên[37] xứ Hồ Quảng là Lưu Nguyên Bá tu sám hai mươi tám ngày để cầu con. Năm sau sanh con trai cực thông minh.

Quách Vũ Bá ở Hành Sơn đã sáu mươi mà không con, nghe nói Bạch Y Kinh linh nghiệm, bèn phụng trì, không lâu sau sanh con.

Trần Tảo Xán ở Miện Dương sanh con nhưng không nuôi được, vợ chồng trì tụng Bạch Y Kinh, sanh con nuôi đến trưởng thành.

Hồ Lương Hoảng ở Tân Đề thỉnh kinh, ăn chay tụng niệm, năm sau sanh được con trai.

Bành Tuấn ở Kinh Môn, đã năm mươi tuổi vẫn không có con, tin kinh linh nghiệm, kiền thành tụng niệm bèn có con, đặt tên là Nghiệm Bảo (bảo đảm ứng nghiệm). Năm mười sáu tuổi, nó được vào học trường huyện.

Chương Tuấn ở Miện Dương, nghe chuyện của Bành Tuấn bèn cũng tụng kinh, cũng có con.

Trình Học Tuân ở Huy Châu không con, vợ chồng kiền thành tụng Bạch Y Kinh, lại còn in tặng, năm sau sanh con.

Chiêm Hữu Cao ở Vụ Nguyên, vợ đã ngoài ba mươi mà chưa sanh nở, tụng Bạch Y Kinh, bèn sanh con.

Theo Cao Vương Linh Ứng, Trịnh Thuần Lãnh ở Vụ Châu đã bốn mươi vẫn chưa có con, hứa thí kinh một tạng, bèn có con.

Trong niên hiệu Khang Hy đời Thanh, Dư Lân Văn ở Vụ Nguyên không người nối dõi, vợ là Đới Thị trì Quán Âm Kinh và hứa thí ba ngàn quyển, liền sanh ba con trai. Anh ông ta là Lân Nhân thấy em trai được ứng nghiệm bèn cùng vợ kiền thành trì tụng, in tặng và thỉnh Tăng trì kinh một ngàn biến, liền sanh con. Người cùng ấp là Dư Tư Lai trì Cao Vương Kinh, vào thời Khang Hy sanh được hai con trai, đặt tên là Phật Thành và Phật Chánh.

Uông Trân ở An Huy khắc năm trăm quyển kinh, bèn sanh được con trai.

Trịnh Mỹ Ngọc ở Vụ Châu bốn mươi tuổi vẫn không con, in kinh một tạng, liền sanh con trai. Năm sau lại sanh con gái. Người cùng ấp là Giang Ứng Lâm cùng với vợ tụng kinh, tặng kinh rộng rãi, sanh được một trai.

Hoàng Liên Thị ở Hấp Huyện, lưu truyền rộng rãi kinh này, sanh đôi hai trai, đặt tên là Phật Trụ, Khánh Nhi.

Mễ Nhuận Cô ở Huy Châu, hứa biếu tặng một ngàn quyển kinh, năm sau sanh con trai.

Vào đời Minh, Thư Uông Thị ở Y Huyện đã bốn mươi vẫn không con, trong niên hiệu Hoằng Trị, tới lễ ở Đông Sơn Am, thỉnh được kinh đem về. Trì hơn một năm, sanh con trai.

Trong niên hiệu Sùng Trinh đời Minh, Đổng Khoa ở Vụ Nguyên, vợ là Chúc Thị, kiền thành phụng trì kinh này, hứa in một ngàn quyển, người thiếp sanh được hai trai. Người cùng huyện là Dư Mục Trai thí kinh một ngàn quyển, một năm sau sanh con trai.

Phương Nham ở Hấp Huyện, vợ là Hoàng Thị, cũng thí kinh một ngàn quyển, sanh con trai.

1. Lại thêm: Ham thiện, hành từ, ắt sẽ được trước là rạng rỡ, sau là dư dật.

2. Vì thế, chép kinh, vẽ tượng, Vương Văn Túc trâm anh lừng lẫy thế gian; lợi vật, giúp nghèo, Từ Văn Kính tể tướng suốt cả hai triều.

3. Thưởng âm đức cho ông Trương, cháu đủ sáu rồng. Tặng họ Phùng đứa bé còm, con đeo ba ấn.

4. Tú Tài tuyệt hảo, sanh trung thần nơi xứ Gia Định. Thượng Đế tưởng thưởng, Thiên Phi giáng hạ cõi Bồ Điền.

5. Cụ Trầm trải vàng, cháu chắt đông đầy, hưng vượng. Châu Thị chuộng lành, phước thọ dằng dặc dài lâu.

6. Thương vị tăng nghèo đốt ngón tay, con làm quan tới chức Hàn Lâm. Cự nhũ mẫu giở trò hoa nguyệt, dòng họ thật đông đầy, thịnh vượng.

7. Thông thạo Phạm âm, vọng bái Vương Thượng Thư đời Tấn, bia khắc Lang Sơn, ghi sự thù thắng nơi điện đình.

8. Bền lòng nhân hiếu, kẻ không con rốt cuộc có cháu hiền. Nuôi người tàn phế, hợp lòng trời, hậu đại ắt hưng long.

9. Vẫn mong uống nước nhớ nguồn, nguyền hậu duệ đời đời tin Phật. Nếu trót trước siêng, sau nhác, hãy dũng mãnh sửa mình đổi mới. Đấy chính là sự ban vui thứ tư của Đại Sĩ vậy (đoạn này ca tụng cả chuyện sanh ra quý tử)

(1) Theo Hải Nam Nhất Chước, sự linh ứng do trì kinh Quán Âm khó thể nào thuật trọn, nhưng ắt cần phải hướng thiện, sửa lỗi, kiêng giết hại sanh mạng loài vật thì mới được linh ứng như tiếng vang vọng theo âm thanh, [mà quả báo] cũng chẳng phải chỉ là hưởng niềm vui trông thấy con cháu đầy đàn!

(2) Theo Hiện Quả Tùy Lục, vào đời Minh, Vương Tích Tước, tên thụy là Văn Túc, làm tể tướng thời Minh Thần Tông, sai thợ dùng mực hòa vàng bạc để vẽ tượng Đại Sĩ, đích thân viết Tâm Kinh lên trên, tặng cho người khác thờ phụng chẳng thể tính được số. Con [trưởng] là Hành đậu Bảng Nhãn, cháu là Thời Mẫn tin thờ Phật pháp, phát chẩn cho dân đói. Có người nằm mộng thấy sáu thạch đậu, một vị Tăng bảo: “Đây là để ghi số những việc thiện do Thời Mẫn đã tích tập vậy”. Con trai là Quỹ thi đậu, con trai [thứ] là Viêm, cháu là Nguyên và Kỳ đều đậu Tiến Sĩ.

Theo Ngọc Lịch Truyền Sao, thái phu nhân của ông Từ Văn Kính hằng ngày niệm thánh hiệu Đại Sĩ một ngàn câu, thích nói chuyện nhân quả, khắc Ngọc Lịch Truyền Sao để khuyên người làm lành. Văn Kính cũng khắc Kính Tín Lục, giúp đỡ trọn khắp thân tộc, nhưng không cậy mình có đức. Con ông là Bổn, làm quan đến Đại Học Sĩ[38], [một người con khác là] Kỷ làm quan Tuần Vũ, cháu là Dĩ Huyễn làm quan Thị Lang[39], Cảnh Đào làm quan Đạo Doãn[40]. Lũ cháu chắt đều liên tiếp đỗ đạt.

(3) Trong câu trên, đối với chuyện bị chết vì bệnh dịch rồi sống lại của Viên Thị vợ ông Trương Khánh vào đời Tống xin coi lại lời chú thích thứ tám trong đoạn thứ hai của phần lành bệnh. Đại Sĩ bảo: “Chồng ngươi nhiều âm đức, con cháu ắt sẽ hưng vượng”. Về sau, sanh con là Tử Hanh. Hanh có sáu con trai đều làm quan vinh hiển.

Theo Tấn Thư, sáu anh em Biện Khổn đều lần lượt làm quan tới bậc Tể Phụ, người đời gọi là “Biện Thị Lục Long” (sáu con rồng nhà họ Biện).

Theo Khuyến Giới Loại Sao, họ Phùng ở Đồng Hương đời đời tích đức. Phùng Cẩm làm quan ở Sơn Hữu, không có con, vợ trì chú Đại Bi hết sức kiền thành. Vợ người hàng xóm mộng thấy một bà lão bế hai đứa bé một gầy một béo đến, đỡ lấy đứa béo thì nó rớt xuống đất chết, lại đỡ lấy đứa gầy thì bà lão bảo: “Đứa này sẽ trao cho nhà họ Phùng”. Vợ người hàng xóm sanh con không nuôi được; còn Phùng phu nhân sanh ra Hạo, thuở bé gầy còm, yếu đuối. Đến lớn, Hạo dần dần trở thành khôi ngô, cao lớn, từ chức quan Hàn Lâm chuyển lên Ngự Sử, không chuyện tốt lành nào chẳng tận lực thực hiện. Nay đã bảy mươi lăm tuổi, hai vợ chồng hạnh phúc, khỏe mạnh, có ba con trai đều đỗ đạt làm quan.

Theo Hán Thư, Dương Bộc đeo ba quả ấn để khoe khoang với xóm làng[41].

(4) Theo Hiện Báo Tùy Lục, vào đời Minh, cha của Hoàng Uẩn Sanh ở Gia Định, do hiếm hoi bèn tụng Bạch Y Kinh, tận lực làm lành, mộng thấy Đại Sĩ bế một đứa bé trao cho, bảo: “Nghĩ ngươi siêng khổ, tụng kinh, làm lành, ta tìm được một tú tài tuyệt hảo trao cho ngươi”, liền sanh ra Uẩn Sanh. Uẩn Sanh tài văn chương lừng lẫy trong nước, đậu Tiến Sĩ thời Sùng Trinh. Do thời thế biến loạn, cùng với em là Vĩ Cung thắt cổ nơi điện Phật ngoài Bắc Môn.

Theo Thiên Hậu Chí, Thiên Phi là con gái họ Lâm ở Bồ Điền. Cha là người một niềm chân thành, làm quan Đô Tuần[42] đời Tống, làm lành, thích bố thí, lễ Đại Sĩ cầu con trai. Về sau, mẹ mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Nhà bà nhiều đời gắng công làm lành, Thượng Đế ban thưởng”, lấy ra hoàn thuốc bảo: “Uống thuốc này sẽ được ban tặng đứa con từ bi, thích cứu giúp”. Mẹ liền mang thai. Lúc sanh ra, ánh sáng có màu sắc như ráng trời chiếu vào nhà, chói lòa chóa mắt, mùi hương lạ ngào ngạt, suốt cả tháng không khóc nên đặt tên là Mặc. Từ mười tuổi trở đi, tụng kinh, lễ Phật không lười nhác chút nào. Về sau nhìn xuống giếng tìm được bùa, bèn linh thông biến hóa, cưỡi mây vượt biển cả. Mọi người gọi là Thông Hiền Linh Nữ. Năm Ung Hy thứ 4 (987) đời Tống, nhằm tiết Trùng Cửu, cô bay lên trời giữa ban ngày.     (5) Theo Tiên Tâm Lục, vào đời Minh, ông nội của Trầm Kiến Tuyền đi chơi, qua ngôi chùa đổ nát, thấy tượng Quán Âm đầu đội nón cật tre, than thở: “Bồ Tát từ bi, ban cho con người trí huệ, tôi nguyện trùng tu chùa này, cầu cho con cháu có đứa đọc sách”. Không lâu sau, điện đường, pháp tướng, sáng ngời như mới xây. Cháu nội là Nghiêu Trung, chắt là Mộng Đẩu kế tiếp nhau đỗ đạt.

Theo Bạch Y Đồ, Triệu Thế Trân ở Tiền Đường vợ là Châu Thị, không con, đến điện Bạch Y cầu khẩn, tụng chú, in tặng, và thật tâm làm lành. Về sau, sanh được hai trai, đứa lớn đỗ Tiến Sĩ. Bà vợ sống đến chín mươi tám tuổi, chính mắt thấy năm đời sống cùng nhà (ngũ đại đồng đường).

(6) Theo Hy Triều Tân Ngữ, Cấp Sự Trung Tôn Nhương không có người nối dõi, ngẫu nhiên thấy một vị Tăng đốt ngón tay, nói: “Nguyện có được một cái am tranh thờ tượng Đại Sĩ để ngồi bên cạnh tụng kinh, khỏi phải khổ sở khất thực”. Ông nói: “Tôi sẽ vì Sư thỏa nguyện này”. Ông dựng am tranh, Sư sống ở đó ba năm. [Một hôm] chợt thấy vị Tăng rảo bước vào buồng trong, liền chạy theo hỏi thì vợ đã sanh một trai. Còn đang kinh ngạc thì từ am báo tin vị Tăng ấy đã viên tịch, nhìn vào tay con thì vết đốt vẫn còn rành rành, bèn đặt tên là Trác, [về sau] đậu Bảng Nhãn.

Theo Thanh Long Yển Nguyệt Đao, Minh Thiện đời Nguyên không có con, thờ Đại Sĩ nghiêm cẩn, sanh con liên tiếp. Ông rước nhũ mẫu đến chăm nom. Có Bạch Thị là người xinh đẹp, ve vãn ông Thiện. Ông cự tuyệt, đuổi đi. Về sau, các con trưởng thành đều đông con, trở thành dòng họ lớn.

(7) Theo Biện Chánh Luận, vào đời Tấn, Vương Mân không con, vợ khẩn cầu Quán Âm cầu có người nối dõi. Về sau, ông Mân đi đường gặp một vị Tăng người Tây Vực, rất vui vẻ. Vị Tăng nói: “Ta chết sẽ làm con ông”. Không lâu sau, vị Tăng ấy mất, vợ ông Mân có thai. Sanh ra, con đã biết nói, thông hiểu Phạn âm của mười sáu nước tại Tây Vực, thuật những chuyện trong đời trước rành rẽ chánh xác. Đấy chính Thượng Thư Vương Hồng Minh đời Tấn vậy.

Trong đời Thanh, Trương Quý Trực đã bốn mươi mà chưa có con, phu nhân họ Từ cầu khẩn nơi Quán Âm Nham tại Lang Sơn. Một năm sau, bà sanh con trai. Đêm hôm trước [ngày sanh con], bà Từ mộng thấy một bà cụ ẵm đứa bé trao cho, bảo: “Đã xin thì ta cho ngươi vui lòng”. Quý Trực chép kinh Quán Âm tặng cho chùa, lại tạo tượng trên đỉnh núi, dựng đình bằng sắt để che, lại còn cho khắc bia để ghi lại chuyện này nhằm nêu rõ lòng Từ của Phật.

(8) Theo Nam Hải Từ Hàng, Tô Tấn ở Chiết Giang do mẹ bị bệnh, kiền thành tụng Cao Vương Kinh, ăn chay ba năm. Mộng thấy thần bảo: “Ngươi thật là hiếu tử! Ta vâng lệnh Thượng Đế, tăng thọ cho mẹ ngươi một kỷ. Nhưng tổ đức của ngươi mỏng mảnh, lẽ ra không con. Hiện thời tuy sanh được ba đứa con, nhưng chúng đều chẳng thọ. Hãy nên thí một tạng Quán Âm Kinh. Hãy gấp cưới vợ cho đứa con cả, ta sẽ thỉnh cho ngươi một đứa cháu hiền”. Tỉnh giấc, bèn cưới vợ [cho con], năm sau ẵm cháu, các con đều chẳng thọ.

Lại có một nhà giàu nọ ở Sơn Hữu, đã già mà chỉ có một con, một dâu. Dâu chết, con bệnh lao, cha cưới vợ lẽ cho con. Mẹ kinh hãi bảo: “Chẳng phải là ông làm cho nó chóng chết ư?” Ông bảo: “Ta thường cầu có người nối dõi ở chùa Linh Ẩn, mộng thấy Đại Sĩ dạy: ‘Mạng ngươi không có người nối dõi, nhưng vì đã tặng tiền giúp phát chẩn cứu sống cả ngàn người, nên ban cho ngươi một đứa cháu. Vì thế, phải cưới vợ lẽ cho con gấp”. Chưa đầy ba tháng sau, đứa con chết, người thiếp đã có mang, sanh ra con trai, nối dòng hương hỏa.

Theo Cảm Ứng Thiên Tăng Chú, vào đời Minh, Nghiêm Đạo Triệt tuổi đã ba mươi nhưng chưa có con, cưới thêm hai người thiếp đều chất phác, thô lậu, vẫn không sanh được con. Về sau, sang nhà họ hàng, thấy một đứa tớ gái bị câm, bèn cưới làm thiếp. Cha là Văn Tĩnh Công bảo: “Con làm chuyện hợp đạo trời, ắt sẽ có người nối dõi”. Ông Triệt trước đó đã tụng chú Bạch Y, giữ vững giới không sát sanh. Về sau, ba người thiếp đều sanh con, có điềm lạ là bọc thai kép. Cháu chắt đông đúc, nối nhau dạo bước thanh vân.

(9) Theo Tây Quy Trực Chỉ, đời Tống, Lã Mông Chánh thụy hiệu Văn Chánh, mỗi sáng thức dậy, khi lễ Phật, ắt nguyện rằng: “Kẻ chẳng tin Phật đừng sanh vào nhà tôi. Nguyện con cháu tôi là những kẻ ăn lộc trời, ắt sẽ hộ trì Tam Bảo”. Sau này, cháu là Di Giản và con của Giản là Công Trước cả hai đều làm Tướng Quốc[43]. [Hậu duệ là] quan Tả Thừa Lã Hảo Vấn và con ông Vấn là Dụng Trung đều tin Phật.

Theo Nam Hải Từ Hàng, vào đời Thanh, Tra Bang Việt ở Vụ Nguyên không con, cháu ông ta khuyên hãy tụng Quán Âm Kinh, lại còn dốc sức in tặng sẽ được ứng nghiệm. Trong năm Tân Dậu (1681) đời Khang Hy, vợ chồng bèn cùng tụng, sanh được hai trai, nhưng không nuôi được. Tự hối chưa in tặng, phát nguyện tặng ba ngàn quyển. Sanh con trai đặt tên là Phật Tứ, bèn in kinh đúng như lời nguyện, con được trưởng thành.

Theo Trì Nghiệm Ký, trong thời Tuyên Đức nhà Minh, Trương Quý không người nối dõi, phát tâm thí Bạch Y Kinh để cầu con. Sanh được con nhưng không hoàn nguyện in kinh, con chết yểu năm mười hai tuổi. Đau xót, sám hối, kiền thành cầu đảo, thí kinh năm ngàn quyển. Về sau, sanh con bình yên.

Theo Cao Vương Ứng Nghiệm, trong thời Khang Hy nhà Thanh, Dư Chấn Trạc ở Vụ Nguyên không có con, thệ nguyện in tặng Cao Vương Kinh, mồng Một, ngày Rằm trì tụng. Sanh con rồi cũng không hoàn nguyện, con chết yểu, bèn in tặng bốn trăm quyển, lại sanh con trai.

Theo Bạch Y Cận Nghiệm, vào thời Gia Khánh nhà Thanh, con ông Dương A Trần lắm bệnh, ông nhớ lại lúc chưa sanh được con, đã thầm hứa khắc kinh bốn trăm quyển mà chưa hoàn nguyện bèn sám hối trước tượng Đại Sĩ. Ngay hôm ấy khắc ván để thí tặng, bệnh con liền khỏi ngay.

Ghi thêm: Theo Minh Tường Ký, vào đời Tống, Biện Duyệt Chi không có con, phát nguyện tụng Quán Âm Kinh một ngàn biến, gần đủ số, người thiếp có thai sanh con trai.

Theo Bạch Y Kinh Kỷ Nghiệm, vào đời Nguyên, Lưu Ngọc ở Nam Kinh không người nối dõi, tụng Bạch Y Kinh suốt hai năm. Mẹ vợ ông là bà Lưu mộng thấy Bạch Y Đại Sĩ đội mão vàng, dẫn một đứa trẻ, bảo: “Đưa Thánh Nô đến”. Ngày hôm sau, [vợ ông Lưu] liền sanh con trai, do có điềm lạ là bọc thai trắng, bèn đặt tên là Thánh Nô, thí kinh năm trăm quyển.

Theo Linh Ứng Ký, mẹ ông Ngô ở Gia Hưng bệnh tật không con, tụng chú Bạch Y không thiếu sót, in tặng không tính xuể, khỏi bệnh, sanh con trai làm quan tới chức Thiếu Tư Nông[44].

Vợ ông Hoa Đôn Tam suốt mười chín năm chẳng sanh nở, cầu đảo Đại Sĩ sụt sùi, nức nở. Mộng thấy Đại Sĩ ẵm một trai, một gái đến, bảo: “Thương ngươi kiền thành nên trao cho ngươi”. Năm sau sanh trai, năm sau nữa sanh gái. Sau đấy, không còn sanh nở nữa.

Theo Cảm Ứng Ký, Tiến Sĩ Tiền Phước ở Thuận Thiên không có con, được một vị lão tăng truyền cho Cao Vương Kinh. Vợ chồng trì tụng, khắc thí một tạng, sanh ba con trai, đều vào học trường huyện.

Từ Cửu Đức ở Cừu Châu tạo tượng Đại Sĩ, lễ bái cầu con, tặng một ngàn quyển kinh, sanh con trai.

Đinh Thái ở Hàng Châu, năm mươi tuổi vẫn không con, nghe nói Cao Vương Kinh hễ cầu ắt ứng, liền ngày đêm trì tụng, sanh con trai, mười sáu tuổi thi đỗ.

Vương Tấn ở Như Cao đã ngoài năm mươi, vợ cũng ngoài bốn mươi lại lắm bệnh, cầu đảo Đại Sĩ, tụng kinh cầu con. Rốt cuộc vợ sanh con trai, càng thêm tin thờ, lưu truyền rộng rãi, lại sanh con trai.

Trong niên hiệu Hồng Vũ đời Minh, Bành Nguyên Chấn ở Quảng Đông hứa in Cao Vương Kinh năm trăm quyển, sanh con trai.

Phương Thị ở Thang Môn, dâu có thai nhiều lần nhưng bị sảy thai, bèn nguyện tụng Quán Âm Kinh một tạng, in tặng hai trăm quyển, về sau sanh được cháu, đặt tên là Âm Bảo.

Vào đời Thanh, Dư Úc Văn ở Bà Dương không con, thí kinh một ngàn quyển, mộng thấy Đại Sĩ tặng con. Thiếp là Lưu Thị cũng mộng thấy Đại Sĩ ẵm đứa bé đến trước giường, liền sanh con trai, đặt tên là Kinh Bảo.

Vào đời Thanh, Trần Thiên Ngự vợ bị tiểu sản (sảy thai), vợ chồng chí thành trì tụng kinh chú Quán Âm, lại in tặng rộng rãi. Năm sau, mang thai yên ổn, sanh được con.

Du Cửu Vân ở Phong Thành nhiều lượt con bị chết. Do vậy, đắp tượng Phật, sửa chữa cầu đường, thắp đèn ban đêm, thí nước trà, hết thảy việc lợi lạc đều vui vẻ thực hiện, lại tụng Quán Âm Kinh, bèn sanh được con. Đến năm ông Du sáu mươi tuổi, con thành tài.

Trần Triều Đống ở Đồng Thành hiếm muộn, kiền thành tụng Bạch Y Kinh, nhiều lần mộng thấy Đại Sĩ, liền sanh hai trai.

Vào đời Thanh, Lý Chi Phú ở Bảo Để trong niên hiệu Càn Long khắc ba trăm quyển kinh, sanh được con đặt tên là Phật Khánh.

Kim Lợi ở Phong Thành đã năm mươi tuổi mà chưa có con, tụng kinh năm ngàn biến, sanh con có điềm ứng nghiệm là bọc thai màu trắng.

Lưu Thế Long ở Kinh Đông không con, trì kinh một vạn hai ngàn biến, sanh được con.

Tô Mỹ Đoan không có con, tụng kinh, lễ bái, sanh hai trai liên tiếp.

Tra Dịch Nam ở Hải Ninh lập nguyện tụng kinh, sanh được con đặt tên là Phật Hựu.

Ngô Thiệu Thành ở Dương Giang trì Tâm Kinh, sanh được con.

Chương Cảnh Dương ở Trì Dương thấy bạn là Thang Kính Trọng trì kinh được ứng nghiệm bèn kiền thành tụng cũng sanh con, đến lớn, con đỗ khoa thi Hương.

Cư sĩ Tế Xuyên ở Nhiêu Châu không có con, khắc kinh thí tặng bèn sanh con.

Vương Triệu Thị ở Giang Lăng mấy lượt gặp cảnh con chết yểu, trong niên hiệu Thiệu Hưng, có được kinh bèn trì tụng. Năm sau, sanh được con.

Tín sĩ là Từ Thụ Bách ở Tam Nham, vợ mang thai, bệnh nặng gần như không trị được. Ở trong nhà kiền thành tụng Quán Âm Kinh một ngàn quyển, và in kinh thí tặng, mua loài vật phóng sanh. Về sau, sanh được một trai, mẹ con vô sự, bệnh khỏi hẳn.

Theo Trì Nghiệm Ký, Lương Nguyên Chinh ở Hoài An không con, lắm bệnh. Do vậy, phát tâm ăn chay trường, hằng ngày tụng chú Đại Bi, Bạch Y Kinh. Vợ cũng trì Chuẩn Đề Trai[45], sáng sớm quỳ tụng kinh. Không lâu sau, ông Chinh khỏi hẳn bệnh, vợ sanh được ba con. Đứa con thứ hai đỗ khoa thi Hương.

Theo Linh Nghiệm Ký, Từ Hy Tải ở Lạc Bình con chết yểu, hết sức đau đớn. Có vị Tăng tặng thánh tượng Đại Sĩ, khuyên khắc ván in Quán Âm Kinh để biếu tặng [người khác], liền sanh được hai trai.

Hoàng Khuếch Sanh ở Quảng Châu nhà giàu nhưng không con, thọ Ngũ Giới, thôi ăn mặn, thờ Đại Sĩ. Sáng tối kiền thành lễ một trăm lạy, xưng danh không bỏ sót [một ngày nào]. Về sau, vợ và thiếp mỗi người đều sanh một trai, rất thông minh.

Từ Cẩn ở Huy Châu không con, tụng Bạch Y Chú để cầu con. Mộng thấy thần bảo: “Tụng thêm một tạng Cao Vương Kinh sẽ có người nối dõi”. Ông Cẩn theo đúng lời ấy, liền sanh con trai. Lại mộng thấy thần dạy: “Hãy rộng hành phương tiện, thí kinh một tạng thì con sẽ sang cả”. Ông Cẩn vâng lời, quả nhiên con đỗ đạt.

1. Phàm tránh dữ hướng lành, Châu Dịch nhiều lần đã nhắc, nhưng ban phước, tiêu tai, chính là Bồ Tát hạnh nguyện.

2. Núi đồng lở, chuông Lạc ngân, Phật tức là tâm. Âm đức hiện, dương báo tới, Lý thành tựu Sự.

3. Cát Tường thiên nữ khiến cho kẻ niệm toại lòng, Kiên Lao địa thần cũng khiến hữu tình an ổn.

4. Huống chi Đại Sĩ được chư thiên phụng hành, vạn thần đứng hộ vệ ư? Sở cầu như ý, chớ nên nghi ngờ (Từ đây trở đi là tổng kết chuyện cứu khổ và ban vui, gồm hai đoạn)

 

(2) Theo Hán Thư, cái chuông trước điện Vị Ương vô duyên cớ tự kêu lên, vua vời Đông Phương Sóc[46] vào hỏi. Sóc thưa: “Đồng là con của núi, núi là mẹ của đồng; sợ rằng sẽ có núi lở”. Ba ngày sau, Nam Quận tâu lên bị núi lở. Phần Càn Truyện (giảng giải quẻ Càn) trong kinh Dịch ghi: “Núi đồng lở, chuông Lạc ngân”.

Quán Kinh: “Tâm này là Phật”. Ngụy Văn Đế hỏi: “Báo là như thế nào?” Ông Quỳ tâu: “Kẻ có âm đức ắt có dương báo”. Trong sách Hoa Nghiêm Pháp Giới Huyền Kính có nói tới Y Lý Thành Sự môn và Chân Lý Tức Sự môn.

(3) Theo phẩm Đại Cát Tường Thiên Nữ[47] của kinh Kim Quang Minh thì [Cát Tường thiên nữ có phát nguyện] tùy theo lòng mong muốn, người niệm [chú Thiện Thiên Nữ] đều được toại nguyện.

Trong phẩm Kiên Lao Địa Thần[48] [của kinh ấy] cũng có nói: “Nếu các hữu tình thọ dụng các món ăn uống thù thắng như thế xong, sẽ tăng trưởng thọ mạng, sắc lực, các căn an ổn”.

(4) Cổ đức nói: “Nhà Nho tôn thờ trời, hành theo, còn Phật thì được chư thiên tôn thờ, làm theo”.

Nguyệt Quang Đồng Tử Kinh: “Phật tọa đạo tràng, vạn thần thị vệ” (Phật ngồi nơi đạo tràng, muôn thần chầu hầu, hộ vệ).

1. Chỉ là y rách, dọn phân, trừ nỗi sợ cho đứa con nghèo, lá vàng, cành dương, dỗ dành con thơ thôi khóc mếu.

2. Bởi lẽ Thế Đế phù hoa, khó nhập đạo lưu huệ nhãn.

3. Ấy là vì: Bóng câu qua cửa sổ, mong giàu sang biết đến thuở nào? Đụn đất vàng chôn mãi, vợ con an hưởng mãi hay chăng?

4. Huống chi: Béo, nồng, giòn, ngọt, đáng xưng là “thuốc mục ruột”. Răng trắng, mày ngài, đáng gọi là “búa đoạn mạng”.

5. Làm trâu ngựa cho con, cho cháu, bị người xỏ mũi lôi đi. Bệnh mê tiền đã lậm tâm can, tâm làm tớ cho thân sai sử.

6. Đã bị các oán xúm vây, còn gây chướng ngại nhập đạo.

7. Gần chết vẫn chẳng ngộ, thật cảm thấy đáng thương.

8. Chẳng biết: Lo được, lo mất, kẻ mong sang quý cảm nhận khổ não nhiều phen. Phụ ta, phụ người, kẻ lắm con trai vốn bởi nghiệp chướng nặng nề.

9. Vì thế, Thích Ca tu đạo, bỏ nước, lìa ngôi. Đại Sĩ cứu người, bán con, bán vợ.

10. Chính là nhằm đoạn tuyệt ái căn, bèn nhập Dự Đạo phẩm.

11. Đối với thân thì tứ đại giả hợp, cứng chắc chỗ nào? Chín lỗ thường tuôn, càng tăng hôi bẩn!

12. Dẫu cho trăm năm tuổi thọ, rốt cuộc như tằm trong kén, tuy nói tiên sống ngàn năm, nhưng vẫn là quỷ giữ thây.

13. Ở tù mãi trong thai ngục, kẹt vĩnh viễn trong núi hình.

14. Là nơi cất giữ đại hoạn, người trí há lại ưa sao?

15. Vì thế, đất Hoa dâng câu chúc tam đa, vua Nghiêu nêu lời tạ tuyệt. Trong Ngũ Phước có chết an lành, Cơ Tử cảm niệm vô thường.

16. Phàm đang si mê, hãy gấp nên mạnh mẽ tỉnh thức.

17. Té giếng mật ngọt, thôi đừng như Kiệt Trụ chóng quên! Bỏ vàng gánh gai, chớ cười Bà La Môn u tối!

18. Huống hồ chẳng tu Tịnh Độ, sao được trường sanh? Chưa đọc Hoa Nghiêm, há biết phú quý? Đây chính là phần nối tiếp đoạn văn nói về sự cứu khổ ban vui, thuật bày sự hoằng pháp độ sanh. (Đây là do bi nguyện của Đại Sĩ thật sự muốn cho hết thảy chúng sanh không ai chẳng thành Phật. Về sự cứu khổ thì không gì chẳng như ngài Vĩnh Gia đã nguyện: Không khổ vì bệnh, không khổ vì nghèo, không bị tai nạn, không bị ma não, mong được thân cận minh sư, tu Phạm hạnh, chuyên tâm Định Huệ, hồi hướng Bồ Đề mà thôi! Về sự ban vui thì không gì chẳng nhằm dùng dục để lôi kéo, khiến cho [chúng sanh] đều nhập Phật trí mà thôi! Nếu chẳng chuyên lấy những điều này làm mục đích, tức là đã phụ bạc bổn hoài vào trong cõi trược [độ sanh] của Đại Sĩ vậy. Do vậy, xóa sạch từng điểm [tham chấp, si mê] hòng làm cho chúng sanh khởi lòng hướng về đạo pháp)

(1) Pháp Hoa Kinh: “Ư thời cùng tử, tự niệm vô tội, nhi bị tù chấp, chuyển cánh hoàng bố, muộn tuyệt tịch địa. Hựu trưởng giả tương dục dụ dẫn kỳ tử, nhi thiết phương tiện, cánh trước thô tệ cấu nhị chi y, chấp trì trừ phấn chi khí” (Khi ấy đứa con nghèo cùng, tự nghĩ ta vô tội mà nay bị bắt giữ, càng thêm hoảng sợ, ngất xỉu té lăn ra đất. Trưởng giả lại muốn dẫn dụ con mình bèn lập phương tiện, mặc áo thô xấu, bẩn thỉu, tay cầm dụng cụ dọn phân).

Niết Bàn Kinh: “Như anh nhi đế thời, phụ mẫu dĩ dương chi hoàng diệp dữ chi, viết dữ nhữ kim. Anh nhi tác chân kim tưởng, tiện chỉ bất đế” (Như lúc trẻ thơ khóc lóc, cha mẹ dùng lá vàng của cành dương đem cho, bảo: ‘Cho con vàng’. Trẻ thơ ngỡ là vàng thật, liền không khóc nữa).

(2) Hoa Nghiêm Kinh: “Tu chư thiện nghiệp, nhi bất nguyện cầu thế gian quả báo” (Tu các thiện nghiệp, nhưng chẳng nguyện cầu quả báo thế gian). [Theo kinh Hoa Nghiêm] cái trống trời lại vang ra tiếng nói: “Nhất thiết ngũ dục tất vô thường, như thủy tụ mạt tánh hư ngụy, thế gian sở hữu chúng khổ bổn, nhất thiết thánh nhân giai yếm hoạn. Ngũ dục công đức diệt hoại tánh. Nhữ ưng ái nhạo chân thật pháp” (Hết thảy ngũ dục thảy vô thường, như bọt nước đọng tánh hư ngụy. Tất cả gốc khổ trong thế gian, hết thảy thánh nhân đều chán nhàm. Ngũ dục công đức tánh diệt hoại. Hãy nên vui thích pháp chân thật).

(3) Theo Sử Ký, Lã Hậu ép Đức Lưu Hầu[49] ăn, bảo: “Đời người trong thế gian như bóng bạch câu[50] vút qua khe hẹp, sao lại khổ đến như thế”.

Đời Hán, Dương Uẩn viết: “Đời người nên hưởng lạc, chứ đợi đến phú quý thì đến bao giờ”.

Trong bài Khuyến Thế Ca (bài ca khuyên đời) của ông Châu An Sĩ có đoạn: “Bao nhiêu vị trượng phu oanh liệt trong thế gian, đa số thường khổ sở vì vợ con; rốt cuộc vợ con có ích gì? Trong nẻo đường sanh tử chia lìa, chẳng thể đi cùng nhau được!”

(4) Trong lời bạt thứ bảy của Mai Thừa có câu: “Răng trắng, mày ngài, mệnh danh là búa chém tánh mạng; ngọt, giòn, béo, nồng, mệnh danh là thuốc làm mục ruột”.

(5) Trong bài Khuyến Cùng Dân Văn (bài văn khuyên dân nghèo) của Trình Loan có câu: “Người đời nay coi thân và nhà quá thật, coi quyến thuộc quá nặng. Dẫu là người hiền, trí, coi nhẹ công danh, cam phận nghèo hèn, nhưng đối với con cái thì chắc chắn chẳng thể buông bỏ được, cam tâm chịu khổ làm trâu ngựa”.

Lại nữa, trong bài Pháp Tín Kệ của Phùng phu nhân có đoạn: “Tùy duyên nhậm nghiệp kỷ đa niên, uổng tác canh ngưu thái khả liên, đả điệp thân tâm tảo thoát khứ, miễn tương tỵ khổng bị nhân khiên” (Tùy duyên, kệ nghiệp bấy nhiêu năm, thương quá trâu cày uổng nhọc nhằn, vật vã thân tâm mau sớm thoát, xỏ mũi người lôi mới thoát vòng).

Theo Tấn Thư, Hòa Kiều giàu có như bậc vương giả nhưng rất keo kiệt, bị người ta chê là mắc bệnh “nghiện tiền”. Lại nữa, Vương Nhung ruộng, vườn, cối xay chạy bằng sức nước trọn khắp thiên hạ, nhưng bo bo keo kiệt, đối với chính mình cũng chẳng dám dùng, người ta bảo “bệnh đã lậm đến Cao Hoang”.

Trong bài Quy Khứ Lai Từ của Đào Uyên Minh có câu: “Ký tự dĩ tâm vi hình dịch” (Đã tự để cho cái tâm bị sai khiến bởi hình hài).

(6) Sơ Quảng đời Hán nói: “Kẻ giàu bị mọi người oán”. Phẩm Thập Hạnh kinh Hoa Nghiêm có câu: “Thử ngũ dục giả, thị chướng đạo pháp” (Năm món dục này gây chướng ngại cho đạo pháp).

(8) Luận Ngữ: “Kỳ vị đắc chi dã, hoạn đắc chi. Ký đắc chi, hoạn thất chi” (Kẻ chưa có bèn lo sao cho có, kẻ đã có, lại lo mất đi). Lời này rất đúng cho lúc thái bình. Nếu nhằm thời loạn, vì chính mình mà tranh thành giành đất, giết người ngập thành đầy đồng, tạo sát nghiệp trong lúc còn sống, chết đi phải thường mạng; kẻ ngu thật sự chẳng nghĩ đến!

Thập Nhị Nhân Duyên Kinh: “Tử dĩ tam nhân duyên sanh, nhất giả phụ mẫu tiên thế phụ tử tiền, nhị giả tử tiên thế phụ phụ mẫu tiền, tam giả oán gia lai tác tử” (Con do có ba nhân duyên mà sanh, một là cha mẹ đời trước thiếu tiền con, hai là con trong đời trước thiếu tiền cha mẹ, ba là oán gia sanh vào làm con).

(9) Thích Ca Mâu Ni Phật là Thái Tử của vua Tịnh Phạn (Śuddhodana) nước Ca Duy La Vệ (Kapilavastu), năm mười chín tuổi vào núi tu đạo.

Vô Lượng Thọ Kinh: “Khí quốc quyên vương, tuyệt khử tài sắc” (Bỏ nước, vứt ngôi vua, trừ sạch tài sắc).

Theo Phó Đại Sĩ Ngữ Lục, trong niên hiệu Đại Thông đời Lương, bị đói kém, Đại Sĩ khuyên dụ vợ con bán thân để lấy tiền mở đại hội [phát chẩn], phát nguyện: “Kính lạy mười phương ba đời chư Phật, nay con buông, bán vợ con để tiêu tai nhóm phước cho khắp các chúng sanh trong tam giới cùng chứng Bồ Đề”

(11) Niết Bàn Kinh: “Thị thân bất kiên, do như lô vĩ, ba tiêu chi thụ” (Thân này không cứng chắc, giống như cỏ lau, như thân cây chuối).

Di Giáo Kinh: “Thế thực nguy thúy, vô kiên lao giả” (Cõi đời thật nguy ngập, mỏng manh, không bền chắc).

Niết Bàn Kinh: “Thị thân bất tịnh, cửu khổng thường lưu” (Thân này không sạch, chín lỗ thường tuôn chảy).

Kinh còn dạy: “Ninh dĩ ngưu tích thịnh đại hải thủy, bất năng cụ thuyết thị thân vô thường bất tịnh xú uế” (Dẫu cho vết chân trâu chứa được nước trong biển cả thì cũng chẳng thể nói trọn sự vô thường, bất tịnh, hôi nhơ của cái thân này).

(12) Niết Bàn Kinh: “Phiền não sở thường lý, do như tàm xử kiển” (Thường ở trong phiền não như tằm nằm trong kén).

Theo Ngũ Đăng Hội Nguyên, Lã Động Tân đi chơi Lô Sơn, trên đường đi ngang qua núi Hoàng Long, gặp lúc Hối Cơ thiền sư[51] thượng đường, ông Lã hỏi: “Trong một hạt lúa chứa cả thế giới, trong cái nồi nửa thưng nấu trọn núi sông, hãy nói ý ấy là như thế nào?” Ngài Hoàng Long dạy: “Đấy là con quỷ giữ thây”. Họ Lã nói: “Cớ sao trong đảy có thuốc bất tử ư?” Ngài Hoàng Long bảo: “Dẫu sống lâu tám vạn kiếp, rốt cuộc vẫn rỗng tuếch”. Ông Lã lại lạy, xin Sư hãy dạy cho đường lối để nương về, Sư thốt lời, ông Lã bèn khế cơ.

Lại nữa, ngài Hàn Sơn có thơ như sau: “Nhiêu nhữ tác tiên nhân, kháp tự thủ thi quỷ” (Dẫu cho ông được thành tiên, hệt như con quỷ giữ thây khác gì).

(13) Trong lời tựa đằng sau sách Thập Nghi Luận có câu: “Thai ngục uế trược, há nên thật sự ở?” Trong Triệu Luận có câu: “Có một vật báu ẩn trong núi hình”.

(14) Đạo Đức Kinh: “Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vị ngô hữu thân” (Sở dĩ ta có mối lo lớn là vì ta có thân).

Niết Bàn Kinh: “Hà hữu trí huệ giả, nhi đương nhạo thị xứ?” (Há kẻ có trí huệ nào sẽ ưa thích chốn này?)

Di Giáo Kinh lại dạy: “Hà hữu trí giả, đắc trừ diệt chi, như sát oán tặc, nhi bất hoan hỷ” (Có kẻ trí nào đã trừ diệt [phiền não] như giết oán tặc mà chẳng hoan hỷ?)

(15) Theo Trang Tử, vua Nghiêu đến thăm đất Hoa, người được phong ở đất Hoa chúc tụng: “Mong thánh nhân sống thọ”. Vua Nghiêu từ tạ. [Người đất Hoa chúc tiếp]: “Mong cho thánh nhân giàu”, vua Nghiêu lại từ chối, [họ bèn chúc]: “Mong cho thánh nhân nhiều con trai”. Vua Nghiêu lại từ chối. Người được phong [ở đất Hoa] nói: “Giàu, thọ, đông con trai là những điều người ta mong muốn, sao riêng Ngài chẳng ham, là vì sao vậy?” Vua Nghiêu đáp: “Lắm con trai bèn lắm sợ hãi. Giàu thì lắm việc. Thọ bèn lắm nhục. Do ba điều ấy đều chẳng phải để dưỡng đức vậy”.

Kinh Thư chép: “Cơ Tử giảng Hồng Phạm, phước thứ năm là chết an lành”.

(17) Sách Chú Giải Kinh Duy Ma có viết: “Xưa kia có người mắc tội với vua, vua sai voi say đuổi theo. Người ấy tự nhảy xuống cái giếng cạn, giữa chừng nắm được một búi cỏ mục. Phía dưới có rồng ác phun hơi độc nhắm tới. Phía trên có một cái cây, bên cạnh lại có năm con rắn độc sắp làm hại. Lại có hai con chuột gặm cỏ sắp đứt. Voi lớn sắp đuổi tới phía trên, lại muốn bắt lấy. Phía trên có một cái cây, khi ấy có nước mật rơi vào họng. Do chấp vào vị ngon nên [kẻ ấy] quên nỗi sợ hãi. Giếng ví như sanh tử. Voi ví như vô thường. Rồng độc ví như ác đạo. Năm con rắn độc ví cho Ngũ Ấm. Cỏ mục ví như mạng căn. Chuột ví như năm tháng. Giọt mật ví như ngũ dục”.

Theo sách Khổng Tử Gia Ngữ, Lỗ Ai Công hỏi Khổng Tử: “Quả nhân nghe nói có người rất hay quên, đến nỗi quên cả vợ mình?” Khổng Tử đáp: “Kiệt, Trụ quên cả thân”. Nếu dùng đạo nhãn để nhìn thì người đời nay đều quên cả thân!

Theo Tế Túc Kinh, có Bà La Môn tên là Tế Túc, bảo với người khác không có đời sau, cũng chẳng có tái sanh, cũng chẳng có thiện báo, ác báo. Đồng nữ Ca Diếp bèn bảo Tế Túc: “Xưa kia có hai người một trí, một ngu, đến một xóm vắng, thấy trên đất có gai bèn lấy đem đi, mỗi người một gánh. Đi tới trước thấy sợi gai, người trí bèn bỏ gai gánh sợi. Kẻ ngu nói: ‘Ta đã lấy gai, chẳng thể bỏ được’. Lại đi tới trước thấy vải, thấy sợi Kiếp Bối[52], thấy bạch điệp[53], thấy đồng, thấy bạc, rồi tới vàng ròng. Kẻ trí nhiều lượt lấy, nhiều lượt bỏ; dần dần [giá trị của món hàng ông ta gánh đi] tăng cao hơn, kẻ ngu trọn chẳng bỏ gai. Về đến nơi, thân thuộc của kẻ trí vui vẻ đón rước; kẻ ngu càng tăng thêm ưu não!”

(18) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, vào đời Ngụy, ngài Đàm Loan thoạt đầu từ chỗ ẩn cư của họ Đào có được mười quyển tiên kinh, trở về Lạc Hạ, gặp ngài Bồ Đề Lưu Chi, hỏi: “Trong Phật pháp há có pháp trường sanh bất tử trỗi vượt kinh tiên hay chăng?” Ngài Lưu Chi nói: “Trong cõi này, chỗ nào có pháp trường sanh bất tử? Dẫu được khỏi chết trong một thời gian ngắn, rốt cuộc vẫn phải luân chuyển”. Rồi đem Thập Lục Quán Kinh truyền cho, bảo: “Học pháp này thì tuổi thọ dẫu đem hằng hà sa kiếp thạch[54] vẫn không sánh bằng được!”

Theo Nam Đường Thư, tiểu trưởng lão thân mặc y bằng lụa hồng đan chỉ vàng, Hậu Chủ[55] chê là quá xa hoa. Đáp: “Bệ hạ chẳng đọc kinh Hoa Nghiêm, làm sao biết được sự phú quý trong nhà Phật?”

Ghi thêm:

Kim Xương ở Vô Tích, vợ là Trầm Vân Tảo, khá thông hiểu văn lý, bị sản hậu, bệnh nặng, tình thế cực nguy hiểm, các thầy thuốc bó tay. Có người bạn khuyên ông Xương hãy cầu đảo Quán Âm Đại Sĩ. Ông Xương nghe theo, bệnh liền chuyển biến. Hơn một tháng, vẫn khó cử động. Người vợ do thấy cầu đảo linh ứng bèn phát nguyện sau khi lành bệnh sẽ thường thờ phụng Đại Sĩ. Một đêm, ông Xương mộng thấy Đại Sĩ diệu tướng trang nghiêm, đứng nhìn về phía mình, hai đứa bé đứng hầu hai bên kêu tên ông Xương. Ông Xương liền lễ bái, chợt giật mình tỉnh giấc. Bà vợ cũng tỉnh giấc, mỗi người kể lại giấc mộng gần giống nhau. Chỉ có điều là vợ mộng thấy một đứa bé cầm cành dương nhúng nước vẩy lên thân, nói kệ rằng: “Khởi tử hồi sanh cam lộ thủy, nhất điểm thiện tâm cảm hóa thành, vững lòng vàng đá lên Cực Lạc, chỉ sợ trần duyên gỡ chẳng xong”. Thân tâm thanh thản, sảng khoái, bệnh liền lành. Vợ chồng do vậy ăn chay trường niệm Phật và soạn Nhân Quả Lục để khuyên đời.

Phương Tử Trọng ở Trấn Hải mười chín tuổi, chợt ruột sanh khối ung. Thầy thuốc bảo chẳng thể nào không mổ. Cha mẹ không đành lòng liền không chữa chạy. Bà mẹ thông hiểu văn lý, ăn chay trường niệm Phật, bèn cùng với bạn là bà Du Đức Chương liều mạng niệm kinh Kim Cang và thánh hiệu Di Đà, Quán Âm. Ba ngày sau, khối ung vỡ ra, máu mủ theo đại tiện tuôn ra. Năm ngày sau hoàn toàn khôi phục.

Tôn Duy Tiệp ở Giang Ninh, vợ là Mộ Tây, vợ chồng khá thích làm lành, nhiệt tâm làm chuyện công ích. Mỗi năm thường may hơn một ngàn cái áo bông nhằm thí cho người không có để mặc đỡ rét. Bà vợ ngã bệnh đang độ tuổi khỏe mạnh, ngực đau như kim đâm, bèn dốc cạn lòng Thành niệm thánh hiệu Quán Âm cầu cứu. Hồi lâu sau, ngủ thiếp đi, mộng thấy một bà lão xoa ngực, lại nắn bóp khắp nơi, nhổ ra hai cây kim dài hơn một tấc, bảo: “Chẳng lạ gì ngươi bị đau đớn, do ngực có kim mà!” Liền cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái, lại tự sờ nắn, nhổ ra được một cây kim nữa, chợt giật mình, tỉnh giấc, trọn chẳng còn bệnh khổ nữa. Ba câu chuyện trên đây do chính Ấn Quang chứng kiến.

* Trình bày việc quyên mộ in cuốn Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng

Trong quá khứ, Quán Thế Âm Bồ Tát đã thành Phật từ lâu trong vô lượng kiếp trước, hiệu là Chánh Pháp Minh, nhưng do tâm từ bi tha thiết, lòng cứu khổ ân cần, chẳng lìa Tịch Quang, hiện hình trong chín giới, tùy loại hiện thân trong mười phương vô lượng thế giới để độ thoát chúng sanh. Phẩm Phổ Môn nói “nên dùng thân nào để độ được, liền hiện thân ấy để thuyết pháp”. Tuy là mười phương thế giới không cõi nào chẳng hiện thân, nhưng đối với thế giới Sa Bà nhân duyên rất sâu. Tuy những thân trong mười pháp giới không thân nào chẳng hiện, nhưng người đời đều gọi Ngài là Bồ Tát. Tuy những chỗ Ngài ứng hóa trọn khắp hoàn vũ, nhưng Phổ Đà Sơn tại Chiết Giang là nơi rõ ràng nhất.

Ấn Quang được hưởng ân thật lớn, đội ân thật sâu. Thoạt đầu xuất gia tại Nam Ngũ Đài Sơn ở Thiểm Tây, tức là đạo tràng nơi đức Quán Âm hiện thân hàng phục rồng độc. Tiếp đó, sống nhờ ở Phổ Đà trong biển Nam, chính là thánh địa nơi Thiện Tài đi về phương Nam tham học với đức Quán Âm. Thường nghĩ người đời chẳng biết lòng Từ sâu xa, lòng Bi rộng lớn của Bồ Tát, muốn sưu tập từ Đại Tạng và các sách vở, phàm những hạnh nguyện nơi bổn địa của Bồ Tát và những sự tích Bồ Tát cảm ứng nơi phương này, soạn thành bài văn ca tụng, lại còn chú thích tường tận, để những người cùng hàng trong cõi đời đều biết tấm lòng đại từ bi của ngài Quán Âm, cũng như thật sự, thật lý “tùy loại hiện hình, tầm thanh cứu khổ”, ngõ hầu [ai nấy] sẽ đều cùng trì thánh hiệu, cùng tiêu nghiệp chướng, cùng tăng phước huệ, khi sống thì làm người thân tâm thanh tịnh, khi thác sẽ dự vào hội của liên trì hải chúng. Dùng những điều này để uốn nắn lòng người, vãn hồi kiếp vận, ngõ hầu thiên hạ thái bình, nhân dân yên vui. Tuy đã phát cái tâm ấy, nhưng do học thức thiển cận, kém hèn, bút mực vụng về, chất phác, chưa thể tiến hành ngay được!

Khéo sao nhà đại văn học tỉnh Giang Tây là cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh lên núi thăm viếng, vừa gặp nhau đã thành bạn thiết; do vậy bèn đem chuyện này gởi gắm. Ông ta liền vui vẻ chấp thuận rồi lắng lòng soạn thuật suốt cả hai năm ròng, viết ra bản Tụng Văn đến hơn hai vạn chữ. Đối với sự tích trong mỗi câu đều chú thích sau mỗi đoạn văn để người đọc vừa xem liền hiểu rõ ngay, tổng cộng gồm ba quyển. Lại sao lục những nghĩa trọng yếu trong kinh, đặt tên là Kinh Chứng (những dẫn chứng trích từ kinh điển) gồm một quyển, ghi kèm vào sau Tụng Văn. Lại còn có Kim Cang Kinh Công Đức Tụng một quyển cũng ghi kèm vào sau để người tụng kinh, niệm Phật đều biết phương hướng, cốt sao từ phàm tâm thấy được Phật tâm, thỏa mãn nguyện độ sanh của Như Lai.

Do vậy, đã cho sắp chữ tạo bản in, hiện thời đã sắp chữ xong, toàn bộ là hai trăm mười trang. Mỗi trang gồm hai mươi sáu dòng, mỗi dòng ba mươi lăm chữ. Ruột sách dùng loại giấy Trại Tống, bìa sách dùng loại giấy da sẫm màu một trăm bảng[56] bền nhất để in. Mỗi bộ sách chia làm hai cuốn, dùng loại chỉ vải chắc nhất để đóng sách. In ra hai vạn bộ, mỗi một trang sách giá ba mươi đồng[57]. Mỗi bộ, [tiền công] in chữ nơi bìa sách và phần thư căn tổng cộng là ba xu. Bất luận thỉnh bao nhiêu sách đều gói thành bưu kiện để tiện gởi tặng. Chi phí đóng bưu kiện đã tính gộp trong ấy thì tính chung mỗi một bộ giá ba cắc bốn xu năm chinh. Do vì số lẻ khó thể tính toán nên chỉ tính tròn là ba cắc bốn xu. Nếu muốn in một vạn bộ thì giao ba ngàn bốn trăm đồng. In một ngàn bộ thì giao ba trăm bốn mươi đồng. In một trăm bộ thì giao ba mươi bốn đồng. Hiện thời đã in lần thứ nhất, hiện nay sách đã được người ta bỏ tiền in đến sáu vạn bộ. Cứ mỗi lần đúc bản in sẽ in được một vạn hai ngàn bộ. Sau này, in nhiều lượt thì cũng có người đứng ra chịu tiền in nhiều lượt, ước chừng trong một năm sẽ xong xuôi. Nếu quyết định in trong tháng Tám thì tính theo giá này. Nếu cách một thời gian lâu sau, có thể giá giấy sẽ tăng lên. Ai muốn lợi người thì hãy nên sớm báo tin. Hơn nữa, mỗi lần đúc bản in, chỉ in được một vạn hai ngàn bộ, số sách được bỏ tiền in đã đến sáu vạn cuốn; khi sách in ra, nếu đặt in với số lượng lớn thì chẳng thể giao hết một lúc được, có lẽ phải chia thành hai ba lần, hạn lượng số sách vừa phải để giao, ngõ hầu mọi người đều được nhìn thấy sách ngay trong lần in đầu tiên.

Hơn nữa, đây là in sách giùm cho thiện tín, chứ không phải là theo thông lệ quyên tiền để tự làm việc thiện. Với những ai đứng ra bỏ tiền in, sẽ chiếu theo số tiền [đã bỏ ra] để giao sách, chẳng khấu trừ một bộ nào! Nếu có ai ủy thác [người đứng in sách] thay mặt làm chuyện thí tặng, chính mình chỉ cần một ít sách thì xin hãy báo rõ trước, chúng tôi sẽ giao giùm. Nếu không, sẽ giao trọn số sách ấy cho người bỏ tiền in, chẳng khấu trừ tí ti nào! Ở Thượng Hải chẳng phải tốn bưu phí, sẽ giao thẳng đến nhà. Đối với những thành phố khác, nếu là số lượng lớn sẽ có thể nhờ công ty chuyển gởi giùm. Nếu với số lượng ít thì sẽ giao qua bưu điện, chi phí ấy có thể khấu trừ vào tiền in sách, hoặc gởi bù riêng, đều thuận theo ý của người đứng ra chịu tiền in sách.

Hiện nay, thiên tai nhân họa liên tiếp giáng xuống, thế đạo nhân tâm suy hãm đến cùng cực, riêng nhờ vào cuốn sách này để dẫn đường hòng đẩy lui con sóng cuồng, nâng đỡ thế đạo, cùng lên bậc thánh, cùng chứng Bồ Đề. Nguyện những thiện tín có sức đều cùng bỏ ra tịnh tài, ngõ hầu những người cùng hàng trong khắp cõi đời ai nấy đều được gội từ ân của Quán Âm Bồ Tát, để rồi cùng được đích thân chứng đắc Phật tánh vốn có, viên mãn vô thượng giác đạo, một tấm lòng khăng khăng như thế mà thôi! Phàm những ai muốn bỏ tiền ra in, xin hãy gởi khoản tiền ấy về xưởng ấn loát chính của Trung Hoa Thư Cục ở ngõ Cáp Đồng đường Tịnh An Tự tại Thượng Hải, giao cho hai vị tiên sinh Du Trọng Hoàn và Đường Tử Quyền nhận lãnh. Họ nhận được tiền liền gởi biên lai. Khi sách in ra sẽ theo thứ tự giao sách, quyết chẳng đến nỗi nhầm lẫn. Phàm những người đứng ra in với số lượng lớn, đợi khi sách đã giao đầy đủ rồi, xin hãy gởi thư về chùa Pháp Vũ, núi Phổ Đà thuộc huyện Định Hải, tỉnh Chiết Giang, giao cho Ấn Quang, ngõ hầu biết là không bị sai lạc.

Ngày Rằm tháng Giêng năm Bính Dần Âm lịch, tức năm Dân Quốc 15 (1926), Thường Tàm Quý Tăng Thích Ấn Quang kính soạn.

Phật pháp rộng lớn như pháp giới, rốt ráo như hư không. Nói tới những điều thiển cận thì phàm phu đều có thể biết được, làm được. Nói tới những chuyện sâu xa, dẫu thánh nhân cũng không biết, không làm được! Những người thông minh trong thế gian nếu có sự hàm dưỡng, từng trải, liền có thể nhập đạo. Nếu không, ắt sẽ do trí huệ nhỏ nhoi mà tự phụ, đến nỗi lầm lạc dùng ý kiến của chính mình để hủy báng Phật pháp. Do vậy, đức Phật xếp Thế Trí Biện Thông vào tám nạn. Sự răn nhắc ấy vừa sâu đậm vừa thiết thực. Gốc bệnh là do dùng tri kiến phàm phu để suy lường cảnh giới của Phật, Bồ Tát. Nếu hạng phàm phu hiểu biết cảnh giới của Phật, Bồ Tát quyết chẳng thể suy lường được thì sẽ dứt bỏ sự suy lường ấy. Đừng nói là bọn họ chẳng thể suy lường cảnh giới của Phật, Bồ Tát, ngay như những kẻ ấy từ sống đến chết, đối với chủ nhân ông của khởi tâm động niệm, bọn họ có từng thấy biết chút nào hay chăng? Nếu có thể đích thân biết được, thấy được chủ nhân ông của chính mình thì sẽ có thể dần dần biết được cảnh giới của Phật, Bồ Tát.

Những kẻ trí huệ nhỏ nhoi mà vẫn tự phụ ấy, ví như kẻ mù chẳng thấy được mặt trời, liền bảo là không có. Lũ mù nghe lời, khen là kiến thức cao siêu, là đích xác, không lầm, chẳng biết đấy là tà thuyết tự lầm, lầm người! Há chẳng đáng buồn quá đỗi ư? Vì thế, xưa nay, phàm là những bậc đại thông gia lỗi lạc, không ai chẳng dùng Phật pháp để giữ yên cõi đời, khiến cho dân hiền thiện, thấu đạt tận cùng gốc lõi của lý và tánh. Những vị lập đại công, dựng đại nghiệp, nêu tỏ những chỗ mầu nhiệm chưa được thánh hiền truyền dạy, đều do học Phật đắc lực mà ra! Những kẻ tự phụ thông minh làm sao xứng đáng biết được điều này! Kẻ bệnh hiểu thầy thuốc, lãng tử cảm thương lữ khách, khôn ngăn cảm khái, bi ca, trình bày những điều này nhằm giãi tỏ nỗi lòng trung thành. Nếu rộng lòng dung nạp thì may mắn lắm thay!

* Kính cáo độc giả hãy nên dốc sức nơi chí thành cung kính để tự đạt được lợi ích thật sự

Pháp thế gian và xuất thế gian đều lấy lòng Thành làm gốc. Hễ có lòng Thành thì sẽ cảm được thánh ứng. Không có lòng Thành sẽ chẳng có cảm, thánh không cách gì ứng được! Ví như vầng trăng sáng ngời giữa trời, hiện bóng muôn sông. Nếu nước nhơ đục, xao động, bóng trăng sẽ khó thể hiển hiện. Do nước gây ra, chứ trăng đâu có lỗi! Vì thế nói: Muốn được lợi ích thật sự nơi Phật pháp, cần phải cầu nơi lòng cung kính. Có một phần cung kính sẽ tiêu một phần tội nghiệp, tăng một phần phước huệ. Có mười phần cung kính sẽ tiêu mười phần tội nghiệp, tăng mười phần phước huệ. Nếu không cung kính thì chỉ kết duyên xa, khó được lợi ích thật sự! Nếu lại còn khinh nhờn sẽ tạo tội vô lượng.

Hơn nữa, những lời chú cho phần ca tụng khơi mở trí huệ nơi ba trang 16, 17, 18 trong quyển thứ ba [của bộ sách này], phần nhiều là Thiền cơ. Những câu ấy chỉ có người thật sự có sở ngộ mới biết ý nghĩa, chớ nên suy đoán, dò tìm theo ý nghĩa lời văn. Dẫu cho trí huệ thông minh thiên bẩm vẫn là càng suy lường càng xa! Những câu nói trong nhà Thiền đều giống như thế. Nếu có thể chú trọng lòng kính, giữ lòng thành, chấp trì thánh hiệu của Bồ Tát thì một mai nghiệp tiêu trí rạng, tất cả những câu nói Thiền cơ sẽ đều hiểu rõ từng câu một, như mở cửa thấy núi, vẹt mây thấy trăng!

 

Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng

Quyển 2 hết

 

[1] Tiền Nguyên Quán (887-941) là vua thứ hai của xứ Ngô Việt (tức Ngô Việt Thế Tông Văn Mục Vương), ông là con trai của Tiền Liêu (tức Ngô Việt Thái Tổ Vũ Túc Vương).

[2] Tiền Thục (tên thoạt đầu là Tiền Hoằng Thục, 929-988) là vua cuối cùng của Ngô Việt. Ông là con Tiền Nguyên Quán, cháu nội của Tiền Liêu và là em của vua Tiền Hoằng Tá (Thành Tông Trung Hiến Vương) và Tiền Hoằng Tông (Trung Tốn Vương). Khi ấy, Tống Thái Tổ (Triệu Khuông Dẫn) đã thống nhất sơn hà, dẹp tan hậu duệ của các vua Ngũ Đại, chỉ còn xứ Ngô Việt là có thực lực. Vua cho người đến chiêu dụ, Trung Ý Vương Tiền Thục liền quy thuận.

[3] Hốt là một loại thẻ bằng ngà hoặc bằng gỗ dài chừng 35cm, trên to, dưới nhỏ, thường được cầm trong tay khi mặc triều phục. Thoạt đầu, hốt được dùng để ghi chép những điều định tâu bày cho khỏi quên, nhưng về sau chỉ là vật trang sức mỗi khi mặc triều phục. Các quan khi tâu bày thường cầm hốt bằng hai tay, giơ lên trước mặt khi có chuyện cần tâu trình trong buổi chầu. Ngay cả khi vua mặc hoàng bào ngồi trên ngai cho các quan vái lạy cũng cầm hốt ngà đặt trước bụng.

[4] “Đức xa” là danh từ chỉ chung các loại xe bằng gỗ khảm ngọc, khảm vàng của đế vương thời cổ. Do các loại xe này không dùng trong chiến trận nên gọi là “đức xa”. Đề thi trên đây được ra theo một câu nói trong thiên Khúc Lễ của sách Lễ Ký: “Binh xa bất thức, vũ xa tuy tinh, đức xa kết tinh” (Binh xa thì không trang hoàng, vũ xa thì buộc cờ tinh, còn đức xa thì cắm cờ tinh). Theo Khổng Dĩnh Đạt, “tinh” là một loại cờ hiệu kết bằng lông chim, về sau được dùng để chỉ chung các loại cờ hiệu nhằm biểu trưng quyền lực. Theo ông Khổng, chỉ cắm cờ tinh trên đức xa với một số lượng ít nhằm thể hiện mỹ đức của vua mà thôi. “Vũ xa” là xe bọc da trâu. Nếu trên xe ấy cắm gươm giáo thì gọi là “binh xa”. Do vũ xa nhằm biểu hiện oai quyền của đế vương nên buộc thật nhiều cờ tinh quanh xe, còn binh xa thì đã có gươm giáo để thị oai nên không cần buộc cờ tinh nữa.

[5] Giáo phỉ: Bọn phản loạn đội danh tôn giáo. Không rõ trong chuyện này xảy ra vào thời nào, nên khó thể phán đoán giáo phái nào gây loạn, nhưng tại Trung Hoa, loạn quân đội lốt tôn giáo chẳng ngoài giặc Hoàng Cân, Bạch Liên Giáo, Minh Giáo, Thái Bình Thiên Quốc, Quyền Phỉ v.v…

[6] Bức tranh vẽ theo lối xưa, hai đầu thường gắn trục gỗ để dễ cuộn lại, cũng như khi treo, sẽ kéo thẳng bức tranh, nên những bức tranh vẽ hay thư họa cũng thường gọi là “trục”.

[7] Sở là tên gọi chung hai tỉnh Hồ Nam và Hồ Bắc. Hồ Động Đình nằm giữa hai tỉnh này, Thái Vân lấy con trai Thân Đại Niên người đất Sở, ứng với lời đoán “sẽ gả cho Động Đình Quân”.

[8] Môn lại: Từ ngữ gọi chung thuộc hạ của một vị quan.

[9] Bà này họ Lâm, lấy chồng họ Lục nên thường gọi gộp cả họ chồng và họ của chính bà ta thành Lục Lâm Thị.

[10] Đề Khống là danh xưng thời Tống Nguyên để gọi thuộc hạ của các quan. Đề Khống còn có nghĩa là “hình cụ” (dụng cụ) để tra khảo, nên dân gian quen gọi những nha lại của các quan xử án là Đề Khống.

[11] Chủ Sự là một chức quan, trách nhiệm thay đổi tùy theo triều đại. Nói chung, vai trò của Chủ Sự giống như chức Chánh Văn Phòng của các bộ hiện thời, hoặc đối với một số bộ thì vai trò của Chủ Sự chỉ giới hạn trong nhiệm vụ Trưởng Phòng quản lý văn thư, hồ sơ, chẳng hạn như chức Chủ Sự của Tôn Nhân Phủ đời Thanh chỉ có trách nhiệm quản lý khai sanh, khai tử, phổ hệ của hoàng tộc, cũng như nhắc nhở các hoạn quan và ngự thiện chuẩn bị cỗ bàn cúng tế Thái Miếu trong các ngày kỵ lạp, chứ không có quyền hành gì khác.

[12] Danh y Biển Thước thời Chiến Quốc do sống ở nước Lô nên thường được gọi là Lô Biển. “Đắc Lô Biển chi diệu” là thành ngữ khen ngợi người đạt đến y thuật cao minh.

[13] Chư sanh: Thời Minh – Thanh, những người thi đậu vào trường học ở phủ, châu, huyện, chia ra nhiều cấp như Tăng Sanh, Phụ Sanh, Lẫm Sanh, Lệ Sanh vv…. Những người này được gọi là chung là “chư sanh”.

[14] Trung Thư Lệnh là chức quan đã có từ thời Đông Hán. Trung Thư vốn là một cơ cấu do hoạn quan điều hành, có trách nhiệm quản thủ thư phòng của hoàng đế và những văn kiện riêng tư trong cung. Trung Thư Lệnh là người đứng đầu cơ quan ấy. Do những quan chức thuộc cơ quan này thường xuyên gần gũi hoàng đế và thường được vua hỏi ý kiến, nhưng các hoạn quan thường không đủ kiến thức và tài sức để làm cố vấn, cũng như để tránh tình trạng hoạn quan lũng đoạn triều chánh như thời Hán Linh Đế, nên từ thời Ngụy – Tấn trở đi, nhân viên của Trung Thư phải là những vị đại khoa, kiến thức uyên bác. Đến đời Tùy – Đường, do tính chất trọng yếu của cơ cấu này, Trung Thư do Tể Tướng trực tiếp cai quản. Danh xưng Trung Thư đổi thành Trung Thư Tỉnh (hoặc Nội Sứ Tỉnh trong thời Tùy, do kiêng tên húy tể tướng Dương Trung) và chức vụ Trung Thư Lệnh do chính tể tướng đảm nhiệm. Do vậy, Trung Thư Lệnh thời Đường chính là Tể Tướng. Ông Sầm Văn Bổn làm Trung Thư Lệnh dưới thời Đường Thái Tông.

[15] Thiên Tổng là một chức quan của hải quân dưới đời Thanh. Hải quân nhà Thanh được chia thành Bắc Dương Thủy Sư (phụ trách vùng biển từ Sơn Đông trở lên), Nam Dương Thủy Sư (từ Sơn Đông trở xuống đến hết hải phận miền Nam Trung Hoa). Đứng đầu Thủy Sư là Đề Đốc, rồi đến các chức vụ Tổng Binh, Phó Tướng, Tham Tướng, Du Kích, Đô Ty, Thủ Bị, Thiên Tổng, Bả Tổng. Thiên Tổng cai quản từ một trăm quân cho đến tám trăm quân.

[16] “Cải bộ, cải ngọc” là một câu nói xuất xứ từ Tả Truyện: “Lục nguyệt, Quý Bình Tử hành Đông dã, hoàn, vị chí, Bính Thân, tốt vu phòng. Dương Hổ tương dĩ Dư Phan liệm, Trọng Lương hoàn, phất dữ, viết: Cải bộ, cải ngọc” (Tháng Sáu, Quý Bình Tử đi sang miền Đông, quay về, chưa tới nơi thì ngày Bính Thân chết trong phòng. Dương Hổ toan lấy ngọc Dư Phan để liệm theo, Trọng Lương giữ lại, không cho, nói: “Đổi bước thì đổi ngọc”). Theo các sách chú giải, chữ Bộ ở đây chỉ số bước chân tính từ vị trí của người đứng tế đến chỗ kê quan tài người chết. Tùy theo địa vị mà số bước chân quy định khác biệt. Dư Phan là một loại ngọc quý dành cho vua chúa đeo. Vì thế, “cải bộ, cải ngọc” nghĩa là khi địa vị thay đổi thì loại ngọc để táng theo cũng phải thay đổi, số bước chân giữa người đứng tế và quan tài cũng phải thay đổi. Do vậy, “cải bộ, cải ngọc” được dùng như một thành ngữ chỉ sự thay đổi thời thế, khiến cho mọi quy củ, phép tắc đều thay đổi theo.

[17] Trùng Cửu (còn gọi là Trùng Dương) là ngày mồng Chín tháng Chín âm lịch. Do trong Dịch Học, 9 là con số Dương, nên ngày mồng Chín tháng Chín được gọi là Trùng Dương. Người Trung Hoa cho rằng ngày hôm ấy cực Dương nên có lệ cúng tế tổ tiên, lên núi cao chơi, hái thuốc để dành, cũng như uống rượu cúc để cân bằng âm dương.

[18] Bạc non cân: Thuở xưa bạc đúc thành thoi (đĩnh) trên thường khắc chữ ghi trọng lượng như mấy chỉ, mấy lạng v.v… Có những tiệm kim hoàn hoặc tiền trang (cơ sở cho vay tiền) do tham lợi nên đúc những đĩnh bạc nhẹ hơn trọng lượng ghi trên đĩnh bạc, loại này được gọi là “bạc non cân”.

[19] Minh Kinh là một khoa thi nhằm tuyển người làm quan được mở ra từ thời Hán Vũ Đế, đến thời Tống Thần Tông thì bị bãi bỏ. Những người được dự khoa thi này phải thông thạo Kinh Học (tức thông hiểu các kinh điển trọng yếu của Nho Gia). Chương trình thi gồm viết văn giải thích một đoạn kinh sách theo đề đã ra, sau đó là thi vấn đáp mười câu hỏi về ý nghĩa của kinh điển. Tùy theo số lượng kinh điển thông thạo mà định thứ bậc cao thấp. Thông thường, Lễ Ký, Xuân Thu Tả Truyện… được gọi là Đại Kinh; Mao Thi, Châu Lễ, Nghi Lễ… gọi là Trung Kinh; Châu Dịch, Thượng Thư, Xuân Thu Công Dương Truyện, Xuân Thu Cốc Lương Truyện… được gọi là Tiểu Kinh. Tối thiểu, người dự thi phải thông thạo hai bộ kinh. Danh mục kinh điển do người dự thi tự nêu, nhưng bắt buộc phải thông hiểu hai bộ Hiếu Kinh và Luận Ngữ. Người thi đậu nếu thông hiểu năm bộ kinh sẽ được gọi là Minh Kinh Bác Sĩ. Do càng về sau này, người thi Minh Kinh chỉ lo nhai lại những chú giải của cổ nhân, viết văn chương cho bóng bẩy, không chú trọng tìm hiểu ý nghĩa thật sự cũng như dùng những lời nói, chuyện xưa trong các bộ sách ấy để răn mình sửa nết nên khoa thi Minh Kinh mất hẳn ý nghĩa tuyển chọn bậc hiền tài như thuở ban đầu.

[20] Nguyên văn “cảo y” nghĩa là loại vải để trơn, không nhuộm mầu, sợi to thô.

[21] Nguyên văn “mễ đoàn”, gọi đủ là Mễ Đoàn Thang, một loại bánh làm bằng bột mì vò lẫn với gạo nếp, bọc nhân cà-rốt, củ cải, bắp cải, ớt, thịt v.v… ăn với nước súp hoặc ăn chung với mì hay bún. Mễ Đoàn Thang không phải là mằn thắn (tức vân thốn (wonton), thường bị đọc trại thành vằn thắn, hoành thánh) vì vỏ mằn thắn làm bằng bột mì, cũng như không bỏ rau, ớt lẫn vào nhân. Do nó hơi giống với bánh ít trần của người Việt nên chúng tôi tạm dịch là “bánh ít trần” tuy không chính xác; bởi lẽ, bánh ít trần không thả trong nước súp mà cũng không ăn chung với bún.

[22] Theo Y Tông Kim Giám, chất đàm dơ trong cơ thể gặp phải hỏa vượng nung đúc tạo thành chứng Đàm Hỏa. Bệnh nhân thở khò khè, ho hen, lòng hay lo sợ vẩn vơ, chân tay tê lạnh, khí hay xông ngược, lưỡi cứng khó nói, dễ ngất. Do kiến thức quá kém, chúng tôi không biết tiếng Việt gọi là bệnh gì nên đành để nguyên chữ không dịch.

[23] Thoát Chứng là một thuật ngữ trong Đông Y, có thể hiểu theo hai cách:

1. Âm Dương, khí huyết, dịch thể bị hao tổn nghiêm trọng gây nên bệnh. Bệnh nhân toát mồ hôi đầm đìa, chân tay tê lạnh, mắt nhắm, miệng há, tay bắt chuồn chuồn, đái dầm, mạch nhảy rất nhẹ gần như sắp dứt v.v… Các chức năng của nội tạng suy kiệt, không chữa trị sẽ dần dần lả đi rồi chết. Nếu bị ói mửa dữ dội, tiêu chảy, mất máu, hoặc tiết tinh dầm dề thì gọi là Bạo Thoát.

2. Một trong hai chứng trạng trúng phong. Nếu bệnh là Thực thì gọi là Bế Chứng, nếu là Hư thì gọi là Thoát Chứng.

[24] Lương Thư là một bộ sử do Diêu Tư Khiêm soạn dưới đời Đường, hoàn thành vào năm Trinh Quán thứ 10 (636), gồm 46 quyển chép về lịch sử nhà Tiền Lương từ đời vua Lương Vũ Đế (Tiêu Diễn, 464-549) đến khi Lương Kính Đế (Tiêu Phương Trí) mất vào năm 558.

[25] Tần điệp: Gián điệp nước Tần.

[26] Tục mạng thang: Nước hoặc thuốc giúp cho người đã chết được sống lại.

[27] Bà Viên Ngưng Cô lấy chồng họ Tiền nên gọi là “Tiền Viên Thị” (bà Viên nhà họ Tiền).

[28] Kinh này có tên gọi đầy đủ là Bổn Sanh Tâm Địa Quán Kinh (tám quyển, mười ba phẩm), do ngài Bát Nhã dịch vào đời Đường. Trong kinh này, đức Phật ngự tại núi Kỳ Xà Quật nơi thành Xá Vệ, giảng cho các vị đại Bồ Tát như Văn Thù v.v… người xuất gia trụ A Lan Nhã nên quán tâm địa, diệt vọng tưởng như thế nào để thành Phật đạo. Đây là một bộ kinh được Pháp Tướng Tông (Duy Thức Tông) đặc biệt coi trọng.

[29] Quách Hậu (184-235) là vợ của Tào Phi (Ngụy Văn Đế), con dâu của Tào Tháo. Bà là con của Nam Quận Thái Thú Quách Vĩnh và Đổng Thị. Lúc sanh ra có hiện tượng lạ, được người khác tán thán. Ông bố khen ngợi: “Đứa con gái này sẽ là vua trong nữ giới” nên đặt tên bà là Nữ Vương. Cha mẹ và anh em bà đều bị loạn quân Hoàng Cân giết chết, phải lênh đênh khổ sở, làm đầy tớ cho nhà Đồng Đề Hầu. Về sau, được Tào Phi mua về làm thiếp. Do thông minh, lanh lợi, thường có những ý kiến nhạy bén, tinh xác, bà giúp cho Tào Phi đoạt lấy địa vị Thái Tử từ Tào Thực (con trưởng Tào Tháo). Khi Tào Phi kế vị làm Ngụy Vương, đã phong cho bà là Phu Nhân. Khi Tào Phi cướp ngôi nhà Hán, xưng đế, bà được phong làm Quý Tân. Khi vợ cả của Tào Phi là Bình Lạc ghen tuông quá mức, Tào Phi đã ép Bình Lạc tự tử chết, rồi phong cho Quách Nữ Vương làm Hoàng Hậu; nhưng vẫn giữ con Bình Lạc là Tào Duệ làm Thái Tử, bắt Tào Duệ phải coi Quách Hậu như mẹ ruột. Tào Duệ phẫn hận, nhưng ẩn nhẫn chờ thời. Năm 221, Tào Phi chết, Tào Duệ lên ngôi, xưng là Ngụy Minh Đế, tôn Quách Hậu làm Hoàng Thái Hậu, nhưng đến năm 235, Tào Duệ kiếm cớ, ép Quách Hậu tự tử chết, không cho cung nhân được phép đại liệm bà ta, bắt họ để xác bà Quách xõa tóc che mặt, đổ cám vào miệng, mặc quần áo xoàng xĩnh, nhằm trả hờn cho mẹ.

[30] Hạc Động Tử là biệt hiệu của Từ Khiêm (1766-1864), tự Ích Khanh, hiệu Bạch Phảng. tác giả cuốn Hải Nam Nhất Chước. Ông từng làm Hàn Lâm Biên Tu, rồi thăng dần đến chức Triều Nghị Đại Phu, là một vị quan thanh liêm công minh, sống giản dị, thích nghiên cứu thơ văn, nhưng không chịu tìm hiểu đạo Phật đến nơi đến chốn. Do vậy, tác phẩm Hải Nam Nhất Chước của ông từng bị tổ Ấn Quang chê là ngoài công lao sưu tập rộng rãi những sự tích linh hiển trong Phật giáo, Từ Khiêm còn xen tạp vào đấy không ít những dị thuyết báng bổ Phật giáo của bọn Đạo Sĩ.

[31] Hình Khoa là một trong sáu khoa được lập ra đời Thanh, chuyên trách xử án, thụ lý hồ sơ điều tra các vụ án lớn. Ở đây, ông Cát Trường Niên giữ một chức vụ trong Hình Khoa nên gọi luôn là Hình Khoa, chứ Hình Khoa không phải là một chức quan.

[32] Hà Vô Kỵ (?-410) là cháu gọi Trấn Bắc Tướng Quân Lưu Lao Chi bằng cậu, tánh tình tàn khốc, đã có chí lớn từ nhỏ, rất hợp ý cậu về mặt mưu mẹo lẫn tánh tình. Đến khi Hoàn Huyền soán ngôi nhà Tấn, Vô Kỵ theo Lưu Lao Chi cùng với Lưu Dụ (cựu tướng của Lưu Lao Chi) khởi binh chống lại, đánh bại Hoàn Huyền. Do công khôi phục hoàng triều nên được phong làm Khai Quốc Công.

[33] Tấn Hiến Công muốn gả em gái là Bá Cơ cho vua Tần, sai Sử Tô bói quẻ. Sử Tô bảo: “Giữa Tần và Tấn sẽ có chiến tranh, hơn nữa, cháu sẽ làm bầy tôi cho cô”. Quả nhiên về sau, Tần đánh chiếm Tấn, Tấn Huệ Công (con trai Tấn Hiến Công) bị bắt làm tù binh, ứng nghiệm lời đoán “điệt tùng kỳ cô”. Ở đây cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh mượn hai điển tích này để ví von trong hai trường hợp: Trường hợp thứ nhất là Văn Sản bắt chước cậu là Phí Vĩnh Niên trì kinh Cao Vương cầu sanh con trai, trường hợp thứ hai là do em gái của Long Tử Huy khuyên chị dâu trì kinh Bạch Y để sanh con, nên đứa cháu đó có thể nói là do cô của nó mà có, vì vậy mới nói “điệt tùng kỳ cô”. Cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh chơi chữ vì thành ngữ “điệt tùng kỳ cô” trong Tả Truyện có ý nghĩa hoàn toàn khác biệt ý nghĩa được dùng trong lời tán dương này.

[34] Mộng hùng: Theo Thành Ngữ Từ Điển, đây là một từ ngữ phát sinh từ điển tích “phi hùng”. Sách ấy dẫn một câu chuyện trong Sử Ký để giải thích: Văn Vương sắp đi săn, sai quan Thái Sử coi bói; bói rằng: “Phi hổ, phi bi, thiên di nhữ soái dĩ tá xương” (Chẳng phải cọp, chẳng phải gấu, trời ban cho vua tướng soái để phù tá khiến nước nhà hưng thịnh). Chuyến đi ấy, quả nhiên Văn Vương gặp được Khương Tử Nha, rước về phong tướng, đánh bại Trụ Vương, lập ra nhà Châu. Do chữ Bi (羆) là một loài gấu nên người ta thường dùng điển tích Phi Hùng, với ý nghĩa gặp được bậc hiền tài ẩn sĩ chịu ra giúp đời. Chữ “phi” (非: chẳng phải) về sau bị viết sai thành “phi” (飛: bay) nên dân gian mới bịa chuyện Văn Vương mộng thấy một con gấu bay vào trướng, sáng ra gặp được Khương Tử Nha. Từ đó, mới có truyền thuyết ai nằm mơ thấy gấu thì sẽ sanh con trai.

[35] Đô Ty là gọi tắt của chức Đô Chỉ Huy Sứ Ty, ngạch Tứ Phẩm, tức chức quan nắm quyền chỉ huy quân sự cao nhất tại một địa phương từ cấp huyện trở lên. Chức quan này thuộc quyền quản trị của Ngũ Quân Đô Thống Phủ, chứ không nghe lệnh trực tiếp từ quan địa phương, để tránh tình trạng các quan địa phương có thế lực quá lớn. Đến đời Thanh, chức quan này ở dưới các chức Tham Tướng và Du Kích, nhưng trên chức Thủ Bị.

[36] Tế Tửu vốn là một chức quan đã có từ thời Hán, là người đứng đầu các quan Minh Kinh Bác Sĩ, nhưng từ thời Đông Tấn trở đi, chỉ có hiệu trưởng của Quốc Tử Giám mới gọi là Tế Tửu. Theo Triệu Dực người đời Thanh đã viết trong bộ Cai Dư Tùng Khảo thì: “Tế Tửu vốn không phải là một chức quan. Thời cổ khi ăn uống tụ họp, thường có lệ dâng rượu lên thần linh trước, gọi là Tế Tửu. Khi tế rượu thường cử người lớn tuổi hay có địa vị cao nhất trong đám tiến hành, nên về sau những người đứng đầu trong một hạng người cũng thường được gọi là Tế Tửu”. Do vậy, hiện thời, tại Trung Hoa, đôi khi người ta vẫn gọi lãnh tụ trong giới học thuật, nghệ thuật hay văn học là Tế Tửu.

[37] Tả Phiên là gọi tắt của Tả Phiên Đài, tức Tả Bố Chánh Sứ. Đời Minh, trừ Nam Kinh và Bắc Kinh ra, cả nước chia thành 13 Thừa Tuyên Bố Chánh Sứ Ty, mỗi ty có hai vị Tả Bố Chánh Sứ và Hữu Bố Chánh Sứ. Khu vực quản hạt của mỗi vị Bố Chánh Sứ gần bằng khu vực quản hạt của chức Tuần Vũ (Tuần Phủ, Phủ Đài, tức tỉnh trưởng) đời Thanh. Quan chế này duy trì cho đến đời Thanh, nhưng dần dần địa vị Bố Chánh (Phiên Đài, Phiên Ty) bị hạ thấp hơn Tuần Vũ rất nhiều. Tuần Vũ nắm trọn binh quyền lẫn quyền hành chánh (đôi khi kiêm nhiệm chức Binh Bộ Thị Lang trong triều), Phiên Đài chỉ trông coi hành chánh và trị an.

[38] Đại Học Sĩ còn gọi là Nội Các Đại Học Sĩ hay Điện Các Đại Học Sĩ. Chức vụ này được đặt ra từ thời Đường Trung Tông, thoạt đầu chỉ là những văn thần thân cận vua có nhiệm vụ giúp vua phê duyệt tấu chương, soạn thảo chiếu chỉ v.v… Đến khi Minh Thái Tổ lên ngôi, nghi kỵ, giết hại công thần, phế bỏ chức Thừa Tướng, nhưng rồi triều chánh quá bận rộn, giải quyết không xuể, bắt buộc phải cử các văn quan sung chức Điện Các Đại Học Sĩ để làm cố vấn cho nhà vua. Các vị Đại Học Sĩ ấy tham gia nghị sự triều chánh, nhưng không có thực quyền và cũng không nắm binh quyền. Do các quan kiêm chức Đại Học Sĩ thường được vua gọi vào họp ở Văn Uyên Các trong cung nên mới được gọi là Nội Các Đại Học Sĩ. Dần dần, số đại học sĩ tăng lên dần theo nhu cầu triều chánh, nên phải cử người đứng đầu các Đại Học Sĩ, gọi là Thủ Phụ (Do vậy, trên danh nghĩa, không có Tể Tướng nhưng Thủ Phụ vẫn giữ vai trò của Tể Tướng, dần dần có thế lực). Từ đời Gia Tĩnh trở đi, chánh sự hỏng dần, Thủ Phụ Đại Học Sĩ phải dựa vào thế lực của hoạn quan mới chấp chánh được! Khi nhà Thanh tiêu diệt nhà Minh, vẫn giữ chế độ Đại Học Sĩ, nhưng các Đại Học Sĩ chỉ có nhiệm vụ tham gia góp ý, chứ không là thành viên của Nội Các như dưới đời Minh. Thời Khang Hy, các đại thần, vương công người Mãn Châu phụ chánh giành quyền quyết định chánh sự, vai trò của Đại Học Sĩ chỉ còn gói gọn trong nhiệm vụ soạn thảo tấu chương, chiếu chỉ theo lệnh các đại thần, cũng như giải thích ý nghĩa các điển tích nếu các đại thần Mãn Châu học ít, không thông hiểu). Trong quá trình đấu tranh giành thực lực giữa vua và các quyền thần, các chánh sách được quyết định từ Nam Thư Phòng của nhà vua, nhưng Nam Thư Phòng không phải là cơ cấu chánh thức, nên không thể ban hành công văn hay chỉ huy nha môn. Do vậy, dần dần vai trò của Đại Học Sĩ lại được nâng cao. Danh xưng Đại Học Sĩ được thêm vào tên các điện để chỉ vai trò chuyên biệt trong nghị luận chánh sự như Trung Cực Điện Đại Học Sĩ, Kiến Cực Điện Đại Học Sĩ, Văn Hoa Điện Đại Học Sĩ, Anh Vũ Điện Đại Học Sĩ, Văn Uyên Các Đại Học Sĩ, Đông Các Đại Học Sĩ. Đến đời Càn Long, vua đổi Trung Hòa Điện Đại Học Sĩ thành Thể Nhân Các Đại Học Sĩ.

[39] Thị Lang là phụ tá của Thượng Thư một bộ, tương đương với Thứ Trưởng hiện thời.

[40] Đạo Doãn là quan đứng đầu một đạo (một đạo gồm nhiều phủ hay huyện). Thời Thanh, cả nước chia ra nhiều tỉnh, mỗi tỉnh chia ra nhiều phủ, mỗi phủ chia ra nhiều huyện. Đôi khi hai ba phủ được gom thành một đạo. Quan đứng đầu một Đạo gọi là Đạo Viên, Đạo Doãn, hay Đạo Đài.

[41] Nguyên văn: “Dương Bộc thùy tam tổ dĩ khoa hương lý”. “Tổ” (組) là dây thao (dây kết bằng lụa) để đeo quả ấn. Trong Hán Thư, phần Khốc Lại Truyện (truyện những viên quan tàn ác), nơi tiểu truyện Dương Bộc đã viết: “Hoài ngân hoàng, thùy tam tổ, khoa hương lý” (Đeo vàng bạc, ba dây ấn lòng thòng để khoe khoang với làng xóm). Nhan Sư Cổ chú giải: “Tước chánh yếu của Dương Bộc là Đô Úy, lại còn làm Lâu Thuyền Tướng Quân, kiêm chức Tương Lương Hầu, giữ ba quả ấn, nên gọi là Tam Tổ. Tổ chính là dây đeo ấn”. Do vậy về sau dùng từ ngữ “thùy tam tổ” để phiếm chỉ người kiêm nhiệm nhiều chức tước, quan cao vinh hiển.

[42] Đô Tuần là chức quan giữ nhiệm vụ kiểm soát, tuần tra sông ngòi, bảo đảm trị an trên đường thủy, tu bổ đê điều, bến cảng.

[43] Tướng Quốc chính là danh xưng khác của chức vụ Tể Tướng. Tùy theo thời đại, danh xưng thay đổi như sau:

1. Từ đời Tần gọi là Thừa Tướng, chia làm Tả Thừa Tướng đứng đầu quanvăn; Hữu Thừa Tướng đứng đầu quan võ; Trung Thừa Tướng đứng đầu hoạn quan.

2. Đời Hán gọi là Tướng Quốc, nhưng dân gian vẫn quen gọi là Thừa Tướng, rồi đổi thành Đại Tư Đồ. Đến thời Đông Hán, bỏ chức Thừa Tướng, nhiệm vụ của Thừa Tướng do Tư Đồ, Tư Không và Thái Úy đảm nhiệm. Đến thời Hán Hiến Đế, lập lại chức Thừa Tướng do Tào Tháo đảm nhiệm.

3. Đến thời Nam Bắc Triều, không có Thừa Tướng, nhiệm vụ của Thừa Tướng do các quan Trung Thư Giám, Trung Thư Lệnh, Thị Trung, Thượng Thư Lệnh, Bộc Xạ hoặc Lộc Thượng Thư Sự đảm nhiệm.

4. Thời Tống, Thừa Tướng được đổi tên là Đồng Bình Chương Sự, rồi đổi thành Thượng Thư Tả Bộc Xạ kiêm Môn Hạ Thị Lang, rồi đổi thành Thái Tể, cuối cùng lại lập ra Tả Hữu Thừa Tướng, nhưng Tả Thừa Tướng địa vị cao hơn Hữu Thừa Tướng.

5. Đến đời Minh, Minh Thái Tổ phế bỏ Thừa Tướng, lập ra các chức Nội Các Đại Học Sĩ, có nhiệm vụ chỉ chuyên giải quyết văn thư. Cuối cùng, phải lập ra chức Thủ Phụ đứng đầu các Đại Học Sĩ, thực chất là Thừa Tướng.

6. Đời Thanh cũng không lập Thừa Tướng, nhưng chức Quân Cơ Đại Thần có quyền hạn tương đương Thừa Tướng.

Do các Đại Học Sĩ có cơ hội trở thành Thủ Phụ hoặc Quân Cơ Đại Thần nên thời Minh – Thanh, khi một người trở thành Đại Học Sĩ sẽ được gọi là “bái tướng”. Tả Thừa chính là Tả Thừa Tướng.

[44] Thiếu Tư Nông là gọi tắt của chức Tư Nông Thiếu Khanh. Tư Nông Ty (về sau đổi tên là Đại Tư Nông Ty) là một cơ quan được đặt ra dưới thời Nguyên nhằm trông coi việc phát triển nông nghiệp, thủy lợi, phòng vệ đê điều, đồng thời quản trị “nghĩa thương” (kho lẫm chứa lương thực cứu tế khi có thiên tai xảy ra). Về sau, kiêm thêm nhiệm vụ sưu tập, bảo quản thư tịch nông nghiệp từ thời cổ. Đứng đầu cơ quan Đại Tư Nông Ty là Đại Tư Nông Khanh, kế đến là Tư Nông Thiếu Khanh, Thừa, Kinh Lịch, Đô Sự v.v…

[45] Chuẩn Đề Trai là ăn chay mười ngày trong tháng gồm mồng Một, mồng Tám, Mười Bốn, Rằm, Mười Tám, Hai Mươi Ba, Hai Mươi Bốn, Hai Mươi Tám, Hai Mươi Chín và Ba Mươi.

[46] Vị Ương là cung điện của nhà Tây Hán, do Hán Cao Tổ (Lưu Bang) xây dựng tại Lạc Dương.

Đông Phương Sóc (154-93 trước Công Nguyên), vốn họ Trương, tự là Mạn Thiến, người huyện Khương Thứ, Bình Nguyên (nay là trấn Thần Đầu huyện Lăng, tỉnh Sơn Đông), nổi tiếng về tài thơ phú. Thời Hán Vũ Đế, ông dâng thư tự đề cử mình. Vua đọc thư, thích thú, triệu vào phong chức Thường Thị Lang. Ông học rộng, nghe nhiều, hoạt kê, lại khéo biết đón ý vua, nói lời ve vuốt, đùa bỡn đúng lúc, nên vua rất ưa thích, thường cho ở bên cạnh để hỏi han này nọ; nhưng vẫn coi ông như một thằng hề để giải sầu, chẳng hề trọng dụng, giao phó cho một nhiệm vụ quan trọng nào. Để giải tỏa nỗi lòng uất ức, ông viết những tác phẩm Đáp Khách Nạn, Phi Hữu Tiên Sinh Luận và Thần Dị Kinh (ghi chép những chuyện hoang đường). Ông được đời sau tô vẽ, nhất là bọn đạo sĩ thần thánh hóa, coi như một nhà phương thuật đại tài, vốn là tiên trên trời bị giáng trích, có phép biến hóa, chứ thật ra ông chẳng hề dính dáng gì tới Đạo giáo.

[47] Đại Cát Tường Thiên Nữ (Śrī-mahā-devī), còn dịch là Thiện Thiên Nữ, Ma Ha Thất Lỵ, Thất Lỵ Thiên Nữ, Cát Tường Công Đức Thiên, Bảo Tạng Thiên Nữ, hay Đệ Nhất Oai Đức Thành Tựu Chúng Sự Đại Công Đức Thiên, là một vị thần chủ quản phước đức trong Mật Giáo. Bà là con gái của Đức Xoa Ca Thiên và Quỷ Tử Mẫu, em gái của Tỳ Sa Môn thiên (Vaisrvana), vợ của Na La Diên, mẹ của Ái Dục Thần (Kama). Bà có rất nhiều tên; trong Đại Cát Tường Thiên Nữ Thập Nhị Khế Nhất Bách Bát Danh Vô Cấu Đại Thừa Kinh có nêu ra 108 danh xưng khác nhau. Bà thường được tạc tượng như một thiên nữ xinh đẹp, tay trái cầm châu Như Ý, tay mặt kết ấn Thí Vô Úy. Trong Mật Giáo có riêng một nghi thức sám hối gọi là Cát Tường Thiên Nữ Pháp và có Mandala riêng. Theo kinh Niết Bàn, bà có em gái là Hắc Ám Thiên Nữ thường đi sát với chị để gieo họa cho người đời, ngụ ý: Họa phước thường theo sát nhau. Trong kinh Kim Quang Minh, Đại Cát Tường Thiên Nữ có nói một bài chú, bài chú ấy được đưa vào phần Thập Chú trong khóa tụng buổi sáng của Thiền môn, tức Thiện Thiên Nữ Chú.

[48] Kiên Lao Địa Thần (Prthivi), còn dịch là Địa Thiên, hoặc Trì Địa Thiên, là một vị Bồ Tát thị hiện thành thần để hộ pháp trong Phật giáo, thuộc về một trong mười hai vị đại thiên quan trọng trong Mật Tông. Kiên Lao nghĩa là kiên cố, vững chắc, không lay động như đất. Do đất rộng lớn, cứng chắc, không bị hủy diệt, có thể dung chứa chuyên chở tất cả, lại sanh thành muôn vật nên Kiên Lao Địa Thần có hình dáng nữ nhân xinh đẹp, phúc hậu. Theo Đại Phương Quảng Trang Nghiêm Kinh, khi Thích Ca Mâu Ni sắp thành đạo, ma vương đến quấy nhiễu, đức Phật kết ấn Địa Xúc, Kiên Lao Địa Thần bèn từ dưới đất vọt lên, chứng thực công hạnh của Phật, đồng thời cúng dường đức Thế Tôn bình bảy báu đựng đầy hương hoa. Vị này được coi là thống lãnh của tất cả các vị Chủ Địa Thần trong mười phương thế giới.

[49] Đức Lưu Hầu chính là Trương Lương (?-186 trước Công Nguyên). Trương Lương tên tự là Tử Phòng, được phong làm Đức Lưu Hầu, vốn quê ở Thành Phụ nước Hàn (nay là Hào Châu, tỉnh An Huy). Ông là mưu thần bậc nhất của Hán Cao Tổ (Lưu Bang) đã giúp sức dựng nên nhà Hán. Trương Lương cùng với Tiêu Hà và Hàn Tín được gọi là Hán Sơ Tam Kiệt (ba vị hào kiệt đầu đời Hán). Khi Hán Cao Tổ đã lên ngôi hoàng đế, đem lòng nghi kỵ công thần, giết hại cả những người thân thích như Phàn Khoái, ông liền cáo bệnh, nói thác là học tu tiên, phải tịch cốc (không ăn), xin miễn chầu. Do Hán Cao Tổ rất trọng và nghe theo ý kiến của Trương Lương, Lã Hậu mới ra sức ép Trương Lương ăn uống bình thường nhằm lợi dụng Trương Lương trong công cuộc tranh giành quyền lực cho con trai.

Lã Hậu tên thật Lã Trĩ (241-180 trước công nguyên), quê ở Đơn Phụ (nay là Đơn Huyện, tỉnh Sơn Đông), là vợ cả của Hán Cao Tổ. Bà lấy Lưu Bang khi ông ta còn là một viên đình trưởng ở đất Bái, sanh hạ một trai, một gái cho Lưu Bang, tức là Hán Huệ Đế (Lưu Doanh) và Lỗ Nguyên Trưởng Công Chúa. Bà tích cực củng cố quyền lực cho nhà Hán. Chính bà đã xúi vua, đồng thời bày kế giết hại Hàn Tín và các vua chư hầu như Anh Bố, Bành Việt v.v… Ngay cả người theo vua từ thuở mới lập nghiệp là Tiêu Hà cũng bị hạ ngục. Do Hán Cao Tổ về già say mê đắm đuối nàng Thích Cơ, toan lập con của Thích Cơ là Lưu Như Ý làm Thái Tử, phế trừ Lưu Doanh, Lã Hậu không tiếc sức kết bè kéo cánh nhằm bảo vệ ngai vàng tương lai cho Lưu Doanh. Đến khi Hán Cao Tổ chết, Lã Hậu hãm hại Thích Cơ, trả thù tàn nhẫn (sử chép Lã Hậu đã cắt chân, cắt tay, khoét mắt Thích Cơ, quăng vào nhà xí, cho sống dở, chết dở trong ấy), giết chết Lưu Như Ý (dù Hán Huệ Đế hết lòng che chở) đồng thời làm chuyện vô luân là bắt Hán Huệ Đế phải lấy Trương Yên (con gái của Lỗ Nguyên Trưởng Công Chúa) làm Hoàng Hậu (tức là cậu lấy cháu).

[50] “Bạch câu” là con ngựa non lông trắng. Theo Tân Thế Kỷ Hiện Đại Hán Ngữ Từ Điển (do Vương Đồng Ức chủ biên), Câu (駒) là con ngựa non từ hai tuổi trở xuống, cao từ năm thước trở lên, sáu thước (thước Tàu, một thước chừng 30 cm) trở xuống, mạnh mẽ. “Câu” còn có nghĩa là tuấn mã.

[51] Hối Cơ chính là pháp hiệu của ngài Hoàng Long, tổ sư dòng Thiền Hoàng Long. Do Sư trụ tại núi Hoàng Long nên thường gọi là Hoàng Long Hối Cơ, hoặc chỉ gọi là Hoàng Long Thiền Sư.

[52] Kiếp Bối (Karpasa), còn phiên âm là Kiếp Ba Dục, Kiếp Ba La, Kiếp Ba Sa, Kiếp Bối Sa, dịch nghĩa là Thời Phần Thụ, là tên một loài cây. Sách Huyền Ứng Âm Nghĩa giảng: “Kiếp Ba Dục, hoặc nói là Kiếp Bối đều là sai, âm đúng là Ca Ba La, có thể chế vải. Ở phương Nam nước Kế Tân có nhiều loại này, mọc thành cây to. Còn ở phương Bắc, cây nhỏ hơn, hình dáng như Thổ Quỳ. Hoa nó cắt ra có sợi như tơ liễu, có thể se thành sợi để dệt vải”.

[53] Bạch điệp là một loại vải mịn mặt, dệt bằng bông nõn.

[54] “Kiếp thạch” là thành ngữ chỉ kiếp số dài lâu không thể tưởng tượng được. Theo Trí Độ Luận, quyển 5, có tảng đá rộng bốn mươi dặm, có người trường thọ mỗi năm dùng áo mềm phẩy qua tảng đá một lần cho tới khi tảng đá ấy mòn hết mà kiếp vẫn chưa hết. Do vậy, mới gọi tảng đá ấy là “kiếp thạch”.

[55] Nam Đường Hậu Chủ (937-978) chính là vua cuối cùng của nhà Nam Đường, tên là Lý Dục, tự là Trùng Quang, hiệu là Trọng Sơn Ẩn Sĩ, ông hoàn toàn không quan tâm đến chánh sự, chỉ thích làm thơ, viết văn, vẽ vời.

[56] Tức là loại giấy cứng có thể chịu đựng được sức kéo đến 100g/cm2.

[57] “Giá một trang sách ở đây” được dùng với ý nghĩa: Đem tiền công in cả hai vạn bộ sách, chia cho 210 trang thì mỗi trang trị giá 30 đồng, chứ không phải để in mỗi trang sách phải tốn tới 30 đồng.

 

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.