KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN

Hán dịch: Căn cứ vào bản dịch của Tam tạng Pháp sư Đàm Vô Sấm, đời Tống. Sa-môn Tuệ Nghiêm, Tuệ Quán và Cư sĩ Tạ Linh Vận sửa lại
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đạo Tạng Kinh

Phẩm 19: THÁNH HẠNH

(Quyển 11- Quyển 13)

Bấy giờ, Đức Phật bảo Bồ-tát Ca-diếp:

–Này thiện nam! Đại Bồ-tát đối với kinh Đại Bát Niết Bàn này phải chuyên tâm suy nghĩ về năm thứ hạnh. Những gì là năm? Một là Thánh hạnh, hai là Phạm hạnh, ba là Thiên hạnh, bốn là Anh nhi hạnh, năm là Bệnh hạnh.

Này thiện nam! Đại Bồ-tát thường phải tu tập năm thứ hạnh này. Lại có một hạnh nữa là hạnh Như Lai, đó là kinh Đại Niết-bàn Đại Thừa. Này Ca-diếp! Sao gọi là việc tu Thánh hạnh của Đại Bồ-tát? Đại Bồ-tát hoặc từ Thanh văn, hoặc từ Như Lai, được nghe kinh Đại Niếtbàn như vậy, nghe rồi sinh tin, tin rồi nên suy nghĩ như vầy: “Chư Phật Thế Tôn có đạo vô thượng, có đại chánh pháp, có đại chúng chánh hạnh, lại có kinh điển Đại Thừa Phương Đẳng. Ta nay vì yêu thích mong cầu kinh Đại Thừa nên lìa bỏ sự thương yêu vợ con, quyến thuộc, chỗ ở, nhà cửa, vàng bạc, châu báu, chuỗi ngọc đẹp, hương hoa, kỹ nhạc, nô bộc, người giúp việc, trai gái lớn nhỏ, voi, ngựa, xe cộ, trâu, dê, gà, chó, heo v.v…”. Đại Bồ-tát lại nghĩ: “Gia cư bức bách giống như lao ngục. Tất cả phiền não do đó mà sinh ra. Xuất gia ở nơi nhàn tịnh thanh vắng giống như hư không. Tất cả pháp thiện nhân đó mà tăng trưởng. Nếu ở nhà thì chẳng được trọn đời tịnh tu phạm hạnh. Ta nay cần phải cạo bỏ râu tóc, xuất gia học đạo”. Lại nghĩ: “Ta nay nhất định phải xuất gia tu học đạo Bồ-đề chân chính vô thượng”. Khi Bồ-tát muốn xuất gia như vậy thì thiên ma Ba-tuần phát sinh khổ não lớn, nói: “Bồ-tát này lại cùng ta dấy cuộc chiến tranh lớn rồi”. Này thiện nam! Bồ-tát như vậy cùng người chiến tranh như thế nào? Lúc đó Bồ-tát liền đi đến tu viện thấy Như Lai và đệ tử của Phật oai nghi đầy đủ, các căn tịch tĩnh, tâm ý nhu hòa, thanh tịnh, tịch diệt, liền đến chỗ ấy cầu xin xuất gia, cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y. Đã xuất gia rồi thì phụng trì giới cấm, oai nghi chẳng khuyết, đi đứng an tường, không có sai phạm, thậm chí tội dù nhỏ lòng cũng sinh kinh sợ, tâm hộ giới chắc như kim cương. Này thiện nam! Ví như có người mang phao muốn qua biển cả. Bấy giờ, trong biển có một quỷ La-sát liền theo người này đòi xin cái phao. Người ấy nghe rồi liền nghĩ: “Nếu nay ta cho thì nhất định chìm chết” nên đáp: “Này La-sát! Ngươi thà giết ta, chớ phao nổi chẳng thể cho được”. La-sát lại nói: “Nếu ngươi chẳng thể cho hết thì có thể cho nửa cái”. Người đó do dự chẳng chịu cho. La-sát lại nói: “Nếu ngươi chẳng thể cho ta một nửa thì cho ta một phần ba”. Người đó chẳng chịu, quỷ La-sát lại nói: “Nếu chẳng thể thì cho ta chỗ bằng cánh tay”. Người đó cũng chẳng chịu, La-sát lại nói: “Nếu ngươi lại chẳng thể cho ta chỗ như cánh tay thì nay vì ta quá đói, mọi khổ bức bách, xin ngươi hãy cứu giúp ta một chỗ nhỏ như vi trần”. Người đó lại nói: “Sự đòi hỏi của ngươi nay quả thật chẳng nhiều, nhưng hôm nay ta phải đi qua biển mà chẳng biết đường trước gần xa như thế nào. Nếu ta cho ngươi thì hơi của phao sẽ thoát ra dần, nạn biển cả lấy gì mà thoát qua được, có thể giữa đường chìm xuống nước mà chết”. Này thiện nam! Đại Bồtát hộ trì giới cấm cũng như vậy, như người qua biển kia tiếc giữ cái phao. Khi Bồ-tát giữ gìn giới như vậy thường có các La-sát phiền não nói với Bồ-tát: “Ông phải tin ta, nhất định chẳng lừa dối nhau. Ông chỉ phá bốn trọng cấm, hộ trì những giới còn lại. Do nhân duyên này khiến cho ông yên ổn vào Niết-bàn”. Bấy giờ, Bồ-tát nói: “Ta nay thà trì giới cấm như vậy mà vào ngục A-tỳ, nhất định chẳng chịu hủy phạm để mà sinh lên trời”. La-sát phiền não lại nói: “Nếu ông chẳng thể phá bốn trọng cấm thì có thể phá Tăng tàn. Do nhân duyên này khiến cho ông yên ổn được vào Niết-bàn”. Bồ-tát cũng chẳng theo lời nói ấy. La-sát lại nói: “Nếu ông chẳng thể phạm Tăng tàn thì cũng có thể phạm tội Thâu-lan-giá. Do nhân duyên này khiến cho ông yên ổn được vào Niết-bàn”. Bồ-tát cũng chẳng nghe theo. La-sát lại nói: “Nếu ông chẳng thể phạm Thâu-lan-giá thì có thể phạm Xả-đọa. Do nhân duyên này ông có thể yên ổn được vào Niết-bàn”. Bấy giờ Bồ-tát cũng chẳng nghe theo. La-sát lại nói: “Nếu ông chẳng thể phạm Xả-đọa thì có thể phá Ba-dạ-đề. Do nhân duyên này khiến ông yên ổn được vào Niếtbàn”. Bồ-tát cũng chẳng nghe theo. La-sát lại nói: “Nếu ông chẳng thể phạm Ba-dạ-đề thì có thể hủy phá giới Đột-cát-la. Do nhân duyên này ông có thể được yên ổn vào Niết-bàn”. Bồ-tát lòng tự nghĩ: “Ta nay nếu phạm tội Đột-cát-la mà chẳng phát lồ sám hối thì chẳng thể qua bờ kia của sinh tử để được Niết-bàn”. Đại Bồ-tát đối với những giới luật vi tế hộ trì kiên cố, lòng như kim cương. Đại Bồ-tát hộ trì bốn trọng cấm và Đột-cát-la đều kính trọng, kiên cố, bình đẳng không sai khác. Bồ-tát nếu tu hạnh kiên trì như vậy thì tức là hành trì đầy đủ năm chi giới. Đó là đầy đủ: Bồ-tát căn bản nghiệp thanh tịnh giới, tiền hậu quyến thuộc dư thanh tịnh giới, phi chư ác giác giác thanh tịnh giới, hộ trì chánh niệm niệm thanh tịnh giới, hồi hướng A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồđề giới.

Này Ca-diếp! Đại Bồ-tát này lại có hai thứ giới: Một là thọ thế giáo giới, hai là đắc chánh pháp giới. Bồ-tát nếu được chánh pháp giới thì nhất định chẳng làm ác. Thọ thế giáo giới là bạch bốn yết-ma, rồi sau đó mới đắc. Lại nữa, này thiện nam! Có hai thứ giới: Một là giới tánh trọng, hai là giới chấm dứt cơ hiềm ở đời. Giới tánh trọng là bốn trọng cấm. Giới dứt cơ hiềm ở đời là chẳng làm những việc buôn bán, cân non, đấu nhỏ, lừa dối người, chẳng nhờ thế lực người khác mà lấy tài vật của người, chẳng có lòng hại, chẳng phá hoại sự thành công của người, chẳng thắp đèn sáng mà nằm, chẳng gieo trồng ruộng đất, chẳng sắm sửa gia nghiệp, chẳng nuôi voi, ngựa, xe cộ, trâu dê, lạc đà, lừa, gà, chó, khỉ đột, công, anh vũ, chim cộng mạng và chim câu-chỉ-la, sài lang, cọp báo, mèo, chồn, heo v.v… và những ác thú khác, đồng nam, đồng nữ, trai lớn, gái lớn, nô tỳ, đồng bộc v.v…, chẳng tích trữ vàng, bạc, lưu ly, pha lê, chân châu, xa cừ, mã não, san hô, bích ngọc, kha cụ v.v… các thứ báu, chẳng chứa đồng đỏ, thiếc, chì, du thạch, chén bát, đồ đựng, thảm lông, chiếu lông, áo cắm lông vũ, tất cả lúa gạo, đậu mì lớn nhỏ, gạo tẻ, gạo nếp, mè, thức ăn sống hay chín. Đại Bồ-tát thường thọ thực một bữa, chưa từng ăn lần thứ hai. Nếu đi khất thực và ăn trong Tăng chúng, Bồ-tát thường biết đủ, chẳng nhận lời mời riêng, chẳng ăn thịt, chẳng uống rượu, năm vật cay nồng đều chẳng ăn. Vậy nên thân không có mùi xú uế. Bồ-tát thường được sự cung kính, cúng dường, tôn trọng, khen ngợi của chư Thiên và tất cả người đời. Đi xin mà ăn, nhất định chẳng nhận thức ăn lâu dài. Việc nhận quần áo chỉ đủ che thân. Đi đâu cũng đủ y bát, tọa cụ nhất định chẳng lìa bỏ như hai cánh chim. Chẳng chứa cả thân, đốt lóng, hạt giống, các loại hạt, chẳng tàng chứa hoặc vàng, hoặc bạc, thức ăn, thức uống, nhà bếp, kho lẫm, quần áo, phục sức, đối với giường lớn cao rộng, giường ngà voi, giường vàng đan xen đủ màu đều chẳng ngồi, nằm. Chẳng chứa tất cả những loại chiếu nằm mềm mại. Chẳng ngồi lên cỏ voi, cỏ ngựa. Chẳng dùng y phục thượng diệu mềm mại để trải giường nằm. Giường nghỉ ngơi chẳng để hai gối. Cũng chẳng nhận chứa gối đỏ đẹp đẽ, đặt để gối gỗ vàng. Nhất định chẳng nhìn xem đấu voi, đấu ngựa, đấu xe, đấu binh, hoặc nam, hoặc nữ, trâu, dê, gà, trĩ, anh vũ v.v… đánh nhau. Cũng chẳng cố đến nhìn xem quân trận. Cũng chẳng cố nghe thổi vỏ sò, tù và, đánh trống, đàn cầm, đàn sắt, đàn không hầu, đàn tranh, sáo, tiếng ca xướng kỹ nhạc, trừ khi cúng dường Phật. Trò chơi sư-bồ, cờ vây, bala-tắc, đấu sư tử, voi, cờ đạn, lục bác, đá cầu, ném đá, quăng túi, dắt đường, đi thành tám đường. Tất cả sự vui chơi đều chẳng nên làm, chẳng nên xem. Nhất định chẳng xem tướng tay, chân, mặt, mắt. Chẳng dùng chân súc vật, gương, cỏ chi, cành dương, bát chén, đầu lâu mà bói quẻ. Cũng chẳng ngước xem hư không tinh tú, trừ khi muốn khỏi buồn ngủ. Chẳng làm sứ mạng qua lại của vương gia, đem đây nói cho đó, đem đó nói cho đây. Nhất định chẳng dua nịnh, tà mạng nuôi sống mình. Cũng chẳng tuyên nói việc vua tôi, đạo tặc, đấu tranh, ăn uống, đất nước, đói kém, kinh sợ hay giàu thịnh an vui. Này thiện nam! Đó gọi là giới chấm dứt sự chê bai hiềm khích ở đời của Đại Bồ-tát. Này thiện nam! Đại Bồ-tát kiên trì giới ngăn cấm cùng giới tánh trọng bình đẳng không sai biệt.

Này thiện nam! Đại Bồ-tát thọ trì những giới cấm như vậy rồi thì phát nguyện: “Thà đem thân này gieo vào hầm sâu lửa cháy hừng hực, nhất định chẳng hủy phạm giới cấm mà chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai đã chế để cùng con gái của Sát-lợi, Bà-la-môn, Cư sĩ v.v… làm việc bất tịnh”. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát lại phát nguyện: “Thà dùng sắt nóng quấn quanh thân thể, nhất định chẳng dám đem thân phá giới mà nhận lấy quần áo của đàn-việt tín tâm”. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát lại phát nguyện: “Thà dùng miệng này nuốt hòn sắt nóng, nhất định chẳng dám dùng miệng hủy giới mà dùng thức ăn, thức uống của đàn-việt tín tâm”. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát lại phát nguyện: “Thà thân này nằm trên sắt nóng, nhất định chẳng dám dùng thân phá giới thọ đồ trải giường nằm của đàn-việt tín tâm”. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát lại phát nguyện: “Thà đem thân này chịu ba trăm giáo nhọn đâm, nhất định chẳng dám đem thân hủy giới mà nhận thuốc chữa bệnh của đàn-việt tín tâm”. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát lại phát nguyện: “Thà đem thân này gieo vào vạc sắt nóng, nhất định chẳng dám đem thân phá giới nhận phòng xá nhà cửa của đàn-việt tín tâm”. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát lại phát nguyện: “Thà dùng chùy sắt đánh nát thân này từ đầu đến chân nát như vi trần, chẳng đem thân phá giới nhận sự cung kính lễ bái của những Sát-lợi, Bà-la-môn, Cư sĩ”. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát lại phát nguyện: “Thà dùng que sắt nóng móc đôi mắt của mình, chẳng dùng nhiễm tâm nhìn sắc đẹp người khác”. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồtát lại phát nguyện: “Thà dùng dùi sắt đâm thủng tai, chẳng dùng nhiễm tâm nghe âm thanh hay”. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát lại phát nguyện: “Thà dùng dao bén cắt bỏ mũi, chẳng dùng nhiễm tâm ngửi các mùi thơm”. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát lại phát nguyện: “Thà dùng dao bén cắt nát lưỡi, chẳng dùng nhiễm tâm tham đắm vị ngon”. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát lại phát nguyện: “Thà dùng búa bén chém đứt thân mình, chẳng dùng nhiễm tham đắm những xúc chạm”. Vì sao? Vì do nhân duyên này có thể khiến cho hành giả đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Này Ca-diếp! Đó gọi là Đại Bồ-tát hộ trì giới cấm. Đại Bồ-tát hộ trì giới cấm như vậy rồi thì đều đem bố thí cho tất cả chúng sinh. Do nhân duyên này nguyện khiến cho các chúng sinh hộ trì giới cấm được giới thanh tịnh, giới thiện, giới chẳng khuyết, giới chẳng gẫy, giới Đại thừa, giới chẳng thoái, giới tùy thuận, giới rốt ráo và thành tựu đầy đủ giới Ba-la-mật. Này thiện nam! Đại Bồ-tát khi tu trì giới thanh tịnh như vậy thì liền trụ ở địa đầu tiên là Bất động. Sao gọi là địa Bất động? Bồ-tát trụ trong địa Bất động này thì chẳng động, chẳng đọa, chẳng thoái, chẳng tan. Này thiện nam! Ví như núi Tu-di, gió mạnh thổi chẳng thể làm cho lay động, sụp đổ, hoại tan. Đại Bồ-tát trụ trong địa này cũng như vậy, chẳng bị sự lay động của sắc, thanh, hương, vị, xúc, chẳng đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, chẳng thoái lui địa Thanh văn, Phật-bích-chi, chẳng bị tan theo gió tà kiến khác mà tạo tác tà mạng. Lại nữa, này thiện nam! Chẳng động là, chẳng bị tham dục, sân hận, ngu si làm lay động. Lại, chẳng đọa là, chẳng rơi vào bốn trọng cấm. Lại, chẳng thoái là, chẳng thoái lui, hoàn tục. Lại, chẳng tan là, chẳng bị tan hoại theo người trái nghịch kinh điển Đại Thừa. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồtát cũng vậy, chẳng bị sự khuynh động của các ma phiền não, chẳng bị sự đày đọa của ấm ma cho đến ngồi ở dưới cây Bồ-đề đạo tràng, tuy có thiên ma nhưng chẳng thể làm cho Bồ-tát ấy thoái lui Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng lại chẳng bị ma chết làm tan hoại. Này thiện nam! Đó gọi là Đại Bồ-tát tu tập Thánh hạnh. Này thiện nam! Sao gọi là Thánh hạnh? Thánh hạnh là việc làm của Phật và Bồ-tát. Vậy nên gọi là Thánh hạnh. Do những gì mà gọi Phật, Bồ-tát là Thánh nhân? Những vị đó có pháp Thánh, thường quán pháp tánh rỗng lặng, do nghĩa này nên gọi là Thánh nhân, vì có giới Thánh nên gọi là Thánh nhân, vì có định tuệ Thánh nên gọi là Thánh nhân. Người đó có bảy thứ của cải Thánh là tín, giới, tàm, quý, đa văn, trí tuệ, xả ly nên gọi là Thánh nhân. Người đó có bảy Thánh giác nên gọi là Thánh nhân. Do nghĩa này nên lại gọi là Thánh hạnh.

Lại nữa, này thiện nam! Thánh hạnh của Đại Bồ-tát là quan sát thân này từ đầu đến chân, trong ấy chỉ có tóc, lông, móng, răng bất tịnh cấu bẩn, da, thịt, gân, xương, tỳ, thận, tim, phổi, gan, mật, ruột, bao tử, ruột non, ruột già, đại tiểu tiện, nước mũi, nước dãi, nước mắt, mỡ, mô não, tủy xương, mủ, máu, sọ não, các mạch. Khi Bồ-tát chuyên tâm quán như vậy thì có cái gì là ta? Ta thuộc cái gì? Trụ ở chỗ nào? Cái gì thuộc về ta? Bồ-tát lại nghĩ: “Xương là ta chăng? Lìa khỏi xương là gì vậy?”. Khi Bồ-tát trừ khử da thịt, chỉ quán xương trắng thì lại khởi ý niệm này: “Màu xương khác nhau như là màu xanh, vàng, trắng, màu chim câu. Như vậy tướng xương cũng chẳng phải là ta. Vì sao? Vì ta cũng chẳng phải màu xanh, vàng, trắng và cả màu chim câu”. Khi Bồtát chuyên tâm quan sát như thế thì liền đoạn trừ được tất cả sắc dục. Bồ-tát lại nghĩ thế này: “Như vậy xương là từ nhân duyên sinh ra.

Nương nhờ xương bàn chân để chống đỡ xương gót chân. Nương nhờ xương gót chân để chống đỡ xương ống chân. Nương nhờ xương ống chân để chống đỡ xương đầu gối. Nương nhờ xương đầu gối để chống đỡ xương đùi vế. Nương nhờ xương đùi vế để chống đỡ xương mông. Nương nhờ xương mông để chống đỡ xương lưng. Nương nhờ xương lưng để chống đỡ xương sống. Nương nhờ xương sống để chống đỡ xương sườn. Nương nhờ phần trên xương sống để chống đỡ xương cổ. Nương nhờ xương cổ để chống đỡ xương hàm. Nương nhờ xương hàm để chống đỡ răng. Trên có đầu lâu. Lại nhân xương cổ để chống đỡ xương vai. Nương nhờ xương vai để chống đỡ xương cánh tay. Nương nhờ xương cánh tay để chống đỡ xương cổ tay. Nương nhờ xương cổ tay để chống đỡ xương bàn tay. Nương nhờ xương bàn tay để chống đỡ xương ngón tay. Khi Đại Bồ-tát quan sát như vậy thì số xương của thân thể tất cả đều chia lìa. Bồ-tát đắc quán này rồi thì liền đoạn trừ ba sự ham muốn, một là ham muốn hình mạo, hai là ham muốn dáng dấp, ba là ham muốn xúc chạm. Khi Đại Bồ-tát quán xương xanh thì thấy đại địa này khắp Đông, Tây, Nam, Bắc, bốn phương bàng, phương trên, phương dưới đều là tướng màu xanh. Như quán màu xanh, quán màu vàng, màu trắng, màu chim câu cũng như vậy. Khi Đại Bồ-tát khởi sự quan sát này thì vùng chân mày liền phát ra ánh sáng màu xanh, vàng, đỏ, trắng, màu chim câu v.v… Ở trong mỗi một những ánh sáng này thấy có tướng Phật. Thấy rồi Bồ-tát liền hỏi: “Như thân này là do nhân duyên bất tịnh hòa hợp mà thành sao lại ngồi, dậy, đi, đứng, co, duỗi, cúi, ngước, nhìn, ngắm, hít thở, buồn khóc, vui cười được? Trong việc này không có chủ thì ai sai khiến?”. Hỏi thế rồi thì các Đức Phật trong ánh sáng bỗng nhiên biến mất. Bồ-tát lại nghĩ thế này: “Hoặc thức chính là ta nên khiến cho các Đức Phật chẳng vì ta nói”. Bồ-tát lại quan sát thức này theo thứ lớp sinh diệt giống như nước chảy thì cũng lại chẳng phải là ta. Bồ-tát lại nghĩ: “Nếu thức chẳng phải là ta thì thở ra, hít vào có thể là ta”. Bồ-tát lại nghĩ: “Thở ra hít vào này chính là tánh của gió mà tánh của gió đó chính là tứ đại thì trong tứ đại cái gì là ta. Tánh của đất chẳng phải là ta. Tánh của nước, lửa, gió cũng chẳng phải là ta”. Bồ-tát lại nghĩ: “Thân này tất cả đều không có ta. Chỉ có nhân duyên gió tâm hòa hợp, hiện ra đủ thứ hạnh nghiệp, ví như sức chú thuật làm ra điều huyễn hóa, cũng như đàn không hầu theo ý phát ra âm thanh. Vậy nên thân này bất tịnh như vậy, nhờ các nhân duyên hòa hợp thành thì chỗ nào mà sinh ra tham dục? Nếu bị mắng chửi hủy nhục thì lại ở chỗ nào mà sinh ra sân hận? Như thân này của ta gồm ba mươi sáu vật bất tịnh dơ bẩn, hôi thối thì có chỗ nào nhận sự mạ nhục. Nếu nghe lời mạ nhục thì Bồ-tát liền suy nghĩ: “Do âm thanh gì mà thấy mạ nhục như vậy? Mỗi một âm thanh riêng lẻ chẳng thể thấy mạ nhục mà nếu một chẳng thấy thì nhiều cũng vậy. Do nghĩa này nên chẳng sinh ra sân hận. Nếu người khác đánh đập thì cũng nên suy nghĩ: “Đánh như vậy là từ đâu mà sinh ra?”. Bồ-tát lại nghĩ: “Nhân có tay, dao gậy và cả thân ta nên được gọi là đánh. Ta nay vì duyên gì mà ngang ngược sân giận với người khác? Chính thân ta tự chuốc lấy lỗi lầm đó là do ta thọ tấm thân năm ấm này. Ví như nhân vào cái đích thì mới có trúng tên, thân ta cũng vậy, có thân nên có đánh. Ta nếu chẳng nhẫn thì lòng tán loạn. Nếu lòng tán loạn thì mất chánh niệm. Nếu mất chánh niệm thì chẳng thể quan sát nghĩa thiện và chẳng thiện. Nếu chẳng thể quan sát nghĩa thiện và chẳng thiện thì làm việc ác. Do nhân duyên làm việc ác nên rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Khi Bồ-tát quan sát như vậy rồi thì được bốn niệm xứ. Được bốn niệm xứ rồi thì được trụ ở địa Kham nhẫn. Đại Bồ-tát trụ ở địa này rồi thì có thể nhẫn chịu tham dục, sân hận, ngu si, cũng có thể chịu đựng được lạnh, nóng, đói khát, ruồi, muỗi, rận, rệp, gió bão, va chạm việc dữ, đủ thứ dịch bệnh, ác khẩu, mắng chửi, đánh đập… Thân tâm khổ não, tất cả đều có thể nhịn chịu. Do đó gọi là trụ ở địa Kham nhẫn.

Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Bồ-tát chưa trụ được ở địa Bất động, khi trì tịnh giới, như có nhân duyên thì có được phá giới không?

–Này thiện nam! Bồ-tát chưa trụ ở địa Bất động nếu có nhân duyên thì có thể được phá giới.

Bồ-tát Ca-diếp thưa:

–Bạch Thế Tôn! Nhân duyên ấy là gì?

Đức Phật dạy:

–Này Ca-diếp! Nếu có Bồ-tát biết dùng nhân duyên phá giới mà có thể khiến cho người thọ trì, yêu thích kinh điển Đại Thừa, lại có thể khiến cho người ấy đọc tụng thông lợi, ghi chép kinh quyển, vì người khác mà rộng nói chẳng thoái chuyển đối với Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì như vậy Bồ-tát được phá giới. Bấy giờ, Bồ-tát nên khởi ý niệm như vầy: “Ta thà một kiếp hay non một kiếp, rơi vào địa ngục A-tỳ thọ tội báo này, chỉ cần khiến cho người đó chẳng thoái chuyển Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Này Ca-diếp! Do nhân duyên này nên Đại Bồ-tát được hủy phạm tịnh giới.

Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như có Bồ-tát thâu giữ hộ trì người như vậy khiến cho chẳng thoái chuyển tâm Bồ-đề nhưng vì sự hủy giới đó mà đọa vào địa ngục A-tỳ thì đó là điều không có.

Bấy giờ, Đức Phật khen Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Hay thay! Hay thay! Đúng như lời ông nói! Ta nhớ thuở xưa ở cõi Diêm-phù-đề, Ta làm đại quốc vương tên là Tiên Dự, yêu thích kính trọng kinh điển Đại Thừa, tâm ý thuần thiện, không có thô ác, ganh ghét, keo kiệt, miệng thường tuyên nói lời thương yêu, lời tốt lành, thân thường ủng hộ kẻ bần cùng, cô độc, bố thí, tinh tấn không có ngưng bỏ. Thời đó đời không có Phật, Thanh văn, Duyên giác. Bấy giờ, Ta ưa thích kinh điển Đại Thừa Phương Đẳng, trong mười hai năm phụng sự Bà-la-môn, cung cấp sự cần dùng cho họ. Qua mười hai năm bố thí xong rồi, Ta liền nói: “Thưa các thầy! Hôm nay các thầy nên phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Bà-la-môn nói: “Này đại vương! Tánh Bồ-đề là không sở hữu. Kinh điển Đại Thừa cũng như vậy thì tại sao đại vương lại muốn khiến cho con người đồng với hư không”. Này thiện nam! Bấy giờ, lòng Ta trọng Đại thừa mà nghe Bàla-môn bài báng Phương Đẳng nên nghe xong Ta tức thời giết chết người ấy. Này thiện nam! Do nhân duyên này nên từ đó về sau Ta chẳng rơi vào địa ngục.

Này thiện nam! Ủng hộ giữ gìn kinh điển Đại thừa mới có thế lực không lường như vậy. Lại nữa, này Ca-diếp! Lại có Thánh hạnh, gọi là bốn Thánh đế: nếu có người chăm sóc tùy ý thuốc thang. Này Ca-diếp! Khổ là tướng bức bách. Tập là tướng có năng lực sinh trưởng. Diệt là tướng tịch diệt. Đạo là tướng Đại thừa. Lại nữa, này thiện nam! Khổ là tướng hiện. Tập là tướng chuyển. Diệt là tướng trừ. Đạo là tướng có khả năng trừ. Lại nữa, này thiện nam! Khổ thì có ba tướng là tướng khổ khổ, tướng hành khổ, tướng hoại khổ. Tập là hai mươi lăm cõi. Diệt là diệt hai mươi lăm cõi. Đạo là tu giới, định, tuệ. Lại nữa, này thiện nam! Pháp hữu lậu có hai thứ là có nhân, có quả. Pháp vô lậu cũng có hai thứ là có nhân, có quả. Quả hữu lậu thì gọi là Khổ. Nhân hữu lậu thì gọi là Tập. Quả vô lậu thì gọi là Diệt. Nhân vô thì gọi là Đạo. Lại nữa, này thiện nam! Tám tướng gọi là khổ là: Khổ về sinh, khổ về già, khổ về bệnh, khổ về chết, khổ về ái biệt ly, khổ về oán tắng hội, khổ về cầu bất đắc, khổ về năm ấm xí thạnh. Có khả năng sinh ra tám loại khổ như vậy thì gọi là Tập. Không có tám điều khổ như vậy thì đó gọi là Diệt. Mười lực, bốn vô sở úy, ba niệm xứ, đại bi v.v… đó gọi là Đạo. Này thiện nam! Sinh là tướng hiện ra, có năm thứ, một là mới sinh ra, hai là đến cuối cùng, ba là tăng trưởng, bốn là xuất thai, năm là chủng loại sinh. Già là gì? Già có hai thứ, một là già từng niệm niệm, hai là già chung thân. Lại có hai thứ già nữa, một là già tăng trưởng, hai là già diệt hoại. Đó gọi là già. Sao gọi là bệnh? Bệnh là rắn độc bốn đại chẳng điều hòa nhau, cũng có hai thứ, một là bệnh thân, hai là bệnh tâm. Bệnh thân có năm, một là do nước, hai là do gió, ba là do nóng, bốn là tạp bệnh, năm là bệnh do bên ngoài. Bệnh do nguyên nhân khách quan có bốn, một là chẳng phải phận sự mà cưỡng làm, hai là lầm lẫn rơi rụng, ba là dao gậy gạch đá, bốn là quỷ mỵ dựa nhập. Bệnh tâm cũng có bốn thứ, một là quả vui, hai là sợ hãi, ba là ưu sầu, bốn là ngu si. Lại nữa, này thiện nam! Bệnh của thân tâm thường có ba thứ. Những gì là ba? Một là nghiệp báo, hai là đối mặt với điều xấu, ba là thời tiết thay đổi. Do đó sinh ra những nhân duyên tên gọi thọ phân biệt như vậy. Nhân duyên của bệnh là gió v.v… các bệnh. Tên gọi là lòng buồn bực, phổi trướng, khí lên, ho, tim đập, đi lị v.v… Thọ phân biệt là đau đầu, đau mắt, đau tay chân v.v… Đó gọi là bệnh. Sao gọi là chết? Chết là bỏ thân đã thọ. Bỏ thân đã thọ cũng có hai thứ: một là chết do mạng hết, hai là chết do ngoại duyên. Chết do mạng hết có ba thứ: một là mạng hết chẳng phải là phước hết, hai là phước hết chẳng phải là mạng hết, ba là phước mạng đều hết. Chết do ngoại duyên cũng có ba thứ: một là chẳng phải số phận mà tự hại chết, hai là bị người khác hại mà chết, ba là do cả hai mà chết. Lại có ba thứ chết: một là phóng dật mà chết, hai là phá giới mà chết, ba là mạng căn hoại chết. Sao gọi là phóng dật chết? Nếu có bài báng Đại Thừa Phương Đẳng Bát Nhã Ba-la-mật thì gọi là phóng dật chết. Sao gọi là phá giới chết? Hủy phạm giới cấm của chư Phật ở quá khứ, hiện tại và vị lai, đó gọi là phá giới chết. Sao gọi là mạng căn hoại chết? Bỏ thân năm ấm thì đó gọi là mạng căn hoại chết. Như vậy gọi rằng chết là đại khổ. Sao gọi là khổ ái biệt ly? Vật yêu thích bị hư hoại lìa tan. Vật yêu thích bị hư hoại lìa tan cũng có hai thứ: một là năm ấm trong người hoại, hai là năm ấm trong trời hoại. Sự yêu thích năm ấm của người và trời như vậy phân biệt tính kể có vô lượng thứ. Đó gọi là khổ về ái biệt ly. Sao gọi là khổ về oán tắng hội? Việc chẳng yêu thích mà cứ dồn đến. Việc chẳng yêu thích mà cứ dồn đến cũng có ba thứ. Đó là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Ba đường ác như vậy phân biệt tính kể có vô lượng thứ. Đó gọi là khổ về oán tắng hội. Sao gọi là khổ về cầu bất đắc? Khổ về cầu bất đắc cũng có hai thứ: một là điều mình hy vọng mà cầu chẳng thể được, hai là dùng nhiều công lực mà chẳng được kết quả. Đó gọi là khổ về cầu bất đắc. Sao gọi là khổ về ngũ ấm thịnh? Khổ về ngũ ấm thịnh là khổ về sinh, khổ về bệnh, khổ về chết, khổ về ái biệt ly, khổ về oán tắng hội, khổ về cầu bất đắc. Vậy nên gọi là khổ về ngũ ấm thịnh. Này Ca-diếp! Căn bản của sinh gồm có bảy thứ khổ như vậy: Từ khổ về lão cho đến khổ về ngũ ấm thịnh. Này Ca-diếp! Bàn về lão suy thì chẳng phải tất cả đều có, Phật và chư Thiên nhất định là không, còn trong loài người thì bất định, hoặc có, hoặc không. Này Ca-diếp! Thọ thân trong ba cõi không loài nào mà chẳng có sinh, còn già thì chẳng nhất định. Vậy nên tất cả sinh là căn bản. Này Ca-diếp! Chúng sinh trong thế gian bị điên đảo che tâm mà tham đắm tướng về sinh, nhàm chán lão tử. Bồ-tát cũng vậy, quan sát lúc mới sinh đã thấy có khổ nạn. Này Ca-diếp! Như có người con gái vào ở nhà người khác. Người con gái này đoan chánh, nhan mạo đẹp đẽ, trang nghiêm thân bằng chuỗi ngọc đẹp. Người chủ nhà thấy rồi liền hỏi: “Nàng tên gì? Thuộc về ai?”. Người con gái đáp: “Thân ta tức là Công Đức Thiên”. Người chủ nhà hỏi: “Nàng làm gì ở chỗ của nàng đến?”. Người con gái đáp: “Chỗ ta đến, ta có thể ban cho đủ thứ vàng, bạc, lưu ly, pha lê, chân châu, san hô, hổ phách, xa cừ, mã não, voi, ngựa, xe cộ, nô tỳ, người giúp việc”. Người chủ nghe rồi, lòng sinh vui mừng vô cùng phấn khởi nói: “Ta nay có phước đức nên khiến cho nàng đến nhà ta”. Người chủ liền đốt hương, tung hoa cúng dường, cung kính lễ bái. Lại ở ngoài cửa, người ấy lại thấy một người con gái hình dung xấu xí, quần áo rách rưới rất dơ bẩn, da dẻ nứt nẻ, mặt mày trắng bệch. Thấy rồi, người chủ hỏi: “Nàng tên gì? Thuộc về ai?”. Người con gái đáp: “Tôi tên là Hắc Ám”. Người chủ lại hỏi: “Vì sao tên là Hắc Ám?”. Người con gái đáp: “Chỗ ta đến có thể khiến cho của báu của nhà ấy, tất cả bị suy hao”. Người chủ nghe rồi liền cầm dao bén mà nói: “Nếu nàng chẳng đi ta sẽ giết nàng”. Người con gái nói: “Ông rất ngu si, không có trí tuệ”. Người chủ hỏi: “Vì sao gọi ta ngu si, không trí tuệ?”. Người con gái đáp: “Người trong nhà của ông tức là chị của ta. Ta và chị ta luôn luôn cùng với nhau. Nếu ông đuổi ta thì cũng sẽ đuổi chị đó”. Người chủ nhà vào hỏi Công Đức Thiên: “Bên ngoài có một người con gái nói là em của nàng. Có thật thế không?”. Công Đức Thiên nói: “Quả thật là em của ta. Ta cùng người em này cùng đi với nhau chưa từng rời nhau ở bất cứ đâu. Ta thường tạo tác cái tốt, cô ta thường tạo tác cái xấu. Ta làm lợi ích, cô ta làm hư hao. Nếu ông yêu ta thì cũng nên yêu cô ấy. Nếu ông cung kính ta thì cũng nên cung kính cô ấy”. Người chủ liền nói: “Nếu có sự tốt xấu như vậy thì ta đều chẳng dùng. Các nàng tùy ý mà đi”. Lúc đó hai người con gái liền cùng đem nhau trở về chỗ ở của họ. Bấy giờ, người chủ thấy họ đã đi trở về lòng sinh vui mừng, phấn khởi không lường. Lúc ấy, hai người con gái lại cùng nhau đến một nhà nghèo. Người nghèo thấy rồi, lòng phát sinh vui mừng, liền mời họ: “Hai nàng đã đến, từ nay nguyện xin hai nàng hãy thường trụ ở nhà tôi”. Công Đức Thiên nói: “Trước đây, chúng tôi đã bị người khác xua đuổi, vì nhân duyên gì ông lại mời chúng tôi ở lại?”. Người nghèo đáp: “Nàng nay nghĩ đến tôi. Tôi nhờ nàng nên lại phải cung kính nàng kia. Vậy nên tôi đều thỉnh hai vị trụ ở nhà tôi”. Này Ca-diếp! Đại Bồ-tát cũng như vậy, chẳng nguyện sinh lên trời vì có sinh thì sẽ có lão, bệnh, chết. Do đó đều bỏ hết, từng không có thọ tâm. Người phàm phu ngu si chẳng biết những hoạn nạn của già, bệnh, chết v.v… nên tham thọ hai pháp sinh tử. Lại nữa, này Ca-diếp! Như đứa trẻ con ấu trĩ Bà-la-môn bị sự bức bách của đói khát, thấy trong phân người có trái cây am-la liền bốc lấy. Có người trí nhìn thấy liền quở trách: “Người là Bà-lamôn, chủng tánh thanh tịnh vì sao bốc lấy trái cây bẩn trong phân này?”. Đứa trẻ nghe rồi đỏ mặt thẹn thùng, liền đáp: “Tôi thật chẳng ăn, muốn rửa sạch rồi lại bỏ nó đi”. Người trí nói: “Ngươi rất ngu si. Nếu lại bỏ đi thì trước chẳng nên lấy”. Này thiện nam! Đại Bồ-tát cũng như vậy, đối với phần sinh này chẳng nhận, chẳng bỏ, như người trí kia quở trách đứa trẻ. Người phàm phu thích sinh, ghét chết như đứa trẻ kia lấy quả rồi lại bỏ. Lại nữa, này Ca-diếp! Ví như có người ở ngã tư đường lớn với dụng cụ đựng đầy thức ăn, đủ sắc hương mỹ vị để bán. Có người từ xa đến, đói lả gầy yếu, thấy thức ăn đó đủ sắc hương mỹ vị liền chỉ mà hỏi: “Đây là vật gì?”. Người chủ thức ăn đáp: “Đây là thức ăn thượng hạng đủ sắc hương mỹ vị. Nếu ăn món ăn này thì được sắc, được lực, có thể trừ đói khát, được thấy chư Thiên, chỉ có bị một hoạn nạn là mạng chung”. Người đó nghe rồi liền nghĩ: “Ta nay chẳng cần sắc lực hay thấy trời, cũng chẳng cần chết”. Hắn liền nói: “Ăn món này rồi nếu mạng chung thì vì sao ông hôm nay bán nó ở đây?”. Người chủ thức ăn đáp: “Người có trí nhất định chẳng chịu mua, chỉ có người ngu si chẳng biết việc này, trả giá đắc cho tôi, tham lam mà ăn đó thôi”. Này thiện nam! Đại Bồ-tát cũng như vậy, chẳng nguyện sinh lên trời, được sắc, được lực và thấy chư Thiên. Vì sao? Vì những điều ấy chẳng khỏi được các khổ não. Kẻ phàm phu ngu si theo chỗ có sinh, đều tham ái vì họ chẳng thấy già, bệnh, chết. Lại nữa, này thiện nam! Ví như cây độc, rễ có thể giết người, cành, gốc, thân, đốt, vỏ, lá, hoa, trái cũng đều có thể giết người. Này thiện nam! Năm ấm đã thọ ở chỗ thọ sinh trong hai mươi lăm cõi cũng như vậy, tất cả có thể giết hại. Lại nữa, này Ca-diếp! Ví như phân bẩn dù ít hay nhiều đều thối. Này thiện nam! Sự sống cũng thế, giả sử sống lâu tám vạn tuổi hay chỉ mười tuổi thì đều thọ khổ. Lại nữa, này Ca-diếp! Ví như trên bờ hiểm có cỏ che phủ. Ở bên bờ đó có nhiều cam lồ mà nếu có người ăn thì sống lâu một ngàn tuổi, vĩnh viễn tiêu trừ các bệnh, yên ổn hoan lạc. Người phàm phu ngu si tham ăn vị ấy nên chẳng biết bên dưới bờ ấy có hầm rất sâu, liền bước tới muốn lấy chẳng hay sa chân rơi vào hầm mà chết. Kẻ trí biết rồi liền bỏ đi xa. Này thiện nam! Đại Bồ-tát cũng như vậy, chẳng muốn thọ món ăn thượng diệu của trời, huống là món ăn của loài người. Người phàm phu mới ở địa ngục nuốt hòn sắt nóng, thì đối với món ăn ngon lành thượng diệu của người trời sao có thể chẳng ăn. Này Ca-diếp! Dùng những thí dụ như vậy và vô lượng vô biên thí dụ khác để ông phải biết sinh quả thật là đại khổ. Này Ca-diếp! Đó gọi là Bồtát trụ ở Kinh điển Đại Niết-bàn Đại Thừa mà quan sát khổ về sinh.

Này Ca-diếp! Sao gọi là Đại Bồ-tát trụ ở kinh Đại Niết-bàn Đại Thừa này mà quan sát khổ về già? Già thì có thể bị ho, khí lên ngược, hủy hoại sức lực, nhớ nghĩ những hoan lạc, kiêu mạn cao ngạo, yên ổn, tự do của thời trai tráng, già có thể làm lưng còng, lười biếng, bị sự khinh thường của người khác. Này Ca-diếp! Ví như trong ao nước đầy hoa sen nở tươi đẹp rất đáng yêu thì gặp phải trời mưa đá đều bị tan nát. Này thiện nam! Già cũng như vậy, đều có thể phá hoại sắc đẹp của thời trai tráng. Lại nữa, này Ca-diếp! Ví như vị quốc vương có một bề tôi trí tuệ, giỏi biết binh pháp. Có vua nước địch chống cự lại chẳng thuận theo. Nhà vua sai vị bề tôi giỏi này đi thảo phạt vị vua đó và ông liền bắt được vị vua ấy dẫn đến cho vua mình. Già cũng như vậy, bắt hình sắc tráng kiện đem giao cho vua chết. Lại nữa, này Ca-diếp! Ví như cái trục xe gãy không dùng lại được. Già cũng như vậy, không dùng lại được. Lại nữa, này Ca-diếp! Ví như đại phú gia có nhiều của báu như vàng, bạc, lưu ly, san hô, hổ phách, xa cừ, mã não… có những oán tặc, nếu chúng vào nhà người ấy thì liền có thể cướp đoạt hết khiến cho rỗng không. Này thiện nam! Sắc đẹp thời trai trẻ cũng như vậy, thường bị sự cướp đoạt của giặc già. Lại nữa, này Ca-diếp! Ví như người nghèo tham đắm món ăn ngon, quần áo mịn màng. Tuy họ mong muốn nhưng mà chẳng thể được. Này thiện nam! Già cũng như vậy, tuy có lòng tham muốn hưởng giàu có an vui, năm dục thỏa lòng nhưng mà chẳng thể được. Lại nữa, này Ca-diếp! Như rùa ở trên đất thường nghĩ đến nước. Này thiện nam! Người cũng như vậy, đã bị sự khô héo của già suy thì lòng thường nhớ nghĩ khi tráng kiện đã hưởng thụ thú vui năm dục. Lại nữa, này Ca-diếp! Vào mùa thu, những hoa sen được mọi người ưa ngắm nhìn, đến khi chúng héo vàng thì ai cũng không thích. Này thiện nam! Tuổi trẻ tráng kiện cũng như vậy, đều được sự yêu thích của tất cả, đến khi già thì bị khinh ghét. Lại nữa, này Cadiếp! Ví như cây mía đã bị ép lấy nước rồi thì không còn vị nữa. Tuổi trẻ tráng kiện cũng như vậy, đã bị già rồi thì không còn ba thứ vị nữa, một là vị xuất gia, hai là vị đọc tụng, ba là vị ngồi thiền. Lại nữa, này Ca-diếp! Ví như trăng tròn ban đêm nhiều ánh sáng, ngày thì chẳng vậy. Này thiện nam! Người cũng như vậy, trai tráng thì đoan nghiêm, hình mạo đẹp đẽ; già thì suy yếu, hình mạo, thần thái khô héo, tiều tụy. Lại nữa, này Ca-diếp! Ví như có vị vua thường dùng chánh pháp trị nước, an dân, chân thật không quanh co, từ bi ưa bố thí. Bấy giờ, nhà vua bị nước địch đánh phá phải trốn chạy lưu vong đến nước khác. Muôn dân nước đó thấy mà thương xót vua, đều nói: “Đại vương thuở trước dùng chánh pháp trị nước, chẳng ép uổng bá tánh mà sao một sớm phải lưu lạc đến đây?”. Này thiện nam! Con người cũng như vậy, đã bị sự bại hoại của già suy rồi thì thường khen việc tạo lập sự nghiệp thời trai tráng. Lại nữa, này Ca-diếp! Ví như bấc đèn chỉ nhờ dầu mỡ, dầu mỡ đã hết thì chẳng bao lâu sẽ tắt. Này thiện nam! Con người cũng như vậy, chỉ nhờ cậy vào mỡ tráng kiện, mỡ tráng kiện đã hết thì bấc đèn già suy chẳng bao lâu sẽ tắt. Lại nữa, này Ca-diếp! Ví như dòng sông khô chẳng thể làm lợi ích cho con người, chẳng phải người, chim bay, thú chạy. Này thiện nam! Con người cũng như vậy, bị sự khô cạn của già thì chẳng thể tạo lợi ích cho tất cả. Lại nữa, này Ca-diếp! Cây đại thọ đứng bên bờ sông sắp lở, nếu gặp gió to thì ắt ngã đổ. Này thiện nam! Con người cũng như vậy, đến bờ hiểm già mà gió chết thổi đến thì chẳng đứng vững được. Lại nữa, này Ca-diếp! Như trục xe gãy thì chẳng đủ sức chở nặng. Này thiện nam! Già cũng như vậy, chẳng thể học, nghe nhận tất cả pháp thiện. Lại nữa, này Ca-diếp! Ví như đứa trẻ con bị người khinh khi. Này thiện nam! Già cũng như vậy, thường bị sự khinh chê của tất cả. Này Ca-diếp! Dùng những ví dụ đó và còn vô lượng vô biên ví dụ nữa để ông phải biết, già thật là đại khổ. Này Ca-diếp! Đó gọi là Đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn Đại Thừa quan sát khổ về già.

Này Ca-diếp! Sao gọi là Đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn Đại Thừa, quan sát khổ về bệnh? Sở dĩ gọi bệnh là có thể phá tan tất cả những việc vui vẻ, yên ổn, ví như mưa đá làm thương tổn hủy hoại cây lúa. Lại nữa, này Ca-diếp! Như người có oán thù, lòng thường lo buồn mà ôm lấy sợ hãi. Này thiện nam! Tất cả chúng sinh cũng như vậy, thường sợ khổ về bệnh, lòng ôm lo rầu. Lại nữa, này Ca-diếp! Ví như có người hình mạo đẹp đẽ được hoàng hậu ái mộ, sai sứ đến cưỡng bức tới cung cùng thông dâm. Vị vua bắt được liền sai người móc một mắt, cắt một tai, chặt một tay, một chân của người ấy. Người đó, bấy giờ hình dung đổi khác, bị người khinh ghét. Này thiện nam! Con người cũng vậy, trước tuy đẹp đẽ, tai mắt đầy đủ, nhưng khi đã bị bệnh khổ đeo đẳng bức bách rồi thì bị mọi người gớm ghiếc. Lại nữa, này Cadiếp! Ví như cây chuối, tre, trúc, lau sậy và con la hễ có con là chết. Này thiện nam! Con người cũng như vậy, hễ có bệnh thì chết. Lại nữa, này Ca-diếp! Như đại thần chủ binh của vua Chuyển luân thường ở trước dẫn đường, còn vua theo sau mà đi. Cũng như khi cá chúa, kiến chúa, ốc chúa, trâu chúa, lái buôn đi ở trước, các chúng đều đi theo không rời bỏ. Này thiện nam! Vua Chuyển luân chết cũng như vậy, thường theo bầy tôi bệnh, chẳng lìa bỏ. Chúa bệnh cá, kiến, ốc, trâu, lái buôn cũng như vậy, thường bị sự theo đuổi của chúng chết. Này Cadiếp! Nhân duyên bệnh là sự khổ não, sầu lo, buồn than, thân tâm chẳng yên, hoặc là sự bức hại của oán tặc, phá hư phao nổi, triệt phá cầu cống, cũng có thể cướp đoạt căn bản chánh niệm. Lại có thể phá hoại sắc đẹp, sự tráng kiện, thế lực, an lạc, sự hổ thẹn, lại có thể làm thân tâm bị thiêu nóng rực cháy. Dùng những ví dụ này và còn vô lượng vô biên ví dụ khác để ông phải biết, khổ về bệnh chính là đại khổ. Này Ca-diếp! Đó gọi là Đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn Đại Thừa, quan sát khổ về bệnh.

Này Ca-diếp! Sao gọi là Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn Đại Thừa, quan sát khổ về chết? Cái gọi là chết đó có thể thiêu hủy tiêu diệt. Này Ca-diếp! Như tai họa lửa khởi lên thì có thể đốt cháy tất cả, chỉ trừ Nhị thiền, sức của lửa chẳng đến được. Này thiện nam! Lửa chết cũng vậy, có thể đốt cháy tất cả, chỉ trừ Bồ-tát trụ ở ở Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa, vì thế lực của lửa chết chẳng đến được. Lại nữa, này Ca-diếp! Như tai họa nước khởi lên thì tất cả trôi dạt chìm mất, chỉ trừ Tam thiền, vì sức nước chẳng đến. Này thiện nam! Nước chết cũng vậy, làm trôi dạt chìm mất tất cả, chỉ trừ Bồ-tát trụ ở Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa. Lại nữa, này Ca-diếp! Như tai họa gió khởi lên thì có thể thổi tất cả khiến cho tan hoại hết, chỉ trừ Tứ thiền, vì sức gió chẳng đến được. Này thiện nam! Gió chết cũng vậy, có thể thổi diệt tất cả sở hữu, chỉ trừ Bồ-tát trụ ở Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa.

Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Thiền thứ tư kia vì nhân duyên gì mà gió chẳng thể thổi, nước chẳng thể trôi, lửa chẳng thể cháy?

Đức Phật bảo Bồ-tát Ca-diếp:

–Này thiện nam! Thiền thứ tư đó, trong ngoài tất cả đều không có họa hoạn. Này thiện nam! Họa hoạn của Sơ thiền: bên trong có giác quán, bên ngoài có tai họa về lửa. Họa hoạn của Nhị thiền: bên trong có hoan hỷ, bên ngoài có tai họa về nước. Họa hoạn của Tam thiền: bên trong có hít thở, bên ngoài có tai họa về gió. Này thiện nam! Đệ tứ thiền kia, trong ngoài tất cả đều không có họa hoạn. Vậy nên các tai họa chẳng thể đến được. Này thiện nam! Đại Bồ-tát cũng như vậy, an trụ ở Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa thì họa hoạn trong ngoài tất cả đều hết. Vậy nên vua chết chẳng thể vào được. Lại nữa, này Ca-diếp! Như con chim cánh vàng có thể nuốt ăn, có thể tiêu hóa tất cả rồng, cá, vàng, bạc, các báu v.v… chỉ trừ kim cương nó chẳng thể nào tiêu hóa. Này thiện nam! Con chim cánh vàng tử cũng như vậy, có thể nuốt ăn, có thể tiêu hóa tất cả chúng sinh, chỉ chẳng thể tiêu hóa được Đại Bồtát trụ ở Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa. Lại nữa, này Ca-diếp! Ví như cỏ cây ở bờ sông, gặp nước lụt thì đều trôi vào biển cả, chỉ trừ cây dương liễu vì cây ấy mềm mại. Này thiện nam! Tất cả chúng sinh cũng như vậy, đều trôi vào biển tử, chỉ trừ Bồ-tát trụ ở Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa. Lại nữa, này Ca-diếp! Như Na-la-diên có thể hàng phục tất cả lực sĩ, chỉ trừ gió lớn. Vì sao? Vì không ngăn cản được. Này thiện nam! Na-la-diên tử cũng như vậy, có thể hàng phục hết tất cả chúng sinh, chỉ trừ Bồ-tát trụ ở Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa. Vì sao? Vì vô ngại. Lại nữa, này Ca-diếp! Ví như có người đối với kẻ oán thù mà trá hiện thân thiện, thường theo đuổi như bóng theo hình dò tìm cơ hội thuận tiện để giết chết kẻ oán đó. Kẻ oán kia cẩn thận tự phòng bị chắc chắn nên khiến cho người đó chẳng thể giết được. Này thiện nam! Oán thù tử cũng vậy, thường theo dõi chúng sinh để giết hại họ, chỉ chẳng thể giết Đại Bồ-tát trụ ở Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa. Vì sao? Vì Bồ-tát đó chẳng buông lung. Lại nữa, này Ca-diếp! Ví như trời bỗng nhiên tuôn xuống mưa lớn kim cương, phá hoại hết cây thuốc, cây cối, núi rừng, đất cát, gạch, đá, vàng, bạc, lưu ly v.v… tất cả mọi vật, chỉ chẳng thể hủy hoại chân bảo kim cương. Này thiện nam! Mưa kim cương tử cũng như vậy, có thể phá hoại hết tất cả chúng sinh, chỉ trừ Bồ-tát Kim cương trụ ở Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa. Lại nữa, này Ca-diếp! Như chim cánh vàng có thể ăn nuốt các rồng, chỉ chẳng thể ăn nuốt rồng đã thọ Tam quy. Này thiện nam! Chim cánh vàng tử cũng như vậy, có thể ăn nuốt tất cả vô lượng chúng sinh, chỉ trừ Bồ-tát trụ ở ba định. Sao gọi là ba định? Đó là Không, Vô tướng, Vô nguyện. Lại nữa, này Ca-diếp! Như rắn độc Ma-la hễ đã cắn thì tuy có chú hay, thuốc tốt thượng diệu nhưng không cứu được, chỉ có chú A-kiệt-la-tinh mới có thể chữa khỏi. Này thiện nam! Rắn độc tử cũng như vậy, tất cả phương thuốc trị độc không gì hiệu nghiệm, chỉ trừ Bồ-tát trụ ở chú Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa. Lại nữa, này Ca-diếp! Ví như có người bị vua giận, người ấy, hoặc có thể dùng lời êm ái khéo léo hay cống dâng của báu thì có thể được thoát chết. Này thiện nam! Vua tử chẳng vậy, tuy dùng lời êm ái hay tiền của châu báu mà cống dâng nhưng cũng chẳng thoát được. Này thiện nam! Phàm người chết thì ở chỗ hiểm nạn không có của cải lương thực, đi đến chỗ xa mờ mà không có bạn bè, ngày đêm đi mãi chẳng biết bờ cõi, sâu thẳm tối tăm không có ánh sáng. Vào nhà không cửa nẻo mà có nơi chốn, tuy không chỗ đau nhưng chẳng thể trị liệu, đi không ngăn ngại, đến chẳng thoát được, không có sự phá hoại mà người thấy sầu đau, chẳng phải là màu sắc xấu bẩn mà khiến cho người kinh sợ, phô bày ở bên thân mà chẳng thể hay biết. Này Ca-diếp! Dùng những thí dụ này và còn vô lượng vô biên thí dụ khác để ông phải biết tử quả thật là đại khổ. Này Ca-diếp! Đó gọi là Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết Bàn Đại Thừa, quan sát khổ về tử.

Này Ca-diếp! Sao gọi là Bồ-tát trụ ở kinh Đại Niết-bàn Đại Thừa quan sát khổ thương yêu chia lìa nhau? Thương yêu chia lìa nhau có thể là căn bản của tất cả mọi khổ, như kệ nói:

Nhân ái sinh lo
Nhân ái sinh sợ
Nếu xa lìa ái
Có gì lo sợ.

Nhân duyên ái mà sinh ra ưu khổ. Do ưu khổ nên khiến cho chúng sinh sinh ra già suy. Khổ về ái biệt ly là mạng chung. Này thiện nam! Do biệt ly nên có thể sinh ra đủ thứ khổ vi tế. Nay Ta sẽ vì ông phân biệt và chỉ rõ cho. Này thiện nam! Đời quá khứ, khi con người thọ mạng vô lượng, khi ấy có vị vua tên là Thiện Trụ. Bấy giờ, vị vua ấy làm thân đồng tử, làm thái tử lo liệu việc nước và lên ngôi vua đều trải qua tám vạn bốn ngàn năm. Trên đỉnh đầu của vua sinh ra một bướu thịt. Bướu ấy mềm mại như lụa đâu la, mịn màng như kiếp bối, dần dần lớn lên mà chẳng cho nó là tai họa. Tròn mười tháng cục bướu ấy liền mở ra sinh một đồng tử. Hình dung đồng tử ấy đoan nghiêm kỳ lạ vô song, sắc tướng phân minh số một trong loài người. Vua cha vui mừng đặt tên là Đỉnh Sinh. Vua Thiện Trụ liền đem quốc sự giao phó cho Đỉnh Sinh, xả bỏ cung điện, vợ con, quyến thuộc, vào núi học đạo trọn tám vạn bốn ngàn năm. Bấy giờ, Đỉnh Sinh vào ngày mười lăm, ở tại lầu cao tắm gội, thọ trai, tức thời ở phương Đông xuất hiện bánh xe vàng báu. Bánh xe ấy đầy đủ ngàn nan hoa, trục, vành chẳng do thợ chế tạo, tự nhiên thành tựu hiện đến. Đại vương Đỉnh Sinh liền nghĩ: “Ta xưa từng nghe tiên ngũ thông nói, vua Sát-lợi vào ngày mười lăm ở tại lầu cao tắm gội, trai giới, nếu có bánh xe vàng ngàn nan hoa chẳng thiếu, đầy đủ trục, vành, chẳng do thợ làm, tự nhiên thành tựu, hiện đến thì phải biết vua này liền được làm Chuyển luân Thánh đế”. Vua lại nghĩ: “Ta nay sẽ thử”. Ông liền dùng tay trái nâng bánh xe báu, tay phải cầm lư hương, quỳ gối phải xuống đất mà phát thệ: “Bánh xe vàng báu này nếu chân thật chẳng hư dối thì nên làm như phép đã làm đối với Chuyển luân Thánh vương đời quá khứ”. Vua phát lời thề này rồi, bánh xe vàng báu đó bay lên hư không, đi khắp mười phương, rồi trở lại trụ ở tay trái của vua Đỉnh Sinh. Bấy giờ, vua Đỉnh Sinh lòng phát sinh vui mừng, phấn khởi không lường, lại nghĩ: “Ta nay nhất định làm Chuyển luân Thánh vương”. Sau đấy chẳng bao lâu lại có voi báu hình dáng đoan nghiêm như hoa sen trắng với bảy chi chống đất. Vua Đỉnh Sinh thấy rồi lại nghĩ: “Ta thuở xưa từng nghe tiên ngũ thông nói rằng, vua Chuyển luân vào ngày mười lăm, ở tại lầu cao tắm gội, trai giới, nếu có voi báu hình dáng đoan nghiêm như hoa sen trắng, bảy chi chống đất, hiện đến thì phải biết, vị vua này tức là Thánh đế”. Vua lại nghĩ: “Ta nay sẽ thử”. Ông liền nâng lư hương, quỳ gối phải xuống đất phát thệ: “Voi trắng báu này nếu chân thật, chẳng hư dối thì nên làm như phép đã làm đối với Chuyển luân Thánh vương đời quá khứ”. Vua nói lời này rồi thì voi trắng báu liền bay đi khắp cùng tám phương, đến tận bờ cõi biển cả từ sáng đến chiều rồi trở về chỗ cũ. Bấy giờ, vua Đỉnh Sinh lòng rất vui mừng, phấn khởi không lường, lại nghĩ: “Ta nay nhất định làm Chuyển luân Thánh vương”. Sau đó chẳng bao lâu, tiếp theo có ngựa báu, sắc ngựa ấy xanh biếc đẹp đẽ, bờm, đuôi màu vàng, vua Đỉnh Sinh thấy vậy liền nghĩ: “Ta nghe thuở xưa tiên ngũ thông nói, vua Chuyển luân vương vào ngày rằm ở trên lầu cao tắm gội, trai tịnh, có ngựa báu sắc xanh, bờm, lông đuôi màu vàng tía đến, thì nên biết đó là Thánh đế”. Vua lại nghĩ: “Ta nay sẽ thử”. Ông liền cầm lư hương, quỳ gối phải xuống đất phát thệ: “Ngựa báu màu xanh biếc này nếu chân thật, chẳng hư dối thì nên làm như phép đã làm đối với Chuyển luân Thánh vương đời quá khứ”. Vua nói lời này rồi thì ngựa báu màu xanh biếc đó, từ sáng đến chiều chạy cùng khắp tám phương đến tận bờ cõi biển cả, rồi trở về chỗ cũ. Bấy giờ, vua Đỉnh Sinh lòng rất vui mừng, phấn khởi không lường, lại nói: “Ta nay nhất định làm Chuyển luân Thánh vương”. Sau đó chẳng bao lâu, lại có người con gái báu, hình dung đoan chánh đệ nhất, chẳng cao, chẳng lùn, chẳng trắng, chẳng đen, các lỗ chân lông trên thân thể tỏa ra mùi hương chiên-đàn, hơi miệng thơm sạch như hoa sen xanh, mắt nhìn thấy xa một do-tuần, tai nghe, mũi ngửi cũng như vậy, lưỡi rộng to, lè ra có thể che cả mặt, hình sắc mịn màng như lá đồng đỏ, tâm thức thông triết có trí tuệ lớn, đối với các chúng sinh thường có lời nói dịu dàng. Người con gái ấy khi dùng tay chạm vào áo vua thì liền biết thân vua an vui hay bệnh hoạn, cũng biết tâm vua duyên vào đâu. Bấy giờ, vua Đỉnh Sinh lại nghĩ: “Nếu có người con gái có thể biết được lòng vua tức là người con gái báu”. Sau đó chẳng bao lâu, ở trong cung vua tự nhiên có ngọc báu ma-ni, thuần màu xanh lưu ly, lớn như trục của bánh xe, có thể ở trong tối chiếu sáng đến một do-tuần. Nếu trời tuôn mưa mà giọt nước lớn như trục bánh xe thì lực của ngọc này có thể tạo thành lọng lớn che được một do-tuần, ngăn trận mưa lớn này, chẳng cho nước mưa lọt qua. Lúc này, vua Đỉnh Sinh lại nghĩ: “Nếu vua Chuyển luân được ngọc báu này thì nhất định là Thánh đế”. Sau đó chẳng bao lâu, có bề tôi chủ kho tàng tự nhiên xuất hiện với nhiều của báu, giàu có không lường, kho tàng đầy ắp, không gì thiếu thốn. Chủ kho tàng này được sức nhãn căn có thể thấy suốt tất cả kho tàng ẩn chứa trong lòng đất, theo ý nghĩ của vua đều có thể cung cấp đủ cho vua. Bấy giờ, vua Đỉnh Sinh lại muốn thử ông ấy, liền ngồi chung thuyền đi vào biển cả và bảo: “Ta nay muốn được kỳ trân dị bảo”. Ông ta nghe rồi liền dùng hai tay khuấy nước biển cả thì mười đầu ngón tay xuất hiện mười bảo tàng, đem dâng lên Thánh vương, tâu: “Tâu đại vương! Đại vương cần dùng việc gì thì đại vương tùy ý sử dụng. Nếu còn lại thì phải ném trả cho biển cả”. Bấy giờ, vua Đỉnh Sinh lòng rất vui mừng, phấn khởi không lường, lại nghĩ: “Ta nay nhất định làm Chuyển luân Thánh vương”. Sau đó chẳng bao lâu, có bề tôi là chủ binh tự nhiên xuất hiện. Ông ấy dũng mãnh, thao lược, kế sách, mưu trí đệ nhất, giỏi biết bốn binh chủng. Nếu ông ấy gánh vác việc chiến đấu thì xuất hiện Thánh vương. Nếu ông ấy chẳng gánh vác việc chiến đấu mà thoái lui thì Thánh vương chẳng xuất hiện. Kẻ chưa bị hàng phục thì ông ta có thể hàng phục. Người đã hàng phục thì có thể ủng hộ. Bấy giờ, vua Đỉnh Sinh lại nghĩ: “Nếu vua Chuyển luân được chủ binh báu này thì phải biết nhất định là Chuyển luân Thánh vương”. Lúc đó, Chuyển luân Thánh vương Đỉnh Sinh bảo các đại thần: “Các ông phải biết, cõi Diêm-phù-đề này yên ổn, giàu có, hưng thịnh và vui sướng. Ta nay bảy báu đã thành tựu, một ngàn đứa con trai đầy đủ. Ta nên làm gì đây?”. Các bề tôi đáp: “Thưa đại vương! Cõi Phất-bà-đề ở phương Đông còn chưa quy thuận, đại vương nay nên đi đến đó”. Bấy giờ, Thánh vương liền cùng với bảy báu, tất cả quân doanh tháp tùng, bay lên hư không mà đi đến cõi Phất-bà-đề ở phương Đông. Muôn dân cõi đó vui mừng quy thuận. Vua lại bảo các đại thần: “Cõi Diêm-phùđề và Phất-bà-đề của ta yên ổn, giàu có, hưng thịnh và vui sướng, dân chúng đông đúc đều đến quy thuận, bảy báu thành tựu, ngàn con đầy đủ. Ta lại làm gì nữa?”. Các bề tôi đáp: “Thưa đại vương! Cõi Cù-đàni ở phương Tây còn chưa quy thuận”. Bấy giờ, Thánh vương lại cùng với bảy báu, tất cả quân doanh tháp tùng, bay lên hư không mà đi đến cõi Cù-đà-ni. Nhà vua đã đến đó và dân chúng cõi đó cũng lại quy phục. Vua lại bảo các đại thần: “Cõi Diêm-phù-đề, Phất-bà-đề và Cùđà-ni này của ta đã yên ổn, giàu thịnh, vui sướng, muôn dân đông đúc đều đã quy thuận, bảy báu thành tựu, ngàn con đầy đủ. Ta lại làm gì nữa? Các bề tôi tâu: “Thưa đại vương! Cõi Uất-đan-việt ở phương Bắc còn chưa quy thuận”. Bấy giờ, Bấy giờ, Thánh vương lại cùng với bảy báu, tất cả quân doanh tháp tùng, bay lên hư không mà đi đến cõi Uấtđan-việt ở phương Bắc. Vua đã đến đó thì dân chúng cõi ấy vui mừng quy thuận. Vua lại bảo các đại thần: “Bốn cõi thiên hạ của ta yên ổn, giàu có, hưng thịnh và vui sướng, muôn dân đông đúc đều đã quy thuận, bảy báu thành tựu, ngàn con đầy đủ. Ta lại làm gì nữa?”. Các bề tôi đáp: “Thưa Thánh vương! Cõi trời Ba Mươi Ba thọ mạng rất dài, yên ổn, diệu lạc. Thân hình cõi trời đó đoan nghiêm không gì sánh, cung điện chỗ ở, giường, ngọa cụ… đều là bảy báu. Trời ấy tự thị thiên phước chưa đến quy thuận. Nay nhà vua nên đến hỏi tội, khiến cho họ quy phục”. Bấy giờ, Thánh vương lại cùng với bảy báu, tất cả quân doanh tháp tùng, bay lên hư không lên cõi trời Đao-lợi. Vua thấy có một cây màu xanh biếc. Thánh vương thấy rồi liền hỏi đại thần: “Đây là sắc gì?”. Đại thần đáp: “Đây là cây Ba-lợi-chất-đa-la, vào những ngày tháng ba mùa hạ, chư Thiên của cõi trời Đao-lợi thường ở dưới gốc cây ấy vui sướng thọ hưởng diệu lạc”. Vua lại thấy sắc trắng giống như mây trắng, lại hỏi đại thần: “Đó là sắc gì?”. Đại thần đáp: “Đó là Thiện pháp đường, chư Thiên cõi trời Đao-lợi thường tập họp trong ấy bàn luận việc nhân thiên”. Khi ấy, thiên chúa Thích-đề-hoàn-nhân biết vua Đỉnh Sinh đã đến ở bên ngoài, liền ra nghênh đón, gặp nhau rồi, nắm tay nhau thăng lên Thiện pháp đường, chia tòa mà ngồi. Lúc đó, hai vua hình dung, tướng mạo như nhau, không có sai biệt, chỉ có cái nhìn là sai khác. Lúc này, Thánh vương liền khởi sinh ý nghĩ: “Ta nay chắc có thể phế bỏ vị vua này để trụ trong cõi trời làm vua trời chăng?”. Này thiện nam! Bấy giờ, Đế thích vốn có thọ trì, đọc tụng kinh điển Đại Thừa, khai thị, phân biệt vì người khác diễn nói, chỉ có đối với ý nghĩa sâu xa chưa thông đạt hết. Do sức nhân duyên đọc tụng, thọ trì, phân biệt, vì người khác diễn nói rộng rãi này nên có uy đức lớn. Này thiện nam! Vua Đỉnh Sinh đó đối vị Đế thích này sinh tâm ác xong liền đọa lạc trở lại cõi Diêm-phù-đề, nhớ thương trời, người ly biệt, phát sinh khổ não lớn. Nhà vua lại gặp bệnh dữ liền mạng chung. Đế thích bấy giờ là Đức Phật Ca-diếp đó. Vị Chuyển luân Thánh vương là thân Ta đó. Này thiện nam! Ông phải biết, ái biệt ly như vậy thì rất là đau khổ. Này thiện nam! Đại Bồ-tát còn nhớ sự khổ về ái biệt ly như vậy của đời quá khứ, huống gì là Bồ-tát trụ ở kinh Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa mà chẳng quan sát sự khổ về ái biệt ly của đời hiện tại.

Này thiện nam! Sao gọi là Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn Đại Thừa, quan sát oán tắng hội khổ? Này thiện nam! Đại Bồ-tát này quan sát ở địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, trong loài người, trên cõi trời đều có oán tắng hội khổ như vậy. Ví như người quan sát lao ngục thấy trói buộc, giam giữ, cùm khóa, xiềng xích v.v… lấy làm khổ lớn. Đại Bồ-tát cũng như vậy, quan sát năm đường, thấy tất cả loài thọ sinh đều là oán ghét hợp hội rất khổ. Lại nữa, này thiện nam! Ví như có người thường sợ sự cùm khóa, xiềng xích của oán gia mà rời bỏ cha mẹ, vợ con, quyến thuộc, châu báu, sản nghiệp v.v… trốn chạy xa. Này thiện nam! Đại Bồ-tát cũng như vậy, kinh sợ sinh tử mà tu hành đầy đủ sáu pháp Ba-la-mật, vào Niết-bàn. Này Ca-diếp! Đó gọi là Bồ-tát tu hành kinh Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa, quan sát oán tắng hội khổ.

Này thiện nam! Sao gọi là Bồ-tát tu hành Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa, quan sát cầu bất đắc khổ? Cầu là cầu hết tất cả. Cầu hết có hai thứ, một là cầu pháp thiện, hai là cầu pháp bất thiện. Pháp thiện chưa được thì khổ. Pháp ác chưa lìa là khổ. Đó là lược nói khổ về năm ấm thịnh. Này Ca-diếp! Đó gọi là khổ đế.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như lời nói của Đức Phật thì nghĩa của khổ về năm ấm thịnh chẳng phải vậy. Vì sao? Như Phật thuở xưa bảo ông Thích-ma-nam: “Nếu sắc khổ thì tất cả chúng sinh đáng lẽ chẳng cầu sắc. Nếu có người cầu thì chẳng gọi là khổ”. Như Phật bảo các Tỳkheo: “Có ba thứ thọ là thọ khổ, thọ vui và thọ chẳng khổ chẳng vui”. Như Phật trước đã vì các Tỳ-kheo nói rằng, nếu có người có thể tu hành pháp thiện thì được thọ vui. Lại như Phật nói, ở trong pháp thiện có sáu thứ tiếp xúc hưởng thọ vui, như mắt thấy sắc đẹp thì đó gọi là vui, tai, mũi, lưỡi, than , ý nghĩ về pháp tốt cũng như vậy. Như Đức Phật đã nói kệ:

Trì giới thì được vui
Thân chẳng thọ các khổ
Ngủ nghỉ được bình yên
Thức dậy lòng hoan hỷ.
Mặc áo và ăn cơm
Tu tập và kinh hành
Một mình ở núi rừng
Như vậy là rất vui.
Luôn đối với chúng sinh
Ngày đêm tu lòng từ
Nhân đó thường an vui
Chẳng não hại người khác.
Vui thiểu dục, tri túc
Vui phân biệt đa văn
Không trước A-la-hán
Cũng gọi là hưởng vui.
Bồ-tát Ma-ha-tát
Đến bờ kia rốt cùng
Mọi việc đã làm xong
Đó gọi là rất vui.

Thưa Thế Tôn! Như lời nói trong các kinh thì hình tướng của an vui nghĩa nó là như vậy. Như lời Phật hôm nay thì làm sao để cùng với nghĩa này tương ứng?

Đức Phật bảo Bồ-tát Ca-diếp:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Ông có thể khéo léo hỏi Như Lai ý nghĩa này. Này thiện nam! Tất cả chúng sinh ở trong cái khổ ít mà trái lại tưởng là vui. Vậy nên lời nói của Ta hôm nay về khổ tướng cùng với lời nói cũ chẳng khác.

Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:

–Như lời nói của Phật, ở trong cái khổ ít về sinh tưởng vui thì cái khổ ít về lão, bệnh, tử, ái biệt ly, cầu bất đắc, oán tắng hội, năm ấm thịnh cũng nên có tưởng là vui. Thưa Thế Tôn! Sinh hạng hạ là ba đường ác, sinh đường trung là trong loài người, sinh hạng thượng là trên trời. Nếu lại có người hỏi như vầy: “Nếu đối với cái vui hạng hạ sinh ra tưởng khổ, đối với cái vui hạng trung sinh ra tưởng không khổ, đối với cái vui hạng thượng sinh ra tưởng vui thì phải đáp ra sao? Thưa Thế Tôn! Nếu trong cái khổ hạng hạ sinh ra tưởng vui thì con chưa thấy có người phải chịu một ngàn hình phạt mà ngay khi phạt lần đầu tiên đã sinh ra tưởng vui. Nhưng nếu chẳng sinh thì sao nói rằng, ở trong khổ hạng hạ mà sinh ra tưởng vui?

Đức Phật bảo Bồ-tát Ca-diếp:

–Đúng vậy! Đúng vậy! Đúng như lời ông nói. Do nghĩa này nên không có tưởng vui. Vì sao? Vì giống như người kia phải chịu một ngàn hình phạt mà khi đã chịu một lần rồi liền thoát được thì người đó bấy giờ liền sinh ra tưởng vui. Vậy ông phải biết, ở trong không vui vọng sinh ra tưởng vui.

Bồ-tát Ca-diếp nói:

–Bạch Thế Tôn! Người đó chẳng do một lần bị phạt mà sinh ra tưởng vui mà do thoát được nên sinh ra tưởng vui.

–Này Ca-diếp! Vậy nên lúc xưa Ta vì Thích-ma-nam nói rằng, có vui trong năm ấm là thật chẳng phải hư dối. Này Ca-diếp! Có ba thọ, ba khổ. Ba thọ là thọ lạc, thọ khổ, thọ chẳng khổ chẳng lạc. Ba khổ là khổ khổ, hành khổ, hoại khổ. Này thiện nam! Thọ khổ là ba khổ, đó là khổ khổ, hành khổ, hoại khổ. Còn hai thọ là hành khổ và hoại khổ. Này thiện nam! Do nhân duyên đó nên trong sinh tử thật có lạc thọ. Đại Bồ-tát vì tính của khổ lạc chẳng rời bỏ nhau nên nói rằng, tất cả đều khổ. Này thiện nam! Trong sinh tử thật không có vui mà chỉ chư Phật, Bồ-tát vì thuận theo thế gian nên nói rằng có vui.

Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Chư Phật, Bồ-tát nếu nói thuận theo thế tục thì tức là hư vọng chăng? Như lời nói của Phật, người tu hành thiện thì thọ quả báo vui, trì giới thì an lạc, thân chẳng thọ khổ cho đến mọi việc đã hoàn thành thì đó là rất vui. Như vậy việc nói hưởng vui của các kinh là hư dối chăng? Nếu là hư vọng thì chư Phật Thế Tôn từ lâu ở trong vô lượng trăm ngàn vạn ức vô số kiếp tu đạo Bồ-đề đã lìa khỏi vọng ngữ mà hôm nay nói lời nói đó, ý nghĩa ấy ra sao?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Như bài kệ nói về những thọ lạc ở trên tức là

căn bản của đạo Bồ-đề, cũng có thể nuôi lớn Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Do nghĩa này nên ở trong kinh trước nói về tướng lạc. Này thiện nam! Ví như cái cần có cho cuộc sống của thế gian có thể là nguyên nhân của sự vui nên gọi là vui. Đó là đắm say nữ sắc, uống rượu, thức ăn ngon, vị ngọt v.v… khi khát được nước, khi lạnh gặp lửa, quần áo, chuỗi ngọc, voi, ngựa, xe cộ, nô tỳ, đồng bộc, vàng, bạc, lưu ly, san hô, chân châu, kho tàng, lúa gạo v.v… những vật cần dùng của thế gian như vậy v.v… có thể là nguyên nhân của vui. Đó gọi là vui. Này thiện nam! Những vật như vậy cũng có thể sinh ra khổ. Do nữ nhân sinh ra khổ của nam tử: ưu sầu buồn khóc, thậm chí mất cả mạng sống. Nhân rượu, vị ngon cho đến kho tàng, lúa gạo cũng có thể khiến cho con người sinh ra ưu bi, khổ não lớn. Do nghĩa này nên tất cả đều khổ, không có tướng vui. Này thiện nam! Đại Bồ-tát đối với tám cái khổ này giải thoát khổ, không có khổ. Này thiện nam! Tất cả Thanh văn, Phật-bích-chi v.v… chẳng biết nguyên nhân của vui. Vì những người như vậy ở trong khổ hạng hạ nói có tướng của vui, chỉ có Bồ-tát trụ ở Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa mới có thể biết nhân của khổ, nhân của vui này.

*********

Này thiện nam! Đại Bồ-tát trụ ở Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa, quan sát Tập đế như thế nào? Này thiện nam! Đại Bồ-tát quan sát Tập đế này chính là nhân duyên của ấm. Cái gọi là Tập là trở lại ái nơi hữu. Ái có hai thứ, một là ái về thân mình, hai là ái những thứ cần dùng. Ái lại có hai thứ, chưa được năm dục thì chuyên tâm tìm cầu, đã cầu được rồi thì nắm giữ tham đắm. Ái lại có ba thứ là ái cõi Dục, ái cõi Sắc và ái cõi Vô sắc. Ái lại có ba thứ là ái nhân duyên nghiệp, ái nhân duyên phiền não, ái nhân duyên khổ. Người xuất gia có bốn thứ ái. Những gì là bốn? Đó là y phục, ẩm thực, ngọa cụ, thuốc thang. Ái lại có năm thứ là tham đắm năm ấm, tùy theo những thứ cần dùng, ái trước tất cả, phân biệt tính toán vô lượng vô biên. Này thiện nam! Ái có hai thứ, một là ái thiện, hai là ái bất thiện. Ái bất thiện là sự cầu mong của phàm phu ngu si. Ái pháp thiện là sự cầu mong của các Bồ-tát. Ái pháp thiện lại có hai thứ là bất thiện và thiện. Cầu Nhị thừa thì gọi là bất thiện. Cầu Đại thừa thì gọi là thiện. Này thiện nam! Ái của phàm phu thì gọi là Tập, chẳng gọi là Đế. Ái của Bồ-tát thì gọi là Thật đế, chẳng gọi là Tập. Vì sao? Vì độ chúng sinh nên mới thọ sinh chứ chẳng do ái mà thọ sinh.

Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như Phật Thế Tôn ở trong các kinh khác vì các chúng sinh mà nói nghiệp là nhân duyên, hoặc nói kiêu mạn, hoặc nói sáu xúc chạm, hoặc nói vô minh vì năm thịnh ấm mà tạo tác nhân duyên. Nay Thế Tôn vì nghĩa gì nói bốn Thánh đế chỉ dùng tánh của ái làm nhân của năm ấm?

Đức Phật khen Bồ-tát Ca-diếp:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Đúng như lời ông nói, các nhân duyên chẳng phải là chẳng phải nhân, nhưng chỉ có năm ấm là nhân duyên chủ yếu đối với ái. Này thiện nam! Ví như vị đại vương, nếu ra đi tuần du thì đại thần, quyến thuộc đều đi theo. Ái cũng như vậy, tùy theo phạm vi hoạt động của ái mà các kiết này v.v… cũng lại đi theo. Ví như áo có mồ hôi thì bụi bám vào, mà bám vào thì dính chắc. Ái cũng như vậy, tùy theo chỗ ở của ái mà nghiệp kiết bám chắc. Lại nữa, này thiện nam! Ví như đất ẩm thì hạt có thể mọc mầm; ái cũng như vậy, có thể nảy sinh mầm phiền não của tất cả nghiệp. Này thiện nam! Đại Bồ-tát trụ ở Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa, quan sát thâm sâu ái này thì thường có chín thứ, một là như nợ chưa hết, hai là như vợ là La-sát, ba là như cành hoa đẹp có rắn độc quấn quanh, bốn là như thức ăn chẳng ưa thích mà buộc phải ăn, năm là như dâm nữ, sáu là như hạt ma-la-ca, bảy là như thịt thối trong ung nhọt, tám là như gió mạnh, chín là như sao chổi.

Này thiện nam! Sao gọi là như nợ chưa hết? Ví như người nghèo cùng thiếu tiền của người khác, tuy muốn trả nhưng vẫn chưa hết, như bị trói trong ngục mà chẳng thoát được. Thanh văn, Duyên giác cũng như vậy, do có dư khí của ái tập nên chẳng thể thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này thiện nam! Đó gọi là như nợ chưa trả hết.

Này thiện nam! Sao gọi là như vợ là La-sát? Ví như có người cưới La-sát làm vợ, gái La-sát này hễ sinh ra con liền ăn con, ăn con đã hết lại ăn luôn cả chồng. Này thiện nam! Nữ La-sát ái cũng như vậy, theo các chúng sinh sinh ra con thiện căn, sinh ra rồi ăn thịt, con thiện căn đã hết, lại ăn luôn chúng sinh, khiến cho họ rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, chỉ trừ Bồ-tát. Đó gọi là như vợ là La-sát.

Này thiện nam! Sao gọi là như cành hoa đẹp có rắn độc quấn quanh? Ví như có người tính ưa thích hoa, chẳng thấy tai họa rắn độc trên cành hoa liền nắm lấy, nắm rồi bị rắn độc cắn, liền mạng chung. Tất cả phàm phu cũng như vậy, tham hoa năm dục, chẳng thấy tai họa của rắn độc ái mà vội nắm lấy, liền bị nọc độc của rắn ái mà mạng chung, đọa vào trong ba đường ác, chỉ trừ Bồ-tát. Đó gọi là như cành hoa đẹp có rắn độc quấn quanh.

Này thiện nam! Sao gọi là thức ăn khó tiêu mà gượng ăn? Ví như

có người đối với thức ăn khó tiêu mà gượng ăn, ăn rồi bị bệnh đau bụng mà chết. Món ăn ái cũng như vậy, chúng sinh trong năm đường do tham đắm mà ăn vào. Do nhân duyên này nên rơi vào ba đường ác, chỉ trừ Bồ-tát. Đó gọi là thức ăn chẳng tiêu hóa mà gượng ăn.

Này thiện nam! Sao gọi là như dâm nữ? Ví như người ngu cùng với dâm nữ thông dâm mà dâm nữ kia khéo làm đủ thứ nịnh hót, hiện bày thân mật để đoạt hết tiền tài sở hữu của người đó, tiền tài đã hết liền bị đuổi đi. Dâm nữ ái cũng như vậy, người ngu không trí cùng nó giao du. Dâm nữ ái này đoạt hết tất cả pháp thiện của người ấy, pháp thiện đã hết thì xua đuổi khiến cho rơi vào ba đường ác, chỉ trừ Bồ-tát.

Đó gọi là như dâm nữ.

Này thiện nam! Sao gọi là như hạt ma-lâu-ca? Ví như hạt malâu-ca, nếu chim ăn rồi theo phân rơi xuống đất, hoặc nhân gió thổi đến ở dưới cây ni-câu-la. Nó liền sinh trưởng, quấn quanh, trói buộc cây ni-câu-la khiến cho cây ấy chẳng tăng trưởng mà khô chết. Hạt ma-lâu-ca ái cũng như vậy, trói buộc pháp thiện của phàm phu chẳng cho tăng trưởng đi đến khô chết. Đã khô chết rồi thì sau khi mạng chung rơi vào ba đường ác, chỉ trừ Bồ-tát. Đó gọi là như hạt ma-lâu-ca.

Này thiện nam! Sao gọi là như thịt thối trong ung nhọt? Như người có ung nhọt lâu ngày thì thịt bị thối. Người ấy cần phải siêng năng hết lòng trị liệu, chớ sinh tâm bỏ phế. Nếu sinh lòng bỏ phế thì chỗ thịt lở lớn thêm, trùng lại sinh ra. Do nhân duyên này nên mạng chung. Ghẻ lở năm ấm của người phàm phu ngu si cũng như vậy, ái là thịt thối trong ấy, cần phải dốc lòng siêng trị thịt thối ái. Nếu chẳng trị liệu thì mạng chung liền rơi vào ba đường ác, chỉ trừ Bồ-tát. Đó gọi là như thịt thối trong ung nhọt.

Này thiện nam! Sao gọi là như gió mạnh? Ví như gió mạnh có thể san bằng núi gò, nhổ bật cả rễ sâu. Gió mạnh ái dục cũng như vậy, ở chỗ cha mẹ sinh tâm ác có thể nhổ bật gốc rễ Bồ-đề sâu chắc vô thượng như của bậc đại trí Xá-lợi-phất v.v…, chỉ trừ Bồ-tát. Đó gọi là như gió mạnh.

Này thiện nam! Sao gọi là như sao chổi? Ví như sao chổi xuất hiện dưới vòm trời thì tất cả dân chúng đói kém, bệnh tật, gầy gò v.v… đủ những khổ não. Sao chổi ái cũng như vậy, có thể đoạn diệt tất cả hạt giống thiện căn, khiến cho người phàm phu cô độc, khốn cùng, đói kém sinh ra bệnh phiền não, lưu chuyển trong sinh tử, chịu đủ thứ khổ, chỉ trừ Bồ-tát. Đó gọi là như sao chổi.

Này thiện nam! Đại Bồ-tát trụ ở Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa quan sát chín thứ ái kiết như vậy. Này thiện nam! Do nghĩa này nên các người phàm phu có khổ không có đế, Thanh văn, Duyên giác có khổ có khổ đế mà không có chân đế, các Bồ-tát v.v… hiểu rõ khổ, không khổ. Vậy nên không khổ mà có chân đế. Các phàm phu có tập không có đế, Thanh văn, Duyên giác có tập, có tập đế. Các Bồ-tát v.v… hiểu rõ tập, không có tập. Vậy nên không tập mà có chân đế. Thanh văn, Duyên giác có diệt chẳng phải chân. Đại Bồ-tát có diệt có chân đế. Thanh văn, Duyên giác có đạo chẳng phải chân. Đại Bồ-tát có đạo có chân đế.

Này thiện nam! Sao gọi là Đại Bồ-tát trụ ở Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa thấy diệt, thấy diệt đế? Đó là đoạn trừ tất cả phiền não. Nếu phiền não đoạn trừ thì gọi là thường. Diệt lửa phiền não thì gọi là tịch diệt. Phiền não diệt rồi thì được hưởng thọ lạc. Chư Phật, Bồ-tát cầu nhân duyên nên gọi là tịnh, lại chẳng thọ hai mươi lăm cõi nên gọi là xuất thế. Do xuất thế nên gọi là ngã. Đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc v.v… hoặc nam, hoặc nữ, hoặc sinh, trụ, diệt, hoặc khổ, hoặc vui, chẳng khổ chẳng vui, chẳng giữ lấy tướng mạo v.v… nên gọi là chân đế rốt ráo tịch diệt. Này thiện nam! Bồ-tát trụ ở Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa như thế mà quan sát diệt Thánh đế.

Này thiện nam! Sao gọi là Đại Bồ-tát trụ ở Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa, quan sát đạo Thánh đế? Ví như trong tối nhờ đèn mà thấy được vật lớn, nhỏ. Đại Bồ-tát cũng như vậy, trụ ở Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa, nhờ tám Thánh đạo mà thấy tất cả pháp. Đó là thường – vô thường, hữu vi – vô vi, chúng sinh – chẳng phải chúng sinh, vật – chẳng phải vật, khổ – vui, ngã – vô ngã, tịnh – bất tịnh, phiền não – chẳng phải phiền não, nghiệp – chẳng phải nghiệp, thật – chẳng thật, thừa – chẳng phải thừa, tri – vô tri, chủ đế – chẳng phải chủ đế, y chỉ – chẳng phải y chỉ, kiến – chẳng phải kiến, sắc – chẳng phải sắc, đạo – chẳng phải đạo, giải – chẳng phải giải. Này thiện nam! Bồ-tát trụ ở Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa mà quan sát đạo Thánh đế như thế.

Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nếu tám Thánh đạo là đạo Thánh đế thì nghĩa chẳng tương ứng. Vì sao? Vì Như Lai hoặc nói rằng lòng tin là đạo, có thể độ được các lậu. Hoặc có khi Như Lai nói, đạo là chẳng phóng dật. Chư Phật Thế Tôn chẳng phóng dật nên được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng là pháp trợ đạo của Bồ-tát. Hoặc có khi Như Lai nói, tinh tấn là đạo. Như Như Lai bảo A-nan, nếu có người có thể siêng tu tinh tấn thì được thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Hoặc có khi Như Lai nói, đạo là quán thân niệm xứ, nếu có người chuyên tâm tinh cần tu tập thân niệm xứ này thì được thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Hoặc có khi Đức Phật nói, chánh định là đạo, như Phật bảo Đại đức Đại Ca-diếp, phàm chánh định chân thật là đạo, chẳng phải chẳng chánh định là đạo. Nếu vào chánh định thì mới có thể tư duy sự sinh diệt của năm ấm, chẳng phải chẳng vào định mà có thể tư duy. Hoặc Phật nói, đối với một pháp, nếu người tu tập thì có thể tịnh chúng sinh, diệt trừ tất cả lo buồn khổ não, kiến lập được chánh pháp. Pháp đó gọi là niệm Phật Tam-muội. Hoặc Phật lại nói, tu tưởng về vô thường thì đó gọi là đạo. Như Phật bảo các Tỳ-kheo, có người có thể tu tưởng về vô thường thì có thể thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Hoặc Phật nói, ngồi một mình ở chỗ A-lan-nhã không tịch mà tư duy thì có thể mau chóng thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Hoặc có khi Phật nói, vì người diễn nói pháp thì đó gọi là đạo. Nếu nghe pháp rồi lưới nghi liền đoạn trừ mà lưới nghi đã đoạn trừ rồi thì thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Hoặc có khi Phật nói, trì giới là đạo, như Phật bảo Tôn giả A-nan, nếu có người tinh cần tu trì giới cấm thì người đó qua khỏi khổ lớn sinh tử. Hoặc có khi Phật nói, gần gũi bạn lành thì đó gọi là đạo, như Phật bảo Tôn giả Anan, nếu có người gần gũi bậc thiện tri thức thì an tịnh được giới. Nếu có chúng sinh có thể gần gũi Ta thì được phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Hoặc có khi Phật nói, tu từ là đạo. Người tu học từ thì đoạn trừ các phiền não, đạt chỗ chẳng động. Hoặc có khi Phật nói, trí tuệ là đạo. Như Phật thuở xưa vì Tỳ-kheo-ni Ba-xà-ba-đề nói: “Này chị em! Như các Thanh văn dùng dao trí tuệ có thể đoạn dứt các dòng lậu phiền não”. Hoặc có khi Phật nói, thí là đạo. Như thuở trước Phật bảo vua Ba-tư-nặc: “Này đại vương! Ông phải biết, Ta thuở xa xưa làm nhiều việc tuệ thí. Do nghĩa này nên ngày nay thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Bạch Thế Tôn! Nếu tám Thánh đạo là đạo đế thì như vậy các kinh điển há chẳng phải là hư vọng! Nếu những kinh đó chẳng phải là hư vọng thì vì duyên gì trong những kinh đó chẳng nói tám Thánh đạo là đạo Thánh đế? Nếu những kinh đó chẳng nói thì thuở xưa vì sao Như Lai lầm lẫn? Nhưng con nhất định biết các Đức Phật Như Lai từ lâu đã lìa sự lầm lẫn.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn khen Bồ-tát Ca-diếp:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Ông nay muốn biết bí mật trong kinh điển vi diệu Đại Thừa của Bồ-tát nên hỏi vấn đề đó. Này thiện nam! Đúng vậy, các kinh điển đều thuộc đạo đế. Này thiện nam! Như trước Ta đã nói, nếu có lòng tin là đạo, mà tin đạo như vậy là tin căn bản, là có thể trợ đạo Bồ-đề. Vậy nên lời nói của Ta không có lầm lẫn. Này thiện nam! Như Lai khéo biết vô lượng phương tiện, muốn hóa độ chúng sinh nên tạo tác đủ thứ pháp như vậy. Này thiện nam! Ví như vị lương y nhận biết nguyên nhân đủ thứ bệnh của các chúng sinh, rồi tùy theo bệnh của họ mà cho thuốc, cùng nói sự cấm kỵ của thuốc, chỉ có một thứ là nước thì chẳng ở trong lệ cấm. Hoặc cho uống nước gừng, hoặc nước cam thảo, hoặc nước tế tân, hoặc nước hắc thạch mật, hoặc nước a-ma-lặc, hoặc nước ni-bà-la, hoặc nước bát-trú-la, hoặc uống nước lạnh, hoặc uống nước nóng, hoặc nước bồ đào, hoặc nước an thạch lựu. Này thiện nam! Như vậy vị lương y giỏi biết đủ thứ thuốc trị bệnh của chúng sinh tuy có nhiều thứ cấm nhưng nước thì chẳng ở trong lệ đó. Như Lai cũng vậy, giỏi biết các phương tiện, nhưng đối với pháp tướng tùy theo các chúng sinh mà phân biệt rộng nói đủ thứ danh tướng. Những chúng sinh kia theo lời nói mà lãnh thọ, thọ rồi tu tập đoạn trừ phiền não, như người bệnh kia theo lời dạy của lương y nên bệnh được tiêu trừ. Lại nữa, này thiện nam! Như có người giỏi hiểu mọi thứ tiếng nói ở trong đại chúng. Đại chúng này bị sự bức bách bởi nóng khát, hoặc phát lên tiếng: “Ta muốn uống nước. Ta muốn uống nước”. Người đó tức thời dùng nước trong mát, tùy theo chủng loại của những người khát ấy mà nói: “Nước đây”, hoặc nói: “Bà-lợi”, hoặc nói: “Bà-gia”, hoặc nói: “Cam lồ”, hoặc nói: “Sữa bò”. Người đó dùng vô lượng tên của nước như vậy để nói cho đại chúng đó. Này thiện nam! Như Lai cũng vậy, dùng một Thánh đạo vì các Thanh văn diễn nói đủ thứ, từ tín căn v.v… đến tám Thánh đạo. Lại nữa, này thiện nam! Ví như người thợ vàng dùng một thứ vàng mà tùy ý tạo tác đủ thứ vàng, như là kẹp, khóa, vòng, xuyến thoa cài tóc, khoen tai, mão ấn tay v.v… Tuy có sự sai biệt chẳng đồng như vậy nhưng chẳng lìa vàng. Này thiện nam! Như Lai cũng vậy, dùng một Phật đạo tùy theo các chúng sinh phân biệt đủ thứ vì họ mà diễn nói. Hoặc nói một thứ, như là chư Phật một đạo không hai; hoặc lại nói hai thứ, như là định, tuệ; lại nói ba thứ, như là kiến, tuệ, trí; lại nói bốn thứ, như là kiến đạo, tu đạo, vô học đạo, Phật đạo; lại nói năm thứ, như là tín hành đạo, pháp hành đạo, tín giải thoát đạo, kiến đáo đạo, thân chứng đạo; lại nói sáu thứ, như là Tu-đà-hoàn đạo, Tư-đà-hàm đạo, A-na-hàm đạo, A-la-hán đạo, Phậtbích-chi đạo, Phật đạo; lại nói bảy thứ, như là niệm giác phần, trạch pháp giác phần, tinh tấn giác phần, hỷ giác phần, trừ giác phần, định giác phần, xả giác phần; lại nói tám thứ, đó là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định; lại nói chín thứ, đó là tám thánh đạo và tín; lại nói mười thứ, đó là mười lực; lại nói mười một thứ, đó là mười lực và đại từ; lại nói mười hai thứ, đó là mười lực và đại từ, đại bi; lại nói mười ba thứ, đó là mười lực, đại từ, đại bi và niệm Phật Tam-muội; lại nói mười sáu thứ, đó là mười lực, đại từ, đại bi, niệm Phật Tam-muội và ba chánh niệm xứ sở đắc của Phật; lại nói hai mươi đạo, đó là mười lực, bốn vô sở úy, đại từ, đại bi, niem Phật Tam-muội và ba chánh niệm xứ. Này thiện nam! Đạo này là một thể, Như Lai ngày xưa vì chúng sinh nên phân biệt đủ thứ. Lại nữa, này thiện nam! Ví như nhân từ một thứ lửa đốt cháy lên mà được đủ thứ tên, như là lửa cây, lửa cỏ, lửa trấu, lửa rơm, lửa phân trâu ngựa v.v… Này thiện nam! Phật đạo cũng vậy, chỉ một không hai, nhưng vì chúng sinh nên phân biệt đủ thứ. Lại nữa, này thiện nam! Ví như một thứ thức mà phân biệt nói thành sáu thứ: Nếu đến với mắt thì gọi là nhãn thức… cho đến ý thức cũng như vậy. Này thiện nam! Đạo cũng như vậy, chỉ một không hai, nhưng Như Lai vì giáo hóa các chúng sinh nên phân biệt ra đủ thứ. Lại nữa, này thiện nam! Ví như một sắc pháp mà mắt thấy thì gọi là sắc, tai nghe thì gọi là thanh, mũi ngửi thì gọi là hương, lưỡi nếm thì gọi là vị, thân biết thì gọi là xúc. Này thiện nam! Đạo cũng như vậy, chỉ một không hai, nhưng Như Lai vì muốn giáo hóa chúng sinh nên phân biệt ra đủ thứ. Này thiện nam! Do nghĩa này nên tám chánh đạo phận gọi là đạo Thánh đế. Này thiện nam! Bốn Thánh đế này chư Phật Thế Tôn theo thứ lớp mà nói. Do nhân duyên này nên vô lượng chúng sinh đã được ra khỏi sinh tử.

Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Một thuở trước đây, Phật ở trong rừng Thi Thủ bên bờ sông Hằng, bấy giờ, Như Lai lấy một ít lá cây rồi bảo các Tỳkheo: “Số lá cầm trong tay Ta hôm nay nhiều hay số lá của tất cả cây cỏ mọc trên đất nhiều?”. Các thầy Tỳ-kheo bạch: “Thưa Thế Tôn! Số lá của tất cả cây cỏ mọc trên đất nhiều chẳng thể kể xiết, còn số lá mà Như Lai nắm trong tay thì ít chẳng đáng kể”. “Này các Tỳ-kheo! Sự hiểu biết của Ta về tất cả pháp như những cỏ cây mọc khắp trên đất, nhưng những điều vì các chúng sinh tuyên nói thì như số lá nắm trong tay”. Bấy giờ, Thế Tôn nói lời như vậy là Ngài đã hiểu rõ vô lượng các pháp, nếu đã nhập vào bốn Thánh đế thì Thế Tôn đã nói, nếu chẳng vào thì cần có năm đế.

Đức Phật khen Bồ-tát Ca-diếp:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Điều hỏi của ông hôm nay có thể đem lại lợi ích an lạc cho vô lượng chúng sinh. Này thiện nam!

Như vậy các pháp đều đã tóm thâu trong bốn Thánh đế.

Bồ-tát Ca-diếp lại bạch Phật:

–Những pháp như vậy nếu ở trong bốn Thánh đế thì vì sao Như Lai xướng rằng, chẳng nói?

Đức Phật nói:

–Này thiện nam! Tuy tóm thâu trong đó nhưng vẫn không gọi là nói. Vì sao? Này thiện nam! Vì biết bốn Thánh đế có hai thứ trí, một là trung trí, hai là thượng trí. Trung trí là trí của Thanh văn, Duyên giác. Thượng trí là trí của chư Phật, Bồ-tát. Này thiện nam! Biết các ấm là khổ thì gọi là trung trí. Phân biệt các ấm có vô lượng tướng, đều là các khổ thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh văn, Duyên giác mà đó là thượng trí. Này thiện nam! Những nghĩa như vậy, đối với các kinh khác Ta hoàn toàn chẳng nói đến. Này thiện nam! Biết các nhập thì gọi là môn, cũng gọi là khổ, đó gọi là trung trí. Phân biệt các nhập có vô lượng tướng đều là khổ thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh văn, Duyên giác mà đó là thượng trí. Những nghĩa như vậy, đối với các kinh khác Ta cũng chưa nói đến. Này thiện nam! Biết các giới thì gọi là phần, cũng gọi là tánh, cũng gọi là khổ, đó gọi là trung trí. Phân biệt các giới có vô lượng tướng đều là các khổ thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh văn, Duyên giác mà đó là thượng trí. Những nghĩa như vậy, Ta đối với những kinh khác cũng chẳng nói đến. Này thiện nam! Biết tướng hoại của sắc thì gọi là trung trí. Phân biệt các sắc có vô lượng tướng đều là các khổ thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh văn, Duyên giác mà đó là thượng trí. Những nghĩa như vậy, đối với kinh khác Ta cũng chẳng nói đến. Này thiện nam! Biết tướng cảm giác của thọ thì gọi là trung trí. Phân biệt các thọ có vô lượng tướng cảm giác thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh văn, Duyên giác mà đó là thượng trí. Những nghĩa như vậy, đối với các kinh khác Ta cũng chẳng nói đến. Này thiện nam! Biết tướng thủ của tưởng thì gọi là trung trí. Phân biệt tướng đó có vô lượng tướng thủ thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh văn, Duyên giác mà đó là thượng trí. Những nghĩa như vậy, đối với các kinh khác Ta cũng chẳng nói đến. Này thiện nam! Biết tướng tạo tác của hành thì gọi là trung trí. Phân biệt hành này có vô lượng tướng tạo tác thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh văn, Duyên giác mà đó là thượng trí. Những nghĩa như vậy, đối với các kinh khác Ta cũng chẳng nói đến. Này thiện nam! Biết tướng phân biệt của thức thì gọi là trung trí. Phân biệt thức đó có vô lượng tướng biết thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh văn, Duyên giác mà đó là thượng trí. Những nghĩa như vậy, đối với các kinh khác Ta cũng chẳng nói đến. Này thiện nam! Biết nhân duyên của ái có thể sinh ra năm ấm thì gọi là trung trí. Một người khởi lên vô lượng vô biên ái thì Thanh văn, Duyên giác chẳng thể biết. Nếu có thể biết hết các ái mà tất cả chúng sinh đã khởi lên như vậy thì gọi là thượng trí. Những nghĩa như vậy, đối với các kinh khác Ta cũng chẳng nói đến. Này thiện nam! Biết diệt phiền não thì gọi là trung trí. Phân biệt phiền não chẳng thể xưng kể và diệt cũng như vậy, chẳng thể xưng kể thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh văn, Duyên giác mà đó là thượng trí. Những nghĩa như vậy, đối với các kinh khác Ta cũng chẳng nói đến. Này thiện nam! Biết tướng của đạo đó có thể lìa khỏi phiền não thì gọi là trung trí. Phân biệt tướng đạo có vô lượng vô biên và sự xa lìa phiền não cũng vô lượng vô biên thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh văn, Duyên giác mà đó là thượng trí. Những nghĩa như vậy, đối với các kinh khác Ta cũng chẳng nói đến. Này thiện nam! Biết thế đế thì gọi là trung trí. Phân biệt thế đế vô lượng vô biên chẳng thể xưng kể thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh văn, Duyên giác mà đó là thượng trí. Những nghĩa như vậy, đối với các kinh khác Ta cũng chẳng nói đến. Này thiện nam! Biết tất cả hành vô thường, các pháp vô ngã, Niết-bàn tịch diệt là đệ nhất nghĩa thì gọi là trung trí. Biết đệ nhất nghĩa vô lượng vô biên chẳng thể xưng kể thì chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh văn, Duyên giác mà đó là thượng trí. Những nghĩa như vậy đối với các kinh khác Ta cũng chẳng nói đến.

Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Thế Tôn đã nói về thế đế, đệ nhất nghĩa đế thì nghĩa ấy ra sao? Thưa Thế Tôn! Trong đệ nhất nghĩa có thế đế không? Trong thế đế có đệ nhất nghĩa không? Như trong ấy có thì tức là nhất đế. Như trong ấy không có thì lời nói của Như Lai chẳng phải là hư dối sao?

–Này thiện nam! Thế đế tức là đệ nhất nghĩa đế.

–Thưa Thế Tôn! Nếu vậy thì không có hai đế.

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Có phương tiện khéo thuận theo chúng sinh thì nói có hai đế. Này thiện nam! Nếu tùy thuận mà nói thì có hai thứ, một là pháp thế gian, hai là pháp xuất thế gian. Này thiện nam! Như pháp mà người xuất thế biết thì gọi là đệ nhất nghĩa đế, mà của người đời biết thì gọi là thế đế. Này thiện nam! Năm ấm hòa hợp thì với danh xưng gì đó. Phàm phu chúng sinh theo danh xưng ấy thì đó là thế đế. Hiểu rõ các ấm không có tên gọi gì hết, lìa khỏi các ấm cũng không có tên gọi gì hết. Người xuất thế có thể biết đúng như tánh tướng của nó thì gọi là đệ nhất nghĩa đế. Lại nữa, này thiện nam! Hoặc lại có pháp có tên có thật, hoặc lại có pháp có tên không thật. Này thiện nam!

Pháp có tên không thật tức là thế đế, pháp có tên có thật thì đó là đệ nhất nghĩa đế. Này thiện nam! Như ngã, chúng sinh, thọ mạng, tri kiến, dưỡng dục, trượng phu, tác giả, thọ giả, ánh nước khi nóng, ảo thành, lông rùa, sừng thỏ, vòng lửa xoay, các ấm, giới, nhập v.v… thì gọi là thế đế. Khổ, tập, diệt, đạo gọi là đệ nhất nghĩa đế. Này thiện nam! Thế pháp có năm thứ, một là danh thế, hai là cú thế, ba là phược thế, bốn là pháp thế, năm là chấp trước thế. Này thiện nam! Sao gọi là danh thế? Trai, gái, bình, áo, xe cộ, nhà cửa v.v… những vật như vậy thì đó gọi là danh thế. Sao gọi là cú thế? Một bài kệ bốn câu. Những bài kệ như vậy v.v… thì gọi là cú thế. Sao gọi là phược thế? Vén cuốn, hợp lại, ràng buộc, câu kết, trói buộc, chấp tay v.v… đó gọi là phược thế. Sao gọi là pháp thế? Như đánh chùy tập họp Tăng, tiếng trống nghiêm răn bảo binh sĩ, thổi tù và báo biết thời gian v.v… đó gọi là pháp thế. Sao gọi là chấp trước thế? Như trông xa thấy có người mặc nhiễm y thì sinh tư tưởng chấp trước rằng, chính là Sa-môn, chẳng phải là Bà-la-môn. Thấy người có dây bện đeo ngang trên thân thì liền sinh ý niệm: chính là Bà-la-môn, chẳng phải Sa-môn. Đó gọi là chấp trước thế. Này thiện nam! Như vậy gọi là năm thứ pháp thế. Này thiện nam! Nếu có chúng sinh đối với năm thứ pháp thế như vậy mà lòng không điên đảo, biết đúng như thật thì đó gọi là đệ nhất nghĩa đế. Lại nữa, này thiện nam! Hoặc đốt, hoặc cắt, hoặc chết, hoặc hoại v.v… thì đó gọi là thế đế. Không đốt, không cắt, không chết, không hoại v.v… thì đó gọi là đệ nhất nghĩa đế. Lại nữa, này thiện nam! Có tám tướng khổ gọi là thế đế. Không sinh, không già, không bệnh, không chết, không ái biệt ly, không oán tắng hội, không cầu bất đắc, không năm ấm thinh thì gọi là đệ nhất nghĩa đế. Lại nữa, này thiện nam! Ví như mỗi người có nhiều khả năng, nếu khi người ấy chạy thì gọi là người chạy, nếu khi người ấy cắt cỏ thì lại gọi là người cắt cỏ, nếu người ấy làm thức ăn uống thì gọi là người nấu ăn, nếu người ấy chế tác gỗ cây thì gọi là thợ mộc, khi luyện vàng bạc thì gọi là thợ vàng bạc. Như vậy một người có nhiều tên gọi, pháp cũng như vậy, kỳ thật là một mà có nhiều tên. Nương nhân cha mẹ hòa hợp mà sinh ra thì gọi là thế đế. Do mười hai nhân duyên hòa hợp mà sinh ra thì gọi là đệ nhất nghĩa đế.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Cái gọi là thật đế thì nghĩa ấy thế nào?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Nói thật đế thì đó là chân pháp. Này thiện nam! Nếu pháp chẳng phải chân thật thì chẳng gọi là chân đế. Này thiện nam! Thật đế thì không điên đảo mà không điên đảo thì mới gọi là thật đế. Này thiện nam! Thật đế thì không có hư vọng. Nếu có hư vọng thì chẳng gọi là thật đế. Này thiện nam! Thật đế thì đó là Đại thừa. Chẳng phải Đại thừa thì chẳng gọi là thật đế. Này thiện nam! Thật đế là lời nói của Phật, chẳng phải là lời nói của ma. Nếu là lời nói của ma, chẳng phải là lời nói của Phật thì chẳng gọi là Thật đế. Này thiện nam! Thật đế là một đạo thanh tịnh, không có hai. Này thiện nam! Có thường, có lạc, có ngã, có tịnh thì đó gọi là nghĩa của Thật đế.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nếu lấy chân thật làm thật đế thì pháp chân thật tức là Như Lai, hư không, Phật tánh. Nếu như vậy thì Như Lai, hư không cùng với Phật tánh không có sai biệt.

Đức Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Có khổ có đế có thật, có tập có đế có thật, có diệt có đế có thật, có đạo có đế có thật. Này thiện nam! Như Lai chẳng phải khổ, chẳng phải đế mà là thật. Hư không chẳng phải khổ, chẳng phải đế mà là thật. Phật tánh chẳng phải khổ, chẳng phải đế mà là thật. Này Văn-thùsư-lợi! Cái gọi là khổ là tướng vô thường, là tướng có thể đoạn. Đó là thật đế. Tánh của Như Lai chẳng phải khổ, chẳng phải vô thường, chẳng phải tướng có thể đoạn. Vậy nên Như Lai là thật. Hư không, Phật tánh cũng như vậy. Lại nữa, này thiện nam! Cái gọi là tập đế là có thể khiến cho năm ấm hòa hợp mà sinh ra, cũng gọi là khổ, cũng gọi là vô thường, là tướng có thể đoạn. Đó là thật tướng. Này thiện nam! Như Lai chẳng phải là tánh tập, chẳng phải là nhân ấm, chẳng phải tướng có thể đoạn. Vậy nên Như Lai là thật. Hư không, Phật tánh cũng như vậy. Này thiện nam! Cái gọi là diệt là phiền não diệt, cũng thường và vô thường. Sở đắc của Nhị thừa gọi là vô thường. Sở đắc của chư Phật thì gọi là thường, cũng gọi là chứng pháp. Đó là thật đế. Này thiện nam! Tánh của Như Lai chẳng gọi là diệt, có thể diệt phiền não, chẳng phải thường, vô thường, chẳng gọi là chứng biết, thường trụ không biến đổi. Vậy nên Như Lai là thật. Hư không, Phật tánh cũng như vậy. Này thiện nam! Đạo có thể đoạn phiền não, cũng thường, vô thường, là pháp có thể tu. Đó gọi là thật đế. Như Lai chẳng phải đạo có thể đoạn phiền não, chẳng phải thường, vô thường, chẳng phải pháp có thể tu mà thường trụ bất biến. Vậy nên là thật. Hư không, Phật tánh cũng như vậy. Lại nữa, này thiện nam! Nói rằng chân thật tức là Như Lai. Như Lai tức là chân thật. Chân thật tức là hư không. Hư không tức là Chân thật. Chân thật tức là Phật tánh. Phật tánh tức là Chân thật. Này Vănthù-sư-lợi! Có khổ thì có nhân của khổ, có sự hết khổ, có sự đối trị của khổ mà Như Lai chẳng phải khổ… chẳng phải là đối trị của khổ. Vậy nên Như Lai là thật, chẳng gọi là đế. Hư không, Phật tánh cũng như vậy. Khổ là hữu vi, hữu lậu, không vui còn Như Lai chẳng phải hữu vi, chẳng phải hữu lậu, rỗng suốt an vui, là thật chẳng phải là đế.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như lời nói của Phật, chẳng điên đảo thì gọi là thật đế. Nếu như vậy thì trong bốn đế có bốn điên đảo chăng? Trong đó nếu có thì tại sao nói không có điên đảo, gọi là thật đế, còn tất cả điên đảo thì chẳng gọi là thật?

Đức Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Tất cả điên đảo đều đưa đến khổ đế. Như tất cả chúng sinh có lòng điên đảo thì gọi là điên đảo. Này thiện nam! Ví như có người chẳng nghe lời dạy bảo của cha mẹ, bậc tôn trưởng, hay tuy có nghe mà chẳng thể thuận làm theo thì người như vậy gọi là điên đảo. Như vậy điên đảo chẳng phải là chẳng khổ mà tức là khổ.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:

–Như lời Phật nói, chẳng hư vọng tức là thật đế. Nếu vậy thì phải biết hư vọng chẳng phải thật đế.

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Tất cả hư vọng đều đưa đến khổ đế. Như có chúng sinh lừa dối người khác. Do nhân duyên này nên đọa vào địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ. Những pháp như vậy v.v… thì gọi là hư vọng. Như vậy hư vọng chẳng phải là chẳng khổ mà tức là khổ. Thanh văn, Duyên giác, chư Phật Thế Tôn xa lìa những hành động đó nên chẳng gọi là hư vọng. Như vậy hư vọng là đối tượng đoạn trừ của các Đức Phật và hàng Nhị thừa nên gọi là thật đế.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:

–Như lời Phật nói, Đại thừa là thật đế, thì nên biết Thanh văn, Phật-bích-chi thừa là chẳng thật.

Đức Phật dạy:

–Này Văn-thù-sư-lợi! Hàng Nhị thừa kia là thật cũng chẳng thật. Thanh văn, Duyên giác đoạn các phiền não thì gọi là thật. Vô thường chẳng thường trụ là pháp biến dịch thì đó gọi là chẳng thật.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:

–Như lời Phật nói, nếu lời nói của Phật gọi là thật thì nên biết lời nói của ma là chẳng thật. Thưa Thế Tôn! Như lời nói của ma thì có thuộc về Thánh đế không?

Đức Phật dạy:

–Này Văn-thù-sư-lợi! Lời nói của ma thì thuộc về hai đế là khổ và tập. Phàm là tất cả sự phi pháp, phi luật chẳng thể làm cho con người được lợi ích, dù cho trọn ngày tuyên nói cũng không có người thấy khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo, thì đó gọi là hư vọng. Như vậy hư vọng thì gọi là lời nói của ma.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói:

–Như lời Phật nói, một đạo thanh tịnh, không có hai. Những ngoại đạo v.v… cũng lại nói: “Ta có một đạo thanh tịnh, không có hai”. Nếu nói rằng một đạo là thật đế thì cùng với ngoại đạo kia có gì sai biệt? Nếu không sai biệt thì chẳng nên nói rằng, một đạo thanh tịnh.

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Các ngoại đạo v.v… có khổ đế, tập đế, không có diệt đế và đạo đế. Chúng ở trong cái chẳng phải diệt mà sinh ra tưởng về diệt, ở trong cái chẳng phải đạo mà sinh ra tưởng về đạo, ở trong cái chẳng phải quả mà sinh ra tưởng về quả, ở trong cái chẳng phải nhân mà sinh ra tưởng về nhân. Do nghĩa này nên ngoại đạo kia không có một đạo thanh tịnh không hai.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Như lời Phật nói, có thường, có lạc, có ngã, có tịnh là thật nghĩa thì các ngoại đạo v.v… nên có thật đế, trong pháp Phật thì không. Vì sao? Vì những hạng ngoại đạo cũng lại nói rằng, các hành là thường.

Sao gọi là thường? Vừa ý hay chẳng vừa ý thì các nghiệp báo đều phải thọ nhận, chẳng mất. Vừa ý là quả báo của mười thiện, chẳng vừa ý là quả báo của mười điều bất thiện. Nếu nói rằng, các hành đều vô thường mà người tạo nghiệp ở đây đã diệt thì còn ai để thọ quả báo? Do nghĩa này nên các hành là thường, nhân duyên sát sinh gọi là thường. Bạch Thế Tôn! Nếu nói rằng, các hành đều là vô thường thì người giết và đối tượng bị giết cả hai đều vô thường. Nếu vô thường thì ai ở địa ngục mà thọ tội báo. Nếu nói rằng, nhất định có người thọ báo ở địa ngục thì phải biết các hành thật chẳng phải vô thường. Thưa Thế Tôn! Buộc lòng chuyên niệm cũng gọi là thường như là điều nghĩ ngợi mười năm cho đến trăm năm cũng chẳng quên mất. Vậy nên đó là thường. Nếu vô thường thì việc thấy trước kia ai nhớ? Ai nghĩ? Do nghĩa này nên tất cả các hành chẳng phải là vô thường. Bạch Thế Tôn! Tất cả sự nhớ tưởng cũng gọi là thường. Có người lúc trước nhìn thấy các tướng chân, tay, đầu, cổ v.v… của người khác thì về sau nếu gặp liền nhớ biết lại người đó. Nếu vô thường thì tướng cũ nên diệt đi. Thưa Thế Tôn! Những nghiệp đã làm do tu tập lâu, hoặc mới theo học, hoặc trải qua ba năm hay trải qua năm năm v.v… rồi sau đó mới hiểu biết hoàn toàn nên gọi là thường. Bạch Thế Tôn! Pháp tính toán, từ một đến hai, từ hai đến ba cho đến trăm ngàn. Nếu vô thường thì số một ban đầu nên diệt mà số một ban đầu nếu diệt thì cái gì lại đến hai? Như vậy là chỉ thường có một, không bao giờ có số hai. Do một chẳng diệt nên được đến hai cho đến trăm ngàn. Vậy nên gọi là thường. Thưa Thế Tôn! Như phép đọc tụng, tụng một A-hàm, đến hai A-hàm cho đến ba, bốn A-hàm. Như A-hàm ấy vô thường thì việc đọc tụng nhất định chẳng đến bốn. Do nhân duyên tăng trưởng việc đọc tụng đó nên gọi là thường. Thưa Thế Tôn! Bình, áo, xe cộ v.v… như người mắc nợ, hình tướng đất đai, núi, sông, cây, rừng, thảo dược, lá cây mà chúng sinh trị bệnh đều là thường cũng như vậy. Thưa Thế Tôn! Tất cả ngoại đạo đều nói lời này: “Các hành là thường”. Nếu đó là thường thì tức là thật đế. Thưa Thế Tôn! Có các ngoại đạo lại nói: “Có lạc”. Làm sao mà biết? Người thọ quả báo nhất định được vừa ý. Thưa Thế Tôn! Phàm người thọ lạc nhất định được sự an vui đó. Đó là vua trời Đại Phạm, trời Đại Tự Tại, Thích-đề-hoàn-nhân, trời Tỳ-nựu và những người, trời khác. Do nghĩa này nên nhất định có lạc. Thưa Thế Tôn! Có các ngoại đạo nói: “Có lạc” có thể khiến cho chúng sinh sinh ra cầu mong, người đói cầu ăn, người khát cầu uống, người lạnh cầu ấm, người nóng cầu mát, người mệt nhọc cầu nghỉ ngơi, người bệnh cầu khỏi bệnh, người tham dục cầu sắc v.v… Nếu không có lạc thì những người kia vì nhân duyên gì mà cầu? Do có người cầu nên biết là có lạc. Bạch Thế Tôn! Có các ngoại đạo lại nói: “Bố thí có thể được lạc. Người thế gian ưa bố thí cho Sa-môn, các Bà-la-môn, người bần cùng khốn khổ quần áo, thức ăn, thức uống, ngọa cụ, thuốc chữa bệnh, voi, ngựa, xe cộ, hương bột, hương xoa, mọi thứ hoa, nhà cửa, chỗ ở, đèn sáng v.v… Họ ban cho đủ thứ như vậy v.v… là để cho đời sau của mình thọ được quả báo vừa ý. Vậy nên phải biết là nhất định có lạc”. Bạch Thế Tôn! Có các ngoại đạo lại nói: “Do nhân duyên nên phải biết là có lạc. Như là người thọ lạc thì có nhân duyên nên gọi là lạc xúc. Nếu người không có lạc thì làm sao được nhân duyên. Như không có sừng thỏ thì không có nhân duyên. Có nhân duyên của lạc thì biết là có lạc”. Thưa Thế Tôn! Có các ngoại đạo lại nói: “Thọ lạc có thượng, trung, hạ nên phải biết là có lạc. Thọ lạc cấp thấp là Thích-đề-hoàn-nhân. Thọ lạc cấp trung là vua trời Đại Phạm. Thọ lạc cấp cao là trời Đại Tự Tại. Do có thượng, trung, hạ như vậy nên phải biết là có lạc”. Bạch Thế Tôn! Có các ngoại đạo lại nói: “Có tịnh. Vì sao? Nếu không có tịnh thì chẳng nên khởi dục, mà nếu khởi dục thì phải biết là có tịnh”. Họ lại nói: “Vàng, bạc, châu báu, lưu ly, pha lê, xa cừ, mã não, san hô, chân châu, bích ngọc, kha bối, suối chảy, ao tắm, thức ăn, thức uống, quần áo, hoa hương, hương bột, hương xoa, ánh sáng đèn đuốc v.v… những vật như vậy đều là pháp tịnh. Lại nữa, có tịnh. Nghĩa là năm ấm là đồ tịnh chứa đựng các tịnh vật như là trời, người, các tiên, A-la-hán, Phật-bích-chi, Bồ-tát, chư Phật. Do nghĩa này nên gọi năm ấm đó là tịnh”. Thưa Thế Tôn! Có các ngoại đạo lại nói: “Có ngã. Vì có sự nhìn thấy thì có thể tạo tác. Ví như có người vào nhà của người thợ gốm, tuy chẳng thấy thân người thợ gốm nhưng vì thấy bánh xe, sợi dây nên nhất định biết nhà ấy là nhà của người thợ gốm. Ngã cũng như vậy, mắt thấy sắc rồi thì nhất định biết có ngã. Nếu không có ngã thì ai có thể thấy sắc; nghe tiếng cho đến xúc pháp cũng như vậy. Lại nữa, làm sao biết được có ngã? Nhân tướng nên biết, những gì là tướng? Hít thở, nhìn ngắm, thọ mạng, dấy tâm, thọ các khổ vui, tham cầu, sân hận v.v… những pháp như vậy đều là tướng của ngã. Vậy nên biết là nhất định có ngã. Lại nữa, có ngã thì có thể phân biệt vị. Có người ăn trái cây, mới nhìn thấy đã biết vị. Vậy nên phải biết nhất định là có ngã. Lại nữa, làm sao biết có ngã? Do nghề nghiệp chấp tác. Cầm liềm có thể cắt cỏ, cầm búa có thể bửa củi, cầm bình thì đựng nước, cầm xe thì có thể điều khiển v.v… những việc như vậy thì ngã có thể chấp tác. Vậy nên phải biết nhất định là có ngã. Lại nữa, làm sao biết có ngã? Ngay lúc sinh ra là muốn được bú sữa, là do tập khí đời trước. Do đó phải biết nhất định là có ngã. Lại nữa, làm sao biết có ngã? Hòa hợp lợi ích cho chúng sinh khác. Ví như bình, quần áo, xe cộ, ruộng, nhà, núi rừng, cây cối, voi, ngựa, trâu, dê v.v… Những vật như vậy nếu hòa hợp thì có lợi ích. Năm ấm bên trong này cũng như vậy, mắt v.v… các căn có hòa hợp thì tạo lợi ích cho ngã. Vậy phải biết nhất định là có ngã. Lại nữa, làm sao biết có ngã? Vì có pháp ngăn ngại. Như có vật thì có sự ngăn ngại, nếu vật không có thì không có ngăn ngại. Nếu có ngăn ngại thì biết là có ngã. Vậy nên phải biết nhất định là có ngã. Lại nữa, làm sao biết có ngã? Bạn – chẳng phải bạn, thân – chẳng phải thân cũng chẳng phải là bạn bè, chánh pháp – tà pháp cũng chẳng phải là bạn bè, trí cùng chẳng phải trí cũng chẳng phải bạn bè, Sa-môn – chẳng phải Sa-môn, Bà-la-môn – chẳng phải Bà-la-môn, con – chẳng phải con, ngày – chẳng phải ngày, đêm – chẳng phải đêm, ngã – chẳng phải ngã v.v… những pháp như vậy là bạn, chẳng phải bạn. Vậy nên phải biết nhất định là có ngã”. Bạch Thế Tôn! Những ngoại đạo v.v… đã bằng đủ cách để nói lên có thường, lạc, ngã, tịnh thì phải biết nhất định là có thường, lạc, ngã, tịnh. Thưa Thế Tôn! Do nghĩa này nên các ngoại đạo v.v… cũng có thể nói: “Ngã có chân đế”.

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn có thường, có lạc, có ngã, có tịnh thì đó chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn. Vì sao? Vì mê ở sinh tử xa lìa bậc đại Đạo sư Nhất thiết trí. Những Samôn, Bà-la-môn như thế đắm chìm trong các dục, pháp thiện tổn hao. Những ngoại đạo này bị sự trói buộc tại ngục tù tham dục, sân hận, ngu si mà vẫn cam chịu, yêu thích. Những ngoại đạo này tuy biết nghiệp quả, mình làm mình chịu nhưng mà còn chẳng thể xa lìa pháp ác. Những ngoại đạo này chẳng phải là tự sống bằng chánh pháp, chánh mạng. Vì sao? Vì không có lửa trí tuệ nên chẳng thể tiêu trừ. Những ngoại đạo này tuy tham đắm năm dục thượng diệu nhưng nghèo nàn pháp thiện, chẳng siêng tu tập. Những ngoại đạo này tuy muốn đi đến trong chánh giải thoát mà việc trì giới hoàn toàn chẳng thành tựu. Những ngoại đạo này tuy muốn cầu lạc mà chẳng thể cầu nhân duyên của lạc. Những ngoại đạo này tuy rất ghét tất cả những khổ nhưng hành động của họ chưa có thể xa lìa những nhân duyên của khổ. Những ngoại đạo này tuy bị sự trói buộc của rắn độc bốn đại nhưng còn hành động buông lung, chẳng thể cẩn thận. Những ngoại đạo này bị sự che phủ của vô minh, xa lìa bạn lành, ưa ơ trong lửa lớn vô thường rực cháy của ba cõi mà chẳng thể ra khỏi. Những ngoại đạo này gặp những bệnh phiền não khó khỏi mà lại chẳng cầu bậc lương y đại trí. Những ngoại đạo này vào đời vị lai sẽ phải lặn lội trên đường xa xôi, nguy hiểm vô biên mà chẳng biết dùng vốn liếng pháp thiện để tự trang nghiêm. Những ngoại đạo này thường bị tai họa thâm độc của dâm dục làm hại mà ngược lại còn ôm giữ rương chất độc năm dục. Những ngoại đạo này sân hận hừng hực mà lại gần gũi bạn ác. Những ngoại đạo này thường bị vô minh che phủ mà lại còn tìm kiếm pháp tà ác. Những ngoại đạo này thường bị tà kiến lừa dối mê hoặc mà lại còn ở trong đó sinh ra tư tưởng thân thiện. Những ngoại đạo này mong được ăn trái ngọt mà lại trồng hạt đắng. Những ngoại đạo này ở trong nhà tối phiền não mà lại xa lìa ánh sáng của ngọn đuốc đại trí. Những ngoại đạo này bị bệnh khát phiền não mà lại uống nước mặn các dục. Những ngoại đạo này chìm nổi trong dòng sông lớn sinh tử vô biên mà lại xa lìa người lái thuyền vô thượng. Những ngoại đạo này mê hoặc, điên đảo nói rằng các hành là thường. Các hành nếu là thường là không có điều đó.

**********

Này thiện nam! Ta xem các hành đều là vô thường. Làm sao biết được? Vì do nhân duyên. Nếu có các pháp từ nhân duyên sinh ra thì biết là vô thường. Các ngoại đạo đó không có một pháp nào mà chẳng từ nhân duyên sinh. Này thiện nam! Phật tánh không sinh, không diệt, không đi, không lại, chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại, chẳng phải do tạo tác, chẳng phải không do tạo tác, chẳng phải tạo tác, chẳng phải tác giả, chẳng phải tướng, chẳng phải vô tướng, chẳng phải có danh, chẳng phải không danh, chẳng phải danh, chẳng phải sắc, chẳng phải dài, chẳng phải ngắn, chẳng phải sự thâu giữ của ấm, giới, nhập. Vậy nên gọi là thường. Này thiện nam! Phật tánh tức là Như Lai, Như Lai tức là pháp, pháp tức là thường. Này thiện nam! Thường tức là Như Lai, Như Lai tức là Tăng, Tăng tức là thường. Do nghĩa này nên pháp từ nhân duyên sinh chẳng gọi là thường. Các ngoại đạo này không có một pháp nào mà chẳng từ nhân duyên sinh. Này thiện nam! Những ngoại đạo này chẳng thấy Phật tánh, Như Lai và Pháp. Vậy nên lời nói của ngoại đạo này đều là nói dối, không có chân đế. Những người phàm phu trước thấy bình, quần áo, xe cộ, nhà cửa, thành quách, sông nước, núi rừng, nam nữ, voi ngựa, trâu dê v.v… rồi sau thấy tương tự thì liền nói rằng thường. Phải biết thật ra những cái ấy chẳng phải là thường. Này thiện nam! Tất cả hữu vi đều là vô thường. Hư không thì vô vi, vậy nên là thường. Phật tánh thì vô vi, vậy nên là thường. Hư không tức là Phật tánh, Phật tánh tức là Như Lai, Như Lai tức là vô vi, vô vi tức là thường. Này thiện nam! Pháp hữu vi gồm có hai thứ là sắc pháp và phi sắc pháp. Phi sắc pháp là tâm, tâm số pháp. Sắc pháp là đất, nước, gió, lửa. Này thiện nam! Tâm gọi là vô thường. Vì sao? Vì tánh của nó vin vào duyên mà tương ứng, phân biệt. Này thiện nam! Tánh nhãn thức khác cho đến tánh ý thức khác. Vậy nên vô thường. Này thiện nam! Cảnh giới của sắc khác cho đến cảnh giới của pháp khác. Vậy nên vô thường. Này thiện nam! Tương ứng của nhãn thức khác cho đến tương ứng của ý thức khác. Vậy nên vô thường. Này thiện nam! Tâm nếu thường thì nhãn thức đáng lẽ duyên với tất cả các pháp. Này thiện nam! Nếu nhãn thức khác cho đến ý thức khác thì biết là vô thường. Do pháp tương tự mà từng niệm, từng niệm sinh diệt nên người phàm phu thấy rồi cho đó là thường. Này thiện nam! Các tướng nhân duyên có thể tan hoại nên cũng gọi là vô thường. Như là nhân mắt, nhân màu sắc, nhân ánh sáng, nhân suy nghĩ mà sinh ra nhãn thức. Khi nhĩ thức sinh thì các nhân duyên đều khác, chẳng phải là nhân duyên của nhãn thức cho đến sự khác của ý thức cũng như vậy. Lại nữa, này thiện nam! Nhân duyên của các hành hoại nên tâm gọi là vô thường. Như là tâm tu vô thường khác, tâm tu khổ, không, vô ngã khác. Tâm nếu thường thì nên dùng thường tu vô thường mà còn chẳng được dùng để quan sát khổ, không, vô ngã huống là lại được dùng để quan sát thường, lạc, ngã, tịnh. Do nghĩa này nên trong pháp của ngoại đạo chẳng thể thâu dụng thường, lạc, ngã, tịnh. Này thiện nam! Ông phải biết, tâm pháp nhất định là vô thường. Lại nữa, này thiện nam! Tâm tánh khác nên gọi là vô thường. Như là tâm tánh của Thanh văn khác, tâm tánh của Duyên giác khác, tâm tánh của chư Phật khác. Tâm của tất cả ngoại đạo có ba thứ: một là tâm xuất gia, hai là tâm tại gia, ba là tâm tại viễn ly. Tâm tương ưng với lạc khác, tâm tương ưng với khổ khác, tâm tương ưng với chẳng khổ chẳng lạc khác, tâm tương ưng với tham dục khác, tâm tương ưng với sân hận khác, tâm tương ưng với ngu si khác, tâm tương ưng với nghi hoặc khác, tâm tương ưng với tà kiến khác, oai nghi đi đứng tâm ấy cũng khác. Này thiện nam! Tâm nếu thường thì cũng lại chẳng thể phân biệt các sắc như là màu xanh, vàng, đỏ, trắng, tía. Này thiện nam! Nếu tâm thường thì các pháp nhớ nghĩ đáng lẽ chẳng quên mất. Này thiện nam! Tâm nếu thường thì sự đọc tụng đáng lẽ chẳng tăng trưởng. Lại nữa, này thiện nam! Tâm nếu thường thì chẳng nên nói rằng đã làm, đang làm và sẽ làm. Nếu có cái đã làm, đang làm và sẽ làm thì phải biết rằng là tâm nhất định vô thường. Này thiện nam! Tâm nếu thường thì không oán, không thân, chẳng phải oán, chẳng phải thân. Tâm nếu thường thì chẳng nên nói rằng, vật của ta hay vật của người khác, hoặc tử hay sinh. Tâm nếu thường thì tuy có sở tác nhưng chẳng nên tăng trưởng. Này thiện nam! Do nghĩa này nên phải biết tánh của tâm mỗi mỗi đều khác biệt, mà có khác biệt thì phải biết là vô thường. Này thiện nam! Ta nay ở trong pháp chẳng phải sắc này, diễn nói vô thường, nghĩa ấy đã rõ, lại phải vì ông nói sắc vô thường. Sắc này vô thường vốn không có sinh, vì sinh đã diệt. Khi phôi bào ở trong thai thì vốn không có sinh, vì sinh đã biến đổi. Bên ngoài, mầm chồi, thân cây vốn cũng không sinh, vì sinh đã biến đổi. Vậy phải biết tất cả sắc pháp đều vô thường. Này thiện nam! Cái sắc có bên trong tùy lúc mà biến đổi, khi thai bảy ngày khác, khi thai hai tháng bảy ngày khác, khi thai ba tháng bảy ngày khác, khi thai năm tháng bảy ngày khác, khi thành bào thai khác, khi mới sinh khác, khi con trẻ khác, khi đồng tử khác cho đến khi già, mỗi mỗi đều đổi khác. Cái sắc bên ngoài cũng như vậy, mầm chồi khác, thân khác, cành khác, lá khác, hoa khác, trái khác. Lại nữa, này thiện nam! Bào thai ở trong cũng khác, từ khi phôi bào cho đến già, mỗi mỗi đều biến đổi. Vị bên ngoài cũng vậy, mầm, thân, cành, lá, hoa, quả, vị đều khác. Khi phôi bào thì lực khác cho đến khi già thì lực cũng khác. Khi phôi bào thì hình dáng khác cho đến khi già thì hình dáng cũng khác. Khi phôi bào thì quả báo khác cho đến khi già thì quả báo cũng khác. Khi phôi bào thì tên gọi khác… cho đến khi già thì tên gọi cũng khác. Cái gọi là sắc bên trong hoại rồi thì trở lại hòa hợp nên biết là vô thường. Những cây cối bên ngoài cũng hoại rồi trở lại hợp, nên biết là vô thường. Theo thứ lớp mà sinh ra dần dần, nên biết là vô thường. Theo thứ lớp sinh ra, từ khi phôi bào cho đến khi già, theo thứ lớp sinh ra, từ mầm chồi cho đến trái, hạt. Vậy nên biết là vô thường. Các sắc có thể diệt, nên biết là vô thường. Khi phôi bào diệt khác cho đến khi già diệt khác, khi mầm chồi diệt khác cho đến khi quả trái diệt khác. Vậy nên biết là vô thường. Kẻ phàm phu vô trí thấy tương tự thì chấp cho là thường. Do nghĩa này nên gọi là vô thường, mà nếu vô thường thì tức là khổ, mà nếu là khổ thì tức là bất tịnh. Này thiện nam!

Ta nhân ông Ca-diếp trước hỏi việc này mà trả lời như thế.

Lại nữa, này thiện nam! Các hành vô ngã. Này thiện nam! Tóm lại, tất cả các pháp gọi là sắc chẳng phải sắc, sắc chẳng phải ngã. Vì sao? Vì sắc có thể phá, có thể hoại, có thể xé, có thể bẻ, có sinh ra, có tăng trưởng, còn ngã thì chẳng thể phá, hoại, xé, bẻ và sinh trưởng. Do nghĩa này nên biết sắc chẳng phải ngã. Pháp chẳng phải sắc cũng lại chẳng phải ngã. Vì sao? Vì nhân duyen . Này thiện nam! Nếu các ngoại đạo do chuyên niệm nên biết có ngã thì tánh của chuyên niệm thật chẳng phải là ngã. Nếu dùng chuyên niệm làm tánh của ngã thì việc của quá khứ có quên mất, mà có quên mất nên nhất định biết là vô ngã. Này thiện nam! Nếu các ngoại đạo do tưởng nhớ nên biết có ngã thì không nhớ tưởng nên nhất định biết là vô ngã. Như nói, thấy người tay có sáu ngón liền hỏi, ta trước gặp nhau ở đây vậy? Nếu có ngã thì chẳng nên hỏi, mà đã hỏi nhau nên nhất định biết là vô ngã. Này thiện nam! Nếu các ngoại đạo do có chướng ngại nên biết có ngã thì Này thiện nam! Do có chướng ngại nên nhất định biết là vô ngã. Như nói, Điều-đạt nhất định chẳng nói rằng chẳng phải Điều-đạt. Ngã cũng như vậy, nếu nhất định là ngã thì nhất định chẳng chướng ngại ngã. Do chướng ngại ngã nên nhất định biết là vô ngã. Nếu do chướng ngại nên biết có ngã thì ông hôm nay chẳng chướng ngại nên nhất định vô ngã. Này thiện nam! Nếu các ngoại đạo cho là bạn chẳng phải bạn nên biết có ngã thì do không bạn đáng lẽ không có ngã. Có pháp không bạn, như là Như Lai, hư không, Phật tánh. Ngã cũng như vậy, thật không có bạn. Do nghĩa này nên nhất định biết là vô ngã. Lại nữa, này thiện nam! Nếu các ngoại đạo cho là do tên gọi nên biết có ngã thì trong pháp vô ngã cũng có tên của ngã, như người nghèo hèn có tên gọi là Giàu Sang. Như nói rằng, tôi chết. Nếu tôi chết thì tôi giết tôi, mà thật ra tôi chẳng thể giết tôi, giả gọi giết tôi, cũng như người thấp mà tên là Cao. Do nghĩa này nên nhất định biết là vô ngã. Lại nữa, này thiện nam! Nếu các ngoại đạo cho là vì khi sinh đòi bú nên biết là có ngã, thì này thiện nam, nếu có ngã thì tất cả trẻ con chẳng nên bốc lấy phân bẩn, lửa, rắn, thuốc độc. Do nghĩa này nên nhất định biết là vô ngã. Lại nữa, này thiện nam! Tất cả chúng sinh đối với ba pháp đều có sự hiểu biết như nhau, đó là dâm dục, ăn uống, sợ hãi. Vậy nên có ngã. Lại nữa, này thiện nam! Nếu các ngoại đạo cho là do tướng mạo nên biết có ngã thì này thiện nam! Vì có tướng mạo nên vô ngã mà vô tướng nên cũng vô ngã. Như khi người ngủ, chẳng thể tiến, dừng, cúi, ngửa, nhìn ngó, chẳng biết khổ, vui thì lẽ ra chẳng có ngã. Nếu do tiến, dừng, cúi, ngửa, nhìn ngó mà biết có ngã thì người gỗ máy lẽ ra cũng có ngã. Này thiện nam! Như Lai cũng vậy, chẳng tiến, chẳng dừng, chẳng cúi, chẳng ngửa, chẳng nhìn, chẳng ngó, chẳng khổ, chẳng vui, chẳng tham, chẳng sân, chẳng si, chẳng hành. Như Lai như vậy là chân thật có ngã. Lại nữa, này thiện nam! Nếu các ngoại đạo cho là do thấy người khác ăn trái cây mà trong miệng chảy nước miếng nên biết là có ngã. Này thiện nam! Do nhớ nghĩ nên thấy thì chảy nước miếng, mà nước miếng chẳng phải là ngã, ngã cũng chẳng phải nước miếng, chẳng phải vui, chẳng phải buồn, chẳng phải cười, chẳng phải khóc, chẳng phải nằm, chẳng phải dậy, chẳng phải đói, chẳng phải no. Do nghĩa này nên nhất định biết là vô ngã. Này thiện nam! Những ngoại đạo này si dại như đứa trẻ con không phương tiện, trí tuệ, chẳng thể thông đạt thường cùng vô thường, khổ – lạc, tịnh – bất tịnh, ngã – vô ngã, thọ mạng – chẳng phải thọ mạng, chúng sinh – chẳng phải chúng sinh, thật – chẳng phải thật, có – chẳng phải có. Ở trong pháp Phật, họ lấy được chút ít nên hư vọng chấp là có thường, lạc, ngã, tịnh mà thật chẳng biết thường, lạc, ngã, tịnh. Như người mù bẩm sinh chẳng biết màu của sữa liền hỏi người khác: “Màu sữa giống màu gì?”. Người khác đáp: “Màu trắng như vỏ sò”. Người mù lại hỏi: “Màu sữa này như tiếng vỏ sò sao?”. Đáp: “Chẳng phải vậy”. Lại hỏi: “Màu vỏ sò giống cái gì?”. Đáp: “Giống như hạt gạo lúa nước”. Người mù lại hỏi: “Màu sữa mềm mại như hạt gạo lúa nước sao? Hạt gạo lúa nước thì lại tương tự cái gì?”. Đáp: “Giống như mưa tuyết”. Người mù lại nói: “Hạt gạo lúa nước kia lạnh như tuyết sao? Tuyết lại tương tự cái gì?”. Đáp: “Giống như con hạc trắng”. Người mù bẩm sinh tuy nghe bốn thứ ví dụ như vậy nhưng nhất định chẳng thể biết được màu sắc chân thật của sữa. Những ngoại đạo này cũng như vậy, nhất định chẳng thể nhận thức được thường, lạc, ngã, tịnh. Này thiện nam! Do nghĩa này nên ngã, trong pháp Phật, có chân đế chứ chẳng phải ở trong ngoại đạo.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:

–Hy hữu thay! Bạch Thế Tôn! Như Lai đến hôm nay sắp Bátniết-bàn mới lại chuyển pháp luân vô thượng, mới phân biệt chân đế như vậy.

Đức Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Ông nay sao lại còn đối với Như Lai sinh tưởng Niết-bàn? Này thiện nam! Như Lai chân thật là thường trụ bất biến, chẳng Bát-niếtbàn. Này thiện nam! Nếu có người cho Ta là Phật, Ta thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Ta tức là Pháp, Pháp là của Ta, Ta tức là Đạo, Đạo là của Ta, Ta tức là Thế Tôn, Thế Tôn là của Ta, Ta tức là Thanh văn, Thanh văn là của Ta, Ta có thể nói pháp khiến cho người khác nghe thọ, Ta chuyển pháp luân còn người khác chẳng thể chuyển v.v… thì Như Lai nhất định chẳng chấp như vậy. Vậy nên Như Lai chẳng chuyển pháp luân. Này thiện nam! Hoặc có người vọng chấp như vầy: “Ta tức là mắt, mắt là của ta; tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như vậy. Ta tức là sắc, sắc là của ta cho đến pháp cũng như vậy. Ta tức là đất, đất là của ta; nước, lửa, gió cũng như vậy. Này thiện nam! Hoặc có người nói, ta tức là tín, tín là của ta; ta là đa văn, đa văn là của ta; ta là Thí Ba-la-mật, Thí Ba-la-mật là của ta; ta là Giới Ba-la-mật, Giới Ba-lamật là của ta; ta là Nhẫn Ba-la-mật, Nhẫn Ba-la-mật là của ta; ta là Tinh tấn Ba-la-mật, Tinh tấn Ba-la-mật là của ta; ta là Thiền Ba-lamật, Thiền Ba-la-mật là của ta; ta là Bát nhã Ba-la-mật, Bát nhã Bala-mật là của ta; ta là Bốn niệm xứ, Bốn niệm xứ là của ta; Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy giác chi, tám thánh đạo cũng như vậy. Này thiện nam! Như Lai nhất định chẳng chấp như vậy. Vậy nên Như Lai chẳng chuyển pháp luân. Này thiện nam! Nếu nói, thường trụ không có biến dịch thì sao nói rằng, Phật chuyển pháp luân? Vậy ông chẳng nên nói rằng, Như Lai theo phương tiện chuyển pháp luân vô thượng. Này thiện nam! Ví như mắt nhân duyên với sắc, duyên với ánh sáng, duyên với tư duy rồi nhân duyên hòa hợp mà sinh ra nhãn thức. Này thiện nam! Mắt chẳng nghĩ rằng, ta có thể sinh ra thức. Sắc cho đến tư duy nhất định chẳng nghĩ rằng, ta sinh ra nhãn thức. Nhãn thức cũng chẳng nghĩ rằng, ta có thể tự sinh ra. Này thiện nam! Những pháp như vậy do nhân duyên hòa hợp được gọi là thấy. Này thiện nam! Như Lai cũng vậy, nhờ sáu Ba-la-mật, Ba mươi bảy pháp trợ đạo Bồ-đề hiểu biết rõ các pháp, lại nhờ yết hầu, lưỡi, răng, môi, miệng, lời nói, âm thanh để vì ông Kiều-trần-như nói pháp đầu tiên, gọi là chuyển pháp luân. Do nghĩa này nên Như Lai chẳng gọi là chuyển pháp luân. Này thiện nam! Nếu chẳng chuyển thì gọi là Pháp, mà Pháp tức là Như Lai. Này thiện nam! Ví như nhân đồ lấy lửa, nhân cái dùi, nhân tay, nhân phân bò khô mà sinh ra được lửa, đồ lấy lửa cũng chẳng nói rằng, mình có thể sinh ra lửa. Cái dùi, tay, phân bò khô đều chẳng nghĩ rằng, mình có thể sinh ra lửa. Lửa cũng chẳng nói rằng, mình có thể tự sinh ra. Như Lai cũng vậy, nhân sáu pháp Ba-la-mật cho đến Kiều-trần-như thì gọi là chuyển pháp luân. Như Lai cũng lại chẳng sinh ý nghĩ rằng, Ta chuyển pháp luân. Này thiện nam! Nếu chẳng sinh ý nghĩ đó thì gọi là chuyển chánh pháp luân. Chuyển pháp luân này tức là Như Lai. Này thiện nam! Ví như nhân kem sữa, nhân nước, nhân khuấy đảo, nhân bình, nhân sợi dây, nhân tay người nắm lấy mà được có ra bơ sữa, mà kem sữa cũng chẳng nói rằng, mình có thể tự có ra. Cho đến tay của người cũng chẳng có thể nghĩ rằng mình có thể sinh ra bơ sữa. Bơ sữa cũng chẳng nói rằng mình có thể tự sinh. Do mọi duyên hòa hợp nên được có bơ sữa. Như Lai cũng vậy, nhất định chẳng nghĩ rằng, mình chuyển pháp luân. Này thiện nam! Nếu chẳng khởi ý nghĩ ấy thì gọi là chuyển chánh pháp luân. Chuyển pháp luân này tức là Như Lai. Này thiện nam! Ví như nhân hạt giống, nhân đất, nhân nước, nhân lửa, nhân gió, nhân phân, nhân thời tiết, nhân con người làm việc mà mầm được sinh ra, mà hạt giống cũng chẳng nghĩ rằng, mình có thể sinh ra mầm. Mầm cũng chẳng nghĩ rằng, mình có thể tự sinh ra. Như Lai cũng vậy, nhất định chẳng nghĩ rằng, mình chuyển pháp luân. Này thiện nam! Nếu chẳng khởi ý nghĩ ấy thì gọi là chuyển chánh pháp luân. Chuyển pháp luân này tức là Như Lai. Này thiện nam! Ví như nhân cái trống, nhân hư không, nhân da, nhân con người, nhân dùi trống hòa hợp phát ra tiếng, mà trống chẳng nghĩ rằng, mình có thể phát ra tiếng cho đến cái dùi trống cũng như vậy. Tiếng cũng chẳng nghĩ rằng, ta có thể tự sinh ra. Này thiện nam! Như Lai cũng vậy, nhất định chẳng nghĩ rằng, mình chuyển pháp luân. Này thiện nam! Chuyển pháp luân thì gọi là chẳng làm, mà chẳng làm thì tức là chuyển pháp luân. Chuyển pháp luân tức là Như Lai. Này thiện nam! Chuyển pháp luân thì mới là cảnh giới của chư Phật Thế Tôn, chẳng phải là sự hiểu biết của các Thanh văn, Duyên giác. Này thiện nam! Hư không chẳng phải sinh, chẳng phải xuất, chẳng phải tác, chẳng phải tạo, chẳng phải pháp hữu vi. Như Lai cũng vậy, chẳng phải sinh, chẳng phải xuất, chẳng phải tác, chẳng phải tạo, chẳng phải pháp hữu vi. Như Như Lai tánh, Phật tánh cũng vậy, chẳng phải sinh, chẳng phải xuất, chẳng phải tác, chẳng phải tạo, chẳng phải pháp hữu vi. Này thiện nam! Lời nói của chư Phật Thế Tôn có hai thứ, một là lời nói thế gian, hai là lời nói xuất thế gian. Này thiện nam! Như Lai vì những Thanh văn, Duyên giác nói ra lời nói thế gian, vì các Bồ-tát nói lời xuất thế gian. Này thiện nam! Những đại chúng này lại có hai hạng, một là hạng cầu Tiểu thừa, hai là hạng cầu Đại thừa. Ta ngày trước, ở thành Ba-la-nại vì các Thanh văn chuyển pháp luân. Hôm nay, bắt đầu ở thành Câu-thi-na này ta vì các Bồ-tát chuyển đại pháp luân. Lại nữa, này thiện nam! Lại có hai hạng người là người trung căn và người thượng căn. Ta vì người trung căn ở thành Ba-la-nại chuyển pháp luân. Ta vì người thượng căn, hạng vương tượng trong loài người, như Bồ-tát Ca-diếp v.v… nay ở thành Câu-thi-na chuyển đại pháp luân. Này thiện nam! Kẻ hạ căn cùng cực thì Như Lai nhất định chẳng vì họ mà chuyển pháp luân. Người hạ căn cùng cực tức là Nhất-xiển-đề. Lại nữa, này thiện nam! Người cầu Phật đạo lại có hai hạng, một là hạng trung tinh tấn, hai là hạng thượng tinh tấn. Ở thành Ba-la-nại, Ta vì hạng trung tinh tấn mà chuyển pháp luân. Hôm nay ở thành Câu-thi-na này, Ta vì hạng thượng tinh tấn mà chuyển đại pháp luân. Lại nữa, này thiện nam! Ngày trước, ở thành Ba-la-nại kia, lần đầu tiên Ta chuyển pháp luân thì tám vạn trời, người được quả Tu-đà-hoàn. Hôm nay, ở thành Câu-thi-na này, có tới tám mươi vạn ức người chẳng thoái chuyển đối với Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại nữa, này thiện nam! Ở thành Ba-la-nại vua trời Đại Phạm cúi đầu thỉnh Ta chuyển pháp luân. Hôm nay, ở thành Câu-thi-na này, Bồ-tát Ca-diếp cúi đầu thỉnh Ta chuyển đại pháp luân. Lại nữa, này thiện nam! Thuở trước, ở thành Bala-nại kia, khi Ta chuyển pháp luân thì nói về vô thường, khổ, không, vô ngã. Hôm nay, ở thành Câu-thi-na này, khi Ta chuyển pháp luân thì nói về thường, lạc, ngã, tịnh.

Lại nữa, này thiện nam! Thuở trước, ở thành Ba-la-nại kia, khi

Ta chuyển pháp luân thì âm thanh phát ra vang đến cõi trời Đại Phạm. Hôm nay, ở thành Câu-thi-na này, khi Như Lai chuyển pháp luân thì âm thanh phát ra vang khắp cùng thế giới chư Phật nhiều bằng hai mươi lần cát sông Hằng ở phương Đông; phương Nam, phương Tây, phương Bắc, bốn phương bàng, phương trên, phương dưới cũng như vậy. Lại nữa, này thiện nam! Chư Phật Thế Tôn phàm có nói ra điều gì đều gọi là chuyển pháp luân. Này thiện nam! Ví như Thánh vương có bánh xe báu thì có thể hàng phục người chưa hàng phục, kẻ đã hàng phục thì có thể khiến cho yên ổn. Này thiện nam! Chư Phật Thế Tôn phàm đã nói pháp thì cũng giống như vậy, người có vô lượng phiền não chưa điều phục thì có thể khiến cho điều phục, người đã điều phục thì khiến sinh thiện căn. Này thiện nam! Ví như Thánh vương có bánh xe báu thì có thể tiêu diệt tất cả oán tặc. Như Lai diễn pháp cũng như vậy, có thể khiến cho tất cả giặc phiền não đều tịch tịnh hết. Lại nữa, này thiện nam! Ví như Thánh vương có bánh xe báu vận chuyển lên xuống. Như Lai nói pháp cũng như vậy, có thể khiến cho những chúng sinh ác ở cõi dưới sinh lên cõi người, trời cho đến Phật đạo. Này thiện nam!

Vậy ông chẳng nên khen, Như Lai ở đây lại chuyển pháp luân.

Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Con đối với nghĩa này chẳng phải là chẳng biết. Sở dĩ con hỏi là muốn tạo lợi ích cho các chúng sinh. Thưa Thế Tôn! Con từ lâu đã biết, chuyển pháp luân quả thật là cảnh giới của chư Phật Thế Tôn, hàng Thanh văn, Duyên giác chẳng theo kịp.

Lúc này, Đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Ca-diếp:

–Này thiện nam! Đó gọi là việc làm Thánh hạnh của Bồ-tát trụ ở kinh Đại Niết-bàn Đại Thừa.

Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Lại do ý nghĩa gì nên gọi là Thánh hạnh?

–Này thiện nam! Thánh là gọi chư Phật Thế Tôn. Do nghĩa này nên gọi là Thánh hạnh.

–Thưa Thế Tôn! Nếu là sở hành của các Đức Phật thì chẳng phải là hạnh có thể tu hành của hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát.

–Này thiện nam! Chư Phật Thế Tôn đó an trụ ở Đại Bát Niết Bàn này mà làm như vậy là để khai thị, phân biệt, diễn nói nghĩa ấy. Do nghĩa này nên gọi là Thánh hạnh. Hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồtát nghe như vậy rồi có thể phụng hành nên gọi là Thánh hạnh. Này thiện nam! Đại Bồ-tát này được hạnh đó rồi thì trụ ở địa không sợ hãi. Này thiện nam! Nếu có Bồ-tát trụ ở địa không sợ hãi như vậy thì chẳng còn sợ tham dục, sân hận, ngu si, già, bệnh, chết nữa, cũng lại chẳng sợ những đường ác, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Này thiện nam! Ác có hai thứ, một là A-tu-la, hai là trong loài người. Trong loài người có ba loại ác, một là Nhất-xiển-đề, hai là bài báng kinh điển Phương Đẳng, ba là phạm bốn trọng cấm. Này thiện nam! Trụ ở trong địa này, các Bồ-tát v.v… nhất định chẳng sợ rơi vào trong những đường ác như vậy; cũng lại chẳng sợ Sa-môn, Bà-la-môn, ngoại đạo tà kiến, ma Ba-tuần, cũng lại chẳng sợ sinh ở hai mươi lăm cõi. Vậy nên địa này gọi là không sợ hãi. Này thiện nam! Đại Bồ-tát trụ ở địa không sợ hãi được hai mươi lăm Tam-muội làm hoại hai mươi lăm cõi. Này thiện nam! Các Bồ-tát ấy được Tam-muội Vô cấu có thể hoại cõi Địa ngục, được Tam-muội Vô thoái có thể hoại cõi Súc sinh, được Tam-muội Tâm lạc có thể hoại cõi Ngạ quỷ, được Tam-muội Hoan hỷ có thể hoại cõi A-tu-la, được Tam-muội Nhật quang có thể đoạn cõi Phất-bà-đề, được Tam-muội Nguyệt quang có thể đoạn cõi Cù-đà-ni, được Tam-muội Nhiệt viêm có thể đoạn cõi Uất-đan-việt, được Tam-muội Như huyễn có thể đoạn cõi Diêm-phù-đề, được Tam-muội Nhất thiết pháp bất động có thể đoạn cõi Tứ Thiền Xứ, được Tam-muội Nan phục có thể đoạn cõi trời Tam Thập Tam, được Tam-muội Duyệt ý có thể đoạn cõi trời Diệm Ma, được Tam-muội Thanh sắc có thể đoạn cõi trời Đâu Suất suất, được Tam-muội Hoàng sắc có thể đoạn cõi trời Hóa Lạc, được Tammuội Xích sắc có thể đoạn cõi trời Tha Hóa Tự Tại, được Tam-muội Bạch sắc có thể đoạn cõi Sơ Thiền, được Tam-muội Chủng chủng có thể đoạn cõi Phạm Thiên Vương, được Tam-muội Song có thể đoạn cõi Nhị Thiền, được Tam-muội Lôi âm có thể đoạn cõi Tam Thiền, được Tam-muội Chú vũ có thể đoạn cõi Tứ Thiền, được Tam-muội Như hư không có thể đoạn cõi Vô Tưởng, được Tam-muội Chiếu cảnh có thể đoạn cõi Tịnh Cư A Na Hàm, được Tam-muội Vô ngại có thể đoạn cõi Không Xứ, được Tam-muội Thường có thể đoạn cõi Thức Xứ, được Tam-muội Lạc có thể đoạn cõi Bất Dụng Xứ, được Tam-muội Ngã có thể đoạn cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Này thiện nam! Đó gọi là Bồ-tát được hai mươi lăm Tam-muội đoạn trừ hai mươi lăm cõi. Này thiện nam! Hai mươi lăm Tam-muội như vậy gọi là những vua Tammuội. Này thiện nam! Đại Bồ-tát nhập vào những vua Tam-muội như vậy, nếu muốn thổi tan núi Tu-di thì có thể theo ý mình, muốn biết ý nghĩ trong lòng của những chúng sinh của ba ngàn đại thiên thế giới cũng có thể biết hết, muốn đem số chúng sinh của ba ngàn đại thiên thế giới để vào trong một lỗ chân lông của thân mình thì có thể theo ý mình mà cũng khiến cho chúng sinh không có cảm tưởng bị dồn ép, muốn hóa làm vô lượng chúng sinh khiến cho đầy ắp trong ba ngàn đại thiên thế giới thì cũng có thể làm theo ý mình, có thể phân chia một thân ra làm nhiều thân, rồi lại hợp nhiều thân làm một thân. Bồ-tát tuy làm như vậy nhưng lòng không có sự chấp trước giống như hoa sen. Này thiện nam! Đại Bồ-tát được nhập vào những vua Tam-muội như vậy rồi liền được trụ ở địa Tự tại. Bồ-tát trụ ở địa Tự tại này được sức tự tại, tùy theo chỗ muốn sinh liền được vãng sinh. Này thiện nam! Ví như vị Thánh vương thống lãnh bốn cõi thiên hạ, đi đâu tùy ý không có chướng ngại. Đại Bồ-tát cũng như vậy, tất cả chỗ nào nếu muốn sinh thì theo ý vãng sinh. Này thiện nam! Đại Bồ-tát nếu thấy tất cả chúng sinh của địa ngục có thể giáo hóa khiến cho trụ ở thiện căn thì Bồ-tát liền vãng sinh vào trong ấy. Bồ-tát tuy sinh nhưng chẳng phải do nghiệp quả xưa mà do nhân duyên lực trụ địa Tự tại của Đại Bồ-tát nên sinh ra trong địa ngục ấy. Này thiện nam! Đại Bồ-tát tuy ở tại địa ngục nhưng chẳng chịu những khổ như thân rực cháy, tan nát v.v… Này thiện nam! Đại Bồ-tát đã thành tựu công đức vô lượng vô biên trăm ngàn vạn ức như vậy còn chẳng thể kể xiết, huống gì là công đức của chư Phật mà có thể nói được!

Bấy giờ, trong chúng có một vị Bồ-tát tên là Vô Cấu Tạng Vương, có đại oai đức, thành tựu thần thông, được Tam-muội Đại tổng trì đầy đủ, được vô sở úy, liền đứng dậy, trịch áo vai phải, gối phải đặt xuống đất, quỳ thẳng, chấp tay bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như lời Phật nói, công đức, trí tuệ mà chư Phật, Bồ-tát đã thành tựu vô lượng vô biên, trăm ngàn vạn ức thật chẳng thể kể xiết, nhưng theo ý con vẫn cho là chẳng bằng kinh điển Đại Thừa này. Vì sao? Vì nhân vào sức của kinh Đại Thừa Phương Đẳng này có thể sinh quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của chư Phật Thế Tôn.

Đức Phật khen:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Đúng vậy! Đúng vậy! Đúng như lời ông nói! Kinh điển Đại Thừa Phương Đẳng tuy thành tựu vô lượng công đức nhưng muốn sánh kinh này bằng thí dụ thì chẳng được, dù được nhân lên trăm lần, ngàn lần, trăm ngàn vạn ức lần cho đến thí dụ tính toán thì cũng chẳng thể bì kịp. Này thiện nam! Ví như từ bò cho ra sữa, từ sữa ra váng sữa, từ váng sữa ra kem sữa, từ kem sữa ra bơ, từ bơ sữa ra đề hồ. Đề hồ là tối thượng, nếu có người uống thì mọi bệnh đều tiêu trừ, các thuốc đều sẵn có trong đề hồ ấy. Này thiện nam! Phật cũng như vậy, từ Phật sinh ra mười hai bộ loại kinh điển, từ mười hai bộ loại kinh điển sinh ra Tu-đa-la, từ Tu-đa-la sinh ra kinh Phương Đẳng, từ kinh Phương Đẳng sinh ra Bát nhã Ba-la-mật, từ Bát nhã Ba-la-mật sinh ra Đại Niết-bàn, giống như đề hồ. Đề hồ là dụ cho Phật tánh mà Phật tánh tức là Như Lai. Này thiện nam! Do nghĩa này nên nói rằng, công đức của Như Lai nhiều vô lượng vô biên chẳng thể kể xiết.

Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như lời Phật khen, kinh Đại Niết-bàn giống như đề hồ tối thượng vi diệu. Nếu có người được uống thì mọi bệnh đều tiêu trừ, tất cả các thuốc đều có trong ấy. Con nghe thế rồi lại trộm suy nghĩ, nếu có người chẳng thể nghe thọ kinh này thì phải biết rằng, người này là kẻ đại ngu si, không có tâm thiện. Thưa Thế Tôn! Hôm nay con thật có thể chịu lột da làm giấy, chích máu làm mực, dùng tủy làm nước, bẻ xương làm bút để ghi chép kinh Đại Niết-bàn này, chép rồi đọc tụng cho thông suốt. Rồi sau đó vì người khác mà diễn nói rộng rãi nghĩa của kinh ấy. Bạch Thế Tôn! Nếu có chúng sinh tham đắm của cải thì con sẽ cho của cải, rồi sau đó dùng kinh Đại Niết-bàn này khuyên họ đọc tụng. Nếu người tôn quý thì con trước dùng lời ái ngữ, thuận theo ý của họ, rồi sau đó sẽ dần dần đem kinh Đại Niết-bàn Đại Thừa này khuyên họ đọc tụng. Nếu là hạng dân dã thì con sẽ dùng uy thế ép họ đọc tụng. Nếu là người kiêu mạn thì con sẽ vì người ấy mà làm kẻ sai khiến, thuận theo ý họ khiến cho họ hoan hỷ, rồi sau đó sẽ đem kinh Đại Niết-bàn Đại Thừa này dạy bảo, dẫn đường cho họ. Nếu có người bài báng kinh điển Đại Thừa thì con sẽ dùng thế lực đánh đổ khiến cho họ phục tùng. Họ đã hàng phục rồi sau đó con khuyên đọc tụng kinh Đại Niết-bàn. Nếu người ưa thích kinh Đại Thừa thì đích thân con sẽ đến cung kính, cúng dường, tôn trọng, khen ngợi.

Bấy giờ, Đức Phật khen Bồ-tát Ca-diếp:

–Hay thay! Hay thay! Ông rất yêu mến kinh điển Đại Thừa, ham thích kinh điển Đại Thừa, thọ trì kinh điển Đại Thừa, nếm vị kinh điển Đại Thừa, tin, kính, tôn trọng, cúng dường kinh điển Đại Thừa. Này thiện nam! Ông nay do nhân duyên tâm thiện này nên sẽ được siêu việt vô lượng vô biên những Đại Bồ-tát nhiều như cát sông Hằng, được thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trước họ. Ông cũng chẳng bao lâu lại sẽ như Ta, vì đại chúng diễn nói rộng rãi về Đại Bát Niết Bàn, Như Lai, Phật tánh, tạng bí mật của chư Phật đã dạy như vậy.

Này thiện nam! Đời quá khứ, khi mặt trời Phật chưa xuất hiện, Ta vào lúc đó làm Sa-môn, tu hạnh Bồ-tát, có thể thông đạt hết tất cả kinh luận của ngoại đạo, tu hạnh tịch diệt, đầy đủ oai nghi, tâm ý thanh tịnh, chẳng bị dục tưởng ngoại lai phát sinh phá hoại, diệt lửa sân hận, thọ trì pháp thường, lạc, ngã, tịnh, tìm cầu kinh điển Đại Thừa cùng khắp mà thậm chí chẳng nghe đến tên gọi Phương Đẳng. Vào lúc ấy, Ta trụ ở núi Tuyết, núi ấy thanh tịnh với suối chảy, ao tắm, cây rừng, dược thảo tràn đầy, nơi nơi xen với đá có dòng nước trong với nhiều loài hoa thơm tô điểm cùng khắp và nhiều loài chim chẳng thể kể xiết, quả ngọt nhiều thứ khó phân biệt kể ra. Nơi ấy lại có vô lượng ngó sen, rễ ngọt, rễ thanh mộc hương. Lúc đó, ta một mình ở trong ấy, chỉ ăn các loại trái cây, ăn rồi chuyên tâm tư duy tọa thiền trải qua vô lượng năm cũng chẳng nghe có Như Lai ra đời và tên kinh Đại Thừa. Này thiện nam! Khi Ta tu hạnh khổ như vậy thì Thích-đề-hoàn-nhân, các trời, người v.v… lòng rất kinh ngạc quái lạ, liền gọi nhau tụ họp rồi nói kệ:

Cùng chỉ cho nhau thấy
Trong núi Tuyết thanh tịnh
Chúa tịch tĩnh lìa dục
Vua công đức trang nghiêm
Đã lìa tham, sân, mạn
Dứt hẳn siểm, ngu si
Chưa một lần nói ra
Các lời nói thô ác.

Bấy giờ, trong chúng có một Thiên tử tên là Hoan Hỷ lại nói kệ:

Người lìa dục như vậy
Thanh tịnh siêng tinh tấn
Sẽ chẳng cầu Đế thích
Và quả vị chư Thiên
Người cầu đạo như vậy
Tu hành các hạnh khổ
Người này mong cầu nhiều
Chỗ ngồi của Đế thích.

Lúc này, lại có một vị Tiên Thiên tử liền vì Đế thích mà nói kệ:

Kiều-thi-ca thiên chúa
Chẳng nên sinh lo ngại
Ngoại đạo tu khổ hạnh
Hà tất cầu vương vị.

Nói kệ này rồi, ông lại nói: “Này Kiều-thi-ca! Ở đời có bậc Đại sĩ vì chúng sinh nên chẳng tham thân mình, vì muốn tạo lợi ích cho các chúng sinh nên tu đủ thứ khổ hạnh không lường. Người như vậy đã thấy những tội lỗi trong sinh tử nên giả sử có thấy châu báu đầy trong đất đai, núi rừng, biển cả này cũng chẳng sinh lòng tham đắm, trái lại như nhìn thấy bãi nước bọt. Bậc Đại sĩ như thế xả bỏ của báu, sự yêu thương vợ con, đầu mắt, não tủy, tay chân, chi tiết, chỗ ở, nhà cửa, voi ngựa, xe cộ, nô tỳ, đồng bộc cũng chẳng nguyện cầu sinh lên cõi trời mà chỉ cầu cho tất cả chúng sinh được thọ hưởng an vui. Đúng như sự lý giải của tôi, Đại sĩ như thế thanh tịnh không nhiễm ô, hết hẳn mọi kiết sử, chỉ muốn cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Thích-đềhoàn-nhân lại nói: “Như lời ông nói thì người này là người giáo hóa tất cả chúng sinh của thế gian. Này Đại Tiên! Nếu thế gian này có cây

Phật thì có thể trừ diệt rắn độc phiền não của tất cả chư Thiên, người đời và A-tu-la. Nếu những chúng sinh này trụ ở trong bóng mát của cây Phật đó thì những độc phiền não đều bị tiêu diệt hết. Này Đại Tiên! Người này nếu trong đời vị lai làm bậc Thiện Thệ thì chúng ta đều sẽ được diệt hết vô lượng phiền não thiêu đốt. Việc như vậy thật là khó tin. Vì sao? Vì vô lượng trăm ngàn những chúng sinh v.v… phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thấy chút duyên nhỏ đối với Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nên liền động chuyển. Như trăng trong nước, hễ nước động thì động theo, giống như vẽ tượng, khó thành mà dễ hư hoại, tâm Bồ-đề cũng như vậy, khó phát mà dễ hoại. Này Đại Tiên! Như có nhiều người dùng áo giáp đồng, binh khí tự trang bị chắc chắn, muốn tiến tới trước thảo trừ giặc mà khi lâm trận sợ hãi liền thoái lui tan rã. Vô lượng chúng sinh cũng như vậy, phát tâm Bồ-đề, tự trang bị bền chắc, nhưng thấy tội lỗi sinh tử nên lòng sinh sợ hãi liền thoái lui. Này Đại Tiên! Tôi thấy vô lượng chúng sinh như vậy, sau khi phát tâm Bồ-đề đều sinh ra chuyển động. Vậy nên tôi nay tuy thấy người này tu khổ hạnh, không não, không nhiệt, trụ ở hiểm đạo, hạnh người ấy thanh tịnh nhưng chưa có thể tin. Tôi nay cần phải tự đến đó thử thách để biết người ấy thật có thể đủ sức gánh vác gánh rất nặng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không. Này Đại Tiên! Giống như xe có hai bánh thì có thể sử dụng chuyên chở, con chim có hai cánh thì đủ sức bay đi, người khổ hạnh này cũng như vậy, tôi tuy thấy người ấy kiên trì giới cấm, nhưng chưa biết người ấy có thâm trí không. Nếu có thâm trí thì sẽ biết người ấy có thể đủ sức gánh vác gánh nặng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Thưa Đại Tiên! Ví như cá mẹ có nhiều trứng cá nhưng thành tựu cá con thì ít. Như hoa của cây Am-la thì nhiều mà thành trái thì ít. Chúng sinh phát tâm có đến vô lượng và số thành tựu thì ít, chẳng đáng kể. Này Đại Tiên! Tôi cùng ông đều đến thử thách ông ấy. Ví như vàng ròng, sau ba lần thử rồi mới biết vàng ấy chân thật, đó là đốt, đập, mài. Thử thách người khổ hạnh kia thì cũng phải như vậy”.

Bấy giờ, Thích-đề-hoàn-nhân tự biến thân mình làm hình dáng La-sát, thân hình rất đáng sợ, xuống đến núi Tuyết, cách người tu ấy chẳng xa liền đứng lại. Lúc đó, La-sát lòng không chút sợ hãi, mạnh mẽ khó đương, biện tài thứ lớp, tiếng rất thanh nhã tuyên nói nửa bài kệ mà Phật ở đời quá khứ đã nói:

Các hành vô thường
Là pháp sinh diệt…

Nói nửa bài kệ này rồi, La-sát liền đứng trước người tu hành ấy, thị hiện hình mạo rất đáng kinh sợ, quay đầu liếc khắp, nhìn xem bốn phương. Người khổ hạnh này nghe nửa bài kệ đó, lòng sinh vui mừng. Ví như khách buôn ở chỗ hiểm nạn, đi đêm lạc bạn, sợ hãi tìm kiếm, gặp lại được bạn đồng hành mà lòng sinh vui mừng, nhảy nhót không lường. Cũng như người bệnh đã lâu mà chưa gặp lương y xem bệnh, cho thuốc tốt, về sau bỗng nhiên gặp được, như người chìm trong biển bỗng gặp thuyền bè, như người khát gặp nước trong mát, như người bị kẻ oán truy đuổi bỗng nhiên được giải thoát, như người bị trói buộc lâu bỗng nghe được thả ra, như người nông phu đang bị hạn hán mà gặp được mưa, như người đi xa trở về người nhà thấy rồi rất hoan hỷ. Này thiện nam! Bấy giờ ta nghe nửa câu kệ này rồi trong lòng vui mừng cũng như vậy, liền đứng dậy dùng tay vén tóc, quay nhìn bốn phương và nói: “Vừa rồi tôi nghe kệ. Vị nào nói lời kệ ấy?”. Bấy giờ, ta cũng chẳng thấy còn ai khác, chỉ thấy La-sát, liền nói: “Ai mở cánh cửa giải thoát như vậy? Ai có thể nổi sấm âm thanh của chư Phật? Ai ở trong giấc ngủ sinh tử mà một mình tỉnh thức xướng lên lời như vậy? Ai có thể ở đây hiển thị dẫn dắt chúng sinh đói khát sinh tử đạo vị vô thượng? Vô lượng chúng sinh chìm trong biển sinh tử mà ai có thể ở trong đó làm bậc đại thuyền sư? Những chúng sinh này thường bị sự ràng buộc của bệnh nặng phiền não mà ai có thể ở trong đó làm lương y? Người nói nửa bài kệ này đã khai ngộ lòng ta giống như nửa vầng trăng, như hoa sen dần nở”. Này thiện nam! Lúc ấy, ta lại không thấy gì, chỉ thấy có La-sát, lại nghĩ: “Phải chăng là La-sát nói kệ này?”. Ta lại sinh nghi hoặc: “Chẳng phải là La-sát ấy nói đâu. Vì sao? Vì người này hình dung rất đáng kinh sợ. Nếu có người được nghe câu kệ này thì tất cả sự xấu xí kinh tởm liền trừ hết mà sao người này có hình mạo như vậy lại có thể nói bài kệ này. Chẳng lẽ ở trong lửa mọc ra hoa sen, chẳng lẽ trong ánh sáng mặt trời sinh ra nước lạnh?”. Này thiện nam! Lúc này, ta lại nghĩ: “Ta nay vô trí, La-sát này hoặc có thể được gặp chư Phật ở quá khứ và từ chỗ chư Phật nghe được nửa bài kệ này. Ta nay phải hỏi”. Ta liền đến trước chỗ La-sát đó mà nói như vầy: “Hay thay! Thưa Đại sĩ! Ở đâu mà ông được nửa bài kệ của bậc Ly Bố Úy đời quá khứ đã nói? Thưa Đại sĩ! Ở đâu mà ông lại được nửa viên ngọc Như ý như vậy? Thưa Đại sĩ! Nghĩa của nửa câu kệ này là chánh đạo của chư Phật Thế Tôn quá khứ, hiện tại và vị lai. Tất cả vô lượng chúng sinh trong thế gian thường bị sự che phủ của màn lưới các kiến, trọn đời ở trong pháp ngoại đạo, ban đầu chẳng được nghe lời nói “nghĩa không” mà đấng Thế Hùng Thập Lực xuất thế đã nói như vậy”. Này thiện nam! Ta hỏi rồi thì La-sát liền đáp: “Này đại Bà-la-môn! Ông nay chẳng nên hỏi ta ý nghĩa đó. Vì sao? Vì ta chẳng ăn đến nay đã trải qua nhiều ngày, tìm kiếm khắp nơi mà chẳng thể được, đói khát khổ não, lòng rối loạn, nói xằng bậy, chẳng phải là sự hiểu biết của bản thân ta. Ta nay, sức có thể bay đi trong hư không để đến cõi Uấtđan-việt cho đến lên cõi trời. Nhưng ở khắp nơi tìm thức ăn cũng chẳng thể được. Do vậy nên ta nói lời nói đó”. Ta liền nói với La-sát: “Này Đại sĩ! Nếu ông có thể vì tôi nói hết bài kệ này thì tôi sẽ trọn đời làm đệ tử của ông. Thưa Đại sĩ! Lời kệ ông vừa nói danh tự chẳng trọn, ý nghĩa cũng chẳng hết. Vì nhân duyên gì mà chẳng muốn nói? Phàm bố thí của cải thì có sự cạn kiệt, còn nhân duyên về pháp thí thì chẳng thể hết. Pháp thí vô tận đem nhiều lợi ích. Tôi nay nghe nửa bài kệ này rồi, lòng sinh nghi. Xin ông nay có thể vì tôi mà nói trọn bài kệ này để đoạn trừ mối nghi. Tôi sẽ trọn đời làm đệ tử của ông”. La-sát đáp: “Trí của ông lớn quá chỉ tự lo cho thân mà quên chẳng thấy và nghĩ đến tôi đang bị sự bức bách của đói khổ, thật chẳng thể nói được”. Ta liền hỏi: “Thức ăn của ông là những vật gì?”. La-sát đáp: “Ông đừng hỏi nữa, nếu tôi nói thì khiến cho nhiều người sợ”. Ta lại hỏi: “Trong này tôi ở một mình không có ai khác, mà tôi thì chẳng sợ, vì sao ông chẳng nói?”. La-sát đáp: “Thức ăn của tôi chỉ là thịt người còn nóng, thức uống là máu người còn nóng. Tự ta bạc phước chỉ ăn thứ này mà khốn đốn tìm kiếm cùng khắp chẳng thể được. Đời tuy có nhiều người nhưng họ đều có phước đức, lại thêm được chư Thiên hộ trì, mà tôi không có sức nên chẳng thể giết được”. Này thiện nam! Ta lại nói: “Ông nói đầy đủ nửa còn lại của bài kệ này, tôi nghe kệ rồi sẽ đem thân này dâng lên cúng dường ông. Thưa Đại sĩ! Giả sử tôi mạng chung thì tấm thân này không dùng vào việc gì được mà sẽ bị sự ăn nuốt của cọp, sói, cú vọ, diều hâu v.v… mà chẳng được một chút phước đức. Tôi nay vì cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, bỏ thân chẳng bền chắc để đổi thân bền chắc”. La-sát đáp: “Ai sẽ tin lời nói như vậy của ông. Vì tám chữ mà bỏ thân yêu thích”. Ta liền đáp: “Ông quả thật là không trí. Ví như có người cho người khác đồ sành mà được đồ bằng bảy báu, tôi cũng như vậy, bỏ thân chẳng bền chắc mà được thân kim cương. Ông nói rằng, ai sẽ tin thì tôi nay đã có chứng. Vua trời Đại Phạm, Thíchđề-hoàn-nhân và vua bốn cõi trời có thể chứng việc này. Lại có những Bồ-tát thiên nhãn vì muốn tạo lợi ích cho vô lượng chúng sinh nên tu hành Đại Thừa đủ sáu độ, cũng có thể chứng biết. Lại có chư Phật Thế Tôn trong mười phương làm lợi ích cho chúng sinh cũng có thể chứng cho tôi vì tám chữ nên bỏ thân mạng này”. La-sát lại nói: “Nếu ông có thể xả thân như vậy thì hãy lắng nghe, lắng nghe, tôi sẽ vì ông nói nửa bài kệ còn lại ấy”. Này thiện nam! Ta vào lúc ấy nghe lời nói này rồi trong lòng vui mừng, liền cởi tấm da nai mặc trên thân mình, vì La-sát này trải làm pháp tòa mà bạch: “Thưa Hòa thượng! Mời Hòa thượng ngồi nơi tòa này”. Ta liền vòng tay quỳ gối thưa: “Ông khéo vì tôi nói nửa bài kệ còn lại ấy cho được đầy đủ”. La-sát liền nói:

… Sinh diệt diệt rồi
Tịch diệt là vui.

Bấy giờ La-sát nói kệ này xong, lại nói: “Này Đại Bồ-tát! Ông nay đã nghe đầy đủ nghĩa bài kệ. Sở nguyện của ông đã được thỏa mãn, chắc chắn muốn tạo lợi ích cho chúng sinh thì hãy bố thí thân cho ta đi”. Này thiện nam! Ta vào lúc ấy, nghĩ sâu ý nghĩa này, rồi sau đó ghi chép bài kệ này vào khắp nơi, hoặc trên đá, hoặc trên vách, hoặc trên cây, hoặc trên đường. Ta liền buộc lại quần áo đang mặc vì sợ sau khi chết, thân thể bị lộ diện, rồi leo lên cây cao. Bấy giờ, thần cây lại hỏi ta: “Hay thay! Ông muốn làm việc gì?”. Này thiện nam! Ta liền đáp: “Tôi muốn xả thân để báo đền giá trị bài kệ”. Thần cây hỏi: “Bài kệ đó có lợi ích gì?”. Ta đáp: “Bài kệ như vậy là lời khai thị đạo pháp không của chư Phật đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Ta vì pháp này mà xả bỏ thân mạng. Ta chẳng vì lợi dưỡng, tiếng tăm, của báu, Chuyển luân Thánh vương, Tứ Đại Thiên Vương, Thích-đề-hoàn-nhân, Đại Phạm Thiên Vương, niềm vui trong trời, người, mà vì muốn tạo lợi ích cho tất cả chúng sinh nên xả thân này”. Này thiện nam! Khi ta xả thân này, lại nói: “Nguyện cho tất cả người tham lam keo kiệt đều đến chứng kiến ta lìa bỏ thân này. Nếu có người bố thí ít, khởi cao ngạo thì cũng khiến cho được thấy ta xả thân mạng này vì một bài kệ như bỏ cỏ cây”. Vào lúc ấy, ta nói lời này xong, liền buông mình gieo xuống đất. Khi rơi xuống chưa đến đất thì trong hư không phát ra đủ thứ âm thanh. Những âm thanh ấy vang đến tận trời Sắc Cứu Cánh. Bấy giờ, La-sát hiện lại thân hình Đế thích, liền ở trong hư không hứng lấy thân ta, đặt xuống đất bằng. Khi ấy, Thích-đề-hoàn-nhân và những hàng trời, người, Đại Phạm Thiên Vương cúi đầu đảnh lễ ở dưới chân ta và khen: “Hay thay! Hay thay! Chân thật là Bồ-tát, có thể đem lợi ích lớn cho vô lượng chúng sinh, muốn ở trong vô minh đen tối thắp ngọn đuốc đại pháp. Ta do ưa thích đại pháp của Như Lai nên nhiễu hại Ngài. Nguyện xin cho ta sám hối tội lỗi. Ngài vào đời vị lai nhất định thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nguyện xin được tế độ”. Bấy giờ, Thích-đề-hoàn-nhân và các thiên chúng đảnh lễ dưới chân ta. Đến đây, họ giả từ ra đi, bỗng nhiên biến mất. Này thiện nam! Như ta thuở xưa vì nửa bài kệ nên xả bỏ thân này. Do nhân duyên đó nên liền được vượt qua đủ mười hai kiếp, rồi thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trước Di-lặc. Này thiện nam! Ta được vô lượng công đức như vậy là đều do cúng dường chánh pháp của Như Lai. Này thiện nam! Ông nay cũng vậy, phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì đã vượt lên trên vô lượng vô biên Bồ-tát nhiều như cát sông Hằng. Này thiện nam! Đó gọi là Bồ-tát trụ ở Đại Bát Niết Bàn Đại Thừa tu hành Thánh hạnh.