Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN

Hán dịch: Căn cứ vào bản dịch của Tam tạng Pháp sư Đàm Vô Sấm, đời Tống. Sa-môn Tuệ Nghiêm, Tuệ Quán và Cư sĩ Tạ Linh Vận sửa lại
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đạo Tạng Kinh

 

Phẩm 23: BỒ TÁT SƯ TỬ HỐNG 

(Từ Quyển 25 đến quyển 31)

Bấy giờ, Đức Phật bảo tất cả đại chúng:

–Này các Thiện nam! Nếu các ông nghi ngờ có Phật hay không có Phật, có Pháp hay không có Pháp, có Tăng hay không có Tăng, có Khổ hay không có Khổ, có Tập hay không có Tập, có Diệt hay không có Diệt, có Đạo hay không có Đạo, có thật hay không có thật, có ngã hay không có ngã, có lạc hay không có lạc, có tịnh hay không có tịnh, có thường hay không có thường, có thừa hay không có thừa, có tánh hay không có tánh, có chúng sinh hay không có chúng sinh, có hữu hay không có hữu, có chân hay không có chân, có nhân hay không có nhân, có quả hay không có quả, có tác hay không có tác, có nghiệp hay không có nghiệp, có báo hay không có báo, thì nay Ta cho các ông mặc ý hỏi. Ta sẽ vì các ông phân biệt giảng nói. Này thiện nam! Ta thật chẳng thấy hoặc trời, hoặc người, hoặc ma, hoặc Phạm, hoặc Samôn, hoặc Bà-la-môn có đến hỏi mà Ta chẳng thể đáp.

Lúc này, trong chúng hội có một vị Bồ-tát tên là Sư Tử Hống, liền đứng dậy, nghiêm sắc mặt, sửa y phục đến trước lễ dưới chân Phật, quỳ dài, vòng tay bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Con vừa muốn hỏi thì Như Lai đại bi đại từ rủ lòng thương cho phép.

Bấy giờ, Đức Phật bảo các đại chúng:

–Này các thiện nam! Nay các ông đối với vị Bồ-tát này phải sinh lòng cung kính sâu xa, tôn trọng, khen ngợi, phải dùng đủ thứ hương hoa, kỹ nhạc, chuỗi ngọc, cờ phướn, lọng báu, y phục, thức ăn, thức uống, đồ nằm, thuốc men, phòng nhà, cung điện mà cúng dường, rước đến, đưa đi. Vì sao? Vì người này đã ở chỗ các Đức Phật quá khứ trồng sâu căn lành, thành tựu phước đức. Vậy nên hôm nay ở trước Ta, ông muốn rống tiếng rống sư tử. Này thiện nam! Như sư tử chúa tự biết sức lực, nanh vuốt bén nhọn, bốn chân chống đất, đứng vững trong hang, đập đuôi phát tiếng. Nếu sư tử có đủ các tướng như vậy thì phải biết nó có thể rống tiếng rống sư tử. Sư tử chúa thật, sáng sớm ra khỏi hang, vươn vai ngáp dài, quay nhìn bốn hướng, phát ra tiếng rống chấn động vì mười một việc. Những gì là mười một? Một là vì muốn hoại loài chẳng phải sư tử thật mà giả làm sư tử. Hai là muốn thử sức lực của mình. Ba là vì muốn chỗ ở sạch. Bốn là vì muốn các con biết chỗ ở. Năm là vì muốn bầy đàn không kinh sợ. Sáu là vì muốn những loài ngủ được thức tỉnh. Bảy là vì muốn tất cả các loài thú buông lung chẳng buông lung. Tám là vì muốn các loài thú đến chầu hầu. Chín là vì muốn điều phục các con hương tượng. Mười là vì muốn dạy bảo con cái. Mười một là vì muốn trang nghiêm quyến thuộc của mình. Tất cả loài cầm thú nghe tiếng rống sư tử thì loài sống dưới nước lặn xuống vực sâu, loài đi trên đất giấu mình trong hang động, loài bay trên không rơi xuống đất. Những con hương tượng lớn sợ chạy vãi phân. Này thiện nam! Như loài dã can kia cho dù có theo sư tử đến hàng trăm năm thì chẳng bao giờ có thể rống được tiếng rống của sư tử. Nếu sư tử bắt đầu tròn ba tuổi thì có thể rống như sư tử chúa. Này thiện nam! Như Lai có móng vuốt trí tuệ, chân bốn như ý, thân đầy đủ sáu pháp Ba-lamật, sức mạnh mười lực, đuôi đại bi, an trụ trong hang thanh tịnh Tứ thiền, vì các chúng sinh mà rống tiếng rống sư tử, dẹp phá quân ma, mười lực thị chúng, mở hành xứ của Phật, làm chỗ quy y cho các tà kiến, an ủi vỗ về chúng sinh kinh sợ sinh tử, thức tỉnh chúng sinh trong giấc ngủ vô minh, làm cho người làm điều ác sinh lòng hối hận, khai thị tất cả chúng sinh tà kiến, khiến cho họ biết hàng Lục sư chẳng phải là sư tử hống, phá lòng kiêu mạn của Phú-lan-na v.v… Vì khiến cho hàng Nhị thừa sinh lòng hối hận, vì dạy các Bồ-tát ở địa thứ năm sinh tâm đại lực, vì khiến cho bốn bộ chúng chánh kiến đối với bốn bộ đồ đảng tà kiến kia chẳng sinh sợ hãi, nên từ trong hang động Thánh hạnh, Phạm hạnh, Thiên hạnh vươn vai mà ra. Vì muốn khiến cho những chúng sinh đó phá kiêu mạn nên ngáp dài. Vì khiến cho những chúng sinh đó sinh ra pháp thiện nên quay nhìn bốn hướng. Vì khiến cho những chúng sinh đó được bốn vô ngại nên bốn chân chống đất. Vì khiến cho những chúng sinh an trụ đầy đủ ở Giới Ba-la-mật nên rống tiếng rống sư tử. Tiếng rống sư tử là nói quyết định rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, Như Lai thường trụ không có biến dịch. Này thiện nam! Thanh văn, Duyên giác tuy lại theo Như Lai Thế Tôn đến vô lượng trăm ngàn vô số kiếp mà cũng chẳng thể làm nên tiếng rống sư tử. Bồ-tát Thập Trụ nếu có thể tu hành ba hành xứ này thì phải biết là có thể rống tiếng rống sư tử. Này các Thiện nam! Đại Bồ-tát Sư Tử Hống này hôm nay muốn rống lên tiếng rống sư tử lớn như vậy. Vậy nên các ông cần phải hết lòng cúng dường cung kính, tôn trọng khen ngợi.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Đại Bồ-tát Sư Tử Hống:

–Này thiện nam! Nếu ông muốn hỏi thì hôm nay có thể tùy ý. Đại Bồ-tát Sư Tử Hống bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Phật tánh? Do ý nghĩa gì nên gọi là Phật tánh? Vì sao lại gọi là thường, lạc, ngã, tịnh? Nếu tất cả chúng sinh có Phật tánh thì vì sao chẳng thấy Phật tánh của tất cả chúng sinh? Bồ-tát Thập Trụ trụ ở những pháp gì mà chẳng thấy rõ ràng? Phật trụ ở những pháp gì mà thấy rõ ràng? Bồ-tát Thập Trụ dùng những mắt gì mà chẳng thấy rõ ràng? Phật dùng mắt gì mà thấy rõ ràng?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Hay thay! Hay thay! Nếu có người có thể vì pháp thưa hỏi thì được đầy đủ hai thứ trang nghiêm, một là trí tuệ, hai là phước đức. Nếu có Bồ-tát đầy đủ hai thứ trang nghiêm như vậy thì biết được Phật tánh và cũng hiểu biết sao gọi là Phật tánh cho đến có thể biết Bồ-tát Thập Trụ dùng mắt gì để thấy, chư Phật Thế Tôn dùng mắt gì để thấy.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Sao gọi là trí tuệ trang nghiêm? Sao gọi là phước đức trang nghiêm?

–Này thiện nam! Tuệ trang nghiêm là gọi từ địa thứ nhất cho đến địa thứ mười. Đó gọi là tuệ trang nghiêm. Phước đức trang nghiêm là gọi từ Thí Ba-la-mật cho đến Bát nhã, chẳng phải là Bát nhã Ba-lamật. Lại nữa, này thiện nam! Tuệ trang nghiêm là gọi chư Phật, Bồ-tát.

Phước đức trang nghiêm là gọi Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát Cửu trụ.

Lại nữa, này thiện nam! Phước đức trang nghiêm là hữu vi, hữu lậu, có hữu, có quả báo, có ngăn ngại, chẳng phải thường là những pháp phàm phu. Tuệ trang nghiêm là vô vi, vô lậu, không hữu, không quả báo, không ngăn ngại, thường trụ. Này thiện nam! Nay ông đầy đủ hai thứ trang nghiêm này nên có thể hỏi diệu nghĩa thâm diệu. Ta cũng đầy đủ hai thứ trang nghiêm này nên có thể đáp nghĩa đó.

Đại Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Nếu có Bồ-tát đầy đủ hai thứ trang nghiêm như vậy, thì chẳng nên hỏi một thứ, hai thứ… thì sao Đức Thế Tôn nói rằng có thể đáp một thứ, hai thứ. Vì sao? Vì tất cả các pháp không một, hai thứ. Một thứ, hai thứ là tướng của phàm phu.

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Nếu có Bồ-tát không có hai thứ trang nghiêm thì chẳng thể biết một thứ, hai thứ. Nếu có Bồ-tát đủ hai thứ trang nghiêm thì có thể hiểu biết một thứ, hai thứ. Nếu nói rằng các pháp không một, hai thì nghĩa này chẳng đúng. Vì sao? Nếu không một, hai thì làm sao được nói tất cả các pháp không một, không hai. Này thiện nam! Nếu nói rằng, một, hai là tướng của phàm phu thì đó mới gọi là Bồ-tát Thập Trụ, chẳng phải phàm phu. Vì sao? Vì một là gọi Niếtbàn, hai là gọi sinh tử. Vì sao một gọi là Niết-bàn? Vì một ấy thường. Vì sao hai gọi là sinh tử? Vì ái, vô minh. Cái thường của Niết-bàn chẳng phải tướng phàm phu. Sinh tử là hai thì cũng chẳng phải tướng phàm phu. Do nghĩa này nên người đủ hai thứ trang nghiêm thì có thể hỏi, có thể đáp. Này thiện nam! Ông hỏi, sao gọi là Phật tánh? Ông hãy lắng nghe, lắng nghe! Ta sẽ vì ông phân biệt giảng nói. Này thiện nam! Phật tánh là gọi đệ nhất nghĩa không. Đệ nhất nghĩa không gọi là trí tuệ. Cái nói là không thì chẳng thấy không cùng chẳng không. Người trí tuệ thấy không cùng chẳng không, thường cùng vô thường, khổ cùng lạc, ngã cùng vô ngã. Không là tất cả sinh tử, chẳng không thì gọi là Đại Niết-bàn cho đến vô ngã tức là sinh tử. Ngã thì gọi là Đại Niết-bàn. Thấy tất cả không, chẳng thấy chẳng không chẳng gọi là trung đạo cho đến thấy tất cả vô ngã, chẳng thấy ngã thì chẳng gọi là trung đạo. Trung đạo thì gọi là Phật tánh. Do nghĩa này nên Phật tánh thường hằng không có biến dịch, vì vô minh che nên khiến cho chúng sinh chẳng thể thấy. Thanh văn, Duyên giác thấy tất cả không, chẳng thấy chẳng không cho đến thấy tất cả vô ngã, chẳng thấy ngã. Do nghĩa này nên họ chẳng được đệ nhất nghĩa không. Chẳng được đệ nhất nghĩa không nên chẳng hành Trung đạo. Không hành Trung đạo nên chẳng thấy Phật tánh. Này thiện nam! Người chẳng thấy Trung đạo gồm có ba hạng: Một là định lạc hạnh, hai là định khổ hạnh, ba là khổ lạc hạnh. Định lạc hạnh là gọi Đại Bồ-tát thương xót tất cả chúng sinh nên tuy ở tại địa ngục A-tỳ nhưng như niềm vui Tam thiền. Định khổ hạnh là gọi các phàm phu. Khổ lạc hạnh là gọi Thanh văn, Duyên giác. Thanh văn, Duyên giác hành theo khổ lạc, khởi tư tưởng Trung đạo. Do nghĩa này nên tuy có Phật tánh mà chẳng thể thấy. Như lời ông đã hỏi, do nghĩa gì nên gọi là Phật tánh? Này thiện nam! Phật tánh tức là chủng tử trung đạo của tất cả các Đức Phật Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại nữa, này thiện nam! Đạo có ba bậc là hạ, trung, thượng. Hạ là Phạm thiên, vô thường lầm thấy là thường. Thượng là sinh tử vô thường lầm thấy là thường, Tam bảo là thường mà chấp là vô thường. Sao gọi là thượng? Có thể đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trung gọi là đệ nhất nghĩa không: vô thường thấy là vô thường, thường thấy là thường. Đệ nhất nghĩa không chẳng gọi là hạ. Vì sao? Vì điều mà tất cả phàm phu không đạt được nên chẳng gọi là thượng. Vì sao? Vì đó chính là thượng. Đạo tu hành của chư Phật, Bồ-tát chẳng thượng, chẳng hạ. Do nghĩa này nên gọi là trung đạo.

Lại nữa, này thiện nam! Bản tế của sinh tử có hai thứ: một là vô minh, hai là hữu ái. Trung gian của hai thứ này thì có khổ của sinh, già, bệnh, chết. Đó gọi là trung đạo. Như vậy trung đạo có thể phá sinh tử nên gọi là trung. Do nghĩa này nên pháp trung đạo gọi là Phật tánh. Vậy nên Phật tánh thường, lạc, ngã, tịnh. Do các chúng sinh chẳng thể thấy nên cho là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Phật tánh thật chẳng phải vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Này thiện nam! Ví như người nghèo nhà có kho báu mà người đó chẳng thấy. Do chẳng thấy nên vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Có thiện tri thức nói với người đó: “Trong nhà ông có kho vàng mà vì sao ông bần cùng khốn khổ, vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh như vậy?”. Người này liền dùng phương tiện khiến cho người nghèo kia thấy được. Do thấy được kho báu nên người đó liền được thường, lạc, ngã, tịnh. Phật tánh cũng vậy, chúng sinh chẳng thấy mà do chẳng thấy nên vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Có thiện tri thức là chư Phật, Bồ-tát dùng sức phương tiện, đủ thứ lời dạy bảo khiến cho những chúng sinh đó thấy được. Do thấy được Phật tánh nên chúng sinh liền được thường, lạc, ngã, tịnh.

Lại nữa, này thiện nam! Chúng sinh khởi kiến chấp có hai thứ:

một là thường kiến, hai là đoạn kiến. Hai kiến như vậy chẳng gọi là trung đạo; vô thường, vô đoạn mới gọi là Trung đạo. Vô thường, vô đoạn tức là trí quán chiếu mười hai nhân duyên. Trí quán như vậy gọi là Phật tánh. Hàng Nhị thừa tuy quán nhân duyên nhưng cũng chẳng được gọi là Phật tánh. Phật tánh tuy thường do vô minh của chúng sinh che lấp nên chẳng thể thấy được, lại chưa có thể qua khỏi dòng sông mười hai nhân duyên, giống như con thỏ, con ngựa. Vì sao? Vì chẳng thấy Phật tánh. Này thiện nam! Trí tuệ quán mười hai nhân duyên này tức là hạt giống Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Do nghĩa này nên mười hai nhân duyên gọi là Phật tánh. Này thiện nam! Ví như dưa hấu gọi là bệnh nóng. Vì sao? Vì nó có thể làm nhân duyên cho bệnh nóng. Mười hai nhân duyên cũng như vậy. Này thiện nam! Phật tánh có nhân, có nhân của nhân, có quả, có quả của quả. Có nhân tức là mười hai nhân duyên. Nhân của nhân tức là trí tuệ. Có quả tức là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Quả của quả tức là Đại Bát Niết Bàn vô thượng. Này thiện nam! Ví như vô minh là nhân, các hành là quả, hành là nhân, thức là quả. Do nghĩa này nên thể của vô minh đó cũng là nhân, cũng là nhân của nhân và thức cũng là quả, cũng là quả của quả. Phật tánh cũng vậy. Này thiện nam! Do nghĩa này nên mười hai nhân duyên chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng thường, chẳng đoạn, chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng lại, chẳng đi, chẳng phải nhân, chẳng phải quả. Này thiện nam! Nhân này chẳng phải quả. Như Phật tánh là quả chẳng phải nhân. Như Đại Niết-bàn là nhân, là quả. Như các pháp do mười hai nhân duyên sinh ra chẳng phải nhân, chẳng phải quả nên gọi là Phật tánh, chẳng phải nhân quả nên thường hằng không biến dịch. Do nghĩa này nên trong kinh Ta nói mười hai nhân duyên, nghĩa ấy thâm diệu, không biết, không thấy, chẳng thể nghĩ bàn, là cảnh giới của chư Phật, Bồ-tát, chẳng phải là chỗ với đến của hàng Thanh văn, Duyên giác. Do nghĩa gì nên vô cùng sâu xa? Nghiệp hành của chúng sinh chẳng thường, chẳng đoạn mà bị quả báo, tuy niệm niệm diệt mà không có gì mất, tuy không tác giả mà có tạo nghiệp, tuy không người thọ mà có quả báo. Người thọ tuy diệt nhưng quả chẳng hư mất, không có nghĩ biết, hòa hợp mà có, tất cả chúng sinh tuy cùng mười hai nhân duyên đồng hành mà chẳng thấy chẳng biết, vì chẳng thấy chẳng biết nên không có chung thủy. Bồ-tát Thập Trụ chỉ thấy sự kết thúc của nó mà chẳng thấy sự bắt đầu. Chư Phật Thế Tôn thì thấy đầu, thấy cuối. Do nghĩa này nên chư Phật thấy được Phật tánh rõ ràng. Này thiện nam! Tất cả chúng sinh chẳng thể thấy mười hai nhân duyên nên bị luân chuyển. Này thiện nam! Như con tằm làm kén tự sinh, tự chết. Tất cả chúng sinh cũng như vậy, chẳng thấy Phật tánh nên tự tạo kết nghiệp lưu chuyển sinh tử giống như đá cầu. Này thiện nam! Vậy nên ở trong các kinh Ta nói rằng, nếu có người thấy mười hai nhân duyên tức là thấy pháp, mà thấy pháp tức là thấy Phật. Phật tức là Phật tánh. Vì sao? Vì tất cả chư Phật lấy đây làm tánh. Này thiện nam! Trí quán mười hai nhân duyên có bốn thứ: một là hạ, hai là trung, ba là thượng, bốn là thượng thượng. Người hạ trí quán chẳng thấy Phật tánh, do chẳng thấy nên họ đắc đạo Thanh văn. Người trung trí quán chẳng thấy Phật tánh, do chẳng thấy nên đắc đạo Duyên giác. Người thượng trí quán thì thấy Phật tánh chẳng rõ ràng, vì thấy chẳng rõ ràng nên trụ ở địa Thập trụ. Người thượng thượng trí quán thì thấy Phật tánh rõ ràng nên đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Do nghĩa này nên mười hai nhân duyên gọi là Phật tánh. Phật tánh tức là đệ nhất nghĩa không. Đệ nhất nghĩa không gọi là Trung đạo. Trung đạo tức là Phật, mà Phật gọi là Niết-bàn.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Sư Tử Hống bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nếu Phật cùng Phật tánh không sai khác thì tất cả chúng sinh cần gì phải tu đạo?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Như lời ông hỏi thì nghĩa này chẳng đúng. Phật cùng Phật tánh tuy không sai khác, nhưng các chúng sinh đều chưa đầy đủ. Này thiện nam! Ví như có người ác tâm hại mẹ, hại rồi sinh ra hối hận. Nghiệp thứ hai tuy tốt nhưng người vẫn gọi là người địa ngục. Vì sao? Vì người này nhất định phải đọa vào địa ngục. Người này tuy không đọa vào địa ngục, ấm, giới, nhập nhưng vẫn gọi là người địa ngục. Này thiện nam! Vậy nên ở trong các kinh Ta nói, nếu thấy có người tu hành thiện thì gọi là thấy hàng trời, người, người tu hành ác thì gọi là thấy địa ngục. Vì sao? Vì nhất định thọ báo. Này thiện nam! Tất cả chúng sinh nhất định đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vậy nên Ta nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng tất cả chúng sinh thật chưa có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Do nghĩa này nên ở kinh này Ta nói bài kệ:

Trước có nay không

Trước không nay có

Pháp ba đời có

Là điều không có.

Này thiện nam! Có thì gồm có ba thứ: một là vị lai có, hai là hiện tại có, ba là quá khứ có. Tất cả chúng sinh đời vị lai sẽ đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Đó gọi là Phật tánh. Tất cả chúng sinh hiện tại đều có những kiết phiền não nên hiện tại không có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Tất cả chúng sinh đời quá khứ có đoạn trừ phiền não nên hiện tại thấy được Phật tánh. Do nghĩa này nên Ta thường tuyên nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, thậm chí Nhấtxiển-đề v.v… cũng có Phật tánh. Nhất-xiển-đề v.v… không có pháp thiện mà Phật tánh là pháp thiện. Do đời vị lai sẽ có nên Nhất-xiển-đề v.v… đều có Phật tánh. Vì sao? Vì Nhất-xiển-đề v.v… nhất định sẽ thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này thiện nam! Ví như có người, trong nhà có sữa đặc. Có người hỏi: “Ông có váng sữa không?”. Đáp: “Ta có váng sữa”. Thật chẳng phải váng sữa, nhưng dùng phương tiện khéo léo thì nhất định sẽ có được nên nói có váng sữa. Chúng sinh cũng vậy, họ đều có tâm mà phàm có tâm thì nhất định sẽ thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Do nghĩa này nên Ta thường tuyên nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Này thiện nam! Rốt ráo có hai thứ: một là trang nghiêm rốt ráo, hai là cứu cánh rốt ráo. Một là thế gian rốt ráo, hai là xuất thế gian rốt ráo. Trang nghiêm rốt ráo là sáu Ba-la-mật. Cứu cánh rốt ráo là tất cả chúng sinh đắc Nhất thừa. Nhất thừa thì gọi là Phật tánh. Do nghĩa này nên ta nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, tất cả chúng sinh đều có Nhất thừa, nhưng vì vô minh che lấp nên chẳng thể thấy được. Này thiện nam! Như cõi Uất-đan-việt, cõi trời Tam Thập Tam, vì bị quả báo che lấp nên chúng sinh ở cõi này chẳng thể thấy được. Phật tánh cũng vậy, các kiết sử che lấp nên chúng sinh chẳng thấy. Lại nữa, này thiện nam! Phật tánh tức là Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm, tánh như đề hồ tức là mẹ của tất cả chư Phật. Do năng lực của Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm mà khiến cho chư Phật thường, lạc, ngã, tịnh. Tất cả chúng sinh đều có Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm, nhưng vì chẳng tu hành nên chẳng thấy được. Vậy nên chẳng thể thành tựu được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này thiện nam! Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm có năm thứ tên: một là Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm, hai là Bát nhã Ba-la-mật, ba là Tammuội Kim cương, bốn là Tam-muội Sư Tử Hống, năm là Phật tánh. Tùy theo chỗ tác dụng của Tam-muội ấy mà được gọi tên. Này thiện nam! Như một Tam-muội được đủ thứ tên: Như thiền gọi là Tứ thiền, căn gọi là định căn, lực gọi là định lực, giác gọi là định giác, chánh gọi là chánh định, bát đại nhân giác gọi là định giác. Định Thủ-lăng-nghiêm cũng như vậy. Này thiện nam! Tất cả chúng sinh đầy đủ ba định là thượng, trung, hạ. Định thượng thì gọi là Phật tánh. Do đó nên nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Định trung là tất cả chúng sinh đầy đủ sơ thiền, khi có nhân duyên thì có thể tu tập, nếu không có nhân duyên thì chẳng thể tu tập. Nhân duyên có hai thứ: một gọi là tai họa về lửa, hai gọi là phá kiết sử của Dục giới. Do đó nên nói, tất cả chúng sinh đều đủ định trung. Định hạ là định tâm sở trong mười đại địa. Do đó nên nói tất cả chúng sinh đều đủ định hạ. Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh nhưng vì phiền não che lấp nên chẳng thể thấy được. Bồ-tát Thập Trụ tuy thấy Nhất thừa nhưng chẳng biết Như Lai là pháp thường trụ. Do đó nên nói Bồ-tát Thập Trụ tuy thấy Phật tánh mà chẳng rõ ràng. Này thiện nam! Thủ-lăng là tất cả việc đều rốt ráo. Nghiêm gọi là kiên cố. Tất cả rốt ráo mà được kiên cố thì gọi là Thủ-lăng-nghiêm.

Do đó nên nói định Thủ-lăng-nghiêm là Phật tánh.

Này thiện nam! Một thuở nọ, Ta ở bên sông Ni-liên-thiền bảo Anan: “Nay Ta muốn tắm, ông hãy lấy y và cả bột đậu”. Ta đã vào nước rồi, tất cả loài chim bay, các loài thuộc dưới nước, trên đất đều đến xem Ta”. Bấy giờ, lại có năm trăm vị Phạm chí đến bên bờ sông. Nhân đến chỗ Ta tắm, họ đều nói với nhau: “Làm sao mà được thân kim cương? Giả sử nếu Cù-đàm chẳng nói đoạn kiến thì ta sẽ theo ông để thỉnh thọ trai”. Này thiện nam! Lúc này, Ta dùng trí tha tâm biết được ý nghĩ của Phạm chí này nên bảo: “Sao bảo là Ta nói đoạn kiến?”. Phạm chí đó nói: “Thưa Cù-đàm! Trước đây ở mọi chỗ trong kinh, ông nói các chúng sinh đều không có ngã. Đã nói vô ngã thì sao gọi là chẳng phải đoạn kiến? Nếu vô ngã thì người trì giới là ai? Người phá giới là ai?”. Ta nói: “Ta cũng chẳng nói tất cả chúng sinh đều không có ngã, mà Ta thường tuyên nói tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Phật tánh thì lẽ nào chẳng phải là ngã sao? Do nghĩa này nên Ta chẳng nói đoạn. Tất cả chúng sinh chẳng thấy Phật tánh nên vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Như thế thì gọi là nói đoạn kiến”. Các Phạm chí nghe nói Phật tánh tức là ngã nên liền phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đồng thời xuất gia tu đạo Bồ-đề. Tất cả các loài thuộc loại chim bay, loài sống dưới nước, ở trên đất cũng phát tâm Bồ-đề Vô thượng. Đã phát tâm rồi, chúng liền được xả thân. Này thiện nam! Phật tánh này thật ra chẳng phải ngã, nhưng vì chúng sinh nên Ta nói là ngã. Này thiện nam! Như Lai có nhân duyên nên nói vô ngã là ngã mà chân thật là vô ngã. Tuy Ta nói lời này nhưng không có hư vọng. Này thiện nam! vì có nhân duyên nên nói ngã là vô ngã mà thật có ngã. Vì thế giới nên tuy nói vô ngã mà không hư vọng. Phật tánh vô ngã, Như Lai nói là ngã vì Phật tánh là thường. Như Lai là ngã mà nói vô ngã vì được tự tại.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Sư Tử Hống bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nếu tất cả chúng sinh đều có Phật tánh như Lực sĩ Kim cương thì vì nghĩa gì mà tất cả chúng sinh chẳng thể thấy được?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Ví như sắc pháp tuy có khác về màu sắc xanh, vàng, đỏ, trắng, về tính chất hình dáng dài ngắn, nhưng người mù chẳng thấy. Tuy họ chẳng thấy nhưng cũng chẳng thể nói, sắc pháp không có tính chất, hình dáng dài, ngắn, xanh, vàng, đỏ, trắng. Vì sao? Vì tuy người mù chẳng thấy, nhưng người mắt sáng thì thấy. Phật tánh cũng vậy, tất cả chúng sinh tuy chẳng thể thấy nhưng Bồ-tát Thập Trụ thấy một phần ít, Như Lai thấy hoàn toàn. Bồ-tát Thập Trụ thấy Phật tánh như ban đêm thấy sắc. Như Lai thấy Phật tánh thì như ban ngày thấy sắc. Này thiện nam! Ví như người mù lòa thấy sắc chẳng rõ. Có vị lương y trị liệu cho ông ấy, nhờ hiệu lực của thuốc nên thấy được rõ ràng. Bồ-tát Thập Trụ cũng như vậy, tuy thấy Phật tánh chẳng thể rõ ràng nhưng do lực của Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm nên có thể được rõ ràng. Này thiện nam! Nếu có người thấy tất cả pháp là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh và thấy cái chẳng phải tất cả pháp cũng vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh thì người như vậy chẳng thấy Phật tánh. Tất cả là sinh tử. Chẳng phải tất cả là Tam bảo. Thanh văn, Duyên giác thấy tất cả pháp vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Cái chẳng phải pháp cũng thấy là vô thường, vô ngã, vô lạc, vô tịnh. Do nghĩa này nên họ chẳng thấy Phật tánh. Bồ-tát Thập Trụ thấy tất cả pháp vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh; thấy một phần của chẳng phải tất cả pháp là thường, lạc, ngã, tịnh. Do nghĩa này nên trong mười phần thấy được một phần. Chư Phật Thế Tôn thấy tất cả pháp là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh, thấy cái chẳng phải tất cả pháp là thường, lạc, ngã, tịnh. Do nghĩa này nên thấy Phật tánh, như xem trái A-ma-lặc trong lòng bàn tay. Do nghĩa này nên nên định Thủ-lăng-nghiêm gọi là rốt ráo. Này thiện nam! Ví như trăng ngày đầu tiên tuy chẳng thể thấy nhưng chẳng thể nói là không có. Phật tánh cũng vậy, tất cả phàm phu tuy chẳng thấy được nhưng cũng chẳng thể nói là không có Phật tánh.

Này thiện nam! Phật tánh đó là mười lực, bốn vô sở úy, đại bi, ba niệm xứ. Tất cả chúng sinh đều có ba pháp phá trừ phiền não nên về sau mới được thấy Nhất-xiển-đề. Phá Nhất-xiển-đề, rồi sau đó được mười lực, bốn vô sở úy, đại bi, ba niệm xứ. Do nghĩa này nên Ta thường tuyên nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh.

Này thiện nam! Mười hai nhân duyên, tất cả chúng sinh đều có, cả bên trong lẫn bên ngoài. Những gì là mười hai? Phiền não quá khứ gọi là vô minh, nghiệp quá khứ gọi là hành. Trong đời hiện tại khi bắt đầu thọ thai thì gọi là thức. Vào thai mà năm phần bốn căn chưa đủ gọi là danh sắc. Đầy đủ bốn căn khi chưa gọi là xúc thì đó gọi là lục nhập. Chưa phân biệt khổ vui gọi là xúc. Nhiễm tập một ái gọi là thọ. Quen gần năm dục gọi là ái. Tham cầu trong ngoài gọi là thủ. Vì việc trong ngoài mà khởi lên nghiệp thân, miệng, ý gọi là hữu. Thức của đời hiện tại gọi là vị lai sinh. Danh sắc, lục nhập, xúc, thọ hiện tại gọi là lão bệnh tử đời vị lai. Đó gọi là mười hai nhân duyên. Này thiện nam! Tất cả chúng sinh tuy có mười hai nhân duyên như vậy, hoặc có loại có nhưng chưa đủ. Như khi Ca-lâu-la chết thì không có mười hai, từ sinh cho đến già chết, được kể đủ mười hai. Chúng sinh cõi Sắc không có ba thứ thọ, ba thứ xúc, ba thứ ái, không có lão bệnh, thì cũng được gọi là đầy đủ mười hai. Chúng sinh cõi Vô sắc, không sắc cho đến không có lão tử mà cũng được gọi là đầy đủ là mười hai. Do họ nhất định được nên gọi là chúng sinh bình đẳng có đủ mười hai nhân duyên. Này thiện nam! Phật tánh cũng vậy, tất cả chúng sinh nhất định sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vậy nên Ta nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Này thiện nam! Núi Tuyết có thứ cỏ tên là Nhẫn nhục, bò ăn vào thì cho ra đề hồ. Ở đó lại có thứ cỏ khác, nếu bò ăn thì không có đề hồ. Tuy không có đề hồ nhưng chẳng thể nói rằng, trong núi Tuyết không có cỏ Nhẫn nhục. Phật tánh cũng vậy, núi Tuyết là gọi Như Lai, cỏ Nhẫn nhục là gọi Đại Niết-bàn, cỏ khác là mười hai bộ loại kinh điển. Chúng sinh nếu có thể nghe, thọ trì, thưa hỏi, gợi mở Đại Bát Niết Bàn thì thấy Phật tánh. Trong mười hai bộ loại kinh điển, tuy chẳng nghe nói có nhưng chẳng thể nói rằng không Phật tánh.

Này thiện nam! Phật tánh là sắc, phi sắc, phi sắc phi phi sắc, cũng tướng, phi tướng, phi tướng phi phi tướng, cũng nhất, phi nhất, phi nhất phi phi nhất, phi thường, phi đoạn, phi phi thường, phi phi đoạn, cũng hữu, cũng vô, phi hữu, phi vô, cũng tận, phi tận, phi tận phi phi tận, cũng nhân, cũng quả, phi nhân, phi quả, cũng nghĩa, phi nghĩa, phi nghĩa phi phi nghĩa, cũng tự, phi tự, phi tự phi phi tự. Sao gọi là sắc? Vì thân kim cương. Sao gọi là phi sắc? Vì mười tám pháp bất cộng chẳng phải là sắc pháp. Sao gọi là phi sắc phi phi sắc? Vì sắc chẳng phải sắc, không có định tướng. Sao gọi là tướng? Ba mươi hai tướng. Sao gọi là phi tướng? Tướng của tất cả chúng sinh chẳng hiện ra. Sao gọi là phi tướng phi phi tướng? Tướng chẳng phải tướng chẳng quyết định. Sao gọi là nhất? Tất cả chúng sinh đều là Nhất thừa. Sao gọi là phi nhất? Nói về ba thừa. Sao gọi là phi nhất phi phi nhất? Vô số pháp. Sao gọi là phi thường? Từ nhân duyên mà thấy. Sao gọi là phi đoạn? Lìa khỏi đoạn kiến. Sao gọi là phi phi thường, phi phi đoạn? Không thỉ chung. Sao gọi là hữu? Tất cả chúng sinh đều là hữu. Sao gọi là vô? Từ phương tiện khéo léo mà thấy được. Sao gọi là phi hữu, phi vô? Tánh của hư không. Sao gọi là tận? Vì đắc Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm. Sao gọi là phi tận? Vì nó thường trụ. Sao gọi là phi tận phi phi tận? Tất cả tướng tận đoạn hết. Sao gọi là nhân? Vì rõ nhân. Sao gọi là quả? Vì quả quyết định. Sao gọi là phi nhân phi quả? Vì nó thường tại. Sao gọi là nghĩa? Có thể thâu tóm hết nghĩa không ngại. Sao gọi là phi nghĩa? Chẳng thể nói. Sao gọi là phi nghĩa phi phi nghĩa? Rốt ráo rỗng không. Sao gọi là tự? Có danh xưng. Sao gọi là phi tự? Tên không tên. Sao gọi là phi tự phi phi tự? Đoạn dứt tất cả tự. Sao gọi là phi khổ phi lạc? Đoạn dứt tất cả thọ. Sao gọi là phi ngã? Chưa có thể đủ được tám tự tại. Sao gọi là phi phi ngã? Do nó thường trụ. Sao gọi là phi ngã phi phi ngã? Chẳng tác, chẳng thọ. Sao gọi là không? Đệ nhất nghĩa không. Sao gọi là phi không? Do nó thường trụ. Sao gọi là phi không phi phi không? Có thể vì pháp thiện tạo tác chủng tử. Này thiện nam! Nếu có người có thể suy nghĩ hiểu rõ nghĩa của kinh Đại Niết-bàn như vậy thì phải biết người này thấy được Phật tánh. Phật tánh chẳng thể nghĩ bàn mới chính là cảnh giới của chư Phật Như Lai, chẳng phải là điều hiểu biết của hàng Thanh văn, Duyên giác. Này thiện nam! Phật tánh chẳng phải là ấm, giới, nhập, chẳng phải vốn không nay có, chẳng phải đã có rồi trở lại không, từ nhân duyên thiện mà chúng sinh thấy được. Ví như sắt đem cho vào lửa thì đỏ, lấy ra nguội thì trở lại màu đen, màu đen này chẳng phải bên trong, chẳng phải bên ngoài mà do nhân duyên nên có. Phật tánh cũng vậy, lửa phien não của tất cả chúng sinh diệt thì được nghe thấy. Này thiện nam! Như hạt giống diệt rồi thì mầm được sinh mà tánh của mầm này chẳng phải bên trong, chẳng phải bên ngoài cho đến hoa quả cũng như vậy, từ duyên nên có. Này thiện nam! Kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn này thành tựu đầy đủ vô lượng công đức.

Phật tánh cũng vậy, đều là sự thành tựu của vô lượng vô biên công đức. Bấy giờ, Đại Bồ-tát Sư Tử Hống bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Bồ-tát thành tựu đầy đủ bao nhiêu pháp để được thấy Phật tánh mà chẳng rõ ràng? Các Đức Phật thành tựu bao nhiêu pháp mà được thấy rõ ràng?

–Này thiện nam! Bồ-tát thành tựu đầy đủ mười pháp tuy thấy Phật tánh mà chẳng rõ ràng. Những gì là mười? Một là thiểu dục, hai là tri túc, ba là tịch tĩnh, bốn là tinh tấn, năm là chánh niệm, sáu là chánh định, bảy là chánh tuệ, tám là giải thoát, chín là khen ngợi giải thoát, mười là dùng Đại Niết-bàn giáo hóa chúng sinh.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Thiểu dục và tri túc có gì sai biệt?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Thiểu dục là chẳng cầu, chẳng lấy. Tri túc là khi được ít lòng chẳng hối hận. Thiểu dục là ít có sự ham muốn. Tri túc là chỉ vì pháp sự, lòng chẳng sầu não. Này thiện nam! Dục có ba thứ: một là dục ác, hai là đại dục, ba là dục dục. Dục ác là nếu có Tỳ-kheo, lòng sinh tham dục muốn làm thượng thủ của tất cả đại chúng, khiến cho tất cả chúng Tăng theo sau mình, khiến cho những bốn bộ chúng đều cúng dường, cung kính, khen ngợi, tôn trọng mình, muốn ở trước bốn bộ chúng nói pháp đều khiến cho tất cả tin thọ lời của mình, cũng muốn khiến cho quốc vương, đại thần, trưởng giả đều cung kính mình, khiến cho mình được nhiều y phục, ẩm thực, ngọa cụ, y dược, nhà cửa đẹp đẽ, đó là dục của sinh tử, nên gọi là dục ác. Sao gọi là đại dục? Nếu có Tỳ-kheo sinh ra dục tâm: “Làm sao khiến cho bốn bộ chúng đều biết ta được địa Sơ trụ cho đến địa Thập trụ, được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, được quả Tu-đà-hoàn cho đến quả A-la-hán, được Tứ thiền cho đến trí vô ngại”, để được lợi dưỡng, thì đó gọi là đại dục. Dục dục là, nếu có Tỳ-kheo muốn sinh làm Phạm thiên, Ma thiên, Tự Tại thiên, Chuyển luân Thánh vương, hoặc Sát-lợi, hoặc Bà-la-môn để được tự tại, thì đó là vì lợi dưỡng nên gọi là dục dục. Nếu chẳng bị ba thứ ác dục này làm hại thì đó gọi là thiểu dục. Dục là gọi hai mươi lăm thứ yêu thích. Không có hai mươi lăm thứ yêu thích như vậy thì đó gọi là thiểu dục. Chẳng cầu việc mong muốn ở vị lai thì đó gọi là thiểu dục. Được mà chẳng tham đắm thì đó gọi là tri túc. Chẳng cầu cung kính, đó gọi là thiểu dục. Được chẳng cất chứa, đó gọi là tri túc. Này thiện nam! Cũng có người thiểu dục nhưng chẳng gọi là tri túc, có người tri túc nhưng chẳng gọi là thiểu dục, cũng có người thiểu dục cũng là tri túc, có người chẳng tri túc chẳng thiểu dục. Thiểu dục là Tuđà-hoàn, tri túc là Phật-bích-chi, thiểu dục tri túc là A-la-hán, chẳng thiểu dục chẳng tri túc là Bồ-tát. Này thiện nam! Thiểu dục tri túc lại có hai thứ, một là thiện, hai là chẳng thiện. Chẳng thiện là phàm phu. Thiện là Thánh nhân Bồ-tát. Tất cả Thánh nhân tuy được đạo quả nhưng chẳng tự xưng, vì chẳng tự xưng nên lòng chẳng hối hận. Đó gọi là tri túc. Này thiện nam! Đại Bồ-tát tu tập kinh Đại Niết-bàn Đại Thừa muốn thấy Phật tánh nên tu tập thiểu dục tri túc. Sao gọi là tịch tĩnh? Tịch tĩnh có hai, một là tâm tịch tĩnh, hai là thân tịch tĩnh. Thân tịch tĩnh thì chẳng bao giờ tạo tác ba thứ ác của thân. Tâm tịch tĩnh thì cũng chẳng bao giờ tạo tác ba thứ ác của ý. Đó gọi là thân tâm tịch tĩnh. Thân tịch tĩnh thì chẳng bao giờ thân cận bốn chúng, chẳng can dự vào việc làm của bốn chúng. Tâm tịch tĩnh thì chẳng bao giờ tu tập tham dục, sân hận, ngu si. Đó gọi là thân tâm tịch tĩnh. Hoặc có Tỳkheo, thân tuy tịch tĩnh mà tâm chẳng tịch tĩnh, có Tỳ-kheo tâm tịch tĩnh mà thân chẳng tịch tĩnh, có Tỳ-kheo thân tâm đều tịch tĩnh, lại có Tỳ-kheo thân tâm đều chẳng tịch tĩnh. Thân tịch tĩnh, tâm chẳng tịch tĩnh là, hoặc có Tỳ-kheo ngồi thiền chỗ tịch tĩnh, xa lìa bốn chúng mà tâm thường tích tập tham dục, sân hận, ngu si. Đó gọi là thân tịch tĩnh, tâm chẳng tịch tĩnh. Tâm tịch tĩnh, thân chẳng tịch tĩnh là, hoặc có Tỳkheo thân cận bốn chúng, quốc vương, đại thần mà đoạn trừ tham, sân, si. Đó gọi là tâm tịch tĩnh, thân chẳng tịch tĩnh. Thân tâm đều tịch tĩnh là chư Phật, Bồ-tát. Thân tâm chẳng tịch tĩnh là các phàm phu. Vì sao? Vì người phàm phu tuy thân tâm có tịch tĩnh nhưng chẳng thể quan sát sâu vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Do nghĩa này nên người phàm phu chẳng thể tịch tĩnh nghiệp của thân, miệng, ý. Hạng Nhất-xiển-đề phạm bốn trọng cấm, tạo nên tội ngũ nghịch v.v… người như vậy cũng chẳng được gọi là thân tâm tịch tĩnh. Sao gọi là tinh tấn? Nếu có Tỳkheo muốn khiến cho nghiệp thân, miệng, ý thanh tịnh, xa lìa tất cả các nghiệp bất thiện, tu tập tất cả các nghiệp thiện thì đó gọi là tinh tấn. Người đủ tinh tấn thì luôn nghĩ đến sáu chỗ đó là Phật, Pháp, Tăng, Giới, Thí, Trời. Đó gọi là chánh niệm. Người đủ chánh niệm thì sở đắc Tam-muội. Đó gọi là chánh định. Người đủ chánh định thì xem thấy các pháp giống như hư không. Đó gọi là chánh tuệ. Người đủ chánh tuệ thì xa lìa các kết của tất cả phiền não. Đó gọi là giải thoát. Người được giải thoát thì vì các chúng sinh khen ngợi giải thoát rằng, giải thoát này thường hằng bất biến. Đó gọi là tán thán giải thoát. Giải thoát tức là Đại Bát Niết Bàn vô thượng. Niết-bàn tức là lửa các kiết sử phiền não diệt. Lại nữa, Niết-bàn gọi là nhà cửa. Vì sao? Vì có thể ngăn chận gió mưa phiền não ác. Lại nữa, Niết-bàn gọi là quy y. Vì sao? Vì có thể vượt qua các sự sợ hãi. Lại, Niết-bàn gọi là bến bãi. Vì sao? Vì bốn dòng sông chảy xiết chẳng thể cuốn trôi. Những gì là bốn? Một là dòng sông Dục, hai là dòng sông Hữu, ba là dòng sông Kiến, bốn là dòng sông Vô minh. Vậy nên Niết-bàn gọi là bến bãi. Lại, Niếtbàn gọi là chỗ về rốt ráo. Vì sao? Vì có thể được tất cả niềm vui rốt ráo. Nếu có Đại Bồ-tát thành tựu đầy đủ mười pháp như vậy thì tuy thấy Phật tánh mà chẳng rõ ràng. Lại nữa, này thiện nam! Người xuất gia có bốn thứ bệnh nên chẳng được bốn quả Sa-môn. Những gì là bốn bệnh? Đó là bốn sự ham muốn xấu: một là ham muốn y phục, hai là tham ăn, ba là ham thích ngọa cụ, bốn là ham muốn hữu. Đó gọi là bốn dục ác, là bệnh của người xuất gia. Có bốn thứ thuốc có thể trị liệu các chứng bệnh ấy. Đó là, y phấn tảo có thể trị liệu Tỳ-kheo bị bệnh ham muốn y phục, khất thực có thể phá bệnh ham muốn ăn uống, ở dưới cây có thể phá bệnh ham muốn ngọa cụ, thân tâm tịch tĩnh có thể phá trừ bệnh ham muốn hữu của Tỳ-kheo. Nhờ bốn thứ thuốc này trừ được bốn bệnh đó. Bốn thứ thuốc này gọi là hạnh Thánh. Những hạnh Thánh như vậy được gọi là thiểu dục tri túc. Tịch tĩnh thì có bốn niềm vui. Những gì là bốn? Một là niềm vui xuất gia, hai là niềm vui tịch tĩnh, ba là niềm vui vĩnh diệt, bốn là niềm vui rốt ráo. Được bốn niềm vui này gọi là tịch tĩnh. Đủ bốn tinh tấn nên gọi là tinh tấn. Đủ bốn niệm xứ nên gọi là chánh niệm. Đủ bốn thiền nên gọi là chánh định. Thấy bốn sự thật cao thượng nên gọi là chánh tuệ. Đoạn trừ vĩnh viễn tất cả phiền não kiết nên gọi là giải thoát. Quở trách tất cả lỗi phiền não nên gọi là khen ngợi giải thoát. Này thiện nam! Đại Bồ-tát an trụ đầy đủ mười pháp như vậy thì tuy thấy Phật tánh mà chẳng rõ ràng. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát nghe kinh này rồi thì gần gũi tu tập, xa lìa tất cả việc của thế gian, đó gọi là thiểu dục. Đã xuất gia rồi thì chẳng sinh lòng hối hận, đó gọi là tri túc. Đã tri túc rồi thì gần chỗ trống vắng, xa lìa ồn ào, đó gọi là tịch tĩnh. Người chẳng biết tri túc thì chẳng ưa chố trống vắng. Phàm người tri túc thì thường ưa không tịch. Họ ở chỗ trống vắng thường khởi ý niệm này: “Tất cả thế gian đều cho là ta được đạo quả Sa-môn, nhưng nay ta thật sự chưa được thì sao lại lừa dối, mê hoặc mọi người”. Khởi ý niệm này rồi, họ tinh cần tu tập đạo quả Samôn, đo gọi là tinh tấn, Thân cận tu tập Đại Niết-bàn thì đó gọi là chánh niệm. Thuận theo thiên hạnh thì đó gọi là chánh định. An trụ ở định này mà chánh kiến, chánh tri thì đó gọi là chánh tuệ. Thấy biết chân chánh thì có thể được xa lìa sự trói buộc của phiền não. Đó gọi là giải thoát. Bồ-tát Thập Trụ vì chúng sinh nên xưng tán Niết-bàn thì đó gọi là khen ngợi giải thoát. Này thiện nam! Đại Bồ-tát an trụ đầy đủ mười pháp như vậy thì tuy thấy Phật tánh mà chẳng rõ ràng. Lại nữa, này thiện nam! Nói về thiểu dục thì như có Tỳ-kheo trụ ở chỗ trống vắng, ngồi ngay ngắn, chẳng nằm. Hoặc Tỳ-kheo trụ ở gốc cây, hoặc tại bãi tha ma, hoặc tại chỗ trống trải, tùy theo chỗ đất có cỏ mà ngồi lên, xin thức ăn mà ăn, tùy theo thức ăn xin được mà cho là đủ, hoặc chỉ một lần ngồi ăn chẳng quá một lần, chỉ cất giữ ba y mà là y phấn tảo cũ mục, đó gọi là thiểu dục. Đã làm việc này mà lòng chẳng sinh hối hận thì đó gọi là tri túc. Tu Tam-muội Không, đó gọi là tịch tĩnh. Được bốn quả rồi mà đối với tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chẳng ngưng nghỉ thì đó gọi là tinh tấn. Lòng luôn luôn suy nghĩ, Như Lai thường hằng không có biến dịch thì đó gọi là chánh niệm. Tu tám giải thoát thì đó gọi là chánh định. Được bốn vô ngại thì đó gọi là chánh tuệ. Xa lìa bảy lậu thì đó gọi là giải thoát. Khen ngợi Niết-bàn không có mười tướng thì gọi là khen ngợi giải thoát. Mười tướng là sinh, lão, bệnh, tử, sắc, thanh, hương, vị, xúc, vô thường. Xa lìa mười tướng thì gọi là Đại Niết-bàn. Này thiện nam! Đó gọi là Đại Bồ-tát an trụ đầy đủ mười pháp như vậy, tuy thấy Phật tánh mà chẳng rõ ràng. Lại nữa, này thiện nam! Vì thiểu dục nên gần gũi quốc vương, đại thần, Trưởng giả, Sát-lợi, Bà-la-môn, Tỳ-xá, Thủ-đà và tự xưng là: “Ta được quả Tu-đà-hoàn cho đến quả A-la-hán”. Vì lợi dưỡng nên đi, đứng, nằm, ngồi thậm chí cả khi đi đại tiểu tiện mà nếu thấy đàn-việt thì vẫn tỏ vẻ cung kính, tiếp dẫn, chuyện trò. Phá dục ác thì gọi là thiểu dục. Tuy chưa có thể phá hoại hết các kiết phiền não mà có thể đồng việc làm với Như Lai thì đó gọi là tri túc. Này thiện nam! Hai pháp như vậy mới là nhân duyên gần của niệm định thường được thầy, bạn học khen ngợi. Ta cũng thường ở khắp nơi trong kinh, xưng dương, khen ngợi hai pháp như vậy. Nếu người có thể đầy đủ hai pháp này thì được gần với cửa Đại Niết-bàn và năm thứ vui. Đó gọi là tịch tĩnh. Người kiên trì giới thì gọi là tinh tấn. Người có hổ thẹn thì gọi là chánh niệm. Chẳng thấy tâm tướng thì gọi là chánh định. Chẳng cầu nhân duyên tánh tướng của các pháp thì gọi là chánh tuệ. Không có tướng thì phiền não đoạn trừ. Đó gọi là giải thoát. Khen ngợi Kinh Đại Niết-bàn như vậy thì gọi là tán thán giải thoát. Này thiện nam! Đó gọi là Đại Bồ-tát an trụ ở mười pháp, tuy thấy Phật tánh mà chẳng rõ ràng. Này thiện nam! Như lời ông hỏi, Bồ-tát Thập Trụ dùng mắt gì, tuy thấy Phật tánh mà chẳng rõ ràng? Chư Phật Thế Tôn dùng mắt gì mà thấy Phật tánh rõ ràng? Này thiện nam! Các Bồ-tát đó dùng tuệ nhãn thấy nên chẳng được rõ ràng. Chư Phật dùng Phật nhãn thấy nên được rõ ràng. Vì hạnh Bồ-đề nên chẳng rõ ràng, nếu không có hạnh thì được rõ ràng. Trụ ở thập trụ nên tuy thấy mà chẳng rõ, chẳng trụ, chẳng bỏ thì được rõ ràng. Nhân trí tuệ của Đại Bồ-tát nên thấy chẳng rõ ràng. Chư Phật Thế Tôn đoạn trừ nhân quả nên thấy rõ ràng. Giác ngộ tất cả thì gọi là Phật tánh. Bồ-tát Thập Trụ chẳng được gọi là giác ngộ tất cả. Vậy nên Bồ-tát đó tuy thấy mà chẳng rõ ràng. Này thiện nam! Thấy có hai thứ, một là mắt thấy, hai là nghe thấy. Chư Phật Thế Tôn mắt thấy Phật tánh như xem quả A-ma-lặc ở trong lòng bàn tay. Bồ-tát Thập Trụ nghe thấy Phật tánh nên chẳng rõ ràng. Bồ-tát Thập Trụ chỉ có thể tự biết nhất định đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà chẳng thể biết tất cả chúng sinh đều có Phật tánh.

**********

Này thiện nam! Lại có mắt thấy, chư Phật Như Lai và Bồ-tát Thập Trụ mắt thấy Phật tánh. Lại có nghe thấy, tất cả chúng sinh cho đến Bồ-tát Cửu Địa nghe thấy Phật tánh. Bồ-tát nếu nghe tất cả chúng sinh đều có Phật tánh mà lòng chẳng tin thì chẳng gọi là nghe thấy.

Này thiện nam! Nếu có thiện nam, thiện nữ nào muốn thấy Như Lai thì cần phải tu tập mười hai bộ loại kinh điển, thọ trì, đọc tụng, sao chép, giảng nói.

Đại Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Tất cả chúng sinh chẳng thể biết được tâm tướng của Như Lai thì phải quan sát thế nào để được biết?

–Này thiện nam! Tất cả chúng sinh thật chẳng thể biết tâm tướng của Như Lai. Nếu muốn quan sát để biết được thì có hai nhân duyên: một là mắt thấy, hai là nghe thấy. Nếu thấy thân nghiệp của Như Lai thì phải biết đó chính là Như Lai. Đó gọi là mắt thấy. Nếu quan sát khẩu nghiệp của Như Lai thì phải biết đó chính là Như Lai. Đó gọi là nghe thấy. Nếu thấy sắc mạo mà tất cả chúng sinh không ai bằng thì phải biết đó chính là Như Lai. Đó gọi là mắt thấy. Nếu nghe âm thanh vi diệu tối thắng mà âm thanh của chúng sinh chẳng bằng thì phải biết đó chính là Như Lai. Đó gọi là nghe thấy. Nếu thấy thần thông Như Lai biểu hiện thì xem có phải là vì chúng sinh hay vì lợi dưỡng, nếu vì chúng sinh chẳng vì lợi dưỡng thì phải biết đó chính là Như Lai. Đó gọi là mắt thấy. Khi xem Như Lai dùng tha tâm trí quan sát chúng sinh là vì lợi dưỡng hay vì chúng sinh nói pháp, nếu vì chúng sinh, chẳng vì lợi dưỡng thì phải biết đó chính là Như Lai. Đó gọi là nghe thấy. Như Lai thọ thân như thế nào, vì sao thọ thân, vì ai thọ thân, thì đó gọi là mắt thấy. Nếu quan sát Như Lai thuyết pháp như thế nào, vì sao nói pháp, vì ai nói pháp, thì đó gọi là nghe thấy. Dùng nghiệp ác của thân gia hại mà chẳng sân hận thì phải biết đó là Như Lai. Đó gọi là mắt thấy. Dùng nghiệp ác nơi miệng gia hại mà chẳng sân hận thì phải biết đó là Như Lai. Đó gọi là nghe thấy. Nếu thấy Bồ-tát khi mới sinh, đối với mười phương mỗi phương đều đi bảy bước, đại tướng quỷ thần Ma-nibạt-đà, Phú-na-bạt-nan-đà cầm cờ phướn, lọng báu, chấn động vô lượng vô biên thế giới, ánh sáng vàng chói sáng cùng khắp trong hư không, vua rồng Nan-đà và Bạt-nan-đà dùng sức thần thông tắm rửa thân Bồ-tát, hình tượng chư Thiên nghênh đón, lễ bái, tiên A-từ-đà chấp tay cung kính, tuổi trẻ bỏ dục như nhổ bỏ nước bọt, chẳng bị sự mê hoặc của cái vui thế tục, xuất gia tu đạo, ưa thích nhàn tịch, vì phá tà kiến, sáu năm khổ hạnh, đối với các chúng sinh bình đẳng không hai, tâm thường tại định, không bị tán loạn, tướng tốt trang nghiêm, trang sức thân mình, đi qua chỗ nào gò đống đều bằng phẳng, y phục rời thân bốn tấc chẳng rơi, khi đi nhìn thẳng, chẳng quay nhìn trái, phải, thức ăn là vật không có tội lỗi, rời khỏi chỗ ngồi cỏ chẳng động chẳng rối, vì điều phục chúng sinh nên đến nói pháp mà lòng không kiêu mạn thì đó gọi là mắt thấy. Hoặc nghe Bồ-tát đi bảy bước đã xướng lên: “Thân này của ta hôm nay là thân sau cùng”. Nghe tiên Atừ-đà chấp tay nói: “Đại vương phải biết, Thái tử Tất Đạt nhất định được thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nhất định chẳng ở nhà làm Chuyển luân vương. Vì sao? Vì tướng sáng tỏ, còn tướng của Chuyển luân Thánh vương chẳng sáng tỏ. Thân tướng của Thái tử Tất Đạt sáng tỏ. Vậy nên nhất định đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Bồ-tát thấy lão, bệnh, tử nói: “Tất cả chúng sinh rất đáng thương xót. Họ thường cùng với sinh, già, bệnh, chết như vậy đuổi theo nhau mà chẳng thể quan sát. Họ thường đi với khổ, ta sẽ đoạn trừ”. Từ tiên nhân ngũ thông A-la-la thọ định Vô tưởng, sau khi đã thành tựu rồi thì nói: “Định ấy chẳng phải”. Từ tiên nhân Uất-đà thọ định Phi hữu tưởng phi vô tưởng, khi đã thành tựu rồi thì nói: “Chẳng phải Niết-bàn mà là pháp sinh tử”. Sáu năm khổ hạnh không đạt được gì, liền nói: “Tu hạnh khổ này rỗng không không sở đắc. Nếu là thật thì ta đáng lẽ đã đắc. Nhưng do hư vọng nên ta không sở đắc. Đó là tà thuật, chẳng phải chánh đạo”. Bồ-tát đã thành đạo rồi, Phạm thiên khuyến thỉnh: “Nguyện xin Như Lai vì chúng sinh khai mở cam lồ, nói pháp vô thượng”. Đức Phật nói: “Này Phạm vương! Tất cả chúng sinh thường bị sự ngăn che của phiền não, chẳng thể thọ nhận lời nói chánh pháp của Ta”. Phạm vương lại nói: “Thưa Thế Tôn! Tất cả chúng sinh thường có ba loại là lợi căn, trung căn và độn căn. Hạng lợi căn có thể thọ, nguyện xin Như Lai vì họ diễn nói!”. Đức Phật dạy: “Này Phạm vương! Hãy lắng nghe! Lắng nghe! Ta nay sẽ vì tất cả chúng sinh mở cửa cam lồ”. Phật liền ở nước Ba-la-nại, chuyển bánh xe chánh pháp, tuyên nói trung đạo: “Tất cả chúng sinh chẳng phải phá các kiết, chẳng phải chẳng thể phá, chẳng phải phá chẳng phải chẳng phá nên gọi là trung đạo; chẳng độ chúng sinh, chẳng phải chẳng độ thì đó gọi là trung đạo; chẳng phải tất cả thành, cũng chẳng phải chẳng thành thì đó gọi là trung đạo; phàm có nói điều gì chẳng tự nói là thầy, chẳng nói là đệ tử thì đó gọi là trung đạo; nói chẳng vì lợi mà chẳng phải chẳng được quả thì đó gọi là trung đạo; nói đúng nói thật, nói phải lúc, nói chân thật, nói chẳng hư dối mà vi diệu đệ nhất”. Những pháp như vậy gọi là nghe thấy. Này thiện nam! Tướng của tâm Như Lai thật không thể thấy. Nếu có thiện nam, thiện nữ nào muốn thấy Như Lai thì nên nương vào hai thứ nhân duyên này.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Sư Tử Hống bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như Như Lai đã nói, quả Am-la dụ cho bốn thứ người v.v… Có người hành động tinh tế mà lòng chẳng chánh thật, có người lòng không tinh tế mà hành động chánh thật, có người lòng tinh tế mà hành động cũng chánh thật, có người lòng chẳng tinh tế mà hành động cũng chẳng chánh thật. Hai thứ người này làm sao có thể biết? Như lời Phật nói, chỉ nương vào hai thứ nhân duyên đó chẳng thể biết được.

Đức Phật dạy:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Quả Am-la dụ cho hai hạng người v.v… thì thật khó có thể biết. Do khó nên biết trong kinh Ta nói, phải cùng ở chung. Nếu ở chung mà chẳng biết thì phải cùng ở lâu. Ở lâu mà chẳng biết thì phải dùng trí tuệ. Trí tuệ mà chẳng biết thì phải quan sát sâu. Do quan sát sâu nên biết kẻ trì giới và người phá giới. Này thiện nam! Đủ bốn việc này: Ở chung, ở lâu, trí tuệ, quan sát, sau đó biết được trì giới hay phá giới. Này thiện nam! Giới có hai thứ, người trì giới cũng có hai thứ, một là cứu cánh, hai là chẳng cứu cánh. Có người do nhân duyên nên thọ trì giới cấm. Người trí phải quan sát, người này trì giới là vì lợi dưỡng hay là vì cứu cánh? Này thiện nam! Giới cấm của Như Lai thì không có nhân duyên. Vậy nên được gọi là giới cứu cánh. Do nghĩa này nên Bồ-tát tuy bị các chúng sinh ác làm tổn hại nhưng không sinh sân si. Vậy nên Như Lai được gọi là thành tựu trì giới rốt ráo, trì giới cứu cánh. Này thiện nam! Một thuở trước đây, Ta cùng Tôn giả Xá-lợi-phất và năm trăm đệ tử đều cùng dừng chân tại đại thành Chiêm-bà của nước Ma-già-đà, có người thợ săn truy đuổi một con bồ câu. Con bồ câu này kinh sợ đến núp dưới bóng Tôn giả Xá-lợi-phất mà còn run lẩy bẩy như cây chuối. Nó đến núp trong bóng của Ta thì thân tâm yên ổn, nỗi kinh sợ không còn nữa. Vậy phải biết, Như Lai Thế Tôn rốt ráo trì giới, thậm chí bóng của thân còn có sức lực này. Này thiện nam! Chẳng rốt ráo trì giới còn chẳng thể đắc Thanh văn, Duyên giác, huống gì là có thể đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại có hai thứ, một là vì lợi dưỡng, hai là vì chánh pháp. Vì lợi dưỡng nên thọ trì giới cấm thì phải biết giới này chẳng thấy Phật tánh và Như Lai. Tuy chỉ nghe danh Phật tánh và Như Lai thôi mà còn chẳng được gọi là nghe thấy. Nếu vì chánh pháp thọ trì giới cấm thì phải biết người trì giới này có thể thấy Phật tánh và Như Lai. Đó gọi là mắt thấy, cũng gọi là nghe thấy. Lại có hai thứ: một là rễ sâu khó nhổ, hai là rễ cạn dễ lay. Nếu có thể tu Không, Vô tướng, Vô nguyện thì đó gọi là rễ sâu khó nhổ. Nếu chẳng tu tập ba Tammuội này, tuy có tu tập vì thoát hai mươi lăm cõi thì đó gọi là rễ cạn dễ lay. Lại có hai thứ: một là vì tự thân, hai là vì chúng sinh. Vì chúng sinh thì có thể thấy Phật tánh và Như Lai. Người trì giới lại có hai thứ: một là tánh tự có thể trì, hai là cần sự dạy bảo của người khác. Nếu thọ giới rồi mà trải qua vô lượng đời, chẳng khiếm khuyết, hoặc gặp đất nước ác, gặp ác tri thức, lúc ác, đời ác, nghe pháp tà ác, ở chung với tà kiến, dù bấy giờ tuy không thọ giới pháp, nhưng vẫn tu trì như cũ, không có sự hủy phạm, thì đó gọi là tánh tự có thể trì. Nếu gặp Sư tăng, bạch Tứ yết-ma, rồi sau đó đắc giới, tuy đắc giới rồi nhưng cần nhờ Hòa thượng, chư Tăng, bạn lành đồng học dạy bảo khuyên nhũ mới biết tiến dừng, nghe pháp, nói pháp để hoàn bị các oai nghi thì đó gọi là cần sự dạy bảo của người khác. Này thiện nam! Tánh có thể trì là, mắt thấy Phật tánh và Như Lai, cũng gọi là nghe thấy. Giới lại có hai, một là Thanh văn giới, hai là Bồ-tát giới. Từ lức mới phát tâm cho đến khi đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì đó gọi là Bồ-tát giới. Từ khi quan sát xương trắng cho đến chứng đắc quả A-la-hán thì đó gọi là Thanh văn giới. Nếu có người thọ trì Thanh văn giới thì phải biết người đó chẳng thấy Phật tánh và Như Lai. Nếu có người thọ trì Bồ-tát giới thì phải biết người đó sẽ đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, có thể thấy Phật tánh, Như Lai, Niết-bàn.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Vì nhân duyên gì mà thọ trì giới cấm?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Vì tâm chẳng hối. Vì sao chẳng hối? Vì thọ hưởng an lạc. Vì sao thọ hưởng an lạc? Vì xa lìa. Vì sao xa lìa? Vì yên ổn. Vì sao yên ổn? Vì thiền định. Vì sao thiền định? Vì tri kiến chân thật. Vì sao tri kiến chân thật? Vì thấy những tội lỗi hoạn nạn của sinh tử. Vì sao thấy tội lỗi hoạn nạn của sinh tử? Vì tâm chẳng tham đắm. Vì sao tâm chẳng tham đắm? Vì được giải thoát. Vì sao được giải thoát? Vì đắc Đại Niết-bàn vô thượng. Vì sao đắc Đại Niết-bàn vô thượng? Vì được pháp thường, lạc, ngã, tịnh. Vì sao được pháp thường, lạc, ngã, tịnh? Vì được chẳng sinh, chẳng diệt. Vì sao được chẳng sinh, chẳng diệt? Vì thấy Phật tánh. Vậy nên Bồ-tát tự tánh có thể trì giới thanh tịnh cứu cánh. Này thiện nam! Tỳ-kheo trì giới tuy chẳng phát nguyện cầu tâm chẳng hối, nhưng tâm chẳng hối tự nhiên có được. Vì sao? Vì pháp tánh như vậy. Tuy Tỳ-kheo trì giới chẳng cầu an lạc, xa lìa, yên ổn, chân thật tri kiến, thấy lỗi sinh tử, tâm chẳng tham đắm giải thoát, Niết-bàn, thường, lạc, ngã, tịnh, chẳng sinh chẳng diệt, thấy Phật tánh tự nhiên mà được. Vì sao? Vì pháp tánh.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Nếu nhân trì giới được quả bất hối, nhân giải thoát được quả Niết-bàn thì giới không có nhân, Niết-bàn không có quả. Giới nếu không có nhân thì gọi là thường. Niết-bàn không có nhân thì gọi là vô thường. Nếu vậy thì Niết-bàn trước không nay có. Nếu là trước không nay có thì chính là vô thường, giống như thắp đèn. Niếtbàn nếu vậy thì làm sao được gọi là ngã, lạc, tịnh?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Hay thay! Hay thay! Ông đã từng ở chỗ vô lượng Phật, gieo trồng căn lành, mới có thể hỏi Như Lai nghĩa lý sâu như vậy. Này thiện nam! Ông chẳng quên mất việc xưa mới hỏi được như vậy. Ta nhớ thuở xưa, qua vô lượng kiếp, tại thành Ba-la-nại, có Đức Phật ra đời hiệu là Thiện Đắc. Bấy giờ, Đức Phật đó diễn nói kinh Đại Niết-bàn này trong ba ức năm. Ta cùng với ông đều ở tại pháp hội đó, Ta đem sự việc này mà thưa hỏi Đức Phật ấy. Bấy giờ Đức Như Lai vì chúng sinh nên nhập Tam-muội Chánh thọ, chưa giải đáp nghĩa này. Hay thay! Này Đại sĩ! Chỉ ông mới có thể nhớ nghĩ việc cũ như vậy. Ông hãy lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì ông diễn nói. Giới cũng có nhân gọi là nghe chánh pháp. Nghe chánh pháp cũng có nhân gọi là gần bạn lành. Gần bạn lành cũng có nhân gọi là tín tâm. Có tín tâm cũng có nhân. Nhân có hai thứ: một là nghe pháp, hai là suy nghĩ về nghĩa. Này thiện nam! Tín tâm là nhân đối với thính pháp. Thính pháp là nhân đối với tín tâm. Hai pháp như vậy cũng là nhân mà cũng là nhân của nhân, cũng là quả mà cũng là quả của quả. Này thiện nam! Ví như hạng Ni-càn dựng đứng cái bình, làm nhân quả cho nhau chẳng được lìa nhau. Này thiện nam! Như vô minh duyên hành, hành duyên vô minh. Vô minh, hành này cũng là nhân mà cũng là nhân của nhân, cũng là quả mà cũng là quả của quả cho đến sinh duyên lão tử, lão tử duyên sinh. Sinh, lão tử này cũng là nhân mà cũng là nhân của nhân, cũng là quả mà cũng là quả của quả. Này thiện nam! Sinh có thể sinh ra pháp nhưng chẳng thể tự sinh. Chẳng tự sinh nên do sinh mà sinh ra sinh. Sinh ra sinh chẳng tự sinh mà nhờ sinh nên sinh. Vậy nên hai sinh cũng là nhân mà cũng là nhân của nhân, cũng là quả mà cũng là quả của quả. Này thiện nam! Tín tâm và nghe pháp cũng như vậy. Này thiện nam! Quả này chẳng phải nhân, gọi là Đại Niết-bàn. Vì sao gọi là quả? Vì quả trên hết, quả của Sa-môn, quả của Bà-la-môn, vì đoạn trừ sinh tử, vì phá tan phiền não, nên gọi là quả. Bị các phiền não quở trách, vậy nên Niết-bàn gọi là quả. Phiền não thì gọi là tội lỗi của tội lỗi. Này thiện nam! Niết-bàn không nhân mà thể chính là quả. Vì sao? Vì không sinh diệt, không sở đắc, chẳng phải hữu vi, chính là vô vi, thường trụ bất biến, không xứ sở, không chung thỉ. Này thiện nam! Nếu Niết-bàn có nhân thì chẳng được xưng là Niết-bàn. Bàn là nói nhân.

Niết là nói không. Không có nhân nên xưng là Niết-bàn.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Như lời Đức Phật nói, Niết-bàn không nhân thì nghĩa này chẳng đúng. Nếu nói rằng không thì phải hợp sáu nghĩa. Một là rốt ráo không nên gọi đó là không, như tất cả pháp không ngã, không ngã sở. Hai là có lúc không nên gọi đó là không, như người đời nói rằng, sông ao không nước, không có mặt trời, mặt trăng. Ba là ít nên gọi đó là không, như người đời nói rằng, trong thức ăn ít mặn nên gọi là không mặn, nước uống ít ngọt nên gọi là không ngọt. Bốn là không thọ nhận nên gọi đó là không, như Chiên-đà-la chẳng thể thọ trì pháp của Bà-la-môn nên gọi là không Bà-la-môn. Năm là thọ pháp ác nên gọi đó là không, như người đời nói rằng, người thọ pháp ác thì chẳng gọi là Sa-môn, Bàla-môn. Vậy nên gọi là không có Sa-môn và Bà-la-môn. Sáu là chẳng đối nên gọi đó là không. Ví như không trắng thì gọi đó là đen, không có sáng nên gọi đó là vô minh. Thưa Thế Tôn! Niết-bàn cũng vậy, có lúc không nhân nên gọi là Niết-bàn.

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Nay ông đã nói sáu nghĩa như vậy, vì sao ông chẳng dẫn rốt ráo không để dụ cho Niết-bàn mà chọn lấy “có lúc không”? Này thiện nam! Thể của Niết-bàn là rốt ráo không nhân, giống như không ngã và không ngã sở. Này thiện nam! Thế pháp và Niết-bàn chẳng bao giờ đối nhau. Vậy nên dùng sáu việc chẳng được làm ví dụ. Này thiện nam! Tất cả các pháp đều không có ngã mà Niếtbàn này chân thật có ngã. Do nghĩa này nên Niết-bàn không nhân mà thể là quả. Nhân này chẳng phải quả mà gọi là Phật tánh. Chẳng phải nhân sinh ra nên nhân này chẳng phải quả. Chẳng phải quả của Samôn nên gọi là chẳng phải quả. Vì sao gọi là nhân? Vì do rõ nhân này. Này thiện nam! Nhân có hai thứ: một là sinh nhân, hai là liễu nhân. Có thể sinh ra pháp thì gọi là sinh nhân. Đèn có thể làm rõ vật nên gọi là liễu nhân. Các kiết phiền não gọi là sinh nhân, cha mẹ chúng sinh gọi là liễu nhân. Như hạt lúa gọi là sinh nhân, đất, nước, phân v.v… thì gọi là liễu nhân. Lại có sinh nhân là sáu pháp Ba-la-mật, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại có liễu nhân là Phật tánh, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại có liễu nhân là sáu pháp Ba-la-mật, Phật tánh. Lại có sinh nhân là Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại có liễu nhân là tám thánh đạo, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại có sinh nhân là tín tâm, sáu pháp Ba-la-mật.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Như lời Thế Tôn nói, thấy Như Lai và Phật tánh là nghĩa thế nào? Thưa Thế Tôn! Thân Như Lai không có tướng mạo, chẳng phải cao, chẳng phải thấp, chẳng phải trắng, chẳng phải đen, không có địa phương, xứ sở, chẳng ở tại ba cõi, chẳng phải tướng hữu vi, chẳng phải sự nhận biết của nhãn thức thì làm sao có thể thấy Phật tánh?

Đức Phật dạy:

–Thân Phật có hai: một là thường, hai là vô thường. Thân vô thường là vì muốn độ thoát tất cả chúng sinh nên phương tiện thị hiện. Đó gọi là thân mắt thấy. Thân thường là thân giải thoát của Như Lai Thế Tôn, cũng gọi là thân mắt thấy, cũng gọi là thân nghe thấy. Phật tánh cũng có hai: một là có thể thấy, hai là chẳng thể thấy. Có thể thấy là Bồ-tát Thập Trụ, chư Phật Thế Tôn. Chẳng thể thấy là tất cả chúng sinh. Mắt thấy là, mắt của Bồ-tát Thập Trụ, chư Phật Như Lai thấy chúng sinh có Phật tánh. Nghe thấy là tất cả chúng sinh, Bồ-tát Cửu Trụ nghe có Phật tánh. Thân Như Lai lại có hai: một là sắc, hai là chẳng phải sắc. Sắc là Như Lai giải thoát. Chẳng phải sắc là Như Lai vĩnh viễn đoạn trừ các sắc tướng. Phật tánh có hai thứ: một là sắc, hai là chẳng phải sắc. Sắc là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Chẳng phải sắc là từ phàm phu cho đến Bồ-tát Thập Trụ. Bồ-tát Thập Trụ thấy Phật tánh chẳng rõ ràng nên gọi là chẳng phải sắc. Này thiện nam! Phật tánh lại có hai: một là sắc, hai là chẳng phải sắc. Sắc là Phật, Bồ-tát. Chẳng phải sắc là tất cả chúng sinh. Sắc thì gọi là mắt thấy. Chẳng phải sắc thì gọi là nghe thấy. Phật tánh thì chẳng phải bên trong, chẳng phải bên ngoài. Tuy chẳng phải bên trong bên ngoài nhưng Phật tánh chẳng phải hoại mất nên gọi là chúng sinh đều có Phật tánh.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Như lời Phật nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh như trong sữa có sữa đặc. Phật tánh của chư Phật và Lực sĩ Kim cương như đề hồ trong sạch thì sao Như Lai nói rằng, Phật tánh chẳng phải bên trong, chẳng phải bên ngoài?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Ta cũng chẳng nói trong sữa có sữa đặc, sữa đặc từ sữa sinh ra nên nói rằng có sữa đặc.

–Bạch Thế Tôn! Tất cả pháp sinh đều có thời tiết.

–Này thiện nam! Khi sữa không có sữa đặc cũng không sinh ra váng sữa, bơ và đề hồ, thì tất cả chúng sinh cũng gọi là sữa. Vậy nên Ta nói rằng, trong sữa không có sữa đặc. Như trong sữa ấy có thì vì sao chẳng được gọi tên hai thứ như người làm được hai việc thì có thể nói rằng, thợ vàng, thiết. Khi sữa đặc không có sữa, váng sữa, bơ và cả đề hồ thì chúng sinh cũng gọi là sữa đặc chẳng phải sữa, váng sữa, bơ và cả đề hồ cho đến đề hồ cũng như vay . Này thiện nam! Nhân có hai thứ: một là chánh nhân, hai là duyên nhân. Chánh nhân là như sữa sinh ra sữa đặc. Duyên nhân là như men, hơi ấm v.v… từ sữa sinh ra nên nói rằng, trong sữa có tánh của sữa đặc.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Nếu sữa không có tánh của sữa đặc như trong sừng cũng không thì vì sao sữa đặc chẳng từ trong sừng sinh ra?

–Này thiện nam! Sừng cũng sinh ra sữa đặc. Vì sao? Vì ta cũng nói rằng, duyên nhân có hai thứ, một là men, hai là hơi ấm. Tánh của sừng ấm nên cũng có thể sinh ra sữa đặc.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Nếu sừng có thể sinh ra sữa đặc thì người tìm sữa đặc sao tìm ở sữa mà chẳng chọn lấy ở sừng?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Vậy nên Ta nói, chánh nhân và duyên nhân.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Giả sử trong sữa vốn không có tánh của sữa đặc mà nay mới có thì trong sữa vốn không có cây A ma la, vì sao nay chẳng sinh ra? Vì cả hai đều không.

–Này thiện nam! Sữa cũng có thể sinh ra cây A-ma-la, nếu dùng sữa tưới thì trong một đêm tăng trưởng năm thước. Do nghĩa này nên Ta nói có hai nhân. Này thiện nam! Nếu tất cả pháp do một nhân sinh ra thì có thể nói rằng, trong sữa vì sao chẳng thể sinh ra cây A-ma-la. Này thiện nam! Giống như bốn đại làm nhân duyên cho tất cả sắc duyên, nhưng sắc đều khác biệt, chẳng đồng. Do nghĩa này nên trong sữa chẳng sinh cây A-ma-la.

–Bạch Thế Tôn! Như lời Phật nói, có hai thứ nhân, chánh nhân và duyên nhân, vậy Phật tánh của chúng sinh là nhân gì?

–Này thiện nam! Phật tánh của chúng sinh cũng có hai thứ nhân:

một là chánh nhân, hai là duyên nhân. Chánh nhân là các chúng sinh, duyên nhân là sáu pháp Ba-la-mật.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Con nay biết chắc chắn sữa có tánh của sữa đặc. Vì sao? Vì con thấy người cầu sữa đặc ở thế gian chỉ chọn lấy sữa nhất định chẳng chọn lấy nước. Vậy nên phải biết sữa có tánh của sữa đặc.

–Này thiện nam! Như lời ông hỏi thì nghĩa này chẳng đúng. Vì sao? Vì ví như có người muốn thấy hình dáng của mặt mình liền dùng lưỡi dao.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Do nghĩa này nên sữa có tánh của sữa đặc. Nếu dao không có hình dáng của mặt thì vì sao người ta chọn lấy dao?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Nếu trong dao này nhất định có hình dáng của mặt thì vì sao bị đảo lộn, dựng đứng thì thấy mặt dài ra, để ngang thì thấy mặt rộng bành ra? Nếu là mặt mình thì vì sao thấy dài? Nếu là mặt người khác thì sao gọi là hình dáng của mặt mình? Nếu nhân mặt mình thấy mặt khác thì vì sao chẳng thấy hình dáng mặt lừa, mặt ngựa?

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Ánh sáng của mắt đến đó nên thấy mặt dài.

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Ánh sáng mắt này thật ra chẳng đến đó. Vì sao? Vì gần hay xa cùng một lúc đều nhìn thấy mà chẳng thấy vật trung gian. Này thiện nam! Ánh sáng nếu đến đó mà thấy được thì tất cả chúng sinh đều thấy lửa vì sao lửa chẳng đốt cháy? Như người từ xa thấy vật trắng thì chẳng nên sinh nghi là ngỗng trời chăng? Phướn chăng? Người chăng? Cây chăng? Nếu ánh sáng đến kia thì sao thấy được vật trong thủy tinh, cá và đá trong vực sâu? Nếu ánh sáng chẳng đến thì vì sao thấy được vật trong thủy tinh mà chẳng thấy được hình sắc ngoài tường vách? Vậy nên nếu nói rằng, ánh sáng của mắt đến đó mà thấy dài ra thì nghĩa này chẳng đúng. Này thiện nam! Như lời ông nói, sữa có sữa đặc, thì vì sao người bán sữa chỉ chọn lấy giá trị của sữa, chẳng kế đến giá trị của sữa đặc? Người buôn bán ngựa chỉ chọn lấy giá trị của ngựa chẳng kể đến giá trị của ngựa con. Này thiện nam! Người thế gian không vợ con nên cưới vợ. Người vợ nếu mang thai chẳng được nói là con gái. Nếu nói rằng, người con gái này có tánh con nên cần cưới thì nghĩa này chẳng đúng. Vì sao? Vì nếu có tánh con thì cũng nên có cháu, mà nếu có cháu tức là anh em. Vì sao? Vì một bụng sinh ra. Vậy nên ta nói người con gái không có tánh con. Nếu trong sữa ấy có tánh váng sữa thì vì sao chẳng thấy năm vị cùng một lúc? Nếu trong hạt cây có chất năm trượng của cây Ni-câu-đà thì vì sao cùng lúc chẳng thấy những hình sắc khác của mầm, thân, cành, lá, hoa, trái? Này thiện nam! Khi màu sữa khác, vị khác, quả khác cho đến đề hồ cũng như vậy thì làm sao có thể nói sữa có tánh của sữa đặc? Này thiện nam! Ví như có người sáng mai dùng váng sữa nhưng nay đã lo hôi. Nếu nói rằng, trong sữa nhất định có sữa đặc cũng như vậy. Này thiện nam! Ví như có người có bút giấy mực kết hợp viết ra chữ mà trong giấy này vốn không có chữ. Do vốn không nên mượn duyên mà thành. Nếu vốn có thì sao cần đến các duyên. Ví như xanh, vàng hợp thành duyên sắc. Phải biết rằng, hai cái này vốn không có tánh duyên. Nếu chúng vốn có thì đâu cần phải hợp thành. Này thiện nam! Ví như chúng sinh do ăn mà được thọ mạng nhưng trong thức ăn này thật không có mạng. Nếu vốn có mạng thì khi chưa ăn, thức ăn nên có mạng này. Này thiện nam! Tất cả các pháp vốn không có tánh. Do nghĩa này nên ta nói kệ:

Trước không nay có

Trước có nay không

Ba đời hữu pháp

Không có điều đó.

Này thiện nam! Tất cả các pháp do nhân duyên nên sinh, do nhân duyên nên diệt. Này thiện nam! Nếu bên trong chúng sinh có Phật tánh thì tất cả chúng sinh nên có thân Phật như ta hôm nay. Phật tánh của chúng sinh chẳng phá, chẳng hoại, chẳng lôi kéo, chẳng nắm bắt, chẳng trói, chẳng buộc như hư không trong chúng sinh. Tất cả chúng sinh đều có hư không, không ngăn ngại mà đều chẳng tự thấy có hư không này. Giả sử nếu chúng sinh không có hư không thì không lui tới, đi, đứng, nằm, ngồi, chẳng sinh, chẳng lớn. Do nghĩa này nên trong kinh ta nói, tất cả chúng sinh có cảnh giới hư không. Cảnh giới hư không thì gọi là hư không. Phật tánh của chúng sinh cũng như vậy. Bồtát Thập Trụ có thể thấy được chút ít. Phật tánh đó như viên ngọc kim cương. Này thiện nam! Phật tánh của chúng sinh, cảnh giới của chư Phật, chẳng phải là sự hiểu biết của Thanh văn, Duyên giác. Tất cả chúng sinh chẳng thấy Phật tánh. Vậy nên họ thường bị sự trói buộc của phiền não nên lưu chuyển trong sinh tử. Thấy được Phật tánh rồi thì các kiết phiền não đã chẳng thể trói buộc, giải thoát sinh tử, được Đại Niết-bàn.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Tất cả chúng sinh có Phật tánh như tánh sữa đặc trong sữa. Nếu sữa không có tánh sữa đặc thì vì sao Phật nói có hai thứ nhân, một là chánh nhân, hai là duyên nhân? Duyên nhân thì một là men, hai là hơi ấm? Hư không không có tánh nên không có duyên nhân.

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Giả sử trong sữa nhất định có tánh sữa đặc thì đâu cần duyên nhân.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Do có tánh nên cần duyên nhân. Vì sao? Vì muốn thấy rõ. Duyên nhân tức là liễu nhân. Thưa Thế Tôn! Ví như trong tối có các đồ vật, vì muốn thấy nên dùng đèn soi rõ. Nếu trước không có thì đèn soi cái gì? Như trong bùn có bình nên cần có người, nước, bánh xe, sợi dây, cây gậy v.v… để làm liễu nhân. Như hạt Nicâu-đà cần có đất nước, phân để làm liễu nhân. Trong sữa cần có men, hơi ấm cũng như vậy để làm liễu nhân. Vậy nên tuy trước có tánh nhưng cần nhờ liễu nhân, rồi sau đó thấy được. Do nghĩa này nên nhất định biết trong sữa vốn có tánh của sữa đặc.

–Này thiện nam! Giả sử trong sữa nhất định có tánh sữa đặc thì tánh này là liễu nhân. Nếu là liễu nhân thì đâu cần làm rõ. Này thiện nam! Nếu tánh của liễu nhân này là rõ thì thường nên tự rõ. Nếu tự chẳng rõ thì sao có thể rõ cái khác! Nếu nói rằng, liễu nhân có hai thứ tánh: một là tự rõ, hai là rõ cái khác thì nghĩa này chẳng đúng. Vì sao? Vì liễu nhân một pháp thì làm sao có hai được. Nếu có hai thì sữa cũng nên có hai. Giả sử nếu trong sữa không hai tướng thì làm sao một mình liễu nhân có hai tướng?

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Như người đời nói rằng, ta cùng tám người. Liễu nhân cũng vậy, tự liễu và liễu tha.

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Liễu nhân nếu vậy thì chẳng phải liễu nhân. Vì sao? Vì tính toán thì có thể tính sắc của mình, sắc của người khác nên nói được là tám, mà tánh của sắc này tự không rõ tướng. Vì không rõ tướng nên cần phải có tánh của trí mới tính được mình và người khác. Vậy nên liễu nhân chẳng thể tự liễu, cũng chẳng liễu tha. Này thiện nam! Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh thì vì sao phải tu tập vô lượng công đức? Nếu nói, tu tập liễu nhân này thì đã đồng với hư không của sữa đặc. Nếu nói, trong nhân nhất định có quả thì giới, định, tuệ không tăng trưởng. Ta thấy người đời vốn không có giới cấm, thiền định, trí tuệ, rồi theo thầy thọ lấy mà dần dần tăng trưởng. Nếu nói, thầy dạy là liễu nhân thì ngay khi thầy dạy, người thọ phải chưa có giới, định, trí tuệ. Nếu là liễu thì lẽ ra liễu cái chưa có, sao mới liễu giới, định, tuệ khiến cho chúng được tăng trưởng?

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Nếu liễu nhân là không thì làm sao được gọi là có sữa thì có sữa đặc?

–Này thiện nam! Trả lời vấn nạn của thế gian gồm có ba cách: Một là chuyển đáp: Như trước Ta đã nói, vì sao gọi là giới? Do chẳng hối hận cho đến vì được Đại Niết-bàn. Hai là mặc nhiên đáp: Như có vị Phạm chí đến hỏi Ta: “Ngã là thường chăng?” thì Ta mặc nhiên. Ba là nghi đáp: Như trong kinh này, nếu liễu nhân có hai thì vì sao trong sữa chẳng được có hai? Này thiện nam! Ta nay chuyển đáp, như người đời nói rằng, có sữa thì có sữa đặc. Vì nhất định được nên gọi là có sữa đặc. Phật tánh cũng vậy, có chúng sinh, có Phật tánh rồi vì sẽ thấy.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Như lời Phật nói thì nghĩa này chẳng phải vậy. Quá khứ diệt rồi, vị lai chưa đến thì vì sao gọi là có? Nếu nói sẽ có gọi là có thì nghĩa này chẳng đúng. Như người thế gian thấy không vợ con liền nói không con. Tất cả chúng sinh không Phật tánh thì làm sao nói tất cả chúng sinh đều có Phật tánh?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Quá khứ gọi là có. Ví như trồng cây quít, mầm mọc ra thì hạt diệt mất. Mầm cũng vị ngọt cho đến quả xanh vị cũng như vậy, quả chín rồi mới thành chua. Này thiện nam! Mà vị chua này, từ hạt, mầm cho đến trái xanh đều không theo gốc. Khi chín thì hình sắc, tướng mạo của nó sinh ra vị chua, mà vị này trước không nay có. Tuy vị chua này trước không nay có nhưng chẳng phải là chẳng do gốc. Như vậy hạt giống gốc này tuy lại là quá khứ nhưng được gọi là có. Do nghĩa này nên quá khứ gọi là có. Sao gọi là vị lai có? Ví như có người gieo trồng mè. Có người hỏi: “Vì sao trồng thứ này?”. Đáp: “Vì có dầu”. Thật ra chưa có dầu. Mè chín rồi lấy hạt, hấp, giã, ép mới được dầu. Nên biết lời người này chẳng phải là hư vọng. Do nghĩa này nên gọi là vị lai có. Sao gọi là quá khứ có? Này thiện nam! Ví như có người lén lút mắng vua mà trải qua nhiều năm vua mới nghe được. Vua nghe rồi liền hỏi: “Vì sao dám mắng?”. Người đó đáp: “Tâu đại vương! Thần chẳng mắng. Vì sao? Vì người mắng đã diệt”. Nhà vua nói: “Người mắng và thân ta cả hai đều tồn tại mà sao nói rằng diệt?”. Do nhân duyên này nên người đó mất thân mạng. Này thiện nam! Hai điều này thật không có mà quả chẳng diệt. Đó gọi là quá khứ có. Sao gọi là vị lai có? Ví như có người đi đến chỗ thợ gốm hỏi: “Có bình không?”. Đáp: “Có bình”, mà người thợ gốm này thật chưa có bình. Nhưng do có bùn nên thợ gốm nói có bình. Phải biết là người này chẳng phải nói dối. Trong sữa có sữa đặc, Phật tánh của chúng sinh cũng như vậy, muốn thấy Phật tánh cần phải quan sát thời tiết, hình sắc. Vậy nên ta nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, là chân thật chẳng hư dối.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Tất cả chúng sinh không có Phật tánh thì làm sao mà được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác? Do nhờ chánh nhân nên khiến cho chúng sinh được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Cái gì là chánh nhân? Đó là Phật tánh. Bạch Thế Tôn! Nếu hạt Ni-câu-đà không có cây Ni-câu-đà thì vì sao gọi là hạt Ni-câu-đà mà chẳng gọi là hạt Khưđà-la? Thưa Thế Tôn! Như họ Cù-đàm chẳng được gọi là họ A-để-gia, họ A-để-gia cũng lại chẳng được gọi là họ Cù-đàm. Hạt Ni-câu-đà cũng như vậy, chẳng được gọi là hạt Khư-đà-la, hạt Khư-đà-la chẳng được gọi là hạt Ni-câu-đà, giống như Đức Thế Tôn chẳng được lìa bỏ dòng họ Cù-đàm. Phật tánh của chúng sinh cũng như vậy. Do nghĩa này nên phải biết, chúng sinh đều có Phật tánh.

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Nếu nói, trong hạt có cây Ni-câu-đà thì nghĩa này chẳng đúng. Như có thì vì sao chẳng thấy? Này thiện nam! Như vật của thế gian có nhân duyên nên chẳng thể thấy được. Sao gọi là nhân duyên? Nghĩa là xa chẳng thể thấy như dấu chim trong không, gần chẳng thể thấy như người nhắm mắt, vì hư hoại nên chẳng thấy, như căn của mắt bị hư, vì loạn tưởng nên chẳng thấy, như lòng chẳng chuyên nhất, vì nhỏ nên chẳng thấy như tiểu vi trần, vì ngăn nên chẳng thấy như mây che sao, vì nhiều nên chẳng thấy như hạt mè trong đống gạo, vì tương tự nên chẳng thấy như đậu ở tại đống đậu. Cây Ni-câu-đà chẳng giống như tám thứ nhân duyên như vậy. Như cây ấy có thì vì sao chẳng thấy? Nếu nói rằng, nhỏ nên chẳng thấy thì nghĩa này chẳng đúng. Vì sao? Vì tướng của cây thô. Nếu nói rằng, tánh nhỏ thì làm sao tăng trưởng? Nếu nói rằng, ngăn che nên chẳng thể thấy, thì lẽ ra luôn luôn chẳng thấy. Nếu vốn không có tướng thô mà nay thấy thô thì phải biết thô này vốn không có tánh thấy. Vốn không tánh thấy mà nay có thể thấy thì phải biết sự thấy này cũng vốn không có tánh. Hạt cũng như vậy, vốn không có cây mà nay có thì có lỗi gì?

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Như lời Phật nói, có hai thứ nhân: một là chánh nhân, hai là liễu nhân. Hạt Ni-câu-đà lấy đất, nước, phân làm liễu nhân nên khiến cho nhỏ được to.

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Nếu đã vốn có thì đâu cần liễu nhân. Nếu vốn không có tánh thì chỗ nào để liễu? Nếu trong Ni-câu-đà vốn không có tướng to mà do liễu nhân nên mới sinh to thì vì sao chẳng sinh ra cây Khư-đà-la? Vì cả hai đều không. Này thiện nam! Nếu nhỏ chẳng thể thấy thì to đáng lẽ có thể thấy, ví như một hạt bụi chẳng thể thấy thì nhiều bụi hòa hợp lại thì có thể thấy. Như vậy trong hạt có thô có thể thấy. Vì sao? Vì trong hạt này đã có mầm, thân, hoa, trái. Trong mỗi một trái có vô lượng hạt, trong mỗi một hạt có vô lượng cây. Vậy nên gọi là thô, mà có cái thô này nên có thể thấy. Này thiện nam! Nếu hạt Ni-câu-đà có tánh Ni-câu-đà mà sinh ra cây thì mắt thấy hạt này bị lửa đốt cháy, vậy tánh đốt lẽ ra cũng vốn có. Nếu vốn có thì cây chẳng nên sinh ra. Nếu tất cả pháp vốn có sinh diệt thì vì sao trước sinh sau diệt chẳng cùng một lúc? Do nghĩa này nên biết là không có tánh.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Nếu hạt Ni-câu-đà vốn không có tánh cây mà sinh ra cây thì hạt này vì sao chẳng cho ra dầu? Cả hai đều không.

–Này thiện nam! Trong hạt này cũng có thể sinh ra dầu vì tuy không có tánh nhưng do nhân duyên nên có.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Vì sao chẳng gọi là dầu mè?

–Này thiện nam! Vì chẳng phải mè. Này thiện nam! Như duyên lửa sinh ra lửa, duyên nước sinh ra nước, tuy đều từ duyên nhưng chẳng thể có nhau. Hạt Ni-câu-đà và dầu mè cũng như vậy, tuy đều từ duyên nhưng đều chẳng sinh ra nhau. Tánh của hạt Ni-câu-đà có thể trị lạnh. Dầu mè thì tánh có thể trị gió. Này thiện nam! Ví như mía nhờ nhân duyên nên sinh ra đường cát, đường đen. Tuy chúng đều một duyên nhưng sắc tướng đều khác. Đường cát trị nóng, đường đen trị lạnh.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Như trong sữa ấy không có tánh của sữa đặc, mè không có tánh của dầu, hạt Ni-câu-đà không có tánh của cây, bùn không có tánh của bình, tất cả chúng sinh không có Phật tánh nhưng như lời Đức Phật trước đã nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, cho nên sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì nghĩa này chẳng đúng. Vì sao? Vì hàng trời, người khon g có tánh. Do không có tánh nên người có thể làm trời, trời có thể làm người. Do nghiệp duyên nên chẳng thể do tánh. Đại Bồ-tát do nghiệp duyên nên được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nếu các chúng sinh có Phật tánh thì vì nhân duyên gì Nhất-xiển-đề đoạn dứt các thiện căn, đọa vào địa ngục? Nếu tâm Bồ-đề là Phật tánh thì Nhất-xiển-đề lẽ ra chẳng có thể đoạn, mà nếu có thể đoạn thì làm sao có thể nói, Phật tánh là thường? Nếu chẳng phải thường thì chẳng gọi là Phật tánh. Nếu các chúng sinh có Phật tánh thì vì sao gọi là mới phát tâm? Vì sao mà nói là thoái chuyển và không thoái chuyển? Thoái chuyển thì phải biết người này không có Phật tánh. Bạch Thế Tôn! Đại Bồ-tát một lòng hướng về Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đại từ đại bi, thấy tội lỗi phiền não sinh lão tử, quan sát Đại Niết-bàn không có các tội lỗi phiền não sinh lão tử, tin vào Tam bảo và quả báo của nghiệp, thọ trì giới cấm. Những pháp như vậy gọi là Phật tánh. Nếu lìa khỏi những pháp này mà có Phật tánh thì đâu cần pháp này mà tạo tác nhân duyên? Bạch Thế Tôn! Như sữa chẳng mượn duyên nhất định sẽ thành sữa đặc, nhưng váng sữa chẳng vậy, cần phải đợi nhân duyên, đó là nhân công, nước, bình, xoay, sợi dây. Chúng sinh cũng vậy, người có Phật tánh nên lìa khỏi nhân duyên để được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nếu nhất định có thì vì sao hành nhân thấy ba ác khổ, sinh, lão, bệnh, tử mà sinh ra thoái tâm? Cũng chẳng cần tu sáu pháp Ba-la-mật vẫn được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Như sữa chẳng phải nhờ duyên mà được thành sữa đặc. Nhưng chẳng phải chẳng nhờ sáu pháp Ba-la-mật mà được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Do nghĩa này nên biết, chúng sinh đều không có Phật tánh. Như Phật trước đã nói, Tăng bảo là thường. Như thường ấy tức là chẳng phải vô thường, mà chẳng phải vô thường thì làm sao đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác? Tăng bảo nếu thường thì làm sao lại nói rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh? Bạch Thế Tôn! Giả sử chúng sinh từ trước đến nay không có tâm Bồđề cũng không có tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà sau mới có thì Phật tánh của chúng sinh đáng lẽ cũng trước không sau có như vậy. Do nghĩa này nên tất cả chúng sinh không có Phật tánh.

Đức Phật dạy:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Ông biết nghĩa lý của Phật tánh đã lâu, nhưng vì chúng sinh nên đặt câu hỏi như vậy. Tất cả chúng sinh thật có Phật tánh. Ông nói rằng, chúng sinh nếu có Phật tánh thì chẳng nên nói rằng, có người mới phát tâm. Này thiện nam! Tâm chẳng phải Phật tánh. Vì sao? Vì tâm là vô thường, Phật tánh là thường. Ông nói rằng, vì sao có người thoái tâm? Thật ra tâm không thoái vì nếu tâm có thoái thì chẳng bao giờ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Do chậm được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nên gọi đó là thoái. Tâm Bồ-đề này thật chẳng phải Phật tánh. Vì sao? Vì Nhất-xiển-đề đoạn dứt căn lành, rơi vào địa ngục. Nếu tâm Bồ-đề là Phật tánh thì bọn Nhất-xiển-đề chẳng gọi là Nhất-xiển-đề và tâm Bồ-đề cũng chẳng gọi là vô thường. Vậy nên biết chắc là tâm Bồ-đề thật chẳng phải là Phật tánh.

Này thiện nam! Ông nói rằng, chúng sinh nếu có Phật tánh thì chẳng nên mượn nhờ duyên, như sữa thành sữa đặc thì nghĩa này chẳng đúng. Vì sao? Vì nếu nói rằng, do năm duyên thành váng sữa thì phải biết, Phật tánh cũng như vậy. Ví như các thứ đá có vàng, có bạc, có đồng, có sắt đều là gốc từ bốn đại, một tên, một vật thật, mà cái chúng cho ra mỗi mỗi chẳng đồng. Chúng phải nhờ đến mọi duyên như phước đức chúng sinh, lò đúc, nhân công… rồi sau đó mới sinh ra. Vậy phải biết, vốn không có tánh vàng, Phật tánh của chúng sinh chẳng gọi là Phật mà do các công đức nhân duyên hòa hợp nên được thấy Phật tánh, rồi sau đó mới đắc Phật.

Ông nói rằng, chúng sinh đều có Phật tánh, vì sao chẳng thấy? Nghĩa này chẳng đúng. Vì sao? Vì do các nhân duyên chưa hòa hợp. Này thiện nam! Do nghĩa này nên ta nói hai nhân: chánh nhân và duyên nhân. Chánh nhân thì gọi là Phật tánh, duyên nhân là phát tâm Bồ-đề. Do hai nhân duyên đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác như đá cho ra vàng.

Này thiện nam! Ông nói rằng, Tăng thường thì tất cả chúng sinh không Phật tánh. Này thiện nam! Tăng gọi là hòa hợp. Hòa hợp có hai: một là thế gian hòa hợp, hai là đệ nhất nghĩa hòa hợp. Thế gian hòa hợp là gọi Tăng Thanh văn, đệ nhất nghĩa hòa hợp là gọi Tăng Bồ-tát. Tăng thế gian thì vô thường mà Phật tánh là thường. Như Phật tánh thường thì đệ nhất nghĩa Tăng cũng vậy. Lại nữa, có Tăng gọi là pháp hòa hợp. Pháp hòa hợp là gọi Mười hai bộ loại kinh điển, mà Mười hai bộ loại kinh điển thường, nên ta nói rằng, Pháp, Tăng là thường. Này thiện nam! Tăng gọi là hòa hợp. Hòa hợp là gọi mười hai nhân duyên. Trong mười hai nhân duyên cũng có Phật tánh. Mười hai nhân duyên thường, Phật tánh cũng vậy. Vậy nên Ta nói, tăng có Phật tánh. Lại nữa, Tăng là chư Phật hòa hợp. Vậy nên Ta nói, Tăng có Phật tánh.

Này thiện nam! Ông nói, chúng sinh nếu có Phật tánh thì sao có người thoái, người chẳng thoái? Ông hãy lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì ông phân biệt, giảng nói. Này thiện nam! Đại Bồ-tát có mười ba pháp làm cho thoái chuyển. Những gì là mười ba? Một là tâm chẳng tin, hai là tâm bất tác, ba là tâm nghi, bốn là tham tiếc thân mạng của cải, năm là ở trong Niết-bàn sinh ra sợ hãi lớn, làm sao khiến cho chúng sinh diệt độ hoàn toàn, sáu là lòng chẳng kham nhẫn, bảy là lòng chẳng mềm mỏng, tám là sầu não, chín là chẳng vui, mười là phóng dật, mười một là tự khinh thân mình, mười hai là tự thấy phiền não, không thể hoại, mười ba là chẳng ưa tiến đến pháp Bồ-đề. Này thiện nam! Đó là mười ba pháp khiến cho các Bồ-tát thoái chuyển Bồđề. Lại có sáu pháp hoại tâm Bồ-đề. Những gì là sáu? Một là keo kiệt pháp, hai là đối với các chúng sinh lòng bất thiện, ba là thân cận bạn ác, bốn là chẳng siêng tinh tấn, năm là tự đại kiêu mạn, sáu là kinh doanh nghề nghiệp thế gian. Sáu pháp như vậy có thể phá hoại tâm Bồ-đề. Này thiện nam! Có người được nghe chư Phật Thế Tôn là thầy của hàng trời, người, ở trong chúng sinh là bậc Tối Thượng Vô Tỷ, vượt hơn Thanh văn, Phật-bích-chi v.v… pháp nhãn sáng tỏ, thấy pháp không ngăn ngại, có thể độ chúng sinh qua biển khổ lớn. Nghe rồi liền lại phát đại thệ nguyện: “Như thế gian có người như vậy thì ta cũng sẽ được”. Do nhân duyên ấy mà phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Hoặc lại có người được sự dạy bảo của người khác mà phát tâm Bồ-đề. Hoặc nghe Bồ-tát qua vô số kiếp tu hành khổ hạnh, người ấy suy nghĩ: “Ta nay chẳng kham được những hạnh khổ như vậy thì làm sao có thể được”. Vậy nên thoái lui. Này thiện nam! Lại có năm pháp làm thoái tâm Bồ-đề. Những gì là năm? Một là ưa theo ngoại đạo xuất gia, hai là chẳng tu tâm đại từ, ba là ưa cầu tìm lỗi của pháp sư, bốn là thường ưa ở tại sinh tử, năm là chẳng thích thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giảng nói mười hai bộ loại kinh điển. Đó gọi là năm pháp thoái tâm Bồ-đề. Lại có hai pháp thoái tâm Bồ-đề. Những gì là hai? Một là tham ưa năm dục, hai là chẳng thể cung kính tôn trọng Tam bảo. Do những nhân duyên như vậy nên thoái tâm Bồ-đề.

Sao gọi là tâm chẳng thoái? Có người nghe Phật có thể độ sinh, già, bệnh, chết của chúng sinh, chẳng theo thầy học hỏi mà tự nhiên tu tập được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, rồi nghĩ: “Nếu đạo Bồ-đề là có thể được thì ta sẽ tu tập nhất định làm cho được”. Do nhân duyên này nên phát tâm Bồ-đề. Công đức tạo được hoặc nhiều hay ít đều đem hồi hướng về Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Người đó khởi thệ nguyện: “Nguyện cho tôi thường được gần gũi chư Phật và đệ tử của Phật, thường nghe pháp thâm diệu, năm căn đầy đủ, nếu gặp khổ nạn, chẳng mất tâm này”. Lại nguyện: “Chư Phật và đệ tử của Phật thường ở chỗ tôi sinh tâm hoan hỷ, đủ năm căn lành. Nếu các chúng sinh chặt thân tôi, chém đứt tay chân đầu mắt, chi tiết thì tôi sẽ đối với người này sinh tâm đại từ, tự mừng vui sâu sắc. Những người như vậy đã vì tôi làm tăng trưởng nhân duyên Bồ-đề. Nếu không có người này thì tôi sẽ nhờ duyên gì mà được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Lại phát nguyện: “Chớ khiến cho tôi bị không căn, hai căn và thân nữ nhân, chẳng bị hệ thuộc người, chẳng gặp người chủ ác, chẳng thuộc về vua ac , chẳng sinh vào nước ác. Nếu được thân đẹp, dòng họ chân chánh, có nhiều của báu thì chẳng sinh ra kiêu mạn, nguyện khiến cho tôi thường được nghe mười hai bộ loại kinh điển và thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giảng nói. Nếu vì chúng sinh diễn nói thì nguyện khiến cho người nghe thọ kính tin không nghi hoặc, thường ở chỗ của tôi chẳng sinh ra tâm ác. Tôi thà nghe ít mà lý giải được nghĩa vị nhiều, chẳng cần nghe nhiều mà đối với nghĩa chẳng rõ. Nguyện làm thầy của tâm, chẳng học theo tâm. Nghiệp thân, miệng, ý chẳng cùng với ác giao du. Có thể ban cho tất cả chúng sinh niềm an lạc. Thân giới, tâm tuệ chẳng động như núi. Vì muốn thọ trì chánh pháp vô thượng, đối với thân mạng của cải chẳng sinh lòng keo kiệt. Chẳng dùng vật bất tịnh làm phước. Tự sinh sống bằng chánh mạng, lòng không tà vạy, dua nịnh. Thọ ơn luôn nghĩ: ơn nhỏ phải báo đền lớn. Giỏi biết nghề khéo trong đời. Khéo hiểu lời nói phương tục của chúng sinh. Đọc tụng, ghi chép mười hai bộ loại kinh điển chẳng sinh lòng lười biếng. Nếu các chúng sinh chẳng ưa lắng nghe thì dùng phương tiện tiếp dẫn khiến cho họ thích nghe. Lời nói thường mềm mỏng, miệng chẳng phát ra điều ác. Chúng chẳng hòa hợp có thể làm cho hòa hợp. Có người lo sợ thì làm sao lìa khỏi lo sợ. Đời đói kém thì khiến cho được giàu có no đủ. Đời dịch bệnh thì làm đại y vương với thuốc bệnh cần dùng, của cải, vật báu v.v… khiến cho tật bệnh đều được trừ khỏi. Ở kiếp đao binh thì có thế lực lớn đoạn dứt sự tàn hại, khiến cho không còn nữa. Có thể đoạn diệt đủ thứ sự sợ hãi của chúng sinh như là: sợ chết, giam cầm, trói buộc, đánh đập, ném, nước, lửa, giặc, vua, nghèo cùng, phá giới, danh ác, đạo ác v.v… những việc kinh sợ như vậy đều sẽ đoạn trừ hết. Đối với cha mẹ, sư trưởng tâm rất cung kính. Ở trong oán ghét phát sinh lòng đại từ. Thường tu môn Tam-muội sáu niệm không, sự sinh diệt của mười hai nhân duyên v.v… Quán hơi thở ra vào, tu tập Thiên hạnh, Phạm hạnh và Thánh hạnh, Tam-muội Kim cương, định Thủ-lăng-nghiêm v.v… Ở chỗ không có Tam bảo thì khiến cho tâm được tịch tĩnh. Nếu khi thân tâm chịu khổ lớn vẫn không mất tâm Bồ-đề vô thượng, không vì tâm Thanh văn, Phật-bích-chi mà sinh ra tri túc. Ở chỗ không có Tam bảo, thường ở trong pháp ngoại đạo xuất gia nhưng vì phá tà kiến nên chẳng tu tập đạo ấy, mong được pháp tự tại, được tâm tự tại. Đối với pháp hữu vi thấy lỗi rõ ràng khiến cho tôi kinh sợ đạo quả Nhị thừa như người tiếc mạng sống kinh sợ xả thân. Vì chúng sinh nên ưa ở ba đường ác như chúng sinh ưa cõi trời Đao-lợi. Vì mọi người mà ở vô lượng kiếp thọ khổ địa ngục lòng không hề sinh hối hận. Thấy người khác được lợi chẳng sinh lòng ganh ghét, thường sinh vui mừng như tự mình được niềm vui. Nếu gặp Tam bảo thì sẽ dùng y phục, ẩm thực, ngọa cụ, nhà cửa, thuốc men, đèn sáng, hoa hương, kỹ nhạc, cờ phướn, lọng báu, bảy báu cúng dường. Nếu thọ giới cấm của Phật thì kiên cố hộ trì nhất định chẳng sinh tư tưởng hủy phạm. Nếu nghe hạnh khổ khó làm của Bồ-tát thì lòng vui mừng chẳng sinh hối hận. Tự biết được việc đời trước nhất định chẳng tạo tác nghiệp tham, sân, si, chẳng vì quả báo mà tu tập nhân duyên. Đối với niềm vui hiện tại chẳng sinh lòng tham đắm. Này thiện nam! Nếu có người có thể phát nguyện như vậy thì đó gọi là Bồ-tát chẳng bao giờ thoái mất tâm Bồ-đề, cũng gọi là thí chủ, có thể thấy Phật tánh sáng tỏ của Như Lai, có thể điều phục chúng sinh, độ thoát sinh tử, khéo có thể hộ trì chánh pháp vô thượng, có thể được đầy đủ sáu pháp Ba-la-mật. Này thiện nam! Do nghĩa này nên tâm chẳng thoái chẳng gọi là Phật tánh.

Này thiện nam! Ông chẳng thể căn cứ vào tâm có thoái chuyển mà nói rằng các chúng sinh không có Phật tánh. Ví như hai người đều nghe ở phương khác có núi bảy báu, núi ấy có dòng suối trong, vị ngon ngọt. Người có thể đến đó thì đoạn dứt vĩnh viễn sự nghèo cùng và uống nước suối ấy thì tăng tuổi thọ vạn năm. Nhưng chỉ có điều là đường đi xa xôi, hiểm trở nhiều khó khăn. Khi ấy, hai người kia đều muốn cùng chung đi đến đó. Một người thì trang bị đủ thứ đồ đi đường, còn một người thì đi tay không, không mang theo thứ gì cả. Trên đường cùng nhau tiến về phía trước, họ gặp một người mang theo nhiều của báu, đầy đủ bảy thứ trân quý. Hai người liền hỏi trước: “Thưa ông! Cõi đó thật có núi bảy báu sao?”. Người kia đáp: “Thật có chẳng hư dối. Ta đã thu hoạch được của báu, đã uống nước dòng suối ấy. Nhưng chỉ lo đường đi hiểm trở, có nhiều đạo tặc, cát sỏi, gai nhọn, thiếu thốn nước cỏ. Người đi đến có hàng ngàn vạn mà người đạt được rất ít”. Nghe việc đó rồi, một người liền hối hận, mà nói: “Đường đi xa xôi, gian nan chẳng phải một, người đi đến nhiều không lường mà người đạt được không bao nhiêu, thì ta làm sao có thể đến đó được? Sản nghiệp của ta hôm nay tự cung cấp đủ. Nếu ta lặn lội trên con đường ấy, hoặc mất thân mạng mà thân mạng chẳng toàn thì trường thọ chỗ nào?”. Một người lại nói: “Có người có thể qua thì ta cũng có thể qua được. Nếu kết quả đạt được thì ta được đúng như nguyện, thu lấy châu báu, uống nước suối ngọt. Như nguyện ấy chẳng đạt thì dù chết cũng thỏa nguyện”. Lúc đó, hai người, một người thì hối hận thoái lui, một người thì nhắm đường trước tiến tới. Đi đến núi đó, người này thu hoạch được nhiều châu báu. Đúng như nguyện, người này uống nước suối, mang theo nhiều châu báu trở về chỗ ở của mình để phụng dưỡng cha mẹ, cung cấp cho bà con. Người hối hận trở về thấy việc này rồi thì nóng ruột, nghĩ: “Người kia đi đã trở về thì ta làm sao ở yên được?”. Người đó liền trang bị đồ đi đường rồi ra đi. Núi bảy báu là ví cho Đại Niếtbàn. Nước ngon ngọt là ví cho Phật tánh. Hai người ấy là dụ cho hai vị Bồ-tát mới phát tâm. Đường hiểm ác là ví cho sinh tử. Người gặp trên đường đi là ví cho Phật Thế Tôn. Có đạo tặc là dụ cho bốn ma. Cát sỏi, gai nhọn là dụ cho các phiền não. Không nước cỏ là dụ cho chẳng tu tập đạo Bồ-đề. Một người trở về là dụ cho Bồ-tát thoái chuyển. Người đi thẳng đến là dụ cho Bồ-tát chẳng thoái chuyển. Này thiện nam! Phật tánh của chúng sinh thường trụ bất biến. Còn con đường hiểm kia chẳng thể nói rằng, do người hối hận quay trở lại nên khiến cho con đường vô thường. Phật tánh cũng vậy. Này thiện nam! Trong đạo Bồđề nhất định không có người thoái chuyển. Này thiện nam! Như người hối hận quay về thấy người bạn trước kia thu hoạch báu trở về giàu có tự tại, cung phụng cha mẹ, cung cấp đủ cho bà con, thụ hưởng nhiều vui sướng, thấy việc này rồi, nóng lòng, người này liền trang bị, rồi ra đi, chẳng tiếc thân mạng, chịu đựng gian nan, người này liền đến được núi bảy báu kia. Bồ-tát thoái chuyển cũng như vậy. Này thiện nam! Tất cả chúng sinh quyết định sẽ đắc thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Do nghĩa này nên trong kinh Ta nói rằng, tất cả chúng sinh thậm chí tạo tội ngũ nghịch, phạm bốn trọng cấm và Nhất-xiển-đề đều có Phật tánh.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Bồ-tát có thoái chuyển và chẳng thoái chuyển?

–Này thiện nam! Nếu có Bồ-tát tu tập nhân duyên nghiệp của ba mươi hai tướng Như Lai thì được gọi là chẳng thoái chuyển, được gọi là Đại Bồ-tát, gọi là bậc chẳng động chuyển, gọi là bậc thương xót tất cả chúng sinh, gọi là bậc thắng tất cả Thanh văn, Duyên giác, gọi là Abệ-bạt-trí (Bất thoái chuyển). Này thiện nam! Nếu Đại Bồ-tát trì giới chẳng động, thí tâm chẳng dời, an trụ ở thật ngữ như núi Tu-di. Do duyên nghiệp này nên được dưới chân bằng như tướng của đáy hộp gương. Nếu Đại Bồ-tát ở chỗ cha mẹ, Hòa thượng, sư trưởng cho đến súc sinh dùng của cải đúng như pháp cúng dường cung cấp thì do duyên nghiệp này sẽ được thành tướng ngàn nan hoa bánh xe dưới chân.

Nếu Đại Bồ-tát chẳng sát sinh, chẳng trộm cắp, đối với cha mẹ, sư trưởng thường sinh tâm vui mừng thì do duyên nghiệp này được thành ba tướng, một là ngón tay nhỏ dài, hai là gót chân dài, ba là thân thể cân đối ngay thẳng. Ba tướng như vậy đồng một duyên nghiệp. Nếu Đại Bồ-tát tu bốn nhiếp pháp, giáo hóa chúng sinh thì do duyên nghiệp này nên được ngón tay có màn lưới như ngỗng trắng chúa. Nếu Đại Bồ-tát, khi cha mẹ, sư trưởng bị bệnh khổ mà tự tắm rửa, lau chùi, dìu đỡ, xoa bóp thì do duyên nghiệp này nên được tay chân mềm mại. Nếu Đại Bồ-tát trì giới, bố thí, nghe pháp không chán thì do duyên nghiệp này nên được đốt xương, các khớp đầy đặn, lông trên thân đẹp đẽ. Nếu Đại Bồ-tát chuyên tâm nghe pháp, diễn nói chánh giáo thì do duyên nghiệp này nên được tướng đùi nai chúa. Nếu Đại Bồ-tát đối với các chúng sinh chẳng sinh lòng giết hại, ăn uống tri túc, thường ưa ban tặng, xem bệnh cấp thuốc thì do duyên nghiệp này nên được thân viên mãn như cây Ni-câu-đà, đứng lên tay quá gối, đỉnh đầu có nhục kế, không ai thấy đỉnh tướng. Nếu Đại Bồ-tát thấy người sợ hãi mà vì họ tạo sự cứu hộ, thấy kẻ không có y phục ban cho y phục thì do duyên nghiệp này nên được tướng mã âm tàng. Nếu Đại Bồ-tát thân cận người trí, xa lìa người ngu, khéo ưa hỏi đáp, quét dọn đường đi, do những duyên nghiệp này nên được da dẻ mịn màng, lông trên thân xoáy về bên phải. Nếu Đại Bồ-tát thường dùng y phục, ẩm thực, ngọa cụ, y dược, hương hoa, đèn sáng cho người thì do duyên nghiệp này nên được thân kim sắc, thường phát ánh sáng rực rỡ. Nếu Đại Bồ-tát khi hành thí, vật châu báu có thể xả bỏ chẳng tiếc nuối, chẳng cần quan sát là phước điền hay chẳng phải phước điền thì do duyên nghiệp này nên được tướng bảy chỗ đầy đặn. Nếu Đại Bồ-tát, khi bố thí mà lòng chẳng sinh nghi ngờ thì do duyên nghiệp nên được âm thanh êm dịu. Nếu Đại Bồ-tát theo đúng như pháp tìm cầu của cải rồi đem dùng bố thí thì do duyên nghiệp này nên chỗ xương khuyết được đầy đủ, thân phần trên như sư tử, cánh tay thon dài. Nếu Bồ-tát xa lìa lưỡng thiệt, ác khẩu, tâm sân giận thì do duyên nghiệp này nên được bốn mươi cái răng trắng, sạch, bằng và kín. Nếu Đại Bồ-tát đối với các chúng sinh tu đại từ bi thì do duyên nghiệp này nên được tướng hai răng. Nếu Đại Bồ-tát thường khởi lời nguyện này, có người đến cầu xin, cấp cho theo ý thì do duyên nghiệp này nên được tướng hai má sư tử. Nếu Đại Bồ-tát tùy theo sự ăn uống cần dùng của chúng sinh mà đều ban cho cả thì do duyên nghiệp này nên được thượng vị trong các vị ngon. Nếu Đại Bồ-tát tự tu mười điều thiện, kiêm giáo hóa cho người thì do duyên nghiệp này nên được tướng lưỡi rộng dài. Nếu Đại Bồ-tát chẳng nói lên sở đoản của người khác, chẳng bài báng chánh pháp thì do duyên nghiệp này nên được âm thanh của trời Phạm. Nếu Đại Bồ-tát thấy các điều oán ghét mà sinh tâm vui mừng thì do duyên nghiệp này nên được lông mi màu xanh biếc. Nếu Đại Bồ-tát chẳng che giấu đức của người khác mà xưng dương cái tốt của họ thì do duyên nghiệp này nên được tướng bạch hào. Này thiện nam! Khi Đại Bồ-tát tu tập nhân duyên nghiệp của ba mươi hai tướng thì được tâm Bồ-đề bất thoái.

Này thiện nam! Tất cả chúng sinh chẳng thể nghĩ bàn, cảnh giới của chư Phật, nghiệp quả và Phật tánh cũng chẳng thể nghĩ bàn. Vì sao? Vì bốn pháp như vậy đều là thường, mà do thường này nên chẳng thể nghĩ bàn. Tất cả chúng sinh bị phiền não ngăn che nên gọi là thường, vì đoạn dứt phiền não thường nên gọi là vô thường. Nếu nói, tất cả chúng sinh thường thì vì sao tu tập tám Thánh đạo phận để đoạn được mọi khổ. Mọi sự khổ nếu đoạn thì gọi là vô thường. Niềm vui đã thọ thì gọi là thường. Vậy nên ta nói rằng tất cả chúng sinh bị phiền não ngăn che, chẳng thấy Phật tánh, mà do chẳng thấy nên chẳng được Niết-bàn.

*********

 

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Như lời Phật nói, tất cả các pháp có hai thứ nhân, một là chánh nhân, hai là duyên nhân. Do hai nhân này nên không có trói hay mở. Năm ấm này từng niệm từng niệm sinh diệt. Như sự sinh diệt ấy thì ai trói? Ai mở? Bạch Thế Tôn! Nhân năm ấm này sinh ra năm ấm sau. Ấm này tự diệt chẳng đến ấm kia. Tuy chẳng đến ấm kia nhưng có thể sinh ra ấm kia. Như nhân hạt sinh ra mầm mà hạt chẳng đến mầm. Tuy hạt chẳng đến mầm mà có thể sinh ra mầm. Chúng sinh cũng vậy thì sao gọi là trói hay mở?

–Này thiện nam! Hãy lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì ông phân biệt, giảng nói. Này thiện nam! Như khi người bỏ mạng chịu khổ lớn thì bà con vây quanh gào khóc. Người ấy sợ hãi không biết nương tựa kêu cứu vào đâu. Tuy có năm căn nhưng người ấy không hay không biết gì, chân tay run rẩy, chẳng thể tự giữ gìn, thân thể lạnh ngắt, hơi ấm sắp hết, thấy tướng báo ứng của việc thiện, ác đã tạo từ trước. Này thiện nam! Như mặt trời lặn xuống thì bóng núi, đồi, gò, đống hiện ngã về đông, không ngã về tây. Nghiệp quả chúng sinh cũng như vậy, khi ấm này diệt thì ấm kia nối tiếp sinh, như đèn thắp lên thì bóng tối diệt, đèn tắt thì bóng tối sinh ra. Này thiện nam! Như dấu sáp in vào đất sét, con dấu cùng đất sét họp lại, nếu con dấu diệt thì hoa văn hiện thành. Nhưng con dấu sáp chẳng biến mất vào đất sét, hoa văn chẳng phải do đất sét sinh ra, chẳng ở chỗ khác đến mà do nhân duyên dấu sáp sinh ra hoa văn này. Ấm hiện tại diệt thì ấm của trung ấm sinh. Ấm hiện tại này nhất định chẳng biến làm năm ấm của trung ấm. Năm ấm của trung ấm cũng chẳng phải tự sinh, chẳng từ chỗ khác đến mà nhân ấm

hiện tại sinh ra ấm trung ấm, như dấu sáp in vào đất sét, dấu hoại thì hoa văn thành. Tên gọi tuy không sai mà thời tiết đều khác. Vậy nên ta nói, năm ấm của trung ấm chẳng phải mắt thịt nhìn thấy mà là cái thấy của mắt trời. Trong trung ấm này có ba thứ ăn, một là tư thực (ăn bằng tư tưởng), hai là xúc thực (ăn bằng chạm xúc), ba là ý thực. Trung ấm có hai thứ, một là nghiệp quả thiện, hai là nghiệp quả ác. Nhân nghiệp thiện nên được giác quán thiện. Nhân nghiệp ác nên bị giác quán ác. Khi cha mẹ giao hợp thì tùy theo nhân duyên nghiệp, chỉ hướng về chỗ thọ sinh, đối với mẹ sinh yêu thương thì đối với cha sinh sân giận. Khi tinh cha xuất ra thì cho là của mình. Đã thấy rồi, lòng mừng mà sinh ra hoan hỷ. Do ba thứ nhân duyên phiền não này nên ấm của trung ấm hoại đi mà sinh ra năm ấm sau, như dấu in vào đất sét in xong thì hoa văn sinh. Khi sinh ra, các căn có đủ hay chẳng đủ. Người đủ thì thấy sắc nên sinh ra tham, mà sinh ra tham thì gọi là ái. Cuồng dại nên sinh ra tham thì đó gọi là vô minh. Do hai nhân duyên tham ái, vô minh nên những cảnh giới đã thấy đều điên đảo: vô thường thấy thường, vô ngã thấy ngã, vô lạc thấy lạc, vô tịnh thấy tịnh. Do Bốn điên đảo nên tạo tác hạnh thiện, ác, phiền não tạo tác nghiệp, nghiệp tạo tác phiền não v.v… Đó gọi là trói buộc. Do nghĩa này nên gọi là năm ấm sinh. Người này nếu được thân cận với Phật và đệ tử của Phật, các thiện tri thức thì liền được nghe thọ Mười hai bộ loại kinh điển. Do được nghe pháp nên quan sát cảnh giới thiện. Quan sát cảnh giới thiện nên được trí tuệ lớn. Trí tuệ lớn thì gọi là chánh tri kiến. Được chánh tri kiến nên ở trong sinh tử sinh lòng hối hận. Do sinh lòng hối hận nên chẳng sinh hoan lạc. Chẳng sinh hoan lạc nên có thể phá được lòng tham. Phá lòng tham nên tu tám chánh đạo. Tu tám chánh đạo nên không sinh tử, mà không sinh tử nên gọi là được giải thoát. Như lửa chẳng gặp được củi gọi là lửa tắt, diệt sinh tử nên gọi là diệt độ. Do nghĩa này nên gọi là năm ấm diệt.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Trong hư không không có gai sao nói là nhổ? Ấm không ràng buộc thì sao gọi là trói buộc?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Do khóa phiền não trói buộc năm ấm, lìa năm

ấm rồi không có phiền não riêng, lìa phiền não rồi không có năm ấm riêng. Này thiện nam! Như cây trụ chống giữ nhà, lìa nhà không có cột, lìa cột không có nhà. Năm ấm của chúng sinh cũng như vậy, có phiền não nên gọi là trói buộc, không phiền não nên gọi là giải thoát. Này thiện nam! Như nắm tay, chấp tay, trói buộc v.v… cả ba hợp tan, sinh diệt lại không có pháp riêng. Năm ấm của chúng sinh cũng như vậy, có phiền não nên gọi là trói buộc, không phiền não nên gọi là giải thoát. Này thiện nam! Như nói danh sắc trói buộc chúng sinh. Danh sắc nếu diệt thì không có chúng sinh, lìa danh sắc rồi không có chúng sinh riêng, lìa chúng sinh rồi không có danh sắc riêng, nên cũng gọi là danh sắc trói buộc chúng sinh, cũng gọi là chúng sinh trói buộc danh sắc.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Như mắt chẳng tự thấy, ngón tay chẳng tự chạm xúc, lưỡi dao chẳng tự cắt, thọ chẳng tự thọ thì tại sao Như Lai nói, danh sắc trói buộc danh sắc? Vì sao? Vì nói danh sắc tức là chúng sinh, nói chúng sinh tức là danh sắc. Nếu nói danh sắc trói buộc chúng sinh tức là danh sắc trói buộc danh sắc.

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Như khi hai tay hợp lại thì không có pháp khác đến hợp. Danh cùng với sắc cũng như vậy. Do nghĩa này nên ta nói, danh sắc trói buộc chúng sinh. Nếu lìa khỏi danh sắc thì được giải thoát nên ta nói chúng sinh giải thoát.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Nếu có danh sắc trói buộc thì các A-la-hán chưa lìa khỏi danh sắc đáng lẽ cũng bị ràng buộc chăng?

–Này thiện nam! Giải thoát có hai thứ: một là tử đoạn, hai là quả đoạn. Nói tử đoạn là đoạn phiền não. A-la-hán v.v… đã đoạn phiền não, mọi kết tan rã hủy hoại. Vậy nên kết của hạt nhân chẳng thể trói buộc. Chưa đoạn kết quả nên gọi là quả trói buộc. Các A-la-hán chẳng thấy Phật tánh, do chẳng thấy nên chẳng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Do nghĩa này nên có thể nói quả ràng buộc, chẳng thể nói danh sắc ràng buộc. Này thiện nam! Ví như khi thắp đèn mà dầu chưa hết thì ánh sáng chẳng diệt, nhưng nếu dầu hết thì ánh sáng diệt không gì nghi ngờ. Này thiện nam! Cái gọi là dầu là dụ cho các phiền não, đèn lại dụ cho chúng sinh. Tất cả chúng sinh vì dầu phiền não nên chẳng vào Niết-bàn. Nếu có người đoạn được thì vào Niết-bàn.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Đèn với dầu cả hai tánh đều khác, còn chúng sinh, phiền não thì chẳng như vậy. Chúng sinh tức là phiền não, phiền não tức là chúng sinh, chúng sinh gọi là năm ấm, năm ấm gọi là chúng sinh, năm ấm gọi là phiền não, phiền não gọi là năm ấm thì làm sao Như Lai đem dụ nó với đèn?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Dụ có tám thứ, một là thuận dụ, hai là nghịch dụ, ba là hiện dụ, bốn là phi dụ, năm là tiên dụ, sáu là hậu dụ, bảy là tiên hậu dụ, tám là biến dụ.

Sao gọi là thuận dụ? Như trong kinh nói, trời tuôn mưa lớn ngòi rãnh tràn đầy, ngòi rãnh đầy nên hầm nhỏ đầy, hầm nhỏ đầy nên hầm lớn đầy, hầm lớn đầy nên suối nhỏ đầy, suối nhỏ đầy nên suối lớn đầy, suối lớn đầy nên ao nhỏ đầy, ao nhỏ đầy nên ao lớn đầy, ao lớn đầy nên sông nhỏ đầy, sông nhỏ đầy nên sông lớn đầy, sông lớn đầy nên biển cả đầy. Mưa pháp của Như Lai cũng như vậy, giới của chúng sinh đầy, giới đầy đủ nên lòng chẳng hối hận đầy, lòng chẳng hối hận đầy nên hoan hỷ đầy, hoan hỷ đầy nên xa lìa đầy, xa lìa đầy nên yên ổn đầy, yên ổn đầy nên Tam-muội đầy, Tam-muội đầy nên chánh tri kiến đầy, chánh tri kiến đầy nên chán lìa đầy, chán lìa đầy nên quở trách đầy, quở trách đầy nên giải thoát đầy, giải thoát đầy nên Niết-bàn đầy. Đó gọi là thuận dụ.

Sao gọi là nghịch dụ? Biển cả có gốc là sông lớn, sông lớn có gốc là sông nhỏ, sông nhỏ có gốc là ao lớn, ao lớn có gốc là ao nhỏ, ao nhỏ có gốc là suối lớn, suối lớn có gốc là suối nhỏ, suối nhỏ có gốc là hầm lớn, hầm lớn có gốc là hầm nhỏ, hầm nhỏ có gốc là suối khe, suối khe có gốc là mưa lớn. Niết-bàn có gốc là giải thoát, giải thoát có gốc là quở trách, quở trách có gốc là chán lìa, chán lìa có gốc là chánh tri kiến, chánh tri kiến có gốc là Tam-muội, Tam-muội có gốc là yên ổn, yên ổn có gốc là xa lìa, xa lìa có gốc là tâm hỷ, tâm hỷ có gốc là chẳng hối, chẳng hối có gốc là trì giới, trì giới có gốc là mưa pháp. Đó gọi là nghịch dụ.

Sao gọi là hiện dụ? Như trong kinh nói tâm tánh chúng sinh giống như con khỉ đột. Tánh của khỉ đột chuyền mãi không dừng. Tâm tánh của chúng sinh cũng như vậy, tham lấy sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp không khi nào tạm đứng lại. Đó gọi là hiện dụ.

Sao gọi là phi dụ? Như thuở trước Ta bảo vua Ba-tư-nặc: “Này đại vương! Có người thân tín từ bốn phương đến đều nói lời này: Tâu đại vương! Có bốn núi lớn từ bốn phương đến muốn hại dân chúng”. Nếu nhà vua nghe thì phải thiết lập kế gì?. Nhà vua đáp: “Thưa Thế Tôn! Giả sử có điều này đến, không tìm chỗ chạy trốn, chỉ phải chuyên tâm trì giới, bố thí”. Ta liền khen ngợi: “Hay thay! Hay thay! Này đại vương! Ta nói bốn núi tức là sự sinh, già, bệnh, chết của chúng sinh. Sinh, già, bệnh, chết thường đến bức bách con người thì tại sao đại vương chẳng tu trì giới, bố thí?”. Vua bạch: “Thưa Thế Tôn! Trì giới, bố thí thì được những quả gì?”. Ta đáp: “Này đại vương! Ở trong hàng trời, người hưởng thọ nhiều hoan lạc”. Vua bạch: “Bạch Thế Tôn! Cây Ni-câu-đà có trì giới, bố thí cũng ở với hàng trời, người hưởng thụ an lạc chăng?”. Ta nói: “Thưa đại vương! Cây Ni-câu-đà chẳng thể trì giới, tu hành bố thí. Như cây ấy có thể trì giới, bố thí thì hưởng thọ hoan lạc không khác hàng trời, người”. Đó gọi là phi dụ.

Sao gọi là tiên dụ? Trong kinh Ta nói, ví như có người tham đắm hoa đẹp, khi hái hoa bị nước cuốn trôi. Chúng sinh cũng vậy, tham đắm năm dục bị sinh, già, bệnh, chết cuốn trôi. Đó gọi là tiên dụ. Sao gọi là hậu dụ? Như kinh Pháp Cú nói:

Chớ khinh ác nhỏ

Là không tai ương

Giọt nước tuy nhỏ

Chậu lớn dần tràn.

Đó gọi là hậu dụ.

Sao gọi là tiên hậu dụ? Ví như cây chuối ra trái thì chết. Người ngu được lợi dưỡng cũng như vậy, như con la mang thai thì sinh mạng chẳng an toàn lâu.

Sao gọi là biến dụ? Như trong kinh nói, trời Tam Thập Tam có cây Ba-lợi-chất-đa, rễ của nó ăn sâu vào trong đất đến năm do-tuần, cao đến hàng trăm do-tuần, cành lá trải rộng bốn phía đến năm mươi do-tuần. Lá chín thì vàng, chư Thiên thấy rồi lòng sinh hoan hỷ, vì lá này chẳng bao lâu ắt rơi rụng. Lá ấy đã rơi rụng thì chư Thiên lại sinh hoan hỷ, vì cành cây này chẳng bao lâu ắt đổi sắc. Cành đã đổi sắc chư Thiên lại sinh hoan hỷ, vì sắc này chẳng bao lâu sẽ sinh nụ. Chư Thiên thấy rồi lại sinh hoan hỷ, vì nụ này chẳng bao lâu ắt sẽ sinh búp. Chư Thiên thấy rồi lại mừng, vì búp này chẳng bao lâu ắt sẽ nở ra, mà khi nó nở ra thì hơi thơm lan cùng khắp năm mươi do-tuần, ánh sáng chiếu xa đến tám mươi do-tuần. Bấy giờ là thời gian ba tháng mùa hạ, chư Thiên ở dưới cây này hưởng thụ hoan lạc. Này thiện nam! Các đệ tử của Ta cũng như vậy, màu lá vàng là dụ cho ý muốn xuất gia của đệ tử Ta. Lá ấy rụng là dụ cho đệ tử của Ta cạo bỏ râu tóc. Sắc ấy biến đổi là dụ cho đệ tử của Ta bạch tứ yết-ma, thọ giới Cụ túc. Nụ mới sinh là dụ cho đệ tử của Ta mới phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Búp là dụ cho Bồ-tát Thập Trụ thấy được Phật tánh. Nở ra là dụ cho Bồ-tát chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Hương thơm là dụ cho vô lượng chúng sinh ở mười phương thọ trì giới cấm. Ánh sáng là dụ cho danh hiệu của Như Lai cùng khắp mười phương không ngăn ngại. Ba tháng hạ là dụ cho Tam-muội. Trời Tam Thập Tam hưởng thụ hoan lạc là dụ cho các Đức Phật tại Đại Niết-bàn được thường, lạc, ngã, tịnh. Đó gọi là biến dụ.

Này thiện nam! Phàm việc dẫn dụ thì chẳng nhất định phải lấy hết mà hoặc lấy một phần ít, hoặc lấy phần nhiều, hoặc lại lấy toàn phần. Như nói, mặt Như Lai như trăng tròn thì đó gọi là phần ít. Này thiện nam! Ví như có người, đầu tiên chẳng thấy sữa mà hỏi người khác, sữa là loại gì? Người kia đáp: “Như nước, mật và vỏ sò”. Nước thì tướng ẩm ướt, mật thì tướng ngọt, vỏ sò thì tướng màu. Tuy dẫn ba dụ nhưng chưa là sữa thật. Này thiện nam! Ta nói ví dụ đèn để dụ cho chúng sinh cũng như vậy. Này thiện nam! Rời khỏi nước thì không có sông, chúng sinh cũng vậy, lìa khỏi năm ấm rồi không có chúng sinh riêng khác. Này thiện nam! Như tách rời thùng xe, bánh xe, nan hoa gọng xe, trục xe, vành xe thì lại không có cái xe riêng biệt, chúng sinh cũng vậy. Này thiện nam! Nếu muốn hợp cái ví dụ đèn với pháp thì ông hãy lắng nghe, Ta nay sẽ vì ông giảng nói. Tim đèn là dụ cho hai mươi lăm cõi, dầu là dụ cho ái, ánh sáng dụ cho trí tuệ, phá trừ đen tối là dụ cho phá vô minh, hơi ấm dụ cho Thánh đạo. Như đèn hết dầu thì ánh sáng diệt, chúng sinh hết ái thì thấy Phật tánh. Tuy có danh sắc nhưng chẳng thể trói buộc. Tuy lại ở tại hai mươi lăm cõi nhưng chẳng bị các hữu làm nhiễm ô.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Năm ấm của chúng sinh rỗng không, không sở hữu thì ai thọ giáo tu tập đạo?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Tất cả chúng sinh đều có tâm niệm, tâm tuệ, tâm phát khởi, tâm tinh tấn, tâm tín, tâm định. Những tâm như vậy tuy từng niệm từng niệm sinh diệt nhưng giống như cũ, tương tự nối tiếp nhau, chẳng đoạn dứt nên gọi là tu đạo.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Những pháp như vậy từng niệm từng niệm đều diệt. Từng niệm từng niệm diệt này cũng tương tự nối tiếp nhau thì làm sao tu tập?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Đèn tuy từng niệm từng niệm diệt mà có ánh sáng phá trừ tối tăm. Các pháp từng niệm từng niệm diệt cũng như vậy. Này thiện nam! Như chúng sinh ăn, tuy từng niệm từng niệm diệt nhưng cũng khiến cho người đói được no. Ví như thuốc tốt nhất tuy từng niệm từng niệm diệt nhưng cũng có thể làm khỏi bệnh. Ánh sáng mặt trời, mặt trăng tuy từng niệm từng niệm diệt nhưng cũng có thể làm tăng trưởng rừng cây, thảo mộc. Này thiện nam! Ông nói, từng niệm từng niệm diệt thì làm sao tăng trưởng? Thì tâm chẳng đoạn nên gọi là tăng trưởng. Này thiện nam! Ví như người đọc sách, việc đọc chữ câu chẳng được cùng một lúc, trước chẳng đến giữa, giữa chẳng đến sau. Người đọc cùng chữ và cả tâm tưởng đều từng niệm từng niệm diệt, nhưng do rèn luyện lâu nên được thông suốt. Này thiện nam! Ví như người thợ vàng, từ lúc mới tập cho đến lúc bạc đầu, tuy từng niệm từng niệm diệt trước chẳng đến sau, nhưng do tích tập nên việc làm trở nên tinh xảo. Vậy nên được xưng là thợ vàng khéo tay. Đọc tụng kinh sách cũng như vậy. Này thiện nam! Ví như hạt giống, đất cũng chẳng dạy nó: “Ngươi phải nảy mầm”, nhưng do tánh của pháp nên mầm tự sinh ra. Cho đến hoa, đất cũng chẳng dạy: “Ngươi phải kết trái”, nhưng do tánh của pháp nên trái tự sinh ra. Chúng sinh tu đạo cũng như vậy. Này thiện nam! Ví như phép tính, một chẳng đến hai, hai chẳng đến ba, tuy niệm niệm diệt mà đến ngàn vạn. Chúng sinh tu đạo cũng như vậy. Này thiện nam! Đèn từng niệm từng niệm diệt, ánh sáng mới diệt chẳng bảo ánh sáng sau rằng: “Ta diệt, người sinh ra phải phá các tối tăm”. Này thiện nam! Ví như con nghé sinh ra liền tìm sữa. Trí tìm sữa thật không có người dạy, tuy từng niệm từng niệm diệt mà ban đầu đói, về sau no. Vậy nên phải biết chẳng tương tự. Nếu tương tự thì chẳng sinh khác. Chúng sinh tu đạo cũng như vậy, ban đầu tuy chưa tăng trưởng nhưng do tu lâu nên có thể phá hoại tất cả phiền não.

Bồ-tát Sư Tử Hống nói:

–Bạch Thế Tôn! Như lời Phật nói, hàng Tu-đà-hoàn được quả chứng rồi, tuy sinh vào đất nước ác nhưng còn cố giữ giới, chẳng sát sinh, trộm cắp, dâm dục, lưỡng thiệt, uống rượu thì ấm của Tu-đà-hoàn liền ở chỗ này diệt, chẳng đến đất nước ác. Tu đạo cũng vậy, chẳng đến đất nước ác. Nếu tương tự thì vì sao chẳng sinh đến đất nước thanh tịnh vi diệu? Nếu ấm của đất nước ác chẳng phải là ấm của Tu-đàhoàn thì làm sao mà chẳng tạo tác nghiệp ác?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Người Tu-đà-hoàn tuy sinh ở nước ác nhưng nhất định chẳng mất danh xưng là Tu-đà-hoàn và ấm chẳng tương tự nên ta dẫn con nghé làm ví dụ. Người Tu-đà-hoàn tuy sinh ở nước ác nhưng do đạo lực nên chẳng tạo tác nghiệp ác. Này thiện nam! Ví như núi Hương có sư tử chúa, nên tất cả loài chim bay, thú chạy tuyệt tích ở núi này, chẳng dám đến gần. Có lúc sư tử chúa này đến trong núi Tuyết nhưng tất cả loài chim thú vẫn chẳng dám ở. Người Tu-đà-hoàn cũng như vậy, tuy chẳng tu đạo nhưng do đạo lực nên chẳng làm ác. Này thiện nam! Ví như có người ăn uống cam lồ, cam lồ tuy diệt nhưng nhờ thế lực của nó nên khiến cho người này chẳng sinh, chẳng chết. Này thiện nam! Như núi Tu-di có thuốc thượng diệu tên là Lăng-giàlợi, có người uống nó, tuy từng niệm từng niệm diệt nhưng do dược lực nên chẳng gặp hoạn khổ. Này thiện nam! Như chỗ ngồi của vua Chuyển luân, tuy nhà vua chẳng ở tại đó nhưng không ai dám gần. Vì sao? Vì uy lực của nhà vua. Người Tu-đà-hoàn cũng như vậy, tuy sinh ở nước ác, chẳng tu tập đạo nhưng do đạo lực nên chẳng làm nghiệp ác. Này thiện nam! Ấm của người Tu-đà-hoàn ở đây mà diệt thì tuy sinh ra ấm khác chẳng mất ấm của Tu-đà-hoàn. Này thiện nam! Ví như chúng sinh vì quả trái nên đối với hạt giống đã làm nhiều việc như bón phân, tưới nước. Chưa được quả trái mà hạt lại diệt và cũng được gọi là nhân hạt được quả. Ấm của Tu-đà-hoàn cũng như vậy. Này thiện nam! Ví như có người của cải giàu to chỉ có một người con mà đã chết trước, người con ấy có con nhưng lại ở nước khác. Người nhà giàu ấy bỗng nhiên qua đời, người cháu nghe tin này đã trở về thu lấy sản nghiệp. Tuy biết của cải chẳng phải là của người ấy làm ra, nhưng người ấy thâu lấy không ai ngăn giữ. Vì sao? Vì do cùng một họ. Ấm của Tu-đàhoàn cũng như vậy.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Như bài kệ Đức Phật đã nói:

Tỳ-kheo nếu tu tập

Ba giới, định và trí tuệ

Phải biết là chẳng thoái

Gần gũi Đại Niết-bàn..

Bạch Thế Tôn! Sao gọi là tu giới? Sao gọi là tu định? Sao gọi là tu tuệ?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Nếu có người thọ trì giới cấm chỉ vì tự lợi, làm người trời thọ hưởng an vui, chẳng vì độ thoát tất cả chúng sinh, chẳng vì hộ trì chánh pháp vô thượng, chỉ vì lợi dưỡng, sợ ba đường ác, vì sắc đẹp, sức lực, vì sự sống, vì an ổn, vì tự do biện tài, vì sợ vương pháp, danh xấu, tiếng dơ, vì sự nghiệp thế gian, hộ trì giới như vậy thì chẳng được gọi là tu tập giới. Này thiện nam! Sao gọi là tu tập giới chân thật? Khi thọ trì giới, nếu vì độ thoát tất cả chúng sinh, vì hộ trì chánh pháp, vì độ người chưa độ, giải thoát kẻ chưa giải thoát, đưa về người chưa về, người chưa vào Niết-bàn khiến cho vào và khi tu như vậy chẳng thấy giới, chẳng thấy tướng của giới, chẳng thấy người trì giới, chẳng thấy quả báo, chẳng quan sát kẻ hủy phạm, thì này thiện nam! Như vậy gọi là tu tập giới.

Sao gọi là tu tập Tam-muội? Khi tu Tam-muội mà vì tự độ, vì lợi dưỡng, chẳng vì chúng sinh, chẳng vì hộ pháp, vì thấy tội lỗi tham dục, ăn uống v.v… vì thấy các căn nam nữ, chín lỗ bất tịnh, vì đấu tranh, kiện tụng, đánh đâm, sát hại lẫn nhau, nếu vì những việc này mà tu Tam-muội thì đó chẳng gọi là tu tập Tam-muội. Này thiện nam! Sao gọi là tu tập Tam-muội chân thật? Nếu vì chúng sinh tu tập Tam-muội, ở trong chúng sinh có tâm bình đẳng, vì khiến cho chúng sinh được pháp bất thoái, vì khiến cho chúng sinh được tâm của Thánh, vì khiến cho chúng sinh được Đại thừa, vì muốn hộ trì pháp vô thượng, vì khiến cho chúng sinh chẳng thoái tâm Bồ-đề, vì khiến cho chúng sinh được Thủ-lăng-nghiêm, vì khiến cho chúng sinh được Tam-muội kim cương, vì khiến cho chúng sinh được Đà-la-ni, vì khiến cho chúng sinh được Bốn vô ngại, vì khiến cho chúng sinh được thấy Phật tánh, khi làm hạnh này chẳng thấy Tam-muội, chẳng thấy tướng Tam-muội, chẳng thấy người tu, chẳng thấy quả báo, thì này thiện nam, đó gọi là tu tập Tam-muội.

Sao gọi là tu trí tuệ? Nếu có người suy nghĩ: “Ta nếu tu tập trí tuệ như vậy thì được giải thoát, qua khỏi ba đường ác. Ai có thể làm lợi ích cho tất cả chúng sinh? Ai có thể độ người nơi đường sinh tử? Phật ra đời khó như hoa Ưu-đàm, ta nay có thể đoạn các kết phiền não, nhất định được giải thoát. Vậy nên ta phải siêng tu trí tuệ, mau chóng đoạn phiền não, sớm được độ thoát” thì người tu như vậy chẳng được gọi là tu trí tuệ. Sao gọi là người tu tập trí tuệ chân thật? Nếu người đó quan sát khổ sinh già chết, tất cả chúng sinh bị vô minh che phủ, chẳng biết tu tập đạo vô thượng chân chính mà phát nguyện: “Ta nguyện đem thân này thay cho chúng sinh thọ khổ não lớn. Tâm bần cùng, hạ tiện, phá giới và nghiệp tham, sân, si sẵn có của chúng sinh, nguyện gom hết về thân ta. Nguyện các chúng sinh chẳng sinh ra tham đắm, chẳng bị sự trói buộc của danh sắc. Nguyện cho các chúng sinh sớm qua khỏi sinh tử, khiến cho ta ở đó một mình mà chẳng chán. Nguyện cho tất cả đều được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác” và khi tu như vậy, hành giả chẳng thấy trí tuệ, chẳng thấy tướng của trí tuệ, chẳng thấy người tu, chẳng thấy quả báo, thì đó gọi là tu tập trí tuệ.

Này thiện nam! Tu tập giới, định, tuệ như vậy thì đó gọi là Bồ-

tát. Chẳng thể tu tập giới, định, tuệ như vậy thì đó gọi là Thanh văn.

Lại nữa, này thiện nam! Sao gọi là tu tập giới? Đó là có thể phá hoại mười sáu luật nghi ác của tất cả chúng sinh. Những gì là mười sáu? Một là vì lợi mà nuôi dê con cho béo rồi đem bán. Hai là vì lợi mà mua nó về giết mổ. Ba là vì lợi mà nuôi dưỡng heo cho béo rồi đem bán. Bốn là vì lợi mua nó về giết mổ. Năm là vì lợi mà nuôi dưỡng nghé cho béo rồi đem bán. Sáu là vì lợi mua nó về giết mổ. Bảy là vì lợi nuôi gà cho mập béo rồi đem bán. Tám là vì lợi mua nó về giết mổ. Chín là câu cá. Mười là làm thợ săn. Mười một là cướp đoạt. Mười hai là làm kẻ đầu nậu bán thịt. Mười ba là giăng lưới bắt loài chim bay. Mười bốn là nói hai lưỡi. Mười lăm là làm ngục tốt. Mười sáu là nguyền rủa loài rồng. Nếu hành giả có thể vì chúng sinh đoạn trừ vĩnh viễn mười sáu nghiệp ác như vậy thì đó gọi là tu giới.

Sao gọi là tu định? Nếu có thể đoạn tất cả Tam-muội của thế gian, như là Tam-muội vô thân, có thể khiến cho chúng sinh sinh tâm điên đảo cho là Niết-bàn. Lại như là Tam-muội vô biên, Tam-muội tịnh tu, Tam-muội thế biên, Tam-muội thế đoạn, Tam-muội thế tính, Tam-muội thế trượng phu, Tam-muội phi tưởng phi phi tưởng. Những định như vậy có thể khiến cho chúng sinh sinh tâm điên đảo cho là Niết-bàn. Nếu có thể đoạn trừ vĩnh viễn những Tam-muội như vậy thì đó gọi là tu tập Tam-muội.

Sao gọi là tu tập trí tuệ? Là có thể phá hết hết ác kiến của thế gian. Tất cả chúng sinh đều có ác kiến, như gọi sắc tức là ngã cũng là ngã sở, trong sắc có ngã trong ngã có sắc cho đến thức cũng như vậy, sắc tức là ngã mà sắc diệt ngã tồn tại, sắc tức là ngã mà sắc diệt ngã diệt. Lại có người nói, tác giả gọi là ngã, người thọ nhận gọi là sắc. Lại có người nói, tác giả gọi là sắc, người thọ nhận gọi là ngã. Lại có người nói, không làm, không thọ tự sinh, tự sinh đều chẳng phải là nhân duyên. Lại có người nói không tác, không thọ mà đều là do tự tại tạo. Lại có người nói, không có người làm, không có người thọ, tất cả đều là sự tạo tác của thời tiết. Lại có người nói, tác giả thọ giả đều không sở hữu, địa, thủy, hỏa, phong, không, năm đại gọi là chúng sinh. Này thiện nam! Nếu có thể phá hoại tất cả những ác kiến như vậy của chúng sinh thì đó gọi là tu tập trí tuệ.

Này thiện nam! Tu tập giới là vì thân tịch tĩnh. Tu tập Tam-muội là vì tâm tịch tĩnh. Tu tập trí tuệ là vì phá hoại tâm nghi hoặc. Hủy hoại tâm nghi hoặc là vì tu tập đạo. Tu tập đạo là để thấy Phật tánh. Thấy Phật tánh là được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là để được Đại Niết-bàn vô thượng. Được Đại Niết-bàn là để đoạn trừ tất cả sinh tử, tất cả phiền não, tất cả các hữu, tất cả các giới, tất cả các đế của chúng sinh. Đoạn trừ được sinh tử… cho đến đoạn các đế là được pháp thường, lạc, ngã, tịnh.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Như lời Phật nói, nếu chẳng sinh diệt thì gọi là Đại Niết-bàn. Sinh cũng như vậy, chẳng sinh chẳng diệt thì vì sao chẳng được gọi là Niết-bàn?

–Này thiện nam! Đúng vậy! Đúng vậy! Đúng như lời ông nói! Sinh này tuy lại chẳng sinh, chẳng diệt mà có đầu có cuối.

–Thưa Thế Tôn! Pháp sinh tử này cũng không đầu cuối. Nếu nó không đầu cuối thì gọi là thường, mà thường tức là Niết-bàn thì vì sao chẳng gọi sinh tử là Niết-bàn?

–Này thiện nam! Pháp sinh tử này đều có nhân quả, mà có nhân quả nên chẳng được gọi là Niết-bàn. Vì sao? Vì thể của Niết-bàn không có nhân quả.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Luận về Niết-bàn thì cũng có nhân quả, như lời Phật nói:

Từ nhân nên sinh thiên

Từ nhân rời đường ác

Từ nhân nên Niết-bàn

Vậy nên đều có nhân.

Như thuở trước, Phật bảo các Tỳ-kheo: “Ta nay sẽ nói về đạo quả Sa-môn!”. Nói Sa-môn là gọi người có thể tu đủ giới, định, tuệ. Đạo là gọi tám thánh đạo. Quả Sa-môn là gọi Niết-bàn. Thưa Thế Tôn! Niết-bàn như vậy chẳng phải là quả sao? Sao Phật nói, thể của Niếtbàn không nhân, không quả?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Nhân của Niết-bàn mà Ta đã nói gọi là Phật

tánh. Nhưng tánh của Phật tánh chẳng sinh ra Niết-bàn, nên Ta nói, Niết-bàn không nhân, có thể phá hoại phiền não nên gọi là đại quả, chẳng từ đạo sinh ra nên gọi là không quả. Vậy nên Niết-bàn không nhân, không quả.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Phật tánh của chúng sinh là đều chung hay là mỗi mỗi có riêng? Nếu là chung thì một người khi được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì tất cả chúng sinh đáng lẽ cũng đồng được hết. Thưa Thế Tôn! Như hai mươi người đồng có một kẻ oán, nếu một người có thể diệt trừ thì mười chín người còn lại đều cũng diệt trừ. Phật tánh nếu vậy thì khi một người được thì những người còn lại đáng lẽ cũng được. Nếu mỗi mỗi đều có riêng tức là vô thường. Vì sao? Vì có thể tính toán. Nhưng lời Phật nói, chúng sinh Phật tánh chẳng một, chẳng hai. Nếu mỗi mỗi đều có riêng thì chẳng nên nói các Đức Phật bình đẳng. Cũng chẳng nên nói Phật tánh như hư không.

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Phật tánh của chúng sinh chẳng một, chẳng hai, các Đức Phật bình đẳng giống như hư không, tất cả chúng sinh đồng có chung Phật tánh đó. Nếu có người có thể tu tám Thánh đạo thì phải biết người này đã được thấy rõ. Này thiện nam! Núi Tuyết có thứ cỏ tên là Nhẫn nhục. Nếu bò ăn cỏ đó thì thành đề hồ, Phật tánh của chúng sinh cũng như vậy.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Như lời Phật nói, cỏ Nhẫn nhục là một hay nhiều vậy? Như cỏ ấy một thì bò ăn hết. Như cỏ ấy nhiều thì làm sao mà nói rằng, Phật tánh của chúng sinh cũng như vậy được? Như lời Phật nói, nếu có người tu tập tám Thánh đạo thì thấy Phật tánh, nghĩa này chẳng phải vậy. Vì sao? Vì nếu đạo là một như cỏ Nhẫn nhục thì đáng lẽ phải hết. Như đạo ấy có hết thì một người tu rồi, những kẻ còn lại không có phần. Đạo nếu nhiều thì làm sao nói là tu tập đầy đủ, cũng chẳng được gọi là Nhất thiết chủng trí?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Như đường đi bằng phẳng. Tất cả chúng sinh đều đi ở trong đó không chướng ngại gì. Giữa đường có cây tỏa bóng mát mẻ. Người đi đường dừng xe ngựa nghỉ ngơi ở dưới bóng cây. Nhưng bóng cây ấy thường trụ chẳng dời, cũng chẳng tiêu hoại, không giữ người đi. Đường đi dụ cho Thánh đạo, cây dụ cho Phật tánh. Này thiện nam! Ví như ngôi thành lớn có một cửa, tuy có nhiều người vào ra qua đó mà không ai có thể làm chướng ngại, cũng lại không có người phá hủy mà mang đi theo. Này thiện nam! Ví như cây cầu, người đi ngang qua đó cũng không có người ngăn chận làm trở ngại, hủy hoại đem đi. Này thiện nam! Ví như vị lương y trị liệu mọi thứ bệnh, cũng không ai có thể ngăn chận vị lương y này trị người này bỏ người kia.

Thánh đạo Phật tánh cũng như vậy.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Các ví dụ đã dẫn ý nghĩa chẳng như vậy. Vì sao? Vì người trước ở tại đường thì người sau bị trở ngại thì làm sao mà nói không có chướng ngại được. Các ví dụ còn lại cũng đều như vậy. Thánh đạo Phật tánh nếu như vậy thì khi một người tu thì làm cản trở những người còn lại.

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Như lời ông nói thì nghĩa chẳng thích hợp. Con đường mà Ta thí dụ là thiểu phần dụ, chẳng phải tất cả. Này thiện nam! Con đường của thế gian thì có chướng ngại, đây, đó khác biệt, không có bằng phẳng. Con đường vô lậu thì chẳng như vậy, có thể khiến cho chúng sinh không có chướng ngại, bình đẳng không hai, không có địa phương, đây, kia khác biệt. Chánh đạo như vậy có thể vì Phật tánh của tất cả chúng sinh mà làm liễu nhân, chẳng làm sinh nhân giống như đèn sáng soi rõ được vật. Này thiện nam! Tất cả chúng sinh đều đồng vô minh làm duyên cho hành nên chẳng thể nói rằng, một người vô minh làm nhân duyên cho hành rồi thì những người còn lại không có. Tất cả chúng sinh đều có vô minh làm nhân duyên cho hành. Vậy nên nói rằng, mười hai nhân duyên tất cả bình đẳng. Việc tu chánh đạo vô lậu của chúng sinh cũng như vậy, đều đoạn tuyệt phiền não của chúng sinh, các cõi hữu lậu của bốn loài. Do nghĩa này nên gọi là bình đẳng. Người có chứng đắc thì sự thấy biết đó, đây không có chướng ngại. Vậy nên được gọi là Nhất thiết trí.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Thân của tất cả chúng sinh chẳng cùng một chủng loại, hoặc có thân trời, hoặc có thân người, thân súc sinh, thân ngạ quỷ, thân địa ngục. Như vậy là nhiều thân sai khác, chẳng phải là một thì làm sao mà nói rằng, Phật tánh là một?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Ví như có người bỏ độc vào trong sữa thì cho đến đề hồ đều có độc. Sữa chẳng gọi là sữa đặc, sữa đặc chẳng gọi là sữa cho đến đề hồ cũng như vậy, danh tự tuy biến đổi nhưng tánh độc chẳng mất mà ở khắp trong năm vị đều như vậy. Nếu uống đề hồ đó cũng có thể chết người mà thật ra chẳng bỏ độc ở trong đề hồ. Phật tánh của chúng sinh cũng như vậy, tuy chúng sinh năm đường thọ thân khác biệt mà Phật tánh này thường một không biến đổi.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Mười sáu nước lớn, có sáu thành lớn như là: thành Xá-bà-đề, thành Bà-chỉ-đa, thành Chiêm-bà, thành Tỳ-xá-ly, thành Ba-la-nại, thành Vương-xá. Sáu thành như vậy rất lớn trong đời vì sao Như Lai bỏ hết mà ở tại ngôi thành nhỏ Câu-thi-na nơi vùng biên địa xấu xí nhỏ hẹp này để vào Niết-bàn?

–Này thiện nam! Ông chẳng nên nói rằng, thành Câu-thi-na là nơi biên địa xấu xí chật hẹp mà nên nói rằng, thành này được trang nghiêm công đức vi diệu. Vì sao? Vì là chỗ tới lui của chư Phật, Bồ-tát. Này thiện nam! Ví như nhà người hen mọn mà nếu vua ghé qua thì nên khen ngợi là nhà này nghiêm lệ, thành tựu phước đức mới khiến cho đại vương chiếu cố giá lâm. Này thiện nam! Như người bệnh nặng uống thuốc dở xấu mà uống xong thì bệnh khỏi liền nên vui mừng, khen ngợi là thuốc tối thượng, tối diệu có thể trị khỏi bệnh của mình. Này thiện nam! Như người đi thuyền ở trong biển lớn, thuyền ấy bỗng nhiên hư hoại, không có gì nương tựa nhân nhờ vào thây chết mà được đến bờ kia. Đến bờ kia rồi, người ấy rất vui mừng khen ngợi thây chết này rằng: “Ta nhờ gặp được ngươi mà được yên ổn”. Thành Câu-thi-na cũng như vậy, nơi đó mới chính là chỗ tới lui của chư Phật, Bồ-tát thì làm sao mà nói rằng, thành nhỏ nơi biên địa xấu xí chật hẹp được? Này thiện nam! Ta nhớ thuở xa xưa qua hằng hà sa số kiếp, có kiếp tên là

Thiện Giác, có vị Thánh vương họ Kiều-thi-ca, bảy báu thành tựu, ngàn đứa con đầy đủ. Vị vua ấy, người đầu tiên tạo lập ngôi thành này, giáp vòng ngang dọc mười hai do-tuần, đất trang nghiêm bằng bảy báu, có nhiều dòng sông nước trong sạch, ngon ngọt, êm đềm. Đó là sông Ni-liên-thiền, sông Y-la-bạt-đề, sông Hy-liên-thiền, sông Y-sưumạt-để, sông Tỳ-bà-xá-na v.v… Những sông như vậy có đến năm trăm dòng. Bờ của những con sông này cây cối rậm rạp, hoa trái tươi tốt. Bấy giờ thọ mạng của dân chúng vô lượng, lúc vị Chuyển luân Thánh vương qua tuổi một trăm rồi thì tuyên bố: “Như lời Phật nói, tất cả các pháp đều vô thường, nếu ai có thể tu tập mười pháp thiện thì có thể đoạn trừ đại khổ vô thường như vậy”. Dân chúng nghe rồi cùng tu theo mười pháp thiện. Bấy giờ, ta nghe danh hiệu Đức Phật, thọ trì mười pháp thiện, suy nghĩ tu tập, mới phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Phát tâm này rồi, ta lại đem pháp này dạy lại cho vô lượng vô biên chúng sinh, nói rằng, tất cả pháp vô thường, biến hoại. Vậy nên ta hôm nay tiếp tục ở chỗ này cũng nói về các pháp vô thường biến hoại, chỉ nói rằng, thân Phật là pháp thường trụ. Ta nhớ nhân duyên đã làm thuở xa xưa nên hôm nay đến tại đây mà nhập Niết-bàn và cũng muốn báo đáp ơn xưa của đất này. Do nghĩa này nên trong kinh nầy ta nói rằng, quyến thuộc của ta thọ ân có thể báo đáp. Lại nữa, này thiện nam! Thuở xưa, khi chúng sinh thọ mạng vô lượng, bấy giờ thành này tên là Câu-xá-bạt-đề, giáp vòng ngang dọc năm mươi do-tuần, cư dân cõi Diêm-phù-đề sống gần gũi tiếp giáp nhau gà bay đến được, có vị vua Chuyển luân tên là Thiện Kiến, bảy báu thành tựu, ngàn người con đầy đủ, làm vua bốn thiên hạ. Vị thái tử thứ nhất tư duy về chánh pháp được thành Phật-bích-chi. Vua Chuyển luân thấy vị thái tử ấy thành Phật-bích-chi với oai nghi mực thước, thần thông hiếm có. Thấy việc này rồi, ông liền bỏ ngôi vua như bỏ bãi nước bọt, xuất gia ở tại vùng Ta-la song thọ này, trong tám vạn năm tu tập tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả mỗi pháp tám vạn năm. Này thiện nam! Ông muốn biết Thánh vương Thiện Kiến bấy giờ? Chính là thân Ta đó. Vậy nên Ta nay thường tu tập bốn pháp như vậy. Bốn pháp này gọi là Tam-muội. Do nghĩa này nên thân Như Lai thường, lạc, ngã, tịnh. Này thiện nam! Do nhân duyên này nên hôm nay Ta đến tại vùng Ta-la song thọ của thành

Câu-thi-na này mà Tam-muội chánh thọ. Này thiện nam! Ta nhớ thuở xa xưa qua vô lượng kiếp, thành này bấy giờ tên là Ca-tỳ-la-vệ. Thành ấy có vị vua tên là Bạch Phạm. Phu nhân của vua ấy tên là Ma-da. Nhà vua có một người con tên là Tất-đạt-đa. Bấy giờ, vị Vương tử chẳng do thầy dạy, tự nhiên tư duy mà được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, có hai vị đệ tử: một tên là Xá-lợi-phất, hai tên là Mụckiền-liên và người đệ tử hầu hạ tên là A-nan. Lúc ấy, Đức Thế Tôn ở tại vùng Ta-la song thọ diễn nói kinh Đại Niết-bàn như vậy. Ta khi đó ở tại pháp hội được dự việc ấy, nghe nói các chúng sinh đều có Phật tánh. Nghe điều này rồi, Ta liền đối với Bồ-đề được Bất thoái chuyển, liền tự phát nguyện: “Nguyện vào đời vị lai, khi thành Phật thì cha mẹ, đất nước, tên họ, đệ tử, người thị giả, nói pháp, giáo hóa v.v… đều như Đức Thế Tôn hôm nay, không có khác”. Do nhân duyên này nên hôm nay Ta đến tại đây tuyên dương diễn nói kinh Đại Niết-bàn.

Này thiện nam! Khi Ta mới xuất gia chưa được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vua Tần-bà-ta-la sai sứ đến nói: “Thưa Thái tử Tất Đạt! Nếu Ngài làm Thánh vương thì tôi sẽ thần phục. Nếu Ngài chẳng ưa ngôi vua, xuất gia đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì nguyện xin Ngài đi đến thành Vương-xá này trước để nói pháp độ người, thọ sự cúng dường của tôi”. Ta mặc nhiên nhận lời mời của vị vua đó.

Này thiện nam! Khi Ta mới được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Ta đã hướng về nước Kiệt-xà, khi ấy ở dòng sông Ni-liên-thiền, có vị Bà-la-môn dòng họ Ca-diếp cùng với năm trăm đệ tử ở bên dòng sông đó, cầu đạo vô thượng. Ta vì người này nên đến nói pháp. Cadiếp nói: “Này Ngài Cù-đàm! Tôi nay tuổi đã hơn một trăm hai mươi. Muôn dân trong nước Ma-già-đà và đại vương Tần-bà-ta-la của nước ấy đều cho là tôi đã chứng quả La-hán. Tôi nay nếu ở trước ông nghe thọ pháp thì tất cả dân chúng sinh lòng điên đảo nghĩ rằng: “Đại đức Ca-diếp chẳng phải là La-hán sao?”. Xin Ngài Cù-đàm mau chóng đi đến chỗ khác. Nếu dân chúng ở đây biết chắc là công đức của Ngài Cù-đàm hơn tôi thì chúng tôi không được họ cúng dường nữa”. Ta đáp: “Này Ca-diếp! Nếu ông đối với Ta chẳng sinh sân hận sâu nặng thì hãy cho Ta nghỉ lại một đêm, sáng mai sẽ đi sớm”. Ca-diếp nói: “Này Ngài Cù-đàm! Lòng tôi không có gì khác mà rất thương kính, nhưng vì chỗ ở của tôi có một con độc long tánh khí hung dữ, sợ làm nguy hại Ngài mà thôi”. Ta nói: “Này Ca-diếp! Độc trong các độc chẳng gì hơn ba độc mà Ta nay đã đoạn trừ thì độc của thế gian Ta chẳng sợ gì”. Cadiếp lại nói: “Nếu ông chẳng sợ thì hay lắm. Xin mời ông ở lại”. Này thiện nam! Ta vào lúc ấy cố vì Ca-diếp thị hiện mười tám sự biến hóa, như trong kinh đã nói. Bấy giờ, Ca-diếp và năm trăm quyến thuộc của ông ấy đã thấy nghe thế rồi chứng quả La-hán. Lúc đó, Ca-diếp lại có hai người em, một người tên là Già-da Ca-diếp, hai tên là Na-đề Cadiếp. Thầy trò quyến thuộc lại có năm trăm người, cũng đều chứng được quả A-la-hán. Đồ chúng của Lục sư trong thành Vương-xá nghe việc này rồi liền đối với Ta sinh lòng đại ác. Khi ta nhận lời mời thỉnh của vua đến thành Vương-xá, chưa đến giữa đường thì nhà vua cùng với vô lượng trăm ngàn chúng đều đến phụng nghinh. Ta vì họ nói pháp. Nghe pháp rồi thì tám vạn sáu ngàn chư Thiên nơi Dục giới phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Mười hai vạn người tháp tùng vua Tần-bà-ta-la đều được quả Tu-đà-hoàn. Vô lượng chúng sinh thành tựu tâm nhẫn. Đã vào thành rồi, Ta độ cho ông Xá-lợi-phất, ông Đại Mục-kiền-liên và hai trăm năm mươi người quyến thuộc của họ, khiến cho những người ấy bỏ tâm xưa, xuất gia học đạo. Ta liền trụ ở thành đó nhận sự cúng dường của nhà vua. Hạng Lục sư ngoại đạo cùng nhau tụ tập, đi đến thành Xá-vệ.

Trong thành đó có một ông trưởng giả tên là Tu-đạt-đa, nhân vì đi hỏi vợ cho con nên đến thành Vương-xá. Đã đến thành đó rồi, ông ở nhờ nhà của trưởng giả San-đàn-na. Ông trưởng giả này nửa đêm thức dậy bảo các quyến thuộc: “Các ông hãy dậy đi! Hãy mau chóng cùng nhau trang hoàng, quét dọn nhà cửa, bày biện đủ thức ăn ngon lành”. Tu-đạt-đa nghe rồi liền suy nghĩ: “Chẳng phải họ sắp muốn thỉnh vua Ma-già-đà sao? Hay là có lễ cưới hỏi vui vẻ?”. Suy nghĩ vậy rồi liền hỏi: “Thưa Đại sĩ! Ông muốn thỉnh đức vua nước Ma-già-đà là Tần-bàta-la chăng? Hay là có lễ cưới hỏi vui vẻ? Việc gì mà gấp gáp chẳng an đến như vậy?”. Ông trưởng giả đáp: “Chẳng phải vậy! Thưa Cư sĩ! Ngày mai tôi thỉnh Đức Phật, đấng Pháp Vương vô thượng!”. Ông trưởng giả Tu Đạt mới nghe đến danh hiệu Phật thì sởm tóc gáy, lại liền hỏi: “Sao gọi là Phật?”. Ông trưởng giả đáp: “Ông chẳng nghe sao? Ở thành Ca-tỳ-la có người con dòng họ Thích, tự là Tất Đạt Đa, dòng họ Cù-đàm, cha tên là Bạch Phạm. Vị ấy sinh chưa lâu, thầy tướng xem tướng quyết định Ngài sẽ làm Chuyển luân Thánh vương, như quả Am-la đã ở trong tay. Nếu tâm nguyện Ngài chẳng ưa mà bỏ đi xuất gia thì không thầy dạy bảo, tự giác ngộ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tận diệt tham, sân, si, thường trụ không biến đổi, chẳng sinh, chẳng diệt, không có lo sợ, đối với các chúng sinh lòng Ngài bình đẳng, giống như cha mẹ đối với con một, đối với thân tâm mọi người, Ngài là tối thắng, tuy hơn tất cả mà không kiêu mạn, đối với hai việc: giúp đỡ, làm tổn hại Ngài không phân biệt, trí tuệ thông đạt, đối với pháp không ngại, đầy đủ mười lực, bốn vô sở úy, năm trí tam-muội, đại từ, đại bi và ba niệm xứ. Vậy nên hiệu là Phật. Sáng mai này Ngài nhận lời mời của tôi đến đây. Vậy nên vội vội vàng vàng chưa rảnh rỗi thăm hỏi nhau”. Tu-đạt-đa nói: “Hay thay! Hay thay! Thưa Đại sĩ! Đấng gọi là Phật công đức vô thượng nay ở chỗ nào?”. Ông trưởng giả đáp: “Nay ở tại đại thành Vương-xá này. Ngài đang trụ ở Tinh xá Trúc Lâm Ca-lan-đà”. Khi ấy, ông Tu-đạt-đa một lòng nghĩ đến công đức của Phật: Mười lực, bốn vô sở úy, năm trí tam-muội, đại từ, đại bi và ba niệm xứ. Khi khởi niệm này, ông bỗng nhiên thấy ánh sáng lớn. Ánh sáng ấy mạnh mẽ giống như mặt trời, ông liền tìm theo ánh sáng, ra đến dưới cửa thành. Nhờ thần lực của Phật nên cửa tự nhiên mở ra. Đã ra khỏi cửa rồi, trên đường đi có miếu thờ trời, ông Tu-đạt-đa đi qua lễ bái cung kính thì liền trở lại tối đen, lòng sinh kinh sợ, lại muốn quay trở về chỗ nghỉ. Ở cửa thành đó, có một vị thiên thần bảo ông Tu-đạt-đa: “Nếu ông đến chỗ của Đức Như Lai thì được nhiều lợi ích tốt đẹp”. Tu-đạt-đa nói: “Sao gọi là lợi ích tốt đẹp?”. Vị trời nói: “Này trưởng giả! Giả sử có người dùng châu báu kết thành trăm con tuấn mã, trăm đầu hương tượng, trăm cỗ xe báu, đúc vàng làm người số ấy lại cả trăm, nữ nhân đoan chánh thân đeo chuỗi ngọc với mọi thứ báu xen lẫn, cung điện, nhà cửa thượng diệu, chạm khắc hoa văn, chậu vàng đựng gạo bạc, chậu bạc đựng gạo vàng, số ấy mỗi thứ một trăm đem thí cho một người. Cứ như vậy mà lần lượt thí cho hết người cõi Diêm-phù-đề thì công đức đạt được chẳng bằng có người phát tâm bước một bước đi đến chỗ Đức Như Lai”. Tu-đạt-đa nói: “Này thiện nam! Ông là ai vậy?”. Vị trời đáp: “Này trưởng giả! Ta là con của Bàla-môn Thắng Tướng, là thiện tri thức của ông thuở xưa. Ta nhân ngày trước gặp được Tôn giả Xá-lợi-phất và Đại Mục-kiền-liên, lòng sinh vui mừng nên khi xả thân được làm con của vua trời Tỳ-sa-môn phương Bắc, chuyên coi việc bảo vệ thành Vương-xá này. Ta nhân lễ bái Tôn giả Xá-lợi-phất v.v… sinh lòng vui mừng mà còn được thân diệu bảo như vậy, huống gì là sẽ được diện kiến Đại sư Như Lai để lễ bái cúng dường”. Trưởng giả Tu-đạt-đa nghe việc này rồi liền quay trở lại đường đi đến chỗ của Ta. Đến nơi rồi, ông ấy đầu mặt kính lễ dưới chân Ta, Ta liền vì ông mà nói pháp. Ông trưởng giả nghe rồi đắc quả Tu-đà-hoàn, đã đắc quả chứng, lại thỉnh Ta: “Đức Như Lai đại từ! Cúi xin Như Lai chiếu cố quang lâm thành Xá-vệ thọ nhận sự cúng dường nhỏ nhoi của con”. Ta liền hỏi: “Thành Xá-vệ của ông đã có Tinh xá dung thọ chăng?”. Tu-đạt-đa đáp: “Nếu Đức Phật thương xót quyết định rủ lòng chiếu cố đến thì con sẽ tự hết sức kiến tạo thành lập”. Này thiện nam! Bấy giờ, Ta mặc nhiên thọ thỉnh. Ông trưởng giả Tu-đạt-đa đã được hứa rồi liền bạch với Ta: “Con từ xưa đến nay chưa làm việc ấy! Cúi xin Như Lai sai Tôn giả Xá-lợi-phất chỉ dẫn cách thức cho con”. Ta liền ra lệnh bảo Tôn giả Xá-lợi-phất đi giúp đỡ xây dựng. Tôn giả Xá-lợi-phất cùng ông Tu-đạt-đa ngồi chung một xe, đi đến thành Xá-vệ. Nhờ thần lực của Ta nên trải qua một ngày đêm đã đến nơi, ông Tu-đạt-đa bạch Tôn giả Xá-lợi-phất: “Thưa Đại đức! Ở bên ngoài thành này, chỗ nào có đất chẳng gần, chẳng xa, lắm suối nhiều ao, có rừng cây đẹp, hoa quả sum suê, thanh tịnh, trống vắng, khoáng đãng thì ở nơi đó con sẽ vì Phật Thế Tôn và Tỳ-kheo Tăng mà tạo lập Tinh xá?”. Tôn giả Xá-lợi-phất nói: “Có vườn cây ông Kỳ-đà là chẳng gần, chẳng xa, thanh tịnh tịch mịch, có nhiều dòng suối, cây cối, hoa trái theo mùa mà có. Chỗ này thích hợp nhất có thể tạo lập Tinh xá”. Ông Tu-đạt-đa nghe lời nói này rồi liền đến chỗ của trưởng giả Kỳ-đà, nói với ông Kỳ-đà: “Nay tôi muốn vì đấng Pháp Vương vô thượng tạo lập tăng xá mà chỉ có khu đất vườn của ông là có thể tạo lập được. Tôi nay muốn mua, ông có thể bán chăng?”. Ông Kỳ-đà đáp: “Giả sử ông dùng vàng trải khắp đất ấy ta còn chẳng bán”. Ông Tu-đạt-đa nói: “Hay thay! Thưa ông Kỳ-đà! Đất rừng thuộc về tôi, còn ông thì nhận lấy vàng”. Ông Kỳ-đà đáp: “Vườn tôi chẳng bán thì làm sao nhận lấy vàng?”. Ông Tu-đạt-đa nói: “Nếu ý ông chẳng rõ thì chúng ta sẽ cùng đi đến chỗ của người quyết đoán việc”. Hai ông trưởng giả liền cùng đi đến nơi quan phân xử. Quan phân xử nói: “Vườn thuộc về ông Tu-đạtđa, ông Kỳ-đà nhận lấy vàng”. Ông trưởng giả Tu-đạt-đa tức thời sai người dùng xe ngựa chở vàng lót khắp mặt đất, trong một ngày mà chỉ còn năm trăm bước là vàng chưa rải khắp. Ông Kỳ-đà nói: “Trưởng giả! Nếu ông hối hận thì tùy ý, ông được dừng lại!”. Ông Tu-đạt-đa nói: “Tôi chẳng hối hận! Đang tự suy nghĩ sẽ xuất kho nào cho đủ vàng đây?”. Ông Kỳ-đà nghĩ: “Đấng Như Lai Pháp Vương chân thật là vô thượng. Diệu pháp của Ngài nói thanh tịnh vô nhiễm nên đã khiến cho người ấy khinh của báu đến vậy”, nên liền nói với ông Tu-đạt-đa: “Chỗ còn chưa rải khắp, ông chẳng cần lấy vàng nữa. Mời ông nhận lấy đất. Tôi tự vì Đức Phật tạo lập cổng có lầu để Đức Như Lai thường ra vào cửa ấy”. Ông trưởng giả Kỳ-đà tự tạo lập cổng. Ông trưởng giả Tu-đạt-đa thì trong bảy ngày, thành lập một căn nhà lớn đủ ba trăm gian, thiền phòng, tịnh xứ, sáu mươi ba chỗ, nhà mùa đông, nhà mùa hạ mỗi mỗi đều khác biệt, nhà bếp, nhà tắm, nơi rửa chân, nhà xí đại tiểu tiện v.v… tất cả đều đầy đủ. Xây dựng xong rồi, ông liền bưng lư hương, hướng về thành Vương-xá, từ xa nói: “Việc xây dựng đã xong rồi, con nguyện xin Như Lai từ bi thương xót vì các chúng sinh thọ nhận trú xứ này”. Ta biết được lòng của ông trưởng giả này nên liền cùng với đại chúng bắt đầu đi khỏi thành Vương-xá, ví như người tráng sĩ co duỗi cánh tay, khoảnh khắc đã đến Tinh xá của Tu-đạt-đa trong vườn cây của ông Kỳ-đà ở tại thành Xá-vệ. Khi Ta đã đến rồi thì trưởng giả Tu-đạt-đa đem cơ sở ấy dâng cho Ta. Khi ấy Ta nhận và cư trú tại đó.

***********

 

Bấy giờ, Lục sư ngoại đạo sinh ra ganh ghét nên chúng đều tập hợp lại đi đến chỗ của vua Ba-tư-nặc nói:

–Tâu đại vương! Đại vương nên biết, đất nước của vua thanh bình, nhàn tịnh, đúng là chỗ trú ngụ của người xuất gia. Vậy nên chúng tôi vì việc ấy mà đi đến đây. Tâu đại vương! Đại vương dùng chánh pháp cai trị, vì dân trừ hoạn nạn. Sa-môn Cù-đàm tuổi còn nhỏ, thời gian học lại ít, đạo thuật không biểu hiện. Đất nước này trước có những bậc túc đức kỳ cựu, nhưng ông ấy tự cậy vào dòng giống vua, chẳng sinh lòng cung kính. Nếu là dòng giống vua thì theo pháp nên cai trị dân, còn như ông ấy xuất gia thì nên cung kính bậc túc đức. Đại vương minh xét! Sa-môn Cù-đàm chân thật chẳng sinh trong dòng dõi vua. Sa-môn Cù-đàm nếu có cha mẹ thì vì sao cướp đoạt cha mẹ người khác? Tâu đại vương! Trong kinh của chúng tôi nói, qua một ngàn năm, có một điềm quái lạ, huyễn hóa xuất hiện”. Đó là Sa-môn Cùđàm. Vậy nên phải biết là Sa-môn Cù-đàm không cha không mẹ. Nếu có cha mẹ thì làm sao ông nói, các pháp vô thường, khổ, không, vô ngã, vô tác, vô thọ. Ông dùng huyễn thuật lừa dối mê hoặc chúng sinh, kẻ ngu tín thọ, người trí bỏ đi. Tâu đại vương! Phàm là nhân vương thì từ trời xuống làm cha mẹ. Như cái cân, như đất, như gió, như lửa, như đường, như sông, như cầu, như đèn, như mặt trời, như mặt trăng v.v… cứ như pháp mà quyết đoán sự việc, chẳng chọn lựa kẻ oán, người thân. Sa-môn Cù-đàm chẳng cho chúng tôi sống, theo chỗ chúng tôi đi mà truy đuổi chẳng bỏ. Cúi xin đại vương cho phép chúng tôi cùng ông ấy thi đấu đạo lực. Nếu ông ấy thắng thì chúng tôi sẽ thuộc về ông ấy.

Nếu chúng tôi thắng thì ông ấy sẽ thuộc về chúng tôi.

Nhà vua nói: “Thưa chư Đại đức! Các ông ai ai cũng đều tự có pháp tu hành, chỗ cư trú cũng đều chẳng đồng. Ta nay biết chắc chắn là Đức Như Lai Thế Tôn đối với các ông không phương hại gì”. Lục sư đáp: “Sao gọi là không phương hại gì? Sa-môn Cù-đàm dùng phép huyễn thuật dụ dỗ lừa dối mọi người và Bà-la-môn quy phục hết rồi. Nhà vua nếu cho phép chúng tôi cùng ông ấy thi đấu đạo lực thì danh tốt của nhà vua sẽ lưu hành tám phương. Như ông ấy chẳng thi đấu thì tiếng xấu đầy đường”. Nhà vua nói: “Này chư Đại đức! Các ông chưa biết đạo lực của Đức Như Lai uy thần lồng lộng nên cầu xin thi đấu. Nếu các ông biết chắc rồi thì sợ chẳng thể cầu xin đâu”. “Tâu đại vương! Đại vương nay đã thọ nhận sự huyễn hóa của Sa-môn Cù-đàm rồi sao? Cúi xin đại vương quan tâm cho phép và giám sát, chớ khinh chúng tôi. Việc chưa rõ mà nói suông chẳng bằng kiểm nghiệm sự thật”. Nhà vua nói: “Hay thay! Hay thay!”. Lục sư vui mừng mà ra về. Khi ấy, vua Ba-tư-nặc liền ra lệnh chuẩn bị xa giá và đi đến chỗ Ta, đầu mặt lễ kính, nhiễu quanh bên phải ba vòng, lui về ngồi một bên mà bạch với Ta: “Thưa Thế Tôn! Lục sư hướng đến chỗ con cầu thi đấu đạo lực với Thế Tôn mà con chẳng biết tính sao đành hứa với họ rồi”. Ta bảo: “Này đại vương! Hay thay! Hay thay! Chỉ có điều là ở nước này, khắp nơi sẽ tạo lập thêm tăng viện. Vì sao? Vì nếu Ta cùng họ thi đấu thần lực thì trong chúng đó, người chịu sự giáo hóa nhiều lên mà chỗ này nhỏ hẹp thì làm sao dung thọ hết”.

Này thiện nam! Bấy giờ, Ta vì hạng Lục sư này nên từ ngày mùng một đến ngày mười lăm thị hiện thần thông biến hóa rất hy hữu. Đang khi đó thì vô lượng chúng sinh phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vô lượng chúng sinh đối với Tam bảo phát sinh niềm tin, chẳng nghi ngờ. Số đồ chúng của Lục sư ấy nhiều vô lượng, phá tâm tà kiến, theo chánh pháp xuất gia. Vô lượng chúng sinh ở trong đạo Bồđề được tâm bất thoái. Vô lượng chúng sinh được Đà-la-ni, các môn Tam-muội. Vô lượng chúng sinh được từ quả Tu-đà-hoàn đến quả Ala-hán.

Bấy giờ, Lục sư cảm thấy xấu hổ, cùng nhau vây quanh kéo đến thành Bà-chỉ-đa, dạy dân chúng ở đó tín thọ tà pháp là: “Sa-môn Cùđàm chỉ nói về việc rỗng không”. Này thiện nam! Khi Ta vì mẹ ở dưới cây Ba-lợi-chất-đa trên trời Đao-lợi an cư nói pháp thì lúc đó tâm trạng của hạng Lục sư rất vui mừng, xướng lên: “Hay thay! Huyễn thuật của Sa-môn Cù-đàm nay đã diệt mất”. Chúng lại dạy cho vô lượng vô số chúng sinh tăng trưởng tà kiến. Lúc ấy, vua Tần-bà-ta-la, vua Ba-tưnặc và bốn bộ chúng bạch Tôn giả Mục-kiền-liên: “Thưa Đại đức! Cõi Diêm-phù-đề này tà kiến tăng trưởng, chúng sinh có thể lo làm những việc rất đen tối. Cúi xin Đại đức đi lên cõi trời đó, cúi đầu trước đấng Thế Tôn và bạch như lời chúng tôi: “Ví như con trâu nghé mới sinh chưa lâu, nếu chẳng được sữa thì nhất định phải chết không gì nghi ngờ. Chúng sinh chúng con cũng như vậy, cúi xin Như Lai thương xót chúng sinh trở về đến trụ nơi đây”. Tôn giả Mục-kiền-liên lặng thinh nhận lời, rồi trong khoảnh khắc như vị đại Lực sĩ co duỗi cánh tay, ông đi lên cõi trời đó, đến chỗ Ta, bạch: “Bốn chúng trong cõi Diêm-phùđề khát khao, ngưỡng mộ Như Lai, nhớ nghĩ mong gặp Như Lai để nghe pháp. Vua Tần-bà-ta-la, vua Ba-tư-nặc và bốn bộ chúng v.v… xin đảnh lễ dưới chân Như Lai gởi lời thưa thỉnh: “Chúng sinh của cõi Diêm-phù-đề này tà kiến tăng trưởng, hành động rất đen tối, rất đáng thương xót. Ví như con nghé sinh ra chưa lâu, nếu chẳng được sữa thì nhất định phải chết, chẳng nghi ngờ gì. Chúng con cũng vậy, cúi xin Như Lai vì chúng sinh mà trở lại ở trong cõi Diêm-phù-đề”. Ta bảo Tôn giả Mục-kiền-liên: “Tôn giả hãy mau trở về cõi Diêm-phù-đề bảo các vị quốc vương và bốn bộ chúng là sau bảy ngày Ta sẽ trở xuống. Nhưng vì bọn Lục sư nên Ta lại phải đến thành Bà-chỉ-đa kia”. Qua bảy ngày rồi, Ta cùng với Thích, Phạm, Ma, vô lượng Thiên tử và tất cả thiên nhân cõi Thủ-đà-hội vây quanh trước sau đi đến thành Bà-chỉđa dõng dạc tuyên bố: “Chỉ độc nhất trong pháp của Ta mới có Sa-môn và Bà-la-môn. Tất cả các pháp vô thươn g, vô ngã, còn Niết-bàn thì tịch tĩnh, lìa các tội lỗi khổ đau. Nếu nói, pháp khác cũng có Sa-môn, Bàla-môn, có thường, có ngã, có Niết-bàn thì không có điều này”. Bấy giờ, vô lượng vô biên chúng sinh phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Khi đó Lục sư đều nói với nhau: “Nếu trong pháp ta thật không có Sa-môn, Bà-la-môn thì làm sao mà được sự cúng dường của thế gian”. Khi ấy Lục sư lại tụ tập cùng nhau đi đến Tỳ-xá-ly.

Này thiện nam! Vào một thuở, Ta trụ ở vùng rừng Am-la của

thành Tỳ-xá-ly, có người con gái Am-la biết Ta ở trong đó nên muốn đến chỗ Ta. Lúc ấy, Ta bảo các Tỳ-kheo: “Nên quán niệm xứ, khéo tu trí tuệ, theo pháp tu tập, tâm chớ buông lung. Sao gọi là quán niệm xứ? Nếu có Tỳ-kheo quan sát nội thân chẳng thấy ngã và cả ngã sở, quan sát ngoại thân và nội ngoại thân chẳng thấy ngã và ngã sở, quan sát thọ, tâm, pháp cũng như vậy, thì đó gọi là niệm xứ. Sao gọi là tu tập trí tuệ? Nếu có Tỳ-kheo chân thật thấy khổ, tập, diệt, đạo thì đó gọi là Tỳ-kheo tu tập trí tuệ. Sao gọi là tâm chẳng phóng dật? Nếu có Tỳkheo-niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm xả, niệm thiên thì đó gọi là Tỳ-kheo tâm chẳng phóng dật”. Ngay khi đó thì người con gái Am-la liền đến chỗ Ta đầu mặt làm lễ, đi quanh bên phải ba vòng, xong rồi lui về ngồi một phía. Này thiện nam! Ta vào lúc ấy vì người con gái Am-la theo căn cơ mà nói pháp. Người con gái này nghe rồi liền phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Trong thành đó có năm trăm Lê-xa tử đi đến chỗ Ta đầu mặt làm lễ, đi quanh bên phải ba vòng, xong rồi lui về ngồi một phía. Ta lại vì các Lê-xa tử theo căn cơ mà nói pháp như vầy: “Này các Thiện nam! Phóng dật có năm quả báo. Những gì là năm? Một là chẳng được tự tại về tài lợi. Hai là tiếng xấu lan truyền ra bên ngoài. Ba là chẳng ưa bố thí cho người bần cùng thiếu thốn. Bốn là chẳng ưa thấy bốn chúng. Năm là chẳng được thân chư Thiên. Này các Thiện nam! Do chẳng phóng dật có thể sinh ra pháp thế gian, pháp xuất thế gian. Nếu có người muốn được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì phải nên siêng tu pháp chẳng phóng dật. Phàm người phóng dật lại bị mười ba quả báo. Những gì là mười ba? Một là ưa làm việc thế gian. Hai là ưa nói lời nói vô ích. Ba là thường ưa ngủ nghỉ lâu. Bốn là ưa nói việc thế gian. Năm là thường ưa gần gũi bạn xấu. Sáu là lười biếng uể oải. Bảy là thường bị sự khinh rẻ của người khác. Tám là tuy có điều nghe biết nhưng lại liền quên mất. Chín là ưa ở chỗ biên địa. Mười là chẳng thể điều phục các căn. Mười một là ăn chẳng biết đủ. Mười hai là chẳng ưa vắng lặng. Mười ba là điều thấy biết chẳng chân chính. Này thiện nam! Phàm người phóng dật tuy được gần Phật và đệ tử của Phật nhưng vẫn còn rất xa”. Các Lê-xa tử bạch: “Chúng con tự biết là người phóng dật. Vì sao? Vì như chúng con chẳng phóng dật thì đấng Như Lai Pháp Vương đã xuất hiện ở cõi của chúng con”. Trong đại hội có con của một Bà-la-môn tên là Vô Thắng nói với các Lê-xa tử: “Hay thay! Hay thay! Đúng như lời ông nói. Vua Tần-bà-ta-la đã được lợi ích lớn. Đức Như Lai Thế Tôn xuất hiện ở đất nước vua ấy giống như ao lớn mọc lên hoa sen đẹp, tuy mọc lên từ trong nước nhưng nước chẳng thể làm dơ bẩn. Này các Lê-xa tử! Phật cũng như vậy, tuy sinh ở nước đó nhưng chẳng bị trở ngại bởi pháp thế gian. Chư Phật Thế Tôn không ra không vào nhưng vì chúng sinh nên xuất hiện ở đời mà chẳng bị pháp thế gian làm trở ngại. Các ông tự đam mê phóng túng theo năm dục, chẳng biết đến thân cận chỗ Như Lai nên mới gọi là người phóng dật, chứ chẳng phải Phật xuất hiện ở nước Ma-già-đà mà cho mình phóng dật. Vì sao? Vì Như Lai Thế Tôn giống như mặt trời, mặt trăng chẳng phải vì một người, hai người mà ra đời”. Các Lê-xa tử nghe lời nói đó rồi liền phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Họ lại nói lên: “Hay thay! Hay thay! Thưa đồng tử Vô Thắng, ông khéo nói lời tuyệt vời như vậy”. Khi ấy, các Lê-xa tử từng người từng người đều cởi một cái áo đang mặc trên người, đem hiến thí cho đồng tử Vô Thắng. Vô Thắng nhận rồi chuyển dâng lên cho Ta và lại nói: “Thưa Thế Tôn! Con từ Lê-xa tử được số áo nầy, nguyện xin Như Lai thương xót chúng sinh mà nhận sự dâng cúng của con”. Lúc ấy, Ta thương đồng tử Vô Thắng đó nên liền thọ nhận. Các Lê-xa tử đồng thời chấp tay nói như vầy: “Cúi xin Như Lai ở đất nước này mà an cư một thời gian, nhận sự cúng dường nhỏ nhoi của chúng con”. Ta mặc nhiên nhận lời mời của các Lê-xa.

Lúc đó, bọn Lục sư nghe như vậy rồi thì thầy trò cùng nhau đi đến thành Ba-la-nại. Bấy giờ, Ta lại sang thành Ba-la-nại, trụ ở bên dòng sông Ba la. Ở Ba-la-nại có con ông trưởng giả tên là Bảo Xứng đam mê phóng túng theo năm dục mà chẳng biết là sai quấy. Do Ta đến nên ông ấy tự nhiên đắc pháp bạch cốt quán. Ông thấy cung điện, nhà cửa, cung nhân, thể nữ đều là xương trắng, lòng sinh kinh sợ như thấy dao bén, rắn độc, như giặc, như lửa nên liền ra khỏi nhà đi đến chỗ Ta. Dọc đường ông kêu lên: “Sa-môn Cù-đàm ơi! Tôi nay như bị giặc truy đuổi rất là kinh sợ! Nguyện xin Ngài cứu tế cho”. Ta nói: “Này thiện nam! Phật, Pháp, Tăng yên ổn, không có sự sợ hãi”. Con ông trưởng giả nói: “Nếu trong Tam bảo không có sự sợ hãi thì con hôm nay cũng sẽ được không sợ hãi”. Ta liền cho ông ấy xuất gia tu đạo. Con ông trưởng giả lại có năm mươi người đồng bạn, từ xa nghe tin bạn Bảo Xứng chán lìa xuất gia liền thỏa thuận cùng nhau xuất gia.

Hàng Lục sư nghe rồi, lại lần lượt đi đến đại thành Chiêm-bà. Tất cả dân chúng nước Chiêm bà đều cùng phụng sự đồ chúng Lục sư. Ban đầu chưa nghe tên Phật, Pháp, Tăng, có nhiều người tạo tác nghiệp cực ác. Lúc ấy, Ta vì chúng sinh nên đến thành Chiêm-bà. Trong thành đó có ông đại trưởng giả không có người nối dõi nên cúng dường phụng sự Lục sư để cầu con. Về sau chẳng bao lâu, vợ ông ấy mang thai, ông trưởng giả biết rồi đi đến chỗ của Lục sư, vui mừng mà nói: “Vợ tôi mang thai là trai hay gái?”. Lục sư đáp: “Sinh ra nhất định là gái!”. Ông trưởng giả nghe rồi, lòng sinh sầu não. Lại có người bạn đến hỏi ông trưởng giả: “Vì sao mà sầu não đến như vậy?”. Ông trưởng giả đáp: “Vợ tôi mang thai chưa biết trai hay gái nên đến hỏi Lục sư thì Lục sư thấy nói là như pháp tướng của ta, sinh ra nhất định là con gái. Tôi nghe lời nói này rồi tự nghĩ mình tuổi già, của cải giàu có không lường, như đứa bé ấy chẳng phải là con trai thì không biết phó chúc cho ai nên tôi buồn”. Người bạn lại nói: “Ông không có trí tuệ, trước chẳng nghe sao? Anh em ông Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp là đệ tử của ai? Của Phật hay là của Lục sư? Nếu Lục sư là Nhất thiết trí thì ông Cadiếp vì sao bỏ đi làm đệ tử của Phật. Lại nữa, ông Xá-lợi-phất, Mụckiền-liên v.v… và các quốc vương như Tần-bà-ta-la v.v… các phu nhân của vua như phu nhân Mạt-lợi v.v… trưởng giả các nước như ông Tuđạt-đa v.v… Những người như vậy chẳng phải là đệ tử của Phật sao? Quỷ thần Khoáng dã, vua A-xà-thế, voi say Hộ Tài, Ương-quật-ma-la ác, tâm sôi sục muốn hại mẹ mình. Những bọn như vậy chẳng phải đã được Như Lai điều phục rồi sao? Thưa trưởng giả! Như Lai Thế Tôn đối với tất cả pháp thấy biết không ngăn ngại nên gọi là Phật, lời nói không hai nên gọi là Như Lai, đã đoạn trừ phiền não nên gọi là A-laha. Lời nói của Đức Thế Tôn nhất định không sai khác, còn Lục sư chẳng vậy, nên làm sao có thể tin được. Đức Như Lai nay ở gần đây, nếu muốn biết sự thật thì phải đến chỗ Đức Phật”. Bấy giờ, ông trưởng giả liền cùng với bạn đi đến chỗ Ta, đầu mặt làm lễ, đi quanh bên phải ba vòng, chấp tay, quỳ dài, bạch: “Bạch Thế Tôn! Thế Tôn đối với các chúng sinh bình đẳng không hai, oán thân một tướng. Con bị sự trói buộc của ái kết nên đối với kẻ oán người thân chưa thể không phân biệt. Nay con muốn hỏi Như Lai việc đời mà tự thấy thẹn và sợ nên chưa dám nói ra. Thưa Thế Tôn! Vợ con mang thai, thầy tướng Lục sư nói, sinh ra nhất định là con gái, việc này ra sao?”. Ta nói: “Này trưởng giả! Vợ ông mang thai là con trai, không gì nghi ngờ. Đứa bé ấy sinh ra rồi thì phước đức không ai sánh kịp”. Bấy giờ, ông trưởng giả nghe lời nói này rồi, phát sinh hoan hy lớn liền lui ra, quay về nhà. Lúc này, bọn Lục sư nghe Ta báo trước đứa bé sinh ra nhất định là con trai, có phước đức lớn thì lòng họ phát sinh ganh ghét, dùng quả Am-la hòa hợp với thuốc độc, mang đến nhà ông trưởng giả ấy và nói với ông ta: “Giỏi thay! Ngài Cù-đàm khéo nói tướng của con ông. Vợ ông tới tháng sinh có thể uống thứ thuốc này. Uống thuốc này rồi thì đứa bé đẹp đẽ, sản phụ không hoạn nạn”. Ông trưởng giả vui mừng nhận thứ thuốc độc ấy, đem cho vợ mình bảo uống. Vợ ông trưởng giả uống xong liền chết, bọn Lục sư vui mừng đi cùng khắp thành thị, cao giọng xướng lên: “Ông Sa-môn Cù-đàm dự báo là vợ ông trưởng giả kia sẽ sinh con trai. Đứa trẻ ấy phước đức cả thiên hạ không ai hơn. Nay đứa trẻ chưa sinh mà người mẹ đã mất mạng”. Bấy giờ ông trưởng giả lại đối với Ta, sinh lòng chẳng tin, liền y theo phép thế gian tẩm liệm vợ vào áo quan, đưa đến bên ngoài thành, chất nhiều củi khô dùng lửa đốt. Ta dùng đạo nhãn thấy rõ việc này, bảo A-nan lấy y lại cho Ta, Ta muốn đến chỗ đó tiêu diệt tà kiến. Vua trời Tỳ-sa-môn bảo đại tướng Ma-ni-bạt-đà: “Đức Như Lai hôm nay muốn đến bãi tha ma kia. Ông hãy mau đến đó dọn quét sạch sẽ, làm bằng phẳng, đặt tòa ngồi sư tử, tìm kiếm hương hoa đẹp mà trang nghiêm đất ấy”. Bấy giờ, bọn Lục sư từ xa thấy Ta đến, đều nói với nhau: “Ông Sa-môn Cù-đàm đến bãi tha ma này muốn ăn thịt sao?”. Lúc này, có nhiều Ưu-bà-tắc chưa được pháp nhãn, nên lo ngại với Ta: “Người đàn bà đó đã chết rồi, xin Thế Tôn chẳng nên đến đó”. Lúc ấy, ông A-nan nói với mọi người: “Hãy đợi giây lát! Chẳng bao lâu nữa, Như Lai sẽ khai mở rộng cảnh giới của chư Phật”. Khi Ta đến rồi, ngồi vào tòa sư tử thì ông trưởng giả nạn vấn Ta: “Lời nói không hai nên gọi là Thế Tôn, nay người mẹ đã chết thì làm sao sinh con đây?”. Ta nói: “Này trưởng giả! Lúc ấy, Ta chẳng thấy ông hỏi về mạng người mẹ ngắn hay dài mà chỉ hỏi thai đang mang là trai hay gái thôi. Các Đức Phật Như Lai lời nói không sai khác. Vậy nên ông phải biết, nhất định được con trai”. Lúc đó tử thi bị lửa đốt cháy, bụng nứt ra, đứa con từ trong đó xuất hiện ngồi ngay thẳng trong đám lửa giống như chim uyên ương ở trên đài hoa sen. Bọn Lục sư thấy rồi lại nói: “Yêu mị thay! Ông Cù-đàm khéo làm huyễn thuật”. Ông trưởng giả thấy rồi, lòng lại vui mừng, quở trách bọn Lục sư: “Nếu nói là huyễn thì sao các ông chẳng làm được”. Lúc ấy, Ta liền bảo ông Kỳ-đà: “Ông đến trong đám lửa bồng đứa bé đó lại đây”. Ông Kỳ-đà sắp đi đến thì bọn Lục sư trước đã mở lời nói với ông Kỳđà: “Việc tạo tác huyễn thuật của ông Cù-đàm chưa chắc là luôn luôn được. Hoặc có thể hay chẳng thể bồng ra, nếu đứa trẻ ấy chẳng thể thoát được thì có thể ông bị cháy hại lây. Ông nay làm sao có thể tín thọ lời nói của ông ấy?”. Ông Kỳ-đà đáp: “Đức Như Lai sai vào địa ngục A-tỳ, lửa dữ ở đó còn chẳng thiêu đốt huống nữa là lửa của thế gian”. Bấy giờ, ông Kỳ-đà bước vào đám lửa như là vào trong dòng sông lớn mát mẻ, bồng đứa trẻ đó trở về đến chỗ của Ta và trao đứa bé cho Ta. Ta nhận đứa bé rồi bảo ông trưởng giả: “Thọ mạng của tất cả chúng sinh mong manh như bọt nước. Chúng sinh nếu có quả báo của nghiệp sâu dày thì lửa chẳng thể đốt, độc chẳng thể hại. Quả báo về nghiệp của đứa bé này chẳng phải do Ta tạo tác”. Ông trưởng giả bạch: “Hay thay! Hay thay! Thưa The Tôn! Đứa trẻ này đã được hưởng mệnh trời, cúi xin Như Lai vì nó mà đặt tên cho”. Ta bảo: “Đứa trẻ này sinh ra trong lửa mạnh, mà lửa gọi là thọ đề nên tên là Thọ Đề”.

Bấy giờ, trong chúng hội thấy thần hóa của Ta, vô lượng chúng sinh phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Khi ấy, bọn Lục sư đi cùng khắp sáu thành mà chẳng được dừng chân, cúi đầu xấu hổ, lại đi đến thành Câu-thi-na này. Đã đến đây rồi, họ rao truyền: “Mọi người phải biết, Sa-môn Cù-đàm là một nhà đại huyễn thuật, lừa dối mê hoặc thiên hạ khắp sáu ngôi đại thành. Ví như nhà huyễn thuật tạo bốn thứ binh như là binh xe, binh ngựa, binh voi, binh bộ. Lại còn làm ra đủ thứ chuỗi ngọc, thành quách, cung điện, nhà cửa, sông ao, cây cối v.v… Cù-đàm cũng như vậy, biến hóa làm thân vua rồi vì vua nói pháp. Hoặc làm ra thân Sa-môn, Bà-la-môn, thân nam, thân nữ, thân lớn, thân nhỏ, hoặc làm ra thân súc sinh, thân quỷ thần. Ông ấy hoặc nói vô thường, hoặc nói có thường, hoặc nói khổ hay nói vui, hoặc nói có ngã hay nói vô ngã, hoặc nói tịnh hay nói bất tịnh, hoặc nói có hay nói không. Những điều đó là hư vọng nên gọi là huyễn. Ví như nhân là hạt, tùy theo hạt mà được trái, Sa-môn Cù-đàm cũng như vậy, người mẹ sinh ra ông ấy là Ma-da đã là huyễn thì ông ấy là con chẳng được coi là chẳng phải huyễn. Sa-môn Cù-đàm không có tri kiến chân thật. Các thầy Bà-la-môn từng trải nhiều năm tháng, tu tập khổ hạnh, hộ trì giới cấm, còn nói ra chưa có tri kiến chân thật, huống gì là Cù-đàm tuổi trẻ, học cạn, chẳng tu khổ hạnh thì làm sao mà có tri kiến chân thật. Nếu ông ấy có thể đầy đủ bảy năm khổ hạnh, thì cái thấy còn chẳng nhiều, huống gì là việc tu tập chẳng trọn sáu năm. Người ngu không trí mới tín thọ lời dạy của ông ấy. Như bậc thầy lớn về huyễn thuật lừa dối mê hoặc kẻ ngu, Sa-môn Cù-đàm cũng như vậy”. Này thiện nam! Như vậy bọn Lục sư ở trong thành lớn này làm tăng trưởng tà kiến cho chúng sinh. Này thiện nam! Ta thấy việc này lòng sinh thương xót, dùng thần lực triệu thỉnh những Đại Bồ-tát trong mười phương vân tập về khu rừng này, đầy khắp cả bốn mươi do-tuần. Hôm nay, ở trong rừng này Ta dõng dạc tuyên thuyết đại pháp như tiếng rống của đại sư tử. Này thiện nam! Ở chỗ trống vắng tuy có nói nhiều pháp nhưng cũng chẳng được gọi là Sư tử hống. Nhưng ở trong đại chúng gồm những người trí này thì chân thật được gọi là đại Sư tử hống. Sư tử hống là nói tất cả pháp đều vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh và chỉ nói Như Lai thường, lạc, ngã, tịnh.

Bấy giờ, bọn Lục sư lại nói lời này: “Nếu Cù-đàm có ngã thì ta cũng có ngã. Cái gọi là ngã là cái thấy đó gọi là ngã. Này Cù-đàm! Ví như có người hướng về trong thấy vật thì ngã cũng như vậy. Hướng là dụ cho mắt, thấy là dụ cho ngã”. Ta bảo: “Này Lục sư! Nếu nói rằng thấy gọi là ngã thì nghĩa này chẳng đúng. Vì sao? Vì sự dẫn dụ của các ông là nhân hướng mà thấy thì con người ở tại một hướng, sáu căn đều sử dụng, nếu nhất định có ngã, do mắt thấy thì sao trong một căn đó chẳng nhận biết hết các trần. Nếu trong một căn chẳng thể cùng một lúc nghe thấy sáu trần thì phải biết là vô ngã. Cái dụ hướng dẫn ra đó, tuy trải qua trăm năm mà người thấy dựa vào thì sự thấy không khác và nhãn căn trải qua ngần ấy năm thì căn thục cũng nên không khác. Con người hướng khác nên thấy trong, thấy ngoài. Nhãn căn nếu vậy thì cũng nên trong ngoài cùng một lúc đều thấy. Nếu chẳng thấy thì sao gọi là có ngã?”. Bọn Lục sư lại nói: “Này Cù-đàm! Nếu không ngã thì ai có thể thấy?”. Ta đáp: “Có hình sắc, có ánh sáng, có tâm, có mắt, bốn thứ này hòa hợp nên gọi là thấy. Trong đó thật không có người thấy và cái để thấy. Chúng sinh điên đảo nói rằng, có người thấy và cả cái để thấy. Do nghĩa này nên đối tượng nhận thức của tất cả chúng sinh là điên đảo, còn đối tượng nhận thức của chư Phật, Bồ-tát là chân thật. Này Lục sư! Nếu nói sắc là ngã thì điều đó cũng chẳng đúng. Vì sao? Vì sắc thật chẳng phải ngã. Sắc nếu là ngã thì chẳng nên có hình mạo xấu xí. Vì sao lại có bốn dòng họ sai biệt mà chẳng đều một dòng Bà-la-môn? Vì sao lệ thuộc vào người khác chẳng được tự tại, các căn khiếm khuyết sinh ra chẳng đầy đủ? Vì sao chẳng làm thân chư Thiên mà thọ đủ thứ các thân địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh? Nếu chẳng thể tạo tác tùy ý thì phải biết nhất định không có ngã. Do không ngã nên gọi là vô thường, mà vô thường nên khổ. Do khổ nên là rỗng không, mà rỗng không nên điên đảo. Do điên đảo nên tất cả chúng sinh luân chuyển nơi sinh tử. Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Này Lục sư! Như Lai Thế Tôn đoạn tuyệt vĩnh viễn sự trói buộc của sắc cho đến sự trói buộc của thức. Vậy nên gọi là thường, lạc, ngã, tịnh. Lại nữa, sắc tức là nhân duyên, mà nếu là nhân duyên thì gọi là vô ngã. Vô ngã thì gọi là khổ, không. Thân của Như Lai chẳng phải là nhân duyên, mà chẳng phải nhân duyên nên gọi là có ngã. Nếu có ngã thì có thường, lạc, ngã, tịnh”. Bọn Lục sư lại nói: “Này Cù-đàm! Sắc cũng chẳng phải ngã cho đến thức cũng chẳng phải ngã. Ngã cùng khắp tất cả mọi nơi giống như hư không”. Ta nói: “Nếu khắp nơi có ngã thì chẳng nên nói, ngã ban đầu chẳng thấy. Nếu ban đầu chẳng thấy thì biết là cái thấy đó vốn không mà nay có. Nếu vốn không mà nay có thì đó gọi là vô thường. Nếu vô thường thì làm sao nói rằng, có khắp. Nếu có khắp thì trong năm đường nên có đủ thân. Nếu có thân thì đều thọ báo. Nếu đều thọ báo thì vì sao mà nói chuyển thọ thân trời, người. Ông nói cùng khắp là một hay là nhiều? Ngã nếu là một thì không cha, con, kẻ oán, người thân, người không oán không thân. Ngã nếu là nhiều thì năm căn của tất cả chúng sinh đều bình đẳng và nghiệp tuệ của họ cũng nên như vậy. Nếu như vậy thì làm sao nói rằng, căn có người đầy đủ, có người không đầy đủ. Và nghiệp thiện, nghiệp ác, người ngu, kẻ trí sai biệt?”. “Này Cù-đàm! Ngã của chúng sinh thì không có bờ cõi. Pháp cùng phi pháp thì có phân ra nhiều thứ. Chúng sinh tu pháp thì được thân đẹp, nếu làm phi pháp thì được thân xấu. Do nghĩa này nên nghiệp quả của chúng sinh chẳng được không sai khác”. Ta nói: “Này Lục sư! Pháp cùng phi pháp nếu như vậy thì ngã chẳng cùng khắp. Nếu ngã cùng khắp thì lẽ ra đều đến tất cả. Như ngã ấy đều đến khắp nơi thì người tu thiện cũng nên có ác, người làm ác cũng nên có thiện. Nếu chẳng vậy thì làm sao nói rằng cùng khắp?”. “Này Cù-đàm! Ví như ngôi nhà thắp trăm ngàn ngọn đèn, mỗi mỗi đều tự sáng, chẳng tổn hại lẫn nhau. Ngã của chúng sinh cũng như vậy. Việc tu thiện, làm ác của họ chẳng hòa hợp xen lẫn vào nhau”. “Các ông nếu nói ngã như ngọn đèn thì nghĩa này chẳng đúng. Vì sao? Vì ánh sáng của đèn kia từ nhân duyên mà có. Đèn tăng trưởng nên ánh sáng cũng tăng trưởng, còn ngã của chúng sinh thì chẳng như vậy. Ánh sáng từ đèn phát ra trụ tại chỗ khác, còn ngã của chúng sinh thì chẳng được như vậy là từ thân ra trụ tại chỗ khác. Ánh sáng của đèn kia ở chung cùng với bóng tối. Vì sao? Vì như trong nhà tối thắp một ngọn đèn thì chẳng soi sáng, thắp lên nhiều ngọn đèn mới được sáng rõ. Nếu ngọn đèn ban đầu xua tan bóng tối thì chẳng cần những ngọn đèn sau. Nếu cần những ngọn đèn sau thì phải biết ánh sáng ban đầu ở chung cùng bóng tối”. “Này Cù-đàm! Nếu không ngã thì ai tạo tác thiện, ác?”. Ta nói: “Nếu ngã tạo tác thì sao gọi là thường. Như ngã ấy thường thì làm sao mà có khi làm thiện, có khi làm ác? Nếu nói có khi làm thiện, có khi làm ác thì làm sao lại nói rằng ngã là vô biên? Nếu ngã tạo tác thì vì sao mà lại tập làm pháp ác? Như ngã ấy chính là người làm, người biết thì vì sao sinh ra nghi ngờ chúng sinh vô ngã? Do nghĩa này nên trong pháp của ngoại đạo nhất định không có ngã. Nếu nói ngã, tức là Như Lai. Vì sao? Vì thân Như Lai vô biên không có lưới nghi hoặc. Chẳng tác, chẳng thọ nên gọi là thường. Chẳng sinh, chẳng diệt nên gọi là lạc. Không cấu bẩn phiền não nên gọi là tịnh. Không có mười tướng nên gọi là không. Vậy nên Như Lai thường, lạc, ngã, tịnh, rỗng không, không có các tướng”. Các ngoại đạo nói: “Nếu nói, Như Lai thường, lạc, ngã, tịnh, vô tướng nên rỗng không thì phải biết pháp của Cù-đàm nói là chẳng phải rỗng không. Vậy nên chúng tôi hôm nay cung kính nhận lấy mà hộ trì”. Bấy giờ, vô số ngoại đạo đối với pháp Phật đều khởi lòng tin xuất gia theo Phật.

Này thiện nam! Do nhân duyên này nên Ta ở rừng Ta-la song thọ này mà thuyết pháp như đại Sư tử hống. Sư tử hống là Đại Niết-bàn. Này thiện nam! Song thọ ở phương Đông là phá hoại vô thường, để đạt được thường cho đến song thọ ở phương Bắc là phá bất tịnh mà được tịnh. Này thiện nam! Chúng sinh trong này vì song thọ nên hộ trì rừng Ta-la, đừng để cho người ngoài lấy cành lá, chặt đốn phá hoại. Ta cũng như vậy, vì bốn pháp nên khiến cho các đệ tử hộ trì pháp Phật. Những gì là bốn? Là thường, lạc, ngã, tịnh. Đây là bốn song thọ, bốn vua trông coi. Ta vì bốn vua hộ trì pháp của cải ta nên Ta ở trong đó mà nhập Niết-bàn. Này thiện nam! Ta-la song thọ hoa trái luôn sum suê, luôn có thể làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh. Ta cũng như vậy, luôn có thể làm lợi ích cho hàng Thanh văn, Duyên giác. Hoa là dụ cho ngã, quả là dụ cho lạc. Do nghĩa này nên ta ở vùng Ta-la song thọ này mà vào đại tịch định. Đại tịch định là Đại Niết-bàn.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Như Lai vì sao Niết-bàn vào tháng hai?

–Này thiện nam! Tháng hai gọi là mùa xuân, tháng của xuân, muôn vật sinh trưởng, gieo trồng cây cối, hoa trái phát triển tươi tốt, sông nước tràn đầy, trăm loài thú sinh sôi. Lúc đó chúng sinh sinh ra nhiều tưởng về thường. Vì muốn phá tâm tưởng về thường như vậy của chúng sinh nên Ta nói tất cả pháp đều là vô thường mà chỉ nói Như Lai thường trụ bất biến. Này thiện nam! Ở trong sáu thời: Tiết mạnh đông khô khan xơ xác mọi người chẳng ưa thích. Tiết xuân ôn hòa mọi người ưa thích. Vì phá sự ưa thích thế gian của chúng sinh nên Ta diễn nói thường lạc ngã tịnh cũng vậy, Như Lai vì phá ngã của thế gian, tịnh của thế gian nên nói ngã tịnh chân thật của Như Lai. Nói tháng hai là dụ cho hai thứ pháp thân của Như Lai. Kẻ chẳng ưa mùa đông là người trí chẳng ưa Như Lai vô thường vào Niết-bàn. Kẻ ưa thích tháng hai là dụ cho người trí ưa thích Như Lai thường, lạc, ngã, tịnh. Người gieo trồng là dụ cho các chúng sinh nghe pháp vui mừng, phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà gieo trồng các căn lành. Sông là dụ cho những Đại Bồ-tát ở mười phương đến chỗ của Ta thưa hỏi nghe thọ kinh điển Đại Niết-bàn này. Trăm loài thú sinh sôi là dụ cho đệ tử của Ta phát sinh các thiện căn. Hoa dụ cho bảy giác chi. Quả dụ cho bốn thứ quả. Do nghĩa này nên Ta ở trong tháng hai vào Đại Niết-bàn.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Như Lai từ lúc đản sinh, xuất gia, thành đạo, chuyển diệu pháp luân đều lấy ngày mùng tám mà vì sao riêng Thế Tôn lấy ngày mười lăm để Niết-bàn?

Đức Phật dạy:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Ngày mười lăm, vầng trăng không khuyết, tròn đầy. Chư Phật Như Lai cũng như vậy, vào Đại Niết-bàn không có khuyết, tròn đầy. Do nghĩa này nên ở trong ngày mười lăm vào Niết-bàn. Này thiện nam! Như ngày mười lăm, khi vầng trăng tròn đầy thì có mười một việc. Những gì là mười một? Một là có thể phá bóng tối. Hai là khiến cho chúng sinh thấy đường hay chẳng phải đường. Ba là khiến cho chúng sinh thấy đường tà hay chánh. Bốn là trừ uất kiết nung nấu được niềm vui thanh lương. Năm là có thể phá hoại lòng cao ngạo. Sáu là dứt tất cả tư tưởng đạo tặc. Bảy là trừ lòng sợ thú dữ của chúng sinh. Tám là có thể làm nở hoa Ưu-bát-la. Chín là khép lại hoa sen. Mười là làm phát khởi tâm lên đường của hành nhân. Mười một là khiến cho các chúng sinh ưa thích thọ năm dục thu hoạch nhiều hoan lạc. Này thiện nam! Vầng trăng tròn đầy Như Lai cũng như vậy: Một là phá hoại bóng tối lớn vô minh. Hai là diễn nói về chánh đạo, tà đạo. Ba là chỉ rõ đường tà hiểm sinh tử, đường bằng phẳng Niết-bàn. Bốn là khiến cho con người xa lìa lửa nóng tham dục, sân hận, ngu si. Năm là phá trừ vô minh của ngoại đạo. Sáu là phá hoại giặc ác phiền não kết. Bảy là trừ diệt tâm sợ năm cái. Tám là khai mở lòng gieo trồng căn lành của chúng sinh. Chín là che phủ tâm năm dục của chúng sinh. Mười là phát khởi hạnh tiến tu hướng đến Đại Niết-bàn của chúng sinh. Mười một là khiến cho chúng sinh ưa tu giải thoát. Do ý nghĩa này nên vào ngày mười lăm Ta vào Đại Niết-bàn mà chân thật Ta chẳng vào Niết-bàn. Người ác ngu si trong hàng đệ tử của Ta thì nhất định cho là Như Lai vào Niết-bàn. Ví như người mẹ có nhiều con, người mẹ ấy bỏ đi đến đất nước khác, trong khoảng thời gian chưa trở lại, các con đều nói, mẹ ta đã chết, nhưng mà người mẹ này thật chẳng chết.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Những Tỳ-kheo nào có thể trang nghiêm rừng Ta-la song thọ này?

–Này thiện nam! Nếu có Tỳ-kheo thọ trì, đọc tụng mười hai bộ loại kinh điển đúng với câu văn kinh ấy, thông đạt nghĩa lý sâu xa, vì người giảng nói mà lời đầu, giữa, cuối đều tốt. Rồi vì muốn làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh mà diễn nói phạm hạnh. Những Tỳ-kheo như vậy thì có thể trang nghiêm rừng Ta-la song thọ.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Theo con hiểu được ý nghĩa lời Phật nói thì Tỳkheo A-nan tức là người ấy. Vì sao? Vì Tỳ-kheo A-nan thọ trì, đọc tụng mười hai bộ loại kinh điển, vì người khác khai thị, diễn nói chính ngữ, chính nghĩa giống như rót nước vào đồ đựng khác, Tỳ-kheo A-nan cũng như vậy, từ điều được nghe Phật nói, ông truyền lại đúng như đã nghe.

–Này thiện nam! Nếu có Tỳ-kheo được thiên nhãn thanh tịnh nhìn thấu tam thiên đại thiên thế giới trong mười phương như xem quả A-ma-lặc trong lòng bàn tay thì Tỳ-kheo như vậy cũng có thể trang nghiêm Ta-la song thọ.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Nếu như vậy thì Tỳ-kheo A-ni-lâu-đà là người ấy. Vì sao? Vì thiên nhãn của A-ni-lâu-đà thấy đến tam thiên đại thiên thế giới ở mười phương cho đến trung ấm đều rõ ràng không chướng ngại.

–Này thiện nam! Nếu có Tỳ-kheo thiểu dục tri túc, lòng ưa tịch tĩnh, siêng hành tinh tấn, hiểu rõ niệm, định, tuệ thì Tỳ-kheo như vậy có thể trang nghiêm Ta-la song thọ.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Nếu như vậy Tỳ-kheo Ca-diếp tức là người ấy. Vì sao? Vì Tỳ-kheo Ca-diếp giỏi tu pháp thiểu dục, tri túc v.v…

–Này thiện nam! Nếu có Tỳ-kheo vì tạo lợi ích cho chúng sinh chẳng vì lợi dưỡng mà tu tập thông đạt Tam-muội Vô tránh, Thánh hạnh, Không hạnh thì Tỳ-kheo như vậy có thể trang nghiêm Ta-la song thọ.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Nếu như vậy thì Tỳ-kheo Tu-bồ-đề tức là người ấy. Vì sao? Vì Tu-bồ-đề giỏi tu Tam-muội Vô tránh, Thánh hạnh, Không hạnh.

–Này thiện nam! Nếu có Tỳ-kheo giỏi tu thần thông, trong một niệm có thể tạo tác đủ thứ thần thông biến hóa, một tâm một định mà có thể tạo tác hai kết quả như là nước và lửa thì Tỳ-kheo như vậy có thể trang nghiêm Ta-la song thọ.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Nếu như vậy thì Tỳ-kheo Mục-kiền-liên tức là người ấy. Vì sao? Vì Mục-kiền-liên giỏi tu thần thông, biến hóa không lường.

–Này thiện nam! Nếu có Tỳ-kheo giỏi tu đại trí, lợi trí, trang nghiêm trí, giải thoát trí, thâm diệu trí, quảng trí, vô biên trí, vô thắng trí, thật trí v.v… thành tựu đầy đủ tuệ căn như vậy, đối với oán thân lòng không sai khác, nghe Như Lai Niết-bàn vô thường lòng không lo buồn, nghe Như Lai thường trụ chẳng vào Niết-bàn chẳng sinh vui mừng thì Tỳ-kheo như vậy có thể trang nghiêm Ta-la song thọ.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Nếu như vậy thì Tỳ-kheo Xá-lợi-phất tức là người ấy. Vì sao? Vì Xá-lợi-phất giỏi có thể thành tựu đầy đủ đại trí tuệ như vậy.

–Này thiện nam! Nếu có Tỳ-kheo có thể nói chúng sinh đều có Phật tánh, được thân kim cương, không có bờ cõi, thường, lạc, ngã, tịnh, thân tâm vô ngại, được tám tự tại thì Tỳ-kheo như vậy có thể trang nghiêm Ta-la song thọ.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Nếu như vậy thì chỉ có Như Lai chính là người ấy. Vì sao? Vì thân của Như Lai là thân kim cương, vô biên, thường, lạc, ngã, tịnh, thân tâm vô ngại, đủ tám tự tại. Thưa Thế Tôn! Chỉ có Như Lai mới có thể trang nghiêm Ta-la song thọ. Như không có Như Lai thì chẳng đoan nghiêm. Nguyện xin đấng Đại từ vì trang nghiêm nên thường trụ ở rừng cây Ta-la này.

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Tánh của tất cả các pháp trụ ở vô trụ mà sao ông nói, nguyện xin Như Lai trụ? Này thiện nam! Phàm nói trụ tức là gọi sắc pháp. Các pháp từ nhân duyên sinh ra nên gọi là trụ. Nhân duyên không nơi chốn nên gọi là vô trụ. Như Lai đã đoạn tất cả sự ràng buộc của sắc thì sao nói là Như Lai trụ? Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Này thiện nam! Trụ gọi là kiêu mạn, do kiêu mạn nên chẳng được giải thoát, chẳng được giải thoát nên gọi là trụ. Ai có kiêu mạn? Từ đâu đến? Vậy nên được gọi là trụ ở vô trụ. Như Lai đoạn trừ vĩnh viễn tất cả kiêu mạn thì vì sao nói xin Như Lai trụ? Trụ là pháp hữu vi. Như Lai đã đoạn pháp hữu vi, vậy nên chẳng trụ. Trụ là pháp không. Như Lai đã đoạn pháp không nên Như Lai đạt được thường, lạc, ngã, tịnh thì vì sao mà nói xin Như Lai trụ? Trụ là hai mươi lăm cõi. Như Lai đã đoạn hai mươi lăm cõi thì làm sao mà nói xin Như Lai trụ? Trụ tức là tất cả phàm phu. Các bậc Thánh thì vô khứ, vô lai, vô trụ. Như Lai đã đoạn tướng khứ, lai, trụ thì làm sao mà nói rằng trụ? Nói vô trụ là gọi thân vô biên, mà thân vô biên thì làm sao nói xin Như Lai trụ ở rừng Ta-la? Nếu trụ ở rừng này tức là thân có biên. Nếu có biên thì đó là vô thường, mà Như Lai là thường thì sao nói rằng trụ? Phàm vô trụ là gọi hư không. Tánh của Như Lai đồng với hư không thì sao nói rằng trụ? Lại nữa, vô trụ là gọi Tam-muội kim cương, mà Tam-muội kim cương hoại tất cả trụ. Tam-muội kim cương tức là Như Lai thì sao nói rằng trụ? Lại, vô trụ tức là huyễn. Như Lai đồng với huyễn thì sao nói rằng trụ? Lại, vô trụ là gọi vô thỉ, vô chung. Tánh của Như Lai vô thỉ vô chung thì sao nói rằng trụ? Lại, vô trụ là gọi pháp giới vô biên, mà pháp giới vô biên tức là Như Lai thì sao nói rằng trụ? Lại, vô trụ là gọi Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm. Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm biết tất cả pháp mà không chấp trước. Do không chấp trước nên gọi là Thủ-lăngnghiêm. Như Lai đầy đủ tánh Thủ-lăng-nghiêm thì sao nói rằng trụ? Lại, vô trụ là gọi xứ phi xứ lực, mà Như Lai thành tựu xứ phi xứ lực thì sao nói rằng trụ? Lại, vô trụ là gọi Thí Ba-la-mật, mà Thí Ba-la-mật nếu có trụ thì chẳng đạt đến Trì giới Ba-la-mật cho đến Bát nhã Ba-lamật. Do nghĩa này nên Thí Ba-la-mật gọi là vô trụ. Như Lai cho đến chẳng trụ Bát nhã Ba-la-mật thì sao xin Như Lai thường trụ ở rừng cây Ta-la. Lại, vô trụ là gọi tu Bốn niệm xứ. Như Lai nếu trụ ở Bốn niệm xứ thì chẳng thể đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, gọi là trụ chẳng trụ. Lại, vô trụ là cõi chúng sinh vô biên. Như Lai đều đến cảnh giới vô biên của tất cả chúng sinh mà không chỗ trụ. Lại, vô trụ là gọi không nhà cửa. Không nhà cửa gọi là không có. Không có thì gọi là vô sinh. Vô sinh thì gọi là vô tử. Vô tử thì gọi là vô tướng. Vô tướng thì gọi là không ràng buộc. Không ràng buộc thì gọi là vô trước. Vô trước thì gọi là vô lậu. Vô lậu tức là thiện. Thiện tức là vô vi. Vô vi tức là thường của Đại Niết-bàn. Thường của Đại Niết-bàn tức là ngã. Ngã tức là tịnh. Tịnh tức là lạc. Thường, lạc, ngã, tịnh tức là Như Lai. Này thiện nam! Ví như hư không chẳng trụ ở phương Đông, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, bốn phương bàng, phương trên, phương dưới. Như Lai cũng vậy, chẳng trụ ở phương Đông, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, bốn phương bàng, phương trên, phương dưới. Này thiện nam! Nếu có người nói rằng, thân, miệng, ý ác được quả thiện thì đó là điều không có. Thân, miệng, ý thiện được quả ác thì cũng không có điều đó. Nếu nói, phàm phu thấy được Phật tánh còn Bồ-tát Thập Trụ chẳng thấy được thì cũng không có điều đó. Bọn Nhất-xiển-đề, phạm tội ngũ nghịch, bài báng kinh Phương Đẳng, hủy phạm bốn trọng cấm được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì cũng không có điều đó. Bồ-tát Lục Trụ do nhân duyên phiền não mà rơi vào ba đường ác thì cũng không có điều đó. Đại Bồ-tát dùng ngay thân nữ để được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì cũng không có điều đó. Nhất-xiểnđề thường trụ còn Tam bảo vô thường thì cũng không có điều đó. Như Lai trụ ở thành Câu-thi-na thì cũng không có điều đó. Này thiện nam! Như Lai hôm nay ở thành Câu-thi-na, vào Đại Niết-bàn, hang thiền định sâu mà chúng chẳng thấy nên gọi là Đại Niết-bàn.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Đức Như Lai vì sao mà vào hang thiền định?

–Này thiện nam! Vì muốn độ thoát các chúng sinh nên đối với người chưa gieo trồng thiện căn khiến cho họ gieo trồng. Kẻ đã gieo trồng thiện căn thì được tăng trưởng. Kẻ mà quả thiện chưa thành thục thì khiến cho được thành thục. Người đã thành thục thì nói về việc hướng đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Kẻ khinh chê pháp thiện thì khiến cho họ sinh lòng tôn quý. Những kẻ phóng dật thì khiến cho họ lìa khỏi phóng dật. Ta vì muốn cùng với Văn-thù-sư-lợi v.v… các đại Hương tượng cùng chung luận nghị, vì muốn giáo hóa người ưa đọc tụng thâm ái thiền định, vì muốn dùng Thánh hạnh, Phạm hạnh, Thiên hạnh để giáo hóa chúng sinh, vì quan sát pháp tạng thâm diệu bất cộng, vì muốn quở trách đệ tử phóng dật v.v Như Lai thường tịch tĩnh mà còn ưa thiền định huống gì là bọn các ông phiền não chưa hết mà sinh phóng dật. Ta vì muốn quở trách các Tỳ-kheo ác nhận chứa tám thứ vật bất tịnh và chẳng thiểu dục, chẳng tri túc, vì khiến cho chúng sinh tôn trọng pháp thiền định đã nghe v.v… Do những nhân duyên này nên Ta vào hang thiền định.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Định vô tướng này là gọi Đại Niết-bàn. Vậy nên Niết-bàn gọi là vô tướng. Do nhân duyên gì gọi là vô tướng?

–Này thiện nam! Vì không có mười tướng. Những gì là mười? Đó là tướng sắc, tướng thanh, tướng hương, tướng vị, tướng xúc, tướng sinh, tướng trụ, tướng hoại, tướng nam, tướng nữ. Đó là mười tướng. Không có những tướng như vậy nên gọi là vô tướng. Này thiện nam! Phàm chấp trước tướng nên sinh ra si, do si nên sinh ra ái, do ái nên bị trói buộc, do bị trói buộc nên thọ sinh, do đã sinh nên có chết, do có chết nên vô thường. Nếu chẳng chấp trước tướng thì chẳng sinh ra si, chẳng sinh si thì không có ái, không có ái thì không trói buộc, không trói buộc thì chẳng thọ sinh, chẳng thọ sinh thì không có chết, không có chết thì gọi là thường. Do nghĩa này nên Niết-bàn gọi là thường.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Những Tỳ-kheo nào có thể đoạn được mười tướng?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Nếu có Tỳ-kheo lúc nào cũng tu tập ba thứ tướng thì đoạn được mười tướng. Lúc nào cũng tu tập tướng Tam-muội định. Lúc nào cũng tu tập tướng trí tuệ. Lúc nào cũng tu tập tướng xả.

Đó gọi là ba tướng.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Sao gọi là tướng định, tướng tuệ, tướng xả? Định là Tam-muội. Tất cả chúng sinh đều có Tam-muội thì sao nói rằng, tu tập Tam-muội? Nếu tâm tại một cảnh thì gọi là Tam-muội, nếu thay đổi theo duyên khác thì chẳng gọi là Tam-muội. Như bất định kia chẳng phải Nhất thiết trí, mà chẳng phải Nhất thiết trí thì sao gọi là định? Nếu do một hạnh được Tam-muội thì các hạnh còn lại ấy cũng chẳng phải là Tam-muội. Nếu chẳng phải Tam-muội thì chẳng phải Nhất thiết trí. Nếu chẳng phải Nhất thiết trí thì sao gọi là Tam-muội? Hai tướng tuệ và xả cũng như vậy.

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Như lời ông nói, duyên với một cảnh được gọi là Tam-muội, các duyên khác chẳng gọi là Tam-muội thì nghĩa này chẳng đúng. Vì sao? Vì duyên khác như vậy cũng một cảnh. Hạnh cũng như vậy. Ông lại nói, chúng sinh có Tam-muội trước, chẳng cần tu hành thì điều này cũng chẳng đúng. Vì sao? Vì khi nói Tam-muội là gọi Tam-muội thiện mà tất cả chúng sinh thật chưa có thì sao nói rằng, chẳng cần tu tập? Do trụ ở trong Tam-muội thiện như vậy mà quan sát tất cả pháp nên gọi là tướng thiện tuệ. Chẳng thấy tướng khác của Tam-muội và trí tuệ thì đó gọi là tướng xả. Lại nữa, này thiện nam! Nếu chấp lấy tướng sắc, chẳng có thể quán tướng sắc thường hay vô thường, thì đó gọi là Tam-muội. Nếu có thể quan sát tướng sắc thường hay vô thường thì đó gọi là tướng tuệ. Tam-muội và tuệ bình đẳng quán tất cả các pháp thì đó gọi là tướng xả. Này thiện nam! Như người giỏi điều khiển chiếc xe bốn ngựa chậm, nhanh theo ý, vì nhanh chậm theo ý nên gọi là tướng xả. Bồ-tát cũng vậy, nếu Tam-muội nhiều thì tu tập tuệ. Nếu tuệ nhiều thì tu tập Tam-muội. Tam-muội và tuệ bình đẳng thì gọi là xả. Này thiện nam! Bồ-tát Thập Trụ lực trí tuệ nhiều, lực Tam-muội ít, vậy nên chẳng được thấy Phật tánh rõ ràng. Thanh văn, Duyên giác lực Tam-muội nhiều, lực trí tuệ ít. Do nhân duyên này nên chẳng thấy Phật tánh. Chư Phật Thế Tôn thì định và tuệ bình đẳng nên thấy rõ Phật tánh thông suốt không ngăn ngại như xem quả A-malặc trong bàn tay. Thấy Phật tánh gọi là tướng xả.

Xa-ma-tha gọi là năng diệt, hay diệt trừ tất cả phiền não. Lại, Xa-ma-tha gọi là năng điều, hay điều phục việc ác, bất thiện của các căn. Lại, Xa-ma-tha gọi là tịch tĩnh, có thể khiến cho ba nghiệp trở nên tịch tĩnh. Lại, Xa-ma-tha gọi là xa lìa, có thể khiến cho chúng sinh lìa khỏi năm dục. Lại, Xa-ma-tha gọi là năng thanh, có thể làm trong sạch ba pháp trược là tham dục, sân hận và ngu si. Do nghĩa này nên gọi là định tướng. Tỳ-bà-xá-na gọi là chánh kiến, cũng gọi là liễu kiến, gọi là năng kiến, gọi là biến kiến, gọi là thứ đệ kiến, gọi là biệt tướng kiến. Đó gọi là tuệ. Ưu-tất-xoa gọi là bình đẳng, cũng gọi là bất tranh, lại gọi là bất quán, cũng gọi là bất hành. Đó gọi là xả. Này thiện nam! Xama-tha có hai thứ: một là thế gian, hai là xuất thế gian. Lại có hai thứ: một là thành tựu, hai là chẳng thành tựu. Thành tựu là gọi chư Phật, Bồ-tát; chẳng thành tựu là gọi Thanh văn, Phật-bích-chi v.v… Lại có ba thứ là hạ, trung, thượng. Hạ là gọi các phàm phu; trung là Thanh văn, Duyên giác; thượng là chư Phật, Bồ-tát. Lại có bốn thứ: một là thoái, hai là trụ, ba là tiến, bốn là có thể đạt lợi ích. Lại có năm thứ, đó là gọi năm trí Tam-muội. Những gì là năm? Một là Tam-muội vô thực, hai là Tam-muội vô quá, ba là Tam-muội thân ý thanh tịnh nhất tâm, bốn là Tam-muội nhân quả đều an lạc, năm là Tam-muội thường niệm. Lại có sáu thứ: một là Tam-muội quán cốt, hai là Tam-muội từ, ba là Tammuội quán mười hai nhân duyên, bốn là Tam-muội quán hơi thở ra vào, năm là Tam-muội niệm giác quán, sáu là Tam-muội quán sinh diệt. Lại có bảy thứ, đó là bảy giác phần: một là niệm giác phần, hai là trạch pháp giác phần, ba là tinh tấn giác phần, bốn là hỷ giác phần, năm là trừ giác phần, sáu là định giác phần, bảy là xả giác phần. Lại có bảy thứ: một là Tam-muội Tu-đà-hoàn, hai là Tam-muội Tư-đà-hàm, ba là Tam-muội A-na-hàm, bốn là Tam-muội A-la-hán, năm là Tammuội Phật-bích-chi, sáu là Tam-muội Bồ-tát, bảy là Tam-muội Như Lai giác tri. Lại có tám thứ là tám Tam-muội giải thoát: Một là Tammuội Nội hữu sắc tướng ngoại quán sắc giải thoát. Hai là Tam-muội Nội vô sắc tướng ngoại quán sắc giải thoát. Ba là Tam-muội Tịnh giải thoát thân chứng. Bốn là Tam-muội Không xứ giải thoát. Năm là Tammuội Thức xứ giải thoát. Sáu là Tam-muội Vô sở hữu xứ giải thoát. Bảy là Tam-muội Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ giải thoát. Tám là Tam-muội Diệt tận định giải thoát. Lại có chín thứ, đó là chín định thứ lớp: Bốn thiền, Bốn không và Tam-muội diệt tận định. Lại có mười thứ đó là mười Tam-muội Nhất thiết xứ. Những gì là mười? Một là Tammuội Địa nhất thiết xứ. Hai là Tam-muội Thủy nhất thiết xứ. Ba là Tam-muội Phong nhất thiết xứ. Bốn là Tam-muội Thanh nhất thiết xứ. Năm là Tam-muội Hoàng nhất thiết xứ. Sáu là Tam-muội Xích nhất thiết xứ. Bảy là Tam-muội Bạch nhất thiết xứ. Tám là Tam-muội Không nhất thiết xứ. Chín là Tam-muội Thức nhất thiết xứ. Mười là Tam-muội Vô sở hữu nhất thiết xứ. Lại có vô số thứ đó là Tam-muội của chư Phật, Bồ-tát. Này thiện nam! Đó gọi là tướng Tam-muội.

Này thiện nam! Tuệ có hai thứ: một là thế gian, hai là xuất thế gian. Lại có ba thứ: một là Bát nhã, hai là Tỳ-bà-xá-na, ba là Xà-na. Bát nhã là gọi tất cả chúng sinh. Tỳ-bà-xá-na là gọi tất cả Thánh nhân. Xà-na là chư Phật, Bồ-tát. Lại, Bát nhã thì gọi là Biệt tướng. Tỳ-bà-xána thì gọi là Tổng tướng. Xà-na thì gọi là Phá tướng. Lại có bốn thứ, đó là quan sát bốn chân đế. Này thiện nam! Vì ba việc nên tu Xa-ma-tha. Những gì là ba? Một là chẳng phóng dật, hai là trang nghiêm đại trí, ba là được tự tại. Lại nữa, vì ba việc nên tu Tỳ-bà-xá-na. Những gì là ba? Một là vì quan sát quả báo ác của sinh tử. Hai là vì muốn tăng trưởng các căn lành. Ba là vì phá tất cả các phiền não.

**********

 

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Như trong kinh nói, nếu tu quán có thể phá phiền não thì vì sao lại tu chỉ?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Ông nói, tu quán phá phiền não thì nghĩa này chẳng đúng. Vì sao? Vì khi có trí tuệ thì không phiền não, khi có phiền não thì không trí tuệ thì sao nói tu quán có thể phá phiền não? Này thiện nam! Ví như khi sáng thì không có tối, khi tối thì không có sáng. Nếu có người nói rằng, sáng có thể phá tối thì đó là điều không có. Này thiện nam! Ai có trí tuệ? Ai có phiền não mà nói trí tuệ có thể phá phiền não? Như không có thì không bị phá. Này thiện nam! Nếu nói trí tuệ có thể phá phiền não thì vì đến nên phá hay chẳng đến nên phá. Nếu chẳng vì đến mà phá thì phàm phu chúng sinh đáng lẽ có thể phá. Nếu vì đến nên phá thì ý niệm đầu tiên đáng lẽ phá. Nếu ý niệm đầu tiên chẳng phá thì sau cũng chẳng phá. Nếu mới đến liền phá thì đó là chẳng đến vậy tại sao nói rằng, trí tuệ có thể phá. Nếu nói đến cùng chẳng đến có thể phá thì nghĩa này chẳng đúng. Lại nữa, tu quán phá phiền não là một mình có thể phá hay là cùng bạn bè phá? Nếu một mình có thể phá thì Bồ-tát vì sao tu tám chánh đạo? Nếu cùng bạn bè phá thì nên biết rằng, một mình chẳng thể phá. Nếu một mình chẳng thể thì bạn bè cũng chẳng thể. Như một người mù chẳng thể thấy sắc thì tuy nhiều bạn mù cũng chẳng thể thấy. Tu quán cũng như vậy. Này thiện nam! Như tánh cứng của đất, tánh nóng của lửa, tánh ẩm ướt của nước, tánh chuyển động của gió, mà tánh cứng của đất cho đến tánh động của gió chẳng phải nhân duyên tạo tác mà tánh của chúng tự như

vậy. Như tánh của bốn đại, tánh của phiền não cũng vậy, là tự đoạn. Nếu là đoạn thì sao mà nói rằng, trí tuệ có thể đoạn. Do nghĩa này nên tu quán quyết định chẳng thể phá các phiền não. Này thiện nam! Như tánh của muối là mặn khiến cho vật khác mặn, mật vốn tánh ngọt khiến cho vật khác ngọt, nước vốn tánh ẩm ướt khiến cho vật khác ẩm ướt, tánh của trí tuệ là diệt nên khiến cho các pháp diệt thì nghĩa này chẳng đúng. Vì sao? Vì nếu pháp không diệt thì làm sao trí tuệ có thể cưỡng ép khiến cho diệt được? Nếu nói muối mặn khiến cho vật khác mặn, tuệ diệt cũng vậy, có thể khiến cho pháp khác diệt thì điều này cũng chẳng đúng. Vì sao? Vì tánh của trí tuệ là từng niệm từng niệm diệt. Nếu từng niệm từng niệm diệt thì sao nói có thể diệt pháp khác. Do nghĩa này nên tánh của trí tuệ chẳng phá phiền não. Này thiện nam! Tất cả các pháp có hai thứ diệt, một là tánh diệt, hai là rốt ráo diệt. Nếu tánh diệt thì sao nói trí tuệ có thể diệt? Nếu nói trí tuệ có thể diệt phiền não như lửa thiêu đốt vật thì nghĩa này không đúng. Vì sao? Vì như lửa thiêu đốt vật thì có để lại tàn lửa. Trí tuệ như vậy đáng lẽ để lại dư tàn. Như búa chặt cây thì chỗ chặt ra có thể thấy. Trí tuệ nếu vậy thì có gì có thể thấy? Tuệ nếu có thể khiến cho phiền não lìa khỏi thì như vậy phiền não đáng lẽ nên hiện bày chỗ khác. Như các ngoại đạo rời khỏi sáu đại thành thì hiện diện ở thành Câu-thi-na. Nếu phiền não đó chẳng hiện nơi chỗ khác thì biết rằng, trí tuệ chẳng thể khiến cho phiền não lìa khỏi. Này thiện nam! Tánh của tất cả các pháp nếu tự rỗng không thì ai có thể khiến cho sinh ra? Ai có thể khiến cho diệt đi? Sinh khác, diệt khác, không người tạo tác. Này thiện nam! Nếu tu tập định thì được chánh trí, chánh kiến như vậy. Do nghĩa này nên trong kinh của ta nói, nếu có Tỳ-kheo tu tập định thì có thể thấy tướng sinh diệt của năm ấm. Này thiện nam! Nếu chẳng tu định thì việc thế gian còn chẳng thể rõ, huống nữa là đối với việc xuất thế. Nếu người không định thì chỗ bằng cũng ngã lăn, tâm duyên pháp khác, miệng tuyên nói lời khác, tai nghe tiếng khác, tâm hiểu nghĩa khác, muốn tạo chữ khác, tay viết văn khác, muốn đi đường khác, thân lặn lội lối khác. Nếu người có tu tập Tam-muội định thì được lợi ích lớn cho đến đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Này thiện nam! Đại Bồ-tát đầy đủ hai pháp có thể lợi ích lớn:

Một là định, hai là trí. Này thiện nam! Như cắt cỏ may vội vã thì đứt, Đại Bồ-tát tu hai pháp này cũng như vậy. Này thiện nam! Như nhổ cây cứng trước dùng tay lay động thì sau dễ nhổ lên. Bồ-tát tu định tuệ cũng như vậy, trước dùng định khởi động, sau dùng tuệ nhổ lên. Này thiện nam! Như giặt áo bẩn, trước dùng nước tro, sau dùng nước trong thì áo sẽ sạch sẽ. Bồ-tát tu định tuệ cũng như vậy. Này thiện nam! Như trước đọc tụng, sau thì hiểu nghĩa. Bồ-tát tu định tuệ cũng như vậy. Này thiện nam! Ví như người dũng mãnh, trước dùng giáp đồng, binh khí tự trang bị chắc chắn, sau đó ra trận mới có thể phá tan được giặc oán thù. Bồ-tát tu định tuệ cũng như vậy. Này thiện nam! Ví như người thợ khéo với cây kềm, chiếc búa đập vào thỏi kim loại, tự tại theo ý nhào nặn nấu chảy. Bồ-tát tu định tuệ cũng như vậy. Này thiện nam! Ví như tấm gương sáng soi rõ hình dáng của mặt. Bồ-tát tu định tuệ cũng như vậy. Này thiện nam! Như trước làm bằng phẳng đất rồi sau đó mới xuống giống. Trước theo thầy thọ giáo rồi sau tư duy nghĩa lý, Bồ-tát tu định tuệ cũng như vậy. Do nghĩa này nên Đại Bồ-tát tu hai pháp này, được ích lợi lớn. Này thiện nam! Đại Bồ-tát tu hai pháp này điều phục thâu giữ năm căn, gắng nhẫn mọi khổ như là đói khát, nóng lạnh, đánh đập, mạ nhục, sự cắn xé của ác thú, sự chích hút của muỗi mòng v.v… Bồ-tát luôn thâu giữ tâm chẳng để cho phóng dật, chẳng vì lợi dưỡng mà làm việc phi pháp, khách trần phiền não chẳng thể làm ô nhiễm, chẳng bị sự mê hoặc của các tà kiến, dị kiến, thường có thể xa lìa các giác quán ác, chẳng bao lâu sẽ thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì muốn thành tựu lợi ích cho chúng sinh. Này thiện nam! Đại Bồ-tát tu hai pháp này thì bốn luồng gió dữ điên đảo chẳng thể thổi động như núi Tu-di tuy bị gió thổi mạnh nhưng chẳng thể làm cho lay động, chẳng bị tà sư ngoại đạo dẹp trừ, như cờ Đế thích chẳng thể di động, mọi thuật tà dị chẳng thể lừa dối mê hoặc, thường thọ an lạc vi diệu đệ nhất, có thể hiểu được nghĩa bí mật sâu xa của Như Lai, hưởng thụ niềm vui chẳng mừng, gặp phải nỗi khổ chẳng buồn, chư Thiên, người đời cung kính khen ngợi, thấy rõ sinh tử và chẳng phải sinh tử, giỏi biết rõ pháp giới và pháp tánh, thân có pháp thường, lạc, ngã, tịnh. Đó gọi là niềm vui Đại Niết-bàn.

Này thiện nam! Tướng định là Tam-muội Không. Tướng tuệ là Tam-muội Vô nguyện. Tướng xả là Tam-muội Vô tướng. Này thiện nam! Nếu có Đại Bồ-tát khéo biết lúc nào định, lúc nào tuệ, lúc nào xả và biết chẳng phải lúc thì đó gọi là Đại Bồ-tát hành đạo Bồ-đề.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch đấng Thiên Trung Thiên! Sao gọi là Bồ-tát biết đúng lúc và chẳng phải lúc?

–Này thiện nam! Đại Bồ-tát do được thọ lạc mà sinh ra kiêu mạn, hoặc do nói pháp mà sinh ra kiêu mạn, hoặc do tinh cần mà sinh ra kiêu mạn, hoặc lúc hiểu nghĩa khéo hỏi đáp mà sinh ra kiêu mạn, hoặc do gần gũi ác tri thức mà sinh ra kiêu mạn, hoặc do bố thí vật ái trọng của mình mà sinh ra kiêu mạn, hoặc do công đức của pháp thiện thế gian mà sinh ra kiêu mạn, hoặc do sự cung kính của người giàu sang ở thế gian mà sinh ra kiêu mạn thì phải biết những lúc như vậy chẳng nên tu trí mà phải nên tu định. Đó gọi là Bồ-tát biết thời và phi thời. Như có Bồ-tát siêng tu tinh tấn chưa được lợi ích an lạc của Niếtbàn, rồi do chẳng được nên sinh tâm hối tiếc, do độn căn nên chẳng thể điều phục năm tình, các căn, do thế lực của các phiền não cấu uế mạnh mẽ nên tự nghi ngờ giới luật có suy tổn thì phải biết những lúc như vậy chẳng nên tu định mà phải nên tu trí. Đó gọi là Bồ-tát biết thời và phi thời. Này thiện nam! Nếu có Bồ-tát mà hai pháp định tuệ chẳng bình đẳng thì phải biết lúc ấy chẳng nên tu xả, còn hai pháp nếu bình đẳng thì nên tu. Đó gọi là Bồ-tát biết thời và phi thời. Này thiện nam! Nếu có Bồ-tát tu định tuệ mà khởi lên phiền não thì phải biết lúc ấy chẳng nên tu xả, cần nên đọc tụng, ghi chép, giảng nói mười hai bộ loại kinh điển, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thiện, niệm Xả. Đó gọi là tu xả. Này thiện nam! Nếu có Bồ-tát tu tập ba pháp tướng như vậy thì do nhân duyên này mà được Niết-bàn vô tướng.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Không có mười tướng nên gọi Đại Niết-bàn là vô tướng, vậy do nhân duyên gì mà gọi là vô sinh, vô xuất, vô tác, nhà cửa, đất liền, quy y, yên ổn, diệt độ, Niết-bàn, tịch tĩnh, không có các bệnh khổ, không sở hữu?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Không có nhân duyên nên gọi là vô sinh. Do vô

vi nên gọi là vô xuất. Không tạo nghiệp nên gọi là vô tác. Chẳng vào năm kiến nên gọi là nhà cửa. Lìa khỏi bốn dòng nước dữ nên gọi là đất liền. Điều phục chúng sinh nên gọi là quy y. Phá hoại giặc kiết sử nên gọi là yên ổn. Các lửa kiết diệt nên gọi là diệt độ. Lìa khỏi giác quán nên gọi là Niết-bàn. Xa nơi rối loạn ồn ào nên gọi là tịch tĩnh. Đoạn vĩnh viễn việc phải chết nên gọi là không có các bệnh khổ. Tất cả không nên gọi là không sở hữu. Này thiện nam! Nếu Đại Bồ-tát khi khởi sự quan sát này liền được thấy rõ Phật tánh.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Đại Bồ-tát thành tựu bao nhiêu pháp thì có thể thấy được Niết-bàn vô tướng cho đến không sở hữu như vậy?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Đại Bồ-tát thành tựu mười pháp thì có thể thấy rõ Niết-bàn vô tướng cho đến không sở hữu. Những gì là mười?

Một là lòng tin đầy đủ. Sao gọi là lòng tin đầy đủ? Tin sâu xa Phật, Pháp, Tăng là thường, chư Phật mười phương phương tiện thị hiện, tất cả chúng sinh và Nhất-xiển-đề đều có Phật tánh. Chẳng tin: Như Lai sinh, già, bệnh, chết và tu khổ hạnh, Đề-bà-đạt-đa đúng là người phá Tăng, làm chảy máu thân Phật, Như Lai rốt ráo vào Niếtbàn, chánh pháp diệt tận. Đó gọi là Bồ-tát đầy đủ tín tâm.

Hai là đầy đủ giới thanh tịnh. Sao gọi là đầy đủ giới thanh tịnh? Này thiện nam! Nếu có Bồ-tát tự nói là trì giới thanh tịnh, tuy chẳng cùng người nữ kia giao hợp nhưng khi gặp người nữ thì cùng nói cười đùa giỡn thì Bồ-tát như vậy là tạo nên pháp dục, hủy phá tịnh giới, ô nhục phạm hạnh khiến cho giới nhiễm ô, chẳng được gọi là đầy đủ giới thanh tịnh. Lại có Bồ-tát tự nói là trì giới thanh tịnh, tuy chẳng cùng người nữ kia giao hợp, nói cười đùa giỡn, nhưng ở ngoài tường vách, vẫn nghe đủ những tiếng va chạm của chuỗi ngọc, vòng xuyến của người nữ mà lòng sinh ái nhiễm thì Bồ-tát như vậy là tạo nên pháp dục, hủy phá tịnh giới, ô nhục phạm hạnh khiến cho giới nhiễm ô, chẳng được gọi là đầy đủ giới thanh tịnh. Lại có Bồ-tát tự nói là trì giới thanh tịnh, tuy lại chẳng cùng với nữ nhân giao hợp, nói cười đùa giỡn và nghe âm thanh đồ trang sức ấy, nhưng khi thấy người con trai theo đuổi người con gái hay khi thấy người con gái theo đuổi người con trai liền sinh ra tham đắm thì Bồ-tát như vậy là tạo nên pháp dục, hủy phá giới thanh tịnh, ô nhục phạm hạnh khiến cho giới bị ô nhiễm, chẳng được gọi là đầy đủ giới thanh tịnh. Lại có Bồ-tát tự nói là trì giới thanh tịnh, tuy lại chẳng cùng nữ nhân giao hợp, nói cười đùa giỡn và nghe âm thanh đồ trang sức, thấy nam nữ theo nhau mà không đắm nhiễm, nhưng vì muốn sinh lên trời hưởng thụ niềm vui năm dục thì Bồ-tát như vậy là tạo nên pháp dục, hủy phá giới thanh tịnh, ô nhục phạm hạnh khiến cho giới bị ô nhiễm, chẳng được gọi là đầy đủ giới thanh tịnh. Này thiện nam! Nếu có Bồ-tát trì giới thanh tịnh mà chẳng vì giới, chẳng vì Giới Ba-la-mật, chẳng vì chúng sinh, chẳng vì lợi dưỡng, chẳng vì Bồ-đề, chẳng vì Niết-bàn, chẳng vì Thanh văn, Phật-bích-chi mà chỉ vì tối thượng đệ nhất nghĩa nên hộ trì giới cấm thì Này thiện nam! Đó gọi là Bồ-tát đầy đủ giới thanh tịnh.

Ba là thân cận các thiện tri thức. Thiện tri thức là, nếu có người có thể nói về tín, giới, đa văn, bố thí, trí tuệ khiến cho người thọ nhận, tu hành thì đó gọi là Bồ-tát thiện tri thức.

Bốn là ưa thích tịch tĩnh. Tịch tĩnh là thân tâm tịch tĩnh. Quan sát pháp giới sâu xa của các pháp thì đó gọi là tịch tĩnh.

Năm là tinh tấn. Tinh tấn là hết lòng quan sát bốn Thánh đế, giả sử lửa cháy trên đầu cũng nhất định chẳng buông bỏ. Đó gọi là tinh tấn.

Sáu là niệm đầy đủ. Niệm đầy đủ là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thiên, niệm Xả. Đó gọi là niệm đầy đủ.

Bảy là lời nói dịu dàng. Lời nói dịu dàng là lời nói chân thật, lời nói tốt đẹp, lời nói có ý thăm hỏi, lời nói chân chánh. Đó gọi là lời nói dịu dàng.

Tám là hộ pháp. Hộ pháp là sự yêu thích chánh pháp, thường ưa diễn nói, đọc tụng, ghi chép, suy nghĩ về ý nghĩa của pháp ấy, tuyên dương phô bày rộng rãi khiến cho pháp ấy được lưu hành. Nếu thấy có người ghi chép, đọc tụng, khen ngợi, suy nghĩ về kinh ấy mà có nhu cầu về vật dụng cho đời sống thì cúng dường cho họ những thứ như là y phục, thức ăn, thức uống, đồ nằm, y dược, vì hộ pháp nên chẳng tiếc thân mạng. Đó gọi là hộ pháp.

Chín là Đại Bồ-tát thấy có người đồng học, người đồng giới có sự thiếu thốn thì đi theo người khác xin bát nung, áo nhuộm, thuốc men, y phục, thức ăn, thức uống, đồ nằm, phòng nhà, những thứ cần dùng mà cung cấp cho họ.

Mười là đầy đủ trí tuệ. Trí tuệ là sự quan sát Như Lai thường, lạc, ngã, tịnh, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, quan sát được hai tướng của pháp như là không hay chẳng không, thường hay vô thường, lạc hay vô lạc, ngã hay vô ngã, tịnh hay bất tịnh, pháp khác có thể đoạn, pháp khác chẳng thể đoạn, pháp khác từ duyên sinh, pháp khác từ duyên thấy, pháp khác từ duyên quả, pháp khác chẳng phải từ duyên quả. Đó gọi là đầy đủ trí tuệ. Này thiện nam! Đó gọi là Bồ-tát đầy đủ mười pháp, liền có thể thấy rõ Niết-bàn vô tướng.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Như Phật trước đã bảo Thuần-đà, ông nay đã được thấy Phật tánh, được Đại Niết-bàn, thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì nghĩa này như thế nào? Thưa Thế Tôn! Như trong kinh nói, nếu bố thí cho súc sinh thì được phước báo gấp trăm lần. Bố thí cho Nhất-xiển-đề được phước báo gấp ngàn lần. Bố thí cho người trì giới thì phước báo gấp trăm ngàn lần. Nếu bố thí cho kẻ ngoại đạo đoạn trừ phiền não thì được phước báo không lường. Bố thí cho bốn bậc đạo hướng và cả bốn quả đến Phật-bích-chi được phước báo không lường. Bố thí cho hàng Bồ-tát bất thoái và các Đại Bồ-tát tối hậu thân, Như Lai Thế Tôn thì được phước báo vô lượng vô biên, chẳng thể xưng kể, chẳng thể nghĩ bàn. Đại sĩ Thuần-đà nếu thọ phước báo vô lượng như vậy mà phước báo đó vô tận thì khi nào ông sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác? Bạch Thế Tôn! Trong kinh lại nói, nếu người trọng tâm tạo nghiệp thiện hoặc ác thì nhất định thọ quả báo, hoặc đời nầy thọ, hoặc đời kế thọ, hoặc đời sau thọ. Ông Thuần-đà trọng tâm tạo tác nghiệp thiện thì phải biết nghiệp này nhất định thọ báo. Nếu nhất định thọ báo thì làm sao thành tựu được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác? Làm sao lại thấy được Phật tánh? Thưa Thế Tôn! Trong kinh lại nói, bố thí ba hạng người được quả báo vô tận, một là người bệnh, hai là cha mẹ, ba là Như Lai. Thưa Thế Tôn! Trong kinh lại nói, Phật bảo Tôn giả A-nan là tất cả chúng sinh nếu như họ không có nghiệp nơi cõi Dục thì liền được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nghiệp cõi Sắc và cõi Vô sắc cũng như vậy. Bạch Thế Tôn! Như câu kệ pháp nói:

Chẳng phải trong không dưới biển

Chẳng phải vào trong núi đá

Không có ở địa phương nào

Mà thoát khỏi chẳng thọ nghiệp.

Lại, ông A-ni-lâu-đà nói: “Bạch Thế Tôn! Con nhớ thuở xưa nhờ thí một bữa ăn mà trong tám vạn kiếp chẳng rơi vào ba đường ác. Thưa Thế Tôn! Bố thí một bữa ăn còn được quả báo như thế, huống gì là Thuần-đà tín tâm cúng dường Đức Phật, thành tựu đầy đủ Thí Ba-lamật? Bạch Thế Tôn! Nếu quả báo thiện chẳng thể tận thì bài báng kinh Phương Đẳng, phạm tội ngũ nghịch, hủy phạm bốn trọng cấm, tội Nhất-xiển-đề làm sao có thể tận? Nếu không thể tận thì làm sao có thể thấy được Phật tánh, thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác?”.

Đức Phật dạy:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Chỉ có hai hạng người được vô lượng vô biên công đức chẳng thể xưng kể, chẳng thể tuyên nói, có thể làm cạn kiệt dòng sông cuồng bạo sinh tử, hàng phục ma oán địch, xô ngã cờ ma, có thể chuyển pháp luân vô thượng của Như Lai: Một là người giỏi hỏi, hai là người giỏi trả lời. Này thiện nam! Trong mười lực của Đức Phật thì nghiệp lực là sâu nhất. Này thiện nam! Có các chúng sinh đối với nghiệp duyên, lòng khinh dễ chẳng tin, vì hóa độ họ nên Ta nói lời như vậy. Này thiện nam! Tất cả nghiệp tạo tác có khinh, có trọng. Hai nghiệp trọng và khinh lại đều có hai, một là quyết định, hai là chẳng quyết định. Này thiện nam! Hoặc có người nói nghiệp ác không có quả. Hoặc có người nói, nghiệp ác nhất định có quả. Vậy thì sao Chiên-đà-la khí hư mà được sinh lên trời và Ươngquật-ma-la được quả giải thoát? Do nghĩa này nên phải biết là, tạo tác nghiệp có định thì được quả, chẳng định cũng được quả. Ta vì đoạn trừ tà kiến như vậy nên ở trong kinh nói lời như vậy, tất cả mọi tác nghiệp đều có quả báo. Này thiện nam! Hoặc có nghiệp nặng có thể được làm thành nhẹ. Hoặc có nghiệp nhẹ có thể được làm thành nặng. Chẳng phải tất cả mọi người chỉ có ngu và trí. Vậy phải biết là chẳng phải tất cả nghiệp đều nhất định có quả báo. Tuy nhiên chẳng nhất định có quả nhưng chẳng phải chẳng có. Này thiện nam! Tất cả chúng sinh phàm có hai hạng, một là người trí, hai là người ngu. Người có trí do lực của trí tuệ nên có thể khiến cho nghiệp rất nặng ở địa ngục ở hiện thế thọ nhẹ. Người ngu si làm cho nghiệp nhẹ hiện thế phải thọ nặng ở địa ngục.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Nếu như vậy thì chẳng nên cầu phạm hạnh thanh tịnh và quả giải thoát?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Nếu tất cả nghiệp nhất định có quả thì chẳng nên cầu phạm hạnh giải thoát. Do chẳng định thì tu phạm hạnh và quả giải thoát. Này thiện nam! Nếu có thể xa lìa tất cả nghiệp ác thì được quả thiện. Nếu xa nghiệp thiện thì bị quả ác. Nếu tất cả nghiệp nhất định có quả thì chẳng nên cầu tu tập Thánh đạo. Nếu chẳng tu Thánh đạo thì không giải thoát. Tất cả Thánh nhân sở dĩ tu đạo là vì hoại nghiệp định, được quả báo nhẹ, nghiệp bất định không quả báo. Nếu tất cả nghiệp định được báo thì chẳng nên cầu tu tập Thánh đạo. Nếu người xa lìa tu tập Thánh đạo được giải thoát thì đó là điều không có. Chẳng được giải thoát mà được Niết-bàn thì cũng không có điều đó. Này thiện nam! Nếu tất cả nghiệp nhất định có quả thì việc làm cả đời thuần là nghiệp thiện, đáng lẽ vĩnh viễn phải thọ an lạc. Cả đời tạo nghiệp ác rất nặng đáng lẽ cũng phải vĩnh viễn thọ khổ não lớn. Nghiệp quả nếu vậy thì không tu đạo giải thoát Niết-bàn. Người làm người thọ, Bà-la-môn làm Bà-la-môn thọ. Nếu như vậy thì chẳng nên có dòng họ hạ đẳng. Nếu hạ đẳng có thì nên luôn là người hạ đẳng. Bàla-môn nên luôn là Bà-la-môn, lúc nhỏ tạo nghiệp nên lúc nhỏ chịu quả báo, chẳng đến lúc trung niên, lúc già mới chịu quả báo. Lúc già tạo tác nghiệp ác, sinh vào trong địa ngục thì thân đầu tiên ở địa ngục, chẳng nên thọ báo liền mà nên đợi khi già rồi sau đó mới thọ. Nếu khi già chẳng giết hại thì chẳng nên lúc tráng niên được sống lâu. Nếu không sống được thời trẻ thì làm sao đến già để nghiệp không mất? Nếu nghiệp không mất thì làm sao mà tu đạo Niết-bàn? Này thiện nam! Nghiệp có hai thứ: định và bất định. Nghiệp định có hai, một là báo định, hai là thời định. Hoặc có báo định mà thời chẳng định, duyên hòa hợp thì thọ. Hoặc ba thời thọ đó là hiện thọ, sinh thọ và hậu thọ.

Này thiện nam! Nếu định tâm tạo nghiệp thiện, ác v.v… tạo tác rồi sinh lòng tin sâu sắc vui mừng và nếu phát lên thệ nguyện cúng dường Tam bảo thì đó gọi là nghiệp định. Này thiện nam! Người trí thì thiện căn sâu bền khó chuyển động. Vậy nên họ có thể khiến cho nghiệp nặng thành nhẹ. Kẻ ngu si thì căn bất thiện sâu dày nên có thể khiến cho nghiệp nhẹ trở thành quả báo nặng. Do nghĩa này nên tất cả các nghiệp chẳng gọi là quyết định. Đại Bồ-tát không có nghiệp địa ngục nhưng vì chúng sinh nên phát đại thệ nguyện sinh vào trong địa ngục.

Này thiện nam! Thuở xưa, lúc chúng sinh sống lâu trăm tuổi thì hằng hà sa số chúng sinh thọ quả báo địa ngục. Ta thấy thế rồi liền phát đại thệ nguyện, thọ thân địa ngục. Bồ-tát bấy giờ thật không có nghiệp đó, vì chúng sinh nên thọ quả địa ngục. Lúc ấy Ta ở trong địa ngục trải qua vô lượng năm, vì các tội nhân rộng mở, phân biệt Mười hai bộ loại kinh điển. Mọi người nghe rồi, hủy hoại quả báo ác khiến cho địa ngục trống không, trừ bọn Nhất-xiển-đề. Đó gọi là Đại Bồ-tát chẳng phải hiện thọ, sinh thọ, hậu thọ nghiệp ác này. Lại nữa, này thiện nam! Trong Hiền kiếp này, có vô lượng chúng sinh rơi vào trong loài súc sinh thọ quả báo của nghiệp ác. Ta thấy thế rồi lại phát thệ nguyện, vì muốn nói pháp độ chúng sinh, hoặc làm thân hươu nai, gấu, bồ câu, vượn, rồng, rắn, chim cánh vàng, cá, rùa, chồn, thỏ, bò, ngựa. Này thiện nam! Đại Bồ-tát thật không có nghiệp ác súc sinh như vậy nhưng do lực đại nguyện, vì chúng sinh nên thị hiện thọ những thân này. Đó gọi là đại Bồ chẳng phải hiện thọ, sinh thọ, hậu thọ nghiệp ác này. Lại nữa, này thiện nam! Trong Hiền kiếp này, lại có vô lượng vô biên chúng sinh trong loài ngạ quỷ, hoặc ăn nuốt, ói ra, mỡ, thịt, máu mủ, đồ đại tiểu tiện, mũi dãi v.v… sống lâu không lường, hàng trăm ngàn vạn năm mà chưa từng nghe đến danh từ nước uống, huống lại là tận mắt nhìn thấy và được uống. Giả sử từ xa thấy nước, sinh tâm đi đến thì đến nơi nước biến thành lửa mạnh và mủ máu. Hoặc khi chẳng biến đổi thì có nhiều người tay cầm mâu, kích ngăn giữ, tóm bắt khiến cho chúng chẳng đi tới trước được. Hoặc khi trời tuôn mưa thì nước mưa đến thân chúng hóa thành lửa. Đó gọi là quả báo của nghiệp ác. Này thiện nam! Đại Bồ-tát thật không có các quả báo của nghiệp ác như vậy, nhưng vì giáo hóa chúng sinh khiến cho họ được giải thoát nên phát thệ nguyện thọ thân như vậy. Đó gọi là đại Bồ chẳng phải hiện thọ, sinh thọ, hậu thọ nghiệp ác này. Lại nữa, này thiện nam! Ta ở Hiền kiếp, sinh vào nhà giết mổ, nuôi chứa gà, heo, bò, dê, làm người săn bắn, làm ngư phủ đánh cá, sinh vào nhà Chiên-đà-la làm giặc, trộm cướp v.v… Bồ-tát thật không làm những nghiệp ác như vậy, nhưng vì độ chúng sinh khiến cho họ được giải thoát, dùng lực đại nguyện mà thọ thân như vậy. Đó gọi là đại Bồ-tát chẳng phải hiện thọ, sinh thọ, hậu thọ nghiệp ác này. Lại nữa, này thiện nam! Trong Hiền kiếp này, Ta lại sinh ra ở vùng biên địa, tạo tác nhiều tham dục, sân hận, ngu si, quen làm việc phi pháp, chẳng tin Tam bảo, quả báo đời sau, chẳng cung kính cha mẹ, người già, kỳ cựu, trưởng túc v.v… Này thiện nam! Bồ-tát, lúc ấy thật không có những nghiệp này, nhưng vì khiến cho chúng sinh được giải thoát nên dùng lực đại nguyện mà sinh ra trong chỗ ấy. Đó gọi là đại Bồ-tát chẳng phải hiện thọ, sinh thọ, hậu thọ nghiệp ác này. Lại nữa, này thiện nam! Trong Hiền kiếp này, Ta lại thọ thân nữ, thân ác, thân tham, thân si, thân ganh ghét, thân keo kiệt, thân huyễn hóa, thân lừa dối, thân trói buộc v.v… Này thiện nam! Lúc ấy Bồ-tát cũng không có những nghiệp này mà chỉ vì làm cho chúng sinh được giải thoát nên dùng lực đại nguyện để sinh ra những thân ấy. Đó gọi là Đại Bồ-tát chẳng phải hiện thọ, sinh thọ, hậu thọ nghiệp ác này. Lại nữa, này thiện nam! Ở Hiền kiếp ta thọ thân huỳnh môn, không căn, hai căn và căn chẳng định. Này thiện nam! Đại Bồ-tát thật không có các nghiệp thân ác như vậy, nhưng vì khiến cho chúng sinh được giải thoát nên dùng lực đại nguyện mà sinh trong thân ấy. Đó gọi là đại Bồ-tát chẳng phải hiện thọ, sinh thọ, hậu thọ nghiệp ác này. Lại nữa, này thiện nam! Ở Hiền kiếp, Ta lại tu tập pháp của ngoại đạo Nikiền-tử, tín thọ pháp ấy: không bố thí, không cúng tế, không quả báo bố thí cúng tế, không nghiệp thiện ác, không quả báo thiện ác, không đời hiện tại và vị lai, không đây không đó, không có Thánh nhân, không thân biến hóa, không đạo Niết-bàn v.v… Này thiện nam! Bồ-tát thật không có những nghiệp ác như vậy, chỉ vì khiến cho chúng sinh được giải thoát nên dùng lực đại nguyện để thọ những pháp tà này. Đó gọi là đại Bồ-tát chẳng phải hiện thọ, sinh thọ, hậu thọ nghiệp ác này.

Này thiện nam! Ta nhớ thuở xưa, cùng với Đề-bà-đạt-đa đều làm thương chủ, mỗi người đều có năm trăm người theo buôn bán, vì tài lợi nên đi vào trong biển tìm châu báu. Do nghiệp duyên ác nên trên đường đi gặp phải gió dữ phá tan thuyền bè, bạn buôn chết hết. Bấy giờ, Ta cùng với Đề-bà-đạt-đa nhờ quả báo chẳng giết hại nên sống lâu, được gió thổi đưa đến đất liền. Khi ấy, Đề-bà-đạt-đa tham tiếc của báu, sinh ưu khổ lớn, lên tiếng gào khóc. Ta nói: “Này Đề-bà-đạt-đa! Chẳng nên gào khóc!”. Đề-bà-đạt-đa liền nói với Ta: “Hãy lắng nghe! Lắng nghe! Ví như có người nghèo cùng khốn khổ đi đến vùng nghĩa địa, tay nắm lấy thây chết mà nói lời này: “Xin ngươi hôm nay cho ta niềm vui của sự chết thì ta sẽ cho ngươi mạng sống bần cùng”. Bấy giờ thây chết liền ngồi dậy nói với người nghèo: “Này thiện nam! Mạng sống bần cùng ngươi hãy tự nhận lấy đi. Ta nay rất thích niềm vui của sự chết như vậy, thật chẳng thích đời sống nghèo cùng như ngươi”. Còn tôi hôm nay đã không có niềm vui của sự chết lại kiêm thêm bần cùng thì làm sao mà chẳng gào khóc được?”. Ta lại an ủi dỗ dành: “Ngươi chớ buồn, nay tôi có hai viên ngọc giá trị vô số sẽ chia cho ông một viên”. Ta liền chia cho Đề-bà-đạt-đa và nói với ông ta: “Người còn mạng sống thì có thể có được báu này. Như những người không còn mạng sống thì ai có thể có được?”. Khi ấy Ta mệt mỏi lắm, đi đến dưới một cây nằm ngủ. Lòng tham của Đề-bà-đạt-đa bùng phát, vì viên ngọc còn lại liền sinh tâm ác, đâm mù mắt Ta, cướp đoạt viên ngọc. Lúc này Ta đau đớn phát ra tiếng rên, có một người con gái đi đến chỗ Ta và hỏi: “Ông vì sao mà rên rỉ như vậy?”. Ta liền đem việc của mình nói cho người con gái ấy. Người con gái nghe rồi lại hỏi Ta: “Ông tên là gì?”. Ta liền đáp: “Tên là Thật Ngữ!”. Người con gái nói: “Làm sao biết ông là Thật Ngữ?”. Ta liền lập lời thề: “Nếu Ta nay đối với Đề-bà-đạt-đa có tâm ác thì mắt Ta vĩnh viễn bị mù lòa như vậy. Như tâm ác ấy không có thì mắt được sáng trở lại”. Ta nói rồi thì mắt ấy bình phục như cũ. Này thiện nam! Đó gọi là Đại Bồ-tát nói quả báo đời hiện tại. Này thiện nam! Ta nhớ, thuở xưa, sinh vào nhà Bà-la-môn tại thành Phú-đan-na ở Nam Thiên Trúc. Lúc đó có vị vua tên là Ca-laphú. Tánh vua bạo ác, kiêu mạn, tự đại, tuổi trẻ, tham đắm năm dục. Lúc ấy Ta vì độ chúng sinh, ở bên ngoài thành đó mà yên lặng thiền tư. Bấy giờ, vào vào mùa xuân cây cối trổ hoa, vị vua đó cùng với quyến thuộc, cung nhân, thể nữ ra khỏi thành du ngoạn, ở dưới rừng cây, vui hưởng năm dục. Các thể nữ bỏ vua đi chơi, đến chỗ của Ta. Ta vì muốn họ đoạn trừ tham dục nên đã nói pháp cho họ. Khi ấy, vị vua tìm đến thấy Ta tức thời sinh tâm ác hỏi Ta: “Ông nay đã đắc quả A-la-hán rồi chăng?”. Ta nói: “Chẳng được!”. Vua lại nói: “Đạt được quả Bất hoàn rồi chăng?”. Ta nói: “Chẳng được!”. Vua lại nói: “Ông nay nếu chưa được hai quả này tức là còn đầy đủ tham dục phiền não thì sao buông tâm ngắm nhìn thể nữ của ta?”. Ta liền đáp: “Thưa đại vương! Đại vương phải biết, tôi nay tuy chưa đoạn tham dục nhưng nội tâm của tôi thật không tham đắm”. Vua nói: “Người ngu si kia! Trên đời có các tiên nhân uống hơi, ăn trái mà thấy sắc còn tham, huống gì là ông tuổi trẻ, chưa đoạn dứt tham dục thì làm sao thấy sắc mà chẳng tham đắm?”. Ta nói: “Thưa đại vương! Thấy sắc chẳng tham đắm thật ra chẳng nhờ vào việc uống hơi, ăn trái mà đều do buộc tâm vào vô thường, bất tịnh”. Vị vua nói: “Nếu có tâm khinh chê người khác mà sinh ra bài báng thì làm sao được gọi là tu trì tịnh giới?”. Ta nói: “Thưa đại vương! Nếu có lòng ganh ghét thì có bài báng. Tôi không có lòng ganh ghét thì làm sao nói bài báng?”. Vị vua nói: “Này Đại đức! Sao gọi là giới?”. “Thưa đại vương! Nhẫn gọi là giới”. Vua nói: “Nếu nhẫn là giới thì ta sẽ cắt tai của ông. Nếu ông có thể nhẫn thì biết là ông trì giới”. Vua liền cắt tai của Ta. Ta bị cắt tai mà nhan sắc chẳng biến đổi. Quần thần của vua thấy việc này rồi, liền can vua: “Vị Đại sĩ như vậy chẳng nên hại”. Vua bảo các bề tôi: “Các khanh làm sao biết là Đại sĩ?”. Các bề tôi đáp: “Thấy người này khi thọ khổ mà sắc mặt chẳng biến đổi”. Vua lại nói: “Ta sẽ lại thử thách để biết có biến đổi hay không biến đổi”. Vua liền cho cắt mũi Ta, chặt tay chân Ta. Bấy giờ Bồ-tát vì đã ở trong vô lượng vô biên đời, tu tập từ bi thương xót chúng sinh khổ nên không sân giận. Khi đó, Tứ thiên vương nổi giận, mưa xuống cát, sỏi, đá. Vua thấy thế rồi, lòng rất kinh sợ, lại đến chỗ của Ta quỳ dài nói: “Cúi xin Ngài thương xót cho tôi sám hối”. Ta nói: “Thưa đại vương! Lòng Ta không sân cũng như không tham”. Vua nói: “Thưa Đại đức! Làm sao biết được lòng Ngài không sân hận?”. Ta liền lập thệ nguyện: “Ta nếu chân thật không sân hận thì khiến cho thân này của Ta bình phục như cũ”. Phát nguyện xong, thân Ta liền bình phục. Đó gọi là Đại Bồ-tát nói hiện thế báo.

Này thiện nam! Sinh báo, hậu báo của nghiệp thiện và nghiệp bất thiện cũng như vậy. Khi Đại Bồ-tát đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì tất cả các nghiệp đều được hiện báo. Nghiệp ác bất thiện bị hiện báo như vị vua làm ác bị trời tuôn mưa dữ, cũng như có người chỉ cho thợ săn chỗ của gấu và nai sắc báu thì tay hắn bị rơi rụng. Đó gọi là quả báo hiện thọ của nghiệp ác. Sinh báo thì như Nhấtxiển-đề, phạm bốn trọng cấm và tội ngũ nghịch. Hậu báo thì như người trì giới phát thệ nguyện sâu sắc: “Nguyện đời vị lai luôn được giới thân thanh tịnh như vậy. Nếu có chúng sinh lúc thọ trăm năm, lúc thọ tám mươi năm thì nguyện ở trong họ làm Chuyển luân Thánh vương để giáo hóa chúng sinh.

Này thiện nam! Nếu nghiệp nhất định thọ quả báo hiện thế thì chẳng thể thọ sinh báo và hậu báo. Đại Bồ-tát tu nghiệp của ba mươi hai tướng đại nhân thì chẳng thể thọ báo hiện thế. Nếu nghiệp chẳng thọ ba thứ báo thì chẳng tu tập được phạm hạnh, giải thoát, Niết-bàn. Ông phải biết người này chẳng phải đệ tử của Ta, chính là quyến thuộc của ma. Nếu nói các nghiệp có định và bất định, định thì hiện báo, sinh báo, hậu báo, bất định thì duyên hòa hợp thì thọ, chẳng hòa hợp thì chẳng thọ, do nghĩa này nên có phạm hạnh, giải thoát, Niết-bàn, thì ông phải biết người này là đệ tử chân chính của Ta, chẳng phải quyến thuộc của ma. Này thiện nam! Tất cả chúng sinh, nghiệp bất định thì nhiều, nghiệp định thì ít. Do nghĩa này nên có sự tu tập đạo. Có tu tập đạo nên nghiệp nặng quyết định có thể khiến cho thọ báo nhẹ, nghiệp bất định chẳng phải thọ sinh báo.

Này thiện nam! Có hai hạng người: Một là quả báo bất định tạo thành quả báo nhất định, hiện báo tạo thành sinh báo, quả báo nhẹ tạo thành quả báo nặng, đáng nên thọ báo trong loài người thì thọ tại địa ngục. Hai là quả báo nhất định tạo thành bất định, sinh thọ thì trở lại là hiện thọ, quả báo nặng tạo thành quả báo nhẹ, đáng lẽ thọ báo tại địa ngục thì thọ báo nhẹ trong loài người. Hai hạng người như vậy, một là ngu, hai là trí. Người trí thì làm cho nhẹ báo đi, người ngu thì khiến cho báo nặng thêm. Này thiện nam! Ví như hai người có tội đối với vua. Người quyến thuộc nhiều thì tội sẽ nhẹ, kẻ quyến thuộc ít thì tội đáng nhẹ lại thành nặng. Kẻ ngu, người trí cũng như vậy. Người trí nghiệp thiện nhiều nên nghiệp nặng thì thọ báo nhẹ. Kẻ ngu nghiệp thiện ít nên nghiệp nhẹ thì thọ báo nặng. Này thiện nam! Ví như hai người, một người thì mập mạnh, một người thì gầy yếu. Họ đều chìm vào bùn sâu thì người mập mạnh có thể ra khỏi, còn người gầy yếu thì chìm mất. Này thiện nam! Ví như hai người đều uống phải thuốc độc mà một người có chú lực và thuốc A-dà-đà, một người thì không có. Người có chú và thuốc thì độc chẳng thể làm thương tổn. Người không có chú và thuốc thì khi uống liền chết. Này thiện nam! Ví như hai người đều uống nhiều nước mà một người hỏa thế thịnh, một người yếu ớt. Người hỏa thế nhiều thì có thể tiêu hóa, người hỏa thế yếu thì bị bệnh hoạn. Này thiện nam! Ví như hai người bị vua trói, một người có trí tuệ, một người ngu si. Người có trí thì có thể giải thoát, người ngu si thì không hạn kỳ thoát khỏi. Này thiện nam! Ví như hai người đều lặn lội trên con đường hiểm trở mà một người thì sáng mắt còn một người thì mù lòa. Người mắt sáng đi thẳng qua không có hoạn nạn, còn người mù lòa thì rơi xuống hầm sâu nguy hiểm. Này thiện nam! Ví như hai người đều cùng uống rượu mà một người uống được nhiều rượu, còn một người thì uống được ít rượu. Người uống được nhiều thì khi uống không hại gì, còn kẻ uống được ít thì khi uống thành bệnh hoạn. Này thiện nam! Ví như hai người ra trận đánh địch mà một người thì trang bị đầy đủ áo giáp, binh khí, còn một người thì thân trần không trang bị gì cả. Người có binh khí thì có thể phá tan oán địch, còn người thân trần thì chẳng thể tự tránh khỏi họa. Lại có hai người quần áo dính phân dơ bẩn mà một người biết liền giặt, một người biết nhưng chẳng giặt. Người giặt thì quần áo sạch sẽ, còn người chẳng giặt thì cấu bẩn mỗi ngày một thêm. Lại có hai người đều cùng đi bằng xe mà một người xe có trục có nan hoa, còn một người thì xe không trục không nan hoa. Người đi xe có trục có nan hoa thì theo ý mà đi, còn người đi xe không trục không nan hoa thì chẳng dời khỏi chỗ. Lại có hai người cùng đi trên con đường trống vắng mà một người có lương thực, còn một người thì đi không. Người có lương thực thì qua được hiểm nghèo, còn người đi không thì chẳng thể qua khỏi. Lại có hai người bị giặc cướp mà một người có kho báu còn một người thì không có kho báu. Người có kho báu lòng không lo buồn, còn người không có kho báu thì lòng sầu não. Kẻ ngu, người trí cũng như vậy, người có kho báu thiện thì nghiệp nặng được thọ báo nhẹ, người không có kho báu thiện thì nghiệp nhẹ phải thọ báo nặng.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Như lời Phật nói, chẳng phải tất cả nghiệp đều có quả báo nhất định, cũng chẳng phải tất cả chúng sinh đều nhất định thọ báo. Bạch Thế Tôn! Vì sao chúng sinh khiến cho quả báo nhẹ đời hiện tại phải thọ nặng ở địa ngục? Quả báo nặng ở địa ngục được thọ nhẹ ở đời hiện tại?

Đức Phật dạy:

–Tất cả chúng sinh thường có hai hạng, một là có trí, hai là ngu si. Nếu người có thể tu tập thân giới, tâm tuệ thì đó gọi là người trí. Nếu kẻ chẳng thể tu tập thân giới, tâm tuệ thì đó gọi là kẻ ngu si. Sao gọi là chẳng tu thân? Nếu chẳng thể thâu giữ năm tình, các căn thì gọi là chẳng tu thân, chẳng thể thọ trì bảy thứ tịnh giới thì gọi là chẳng tu giới, chẳng điều phục tâm thì gọi là chẳng tu tâm, chẳng tu Thánh hạnh thì gọi là chẳng tu tuệ. Lại nữa, chẳng tu thân là chẳng thể đầy đủ giới thể thanh tịnh. Chẳng tu giới là nhận chứa tám thứ vật bất tịnh. Chẳng tu tâm là chẳng thể tu tập ba thứ tướng. Chẳng tu tuệ là chẳng tu phạm hạnh. Lại nữa, chẳng tu thân là chẳng thể quan sát thân, chẳng thể quan sát sắc và quan sát tướng của sắc, chẳng quan sát tướng của thân, chẳng biết sở hữu của thân, chẳng biết thân này từ đây đến đó, đối với cái chẳng phải thân mà sinh tướng thân, đối với cái chẳng phải sắc mà khởi tướng sắc. Vậy nên tham đắm thân và sở hữu của thân. Đó gọi là chẳng tu thân. Chẳng tu giới là, nếu thọ giới bậc thấp thì chẳng gọi là tu giới. Thọ trì biên giới, giới tự lợi, giới tự điều, chẳng thể vì chúng sinh làm cho an lạc, chẳng phải là hộ trì chánh pháp vô thượng. Nếu vì sinh lên trời thọ niềm vui năm dục thì chẳng gọi là tu giới. Chẳng tu tâm là, nếu tâm tán loạn thì chẳng thể chuyên nhất giữ cảnh giới của mình. Cảnh giới của mình là bốn niệm xứ. Cảnh giới khác là năm dục. Nếu chẳng thể tu bốn niệm xứ thì gọi là chẳng tu tâm. Ở trong nghiệp ác mà chẳng khéo hộ trì tâm thì gọi là chẳng tu tuệ. Lại nữa, chẳng tu thân là chẳng thể quan sát sâu sắc thân này vô thường, vô trụ, dễ tan vỡ, từng niệm từng niệm hoại diệt, chính là cảnh giới của ma. Chẳng tu giới là chẳng thể đầy đủ Giới Ba-la-mật. Chẳng tu tâm là chẳng thể đầy đủ Thiền Ba-la-mật. Chẳng tu tuệ là chẳng thể đầy đủ Bát nhã Bala-mật. Lại nữa, chẳng tu thân thì tham đắm thân và sở hữu của thân, cho thân của mình là thường hằng không có biến dịch. Chẳng tu giới thì vì thân mình nên làm mười nghiệp ác. Chẳng tu tâm thì ở trong nghiệp ác chẳng thể thâu giữ tâm. Chẳng tu tuệ thì do chẳng thâu giữ tâm nên chẳng thể phân biệt pháp thiện, ác v.v… Lại nữa, chẳng tu thân thì chẳng cắt đứt ngã kiến. Chẳng tu giới thì chẳng cắt đứt được giới thủ. Chẳng tu tâm thì tạo nghiệp tham, sân hướng đến địa ngục. Chẳng tu tuệ thì chẳng cắt đứt tâm si. Lại nữa, chẳng tu thân thì chẳng thể quan sát thân tuy không tội lỗi mà luôn là oán. Này thiện nam! Ví như người con trai có kẻ oán luôn theo dò tìm sơ hở. Người trí hay biết đã hết lòng thận trọng giữ gìn, nếu chẳng thận trọng giữ gìn thì bị hại. Thân của tất cả chúng sinh cũng như vậy, thường do ăn uống, lạnh nóng nuôi dưỡng. Nếu chẳng nuôi dưỡng, giữ gìn thận trọng như vậy thì liền tan hoại. Này thiện nam! Như Bà-la-môn phụng sự thần lửa, thường dùng hương hoa khen ngợi, lễ bái, cúng dường, thừa sự v.v… suốt cả trăm năm. Nhưng nếu một khi chạm vào lửa thì liền cháy tay. Lửa này tuy được cúng dường như vậy nhưng nhất định không một ý niệm đền ơn người phụng sự. Thân của tất cả chúng sinh cũng như vậy, tuy trong nhiều năm, dùng hương hoa tốt, chuỗi ngọc, quần áo, thức ăn, thức uống, đồ nằm, thuốc men chữa bệnh v.v… mà cung cấp cho thân, nhưng nếu nó gặp phải những nhân duyên xấu ở trong hay ở ngoài tức thời diệt hoại, chẳng nhớ nghĩ đến cái ơn cung cấp y thực… ngày trước.

Này thiện nam! Ví như có vị vua nuôi bốn con rắn độc, nhốt chúng vào một cái hòm nhỏ, đem giao cho một người, lệnh cho trông nom nuôi dưỡng. Trong bốn con rắn này, giả sử một con sinh ra sân hận thì có thể hại người. Người này kinh sợ, luôn tìm thức uống tùy thời giữ hộ. Rắn độc bốn đại của tất cả chúng sinh cũng như vậy, nếu một đại nổi sân thì có thể hoại thân. Này thiện nam! Như người bệnh lâu cần phải hết lòng tìm thuốc trị liệu. Nếu chẳng gấp tìm cầu thì nhất định phải chết chẳng nghi ngờ gì. Thân của tất cả chúng sinh cũng như vậy, phải thường thâu giữ tâm chẳng để cho nó buông lung. Nếu buông lung thì liền bị hoại diệt. Này thiện nam! Ví như cái bình đất chẳng chịu đựng được gió, mưa, đánh, đập, xô đẩy, đè nén. Thân của tất cả chúng sinh cũng như vậy, chẳng chịu đựng được đói khát, lạnh, nóng, gió, mưa, đánh đập, trói buộc, mắng chửi v.v… Này thiện nam! Ví như mụt nhọt chưa muồi thì luôn phải khéo giữ gìn, chẳng cho người đụng vào. Giả sử có người đụng vào thì rất đau khổ. Thân của tất cả chúng sinh cũng như vậy. Này thiện nam! Như con la mang thai là tự hại thân của nó. Thân của tất cả chúng sinh cũng như vậy, bên trong có gió lạnh thì thân liền chịu khổ. Này thiện nam! Ví như cây chuối sinh ra quả thì khô. Thân của tất cả chúng sinh cũng như vậy. Này thiện nam! Cũng như cây chuối, bên trong không cứng, thân của tất cả chúng sinh cũng như vậy. Này thiện nam! Như rắn, chuột, chó sói mỗi mỗi đối với nhau luôn sinh lòng oán. Bốn đại của chúng sinh cũng như vậy. Này thiện nam! Ví như con ngỗng chúa chẳng ưa chỗ mồ mã. Bồ-tát cũng vậy, đối với thân mồ mã cũng chẳng tham ưa. Này thiện nam! Như Chiênđà-la bảy đời nối tiếp nhau chẳng bỏ nghiệp mình. Vậy nên họ bị người đời khinh rẻ. Chủng tử của thân này cũng như vậy, chủng tử tinh huyết rốt ráo bất tịnh. Do bất tịnh nên chư Phật, Bồ-tát chê trách. Này thiện nam! Thân này chẳng như núi Ma-la-gia sinh ra chiên-đàn, cũng chẳng thể sinh ra hoa Ưu-bát-la, hoa Phân-đà-lợi, hoa Chiêm-ba, hoa Ma-lợi-ca, hoa Bà-sư-ca mà cửu khiếu thường chảy ra mũ máu bất tịnh, chỗ sinh sống dơ bẩn, xấu xí đáng tởm, thường cùng với loài trùng ở chung một chỗ. Này thiện nam! Ví như thế gian tuy có vườn rừng thanh tịnh đẹp đẽ nhưng có thây chết trong đó thì thành bất tịnh, mọi người đều xả bỏ, chẳng sinh lòng tham đắm. Cõi Sắc cũng vậy, tuy thanh tịnh đẹp đẽ nhưng do có thân nên chư Phật, Bồ-tát đều xả bỏ. Này thiện nam! Nếu có người chẳng thể quan sát như vậy thì gọi là chẳng tu thân. Này thiện nam! Chẳng tu giới là, chẳng thể quan sát giới chính là thềm bậc của tất cả pháp thiện, cũng chính là căn bản của tất cả pháp thiện, như đất chính là chỗ sinh ra tất cả cây cối, chính các thiện căn là dẫn đầu pháp thiện, như vị thương chủ kia dẫn đường các thương nhân, giới chính là lá cờ chiến thắng của tất cả pháp thiện, như cờ chiến thắng mà trời Đế thích đã dựng. Giới có thể đoạn dứt vĩnh viễn tất cả nghiệp ác và ba đường ác, có thể trị liệu bệnh hiểm nghèo giống như cây thuốc, giới chính là lương thực để đi trên đường nguy hiểm sinh tử, giới chính là áo giáp, binh khí tiêu diệt giặc kiết sử, giới chính là thần chú hay diệt rắn độc kiết sử, giới chính là cây cầu để qua khỏi nghiệp ác. Nếu có người chẳng thể quan sát như vậy thì gọi là chẳng tu tịnh giới. Chẳng tu tâm là, chẳng thể quan sát sự chuyển động lăn xăn, khó nắm bắt, khó điều phục của tâm. Nó chạy rong như con voi hung dữ, từng niệm từng niệm qua nhanh như ánh chớp, xao động nhiễu loạn chẳng trụ giống như con vượn, như huyễn hóa, như ngọn lửa, chính là căn bản của các ác. Năm dục khó thỏa mãn như lửa gặp củi khô, cũng như biển cả nuốt lấy các dòng sông, như núi Mạn đà cỏ cây rậm rạp chẳng thể quan sát sinh tử hư vọng, đắm chìm mê hoặc dẫn đến hoạn nạn như cá cắn câu, thường đi trước dẫn đường các nghiệp đi theo giống như mẹ sò dẫn đường các con. Tham đắm năm dục chẳng ưa Niết-bàn, như lạc đà ăn mật cho đến chết chẳng đoái hoài để cỏ non, quá tham đắm vui hiện tại mà chẳng thấy lỗi lầm ngày sau như trâu ăn lúa chẳng sợ gây độc, giong ruổi cùng khắp hai mươi lăm cõi giống như gió mạnh thổi bông Đâu-la, điều chẳng nên cầu mà cầu không nhàm chán như người không trí mong lửa không nóng, thường ưa sinh tử chẳng thích giải thoát như con sâu Nhiệm-bà ưa cây Nhiệm-bà, mê hoặc tham đắm sinh tử hôi thối, giống như người tù trong ngục thích gái ngục tốt, cũng như heo trong chuồng ưa chỗ bất tịnh. Nếu có người chẳng thể quan sát như vậy thì gọi là chẳng tu tâm. Chẳng tu tuệ là, chẳng quan sát trí tuệ có thế lực lớn như con chim cánh vàng, có thể hủy hoại nghiệp ác, hủy hoại bóng tối vô minh giống như ánh sáng mặt trời, có thể nhổ cây như nước cuốn trôi vật, đốt cháy tà kiến giống như lửa mạnh. Tuệ chính là căn bản của tất cả pháp thiện, là chủng tử của Phật, Bồ-tát. Nếu có người chẳng thể quan sát như vậy thì gọi là chẳng tu tuệ. Này thiện nam! Trong đệ nhất nghĩa, nếu thấy thân, tướng của thân, nhân của thân, quả của thân, nhiều thân, một thân, hai thân, thân này, thân kia, sự diệt của thân, sự bình đẳng của thân, sự hành của thân, người tu, nếu có người thấy như vậy thì gọi là chẳng tu thân. Này thiện nam! Nếu thấy giới, tướng của giới, nhân của giới, quả của giới, giới bậc thượng, giới bậc hạ, nhiều giới, một giới, hai giới, giới này, giới kia, sự diệt của giới, sự bình đẳng của giới, tu giới và người tu giới Ba-la-mật, nếu có người thấy như vậy thì gọi là chẳng tu giới. Nếu thấy tâm, tướng của tâm, nhân của tâm, quả của tâm, nhiều tâm, tâm và tâm sở, một tâm, hai tâm, tâm này, tâm kia, sự diệt của tâm, sự bình đẳng của tâm, tu tâm, người tu, tâm thượng, trung, hạ, tâm thiện, tâm ác, nếu có người thấy như vậy thì gọi là chẳng tu tâm. Này thiện nam! Nếu thấy tuệ, tướng của tuệ, nhân của tuệ, quả của tuệ, nhiều tuệ, một tuệ, hai tuệ, tuệ này, tuệ kia, sự diệt của tuệ, sự bình đẳng của tuệ, tuệ thượng, trung, hạ, tuệ độn, tuệ lợi, tu tuệ, người tu, nếu có người thấy như vậy thì gọi là chẳng tu tuệ. Này thiện nam! Nếu có người chẳng tu thân, giới, tâm, tuệ thì người như vậy đối với nghiệp ác nhỏ bị quả báo ác lớn. Do kinh sợ nên họ thường nghĩ: “Ta thuộc địa ngục nên tạo tác hạnh địa ngục”. Tuy nghe người trí nói về khổ của địa ngục nhưng thường nghĩ: “Như sắt đánh vào sắt, đá lại đánh vào đá, cây tự đánh vào cây, con trùng lửa ưa lửa, thân địa ngục trở lại tương tự địa ngục có việc gì là khổ?”. Ví như con nhặng xanh bị dính nước dãi chẳng thể bay được. Người này cũng vậy, ở trong tội nhỏ chẳng thể tự ra, tâm không ăn năn, chẳng thể tu thiện, che giấu lỗi lầm. Tuy họ có tất cả nghiệp thiện trong quá khứ nhưng đều bị tội đó làm cấu bẩn nên quả báo nhẹ hiện thọ của người này chuyển thành quả ác cực nặng ở địa ngục. Này thiện nam! Như nước chứa trong đồ đựng nhỏ mà cho vào một đấu muối thì nước ấy rất mặn, khó có thể uống được. Nghiệp tội của người này cũng như vậy. Này thiện nam! Ví như có người nợ người khác một tiền mà chẳng thể trả nên thân bị trói buộc chịu nhiều khổ sở. Nghiệp tội của người này cũng như vậy.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Người này vì sao khiến cho quả báo nhẹ hiện tại trở thành quả báo ở địa ngục?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Tất cả chúng sinh nếu đủ năm việc thì khiến cho quả báo nhẹ hiện tại chuyển thành quả báo ở địa ngục. Những gì là năm? Một là ngu si, hai là thiện căn nhỏ ít, ba là nghiệp ác sâu nặng, bốn là chẳng sám hối, năm là chẳng tu nghiệp thiện căn bản. Lại có năm việc: Một là tu tập nghiệp ác, hai là không giới đức, ba là xa lìa các thiện căn, bốn là chẳng tu thân, giới, tâm, tuệ, năm là gần gũi ác tri thức. Này thiện nam! Do vậy nên có thể khiến cho quả báo nhẹ hiện tại chuyển thành quả báo nặng ở địa ngục.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Những người nào có thể chuyển được quả báo địa ngục thành quả báo nhẹ ở đời hiện tại?

–Này thiện nam! Nếu có người tu tập thân, giới, tâm, tuệ thì như trước đã nói, có thể quan sát các pháp đồng như hư không, chẳng thấy trí tuệ, chẳng thấy người trí, chẳng thấy ngu si, chẳng thấy người ngu, chẳng thấy tu tập và người tu tập. Đó gọi là người trí. Người như vậy thì có thể tu tập thân, giới, tâm, tuệ. Người này có thể khiến cho quả báo địa ngục thành quả báo nhẹ ở đời hiện tại. Người này giả sử tạo tác nghiệp ác rất nặng mà tư duy quan sát có thể khiến cho thành nhẹ. Họ nghĩ: Nghiệp của ta tuy nặng nhưng chẳng bằng nghiệp thiện. Ví như bông vải tuy đến hàng trăm cân nhưng nhất định chẳng thể địch nỗi một lượng vàng ròng, như ném một thăng muối vào sông Hằng thì nước vẫn không mặn, người uống chẳng hay biết, như kẻ giàu có lớn tuy nợ nhiều người đến hàng ngàn vạn vật báu, nhưng không thể trói buộc khiến cho ông ấy thọ khổ. Như con đại hương tượng có thể phá khóa sắt, tự tại mà đi, người trí tuệ cũng như vậy, thường tư duy: Sức thiện của ta nhiều, nghiệp ác yếu kém. Ta có thể phát lồ sám hối diệt trừ ác, có thể tu trí tuệ. Lực trí tuệ nhiều, lực vô minh ít. Nghĩ như vậy rồi, họ gần gũi bạn lành, tu tập chánh kiến, thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giảng nói Mười hai bộ loại kinh điển, thấy có người thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giảng nói thì cung kính, đem y thực, phòng xá, ngọa cụ, thuốc chữa bệnh, hương hoa để cúng dường, khen ngợi, tôn trọng người đó, đi đến chỗ nào cũng ca ngợi điều tốt của người đó, chẳng nói sở đoản, cúng dường Tam bảo, kính tín kinh Phương Đẳng Đại Niết-bàn, tin Như Lai thường hằng không có biến dịch, tin tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Người này có thể khiến cho quả báo nặng ở địa ngục trở thành quả báo nhẹ ở đời hiện tại. Này thiện nam! Do nghĩa này nên chẳng phải tất cả nghiệp đều có quả cố định, cũng chẳng phải tất cả chúng sinh đều thọ quả báo cố định.

***********

 

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Nếu tất cả nghiệp chẳng định được quả, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh mà cần phải tu tập tám Thánh đạo thì vì nhân duyên gì tất cả chúng sinh đều chẳng thể đắc Đại Bát Niết Bàn này? Thưa Thế Tôn! Nếu tất cả chúng sinh có Phật tánh thì nhất định đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cần gì tu tập Thánh đạo? Bạch Thế Tôn! Như trong kinh này nói, người có bệnh nếu được thuốc men và người chăm sóc tùy theo bệnh mà cho ăn uống, nhưng hoặc giả sử chẳng được như thế cũng đều có thể khỏi. Tất cả chúng sinh cũng như vậy, hoặc gặp Thanh văn, Phật-bích-chi, chư Phật, Bồ-tát và các thiện tri thức mà nghe nói pháp tu tập Thánh đạo, hoặc chẳng gặp, chẳng nghe, chẳng tu tập Thánh đạo đều thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì sao? Vì có Phật tánh. Bạch Thế Tôn! Ví như không gì có thể ngăn mặt trời, mặt trăng khiến cho chẳng đến được ven sườn núi Ngạch đa, nước bốn dòng sông lớn chẳng đến biển cả, Nhất-xiển-đề v.v… chẳng đến địa ngục. Tất cả chúng sinh cũng như vậy, không gì có thể ngăn khiến cho chẳng đến được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì sao? Vì có Phật tánh. Thưa Thế Tôn! Do nghĩa này nên tất cả chúng sinh chẳng cần tu Thánh đạo. Do lực của Phật tánh nên đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chứ chẳng do sức tu tập Thánh đạo. Bạch Thế Tôn! Nếu Nhất-xiển-đề, phạm bốn trọng cấm, tội ngũ nghịch v.v… chẳng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đáng lẽ cần phải tu tập, nhưng vì nhân Phật tánh nên nhất định sẽ đắc, chẳng phải nhân tu tập, sau đó mới đạt được. Thưa Thế Tôn! Ví như đá nam châm khử sắt, tuy ở xa nhưng do lực của đá ấy nên sắt bị cuốn hút theo.

Phật tánh của chúng sinh cũng như vậy. Vậy chẳng cần siêng tu tập Thánh đạo.

Đức Phật dạy:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Như bên bờ sông Hằng có bảy hạng người, hoặc vì tắm gội, hoặc sợ giặc cướp, hoặc vì hái hoa nên vào trong dòng sông ấy. Hạng người thứ nhất vào nước chìm mất. Vì sao? Vì yếu đuối không thế lực, chẳng tập bơi. Hạng người thứ hai tuy chìm nhưng trồi lên lại, trồi lên rồi lại chìm. Vì sao? Vì thân lực lớn nên có thể nổi lên nhưng chẳng tập bơi nên nổi lên rồi chìm lại. Hạng người thứ ba chìm rồi liền nổi, nổi lại chẳng chìm nữa. Vì sao? Vì thân nặng nên chìm nhưng có sức mạnh nên nổi và trước có tập bơi nên nổi lên rồi liền đứng vững. Hạng người thứ tư thì vào rồi liền chìm, chìm rồi lại nổi, nổi rồi liền đứng vững và quan sát khắp bốn phương. Vì sao? Vì nặng nên chìm, có sức mạnh nên nổi lên, do tập bơi nên đứng vững, chẳng biết chỗ lên nên quan sát bốn phương. Hạng người thứ năm thì vào rồi liền chìm, chìm rồi liền nổi lên lại, nổi lên liền đứng vững, đứng vững rồi quan sát bốn phương, quan sát rồi liền bơi đi. Vì sao? Vì lo sợ. Hạng người thứ sáu thì vào rồi liền bơi đến chỗ cạn rồi đứng lại. Vì sao? Vì để xem giặc gần hay xa. Hạng người thứ bảy thì đã đi đến bờ kia, leo lên ngọn núi lớn, không lo sợ nữa, lìa khỏi các giặc dữ, hưởng thọ hoan lạc lớn. Này thiện nam! Dòng sông lớn sinh tử cũng như vậy, có bảy hạng người sợ giặc phiền não nên phát khởi ý muốn qua khỏi dòng sông lớn sinh tử, xuất gia, cạo tóc, thân mặc pháp phục. Đã xuất gia rồi mà họ còn gần gũi bạn ác, nghe theo lời dạy của chúng, lãnh thọ tà pháp như cho là thân chúng sinh tức là năm ấm, năm ấm thì gọi là năm đại. Chúng sinh nếu chết là đoạn dứt vĩnh viễn năm đại. Đã đoạn dứt năm đại rồi thì cần gì tu tập các nghiệp thiện, ác? Vậy nên phải biết không có thiện, ác và quả báo thiện ác. Như vậy gọi là Nhất-xiển-đề. Nhất-xiển-đề gọi là đoạn thiện căn, mà đoạn thiện căn nên chìm vào dòng sông sinh tử chẳng thể ra được. Vì sao? Vì nghiệp ác nặng, không có tín lực giống như hạng người thứ nhất bên bờ sông Hằng. Này thiện nam! Hạng Nhất-xiển-đề có sáu nhân duyên chìm vào ba đường ác, chẳng thể ra được. Những gì là sáu? Một là tâm ác sục sôi, hai là chẳng thấy đời sau, ba là ưa tập phiền não, bốn là xa lìa thiện căn, năm là nghiệp ác ngăn cản, sáu là gần gũi ác tri thức.

Lại có năm việc chìm vào ba đường ác. Những gì là năm? Một là ở bên Tỳ-kheo làm việc phi pháp, hai là ở bên Tỳ-kheo-ni làm việc phi pháp, ba là tự tại sử dụng vật của tăng, bốn là ở bên mẹ làm việc phi pháp, năm là đối với năm bộ Tăng làm phát sinh thị phi với nhau.

Lại có năm việc chìm vào ba đường ác. Những gì là năm? Một là thường nói không quả báo thiện ác, hai là giết hại chúng sinh phát tâm Bồ-đề, ba là ưa nói lỗi lầm của pháp sư, bốn là pháp nói là phi pháp, phi pháp nói là pháp, năm là vì tìm lỗi của pháp nên nghe thọ.

Lại có ba việc chìm vào ba đường ác. Những gì là ba? Một là gọi Như Lai vô thường, diệt vĩnh viễn, hai là chánh pháp vô thường biến đổi, ba là Tăng bảo có thể hoại diệt. Vậy nên họ thường chìm vào trong ba đường ác. Người thứ hai phát ý muốn qua khỏi dòng sông lớn sinh tử mà đoạn thiện căn nên chìm đắm chẳng thể ra. Sở dĩ nói rằng ra là nói gần gũi bạn lành thì được tín tâm. Người tín tâm là người tin bố thí và quả báo của bố thí, tin điều thiện và quả báo của điều thiện, tin điều ác và quả báo của điều ác, tin sinh tử, khổ, vô thường, bại hoại. Đó gọi là tin. Đã được tín tâm, tu tập tịnh giới, thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giảng nói, thường làm việc bố thí, kheo tu trí tuệ nhưng do căn tánh chậm lụt nên lại gặp bạn ác, chẳng thể tu tập thân, giới, tâm, tuệ, lại nghe thọ tà pháp, hoặc gặp lúc ác, ở đất nước ác, đoạn dứt các căn lành, do đoạn căn lành nên thường chìm vào sinh tử như người thứ hai bên bờ sông Hằng. Người thứ ba phát ý muốn vượt qua dòng sông lớn sinh tử mà đoạn căn lành nên chìm đắm ở trong đó. Gần gũi bạn lành thì gọi là ra. Tin Như Lai chính là Nhất thiết trí thường hằng không biến đổi, vì chúng sinh nên nói đạo vô thượng, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, Như Lai chẳng phải diệt, Pháp, Tăng cũng vậy, không có hoại diệt, Nhất-xiển-đề chẳng đoạn pháp ác thì nhất định chẳng thể được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cần phải xa lìa thì sau đó mới được. Do tín tâm nên tu tập tịnh giới, tu tịnh giới rồi thì thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giảng nói mười hai bộ loại kinh điển, vì các chúng sinh tuyên dương lưu hành rộng rãi, ưa thích bố thí, tu tập trí tuệ. Do căn tánh lanh lợi nên trụ vững ở tín tuệ, tâm không thoái chuyển như người thứ ba ở bên bờ sông Hằng. Người thứ tư là người phát ý muốn vượt qua dòng sông lớn sinh tử nhưng đoạn thiện căn nên chìm đắm ở trong đó, nhờ gần gũi bạn lành nên được tín tâm, đó gọi là ra. Được tín tâm nên thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giảng nói mười hai bộ loại kinh điển, vì chúng sinh nên tuyên dương lưu hành rộng rãi, ưa làm bố thí, tu tập trí tuệ. Do căn tánh lanh lợi nên trụ vững ở tín tuệ, tâm không thoái chuyển, người này quan sát khắp bốn phương, bốn phương là bốn quả Sa-môn, như người thứ tư ở bên bờ sông Hằng. Người thứ năm là người phát ý muốn vượt qua dòng sông lớn sinh tử nhưng đoạn dứt thiện căn nên chìm đắm ở trong đó, nhờ gần gũi bạn lành nên được tín tâm, đó gọi là ra. Do tín tâm nên thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giảng nói mười hai bộ loại kinh điển, vì chúng sinh nên tuyên dương lưu hành rộng rãi. Người này ưa làm việc bố thí, tu tập trí tuệ, do căn tánh lanh lợi nên trụ vững ở tín tuệ, lòng không thoái chuyển. Không thoái chuyển rồi thì người này liền tiến tới trước. Người tiến tới trước gọi là Phật-bích-chi. Phật-bích-chi tuy có thể tự lội qua nhưng chẳng đem theo chúng sinh. Vậy nên gọi là đi như người thứ năm bên bờ sông Hằng. Người thứ sáu là người phát ý muốn vượt qua dòng sông lớn sinh tử nhưng đoạn dứt thiện căn nên chìm đắm ở trong đó, nhờ gần gũi bạn lành nên có được tín tâm. Được tín tâm nên gọi là ra. Do tín tâm nên người đó thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giảng nói mười hai bộ loại kinh điển, vì chúng sinh nên tuyên dương lưu hành rộng rãi. Người đó ưa làm việc bố thí, tu tập trí tuệ và do lợi căn nên trụ vững ở tín tuệ, lòng không thoái chuyển. Không thoái chuyển rồi liền tiến tới chỗ cạn, đến chỗ cạn rồi liền trụ lại chẳng đi. Người trụ lại chẳng đi gọi là Bồ-tát. Bồ-tát vì muốn độ thoát các chúng sinh nên trụ lại quan sát phiền não như người thứ sáu bên bờ sông Hằng. Người thứ bảy là người phát ý muốn vượt qua dòng sông lớn sinh tử nhưng đoạn dứt thiện căn nên chìm đắm trong đó, nhờ gần gũi bạn lành nên được tín tâm. Được tín tâm rồi thì đó gọi là ra. Do có tín tâm nên người đó thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giảng nói mười hai bộ loại kinh điển và vì chúng sinh nên tuyên dương lưu hành rộng rãi. Người đó ưa bố thí, tu tập trí tuệ và do lợi căn nên trụ vững ở tín tuệ, lòng không thoái chuyển. Không thoái chuyển rồi liền tiến tới trước, đã tiến tới trước rồi thì được đến bờ kia, leo lên núi cao, lìa khỏi các sợ hãi, thọ nhiều an vui. Này thiện nam! Núi ở bờ kia là dụ cho Như Lai, thọ an lạc là dụ cho Phật thường trụ, núi cao lớn là dụ cho Đại Niếtbàn. Này thiện nam! Những người như vậy ở bên bờ sông Hằng này đều đủ tay chân mà chẳng thể vượt qua, tất cả chúng sinh cũng như vậy, thật có Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo, Như Lai thường nói các nghĩa chính yếu của pháp, có tám Thánh đạo, Đại Bát Niết Bàn mà chúng sinh đều chẳng thể đạt được. Đây chẳng phải lỗi của Ta, cũng chẳng phải lỗi của Thánh đạo và chúng sinh, mà phải biết đều chính là tội ác của phiền não. Do nghĩa này nên tất cả chúng sinh chẳng được Niết-bàn. Này thiện nam! Ví như vị lương y biết bệnh cho thuốc, người bệnh chẳng uống thì chẳng phải lỗi của thầy thuốc. Này thiện nam! Như có vị thí chủ đem của cải của mình thí cho tất cả mọi người mà có người chẳng nhận thì chẳng phải là lỗi của thí chủ. Này thiện nam! Ví như mặt trời mọc, mọi u tối đều sáng mà người mù lòa chẳng thấy đường đi thì chẳng phải là lỗi của mặt trời. Này thiện nam! Như nước sông Hằng có thể trừ được khát mà người khát chẳng uống thì chẳng phải là lỗi của nước. Này thiện nam! Ví như đất đai sinh ra quả trái bình đẳng không phân biệt nhưng nông dân chẳng gieo trồng thì chẳng phải lỗi của đất. Này thiện nam! Như Lai vì tất cả chúng sinh khai mở, phân biệt rộng rãi Mười hai bộ loại kinh điển mà chúng sinh chẳng thọ nhận thì chẳng phải là lỗi của Như Lai.

Này thiện nam! Nếu tu đạo thì liền đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này thiện nam! Ông nói rằng, chúng sinh đều có Phật tánh nên được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác như đá có từ tính. Rất hay, rất hay! Do có lực nhân duyên Phật tánh nên được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nếu nói rằng chẳng cần tu Thánh đạo thì nghĩa này chẳng đúng. Này thiện nam! Ví như có người đi trên đồng vắng khát nước gặp được giếng. Giếng ấy rất sâu, tuy chẳng thấy nước nhưng nhất định là có. Người này tìm cách múc nước, dùng dây buộc vào lọ mà múc thì thấy có nước. Phật tánh cũng vậy, tuy tất cả chúng sinh đều có nhưng cần phải tu tập Thánh đạo vô lậu rồi sau đó mới thấy được. Này thiện nam! Như có hạt mè thì thấy được dầu, nhưng nếu lìa các phương tiện thì chẳng thấy được. Cây mía cũng vậy. Này thiện nam! Như cõi Uất-đan-việt ở phương Bắc của trời Ba Mươi Ba, tuy là có pháp nhưng nếu không có đạo lực thần thông nghiệp thiện thì chẳng thể thấy. Như rễ cỏ trong đất và nước dưới đất vì đất phủ lên nên chúng sinh chẳng thể thấy. Phật tánh cũng vậy, vì chẳng tu Thánh đạo nên chẳng thấy được. Này thiện nam! Như ông đã nói, ở đời có người bệnh nếu gặp lương y và người chăm sóc, thuốc hay, tùy bệnh cho ăn uống và cả trường hợp nếu chẳng gặp được thì cũng đều khỏi bệnh. Này thiện nam! Ta vì Bồ-tát Lục Trụ mà nói nghĩa như vậy. Này thiện nam! Ví như hư không đối với các chúng sinh chẳng phải trong, chẳng phải ngoài, chẳng phải trong ngoài nên cũng không ngăn ngại. Phật tánh của chúng sinh cũng như vậy. Này thiện nam! Ví như có người mà của cải ở tại nơi khác, tuy chẳng hiện tiền nhưng được tùy ý thọ dụng. Có người hỏi xin thì người đó nói: “Ta hứa. Vì sao? Vì nhất định có”. Phật tánh của chúng sinh cũng như vậy, chẳng phải đây, chẳng phải đó mà do nhất định được nên nói rằng, tất cả đều có. Này thiện nam! Ví như chúng sinh tạo tác các nghiệp hoặc thiện hoặc ác, chẳng phải trong, chẳng phải ngoài thì tánh của nghiệp như vậy chẳng phải có, chẳng phải không, cũng lại chẳng phải là vốn không mà nay có, chẳng phải không nhân sinh ra, chẳng phải đây làm đây chịu, đây làm đó chịu, đó làm đó chịu, không làm, không chịu, mà thời tiết hòa hợp thì gặt quả báo. Phật tánh của chúng sinh cũng như vậy, cũng lại chẳng phải vốn không mà nay có, chẳng phải trong, chẳng phải ngoài, chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng phải đây, chẳng phải đó, chẳng phải chỗ khác lại, chẳng phải không nhân duyên, cũng chẳng phải tất cả chúng sinh chẳng thấy. Có các Bồ-tát mà thời tiết, nhân duyên hòa hợp thì được thấy. Thời tiết là nói các Đại Bồ-tát Thập Trụ tu tám Thánh đạo, đối với các chúng sinh được tâm bình đẳng mà bấy giờ được thấy thì chẳng gọi là tạo tác. Này thiện nam! Ông nói, như đá nam châm thì nghĩa đó chẳng đúng. Vì sao? Vì đá chẳng hút sắt. Vì sao? Vì không có tâm nghiệp. Này thiện nam! Pháp khác có nên pháp khác sinh ra, pháp khác không nên pháp khác hoại diệt, không có người làm, không có kẻ hoại. Này thiện nam! Giống như lửa mạnh chẳng thể đốt củi. Lửa phát củi hoại tan thì gọi là đốt củi. Này thiện nam! Ví như cây bông quỳ theo mặt trời mà chuyển. Nhưng cây quỳ này cũng không có lòng cung kính, không có thức, không có nghiệp, do tánh chất riêng của nó nên tự xoay chuyển. Này thiện nam! Như cây chuối nhân tiếng sấm mà tăng trưởng. Cây này không có tai, không tâm, ý, thức nhưng do pháp này có nên pháp kia tăng trưởng, vì pháp này không nên pháp kia hoại diệt. Này thiện nam! Như cây A-thúc-ca, người con gái chạm vào là hoa nở. Cây này không có tâm cũng không hay biết chạm xúc nhưng do pháp này có nên pháp kia sinh, pháp này không nên pháp kia hoại diệt. Này thiện nam! Như cây quýt được bón xác chết thì trái nhiều thêm mà cây quýt đó không tâm, không chạm xúc, nhưng do pháp này có nên pháp kia sinh ra, pháp này không nên pháp kia hoại diệt. Này thiện nam! Như cây an-thạch-lựu nhờ bón xương, phân nên quả trái sum suê mà cây an-thạch-lựu cũng không tâm, không chạm xúc nhưng do pháp này có nên pháp kia sinh, pháp này không nên pháp kia hoại diệt. Này thiện nam! Đá nam châm hút sắt cũng như vậy, do pháp này có nên pháp kia sinh, pháp này không nên pháp kia hoại diệt. Phật tánh của chúng sinh cũng như vậy, chẳng thể hút được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này thiện nam! Vô minh chẳng thể hút các hành, hành cũng chẳng thể hút thức, cũng được gọi là vô minh duyên hành, hành duyên thức. Có Phật, không Phật, pháp giới vẫn thường trụ.

Này thiện nam! Nếu nói Phật tánh trụ trong chúng sinh thì, này thiện nam! Pháp thường không trụ. Nếu có chỗ trụ tức là pháp vô thường. Này thiện nam! Như mười hai nhân duyên không có trụ xứ nhất định. Nếu có trụ xứ thì mười hai nhân duyên chẳng được gọi là thường. Pháp thân của Như Lai cũng không có trụ xứ. Pháp giới, pháp nhập, pháp ấm, hư không đều không có trụ xứ. Phật tánh cũng vậy, đều không có trụ xứ. Này thiện nam! Ví như lực của bốn đại tuy quân bình có cứng, có nóng, có ẩm ướt, có chuyển động, có nặng, có nhẹ, có đỏ, có trắng, có vàng, có đen nhưng bốn đại này cũng không có nghiệp, do pháp giới khác nên đều chẳng tương tự. Phật tánh cũng vậy, pháp giới khác nên thời đến thì hiện ra. Này thiện nam! Tất cả chúng sinh chẳng thoái mất Phật tánh nên gọi đó là có, vì không thoái chuyển. Do có nên quyết được, quyết định sẽ thấy. Vậy nên gọi là tất cả chúng sinh đều có Phật tánh.

Này thiện nam! Ví như có vị vua bảo một đại thần: “Ông hãy dắt một con voi để cho người mù xem”. Bấy giờ vị đại thần nhận sắc lệnh của vua rồi tập trung nhiều người mù, đem voi cho họ xem. Lúc đó mọi người mù đều dùng tay sờ. Vị đại thần liền trở lại tâu vua: “Thân đã cho họ xem rồi”. Bấy giờ vị đại vương liền kêu những người mù đến hỏi: “Các ngươi có thấy voi không?”. Những người mù đều đáp: “Chúng thần đã được thấy”. Nhà vua nói: “Voi như thế nào?”. Người sờ ngà voi liền nói: “Hình voi như củ cải”. Người sờ tai voi thì nói: “Voi như cái sàng”. Người sờ đầu thì nói: “Voi như tảng đá”. Người sờ vòi voi thì nói: “Voi như cái chày”. Người sờ chân voi thì nói: “Voi như cái cối bằng gỗ”. Người sờ sống lưng voi thì nói: “Voi như cái giường”. Người sờ bụng voi thì nói: “Voi như cái vò”. Người sờ đuôi voi thì nói: “Voi như sợi dây”. Này thiện nam! Như những người mù kia chẳng nói đúng hình thể con voi, nhưng cũng chẳng phải là không. Các tướng ấy đều chẳng phải con voi nhưng bỏ ngoài những tướng đó thì không có con voi riêng khác. Này thiện nam! Vua là dụ cho Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri. Đại thần dụ cho kinh Phương Đẳng Đại Niết-bàn. Voi dụ cho Phật tánh. Người mù dụ cho tất cả chúng sinh vô minh. Những chúng sinh này nghe Phật nói rồi, hoặc nói rằng sắc chính là Phật tánh. Vì sao? Vì sắc này tuy diệt nhưng thứ lớp nối tiếp nhau, nên đạt được ba mươi tướng của Như Lai vô thượng, vì sắc của Như Lai thường hằng chẳng đoạn, nên nói sắc là Phật tánh. Ví như chất vàng ròng tuy biến đổi nhưng sắc thường chẳng khác. Hoặc khi làm xuyến, làm thoa cài tóc, làm mâm v.v… nhưng màu vàng ấy vẫn như ban đầu không biến đổi. Phật tánh của chúng sinh cũng như vậy, hình chất tuy vô thường nhưng mà sắc là thường. Do vậy nên nói sắc là Phật tánh. Hoặc có người nói, thọ là Phật tánh. Vì sao? Vì nhân duyên thọ nên đạt được niềm vui chân thật của Như Lai. Thọ của Như Lai là thọ rốt ráo, thọ đệ nhất nghĩa. Thọ của chúng sinh, tánh tuy vô thường nhưng thọ ấy theo thứ lớp nối tiếp nhau chẳng dứt, cho nên đạt được thọ thường hằng của Như Lai. Ví như có người họ Kiều-thi-ca. Người tuy vô thường mà dòng họ là thường, dù trải qua ngàn vạn đời cũng không có thay đổi. Phật tánh của chúng sinh cũng như vậy. Do vậy nên nói thọ là Phật tánh. Lại có người nói tưởng chính là Phật tánh. Vì sao? Vì nhân duyên tưởng nên đạt được tưởng chân thật của Như Lai. Tưởng Như Lai là gọi tưởng vô tưởng. Tưởng vô tưởng thì chẳng phải tưởng về chúng sinh, chẳng phải tưởng về nam nữ, cũng chẳng phải tưởng về sắc thọ tưởng hành thức, chẳng phải tưởng tưởng đoạn. Tưởng của chúng sinh tuy vô thường nhưng do tưởng theo thứ lớp nối tiếp nhau chẳng dứt nên đạt được tưởng thường hằng của Như Lai. Này thiện nam! Ví như mười hai nhân duyên của chúng sinh. Chúng sinh tuy diệt mà nhân duyên thì thường. Phật tánh của chúng sinh cũng như vậy. Do vậy nên nói tưởng là Phật tánh. Lại có người nói hành là Phật tánh. Vì sao? Vì hành gọi là thọ mạng mà do nhân duyên thọ mạng nên đạt được thọ mạng thường trụ của Như Lai. Thọ mạng của chúng sinh tuy vô thường nhưng mà thọ mạng theo thứ lớp nối tiếp nhau chẳng dứt nên được thọ mạng thường hằng chân thật của Như Lai. Này thiện nam! Ví như Mười hai bộ loại kinh điển mà người nghe người nói kinh thì tuy vô thường nhưng kinh điển đó lại thường tồn bất biến. Phật tánh của chúng sinh cũng như vậy. Do vậy nên nói hành là Phật tánh. Lại có người nói thức là Phật tánh. Do nhân duyên thức nên đạt được tâm bình đẳng của Như Lai. Ý thức của chúng sinh tuy vô thường nhưng thức theo thứ lớp nối tiếp nhau nên được tâm thường hằng chân thật của Như Lai. Như tánh nóng của lửa, lửa tuy vô thường nhưng nóng chẳng phải vô thường. Phật tánh của chúng sinh cũng như vậy. Do vậy nên nói thức là Phật tánh. Lại có người nói lìa khỏi ấm thì có ngã. Ngã chính là Phật tánh. Vì sao? Vì nhân duyên ngã nên đạt được tám ngã tự tại của Như Lai. Có các ngoại đạo nói đi lại, nghe thấy, buồn vui, nói năng là ngã. Như vậy tướng của ngã tuy lại vô thường nhưng mà ngã chân thật của Như Lai là thường. Này thiện nam! Như ấm, nhập, giới tuy là vô thường mà gọi là thường. Phật tánh của chúng sinh cũng như vậy. Này thiện nam! Như những người mù kia, mỗi mỗi đều nói về voi, tuy chẳng được chân thật nhưng chẳng phải chẳng nói về voi. Người nói về Phật tánh cũng như vậy, chẳng phải mà cũng tức là sáu pháp, chẳng lìa khỏi sáu pháp. Này thiện nam! Vậy nên ta nói Phật tánh của chúng sinh chẳng phải sắc, chẳng lìa khỏi sắc cho đến chẳng phải ngã, chẳng lìa ngã. Này thiện nam! Có các ngoại đạo tuy nói có ngã mà thật không có ngã. Ngã của chúng sinh tức là năm ấm mà bỏ ngoài năm ấm thì không có ngã riêng biệt. Này thiện nam! Ví như thân, cánh hoa, tua hoa, đài hoa hợp làm hoa sen mà bỏ ngoài những yếu tố này thì không có hoa sen. Ngã của chúng sinh cũng như vậy. Này thiện nam! Ví như tường vách, cỏ cây hòa hợp thì đó gọi là nhà, mà bỏ ngoài những yếu tố đó thì không có nhà. Như cây Khư-đà-la, cây Ba-la-xa, cây Ni-câu-đà, cây Uất-đàmbát v.v… hòa hợp làm thành rừng mà bỏ ngoài những cây đó thì không có rừng. Ví như binh xa, binh tượng, binh mã, binh bộ hòa hợp làm quân đội mà bỏ ngoài những binh chủng đó thì không có quân đội. Ví như năm màu dệt vào nhau hòa hợp gọi là lụa hoa, mà bỏ ngoài năm màu đó thì không có lụa hoa. Như bốn dòng họ hòa hợp lại gọi là đại chúng mà bỏ ngoài bốn dòng họ đó thì không có đại chúng. Ngã của chúng sinh cũng như vậy, bỏ ngoài năm ấm ra thì không có ngã. Này thiện nam! Như Lai thường trụ thì gọi là ngã. Pháp thân của Như Lai vô biên, vô ngại, chẳng sinh, chẳng diệt, được tám tự tại thì gọi là ngã. Chúng sinh chân thật không có ngã và ngã sở như vậy. Chỉ vì chúng sinh nhất định sẽ được rốt ráo đệ nhất nghĩa không nên gọi là Phật tánh.

Này thiện nam! Đại từ đại bi gọi là Phật tánh. Vì sao? Vì đại từ đại bi thường theo Bồ-tát như bóng theo hình. Tất cả chúng sinh nhất định sẽ được đại từ đại bi nên nói rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Đại từ đại bi gọi là Phật tánh, mà Phật tánh thì gọi là Như Lai. Đại hỷ đại xả gọi là Phật tánh. Vì sao? Vì Đại Bồ-tát nếu chẳng thể xả bỏ hai mươi lăm cõi thì chẳng thể đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà vì các chúng sinh nhất định sẽ được nên nói rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Đại hỷ đại xả tức là Phật tánh, mà Phật tánh tức là Như Lai. Phật tánh là gọi đại tín tâm. Vì sao? Vì tín tâm nên Đại Bồtát có thể đầy đủ Thí Ba-la-mật cho đến Bát nhã Ba-la-mật mà tất cả chúng sinh nhất định sẽ được đại tín tâm. Vậy nên nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Đại tín tâm tức là Phật tánh, mà Phật tánh tức là Như Lai. Phật tánh là gọi quả vị con một. Vì sao? Vì do nhân duyên quả vị con một nên Bồ-tát đối với tất cả chúng sinh được tâm bình đẳng. Tất cả chúng sinh nhất định sẽ được quả vị con một. Vậy nên nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Quả vị con một tức là Phật tánh, mà Phật tánh tức là Như Lai. Phật tánh là gọi lực thứ tư. Vì sao? Vì do nhân duyên lực thứ tư nên Bồ-tát có thể giáo hóa chúng sinh. Tất cả chúng sinh nhất định được lực thứ tư. Vậy nên nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Lực thứ tư tức là Phật tánh, mà Phật tánh tức là Như Lai. Phật tánh là gọi mười hai nhân duyên. Vì sao? Vì do nhân duyên nên Như Lai thường trụ. Tất cả chúng sinh nhất định có mười hai nhân duyên như vậy. Vậy nên nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Mười hai nhân duyên tức là Phật tánh, mà Phật tánh tức là Như Lai. Phật tánh là gọi bốn trí vô ngại. Do nhân duyên bốn trí vô ngại nên nói chữ, nghĩa không ngăn ngại. Chữ nghĩa không ngăn ngại nên có thể giáo hóa chúng sinh. Bốn trí vô ngại tức là Phật tánh, mà Phật tánh tức là Như Lai. Phật tánh là gọi đỉnh Tam-muội. Do tu đỉnh Tam-muội như vậy nên có thể thâu giữ tất cả pháp Phật. Vậy nên nói, đỉnh Tam-muội là Phật tánh. Bồ-tát Thập Trụ tu Tam-muội này chưa được đầy đủ nên tuy thấy Phật tánh nhưng mà chẳng rõ ràng. Tất cả chúng sinh nhất định đắc Tam-muội đó. Vậy nên nói, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Này thiện nam! Như nói ở trên, đủ thứ các pháp mà tất cả chúng sinh nhất định đạt được. Vậy nên nói tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Này thiện nam! Nếu Ta nói sắc chính là Phật tánh thì chúng sinh nghe rồi liền sinh ra tà kiến điên đảo. Do tà kiến điên đảo nên mạng chung, họ phải sinh vào địa ngục A-tỳ, mà Như Lai nói pháp là vì họ dứt địa ngục. Vậy nên Như Lai chẳng nói sắc là Phật tánh cho đến nói thức cũng như vậy.

Này thiện nam! Nếu các chúng sinh hiểu rõ Phật tánh thì chẳng cần tu đạo. Bồ-tát Thập Trụ tu tám Thánh đạo mà còn thấy ít Phật tánh, huống gì là người chẳng tu mà được thấy? Này thiện nam! Như các Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi v.v… đã vô lượng đời tu tập Thánh đạo mới rõ biết Phật tánh thì làm sao Thanh văn, Phật-bích-chi v.v… lại có thể biết Phật tánh. Nếu các chúng sinh muốn được biết rõ ràng Phật tánh thì nên một lòng thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giảng nói, cúng dường, cung kính, tôn trọng, khen ngợi kinh Niết-bàn này. Nếu thấy có người thọ trì cho đến khen ngợi kinh này như vậy thì nên dùng phòng nhà đẹp, y phục, ẩm thức, ngọa cụ, thuốc men chữa bệnh mà cúng dường họ, lại thêm khen ngợi, lễ bái, hỏi thăm họ. Này thiện nam! Nếu có người đã ở trong vô lượng vô biên đời quá khứ, gần gũi cúng dường vô lượng các Đức Phật, gieo trồng sâu căn lành thì sau đó mới được nghe tên của kinh này. Này thiện nam! Phật tánh chẳng thể nghĩ bàn! Phật, Pháp, Tăng bảo cũng chẳng thể nghĩ bàn. Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh mà chẳng thể biết, cũng chẳng thể nghĩ bàn. Pháp của Như Lai thường, lạc, ngã, tịnh cũng chẳng thể nghĩ bàn. Tất cả chúng sinh có thể tin kinh Đại Niết-bàn như vậy cũng chẳng thể nghĩ bàn.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Như lời Phật nói, tất cả chúng sinh có thể tin kinh Đại Niết-bàn như vậy chẳng thể nghĩ bàn. Thưa Thế Tôn! Trong đại chúng này có tám vạn năm ngàn ức người đối với kinh này chẳng sinh lòng tin. Vậy nên có người có thể tin kinh này thì gọi là chẳng thể nghĩ bàn.

–Này thiện nam! Đúng vậy! Những người như vậy ở đời vị lai cũng sẽ nhất định tin kinh điển này, thấy được Phật tánh, đạt được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Làm sao Bồ-tát bất thoái tự biết chắc chắn là có tâm bất thoái?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Đại Bồ-tát sẽ dùng khổ hạnh để tự thử lòng mình. Mỗi ngày ăn một hạt mè, trải qua bảy ngày. Với hạt gạo nếp, hạt đậu xanh, hạt vừng, hạt gạo tẻ cho đến đậu trắng cũng như vậy. Mỗi một lần bảy ngày mỗi khi ăn một hạt mè thì khởi suy nghĩ này: “Khổ hạnh như vầy đều không lợi ích. Việc không lợi ích mà còn có thể làm huống gì là việc có lợi ích mà chẳng làm?”. Đối với việc không lợi ích mà tâm có thể gắng nhẫn, chẳng thoái, chẳng chuyển. Vậy nên nhất định được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những ngày như vậy khi tu khổ hạnh, tất cả da thịt khô dần dần, nhăn nheo như cắt trái bầu phơi giữa trưa nắng. Mắt của Bồ-tát hõm sâu như sao đáy giếng. Thịt hết, xương sườn bày ra như mái nhà tranh mục nát, xương sống nối liền hiện ra như đường chỉ khâu trùng lắp, chỗ ngồi như vết móng ngựa, muốn ngồi thì nằm phục xuống, muốn đứng dậy thì nằm lăn ra. Tuy thọ khổ không ích lợi như vậy nhưng chẳng thoái tâm Bồ-đề. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát vì phá mọi khổ, ban an vui cho chúng sinh nên thậm chí có thể xả bỏ tài vật trong ngoài và thân mạng của mình như bỏ rơm cỏ. Nếu có thể chẳng tiếc thân mạng này như vậy thì Bồ-tát tự biết nhất định có tâm bất thoái, Bồ-tát ấy nhất định sẽ đạt được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại nữa, Bồ-tát vì nhân duyên pháp mà khoét thân làm đèn rồi quấn bông vào da thịt, đổ dầu vào đó đốt cháy lên làm tim đèn. Bồ-tát bấy giờ chịu khổ lớn này tự nhủ: “Khổ như vầy so với khổ ở địa ngục trăm ngàn vạn phần còn chưa bằng một. Ngươi ở trong vô lượng trăm ngàn kiếp, thọ khổ não lớn đều không lợi ích. Ngươi nếu chẳng thể thọ cái khổ nhẹ nhàng này thì làm sao mà có thể ở trong địa ngục cứu khổ chúng sinh”. Đại Bồ-tát khi nghĩ như vậy thì thân chẳng còn thấy khổ, tâm Bồ-tát chẳng thoái, chẳng động, chẳng chuyển. Bồ-tát bấy giờ tự biết sâu sắc rằng, mình nhất định sẽ đạt được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này thiện nam! Bồ-tát, bấy giờ phiền não vẫn còn đầy đủ chưa đoạn dứt nhưng vì pháp nhân duyên có thể đem đầu, mắt, tủy, não, tay, chân, máu, thịt bố thí cho chúng sinh, dùng đinh đóng vào thân, nhảy xuống từ núi cao ngất, gieo mình vào lửa đỏ. Bấy giờ, Bồ-tát tuy thọ vô lượng những khổ như vậy mà lòng chẳng thoái, chẳng động, chẳng chuyển. Bồ-tát biết rằng, mình nay nhất định có tâm chẳng thoái, chẳng chuyển, sẽ đạt được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này thiện nam! Đại Bồ-tát vì phá phiền não của tất cả chúng sinh nên nguyện làm thân súc sinh to lớn, đem máu thịt bố thí cho chúng sinh, khi chúng sinh nhận lấy lại sinh lòng thương xót. Lúc này, Bồ-tát nín hơi chẳng thở, thị hiện làm tướng chết khiến cho những người lấy máu thịt đó chẳng sinh tư tưởng nghi ngờ giết hại. Bồ-tát tuy thọ than súc sinh nhưng nhất định chẳng tạo tác nghiệp súc sinh. Vì sao? Này thiện nam! Vì Bồ-tát đã được tâm bất thoái rồi thì nhất định chẳng tạo tác nghiệp ba đường ác. Đại Bồ-tát, nếu đời vị lai có quả báo nghiệp ác nhỏ như vi trần thì chẳng quyết định thọ. Nhưng do lực đại nguyện, vì chúng sinh nên đều thọ hết. Ví như người bệnh bị quỷ ẩn náu ở trong thân. Do lực thần chú nên nó tức thời hiện tướng. Hoặc nói năng, hoặc mừng, hoặc giận, hoặc mắng chửi, hoặc kêu gào, hoặc khóc lóc. Nghiệp ba đường ác đời vị lai của Đại Bồ-tát cũng như vậy. Khi Đại Bồ-tát thọ thân loài gấu thường vì chúng sinh diễn nói chánh pháp. Hoặc thọ thân chim Ca-tần-xà-la vì các chúng sinh nói chánh pháp. Hoặc thọ thân Cù-đà, thân nai, thân thỏ, thân voi, thân dê, thân vượn, thân bồ câu trắng, thân chim cánh vàng, thân rồng, thân rắn v.v… khi Bồ-tát thọ những thân súc sinh như vậy thì nhất định chẳng tạo tác nghiệp ác súc sinh mà thường vì súc sinh khác diễn nói chánh pháp khiến cho những chúng sinh đó nghe pháp mau được chuyển khỏi thân súc sinh. Bấy giờ, Bồ-tát tuy thọ thân súc sinh nhưng chẳng tạo tác nghiệp ác thì nên biết là Bồ-tát nhất định có tâm bất thoái. Đại Bồ-tát ở vào đời đói kém, thấy chúng sinh đói khát thì hiện làm thân rùa, cá to lớn vô lượng do-tuần. Bồ-tát lại phát nguyện: “Nguyện cho các chúng sinh khi lấy thịt của tôi thì tùy ý theo sự sống của mình và nhân ăn thịt của tôi mà được lìa nỗi khổ đói khát, tất cả đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Bồ-tát lại phát nguyện: “Nếu có người nào nhân ăn thịt của tôi được lìa đói khát thì đời vị lai mau chóng được xa lìa khổ hoạn đói khát trong hai mươi lăm cõi. Đại Bồ-tát chịu khổ như vậy mà tâm chẳng thoái chuyển thì nên biết nhất định được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại nữa, Bồ-tát ở vào đời dịch bệnh, thấy bệnh khổ thì suy nghĩ như vầy: “Như cây thuốc tốt nhất, nếu có người bệnh lấy rễ, lấy thân, lấy cành, lấy lá, lấy hoa, lấy quả, lấy vỏ, lấy phần ngoài của vỏ v.v… mà uống thì đều khỏi bệnh, nguyện thân này của tôi cũng như vậy. Nếu có người bệnh nghe tiếng, chạm vào thân, ăn uống máu thịt cho đến xương tủy của tôi thì bệnh đều trừ khỏi. Nguyện cho các chúng sinh khi ăn thịt của tôi thì chẳng sinh lòng ác như ăn thịt con”. Ta trị bệnh cho họ rồi thường vì họ mà nói pháp, nguyện cho họ tín thọ, tư duy, rồi dạy lại cho người khác. Lại nữa, này thiện nam! Bồ-tát đầy đủ phiền não, tuy thọ thân khổ nhưng tâm Bồ-tát chẳng thoái, chẳng động, chẳng chuyển thì phải biết Bồ-tát nhất định được tâm bất thoái, thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại nữa, này thiện nam! Nếu có chúng sinh bị bệnh quỷ ám, Bồ-tát thấy rồi liền nói rằng: “Nguyện làm thân quỷ, thân lớn, thân khỏe mạnh, thân nhiều quyến thuộc v.v… khiến cho người bệnh kia nghe thấy thì bệnh được trừ khỏi”. Đại Bồ-tát vì chúng sinh nên siêng tu khổ hạnh, tuy có phiền não nhưng không làm ô nhiễm tâm Bồtát. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát tuy lại tu hành sáu Ba-la-mật nhưng cũng lại chẳng cầu quả báo sáu độ. Khi Bồ-tát tu hành sáu Bala-mật vô thượng thì phát nguyện: “Tôi nay dùng sáu Ba-la-mật này thí cho tất cả chúng sinh. Mỗi một chúng sinh thọ nhận sự bố thí của tôi rồi đều khiến cho được thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tôi cũng vì sáu Ba-la-mật, siêng tu khổ hạnh, thọ các khổ não. Khi phải thọ khổ thì nguyện cho tôi chẳng thoái tâm Bồ-đề”. Này thiện nam! Khi Đại Bồ-tát phát nguyện này thì đó gọi là tướng Bồ-đề bất thoái.

Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát chẳng thể nghĩ bàn. Vì sao? Vì Đại Bồ-tát biết sâu nhiều tội lỗi của sinh tử, quan sát Đại Niết-bàn có công đức lớn mà vì chúng sinh nên ở tại sinh tử chịu đủ thứ khổ, lòng không thoái chuyển. Đó gọi là Bồ-tát chẳng thể nghĩ bàn. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát không có nhân duyên mà sinh thương xót, thật chẳng thọ ân mà thường thi ân, tuy thường thi ân mà chẳng cầu đền đáp. Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Lại nữa, này thiện nam! Hoặc có chúng sinh vì sự lợi ích của mình mà tu các khổ hạnh, còn Đại Bồ-tát vì lợi ích người khác nên tu hành khổ hạnh, đó gọi là tự lợi. Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Lại nữa, Bồ-tát đầy đủ phiền não, nhưng vì phá bỏ sự oán thân thọ nhận những khổ não nên tu tâm bình đẳng. Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Lại nữa, Bồ-tát nếu thấy các chúng sinh ác, bất thiện thì hoặc quở trách, hoặc nói lời dịu dàng, hoặc xua đuổi, hoặc buông bỏ v.v… Người có tánh ác thì hiện làm người nói lời dịu dàng. Người có tánh kiêu mạn thì hiện làm người đại kiêu mạn mà kỳ thật bên trong lòng không kiêu mạn. Đó gọi là Bồtát phương tiện chẳng thể nghĩ bàn. Lại nữa, Bồ-tát đầy đủ phiền não khi ít của cải mà người đến cầu xin nhiều nhưng lòng chẳng hạn hẹp. Đó gọi là Bồ-tát chẳng thể nghĩ bàn. Lại nữa, Bồ-tát ở vào lúc Phật ra đời, biết công đức của Phật. Nhưng vì chúng sinh nên ở chỗ không có Phật, thọ thân nơi biên địa như mù, như điếc, như thọt, như què v.v… Đó gọi là Bồ-tát chẳng thể nghĩ bàn. Lại nữa, Bồ-tát biết tội lỗi của chúng sinh nhưng vì độ thoát họ nên thường cùng hành động với họ. Bồ-tát tuy hành động theo ý họ nhưng tội cấu chẳng ô nhiễm. Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn.

Lại nữa, Bồ-tát thấy biết rõ ràng, không có tướng chúng sinh không ô nhiễm phiền não, không đạo tu tập, xa lìa phiền não, tuy là Bồ-đề nhưng không hạnh Bồ-đề, cũng không thành tựu hạnh Bồ-đề, không có người thọ khổ, người phá khổ, mà cũng có thể vì chúng sinh phá hoại hạnh khổ, hạnh Bồ-đề. Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Lại nữa, Bồ-tát thọ thân sau cùng ở trên trời Đâu-suất thì đó cũng gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Vì sao? Vì trời Đâu-suất là cõi tối thắng trong dục giới. Người ở trời dưới thì lòng họ buông lung. Người ở trời trên thì các căn ám độn. Vậy nên gọi là thắng. Tu thí, tu giới thì được thọ thân trời trên, trời dưới. Tu thí giới định thì được thân trời Đâu-suất. Tất cả Bồ-tát hủy báng các hữu, phá hoại các hữu, nhất định chẳng tạo tác nghiệp của trời Đâu-suất để thọ thân của cõi trời đó. Vì sao? Vì Bồ-tát, nếu ở các cõi khác thì cũng có thể giáo hóa thành tựu chúng sinh. Bồtát chân thật không có dục tâm mà sinh ra ở dục giới. Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Đại Bồ-tát sinh lên trời Đâu-suất có ba việc thù thắng: Một là mạng, hai là sắc, ba là danh. Đại Bồ-tát chân thật chẳng cầu lấy mạng, sắc và danh. Tuy tâm Bồ-tát không cầu mà sở đắc tốt đẹp. Đại Bồ-tát rất ưa thích Niết-bàn nhưng có nhân duyên còn hơn nữa. Vậy nên gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Đại Bồ-tát có ba việc tuy tốt đẹp hơn chư Thiên như vậy nhưng chư Thiên ở chỗ Bồ-tát nhất định chẳng sinh tâm sân giận, tâm ganh ghét, tâm kiêu mạn mà thường sinh tâm vui mừng. Bồ-tát đối với chư Thiên cũng chẳng kiêu mạn. Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Đại Bồ-tát chẳng tạo nghiệp thọ mạng mà đối với các trời kia được thọ mạng rốt ráo. Đó gọi là hơn về thọ. Bồ-tát cũng không tạo nghiệp sắc mà thân diệu sắc sáng ngời đầy khắp. Đó gọi là hơn về danh sắc. Đại Bồ-tát ở cung trời kia chẳng ưa năm dục mà chỉ vì việc pháp. Vậy nên danh xưng vang khắp mười phương. Đó gọi là hơn về danh. Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Đại Bồ-tát từ trời Đâu-suất giáng sinh, khi đó đại địa chấn động sáu cách. Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Vì sao? Vì Bồ-tát khi xuống cõi Dục, cõi Sắc, chư Thiên đều đến hầu đưa tiễn, phát ra âm thanh lớn khen ngợi Bồ-tát. Do hơi gió trong miệng nên khiến cho đất rung động. Lại có Bồ-tát là voi chúa trong loài người. Voi chúa trong loài người gọi là Long vương. Long vương khi bắt đầu vào thai thì có các Long vương ở bên dưới đất này, hoặc sợ, hoặc thức dậy nên đại địa chấn động sáu cách. Vậy nên gọi là chẳng thể nghĩ bàn. Đại Bồ-tát khi vào thai, khi trụ thai, khi sinh ra, biết cha, biết mẹ chẳng sạch, chẳng ô nhiễm như châu báu màu xanh trên tóc Đế thích. Vậy nên lại gọi là chẳng thể nghĩ bàn.

Này thiện nam! Kinh Đại Niết-bàn cũng như vậy, chẳng thể nghĩ

bàn. Này thiện nam! Ví như biển lớn có tám điều chẳng nghĩ bàn. Những gì là tám? Một là dần dần trở nên sâu. Hai là sâu khó dò được đáy. Ba là đồng một vị mặn. Bốn là nước triều chẳng quá giới hạn. Năm là đủ thứ bảo tàng. Sáu là chúng sinh thân lớn cư trú ở trong đó. Bảy là chẳng chứa chấp thây chết. Tám là tất cả muôn dòng nước, mưa lớn v.v… trút vào trong đó mà chẳng tăng, chẳng giảm. Này thiện nam! Dần dần trở thành sâu có ba việc. Những gì là ba? Một là phước lực của chúng sinh, hai là thuận gió mà cháy, ba là nước sông vào cho đến việc chẳng tăng chẳng giảm cũng đều có ba việc. Kinh điển Đại Niếtbàn vi diệu này cũng như vậy, có tám điều chẳng thể nghĩ bàn. Một là dần dần sâu như là năm giới, mười giới, hai trăm năm mươi giới, Bồ-tát giới v.v… như là quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, quả A-la-hán, quả Phật-bích-chi, quả Bồ-tát, quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, kinh Niết-bàn này nói những pháp đó. Đó gọi là sâu dần dần. Vậy nên kinh này gọi là sâu dần dần. Hai là sâu khó dò được đáy: Như Lai Thế Tôn chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chẳng chuyển pháp luân, chẳng ăn, chẳng thọ, chẳng bố thí. Vậy nên gọi là thường, lạc, ngã, tịnh. Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Phật tánh chẳng phải là sắc, chẳng lìa khỏi sắc, chẳng phải thọ, tưởng, hành, thức cho đến chẳng lìa khỏi thức, là thường có thể thấy rõ nhân, chẳng phải tác nhân. Tu-đà-hoàn cho đến Phật-bích-chi sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng không phiền não, cũng không trụ xứ, tuy không có phiền não nhưng chẳng gọi là thường. Vậy nên gọi là sâu. Lại có chỗ rất sâu ở trong kinh này. Hoặc khi nói ngã hoặc nói vô ngã, hoặc khi nói thường hoặc nói vô thường, hoặc khi nói tịnh hoặc nói bất tịnh, hoặc khi nói vui hoặc nói khổ, hoặc khi nói không hoặc nói chẳng không, hoặc nói tất cả có, hoặc nói tất cả không, hoặc nói ba thừa, hoặc nói một thừa, hoặc nói năm ấm tức là Phật tánh, Tam-muội kim cương và cả trung đạo, Tam-muội Thủ-lăng-nghiêm, mười hai nhân duyên, đệ nhất nghĩa không, từ bi bình đẳng với các chúng sinh, nguyện trí, tín tâm, biết các căn, lực, trong tất cả pháp trí không ngăn ngại, tuy có Phật tánh nhưng chẳng nói quyết định. Vậy nên gọi là sâu. Ba là một vị: Tất cả chúng sinh đồng có Phật tánh, đều đồng một thừa, đồng một giải thoát, một nhân một quả, đồng một cam lồ. Tất cả sẽ được thường, lạc, ngã, tịnh. Đó gọi là một vị. Bốn là nước triều chẳng quá giới hạn: Như trong kinh này hạn chế các Tỳ-kheo chẳng được nhận nuôi chứa tám vật bất tịnh. Nếu đệ tử của ta có thể thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giảng nói, phân biệt kinh điển Đại Niết-bàn vi diệu này thì thà mất thân mạng chớ nhất định chẳng hủy phạm kinh đó. Đó gọi là nước triều chẳng quá giới hạn. Năm là có đủ thứ bảo tàng. Kinh này tức là vô lượng bảo tàng. Nói là báu đó là bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác phần, tám thánh đạo, hạnh anh nhi, hạnh thánh, hạnh phạm, hạnh trời, các thiện phương tiện, Phật tánh của chúng sinh, công đức của Bồ-tát, công đức của Như Lai, công đức của Thanh văn, công đức của Duyên giác, sáu pháp Ba-la-mật, vô lượng Tam-muội, vô lượng trí tuệ. Đó gọi là bảo tàng. Sáu là chỗ cư trú của chúng sinh thân lớn. Chúng sinh thân lớn là gọi Phật, Bồ-tát. Vì Phật, Bồ-tát có trí tuệ lớn nên gọi là chúng sinh lớn. Vì có thân lớn, tâm lớn, trang nghiêm lớn, điều phục lớn, phương tiện lớn, nói pháp lớn, thế lực lớn, đồ chúng lớn, thần thông lớn, từ bi lớn, thường hằng chẳng biến đổi, tất cả chúng sinh không ngăn ngại, dung thọ tất cả các chúng sinh, nên gọi là chỗ cư trú của chúng sinh thân lớn. Bảy là chẳng chứa chấp thây chết. Thây chết là gọi Nhấtxiển-đề, phạm bốn trọng cấm, năm tội vô gián, bài báng kinh Phương Đẳng, chẳng phải pháp nói là pháp, pháp nói là chẳng phải pháp, thọ nhận nuôi chứa tám thứ vật bất tịnh, vật của Phật, vật của Tăng sử dụng tùy ý, hoặc ở chỗ Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni làm việc phi pháp. Đó gọi là thây chết. Kinh Niết-bàn này lìa những điều như vậy. Vậy nên gọi là chẳng chứa chấp thây chết. Tám là chẳng tăng, chẳng giảm: không bờ cõi nên không thỉ chung, chẳng phải sắc nên chẳng phải tạo tác, thường trụ nên chẳng sinh diệt, tất cả chúng sinh đều bình đẳng, tất cả pháp tánh đồng một tánh. Đó gọi là không tăng giảm. Vậy nên kinh này như biển cả kia, có tám điều chẳng nghĩ bàn.

Bồ-tát Sư Tử Hống bạch:

–Bạch Thế Tôn! Nếu nói Như Lai chẳng sinh chẳng diệt là sâu thì tất cả chúng sinh có bốn loại sinh là noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh. Bốn loại sinh này trong loài người có đủ: Như Tỳ-kheo Thíbà-la, Tỳ-kheo Ưu-bà-thí-bà-la, mẹ trưởng giả Di-ca-la, mẹ trưởng giả Ni-câu-đà, mẹ trưởng giả Bán-xà-la đều có năm trăm con đồng là do noãn sinh thì phải biết là trong loài người có sinh ra từ trứng. Thấp sinh thì như lời Phật nói, Ta vào thuở xưa, khi làm Bồ-tát từng làm vua sinh ra từ đỉnh đầu và làm vua sinh ra từ tay. Như hôm nay Phật nói, người con gái Am-la-thọ, con gái Bất-đa-thọ thì phải biết trong loài người có thấp sinh. Khi kiếp bắt đầu thì tất cả chúng sinh đều hóa sinh hết. Như Lai Thế Tôn được tám tự tại, vì nhân duyên gì mà chẳng hóa sinh?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Tất cả chúng sinh có bốn loại thọ sinh, nhưng người được thánh pháp rồi thì chẳng sinh từ trứng, từ chỗ ẩm thấp như trước. Này thiện nam! Ban đầu kiếp chúng sinh đều hóa sinh. Trong thời kỳ ấy, Phật chẳng ra đời. Này thiện nam! Nếu có chúng sinh khi gặp bệnh khổ thì cần thầy thuốc, cần thuốc. Lúc đầu kiếp chúng sinh đều hóa sinh, tuy có phiền não mà bệnh ấy chưa phát. Vậy nên Như Lai chẳng xuất hiện ở đời ấy. Đầu kiếp, thân chúng sinh chẳng phải pháp khí. Vậy nên Như Lai chẳng xuất hiện ở đời ấy. Này thiện nam! Sự nghiệp của Như Lai Thế Tôn hơn các chúng sinh như là về chủng tánh, quyến thuộc, cha mẹ. Do thù thắng nên lời nói pháp của Như Lai mọi người đều tín thọ. Vậy nên Như Lai chẳng thọ hóa sinh. Này thiện nam! Tất cả chúng sinh, hoặc cha làm theo nghề nghiệp con, con tạo tác nghiệp cha. Như Lai Thế Tôn nếu thọ hóa thân thì không cha mẹ. Nếu không cha mẹ thì làm sao có thể khiến cho tất cả chúng sinh tạo tác các nghiệp lành. Vậy nên Như Lai chẳng thọ hóa thân. Này thiện nam! Trong chánh pháp của Phật có hai thứ hộ, một là nội, hai là ngoại. Nội hộ là gọi giới cấm. Ngoại hộ là gọi thân tộc quyến thuộc. Nếu Phật Như Lai thọ hóa thân thì không ngoại hộ. Vậy nên Như Lai chẳng thọ hóa thân. Này thiện nam! Có người ỷ vào dòng họ mà sinh kiêu mạn, Như Lai vì phá sự kiêu mạn như vậy nên sinh ở dòng họ tôn quý, chẳng thọ hóa thân. Này thiện nam! Như Lai Thế Tôn có cha mẹ chân thật. Cha tên là Tịnh Phạm, mẹ tên là Ma-da mà các chúng sinh còn nói là huyễn thì làm sao mà thọ thân hóa sinh? Nếu thọ hóa thân thì làm sao được có xá lợi khi thân hoại. Như Lai vì thêm phước đức cho chúng sinh nên làm vụn nát thân ấy để cho họ cúng dường. Vậy nên Như Lai chẳng thọ hóa thân. Tất cả các Đức Phật đều không hóa sinh thì sao khiến một mình là thọ hóa thân?

Bấy giờ, Bồ-tát Sư Tử Hống chấp tay, quỳ dài, gối phải đặt xuống đất, dùng kệ khen Đức Phật:

Như Lai công đức thật không lường
Con nay chẳng thể rộng tuyên nói
Nay vì chúng sinh diễn một phần
Nguyện xin thương xót cho con nói!
Chúng sinh đi trong tối vô minh
Thọ đủ vô minh trăm thứ khổ
Thế Tôn có thể khiến xa lìa
Nên đời xưng đấng Từ Bi lớn!
Chúng sinh qua lại dây sinh tử
Phóng dật mê man không an lạc
Như Lai hay cho mọi an lạc
Vậy nên cắt đứt dây sinh tử.
Phật hay ban bố mọi an lạc
Tự vui với mình, chẳng tham lạc
Tu khổ hạnh vì các chúng sinh
Nên thế gian cung kính cúng dường.
Thấy người thọ khổ rúng động thân
Ở tại địa ngục chẳng biết khổ
Chịu khổ lớn vì các chúng sinh
Vậy nên vô lượng không ai hơn.
Phật tu khổ hạnh vì chúng sinh
Thành tựu đầy đủ trọn lục độ
Tâm ở gió tà chẳng chao đảo
Nên có thể thắng bậc Đại sĩ.
Chúng sinh thường muốn được an lạc
Mà chẳng biết tu nhân an lạc
Như Lai hay dạy khiến tu hành
Giống như cha lành yêu con một.
Phật thấy chúng sinh bệnh phiền não
Lòng khổ như mẹ lo con bệnh
Phương tiện khỏi bệnh nghĩ tới luôn
Vậy nên thân này thuộc người khác.
Các khổ, tất cả chúng sinh làm
Mà lòng điên đảo cho là vui
Như Lai diễn nói khổ, vui thật
Nên xưng hiệu là Từ Bi lớn.
Thế gian đều ở trứng vô minh
Không có mỏ trí có thể phá
Mỏ trí Như Lai mổ phá tan
Vậy nên gọi là tối đại tử.
Chẳng bị phụ thuộc trong ba đời
Không có tên gọi mà giả gọi
Hiểu biết nghĩa thâm diệu Niết-bàn
Vậy nên xưng Phật là Đại Giác.
Có sông cuồn cuộn chìm chúng sinh
Vô minh mù tối chẳng biết ra
Như Lai tự độ, độ chúng sinh
Vậy nên xưng Phật, Thuyền Sư Lớn.
Có thể biết tất cả quả, nhân
Cũng lại thông đạt hết diệt đạo
Thường ban thuốc bệnh khổ chúng sinh
Vậy nên đời xưng: Y Vương Lớn.
Khổ hạnh, ngoại đạo thường tuyên dương
Nhân đó hay được vui vô thượng
Như Lai diễn nói hạnh chân lạc
Hay khiến chúng sinh thọ an vui.
Như Lai Thế Tôn phá tà đạo
Khai thị chúng sinh đường chân chính
Người đi đường đó được an lạc
Nên xưng Phật là thầy dẫn dắt.
Chẳng phải người và mình tạo tác
Chẳng phải cùng làm, không nhân làm
Việc thọ khổ theo lời Thế Tôn
Còn hơn tất cả các ngoại đạo.
Thành tựu giới, định, tuệ hoàn toàn
Cũng đem pháp này dạy chúng sinh
Khi đem pháp thí không tham tiếc
Cho nên Phật hiệu Vô Duyên Bi
Không sự tạo tác, không nhân duyên
Đạt được không nhân, không quả báo
Vậy nên tất cả các người trí
Khen ngợi Như Lai chẳng cầu báo.
Thường cùng đời làm việc buông lung
Mà chẳng bị buông lung ô nhiễm
Vậy nên gọi là chẳng nghĩ bàn
Tám pháp thế gian chẳng thể nhiễm.
Như Lai Thế Tôn không oán thân
Vậy nên tâm ấy thường bình đẳng
Sư tử hống con khen đại bi
Hay rống vô lượng Sư tử hống.

 

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.