Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

PHÁP HOA NGHĨA SỚ

SỐ 1721

QUYỂN 08

Đời Tùy, Sa môn Cát Tạng soạn

PHẨM DƯỢC THẢO DỤ THỨ NĂM

Sở dĩ có phẩm này bắt đầu tập Hoa Nghiêm tập họp đến cuối trước hội Linh Sơn gọi là khai hiáo năm thừa, từ đầu kinh này đến cuối phẩm Tín Giải hợp năm thừa qui về một thừa. Nay một phẩm đây nêu dụ giải thích đầy đủ nghĩa khai hiệp. Từ một đất sanh, một trận mưa thấm nhuần tức dụ chí lý không hai cho nên hiệp năm thừa để qui một, mà các cây cỏ đều có sai khác, nghĩa là tùy căn tánh năm thừa nói năm thứ giáo môn gọi là khai, nếu chỉ khai mà không hợp thì được giáo mà mất lý, nếu chỉ hiệp mà không khai thì được lý mà quên giáo. Cho nên, nay nêu tuy khai mà hiệp, tuy hiệp mà khai; tuy hiệp mà khai, một mà thường năm, tuy khai mà hiệp, năm mà thường một, đủ biết khai hiệp lý giáo mới thành. Vì thế, dùng phẩm này giải thích thành nghĩa Nhất hóa khai hiệp. Nhưng tuy khai mà hiệp, hiệp gọi khai hiệp, tuy hiệp mà khai, khai gọi hiệp khai, hiệp khai tức chẳng khai, khai hiệp tức chẳng hiệp, cho nên chẳng khai chẳng hiệp chẳng năm chẳng một mà gương làm khai hiệp. Nên văn dưới chép: rốt ráo Niết-bàn thường vắng lặng tướng cuối cùng trở về “Không”: Vì các pháp thể chân thật nên gọi là diệu, không bị các bên làm ô nhiễm nên gọi là hoa sen.

Kế là luận Pháp Hoa nói rõ ý phẩm này: Nhà lửa dụ cho phá bệnh của phàm phu, cùng tử dụ cho phá bệnh Nhị thừa, mây mưa dụ cho phá bệnh Bồ-tát. Bồ-tát nghe trên nói chỉ có Nhất thừa liền cho rằng rốt ráo không còn Ba thừa phương tiện, đây tức là được thật mất quyền, còn thể quên dụng. Nhưng biết quyền mới chính là ngộ thật, thấu đạt dụng mới xét thấy thể. Đã không biết quyền thì cũng không ngộ thật tức quyền thật đều tan, thể dụng đều mất. Vì trị bệnh này nên nói về tuy từ một đất sanh ra, một mưa thấm nhuần mà các cây cỏ đều có sai khác, tuy chí lý không hai mà ở duyên có năm, vì thế nghĩa quyền thật thành tựu, thể dụng mới nói lên. Kinh này đã gọi là “Giáo Bồ-tát pháp Phật sở hộ niệm”, cho nên khiến Đại sĩ lìa bệnh phàm phu Nhị thừa và bệnh Bồ-tát mới gọi là giáo Bồ-tát pháp Phật sở hộ niêm.

Kế là dựa theo ý thuật thành tựu sanh khởi phẩm này tức là: Một phẩm Thí dụ chính là nói về nói giáo, Phẩm Tín Giải nói về trung căn lãnh giải, nay một phẩm này là Như lai thuật sự thành tựu. Thuật thành là nói theo dụ, tất cả cây cỏ gồm có hai nghĩa:

  1. Không biết đồng.
  2. Không biết khác.

Không biết đồng nhau là không biết từ một đất sanh, một mưa thấm nhuần. Không biết khác là không biết cây cỏ tự có khác nhau. Nếu như có một bụi cỏ tốt lành năng biết đồng khác tức là loại đặc biệt; người bẩm thọ giáo cũng có hai điều mê:

  1. Không biết lý đồng.
  2. Không biết duyên có khác, mà Ca-diếp là người năng biết lý đồng, năng biết giáo khác chính là người đặc biệt. Cho nên văn dưới chép: Như cỏ cây kia không tự biết tánh thượng trung hạ của chính nó.

“Ca-diếp! Các ông rất là ít có có thể biết Như lai tùy nghi nói pháp hay tin hay nhận: cho nên nêu ra mây, mưa cỏ thuốc thuật thành Ca-diếp lãnh giải. Nếu đối chiếu Ca-diếp ở Phẩm Tín Giải nói mười thí dụ, mười ân khen ngợi công đức Phật cũng còn chưa hết, nên lại nói thí dụ mây, mưa, cỏ, cây rộng khen ngợi Như lai thật vô phương đại dụng cứu giúp khắp lợi ích chúng sanh, khen ngợi không thể hết nên nói phẩm này. Nếu để giải thích thành Phẩm Tín Giải: trên nói về mười thí dụ mười ân, vô lậu vô vi là vua các pháp có thể vì kẻ hạ liệt nhẫn việc cao thương đó, tức thời chúng cho rằng bắt đầu Phật quá khứ đến cuối cùng ở hội nầy, Đức Phật thật là khổ nhọc dụng quyền khéo léo cho nên nay nói Như lai tuy thuận theo theo mà vô tâm quyền biến. Vì thế, kinh Hoa Nghiêm chép: Vô tâm đối với kia đây mà năng ứng khắp tất cả. Cho nên nay nói thí dụ mây mưa vô tâm để giải thích thành tựu Phẩm Tín Giải.

Nói Phẩm Dược Thảo Dụ: Dược là gọi chung tên thuốc trong các cây cỏ để trị bệnh, thảo là tên riêng của hình cây, mà nói cỏ thuốc là nêu cả hai chung riêng. Chỉ nói cỏ thuốc không nói cây thuốc: là nói cây hai là ít, thảo ba tức nhiều cho nên nói theo nhiều. Lại nay chính là nói người trung căn lãnh giải cho nên đề dụ cỏ thuốc không đề cây thuốc. Sở dĩ nêu dụ cỏ thuốc cho người trung căn gồm có ba nghĩa:

  1. Lãnh thọ giáo được giải giải sanh thì có thể diệt hoặc, dụ như nghĩa cỏ thuốc trị bệnh.
  2. Cỏ thuốc năng trị lành các bệnh cho người, dụ nghe giáo được giải tức thành Bồ-đề ắt có công cứu giúp.
  3. Cỏ thuốc quí nhất trong các thứ cỏ nói lên tôn quí trong hàng Bồ-tát, khác với Thanh văn trên chưa được lãnh ngộ như cùng tử thấp kém.

Hỏi: Cỏ thuốc vô tình mà thấm nhuần, bẩm thọ giáo có tâm mà lãnh giải, sao xếp vào thí dụ?

Đáp: Muốn nói về nghĩa duyên giáo tương xứng, mây mưa vô tư mà tưới nhuần, cỏ cây vô tâm mà nhận, hoặc vô tư mà tưới thấm, hữu tâm mà nhận tức duyên giáo trái nhau do đâu lãnh giải cho nên nói căn bản vô tâm, hiển giáo vô tư. Có thể nói rằng nói pháp là không nói không chỉ bày, kia nghe pháp là không nghe không đắc, cũng nói như huyễn nói, nghe như huyễn nghe, không có nói mà hiển đạo, dứt nghe mà mưa hoa tức là việc ấy.

Hỏi: Vì sao biết như vậy?

Đáp: Văn nói pháp ấy không thể chỉ bày tướng ngôn từ vắng lặng, nay ta đã chỉ bày tức không thể chỉ bày, tuy chỉ bày mà không nói, cũng là nghe không thể nghe, tuy nghe mà bặt nghe.

Hỏi: Thí Dụ cỏ thuốc, Hóa thành đều là nêu dụ. Vì sao nhà lửa gọi riêng tên Thí dụ?

Đáp: Chung đều xen lẫn được, mà riêng không khéo lệ nhất định, nhà lửa ở đầu cho nên gọi tên chung, các phẩm khác đều ở sau nên gọi tên riêng.

Hỏi: Văn nêu đầy đủ bốn việc mây, mưa, cỏ, cây. Vì sao chỉ đề tên Dược Thảo?

Đáp: nói theo văn: cỏ thuốc là trước dụ cơ cảm vào Thánh, mây mưa ở sau dụ cho hình và tiếng ứng vật, phải do cảm mới ứng cho nên từ đầu đặt tên. Lại nay nói trung căn lãnh giải cho nên đề tên Phẩm Dược Thảo, mây mưa không đúng nên không nói tên.

Hỏi: Nêu Dược Thảo để thuật thành cho nên nói Phẩm Dược Thảo, trên nói cùng tử do lãnh giải nên nói phẩm Cùng tử ư?

Đáp: Cùng tử có cả mê ngộ, nay nói tin hiểu nên dùng tên riêng. Cây cối chung cả thuốc độc, nay nói cỏ thuốc cũng đặt tên theo riêng.

Hỏi: Trên nói cùng tử tín giải, từ tín giải để đặt tên, nay nói Như lai thuật thành xếp vào tên ư?

Nay nói Phẩm Dược Thảo có thể bao hàm hai nghĩa:

  1. Được thuật thành trung căn lãnh giải.
  2. Nói rộng Phật giáo lợi ích vô biên. Thuật thành chỉ được thành

mà trước thiếu nghĩa sau cho nên không nói phẩm Thuật Thành.

Lại, lãnh giải đề tin hiểu căn cứ pháp đặt tên, thuật thành gọi là Dược Thảo căn cứ dụ làm tên, muốn cho cả hai pháp thí đều có không nên một loại đề đặt tên. Phẩm chia làm hai:

  1. Thuật thành sở giải.
  2. Rộng khen ngợi công đức của Phật.

“Phật bảo ngài Ma-ha Ca-diếp”: Ca-diếp là bậc tôn quí trong người trung căn lại là chủ nói thí dụ cho nên bảo riêng. “Và các vị đại đệ tử:” là các vị Thiện Cát v.v… “Hay thay! Hay thay!” Thích Luận chép: Hai lần nói hay thay v.v… là rất vui. “Đúng như lời các ông vừa chép:” là hai lần khen thuật khéo nói việc kia Đúng như lời nói là ấn định đúng với sự thật. Nhưng khen ngợi có bốn trường hợp: Hoặc nói khéo mà việc không thật, hoặc việc thật mà nói không khéo, hoặc cả hai đều đầy đủ, hoặc cả hai đều không. Nay cả hai đều đủ. “Như lai lại có vô lượng công đức”: là rộng khen công đức của Phật. Y cứ văn chia làm hai: Văn xuôi và kệ tụng.

Văn xuôi chia làm hai:

  1. Nói lược công đức của Phật vô tận.
  2. Giải thích rộng công đức của Phật là vô cùng.

Trên nói khéo nói sự thật, bởi là tích một phương, hóa vô phương chưa hết, hóa vô phương, thì chẳng phải Ca-diếp có thể hiểu hết. Kinh Tịnh Danh nói Phật có ba danh hiệu, Thanh văn trong cõi Tam thiên Đại thiên như A nan tổng trì dùng tuổi thọ một kiếp còn không thể thọ trì huống chi là vô lượng hiệu. Hiệu còn như vậy huống chi là công đức. Vì sao? Vì pháp thân tức là thật tướng thật tướng vô biên nên công đức vô biên, ứng thân có các phương tiện của số chúng sanh… tức công đức cũng không hết được.

“Ca-diếp nên biết! Đức Như lai tự tại đối với các pháp” v.v… là rộng khen ngợi công đức của Phật vô cùng. Văn nầy có hai phần:

  1. Pháp thuyết nói về, hai trí quyền thật.
  2. Thí nói hình tiếng lợi ích chúng sinh.

Trong có hai trí không sâu xa nào không đến, ngoài có hình tiếng lợi vật bình đẳng vô tư, bởi tận cùng đến nguồn Thánh đức, tận cùng hóa công Như lai nên nói lược hai thứ nầy. Trong phẩm Tín Giải có mười dụ mười ân, nay Như lai đối với trên mà nói về tám pháp tám dụ.

Nói tám pháp.

  1. Vua các pháp.
  2. Nói không dối.
  3. Nói tất cả giáo.
  4. Đồng nêu một lý.
  5. Khen ngợi Phật có trí chiếu lý.
  6. Khen ngợi Phật có khả năng biết căn cơ.
  7. Khen ngợi Phật khéo biết giáo môn.
  8. Khen ngợi Phật ứng căn cơ nói giáo.

Như lai tự tại đối với các pháp: trong mười dụ mười ân chỉ nói về hóa một phương tức chưa thể tự tại, nay nói tự tại đối với các pháp là biết vô phương giáo hóa. Nhưng tự tại đối với pháp gồm đầy đủ hai thứ:

  1. Thể pháp tự tại.
  2. Hóa dụng tự tại.

Đủ hai tự tại này gọi là Vua pháp “nếu có nói ra lời chi đều không hư đối”. Là nêu lời phật nói không luống dối, đã siêu vượt kia khen ngợi nói giống như quá thật, cho nên nay nói thật. Nói thật sự nhiều lược có ba thứ:

1/ Như lai thường y theo hai đế nói pháp nên không hư đối.

2/ Năng dùng trí khéo léo đối một nói ba, nói ba ý chỉ để khuyên nhất lý nên đối lý là không dối. Lại đối vật thật lợi ích nên nói không dối.

3/ Căn cứ vô phương giải thích, Như lai nói thật cũng thật, nói suông cũng thật, thuận nói cũng thuận, trái nói cũng thuận, do đều năng khai đạo năng làm lợi ích chúng sinh cho nên chẳng có gì không thật, chẳng có gì không thuận. Kinh Niết-bàn nói về bốn trường hợp: Đạo nói là đạo, phi đạo nói phi đạo, đạo nói phi đạo, phi đạo nói đạo. Dùng đạo tâm mà nói bốn câu, thì bốn câu đều là đạo, dùng tâm phi đạo mà nói bốn câu, bốn câu đều phi đạo. Cho nên kinh Tư ích chép: tất cả pháp chính là tất cả pháp.

“Đức Phật đối với tất cả pháp dùng trí phương tiện, mà giảng nói” v.v… là nói tất cả giáo. Sở dĩ nói tất cả giáo là trong nói mười dụ mười ân vì là giáo một phương, biện giáo còn chưa hết, cho nên nay nói về nói tất cả giáo mới gọi là cùng. Tất cả pháp: luận Trí độ chép: hữu vi, vô vi gồm nhiếp tất cả pháp, lại thức biết các pháp trí biết các pháp cũng thu nhiếp tất cả pháp. Lại nói năm pháp tụng thu nhiếp tất cả pháp. Ba đời vô vi và không thể nói, không thể nói tức là thật tướng các pháp, chẳng phải hữu vi chẳng phải vô vi ngôn từ suy nghĩ đều bặt dứt. Chánh Lượng Bộ chép: Bất khả thuyết thứ năm ấy tức là mười bốn vô ký. Luận Địa Trì chép: bốn pháp nhiếp tất cả pháp nghĩa là thế đế và thế đế trí, bậc nhất nghĩa đế và bậc nhất nghĩa đế trí. “Dùng trí phương tiện”: Câu trên là nói giáo sở thuyết, nay nói trí năng nói, trí nghĩa là Bát-nhã, phương tiện, tức là Ủ-hòa. Hai thứ này là cha mẹ Chư Phật, là phương pháp cần thiết hóa độ chúng sanh cho nên nói nay chính dùng trí làm thể phương tiện làm dụng, cho nên dùng trí phương tiện nói tất cả pháp. Pháp của Phật nói đều đến địa nhất thiết trí là đồng nói giáo để nêu lý. Ở trên nói dùng trí phương tiện nói tất cả giáo tức là nói khéo diệu, câu này nói giáo nêu lý nghĩa là nghĩa sâu xa kia. Tuy dùng trí phương tiện nói tất cả pháp, đại tông cuối cùng đều trở về chánh quán nhất thiết trí. “Như lai thấy biết chỗ trở về của tất cả pháp…” là nói Phật biết tất cả pháp chung qui đến cùng cực. Văn nầy giải thích trên nói đều trở về địa nhất thiết trí. Do Như lai khéo biết lý không có thú hướng khác, nghiệm biết trước nói khác đều là đến nghĩa nhất thiết trí. “Cũng biết chỗ tâm sở hành của chúng sanh thông suốt vô ngại…” Câu này nói Phật khéo biết căn tánh. Đã biết lý một mà nói có muôn sai khác. Do thông đạt căn tánh người tùy theo sự thích nghi. “Lại đối với các pháp rốt ráo biết hết”; câu này là nói khéo biết pháp vượt, đối với trên thấu đạt căn tánh người. “Chỉ bày tất cả trí tuệ cho các chúng sanh”: câu này ứng bệnh cho thuốc, không có căn cơ khác nhau.

“Thí như trong cõi Tam thiên đại thiên…” là Thí nói. Trước khai thí, kế hợp thí, nay dùng ba nghĩa giải thích văn thí dụ nầy:

  1. Chia rộng có tám thí dụ.
  2. Hiệp tám làm bốn thí dụ.
  3. Hiệp bốn thành hai thí dụ.

Nói tám thí dụ:

  1. Đất là năng sanh.
  2. Cây cỏ là sở sanh.
  3. Mây giăng.
  4. Mưa rơi xuống.
  5. Thọ sự thấm nhuần.
  6. Thêm lớn.
  7. Đồng một đất, một trên mưa.
  8. Cỏ cây khác nhau. tám thứ nầy tức là thứ tư.

Trước có đất năng sanh, kế có cỏ cây sở sanh, do có cỏ cây cho nên mây giăng, trước đã giăng mây kế sẽ mưa. Đã có mây mưa thì cây cỏ thọ nhận, trước đã thấm nhuần sau liền thêm lớn, tuy có thấm nhuần thêm lớn nhưng đều do một mưa thấm một đất sanh ra, tuy năng sanh năng nhuận là một mà các cỏ cây mới có khác nhau, nên có thứ lớp tám thí dụ này. Nhưng đủ tám thí dụ, nghĩa mới tròn đầy, nay lược hiệp: Đời quá khứ Phật giáo năng sanh như đất, sở sanh năm thừa hạt giống gốc lành như cỏ cây. Đã có hạt giống năm thừa cảm Phật ra đời cho nên như mây giăng, Như lai ra đời ắt nói chánh pháp kế nêu mưa rơi, chúng sanh ban đầu bẩm thọ Phật giáo vui mừng cho nên gọi là thấm nhuần. Đều nhờ lợi ích mà thêm lớn, chí lý không hai như một đất một mưa; đối với năm thừa được lợi ích khác nhau như cỏ cây khác nhau.

Kế hiệp tám dụ thành bốn: cặp đầu tiên là năng lạnh thọ, cặp thứ hai là sở lãnh thọ, cặp thứ ba là chánh lãnh thọ, cặp thứ tư là nói về đồng khác. Kế hiệp bốn dụ làm hai: Ba cặp đầu là lãnh thấm nhuần ví như ở giáo xưa, một cặp sau luận đồng khác ví như ở giáo nay.

“Thế giới Tam thiên đại thiên:” Có người nói đây dụ cho nơi chúng sanh trong năm thừa cư trú, dưới nói về cây cỏ dụ chúng sanh năng trụ trong năm thừa. Có người nói đất là năng sanh ví như tập nhân đời quá khứ, cỏ cây là sở sanh dụ cho tập quả đời hiện tại. Nay cho rằng mặt đất dụ cho Phật giáo đời quá khứ, Phật giáo vô tư năng sanh gốc lành cho chúng sanh ví như đồng mặt đất, cho nên văn dưới chép: Từ một đất sanh ra tức chứng minh kia. Hạt giống năm thừa được sanh ra ví đồng với cỏ cây, chỉ Phật giáo quá khứ rộng lớn vô biên ví đồng với thế giới Tam thiên đại thiên. Đây là đối với Ca diếp khen ngợi dấu tích một phương của Phật, nay muốn khen ngợi hóa vô phương cho nên nêu đại thiên làm dụ. “Núi sông, khe, hang, ruộng, đất: trên khen ngợi chung Phật giáo năng sanh, nay khen ngợi riêng năm thừa làm năng sanh. Có người mỗi mỗi dụ phối riêng nhưng nghĩa thường không giống, nay nên lược. “Sanh ra cây cối lùm rừng” là nói cây cối sở sanh. Trước năng sanh có hai: Đại thiên là chung, sông núi là riêng, nay sở sanh cũng có hai:

1) Chung; 2) Riêng.

Cây cối lùm rừng: là nói chung sở sanh. Lùm là gọi chung trăm thứ cây cỏ, cây là gọi chung các cây; cỏ nhóm lại thành lùm, lùm cây là rừng, đây dụ nói chung chúng sanh năm thừa. “Và các cỏ thuốc” nói riêng sở sanh, cỏ có công năng trị bệnh gọi là cỏ thuốc. Sở sanh riêng ấy là nhiều, mà đề nghiêng về lấy tên cỏ thuốc cũng như cỏ kia có công trị lành bệnh, nhiều lợi ích tức là nghiêng về người trung căn lãnh giải thành tựu Bồ-đề; trên nối dõi Phật dưới làm lợi ích chúng sanh. “Bao nhiêu giống loại tên gọi này sắc đều khác…” giải thích chung cỏ cây có nghĩa sai khác, giống là giống riêng, loại là phẩm loại, nói lược loại cỏ 152 có ba, loại có hai, hợp thí có thể biết. Tên gọi màu sắc đều khác nhau: Tên để gọi thể, sắc giống như ngoại hình, dụ chúng sanh năm thừa tên gọi khác nhau, thể tướng khác nhau.

“Mây dày bủa giăng”: là nêu mây giăng. Trước nêu cỏ cây là hạt giống năm thừa tức năng cảm, do cảm mới có được ứng cho nên nối tiếp Chư Phật xuất thế, dụ như giăng mây tức là ứng. Mây dụ cho pháp thân.

1/ Vô tâm mà ứng dụ như mây. Hoa Nghiêm nói về vô tâm với kia đây mà năng ứng tất cả.

2/ Ứng thân thấm nhuần lợi ích ví như mây.

3/ Năng ngăn nóng ví chung như mây.

4/ Pháp thân vì nói vốn như mây, vì mưa vốn dụ như mây mà gọi là mây, tức lợi ích sâu nặng bủa giăng: Rộng lợi ích, trùm khắp Tam thiên Đại thiên thế giới: bình đẳng lợi ích khắp, như Hoa Nghiêm chép: Thân kia ngồi khắp tất cả đạo tràng tức là nghĩa có duyên đồng thấy. Kinh Niết-bàn chép: Mây gọi là hơi thở của rồng, bởi rồng có mây, do mây có mưa, do pháp nhân thùy ứng thân, do ứng thân mà nói pháp. “Đồng thời mưa rơi xuống khắp nơi thấm nhuần:” là nói thí dụ về mưa. Pháp, thí không trước sau cho nên nói đồng thời, lại nói có cảm đồng ứng lại như nhất thời, vì nói không nghiêng lệch cho nói rơi xuống lợi ích khắp vô biên nghĩa đồng thấm nhuần khắp. “Cây cối lùm rừng:” là nói thí dụ thọ nhận: Ban đầu lãnh thọ Phật giáo, tín nhận vui mừng gọi là thấm nhuần.

Văn chia làm ba:

1/ Nói chung thấm nhuần.

2/ “Và các cỏ thuốc” là nói riêng thấm nhuần.

3/ Gốc thân nhánh lá: là dụ bốn pháp tín, giới, định, tuệ. Ba loại cỏ đều có bốn pháp gọi là thượng trung hạ, tùy thượng trung hạ mỗi mỗi đều có sở thọ là tổng kết thấm nhuần.

“Một cụm mây tuôn mưa xuống:” là nói thí dụ thêm lớn, cũng có ba câu:

1/ Nói năng thấm là một.

2/ Xứng theo chủng tánh: là nói giáo xứng duyên.

3/ “Mà được sanh trưởng”: chánh nêu sanh trưởng. Người chưa sanh gốc lành năm thừa thì khiến cho sanh, người đã sanh gốc lành năm thừa thì khiến cho thêm lớn, đều thành nhân năm thừa như hoa đều thành quả năm thừa như thật, sau hiệp trong thí dụ lại có nghĩa khác, hiện ở văn dưới. “Dù một đất sanh một trận mưa thấm nhuần”: là nói về năng sanh là thí dụ đồng nhau. “Mà các cỏ cây đều có khác nhau”. Là dụ sở sanh khác nhau. Ba thí dụ trước nói về giáo xưa đã rồi, giáo xưa tuy nhiều nhưng không ngoài ba thứ: Năng bẩm thọ, sở bẩm thọ và chánh bẩm thọ. Nay hai thí dụ nầy luận năng sanh là đồng, sở sanh có khác, tức là chí lý không hai đối duyên được lợi ích khác nhau. Sở dĩ luận đồng khác: Vì muốn phá hai bệnh xưa nay khen ngợi hai người. Phá hai bệnh xưa nay: Xưa người năm thừa chánh chấp giáo khác, không biết lý đồng, lãnh thọ nay nhất thừa giáo, người bèn chấp nghiêng về lý đồng không biết giáo khác, vì phá hai người này nên nói lý tuy đồng mà không mất giáo khác, tuy hiáo năm thừa khác mà chí lý thường đồng. Do đó văn chép: Tuy một cõi đất sanh một trận mưa thấm nhuần mà các cỏ cây đều có khác nhau. Lại phá hai bệnh: Xưa người năm thừa không biết ở lý không hề có hai, không biết ở duyên không hề có một, vì phá bệnh này nên nói đối với đất mưa không hề có khác, cỏ cây không hề có một. Nay người lãnh thọ giáo Nhất thừa tuy biết chí lý không hề khác, mà không biết ở duyên chưa từ một, vì phá bệnh này nên nói đất mưa không hề khác, cỏ cây không hề một, Xưng tán hai người là:

  1. Xưng tán Phật có khả năng biết đồng khác.
  2. Xưng tán Ca-diếp có khả năng biết đồng khác.

Năng biết đồng: gọi là lý một. Năng biết khác gọi là giáo khác. Lại năng biết đồng ở lý không khác, năng biết khác là ở duyên thành khác.

“Ca-diếp nên biết! Đức Như lai cũng giống như vậy vậy:” là nói hợp thí. Chỉ hiệp bảy thí không hợp thí mặt đất, vì mặt đất là Phật giáo quá khứ, nay chính nói về pháp môn hiện tại cho nên lược không hợp.

Căn cứ hợp bảy thí dụ chia làm hai chương:

  1. Hợp năm thí dụ trước.
  2. Hiệp thí dụ mưa đồng khác ở sau.

Do năm dụ trước nói về giáo xưa thí dụ sau nêu giáo nay nên chia làm hai đoạn hiệp.

Hợp đầu năm dụ lại chia làm hai:

  1. Chánh hiệp năm dụ.
  2. Nêu thí dụ rõ lại.

Căn cứ hiệp năm thí dụ trước chuyển thế nói về nghĩa và Thí nói khác nhau:

  1. Dụ hiệp mây.
  2. Dụ hiệp cỏ cây.
  3. Dụ hiệp mưa.
  4. Dụ hiệp thấm nhuần.
  5. Dụ hiệp thêm lớn.

Sở dĩ cùng thí dụ vốn khác nhau là vì thí dụ vốn muốn nói về do cảm nên ứng, cho nên trước nói về cỏ cây sau biện mây mưa. Nay muốn nói về trước có Như lai ra đời xướng lên đức hiệu cho nên trước hiệp mây, chúng sanh nghe xướng đức hiệu cho nên đến chỗ Phật, nên kế hợp cỏ cây, chúng sanh đã đến chỗ Phật, Như lai liền vì họ nói pháp, nên kế hợp mưa, chúng sanh nghe pháp vui mừng nên kế hợp thấm nhuần, đều nhờ lợi ích nên kế hợp thêm lớn.

Văn hiệp mây lại chia làm hai:

  1. Chánh nêu đức hiệu hiệp mây.
  2. Khuyên vật đến nghe thọ.

Căn cứ đầu hiệp mây lại chia làm bốn:

1/ Nêu hình hiệp mây.

2/ Nêu chung tiếng hiệp mây.

3/ Nêu hiệu bên ngoài hiệp mây.

4/ Nêu đức bên trong hiệp mây. Nghĩa là hình tiếng trong ngoài nhiếp nghĩa tóm lược hết. Đầu tiên chính là nêu hình hiệp mây, kế thí dụ rõ. Dùng đại âm thanh, nói chung tiếng hiệp mây, kế cũng dùng dụ. “Mà xướng lời này”: Nêu hiệu bên ngoài hiệp mây, cho nên nêu mười hiệu: Dùng hiệu khiến thiên hạ đều biết là Đức Phật ra đời khác chín mươi sáu sư ngoại đạo. “Người chưa được độ thì làm cho được độ”; là nêu đức bên trong dùng hiệp mây. Trong nội đức trước nêu bốn mở rộng thệ là ở đây nói ý Như lai ra đời. Như lai sở dĩ ra đời: bởi xưa có bốn thệ nguyện, vì vậy nay nêu mười hiệu xuất hiện ở đời. Cho nên Tăng Triệu nói: kết Tăng na đối với người sơ tâm cuối cùng dùng đại bi phó nạn tức ý văn nầy. Kinh Anh lạc chép: căn cứ bốn đế lập bốn mở rộng thệ nguyện, người chưa vượt qua biển khổ thì giúp cho họ vượt qua biển khổ, cho nên nói người chưa độ khiến được độ. Chúng sanh nghiệp bị phiền não tập đế trói buộc muốn giúp cho giải thoát nên nói người chưa ngộ làm cho tỏ ngộ, người chưa an trong đạo đế khiến cho được an, người chưa đắc diệt đế Niết-bàn khiến cho được đắc. Hai thứ trước tức nguyện đại bi, hai thứ sau tức nguyện đại từ. “Đời nay đời sau Đức Phật đều biết đúng như thật”: Trên nêu bốn thệ nguyện xưa, nay nêu bốn đức, nhưng đức và nguyện đều hiệp mây, đều y cứ dụ để lập danh. Đức đầu tiên tức là ba đạt. Xét rằng muốn hóa vật thì phải biết căn tánh kia, căn tánh chúng sanh hành trong ba đời cho nên trước nêu ba đạt. “Ta là bậc nhất thiết tri tức là Nhất thiết trí”. Ba đạt chỉ biết có trí hữu vi nên kế nói nhất thiết trí tức đủ biết tất cả pháp. “Bực nhất thiết kiến”: Nhưng người Nhị thừa lại có Nhất thiết trí, như Đại phẩm, phẩm Ba tuệ chép: Vì người Nhị thừa không có năm thứ mắt nên nói Nhất thiết kiến. “Là bậc Tri đạo bậc Khai đạo bậc Thuyết đạo”: tuy có các công đức trên, ý muốn chúng sanh nhập đạo nên kế là nói Đạo sư. Nhưng nói đạo là có cả tà chánh, thiện ác ở tâm gọi là tri, mở ra hai đường tà chánh gọi là khai, quanh co chỉ bày thông bít gọi là nói. “Các người hàng trời người…” là khuyên vật đến nghe nhận.

“Bấy giờ có vô số…” là hợp thí dụ cỏ cây tức nhận lời khuyên mà đến. “Lúc đó đức Như lai v.v…” là hợp thí dụ mưa rơi. “Chủng loại nhiều vô lượng”: là hiệp thấm nhuần chính do ban đầu nghe nói pháp tâm sanh vui mừng là thấm nhuần. “Khiến vui mừng được nhiều lợi ích”: hợp thí dụ tăng tưởng, câu này hiệp chung về tăng trưởng. “Các chúng sanh này nghe pháp rõ: là hiệp riêng thêm lớn có hai: Trước căn cứ lợi thế gian hiệp thêm lớn. “Hiện đời an ổn”: Do nghe pháp nên hiện đời chướng diệt thiện sanh được an ổn. “Đời sau sanh về chỗ lành”. Là nói sanh báo “do đạo mà thọ lạc”: nói báo đời sau. Nhưng văn này chung cà sanh báo hậu báo, mà tạm y theo hậu báo để nói. Do nghe chánh đạo cho nên cảm quả báo an vui, vì vậy nói do đạo thọ lạc. “Cũng được nghe pháp”: là nói được lợi ích ra đời, dùng hiệp thêm lớn cũng có ba câu: Đầu là văn tuệ, “lìa các chướng ngại” là tư tuệ. “Theo sức mình chịu được”: là tu tuệ.

Như mây lớn kia: Nêu thí dụ hiệp. Nay ở đầu là nói vềmây. “Mưa rưới nước khắp tất cả”: là nói về mưa. “Cỏ cây lùm rừng”. Là nói về cỏ cây. “Theo giống của mỗi thứ”: là nói được thấm nhuần. “Mỗi thứ đều được sanh trưởng”: thêm lớn, đều hợp với trên.

“Như lai nói pháp một tướng một vị v.v…” hợp đồng khác. Văn cũng có hai:

  1. Chánh hợp đồng khác.
  2. Nêu biết không biết.

Hiệp đồng khác dụ có hai:

1/ Hiệp một cõi đất một trận mưa gọi là hợp đồng.

2/ Hiệp mà các cỏ cây đều có khác nhau gọi là hiệp khác. “một tướng một vị:” Hiệp trên một cõi đất sanh, một trận mưa thấm. Một tướng gọi là một thật tướng hiệp một cõi đất. một vị gọi là một trí vị hiệp với trên một trận mưa, cho nên kệ dưới chép: “Vừng mây kia mưa xuống, nước mưa thuần một vị. “Nghĩa là tướng giải thoát” giải Thíchcả hai nghĩa một tướng một vị. Thoát khỏi năm trụ phiền não trói buộc là tướng giải thoát, lìa nghiệp trong ngoài ba cõi gọi là tướng xa lìa, diệt quả khổ sanh tử gọi là tướng diệt: “rốt ráo đến Nhất thiết chủng trí:” là giải thích một vị trên. Lìa ba tướng trước, nên hệ lụy đều trừ hết, do lìa ba tướng nên soi chiếu đều tròn đầy, soi chiếu tròn đầy nên chẳng phải không có, hệ lụy đều hết nên chẳng phải có, tức là pháp Trung đạo. “Có chúng sanh nào”: Hiệp trên: mà các cỏ cây có khác nhau”. “Không tự hiểu biết”: là nêu biết không biết.

Văn chia làm hai:

  1. Đức Phật biết đồng khác chúng sanh không biết.
  2. Khen ngợi Ca-diếp biết được đồng khác.

Tức là phá hai bệnh khen ngợi hai người. Căn cứ đầu lại có hai:

  1. Chúng sanh không biết khác, Đức Phật biết khác.
  2. Phật biết đồng, chúng sanh không biết đồng.

Đầu văn chia làm bốn:

  1. Nói chúng sanh không biết.
  2. Nói chỉ có Phật mới biết.
  3. Kết thúc chỉ có Phật mới biết.
  4. Kết thúc chúng sanh không biết.

Đầu tiên chép: “Tự mình không hay biết”. Là bởi không biết lý đồng, đối duyên thành khác cho nên nói không biết. Nhưng chúng sanh năm thừa chẳng phải không biết năm thừa khác. “Vì sao? Vì chỉ có Như lai biết”: là nói chỉ có Phật mới biết, mà nói vì sao ấy là nói Phật năng biết, giải thích thành chúng sanh không biết.

Trong đây nói về Đức Phật biết bốn pháp:

  1. Biết bốn pháp.
  2. Biết ba pháp.
  3. Biết hai pháp.
  4. Biết một pháp.

Biết bốn pháp chủng là chủng biệt, Ba thừa chủng loại khác nhau. Tướng là tướng mạo, như từ bi là tướng Bồ-tát, một mình an tĩnh là tướng Duyên giác, theo người khác nghe pháp là tướng Thanh Văn. Thể là thể Ba thừa, đạo chủng tuệ là thể Bồ-tát, nhất thiết trí là thể Nhị thừa, như phẩm Ba Tuệ nói. Tánh: là không thay đổi làm nghĩa, trước trí thể Ba thừa đều trú nơi phần mình không thay đổi lẫn lộn.

“Nhớ việc gì?” Nêu biết ba tuệ, nhưng ba tuệ khác nhau, hoặc dùng người Ba thừa làm ba tuệ, Thanh văn trí cạn như Văn tuệ, Duyên giác trí Tiểu thừa sâu là Tư tuệ, Bồ-tát tận lý như Tu tuệ, cũng đắc Ba thừa đều có Ba tuệ. Văn có ba phen:

  1. Nói cảnh Ba tuệ.
  2. Thể của ba tuệ.
  3. Biện nhân của ba tuệ.

Tác ý chấp cảnh làm niệm (nhớ) tức Văn tuệ, trải tâm tư duy là Tư tuệ, thâm nhập là Tu tuệ. Gọi chung chữ “Việc” là lấy cảnh làm việc. Theo Tỳ-đàm người Ba thừa đồng quán cảnh tứ đế sanh ba tuệ, Tỳ-đàm nói văn tuệ chỉ duyên văn, tu tuệ chỉ duyên lý, tư tuệ hoặc khi duyên văn, khi duyên lý. Luận Thành thật nói chung quán 1 cảnh diệt đế, Đại thừa đồng quán một cảnh thật tướng duyên lý. Vị của Ba tuệ: Tỳ-đàm nói ba phương tiện trước là vị Văn, Tư, bốn gốc lành là vị Tu tuệ. Thành thật nói Tứ niệm xứ là vị Văn Tư tuệ, nhu pháp trở đi là vị Tu tuệ.

“Nhớ thế nào?..” là nói thể Ba tuệ, nghĩa là năng duyên tâm khác nhau. “Dùng pháp gì để nhớ?” v.v… là nói nhân ba tuệ, phương tiện khác nhau do nghiệp đời trước có khác. “Dùng pháp gì được pháp gì?” v.v… là nói hai pháp nhân quả. Dùng pháp gì gọi là nhân, đắc pháp gì gọi là quả, “Chúng sanh ở các địa….” Là nói Đức Phật biết một pháp gọi là địa. Mà nói các thứ: là địa vị năm thừa khác nhau.

“Chỉ có đức Như lai v.v…” kết chỉ có Phật biết. “Như cây cối lùm rừng…” là kết thúc chúng sanh không biết. “Như lai biết pháp một tướng v.v…” Nêu Phật biết đồng chúng sanh không biết đồng. Văn chia làm hai:

  1. Nói Phật năng biết.
  2. Nói ý xưa không nói tức nói chúng sanh không biết.

“Rốt ráo Niết-bàn thường vắng lặng cuối cùng trở về nơi không”… Có người chép: Tuy quá khứ vượt quá số cát như bụi nhỏ, vị lai lại gấp bội số trên, cuối cùng nhập vô dư khôi đoạn Niết-bàn cho nên nói cuối cùng trở về Không, ở đây giải thích tuổi thọ Phật vô thường. Có người chép: y tướng che lấp nói thường giải thích: nói thường nầy là không, vô tướng bất khả đắc nên nói cuối cùng trở về Không. Có người chép: Trống không chẳng có hai mươi lăm hữu nên gọi vắng lặng. Nay nói có hai thứ:

  1. Phàm Thánh cuối cùng đều trở về đại Niết-bàn nên nói trở về Không. Cũng như Tăng Triệu nói Niết-bàn vô danh. Luận chép: là chỗ không thể thấy nghe xét biết Tứ không mê muội, chín dòng do đó mà kết hợp qui về, các bậc Thánh ở đây ngầm hội nhập tức dùng ý văn nầy để soạn luận.
  2. Từ xưa đến nay khai dụng của hiáo năm thừa đến hội Pháp Hoa dứt dụng qui về thể tức không còn chi nhánh năm thừa, vốn đối với năm nên nói về không năm, đã không có năm cũng chẳng phải không năm, tức ngôn từ vắng lặng nên gọi là Không.

Hỏi: Ở trên nói cuối cùng trở về nhất thiết chủng trí có gì khác với nay ư?

Đáp: Chung là một đạo thanh tịnh, tùy nghĩa đặt tên hoặc gọi chủng trí hoặc gọi Niết-bàn hoặc gọi Nhất thừa hoặc gọi Bát-nhã cho nên trước nói Chủng trí, nay nói Niết-bàn. Nếu dùng hai văn hợp nhau, thì trước nói cuối cùng trở về chủng trí nghĩa là quả Tam-bồ-đề, nay nói trở về Niết-bàn nghĩa là quả quả. Bởi trí Nhị thừa chẳng phải trí rốt ráo nên cuối cùng trở về trí Phật, Niết-bàn của Nhị thừa chẳng rốt ráo nên cuối cùng trở về đại Niết-bàn. Trên hợp xe lớn cũng chọn hai nghĩa này hợp, như trước giải thích.

Hỏi: Vì sao nói riêng hai quả?

Đáp: có hai nghĩa:

  1. Trí Niết-bàn hữu dư trí của Nhị thừa là chẳng rốt ráo nên nay nêu trí Phật rốt ráo.
  2. Niết-bàn vô dư của Nhị thừa chẳng phải dứt rốt ráo nên nay nói dứt rốt ráo, nghĩa là hai quả tử mãi mãi bặt vượt khỏi dòng năm trụ nên gọi là diệt độ.

Lại, trên nói rốt ráo chủng trí nghĩa là không cảnh nào không chiếu tức Bát-nhã, nay chẳng có lụy nào không vắng lặng, nghĩa là giải thoát mà pháp thân ở bên trong đó.

Hỏi: Đã nói trở về Niết-bàn, vì sao nói cuối cùng trở về Không?

Đáp: Hoặc gọi là rốt ráo Không, hoặc gọi là đại Niết-bàn hoặc gọi đạo của Chư Phật, nhưng Trung luận phá, phẩm Niết-bàn chính là phá bốn thứ Niết-bàn:

  1. Phá hữu là Niết-bàn.
  2. Phá không là Niết-bàn.
  3. Phá vừa không vừa hữu.
  4. Phá phi không phi hữu, mà sau kết luận rằng: Niết-bàn dứt bặt bốn câu, siêu nơi trăm phi, không biết gọi làm sao nên gượng gọi là Không.

“Đức Phật biết như thế rồi v.v…” là nói Phật tuy biết lý nhất nhưng vì chúng sanh chưa có khả năng nên xưa không nói, đây tức nói lên chúng sanh chẳng biết đồng.

Hỏi: Câu trên nói Phật biết Niết-bàn, nay nói Phật biết tâm chúng sanh không kham nổi nên không nói Niết-bàn vì sao xưa không nói chủng trí ư?

Đáp: có hai nghĩa:

  1. Muốn hiển đại Niết-bàn tức là chủng trí khác với Nhị thừa khôi đoạn vô vi.
  2. Nếu nói xưa không nói Niết-bàn đối với nghĩa không tiện vì xưa cũng nói Ba thừa đồng nhập vô dư. Tức dùng văn nầy trách các sư như Quang Trạch v.v…. Nếu cuối cùng trở về Không đã là khôi đoạn Niết-bàn tức đã nói Phật biết Niết-bàn sao được nói xưa không nói khôi đoạn Niết-bàn ư!

“Ca-diếp! Các ông là rất ít có v.v…” là khen ngợi Ca-diếp có thể biết đồng khác, xưa nay hai duyên đều có thiên chấp không biết đồng khác, mà Ca-diếp năng biết cho nên gọi ít có. Văn chia làm hai:

  1. Chính khen ngợi.
  2. Vì sao? Là giải thích khen ngợi, nhưng phải khen ngợi Ca-diếp biết đồng khác, chỉ đối xưa bệnh không biết khác là phương tiện, cho nên nay chỉ khen ngợi Ca-diếp ở trong số người không biết khác gọi là ít có. Văn nầy cũng được khen ngợi đầy đủ khác đồng, “Có thể biết Như lai tùy nghi nói pháp” là khen ngợi biết khác, “năng tin năng nhận” là khen ngợi biết đồng.

Căn cứ kệ có năm mươi bốn hàng rưỡi chia làm hai:

  1. Bốn hàng tụng pháp nói về hai trí quyền thật.
  2. Năm mươi hàng rưỡi tụng thí nói về hình tiếng lợi ích chúng sinh.

Trên pháp nói có tám môn, nay chuyển thế nói pháp, khen ngợi ý Chư Phật ra đời, nói về xưa nay có, nói nín không đồng, chia làm bốn chương:

  1. Kệ khen ngợi Phật xưa tùy nghi quyền nói.
  2. Kệ nói Như lai ngày xưa không nói pháp thật.
  3. Giải thích Phật xưa không nói ý thật.
  4. Giải thích ý xưa nói quyền.

“Pháp vương phá các cõi”: có người nói phá hai mươi lăm hữu gọi là phá hữu, như Niết-bàn nói về đắc hai mươi lăm Tam-muội phá hai mươi lăm hữu; Như lai tự phá hai mươi lăm hữu vượt ngoài sanh tử ở ngôi vị Pháp vương, nay ra đời cũng vì chúng sanh phá hai mươi lăm hữu. Lại nói phá hữu; chúng sanh phần nhiều đắm chấp cho nên dùng hoa đốm để phá. Như Trung Luận chép: Đại Thánh nói pháp không vì lìa các kiến, nhưng hai ý nầy đều là thiên dùng. Văn nay nói phá hữu: là phá tất cả chỗ có sở đắc; vốn cho rằng có sanh tử nên vì nói Ba thừa. Lại nói có ba phá ba nói một, liền chấp. Nơi một nên nói chẳng ba chẳng một tức pháp Trung đạo. Lại nói có hai thứ nầy chẳng phải Trung đạo thì cuối cùng không tránh khỏi hữu, nay phá hữu kiến nầy cho nên nói phá hữu.

“Đức Như lai tôn trọng…” là nói về xưa không nói thật. Nửa bài trên là nóingười không nói, nửa bài kệ dưới là nói việc không nói, tiêu biểu siêu phàm Thánh gọi là tôn, đức không ai bằng gọi là trọng, đây là khen ngợi người. “Trí tuệ rất sâu xa”: Dọc không thấy tận đáy gọi là sâu, ngang không sánh bờ bến kia gọi là xa, đây là khen ngợi đức bên trong của Phật, “Lâu không nói pháp yếu…” pháp yếu tức bình đẳng đại bi, nội chứng pháp này gọi là không nói. “Không việc gì nói ngay:” là xưa không vội nói ngay. Lại nói vụ là sự việc. Đức Phật xưa không dùng việc Đại thừa ngay cho người nghe. “Người trí nếu được nghe v.v…” là giải thích ý Phật xưa không nói.

Nói về không nói kia có hai ý:

1/ Chí đạo không nói tức trái đạo, vì vậy nên không nói. Nên Tăng Triệu chép: Đức Thích-ca đóng cửa thất ở Ma Kiệt, Tịnh Danh ngậm miệng ở Tỳ-da đâu gọi là không nói, nói chỗ không thể nói.

2/ Như nay văn nói về sợ căn tình chưa kham liền sanh nghi chê bai nên không nói.

“Ca-diếp! vì cớ đó v.v…” là giải thích ý xưa nói quyền. “Khiến chánh đắc chánh kiến v.v…” chánh kiến tức chánh quán, chánh quán rất khó chánh khắp. Chư Phật ba đời các nhân duyên giúp người chứng đắc.

“Ca-diếp ông nên biết v.v….” là tụng tám thí dụ, văn nầy không theo thí dụ vốn thứ lớp mà tụng, cũng không y hiệp dụ trước sau tụng, chỉ chuyển thế nói pháp lại chỉ bày một pháp môn:

  1. Tụng mây.
  2. Tụng hai dụ.
  3. Tụng về đất.
  4. Tụng cây cỏ.
  5. Tụng thấm nhuần.
  6. Tụng thêm lớn.

7. Hai thí dụ đồng khác hiệp mà tụng. Phải trước giăng mây rồi sau mưa rơi xuống nên trước nói mây mưa, mây mưa là năng thấm nhuần, mặt đất cỏ cây là chỗ thấm nhuần, cho nên trước nói mây mưa, kế nói mặt đất cỏ cây. Mặt đất cỏ cây nhận nơi mây mưa cho nên kế nêu thấm nhuần, thấm nhuần nên thêm lớn, năng sợ thọ nhận có đồng có khác, cho nên kế luận. Trước đó Như lai ra đời nên ở đầu nói giăng mây, do ra đời nên nói pháp dụ như mưa rơi, chúng sanh sở dĩ cảm hình tiếng Phật, là do quá khứ Phật giáo sanh gốc lành cho nên nói mặt đất và cỏ cây. Đã có gốc lành đời trước chứa nhóm nên bắt đầu nghe nói giáo vui mừng ví như thấm nhuần, theo giáo lợi ích nên thêm lớn, chí lý không hai tùy duyên sai khác nên kế là nói đồng khác. Trong thí dụ mây trong văn xuôi lược nay kệ rộng, gồm có mười thứ khen ngợi.

1/ Mây lớn: Nghĩa là luợc khen ngợi tiểu. Như Luân vương ra đời đem mười điều thiện giáo hóa muôn vật cho đến Phạm nói nghiêng lệch luận xuất dục đều là tiểu lợi ích gọi là mây nhỏ, cho đến Nhị thừa Bồ-tát không thể lợi ích khắp đều gọi là mây nhỏ.

2/ “Che trùm khắp tất cả v.v….” là bình đẳng khen ngợi. Luận Trí Độ chép: trời Ma-hê-thủ-la, trời Vi nữu, trời Cưu-ma-la-già nếu thường thì chúng sanh liền đều được sở nguyện, nếu ghét thì khiến bảy đời đều diệt, cho nên chẳng bình đẳng lợi ích khắp. Kinh Hoa Nghiêm nói Đại long vương nổi mây từ Bốn thiên hạ cho đến sáu tầng trời cõi Dục đều che phủ, tùy chỗ thấy mà giăng mây tùy chỗ ưa mà mưa xuống, Đức Như lai nói pháp cũng vậy. Đối với Bốn sanh, sáu đường tùy chỗ thấy mà thị hiện hình, tùy chỗ nghe mà nói pháp, đồng xem tất cả cũng như con đỏ, cho nên cắt tay không buồn, đỡ chân không vui, thiện ác mình, người từ bi che khắp không hai cho nên nói che trùm khắp tất cả.

3/ Mây trí tuệ (chứa nhuần): là khen ngợi trí tuệ sắc bén, có mây giăng mà không lợi ích, mây này có lợi ích cho nên gọi mây trí tuệ, Như lai cũng giống như vậy, thị hiện thân nói pháp có thể duyên lợi ích.

4/ Hàm chứa v.v… là bao gồm khen ngợi đức, tự có mây không thể mưa xuống, nay là có mây chứa nước cho nên gồm chứa thấm nhuần. Thân Như lai do Đại từ huân đúc cho nên thùy ứng chắc chắn có khả năng lợi ích chúng sinh.

5/ “Chớp nhoáng sáng chói lòa”: là khen ngợi phát ra ánh sáng. Hoa Nghiêm chép: Như Đại long vương từ Bốn thiên hạ đến lục cung trời tùy chỗ ứng thấy xuất hiện các màu ánh sáng, hoặc sắc vàng Diêm phù đàm cho đến các màu sắc bảy báu v.v… Đức Như lai cũng vậy, khi sắp nói pháp tùy chỗ thấy các ánh sáng xuất hiện.

6/ “Tiếng sấm xa rung chuyển…” khen ngợi xa nghe. Kinh Hoa Nghiêm chép: Như Đại long vương từ bốn thiên hạ đến lục cung trời tùy chỗ nghe phát ra các âm thanh, hoặc âm thanh trời, hoặc tiếng nhạc cho đến trong loài người liền nghe tiếng sấm. Nay chọn tiếng sấm làm dụ nghĩa là năng sanh gốc lành cho chúng sanh năm thừa, năng giác ngộ vô minh cho chúng sanh. Kinh Hoa Nghiêm chép: Thông minh không sợ 12 xếp vào chớp sáng, rung chuyển thật nghe như sấm.

7/ “Khiến mọi loài vui đẹp”: xứng duyên khen ngợi. Kinh Hoa Nghiêm chép: Tùy chỗ thấy mà giăng mây, tùy chỗ nghe mà sấm động cho nên chẳng có gì không vui, hình tiếng của Đức Phật cũng vậy.

8/ “Ánh sáng mặt trời bị che khuất”: là khen ngợi phá tà. Mây chưa giăng thì mặt trời có ngàn ánh sáng, do mây giăng nên ánh sáng mặt trời bị che, Đức Phật chưa ra đời thì có ánh sáng của chín mươi sáu thứ tà kiến, khi Phật đã ra đời thì che khuất ánh sáng ấy.

9/ “Trên mặt đất mát mẻ”: là khen ngợi sanh vui mừng. Do ánh sáng mặt trời nên chúng sanh bị nóng bức, do tà giáo nên có tà kiến nóng bức, Đức Phật ra đời phá tà kiến tức tâm địa chúng sanh không có tà kiến nóng bức được chánh kiến trong mát.

10/ “Mây mù sa bủa gần, như có thể nắm tới” khen ngợi không nghĩ bàn. Mây đen sắc màu tối sẩm ví như thân đại từ sâu dày hiển hiện giống như mây mù, ứng đến muôn vật như sa bủa, tùy chỗ thấy mà hiện hình khắp nên gọi là che phủ. Như có thể nắm lấy ở bên cho đến để dưới. Như lai tùy thuận vật như có thể nắm theo, nhưng khác nhau chúng sanh nên không thể nắm giữ, tức là chẳng thể nghĩ bàn.

“Trận mưa đó khắp cùng”: là lợi ích cùng khắp gọi là khắp, không riêng tư gọi là cùng. “Bốn phương đều rưới xuống”: là từ bốn tâm vô lượng xuất ra khắp lợi ích bốn sanh. “Dòng nước tuôn vô lượng”: trí tuệ biện tài không ngừng chắc chắn thông suốt. “Nơi núi sông hang hiểm: là tụng thí dụ mặt đất. “Sanh ra các cây cối”: Sanh ra các cỏ thuốc. Nhờ nước mưa thấm nhuần: tức thí dụ thấm nhuần. Người chưa sanh thiện khiến cho họ sanh thiện như “đất khô khắp được thấm”, người có gốc lành khiến cho họ tăng trưởng như “thuốc cây đều sum suê”. Tất cả các thứ cây là tụng thí dụ tăng trưởng. Theo thể tướng của nó: hiệp tụng nghĩa đồng khác.

“Đức Phật cũng như vậy” v.v…. là tụng hiệp dụ. Giải thích hiệp dụ khác nhau, nay chia làm hai:

1/ Chánh hiệp dụ.

2/ Hai bài sau cuối lặp lại khai thị quyền thật, căn cứ hợp thí ở đầu không đồng với văn xuôi ở trên.

Trong văn xuôi chia làm hai:

1/ Hiệp năm dụ trước.

2/ Kế hiệp dụ đồng khác.

Trong hiệp năm dụ:

  1. Hiệp mây.
  2. Hiệp cỏ cây.
  3. Hiệp mưa.
  4. Hiệp thấm nhuần.
  5. Hiệp thêm lớn.

Nay chuyển thế nói pháp chánh hiệp bốn dụ gồm hiệp bốn dụ còn lại. Chánh hiệp bốn dụ:

  1. Hiệp mây.
  2. Hiệp mưa.
  3. Hiệp thấm nhuần.
  4. Hiệp thêm lớn.

Mây mưa là hình tiếng năng ứng, thấm nhuần thêm lớn là lợi ích sở cảm, bốn nghĩa đã chủ yếu nên chánh hợp. bốn thứ còn lại hợp đến văn sẽ nói. Trong văn xuôi hiệp mưa làm hai:

  1. Chánh hiệp.
  2. Khuyên chúng đến nghe, nay lại tụng hai thứ này.

Trên hiệp mây có bốn:

  1. Nêu hình Phật hiệp mây.
  2. Nêu âm thanh Phật hiệp mây.
  3. Nêu danh hiệu Phật hiệp mây.
  4. Nêu đức của Phật hiệp mây.

Nay tụng đủ. Ban đầu một bài kệ tụng thứ nhất, một bài kệ kế tụng thứ hai, kế một bài rưởi tụng thứ ba. “Xuất hiện ở thế gian v.v…” hai bài tụng thứ tư nêu đức hiệp mây. Trong văn xuôi nêu năm thứ đức để hiệp mây, nay chỉ nêu hai: năm câu nêu đức đại bi hiệp mây, ba câu nêu Đức đại từ hiệp mây. Đại bi cứu khổ như mây năng ngăn lìa các sư nóng bức, đại từ cho vui như mây có công năng thấm nhuần, “Vì an ổn chúng sanh” là vui hiện đời. “Hưởng sự vui thế gian là vui đời sau. “Cùng sự vui Niết-bàn” là vui xuất thế gian. Lại vui thế gian là vui sanh báo, vui Niết-bàn là vui hậu báo. Chú giải kinh rằngp: được vui an ổn là vui Nhị thừa, vui thế gian là vui trời người, vui Niết-bàn là Đại thừa.

“Các chúng trời người này…” hai bài kệ tụng văn xuôi thứ hai khuyên chúng nghe nhận. Bài kệ đầu chính là khuyên chúng đến nghe. Kế hai bài kệ giải thích ý khuyên nghe nhận. Trên nửa bài phân biệt khác tà sư tức trên khen ngợi Phật, kế nửa hàng là dưới lợi ích chúng sanh.

“Vì các đại chúng nói”… là tám bài kệ tụng hiệp hai thí dụ. Đây lại chia làm ba phần:

  1. Mượn nghĩa mưa một vị để hiệp dụ.
  2. Mượn nghĩa mưa bình đẳng để hiệp dụ.
  3. Mượn nghĩa mưa không mỏi mệt để hiệp dụ.

Sở dĩ chỉ nói ba nghĩa này: là vì phần đầu nêu pháp Phật nói vì lý Nhất thừa, phần hai giáo tâm bình đẳng đồng vì người năm thừa khiến đồng quy tụ về lý Nhất thừa, cuối cùng khen ngợi Phật vì chúng nói pháp không có mỏi mệt. Ba phần mỗi phần đều có hai: phần đầu có hai:

1/ Nêu pháp Phật nói không có hai lý như mưa chỉ có một vị, đây tức gồm hợp trên nói một tướng một vị.

2/ Một hàng nêu pháp Phật nói không hai âm năng diễn cũng một, “thường vì Đại thừa mà làm nhân duyên”: xưa tuy nói vị năm thừa, đây là vì Đại thừa làm nhân duyên!

Phần hai có “ta xem tất cả chúng” v.v… hai bài rưỡi mượn nghĩa mưa bình đắng chúng hiệp dụ, cũng chia làm hai:

  1. một bài khen ngợi Phật tâm bình đẳng.
  2. một bài rưỡi khen ngợi Phật nói bình đẳng. Phần ba: “Thường giảng nói pháp luôn v.v…”

Ba hàng rưỡi mượn nghĩa mưa không khỏi mệt để hiệp dụ, văn nầy cũng có hai:

  1. Một hàng rưỡi nêu người năng hóa không mỏi mệt.
  2. “Sang hèn và thượng hạ v.v….” hai bài nêu người sở hóa hiển thành năng hóa v.v… nói pháp không mỏi mệt, đây là gồm hiệp nghĩa cỏ cây.

“Tất cả hàng chúng sanh v.v…” mười một bài kệ hợp thí dụ thấm nhuần. Văn chia làm ba phần:

  1. Tám hàng kệ chánh hiệp thấm nhuần.
  2. Một hàng rưỡi nói lý đồng tùy duyên lợi ích có khác.
  3. Một hàng rưỡi kệ khen ngợi Đức Phật.

Phần một văn chia làm hai:

1/ Một hàng nói chung thấm nhuần.

2/ Bảy hàng chi tiết hợp ba cỏ, hai cây thấm nhuần khác nhau. Ba cỏ, hai cây đã là tên gọi của giáo Pháp Hoa, nay lượt trình bày ba cỏ là ba hạng cỏ thượng, trung, hạ. Hai cây: lớn nhỏ hai cây, đây là không giai cấp và giai cấp nên khai các vị khác nhau, không như người có sở đắc mà cố định giải thành nghĩa cạn sâu. Vì sao? Vì trong kinh nói giai cấp không nhất định, hoặc nói mới phát tâm liền thành Chánh giác, hoặc nói trải qua nhiều kiếp lâu xa tu hành mới chứng Bồ-đề, hoặc khuyên khởi đạo ý khiến trụ bất thoái chuyển, hoặc nói thật không phát tâm cũng không thoái đều là khéo léo hóa vật không thể tướng chấp nhất định. Nay chỉ theo hướng nghĩa cạn sâu cho nên nói ba cỏ hai cây. Trời người gọi là thừa thế gian gọi là cỏ nhỏ, Thanh văn Duyên giác là xuất thế gian thừa gọi là cỏ vừa, Địa tiền bốn mươi tâm là Đại thừa gọi là cỏ lớn. Nếu y cứ nghĩa Vô sanh nhẫn mà phán xét thì Sơ địa mới đắc vô sanh nhẫn nông cạn gọi là cây nhỏ, Thất địa thâm nhập vô sanh nhẫn gọi là cây lớn. luận Trí Độ giải thích vô sanh có hai vị:

  1. Sơ địa.
  2. Thất địa.

Sở dĩ chia hai vị. Là nếu căn cứ hai nhẫn nói về nghĩa, thì Địa tiền phàm vị gọi là thuận nhẫn, Sơ địa trở lên đã là Thánh vị gọi là Vô sanh nhẫn. Nếu dựa theo năm nhẫn giải nghĩa thì địa tiền là Phục nhẫn, ba địa là Tín nhẫn, kế ba địa là Thuận nhẫn, kế ba địa là Vô sanh nhẫn. Nếu y kinh Anh lạc thì ba địa sau gọi là Tịch diệt nhẫn nghĩa là ba địa: Thập địa, Đẳng giác và Diệu giác. Nếu theo kinh Nhân vương chỉ hai địa sau gọi là Pháp vân địa Phật địa; Thất địa đã là đầu của vô sinh nên gọi là vô sanh nhẫn. Nếu chia công dụng vô công dụng chia làm hai vị thì Sơ địa đến Thất địa gọi là công dụng là cây nhỏ, từ Bát địa đến Đẳng giác địa là vô công dụng đạo gọi là cây lớn. Kinh luận khác nhau mà có đủ hai nghĩa: theo kinh này phán vị: ba cỏ hai cây chia chung ba ba vị: trời người là hạ phẩm, Nhị thừa là trung phẩm, Bồ-tát là thượng phẩm. Trong Bồ-tát tự chia ba phẩm: Địa tiền bốn mươi tâm là hạ phẩm, Đăng Địa trở lên cũng chia hai phẩm, nếu vậy người Nhị thừa đã gọi là cỏ vừa không bằng cỏ lớn, liền biết người ở trước Thập tín. Sư luận Thành Thật không nên nói La-hán và Lục địa ngang bằng công. Lại phẩm Thí dụ chép: người Thanh văn do sức tin nên nhập Nhất thừa, nên biết chưa hồi Tiểu nhập Đại là ở trước Thập tín.

Hỏi: Ba cỏ hai cây và năm thừa nghĩa có gì khác?

Đáp: Cả hai xen lẫn có khai hiệp khác nhau, năm thừa tức khai cạn hiệp sâu: ba cỏ hai cây tức khai sâu hiệp cạn. Khai cạn hiệp sâu: chia cỏ nhỏ thành hai thừa trời người khai cỏ vừa làm Thanh văn Duyên giác. Hiệp sâu: hợp chung Đại thừa nhân quả đều nhập Phật thừa.

Hỏi: Vì sao như vậy ư?

Đáp: Năm thừa giáo đều dùng nghĩa quả nêu thừa, cho nên phẩm Thí dụ chép: ba xe ở bên ngoài tức dùng ba quả làm Ba thừa. Bồ-tát vì cầu quả Phật nên lại xếp vào quả Phật thừa vui trời người gọi là thừa, vì cầu quả an vui ở cõi trời, cõi người nên tu hai hạnh trời người, cho nên dùng quả nêu thừa, vì muốn dẫn chúng sanh khiến tu nhân đến quả nên dùng năm thừa nói về nghĩa, đó là khai cạn hiệp sâu.

Ba cỏ hai cây khai sâu hiệp cạn: Hiệp bốn thừa trước làm cỏ tiểu và trung, lấy trời người làm cỏ tiểu, lấy Nhị thừa làm trung. Khai sâu: khai Đại thừa làm ba phẩm: tức cỏ lớn và hai cây, sở dĩ vậy là vì phò trợ kinh này tán dương giáo Bồ-tát pháp của Đại thừa, nói về trời người còn ở trong nhà lửa ba cõi, Nhị thừa chưa vượt qua năm trăm do tuần, vì vậy nên hiệp cạn mà khai sâu. Lại năm thừa nói nghĩa tức có thừa quả Phật thừa. Ba cỏ hai cây chỉ chọn nhân thừa không nêu quả Phật, vì sao? Vì năm thừa muốn đem năm quả dẫn chúng sanh nên nói quả Phật là thừa, nay nêu ba cỏ hai cây nghĩa thấm nhuần thêm lớn cho nên chỉ nói nhân. Lại giáo xưa khai rõ nghĩa khai nên khai thế gian thành hai thừa nhân, thiên, khai xuất thế gian thành Ba thừa nên thành năm thừa. Nay muốn hiển nghĩa hiệp cho nên hiệp thế gian thành một, hiệp Nlhị thừa thành một, nên hiệp bốn thừa kia trở về Nhất thừa. Nhưng trong Nhất thừa tự khai ba vị:

  1. Địa tiền bốn mươi tâm là cỏ lớn.
  2. Sơ địa trở lên là cây nhỏ.
  3. Bát địa trở lên là cây lớn.

Hỏi: Đây cùng với bốn thứ trọng trách trong kinh Thắng-man có gì khác?

Đáp: Kinh ấy nói về do mặt đất nên có bốn thứ trọng trách, do nhiếp thọ chánh pháp nên có bốn thừa: hiệp trời người làm một, chia Nhị thừa làm hai, hiệp Đại thừa nhân quả thành một. Cùng năm thứ thiện trong luận Trí Độ nghĩa kia khác nhau, không cần phải hiệp.

Chi tiết tụng ba cỏ hai cây chia làm năm đoạn:

1) Một hàng nói cỏ nhỏ.

2) Hai hàng nói cỏ vừa.

3) Một hàng nêu cỏ lớn.

4) Một hàng rưỡi nói cây nhỏ.

5) một bài rưỡi nêu cây lớn.

“Phật chỉ bình đẳng nói v.v…” một bài rưỡi nêu lý Nhất thừa mà tùy chúng sanh được lợi ích có khác, tức bao gồm hợp thí dụ thứ bảy, tám đồng khác ở trên.

Hỏi: Vì sao hiệp thấm nhuần tức hợp đồng khác?

Đáp: Trên hiệp mây mưa nói về nghĩa đồng cho nên nói pháp kia chỉ một vị là giải thoát Niết-bàn. Kế hiệp thấm nhuần nêu ba cỏ hai cây khác nhau, nay muốn luận nghĩa đồng khác kia, nói về lý chỉ có một tùy năm hạng người nên có năm thứ khác nhau.

“Phật dùng thí dụ này v.v….” khen ngợi trí tuệ Phật có một hàng rưỡi kệ. “Như một giọt nước trong biển:” Trên phẩm Tín Giải nói mười dụ mười ân khen ngợi đức của Phật, lúc bấy giờ chúng cho rằng đức của Như lai bốn vị đại Thanh văn đã nói hết. Cho nên đầu phẩm này nêu tám pháp tám dụ để nói lên Như lai lại có vô lượng công đức, khi ấy đại chúng liền lại cho rằng khen ngợi đức của Phật đã hết, nên nay nói về tuy lập thí dụ này mà đối với trí tuệ Phật chỉ như một giọt nước trong biển mà thôi!

“Ta rưới trận mưa pháp v.v….” mười một bài rưỡi kệ hợp thí dụ thêm lớn. Văn cũng có ba:

  1. Tám hàng rưỡi hiệp thêm lớn.
  2. Một hàng rưỡi nêu lý Nhất thừa tùy người được lợi ích khác nhau.
  3. Một hàng rưỡi khen ngợi Chư Phật.

Trước thấm nhuần có ba phần, thêm lớn cũng có ba, dùng khoa kinh này đối văn rất tiện, xưa nói khác đây phải nên sửa đổi. Tám hàng rưỡi đầu lại chia làm hai:

  1. Ba hàng rưỡi hợp chung thêm lớn.
  2. Năm hàng biệt hiệp thêm lớn.

Ba hàng rưỡi đầu lại có ba:

  1. Một hàng pháp nói.
  2. Một hàng nói thí.
  3. Một hàng rưỡi hợp thí.

“Hàng Thanh văn Duyên giác v.v…” Năm hàng là biệt hiệp, văn cũng có ba:

  1. Một hàng rưỡi hiệp cỏ vừa thêm lớn.
  2. Một hàngrưỡi hiệp cây nhỏ thêm lớn.
  3. Hai hàng hiệp cây lớn thêm lớn, cho nên hiệp chung có ba biệt hiệp cũng ba.

Hỏi: Vì sao không hợp cỏ nhỏ cùng cỏ lớn ư?

Đáp: Trước trong thấm nhuần đã hiệp đủ cho nên nay lược hai cỏ kia.

Hỏi: Đồng là lược, vì sao hiệp cỏ vừa ư?

Đáp: Cỏ vừa là hai Thánh Tiểu thừa, hai cây là hai Thánh Đại thừa đồng là nghĩa Thánh vị thêm lớn rõ ràng, cho nên hiệp, cỏ nhỏ là phàm trong Tiểu thừa, cỏ lớn là phàm trong Đại thừa, đã đồng là nghĩa phàm thêm lớn không rõ ràng nên lược không hợp. Lại 1 nghĩa: hai thứ phàm trước nhập nhiếp trong hợp chung, do đó văn chép: khiến cho các các thế gian đều khắp được đầy đủ. Thế gian tức hai phàm, chỉ phàm nghĩa là thêm lớn không rõ ràng cho nên xếp vào hợp chung. Thêm lớn ý ở quả Thánh do đó hiệp riêng.

Hỏi: Thấm nhuần cũng nói về ba cỏ hai cây, thêm lớn cũng nói về ba cỏ hai cây có gì khác?

Đáp: thấm nhuần dựa theo nhân cây cỏ, thêm lớn nói về quả cây cỏ, chỉ vì y cứ nhân nói thấm nhuần không rõ ràng nên trước văn mượn quả nói.

Hỏi: Trong hiệp cây lớn nói. “Nghe nói các pháp Không, tâm sanh rất vui mừng” thế nào là Không ư?

Đáp: tức ở trên chép: rốt ráo Niết-bàn thường vắng lặng tướng cuối cùng trở về nơi Không, bởi nêu pháp của quả vị Niết-bàn cho nên cây lớn nhân người nghe vui mừng. Luận Trí Độ chép: thí như sấm động chim nhỏ nghe đều sợ chim công lớn nghe thì nhảy múa, pháp tất cánh không cũng giống như vậy vậy người Tiểu thừa nghe kinh nghi sợ hãi, bậc đại sĩ nghe thì vui mừng hớn hở. Nếu nói chung qui là khôi thân diệt trí không thì từ Bát địa trở lên Bồ-tát há sanh vui mừng!

“Như thế Ca-diếp này! v.v…” một hàng rưỡi nêu lý chỉ là một tùy duyên được lợi ích là khác, bao gồm hợp thí dụ đồng khác ở trên, cho nên đồng khác và hai phần thấm nhuần thêm lớn gồm hiệp, vì ý chuyển thế không nên nhất nhất y theo văn xuôi. “Ca-diếp ông phải biết…” một hàng rưỡi khen ngợi Chư Phật, trên là căn cứ khen ngợi không thể hết, nay căn cứ khen ngợi Chư Phật đồng có khéo léo.

“Nay ta vì các ông v.v…” là kết chỉ quyền thật. Kệ đầu bỏ quyền, kế kệ bày thật. “Chỗ các ông tu hành là đạo Bồ-tát.” Xưa nói đại nhân làm tiểu quả, nay chỉ tiểu quả làm đại nhân cho nên quả Nhị thừa là đạo Bồ-tát. Luận Pháp Hoa nói về nghĩa vô thượng có mười thứ: mà thứ nhất là thị hiện hạt giống vô thượng cho nên nói thí dụ mây mưa. “Chỗ các ông tu hành là đạo Bồ-tát: Nghĩa là phát tâm Bồ-đề thoái rồi lại phát, chỗ tu hành trước gốc lành không diệt đồng sau đắc quả, ý nầy nói bổn tâm Bồ-đề không diệt nên thiện căn nầy tức là hạt giống vô thượng, do hạt giống nầy nên nay nghe Pháp Hoa, tức là sau nhờ mây, mưa pháp được thành Phật.

Hỏi: Nếu vậy, quyết định gốc lành của Thanh văn lẽ ra chẳng phải Bồ-tát?

Đáp: Người quyết định thì là giữ giáo chấp tiểu quả, liền bị phá không hội nhập, nếu chuyển ngộ tức hội nhập mà không phá.

PHẨM THỌ KÝ THỨ SÁU

Thọ ký đã là nghĩa quan trọng của Pháp Hoa mà cũng là tông chính của các kinh, nay giải thích sơ lược hợp làm bảy phần:

  1. Lý do có ra.
  2. Giải thích tên.
  3. Người năng thọ.
  4. Người sở thọ.
  5. Thứ bậc.
  6. Phân biệt.
  7. Đồng và khác.

1) Lý do có phẩm này: Vì người trung căn nói pháp gồm có bốn môn:

  1. Thí dụ.
  2. Lãnh giải.
  3. Thuật thành.
  4. Thọ ký.

Nay thuộc thứ tư. Do lãnh giải mười dụ mười ân ở trước, dùng tám pháp tám thí dụ thuật thành sau nên tâm kia an nhiên thư thái tức là đương quả đáng thọ ký, do đó đức Như lai thọ ký cho họ. Theo ý Luận Pháp Hoa từ ba phẩm trên phá ba bệnh phàm phu, Nhị thừa, Bồ-tát tức ngộ phi phàm, phi Thánh, phi đại, phi tiểu, đắc chánh quán hạnh vô y tương ưng với Phật cho nên được thọ ký thành Phật. Nếu đối chiếu hai bệnh xưa và nay để trừ thì xưa chấp khác không biết đồng, nay là chấp đồng không biết khác. Nay liễu ngộ ý của thí dụ trước có đồng, khác tức bệnh xưa và nay được trừ, liền ngộ chí đạo không hềcó đồng và khác. Chỉ là phương tiện khéo léo có đồng khác thích hợp duyên để ngộ không hề có đồng khác tức sanh ở thật tuệ hiểu rõ tùy duyên đồng khác tức sanh phương tiện tuệ, đầy đủ hai tuệ tức Phật đạo sẽ thành. Cho nên, kinh Tịnh Danh chép: Trí độ Bồ-tát là mẹ phương tiện là cha, cha mẹ đầy đủ thì sẽ thành pháp thân cho nên được Phật thọ ký. Nếu do kế cuối phẩm trên mà có tức là cuối phẩm trên mở cửa phương tiện chỉ bày tướng chân thật, “các chúng Thanh Văn đều chẳng phải diệt độ” gọi là mở cửa phương tiện. “Chỗ các ông tu hành là đạo của Bồ-tát” gọi là chỉ bày tướng chân thật. Xưa không ngộ đại nhân vì tiểu quả nên chấp tiểu quả mà mê nhân đại, nay ngộ tiểu quả là đại nhân nên liền có đại nhân, có đại nhân sẽ đắc đại quả cho nên được Phật thọ ký.

2) Giải thích tên: Thọ là ban cho, Ký là quyết định, cũng gọi là biệt. Nói quyết: là ở trong chín đường phân rõ quyết định người này chắc chắn sẽ thành Phật nên nói quyết, biệt: nghĩa cũng vậy. Nói việc đời vị lai để trao cho người trước nên gọi là trao ký, người trước lãnh thọ nên gọi là nhận ký. Lại nói rộng về ký, vô ký có ba:

1/ Căn cứ môn ba tánh mà nói về ký vô ký: Nếu có thiện ác để ghi gọi là ký; không có thiện ác để ghi là vô ký.

2/ Thiện ác có công năng chiêu cảm quả khổ lạc: có quả khổ lạc đáng ghi gọi là ký, vô ký không thể cảm quả khổ lạc, không có quả để ghi nên gọi là vô ký.

3/ Có vật để ghi nên gọi là có ký, không vật để ghi nên gọi là vô ký. Như kinh Hoa Nghiêm dùng mười bốn nạn làm vô ký môn, tức không vật để ghi nên gọi vô ký, như gái bất dục không có con để ghi, mà trái với ở đây nên gọi có ký. Nay nói nhân tu Phật, đắc quả Phật, tức là có quả đáng ghi nên gọi là ký. Bậc Thánh ghi nhận, chỉ cho người biết gọi là thọ ký. Lại giải thích ký là nói năng biên chép chỉ bày quả có thể nghi chép. Trong mười hai bộ kinh có kinh Thọ Ký. Do nhân quả việc lớn chúng sanh thường mê hoặc nên khai riêng một bộ.

3) Người năng thọ: (trao ký): Kinh này có hai người trao ký: Phật và Bồ-tát Thường Bất Khinh. Hai vị này khác nhau. Đức Phật thọ ký có cả Ký chung và Ký riêng. Ký riêng: Như lai đủ ba đạt trí biết người này đời vị lai lâu hay mau sẽ thành Phật cho nên thọ ký cho kiếp số kia, như thọ ký cho hàng ba căn nên gọi là ký riêng. Nói ký chung: Như phẩm Pháp sư chép: nghe kinh Pháp Hoa một niệm tùy hỷ đều được thọ ký mà không nói kiếp số ấy lâu mau, do cách Phật đạo lâu xa nên chỉ ký chung. Bồ-tát Thường bất Khinh tích ở vị nhân ba đạt chưa tròn đầy cho nên chỉ được thông thọ ký, không được thọ ký riêng.

4) Người Sở thọ (được thọ ký): Luận thêm: người được thọ ký gồm có ba thứ:

  1. Phàm phu.
  2. Nhị thừa.
  3. Bồ-tát.

Nay kinh này đủ ba hạng người được thọ ký, do ba người này đều có Phật tánh sẽ thành Phật nên đều được thọ ký. Theo luận Pháp Hoa giải thích: trong thọ ký cho Thanh văn có bốn hạng:

  1. Thanh văn Quyết định.
  2. Thanh văn Tăng thượng mạn.
  3. Thanh văn Lui sụt tâm Bồ-đề.
  4. Thanh văn Ứng hóa. Hai hạng Thanh văn được Phật thọ ký là

Ứng hóa và Lui sụt tâm Bồ-đề vì là người phát tâm Bồ-đề trở lại. Quyết định, tăng thượng mạn hai hạng này căn cơ chưa đủ nên Phật không thọ ký, chỉ vì Thanh văn quyết định chấp chặt Tiểu thừa, người tăng thượng mạn tự cho là rốt ráo không tin thành Phật tức không có khả năng thọ ký cũng không kham phá chấp và nghĩa hội nhập trở về. Mà kinh này hội chung tất cả Nhị thừa để thành Phật bởi đối ứng với người ngộ cho nên nói kinh này nói phá và nghĩa hội nhập. Tăng thượng mạn cũng như vậy, như năm ngàn đồ chúng không có khả năng nghe hai nghĩa phá và hội, do căn chưa thuần thục. Thường Bất Khinh đối với tăng thượng mạn, căn kia đã thuần thục kham nghe nghĩa phá và hội cho nên vì nói Nhất thừa.

5) Thứ bậc: Kinh luận khác nhau: hoặc nói một thứ thọ ký nên thẳng gọi là kinh thọ ký, Hoặc nói hai thứ thọ ký, như kinh Niết-bàn nói về, nên thọ ký chậm cho họ, người kia mau được thành Phật tâm sanh khinh mạn nên chậm thọ ký. Nếu nói Phật đạo khó đắc lâu thọ, siêng năng khổ nhọc rồi mới được thành Phật tâm liền thối thất vì hạng người này nên thọ ký nhanh. Lại người gốc lành thuần thục nên thọ ký nhanh, gốc lành chưa thuần thục nên thọ ký chậm. Lại có người ưa ở lâu trong sanh tử giáo hóa chúng sanh nên thọ ký chậm, người nhàm chán sanh tử muốn sớm thành Phật nên thọ ký nhanh. Lại có hai thứ thọ ký:

  1. Ký chung.
  2. Ký riêng.

Như trên giải thích. Luận Trí Độ nêu ba thứ thọ ký:

  1. Tự biết mình không biết người, vì lợi ích mình không lợi ích người.
  2. Biết người không biết mình vì lợi ích người.
  3. Mình và người đều biết đủ, lợi ích đủ mình và người.

Lại có bốn thứ thọ ký:

  1. Chưa phát tâm thọ ký.
  2. Phát tâm thọ ký.
  3. Hiện tiền thọ ký.
  4. Không hiện tiền thọ ký.

1. Chưa phát tâm thọ ký có hai:

  1. Đều chưa phát tâm mà thọ ký như chim cứu…
  2. Tuy đã phát tâm mà chưa thành lập cũng gọi là chưa phát tâm.

2. Đã phát tâm thọ ký có hai thứ:

  1. Ban đầu mới phát tâm liền được thọ ký.
  2. Phát tâm thành lập gọi là phát tâm tức vị Thập tín.

3. Hiện tiền thọ ký: Sơ địa trở lên đắc vô sanh nhẫn có khả năng được hiện tiền thọ vô sanh ký

4. Không hiện tiền thọ ký: nghĩa là Tam Hiền, Bồ-tát chưa đắc vô sanh nhẫn cho nên không có khả năng hiện tiền được vô sanh ký.

Luận Địa Trì nói có sáu thứ thọ ký, bốn thứ rất giống với trước mà nói về vị có khác chút ít. Thọ ký thứ năm là Thời lượng thời định gọi là kiếp số có hạn, thứ sáu là thời vô lượng, vô định nghĩa là kiếp số vô hạn hai thứ này cũng như là ký chung ký riêng ở trên.

6) Phân biệt chung: Luận Pháp Hoa nói kinh này có sáu thứ thọ ký:

  1. Xá-lợi-phất và Ca-diếp và chúng tri thức danh hiệu khác nhau nên thọ ký riêng.
  2. Năm trăm người, một ngàn hai trăm người như v.v… Phú-lâu-na đồng một danh hiệu nên đồng thời được thọ ký.
  3. Hàng người Hữu Hữu học, Vô học đều đồng một danh hiệu lại chẳng phải chúng tri thức cho nên nhất thời đồng được thọ ký.
  4. Đề-bà-đạt-đa được thọ ký thị hiện đức Như lai không oán ghét.
  5. Tỳ-kheo ni và các thiện nữ đồng được thọ ký thị hiện người nữ tại gia xuất gia tu hạnh Bồ-tát đều chứng quả Phật. Năm hạng người này là Như lai tự thọ ký.
  6. Thường bất khinh cùng thọ ký bốn chúng thị hiện chúng sanh có Phật tánh.

Nay lại dùng bốn câu giải thích:

  1. Đồng thời được thọ ký thành Phật có trước sau, như năm trăm La-hán.
  2. Đồng thời được thọ ký, đồng thời thành Phật như hai ngàn vị Hữu Hữu học, Vô học.
  3. Trước sau được thọ ký trước sau thành Phật như bốn đại Thanh văn.
  4. Trước sau được thọ ký đồng thời thành Phật nghĩa nên có.

Lại có bốn trường hợp:

1/ Tiểu thừa không có hơn kém, Đại thừa có hơn kém, như năm trăm đệ tử đồng thời thành La-hán nên Tiểu thừa không có hơn kém; mà chuyển kế thành Phật, như người đầu thành Phật xong thọ ký người thứ hai cho nên Đại thừa có hơn kém.

2/ Tiểu thừa có hơn kém, Đại thừa không có hôn kém như Hữu học, Vô học hai ngàn vị, vì là Hữu Hữu học, Vô học nên Tiểu thừa có hơn kém, đồng thời thành Phật nên Đại thừa không hơn kém.

3/ Tiểu thừa kém Đại thừa hơn, như A-nan trụ sơ quả là kém, Lahầu-la đắc quả thứ tư nên hơn, mà A-nan thành Phật trước, La-hầu-la thành Phật sau cho nên Đại thừa hơn.

4/ Tiểu thừa hơn Đại thừa kém thì La-hầu-la đắc quả thứ tư cho nên hơn, A-nan còn tại địa vị Hữu học nên kém, mà A-nan ở trước Lahầu-la ở sau, tức là hơn kém.

Hỏi: Vì sao trong kinh chê trách thọ ký như Tịnh Danh phá Di-lặc trong ba đời không thọ ký, trong vô sanh nhẫn cũng không thọ ký nay vì sao nói thọ ký ư?

Đáp: Kinh Tịnh Danh vì phá bệnh có sở đắc nên nói người là năng thọ, pháp là sở thọ, Phật là người năng trao ký, Bồ-tát là sở thọ ký, cho nên phá không có thọ ký. Nay vì đối với Thanh văn nói La-hán không thành Phật vì vậy nên thọ ký cho kia thành Phật. Lại kinh kia nói không thấy năng thọ, sở thọ, năng ký, sở ký nên không đắc ký, nay kinh này nói ký vô sở ký nên nói thọ ký. Hai kinh không trái nhau. Lại Phật pháp có nhị đế, Như lai thương y theo nhị đế nói pháp, y môn thế đế nói pháp nên có thọ ký, y môn đệ nhất nghĩa đế nói pháp nên không thọ ký.

7) Giống và khác:

Hỏi: Thọ ký cho Nhị thừa và Bồ-tát có gì khác nhau?

Đáp: Luận Pháp Hoa chép: Nhị thừa có Phật tánh pháp thân cho nên thọ ký, chẳng tu hành đầy đủ cho nên thọ ký hoặc Bồ-tát có Phật tánh pháp thân lại tu hành đầy đủ cho nên được thọ ký, nên đại Tiểu thừa được thọ ký khác nhau.

Hỏi: Thọ ký cho người Thanh văn và Duyên giác có gì khác ư?

Đáp: Chia chung bốn trường hợp:

  1. Người quả Duyên giác chỉ ở ngoài ba cõi nghe kinh Pháp Hoa cũng ngoài ba cõi được thọ ký.
  2. Duyên giác nhân người và Thanh văn nhân vị đều ở trong ba cõi nghe kinh được thọ ký.

La-hán có hai câu:

  1. Được gặp Phật trong ba cõi nghe kinh Pháp Hoa được thọ ký.
  2. Không gặp Phật, như trong phẩm Hóa Thành Dụ nên rõ sau khi Phật diệt độ La-hán sanh ngoài ba cõi nghe kinh được thọ ký, bốn câu này là phán xét chung.

Hỏi: Làm sao biết được Duyên giác ở ngoài cõi nghe kinh ư?

Đáp: Kinh Hoa Nghiêm chép: Bồ-tát trước khi sắp hạ sanh dùng

thiên nhãn xem xét thế giới, nếu có Duyên giác thì phát ra ánh sáng chiếu soi, người giác biết thì chọn diệt độ, người không giác biết thì đổi trú ở phương khác, người này đã ở trong ba cõi không gặp Phật nên biết ngoài ba cõi nghe kinh mới được thọ ký.

Nếu có người Duyên giác gặp Phật: cũng có ở trong ba cõi nghe kinh được thọ ký nghĩa nầy ít thôi. Theo phẩm này có hai:

  1. Chánh thọ ký.
  2. Nghe cho hạ căn hứa nói nhân duyên đời trước.

Phần đầu lại có hai:

  1. Thọ ký cho bốn vị đại đệ tử.
  2. Thọ ký năm trăm đệ tử, trái với tâm họ.

Trong phần một lại có hai:

  1. Thọ ký cho Ca-diếp.
  2. Thọ ký ba người.

Thọ ký Ca-diếp trước văn xuôi kế kệ tụng. Văn xuôi lại có hai: Bảo đại chúng và chính là nói về thọ ký.

Hỏi: Thọ ký Thân tử chỉ bảo một người, thọ ký Ca-diếp vì sao bảo chung đại chúng?

Đáp: Văn xen lẫn thể hiện. Lại người thượng căn chỉ có một người nên chỉ bảo Thân tử, trung căn số nhiều nên bảo đại chúng. Lại muốn mở đường cho Thân tử hóa vật do đó bảo riêng, chúng lúc ấy Phật muốn cho họ rộng phát tâm cầu Phật nên bảo chung.

“Tuyên bố thế này”: chánh thọ ký lại có hai:

  1. Nói về hành nhân.
  2. Nói về đắc quả.

Trong hành nhân có ba câu:

  1. Phụng thờ Chư Phật.
  2. Cúng dường v.v… là nêu ba nghiệp gieo trồng phước.
  3. “Nói rông v.v….” là nói mở rộng pháp làm hạt giống trí tuệ.

“Ở thân sau cùng..” là nêu đắc quả. Có thứ quả: Hóa chủ quả. Nước tên là Quang đức là quả cõi nước kiếp tên là v.v….” là Thời tiết quả, “Phật thọ v.v…” là Thọ mạng quả. “Chánh pháp trú thế….” là Trụ trì quả. “Cõi nước trang nghiêm v.v….” là lặp lại nói về quả cõi nước. Trước nêu tên cõi, nay nêu thể cõi. “Nước kia Bồ-tát v.v….” là nêu quả quyến thuộc. “Dù có ma và dân ma nhưng đều hộ trì Phật pháp”: là nói chung rõ cõi có ba:

  1. Uế độ: Hoàn toàn có ma làm chướng ngại nạn.
  2. Thuần tịnh độ; thuần không có ma.
  3. Cõi trung dung: vừa có ma vừa không có ma, thuận đồng các phương thị hiện làm ma cho nên nói có, đều ủng hộ Phật pháp cho nên nói không, nhưng ma Phật khó biết, liễu ngộ tức ma là Phật, không ngộ thì Phật là ma.

Kệ có mười hai bài rưỡi chia làm ba:

  1. Một bài rưỡi nêu chung được thọ ký.
  2. Mười hàng rưỡi nói riêng thọ ký.
  3. Nửa bài tổng kết thọ ký.

Trong mười hàng rưỡi lại chia hai:

  1. Hai bài rưỡi tụng hành nhân.
  2. Tám hàng tụng về đắc quả.

Hai bài rưỡi đầu tụng ba câu văn xuôi:

  1. Một bài rưỡi tụng phụng thờ Phật.
  2. Nửa bài tụng ba nghiệp tu phước.
  3. Nửa bài tụng trước mở rộng pháp làm hạt giống trí tuệ.

“Ở nơi thân sau cùng v.v… là tám hàng tụng đắc quả”, nửa bài tụng quả hóa chủ, ba hàng tụng là quả cõi nước, ba hàng tụng quả quyến thuộc. Trong quả quyến thuộc trước tụng Bồ-tát kế tụng Thanh văn, nửa bài tụng về quả tuổi thọ, một bài tụng quả trú trì, lược không tụng quả thời gian.

“Lúc bấy giờ, ngài Đại Mục-kiền-liên v.v… là thọ ký ba người còn lại, lại chia làm hai:

  1. Xin ký.
  2. Thọ ký.

Xin ký có hai phần:

  1. Văn xuôi.
  2. Kệ tụng.

– Xin ký: Nói lên Đức Phật từ khi tu nhân sở đắc đó nên xin. “Thảy đều run sợ…” Ba Đại đệ tử tự cho mình đã hiểu Đại thừa mà chưa được Phật thọ ký. ba người sợ chỗ hiểu chẳng phải hiểu rơi vào tăng thượng mạn cho nên run sợ, lại ba người vui mừng vì đã hiểu, kế đến lại sợ chưa kham nổi, vui sợ lẫn lộn nên run sợ.

Kệ văn chia làm ba:

  1. Hai hàng chánh xin.
  2. Bốn hàng giải thích xin.
  3. Một bài kết xin.

Trong ba ấy mỗi mỗi có hai: Phần đầu: trước một bài nêu khen ngợi Phật đã ban ký chung. Kế một bài chánh xin ký riêng. Phần hai trước một bài rưỡi thí nói. Kế hai bài rưỡi hiệp nói. Tiểu thừa không có thức căn Đại thừa gọi là đói, trái tiểu hướng đại gọi là đến, “bỗng gặp có tiệc vua”: là được tổng ký. “Chưa dám ăn liền”: chưa được ký riêng. “Nếu được vua dạy bảo, vậy sau mới dám ăn”: Nếu được ký riêng lãnh giải mới quyết định, “Chúng con cũng như vậy: “hiệp trước” như từ nước đói đến. “Dù nghe giọng tiếng Phật”: là một hàng hiệp trên “chưa dám ăn liền”. “Nếu được Phật thọ ký”: Nửa bài hiệp trên “được vua bảo, vậy sau mới dám ăn”. Phần ba một bài có hai:

  1. Nửa bài khen ngợi Phật.
  2. Nửa bài kết xin.

“Lúc bấy giờ đức Thế tôn…” thọ ký cho ba người, tức chia làm ba Trong thọ ký cho Tu Bồ-đề trước văn xuôi kiếp kệ tụng. Văn xuôi có hai: trước nêu hành nhân, kế nêu đắc quả, trong đắc quả có bảy thứ quả:

  1. Quả hóa chủ.
  2. Quả thời gian.
  3. Quả cõi nước.
  4. Quả quyến thuộc.

Trong quyến thuộc có ba thứ:

  1. Cõi kia nhân dân gọi là phàm phu quyến thuộc.
  2. Thanh văn quyến thuộc.
  3. Bồ-tát quyến thuộc.
  4. Bởi trong đó có người thượng trung hạ phẩm.
  5. Quả thọ mạng.
  6. Quả trú trì.
  7. “Đức Phật đó thường ở trên hư không v.v…” gọi là quả thuyết pháp. Do nhân tu của Thiện cát lúc ấy đắc giải Không, nên khi thành Phật ở trên hư không nói pháp.

Kệ mười hai hàng văn chia làm ba:

  1. Hai bài nói chung Phật thọ ký.
  2. một bài tụng trên hành nhân.
  3. Chín hàng còn lại là tụng đắc quả.

Trong đây một bài tụng hóa chủ, một hàng rưỡi tụng về cõi nước, ba hàng tụng quyến thuộc, trong quyến thuộc không tụng phàm phu chỉ tụng Thanh văn Bồ-tát. Văn xuôi từ kém đến hơn, trước Thanh văn sau Bồ-tát, nay từ hơn đến kém, trước Bồ-tát sau Thanh văn. Kế hai bài tụng về quả nói pháp, kế nửa hàng tụng quả tuổi thọ, một bài tụng quả trụ trì, lược không tụng quả thời gian. Kệ và văn xuôi trước sau không có thứ lớp đều là chuyển thế nói pháp, mỗi mỗi chỉ bày một môn, có ý tìm kinh xem văn mà hiểu.

Thọ ký cho Ca-chiên-diên văn xuôi chia làm hai: Trước hành nhân sau đắc quả. Hành nhân có ba:

  1. Ở chỗ ít Phật hành nhân. “Sau thời kỳ đó v.v….” là nói về ở chỗ nhiều Phật hành nhân.
  2. “Cúng dường các Đức Phật đó rồi…” kết nghĩa nhân đầy đủ. Trong đắc quả nói lược năm quả không có quả thời gian.
  3. “Diêm Phù Na Đề Kim Quang Như lai v.v…” Diêm phù Hán dịch uế, Na đề là châu. Châu Diêm-phù-đề có nước, dưới nước có sắc vàng, sắc vàng hiện ra trên nước, mượn đây đặt tên.

Văn kệ chia làm hai:

  1. Ba hàng tụng hành nhân.
  2. Bốn hàng tụng đắc quả.

Trong đắc quả ba câu lược tụng quả hóa chủ, một câu tụng quả cõi nước, hai bài tụng lại hóa chủ, một bài tụng quyến thuộc, lược không nêu ba quả còn lại.

Thọ ký Mục-kiền-liên: Trong văn xuôi trước nêu hành nhân sau nêu đắc quả, trong hành nhân trước đối ít Phật hành nhân. “Lại sẽ cúng dường v.v…” là nêu đối với nhiều Phật mà hành nhân. Trong đắc quả đầy đủ sáu quả. Đa-ma-la-bạt: tên Hương Thảo diệp Hán dịch là quì hương. Trong quả quyến thuộc trước từ kém đến hơn nên Bồ-tát nói sau. Kế từ hơn đến kém nên Bồ-tát nói trước, nay chỉ bày Bồ-tát thực hành Trung đạo cho nên ở trung gian. Lại nhân chư thiên thân tâm đều kém nên nói đầu, Bồ-tát tâm hơn thân hình không nhất định phương cho nên nói thứ hai, Thanh văn tâm hình đều hơn cho nên nói thứ ba.

Đầu năm hàng kệ tụng hành nhân. “Ở nơi nước Ý lạc..” là tụng đắc quả. một câu tụng quả cõi nước, ba câu tụng về hóa chủ, nửa hàng tụng về thọ mạng, nửa hàng tụng về quả thuyết pháp, hai bài tụng về quyến thuộc, một bài tụng về quả trú trì. “Các đệ tử của ta v.v…” một bài rưỡi thọ ký chung năm trăm người. “Ta cùng với các ông…” một bài hứa nói các nhân duyên đời trước.

PHẨM HÓA THÀNH DỤ THỨ BẢY

Nay dùng ba môn giải thích:

  1. Ý nghĩa có phẩm này.
  2. Giải thích tên đề.
  3. Quyết nghi.

I. Ý nghĩa:

1) Thừa quyền, thừa thật gồm nói có ba châu:

a) Môn Pháp thuyết.

b) Môn Thí thuyết. Hai thứ này đã xong. Nay là thứ ba môn vừa pháp vừa thí. Trước Hóa thành gọi là pháp thuyết, Hóa thành về sau gọi là thí thuyết. Hai căn thượng trung mỗi một căn đều bẩm thọ một thuyết, hạng hạ căn phải trình bày đủ pháp thí. Trước Hóa thành nói về pháp thuyết. Nghĩa là thuyết bắt đầu đời quá khứ kết duyên. Hóa thành trở đi nói về thí chép: Do quá khứ kết duyên hiện tại lại gặp nhau cho nên lặp lại thành thuyết Hóa thành dụ. Đầy đủ hai đời từ đầu đến cuối độn căn chính mới lãnh giải cho nên có phẩm này.

1/ Vì giải thích nghi cho nên có, Nghi là nói người Thanh văn bẩm thọ kinh Pháp Hoa tức năng giải ngộ hiện tại được thọ ký vị lai thành Phật. Nếu vậy vì sao dùng Bồ-tát trải qua nhiều kiếp tu hành, vì giải thích nghi này cho nên nói về, ba căn Thanh văn từ nhiều kiếp lâu xa đến nay từng phát đại tâm tu hạnh Bồ-tát, nhưng giữa đường quên mất, tạm thời chứng Tiểu quả, nay nghe Đại thừa lại đắc bổn ngộ cho nên hiện tại được thọ ký, vị lai thành Phật, vì giải thích nghi trên nên nói phẩm nầy. Vì thế, hai châu trên lãnh giải tức là quả đắc ngộ, một phẩm nay nói về được nhân lãnh giải, cho nên tuy có ba châu không ra ngoài hai nghĩa nhân quả.

2/ Phẩm Thí Dụ chép: vì các Thanh văn nói kinh Đại thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp, nhưng Thanh văn có hai thứ:

3/ Bổn thừa Thanh văn.

4/ Lui sụt đại chứng tiểu Thanh văn.

Vì hai hạng người này nên nói về hai thứ nói, vì bổn thừa Thanh văn nên nói thẳng pháp môn hiện tại, nghĩa là hiện tại có căn tánh Ba thừa, ở trong nhà lửa ba cõi quyền nói ba xe dẫn khiến được ra, đã được ra khỏi nhà lửa lại dùng các thứ phương tiện điều phục tâm kia khiến tiểu chí dần dần thay đổi đại căn hơi thuần thục, rồi sau vì họ nói tuệ Phật khiến sơ khởi tín tâm. Trên pháp nói hai châu thường nói về ý nầy nghĩa là hóa bổn thừa Thanh văn.

Vì thoái đại chứng tiểu Thanh văn, nói pháp quá khứ gồm có ba thời:

  1. Sơ học Đại thừa.
  2. Lui sụt đại chấp tiểu.
  3. Bỏ tiểu ngộ đại.

Hiện tại nói dụ Hóa thành cũng có ba thời:

  1. Ban đầu nói Đại thừa.
  2. Giữa đường nói Tiểu thừa.
  3. Sau lại nói Đại thừa.

Nói như thế là thường thoái đại chứng tiểu Thanh văn, cho nên Thanh văn không ra ngoài hai thứ, ba châu chỉ cho hai môn nầy, đây đều là phán xét chung, hai môn thông nhau trước sau. Theo ý luận Pháp Hoa nói thật không mà cho là có gọi là người tăng thượng mạn. Do có Tam-muội-Ba-ma-bạt-đề thế gian đối trị đây cho nên nói Hóa Thành Dụ, luận nói về người phàm phu đắc thiền định thế gian chấp phi tưởng vô tưởng là Niết-bàn, cho nên nay nói về Thanh văn Niết-bàn còn như hóa huống gì phàm phu là thật. Muốn người Thanh văn bỏ tiểu Niếtbàn, đắc đại Niết-bàn cho nên nói dụ Hóa thành.

2. Giải thích tên: Trúc Pháp Hộ dịch là phẩm Vãng cổ, đây do từ đầu đặt tên; Ngài La-thập dịch là Hóa Thành Dụ, tức từ văn sau đặt tên, nhưng hai tên đều có một nghĩa. Đề Vãng cổ: được hiểu rõ bắt đầu quá khứ kết duyên, nêu Hóa thành là nói về cuối cùng hiện tại phá chấp, nhưng Vãng cổ ý nói tản mạn nghĩa phá chấp không tập trung, Hóa thành nói riêng bác bỏ bệnh là thiết yếu, vì kia không mà bỗng có nên gọi là hóa, phòng địch gọi là thành, hiểu dụ hạ căn nói về quả xưa chẳng chân thật đó là mở cửa phương tiện, tiến đến đảo châu báu gọi là hiển nghĩa chân thật, trực kế đặt tên nầy đủ được bỏ quyền bày thật cho nên dứt chấp dứt nghi, gọi là phẩm Hóa Thành Dụ.

3. Quyết nghi: Hỏi: ba xe, hai sứ giả, một thành đều là quyền, đây có gì khác?

Đáp: Vốn có căn tánh Ba thừa nên nói ba xe, người Nhị thừa lãnh giải biết chỉ một sự thật đây, hai thứ còn lại chẳng chân thật cho nên nói hai sứ giả. Nhị thừa tuy khác, đồng đoạn kiến tư hoặc phiền não đồng đắc vô vi Niết-bàn cho nên gọi một thành.

Hỏi: ba xe cùng ba sứ giả có gì khác nhau ư?

Đáp: Trưởng giả sai người bên cạnh gọi con không được, lại sai hai người gọi con liền được, cho nên một sứ là chân thật hai sứ là phương tiện, nghĩa nầy đồng với Trưởng giả dùng vạt áo bàn ghế hóa con không được dùng ba xe cứu con được, vạt áo bàn ghế là chân thật, ba xe là phương tiện.

Hỏi: Trong ba xe thì xe lớn là thật hay là phương tiện?

Đáp: Đủ có hai nghĩa: như đạo lý không hai chỉ có một, thì hai là phương tiện một là chân thật, vì vậy nên trước nói chỉ có một sự thật hai thứ còn lại chẳng thật. Sau lại nói chỉ có một chỗ nghỉ ngơi và Phật thừa nên nói hai.

Hỏi: Nếu vậy đã một sứ giả hóa không được, hai sứ giả hóa liền được, cũng lẽ ra một xe lớn dẫn không được, hai xe dẫn liền được ư?

Đáp: cũng theo lệ, nhưng ý phẩm Thí dụ trong nhà lửa vốn có ba mươi người con không thể chỉ dùng Nhất thừa hóa cho nên dùng vạt áo… cứu không được, vì nói ba xe liền được, nay hai sứ giả chính là một thừa làm dụ, nên một sứ giả gọi không được, hai sử giả gọi liền được. Nhất thừa là chân thật, Ba thừa là phương tiện: Mà dùng phương tiện mật sai hai người cho nên nhị thừa là phương tiện, cởi áo quý giá mặc áo thô xấu là phương tiện để được gần con, Phật thừa nầy cũng là phương tiện. Vì sao? Vì không có từ thân phàm phu ở dưới gốc cây mới được thành Thánh vì người Nhị thừa nên phương tiện thị hiện.

Hỏi: hai xe, một thành đều là phương tiện, vì sao thành một mà xe hai ư?

Đáp: Nếu luận chung thì được xen lẫn tướng loại, đã được gọi là một thành cũng được gọi là một xe, cho nên Thanh văn, Duyên giác đồng gọi Tiểu thừa. Căn cứ trí có hơn kém đã phân hai xe, cũng được căn cứ người khác nhau chia làm hai Niết-bàn. Cho nên đoạn văn dưới chép: Vì dừng nghỉ nên nói hai Niết-bàn. Kinh Niết-bàn chép: Đời nếu không có Phật chẳng phải không có Nhị thừa đắc hai Niết-bàn. Lại nói Xá-lợi-phất các ông dùng tiểu Niết-bàn mà bát Niết-bàn. Người Duyên giác dùng trung Niết-bàn mà bát Niết-bàn. Mà nay xe hai, thành một ấy: là muốn căn cứ căn tánh lợi độn nên nói về trí có hơn kém, do đó chia làm hai xe. Đều vượt ngoài ba cõi đồng nghĩa dừng nghỉ cho nên hiệp làm một thành. Đứng về Đại tông mà nói muốn nói lên nhị thừa khác nghĩa cho nên chia làm hai xe, Nhị thừa lại có nghĩa đồng nên hiệp làm một thành.

Hỏi: Nhị thừa có bao nhiêu nghĩa khác nhau bao nhiêu nghĩa đồng nhau?

Đáp: Nghĩa khác thì nhiều nói lược mười một thứ khác:

1/ Căn có lợi độn.

2/ Tu nhân dài ngắn, Thanh văn nhanh nhất là ba đời, chậm nhất là sáu mươi kiếp, Duyên giác nhanh nhất bốn đời, chậm nhất một trăm kiếp.

3/ Khác thời: Thanh văn và Phật đồng đợi, Duyên giác và Phật khác đời.

4/ Có bi và không có bi như luận Trí độ chép: Như ba thú bị bao vây, Thanh văn như hươu chỉ tự thoát vòng vây Duyên giác như dê, tuy được thoát mà nhớ về con thì có ít bi.

5/ Phước đắc dày mỏng khác nhau: Duyên giác thân có tướng tốt, nhưng đầy đủ hoặc không đầy đủ, Thanh văn thân hoặc có tướngg hảo hoặc không tướng tốt.

6/ Có ấn tự không ấn tự khác nhau: Duyên giác trong tay có mười hai nhân duyên ấn tự, Thanh văn trong tay không có tứ đế ấn tự.

7/ hiện thần thông nói pháp khác nhau: Thanh văn thường vì người nói pháp, Duyên giác thường vì người hiện thần thông, dù có nói pháp chỉ nói một bài kệ

8/ Lợi ích sâu cạn khác: Thanh văn nói pháp khiến người được bảy hiền bảy thánh, Duyên giác nói pháp không khiến người đắc pháp Noãn, pháp Đảnh cho đến La-hán. Vì sao? Vì Thanh văn đồng đời với Phật, chúng sanh phước đức lợi căn cho nên nghe nói giáo pháp đắc thành quả Thánh, Duyên giác xuất hiện đời không có Phật, chúng sanh phước mỏng căn độn tuy nghe nói pháp không thể ngộ sâu cũng không có khả năng nói nhiều.

9/ Cảnh giới khác nhau: Thanh văn thiên nhãn theo Luận Trí độ và Tạp tâm nói dùng hai ngàn thế giới làm cảnh giới, Duyên giác thiên nhãn dùng ba ngàn thế giới làm cảnh giới.

10/ Xuất xứ khác nhau: Thanh văn ra đời, Duyên giác ẩn xứ núi rừng.

Tiệm đốn khác nhau: Thanh văn tiệm đắc bốn quả Duyên giác đốn chứng nhất quả.

Nói đồng: nói lược bảy thứ:

  1. Dứt hoặc đồng, gọi là đồng dứt hoặc kiến tư.
  2. Nghĩa xuất đồng: đồng xuất ba cõi:
  3. Trí đồng: Y Đại phẩm nói đồng đắc Nhất thiết trí, y Tiểu thừa đồng đắc Tận vô sanh.
  4. Niết-bàn đồng: Đồng đắc hai thứ Niết-bàn hữu dư, vô dư.
  5. Thấy đồng: Đồng thấy lý tứ đế.
  6. Đồng biết việc quá khứ vị lai tám muôn kiếp.
  7. Đồng tên nhất Tiểu thừa.

Hỏi: Các con ra khỏi cửa vì sao không thấy ba xe giữa đường thấy hóa thành ư?

Đáp: y cứ Thí dụ mà nói con ở trong nhà xe ở ngoài cửa là căn cứ nói pháp luân làm thí dụ cha hư chỉ ngoài cửa nói về có ba xe, các con ra ngoài cửa không thấy có ba xe, đây y cứ giáo nay làm dụ muốn nói lên đạo lý không ba làm nghĩa đồng ban cho xe lớn. Cho nên, nương các con ra ngoài cửa không thấy có ba, theo cha xin ba để nói lên không ba. Thành căn cứ thần thông luân làm dụ, thành trên đường đi xa không có vật gì ngăn cách, đồng bạn với các con nên mắt tiện thấy. Đây căn cứ giáo xưa mà nói về mọi người muốn thối cho nên khiến họ thấy thành mà vào thành. Nếu dùng thành so sánh xe thì xưa đã thấy thành mà vào thành, xưa cũng thấy xe mà cưỡi xe, xe là Niết-bàn, xưa đã chứng Niết-bàn.

Như Thân tử chép: lúc bấy giờ tâm tự cho là ến diệt độ, nếu dùng xe so sánh thành thì nay ra khỏi cửa đã không thấy xe, nay giữa đường cũng không thấy thành, chỉ Như lai chuyển thế nói pháp, y cứ xưa nay khác nhau nên thành xe có thấy không thấy khác nhau. Lại không thấy xe hiển lý không ba nói về nghĩa thật trí, thấy có thành nói lên phương tiện có ba nói về nghĩa quyền trí. Lại thành xe khác nhau: xe thường dựa vào trí đức hữu vi, lấy đó vận động làm dụ, thành nhiều căn cứ ở Niết-bàn vô vi lấy vắng lặng Nhất thừa đó để lập dụ.

Nói nhân duyên đời trước gồm có ba phẩm: Theo như hai châu trước đều nên có bốn:

  1. Chính là nói.
  2. Lãnh giải.
  3. Thuật thành.
  4. Thọ ký.

Nay nói dù có ba phẩm mà thích hợp làm hai: Đầu phẩm chính là nói, sau hai phẩm nói về thọ ký, trong đó đều nói về lãnh giải không thể tách riêng. Sở dĩ chỉ nói về hai: Chư Phật nói pháp có lược có rộng, trước vì lợi căn cho nên nói rộng, sau y độn căn cho nên nói lược.

Hỏi: hai châu đầu vì sao trước lãnh giải sau mới thọ ký, nay nói nhân duyên đời trước vì sao trước thọ ký sau mới lãnh giải ư?

Đáp: xưa giải thích rằng muốn tiêu biểu hạ căn đạt ngộ là khó, nay tuy vì nói mà còn chưa rõ ràng nên lại phải thọ ký, giải tâm bắt đầu quyết định mới thuật lãnh giải.

Hỏi: Làm sao biết như vậy?

Đáp: Trước nói tâm còn hoài nghi lo sợ “chưa dám ăn ngay”,

trung căn còn phải đợi thọ ký, giải tâm mới hiểu rõ huống chi người hạ căn ư! Nay cho rằng đây giải thích tiểu thành khó hiểu, nếu trung căn đợi thọ ký giải tâm mới quyết định thì cũng nên đợi thọ ký mới thuật lãnh giải, nay lại dùng một nghĩa giải thích người hạ căn nghe nói nhân duyên đời trước và hóa thành dụ liền lãnh giải cho nên Như lai liền thọ ký ngay cho họ, được thọ ký rồi mới thuật kia lãnh giải vì muốn nói giáo môn khác nhau nên ba châu được thọ ký lãnh giải trước sau là khác!

Đại ý phẩm này chính muốn nói về đời quá khứ làm mười sáu vị Sa-di vì ông nói kinh Đại thừa, nhưng giữa đường quên mất Đại nên chọn Tiểu, nay lại muốn ông bỏ Tiểu ngộ Đại nên nói Pháp Hoa, nhưng nghĩa nầy không thể nói thẳng phải trình bày đầy đủ lý do việc đời trước. Nên chia làm hai phần: Đầu: một văn xuôi một kệ tụng, lược thuật quá khứ kết duyên thời gian lâu dài. Kế một văn xuôi một kệ tụng, nói rộng việc kết duyên quá khứ. Căn cứ trước lại có hai: Đầu văn xuôi kế kệ tụng. Văn xuôi có năm:

  1. Nói về thời gian kết duyên.
  2. Bấy giờ có Đức Phật v.v…. là nêu Phật kết duyên.
  3. “Nước đó tên Hảo Thành…” là nói kết duyên.
  4. Kiếp tên Đại tướng v.v…. là nói tên kiếp kết duyên.
  5. “Các Tỳ-kheo v.v…” là kết duyên thời gian lâu dài.

Do đó nói về thời gian lâu dài:

  1. Muốn chỉ bày các Thanh văn phước mỏng căn độn xưa vốn học kinh Đại thừa cho đến nay trụ trong Tiểu quả thật đáng thương.
  2. Là muốn nói về sanh tử lâu dài khiến các chúng sanh khởi tâm sợ hãi sâu xa làm cho đạo tâm vững chắc khiến không còn lui sụt.
  3. Muốn khen ngợi Như lai năng biết lâu dài cũng như ngày này khiến người Nhị thừa tự khinh mình ưa thích trí Phật.
  4. Muốn nói lên Pháp Hoa là đạo pháp của cổ Phật, Tiểu thừa nghe nói không nên kinh sợ.

Căn cứ trong văn nầy lại chia năm câu:

  1. pháp thuyết.
  2. “Thí như v.v….” là nêu dụ để hỏi Tỳ-kheo.
  3. “Thưa Thế tôn! không thể biết! v.v…” Tỳ-kheo vâng đáp.
  4. “Các Tỳ-kheo v.v…” chính là nói về quá khứ lâu dài.
  5. “Ta dùng tri kiến của Như lai v.v…” là khen ngợi trí Phật.

Luận Địa trì chép: Phật có ba trí:

1/ Bậc nhất nghĩa thanh tịnh trí gọi là không trí dứt hoặc.

2/ Nhất thiết trí biết các pháp hữu. Lược biết bốn pháp:

  1. Biết tất cả thời gọi là ba đời.
  2. Biết tất cả giới gọi là thế giới và cõi chúng sanh.
  3. Biết tất cả sự gọi là hữu vi vô vi sự.
  4. Biết tất cả chủng gọi là nhân quả chủng biệt thế gian xuất thế gian.

3/ Trí Vô ngại cũng là Hữu trí: đối bốn pháp trên muốn biết thì biết mà không ngăn ngại. Nay nói tri kiến của Như lai tức là hai trí sau lại cũng đầy đủ ba trí. Sở dĩ biết như vậy là do khen ngợi Phật quán nơi lâu xa cũng như ngày nay, đây là xa gần không hai. Cho nên, kinh Hoa Nghiêm chép: một niệm vô lượng kiếp, vô lượng kiếp trong một niệm, không đến không chứa nhóm mà hiện việc các kiếp.

Kệ văn chỉ tụng ba việc: Nửa bài tụng thứ nhất là thời gian, nửa hàng tụng thứ hai là hóa chủ, sáu hàng còn lại tụng thứ năm quá khứ lâu dài. Trong văn xuôi có năm nay chỉ tụng ba: đầu hai bài tụng thứ hai nói thí dụ hỏi các Tỳ-kheo. Kế hai bài tụng thứ tư nêu quá khứ lâu xa. Kế hai bài tụng thứ năm khen ngợi trí Phật.

“Phật bảo các Tỳ-kheo v.v…” một văn xuôi một kệ tụng nói rộng về việc kết duyên quá khứ.

Văn cũng có hai:

  1. Văn xuôi.
  2. Kệ tụng.

Văn xuôi lại có hai:

  1. Nêu bắt đầu kết duyên quá khứ.
  2. Nêu hiện tại lại gặp nhau lại vì nói pháp. hai thứ này là quá khứ hiện tại từ đầu đến cuối.

Căn cứ đầu lại có hai:

  1. Nêu lý do kết duyên.
  2. Chính nêu kết duyên.

Hai văn đều có hai: Lý do kết duyên có hai:

  1. Duyên do kết duyên xa.
  2. Duyên do kết duyên gần.

Trong chánh kết duyên cũng có hai:

  1. Nêu một đời kết duyên.
  2. Nêu đời đời gặp nhau.

Trong lý do kết duyên xa chia làm bốn:

  1. Nêu đức Đại Thông Trí Thắng thành Phật.
  2. Mười sáu vị vương tử xin Phật xoay bánh xe pháp.
  3. Thành Phật xong hiện tướng lành.

4. Phạm thiên khắp mười phương nhóm họp cúng dường khuyên xin. Bốn đoạn thứ tư: Ban đầu duyên thuần thục nên thành đạo, do thành đạo nên chúng gần nhóm họp khuyến xin nói pháp, chúng gần tuy đến nhưng chúng xa chưa nhóm họp cho nên hiện tướng lành gọi, người có duyên đồng thấy cho nên chúng xa đều nhóm họp cúng dường khuyến xin. Tuy có bốn đoạn này mà không ngoài hai việc: thứ nhất và ba nêu việc năng hóa, thứ hai và bốn nói về việc sở hóa.

Căn cứ bốn đoạn mỗi đoạn chia làm riêng, hiệp thành mười hai phần kinh. Đoạn đầu có ba:

  1. Nêu mười kiếp ngồi đạo tràng chưa thành Chánh giác.
  2. Chư thiên cúng dường.
  3. Quá mười kiếp mới thành Phật.

Đầu văn nói về Phật tuổi thọ năm trăm bốn mươi muôn ức na do tha kiếp gồm có ba nghĩa:

  1. Thành trên quá khứ lâu xa, Phật thọ đã lâu dài như thế, huống chi sau khi diệt độ trải qua số kiếp như thế.
  2. Muốn nói về mười kiếp ngồi đạo tràng và sau nhập định tám muôn bốn ngàn kiếp cho nên trước phải nói về Phật tuổi thọ lâu dài.
  3. Ba châu nói pháp nói nương quyền thừa thật sắp xong. Muốn xa khai nghĩa tuổi thọ cho nên nói về cổ Phật tuổi thọ lâu dài khiến sau khai Thích-ca tuổi thọ lâu dài mà không sanh kinh sợ nghi ngờ.

Hỏi: Vì sao mười kiếp ngồi đạo tràng?

Đáp: Vì duyên thích nghi khác nhau, như Thích-ca sáu năm khổ hạnh, Di-lặc xuất gia trong ngày liền thành Phật. Mà nói mười kiếp không thành Phật ấy: Đây muốn đợi vật duyên thuần thục ở trong mười kiếp cho đến thời nay mới thành. Lại có hai lợi ích: chưa thành đạo khiến cúng dường sanh phước cho chúng sanh, thành đạo rồi thọ xin nói pháp khiến chúng sanh được tuệ.

Hỏi: Bồ-đề khó đắc dễ đắc có nghĩa gì ư?

Đáp: Như Đại phẩm có chỗ chép:

  1. Căn cứ có phương tiện không phương tiện nói về kia khó dễ, không phương tiện gọi là khó, có phương tiện gọi là dễ, khó dễ nêu ra hai duyên.
  2. Bồ-đề thật không có khó dễ; lại môn thế đế nói về Bồ-đề khó đắc, môn đệ nhất nghĩa nêu Bồ-đề dễ đắc lại vì chúng sanh khinh chê Phật đạo nên nói Bồ-đề khó đắc, vì chúng sanh sợ hãi sanh tử lâu dài nên nói Bồ-đề dễ đắc.

Hỏi: Vì sao gọi là đạo tràng ư?

Đáp: Đạo tràng có hai thứ:

  1. Pháp thân đạo tràng.
  2. Ứng thân đạo tràng.

Pháp thân đạo tràng: Đạo là đạo quả ba Bồ-đề; Tràng là muôn hạnh. Như kinh Tịnh Danh chép: do muôn hạnh năng thành đạo Ba Bồđề cho nên nhân hạnh làm đạo tràng của quả. Ứng thân đạo tràng: ở cõi Ma-kiệt-đà vốn ở dưới gốc cây thành đạo nên gọi là đạo tràng.

Hỏi: Nếu nói nhân hạnh là đạo tràng vì sao kinh Tịnh Danh nói Nhất thiết trí v.v… là đạo tràng ư?

Đáp: Đạo tràng có cả nhân lẫn quả:

  1. Tức nhân năng khởi đạo gọi là đạo tràng như trước nói.
  2. Tức quả cũng là đạo tràng, vô thượng hư thông nên gọi là đạo, tức là chỗ bước lên đạo Thánh mầu nhiệm nầy nên gọi là Tràng.

Nay dùng bốn câu giải thích:

  1. Đạo mà không phải tràng gọi là đạo vô thượng quả.
  2. Tràng mà chẳng phải đạo gọi là dưới cây Bồ-đề khởi đạo.
  3. Vừa là đạo vừa là tràng tức như trước nói gọi là quả đạo tràng.
  4. Chẳng phải đạo, chẳng phải tràng dứt ba môn trên trở về ngôn ngữ vẳng lặng lo nghĩ dứt.

“Lúc ấy, các trời Phạm thiên…” là nói chư thiên cúng dường. “Các Tỳ-kheo v.v…” trải quá mười kiếp đức Đại Thông Trí Thành thành Phật, nhưng thành Phật có hai thứ: Pháp thân thành Phật, như từ mới phát tâm đến địa Đẳng giác sau chuyển thành Phật địa Diệu giác, đây là biến dịch sanh tử sắp đổ cho nên pháp thân ngoài ba cõi thành Phật. Y luận Nhiếp Đại thừa nêu ngoài ba cõi có bốn thứ sanh tử, Ba địa trở xuống gọi là phương tiện sanh tử, Tứ địa đến Thất địa gọi là nhân duyên sanh tử, Bát địa đến Thập địa gọi là hữu hữu sanh tử, Kim cương tâm nhất sát na gọi là vô hữu sanh tử. Luận Phật tánh chép: Ba địa là địa thế gian nên gọi là thế đế, cũng là phước đức, phước đức so với trí tuệ thì phước đức là duyên gọi là phương tiện sanh tử. Tứ địa đến Thất địa gọi là xuất thế gian địa cũng gọi là Chân-đế, xứng là trí tuệ, trí tuệ là nhân gọi là nhân duyên sanh tử. Luận nêu dụ rằng: Phương tiện sanh tử như vô minh sanh hành, nhân duyên sanh tử như hành sanh thức, cho nên biết vô minh là phương tiện mà hành chính là nhân. Hữu hữu sanh tử là có sanh cũng có tử, vô hữu sanh tử chỉ có một sát na sanh sau thì chuyển thành pháp thân, pháp thân thành Phật chính là lìa vô hữu sanh tử. Ứng thân thành Phật gồm có hai thứ:

  1. Theo Đại thừa, Thập địa hành mãn ngồi dưới đạo tràng, hoặc có cõi tịnh ngoài ba cõi thành Phật, hoặc cõi uế tịnh trong ba cõi thành Phật.
  2. Tiểu thừa thành Phật nhất định ở trong ba cõi.

Luận Câu xá có hai thứ giải thích:

  1. Phật ngồi dưới gốc cây quán bất tịnh cho đến thứ lớp chứng Tận trí vô sanh trí mới xuất quán gọi là thành Phật.
  2. Ngồi dưới gốc cây từ bốn gốc lành thứ lớp nhập Kiến tu đạo ba mươi bốn tâm thành Phật.

Đại Tiểu thừa thành Phật khác nhau: Tiểu thừa từ phàm chuyển thành Thánh, Đại thừa từ Thánh đến Thánh.

Hỏi: Nói theo Tiểu thừa thì Phật là người căn cơ đại lợi không có nghĩa ngồi đạo tràng mà Phật pháp không hiện tiền, trên nói vì sao Phật pháp không hiện tiền ư?

Đáp: Nay y cứ Đại thừa phương tiện trú đợi duyên Tam-muội cho nên nói Phật pháp không hiện tiền! Nếu căn cứ Tiểu thừa đức Thích-ca sáu năm khổ hạnh cũng được gọi là Phật pháp không hiện tiền.

Hỏi: sáu năm khổ hạnh là có ngồi đạo tràng hay không?

Đáp: Chẳng đúng, sáu năm khổ hạnh xong thọ dụng sữa rồi sau chọn tòa cỏ nơi đạo tràng mới thành Phật.

“Lúc Đức Phật chưa xuất gia v.v…” là đoạn hai: Nói mười sáu vương tử xin xoay bánh xe pháp cũng chia làm ba riêng:

  1. Cùng quyến thuộc đến chỗ Phật.
  2. Đến rồi cung kính khen ngợi.
  3. Chánh xin nói pháp.

Hỏi: Vì sao ban đầu nêu lên mười sáu vương tử mà trước không nóivị tổ của vua Chuyển luân kia ư?

Đáp: Gồm có hai nghĩa:

  1. Mười sáu vương tử có công xin chuyển pháp luân đại tiểu thừa cho nên nêu trước.
  2. Mười sáu vương tử lại có thể giảng giải lại; nay chính là nói về kết duyên với vương tử cho nên nêu trước.

“Tên là Trí tích v.v…” là bình đẳng đại trí đều đã chứa nhóm cho nên năng xin chuyển hai luận và thuật lại kinh Diệu Pháp Hoa. “Đều bỏ đồ báu của mình đi đến chỗ Phật” là ý muốn xuất gia cho nên xả tiểu lạc mà cầu đại lạc. “Các người mẹ khóc lóc theo đưa:” ái tình chưa dứt cho nên khóc lóc, đạo duyên đã hợp cho nên theo đưa.

“Đã đi đến nơi đem đầu mặt kính lễ dưới chân Phật…” Cung kính, khen ngợi. Văn xuôi ở trước là thân nghiệp cung kính, kế kệ tụng là miệng nghiệp khen ngợi, tự có khen ngợi mà không cung kính, cung kính mà không khen ngợi, vừa cung kính vừa khen ngợi, chẳng cung kính chẳng khen ngợi nay đủ cả hai.

Kệ văn chia làm bốn:

  1. Một bài rưỡi khen ngợi Phật thành đạo.
  2. Hai bài khen ngợi ngồi đạo tràng.
  3. Bốn hàng nêu tự vui mừng.
  4.  Nửa bài kết khen ngợi.

“Lúc bấy giờ mười sáu vị vương tử v.v…” là nêu xin xoay bánh xe pháp, trước văn xuôi kế kệ tụng. Văn kệ có ba:

  1. Hai bài rưỡi chính là thỉnh nói pháp.
  2. Một bài rưỡi khen ngợi Phật đức biết căn cơ giải thích có khả năng thọ thỉnh.
  3. Nửa bài chính là kết thỉnh.

Mà nói một trăm phước ấy: một thiện có năm phẩm tâm, gọi là hạ, trung, thượng, thượng trung, thượng thượng. Mười thiện hiệp thành năm mươi, đầu có năm mươi tâm cuối có năm mươi tâm cho nên gọi là một trăm phước.

“Phật bảo các Tỳ-kheo…” là đoạn ba: Nói về thành Phật rồi sau hiện tướng lành, sở dĩ hiện tướng lành là muốn rộng nhóm họp người có duyên khiến thọ đạo pháp. Lại mười kiếp ngồi đạo tràng nghĩa là bậc Thánh im lặng ý nghiệp lợi vật, nay nói là phát ra ánh sáng nghĩa là thân nghiệp lợi vật, sau thọ xin nói pháp gọi là miệng nghiệp lợi vật. Lại từ khi thành đạo về sau đầy đủ ba nghiệp lợi vật. Phát ra ánh sáng là thân nghiệp, động đất là ý nghiệp, nói pháp là miệng nghiệp. Văn lại có ba:

  1. Động địa.
  2. Phát ra ánh sáng.
  3. “Lại các cõi nước kia v.v….” nêu chỗ hai tướng lành đến.

Sở dĩ phát ra ánh sáng là:

1/ Tiêu biểu trí sáng chói như mặt trời cho nên thân sáng chói trước.

2/ Muốn diệt chướng ngại của chúng sanh.

3/ Muốn triệu tập người có duyên khiến biết Phật ra đời. Sở dĩ động đất: là kệ tụng sau giải thích rằng: “Vì giác ngộ chúng sanh, linh động với tất cả khiến chúng sanh biết có Phật ra đời”. Nêu riêng hai tướng lành đến: trước hai chương là lợi ích các chúng, nay mục đích nhóm họp Phạm vương.

“Bấy giờ phương Đông…” là đoạn bốn: Nêu Phạm thiên mười phương nhóm họp xin xoay bánh xe pháp. Sở dĩ chỉ nói về Phạm Vương xin vì trên nêu mười sáu vương tử trong mười phương là nói chúng gần thỉnh nay nói mười phương Phạm vương thỉnh là chúng xa nói lược gần xa, trung gian đó theo lệ có thể biết cho nên văn sau chép: Lúc các Phạm thiên đến thấy mười sáu vương tử thỉnh và tám bộ cung kính cho nên biết nói lược gần xa thì biết trung gian. Lại mười sáu vương tử là nêu người thỉnh, nay nói thiên thỉnh, vì trời người là khí thọ đạo. Lại mười sáu vương tử là nói về trong quyến thuộc thỉnh nay nói ngoài quyến thuộc thỉnh. Văn cũng có ba:

  1. Nêu Phạm vương ba phương đến thỉnh.
  2. Theo lệ nơi sáu phương.
  3. Biệt nêu phương trên Phạm thiên đến xin.

Ba phương thỉnh tức ba đoạn, mỗi một phương theo lệ có sáu chương:

  1. Thấy điềm lành sanh nghi.
  2. Các Phạm thiên tính bàn.
  3. Tìm ánh sáng đến chỗ Phật.
  4. Ba nghiệp cúng dường.
  5. Xin xoay bánh xe pháp.
  6. Như lai im lặng hứa khả.

“Lúc ấy các vị Phạm thiên vương v.v…” là văn thứ hai. “Bấy giờ có năm trăm v.v…” là văn thứ ba. Ba Tạng Chân-đế chép: Đãy áo là vạt áo đựng, nay gọi là vạt áo trước. “Tức thời các vị Phạm thiên vương v.v…” là ba nghiệp cúng dường. Trước văn xuôi nêu cúng dường tài lộc kế nói kệ nêu cúng dường pháp lại trước là thân nghiệp cúng dường, sau là miệng nghiệp cúng dường. Lại trước là cúng dường sau là khen ngợi. Văn xuôi chia làm hai: Nói về cung kính: “liền dùng hoa trời v.v… nêu cúng dường, trước dùng hoa cúng dường tiêu biểu muốn hành nhân. Kế dâng cúng cung điện là tiêu biểu muốn cầu quả. Trong hoa cúng dường trước cúng dường Phật gọi là quả chánh báo, kế cúng dường cây Bồ-đề gọi là quả y báo. Lại trước tiêu biểu người tôn quí, sau tiêu biểu chỗ kính trọng. Dâng cung điện: bỏ chỗ hình tướng nghỉ ngơi muốn cầu nhà thần nương ở.

Văn kệ chia làm ba:

  1. Hai bài khen ngợi đức của Phật.
  2. Một hàng trình bày ý đến.
  3. Một hàng xin thọ cúng dường.

“Bấy giờ, các Phạm Thiên Vương…” là nói xin xoay bánh xe pháp. Trước cúng dường để cầu phước, nay xin nói để cầu tuệ, lại trước khen ngợi ruộng phước Phật, nay khen ngợi Phật làm thí chủ, lại trước là tự hành, nay xin pháp là hóa tha. “Lúc ấy đức Đại Thông Trí Thắng…” là im lặng nhận lời.

Hỏi: Thời Niết-bàn cũng im lặng mà không hứa nhận cúng dường, nay cũng im lặng làm sao biết nhận lời thích ư?

Đáp: Có người chép: Nhan sắc Phật có khi thay đổi cho nên biết nhận, không nhận! Có người nói thân sáng trên dưới là biểu hiện Phật có nhận, không nhận. Có người nói khi mới thành đạo Phật có xướng hiệu.

Im lặng tức là nhận lời xin. Thời Niết-bàn im lặng là không nhận xin. Hai phương còn lại như văn. Phương Tây nam cho đến phương dưới v.v… theo lệ như sáu phương.

Phạm vương ở phương trên nói kệ khen ngợi mười hàng rưỡi chia làm hai:

  1. Tám hàng rưỡi tán Phật.
  2. Hai bài xin Phật nhận cúng dường. Trước khen ngợi sau xin: Đầu khen ngợi nêu Phật có đức cao quý nên sau xin thọ cúng dường.

Căn cứ trong phần đầu khen ngợi: hai bài khen ngợi Phật có đức từ bi: kệ trước khen ngợi đại bi kệ sau khen ngợi đại từ. “Lúc xưa vô lượng kiếp v.v…” có sáu hàng rưỡi khen ngợi Phật khó gặp: bốn hàng rưỡi đầu nêu xưa không gặp Phật. Kế hai bài tự vui mừng nay được gặp Phật. Trong bốn hàng rưỡi đầu chia làm hai:

  1. Ba hàng rưỡi nói chúng sanh khởi ái không gặp Phật.
  2. “Trụ trong pháp tà kiến v.v…” một bài nêu khởi kiến chúng sanh khởi kiến chấp không gặp Phật.

Hỏi: Phương Đông nam các Phạm vương nói một trăm tám mươi kiếp luống qua không có Phật. Kế phương Nam nói hơn một trăm ba mươi kiếp đến nay mới thấy một lần, nay đây văn này nói lúc xưa vô lượng kiếp luống qua không có Phật vì sao ba chỗ khác nhau ư?

Đáp: Do tìm cầu Phật ứng thế cảm thấy khác nhau, cũng bởi chúng sanh tu hành có dày mỏng khác nhau, cho nên thấy kế đến nổi khác nhau xa gần, mười ba mươi kiếp người thượng phẩm, 1tám mươi kiếp người trung phẩm, lúc xưa vô lượng kiếp là người hạ phẩm. Nói lược ba phẩm khác nhau tức tóm lược gồm nhiếp nghĩa cảm ứng.

“Đều mất vui và tưởng vui” là đối cảnh sanh ái làm vui, tâm chấp

cảnh nên gọi là tưởng vui. Lại giải thích lạc cho là lạc đầy đủ tưởng là thọ lạc, sanh tử không có thật vui nên gọi là tưởng vui.

“Lúc bấy giờ, đức Đại Thông Trí Thắng Như lai…” là nói lý do gần, do cách xa trở lại giảng giải gần nên gọi lý do gần cũng chia làm bốn:

  1. Thọ xin nói pháp luân Tiểu thừa.
  2. mười sáu vương tử xin chuyển pháp luân Đại thừa.
  3. Thọ thỉnh nói pháp.
  4. Nói kinh xong nhập định. Trước nói về nói Tiểu thừa, ba phần sau biện nói Đại thừa, căn cứ bốn chương này mỗi chương chia ba đoạn cũng hiệp thành mười hai chương kinh.

Đầu ba chương:

  1. Nêu thọ xin.
  2. Nêu một hiệp nói pháp.
  3. Nêu nhiều hiệp nói pháp. Đầu văn trước nêu mười phương Phạm thiên sau nêu mười sáu vương tử, là văn trước từ gần đến xa cho nên trước nêu nhận sau nêu thiên, nay từ thiên đến nhân là từ xa đến gần.

“Tức thời ba phen xoay bánh xe pháp…” chánh nêu nói pháp. Văn có hai:

  1. Nói tứ đế.
  2. Nói thập nhị nhân duyên.

Căn cứ nói tứ đế chia làm ba:

  1. Nêu ba phen chuyển mười hai hành.
  2. Nêu những người còn lại không thể chuyển.
  3. Chính là nói về ba phen chuyển.

Nói ba phen chuyển:

1/ Thị chuyển: Đây là Khổ, là Tập, là Diệt là Đạo.

2/ Khuyến chuyển: khổ nên biết, tập nên dứt, diệt nên chứng, đạo nên tu.

3/ Chứng chuyển: khổ ta đã biết, tập ta đã đoạn, diệt ta đã chứng, đạo ta đã tu. Dẫn Phật làm chứng chuyển, lại có một đế ba lần chuyển gọi là khổ khổ nên biết, khổ ta đã biết, ba đế còn lại cũng vậy. mười hai hành: nếu dùng giáo làm pháp chuyển, nói mộthai thứ giáo này phát sanh giải cho chúng sanh, giải hành nơi cảnh cho nên gọi là hành. Lại Đức Phật như hành mà nói, chúng sanh đúng như lời dạy mà tu hành cho nên nói mười hai hành. Nếu lấy giải làm thể pháp luân thì một phen chuyển sanh bốn hành gọi là nhãn, trí, minh, giác, nhãn là pháp nhẫn, trí là pháp trí, minh là tỷ nhẫn, giác là tỷ trí, một phen chuyển sanh bón hành nên gọi là mười hai.

Hỏi: một phen chuyển đã sanh bón hành thì sanh bốn pháp nhẫn, bốn pháp trí, bốn tỷ nhẫn, bốn tỷ trí, sanh hành đã đủ, hai phen chuyển sau lại nói về chỗ nào ư?

Đáp: Thành luận sư chép: sơ chuyển sanh Văn tuệ, kế chuyển sanh Tư tuệ, sau chuyển sanh Tu tuệ. Theo tông chỉ Bà-sa vì hàng ba căn nên có ba phen chuyển: sơ chuyển thượng căn tức ngộ sanh nơi bón hành, cho đến ba phen chuyển người hạ căn ngộ cũng sanh bón hành. Nay hàng ba căn hiệp luận nên có mười hai hành, nếu.rộng khai thì có bốn tám pháp luân. Sơ chuyển bón hành gọi là kiến đạo thập lục tâm, hai phen chuyển còn lại mỗi phen có mười sáu hiệp thành bốn mươi tám. Lại sơ chuyển sanh vị tri dục tri căn, kế chuyển sanh Tri căn, sau chuyển sanh dĩ tri căn. Lại sơ chuyển sanh Kiến đạo, kế chuyển sanh Tu đạo, sau chuyển sanh Vô học đạo. Y đức Thích-ca đến vườn Nai nói pháp, hàng trời người chỉ chứng sơ quả, nên dùng trước căn cứ hàng ba căn giải thích. Nếu y đức Đại Thông Trí Thắng nói pháp đều chứng đắc A-la-hán thì nên dùng hai nghĩa ba căn ba đạo giải thích.

Hỏi: Y Tỳ-đàm tông dùng gì làm thể pháp luân ư?

Đáp: Tạp Tâm chép: Đức Mâu-ni nói kiến đạo nhanh nên gọi pháp luân, nghĩa là kiến đế giải khởi đầy đủ giới định tuệ, dùng ba thứ giới làm trục xe ba thứ tuệ làm nan xe, hai thứ định làm vành bánh xe, ba thứ giới gọi là chánh ngữ chánh nghiệp chánh mạng, ba thứ tuệ là chánh kiến chánh tư duy chánh tinh tấn, hai thứ định là chánh định, chánh niệm. Nói luân ấy: nghĩa là luân chuyển, quán khổ cõi Dục, kế quán khổ cõi trên, kế cho đến đạo cõi Dục, kế quán đạo cõi trên, do ba cõi tứ đế trên dưới luân chuyển cho nên gọi là luân. Dứt hoặc kiến đế là luân dụng chiếu cảnh bốn đế làm luân hành bốn phương.

Hỏi: Tỳ-đàm nói Kiến đạo chỉ có năm mươi tâm làm sao đủ mười hai hành ư?

Đáp: Đạo, tỷ trí là thuộc loại Nhẫn, ấn chứng kiến đế hoặc không có, nhưng chẳng gồm nhiếp Kiến đạo, luận Thành Thật nói Kiến đạo chỉ có một không hành, cũng không có mười hai hành, cho nên hai nhà số luận giải thích mười hai hành đối với văn là khó hiểu.

Riêng có kinh nói mười hai nhân duyên là mười hai hành, nếu vậy ba phen chuyển gọi là bốn đế mười hai hành, căn cứ mười hai nhân duyên hai việc hiệp nói.

“Hoặc là Sa môn v.v…” là nêu người khác không có khả năng chuyển. Người trí tuệ có hai hạng: xuất gia làm Sa môn, tại gia là Bà-lamôn, trời có hai hạng: Dục thiên chủ là ma, sắc thiên chủ là phạm. “Và các thế gian khác:” đây là trời người bên ngoài gọi là khác.

Hỏi: Người Ba thừa đều đắc kiến đạo đế, vì sao nói chỉ cóg Phật năng chuyển các người khác không thể ư?

Đáp: người Nhị thừa tuy năng nhập kiến đế đạo thành Vô học mà không có Nhất thiết trí, không thể khéo hiểu cơ duyên không làm cho chúng sanh tin hiểu được, cho nên không thể chuyển. Lại Phật có thể tự chuyển, vì người khác chuyển. Thanh văn không thể tự chuyển, không vì người khác chuyển, Duyên giác tuy năng tự chuyển mà Duyên giác ra đời không có người khác thành Thánh, nên không thể vì người khác chuyển được. Cho nên kinh Niết-bàn chép: Duyên giác nói pháp không thể khiến người đắc pháp Noãn v.v…

Nói: “Đây là khổ v.v…” chính là nói về ba phen chuyển. Nói lược kỳ một. Và nói rộng mười hai nhân duyên v.v… sở dĩ nói về mười hai nhân duyên ấy có hai nghĩa:

1/ Nói rộng nghĩa Tứ đế trên, nói rộng khổ tập làm mười hai tướng sanh, nói rộng diệt đạo mười hai tướng hoàn diệt.

2/ Lúc ngồi có hai thứ căn duyên: a) Cầu Thanh văn. b) Cầu Duyên giác.

Vì cầu Thanh Văn nói tứ đế, vì cầu Duyên giác nói mười hai nhân duyên, cho nên phẩm Tín Giải nói mật sai hai người tức việc này.

Nói vô minh:

  1. Là hiển bày chung ẩn che riêng cho nên nói vô minh, ở đời quá khứ tất cả phiền não đều có nghĩa ám hoặc mê lý, y cứ nghĩa chung nầy nên nói vô minh.
  2. Vô minh phiền não mê bổn tế tập khởi sanh tử, sức kia rất mạnh do mạnh, nên gọi là vô minh.

Vô minh có bốn:

  1. Mê lý vô minh; tức nói là mê lý hai đế Địa kinh chép: Biết thế đế bậc nhất nghĩa đế nên gọi là vô minh.
  2. Phát sanh nghiệp vô minh: có chỗ nói ba căn ba độc phiền não, ba căn phiền não năng phát tư nghiệp, ba độc phiền não phát thân miệng nghiệp.
  3. Phú nghiệp vô minh: nghĩa là tạo nghiệp rồi lại đối với cảnh trước khởi tham sân v.v… lại giúp nghiệp trước khiến nuôi lớn thêm.
  4. Nhuận sanh vô minh: Nếu theo luận Thành Thật thì chỉ ái năng thấm nhuần còn các thứ khác chỉ xa giúp. Nếu căn cứ nghĩa nầy thì

nhuận sanh tức hẹp chỉ do ái, thọ sanh thì rộng chung ở các kết, Địa kinh cũng vậy. Cho nên kinh kia nói nước ái làm thấm nhuần, vô minh che lấp rưới thấm tâm ta. Luận Tỳ-đàm chép: Nhuận sanh, thọ sanh các kết đều có khả năng, chỉ triền cấu… có công năng thấm nhuần, không thể thọ sanh.

Hành: nghĩa là ba hành tội phước bất động, cũng là ba hành thân miệng ý chí thức: gồm có ba thứ:

  1. Hạt giống tâm thức tác hành về sau thọ sanh trước có tâm thức bị nghiệp phiền não huân tập phát nên năng sanh quả đời sau thức gọi là chi thức.
  2. trong vô minh hành có tâm thức cũng gọi là chi thức.
  3. Thọ sanh tâm thức gọi là chi thức, nghĩa là chỉ sanh một niệm thức nhiễm ô. Danh sắc chi: bốn ấm gọi là danh, sắc ấm gọi là sắc, ngay lúc bấy giờ bốn ấm vừa thành lập, có danh mà chưa có dụng nên gọi là Danh. Lại giải thích hai chữ danh sắc chỉ gọi là sắc, đây là sắc bên trong, thọ tên chúng sanh khác với sắc bên ngoài. Lại giải thích sắc ngay nơi thể pháp mà gọi, tâm từ năng thuyên danh tự thọ xưng, do tâm pháp ẩn dấu cho nên dùng năng thuyên để gọi tên. Sáu nhập: sanh thức xứ gọi là nhập, sắc thêm lớn gọi là năm nhập, danh thêm lớn gọi là ý nhập.

Xúc chi: xúc đối trước cảnh nên gọi là xúc. Theo Tỳ-đàm giải thích xúc có năm thứ:

  1. Tăng ngữ xúc: nghĩa là ý địa xúc thường hay phát sanh ngôn ngữ.
  2. Hữu đối xúc: trong năm thức tương ưng xúc xúc đối hiện cảnh cho nên gọi là hữu đối.
  3. Minh xúc nghĩa là xúc vô lậu
  4. Vô minh xúc: nghĩa là các phiền não tương ưng xúc
  5. Xúc trong xứ nghĩa là tất cả xúc hữu lậu.

Nói thọ: hoặc tổng gọi một thọ, hoặc chia làm hai, nghĩa là hai thọ thân tâm, năm thức tương ưng gọi là thân thọ, ý thức tương ưng gọi là tâm thọ, hoặc ba hoặc năm hoặc sáu, sáu căn sanh thọ, hoặc mười tám: sáu ưu sáu hỷ sáu xả, đây cũng có hai: cấu và tịnh, thành ba mươi sáu, nói về ba đời hiệp thành một trăm lẻ tám thọ. Nói ái: kinh Niếtbàn chép: Nhiễm tập một ái. Lúc bấy giờ, chỉ có thật ái chưa có dục ái cho nên gọi là một. Nói thủ: Phiền não đã nặng, bốn phương rong ruổi tìm cầu cho nên gọi là thủ. Luận Tỳ-đàm chép: bốn thủ nhiếp đủ một trăm lẻ tám phiền não, trong cõi Dục phiền não ngoại trừ nơi giới kiến nên gọi là dục thủ, do duyên dục bên ngoài nên gọi là dục thủ. Hai cõi trên phiền não ngoại trừ giới kiến duyên bên trong sanh gọi là ngã ngữ thủ, hai phần thượng hạ giới này khác nhau nên chia làm hai thủ. Kế ba cõi bốn kiến gọi là kiến thủ, ba cõi giới thủ gọi là giới thủ, hai thủ này thông cả ba cõi mà luận, độn sử chia làm hai thủ, lợi sử chia làm hai thủ. Nếu y Thành luận: Thân kiến một sử gọi là ngã ngữ thủ, thật không có ngã thể chỉ chấp ngã danh nên gọi là ngã ngữ, dựa vào thân kiến này khởi nơi biên kiến thủ chấp đoạn thường. Nếu kiến chấp đoạn tức chấp năm dục gọi là dục thủ, do không có đời sau nên tham lạc hiện tại. Nếu chấp thường thì có lợi có độn, nếu độn căn thì liền giữ giới mong vui đời sau gọi là giới thủ, nếu lợi căn nói thần là thường khổ vui bất kiến thì không tội phước cho nên khởi thuyết tà kiến gọi là kiến thủ. Luận Thành Thật nói bốn thủ nhiếp hoặc bất tận. Nói hữu: nghiệp có thể lôi kéo vào ba cõi nên gọi là hữu, lại gồm có quả vị lai nên gọi là hữu, thức đời hiện tại gọi là sanh đời vị lai, hiện tại danh sắc trở đi bốn quả gọi là lão tử, mười hai duyên nghĩa rộng, nay giải thích sơ tên gọi lược.

“Khi nói pháp đó v.v….” là nói ngộ đạo, muốn hiển bày thuyết giáo không sai cho nên nói đắc đạo. “Không thọ tất cả pháp v.v….” tâm không yêu đắm nên gọi là không thọ. Có người chép: Không quán hiện tiền không thọ ba hữu nối kế nên gọi là không thọ. Có người chép: người đắc đạo năm căn duyên năm trần không khởi phiền não, không khởi phiền não nên không tạo nghiệp ác, không có nghiệp ác nên không thọ quả báo trong ba đường ác nên gọi là không thọ.

“Lúc nói pháp lần thứ hai lần thứ ba lần thứ tư v.v…” là nói về nhiều hội nói pháp, nhưng Di-lặc có ba hội: Đức Thích-ca độ chúng sanh hàng ba căn còn sót lại, ở đời Đức Phật Thích-ca có người giữ gìn năm giới hội đầu đắc đạo, người thọ ba qui hội kế đắc đạo, người xưng danh hiệu nam mô Phật một lần ở hội thứ ba đắc đạo, lại có riêng cùng đức Di-lặc kết duyên, lại vì họ nói pháp, không chỉ hạn cuộc nơi ba hội, nay hội thứ tư nói pháp đại loại như thế có thể biết. Văn cũng có hai: ban đầu nói pháp, kế nói ngộ đạo ở văn dễ biết.

“Lúc bấy giờ mười sáu vị vương tử v.v…” xin nói pháp luân Đại thừa. Sở dĩ xin là gồm có hai nghĩa:

  1. Thấy các người đều thành La-hán đại căn cơ thuần thục cho nên vì họ thỉnh nói Đại thừa.
  2. Xa muốn chê trách Thanh văn, hạ căn ngày nay, nói về ta ngày xưa vì các ông mà xin nói Pháp Hoa, huống chi nay thành Phật mà không vì ông nói kinh Đại thừa ư! Từ xưa đến nay trải qua gồm biết bao lần nói mà vẫn như cũ không hiểu đây là rất ngu! Văn nầy cũng có ba: 1) Vì xin nói nên xuất gia.
  3. Chánh xin.
  4. Vua và quyến thuộc cũng theo xuất gia.

Đều là đồng tử mà xuất gia làm Sa-di: bốn tuổi trở lên gọi là đồng tử tức tiêu biểu Bồ-tát tu hành đồng chân, lại nhỏ mà ngộ đạo thì chúng đều qui phục. Xuất gia: là muốn thông hóa đạo tục:

  1. Người tại gia không được hóa độ cho người xuất gia.
  2. Muốn dẫn dắt tám muôn ức người khiến họ xuất gia.

Sa-di: Hán dịch là Tức ác hành từ (dứt ác làm lành), muốn tiêu biểu Bồ-tát vì chúng sanh thỉnh pháp có đại từ. Trước xưng Trí Tích nêu môn trí tuệ, nay xưng Sa-di nói về môn công đức làm Sa-di trở lại giảng giải, tiêu biểu tuổi nhỏ mà sớm ngộ đạo ở đời rất hi hữu, khiến chúng sanh tin. Như Thân tử tám tuổi lên tòa nói pháp đạo tục tán dương rung chuyển nổi tiếng xa gần.

“Đều bạch Phật rằng:” là chánh xin. Thanh văn đều đã thành tựu có hai nghĩa:

  1. Muốn khiến họ hồi tiểu nhập đại.
  2. Nêu đã hóa tiểu nay lại phải giáo đại.

“Lúc bấy giờ vua thánh Chuyển luân.” Là nói về vua và quyến thuộc xuất gia. Do thấy vương tử xả bỏ vương vị nên họ cùng theo xuất gia.

“Lúc bấy giờ Đức Phật v.v…” là nói Phật nhận lời xin, nói pháp Đại thừa. Văn cũng có ba:

  1. Chánh thọ xin nói pháp.
  2. Nêu thời chúng cảm ngộ khác nhau.
  3. Nêu thời gian nói kinh.

Hỏi: Đức Phật kia nhận lời xin của Sa-di liền nên nói pháp, vì sao quá hai muôn kiếp sau mới nói ư?

Đáp:

  1. Là muốn cho chúng sanh phát tâm ân cần tôn trọng như Đàm vô kiệt hơn sáu năm mới nói Bát-nhã.
  2. Theo lệ trên mười kiếp ngồi đạo tràng đợi duyên thuần thục, nay cũng vậy.
  3. Hoặc có thể theo lệ đồng đức Thích-ca nói Tiểu thừa rồi sau trước Pháp Hoa nói về hai thứ giáo:
  4. Phó chúc tài sản thầm hóa gọi là Bát-nhã giáo.
  5. Các kinh Phương đẳng rèn luyện tiểu tâm, dùng hai môn này điều phục tiểu tâm rồi, sau mới được khiến nhập tuệ Phật. Cho nên, kệ dưới chép: Nói sáu Ba-la-mật và các việc thần thông, tức kia chứng minh.
  6. Chư Phật giáo pháp khác nhau, hoặc ban đầu nói giáo Ba thừa sau nói Nhất thừa, tức đức Thích-ca, Đăng Minh hoặc ban đầu nói Nhị thừa sau nói Nhất thừa tức Phật Đại Thông Trí Thắng.

“Đức Phật nói kinh ấy rồi..,” Nói chúng lúc ấy cảm ngộ khác nhau. Trong đây có ba căn: Thượng căn tức là mười sáu Sa-di, trung căn là hàng Thanh văn cũng năng tin hiểu, Sa-di trước phúng tụng kế tin hiểu nghĩa là hễ muốn giảng lại phải đủ hai nghĩa:

  1. Tụng trì.
  2. Đắc ý, cho nên phải đủ hai.

Người hạ căn đều sanh nghi ngờ có bốn thứ nghĩa:

  1. Trung căn Thanh văn đối Phật có duyên đều đắc tin hiểu, còn lại chúng sanh là kết nhân duyên lại với mười sáu vị Sa-di nên Phật không thể độ, việc giảng giải lại khởi từ chúng sanh kia.
  2. Muốn nói về đời quá khứ Phật nói kinh Pháp Hoa chúng sanh có tin và không tin, nay nói lên hiện tại hàng ba căn có người ngộ có người không ngộ.
  3. Muốn khuyên người hạ căn nói về đời quá khứ Phật nói kinh Pháp Hoa hàng lợi căn năng tin hiểu người độn căn sanh nghi ngờ, Tỳkheo các thầy nên đồng lợi căn, sao lại nói đồng độn căn ư!
  4. Nói về ta và các thầy đồng ở trong hội kia cùng nghe Pháp Hoa, ta do sớm ngộ nay ông còn chưa hiểu, thật là đáng thương!

“Phật nói kinh đó suốt tám ngàn kiếp…” là nói thời gian nói kinh, do văn kia rộng nên thời gian dài, do đó văn dưới chép: nói kinh Pháp Hoa này như hằng hà sa kệ. “Phật nói kinh đó rồi v.v….” là nói thuyết kinh xong nhập định. Văn có ba:

  1. Chính là nói về nhập tĩnh thất.
  2. “Trụ trong thiền định v.v…” nói trụ định.
  3. tám muôn bốn ngàn kiếp v.v… nêu thời gian trong định.

Sở dĩ nhập định: Muốn khiến mười sáu Sa-di thuật diễn lại kinh Pháp Hoa, chỉ vì Chư Phật giáo hóa tùy nghi khác nhau. Kinh này từ đầu đến cuối lược có ba thứ:

  1. Đức Phật Đăng Minh nói Pháp Hoa xong liền nhập Niết-bàn, đây nói về đối Phật kết duyên người ứng độ đều đã độ xong.
  2. Văn nầy nói về ở Phật kết duyên độ có hết và không hết, hàng lợi căn độ đã hết, người độn căn độ chưa hết, Đức Phật phải xuất định khen ngợi Sa-di khiến chúng sanh gần gũi cho nên Phật chưa được nhập diệt.
  3. Đức Phật Thích-ca nói Pháp Hoa xong không còn nói lại nữa, do ứng nghe Pháp Hoa được liễu ngộ xong cho nên không còn nói Pháp Hoa lại mà vẫn nói riêng Niết-bàn.

“Lúc bấy giờ mười sáu vị Bồ-tát Sa-di v.v…” là chính nói kết duyên. Duyên trước do có hai: Xa, gần, nay cũng chia hai:

  1. Nêu ngày xưa kết duyên.
  2. Biện đời đời gặp nhau, hai văn mỗi mỗi có bốn hiệp thành tám đoạn kinh.

Văn đầu có bốn:

  1. Nêu biết Phật nhập định là lý do giảng lại kinh.
  2. Chính vì chúng mà giảng lại.
  3. Nói chúng đương thời mong được lợi ích.
  4. Nói Đức Phật khen ngợi.

“Mỗi vị đều lên pháp tòa…” Ban ngày ánh sáng lụi dần liền ánh sáng mặt trăng kế chiếu rọi. Như lai ẩn bóng nên Bồ-tát phát huy. “Mỗi vị đều độ v.v…” chúng được lợi ích. Chỉ dạy cho được lợi mừng: luận Trí Độ quyển năm mươi bốn chép: Thị: là chỉ bày thiện ác, Giáo: là dạy bỏ ác theo thiện, lợi: là người chưa đắc pháp vị, tâm sanh thối lui, vì họ nói quả Niết-bàn cao quý khiến họ tu nhân thiện khiến tâm họ thấy lợi ích gọi là lợi. Hỷ là tùy chỗ tu hành mà khen ngợi khiến cho họ vui mừng. Nếu người nào ưa bố thí thì khen ngợi sự bố thí, dùng bốn việc này trang nghiêm nói pháp.

Nay căn cứ Pháp Hoa giải thích bốn việc:

  1. Chỉ cho biết Ba thừa là phương tiện, Nhất thừa là chân thật cho nên gọi là thị.
  2. Khiến bỏ Ba thừa nhập Nhất thừa nên gọi là giáo.
  3. Nói quả Ba thừa kém quả Nhất thừa hơn khiến cho chúng sanh tu nhân Nhất thừa khiến tâm họ thấy được lợi ích gọi là lợi.
  4. Xem xét căn duyên kia hoặc dùng môn pháp thuyết để nói Nhất thừa, hoặc dùng môn thí thuyết để nói hoặc dùng nhân duyên đời trước để nói, tùy chỗ ưa thích ứng căn cơ nói pháp khiến sanh vui mừng cho nên nói hỷ.

“Đức Phật Đại Thông Trí Thắng v.v…” là nói Phật khen ngợi. Do các vị ấy nói pháp hợp lý xứng căn cơ, nay muốn khiến cho chúng tin nhận nên Phật ấn chứng khen ngợi. “Các ông phải thường gần gũi mà cúng dường các vị ấy”. Do có duyên với Sa-di cho nên khiến gần gũi, như Chư Phật trong mười phương khuyên Thường Đề gần gũi Pháp Dũng.

“Đức Phật bảo các Tỳ-kheo…” là nói về kết duyên rồi đời sau gặp nhau. Văn chia có bốn:

  1. Nêu sở hóa được lợi ích.
  2. Nói năng hóa được lợi ích.
  3. Kết hợp xưa nay.
  4. Nêu đời vị lai gặp nhau.

Văn đầu có ba câu:

  1. Sa-di thường ưa nói Pháp Hoa, do Pháp Hoa nói về Phật thừa Bồ-tát thường cầu quả Phật cho nên thường ưa nói. Lại, Pháp Hoa kết hội nhập từ đầu đến cuối nhiếp đủ tất cả giáo, nếu nói Pháp Hoa thì nhiếp tất cả giáo.
  2. “Mỗi vị Bồ-tát đó v.v…” là nêu duyên hiện tại được lợi ích.
  3. “Đời đời sanh ra v.v…” là nói về thời sau được lợi ích.

Hỏi: Trong đây kết duyên sau thường gặp nhau, vì sao cha con cùng tử thất lạc nhau không gặp nhau?

Đáp: Có người nói trong đây nói về đời đời gặp nhau là căn cứ lớn mà luận một kiếp, hai kiếp, thường được gặp nhau còn cùng tử không thấy nhau là luận theo nhỏ một đời hai đời không thấy nhau. Nay cho rằng kết duyên với Sa-di có ba phẩm:

  1. Thượng phẩm như trong đây nói được gặp nhiều Phật cùng thầy đồng sanh đời quá khứ liền ngộ.
  2. Hạng trung phẩm như văn dưới nói, nay trú địa vị Thanh văn quá khứ không ngộ Pháp Hoa, hiện tại gặp đức Thích-ca nghe Nhất thừa mới ngộ tức là cùng tử.
  3. Hạng hạ căn như văn sau nói đệ tử đời vị lai, hiện tại không kính thờ pháp sư, vị lai tùy chỗ nghe nên mới được ngộ. Do có ba căn dựa theo ba đời đắc ngộ khác nhau, cho nên văn nầy không trái với cùng tử.

“Đến nay vẫn chẳng hết”: là thiện căn quá khứ chưa hết, gặp được nhiều Đức Phật còn chưa hết. “Các Tỳ-kheo v.v….” là nói năng hóa được lợi ích. Sở dĩ nêu năng hóa được lợi ích: là để kích động người hạ căn: Rõ ràng ta nghe Pháp Hoa liền tiến thành Phật, ông nghe Pháp Hoa vì sao lại thoái làm Thanh văn, thật là đáng thương! “Các Tỳ-kheo lúc chúng ta làm Sa-di…” là kết hợp xưa nay. Văn có ba:

  1. Nêu lại hàng thượng căn.
  2. Các chúng sanh đó đến nay có người trụ địa vị Thanh văn là nói
  3. người trung căn ở quá khứ.

3) Những hạng người này đáng dùng pháp ấy mà dần vào Phật đạo, là trên giải thích thường giáo hóa Bồ-đề vô thượng. Có người nghi: Đã thường giáo hóa Bồ-đề vô thượng sao nói pháp Thanh văn, lại xưa vì Sa-di còn nói đại đạo, nay vì sao lại nói Tiểu thừa, vì vậy cho nên giải thích rằng nói pháp Thanh văn dần dần khiến nhập Phật đạo, do tuệ Phật mầu nhiệm nên không thể đốn nhập, nên biết nói Tiểu thừa là bước đến nói Đại thừa. Lại xưa có căn cơ Đại thừa nên nói đại, chỉ vì thoái đại chấp tiểu cho nên nay nói tiểu.

“Các chúng sanh được hóa độ trong thuở đó”: Nêu chánh hợp xưa nay. “Sau khi ta diệt độ v.v…” là nêu đời vị lai gặp nhau tức nêu người hạ căn. Đây là sau khi Phật diệt độ tu đạo thành A la hán, người ấy khi mạng dung sanh về tịnh độ, đức Thích-ca ở trong cõi tịnh lại có tên khác, vì người này nói kinh Pháp Hoa mới đắc ngộ. Sở dĩ nói việc ấy là nói về không có rốt ráo mãi mãi trụ Nhị thừa, cần phải nghe Pháp Hoa rồi sau mới thành Phật, khuyên người hạ căn kịp thời tin nhận.

Hỏi: tướng trạng của ba hạng căn như thế nào?

Đáp: Hàng thượng căn chỉ một lần nghe Pháp Hoa đời đời gặp thầy nhau, sau gặp bốn muôn ức Phật sớm ngộ Nhất thừa. Người trung căn thoái đại chấp tiểu gặp được Đức Phật Thích-ca ở hội Linh Sơn. Người hạ căn cũng thoái đại chấp tiểu không gặp được Đức Phật Thíchca cũng không nghe kinh Pháp Hoa, ở đời vị lai gặp được Phật nghe kinh Pháp Hoa mới được liễu ngộ.

Hỏi: Vì sao nói lại có tên khác ư?

Đáp: đức Thích-ca là tên Đức Phật ở cõi uế, nay ở cõi tịnh hóa độ chúng sanh nên lại có có tên khác.

“Các Tỳ-kheo! Nếu đức Như lai…” Nói về hiện tại gặp nhau lại vì nói pháp. Lại chia làm bốn:

1) Pháp. 2) Thí. 3) Hiệp. 4) Nêu thí hiệp.

Pháp nói chia làm hai: đầu nêu nói đại kế biện nêu tiểu. Nếu y thứ lớp trên, trước nêu nói tiểu sau nêu nói đại, Nay chỉ xa tìm lại ngày xưa đã từng theo thọ đại hóa cho nên nay lại nói đại pháp, giữa chừng phế bỏ, tập ở Tiểu thừa nên kế nói tiểu. Sau trong thí nói nghĩa cũng đồng như. Lại Chư Phật nói pháp có hai:

  1. Từ thật khởi quyền.
  2. Gom quyền về thật.

Trên thường nói về nhiếp quyền qui thật, nay muốn nói từ thật khởi quyền. Trong nói đại có hai:

  1. Biết căn cơ.
  2. Nói giáo.

Trong biết căn cơ có năm câu.

1) Thời nói pháp.

2) Nhập đại Niết-bàn nghĩa là khai căn cơ Niết-bàn thuần thục, nay là duyên Nhất thừa thuần thục là thời sắp Niết-bàn, cho nên phẩm Tín Giải chép: đến giờ sắp chết ông gọi người con đến.

3) Chúng lại thanh tịnh: là dùng bốn giáo điều phục cho tâm kia mềm mỏng cho nên được thanh tịnh, dùng trời người và giáo Nhị thừa điều phục tâm kia cho nên không còn phiền não phàm phu, dùng tài vật giáo phó mật hóa và rèn luyện tiểu tâm khiến Nhị thừa dần dần tiêu trừ phiền não. Đã lìa phàm phu hai hoặc cho nên nói chúng lại thanh tịnh.

4) Tin hiểu vững chắc: Trên nêu không chướng ngại nay biện có căn cơ có khả năng thọ, nghĩa là đại tín đại giải có thể được nghe kinh. Đại tín là độn căn đại giải là lợi căn, lại đại tín là đầu đại giải là sau, hai thứ này không lui sụt gọi là vững chắc.

5) Liễu đạt pháp không: Trước đã nghe Bát-nhã đồng Đại thừa rốt áo pháp Không khai ngộ đại tâm. Nếu chẳng nghe rốt ráo Không, pháp không có sở đắc thì nghe nói có Nhất thừa, không có ba thừa sẽ rơi vào

Nhị kiến. Thâm nhập thiền định: chưa chắc là thâm nhập Bát thiền, như Đại Phẩm chép: Nhất tâm hướng Phật đạo không còn phàm phu Nhị thừa có sở đắc động tán vì vậy mà gọi là định.

“Liền nhóm các Bồ-tát v.v…” là chính là nói. Câu đầu là nói tựa “vì nói kinh này” là nói về chính là nói, chính là nói tuy nhiều không ngoài lý không hai có một. “Các Tỳ-kheo nên biết v.v….” là nói Tiểu thừa. Sở dĩ nói Tiểu thừa: là đã nói không có hai thừa chỉ có một Phật thừa, mà xưa nói hai ấy là vì biết chúng sanh không kham nổi nghe Đại thừa chỉ ham muốn Tiểu thừa cho nên nói cho họ nghe Tiểu thừa. Văn có ba câu:

  1. Biết căn cơ.
  2. Vì hạng người này “nên nêu chính là nói”.
  3. Người này nếu nghe: là nói được lợi ích.

Trong biết căn cơ chép: Như lai phương tiện giải thích cho nên có. Nghi rằng: Nếu không có hai thừa vì sao xưa nói có hai Niết-bàn, vì vậy nên giải thích rằng: Như lai có trí quyền xảo, tùy căn cơ mà làm cho nên nói có hai. Người ấy nếu nghe thì liền tin nhận: Đã xứng căn cơ mà nói, tức liền tin được lợi ích.

“Thí như đường hiểm… dài năm trăm do tuần v.v…” là thí nói, gồm có chín phần. Phần thứ chín ít, tức nghe nhất thừa được lợi ích. Đây chia làm ba chương:

  1. Nói Đại thừa.
  2. Giữa đường nói Tiểu thừa.
  3. Sau lại nói Đại thừa.

Sở dĩ khai ba thứ này có ba nghĩa:

1) Dụ cho trên: hai đời đầu cuối có ba việc: a) mười sáu Sa-di ban đầu vì nói Đại thừa.

  1. Giữa đường lui sụt Đại thừa vì nói pháp Tiểu thừa, nghĩa là đức Thích-ca ban đầu đến Lộc uyển rồi trước khi đến núi Linh Thứu.
  2. Phế bỏ tiểu nói đại gọi là hội Pháp Hoa. Hai đời đầu cuối chỉ ba

việc đây cho nên lập ba chương.

2) Chư Phật ba đời có ba thứ pháp luân:

  1. Pháp luân căn bản gọi là Nhất thừa giáo.
  2. Pháp luân chi mạt tức ở Nhất thừa nói ba thừa. Gom ngọn về

gốc gọi là gom ba về một. Vì hiển ba luân nên lập ba thí.

3) Trên phẩm Thí Dụ phá bổn thừa Thanh văn trước nói tiểu sau nói đại nên chia sáu thí dụ, nay vì thoái đại chứng tiểu Thanh văn nên trước nói về nói đại, kế nêu tiểu sau nhiếp tiểu qui đại.

Phần đầu văn có ba câu:

  1. Con đường xấu phải qua.
  2. Người muốn đi qua.
  3. Đạo sư muốn dẫn dắt. năm trăm do tuần: là con đường xấu phải qua.

Có người nói năm trăm ấy là dụ cho năm đường sanh tử. Nay nói không đúng, đâu thể khỏi ba đường ba trăm do tuần gọi là Nhị thừa. Lại Nhị thừa đã thoát khỏi năm đường nên đã vượt năm trăm do tuần. Có người nói có bốn thứ sanh tử:

  1. Lưu lai sanh tử.
  2. Biến dịch sanh tử.
  3. Trung gian sanh tử.
  4. Phần đoạn sanh tử.

Vượt ba trăm do tuần thoát phần đoạn sanh tử, vượt bốn trăm vượt khỏi Thất địa hai nước là vượt trung gian sanh tử, vượt năm trăm khỏi Bát địa trở lên là vượt biến dịch sanh tử. Có người nói ba cõi là ba trăm do tuần, Thất trụ Nhị thừa là một trăm, bát trú trở lên lại là một trăm. Nay nói nghĩa đều không đúng trong Huyền Tán có giải thích đủ. Nay chánh lấy ba cõi làm ba trăm, Nhị thừa làm hai trăm. Sở dĩ đây giải thích ấy là có nghĩa có văn. Nói có nghĩa: Nay chánh là hóa độ người Nhị thừa giúp cho đến Phật đạo, xưa đã vượt qua ba cõi chưa vượt qua địa vị Nhị thừa cũng còn ở trong đường ác, đâu phải trú trong đường ác mà là Niết-bàn ư? Nên phải bỏ thì chắc đến Phật đạo.

Hỏi: Nếu vượt ba cõi Nhị thừa làm sao đạt đến Phật đạo?

Đáp: Có hai thứ đến:

  1. Nhân đến.
  2. Quả đến.

Nhân đến như kinh Niết-bàn chép: Người Tu-đà-hoàn tám muôn kiếp đến, cho đến Bích-chi-phật mười ngàn kiếp đến. Nghĩa là đến tâm Bồ-đề tức địa vị Thập trú thành người chủng tánh, khi đến địa vị này tránh khỏi địa vị phàm phu và thoái làm Nhị thừa ắt đến Phật đạo nên gọi là đến. Ba cõi là phần đoạn sanh tử, người Nhị thừa ở nơi biến dịch sanh tử, vượt qua năm thứ này tránh khỏi hai thứ sanh tử đắc Đại Niếtbàn gọi là quả đến.

Hỏi: Vì sao biết được có hai thứ đến?

Đáp: Kệ sau chép: “Nay vì ông nói thật, ông đắc chẳng phải diệt, vì nhất thiết trí Phật, nên phát đại tinh tấn”, đây là nhân đến. “Ông chứng nhất thiết trí, chính là chân thật diệt” gọi là quả đến.

Nói có văn chứng minh nghĩa là: luận Trí Độ giải thích Phẩm Văn Trì chép: Vượt qua bốn trăm do tuần tức biết cách thành ấp không xa. Ngài Long Thọ giải thích: ba trăm dụ ba cõi, bốn trăm dụ Nhị thừa, nhưng Đại Phẩm hiệp Nhị thừa làm một trăm, kinh này chia làm hai trăm, khai hiệp khác nhau mà nghĩa không khác. Lại vì Đại Phẩm chưa phế bỏ Nhị thừa kinh này mới phế bỏ, do đó nên khác, đều là con đường xấu hai giáo không khác. Lại kinh này trong phần hợp thí tự nói về ba cõi là ba trăm, Nhị thừa là hai trăm, các Sư Kinh nghĩa không xét ý văn mà theo chiều ngang có giải thích khác u. “Đường hiểm nạn dữ:” Là nói ý vượt qua. Ba cõi Hai thừa vượt qua thì khó, nên gọi là hiểm nạn. luận Trí Độ chép: Bồ-tát lui sụt có hai việc: Tham ba cõi và đắm Nhị thừa. Đường ác: ba cõi đối với Nhị thừa là đường ác, Nhị thừa lại là đường ác của Bồ-tát, cho nên Niết-bàn chép: Cầu Nhị thừa gọi là bất thiện cho nên năm chỗ này đều gọi là đường ác. Lại ba cõi lấy ái làm gốc Nhị thừa lấy kiến làm gốc, ái kiến đều là ác. Lại ba trăm là phàm phu hữu kiến, hai trăm là Nhị thừa không kiến, các kiến đều là ác. Lại phàm phu

ngoại đạo cho rằng ba cõi là Niết-bàn đã là si mê điên đảo; Nhị thừa cho rằng biến dịch sanh tử là Niết-bàn cũng là si mê điên đảo, do đều cho sanh tử là Niết-bàn đều là vô thường mà chấp thường cho nên gọi là ác. “Nơi hoang vắng không có người:” năm trăm do tuần là xa nên nói hoang vắng, nơi Chư Phật Bồ-tát không trú ở nên nói không có người. “Chỗ ghê sợ:” Người học Đại thừa rất sợ năm chỗ này, ba cõi không an ổn cũng như nhà lửa các khổ đầy dấy rất đáng sợ hãi. Cho nên Niết-bàn chép: Nay ta sợ đạo quả Nhị thừa, như người tiếc thân mạng lo sợ xả bỏ thân, luận Trí Độ có cây oan gia trên dụ, tức là việc ấy.

“Nếu có chúng đông” v.v… là nói người mãi mãi độ người, tức chúng do Sa-di hóa độ. Trên nói không có người trí, nay nêu người muốn vượt qua nhiều cho nên nói chúng nhiều. “Muốn vượt qua còn đường này đến chỗ châu báu”: Bồ-tát phát tâm gồm có hai ý:

  1. Muốn độ phàm phu Nhị thừa.
  2. Muốn cầu vô thượng Bồ-đề. “Có một đạo Sư” v.v… là nêu thầy dẫn dắt. Tức trên mười sáu Sa-di và Đức Phật Thích-ca, đạo đã không hai nên người thông đạt đạo cũng một.

Lại khéo biết tướng đường thông bít chỉ một người mà thôi cho nên nói một. Có người dẫn dắt tà chánh nên gọi là Đạo sư. “Thông minh sáng suốt”: Trí nghe ở tai gọi là thông minh, trí ở mắt nhìn gọi là sáng suốt, lược khen ngợi hai việc. Lại thông tuệ dụ cho chủng trí, minh đạt du cho ba đạt, chủng trí ngang chiếu muôn pháp, ba đạt dọc xét thấu ba đời. “Khéo biết rõ tướng thông bít của con đường hiểm” Biết đại căn cơ phát có khả năng vượt qua gọi là thông, không có khả năng vượt qua gọi là bít, lại biết được lý là thông, trái lý là bít, đây nói về trí bên trong của Đạo sư. “Dắt mọi người muốn vượt qua nạn đó…” là khen ngợi công năng hóa bên ngoài, chỉ hy vọng Phật đạo xa phải vượt hai thứ sanh tử, đó gọi là vượt qua nạn này. “Mọi người được dắt đi giữa đường lười mỏi” v.v… là nói về trung gian nói Tiểu thừa cũng có ba câu:

  1. Biết tiểu căn cơ phát.
  2. Nói Tiểu giáo.
  3. Lãnh thọ giáo được lợi ích.

Tiểu căn cơ phát có hai:

  1. Nêu tiểu căn cơ phát.
  2. trí Phật chiếu soi.

Tiểu căn cơ phát có ba câu:

  1. Nêu muốn lui sụt.
  2. Giải thích muốn thoái.
  3. Tổng kết muốn lui sụt nay là ban đầu.

Giữa đường: Là sơ phát tâm Đại thừa muốn vượt ngoài sanh tử xa cầu Phật đạo muốn lìa tiểu hạnh, mà đại giải chưa thành giữa đường lui sụt. Nếu thí dụ việc quá khứ trên thì từ xưa hóa về sau đến trước khi nay hóa độ: Giữa hai khoảng thời gian này phế bỏ đại tâm, lui mất đại hạnh cũng được gọi là trung gian chưa thành Phật đạo, gọi là giữa đường. “Bạch Đạo Sư rằng v.v…” Đã lui sụt Đại là có tiểu căn cơ nên bấu víu vào Phật để được tuệ Phật chiếu soi gọi là nghĩa “bạch đạo sư”. “Chúng con mệt mỏi lại thêm sợ sệt chẳng thể đi nữa, đường trước còn xa”.

Trên nêu mỏi mệt lui sụt, nay giải thích mệt mỏi lui sụt. Xét rằng lui sụt có ba việc:

  1. Mệt nhọc nên thối lui, dụ cho tu tập Đại thừa quán giải yếu đuối, chưa đủ sức mạnh không thể tiến đến Phật đạo.
  2. Sợ hãi nên lui sụt dụ trong sanh tử có nhiều hoạn nạn.
  3. Đường xa nên lui sụt dụ cho Phật đạo trải qua ba a tăng kỳ rồi sau chính là bước vượt ngoài Tiểu thừa, một hạnh không kham tụ tập nên nói không thể tiến lên.

“Nay muốn lui về”: Câu này tổng kết nghĩa lui sụt, lui sụt có hai việc:

  1. Lui sụt làm phàm phu.
  2. Lui sụt làm Nhị thừa. Nay muốn lui sụti lại sanh tử nên nói lui sụt cũng được phát sanh mới đầu tức không cầu Phật nên dừng lại mà không tiến gọi là lui sụt.

Hỏi: Đây tức là lui sụt vì sao nói muốn thoái ư?

Đáp: Đây nói về căn tánh lui sụt bất định.

  1. Có thể lui sụt làm phàm phu.
  2. Có thể trú làm Nhị thừa.
  3. Có thể tiến làm Bồ-tát. Do bất định nên nêu “muốn.”

“Vị đạo sư nhiều năng lực phương tiện…” nêu chiếu căn cơ cũng có ba câu:

  1. Khen ngợi đức năng hóa có biết căn cơ.
  2. Trình bày lỗi những người được hóa.
  3. Giải thích lỗi của những người được hóa. Nhiều các phương tiện: Trước có khả năng dẫn hướng đại, nay lại giải thích khéo léo hướng tiểu cho nên nói nhiều. Lại buông lỏng mà thối, hoặc bức ngặt mà tiến, hoặc khiến mãi mãi trú Nhị thừa đều phải khéo léo, nay không khiến lui sụt làm phàm phu, lại không bức tiến cầu Phật, năng ở giữa đường quyền nói Tiểu thừa cuối cùng ngộ đại đạo cho nên nói nhiều phương tiện. “Mà tự nghĩ rằng…” Là trình bày lỗi những người được hóa. Làm sao cam bỏ châu báu v.v…” là giải thích lỗi bỏ vui Phật pháp gọi là xả bỏ châu báu lớn, ưa khổ sanh tử là “mà muốn lui về,” nêu hai việc này giải thích nghĩa đáng thương. Nhiều phương tiện là khen ngợi Đạo sư có trí tuệ. “Đáng thương…” là khen ngợi Đạo sư từ bi.

“Suy nghĩ như vậy rồi…” là nói lập ra Tiểu giáo gồm có ba câu:

  1. Chánh lập ra giáo.
  2. Răn.
  3. Khuyên.

Nhị thừa lợi độn tuy khác, đồng dứt phiền não ba cõi ở ngoài phần đoạn cho nên nói vượt qua ba trăm do tuần, chẳng thật rốt ráo mà nói rốt ráo cho nên gọi là hóa, nghĩa dứt hoặc đồng chứng vô vi không khác do đó gọi là một, ngăn hoạn nạn sanh tử nên gọi là thành. “Bảo mọi người rằng: Các ông chớ sợ đừng lui về v.v…” là răn. Chớ sợ: Không nên lo sợ nhiều về bệnh chết. Đừng lui sụt: Chớ đắm sanh tử năm dục. “Nay thành lớn này có thể dừng ở trong đó…” là khuyên hệ lụy hết Niết-bàn so sánh vui trời người cho nên gọi là đại. hai thứ Niết-bàn là nơi dừng nghĩ cho nên gọi là “có thể ở trong đó”. “Tùy ý muốn làm gì thì làm” kết lụy đã tận tâm được tự tại. Nếu vào thành này sẽ rất được an ổn: Nếu chứng Niết-bàn đây lìa sanh tử nguy khổ. Có người nói phiền não đã tận, tùy ý tự tại tức Niết-bàn hữu dư, nếu vào thành này rất được an ổn tức hai loại nhân quả nguy khổ đều mất nghĩa là Niết-bàn vô dư. “Nếu có thể thẳng đến chỗ châu báu đi cũng được:” Có người nói quả Phật dụ như chỗ châu báu tức đảo châu báu người Thanh văn nếu năng phát tâm Bồ-đề cầu trí tuệ Phật cũng có thể đi được. Như đại Phẩm chép: Nếu năng phát tâm ta cũng tùy hỷ. Nếu căn cứ trong lý giải thích thì câu này hiển hóa ý của thành, nói giáo Nhị thừa khiến vốn khiến đắc Phật, thí như tạm dừng chân muốn cho tiến lên. Xưa không được hiển như ý nầy nên nhờ lập ra đây nói về tuy tạm chứng Tiểu thừa cuối cùng cũng trở về đại đạo. Nếu căn cứ giáo xưa nói về như nói sáu mươi kiếp tu đắc Thanh văn. Một trăm kiếp tu chứng Duyên giác, hai thứ này đồng chứng vô dư dụ có thể ở trong đó. Nay dụ Bồ-tát trải qua ba a tăng kỳ kiếp tu hành đạt quả Phật cho nên nói nếu có thể thẳng đến chỗ châu báu đi cũng được.

“Bấy giờ chúng mỏi mệt rất vui mừng khen không hề có v.v…” lãnh thọ giáo được lợi ích. Văn có ba:

  1. Tín thọ.
  2. Tu hành.
  3. Chứng Niết-bàn.

Nói giáo xứng căn cơ nên nói vui mừng. Khen không hề có: hai thứ Niết-bàn là pháp ra đời, thế gian không có nên nói không hề có. “Chúng con hôm nay tránh khỏi đường dữ” là lìa khổ sanh tử “rất được an ổn”: Là được vui Niết-bàn. Đến nay về sau đều là mới nghe Phật giáo sanh tin nhận. “Đó rồi mọi người thẳng vào hóa thành v.v…” là nói về tu hành cầu Niết-bàn. “Sanh tâm nghĩ rằng cho là được độ rất được an ổn”: Là nói chứng quả Niết-bàn. Vượt khỏi sanh tử ba cõi gọi là nghĩ rằng đã được độ, chứng Niết-bàn vô dư là nghĩ rằng an ổn. Lại đắc hữu dư gọi là nghĩ rằng đã được độ, nhập vô dư gọi là nghĩ rằng được an ổn. Lại đắc Tận trí gọi là nghĩ rằng đã được độ, đắc Vô sanh trí gọi là nghĩ rằng được an ổn; chẳng thật rốt ráo nên gọi là nghĩ rằng.

Hỏi: Người Vô học mới có thể nghĩ rằng đã được độ, phàm phu Hữu học cũng có thể nghĩ như vậy không?

Đáp: Hữu học, phàm phu chưa vượt ra ba cõi cũng cho là Niết-bàn Nhị thừa là pháp rốt ráo cho nên cũng được khởi tưởng này.

“Lúc ấy Đạo sư biết v.v…” là nói sau lại nói Đại thừa. Văn có hai:

  1. Biết căn cơ.
  2. Nói giáo.

Tránh lui sụt làm phàm phu trụ nơi tiểu Niết-bàn gọi là dừng, mong tiến cầu Phật đạo vì nghĩa tạm dừng chân cho nên nói nghỉ. “Không còn mỏi mệt”: Dùng pháp Tiểu thừa điều hòa tâm kia trừ được phiền não thô, dụng tâm dần mạnh có thể nghe được Đại thừa. Liền diệt hóa thành: “Nói thuyết giáo. Phế bỏ giáo Ba thừa rốt ráo gọi là diệt, lại hội ba làm một không còn ba tên, cũng là diệt. “Bảo mọi người rằng:” Các ông nên đi tới:” Là khuyên người Thanh văn nên tu hành cầu Phật. “Chỗ châu báu ở gần đây”: là giải thích ý trên khuyên tiến lên, đường trước đã gần nên đi tới. Đã vượt qua ba trăm nay chỉ còn hai trăm nên gọi là gần. “Thành lớn trước đó: là của ta biến hóa”: Đối một Phật thừa phân nói riêng ba thừa. “Để nghĩ ngơi:” giải thích ý nói ba. Có dừng có nghỉ như hai nghĩa trước đã giải thích.

“Các Tỳ-kheo! v.v…” là hợp thí. Hiệp ba thí dụ làm ba riêng: Thí dụ đầu có ba câu:

  1. Đường ác phải qua.
  2. Người muốn vượt qua.
  3. Nói về dẫn dắt.

Nay chánh hiệp thứ ba mà gồm hai nghĩa kia. “Biết các sanh tử

v.v…” hiệp trên dẫn dắt vượt qua đường ác, “nên bỏ nên vượt qua” hiệp trên khéo biết tướng thông bít bao gồm nghĩa người muốn vượt qua. “Nếu như chúng sanh v.v…” hiệp trên giữa đường nói Tiểu thừa. Trên có ba:

  1. Cơ phát.
  2. Nói giáo.
  3. Được lợi ích, nay hiệp đủ.

Trên căn cơ phát có hai:

  1. Nêu cơ phát.
  2. Chiếu căn cơ, nay hiệp đủ.

“Thì chẳng muốn thấy Phật, chẳng muốn gần gũi”: Hiệp trên giữa đường mỏi mệt thối lui cho đến chúng con mỏi mệt. “Mà nghĩ thế này đạo Phật lâu dài:” Hiệp trên đường trước còn xa. “Lâu ngày chịu siêng năng khổ cực mới có thể thành tựu”: Hiệp trên mà lại sợ hãi. “Đức Phật biết tâm chúng đó yếu kém thấp hèn: Hiệp trước Đức Phật chiếu căn cơ. Dùng năng lực phương tiện: là hiệp chính là nói giáo. Nói hai thứ Niết-bàn: Hiệp trên hóa làm một thành.

Hỏi: Trên nói một thành nay vì sao nói hai thứ Niết-bàn ư?

Đáp: Có người chép: Trên nêu đồng dứt hoặc ba cõi nên nói một, nay căn cứ dư vô dư nên nói hai. Có người nói đại Niết-bàn là bậc nhất, nay là giữa đường Niết-bàn làm thứ hai nên gọi là hai. Như Kinh Thắng-man chép: Niết-bàn có hai thứ:

  1. Vô dư ở Phật.
  2. Hữu dư tại Nhị thừa.

Nay nói hai giải thích đều sai, văn nầy chỉ dùng người Nhị thừa chứng minh làm hai thứ Niết-bàn! Như kệ dưới nói “chỉ có một Phật thừa vì nghĩ nên nói hai”.

Hỏi: Trên vì sao nói một nay lại nói hai ư?

Đáp: Hàng nhị thừa có nghĩa đồng nghĩa khác nhau. Trên chấp đồng xuất ba cõi đồng chứng vô vi nên nói một, nay căn cứ người lợi độn khác nhau nên lại nêu hai. Lại muốn nêu năm trăm do tuần khai trên ba cõi làm ba trăm, Nhị thừa Niết-bàn lại làm hai trăm, muốn khiến vượt địa vị Nhị thừa nên nói là hai.

Nếu chúng sanh trú nơi hai địa vị v.v… hiệp thứ ba sau lại nói đại. Văn trên có hai:

  1. Biết căn cơ.
  2. Nói giáo, nay hiệp đủ.

Văn đầu tức hiệp sau biết căn cơ, bao gồm hiệp trước thứ ba nghĩa được lợi ích. Lại nói trụ nơi hai địa: Trên hiệp vượt qua ba trăm do tuần rồi, nay còn lại hai trăm nên nói hai địa, văn nầy phân rõ dùng ba cõi làm ba trăm dùng hai địa làm hai trăm. Các Sư xưa giải kinh không xét kỹ văn kia nên có các giải thích khác nhau. “Lúc bấy giờ Như lai v.v…” là chính là nói giáo. Đầu tiên hiệp liền diệt hóa thành. “Địa vị của các ông ở gần tuệ Phật”: Hiệp trên các ông hãy đi đến chỗ châu báu đã gần đến. “Nên quán sát suy lường Niết-bàn đã được đó đâu phải chân thật:” Hiệp trên thành lớn ấy do ta hóa ra. “Nhưng Nhị thừa có nghĩa gần tuệ Phật xa tuệ Phật, tự cho đã đắc Niết-bàn là cùng cực không chịu thọ Đại thừa cho nên kinh nói đất ở cao nguyên không sanh nở hoa sen, năm tội vô gián cũng năng phát ý, đây tức người Nhị thừa xa tuệ Phật không sánh bằng phàm phu. Nay nói gần: Do Nhị thừa dứt phiền não thô hơn người phàm phu cho nên nói gần. Như vị Đạo sư kia: Nêu thí dụ nhờ hiệp.

Kệ có bốn mươi chín hàng rưỡi tụng văn xuôi. Văn xuôi vốn có hai:

  1. Nêu quá khứ kết duyên.
  2. Hiện tại lại vì nói pháp, nay lại tụng hai thứ này.

Nói việc đời quá khứ lại có hai:

  1. Lý do kết duyên.
  2. Chánh kết duyên, nay lại tụng hai thứ này.

Trong lý do có hai:

  1. Lý do xa.
  2. Lý do gần, nay lại tụng hai thứ này.

Trong phần đầu có bốn:

  1. Đức Đại Thông Trí Thắng thành Phật.
  2. mười sáu vương tử xin xoay bánh xe pháp.
  3. Đức Đại Thông Trí Thắng hiện tướng lành.

) Mười Phạm vương xin nói pháp, nay tụng đủ bốn.

Đầu tiên vốn có ba:

  1. Nói chưa thành Phật.
  2. Chư thiên cúng dường.
  3. Nói về thành Phật, nay tụng đủ.

Đầu một bài tụng thứ nhất, kế hai bài tụng thứ hai, kế một bài tụng thứ ba. “Mười sáu người con Phật…” là xin xoay bánh xe pháp. Văn xuôi vốn có ba:

  1. Mười sáu vương tử vỉ xin pháp nên đến chỗ Phật.
  2. Đến chỗ Phật nên cung kính khen ngợi.
  3. Xin nói pháp, nay tụng đủ.

Đầu một bài tụng thứ nhất, một câu tụng thứ hai. “Mà xin xoay bánh xe pháp…” ba câu tụng thứ ba. “Thế tôn rất khó gặp v.v…” tụng thứ ba hiện tướng lành. Trên có ba:

1) Đất rung chuyển. 2) Phát ra ánh sáng. 3) Chỗ hai tướng lành đến.

Nay một bài chỉ tụng thứ nhất. “Các thế giới phương Đông v.v…” là tụng thứ tư: Phạm thiên mười phương nhóm họp. Trên có ba:

  1. Nêu Phạm chúng ba phương.
  2. Nêu các chúng sáu phương.
  3. Nêu phương trên.

Nay chia làm hai:

  1. Ba hàng tụng một phương.
  2. hai bài nêu chín phương.

Trên mỗi phương có sáu, nay chỉ tụng năm, lược không tụng nghĩa bàn tính. “Lại nữa chư Phạm vương thấy tướng này”: một câu bao hàm nơi nghĩa bàn tính cho nên tụng đủ sáu.

“Thế tôn tuệ vô lượng v.v…” tụng trên thứ hai lý do kết duyên gần, trên có bốn:

  1. Thọ xin nói tiểu pháp.
  2. mười sáu vương tử xin nói đại.
  3. Thọ xin nói đại.
  4. Nói kinh rồi, nhập định.

Nay tụng đủ. Trong thọ xin nói tiểu trên chia làm ba:

  1. Chánh thọ xin.
  2. Nêu một hội nói pháp.
  3. Nêu nhiều hội nói pháp.

Nay tụng đủ. Nửa bài tụng thứ nhất, hai bài rưỡi tụng thứ hai. “Sáu trăm muôn ức cai v.v…” Văn xuôi nêu sáu trăm muôn ức na do tha, nay nói cai là thay thế na do tha. “Thời nói pháp thứ hai:..” hai bài tụng nhiều hội nói pháp, “Bấy giờ mười sáu vị v.v…” tụng thứ hai xin nói đại pháp. Trên có ba:

  1. Vì xin nên xuất gia có nửa hàng tụng.
  2. Chánh xin một bài rưỡi, lược không tụng thứ ba vua và quyến thuộc.

“Phật biết tâm đồng tử….” tụng thứ ba thọ xin nói đại pháp, trên có ba:

  1. Nói giáo.
  2. Cảm ngộ khác nhau.
  3. Nêu thời gian nói kinh. Nay hai bài rưỡi chỉ tụng thứ nhất.

“Đức Phật nói kinh xong:” Là tụng nói kinh xong nhập định trên có ba:

  1. Nêu nhập định: nửa hàng.
  2. Trú định: một câu.
  3. Nêu thời gian trú trong định cũng một câu.

“Các vị Sa-di đó…” tụng chánh kết duyên, trên có hai:

  1. Nêu một đời kết duyên.
  2. Nêu đời đời gặp nhau, nay tụng đủ.

Chương đầu có bốn:

  1. Biết Đức Phật nhập định chưa ra; nay nửa hàng tụng.
  2. Chánh vì nói giáo v.v….: một bài rưỡi tụng.
  3. Nêu thời chúng được lợi ích: một bài tụng. Lược không tụng thứ tư Phật từ trong định ra khen ngợi. “Sau khi Phật diệt độ v.v… tụng đời đời gặp nhau, văn xuôi có bốn:

1) Khen ngợi sở hóa được lợi ích một bài.

1) Nêu năng hóa thành Phật một bài.

3) Nêu kết hợp xưa nay một bài. Lược không tụng thứ tư vị lai gặp nhau.

“Ta ở số mười sáu…” tụng hiện tại nói pháp. Văn xuôi có bốn:

1) Pháp. 2) Dụ. 3) Hiệp.

4) Thiếp, nay tụng đủ. Hai bài đầu thứ nhất, văn trên có hai: trước nói Đại thừa, kế nói Tiểu thừa, nay chỉ tụng Đại thừa. “Thí như đường hiểm ác…” tụng thí nói.

Trên có ba:

  1. nói Đại thừa.
  2. Giữa đường nói Tiểu thừa.
  3. Sau lại nói Đại, nay tụng đủ.

Trên thí dụ đầu có ba:

  1. Vượt đường ác.
  2. Người cầu vượt qua.
  3. Làm thầy dẫn dắt, nay tụng đủ.

“Nhiều thú độc hiểm…” có ái kiến phiền não năng hại pháp thân tuệ mạng là thú dữ. “Lại không có đủ cỏ nước:” là không có định tuệ vô lậu của Đại thừa để tự nuôi nấng. “Vô số ngàn muôn chúng”: là người muốn vượt qua. “Bấy giờ có đạo sư là thầy đẫn dắt. “Mọi người đều mỏi mệt” v.v… là tụng giữa đường nói Tiểu thừa. Trên có ba:

  1. Biết căn cơ.
  2. Nói giáo.
  3. Được lợi ích, nay tụng đủ.

Trên biết căn cơ có hai:

  1. Tiểu căn cơ phát một bài tụng.
  2. Chiếu căn cơ một bài tụng.

“Liền lại nghĩ phương tiện v.v…” là chính là nói giáo, trên có ba:

  1. Nói giáo.
  2. Rèn.
  3. Khuyên, nay tụng đủ.

Thành quách: Thành: là thí dụ riêng hai thứ Niết-bàn. Quách: là quách ấp ngoài thành, chung thí dụ vô học quả vị các công đức. “Các nhà cửa trang nghiêm v.v…” Nhà cửa vườn rừng đều ở trong thành, riêng thí dụ các công đức của quả địa năm ấm hữu lậu đã gọi là nhà cửa sanh tử, năm ấm vô lậu là chỗ dừng nghĩ của bậc Thánh gọi là nhà cửa. “Bốn bề có vườn rừng…” Kinh Tịnh Danh lấy tổng trì làm vườn, Tiểu thừa cũng tùy phần có. Trong Kinh A-hàm nói từ bi hỷ xả làm bốn bên vườn, các hành vô lậu gọi là rừng. “Sông ngòi và ao tắm” v.v… chín thứ lớp định lại rót vào nhau gọi là sông ngòi, tám thứ giải thoát gọi là ao tắm.

Kinh A-hàm lấy Bốn thiền là bốn ao:

  1. Ao có giác có quán.
  2. Ao không giác không quán.
  3. Ao hộ niệm thanh tịnh.
  4. Ao không khổ không lạc.

“Cửa lớn lầu gác cao” ba Tam-muội gọi là cửa lớn, Tận Vô sanh trí gọi là lầu gác cao. Lại trong các thiền có luân thiền luyện thiền đều điểm cùng cực của thiền gọi là lầu gác cao. “Nam nữ đều đông đúc”: Định tuệ là nam nữ, cũng được gọi tâm từ bi là nữ, thiện tâm thành thật là nam, Thanh văn tùy phần có. “Hòa ra thành đó rồi” v.v… nửa hàng tụng về răn bảo, kế nửa hàng tụng khuyên.

“Mọi người đã vào thành…” một hàng tụng được lợi ích. “Đạo Sư biết nghĩ xong…” tụng sau nói Đại thừa. Trên có hai:

  1. Biết căn cơ: câu đầu tụng.
  2. Nói giáo hai bài một câu tụng. “Ta cũng giống như vậy vậy…”

tụng hợp thí. Trên có ba: Đầu nói Đại thừa. Kế nói Tiểu thừa. Kế sau lại nói Đại thừa, nay tụng đủ.

Nửa bài đầu tụng thứ nhất nói Đại thừa. “Thấy những người cầu đạo” v.v… hiệp thứ hai giữa đường nói Tiểu thừa. Văn trên có ba:

  1. Biết căn cơ.
  2. Nói giáo.
  3. Được lợi ích.

Hàng đầu tụng thứ nhất, hàng kế tụng thứ hai. “Đã biết đến Niếtbàn…” tụng thứ ba: sau lại nói Đại thừa. Trên có hai:

  1. Biết căn cơ.
  2. Nói giáo.

Nửa bài tụng thứ nhất tức gồm tụng trên thứ ba được lợi ích, ba hàng rưỡi tụng thứ hai. “Chư Phật là đạo Sư…” một bài tụng thứ tư nêu dụ nhờ hiệp.

———————–

Năm giáp Ngọ Niên hiệu Vĩnh nhân vào trung tuần Hoàng chung kêu gọi nam nữ hiệp sức vận công khắc bản kinh này, văn tụng được lưu hành khắp mong trên đền đáp bốn ân dưới cứu giúp ba cõi. Sa-môn Đô Can Duyên Tố Khánh kính ghi.

Pages: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.