Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng
觀世音菩薩本跡感應頌
Bành Trạch Bồ Tát Giới đệ tử Hứa Chỉ Tịnh soạn
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Giảo chánh: Minh Tiến, Huệ Trang, Vạn Từ và Đức Phong

 

QUYỂN II PHẦN 1

2.2.2. Cứu khổ:

Chia thành tám môn:

– Cứu lửa thiêu.
– Cứu nước chìm.
– Thoát hiểm.
– Thoát giết chóc.
– Thoát hành hình.
– Lành bệnh.
– Trừ tà quái.
– Cứu khỏi đọa lạc.

Xét theo mặt Sự và mặt Lý của việc cứu khổ thì như phẩm Quang Minh Giác của kinh Hoa Nghiêm đã chép: “Chúng sanh lưu chuyển ái dục hải, vô minh võng phú đại ưu bách, chí nhân dũng mãnh tất đoạn trừ, thệ diệc đương nhiên thị kỳ hạnh” (Chúng sanh lưu chuyển trong biển ái dục bị lưới vô minh che lấp, bức bách gây lo buồn lớn. Bậc chí nhân dũng mãnh ắt phải đoạn trừ những điều đó, đương nhiên cũng thề sẽ làm hạnh ấy). Đấy chính là ý nghĩa của việc cứu lửa thiêu, nước chìm, thoát chết, thoát hành hình v.v… Chúng sanh không nơi nương tựa, bệnh tật trói buộc, thường chìm đắm trong đường ác, khởi lên tam độc, ngọn lửa to hừng hực thường nung đốt, nên phải có hạnh “tịnh tâm độ họ”. Đấy chính là ý nghĩa của việc lành bệnh, trừ tà, cứu khỏi rơi ngã, cứu nạn lửa thiêu v.v… Chúng sanh mê mất chánh đạo, thường đi theo đường tà vào trong nhà tối, bèn vì họ thắp ngọn đèn chánh pháp to lớn chiếu sáng vĩnh viễn, đấy chính là ý nghĩa của việc thoát hiểm, trừ tà, cứu họ khỏi đọa lạc v.v… Chúng sanh trôi giạt, đắm chìm trong biển các cõi[1], sầu lo, hoạn nạn không bến bờ nương tựa, bèn thực hiện hạnh “vì họ tạo dựng đại pháp thuyền, khiến cho họ đều đắc độ”. Đấy chính là ý nghĩa của việc cứu người chìm đắm. Thấy các chúng sanh ở trong đường hiểm, bị sự khổ già, bệnh, chết thường bức bách, bèn thực hiện hạnh “tu các phương tiện không hạn lượng, thệ sẽ đều độ trọn hết”. Đấy chính là ý nghĩa của việc “thoát hiểm, khỏi bị giết, thoát khỏi hành hình” v.v…

Những điều đã nói trên đây Sự lẫn Lý đều đủ, nay tôi chỉ chọn khía cạnh thông tục, chuyên ca tụng theo mặt Sự.

2.2.2.1. Cứu nạn thiêu đốt

1. Bèn có: Từ Vân tụng chú, ba phen lửa nóng chẳng thiêu. Trường Thư trì danh, bốn mặt phóng hỏa đều tắt.

2. Kinh hoảng bốn mặt lửa cùng ập tới, chỉ chừa khoảnh đất dung thân.  [Kiệt sức] xưng danh mới vừa một chữ, gió liền đổi chiều tắt lửa.

3. Lý mẫu kinh hồn tỉnh mộng, chỉ cháy lò sấy áo. Nghe Diệp Dục Tinh tụng niệm, màn trướng hãy còn nguyên.

4. Quốc Khanh thoát nạn, tự thấy Đại Sĩ dắt dìu. Pháp Vũ cháy lầu, tự có thần linh ủng hộ.

5. Dốc lòng chuyên lễ Phật, tiệm ông Uông hãy còn. Tâm chí tín cảm trời, nhà họ Thái vô sự.

6. Trên tháp Thiên Hỷ, kinh vàng chẳng tổn. Nơi nhà Tỷ Bộ, tượng vẽ còn nguyên.

7. Một bản kinh xưa, tiêu tai nạn nhiều phen nơi Thiện Ấp. Ba gian nhà cũ, cứu đại kiếp vùng phụ cận Đông Kinh.

8. Nếu chẳng ban hương Chiên Đàn, ai thoát khỏi khói hôi, lửa rực? Đấy là sự cứu khổ thứ nhất của Đại Sĩ vậy.

(1) Theo Liên Tông Bảo Giám, ngài Tuân Thức đời Tống hiệu là Từ Vân Sám Chủ, dựng chùa Hạ Thiên Trúc gồm mấy trăm gian. Mỗi lần bắc một cây kèo, đều tụng bảy biến chú Đại Bi. Ba lượt giặc đốt phá chùa, lửa đều tự tắt.

Theo Biện Chánh Luận, ông Trúc Trường Thư đời Tấn, chuyên dốc lòng tụng Quán Âm Kinh, ngụ cư ở đất Ngô. Khi những nhà xung quanh bị cháy, ông Thư đứng phía dưới chiều gió, nhất tâm niệm Quán Thế Âm, lửa cháy đến gần, đột nhiên gió thổi ngược lại, lửa tắt. Cả ấp kinh dị. Có kẻ ác nghi ngờ sự linh cảm ấy bèn đợi đến đêm lúc gió mạnh, đem bó củi đã nhóm lửa ném vào nhà [ông Trúc], ném khắp bốn mặt đều tắt. Khi ấy, hắn mới than thở, công nhận thần lực, khấu đầu tạ tội. Ông Thư nói: “Ta tụng niệm Quán Thế Âm chẳng biếc nhác, hễ có tai nạn gì đều liền thoát khỏi”.

(2) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, sư Thích Pháp Trí đời Ngụy, lúc còn tại gia, đi một mình trong vùng đầm lầy. Đột nhiên lửa dữ bốc cháy đùng đùng, bốn mặt lửa đều ùa tới, tự nhủ “ta ắt phải chết”, chỉ chí tâm niệm Quán Thế Âm. Trong khoảnh khắc, lửa cháy ào qua, không còn sót một cọng cỏ nào, chỉ có chỗ đất nơi Pháp Trí đứng là không sao cả.

Lại nữa, sư Thích Pháp Lực đời Ngụy, sửa tháp, dựng nhà, xin được một xe gai, đi qua nơi đầm lầy, chợt gặp lửa đốt đồng. Nhằm lúc mệt mỏi, buồn ngủ, lửa đã bén tới, bèn to tiếng xưng niệm chữ Quán, chưa kịp niệm tới chữ Thế Âm, theo tiếng niệm, gió đã xoay chiều, lửa liền tắt.

(3) Trong sách Linh Nghiệm Ký, ông Lý Ấn Vạn nói: “Mẹ tôi theo lời cha tôi dặn trong thư, trở về quê. Trong thuyền, hơ quần áo trên lồng ấp[2], nửa đêm quần áo bén lửa. Mẹ tôi mộng thấy trên hư không có tiếng hô hoán: ‘Bồ Tát đến rồi’, tiếng reo hò dồn dập. Kinh sợ, tỉnh giấc, lửa đỏ đã ngập thuyền, lan kín cả mui, vội dập tắt lửa”.

Theo Ứng Nghiệm Ký, Diệp Dục Tinh kiền thành tụng Cao Vương Kinh. Một ngày nọ, trong lúc bạn bè tụ họp, họ bèn mời ông tụng niệm. Cô em gái còn bé nghe tụng kinh bèn chạy đến nghe, liếc thấy trên lầu có ánh lửa bèn hô lên. Dập tắt được lửa, mền nệm đều cháy sạch, nhưng màn treo vẫn còn.

(4) Theo sách Nam Hải Từ Hàng, tại Sơn Âm, ba anh em ông Trần Quốc Khanh ở cùng một nhà, chỉ riêng Quốc Khanh ưa làm lành, sáng chiều kiền thành tụng chú Quán Âm. Một đêm nọ, do không cẩn thận nhà bị bốc cháy, Quốc Khanh thấy Bạch Y Đại Sĩ cứu vớt che chở liền thoát được, các em đều bị chết cháy.

Theo Phổ Đà Chí, vào năm Càn Long thứ 3 (1738) đời Thanh, lầu trống chùa Pháp Vũ bị hỏa hoạn, gió rất mạnh, sắp cháy lan sang những căn lầu như Thủy Nguyệt v.v… chợt Hỏa Thần thị hiện, gió chuyển hướng, thổi ra ngoài, các lầu không bị sao cả.

(5) Theo Hiện Quả Tùy Lục, ông Uông X… đời Minh sống ở Côn Sơn, ăn chay ba năm, tính sang Phổ Đà dâng hương. Nhằm hôm Nguyên Đán, ông gói ghém hành trang xuống thuyền, chợt [những căn phố] bên cạnh cửa tiệm bốc lửa, [người nhà] vội báo cho ông hãy về ngay. Ông Uông nói: “Ta dốc lòng Thành suốt ba năm rồi mới triều bái Bồ Tát, há vì một cái tiệm mà thay đổi chí hướng của ta ư? Dẫu cháy sạch, cũng không trở về”, rồi cứ căng buồm ra đi. Dâng hương xong, trở về Côn Sơn, thấy nhà cửa ở bốn phía tiệm ấy đều đã cháy tan, chỉ còn mỗi cái tiệm của chính mình.

Theo Tín Tâm Lục, ông Thái Tư Tương được cử giữ chức Thôi Tào Vận (kiểm soát vận chuyển đường thủy), thuê nhà dân để làm công sở, bốn phía không có tường, ở sát với nhà dân. Chợt hàng xóm bốc lửa, mọi nhà đều lo cứu đồ đạc, ông Thái ngồi yên không động đậy. Kẻ hầu nhiều lần van nài ông Thái hãy lánh nạn, nhưng ông ta chẳng đoái hoài. Lửa cháy lan tới, vượt qua công sở của ông Thái, còn cháy thêm mấy nhà nữa rồi mới tắt. Người ta hỏi ông có thuật gì, ông đáp: “Tôi kiền thành tụng chú Đại Bi”. Người ta bảo: “Thần chú cố nhiên linh nghiệm, lỡ vạn nhất không ứng nghiệm, thì há chẳng phải là chết uổng một mạng ư?” Ông Thái nói: “Nhà tôi nhiều đời trì tụng, những sự tích thoát khỏi những ách nạn đao binh, nước lửa, nạn gấp v.v… chẳng thể kể xiết. Còn như tôi trì chú đã hai mươi năm, phàm gặp phải nạn gấp, hễ cảm đều thông. Trong thời Càn Long, khi tôi sống ở kinh đô, nhà hàng xóm ở phía Nam bốc lửa, lại gặp trận gió nồm, lửa càng cháy mạnh, dọn chạy đồ đạc không kịp. Tôi tụng chưa xong một biến chú này, gió đã đổi chiều, lửa cháy ngược lại phía Nam, riêng nhà tôi không sao. Vì thế, biết sâu xa chú này được chư thần ủng hộ, gìn giữ, có thể chuyển biến ách nạn. Nếu lòng tin không chân thành, làm sao dám coi thường hiểm nạn cho được? Nhưng phải sám hối tội trước, tận lực làm chuyện lành. Mỗi ngày sáng tối kiền thành tụng chú năm bảy lượt thì sở cầu không chi chẳng được toại ý!”

Theo sách Liệt Tử, Trọng Ni nói: “Người có lòng tin chí thành sẽ động trời đất, cảm quỷ thần, ngang dọc khắp trời đất không trái nghịch”, há phải chỉ là trải nỗi nguy hiểm, vào trong nước lửa mà thôi!

(6) Theo Mặc Ký, Lý Hậu Chúa nhà Nam Đường[3] đích thân chép Tâm Kinh bằng chữ vàng, ban tặng cung nhân Kiều Thị. Về sau, Kiều Thị bị đưa vào cung nhà Tống, nghe tin Hậu Chúa đã chết, bèn bỏ cuốn kinh ấy trong tướng luân[4] của tháp chùa Thiên Hỷ. Về sau, nhà chùa bị hỏa hoạn, tướng luân bị rơi xuống, nhưng kinh vẫn còn nguyên.

Theo Linh Nghiệm Ký, ông Lý Vạn Ấn làm quan Tỷ Bộ[5]. Khi cha ông làm quan ở Giang Hữu, có thờ tượng Đại Sĩ [bằng tranh vẽ]. Tàn đuốc chợt nổ tung, rơi xuống, những món đồ thờ đều bị cháy sạch, nhưng cuốn trục tranh thờ [vẽ hình Đại Sĩ] vẫn còn nguyên.

(7) Theo sách Quán Âm Kinh Cận Nghiệm, vùng Mão Điền ở Thiện Ấp nhiều lần bị hỏa hoạn, nhưng nhà Ngu Khải nhiều lần thoát nạn. Lửa cháy đến gian nhà phụ bên trái nhà họ Ngu đều tự tắt. Do vậy, họ bèn lục lọi để kiếm xem có gì lạ không thì từ trên tấm lót trần nhà tìm được một bản khắc gỗ Quán Âm Kinh đã cũ, mới biết nguyên do thoát khỏi hỏa hoạn. Vì thế, nhà nhà khắc kinh này, trai giới trì tụng, đến nay đã ba mươi năm chưa hề bị hỏa hoạn.

Năm Dân Quốc 11 (1922), Nhật Bản động đất. Đại biểu của Phật Giáo Phổ Tế Nhật Tai Hội (hội Phật giáo cứu tế tai nạn tại Nhật Bản) là các ông Bao Thừa Chí, Dương Thúc Cát v.v… sang Nhật cứu trợ, gởi thư cho ngài Thích Ấn Quang, [trong ấy có đoạn]: “Số người chết ở Nhật Bản lần này ước chừng hơn ba mươi vạn, hài cốt chất như núi. Khu Thiển Thảo (Asakusa) ở Đông Kinh gần như hoàn toàn hủy hoại, công viên, ao nước bị thiêu cạn. Trong công viên có Quán Âm Đường, gồm ba gian xây theo lối cũ. Nạn dân bị lửa bao vây, ùa nhau chạy vào đó ước chừng hơn ba vạn người. Trong chánh điện và các gian nhà phụ đều đầy ắp người, cùng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, đều được thoát nạn ấy, mà cũng chỉ có ngôi điện đường ấy là còn nguyên. Do vậy, người Nhật ca ngợi không ngớt lời”.

(8) Theo phẩm Nhập Pháp Giới kinh Hoa Nghiêm, núi Ma La Da[6] sanh ra loại hương Chiên Đàn, nếu dùng hương ấy bôi lên thân, gieo mình vào hầm lửa, lửa chẳng thể đốt được. Phẩm Thí Dụ kinh Pháp Hoa có câu: “Xú yên bồng bột, tứ diện sung tắc” (Khói hôi, lửa hực, bốn mặt ngập tràn).

Ghi thêm: Theo Giác Thế Kinh Thuyết Chứng, trong niên hiệu Thiên Khải đời Minh, thành Hàng Châu bị hỏa hoạn lớn, có nhà buôn vùng Giang Hữu ở trên lầu cao chót vót, tự biết là không sao cứu được. Người ta thấy Bạch Y Đại Sĩ rưới nước bên lầu, người theo hộ vệ rất đông. Lửa tắt, mọi người hỏi ông ta đã làm điều lành nào? Thương nhân chối là chẳng làm điều lành nào. Về sau, chú ông ta kể: “Khi cha nó mất, để lại năm trăm lạng vàng. Thằng cháu ấy là con vợ cả, đã trưởng thành, còn bốn em trai nó là con vợ kế hãy còn thơ ấu. Thằng cháu ấy buôn bán hai nươi năm, dành dụm được năm ngàn lượng vàng, tới khi các em nó đã lập gia đình, bèn chia tài sản thành năm phần, chia đều cho các em, cả họ đều khen ngợi”.

2.2.2.2. Cứu nạn chìm đắm

1. Bèn có: Huệ Khánh đối mặt cơn lốc, thấp thoáng thần kim giáp xuất hiện. Cảnh Nhân bị ngã xuống nước, thoát nạn nhờ tụng phẩm Phổ Môn.

2. Từ Vinh hãm trong vực xoáy, ánh lửa rực đầu non. Cụ Lã lọt nơi nước xiết, ánh đuốc soi rõ bờ.

3. Hành Đồng nhảy xuống biển, chợt có Tăng nhân áo nâu sồng xuất hiện. Họ Lưu bị lật thuyền, bèn được ánh sáng màu hồng chiếu rọi.

4. Cố Mại vượt sông yên ổn, lắm lượt ngửi mùi hương lạ. Vạn Thọ quay thuyền trở lại, cũng thấy ngọn lửa thần kỳ.

5. Thương nhân lênh đênh trên biển, Tăng chống tích trượng dẫn đường. Lưu Tế dong thuyền vượt hồ, hai người kè thuyền vượt thoát.

6. Tại Lương Sơn, một bé trai đột nhiên nắm áo. Hồ Bành Lễ, người khổng lồ hô to ôm gỗ.

7. Lệnh Tông lánh giặc, nai dẫn đường vượt bến Mạnh Tân. Lưu sứ lọt thuyền, biển thẳm cá chở đuổi kịp thuyền.

8. Loan Tuân ngã xuống nước, như đi trên đất. Đình Dục lọt xuống sông, sóng chỉ ướt quần.

9. Nhà thuyền trì trai, quỷ bèn trái lệnh. Nhất Thừa xưng danh, linh cảm đẩy mui.

10. Pháp Thuần gặp được bè tiên, Thành Khuê chợt vớ gỗ nổi.

11. Nhật Húc mộng thấy có người bảo “hãy gọi tên ta”, Doãn Thăng được lợi nhờ công hóa độ chúng sanh.

12. Ngầm bảo vệ Trình Chiêu, vật đến đỡ chân. Dẫn Hy Tải trở về, hóa cội dâu cột thuyền.

13. Ông Phan vượt biển, chẳng tin ngu muội như Thương Khâu. Cụ Vương lướt sóng, chân khác nào bước trên đất bằng.

14. Ứng nghiệm soạn ký, ông Túc mừng hai phen sống sót. Đón tôn tượng về, họ Lâm được báo đáp bồi hoàn.

15. Giản Nam và Thiên Tích, phu thuyền kinh hãi. Ánh Khuê với Đại Thành, thân riêng sống sót.

16. Xứ Giang Ninh, nữ nhân nhà cụ Trang toàn mạng. Nơi Nam Việt, nhóm ông Châu chìm thuyền được cứu.

17. Âm thầm bảo vệ thuyền quả phụ, cô nhi. Ngầm hô đẩy thoát họa lửa rực ao cá.

18. Than ôi! So với sách Nho câu nệ, nhọc công giữ điều răn “chớ vào vực thẳm”. Sao bằng quy y Phật pháp, chẳng vướng hung tai tột bực? Đấy là sự cứu khổ thứ hai của Đại Sĩ vậy.

(1) Theo sách Pháp Uyển Châu Lâm, trong niên hiệu Nguyên Gia đời Tống, ngài Trúc Huệ Khánh ngồi thuyền sang Lô Sơn, giữa dòng chợt nổi gió, thuyền sắp lật. Huệ Khánh kiền thành tụng Quán Âm Kinh, mọi người dõi nhìn thì thấy loáng thoáng có thần nhân mặc giáp bằng vàng, lôi thuyền xông qua cơn lốc, cắt ngang dòng tấp vào bờ.

Theo sách Pháp Hoa Cảm Thông, Sầm Cảnh Nhân đời Đường tụng phẩm Phổ Môn từ bé, từng qua đất Ngô, thuyền lật, bị rơi xuống nước, nghe có người nói: “Tụng phẩm Phổ Môn thì phải thoát được thủy nạn”. Nghe nói như vậy ba lượt, liền nổi lên mặt nước. Trong khoảnh khắc đã chạm bờ, những người khác đều chết đuối.

(2) Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Tấn, Từ Vinh ngồi thuyền qua Định Sơn, bị mắc vào vùng nước xoáy, bèn vội niệm danh hiệu Quán Thế Âm, dường như có mấy chục người lôi thuyền ra khỏi vùng xoáy. Khi ấy, trời sắp tối, gió giật, mưa to, ông Vinh tụng kinh không ngớt. Chợt đầu núi có ánh lửa sáng rực chiếu tận trời thẳm, [phu thuyền] bẻ lái về đó, liền vào được bờ. Sáng ra, hỏi người trong bãi thuyền: “Tối hôm qua trên đầu núi là lửa gì vậy?” Mọi người ngạc nhiên, bảo: “Mưa gió suốt ngày, làm sao có lửa được?” Mới biết là do Phật lực ngầm gia hộ.

Theo Minh Tường Ký, vào đời Tấn, cha ông Lã Tủng từng bơi thuyền trên một con suối nước chảy xiết. Trời tối, mưa gió ập tới, bèn niệm Quán Thế Âm không ngừng. Trong khoảnh khắc có ánh lửa soi đường dẫn vào bờ, như có người cầm đuốc vừa thoáng đằng trước lại vụt ra đằng sau, thuyền cứ theo ánh đuốc mà đi, bèn được trở về nhà.

(3) Theo Quái Viên, vào năm Canh Tuất (1610) niên hiệu Vạn Lịch đời Minh, Tào Hành Đồng theo bề trên triều bái Phổ Đà. Ông Đồng thầm khấn Đại Sĩ, nguyện xả thân. Trở về, tới biển Liên Hoa, liền chắp tay nhảy xuống biển, [người trên thuyền] không cách nào vớt được. Hơn ba tháng sau, ông ta đột nhiên tự trở về, kể: “Lúc nhảy xuống biển, thấy có một vị Tăng người Tây Vực, đắp ca-sa bằng vải nâu sồng, giong thuyền tới vớt tôi lên, đưa về Châu Sơn, tới một nhà dân chài, rồi vị tăng Tây Vực ấy chợt biến mất”.

Theo Kỷ Cầu Thư, năm Kỷ Sửu (1649) đời Thuận Trị nhà Thanh, ông Lưu X… ở Mạt Lăng triều bái Nam Hải, ngồi trong thuyền, lòng phát nguyện được thấy Bồ Tát. Về sau, chợt gặp sóng gió, thuyền lật. Họ Lưu rớt xuống nước, trước mặt thấy ánh sáng đỏ chiếu khắp nơi. Một vị Tăng nắm tay ông Lưu dẫn đi, trong chớp mắt đã về đến nhà, vị Tăng biến đâu mất. Họ Lưu như say, như mộng, uống trà nóng xong rồi mới tỉnh hồn, kể lại mọi chuyện.

(4) Theo Minh Tường Ký, trong niên hiệu Nguyên Gia đời Tống, Cố Mại đi thuyền bị va phải đá ngầm. Gió rít, sóng nhồi, vội tụng Quán Âm Kinh mười mấy lượt, gió yên, sóng lặng. Giữa dòng nhiều lượt nghe có mùi thơm lạ lùng sực nức, vượt sông bình yên.

Theo Pháp Uyển Châu Lâm, vào thời Nguyên Gia nhà Tống, Phục Vạn Thọ từng qua sông vào lúc canh tư, đêm tối, gió dữ, không biết phương hướng là đâu. Vạn Thọ nhất tâm quy mạng Quán Thế Âm, niệm danh hiệu Ngài chẳng ngớt tiếng. Chợt thấy bờ Bắc có ánh lửa, quay thuyền hướng về đó, trời chưa sáng đã đến nơi. Hỏi người trên bờ thì tuyệt nhiên chẳng có ai nhóm lửa!

(5) Vào đời Tấn, một thương nhân ở Tây Vực, bơi thuyền trong biển bị lạc lối, xưng niệm danh hiệu Quán Âm, thấy một vị Tăng cầm tích trượng, băng mình trên không trung dẫn lối.

Vào đời Tấn, Lưu Tế vượt hồ gặp gió bão, bèn tụng niệm Quán Thế Âm, chợt thấy hai người kè thuyền đưa qua hồ.

(6) Theo Cao Tăng Truyện, tập 1, vào đời Tống, ngài Cầu Na Bạt Đà La[7] được Nam Tiếu Vương [Lưu] Nghĩa Tuyên tôn kính. Vương âm mưu dấy loạn, ngài Cầu Na khóc lóc can ngăn, Vương vẫn không nghe. Sau trận đại bại ở Lương Sơn, Sư bị té xuống sông, nhất tâm tụng Quán Thế Âm Bồ Tát, trông thấy một đứa bé trai lôi áo, bèn hỏi: “Ngươi là đứa bé con mà làm được như vậy ư?” Đến bờ, đứa bé biến đâu mất.

Theo lời chú thích tác phẩm Linh Cảm Phú, vào đời Thanh, Trầm Khởi Tiềm tự kể: – Vào thời Càn Long, khi qua bến Cửu Điểu ở Giang Tây bị ngã xuống sông, trôi đến hồ Bành Lễ, uống no một bụng nước. Chợt thấy giữa sóng có kim quang tỏa ra cả vạn tia; ở giữa đó là một người to lớn kêu lên: “Hãy mau ôm lấy!” Liền quờ tay ôm được một cây gỗ dài hơn một trượng, bèn thoát chết.

(7) Theo Tỳ Kheo Ni Truyện, vào đời Tấn, ni sư Lệnh Tông đi lánh nạn giặc giã ở Ký Châu. Buổi chiều, ni sư đến bến Mạnh Tân, không có thuyền để vượt sông liền niệm Phật và danh hiệu Đại Sĩ, chợt có một con nai trắng lội xuống sông. Lệnh Tông bèn đi theo, nhưng trọn chẳng bị ướt. Do vậy, về đến nhà.

Theo Thiện Dư Dường Bút Thừa, vào đời Minh, Lưu Cốc Hiền theo Trịnh Hòa[8] đi sứ ở hải ngoại. Giữa biển cả, ông Lưu chợt té xuống nước, trong chớp mắt đã cách xa thuyền mấy chục dặm. Mọi người trên thuyền chợt thấy họ Lưu đuổi kịp tới thuyền, bèn kéo ông lên. Có một con cá dài hơn một trượng rẽ sóng bơi đi. Ông Lưu bảo: “Con cá ấy chở tôi đến đây. Tôi chìm xuống nước mấy lần, con cá ấy liền dùng vây lưng nâng lên”. Mọi người hỏi ông đã tích tập thiện quả nào? Đáp: “Chỉ kiền thành niệm Quán Âm Kinh mà thôi!”

(8) Theo Minh Tường Ký, vào đời Tấn, huyện lệnh Phú Bình là Loan Tuân theo quân đi đánh Lô Tuần bị thua, chiến thuyền bị đốt cháy. Ông Tuân vội niệm danh hiệu Quán Thế Âm, trong khoảnh khắc thấy trong sông có thần nhân đứng sững, eo ngập ngang mặt nước. Ông Tuân biết xưng danh được cảm ứng bèn đạp nước lội theo, thân nổi trên mặt nước, chân như đi trên đất, được đại quân giong thuyền ra cứu.

Theo Thương Túc Am Tùy Bút, vào đời Thanh, Thái Thú quận Phổ Nhĩ là Trần Đình Dục thờ Đại Sĩ hết sức kiền thành, hằng ngày tụng chú Đại Bi. Trong niên hiệu Đạo Quang, ông Trần theo ngả Giang Hán về kinh, sảy chân té xuống sông. Khi ấy, gặp cơn gió mạnh, trong chớp mắt đã cách thuyền cả dặm, nhưng nước chỉ ngập tới gối, hai chân như có vật gì nâng đỡ không bị chìm, chỉ có áo bào bay phần phật trên mặt sóng mà thôi. Ông bèn vội tụng chú Đại Bi, chưa được ba lượt, đã có người đến cứu, phần trên thân trọn chẳng bị ngấm ướt.

(9) Theo sách Vạn Thiện Tiên Tư, năm Khang Hy thứ 2 (1663) đời Thanh, có thuyền chài đậu dưới chân Tiểu Cô Sơn. Trong đêm, nghe tiếng sơn thần ra lệnh cho thuộc hạ: “Ngày mai có thuyền chở muối đi qua đây, hãy mau thâu lấy”. Đến sáng, quả nhiên có thuyền chở muối căng buồm đi tới. Sóng gió chợt nổi lên đùng đùng, gần như lật thuyền mấy lượt. Hồi lâu sau thoát nạn. Đêm ấy, thuyền chài lại nghe tiếng sơn thần quở trách bọn quỷ tốt trái mạng, chúng thưa: “Khi đến tịch thâu, thấy cuối thuyền có Quán Âm Đại Sĩ, nên chẳng dám đến gần”. Ngày hôm sau, thuyền chài đuổi theo thuyền muối hỏi thăm; thì ra người giữ bánh lái vâng giữ Quán Âm Trai[9].

Theo Từ Lâm Tập, vào đời Thanh, Bành Nhất Thừa là người Nam Hải. Trong niên hiệu Khang Hy, từ Ngũ Dương trở về nhà, bị bão lốc lật thuyền. Những người cùng đi giỏi bơi lội đều bơi vào bờ, còn ông Thừa bị kẹt trong khoang thuyền không ra được, chỉ nhất tâm xưng danh Đại Sĩ, uống no nửa bụng nước, vừa uống nước vừa niệm. Chợt cảm thấy có người kéo tay ra khỏi nước, chụp được mui thuyền, thuận gió giạt vào bờ. Người trên bờ cùng thấy một người mặc áo trắng đẩy cái mui đến chỗ thuyền đang chìm để cứu ông ta.

(10) Theo Cao Tăng Truyện, tập 1, ngài Pháp Thuần đời Tấn, giữa hồ gặp bão, thuyền lại bé, chỉ một lòng trông cậy Quán Thế Âm, miệng tụng niệm không ngớt. Trong khoảnh khắc, thấy một cái thuyền to trôi tới, trèo lên, bèn được cứu. Đến bờ, không thấy cái thuyền ấy đâu nữa.

Theo Tập Dị Ký, vào đời Đường, Thành Khuê do để mất gỗ xây dựng, bị vu cáo, liền niệm Quán Âm cứu khổ. Sau khi gông xiềng tuột ra, bèn lặn xuống nước trốn, gặp một cây gỗ nổi, chính giữa có một cành mọc thẳng lên. Ông Khuê cưỡi lên gỗ, ôm chặt, chìm xuống lại nổi lên, chí tâm niệm danh hiệu Quán Âm không ngớt tiếng, gỗ giạt vào gần bờ, thoát nạn.

(11) Theo sách Cao Vương Kinh Cận Nghiệm, Dư Nhật Húc về thăm cha mẹ, vượt sông. Mộng thấy có người áo trắng bảo: “Ngày mai ông gặp đại nạn, kêu ta liền được thoát”. Đến khi vượt sông gặp bão, thuyền sắp lật, vội kêu: “Đại Sĩ cứu con!” liền vượt sông an toàn. Xét ra, chuyện này được sách Nam Hải Từ Hàng ghi thành chuyện Du Cửu Vân.

Theo Tịnh Độ Thánh Hiền Tục Lục, vào đời Thanh, Ngô Doãn Thăng ở Hổ Khâu, lúc bé, gặp một vị Tăng bảo: “Ngươi có thiện căn, tiếc là năm hai mươi chín tuổi sẽ gặp thủy tai. Chỉ có cách từ nay trở đi hãy kiêng giết, phóng sanh, mỗi ngày kiền thành niệm Phật, trì chú Đại Bi, may ra sẽ thoát được!” Ông Thăng tin nhận, phụng hành; lại còn đem chuyện này khuyên người khác. Đến năm 29 tuổi, từ đất Hàng ngồi thuyền về thăm nhà, sông nổi sóng rất nguy hiểm, vội chắp tay niệm Phật. Thuyền lật, rơi xuống nước, trong lúc mơ màng nghe có tiếng nói: “Ngô Doãn Thăng có công khuyên người niệm Phật, được thoát khỏi nạn này”. Mở mắt ra nhìn quanh thì thân đã ở trên bờ, đã được dân chài cứu lên rồi!

(12) Theo Hải Nam Nhất Chước, vào đời Thanh, Trình Chiêu ở Phù Lương do có khối u trong bụng, nhờ tụng Tâm Kinh được lành, nên thường trì niệm không gián đoạn. Trong niên hiệu Đạo Quang, thi trượt chức vụ Xuân Quan[10], liền trở về, giữa sông, lật thuyền, trôi giạt mười mấy dặm, nhất tâm niệm Tâm Kinh. Dường như có vật gì đỡ chân, nhờ vào đó, hơi ngồi được một chút, thoát nạn.

Theo Di Kiên Chí, vào đời Tống, Từ Hy Tải, mẹ kính thờ Quán Âm. Trong niên hiệu Thiệu Hưng, ông Tải dẫn hai đứa con trở về. Thuyền gặp bão, bèn đốc thúc người trong thuyền niệm danh hiệu Đại Sĩ, chợt gặp một cây dâu to, vội cột thuyền vào đó. Sáng ra thì thấy thuyền ở trên bãi cát, chẳng thấy cây dâu đâu cả! Về đến nhà, mẹ ra đón, cười bảo: “Tối hôm qua mộng thấy có bà lão dẫn cha con mày trở về. Nay quả nhiên đúng như vậy”, mới biết là Đại Sĩ rủ lòng cứu vớt.

(13) Theo Từ Lâm Tập, vào đời Thanh, Phan Quốc Chương là người Quảng Đông. Một hôm trở về quê, đến Tam Thủy, gặp bão lật thuyền, ông Phan nhất tâm niệm danh hiệu Đại Sĩ, đạp ngay xuống đáy biển, liền vững chân bước đi, nhờ đó vào đến bờ. Tiền cầm đi đường vẫn còn ở trong tay! Ông ta tin tưởng Đại Sĩ thần lực chẳng thể nghĩ bàn, bèn xuất gia ở núi Nhật Thân tại Thiều Thạch, hiệu là Huyền Cầu.

Lại nữa, theo Liệt Tử, Thương Khâu Khai làm khách trong nhà họ Phạm ở đất Tấn. Môn đồ của họ Phạm xuồng sã, khinh nhờn, lừa gạt, không trò lừa dối nào chẳng làm, nhưng ông Khai vẫn tin là thật. Một hôm, họ chỉ khúc sông phủ sương mờ mù mịt bảo: “Trong ấy có bảo châu, bơi ra đó sẽ lấy được”. Khai bơi ra đó, quả nhiên được bảo châu. Trong chốc lát, nhà kho của họ Phạm cháy to, bảo: “Nếu ai có thể vào trong lửa lấy được gấm ra, sẽ thưởng cho gấm ấy”. Ông Khai ra vào lửa, chẳng dính tro, thân chẳng cháy. Mọi người xúm lại hỏi han. Ông Khai nói: “Tôi chẳng có bí quyết gì! Thoạt đầu, tôi luôn tin lời các ông là thật. Chỉ sợ lòng Thành chưa đến mức cùng cực, làm chưa đến mức cùng cực, chẳng nghĩ tưởng đến thân hình, lòng chẳng nghĩ đến lợi hại. Hễ tâm chuyên nhất thì sự vật chẳng trái nghịch, chỉ có vậy mà thôi!” Trọng Ni (Khổng Tử) nói: “Thương Khâu Khai tin vào lời dối trá, mà sự vật còn chẳng trái nghịch. Huống chi ta đối với người khác toàn bằng lòng Thành ư?” Ông Dương Nhân Sơn chú thích đoạn này, cho rằng câu nói “ta đối với người khác toàn bằng lòng Thành” có thể dùng làm chứng cứ thật sự cho việc niệm Phật vãng sanh. Di Đà đại nguyện tiếp dẫn chúng sanh, đấy là lòng Thành của ngài. Chúng sanh niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, đấy là lòng Thành của ta. Thương Khâu Khai tin vào lời nói dối, lòng Thành còn thiếu một phía mà sự vật còn chẳng trái nghịch. Ta với Phật đều có lòng Thành, há có lẽ nào chẳng sanh Tịnh Độ ư? Theo ngu ý, như Hoa Nghiêm Kinh đã dạy: “Nhất thiết duy tâm tạo” (Hết thảy chỉ do tâm tạo), kinh còn dạy: “Tín năng thị hiện nhất thiết Phật” (Lòng tin có thể thị hiện hết thảy Phật). Lại nói: “Nhất thiết Phật hưng, giai tùng tín khởi” (Hết thảy chư Phật xuất hiện đều do từ lòng tin mà ra), người học hãy nên suy nghĩ kỹ!

Theo Trì Nghiệm Ký, bà lão họ Vương ở Đông Đài bế cháu nội vượt sông, sảy chân, ngã xuống nước. Khi ấy, nước đang dâng tràn, chảy xiết, bà lão bế cháu đi trên mặt nước như trên đất bằng. Thuyền đến vớt đưa lên bờ. Hỏi thăm, cụ nói: “Chẳng biết đến hiểm nạn, chỉ trì thánh hiệu Quán Âm không ngớt”.

(14) Trong bài Ứng Nghiệm Ký của Hiếu Liêm Túc Khải có kể: Cha ông ta làm khách ở Duy Dương, vượt sông, bão lốc ập tới, cột buồm gãy nát, phân nửa những người ngồi cùng thuyền chết chìm. Do cha ông ta chí tâm tụng chú Quán Âm, hứa in tặng một vạn hai ngàn cuốn, trong khoảnh khắc, gió giạt tới cửa sông, vô sự. Đến Tết, từ đất Tô trở về Duy Dương, lúc vượt sông, sóng bủa vào thuyền, nhà thuyền cực lực chống chọi, còn cha ông chỉ tụng chú Quán Âm, lại được toàn mạng.

Theo Thiện Dư Đường Bút Thừa, vào đời Minh, chùa Nam Đài ở Phước Châu đắp tượng Đại Sĩ, sắp hủy tượng cũ. Thợ đắp tượng là Lâm X… xin đem tượng cũ về thờ. Được mấy tháng, vượt biển, thuyền hư, bị chìm, vội hô: “Con từng cứu Bồ Tát, sao nay Bồ Tát chẳng cứu con vậy?” Nói xong, thân chợt nổi lên, vớ được một tấm gỗ, cỡi lên, lênh đênh hơn trăm dặm, mới tấp vào một xóm nhỏ ven bờ, nhặt nhạnh được cả sọt những vật sót lại [từ chiếc thuyền vỡ tấp vào], bèn có tiền trở về.

(15) Bài ký tự thuật của cư sĩ Giản Nam đời Thanh có chép: “Trong niên hiệu Càn Long, mua chiếc thuyền mới đóng, ra cửa hồ, gặp phải gió to, sóng dữ, phu thuyền nhắm mắt bó tay. Tôi thầm niệm Quán Âm Kinh, vượt hồ an ổn”.

Theo sách Cao Vương Ứng Nghiệm, Vương Thiên Tích ở Giang Hữu ngồi thuyền sang Hán Khẩu, gió lốc ùa tới, tánh mạng mất còn trong khoảnh khắc, cả thuyền kêu khóc. Thiên Tích tụng Cao Vương Kinh và nguyện khắc in một ngàn quyển, gió liền dứt.

Theo Bạch Y Ứng Nghiệm, đời Thanh, Trầm Ánh Khuê lấy một quyển kinh Bạch Y từ nhà bạn đem về, vượt sông, bị gió lật thuyền, những người cùng đi đều mất mạng. Ông Khuê chìm nổi trong nước dường như có ai nâng đỡ. Lên được bờ mới biết là nhờ sức của quyển kinh mang theo, bèn ăn chay, tụng kinh suốt đời.

Theo Kính Tín Lục, Triệu Đại Thành ở Nam Xương nghe nói chú Bạch Y linh nghiệm, bèn thành tâm trì tụng. Một hôm vượt sông, sóng gió ùa tới, cả thuyền đều chết đuối, chỉ mình ông Triệu còn sống.

(16) Theo Kính Tín Lục, một bà lão họ Trang xứ Giang Ninh đem cuốn kinh Quán Âm từ nhà con rể trở về, bảo đám phụ nữ trong nhà tụng niệm. Về sau, quân lính chinh phạt phương Nam kéo qua, cướp đoạt của cải trong nhà. Đám đàn bà sợ bị làm nhục, nhảy xuống sông, nhưng đều tấp vào bờ, không ai chết. Đám lính rút đi, rốt cuộc, chúng bị lật thuyền chết hết.

Theo Cao Vương Ứng Nghiệm, ông Chương Tông Triều đời Thanh viết: “Ông Vũ Đường Châu Minh Phủ có nói: ‘Khi gặp nạn hãy thầm tụng chú Đại Bi hoặc Cao Vương Kinh liền thoát được tai ách’. Tôi cũng thường tụng. Trong niên hiệu Gia Khánh, cùng đi với ông ta vào tỉnh Quảng Đông, bị bão lật thuyền. Tôi rơi xuống vực sâu, cảm thấy dưới nước có người đỡ chân tôi đẩy lên. Vũ Đường và người cùng thuyền cũng đều rớt xuống nước, được cứu. Y phục, văn thư vớt lên đều bị ngấm ướt. Chỉ có quyển Cao Vương Kinh, ngoài ướt, trong khô”.

(17) Theo Khuyến Giới Loại Sao, vào thời Thuận Trị nhà Thanh, Thí Cứ chết tại nhiệm sở ở Mân Trung, vợ là Trần Thị hai mươi ba tuổi, dẫn hai con đưa quan tài về quê. Vượt qua bãi Xa Đối trên dòng Thanh Hà, thuyền gần chìm, bà ta kiền thành tụng chú Quán Âm. Vừa được mấy biến, gió lặng, qua sông yên ổn. Về đến nơi, ăn chay, thủ tiết, mất năm bảy mươi hai tuổi. Phạm Văn Chánh đời Tống làm thơ, có câu: “Đây là thuyền cô nhi quả phụ”.

Theo sách Quái Viên, ông cụ Trương ở Tô Châu, trong niên hiệu Vạn Lịch đời Minh, dẫn đứa cháu nội tám tuổi đến Phổ Đà lễ Đại Sĩ. Mới từ đất Hàng [toan] xuống thuyền ra biển, đứa cháu bảo: “Phu thuyền đều bị trói chân tay”, lôi áo ông đứng lại. Đổi sang thuyền khác, nó cũng thấy giống như vậy. Lại đổi thuyền, mới nói không có gì lạ hết; cụ Trương lần chần, có hai người đứng trên đầu thuyền hô: “Đáp thuyền này, đừng lên thuyền khác”, rồi dường như có người đẩy đằng sau. Đã lên thuyền rồi thì người hô lẫn kẻ đẩy đều chẳng thấy đâu. Chiều tối, sóng trắng xóa bủa cao như núi, hai chiếc thuyền đi trước đều chìm; chỉ riêng chiếc thuyền này xuôi dòng an ổn. Sách Phong Tục Thông có câu: “Cửa thành hỏa hoạn, rực sáng cả ao cá”.

(18) Thiên Khúc Lễ [của sách Lễ Ký] có câu: “Làm phận con, chẳng leo cao, chẳng vào vực sâu”. Sách Châu Dịch giảng về hào Lục Thượng trong quẻ Đại Quá như sau: “Quá thiệp tai đảnh, hung” (Tai nạn vượt quá mức cùng cực, là quẻ xấu)[11].

2.2.2.3. Thoát hiểm

1. Bèn có: Mỹ nhân đến tắm suối, cứu dân sống dưới vách đá. Cô gái rao bán cá, công nhân liền thoát khỏi hang.

2. Đơn thân cỡi ngựa tẩu thoát, Tất Giám được chỉ đường về. Thú dữ đi qua, mặc kệ Thành Khuê ẩn núp.

3. Thầy tu vào đất Lạc, người đầu cạo láng đi theo. Trần công bị tuyệt lương, được người áo tía gọi dậy.

4. Ông nội Ngạn Sơn dạy cháu ngừa tai ương nhà sụp. Cháu nội Sĩ Khải, nhiều phen thoát họa té lầu.

5. Ngoài biên ải, đồng bạn Cấp Đa đều chịu ơn. Giữa biển khơi, cả thuyền ngài Na Bạt được cứu.

6. Thiện Xung nhờ đuốc hiện dẫn đường, Nho Tuấn được cỡi ngựa tẩu thoát.

7. Ẩn núp trong gò mả, Chi Khai thoát nạn. Náu mình trên cây khô, Lệnh Tông khỏi họa.

8. Quân Khương nhốt Đạt Khai, cọp táp thủng cũi. An Khởi lánh né giặc, sói ném qua sông.

9. Đạo Tú lạc hẻm núi, Đại Sĩ hiện chân dung chỉ đường. Hoài Minh hãm hang giặc, Bồ Tát hóa lửa thần dẫn về.

10. Ông Trầm trượng nghĩa, thánh tượng hiện thân dắt dìu. Tớ Hạ trọn trung, được người to cõng khỏi suối.

11. Những điều được nói trong kinh Phật, hoàn toàn phù hợp sự thật (tổng cộng hai đoạn).

(1) Theo Dị Đàm Khả Tín Lục, động Bạch Thủy tại huyện Tu Văn ở Quý Châu có mỏ thủy ngân. Thợ mỏ hơn một ngàn người, dân sống dưới vách núi mấy trăm nhà. Trước động chừng hai dặm có con suối; đột nhiên, một người đàn bà xinh đẹp đến tắm rửa nơi đó, vú trễ xuống tận eo. Cư dân bỏ nhà ùa nhau ra xem. Vừa mới tới gần suối, vách núi sụp đổ ầm ầm, nhà cửa đều bị chôn vùi. Người đàn bà đang tắm không còn thấy tung tích đâu nữa, mới biết là Đại Sĩ hóa thân cứu vớt mọi người.

Theo Quảng Tín Phủ Chí, vào đời Tống có người vào núi khai thác mỏ đồng, đào hang sâu không lường được. Lúc núi sắp sụp, chợt có một cô gái cầm giỏ đựng một con cá chép vảy vàng óng ánh đến rao bán. Người trong hang tranh nhau chạy ra coi. Núi sập, chẳng biết cô gái ở chỗ nào nữa, mới biết là Đại Sĩ thị hiện.

(2) Theo Minh Tường Ký, vào đời Tấn, Tất Lãm là người xứ Đông Bình, theo Mộ Dung Thùy[12] chinh phạt miền Bắc, [thua trận], nhưng không bị bắt. Một mình một ngựa trốn chạy, lạc đường trong núi, niệm Quán Thế Âm. Nửa đêm thấy một vị Tăng mặc pháp phục, tay cầm tích trượng chỉ lối, về đến nhà an ổn.

Theo Tập Dị Ký, vào đời Đường, Thành Khuê té xuống nước gặp được cây gỗ bèn thoát nạn. Về sau, ông ta ẩn nấp ở bên bờ lau, bên sông có thứ dữ đi ngang, liếc nhìn ông ta, nhưng không làm hại.

(3) Theo Cao Tăng Truyện, tập 3, đời Đường, ngài Đạo Nhân sang Lạc Trung. Khi ấy, quy luật nghiêm ngặt, Tăng không có người đi cùng thì không được phép du phương. Do vậy, Sư bèn kiền thành tụng niệm Quán Âm. Chợt có vị Tăng đầu cạo láng bóng đến xin cùng đi. Tới Đồng Nhai Kim Địa, chẳng biết [vị sư ấy] đã biến đâu mất.

Theo phần Ngoại Thích Truyện (tiểu truyện của những nhân vật bên vợ vua) không thuộc phần chánh văn của Minh Sử, vào đời Nguyên, Trần công là người Dương Châu, là cha của Thuần Hoàng Hậu[13]. Cuối đời nhà Tống, ông Trần theo Trương Thế Kiệt[14] sung quân. Sau trận thảm bại ở Nhai Sơn, phải náu thân trên hải đảo, lương thực đã cạn. Những người cùng ở trên đảo với ông ta sắp phải qua núi Độc Lâu ăn thịt ngựa chết. Ông Trần mộng thấy người áo trắng căn dặn đừng qua đó ăn. Còn nói: “Ban đêm sẽ có thuyền tới, sẽ chở đi”. Ông bèn nằm ngủ, không đi nữa. Tới đêm, lại mộng thấy có người áo tía gọi dậy: “Thuyền đến rồi đó!” Hốt hoảng thức dậy thì đã nằm trong thuyền của nguyên soái X… Ấy là vị thống lãnh mà ông vốn đã theo hầu trước đây, nay đã hàng quân Nguyên, do thương xót ông bèn chở đi. Sau này, ông quay về Dương Châu, sanh được hai con gái. Cô út chính là Thuần Hoàng Hậu.

(4) Theo Cảm Ứng Ký Lược, Trần Ngạn Sơn ở Vụ Châu mộng thấy có người bảo: “Ta là ông nội ngươi, ngươi sắp gặp họa tan thân nát xương, hãy gấp trì tụng Quán Âm Cứu Khổ Kinh và ấn hành lưu truyền trong cõi đời thì mới thoát khỏi tai kiếp”. Sáng hôm sau, ông Trần liền quỳ khấn trước tượng Đại Sĩ, chuyên tụng niệm không lười nhác. Một hôm ngồi trong thư trai, nghe có tiếng gõ cửa rất gấp, vội mở cửa ra nhìn, chợt nghe có tiếng gió xô đổ cây, cây đè sập nhà, ông Ngạn thoát nạn.

Theo Quán Âm Kinh Cận Trưng, Ngô Sĩ Khải ở Hà Tây, suốt đời tụng Quán Âm Kinh. Sau khi cụ mất, kinh cất trên lầu. Lũ cháu nội trai trèo lên lầu chơi giỡn, thường bị xảy chân, té xuống nhưng không sao cả. Hỏi ra thì chúng nói là thấy một bà cụ mặc áo trắng từ trên không trung ôm lấy, mới biết là Đại Sĩ cứu giúp, che chở. Cả nhà bèn lễ tụng, đến nay thư hương bất tuyệt.

(5) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, vào đời Tùy, ngài Đạt Ma Cấp Đa[15] đi qua sa mạc, nước lẫn cỏ đều thiếu, người cùng đi chăm sóc lẫn nhau, tánh mạng không biết trông cậy vào đâu. Vượt núi tìm không được nước, Ngài bèn chuyên niệm chú Quán Âm, ban đêm trời chợt đổ mưa, thân tâm vui sướng.

Theo Cao Tăng Truyện, tập 1, vào đời Tống, ngài Cầu Na Bạt Đà La cỡi thuyền sang xứ này (Trung Hoa), giữa đường nước ngọt đã cạn, cả thuyền kinh hoảng. Ngài Bạt Đà nói: “Hãy đồng tâm dốc sức xưng niệm Quán Thế Âm”, rồi ngầm tụng chú, khẩn thiết lễ sám. Trong khoảnh khắc, mây giăng kín, trời đổ mưa, cả thuyền được cứu.

(6) Theo Báo Ứng Ký, đời Đường, Thôi Thiện Xung lúc làm quan ở Huề Châu, các sắc dân thiểu số nổi loạn. Bọn ông Xung gồm hai mươi mấy người ban đêm bỏ chạy; muốn chạy về Côn Minh, nhưng tối tăm chẳng biết đường. Ông bèn chuyên chú, thành tâm niệm Tâm Kinh. Trong khoảnh khắc, thấy ánh đuốc đằng trước, đi theo bèn đến được Côn Minh.

Theo Biện Chánh Luận, đời Tấn, Lý Nho Tuấn trấn giữ Hổ Lao, bị quân Ngụy bao vây, ban đêm vượt thành ra ngoài, thấy giặc nằm ngang dọc khắp nơi. Ông Tuấn bèn nhất tâm niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, vượt qua doanh trại giặc, chạy đến đồng trống. Bọn giặc đuổi theo, ông Tuấn núp trong bụi, gấp gáp niệm Quán Âm Kinh, chợt bắt được con ngựa, chạy thoát.

(7) Vào đời Thanh, Đào Chi Khải ở Tiền Đường, do gặp nạn nhưng chẳng nỡ bỏ ông nội, bèn núp trong gò mả, phát nguyện ăn chay ba năm, hằng ngày tụng Phổ Môn Phẩm, lại niệm thánh hiệu Quán Âm, bọn giặc lùng sục nhưng chẳng tìm thấy.

Theo Tỳ Kheo Ni Truyện, ni sư Lệnh Tông đời Tấn là người xứ Cao Bình, gặp thời loạn bị giặc truy đuổi, liền tụng phẩm Phổ Môn, vặt trụi lông mày, giả vờ bị bệnh ngặt, nên được giặc thả đi. Đến Ký Châu, lại bị giặc đuổi, ni sư trèo lên cây khô, chuyên dốc lòng Thành niệm Quán Âm. Những kẻ đuổi bắt dòm ngó ra xa, nhưng trọn chẳng ngước nhìn lên, nên ni sư thoát nạn.

(8) Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Tấn, Thích Khai Đạt vào đất Lũng (Thiểm Tây) hái cam thảo, bị người Khương[16] bắt, nhốt vào cũi. Trong cũi đã nhốt sẵn mười mấy người. Sáng tối, người Khương lôi từng người ra giết ăn thịt, đến khi chỉ còn mình Khai Đạt, sáng hôm sau sẽ bị giết. Khai Đạt thầm tụng Quán Âm Kinh không lười nhác. Trời vừa hừng sáng, chợt có con hổ to xông đến, người Khương kinh hãi chạy tứ tán. Hổ cắn cũi thành lỗ, Khai Đạt sợ nó sẽ làm hại, nhưng đến khi cũi đã bị cắn thủng có thể chui lọt thì hổ bỏ đi, mới biết là do Đại Sĩ xua nó đến cứu, Sư liền được thoát thân.

Theo Quán Âm Huyền Nghĩa Sớ Ký, Bùi An Khởi trở về phương Nam, đến bên sông, giặc cưỡi ngựa đuổi tới, vội niệm Quán Âm Bồ Tát, chợt thấy một con sói trắng chụp lấy, quăng ông ta sang bờ kia, thoát nạn!

(9) Theo Minh Tường Ký, đời Tấn, Phan Đạo Tú theo quân lên đánh phía Bắc, thất bại, bèn chí tâm niệm Quán Thế Âm. Trong khi mộng mị liền thấy Bồ Tát khi ở đằng trước, lúc ở đằng sau. Sau đấy, ông ta chạy xuống phương Nam, lạc đường. Ở nơi núi thẳm, giữa hư không chợt thấy chân dung Bồ Tát, giống như hình tượng được lưu truyền hiện thời, chỉ cho lối về. Ông Tú vừa lạy xong, không còn thấy nữa, liền biết lối trở về nhà.

Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Lưu Tống, Hình Hoài Minh theo Châu Tuần lên đánh miền Bắc, bị cầm tù. Trốn thoát, bèn cùng trốn về Nam, đêm đi, ngày núp. Do sợ bị truy bắt, bèn sai người đi trước thăm dò động tĩnh của giặc. Mấy hôm sau người ấy mới quay lại, tự kinh hoảng nói: “Nhìn từ xa thấy có ánh lửa rất sáng, nên chạy đến đây. Cớ sao lại trở thành tối om?” Ấy là vì Hoài Minh luôn đội Quán Âm Kinh trên đầu, tụng niệm không ngớt. Mọi người đều tin vào thần lực của kinh, liền được thoát nạn.

(10) Theo Dị Đàm Khả Tín Lục, đời Minh, Trầm Văn Tung khi làm quan ở Triêm Hóa, Sơn Tả, có bạn đồng liêu là X… mẹ già, không con, sắp phải vâng chiếu sang Tây Tạng. Ông Trầm khẳng khái đi thay, trải bao hiểm trở, ba năm sau mới quay về. Người nghe chuyện đều khen ông là người đầy nghĩa khí. Trong số những người theo hầu, trung thành nhất là Hạ Tường. Một hôm, sương mù mờ mịt, đi đến chỗ vách núi cheo leo, phía dưới ngầm ẩn khe nước sâu vạn trượng. Hai tên hầu ngã xuống suối, ngựa của ông Trầm đã lọt vào chỗ hiểm. Chợt trông lên thấy Đại Sĩ ở giữa mây mù, tay cầm hoa sen xanh, hướng về phía ông Trầm chỉ đường. Trong khoảnh khắc, thân đã vượt qua khe nước đến chỗ đất bằng. Ông đau xót hai tên hầu đã chết, hồi lâu sau, ánh sáng chiều tà tắt hẳn, nghe có tiếng người liền vội hô lên, thấy một mình Hạ Tường chạy đến, hỏi làm sao thoát khỏi? Thưa: – Lúc rơi xuống suối, có người lông xanh cao hơn một trượng, từ dưới khe suối cõng lên. Chủ tớ ôm nhau khóc ròng. Cao Văn Lương Công bèn vẽ tượng Đại Sĩ, đề ngày tháng để ghi nhớ.

(11) Trong Thỉnh Quán Âm Kinh, đức Phật bảo A Nan: “Thiện nam tử, thiện nữ nhân, đắc văn Quán Thế Âm Bồ Tát danh hiệu, tịnh thọ trì lục tự chương cú, nhược hành khoáng dã, mê thất đạo kính, Quán Thế Âm Bồ Tát đại bi huân tâm, hóa vi nhân tượng, thị kỳ đạo lộ, linh đắc an ổn. Nhược đương cơ khát, hóa tác tuyền, tỉnh, quả lõa, ẩm thực, linh đắc bảo mãn” (Thiện nam tử, thiện nữ nhân được nghe danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát và thọ trì lục tự chương cú, nếu đi trong đồng hoang, lạc mất đường lối, Quán Thế Âm Bồ Tát do đại bi huân lòng, sẽ hóa thành hình người chỉ cho đường lối, khiến cho người ấy được an ổn. Nếu bị đói khát, Ngài sẽ hóa thành suối, giếng, trái quả, thức ăn khiến cho người ấy được no đủ).

1. Hóa ao, cỏ giữa Lưu Sa, Tam Tạng còn mạng. Bày quán trà bên bến nước, Tống Khản ngủ đêm.

2. Tôn xưng thánh hiệu, gặp giặc tự có thần lực. Trí Hiển ẩn thân, chẳng giống như phương thuật.

3. Pháp Trí ẩn lùm gai, mặc người lùng sục. Đậu Truyền núp trong rừng, nghiễm nhiên an ổn.

4. Trong hang Hoắc Sơn, lửa đóm tỏa sáng. Giữa lùm cây rậm, Áp Lan hiện tướng.

5. Ông Từ ẩn trọn người trong lùm cỏ rậm, Đức Tổ giấu nửa thân bên cỏ bồng hao.

6. Kỵ binh truy đuổi vượt qua ông Đạt, da trâu che mắt. Linh cảm ứng hiện cho Thiện Tài, mõm sói sát mũi.

7. Thấy Phật quang tỏa bảy tia, đèn họ Xa thắp sáng rành rành. Hãm trong kẹt đá ba năm, cứ ăn chữ từ kinh họ Triệu. Do vậy, thấy rằng những thân, những cảnh đã hiện, không đâu là thật, mà cũng biết Phật lực không mảy trần nào chẳng trọn. Đấy là sự cứu khổ thứ ba của Đại Sĩ vậy. (Phần này ca tụng cảnh giới hiểm nạn như huyễn).     

(1) Theo Đường Tam Tạng Truyện, ngài Huyền Trang đi đến vùng Lưu Sa[17], trên con đường dài hơn tám trăm dặm, trên trời không có chim bay, dưới đất không có thú chạy. Yêu quái nổi lửa, ánh lửa lập lòe như sao sa, Ngài trọn chẳng sợ hãi. Chỉ đến khi hết nước đã năm ngày, gần chết, không đi được nữa, nằm trên cát, thầm niệm Quán Âm, nguyện rằng: “Huyền Trang đi chuyến này, chuyên vì vô thượng đạo tâm chánh pháp mà ra đi. Bồ Tát từ bi nghĩ đến chúng sanh, chuyên cứu khổ, há chẳng biết con khổ sở ư?” Nửa đêm, chợt có trận gió mát thổi qua thân, mát mẻ như được tắm trong nước lạnh, mắt liền sáng ra, ngựa cũng trỗi dậy được. Đi tiếp, ngựa chợt đổi hướng, chế ngự không được, bèn thấy một vùng cỏ xanh rộng mấy mẫu. Lại có một cái ao, nước ngọt, trong suốt. Xuống ngựa uống nước, thân mạng khôi phục. Xét ra chỗ này trước kia vốn không có, nhất định phải là do Bồ Tát từ bi hóa hiện.

Theo Báo Ứng Ký, đời Đường, Tống Khản ngồi thuyền của người khác qua Tam Môn, gặp trận gió lật thuyền, nắm được bó sách, lội lên bờ, đến ngủ đêm tại chòi tranh của bà lão bán trà. Phơi sách, thấy trong ấy có bộ kinh Kim Cang. Bà lão nói: “Kể từ sau bữa ông ra đi, vợ ông lễ kinh thành khẩn, thiết tha, nên cứu được ông”. Trở về hỏi chuyện, quả nhiên đúng là vợ lễ tụng kinh ấy. Do vậy, gói ghém trà, lụa đem tạ ơn bà cụ bên bến sông. Đến nơi lều tranh không còn nữa. Dân địa phương nói: “Nơi ấy nước [lên xuống] không có ngằn hạn, làm sao có am trà cho được” mới biết là Đại Sĩ hóa thân.

(2) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, đời Tùy, ngài Na Liên Đề Lê Da Xá[18], Hán dịch là Tôn Xưng, đi đường gặp bọn giặc núi, chuyên niệm chú Quán Âm, ở ngay trước mắt giặc mà chúng không thấy. Về sau, những khi rảnh rỗi trong lúc dịch kinh, Ngài thường giảng giải thần chú, lập công cao nhất [trong việc hoằng truyền Mật Tông trong thời ấy].

Lại nữa, ngài Trí Hiển đời Đường, đi đường gặp bọn Đột Quyết[19], mười mấy người đều bị đuổi bắt, ngài Trí Hiển ẩn thân chẳng hiện. Hỏi ra, Ngài nói: “Tôi niệm Quán Âm nên chẳng gặp giặc”.

(3) Theo Minh Tường Ký, đời Tấn, ngài Thích Pháp Trí trì danh thoát khỏi hỏa hoạn, lại đăng vào lính, bị vây bắt, phải ẩn quanh trong lùm gai góc bên ngòi nước, lại chí tâm niệm Quán Thế Âm. Giặc đứng cách ngòi nước hô đám quân phía sau, chỉ trỏ, ra lệnh giết, nhưng họ lục lọi chẳng tìm thấy. Pháp Trí thoát nạn bèn trở thành Tăng.

Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Tấn, Đậu Truyền do niệm Đại Sĩ thoát được gông cùm, bèn vượt thành trốn. Lúc trời sáng, ẩn nấp trong rừng, trong khoảnh khắc, người ngựa dồn dập kéo tới truy bắt, đốt rừng, giày xéo cỏ cây, không đâu chẳng lục kỹ, chỉ có khoảng đất Đậu Truyền đang nấp là không lục tới.

(4) Theo Cao Tăng Truyện, tập 1, đời Lưu Tống, ngài Đạo Quynh vào Hoắc Sơn để hái mầm đá. Vào trong hang mấy dặm, nhảy qua những khúc gỗ để vượt qua nước, ba người chết đuối, lại rơi mất đuốc. Đạo Quynh chuyên tụng Pháp Hoa, chỉ dựa vào nghiệp ấy, lại nghĩ đến Quán Âm. Một lúc sau, có tia sáng như lửa đom đóm, đuổi theo không kịp, bèn thoát ra khỏi động. Về sau, Sư lại cùng bốn người đồng học cưỡi băng vượt sông, băng vỡ, ba người chết đuối. Đạo Quynh lại dốc lòng thành nơi Quán Âm, cảm thấy dưới chân như có vật tự nổi. Lại thấy ánh sáng đằng trước, dõi theo ánh sáng vào được bờ.

Theo Nam Hải Từ Hàng, vào đời Minh, người đất Mân là Lôi Pháp Chấn làm nghề đốt than. Trong nhà có cây gỗ Áp Lan, đường nét tinh tế, muốn khắc thành tượng Đại Sĩ, nhưng chưa được toại ý. Một bữa, vào núi đốt than, từ trong lùm rậm, đột nhiên có con hổ phóng ra chụp. Chợt có một phụ nữ ẻo lả chặn quát hổ, hổ liền nem nép, khấu đầu rút lui. Ông Chấn lạy tạ, hỏi tên tuổi, [người phụ nữ ấy] bèn nói: “Ta chính là cây gỗ Áp Lan trong nhà ông” rồi không thấy nữa. Ông Chấn cảm ngộ, bèn chọn ngày lành khắc tượng, suốt đời ăn chay, đảnh lễ.

(5) Theo Minh Tường Ký, Từ Nghĩa làm Thượng Thư trong triều đại Phù Tần, sau bị Mộ Dung Vĩnh[20] bắt được. Do niệm Đại Sĩ bèn thoát nạn, trốn thoát trong đêm, núp trong đám cỏ, kỵ binh đuổi theo đốt đuốc như sao sáng ngời, nhưng trọn chẳng thấy ông Từ.

Theo Biện Chánh Luận, Mao Đức Tổ ở Vinh Dương, theo đường tắt xuống Giang Nam, gặp bọn giặc cưỡi ngựa đuổi tới, bèn núp trong đám cỏ bồng hao[21] bên đường, nửa thân vẫn còn lộ ra, nghĩ chắc phải chết, bèn chí tâm niệm Quán Âm. Trong khoảnh khắc, trên mây trút mưa xuống, liền thoát nạn.

(6) Theo Cao Tăng Truyện, tập 1, Thích Siêu Đạt học rộng biết nhiều. Thời Nguyên Ngụy cấm đồ sấm[22], có người vu cáo, Sư bèn bị bắt, hạ ngục, buộc bánh xe vào cổ. Siêu Đạt chuyên niệm Quán Âm, tới đêm chợt chẳng thấy bánh xe nữa, những người canh giữ đều ngủ; do vậy, chuồn ra, nhưng do chân bị trói đã lâu, chẳng đi xa được. Trời sáng, bốn thớt ngựa truy binh đuổi theo, Siêu Đạt nằm xoài trong đám cỏ, kỵ binh giày xéo tan nát mà trọn chẳng thấy. Siêu Đạt lén dòm, thấy mặt bọn giặc đều bị da trâu che mắt, nhờ đó trốn thoát.

Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Đường, Từ Thiện Tài bị giết nhưng sống lại, lại nhặt được áo cừu bằng da dê, đào, táo, khỏi bị đói khát. Đi năm mươi dặm, nghỉ lại một chút, ngồi xếp bằng tụng niệm, không ngờ ngồi ngủ luôn. Đến canh tư chợt tỉnh, có một con sói xanh to đùng đang ngồi chồm hổm trước mặt, đưa mõm chạm mũi ông Tài. Ông Tài thấy rồi, lại nhắm mắt niệm rằng: “Nếu thật là oan cừu của ta, hãy ăn ta để đền tội ương đời trước. Nếu là Đại Sĩ hiển linh, xin hãy cứu đệ tử được yên vui”. Niệm xong mở mắt ra, chẳng thấy tông tích con sói đâu nữa.

(7) Theo Tuyên Nghiệm Ký, vào đời Tống, Xa Tử Giả do mắc nạn Lô Lăng Vương tại Thanh Nê, bị hãm trong trại giặc. Bà mẹ ở nhà thắp bảy ngọn đèn trước bàn Phật, chuyên tâm niệm Quán Thế Âm, nguyện con được trở về. Hơn một năm sau, Xa Tử ban đêm trốn trại, lạc đường, thường thấy bảy ngọn lửa sáng trước mặt, ngỡ là thôn xóm, cứ dõi theo ánh lửa mà đi, nhưng trọn chẳng đến nơi được. Suốt bảy đêm như thế, không ngờ đã về đến nhà, thấy mẹ vẫn còn phủ phục trước bàn Phật thỉnh nguyện, bảy ngọn đèn xen nhau chiếu sáng.

Theo Dị Đàm Khả Tín Lục, khi vách núi sụp ở huyện Tu Văn, Quý Châu, có Triệu Nhị Giả bị vùi trong đó, may lọt nhằm kẽ hở nên không chết. Sau ba năm, có người đến hái thuốc nơi chỗ sụp, nghe trong đá có tiếng kêu cứu, hè nhau tận lực đào ra. Ông Triệu thuật rằng: Khi núi sụp, đang ngủ mê man chẳng tỉnh. Đến lúc tỉnh lại, thấy bốn phía đều là đá, không cách gì thoát ra được. Lại khổ sở vì đói khát, đột nhiên có con chuột trắng nép sát bên cạnh thân, dài hơn cả thước, mắt lấp lánh như chớp, soi thấy trên đá có chữ. Nhìn kỹ thì ra là kinh Quán Âm. Chuột nhấm chữ làm ra vẻ ăn nuốt, ông Triệu thử bắt chước làm theo, bèn đỡ đói. Về sau, mỗi lần nhấm một chữ, liền no bụng suốt ngày. Đến nay đã gậm gần hết chữ, chỉ sót lại mấy hàng. Mọi người thấy trên đá không còn dấu chữ mà cũng chẳng thấy con chuột trắng nào! Đưa ông ta về nhà, lấy cuốn kinh ông ta đã tụng mở ra xem, chỉ còn mấy hàng cuối, giống hệt như chữ đã thấy trong kẹt đá.

2.2.2.4. Khỏi bị giết chóc

1. Bèn có: Tướng quân Ninh Sóc, sắp bị chém, được tha. Lính thú Nam Cung, đao phủ bỗng bải hoải.

2. Đạo Tập trì danh, giặc chém nhiều lần, kinh hãi bỏ chạy. Từ Ân[23] tụng kinh, gã Hồ rút dao rồi lại nằm.

3. Tên chẳng thể tổn hại Pháp Thiền, đao không chém được Trầm Giáp.

4. Quân Mưu, Du Nhung, cùng phô chuyện lạ ba đao. Lục Huy, Kính Đức, hai tượng, cổ cùng in vết.

5. Chàng Trương thuật lời Phật, liền giải oan khiên đời trước. Họ Trình gọi gã Vương, chuyển thành sống đời yên vui.

6. Thiện Tài bị giết, hồi sinh trên cành trong động. Vương Ất gặp hiểm, đột nhiên trèo lên bờ cao.

7. Chỉ Nhất nghe dị tăng răn dạy, giặc bèn hồi tâm. Cao Tuân xin Bồ Tát xót thương, bị chém chẳng chết.

8. Đầy tớ nghe lời chủ dạy, chưa ba năm đã được tha về. Em bị kẻ xấu vu hãm, tụng một tạng sạch nỗi oan khiên.

9. Nhà họ An thờ tượng, đánh vào lưng nghe tợ tiếng đồng. Ông Trữ Úy trì danh, trên đảnh đầu hào quang tỏa rực.

10. Truyền lời cho quan huyện lệnh, ba phen cứu chàng buôn gạo. Báo mộng răn đe Tiếu Vương, Trương Sướng rốt cuộc sống yên.

11. Giản Vinh quy mạng, đao bèn gãy nát. Đình Ái gặp cướp, lương vẫn còn nguyên.

12. Thoát nạn như ưng, cắt vụt bay, sắp đi được két kêu cảnh tỉnh.

13. Đấy đều là trong khoảnh khắc táng thân mất mạng, liền nhờ ân khởi tử hoàn sanh. (gồm ba đoạn)

(1) Theo Vương Nguyên Mưu Truyện trong bộ Tống Thư, ông Mưu làm tướng quân ở Ninh Sóc, vây Hoạt Đài không đánh thắng được nên bị thượng tướng đem chém. Ông Mưu mộng thấy có người bảo: “Tụng Quán Âm Kinh ngàn biến sẽ thoát”. Tỉnh giấc, liền tụng được một ngàn biến. Sắp bị chém, chợt có tiếng hô truyền lệnh ngưng hành hình. Ấy là vì Trầm Khánh can gián nên [cấp trên] thôi chém.

Theo Minh Tường Ký, đời Tấn, Nam Cung Tử Ngao, làm lính thú[24] ở Tân Bình, bị Trường Lạc Công phá thành, cả thành mấy ngàn người đều bị xử chém. Tử Ngao chí tâm niệm Quán Thế Âm. Khi đao phủ chém đến Tử Ngao, các lưỡi đao chém xuống, hoặc là cao quá, hoặc là thấp quá. Người cầm đao chợt mỏi mệt, tứ chi bủn rủn. Trường Lạc Công kinh hãi, tra hỏi. Ông Ngao thưa: “Biết chế yên ngựa”, bèn được tha. Ông Ngao cũng trọn chẳng biết vì sao mình lại trả lời như thế. Về sau, ông ta tạo một tượng Đại Sĩ nhỏ, hễ đi bèn đội trên đầu, khi ngưng lại bèn đảnh lễ.

(2) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, đời Ngụy, ngài Đạo Tập đi sang Tây Sơn, Thọ Dương, bị giặc bắt trói vào cây, sắp giết. Đạo Tập bèn niệm Quán Âm không ngừng, giặc vung đao chém mấy lượt nhưng Sư trọn chẳng bị tổn thương, bèn sợ hãi bỏ chạy. Đạo Tập bèn được thoát.

Theo Đường Tam Tạng Truyện, ngài Huyền Trang vượt ải Ngọc Môn, tùy tùng là Thạch Bàn Đà, vốn là người Hồ, chợt sanh lòng khác lạ, rút đao ngồi dậy, từ từ tiến về phía pháp sư. Sư ngồi dậy, niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Gã người Hồ vẫn thấy vậy, lại nằm xuống, Sư cỡi ngựa bỏ đi.

(3) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, đời Ngụy, sư Pháp Thiền đi đường núi gặp giặc, chỉ niệm Quán Âm. Giặc buông cung bắn, tên chẳng thể thương tổn Sư, bèn ném cung xuống đất, tỏ lòng quy kính.

Theo Tuyên Nghiệm Ký, Trầm Giáp ở Ngô Quận bị trói, sắp bị hành hình, kiền thành niệm danh hiệu Quán Âm, mũi đao tự gãy. Do vậy bèn được thả.

(4) Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Tống, Huệ Hòa thoạt đầu làm Quân Mưu, bị địch quân bắt được, đem chém. Ông Hòa tận lực tụng Quán Âm Kinh, cầu nguyện khẩn thiết tột bực. Tên lính vung đao, ba lần giơ lên, ba lượt gãy nát bèn kinh hãi, thả đi, ông Hòa bèn xuất gia.

Đời Thanh, Lã Thiên Hộ ở Thiểm Tây kiền thành tụng chú Bạch Y, bôi Đàn Hương lên thân Đại Sĩ, sáng tối cúng dường. Về sau, ông đảm nhiệm chức Du Nhung tại Ninh Ba, do lỡ việc, bị luận tội chém. Lúc bị hành hình, đao phủ chém liên tiếp ba đao đều bị gãy, tâu lên, ông Lã bèn được miễn tội.

Theo Tuyên Nghiệm Ký, Lục Huy bị giam trong ngục sắp chết, bèn bảo người nhà tạo tượng Quán Âm. Lúc bị hành hình, chém ba đao đều bị gãy. Quan hỏi nguyên cớ, đáp rằng: “Tôi e rằng đấy là từ lực của Quán Âm”, nhìn vào tượng thì cổ tượng có ba vết đao; do vậy, tâu lên, Lục Huy được miễn tội.

Theo Tề Thư, Tôn Kính Đức phòng ngự biên giới phương Bắc, tạo tượng Quán Âm, lễ kính, thờ phụng. Về sau, bị bọn giặc cướp gây liên lụy, [triều đình] định tội tử hình. Đêm ấy, ông lễ sám, khóc lóc, chợt như trong mộng thấy một sa-môn dạy hãy tụng Cứu Khổ Quán Âm Kinh một ngàn biến, sẽ thoát khổ nạn. Kính Đức tụng đến lúc bị hành hình vừa đủ ngàn biến. Đao chém xuống gãy thành ba đoạn; ba lượt thay đao vẫn gãy như cũ. Thừa tướng Cao Hoan dâng biểu xin miễn hành hình. Kính Đức được thả về, thấy nơi cổ của bức tượng Quán Âm do mình đã tạo có ba vết đao.

(5) Đời Tống, Trương công tử ở Lâm An thấy trong ngôi chùa đổ nát có tượng Quán Âm đã mất chân tay, bèn thỉnh về, trang nghiêm, cúng dường. Về sau, gặp giặc, phải nhảy xuống giếng, thấy Đại Sĩ đến nói: “Ngươi nay sắp chết, ta không cách nào cứu được. Bởi lẽ, trong đời trước, ngươi từng giết một người, tên hắn hiện thời là Đinh Tiểu Đại sẽ giết ngươi để báo oán”. Ngay lúc đó, có người thọc mâu xuống giếng, kêu chui ra. Trương hô lên: “Ông là Đinh Tiểu Đại phải không?” Kẻ kia kinh hãi hỏi: “Sao ngươi biết?” “Do Phật bảo tôi”. Họ bèn cùng nhau cởi gỡ oán thù đời trước rồi bỏ đi.

Theo Kỷ Cầu Thư, đầu đời Thanh, Trình Bá Lân buôn bán ở Dương Châu, thờ Đại Sĩ rất kiền thành. Năm Ất Dậu (1645), quân binh [nhà Thanh] phá thành Dương Châu[25], ông Trình cầu khẩn Đại Sĩ cứu giúp. Mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Mười bảy mạng trong nhà ông, mười sáu người đều được thoát tai kiếp, còn ông không trốn được. Đời trước ông giết Vương Ma Tử bằng hai mươi sáu nhát đao, nay phải đền món nợ ấy. Hãy nên bảo người nhà ở chái Đông, riêng mình ông ở giữa nhà đợi hắn, đừng làm liên lụy đến ai”. Ông Trình tin theo. Đến khi binh lính đập cửa, ông Trình ra đón, hỏi: “Ông có phải là Vương Ma Tử hay chăng?” Tên lính kinh hãi hỏi vì sao biết tên họ ta? Ông Trình kể lại giấc mộng. Tên lính than: “Đời trước, ngươi giết ta, đời này chịu báo. Ta nay giết ngươi, há đời sau chẳng lại bị báo thù hay sao?” Bèn dùng sống đao đập ông Trình hai mươi sáu lần để xóa nợ. Ông Trình bèn dẫn quyến thuộc sang Kim Lăng, sống yên ổn nhiều đời.

(6) Theo Minh Tường Ký, trong niên hiệu Vũ Đức thời Đường, Từ Thiện Tài thường giữ trai giới, tụng Quán Thế Âm Kinh. Về sau bị giặc bắt, có một ngàn một trăm người cùng bị bắt, cùng bị đem tới Hồng Nhai rồi lần lượt giết chết. Ông Tài chí tâm niệm Quán Âm Kinh, trong lúc bị giết trọn chẳng biết gì. Đến đêm mới biết thân mình đang nằm trên cành cây mọc de trên con suối sâu, cách vách đá độ hơn ba trăm thước. Lấy tay sờ cổ, chỉ thấy hơi đau, nhưng không thương tổn gì. Trèo xuống khỏi cây, đi dọc theo khe suối, nhặt được áo ấm bằng lông dê, đào, táo v.v… Coi chuyện này trong phần trước.

Đời Đường, Vương Ất lúc nhỏ trì chú Như Ý Luân[26]. Đầu thời Khai Nguyên, cùng bè bạn sang Hà Bắc, liếc thấy phu chèo thuyền có vẻ khác lạ, bèn cầm đuốc niệm chú. Nửa đêm, phu chèo thuyền cầm búa chặt đầu hai đứa đầy tớ, lại chém hai người bạn, rồi tới chỗ Ất. Vương Ất nằm phục xuống đất, đuốc chợt tắt, bị chém ba búa. Đột nhiên, sau lưng có hai người nâng Vương Ất đưa lên bờ. Máu chảy khắp mình, nhưng không đau đớn lắm. Sau đó, thấy [từ thuyền lên bờ] cao mấy chục trượng mới biết là sức của thần chú.

(7) Theo Pháp Hoa Cảm Thông, đời Thanh, Thích Chỉ Nhất thuở nhỏ gặp một vị Tăng kỳ lạ, răn dạy: “Con sắp gặp phải đại nạn, nếu có thể trì thánh hiệu Đại Bi thì sẽ thoát nạn”. Sư bèn dốc lòng thọ trì. Trong niên hiệu Sùng Trinh, Hiến tặc[27] phá Quang Sơn, giết đến Sư, đao bỗng tự gãy. Giặc lấy làm lạ nên [tha cho] Sư khỏi chết, Sư liền xuất gia.

Theo Tuyên Nghiệm Ký, Cao Tuân niệm Đại Sĩ, gông xiềng tự tháo. Cai ngục kinh dị, bảo Tuân rằng: “Nếu Bồ Tát thương ông thì chém cũng chẳng chết”. Lúc xử tử hình, đao vung lên liền gãy, [quan giám trảm] tâu lên trên, ông Cao liền được thả.

(8) Theo Quán Âm Cảm Ứng, vào thời Vạn Lịch nhà Minh, đầy tớ quan Thượng Thư Lục Ngũ Đài đánh lộn gây chết người, cầu cứu chủ nhân. Ông bảo: “Theo quốc pháp, giết người phải đền tội, ta làm sao xin tha cho ngươi được? Ngươi vào ngục hãy chuyên niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, sau ba năm, Ngài sẽ tự đến cứu ngươi”. Đầy tớ nghe lời dạy, niệm Bồ Tát không lười nhác, một năm sau được thả.

Theo Cao Vương Ứng Nghiệm, vào đời Minh, Khương Thiện bị anh là Liêm do chiếm núi không được bèn vu cáo Khương Thiện hại mạng người, Khương Thiện bị kết thành tội nặng. Trong thời Vạn Lịch, Khương Thiện bị chuyển đến nhà giam trên phủ, có được cuốn kinh Cao Vương bèn ngày đêm lễ tụng, mấy lượt tụng đủ một tạng[28], liền được cứu.

(9) Theo Linh Ứng Lục, đời Đường, An Định là người Sơn Tây. Bà mẹ hái dâu nhặt được tượng Quán Âm bằng đồng, bèn lễ bái, cúng dường. Về sau An Định đi lính, bị ngã trong đám cỏ, cảm thấy sau lưng bị chém liên tiếp ba nhát, [nghe vang ra tiếng] như chặt vào đồ bằng đồng, thân thể không bị vết thương nào.

Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, đời Đường, một người Mạt Hạt[29] là Đế Thị Giai trốn vào Cao Ly, nhặt được tượng đồng cao chừng hai tấc, chẳng biết là vị thần nào, bỏ trong túi da, hễ ăn uống rượu thịt đều dâng cúng [tượng thần]. Người Cao Ly nghi anh ta là gián điệp bèn đem chém, chém ba đao vẫn không bị thương. Lôi tượng ra thì lưng tượng có ba vết đao. Họ nói: “Đây là tượng Phật, có thể sang Đường quốc (Trung Hoa) hỏi thăm”. Ông Giai bèn xuất gia tại U Châu, hơi giống như chuyện trên đây.

Lại nữa, sách Trà Hương Thất Tùng Sao có viết: “Do bà lão họ An [trong câu chuyện thứ nhất] cũng dùng thịt cá cúng dường [tượng Phật] thì biết rằng thờ Phật cốt ở nhất tâm. Nếu tâm chí thành, cá thịt cũng đem cúng dường Quán Âm được!” Quyết chớ nên nghe theo lời ấy! Phẩm [Phổ Hiền] Hạnh Nguyện có nói: Chư cúng dường trung, pháp cúng dường tối. Sở vị: Lợi ích chúng sanh cúng dường, đại chúng sanh khổ cúng dường” (Trong các thứ cúng dường thì cúng dường pháp là tối thắng, như là: cúng dường bằng cách lợi ích chúng sanh, cúng dường bằng cách chịu khổ thay cho chúng sanh). Kẻ ăn thịt đoạn chủng tử từ bi nơi Phật tánh, dám đem [thịt, cá] cúng dường bậc Đại Bi Bồ Tát ư?

Hiện Quả Tùy Lục có chép truyện một viên Hiếu Liêm[30] ở Ma Thành đùa bỡn đem thịt cúng cho Bồ Tát, liền ngã xuống đất chết tươi, đọa thẳng vào địa ngục, khắp thân bị nung nứt nẻ. Trong câu chuyện của bà lão họ An, Bồ Tát đặc biệt thương xót bà ta ngu dại nên không truy tới, há đáng lấy cách thức ấy làm khuôn phép, khiến cho chúng sanh bị lầm lạc ư? Trong sách Vạn Thiện Tiên Tư, câu hỏi: “Làm lành lấy lập tâm làm chánh yếu. Nếu tâm địa đã lành thì sao lại phải kiêng giết” đã bị tiên sinh An Sĩ quở trách thống thiết, thật giống như vấn đề đang được nói tới ở đây.

Theo Di Kiên Chí, Trữ Úy ở Vu Hồ bị Khấu Lục Đức bắt trói, sắp đem chém, thấy trên đảnh ông Trữ có ba đạo hào quang, bèn thả ra, sai giữ chức Chủ Ấp. Về sau lại vì chuyện này, xét công huân, thăng quan cho ông ta. Ông Trữ hằng ngày niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát một ngàn câu, tụng một bộ Viên Giác, cho nên được quả báo ấy.

(10) Theo Sư Tán Hiên Tùng Đàm, một người buôn gạo ở vùng Thượng Ngu mộng thấy Đại Sĩ dặn: “Gặp cầu chớ dừng thuyền, gặp dầu bôi lên đầu, đấu thóc ba thưng gạo, nhặng xanh nâng đầu bút”. Về sau, thuyền gặp mưa, vừa qua một cây cầu, cầu liền sập. Trở về nhà lạy tạ Đại Sĩ, đột nhiên chiếc đèn thờ trước tượng rơi xuống, dầu chảy lênh láng khắp đất. Anh ta liền bôi dầu lên đầu. Đêm ấy, bà vợ bị giết chết trên giường. Ấy là vì người vợ tằng tịu với gã hàng xóm, hắn nghe chàng buôn gạo trở về liền đến giết. Trong đêm tối, hắn vén màn, ngửi thấy đầu anh lái buôn có mùi dầu ngỡ là bà vợ liền chuyển sang giết anh lái buôn, nào ngờ giết nhầm bà vợ. Bố vợ ngờ anh ta giết vợ bèn đi thưa. Anh lái buôn bị ép nhận tội. Lúc ghi biên bản cung khai, chợt có nhặng xanh bu đầy đầu bút, đuổi đi chúng lại bu tiếp, khiến cho quan ngờ có chuyện gì lạ lùng. Lặng lẽ suy nghĩ, chợt anh lái buôn thất thanh kêu: “Bồ Tát!” Quan liền tra hỏi, anh ta bèn thuật lại những chuyện nằm mộng, cầu gãy, bôi dầu. Người cố vấn của quan bèn đoán: “Ba thưng gạo tức là bảy thưng cám, há chẳng phải kẻ sát nhân là Khang Thất[31] hay sao?” Gã hàng xóm của anh lái buôn chính là Khang Thất, vừa tra khảo liền nhận tội, quan lập tức thả anh lái buôn.

Theo sách Đàm Tẩu, đời Lưu Tống, Trương Sướng phụng trì niệm thánh hiệu Quán Âm. Nam Tiếu Vương[32] dấy loạn, ông Sướng không theo, sắp bị vương giết, vương mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Chẳng được giết Sướng”. Nam Tiếu Vương bèn chẳng dám làm hại!

(11) Trong niên hiệu Thái Nguyên đời Tấn, Cao Giản Vinh phạm pháp, lúc sắp bị chém bèn nhất tâm quy mạng Quán Thế Âm Bồ Tát. [Đao phủ] chém xuống, đao liền gãy.

Theo Linh Nghiệm Ký, Châu Đình Ái ở Chiết Giang giải lương[33] qua Sơn Đông, gặp giặc cướp, thủy thủ bị giết sạch, chỉ riêng mình ông Ái còn sống, tiền lương không bị tổn hại. Ông Ái chuyên trì Quán Âm Kinh, lại thí tặng một ngàn hai trăm quyển. Đình Ái còn có tên là Đình Thọ.

(12) Theo Thỉnh Quán Âm Kinh, nếu có chúng sanh vào trong chiến trận, lúc sắp bị hại, bèn tụng niệm chú này, xưng danh hiệu Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ được giải thoát nhanh chóng như chim ưng, chim cắt vụt bay. Vào đời Nguyên, Châu Đạo Nhân ở Giang Lăng tụng Quán Âm Kinh, ước hẹn với mọi người đi sang quận khác. Lúc sắp đi, con két kêu ầm lên: “Chớ có đi! Chớ có đi”, liền biết Bồ Tát hiển linh, bèn thôi, những người ra đi đều bị cướp giết!

(13) Theo Quốc Ngữ: “Khởi tử nhân, nhi nhục bạch cốt” (Làm người chết sống dậy, khiến cho xương trắng sanh thịt).

1. Lại như hiện tướng trong mây, hai phen phù hộ Tống thất. Không trung vang tiếng, Tiền Liêu nhiều lần đuổi giặc.

2. Sắp được thăng lên tước vương, ngăn Vũ Túc chớ động binh. Giặc sợ có thần giúp đỡ, cản Sĩ Thành đừng giết bậy.

3. Thỏa bi nguyện của Trương Sùng, đá nứt, vợ chồng đoàn tụ. Cảm lòng Lưu Độ tinh thành, kinh rơi, cả thành khỏi chết.

4. Bà lão cõng đá to, ngăn địch quân đánh úp Điền Nam. Thần nhảy qua hai núi, chống quân binh xâm lăng Hà Bắc.

5. Tuy là trời giáng họa giết chóc, giỏ sắt khó che, nhưng Phật mở ra cõi thọ, trống vàng xưng tụng (câu này ca tụng cả chuyện dứt đao binh).

 (1) Theo Thiên Trúc Chí, Tống Thái Tông do thấy Tào Bân đánh quân Khiết Đan[34] bị thua, bèn sai sứ sang chùa Thượng Thiên Trúc cầu Đại Sĩ ngầm gia hộ. Trương Tế Hiền thắng trận Đại Châu. Chư tướng thấy trong ánh lửa có thần kim giáp, cao mấy trượng, đứng trên chót mây, cầm cờ đỏ chỉ huy. Bọn giặc nhìn thấy, vỡ mật bỏ chạy tan tác.

Lại nữa, Lưu Dự cùng giặc Kim vào [đất Tống] cướp phá, Tống Cao Tông đích thân đến Đại Sĩ Điện cầu đảo, xin được ngầm che chở. Sau đấy, Hàn Thế Trung đánh bại quân Kim – Tề[35] ở Nhuận Châu. Trong lúc đối địch, bọn giặc thấy phía trên trận quân Tống có mấy chục vị thần mặc giáp bằng vàng, thân cao hai trượng, ánh mắt tóe lửa, đứng trên chót mây. Bọn giặc biết [quân Tống] có thần che chở, chẳng đánh mà tự tan, thua trận thật lớn. Khi Hàn Thế Trung làm lễ hiến phù[36], có nghe [quân lính] kể chuyện này.

Theo Thiên Trúc Chí, Hoàng Sào[37] dấy loạn, chém giết tại những nơi hắn kéo quân qua. [Tin truyền] đến đất Hàng, già trẻ mấy trăm vạn, khóc lóc lạy Đại Sĩ, xin Ngài rủ lòng Từ che chở. Đến khi Hoàng Sào cùng Tiền Liêu giao chiến, nghe trên không trung có tiếng niệm Phật, ngó lên thấy cờ quạt, lọng báu trên mây, vây quanh Đại Sĩ. Các vị Hỏa Thủ Kim Cang, trời, rồng, Tu-la v.v… theo hầu không thể tính được. Quân Tiền Liêu trông thấy, dũng khí tăng gấp trăm lần. Sào bảo: “Nước Phật mà!” bèn rút lui.

Lại nữa, Ngô Việt Vương là Tiền Liêu xuất thân từ chốn quê mùa, thề giữ yên miền Đông Nam nhưng còn do dự, chưa quyết. Đêm mộng thấy một phụ nữ bảo: “Ông từ bi không giết người, làm phên giậu một phương. Thiên tử đất Trung Nguyên đổi họ năm phen[38], mà cương vực của ông vẫn yên ổn, con cháu phong hầu, bái tướng lâu dài. Hai mươi mấy năm nữa sẽ tìm ta trong núi Thiên Trúc”. Tiền Liêu tự nhủ từ trước đến nay chưa hề có chuyện này, nhiều lần được thần giúp đỡ; vì thế, bèn chép vào sách để răn dạy con cháu đời đời tôn sùng, thờ phụng. Lại nữa, khi Đổng Xương dấy loạn ở Việt Châu, Tiền Liêu cầu khẩn Đại Sĩ rồi mới xuất binh. Khi đối địch, trên không nghe có tiếng cả vạn kỵ binh ùa tới. Đổng Xương vừa nhìn thấy liền kinh hồn, chẳng giao chiến mà bại tẩu, đất Việt được giữ yên.

(2) Theo Thiên Trúc Chí, Tiền Liêu muốn đánh Châu Toàn Trung[39], mộng thấy Đại Sĩ bảo: “Chớ nên làm càn! Ông cứu được trăm vạn dân đen thì chẳng đầy mười ngày sẽ được phong tước làm vương”. Họ Tiền bèn thôi, quả nhiên như thế.

Hơn nữa, Trương Sĩ Thành[40] chiếm cứ Tô Châu, dung túng cho binh lính đốt phá, cướp bóc, sắp tiến vào Phật Quốc Sơn, vừa đi trên Xuân Kiều, chợt có suối từ Lưu Hồng ồ ạt tuôn ra, nước cao cả trượng, sụp núi, lấp hang, thế nước ầm vang như sấm sét. Bọn giặc hoảng sợ, [cho rằng] nơi ấy có sức thần giúp đỡ nên rút lui. Do vậy, chúng chẳng dám giết chóc bừa bãi nữa!

(3) Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Tấn, Trương Sùng tôn sùng Phật pháp từ bé. Khi Phù Kiên đã bại trận, Sùng chạy xuống phương Nam quy phục nhà Tấn, bị lính trấn thủ bắt giữ. Năm người bọn ông Sùng chân tay đều bị gông cùm, chôn nửa người dưới hố, sáng hôm sau sẽ cho ngựa càn qua, bắn tên cho chết. Ông Sùng nhất tâm niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, nửa đêm gông gãy, thân từ dưới đất tự trồi lên, bèn trốn đi. Trên đường đi, ông nhặt một viên đá, nguyện: “Tôi muốn kêu cầu vua Tấn để cứu vợ bị bắt. Nếu tâm nguyện được thỏa, hòn đá này sẽ nứt làm hai”. Lễ bái xong, hòn đá liền nứt ra. Đến kinh đô, ông Sùng dâng biểu kêu oan, bỏ tờ biểu vào trong tủ Bạch Hổ [trước điện vua], liền được vua xuống chiếu, sai chuộc về hết những kẻ đã bị bắt đem bán.

Theo Minh Tường Ký, đời Tống, Lưu Độ là người Liêu Thành, cùng ấp có hơn một ngàn nhà cùng thờ Quán Âm, tụng kinh, lễ bái. Cuối đời Tống, những kẻ trốn lánh thường ẩn nấp trong thành khiến thành ấy bị [quân Nguyên] giận lây, cả thành sắp bị tàn sát. Ông Độ bèn hướng dẫn mọi người dập đầu cầu khẩn trước tượng Đại Sĩ, nhất tâm lễ tụng. Tù phương[41] đang xét việc, thấy từ trên không trung có một vật rơi xuống, nhiễu quanh cột nhà, kinh hoảng nhìn xem thì ra là phẩm Phổ Môn. Cầm lấy đọc xong, tù trưởng hoan hỷ, cả thành khỏi bị tàn sát.

(4) Theo Hữu Đài Tiên Quán, Quán Âm Các ở phía Nam thành Đại Lý Phủ được xây trên đỉnh một tảng đá lớn. Phủ chí có chép chuyện một phụ nữ cõng tảng đá ấy. Tương truyền, thuở xưa có quân địch [kéo đến] đánh úp Đại Lý, thấy một bà lão, vừa đi vừa cõng tảng đá này. Địch kinh ngạc, bà cụ nói: “Người xứ này mạnh lắm. Ta là đàn bà, vừa già vừa bệnh, chẳng thể mang nặng được!” Địch sợ quá, bèn rút. Bà cụ bỏ tảng đá ở chỗ ấy, chẳng biết đi đâu mất. Người ta biết là Quán Âm hóa thân, bèn dựng Quán Âm Các trên đá.

Tăng nhân chùa Thiếu Lâm từng thấy thần nhân hai chân nhảy từ núi Thái Thất sang Thiếu Thất, cầm gậy quất giặc, giặc hoảng sợ bỏ chạy. Họ bèn nói chắc là Quán Âm hóa thân.

(5) Theo Tăng Nhất A Hàm Kinh, Lưu Ly Vương[42] tấn công dòng họ Thích, ngài Mục Liên bạch Phật: “Kính xin Ngài cho phép con dùng giỏ sắt úp lên thành”. Phật nói: “Dòng họ Thích có oán thù [với Lưu Ly Vương] từ đời trước, ông đậy giỏ được sao?”

Kim Quang Minh Kinh: “Đắc văn kim cổ phát diệu hưởng, giai mông ly khổ đắc giải thoát” (được nghe cái trống vàng vang tiếng nhiệm mầu, đều được lìa khổ, giải thoát). Kinh còn chép: “Sở hữu khổ não, nãi chí uổng tử, tất giai viễn ly, thường mông Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát đại bi oai quang chi sở hộ niệm” (Tất cả khổ não cho đến chết oan uổng đều được xa lìa, thường được đại bi oai quang của Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát hộ niệm).

1. Còn như: Hữu Môn trì chú, cò diệc thoát lưới rập. Thế Thuần chép kinh, chim quạ thoát khỏi tên găm.

2. Xót thương ốc, ba ba, ông Cố được phán “phóng sanh”; ném chết bồ câu non, họ Trình chỉ được gia hạn.

3. Vào trường thi phải gỡ oán cho mèo; toan nhận con thường bị bò cản trở.

4. Tụng chú Đại Minh, mặt lưới mở tung. Niệm danh Bồ Tát, oán quỷ đắc độ. Chẳng chỉ mở rộng lòng nhân đến muôn loài, mà còn dứt tai kiếp trong vị lai. Ấy là sự cứu khổ thứ tư của Đại Sĩ vậy (trong phần này, ca tụng cả sự cứu vớt loài vật).

 (1) Vào đời Minh, sư Hữu Môn đắc Đại Bi tam-muội, đi dạo chơi nơi ruộng đồng vùng Phụng Hóa, thấy mấy trăm con cò, con diệc bị người ta giăng bẫy, thầm niệm chú, chúng liền bay thoát.

Theo Linh Nghiệm Ký, đời Tống, Châu Thế Thuần thờ Đại Sĩ nghiêm cẩn, phát nguyện tả kinh để thí cho người khác trì tụng. Khi chép kinh, chợt có bầy quạ kêu rầm rĩ trên nóc nhà. Ra nhìn thì thấy có một con quạ bị trúng tên chảy máu, lũ quạ nhổ không được cho nên kêu rầm rĩ. Ông Châu ngửa mặt lên trời niệm danh hiệu Bảo Thắng Như Lai, Cứu Khổ Quán Âm, dùng bút chỉ vào quạ. Mũi tên liền rớt ra, từ giếng trời[43] rơi xuống bên cạnh khám thờ Phật, quạ bay mất.

(2) Theo Đệ Nhất Công Đức Lục, nhà ông Cố Vĩ Đông có đứa cháu bị bệnh đậu nguy ngập. Đêm nghe tiếng quỷ gào, ông Đông bèn hướng dẫn hai đứa con trai cầu nguyện trước tượng Đại Sĩ. Trong khoảnh khắc, đứa con út ngã lăn ra đất, [khi tỉnh lại kể: ‘Con thấy] có vị thần bảo: ‘Đây là điện Đại Sĩ’. Do vậy, rạp đầu lạy, nghe bên trong có tiếng hô: “Cho Đậu thần và đứa con út cùng vào”. Đậu thần hình dáng như đứa bé trai, dâng sổ lên, trên đó đã ghi ngày đó giờ đó sẽ chết. Đại Sĩ phê hai chữ Phóng Sanh vào sổ. Thần đi ra, có hai người đội mão nhọn, mấy trăm người mặc áo xanh, buồn bã hướng về phía đậu thần xin hãy che chở. Thần nói: “Đã phán!” Đứa con út tỉnh lại, bệnh đậu đã lành. Trước đó, vào buổi sáng, ông Đông ra cửa thấy có người bán ốc xanh ước chừng mấy trăm con, trong ấy có hai con ba ba, [động lòng] xót thương bèn mua đem thả. Vì thế, được quả báo này.

Theo Kiến Văn Lục, Trình Tư cùng anh em đi bẫy chim bồ câu, thấy có ba con. Anh em bắt đem đi, Kim Tư tức giận bèn ném chết hết. Đêm mộng thấy hai người mặc áo xanh đến bắt, Kim Tư bèn trốn vào cửa Đại Sĩ, thì Đại Sĩ đã nghiễm nhiên ở đó. Kim Tư kêu chưa giết người, người áo xanh bảo: “Ba con bồ câu tố cáo”. Kim Tư nói: “Con chim nhỏ nhoi sao đáng phải thường mạng?” Đại Sĩ dạy: “Xét về lý thì phải đền mạng, nhưng nghĩ ngươi nhỏ tuổi, có thể gia hạn, mười hai năm sau sẽ lại bắt”. Kim Tư tỉnh giấc, mười hai năm sau bèn chết đứng dưới chân cầu.

(3) Theo Thủ Nhất Trai Ký, Trần Thái Hòa đi thi Hương mắc bệnh, mộng thấy hai con mèo, ba con chuột, tám con ễnh ương đòi mạng. Họ Trần hứa tụng Tâm Kinh để siêu độ cho chúng. Có viên công sai nói: “[Để ta] bẩm lên quan rồi phúc đáp”. Về sau, lại mộng thấy công sai nói: “Thoạt đầu, Văn Xương Đế Quân bảo: ‘Trần mỗ đỗ Giải Nguyên[44] khoa này, sao lại bạo ác dường ấy. Nếu thoát khỏi phận dân hèn, há hắn chẳng tàn độc sanh linh ư? Cho hắn vào trường thi là đã khoan dung lắm rồi!’ Bổn quan lại bốn lượt thỉnh cầu ‘hắn đã sửa đổi’, Ngài bèn phán rằng: ‘Trời đất hiếu sanh, noãn, thai, thấp, hóa khác gì nhau! Thánh hiền ưa điều lành, há dung thói bạo tàn, xằng bậy!” [Ông Trần] bèn hứa tụng Tâm Kinh năm vạn quyển để siêu độ mười ba mạng oán cừu. Ấy là vì lúc nhỏ cậy là con quan, sai nô tỳ đánh mèo, chuột v.v… giống như kẻ tra hạch phạm nhân đến chết. Do vì lúc bé vô tâm phạm lỗi, chẳng ngờ trong cõi Âm giám sát nghiêm ngặt như thế ấy!

Theo Chuyển Kiếp Luân, đời Tống, Địch Tiếp vẽ hình Đại Sĩ, kiền thành cầu đảo có con. Vợ mộng thấy có bà lão mặc áo trắng tặng cho một đứa con, toan đỡ lấy, chợt có một con bò chặn ngang ở giữa. Đã sanh con nhưng không nuôi được. Người giải mộng bảo: “Hãy kiêng ăn thịt bò!” Ông Tiếp bèn lập thệ cả nhà ăn chay, lại dựng một cây cầu. [Vợ ông Tiếp] lại mộng thấy bà lão lần trước tặng cho đứa bé, bèn bồng lấy. Sanh con ra bèn đặt tên là Kiều. Ông Tiếp thọ chín mươi ba tuổi, các cháu đến nay vẫn còn đỗ đạt.

Theo Liễu Nhai Ngoại Biên, Phùng Như Kinh giữ chức Quán Sát[45] ở Tây Ninh, dẹp yên dân làm loạn, tướng quân muốn giết chết hết [những kẻ làm loạn]. Ông Kinh đem tánh mạng cả nhà mình ra bảo đảm, xin tội cho dân. Do vậy, quan chỉ giết vài người. Đến đêm mộng thấy Đại Sĩ giáng lâm, [bế] một đứa bé quấn trong cái địu thêu, bảo: “Ban cho ngươi”. Toan tiếp lấy, nhưng bị một con bò cản trở. Đại Sĩ bảo: “Cả nhà hãy nên kiêng thịt bò”, bèn phát nguyện chẳng ăn thịt bò, liền đỡ được đứa con. Đứa con sanh ra chính là quan Cấp Gián[46] Vân Tục.

(4) Mặc Khách Tục Huy Trì hễ thấy người ta giăng lưới, thả câu, bèn chí tâm tụng chú Yết Đế bảy biến, có thể khiến cho người ấy suốt ngày chẳng bắt được gì.

Theo Long Thư Tịnh Độ Văn, vào đời Đường, quan Quân Điển của Nhiêu Châu là Trịnh Lân chết rồi vào cõi âm. Tra sổ thì ra bắt lầm, bèn được thả về. Vua (Diêm La Vương) khuyên nhủ: “Ngươi sống lại hãy gắng sức làm lành. Thấy người khác sát sanh, chỉ nhất tâm niệm A Di Đà Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát thì con vật ấy được thọ sanh mà ngươi cũng được phước”.

2.2.2.5. Thoát hành hình

1. Bèn có: Quách Tuyên cảm mộng, tự biết mình mạng lớn chẳng lo. Vương Hãn chịu ơn, hối trót cười mê muội dị đoan.

2. Đổng Hùng hai lượt tuột xiềng, chốt khóa vẫn còn nguyên. Trương Sướng bị cùm chặt hơn, gông gãy tan từng tấc.

3. Bạch hạc lượn quanh Tử Kiều, phảng phất điềm lành thời Viêm Hán. Nhặng xanh cứu chàng buôn gạo, càng tỏ sự lạ triều Phù Tần.

4. Tượng đúc chùa Ngõa Quan tự giáng lâm xoa đầu; nhốt trong ngục Tấn Dương, nhờ Phổ Môn được cứu.

5. Đậu Truyền được Ngài che chở, nhìn đồng bọn khóc cười. Bà Trương đêm trường bôn tẩu, quỳ dài gặp gỡ chồng.

6. Tăng Bao thương sáu tên cướp, thuyết pháp, gông cùm tự tháo. Tăng Lãng suất lãnh đồng môn, xưng danh, dập đầu trên đá.

7. Thỉnh Tăng lễ tụng Phổ Môn, Khả Minh hiện điềm lành sắc lạ. Cai trị nhân từ khoan dung, Thúc Đạt nhận phẩm kinh Quang Minh.

8. Từ Nghĩa giật mình tỉnh mộng, tóc gỡ, thân tự do. Cái Hộ được quang minh chiếu tới, cửa mở, thoát gông xiềng.

9. Chú gây liên lụy, xiềng ông Vi như đá nổ tan. Khổ bởi tham quan, gông ông Khuê chân cầu tự tháo.

10. Tăng Minh bị vu báng, dây trói lỏng dần. Trương Đạt tự sửa mình, gông không còng được.

11. Tâm Kinh ngầm gia hộ, ấm lòng cô trung quan Cấp Gián. Thiền Định chẳng thương tổn, chàng Hiếu Liêm gột sạch tiếng oan.

12. Tăng Quang bị giam trong ngục, chiêm ngưỡng tôn dung, thoát ngục. Ngự Sử bị đày làm lính, có hy vọng trở về.

13. Nguyện xả ác hướng lành, hãy phát tâm nối gót Cao Tuân. Thoát tội, làm công đức, chớ trái nguyện giống như Xử Mậu. Đấy là sự cứu khổ thứ năm của Đại Sĩ vậy.

(1) Theo Biện Chánh Luận, đời Tấn, Quách Tuyên, Văn Xử Mậu và Dương Thâu Kính là bạn bè với nhau. Ông Kính phạm tội khiến cho ông Tuyên và ông Mậu cũng bị cùm. Ông Tuyên niệm Quán Thế Âm, mười ngày sau, mộng thấy Bồ Tát an ủi, bảo “mạng lớn, chẳng lo”. Trong khoảnh khắc, gông cùm tự gỡ, đeo vào lại tuột ra. Ba người phát nguyện nếu thoát tội, ai nấy sẽ bỏ ra mười vạn đồng làm công đức. Không lâu sau cả ba đều được tha.

Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Đường, Vương Hãn và Đổng Hùng cùng bị hạ ngục. Thoạt đầu, ông Hãn không tin Phật, bà vợ tụng kinh, ông bèn cười rằng: “Sao lại dị đoan mê muội thế?” Đến khi thấy Đổng Hùng tụng phẩm Phổ Môn, xiềng tự tháo gỡ, mới biết Phật lực rộng lớn, hối trách sâu xa đã phạm lỗi chẳng tin, kiền thành niệm danh hiệu tám vị Bồ Tát, đủ số ba vạn, xiềng cũng tự tháo gỡ chẳng khác gì ông Hùng. Khi ấy, trong ngoài ngục nghe chuyện đều lấy làm lạ. Những tù nhân cùng bị nhốt đều được thoát tội.

(2) Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Đường, trong niên hiệu Trinh Quán, Đổng Hùng làm Đại Lý Thừa[47], thờ Phật, ăn chay từ bé, do dính vào chuyện của Lý Tiên Đồng bèn cùng với mười mấy người như Vương Hãn v.v… đều bị tống vào ngục. Ông Hùng chuyên niệm phẩm Phổ Môn, xiềng tự tuột ra rớt trên đất, nhưng chốt khóa vẫn chưa mở. [Cai ngục] liền báo với Ngự Sử  Trương Thủ Nhất đến xem xét, [ông Trương] kinh ngạc một lúc lâu, rồi khóa chặt, niêm phong, bỏ đi. Ông Hùng vẫn tụng niệm, xiềng lại tuột ra, rớt xuống đất vang ra tiếng, dấu niêm phong vẫn như cũ. Nhờ đó, những người cùng bị nhốt đều được thả.

Theo sách Đàm Tẩu, đời Tống, Trương Sướng thường phụng trì Quán Âm. Do không theo Nam Tiếu Vương dấy loạn, bị Vương giam vào ngục, bèn tụng Quán Âm Kinh ngàn biến, xiềng gãy thành từng tấc. Cai ngục thay xiềng mới lại bị gãy, ông bèn được thả.

(3) Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Tề, Bành Tử Kiều hằng ngày tụng Quán Thế Âm Kinh. Đầu niên hiệu Kiến Nguyên, bị bắt, Thái Thú Trầm Văn Long muốn giết chết, giam cùm, canh giữ thật nghiêm ngặt. Ông Kiều tụng niệm hồi lâu mệt mỏi ngủ thiếp đi. Mọi người thấy con hạc trắng bay đến bên ông Kiều, trông phảng phất như một người xinh đẹp, gông cùm của ông Kiều liền tuột ra, rồi riêng mình ông ta được thả.

Theo Hán Thư, vua xuống chiếu rằng: “Trẫm tuần du biên giới phương Bắc, thấy bầy hạc đậu tại đây và thấy cảnh sắc tươi sáng, liền xá tội cho thiên hạ”.

Về chuyện nhặng xanh, xin hãy xem lời chú thứ 10 trong đoạn thứ nhất của phần “khỏi bị giết chóc”. Đời Tần, Phù Kiên ban chỉ xá tội, Vương Mãnh dâng bút mực, có con nhặng xanh to kêu vo vo rất lớn, bám vào đầu bút, đuổi đi nó lại bám vào. Trong khoảnh khắc, ở Trường An có đứa bé áo xanh kêu lên ở chợ, bảo là “triều đình đã hạ lệnh ân xá”.

(4) Theo Biện Chánh Luận, vào đời Tấn, có vị Tăng tên Pháp Hồng sống ở chùa Ngõa Quan, lén đúc một tượng vàng trượng sáu. Khi ấy, do quan cấm đúc kim loại nên Pháp Hồng bị tống giam. Pháp Hồng chí tâm niệm Quán Âm, mộng thấy bức tượng do chính mình đã đúc vào trong ngục, xoa đỉnh đầu, bảo: “Đừng lo, sẽ thoát khỏi tai ách”. Trước ngực tượng ấy phóng ra ánh sáng [chiếu xa] trong khoảng một thước vuông, rực rỡ như màu đồng. Trong vòng mười ngày, Sư bèn được thả. Phá khuôn ra, thấy tượng ấy giống hệt như bức tượng chính mình đã nằm mộng thấy.

Theo Pháp Hoa Cảm Thông, đời Ngụy, Lô Cảnh Dũ bị bắt giam vào ngục ở Tấn Dương. Ông Lô chí tâm tụng phẩm Phổ Môn, trong khoảnh khắc tự thoát khỏi gông, riêng ông được tha.

Lại nữa, theo Cao Tăng Truyện tập 4, đời Thanh, Thư Trinh do gây hiềm khích với Phòng Biện, mấy lượt mắc họa ương lạ lùng. Do hằng ngày trì tụng Phổ Môn Phẩm và Đại Bi Chú nên những cạm bẫy đều thoát khỏi.

(5) Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Tấn, Đậu Truyền làm thuộc hạ của Cao Xương, bị Lã Hộ Phù bắt giữ, đem giam trong ngục với bảy người đồng bạn, chờ ngày xử chém. Ông Truyền chuyên tâm niệm Quán Thế Âm suốt ba ngày đêm, xiềng gông gãy nát, rời khỏi thân. Ông Truyền nói: “Nay con được Bồ Tát xót thương che chở, nhưng đồng bạn còn nhiều, nỡ nào bỏ đi một mình? Mong Đại Sĩ hãy cứu vớt trọn hết”. Nói xong, kéo đẩy các bạn tù, họ đều lần lượt thoát khỏi xiềng, bèn thừa dịp ban đêm mở cửa trốn đi.

Sách Châu Dịch có câu: “Đồng nhân, tiên hiệu đào nhi hậu tiếu” (Quẻ Đồng Nhân, trước khóc lóc sau cười)[48].

Theo Minh Tường Ký, đời Tống, do giặc phao tin đồn Trương Hưng đã đầu hàng, vợ ông ta bị [triều đình nhà Tống] bắt giam vào ngục. Bà vợ hằng ngày niệm kinh Quán Thế Âm. Mười mấy hôm sau, mộng thấy một vị Tăng lay dậy, thì gông cùm, xiềng xích đều đã tuột cả rồi, nhưng do cửa bị khóa không thoát ra được, bèn tự đeo cùm vào, nằm ngủ tiếp. Lại mộng thấy có người kêu: “Cửa mở rồi đó”, liền thức dậy chạy ra. Giữa đêm đen, thảng thốt va phải một người, bà ta kinh hoảng khụy xuống đất. Hỏi ra thì chính là chồng. Nâng nhau dậy, buồn vui lẫn lộn, đều cùng được miễn tội. Thơ cổ: “Trường quỵ vấn cố phu” (Quỳ dài hỏi chồng cũ).

(6) Theo Cao Tăng Truyện, tập đầu, vào đời Tống, Tăng Bao đi đường thấy sáu tên cướp sắp bị tru lục, Sư bèn thuyết pháp cho chúng, khuyên hãy niệm Quán Âm. Bọn cướp đang lúc gặp nguy, bèn niệm niệm khẩn thiết. Trong chốc lát, người áp tải uống rượu say mèm, bọn cướp liền tháo gông bỏ trốn.

Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, vào đời Ngụy, Tăng Lãng bị cướp bắt, nhốt trong trướng [nơi sơn trại]. Tăng Lãng và bạn đồng học muốn trốn, nhưng bọn chúng canh phòng nghiêm ngặt, không chạy đâu được. Phía Đông, phía Tây, vách núi cao ngất, chẳng biết nông sâu ra sao. Có cái cây to nghiêng mình bên vách đá, liền buộc thang dây dưới thân cây. Khi đó, trời tối âm u, dưới đáy vực thuần là gai góc, không chỗ đặt chân. Sư nắm giây treo mình lơ lửng, nói: “Nguy đến nơi rồi, chỉ niệm Quán Âm mà thôi!” Lấy đầu cụng vào đá để niệm, trong khoảnh khắc ánh sáng chiếu khắp trời đất, thấy trong rừng gai có chỗ đặt chân được. Xuống đến đất, trời lại tối om. Chợt có con cọp to xuất hiện trước mặt, mọi người đều sợ phải vào miệng cọp. Tăng Lãng nói: “Bọn ta đã cảm được ánh sáng hiện ra thì con hổ này chẳng phải là do thánh nhân sai tới chỉ lối hay sao? Hãy mau đi theo hổ!” Đi được một chút, hổ cũng tạm ngừng bước. Đến sáng, tìm được đường thì hổ cũng biến đâu mất.

(7) Theo Từ Lâm Tập, vào đời Thanh, con một nhà giàu vùng Đông Hoàn là Hoàng Khả Minh bị giặc bắt được, đem về sào huyệt, trói ngay vào cánh cửa, sai vợ hắn canh giữ. Nhà ông Minh thỉnh tăng lễ tụng phẩm Phổ Môn. Đêm ấy, nơi thân ông Minh có ánh sáng tốt lành, màu sắc lạ lùng, thầm biết là được sự che chở thần dị. Đợi đến khi vợ tên cướp mò sang hàng xóm, [ông Minh] bèn cõng cả cánh cửa bỏ trốn, gặp được tiều phu phá giùm cánh cửa, cởi xiềng, thoát về.

Theo Pháp Uyển Châu Lâm, đời Tống, Vương Cầu tự là Thúc Đạt, làm Thái Thú xứ Phù Lăng, do để mất quận hạt nên bị tống vào ngục. Ông Cầu tin Phật, yêu dân, chia sẻ thức ăn cho bạn tù. Lại chí tâm niệm Quán Âm, đêm mộng thấy lên tòa cao, một vị Tăng trao cho cuốn kinh, đề tên là Quang Minh Án Hành Phẩm, trong ấy có tên các vị Bồ Tát, vị thứ hai là Quán Âm, vị thứ ba là Thế Chí. Tỉnh giấc, xiềng tự gãy, ba ngày sau được tha.

(8) Theo Minh Tường Ký, đời Tấn, Từ Nghĩa bị Mộ Dung Vĩnh bắt, chôn ngập hai chân, buộc tóc vào cây. Ông Nghĩa chuyên niệm Quán Âm, đêm mộng thấy có người bảo: “Sự đã gấp lắm rồi, còn thảnh thơi ngủ nghê hay sao?” Giật mình tỉnh dậy, tay lẫn chân tóc đã được gỡ ra, chân cũng được tự do, bèn trốn đi.

Cái Hộ là người Sơn Dương, bị giam sắp chết, xưng niệm Quán Thế Âm suốt ba ngày ba đêm không gián đoạn, thấy Đại Sĩ phóng quang chiếu soi, xiềng tuột, cửa mở, liền được thả ra.

(9) Trong đời Lưu Tống, chú của Hàn Vi giữ việc binh ở phủ Tương. Trưởng Sứ đất Tương nghi ngờ người chú phản nghịch, bèn giết chết người chú, giam Vi vào ngục, kìm kẹp, gông cùm rất nghiêm ngặt. Ông Vi tụng Quán Âm Kinh đến mấy trăm biến, xiềng chợt vang ra tiếng nghe như tiếng đá bị nung vỡ ra, hư nát, tự rớt xuống. [Cai ngục] báo lên Trưởng Sứ, bèn cho đóng thêm nẹp đinh thật chặt. Ông Vi lại tụng kinh, xiềng lại vang ra tiếng rồi tuột ra giống như trước. Do vậy, Trưởng Sứ bèn thả đi.

Theo Tập Dị Ký, nhằm thời Thiên Bảo đời Đường, Thành Khuê lo liệu việc dựng cầu ở Hà Nam, bị gió thổi bay mất. Quan đứng đầu châu ấy nghi ông Khuê trộm [vật liệu xây dựng đem] bán, sai Dương Cẩn bắt ông Khuê. Họ Dương đòi ăn hối lộ không được, bèn tra khảo tàn tệ, gông xiềng chặt chẽ, cột ở bến thuyền. Ông Khuê niệm Cứu Khổ Quán Thế Âm Bồ Tát, mười mấy ngày sau, gông xiềng tự tuột. Đến đêm, ông Khuê nhổ đinh, nhảy xuống nước trốn.

(10) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, vào đời Ngụy, Tăng Minh làm chủ chùa Thạch Quật ở Bắc Đài. Khi ấy, vua Ngụy thường ngờ tăng nhân là giặc, bắt mấy trăm tăng nhân giam cầm, bảo Tăng Minh là đầu lãnh, càng trói chặt hơn nữa, đợi sáng ra sẽ chém. Tăng Minh nhất tâm niệm Quán Âm, đến nửa đêm dây lỏng ra, đến sáng dây đứt tung, liền trốn đi. Cai ngục tâu lên, vua thả cả bọn.

Theo Thái Bình Quảng Ký, Trương Đạt có tội, bị giam, bị phân xử đáng tội chết, bèn chuyên niệm Quán Âm, gông xiềng tự tuột ra, liền được tha, bèn suốt đời ăn chay giữ giới.

(11) Theo Ngư Sơn Thặng Cảo, vào đời Minh, Hùng Ngư Sơn làm quan Cấp Gián, do khắc tác phẩm của Châu Đình Nho[49] nên bị giam trong ngục Cẩm Y[50]. Trong ngục, ông đem Phật pháp cảm hóa bạn tù, lễ tụng không thiếu sót. Lại giảng Tâm Kinh cho bạn tù, chép lại Tâm Kinh để lưu truyền. Lúc bị phạt trượng, ông thầm tụng bảo hiệu (danh hiệu quý báu) của Đại Sĩ, không bị nát thịt, chảy máu, chẳng thấy đau đớn, biết là được Đại Sĩ ngầm che chở.

Theo Trì Nghiệm Ký, Hiếu Liêm Ngu Thứ Nhan đã thờ Đại Sĩ từ trước, mỗi sáng lễ Đại Bi Sám, tụng kinh Kim Cang. Lại còn khắc Quán Âm Kinh đem tặng, khuyên người khác trì tụng để tránh tai kiếp. Về sau, bị kẻ thù vu hãm, đưa về giam trong ngục Giang Ninh. Thứ Nhan thầm trì kinh sám, tuy nếm đủ mùi thảm độc mà như nhập Thiền Định, lại được rửa oan.

(12) Đời Thanh, Châu Tăng Quang bị giam vào ngục, mộng thấy Bạch Y Đại Sĩ truyền dạy bài chú, niệm một vạn hai ngàn biến, in một ngàn hai trăm quyển, được thả.

Theo Kính Tín Lục, Thị Ngự Châu Kế Khanh ở Sơn Tả bị đày làm lính thú ở Hòa Lâm[51], mộng thấy Đại Sĩ truyền dạy chú Bạch Y, bảo niệm một vạn hai ngàn biến và khắc in lưu truyền, sẽ được vua cho trở về. Kế Khanh vâng lời, làm theo, được tha tội cho trở về.

(13) Theo Tuyên Nghiệm Ký, Cao Tuân giết người, bị bắt, xiềng dưới hầm. Người cùng bị giam khuyên hãy niệm Quán Âm, Tuân nói: “Tội tôi rất nặng, làm sao thoát?” Người kia tận lực khuyên, Tuân bèn phát tâm bỏ ác làm lành, chuyên niệm danh hiệu Quán Âm, dụng tâm thành khẩn, xiềng tự tháo.

Theo Biện Chánh Luận, vào đời Tấn, Văn Xử Mậu đã cùng Quách Tuyên phát nguyện sau khi thoát tội sẽ bỏ ra mười vạn đồng làm công đức. Về sau, xiềng tuột, được tha; ông Tuyên đã làm tròn lời nguyện, còn ông Mậu trái lời thề, chẳng làm. Đến khi Lô Tuần[52] hưng binh, ông Mậu bị trúng tên, bèn nói: “Ta phạm tội nặng”. Nói xong bèn chết.

2.2.2.5. Lành bệnh

1. Bèn có: Giới Hiền thọ ký, hiện sắc biếc như chất lưu ly. Xử Bá quy y, thấy thể chất dường như vàng rọi.

2. Như Am, Thùy Kế được tưới cam lộ nhiều phen. Ứng Cát, Cánh Lăng, cùng hưởng đề hồ rưới đảnh.

3. Huệ Cung trọn kính, gà bèn chặn mèo. Đàm Dĩnh thành tâm, rắn đến nuốt chuột.

4. Hai lượt gọi tên Hoằng Nguyên, Bạch Y hiện thân. Ba phen xoa thân Huyền Tảo, tượng vàng chợt tới.

5. Sanh bệnh phù chân, chuột gặm đùi Vô Lậu. Họa khởi Trầm, Thai, họ Lý mộng thấy trâu.

6. Thịnh Minh đau bụng, nhức đầu, thần châm khỏi bệnh. Vương tử ung nhọt lở loét, tự hưởng cối thuốc.

7. Miệng sùi dãi trắng, Pháp Thông mộng xơi gân lạc đà, đảnh phóng tia chớp, Tào Ngọc trừ hết sạch trùng lao.

8. Thệ nguyện, nhọt thịt liền trừ, dán kinh, họng tiêu bướu thịt.

9. Được hiện tướng, Trí Đàn lành bệnh trầm kha; do xả thân, Dã Mục chẳng cần uống thuốc.

10. Phan mẫu, ông Vu, cùng được ban linh dược; bà Tiết, bà Trầm, cùng được thí thần thang.

11. Bà Bành thắp tâm hương, [thân] nhẹ như lá táo; bà Trần trừ nghiệp chướng, cành hoa sen khẽ phẩy.

12. Trừ bệnh phong, khỏi sốt rét, đâu cần khoe “văn chương hữu thần”. Mổ toang bụng, rửa sạch ruột, tự sẵn có thần cao bôi đắp (tổng cộng ba đoạn).

(1) Theo Đường Tam Tạng Truyện, ngài Chánh Pháp Tạng Giới Hiền thuộc chùa Na Lan Đà ở Ấn Độ bị bệnh phong. Mỗi lần lên cơn, chân tay co quắp, đau đớn như lửa đốt, dao cắt, muốn nhịn ăn để chết. Sư mộng thấy có ba người: Một người sắc vàng ròng, một người màu lưu ly, một người màu bạch ngân, bảo: “Trong quá khứ, ông từng làm quốc vương, nhiều phen não hại chúng sanh, cho nên hứng chịu quả báo này. Hãy nên chí thành sám hối, siêng năng tuyên giảng kinh luận, bệnh sẽ tự tiêu diệt”. Người sắc vàng chỉ người sắc biếc nói: “Đây là Quán Thế Âm, người sắc bạc là Từ Thị”, tự bảo mình là Văn Thù, cho biết sẽ có vị Tăng Trung Hoa đến đây, “ông hãy nên dạy dỗ”. Ngài Giới Hiền thưa “xin vâng lời dạy”, từ đấy lành bệnh.

Theo Minh Tường Ký, đời Tống, Mã Xử Bá tin Phật pháp từ bé. Trong niên hiệu Nguyên Gia, mộng thấy ba người ở lưng trời, cao hơn hai trượng, dáng vẻ nghiêm trang, đứng trên mây nhìn xuống, các thứ âm nhạc cõi trời vang rền hư không. Về sau, bị bệnh ngặt nghèo, nhìn xa xa thấy phương Tây có ba người đi, cao hơn hai trượng. Đằng trước là một người mặc áo kép, tóc mai buông rủ, đảnh đầu có hào quang. Hai người phía sau tư chất như vàng chói lọi, dáng vẻ trang nghiêm, chính là ba vị thánh đã từng thấy trong mộng trước kia, liền khỏi bệnh.

Theo Sơn Am Tạp Lục, vào đời Minh, vị sư giữ chức Liêu Nguyên tên là Chiếu ở chùa Thiên Đồng, mắc bệnh ngặt trong niên hiệu Hồng Vũ, hằng ngày niệm thánh hiệu Quán Âm một vạn tiếng. Sau đấy, tự nghĩ: “Chẳng bao lâu nữa ta sẽ chết, sao bằng đổi sang trì niệm danh hiệu A Di Đà Phật”. Vừa mới khởi lên ý niệm ấy, chợt thấy một phụ nữ xinh đẹp, mặc áo lục thù[53], cầm tịnh bình, từ ngoài cửa bước vào; sư Chiếu kinh hãi không biết làm thế nào. Lắng lòng nhìn kỹ thì chính là Bồ Tát hiện tướng, sư Chiếu khóc lóc cầu xin thương xót, liền chẳng thấy nữa. Năm ngày sau hoàn toàn khỏi bệnh.

(2) Theo Cao Tăng Truyện, tập 4, vào đời Nguyên, Chân Tịnh tự là Như Am, bị bệnh khổ, mộng thấy Bạch Y Đại Sĩ cầm bình rót nước vào miệng, bảo: “Lành bệnh!”

Theo Trì Nghiệm Ký, vào đời Minh, vị tăng tên Thùy Kế bị đau sườn, chẳng thể ăn uống đã hơn một tháng. Có người bảo: “Sư thường khuyên người khác niệm Quán Âm hòng cứu khổ, nay sao chẳng tự niệm”. Đang mê mệt, Sư nghe nói bèn tỉnh ngay, vội vàng chuẩn bị đèn hương, lớn tiếng trì danh hiệu Đại Sĩ không ngừng. Đến canh tư nghe im tiếng, mọi người sợ Sư đã tắt hơi, đến xem, thấy đang ngủ li bì. Trưa hôm sau đòi ăn, có thể đứng dậy đi lại được. Mọi người hỏi sao lành bệnh nhanh thế? Sư đáp: “Lúc mới xưng danh, bèn đau như cắt. Lâu sau, trên không trung hiện ra đám mây lành, Đại Sĩ lấy cam lộ trong bình rưới lên đỉnh đầu tôi, mát mẻ thấm tận tim gan, bệnh liền khỏi hẳn”.

Trong bài Linh Giới Sát Trung Ngôn của bộ Vương Ứng Cát Bút Ký, cho biết: “Trong thời Vạn Lịch nhà Minh, Cát phụng mạng đi sứ, tiện đường trở về quê, chợt bị bệnh nặng, hoảng hốt sai người khiêng tôi đi. Chợt rơi xuống nước, thấy các loài có vảy, có mai ở trước mặt, tự nghĩ trước kia ta ăn những thứ này nên nay gặp nạn. Chợt có người đỡ lên bờ, thấy Đại Sĩ ngồi dựa vào vách đá, Thiện Tài, Long Nữ đứng hai bên. Tôi khấu bái, Đại Sĩ dạy: ‘Ngươi vốn là thiện tri thức chuyển thân, dốc lòng thành kính thờ ta. Nay vì sát sanh nên bị bệnh này. Nếu kiêng giết sẽ lành’. Tôi kính cẩn, vâng theo lời dạy. Đại Sĩ ban Đề Hồ, màu vàng pha biếc. Uống vào vị trong ngần, bèn tỉnh giấc. Hương thừa vẫn còn đọng trên môi mép. Dần dần lành bệnh, bèn kiêng giết, quy y”.

Theo Biện Chánh Luận, Cánh Lăng Vương đời Tề tin nội điển[54], bị bệnh nhiệt sắp chết, mộng thấy Đại Sĩ đích thân rưới nước thần bèn lành bệnh.

(3) Theo Báo Ứng Lục, vị tăng đời Nguyên là Huệ Cung bị bệnh bao tử, không ăn uống được. Đêm mộng thấy một con mèo chui vào bụng, bệnh ngày càng nặng, thèm ăn cá. Tự biết là nghiệp báo, phát tâm niệm thánh hiệu Đại Sĩ trăm vạn câu, hằng ngày trì chú Đại Bi 108 biến. Về sau, mộng thấy đồng tử áo xanh xách giỏ đựng một con gà tới, con mèo bèn từ miệng sư Huệ Cung vọt ra. Sư kinh hãi tỉnh giấc thì đã lành bệnh.

Theo Cao Tăng Truyện, tập 1, ngài Đàm Dĩnh đời Tống bị bệnh ghẻ, lễ Quán Âm cầu lành bệnh. Một hôm có con rắn bò men theo vách trèo lên nóc. Trong khoảnh khắc có một con chuột rớt xuống, sùi bọt đầy thân. Sư trước kia đã từng nghe nói những con chuột bị rắn nuốt có thể trị lành ghẻ lở, bèn gạt lấy bọt xoa lên ghẻ, con chuột xoay mình chạy trốn. Qua hôm sau bệnh liền lành, mới biết rắn và chuột ấy đều là lòng thành cầu đảo cảm nên. Do vậy, nổi danh xa gần, được quốc vương cúng dường.

(4) Theo Cảm Ứng Thiên Chú, Trương Hoằng Nguyên mộng thấy thần bảo: “Ngươi có thiện căn nhưng phước lực cạn, hãy nên tu đức, tập tánh hiền lành”. Do vậy, bèn quy y Đại Sĩ, và ghi chú đại lược bộ Cảm Ứng Thiên đem khắc in. Chợt mắc phải căn bệnh lạ, thấy có người áo trắng vén màn, kêu tên mình hai lượt, bệnh liền khỏi ngay, mới biết là Đại Sĩ hóa thân.

Theo Tỳ Kheo Ni Truyện, vào đời Tống, ni sư Huyền Tảo thuở nhỏ bị bệnh nặng, không sao chữa được, bèn bày tượng Đại Sĩ, trai giới thanh khiết, lễ bái, chuyên niệm liên tục. Sau bảy ngày, thấy tượng vàng cao chừng một thước, ba lượt xoa trên thân ni sư từ đầu đến chân, liền cảm thấy căn bệnh trầm kha khỏi hẳn, bèn xuất gia.

(5) Theo Cao Tăng Truyện, tập 3, sư Vô Lậu đời Đường, là vương tử xứ Tân La, từ Trung Quốc đến Thông Lãnh[55], nghe trong chùa có tượng Quán Âm, cầu đảo không điều gì chẳng ứng nghiệm. Sư bèn đứng trước tượng, thề nhập Định bốn mươi chín ngày. Chưa hết hạn, thân đã mắc bệnh hư thũng[56]. Chợt có con chuột to bằng viên đạn, cắn vào bắp chân, mủ chảy ra chừng một đấu, bèn lành bệnh.

Tả Truyện có câu: “Dân sầu tắc điệp ải, ư thị hồ hữu trầm nịch, trọng trùy chi tật” (Dân buồn bã sẽ gầy mòn, héo hon, do vậy, bèn có những chứng bệnh nặng nề, phù chân). Chú thích: “Trọng trùy” (重膇) là phù chân.

Đời Tống, Lý Thương Lão do sửa chữa mà cuộc đất bị xung phạm, cả nhà mắc bệnh thũng, bèn cầu khấn Đại Sĩ, tụng chú Tiêu Tai suốt bảy ngày, mộng thấy người mặc áo trắng cưỡi trâu đi, ngày hôm sau [cả nhà] đều khỏi bệnh.

Theo Tả Truyện, Thúc Hướng hỏi Tử Sản[57]: “Quả quân[58] tật bệnh, bói được quẻ: ‘Thật Trầm, Đài Thai tác quái’, dám hỏi ngài, Trầm, Thai là thần nào vậy?” Tử Sản đáp: “Thật Trầm là thần sông Sâm, Đài Thai là thần sông Phần. Như thân vua bệnh là do ra vào, ăn uống, vui buồn mà ra, chứ thần núi, sông, tinh tú há làm gì được?”

(6) Theo Miễn Giới Thiết Yếu, Dương Thịnh Minh thích làm lành, chuộng bố thí, lại càng khăng khăng ngưỡng mộ Quán Âm Đại Sĩ. Chợt bị bệnh trướng, bụng nổi gân xanh, châm cứu, thuốc thang đủ mọi cách vẫn vô hiệu. Chợt mộng thấy một bà tiên già, tay cầm một cái kim nói: “Bệnh ngươi khó khỏe lắm, để ta thay ngươi trừ đi”. Bà dùng kim chọc từ bụng dần dần cho đến ót, cổ, dường như cắt từng đoạn, [ông Dương] gào lên đau đớn, tỉnh giấc. Sáng ra, gân xanh biến mất, lành bệnh.

Sách Lã Thị Xuân Thu có câu: “Thân tận phủ chủng” (Khắp cả thân đau bụng, đau đầu). Chú thích: Phủ (府) là đau bụng, Chủng (種) là đau đầu.

Theo Cảm Ứng Truyện, đời Tề, Kiến An Vương bị ghẻ lở, niệm Quán Âm không ngừng. Đêm mộng thấy Đại Sĩ chính tay đắp thuốc cho. Sáng hôm sau liền khỏi bệnh.

Trong lời tựa của bộ Quỷ Di Phương (những toa thuốc do quỷ truyền lại) có ghi: Lưu Quyên Tử bắn trúng một vật, chợt không thấy đâu. Tìm theo dấu đến núi, nghe có tiếng giã thuốc. [Ông Lưu bước tới], có ba người bỏ chạy để lại toa thuốc trị bệnh ung loét và một cối thuốc; do vậy, soạn ra sách Quỷ Di Phương gồm mười quyển.

(7) Theo Cao Tăng Truyện, tập 2, sư Pháp Thông đời Đường cực yếu đuối, chuyên niệm Quán Âm. Về nhà, thân cận mẹ, một đêm nằm ngủ, trong miệng ọc ra ba thưng dãi trắng. Mẹ kinh hãi, hỏi vì sao. Đáp: Con mộng thấy có người tặng cho ba sợi gân lạc đà, vừa mới ăn một sợi, liền bị lay tỉnh. Thân bèn khỏe mạnh. Từ Nam Sơn đội cái cối đá nặng hơn năm trăm cân đến chùa mình ở kinh đô để cúng dường cho Tăng chúng sử dụng.

Đời Nam Tề, Tào Giác xuất gia từ bé. Về sau, do trong nhà nhiều đời bị bệnh truyền thi[59] [mất sớm], không ai thờ phụng [tổ tông] bèn hoàn tục. Sau đấy, ông ta cũng bị bệnh nguy cấp, tụng chú Đại Bi đến một vạn biến, cảm thấy ba con trùng từ trong thân bò ra. Trên đỉnh đầu tỏa chớp, ba con trùng chạy trốn.

(8) Theo Kính Tín Lục, vào đời Gia Khánh nhà Thanh, Ngô Cơ cổ họng chợt sanh bướu thịt, châm, khêu càng nguy kịch hơn, dần dần [cái bướu] to bằng trứng chim sẻ, ăn uống rất khổ. Ông ta bèn nguyện khắc thí một ngàn hai trăm quyển kinh Cao Vương và quỳ tụng suốt ba năm. Tụng chưa đầy một trăm biến, bướu thịt tự rụng.

Lại nữa, theo Cao Tăng Truyện, tập 2, đời Đường, sư Thích Tĩnh Chi chùa Tây Minh lúc nhỏ mũi bị nghẹt vì bướu thịt, chữa trị trăm cách vô hiệu. Về sau, tụng Tâm Kinh năm ngàn biến, bướu thịt liền rụng.

Theo Từ Lâm Tập, vào thời Khang Hy nhà Thanh, con dâu ông Đặng Thừa Chiếu ở Quảng Đông là Hoàng Thị trong họng sanh ra hai bướu thịt, ăn uống khó khăn. Mời thầy phá bướu, sưng phồng, đau đớn càng dữ, tính mạng kể trong sáng chiều. [Ông Đặng] bèn dạy cô ta niệm mười câu kinh do Đại Sĩ đã truyền dạy trong giấc mộng và dán kinh bên giường. Người bệnh ban đêm thấy những chữ ấy to cả tấc, nửa đêm vết thương lành miệng, nói: “Tôi lành bệnh rồi!” Xin nước súc miệng, lễ Đại Sĩ, bình phục như cũ.

(9) Theo Cao Tăng Truyện, tập 4, vào đời Thanh, Trí Đàn mắc bệnh nhiệt, cảm Đại Sĩ hiện tướng, quỳ mọp lễ bái liền lành bệnh.

Lại nữa, vào đời Thanh, Hồng Kiến tự là Dã Mục, sanh được ba ngày, mẹ mộng thấy con nói: “Con sanh lầm vào nhà mẹ, ý muốn bỏ đi”. Mẹ kinh hãi tỉnh giấc, thấy quả nhiên con đã sanh bệnh, không bú sữa. Mẹ cầu đảo Đại Sĩ, nguyện cho con làm Tăng, không thuốc thang mà tự lành.

(10) Vào đời Minh, mẹ ông Hoàng Nham Phan trì Quán Âm Trai, bệnh tình sắp nguy ngập, mộng thấy có người áo trắng cho một hoàn thuốc, liền lành bệnh.

Theo Nam Hải Từ Hàng, Vu Ngọc Giai ở Tiền Đường vào niên hiệu Sùng Trinh bị bệnh gần chết, mộng thấy Đại Sĩ trao cho linh dược, ngũ tạng thanh lương, bệnh lành, ngồi dậy được.

Lại theo Cao Tăng Truyện, tập 4, ngài Đạo Siêu đời Minh bị bệnh lao nguy ngập, cầu đảo Quán Âm, mộng thấy có người áo trắng trao cho hoàn thuốc màu đỏ bảo nuốt. Ngày hôm sau có cụ già đến, chữa trị liền lành.

Đời Tống, ở Giang Lăng có ông Tiết Quán Âm Nô, do kính thờ Đại Sĩ mà mang tên ấy, hằng ngày tụng tôn kinh không thiếu sót. Bà vợ bị bệnh, chữa trị trăm cách vô hiệu, đêm mộng thấy một phụ nữ áo trắng bảo: “Chồng người kiền thành, khẩn thiết nên trừ được túc nghiệp” rồi cho uống nước trong bình, miệng thoảng mùi hương lạ, bệnh liền lành.

Theo Linh Cảm Phú, vào đời Thanh, vợ ông Trầm Khởi Tiềm là Hồ Thị, vợ chồng ăn chay trường thờ Phật. Trong thời Gia Khánh, bà Hồ bị bệnh lỵ, tánh mạng đếm từng hơi thở. Mộng thấy một bà cụ cầm một chén nước, bảo: “Ta là Quán Âm. Do ngươi rất kiền thành, nên đem cam lộ cho ngươi, uống vào sẽ hết bệnh”. Tỉnh giấc, miệng vẫn còn mùi hương, dần dần lành bệnh.

Lại nữa, theo Cao Tăng Truyện, tập 4, vào đời Thanh, Minh Trí bị bệnh gần như không bò dậy được, lễ danh hiệu Đại Sĩ, sáng tối không gián đoạn. Lâu ngày, mộng thấy có người áo trắng ban cho một chén nước sạch. Uống vào, trong khoảnh khắc cảm thấy thân tâm thanh lương.

(11) Theo Nhất Hạnh Cư Tập, vào đời Thanh, vợ Bành Hy Tăng là Diêu Thị bụng nổi báng bèn phát tâm trì chú Đại Bi. Một đêm nọ, mộng thấy một bà lão trao cho một cành hoa bèn vui vẻ nhận lấy, chợt cảm thấy thân nhẹ như chiếc lá, bệnh liền khỏi. Diêu Thị làm thơ như sau: “Toan hướng Không Vương sám túc khiên, tâm hương sớm kết Lạc Ca duyên”.

Theo Ấn Quang Văn Sao, vợ ông Trần Tích Châu là Hồ Thị lễ Phật tụng kinh rất kiền thành, mang thai sắp sanh, chợt bệnh nặng, thân nóng như lửa, cấm khẩu, cứng mình, chẳng thể uống nước trong suốt hai mươi chín ngày. Chợt mộng thấy một bà cụ cầm hoa sen đến, bảo: “Ngươi do túc nghiệp phải hứng chịu căn bệnh hiểm nghèo này. May nhờ gieo thiện căn sâu đậm, ta từ Nam Hải đến an ủi ngươi”. Liền dùng hoa sen phẩy lên thân, bảo: “Phẩy đi nghiệp chướng, hãy khéo sanh đứa con tốt lành”. Tỉnh dậy đã hạ sốt, thân an, ngày hôm sau sanh con.

(12) Theo Quán Âm Kinh Chú, Mạc Xuân Huy và Mạc Nhật Huy cùng tụng Quán Âm Chú. Về sau, vợ là Trương Thị bị trúng phong, gần chết. Ông Huy hứa khắc kinh lưu truyền, chân tay liền có thể cử động được.

Theo Cao Vương Chứng Nghiệm, vào đời Thanh, mẹ ông Chương Tông Triều ở Cối Kê trong niên hiệu Gia Khánh bị phong viêm, bệnh tình nguy ngập. Ông Triều cầu đảo Đại Sĩ, hứa niệm Cao Vương Kinh, bệnh dần dần khỏi.

Lại nữa, theo Cao Vương Ứng Nghiệm, vợ ông Chung Bằng ở Thư Thành là Châu Thị bị sản hậu kinh phong, thầy thuốc chẳng dám kê toa. [Ông Chung] bèn lạy cầu Đại Sĩ, hứa in một ngàn cuốn Cao Vương Kinh, vợ lập tức khỏi bệnh.

Quan Trung Thừa đời Thanh là Diệp Kiện Am kể: Lúc tuổi chừng hai mươi, bị bệnh sốt rét rất nặng, thầy thuốc bảo: “Lần sau bệnh càng nặng hơn!” Chợt thấy trong tủ sách có một cuốn Đại Bi Chú, muốn mau diệt bệnh khổ nên ngày hôm sau liền cầu nguyện trước bàn Phật, thắp hương kiền thành tụng, bệnh sốt rét liền dứt ngay trong hôm ấy. Tụng liên tiếp mấy ngày, bệnh sốt rét trọn chẳng phát. Vì thế, trì tụng suốt đời.

Đời Ngụy, Tào Tháo đọc lời hịch của Trần Lâm, bảo: “Càng khiến cho ta đầu óc choáng váng”. Theo sách Thi Thoại, có người bị sốt rét, Đỗ Tử Mỹ bảo đọc những câu như “Tử Chương độc lâu huyết mô hồ, thủ đề trịch hoàn Thôi đại phu” (Xương sọ Tử Chương máu lờ mờ, tay xách quăng cho Thôi đại phu), quả nhiên hết sốt rét. Lại nữa, thơ Tử Mỹ có câu: “Văn chương hữu thần, giao hữu đạo” (văn chương có thần, kết giao hợp đạo lý).

Theo Cao Tăng Truyện, tập 1, ngài Trúc Pháp Nghĩa đời Tấn chợt cảm thấy hơi xông lên ngực đau nhói, thường niệm Quán Âm, bèn mộng thấy có người mổ banh bụng rửa ruột, thức giấc liền lành bệnh. Thượng Thư Phó Lương soạn sự tích của Sư, thường nói: “Cha tôi chơi với ngài Pháp Nghĩa, hễ nghe nói tới sự thần dị của Quán Âm, không chuyện lớn nhỏ nào mà chẳng nghiêm túc [lắng nghe]”.

Theo Linh Nghiệm Ký, Trần Thanh Vân ở Huy Châu thuở nhỏ mắc bệnh, dần dần không dậy được, hứa in thí Quán Âm Kinh một ngàn quyển. Mộng thấy một vị thần cầm một chậu nước tắm, một vị thần khác mổ banh bụng [Thanh Vân] để rửa, kinh hoảng, thức dậy, toát mồ hôi liền lành bệnh. Từ đấy béo tốt, minh mẫn, không còn yếu ớt như xưa nữa!

Theo Ngụy Chí, Trần Khuê thông thạo thuốc men, có thể mổ toang bụng, lưng, lôi ra cắt bỏ những thứ tích tụ. Nếu là [bệnh trong] ruột, bao tử thì cắt xén, rửa ráy, trừ khử những thứ ô uế do bệnh tật sanh ra rồi may lại, đắp thuốc cao thần diệu. Sau bốn năm ngày, vết thương bèn lành.

Quán Thế Âm Bồ Tát Bổn Tích Cảm Ứng Tụng

Quyển 2, phần 1 hết

[1] Nguyên văn “chư hữu hải”. Hữu là tên gọi khác của tam giới, do tam giới có phiền não, vọng tưởng, chấp trước, vô minh, nên gọi là Hữu. Do có vi trần số thế giới, tam giới trong những thế giới ấy vô lượng vô biên nên gọi chung là Chư Hữu Hải.

[2] Nguyên văn “hỏa lam” (火籃), là một cái giỏ đan bằng cật tre chắc chắn, bên trong có đặt chậu  hoặc vỉ sắt đốt than để sưởi cho ấm trong mùa Đông.

[3] Nam Đường (937-975) là một triều đại tồn tại rất ngắn ngủi, chỉ có 39 năm, do Lý Biện sáng lập khi nhà Đường mất ngôi, các tướng quân phiệt nổi lên chia cắt Trung Hoa thành mười nước (sử gọi là thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc). Hậu Chúa nhà Nam Đường là Lý Dục, đế hiệu Đường Nguyên Tông. Ông là người dốc lòng tin tưởng Phật pháp, nhưng bản tánh xa hoa, ưa ngâm vịnh, không quan tâm chánh sự, dành rất nhiều thời gian để xây dựng tháp miếu, thích tạo chùa to tượng lớn để khoe khoang công đức hơn là thật tâm thực hành Phật giáo.

[4] Tướng luân là cái chóp bằng kim loại thường đặt trên đỉnh những ngọn tháp năm tầng, thường có hình trụ tròn, trừ hai khối kim loại tròn (gọi tương ứng là Bảo Châu và Long Xa) ở đầu, phần còn lại là những khối kim loại có hình như cái lọng. Theo thứ tự từ trên xuống dưới, tướng luân được chia thành Bảo Châu, Long Xa, Thủy Yên, Cửu Luân, Thọ Hoa (Tinh Hoa), Phục Bát, Lộ Bàn. Đây chính là một hình thức rút gọn của những cấu trúc hình lọng 13 tầng thường che trên các tháp thờ (stupa) tại Ấn Độ. Phần quan trọng nhất là Bảo Châu, bên trong thường chứa xá-lợi.

[5] Tỷ Bộ là một chức quan thuộc hạ của quan Thượng Thư đã có từ thời Ngụy – Tấn, dưới chức Thượng Thư năm cấp, có trách nhiệm quản thủ sổ sách, đặc trách quản trị thuế khóa, kinh phí, tu bổ công sở, thu chi lương hướng, ban thưởng, mua sắm v.v.. cho các quan Thượng Thư. Về sau, đến đời Đường, Tỷ Bộ là danh từ chỉ chung một ty thuộc bốn ty của bộ Hình, và được dùng để chỉ chung các chức vụ Lang Trung, Viên Ngoại Lang, Chủ Sự v.v… Chức vụ này bị phế bỏ dưới các triều Kim và Nguyên.

[6] Ma La Da sơn (Malaya), còn phiên âm là Mạt Lạt Da, hoặc Ma La Diên, chính là rặng Cardamon ở Nam Ấn Độ. Núi nổi tiếng với các loại gỗ thơm. Đại luận sư Thanh Biện (Bhāvaviveka) của tông Trung Quán xuất sanh từ núi này.

[7] Cầu Na Bạt Đà La (Gunabhadra, 394-468), dịch nghĩa là Công Đức Hiền, người Trung Thiên Trúc, thuộc dòng Bà La Môn, do đọc A Tỳ Đàm Tạp Tâm Luận có chỗ ngộ bèn quy hướng Phật pháp. Thoạt đầu, ngài học Tiểu Thừa, về sau thâm nhập Đại Thừa, người thời ấy xưng tụng Ngài bằng danh hiệu Ma Ha Diễn. Năm Nguyên Gia 12 (435) đời Lưu Tống, Sư đến Quảng Châu, trụ tại chùa Vân Phong trên núi Vân Phong. Thứ sử Quảng Châu tâu lên Tống Văn Đế. Vua sai người thỉnh Sư sang Nam Kinh, trụ tại chùa Kỳ Hoàn. Sư được danh sĩ và thiền đức đương thời hết sức kính ngưỡng, đặc biệt hai vị vương gia Nam Tiếu Vương Lưu Nghĩa Tuyên và Bành Thành Vương Lưu Nghĩa Khang cùng tôn Sư làm thầy. Ngài phiên dịch các bộ Tạp A Hàm Kinh, Đại Pháp Cổ Kinh, Tương Tục Giải Thoát Kinh, Thắng Man Kinh, Ương Quật Ma La Kinh, Lăng Già Kinh, Vô Ưu Vương Kinh, Bát Cát Tường Kinh, Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh, Đại Phương Quảng Bảo Khiếp Kinh, Bồ Tát Hạnh Phương Tiện Cảnh Giới Thần Thông Biến Hóa Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh (cuốn này đã bị thất lạc), Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Thần Chú v.v…

[8] Trịnh Hòa (1371-1433) vốn tên là Mã Tam Bảo, người làng Bảo Sơn, thuộc Côn Dương, tỉnh Vân Nam, là một hoạn quan, vừa là một nhà ngoại giao tài ba, vừa là một nhà hàng hải lừng danh đời Minh. Ông vốn là hậu duệ của Sayyid Ajjal Shams al-Din Omar, thuộc dòng dõi quý tộc, hậu duệ của quốc vương Mohamed xứ Buxoro (những người theo đạo Hồi có tên Mohamed, Muhamad, Mahmud v.v… đều bị Hán hóa thành họ Mã hay Mộc), di cư đến Vân Nam vào đầu đời Nguyên. Khi nhà Minh chiếm được Vân Nam, Trịnh Hòa mới 10 tuổi, bị bắt vào cung “tĩnh thân” (thiến, hoạn), trở thành thái giám trong phủ Yên Vương Châu Lệ. Năm Vĩnh Lạc nguyên niên (1403), ông được Diêu Quảng Hiếu thâu nhận làm Bồ Tát Giới đệ tử, pháp danh là Phước Cát Tường; tuy vậy, vẫn không từ bỏ niềm tin Hồi Giáo. Khi Châu Lệ trở thành Minh Thành Tổ, đã ban tên họ mới cho ông là Trịnh Hòa, phong làm Nội Quản Thái Giám, kiêm Tư Lễ Giám, trở thành một bầy tôi cực kỳ thân tín của Minh Thành Tổ. Với chính sách “viễn giao, cận công” (xa thì giao hảo, gần thì đánh) nhằm mở rộng đế quốc Đại Minh, Minh Thành Tổ giao cho ông cầm đầu 317 chiến thuyền với gần 28.000 tùy tùng đi khắp Đông Nam Á, Ả Rập, Ấn Độ để giao hảo, vừa mua chuộc vừa đe dọa, khiến các tiểu quốc phải triều cống Trung Hoa. Trịnh Hòa xây các pháo đài, kho hàng ở vùng Malacca và lưu lại đây rất nhiều thủy thủ theo đạo Hồi. Học giả Hamka (1908-1981) cho rằng cộng đồng người Hoa theo đạo Hồi nói riêng và đạo Hồi nói chung không thể phát triển mạnh ở Mã Lai và Indonesia nếu không có sự ủng hộ của Trịnh Hòa. Tuy vậy, 600 năm sau khi Trịnh Hòa mất, hầu như không còn người Hoa nào ở Indonesia, Mã Lai, Singapore theo đạo Hồi nữa. Do thế lực của Trịnh Hòa và Minh Triều, người Hoa chiếm nhiều ưu thế tại các vùng đất mới nên họ tôn sùng, lập nhiều miếu thờ Trịnh Hòa và tôn xưng ông ta là Bổn Đầu Công (ông trùm). Tại Việt Nam, các miếu thờ thường được người Việt gọi là “chùa ông Bổn” chính là miếu thờ Trịnh Hòa.

[9] Quán Âm Trai là ngoài ngày trai kỳ cố định ra, mỗi tháng ăn chay thêm một vài ngày nhất định theo một bảng liệt kê riêng gọi là Quán Âm Trai Biểu, chẳng hạn tháng Giêng ăn chay ngày mồng Tám, tháng Hai ăn chay ba ngày mồng Bảy, mồng Chín, Mười Chín, tháng Ba ăn chay trong ngày mồng Ba, mồng Sáu, Mười Ba v.v…

[10] Xuân Quan là một chức quan quản trị việc lễ nghi, tế tự, thường trực thuộc bộ Lễ.

[11] Chúng tôi dịch câu này theo cách giải thích trong sách Châu Dịch Chánh Nghĩa của Khổng Dĩnh Đạt, Hàn Khang Bá và Vương Bật. Theo đó, quẻ Đại Quá trên là quẻ Đoài, dưới là quẻ Tốn, tượng trưng cho sự vượt quá mức lẽ thường, nên phạm lầm lỗi. Quẻ này gồm sáu vạch nên vạch trên cùng được gọi là Lục Thượng. Câu nói trên đây được trích từ phần Hào Từ của sách Châu Dịch.

[12] Mộ Dung Thùy (326-396), vốn có tên là Mộ Dung Bá (Phách), tự Minh Đạo, thuộc sắc dân Tiên Ty, là con thứ năm của Mộ Dung Hoảng (vua sáng lập nhà Tiền Yên). Mộ Dung Thùy sáng lập nhà Hậu Yên vào năm 384, xưng hiệu là Thành Vũ hoàng đế.

[13] Thuần Hoàng Hậu chính là mẹ của Minh Thái Tổ Châu Nguyên Chương, không rõ bà tên thật là gì, chỉ biết bà là vợ của Châu Thế Trân (Châu Thế Trân được Minh Thái Tổ truy tặng là Minh Thế Tổ tuy ông ta chẳng làm vua ngày nào). Bà có bốn người con với ông Châu, tức là Châu Hưng Long, Châu Hưng Thịnh, Châu Hưng Tổ và Châu Nguyên Chương (Minh Thái Tổ). Bà được truy tặng Thuần Hoàng Hậu vào năm Hồng Vũ nguyên niên (1368) dưới đời Minh Thái Tổ.

[14] Trương Thế Kiệt (?-1279) là đại tướng nhà Tống. Khi kinh đô Lâm An của nhà Nam Tống thất thủ, Tống Cung Đế mới 5 tuổi bị quân Nguyên cầm tù, ông đã cùng Lục Tú Phu phò hai vương gia Triệu Thỉ (Tống Đoan Tông) và Triệu Bỉnh (Tống Vệ Vương) đào tẩu. Khi Tống Đoan Tông bị chết đuối, Triệu Bỉnh được đưa lên làm vua, ông vừa phải lo liệu việc quân, việc cai trị, đồng thời dạy Tống Vệ Vương học chữ. Năm Tường Hưng thứ 2 (1297), quân Nguyên mở cuộc đại tấn công nhằm tiêu diệt triều đình nhà Tống lưu vong, quân Tống đại bại tại Nhai Sơn. Ông Trương tổ chức tử chiến, nào ngờ Thừa Tướng Lục Tú Phu đã cõng ấu chúa Tống Vệ Vương nhảy xuống biển tự tử. Ông than thở áo não rồi tự tử, khiến cho các thuộc hạ phải chạy ra hải đảo lánh nạn.

[15] Đạt Ma Cấp Đa (Dharmagupta ?-619), dịch nghĩa là Pháp Tạng hoặc Pháp Mật, người xứ La La, Nam Ấn, thuộc dòng Bà La Môn, xuất gia năm 23 tuổi, sở học rộng khắp. Sư nghe nói Phật giáo Đại Thừa thịnh hành tại Trung Hoa, bèn đến Trung Nguyên vào năm Khai Hoàng thứ 10 (590). Tùy Văn Đế thỉnh vua lên kinh đô, trụ tại chùa Đại Hưng Thiện, lo dịch kinh. Ngài dịch các bộ Vô Sở Hữu Bồ Tát Kinh, Hộ Quốc Bồ Tát Kinh, Phật Hoa Nghiêm Nhập Như Lai Bất Tư Nghị Cảnh Giới Kinh, Đại Tập Thí Dụ Vương Kinh, Đông Phương Tối Thắng Đăng Vương Như Lai Kinh, Di Thức Kinh, Đại Thừa Tam Tụ Sám Hối Kinh, Đại Phương Đẳng Đại Vân Thỉnh Vũ Kinh v.v… Cùng với ngài Xà Na Quật Đa, Sư dịch các bộ Đại Tập Niệm Phật Tam Muội Kinh, Nhiếp Đại Thừa Luận Thích v.v…

[16] Khương (còn gọi là Nhĩ Mã) là một sắc dân thiểu số ở Trung Hoa, chủ yếu sống tại Tứ Xuyên và Thiểm Tây. Sử sách đã ghi nhận sự tồn tại của người Khương kể từ nhà Thương. Diêu Trành (vua sáng lập nhà Hậu Tần thời Ngũ Hồ loạn Hoa) cũng là người Khương. Cho đến nay người Khương vẫn theo chế độ mẫu hệ, tin theo đa thần, coi những viên đá trắng như hóa thân của thần linh, họ tôn sùng thần núi nhất.

[17] Lưu Sa chính là sa mạc Taklamakan (còn gọi là Taklimakan) hiện thời, là sa mạc lớn thứ 17 trên thế giới, thuộc Tân Cương, được bao quanh bởi các rặng Côn Luân, Pamir và Thiên Sơn. Ý nghĩa của tên sa mạc này thường được giải thích là “vùng đất bỏ hoang” hoặc “đi vào sẽ không bao giờ ra được”.

[18] Ngài Na Liên Đề Lê Da Xá (Narendrayaśas, 490-589), là người nước Ô Trành, thuộc dòng Thích Ca. Sư xuất gia năm 17 tuổi, thông hiểu Đại, Tiểu Thừa, đi khắp các nước chiêm bái thánh tích. Khi đến nước Nhuế Nhuế, gặp giặc cướp, Sư không còn ý định trở về nước mà đến Bắc Tề. Bấy giờ Sư đã 40 tuổi, nhận lời thỉnh của Tề Văn Tuyên Đế, Sư dịch 5 bộ kinh như Nguyệt Đăng Tam Muội Kinh v.v… Khi Châu Vũ Đế diệt Phật, Sư ẩn cư, sống lẫn với thế tục. Đến khi nhà Tùy hưng thịnh, năm Khai Hoàng thứ 2 (582), Sư nhận lời thỉnh của Tùy Văn Đế trụ tại chùa Đạo Hưng Thiện, chủ trì đạo tràng dịch kinh. Sư cùng với hai vị Xà Na Quật Đa và Đạt Ma Cấp Đa hợp tác dịch nhiều bộ kinh, nên ba vị này được người đương thời tôn xưng là Khai Hoàng Tam Đại Sĩ.

[19] Đột Quyết (Göktürk) là một từ ngữ chỉ chung các sắc dân Thổ Nhĩ Kỳ, Azerbaijan, Uzbek, Turkmen, Kirghyz, Hung Nô v.v… sống chủ yếu ở vùng Trung Á và phía Tây Trung Hoa. Họ được gọi là Đột Quyết vì ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Đột Quyết ngữ (Turkic language). Họ đã từng tập hợp thành các hãn quốc (khannate) Đông Đột Quyết và Tây Đột Quyết.

[20] Phù Tần tức là nhà Tiền Tần (350-394), một trong mười sáu nước được thành lập ở Trung Hoa vào cuối nhà Tấn, do Phù Hồng, tù trưởng của sắc dân Đê, sáng lập, nhưng chỉ đến đời con là Phù Kiện mới chính thức xưng đế. Thoạt đầu nhà Tiền Tần chiếm cứ vùng Quan Trung, về sau diệt các nhà Tiền Yên, Tiền Lương và nước Đại, thống nhất phương Bắc Trung Hoa. Dưới đời vua Phù Sùng (chắt của Phù Kiên, Phù Kiên là cháu nội của Phù Hồng, gọi Phù Kiện bằng bác), nhà Tiền Tần bị Diêu Trành (vua sáng lập triều đại Hậu Tần) tiêu diệt.

Mộ Dung Vĩnh (?-394) chính là vua nước Tây Yên, tộc người Tiên Tỵ, là cháu nội của Mộ Dung Vận (anh em con chú con bác của Mộ Dung Hoảng, vua Tiền Yên). Năm 370, nhà Tiền Yên bị nhà Tiền Tần diệt, nên bộ tộc Mộ Dung bị đưa về an trí tại Quan Trung. Do đói nghèo, Mộ Dung Vĩnh và vợ con phải khâu giày để sống qua ngày tại Trường An. Khi Mộ Dung Xung (con trai Mộ Dung Tuấn, cháu nội Mộ Dung Hoảng) khởi nghĩa vào năm 385 nhằm tái lập nhà Yên, Mộ Dung Vĩnh theo về và được cử làm tướng quân, lần lượt giữ các chức Thái Úy và Thượng Thư Lệnh. Khi Mộ Dung Xung bị giết, Mộ Dung Vĩnh được tôn làm Đại Đô Đốc, Đại Thiền Vu, Hà Đông Vương, tạm thần phục Mộ Dung Thùy (con thứ năm của Mộ Dung Hoảng) nhà Hậu Yên, rồi tự xưng đế vào năm 393, lập ra nhà Tây Yên. Về sau, Hậu Yên diệt Tây Yên vào năm 394, Mộ Dung Vĩnh bị giết chết.

[21] Bồng Hao: Nếu hiểu theo nghĩa hiện thời thì Bồng Hao chính là rau Húng Quế, nhưng xét theo ngữ cảnh ở đây, có lẽ ở đây Bồng Hao chỉ là tiếng chỉ chung các loại cỏ dại như trong cổ văn thường dùng (theo Thành Ngữ Từ Điển). Trong cổ văn, Bồng Hao còn là từ ngữ phiếm chỉ nơi hoang dã, nhưng nghĩa này xét ra không thích hợp với đoạn này cho lắm.

[22] Đồ sấm: Các sách vở do các đạo sĩ hoặc nho sĩ biên soạn luận bàn về những điềm trời báo trước thọ mạng của đế vương hay sự hưng suy của một triều đại. Đa phần những sách này gồm những bài thơ chứa đựng những ẩn ngữ, dự ngôn. Ta thường gọi là sấm truyền, như kiểu sấm Trạng Trình chẳng hạn.

Nguyên Ngụy (còn gọi là Bắc Ngụy, Hậu Ngụy hay Thác Bạt Ngụy) là một vương triều của Trung Hoa từ năm 386-534, do Thác Bạt Khuê sáng lập. Đến đời Ngụy Hiếu Văn Hoàng Đế (Thác Bạt Hoằng) đổi họ Thác Bạt thành Nguyên, nên Sử thường gọi vương triều này là Nguyên Ngụy để phân biệt với quá nhiều nhà Ngụy trong lịch sử Trung Hoa.

[23] Từ Ân ở đây chính là ngài Đường Tam Tạng pháp sư Huyền Trang. Do ngài trụ tại chùa Từ Ân nên thường được gọi là Từ Ân đại sư.

[24] “Thú” (戍) là lính canh giữ biên phòng hay những vùng xa xôi. Có tội bị đầy ra làm lính thú thì được gọi là “trích thú”.

[25] Sự kiện này được sử gọi là “Dương Châu Thập Nhật” xảy ra vào năm Thuận Trị thứ hai, tức năm Ất Dậu (1645). Khi ấy, Sử Khả Pháp là Lễ Bộ Thượng Thư kiêm Đông Các Đại Học Sĩ nhà Nam Minh tổ chức nghĩa quân quyết tử chống lại cuộc tấn công nhằm tận diệt nhà Minh của quân Thanh do Dự Thân Vương Đa Đạc chỉ huy. Ngày 24 tháng Tư, Đa Đạc tập trung đại bác bắn vào Dương Châu, đến ngày 25 phá được thành, nhưng dân quân chống cự quyết liệt từng góc phố, quân Thanh phải vất vả lắm mới chiếm được cả thành. Do vậy, để trả thù, Đa Đạc hành hình Sử Khả Pháp tàn nhẫn và hạ lệnh đại tàn sát nhân dân Dương Châu suốt mười ngày. Số người chết lên đến mười vạn người.

[26] Bài chú này còn gọi là Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni (Cintāmani-cakra Dhāranī), trích từ Như Ý Luân Đà La Ni Kinh (tên gọi đầy đủ là Đại Liên Hoa Phong Kim Cang Bí Mật Như Ý Luân Chú), là một trong mười bài tiểu chú trong công phu sáng của Thiền môn. Trong Mật Tông, Như Ý Luân Quán Âm là một trong sáu thân tướng Quán Âm chánh yếu của Thai Tạng Giới. Nghi quỹ Quán Tự Tại Như Ý Luân Bồ Tát Du Già mô tả: “Tay cầm báu Như Ý, sáu tay, thân sắc vàng ròng, búi tóc trên đầu trang hoàng bằng các thứ báu, trên mão có đức Tự Tại Vương ngồi, hiện tướng thuyết pháp. Tay thứ nhất hiện vẻ tư duy (tức là tay chống cằm hiện vẻ đang suy nghĩ) vì nghĩ thương xót chúng sanh. Tay thứ hai cầm báu Như Ý nhằm làm cho chúng sanh được mãn nguyện. Tay thứ ba cầm xâu chuỗi nhằm độ chúng sanh thoát khổ. Tay thứ nhất phía bên trái tựa vào núi Quang Minh nhằm thành tựu sự không lay động. Tay trái thứ hai cầm hoa sen nhằm thanh tịnh những điều phi pháp. Tay trái thứ ba cầm bánh xe, nhằm chuyển pháp vô thượng. Sáu cánh tay xòe khắp thân biểu thị du hóa lục đạo”

[27] Hiến tặc là quân giặc Trương Hiến Trung (1606-1647), lãnh tụ “khởi nghĩa nông dân” cuối thời Minh, từng kết hợp với Lý Tự Thành tấn công nhà Minh, tàn sát nhiều dân lành vô tội. Hắn gây nên hai cuộc tàn sát lớn nhất ở Phụng Dương (tỉnh An Huy, giết mấy vạn người) và tại Thành Đô (Tứ Xuyên, giết nhiều đến nỗi dân chúng Thành Đô đang từ 40 vạn người chỉ còn 20 vạn người).

[28] Một Tạng là 5.048 quyển hay 5.048 lần.

[29] Mạt Hạt (Malgal, Mogher) là một bộ tộc cổ ở Mãn Châu, được coi là tổ tiên của người Nữ Chân (Jurchen, bộ tộc của tổ tiên nhà Thanh) và người Mãn Châu hiện thời. Thoạt đầu, họ sống tại lưu vực Liêu Giang và di cư dần dần đến phía Nam, xâm nhập Bắc Hàn. Hiện thời, hậu duệ của họ sống chủ yếu ở vùng Trường Bạch Sơn, Tùng Hoa giang, và Ô Tô Lý Giang. Lúc đầu, người Mạt Hạt bị thống trị bởi vương triều Phù Dư (Buyeo) ở Bắc Hàn, nhưng đến năm Thái Hòa 17 (493) đời Bắc Ngụy, họ tiêu diệt vương quốc Phù Dư và thường đánh nhau với vương triều Bách Tế và Tân La của Cổ Đại Hàn. Sử Trung Hoa gọi họ bằng nhiều danh xưng như Túc Thận (đời Tần), Ấp Loại (từ thời Ngụy đến đời Tấn), Vật Cát (thời Nam Bắc Triều). Tên gọi Mạt Hạt phát xuất từ thời Tùy. Sắc dân này gồm nhiều bộ tộc du mục, thiện chiến, có nhiều tướng lãnh kiệt xuất, luôn luôn là một mối đe dọa cho Trung Nguyên. Thời Đường, tù trưởng Đại Tộ Vinh của tộc Mạt Hạt, thừa cơ Cao Câu Ly bị Tân La liên kết với nhà Đường diệt vong, đã lập ra vương quốc Bột Hải (698-926). Nhà Kim sau này (tổ tiên của nhà Thanh) cũng là hậu duệ của một trong các bộ tộc Mạt Hạt (tức bộ tộc Heuksu Malgal).

[30] Hiếu Liêm: Thoạt đầu đời Hán Vũ Đế, hạ lệnh các quận huyện công cử những người hiếu thuận cha mẹ, liêm khiết, chánh trực để tuyển làm quan. Những người ấy được gọi là Hiếu Liêm. Đến đời Minh – Thanh, Hiếu Liêm trở thành một tên gọi khác của Cử Nhân (người trúng tuyển khoa thi Hương).

[31] Khang (糠) là cám, đồng âm với họ Khang (康).

[32] Nam Tiếu Vương là vương tước của Lưu Nghĩa Tuyên (415-454), con thứ sáu của Tống Vũ Đế (Lưu Dụ), là em trai của Tống Thiếu Đế và Tống Văn Đế. Khi Thái Tử Lưu Thiệu giết cha là Tống Văn Đế soán ngôi, con thứ ba của Văn Đế là Lưu Tuấn bèn khởi binh đánh dẹp, được Nghĩa Tuyên phái quân ủng hộ. Khi Lưu Tuấn lên ngôi, lấy hiệu là Tống Hiếu Vũ Đế, Nghĩa Tuyên được phong làm Trung Thư Giám, kiêm đô đốc Dương Châu và Dự Châu. Sẵn binh hùng tướng mạnh, thái ấp trù phú, Nghĩa Tuyên nảy sanh ý chuyên quyền, coi thường vua. Lại thêm Tạng Chất xúi giục, Nam Tiếu Vương dấy quân làm loạn, nhưng bị tướng Vương Huyền Mô của nhà Lưu Tống đánh bại. Nghĩa Tuyên bị bắt giam. Không chịu được khổ cực, Nghĩa Tuyên bèn tự tử chết trong ngục.

[33] Giải lương: Chuyên chở lương thực cho quân đội. Do thời cổ, thường có trộm đạo, sơn tặc, hải tặc cướp lương nên thường phải có võ tướng đi theo bảo vệ.

[34] Khiết Đan (Khất Đan, Khế Đan) là những cách đọc khác nhau của chữ Khitan (đôi khi còn viết là Khitai, hoặc Kidan, là hậu duệ của bộ tộc Nhu Nhiên (Ruran, còn phiên âm là Lâu Lan) thuộc sắc dân Tiên Ty (thuộc nhóm du mục Đông Hồ thời cổ). Sau khi bị bộ tộc của họ Thác Bạt (tổ tiên nhà Bắc Ngụy) đánh bại, họ phải chuyển sang sống chủ yếu ở ngoài rặng Hưng An. Theo truyền thuyết, người Khiết Đan chính là tổ tiên của bộ tộc Mông Cổ Thất Vĩ hiện thời. Họ là một sắc dân du mục, thiện chiến, thường hay giao chiến với các triều đại của Trung Hoa, nhất là dưới đời nhà Tống. Tiếng nói của họ thuộc ngữ tộc Mông Cổ của ngữ hệ Altaic. Người Khiết Đan gồm có tám bộ tộc chính, trong đó bộ tộc Niết Lý là thủy tổ của người Liêu sau này. Ngoài ra còn có những bộ tộc nhỏ sống lẫn lộn với các sắc dân Kazakh, Naiman v.v… khắp Trung Á. Tù trưởng người Khiết Đan gọi là Khan (sử Trung Hoa thường phiên âm thành Khả Hãn), được bầu ba năm một lần. Đến thời Da Luật A Bảo Cơ (Yelü Abaoji), danh xưng này mới được đổi thành Hoàng Đế, xưng quốc hiệu là Liêu, chiếm cứ miền Bắc Trung Hoa cho đến khi bị nhà Nguyên diệt.

[35] Lưu Dự (1073-1416) là người Phụ Thành, Cảnh Châu (nay thuộc Hà Bắc), từng đỗ Tiến Sĩ dưới đời Tống Triết Tông, làm đến chức Thị Ngự Sử dưới thời Tống Huy Tông. Khi quân Kim tấn công Tế Nam, ông ta bèn giết tướng thủ thành là Quan Thắng, theo hàng quân Kim. Năm 1130, nhà Kim phong cho ông ta hư vị là Đại Tề Hoàng Đế, sai theo quân đi đánh Nam Tống. Do vậy, Thiên Trúc Chí mới gọi đội quân ấy là quân Kim – Tề.

[36] Hiến phù (đúng ra phải đọc là Hiến Phu): Mỗi khi đại quân thắng trận khải hoàn, vị đại tướng cầm quân sẽ làm lễ giao nộp lên hoàng đế những tù binh bắt được (Phu: 俘) và những chiến lợi phẩm trước cửa Ngọ Môn. Nghi lễ ấy gọi là Hiến Phù.

[37] Hoàng Sào (?-884) là người xứ Oan Cú, Tào Châu (nay thuộc tỉnh Sơn Đông), xuất thân là dân buôn muối, chuyên cầm đầu bọn buôn muối lậu. Do đi thi không đậu nên phẫn uất, mượn cớ “thế thiên hành đạo” bảo vệ dân nghèo chống lại tham quan và kỷ cương mục nát cuối đời Đường để dấy loạn (sử Hoa Lục thường gọi hoa mỹ là “phong trào nông dân khởi nghĩa”) vào năm Càn Phù thứ 2 (875). Thanh thế rất lớn, gây nên những trận chiến dai dẳng, tàn sát dân vô tội rất nhiều. Về sau, Hoàng Sào bị Châu Ôn đánh bại ở bến Vương Mãn (thuộc tỉnh Hà Bắc), các thủ hạ thân tín như Cát Tùng Châu, Dương Năng, Hoắc Tồn, Trương Quy Hậu v.v… đều theo hàng Châu Ôn. Thế cùng lực kiệt, Hoàng Sào trốn qua sông, lại bị Lý Khắc Dụng truy sát, phải bôn tẩu không ngừng Cuối cùng, chỉ còn một ngàn quân, lương hết, thế cô, lại bị Lý Sư Duyệt dẫn một vạn quây vây đuổi, Hoàng Sào bị bộ hạ là Lâm Ngôn giết chết tại Lang Hổ Cốc (Sơn Đông).

[38] Tiền Liêu (852-932) là người xứ Đại Quan Sơn, huyện Lâm An, vốn là con nhà thuyền chài. Cũng theo nghề buôn muối, giỏi võ nghệ, thích phiêu lưu, nhưng bẩm tánh hiền lương, trọng nhân nghĩa. Thoạt đầu theo Chỉ Huy Sứ Thạch Trấn là Đổng Xương ngăn chặn loạn quân Hoàng Sào, ông chỉ huy đội Bát Đô Quân nhằm bảo vệ cho dân cư trong tám huyện thuộc vùng Giang Tô, chống lại các tướng quân phiệt lăm le chia năm xẻ bảy cương vực nhà Đường thời ấy. Đến khi Đổng Xương bộc lộ dã tâm xưng vương, ông diệt trừ Đổng Xương, vẫn giữ lòng trung với nhà Đường, tận hết sức bình định, bảo vệ vùng Giang Chiết. Ông được phong làm Việt Vương vào năm 902. Khi nhà Đường sắp mất ngôi, vào năm 907, nghe theo lời khuyên của thuộc hạ, nhằm danh chính ngôn thuận, ông xưng là Ngô Việt Vương, hiệu là Ngô Việt Thái Tổ Vũ Túc Vương, để bảo vệ mười bốn châu vùng Giang Chiết và một phần phía Bắc tỉnh Phước Kiến hiện thời. Ngôi vua của ông truyền qua nhiều đời cho đến 978 khi Tống Thái Tổ (Triệu Khuông Dẫn) thống nhất Trung Hoa thì chắt của Tiền Liêu là Tiền Hoằng Thục xưng thần, quy thuận Tống Thái Tổ. Sở dĩ Thiên Trúc Chí chép lời Bồ Tát dạy: “Trung Nguyên thiên tử đổi họ năm phen” là vì từ khi Tiền Liêu xưng vương cho đến khi nhà Tống thống nhất Trung Hoa đã có năm triều đại kế tiếp nhau là Hậu Lương (do Châu Toàn Trung sáng lập), Hậu Đường (Lý Tồn Úc sáng lập), Hậu Tấn (Thạch Kính Đường sáng lập), Hậu Hán (Lưu Tri Viễn sáng lập) và Hậu Châu (Quách Oai sáng lập).

[39] Châu Toàn Trung (852-912) là vua sáng lập triều đại Hậu Lương (907-923). Vốn có tên là Châu Ôn, được vua Đường ban tên là Toàn Trung. Đến khi xưng đế, lại đổi tên thành Châu Hoảng. Châu Ôn quê quán ở Đãng Sơn, Tống Châu (nay là huyện Đãng Sơn, tỉnh Hà Bắc). Ông ta xuất thân từ một gia đình Nho học, mồ côi cha từ nhỏ, mẹ phải đi ở cho nhà Lưu Sùng ở Túc Huyện. Ông ta có sức mạnh, tánh tình tàn bạo, thâm hiểm, khiến người làng rất khiếp sợ. Khi trưởng thành, theo Hoàng Sào làm phản, trở thành đại tướng quân, từng đánh vào kinh đô nhà Đường. Sau đấy lại phản Hoàng Sào, theo Tiết Độ Sứ Vương Trọng Vinh đánh lại Hoàng Sào, được Đường Hy Tông phong làm Kim Ngô Vệ Đại Tướng Quân, ban tên là Toàn Trung. Về sau, chính Châu Ôn đã đánh bại Hoàng Sào, dẹp tan dư đảng của hắn là Tần Tông Quyền, nên được vua phong làm Đông Bình Vương, rồi Lương Vương. Khi ấy, nhà Đường chỉ còn hư vị, các tiết độ sứ nắm binh quyền, dấy loạn lung tung. Năm Thiên Phục nguyên niên (901), Đường Chiêu Tông bị hoạn quan Hàn Toàn Hối giam giữ, tể tướng Thôi Dẫn gọi Châu Ôn về cứu giá. Sau khi dẹp loạn và hòa giải với các Tiết Độ Sứ có chức quyền thời ấy, họ Châu trở thành quyền thần bậc nhất trong triều. Sau khi giải toán lực lượng Thiên Sách Quân của nhà vua, Châu Ôn khống chế hoàng tộc, giết chết Thôi Dẫn, ép Chiêu Tông phải dời đô về Lạc Dương. Năm Khai Bình nguyên niên (907), Châu Ôn phế Đường Ai Tông, tự xưng đế, lập ra nhà Hậu Lương, mở đầu thời Ngũ Đại.

[40] Trương Sĩ Thành (1321-1367) là một tướng quân phiệt cuối đời Nguyên, đầu đời Minh, người xứ Bạch Câu Trường, Thái Châu (nay thuộc tỉnh Giang Tô), xuất thân là phu gánh muối. Do bất mãn với bọn quan đánh thuế muối nên tụ tập đồ đảng làm loạn vào năm Chí Chánh 13 (1353), dần dần trở thành một tướng quân phiệt có thế lực hùng mạnh, nhiều phen đương đầu với Châu Nguyên Chương (Minh Thái Tổ), cho đến khi nhà Minh bắt được, đem treo cổ tại Ứng Thiên (Kim Lăng). Họ Trương tính tình xa xỉ, kiêu căng, dâm dật, hiếu sát, tàn nhẫn.

[41] Tù phương: Tướng lãnh chỉ huy của dân Liêu, Kim, hoặc Mông Cổ thường bị người Tống gọi miệt thị là Tù Phương (Tù phương có nghĩa là tay sai của các tù trưởng. Vì đối với người Trung Hoa, vua của các sắc dân ngoài biên ải chỉ được coi là Tù Trưởng dù họ có xưng đế, xưng vương như thế nào đi nữa). Ở đây, chữ Tù Phương được dùng lẫn lộn với chữ Tù Trưởng.

[42] Lưu Ly Vương (gọi đủ là Tỳ Lưu Ly – Virudhaka), dịch nghĩa là Ác Sanh Vương, con của vua Ba Tư Nặc (Prasenajit) xứ Câu Tát La (Kosala) và phu nhân Mạt Lợi (Mallika). Do quý kính đức Phật, vua Ba Tư Nặc xin cầu hôn với dòng họ Thích Ca, nhưng hoàng tộc Thích Ca tự cho mình là huyết thống cao quý, không thể xen tạp với dòng họ khác, nhưng không thể không gả vì thế lực của Ba Tư Nặc quá mạnh. Cuối cùng, vương gia Ma Ha Nam gợi ý đem Mạt Lợi là cô tỳ nữ xinh đẹp, thông minh nhất của chính mình, giả làm công chúa dòng họ Thích Ca, gả cho Ba Tư Nặc. Mạt Lợi sanh ra Tỳ Lưu Ly. Khi Tỳ Lưu Ly tám tuổi, về quê ngoại học bắn cung. Lúc bấy giờ, dòng họ Thích vừa xây xong một ngôi giảng đường để thỉnh Như Lai và các vị thánh tăng đến cúng dường. Tỳ Lưu Ly cùng năm trăm đứa trẻ vào giảng đường, trèo lên tòa sư tử chơi, bị họ Thích mắng là “kẻ nô tỳ” và đuổi ra khỏi cửa. Tỳ Lưu Ly vô cùng căm tức, lại được đại thần Khổ Mẫu (Dīgha Chārāyana) xui xiểm, nên đã thừa cơ đoạt ngôi vua cha khi Ba Tư Nặc viễn du. Ba Tư Nặc chạy sang cầu viện A Xà Thế giúp đỡ, nhưng bị bệnh chết trên đường lưu vong. Nghe tin cha chết, Tỳ Lưu Ly liền đem binh tiến đánh thành Ca Tỳ La Vệ (dù Phật Thích Ca đã ba lần hiện thân khuyên can). Chiếm được thành, Tỳ Lưu Ly tàn sát tận diệt dòng họ Thích Ca, máu chảy thành sông.

[43] Giếng trời (thiên tỉnh, courtyard): Khoảng sân trống giữa các khu nhà xây quanh bốn phía, nhằm mục đích thoáng khí và lấy ánh sáng chiếu vào nhà.

[44] Vào thời Đường, người đỗ đầu kỳ thi Hương gọi là Giải Nguyên, đến đời Tống gọi là Giải Đầu. Từ thời Minh, Thanh, trở đi, những người đỗ khoa thi Hương được gọi chung là Cử Nhân, nhưng dân gian vẫn quen gọi là Hiếu Liêm. Người đỗ đầu khoa thi Hương vẫn gọi là Giải Nguyên như thời Đường.

[45] Quán Sát là một chức quan cầm đầu quân sự tại một châu, gọi đủ là Quán Sát Xử Trí Sứ.

[46] Cấp Gián là danh xưng gọi chung hai chức vụ Cấp Sự Trung và Gián Nghị Đại Phu.

[47] Thừa là một chức quan, là thuộc cấp của Thái Úy. Đại Lý Tự là cơ quan chủ quản tư pháp, chuyên quản trị những vụ kiện tụng hình sự, được đặt ra dưới thời Bắc Tề, đứng đầu là Đại Lý Khanh, phó là Đại Lý Thiếu Khanh. Những nhân viên cấp nhỏ hơn gọi là Đại Lý Thừa.

[48] Theo Châu Dịch Chỉ Yếu, Đồng Nhân là quẻ thứ 13 trong sáu mươi bốn quẻ, có tên đầy đủ là Thiên Hạ Đồng Nhân do hai quẻ Càn và Ly ghép lại (trên Càn dưới Ly), hàm nghĩa “thượng hạ đồng thuận”, tượng trưng cho “trước gian nan, sau thuận lợi”. Câu nói trên đây trích từ phần Tượng Truyện giải thích về ý nghĩa của hào thứ năm trong quẻ này.

[49] Châu Đình Nho (1593-1644), tự là Ngọc Thằng, hiệu Ấp Tề, người làng Nghi Thành, huyện Nghi Hưng, tỉnh Giang Tô, làm đến chức Đông Các Đại Học Sĩ dưới thời Sùng Trinh. Ông ta thông minh, văn tài hoạt bát, được coi là thần đồng, rất thông minh, mẫn tiệp, giỏi đoán ý người khác, là lãnh tụ của nhóm Phục Xã, từng làm cố vấn thân tín của  vua Sùng Trinh. Năm Sùng Trinh 16 (1643), quân Thanh vượt quan ải tấn công Trung Nguyên, kinh thành rúng động. Châu Đình Nho vâng lệnh dẫn quân ra ngoài thành đối địch, nhưng đóng lì tại Thông Châu, không dám tiến lên, chỉ lo nhậu nhẹt, ca hát cùng thuộc hạ, ngụy tạo chiến công, nên được nhà Minh thăng lên làm Thái Sư cho đến khi Cẩm Y Vệ Chỉ Huy Sứ Lạc Dưỡng Tánh dâng sớ hạch tội, chân tướng mới lộ ra. Vua cả giận bắt Châu Đình Nho tự tử vào năm Sùng Trinh 17 (1644); do vậy, những người khắc in văn chương của Châu Đình Nho trước đó đều bị vạ lây.

[50] Cẩm Y Vệ là cơ quan đặc vụ kiêm tình báo quân sự thời Minh, có tên gọi đầy đủ là Cẩm Y Thân Quân Đô Chỉ Huy Sứ Ty. Tiền thân của nó chính là Ngự Dụng Củng Vệ Ty (được thành lập vào thời Minh Thái Tổ). Cơ quan này trực tiếp nhận lệnh từ nhà vua, có thể bắt cứ ai (chỉ trừ hoàng đế), kể cả hoàng thân quốc thích, có thể xử tử không cần xét xử công khai. Đồng thời nó có nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo quân sự.

[51] Hòa Lâm là tên gọi tắt của Cáp Lạp Hòa Lâm (Karakorum), vốn là kinh đô cũ đế quốc Mông Cổ, nhưng đến đời Thanh thì đã trở thành nơi hoang phế. Thành phố này nay nằm ở Tây Bắc tỉnh Övörkhangai của Mông Cổ.

[52] Lô Tuần (?-411) thuộc một dòng họ lớn ở Phạm Dương (nay thuộc Hà Bắc) vào thời Đông Tấn, là chồng của em gái Tôn Ân người xứ Lang Tà (tỉnh Sơn Đông). Khi Tôn Ân chết trận, Lô Tuần trở thành thủ lãnh của đám quý tộc vùng Lang Tà, có tham vọng lật đổ nhà Tấn, từng hưng binh đánh chiếm nhiều phen, giết các thái thú những châu huyện quan trọng. Lô Tuần từng nhiều lần đánh xuống Quảng Đông, Hợp Phố, Giao Châu, khiến nhà Tấn chao đảo, cho đến khi bị Đỗ Huệ Độ đánh bại, phải tự giết vợ con rồi nhảy xuống sông tự sát.

[53] Thù là đơn vị trọng lượng thời cổ, một thù bằng 1/24 của một lượng. Áo lục thù chính là áo cõi trời, rất nhẹ, nói một cách ước lượng là lục thù (sáu thù), chứ sáu thù thì vẫn còn nặng hơn áo cõi trời rất nhiều!

[54] Nội điển: Kinh sách nhà Phật.

[55] Thông Lãnh chính là vùng cao nguyên Pamir hiện thời. Nơi này nổi tiếng vì Con Đường Tơ Lụa đi qua đó. Pamir nằm giữa Trung Quốc, A Phú Hãn và Tajikistan. Đây là nơi được gọi là “nóc nhà của thế giới” vì là nơi hội tụ các mạch núi lớn như Tuyết Sơn (Himlayas), Thiên Sơn, Karakorum, Côn Luân và Hindu Kush.

[56] Theo Trung Y Dược Điển, Hư Thũng (Thủy Thũng) là một chứng bịnh do Thận hư (Thận khí suy hụt), đến nỗi Hàn xâm nhập, khiến cho cơ thể sưng phù vì nước đọng dưới da. Trước tiên là phù thũng ở bên ngoài, rồi đến sưng to các nội tạng nên gọi là Hư, nước tiểu có cặn trắng ánh xanh, thường bị tiêu chảy, vẻ mặt tái xanh, mệt mỏi, tiếng nói nhỏ yếu. Khi nặng, chất dịch dưới da có thể biến thành mủ.

[57] Thúc Hướng tên thật là Dương Thật Hiệt (Thúc Hướng là tên tự), vốn là một chính trị gia lẫy lừng của nước Tấn thời Xuân Thu. Ông làm quan khắp ba triều vua Tấn Điệu Công, Tấn Bình Công, Tấn Chiêu Công và từng đạt được hiệp ước liên minh quân sự với nước Sở. Còn Tử Sản (?-522 trước Công Nguyên), tên thật là Cơ Kiều, tự là Tử Sản, còn có tên tự là Tử Mỹ, thường được nước Trịnh gọi là Công Tôn Kiều (vì Tử Sản vốn là cháu nội của Trịnh Văn Công, nên thay vì gọi theo họ, người ta gọi theo quan hệ với hoàng tộc thành họ Công Tôn), vốn là một nhà tư tưởng và chính trị gia lỗi lạc thời ấy. Ông làm Khanh Đại Phu (giống như Tể Tướng) nước Trịnh, chấp chánh suốt hai mươi ba năm

[58] Quả quân: Tiếng các quan đại phu của các nước chư hầu gọi vua nước mình. Chữ Quả Quân ở đây chỉ vua nước Tấn.

[59] Truyền Thi là từ ngữ cổ để gọi bệnh lao kết hạch ở phổi. Câu truyện này trích từ phần Xí Thịnh Quang Chú trong bộ Di Kiên Giáp Chí của Hồng Mại đời Tống.

 

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.