Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN

Hán dịch: Căn cứ vào bản dịch của Tam tạng Pháp sư Đàm Vô Sấm, đời Tống. Sa-môn Tuệ Nghiêm, Tuệ Quán và Cư sĩ Tạ Linh Vận sửa lại
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đạo Tạng Kinh

Phẩm 22: BỒ TÁT QUANG MINH BIẾN CHIẾU CAO QUÝ ĐỨC VƯƠNG 

(Từ Quyển thứ 19 đến quyển 25)

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương:

–Này thiện nam! Nếu có Đại Bồ-tát tu hành kinh điển Đại Niếtbàn như vậy thì được mười việc công đức, chẳng thể nghĩ bàn mà hàng Thanh văn, Phật-bích-chi chẳng có, người nghe kinh ngạc. Công đức này chẳng phải trong, chẳng phải ngoài, chẳng phải khó, chẳng phải dễ, chẳng phải tướng, chẳng phải phi tướng, chẳng phải là pháp thế gian, không có tướng mạo, thế gian không có. Những gì là mười:

Công đức thứ nhất có năm. Những gì là năm? Một là điều chẳng nghe mà có thể được nghe, hai là nghe rồi có thể làm lợi ích, ba là có thể đoạn dứt tâm nghi hoặc, bốn là tâm tuệ chính trực không quanh co, năm là có thể biết tạng bí mật của Như Lai. Đó là năm. Những gì chẳng nghe mà có thể được nghe? Đó là tạng bí mật vi diệu sâu xa, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, pháp Phật, chúng Tăng không có sai biệt, tánh tướng Tam bảo thường, lạc, ngã, tịnh, tất cả các Đức Phật không có rốt ráo vào Niết-bàn mà thường trụ bất biến, Như Lai Niếtbàn chẳng phải có, chẳng phải không; chẳng phải hữu vi, chẳng phải vô vi; chẳng phải hữu lậu, chẳng phải vô lậu; chẳng phải sắc, chẳng phải vô sắc; chẳng phải danh, chẳng phải chẳng danh; chẳng phải tướng, chẳng phải chẳng tướng; chẳng phải có, chẳng phải chẳng có; chẳng phải vật, chẳng phải chẳng vật; chẳng phải nhân, chẳng phải quả; chẳng phải đợi, chẳng phải chẳng đợi; chẳng phải sáng, chẳng phải tối; chẳng phải xuất, chẳng phải chẳng xuất; chẳng phải thường, chẳng phải chẳng thường; chẳng phải đoạn, chẳng phải chẳng đoạn; chẳng phải thỉ, chẳng phải chung; chẳng phải quá khứ, chẳng phải hiện tại, chẳng phải vị lai; chẳng phải ấm, chẳng phải chẳng ấm; chẳng phải nhập, chẳng phải chẳng nhập; chẳng phải giới, chẳng phải chẳng giới; chẳng phải mười hai nhân duyên, chẳng phải chẳng mười hai nhân duyên. Những pháp vi diệu sâu xa như vậy v.v… xưa chẳng được nghe mà nay mới có thể được nghe. Lại có cái chẳng được nghe như là kinh sách của tất cả ngoại đạo, bốn luận Tỳ-đà, luận Tỳ-già-la, luận Vệthế-sư, luận Ca-tỳ-la, tất cả chú thuật, phương thuốc trị bệnh, kỹ nghệ, nhật nguyệt thực, tinh tú vận chuyển, đồ thư, sấm ký v.v… Những kinh như vậy ban đầu chưa từng nghe ý nghĩa bí mật, hôm nay đối với kinh này mới được biết. Lại có mười một bộ loại kinh, trừ bộ Tỳ-phật-lược, cũng không có nghĩa vi diệu sâu xa như vậy, nay nhân kinh này mà được biết. Này thiện nam! Đó gọi là chẳng nghe mà có thể được nghe. Nghe rồi lợi ích là, nếu có thể nghe thọ kinh Đại Niết-bàn thì đều có thể biết đủ nghĩa vị vi diệu sâu xa của tất cả kinh điển Đại Thừa Phương Đẳng. Ví như trai gái ở trước tấm gương sáng sạch nhìn thấy hình dáng của họ tỏ rõ phân minh. Gương Đại Niết-bàn cũng như vậy, Bồ-tát cầm lấy đều được thấy rõ ý nghĩa vi diệu sâu xa của kinh điển Đại thừa. Cũng như có người ở trong nhà tối, cầm đuốc lửa sáng thấy hết mọi vật, đuốc Đại Niết-bàn cũng như vậy. Bồ-tát cầm đuốc ấy thì được thấy nghĩa thâm diệu của Đại thừa. Cũng như mặt trời mọc có hàng ngàn ánh sáng đều có thể soi rõ những núi u tối, khiến cho tất cả mọi người từ xa nhìn thấy mọi vật. Mặt trời trí tuệ thanh tịnh Đại Niếtbàn này cũng như vậy, soi rõ chỗ thâm diệu của Đại thừa, khiến cho người Nhị thừa từ xa thấy Phật đạo. Vì sao? Vì có thể nghe thọ kinh vi diệu Đại Niết-bàn này. Này thiện nam! Nếu có Đại Bồ-tát nghe thọ kinh điển Đại Niết-bàn như vậy thì được biết danh tự của tất cả các pháp. Nếu họ có thể ghi chép, đọc tụng thông lợi, vì người khác diễn nói rộng rãi, suy nghĩ ý nghĩa kinh ấy thì biết nghĩa lý của tất cả các pháp. Này thiện nam! Người nghe thọ kinh ấy chỉ biết danh tự, chẳng biết nghĩa lý kinh ấy mà nếu có thể ghi chép, thọ trì, đọc tụng, vì người khác giảng nói, suy nghĩ về nghĩa kinh ấy thì có thể biết được nghĩa lý. Lại nữa, này thiện nam! Người nghe kinh này, nghe có Phật tánh, chưa có thể được thấy, nếu ghi chép, đọc tụng, vì người khác rộng nói, suy nghĩ nghĩa kinh ấy thì được thấy Phật tánh. Người nghe kinh này, nghe có danh từ bố thí chưa thể thấy Bố thí Ba-la-mật, nếu ghi chép, thọ trì, đọc tụng, vì người khác rộng nói, suy nghĩ về nghĩa kinh ấy thì có thể thấy Bố thí Ba-la-mật cho đến Bát nhã Ba-la-mật cũng như vậy. Này thiện nam! Đại Bồ-tát, nếu có thể nghe kinh điển Đại Niết-bàn này thì biết pháp, biết nghĩa, đầy đủ hai vô ngại. Các vị Bồ-tát này đối với các Sa-môn, Bà-la-môn v.v… hoặc trời, ma, phạm trong tất cả đời không sợ hãi, khai thị, phân biệt Mười hai bộ loại kinh văn, diễn nói nghĩa những kinh ấy không có sai trái. Các vị ấy chẳng theo nghe người khác mà có thể tự biết gần với Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này thiện nam! Đó gọi là nghe rồi có thể làm lợi ích. Đoạn tâm nghi là, nghi có hai thứ, một là nghi danh, hai là nghi nghĩa. Người nghe kinh này đoạn dứt được tâm nghi danh, người suy nghĩ về nghĩa thì đoạn được tâm nghi về nghĩa. Lại nữa, này thiện nam! Nghi có năm thứ, một là nghi Phật có nhất định Niết-bàn không. Hai là nghi Phật có thường trụ không. Ba là nghi Phật có chân lạc không. Bốn là nghi Phật có chân tịnh không. Năm là nghi Phật có thật ngã không. Người nghe kinh này rồi thì việc nghi Phật Niết-bàn được đoạn dứt vĩnh viễn. Nếu ghi chép, đọc tụng, vì người khác rộng nói, suy nghĩ về nghĩa kinh ấy thì bốn nghi còn lại cũng đoạn dứt vĩnh viễn. Lại nữa, này thiện nam! Nghi có ba thứ, một là nghi Thanh văn là có hay là không. Hai là nghi Duyên giác là có hay là không. Ba là nghi Phật thừa là có hay là không. Người nghe kinh này thì ba nghi như vậy trừ diệt vĩnh viễn. Nếu người ấy ghi chép, đọc tụng, vì người khác giảng nói, suy nghĩ về nghĩa kinh ấy thì có thể rõ biết tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Lại nữa, này thiện nam! Nếu có chúng sinh chẳng nghe kinh điển Đại Niết-bàn như vậy thì tâm nghi rất nhiều. Như là hoặc thường hay vô thường, hoặc lạc hay chẳng lạc, hoặc tịnh hay chẳng tịnh, hoặc ngã hay vô ngã, hoặc mạng hay chẳng phải mạng, hoặc chúng sinh hay chẳng phải chúng sinh, hoặc rốt ráo hay chẳng rốt ráo, hoặc đời khác, hoặc đời đã qua, hoặc có, hoặc không, hoặc khổ hay chẳng phải khổ, hoặc tập hay chẳng phải tập, hoặc đạo hay chẳng phải đạo, hoặc diệt hay chẳng phải diệt, hoặc pháp hay chẳng phải pháp, hoặc thiện hay chẳng phải thiện, hoặc không hay chẳng phải không… người nghe kinh này thì các nghi như vậy đều được đoạn trừ vĩnh viễn. Lại nữa, này thiện nam! Nếu có người chẳng nghe kinh như vậy thì lại có đủ thứ tâm nghi. Như sắc là ngã chăng? Thọ, tưởng, hành, thức là ngã chăng? Mắt có thể thấy chăng? Ngã có thể thấy chăng? Cho đến thức có thể biết chăng? Ngã có thể biết chăng? Sắc thọ báo chăng? Ngã thọ báo chăng? Cho đến thức thọ báo chăng? Ngã thọ báo chăng? Sắc đến đời khác chăng? Ngã đến đời khác chăng? Cho đến thức cũng như vậy. Pháp sinh tử có đầu có cuối chăng? Không đầu không cuối chăng? Người nghe kinh này thì những nghi như vậy cũng được trừ diệt vĩnh viễn. Lại có người nghi Nhất-xiển-đề, phạm bốn trọng cấm làm tội ngũ nghịch, bài báng kinh Phương Đẳng v.v… những hạng như vậy có Phật tánh chăng? Không có Phật tánh chăng? Người nghe kinh này thì những nghi như vậy đều được đoạn trừ vĩnh viễn. Lại có người nghi, thế gian hữu biên chăng? Thế gian vô biên chăng? Có thế giới mười phương chăng? Không có thế giới mười phương chăng? Người nghe kinh này thì những nghi như vậy cũng được đoạn trừ vĩnh viễn. Đó gọi là có thể đoạn trừ tâm nghi hoặc. Tuệ tâm chính trực không tà vạy quanh co là, nếu tâm có nghi hoặc thì sở kiến chẳng chính trực. Tất cả phàm phu nếu chẳng được nghe kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn này thì sở kiến tà vạy quanh co, thậm chí sở kiến của người Thanh văn, Phật-bích-chi cũng quanh co. Sao gọi là sở kiến của tất cả phàm phu là tà vạy quanh co? Ở trong hữu lậu thấy thường, lạc, ngã, tịnh; đối với Như Lai thấy vô thường, khổ, bất tịnh, vô ngã; thấy có chúng sinh, thọ mạng, tri kiến; chấp cõi phi hữu tưởng phi vô tưởng cho là Niết-bàn; thấy trời Tự Tại có tám thánh đạo, hữu kiến, đoạn kiến… những sự thấy như vậy gọi là tà vạy, quanh co. Đại Bồ-tát nếu được nghe kinh điển Đại Niết-bàn này, tu hành hạnh thánh thì đoạn trừ những tà vạy quanh co như vậy. Sao gọi là cái thấy tà vạy quanh co của Thanh văn, Duyên giác? Thấy Bồ-tát từ cõi Đâu-suất hóa thân xuống, cỡi voi trắng, giáng thần vào thai mẹ. Cha tên là Tịnh Phạn, mẹ tên là Ma-da, ở tại thành Ca-tỳ-la. Ở trong thai đầy đủ mười tháng sinh ra, sinh ra chưa đến đất thì Đế thích đã tiếp bồng, vua rồng Nan-đà và Bà-nan-đà phun nước tắm Bồ-tát, vua quỷ thần lớn Ma-nibạt-đà cầm lọng báu theo sau đứng hầu, thần đất hóa ra hoa sen để đỡ chân, bốn phương đều đi đầy đủ bảy bước. Đến miếu thờ trời khiến cho tượng chư Thiên đều đứng dậy nghinh đón. Tiên A-tư-đà ẳm để xem tướng. Xem tướng xong, ông rất buồn khổ, tự thương mình sẽ mạng chung chẳng nhìn thấy Phật. Đến thầy học văn chương, toán số, bắn cung, cỡi ngựa, vẽ tranh, sấm ký, kỹ nghệ. Ở tại thâm cung với sáu vạn thể nữ vui sướng hưởng lạc. Ra thành du ngoạn, đến vườn Ca-tỳ-la, trên đường thấy người già cho đến vị Sa-môn mặc pháp phục mà đi. Trở về đến trong cung, thấy các thể nữ, hình thể dung mạo giống như xương khô, cung điện như mồ mả không khác, nhàm chán xuất gia, nửa đêm vượt thành, đến chỗ các vị đại tiên Uất-đà-già, A-la-la v.v… nghe nói Thức xứ và Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ. Đã nghe vậy rồi quan sát kỹ thấy xứ này là vô thường, khổ, bất tịnh, vô ngã. Bỏ đi đến dưới cây, tu đủ hạnh khổ đầy đủ sáu năm, biết khổ hạnh này chẳng thể thành được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bấy giờ, Bồ-tát lại đến trong dòng sông A-di-la-bạt tắm gội, thọ sự dâng cúng cháo sữa của người con gái chăn bò, thọ dụng rồi đi đến nơi cây Bồ-đề, phá ma Batuần, được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ở thành Ba-lanại vì năm vị Tỳ-kheo lần đầu tiên chuyển bánh xe pháp cho đến ở thành Câu-thi-na này vào Bát-niết-bàn. Thấy những việc như vậy thì đó gọi là sự thấy quanh co của Thanh văn, Duyên giác. Này thiện nam! Đại Bồ-tát nghe thọ kinh Đại Niết-bàn này thì đều được đoạn trừ những cái thấy như vậy. Nếu có thể ghi chép, đọc tụng thông lợi, vì người khác giảng nói, suy nghĩ về nghĩa kinh ấy thì được cái thấy chính trực không tà vạy quanh co. Này thiện nam! Đại Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn như vậy thì chắc chắn biết là Bồ-tát từ vô lượng kiếp đến nay chẳng từ cõi trời Đâu-suất giáng thần vào thai mẹ cho đến vào Bát-niết-bàn ở thành Câu-thi-na. Đó gọi là cái thấy chính trực của Đại Bồ-tát. Có thể biết nghĩa thâm diệu của Như Lai là, đó tức là Đại Bát Niết Bàn, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, sám hối bốn trọng cấm, dứt trừ tâm bài báng pháp, hết tội ngũ nghịch, diệt Nhất-xiển-đề, rồi sau đó được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Đó gọi là nghĩa bí mật thâm diệu. Lại nữa, Này thiện nam! Sao lại gọi là nghĩa thâm diệu? Tuy biết chúng sinh thật không có ngã nhưng ở đời vị lai chẳng mất nghiệp quả. Tuy biết năm ấm đến đây diệt hết nhưng nghiệp thiện ác nhất định chẳng hết. Tuy có các nghiệp nhưng chẳng nắm bắt được tác giả. Tuy có chỗ đến nhưng không có người đi. Tuy có trói buộc nhưng không người chịu trói. Tuy có Niết-bàn nhưng cũng không người tịch diệt. Đó gọi là nghĩa bí mật thâm diệu.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như con hiểu, nghĩa nghe và chẳng nghe mà Phật đã nói thì nghĩa này chẳng vậy. Vì sao? Vì pháp, nếu có thì phải nhất định có. Pháp, nếu không thì phải nhất định không. Không chẳng nên sinh ra, có chẳng nên diệt đi. Như người nghe tức là nghe, nếu người chẳng nghe tức là chẳng nghe. Vì sao mà nói rằng, nghe điều chẳng nghe? Thưa Thế Tôn! Nếu chẳng thể nghe thì đó là chẳng nghe. Nếu đã nghe thì lại cũng chẳng nghe. Vì sao? Vì đã được nghe thì sao mà nói rằng, nghe điều chẳng nghe. Ví như người đi đã đến thì chẳng còn đi, mà còn đi thì chẳng đến. Cũng như sinh ra rồi thì chẳng còn sinh, chẳng còn sinh thì chẳng sinh. Được rồi thì chẳng còn được, mà chẳng được thì chẳng được. Nghe rồi thì chẳng còn nghe, mà chẳng nghe thì chẳng nghe cũng như vậy. Bạch Thế Tôn! Nếu chẳng nghe mà nghe thì tất cả chúng sinh chưa có Bồ-đề tức là có Bồ-đề, chưa được Niết-bàn tức là được Niết-bàn, chưa thấy Phật tánh tức là thấy Phật tánh, vì sao lại nói rằng, Bồ-tát Thập Trụ tuy thấy Phật tánh nhưng chưa được rõ ràng? Bạch Thế Tôn! Nếu người chẳng nghe mà nghe thì Như Lai thuở xưa theo ai được nghe? Nếu nói được nghe thì vì sao Như Lai, ở trong kinh A-hàm lại nói rằng, vô sư? Nếu chẳng nghe thì chẳng nghe mà Như Lai được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì tất cả chúng sinh chẳng nghe thì chẳng nghe cũng phải được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Thưa Thế Tôn! Nếu Thế Tôn chẳng nghe kinh Đại Niết-bàn này mà thấy Phật tánh thì tất cả chúng sinh chẳng nghe kinh này cũng phải được thấy. Bạch Thế Tôn! Phàm là sắc thì hoặc có thể thấy, hoặc chẳng thể thấy. Thanh cũng như thế, hoặc có thể thấy, hoặc chẳng thể thấy. Đại Niết-bàn này chẳng phải sắc, chẳng phải thanh thì sao nói rằng có thể được thấy nghe? Thưa Thế Tôn! Quá khứ đã diệt thì chẳng thể nghe, vị lai chưa đến cũng chẳng thể nghe và hiện tại khi nghe thì chẳng gọi là nghe, khi nghe rồi thanh diệt lại chẳng thể nghe. Kinh điển Đại Niết-bàn này cũng chẳng phải quá khứ, hiện tại, vị lai, mà nếu chẳng phải ba đời thì chẳng thể nói. Nếu chẳng thể nói thì chẳng thể nghe thì sao mà nói rằng, Bồ-tát tu kinh điển Đại Niết-bàn này nghe điều chẳng nghe.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn khen Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Ông nay giỏi biết tất cả các pháp như huyễn, như bóng nước, như thành của Càn-thát-bà, như dấu vẽ trong nước, như bong bóng nước, như cây chuối v.v… rỗng không không có thật, chẳng phải mạng, chẳng phải ngã, không có khổ vui, đúng như sự thấy biết của Bồ-tát Thập Trụ.

Khi ấy, trong đại chúng bỗng nhiên phút chốc có ánh sáng lớn, chẳng phải xanh thấy xanh, chẳng phải vàng thấy vàng, chẳng phải đỏ thấy đỏ, chẳng phải trắng thấy trắng, chẳng phải sắc thấy sắc, chẳng phải sáng thấy sáng, chẳng phải thấy mà thấy. Bấy giờ, đại chúng gặp ánh sáng ấy rồi thì thân tâm diệu lạc, ví như Tỳ-kheo vào định Sư tử vương. Khi ấy, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Hôm nay ánh sáng này do ai phóng ra?

Khi ấy, Đức Như Lai mặc nhiên chẳng nói. Bồ-tát Ca-diếp lại hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Vì nhân duyên gì mà có ánh sáng này soi đến đại chúng?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lặng thinh chẳng đáp. Bấy giờ, Bồ-tát Vô Biên Thân lại hỏi Bồ-tát Ca-diếp:

–Hôm nay ánh sáng này là của ai?

Bồ-tát Ca-diếp lặng thinh chẳng nói. Bồ-tát Tịnh Trụ Vương Tử lại hỏi Bồ-tát Vô Biên Thân:

–Vì nhân duyên gì trong đại chúng có ánh sáng này?

Bồ-tát Vô Biên Thân lặng thinh chẳng nói. Cứ như vậy, năm trăm vị Bồ-tát đều cũng hỏi như vậy. Tuy các vị hỏi nhau nhưng không có người trả lời. Bấy giờ, Đức Thế Tôn hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Này Văn-thù-sư-lợi! Vì nhân duyên gì trong đại chúng có ánh sáng này?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Thưa Thế Tôn! Ánh sáng như vậy gọi là trí tuệ. Trí tuệ tức là thường trụ, mà pháp thường trụ là không có nhân duyên thì vì sao Phật hỏi, vì nhân duyên gì có ánh sáng này? Ánh sáng này gọi là Đại Niếtbàn, mà Đại Niết-bàn thì gọi là thường trụ. Pháp thường trụ chẳng từ nhân duyên thì sao Phật hỏi rằng, vì nhân duyên gì có ánh sáng này? Ánh sáng này tức là Như Lai, mà Như Lai tức là thường trụ. Pháp thường trụ chẳng từ nhân duyên thì sao Như Lai hỏi nhân duyên? Ánh sáng này gọi là đại từ đại bi, mà đại từ đại bi thì gọi là thường trụ. Pháp thường trụ chẳng từ nhân duyên thì sao Như Lai hỏi nhân duyên? Ánh sáng này tức là niệm Phật, mà niệm Phật tức là thường trụ. Pháp thường trụ chẳng từ nhân duyên thì sao Như Lai hỏi nhân duyên? Ánh sáng này tức là đạo Bất cộng của tất cả Thanh văn, Duyên giác, mà đạo Bất cộng của Thanh văn, Duyên giác tức là thường trụ. Pháp thường trụ chẳng từ nhân duyên thì sao Như Lai hỏi nhân duyên? Thế Tôn cũng có nhân duyên. Nhân diệt vô minh thì ngọn đèn Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác được cháy sáng.

Đức Phật dạy:

–Này Văn-thù-sư-lợi! Hôm nay ông chớ vào đệ nhất nghĩa đế thâm diệu của các pháp. Ông nên dùng thế đế mà giảng nói điều đó.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Thưa Thế Tôn! Ở phương Đông này, qua khỏi số thế giới nhiều bằng hai mươi lần cát sông Hằng, có thế giới Phật tên là Bất Động, trụ xứ của Đức Phật ấy ngang dọc bằng nhau, đầy đủ một vạn hai ngàn dotuần. Đất nơi ấy bằng bảy thứ báu, không có đất đá, bằng phẳng mềm mại, không có các ngòi rãnh, hầm hố. Những cây cối của cõi ấy do bốn thứ báu tạo thành là vàng, bạc, lưu ly và pha lê, hoa trái sum suê, không lúc nào chẳng có. Nếu có chúng sinh nghe mùi hương hoa ấy thì thân tâm an lạc, ví như Tỳ-kheo vào thiền thứ ba. Chung quanh cõi ấy lại có ba ngàn dòng sông lớn, nước sông đầy đủ tám vị vi diệu. Nếu có chúng sinh nào tắm gội ở trong nước ấy thì được niềm hỷ lạc, ví như Tỳ-kheo vào thiền thứ hai. Những dòng sông ấy có đủ những loài hoa như hoa sen xanh, hoa sen vàng, hoa sen đỏ, hoa sen trắng, hoa hương, hoa đại hương, hoa diệu hương, hoa thường, hoa tất cả chúng sinh không chăm sóc. Hai bên bờ sông cũng có nhiều loài hoa, như là hoa ađề-mục-đa-dà, hoa chiêm-bà, hoa ba-tra-la, hoa bà-sư-la, hoa ma-lợica, hoa đại-ma-lợi-ca, hoa tân-ma-lợi-ca, hoa tu-ma-na, hoa do-đề-ca, hoa đàn-miễn-ca-lợi, hoa thường, hoa tất cả chúng sinh không chăm sóc. Đáy sông trải cát vàng, có bốn bậc bệ bằng vàng, bạc, lưu ly và pha lê đủ màu. Có nhiều loài chim tập hợp bơi dạo trong những dòng sông ấy. Lại có vô lượng cọp, sói, sư tử v.v… những loài chim, thú dữ xem nhau giống như con đỏ. Trong thế giới đó, tất cả không có kẻ phạm bốn trọng cấm, bài báng chánh pháp và Nhất-xiển-đề, tội ngũ nghịch v.v… Cõi ấy điều hòa thích hợp, không có lạnh nóng, đói khát, khổ não, không có tham dục, sân hận, phóng dật, ganh ghét, không có mặt trời, mặt trăng, ngày đêm, thời tiết, giống như trên cõi trời thứ hai là Đao-lợi. Dân chúng cõi ấy đều có ánh sáng, không ai có tâm kiêu mạn, tất cả đều là bậc Đại sĩ Bồ-tát, đều được thần thông, đầy đủ công đức lớn. Tâm họ đều tôn trọng chánh pháp, theo về Đại thừa, ái niệm Đại thừa, ham thích Đại thừa, hộ trì Đại thừa, thành tựu đại tuệ, được đại tổng trì, thường thương xót tất cả chúng sinh. Đức Phật của thế giới ấy hiệu là Mãn Nguyệt Quang Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, tùy theo chỗ ở mà thuyết giảng. Chúng sinh của cõi ấy không ai mà chẳng được nghe. Đức Phật ấy vì Đại Bồ-tát Lưu Ly Quang tuyên giảng kinh Đại Niếtbàn, nói: “Này thiện nam! Đại Bồ-tát nếu có thể tu hành kinh Đại Niết-bàn thì điều chẳng nghe đều được nghe hết”. Đại Bồ-tát Lưu Ly Quang đó hỏi Đức Phật Mãn Nguyệt Quang Minh cũng đúng như lời hỏi của Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương ở cõi này không khác. Đức Phật Mãn Nguyệt Quang Minh kia liền bảo Bồtát Lưu Ly Quang: “Này thiện nam! Phương Tây cách đây hai mươi lần cát sông Hằng cõi Phật, ở đó có thế giới tên là Ta-bà. Cõi ấy có nhiều núi đồi, gò đống, đất cát, sỏi đá, gai góc bén nhọn v.v… tràn đầy cùng khắp, thường có đói khát, lạnh nóng, khổ não. Muôn dân cõi ấy chẳng cung kính Sa-môn, Bà-la-môn, cha mẹ, sư trưởng. Họ tham đắm phi pháp, muốn ở trong phi pháp, tu hành tà pháp, chẳng tin chánh pháp, có thọ mạng ngắn ngủi, có hành động gian trá. Vua trừng trị họ. Vua tuy có nước, nhưng chẳng biết thỏa mãn, đối với vật sở hữu của người khác sinh lòng tham lợi, dấy binh chinh phạt nhau, kẻ chết oan uống là dân chúng. Vua thì làm việc phi pháp như vậy, nên thiện thần của Tứ Thiên Vương lòng không hoan hỷ nên giáng xuống tai họa, hạn hán, ngũ cốc chẳng mọc, dân chúng nhiều bệnh, khổ não không lường. Trong cõi đó có Đức Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, đại bi thuần hậu, thương xót chúng sinh, Đức Phật ấy đang ở rừng Ta-la song thọ, tại thành Câu-thi-na vì các đại chúng phô diễn kinh Đại Niếtbàn như vậy. Ở đó có vị Bồ-tát tên Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương đã hỏi việc ấy như ông không khác. Đức Phật hôm nay đang giải đáp vấn đế đó. Ông hãy mau chóng đi đến thì tự sẽ được nghe”. Bồ-tát Lưu Ly Quang kia nghe việc đó rồi, cùng với tám vạn bốn ngàn Đại Bồ-tát muốn đến cõi nầy, nên trước hết hiện những điềm lành. Do nhân duyên đó nên có ánh sáng này. Đó gọi là nhân duyên, cũng chẳng phải là nhân duyên. Bấy giờ, Bồ-tát Lưu Ly Quang cùng với tám vạn bốn ngàn các Bồ-tát đều mang những cờ, lọng, hương hoa, chuỗi ngọc, đủ thứ kỹ nhạc gấp bội hơn những người trước, cùng đi đến rừng Ta-la song thọ ở Câu-thi-na, mang theo phẩm vật cúng dường của mình mà cúng dường Đức Phật, đầu mặt lễ dưới chân Ngài, chấp tay cung kính, đi quanh bên phải ba vòng. Họ cúng dường xong, lui về ngồi một bên.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn hỏi vị Bồ-tát kia:

–Này thiện nam! Ông vì đến mà đến hay vì chẳng đến mà đến?

Bồ-tát Lưu Ly Quang đáp:

–Bạch Thế Tôn! Đến cũng chẳng đến, chẳng đến cũng chẳng đến. Con quan sát nghĩa này đều không có đến. Thưa Thế Tôn! Các hành nếu thường cũng chẳng đến, nếu là vô thường cũng chẳng đến. Nếu người thấy có tánh chúng sinh thì có đến, chẳng đến. Con nay chẳng thấy định tánh của chúng sinh thì sao phải nói rằng, có đến hay chẳng đến? Người có kiêu mạn thì thấy có đi, đến; người không kiêu mạn thì không đi, đến. Người có chấp hành thì thấy có đi, đến; người không chấp hành thì không đi, đến. Nếu thấy Như Lai rốt ráo Niết-bàn thì không đi, đến. Người chẳng nghe Phật tánh thì có đi, đến; người nghe Phật tánh thì không đi, đến. Nếu người thấy hàng Thanh văn, Phật-bích-chi có Niết-bàn thì có đi, đến; người chẳng thấy hàng Thanh văn, Phật-bích-chi có Niết-bàn thì không đi, đến. Nếu người thấy hàng Thanh văn, Phật-bích-chi thường, lạc, ngã, tịnh thì có đi, đến; nếu người chẳng thấy hàng Thanh văn, Phật-bích-chi thường, lạc, ngã, tịnh thì không đi, đến. Nếu người thấy Như Lai không thường, lạc, ngã, tịnh thì có đi, đến; nếu người thấy Như Lai thường, lạc, ngã, tịnh thì không đi, đến. Thưa Thế Tôn! Xin để việc ấy lại, con có điều muốn thưa hỏi.

Con nguyện xin Thế Tôn rủ lòng thương xót mà hứa cho.

Đức Phật nói:

–Này thiện nam! Ông cứ tùy ý đặt vấn đề, nay đã đúng lúc! Ta sẽ vì ông phân biệt giảng nói. Vì sao? Vì chư Phật khó gặp như loài hoa Ưu-đàm. Pháp cũng như vậy, khó có thể được nghe. Trong Mười hai bộ loại kinh điển, kinh Phương Đẳng lại khó hơn. Vậy ông cần phải chuyên tâm nghe nhận.

Đại Bồ-tát Lưu Ly Quang đã được Đức Phật chấp thuận và được dạy bảo, liền bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Đại Bồ-tát có thể tu hành kinh điển Đại Niết-bàn thì nghe điều chẳng nghe?

Bấy giờ, Đức Phật khen:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Ông nay muốn hiểu tận cùng biển Đại Niết-bàn Đại Thừa như vậy mà lại gặp được chính Ta. Ta có thể giảng nói cho ông. Tên độc, lưới nghi của ông hôm nay, Ta sẽ làm đại lương y có thể khéo nhổ ra hết. Ông đối với Phật tánh còn chưa sáng tỏ thì Ta có đuốc tuệ, có thể vì ông soi sáng. Ông nay muốn vượt qua dòng sông lớn sinh tử, Ta có thể vì ông làm đại thuyền sư. Ông đối với ta sinh tưởng như cha mẹ, ta đối với ông cũng sinh lòng thương như con đỏ. Tâm ông hôm nay tham báu chánh pháp mà gặp Ta có nhiều thì có thể ban cho nhau. Ông hãy lắng nghe! Lắng nghe! Hãy suy nghĩ khéo léo! Ta sẽ vì ông phân biệt, tuyên nói, giải thích cho. Này thiện nam! Ông muốn nghe pháp thì hôm nay chính là lúc đó. Nếu nghe pháp rồi thì ông phải sinh niềm kính tin, chí tâm nghe thọ, cung kính tôn trọng. Đối với chánh pháp chớ tìm kiếm lỗi lầm, chớ nghĩ tham dục, sân giận, ngu si, chớ tìm xem dòng họ pháp sư tốt xấu. Đã nghe pháp rồi, ông chớ sinh kiêu mạn, chớ vì sự cung kính, danh dự, lợi dưỡng, phải vì pháp lợi cam lồ độ thế, cũng chớ sinh ra ý nghĩ: “Ta nghe pháp rồi thì trước tự độ thân sau đó độ người, trước tự giải thoát thân sau đó giải thoát người, trước tự an thân sau đó an người, trước tự Niết-bàn sau đó khiến cho người được Niết-bàn. Đối với Phật, Pháp, Tăng nên sinh tưởng bình đẳng. Ở trong sinh tử thì sinh tưởng về đại khổ. Đối với Đại Niết-bàn nên sinh tưởng về thường, lạc, ngã, tịnh. Trước vì người khác sau đó vì bản thân. Phải vì Đại thừa chớ vì Nhị thừa. Đối với tất cả các pháp đừng bám víu vào pháp nào, cũng chớ chuyên chấp tất cả tướng. Ở trong các pháp chớ sinh tưởng về tham mà thường sinh tưởng về biết pháp, thấy pháp. Này thiện nam! Ông có thể chí tâm như vậy mà nghe pháp. Đó gọi là nghe điều chẳng nghe. Này thiện nam! Có điều chẳng nghe mà nghe, có điều chẳng nghe chẳng nghe, có điều nghe mà chẳng nghe, có điều nghe mà nghe. Này thiện nam! Như chẳng sinh mà sinh, chẳng sinh chẳng sinh, sinh mà chẳng sinh, sinh mà sinh. Như chẳng đến mà đến, chẳng đến chẳng đến, đến mà chẳng đến, đến mà đến.

–Bạch Thế Tôn! Sao gọi là chẳng sinh mà sinh?

–Này thiện nam! An trụ ở thế đế, khi mới ra khỏi thai thì đó gọi là chẳng sinh mà sinh.

–Sao gọi là chẳng sinh, chẳng sinh?

–Này thiện nam! Đại Niết-bàn này không có tướng sinh. Đó gọi là chẳng sinh chẳng sinh.

–Sao gọi là sinh mà chẳng sinh?

–Này thiện nam! Theo thế đế, khi chết thì đó gọi là sinh mà chẳng sinh.

–Sao gọi là sinh sinh?

–Này thiện nam! Tất cả phàm phu thì gọi là sinh sinh. Vì sao? Vì sinh sinh chẳng gián đoạn. Tất cả hữu lậu từng niệm từng niệm sinh ra. Đó gọi là sinh sinh. Bồ-tát tứ trụ gọi sinh mà chẳng sinh. Vì sao? Vì sinh tự tại nên đó gọi sinh chẳng sinh. Này thiện nam! Đó gọi là nội pháp. Sao gọi là ngoại pháp? Chưa sinh mà sinh, chưa sinh chưa sinh, sinh mà chưa sinh, sinh sinh. Này thiện nam! Ví như hạt giống khi chưa nảy mầm, nó được bốn đại hòa hợp, công sức người gieo trồng sau đó mới mọc. Đó gọi là chưa sinh mà sinh. Sao gọi là chưa sinh chưa sinh? Ví như hạt giống hư và chưa gặp duyên. Những nhóm như vậy gọi là chưa sinh chưa sinh. Sao gọi là sinh mà chưa sinh? Như mầm đã sinh ra rồi mà chẳng tăng trưởng. Đó gọi là sinh mà chưa sinh. Sao gọi là sinh sinh? Ví như mầm cây tăng trưởng. Nếu sinh mà chẳng sinh thì không tăng trưởng. Như vậy tất cả hữu lậu gọi là ngoại pháp sinh sinh.

Đại Bồ-tát Lưu Ly Quang bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Pháp hữu lậu nếu có sinh thì là thường hay là vô thường? Sinh nếu là thường thì pháp hữu lậu không có sinh. Sinh nếu vô thường thì hữu lậu là thường. Thưa Thế Tôn! Nếu sinh mà có thể tự sinh thì sinh không tự tánh. Nếu nó có thể sinh ra cái khác thì vì nhân duyên gì chẳng sinh ra hữu lậu? Thưa Thế Tôn! Nếu khi chưa sinh mà có sinh thì sao đến hôm nay mới gọi là sinh? Nếu khi chưa sinh mà không sinh thì vì sao chẳng nói hư không là sinh?

Đức Phật dạy:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Chẳng sinh mà sinh chẳng thể nói. Sinh mà sinh cũng chẳng thể nói. Sinh mà chẳng sinh cũng chẳng thể nói. Chẳng sinh mà chẳng sinh cũng chẳng thể nói. Sinh cũng chẳng thể nói. Chẳng sinh cũng chẳng thể nói. Có nhân duyên nên cũng có thể nói được. Sao gọi là chẳng sinh mà sinh chẳng thể nói? Chẳng sinh mà gọi là sinh thì sao có thể nói. Vì sao? Vì nó sinh. Sao gọi là sinh mà sinh chẳng thể nói? Vì sinh mà sinh nên sinh, sinh mà sinh nên chẳng sinh, cũng chẳng thể nói. Sao gọi là sinh mà chẳng sinh chẳng thể nói? Vì sinh tức là sinh, sinh chẳng tự sinh nên chẳng thể nói. Sao gọi là chẳng sinh chẳng sinh chẳng thể nói? Chẳng sinh thì gọi là Niết-bàn. Niết-bàn chẳng sinh nên chẳng thể nói. Vì sao? Vì do tu đạo mà được. Sao gọi là sinh cũng chẳng thể nói? Do sinh không có vậy. Sao gọi là chẳng sinh chẳng thể nói? Do có chứng đắc. Sao gọi là có nhân duyên nên cũng có thể nói được? Vì mười pháp nhân duyên làm tác nhân của sinh. Do nghĩa này nên cũng có thể nói được. Này thiện nam! Ông nay chớ vào định “không” thâm diệu. Vì sao? Vì đại chúng trì độn. Này thiện nam! Pháp hữu vi sinh cũng là thường nhưng do trụ vô thường nên sinh cũng vô thường. Trụ cũng là thường nhưng sinh mà sinh nên trụ cũng vô thường. Dị cũng là thường nhưng do pháp vô thường nên dị cũng vô thường. Hoại cũng là thường nhưng do xưa không nay có nên hoại cũng vô thường. Này thiện nam! Do tánh nên sinh, trụ, dị, hoại đều là thường. Nhưng từng niệm, niệm diệt nên chẳng thể nói thường. Đại Niết-bàn này có khả năng đoạn diệt nên gọi là vô thường. Này thiện nam! Pháp hữu lậu khi chưa sinh đã có tánh sinh nên sinh có thể sinh. Pháp vô lậu vốn không có tánh sinh nên sinh chẳng thể sinh. Như lửa có bản tánh cháy, gặp duyên thì phát khởi. Mắt có tánh thấy, nhân màu sắc, nhân ánh sáng, nhân tâm nên thấy. Pháp sinh của chúng sinh cũng như vậy, do vốn có tánh nên gặp nghiệp nhân duyên, cha mẹ hòa hợp thì liền có sinh.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Lưu Ly Quang và tám vạn bốn ngàn Đại Bồtát nghe pháp này xong, liền vọt lên hư không cao bằng bảy cây Đa-la, cung kính chấp tay mà bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Con nhờ Như Lai ân cần dạy bảo và nhân Đại Niết-bàn mới được hiểu về vấn đề nghe điều chẳng nghe, cũng khiến cho tám vạn bốn ngàn Bồ-tát hiểu sâu về các pháp chẳng sinh mà sinh v.v… Thưa Thế Tôn! Con nay đã hiểu, đoạn dứt các lưới nghi hoặc. Nhưng trong hội này có một Bồ-tát tên là Vô Úy lại muốn thưa hỏi, nguyện xin Thế Tôn rủ lòng hứa cho.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Vô Úy:

–Này thiện nam! Ông cứ tùy ý hỏi, Ta sẽ vì ông phân biệt giảng nói.

Lúc này, Bồ-tát Vô Úy cùng tám vạn bốn ngàn các vị Bồ-tát v.v… đều đứng dậy, sửa lại y phục, quỳ thẳng, chấp tay bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Chúng sinh cõi này tạo nghiệp gì mà được sinh về thế giới Bất động kia? Bồ-tát cõi ấy làm sao mà thành tựu được trí tuệ, làm bậc tôn quý trong loài người, có uy đức lớn, tu đủ các hạnh, trí sắc bén nhanh nhẹn nghe thì có thể hiểu được? Bấy giờ, Đức Thế Tôn liền nói kệ:

Chẳng hại mạng chúng sinh
Giữ vững các giới cấm
Hành pháp Phật vi diệu
Thì sinh nước Bất Động.
Chẳng đoạt của tha nhân
Thường bố thí tất cả
Lập tinh xá bốn phương
Thì sinh nước Bất Động.
Chẳng phạm vợ tha nhân
Chẳng phi thời với vợ
Trì giới, thí đồ nằm
Thì sinh nước Bất Động.
Chẳng vì mình hoặc người
Cầu lợi và khủng bố
Cẩn thận, đừng nói dối
Thì sinh nước Bất Động.
Chớ hủy hoại bạn lành
Xa lìa quyến thuộc ác
Miệng nói lời hòa hợp
Thì sinh nước Bất Động.
Như các bậc Bồ-tát
Thường xa lìa ác khẩu
Nói người nghe vui lòng
Thì sinh nước Bất Động.
Lúc cười đùa cũng nên
Chẳng nói lời chẳng hợp
Cẩn thận lời lúc thường
Thì sinh nước Bất Động.
Thấy người được lợi dưỡng
Thường sinh lòng hoan hỷ
Chẳng khởi lòng ghét ghen
Thì sinh nước Bất Động.
Chẳng não hại chúng sinh
Thường sinh lòng từ ái
Chẳng nghĩ cách làm ác
Thì sinh nước Bất Động.
Tà kiến nói không thí
Cha mẹ và đi lại
Chẳng khởi kiến như trên
Thì sinh nước Bất Động.
Đường trống làm giếng tốt
Gieo trồng rừng cây trái
Thường thí người xin ăn
Thì sinh nước Bất Động.
Đối với Phật, Pháp, Tăng
Cúng một cây hương, đèn
Cho đến hiến cành bông
Thì sinh nước Bất Động.
Nếu vì tâm lo sợ
Lợi dưỡng và phước đức
Chép một kệ kinh này
Thì sinh nước Bất Động.
Vì cầu mong phước lợi
Trong một ngày có thể
Đọc tụng kinh điển này
Thì sinh nước Bất Động.
Nếu vì đạo vô thượng
Trong một ngày một đêm
Tám giới trai giữ gìn
Thì sinh nước Bất Động.
Chẳng cùng ở một chỗ
Với người phạm trọng cấm
Chê bai kinh Phương Đẳng
Thì sinh nước Bất Động.
Nếu hay cho bệnh nhân
Thậm chí một trái cây
Hoan hỷ mà chăm sóc
Thì sinh nước Bất Động.
Chẳng phạm vật chúng Tăng
Khéo giữ vật cúng Phật
Dọn quét chỗ Phật, Tăng
Thì sinh nước Bất Động.
Tạo tháp tượng Thế Tôn
Dù bằng ngón tay cái
Thường sinh lòng vui mừng
Thì sinh nước Bất Động.
Nếu vì kinh Niết-bàn
Tự thân và của báu
Cúng dường người nói pháp
Thì sinh nước Bất Động.
Nếu nghe và ghi chép
Thọ trì và đọc tụng
Mật tạng các Thế Tôn
Thì sinh nước Bất Động.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Vô Úy bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Con nay đã biết sự tạo tác nghiệp duyên để được sinh đến nước Bất Động kia. Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương này vì thương xót tất cả chúng sinh nên trước đã thưa hỏi. Đức Như Lai nếu nói thì có thể đem lại lợi ích an lạc cho hàng trời, người, A-tu-la, Càn-thát-bà, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầula-già v.v…

Lúc ấy, Đức Thế Tôn liền bảo Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Ông nay ở đây phải chí tâm lắng nghe. Ta sẽ vì ông phân biệt giảng nói. Vì có nhân duyên nên chưa đến chẳng đến, có nhân duyên nên chẳng đến mà đến, có nhân duyên nên đến mà chẳng đến, có nhân duyên nên đến mà đến. Vì nhân duyên gì chưa đến chẳng đến? Này thiện nam! Phàm chẳng đến là, Đại Niết-bàn thì phàm phu chưa đến, do có tham dục, sân giận, ngu si, vì nghiệp thân, miệng, ý chẳng thanh tịnh và vì thọ tất cả vật bất tịnh, vì phạm bốn trọng cấm, vì bài báng Phương Đẳng, vì Nhất-xiển-đề, vì năm tội nghịch, do nghĩa này nên chưa đến chẳng đến. Này thiện nam! Vì nhân duyên gì chẳng đến mà đến? Chẳng đến là gọi Đại Niết-bàn. Vì nghĩa gì nên đến? Vĩnh viễn đoạn tham dục, sân hận, ngu si, thân, miệng ác, chẳng thọ tất cả vật bất tịnh, chẳng phạm bốn trọng cấm, chẳng bài báng kinh Phương Đẳng, chẳng làm Nhất-xiển-đề, chẳng phạm tội ngũ nghịch, do nghĩa này nên gọi là chẳng đến mà đến. Tuđà-hoàn thì tám vạn kiếp đến, Tư-đà-hàm thì sáu vạn kiếp đến, A-nahàm thì bốn vạn kiếp đến, A-la-hán thì hai vạn kiếp đến, Phật-bích-chi thì mười ngàn kiếp đến. Do nghĩa này nên gọi là chẳng đến mà đến. Này thiện nam! Vì nhân duyên gì đến mà chẳng đến? Đến là gọi hai mươi lăm cõi. Tất cả chúng sinh thường bị sự che phủ của vô lượng những phiền não kiết sử, qua lại chẳng rời, giống như bánh xe quay. Đó gọi là đến. Thanh văn, Duyên giác và các Bồ-tát đã được vĩnh viễn lìa khỏi nên gọi là chẳng đến. Vì muốn hóa độ các chúng sinh nên thị hiện ở trong đó nên cũng gọi là đến. Này thiện nam! Vì nhân duyên gì nên gọi là đến mà đến? Đến tức là hai mươi lăm hữu. Do nhân duyên phiền não của tất cả phàm phu, Tu-đà-hoàn cho đến A-na-hàm nên gọi là đến mà đến. Này thiện nam! Nghe điều chẳng nghe cũng như vậy, có điều chẳng nghe mà nghe, có điều chẳng nghe mà chẳng nghe, có điều nghe mà chẳng nghe, có điều nghe mà nghe. Sao gọi là chẳng nghe mà nghe? Này thiện nam! Chẳng nghe là gọi Đại Niết-bàn. Vì sao chẳng nghe? Vì chẳng phải hữu vi, chẳng phải âm thanh, chẳng thể nói. Sao gọi là cũng nghe? Được nghe danh như là thường, lạc, ngã, tịnh. Do nghĩa này nên gọi là chẳng nghe mà nghe.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như lời Phật nói, Đại Niết-bàn là chẳng thể nghe được thì sao lại nói thường, lạc, ngã, tịnh có thể nghe được? Bạch Thế Tôn! Vì sao người đoạn phiền não thì gọi là đắc Niết-bàn, nếu chưa đoạn thì gọi là chẳng đắc? Do nghĩa này nên tánh của Niết-bàn trước không nay có. Nếu pháp thế gian trước không nay có thì gọi là vô thường, ví như cái bình v.v… trước không nay có, đã có rồi trở lại không nên gọi là vô thường. Niết-bàn nếu vậy thì sao nói rằng, thường, lạc, ngã, tịnh? Lại nữa, bạch Thế Tôn! Phàm cái gì do trang nghiêm mà thành thì đều gọi là vô thường. Niết-bàn nếu vậy thì đáng lẽ là vô thường. Những gì là nhân duyên? Đó là Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Sáu pháp Ba-la-mật, Bốn tâm vô lượng, quán đến tướng xương, hơi thở ra vào, sáu niệm xứ, phá gãy sáu đại v.v… Những pháp như vậy đều là nhân duyên thành tựu Niết-bàn nên gọi là vô thường. Lại nữa, bạch Thế Tôn! Có gọi là vô thường, nếu Niết-bàn là có nên cũng vô thường. Như Đức Phật, trước ở trong kinh A-hàm nói rằng, Thanh văn, Duyên giác, chư Phật Thế Tôn đều có Niết-bàn. Do nghĩa này nên gọi là vô thường. Lại nữa, bạch Thế Tôn! Pháp có thể thấy gọi là vô thường. Như Đức Phật trước đã nói, thấy Niết-bàn thì đoạn trừ được tất cả phiền não. Lại nữa, bạch Thế Tôn! Ví như hư không đối với các chúng sinh đều không ngăn ngại nên gọi là vô thường. Giả sử Niết-bàn là thường thì vì sao chúng sinh có người được, có người chẳng được? Niếtbàn nếu vậy, đối với các chúng sinh chẳng bình đẳng thì chẳng gọi là thường. Thưa Thế Tôn! Ví như một trăm người có chung một oán thù. Nếu hại được kẻ oán thù này thì nhiều người được vui. Giả sử Niết-bàn là pháp bình đẳng thì khi một người được nên có nhiều người được, một người đoạn kiết phiền não nên có nhiều người cũng đoạn trừ. Nếu chẳng như vậy thì làm sao gọi là thường. Ví như có người cung kính, cúng dường, tôn trọng, ngợi khen quốc vương, vương tử, cha mẹ, sư trưởng thì được lợi dưỡng. Đó chẳng gọi là thường. Niết-bàn cũng vậy, chẳng gọi là thường. Vì sao? Vì như lúc trước Đức Phật ở trong kinh Ahàm, bảo Tôn giả A-nan rằng, nếu có người cung kính Niết-bàn thì được đoạn trừ kiết sử, thọ vô lượng an lạc. Do nghĩa này nên chẳng gọi là thường. Bạch Thế Tôn! Nếu trong Niết-bàn có tên thường, lạc, ngã, tịnh thì chẳng gọi là thường. Như nó không có thì sao có thể nói?

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương:

–Thể của Niết-bàn chẳng phải vốn không mà nay có. Nếu thể của Niết-bàn vốn không mà nay có thì chẳng phải là pháp vô lậu thường trụ. Có Phật, không Phật tánh tướng thường trụ nhưng vì các chúng sinh bị phiền não che phủ nên chẳng thấy Niết-bàn liền cho là không có. Đại Bồ-tát dùng giới, định, tuệ huân tập tu sửa tâm mình, đoạn trừ phiền não rồi sẽ được thấy Niết-bàn. Ông phải biết rằng, Niếtbàn là pháp thường trụ, chẳng phải vốn không mà nay có. Vậy nên Niết-bàn là thường. Này thiện nam! Ví như trong ngôi nhà tối có cái giếng chứa đủ bảy báu mà ai cun g biết nhưng vì tối nên chẳng thấy. Có người trí giỏi biết phương tiện, thắp đèn sáng lớn, đem đến soi sáng, thấy được hết những báu đó. Người trí ấy đối với sự việc này chẳng bao giờ nghĩ là nước và bảy báu trước không nay có. Niết-bàn cũng vậy, vốn tự đã có, chẳng phải hôm nay mới có. Vì phiền não tối tăm nên chúng sinh chẳng thấy, Đức Như Lai đại trí, dùng phương tiện khéo léo thắp đèn trí tuệ, khiến cho các Bồ-tát được thấy Niết-bàn thường, lạc, ngã, tịnh. Vậy nên kẻ trí đối với Niết-bàn này chẳng nên nói rằng, vốn không mà nay có. Này thiện nam! Ông nói rằng, do trang nghiêm mà được thành Niết-bàn nên lẽ ra là vô thường thì điều đó cũng chẳng đúng. Vì sao? Này thiện nam! Thể của Niết-bàn chẳng phải sinh, chẳng phải xuất, chẳng phải thật, chẳng phải hư, chẳng phải do tác nghiệp sinh, chẳng phải là pháp hữu lậu, hữu vi, chẳng phải nghe, chẳng phải thấy, chẳng phải đọa, chẳng phải chết, chẳng phải tướng riêng khác, cũng chẳng phải tướng đồng, chẳng phải trụ, chẳng phải qua, chẳng phải lại; chẳng phải quá khứ, hiện tại và vị lai; chẳng phải một, chẳng phải nhiều, chẳng phải dài, chẳng phải ngắn, chẳng phải tròn, chẳng phải vuông, chẳng phải nhọn, chẳng phải tà, chẳng phải có tướng, chẳng phải không tướng, chẳng phải danh, chẳng phải sắc, chẳng phải nhân, chẳng phải quả, chẳng phải ngã và ngã sở. Do nghĩa này nên Niết-bàn là thường hằng chẳng biến đổi. Đó là do vô lượng vô số kiếp tu tập pháp thiện để tự trang nghiêm, rồi sau đó mới thấy. Này thiện nam! Ví như trong lòng đất có nước tám vị mà tất cả chúng sinh chẳng thể thấy được. Có người trí thi công đào xuyên qua thì liền được nước đó. Niết-bàn cũng vậy. Ví như người mù chẳng thấy mặt trời, mặt trăng, được lương y trị liệu cho thì liền được thấy, mà mặt trời, mặt trăng này chẳng phải là vốn không mà nay có. Niết-bàn cũng vậy, trước đã tự có rồi, chẳng phải vừa mới có hôm nay. Này thiện nam! Ví như người có tội bị giam giữ lâu trong ngục mới được ra, trở về nhà được thấy cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc, Niết-bàn cũng vậy. Này thiện nam! Ông nói rằng, vì là nhân duyên nên pháp Niết-bàn phải là vô thường, điều này cũng chẳng đúng. Vì sao? Này thiện nam! Vì nhân có năm thứ. Những gì là năm? Một là sinh nhân, hai là hòa hợp nhân, ba là trụ nhân, bốn là tăng trưởng nhân, năm là nhân xa. Sao gọi là sinh nhân? Sinh nhân tức là nghiệp phiền não v.v… như bên ngoài là hạt giống cỏ cây… Đó gọi là sinh nhân. Sao gọi là hòa hợp nhân? Như cái thiện cùng tâm thiện hòa hợp, cái chẳng thiện cùng với tâm chẳng thiện hòa hợp, cái vô ký cùng với tâm vô ký hòa hợp. Đó gọi là nhân hòa hợp. Sao gọi là trụ nhân? Như bên dưới có trụ chống thì nhà chẳng sập; núi, sông, cây cối nhờ đất đai mà được đứng vững. Bên trong có bốn đại, vô lượng phiền não nên chúng sinh được trụ. Đó gọi là trụ nhân. Sao gọi là tăng trưởng nhân? Nhân duyên quần áo, ăn uống v.v… nên khiến cho chúng sinh tăng trưởng. Như bên ngoài, hạt giống chẳng bị lửa đốt cháy, chẳng bị chim ăn mất thì nó được tăng trưởng. Như các Sa-môn, Bà-la-môn v.v… nương vào nhân Hòa thượng, thiện tri thức v.v… mà được tăng trưởng. Như nhân cha mẹ thì con được tăng trưởng. Đó gọi là nhân tăng trưởng. Sao gọi là nhân xa? Ví như nhân thần chú mà quỷ chẳng thể hại được, độc chẳng thể trúng được. Nương tựa quốc vương thì không có đạo tặc. Như mầm cây nương nhờ đất, nước, gió, lửa v.v… Như nước sữa cùng người khuấy là nhân xa của kem sữa. Như ánh sáng cảnh sắc v.v… là nhân xa của nhận thức. Tinh huyết cha mẹ là nhân xa của chúng sinh. Như thời tiết v.v… đều gọi là nhân xa. Này thiện nam! Thể của Niết-bàn chẳng phải là sự tạo thành của năm thứ nhân như vậy thì sao phải nói rằng, đó là nhân vô thường? Lại nữa, này thiện nam! Lại có hai thứ nhân, một là tác nhân, hai là liễu nhân. Như bánh xe, sợi dây của người thợ gốm thì đó gọi là tác nhân. Như đèn đuốc v.v… chiếu soi vật trong tối thì đó gọi là liễu nhân. Này thiện nam! Đại Niết-bàn thì chẳng từ tác nhân mà có, chỉ từ liễu nhân thôi. Liễu nhân đó là ba mươi bảy phẩm trợ đạo, sáu pháp Ba-lamật. Đó gọi là liễu nhân. Này thiện nam! Bố thí là nhân của Niết-bàn, chẳng phải là nhân của Đại Niết-bàn. Thí Ba-la-mật mới được gọi là nhân của Đại Niết-bàn. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là nhân của Niếtbàn, chẳng phải là nhân của Đại Niết-bàn. Vô lượng vô biên vô số kiếp tu hành pháp Bồ-đề thì mới được gọi là nhân của Đại Niết-bàn.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Bố thí thế nào chẳng được gọi là Thí Ba-la-mật? Bố thí thế nào được gọi là Thí Ba-la-mật? Cho đến Bát nhã thế nào chẳng được gọi là Bát nhã Ba-la-mật? Bát nhã thế nào được gọi là Bát nhã Ba-la-mật? Thế nào gọi là Niết-bàn? Thế nào gọi là Đại Niết-bàn? Đức Phật dạy:

–Đại Bồ-tát tu hành Đại Niết-bàn Phương Đẳng thì chẳng nghe bố thí, chẳng thấy bố thí, chẳng nghe Thí Ba-la-mật, chẳng thấy Thí Ba-la-mật cho đến chẳng nghe Bát nhã, chẳng thấy Bát nhã, chẳng nghe Bát nhã Ba-la-mật, chẳng thấy Bát nhã Ba-la-mật, chẳng nghe Niết-bàn, chẳng thấy Niết-bàn, chẳng nghe Đại Niết-bàn, chẳng thấy Đại Niết-bàn. Đại Bồ-tát tu hành Đại Niết-bàn thì thấy biết pháp giới, hiểu rõ thật tướng rỗng không, không sở hữu, không có tướng hiểu biết hòa hợp, được tướng vô lậu, tướng không sở tác, tướng như huyễn hóa, tướng bóng nước khi nắng nóng, tướng rỗng không của thành Càn-thátbà. Bấy giờ, được những tướng như vậy Bồ-tát không tham, sân, si, chẳng nghe, chẳng thấy. Đó gọi là tướng chân thật của Bồ-tát. An trụ thật tướng, Đại Bồ-tát tự biết đây là Thí, đây là Thí Ba-la-mật cho đến đây là Bát nhã, đây là Bát nhã Ba-la-mật, đây là Niết-bàn, đây là Đại Niết-bàn.

Này thiện nam! Thế nào là Thí chẳng phải là Ba-la-mật? Thấy có người xin, sau đó mới cho thì đó gọi là Thí, chẳng phải là Ba-la-mật. Nếu không có người xin mà mở lòng tự thí thì đó gọi là Thí Ba-la-mật. Nếu thí từng lúc từng lúc thì đó gọi là Thí chẳng phải là Ba-la-mật. Nếu tu thí luôn luôn thì gọi là Thí Ba-la-mật. Nếu thí cho người rồi trở lại sinh lòng hối thì gọi là Thí, chẳng phải là Ba-la-mật. Thí rồi chẳng hối thì đó gọi là Thí Ba-la-mật. Đại Bồ-tát đối với của cải sinh ra bốn tâm lo sợ là vua, giặc, nước, lửa mà hoan hỷ thí cho thì đó gọi là Thí Ba-la-mật, còn nếu hy vọng quả báo mà bố thí thì gọi là Thí, chẳng phải là Ba-la-mật. Bố thí chẳng mong báo đáp thì gọi là Thí Ba-la-mật. Nếu bố thí vì sợ hãi, vì danh tiếng, vì lợi dưỡng, vì tiếp nối phép nhà, vì năm dục trên trời, vì kiêu mạn, vì thắng mạn, vì quen biết, vì quả báo đời sau thì như phép trao đổi ở chợ. Này thiện nam! Như người trồng cây vì được bóng mát, vì được hoa trái và cây gỗ, nếu người tu hành thí như vậy v.v… thì gọi là Thí chẳng phải là Ba-la-mật.

Đại Bồ-tát tu hành Đại Niết-bàn thế này: chẳng thấy người thí, người nhận và của bố thí, chẳng thấy thời tiết, chẳng thấy ruộng phước và chẳng phải ruộng phước, chẳng thấy nhân, chẳng thấy duyên, chẳng thấy quả báo, chẳng thấy người làm, chẳng thấy người nhận, chẳng thấy nhiều, chẳng thấy ít, chẳng thấy tịnh, chẳng thấy bất tịnh, chẳng khinh người nhận tài vật của mình, chẳng thấy người thấy, chẳng thấy người chẳng thấy, chẳng chấp mình, người mà chỉ vì pháp thường trụ của Đại Niết-bàn Phương Đẳng nên tu hành bố thí, vì tạo lợi ích cho tất cả chúng sinh mà làm việc bố thí, vì đoạn trừ phiền não cho tất cả chúng sinh nên làm bố thí, vì các chúng sinh chẳng thấy người nhận, người cho tài vật cho nên làm bố thí. Này thiện nam! Ví như có người rơi xuống biển cả bám lấy thây chết mà được thoát chết. Đại Bồ-tát tu Đại Niết-bàn khi làm bố thí cũng như vậy, như tử thi kia. Này thiện nam! Ví như có người bị giam ở tại ngục sâu, cửa nẻo chắc chắn, chỉ có lỗ nhà xí, liền từ trong đó thoát ra, đến chỗ tự do. Đại Bồ-tát tu Đại Niết-bàn khi làm bố thí cũng như vậy. Này thiện nam! Ví như người cao quý bị khủng bố nguy cấp lại không chỗ nhờ cậy, nương nhờ Chiên-đà-la. Đại Bồ-tát tu Đại Niết-bàn làm bố thí cũng như vậy. Này thiện nam! Ví như người bệnh vì trừ khỏi bệnh khổ nên ăn uống bất tịnh. Đại Bồ-tát tu Đại Niết-bàn làm bố thí cũng như vậy. Này thiện nam! Như Bà-la-môn gặp lúc lương thực khan hiếm, vì thọ mạng nên ăn thịt chó. Đại Bồ-tát tu Đại Niết-bàn làm bố thí cũng như vậy. Này thiện nam! Trong Đại Niết-bàn, những việc như vậy, từ vô lượng kiếp đến nay chẳng nghe mà nghe. Trì giới, Trì giới Ba-la-mật cho đến Bát nhã, Bát nhã Ba-la-mật… như Phật đã rộng nói trong kinh Tạp Hoa.

Này thiện nam! Thế nào gọi là Đại Bồ-tát tu Đại Niết-bàn chẳng nghe mà nghe? Mười hai bộ loại kinh điển, ý nghĩa thâm diệu, từ xưa đến giờ chẳng nghe, nay nhân kinh này được nghe đầy đủ. Trước tuy được nghe nhưng chỉ nghe danh tự, nay ở kinh Đại Niết-bàn này mới được nghe nghĩa. Thanh văn, Duyên giác chỉ nghe danh tự mười hai bộ loại kinh điển mà chẳng nghe được nghĩa của kinh ấy thì nay nhân kinh này được nghe đầy đủ. Đó gọi là chẳng nghe mà nghe. Này thiện nam! Trong tất cả kinh của Thanh văn, Duyên giác, chẳng từng nghe Phật có thường, lạc, ngã, tịnh, chẳng rốt ráo nhập diệt, Tam bảo, Phật tánh không có tướng sai biệt, phạm bốn trọng cấm, bài báng kinh Phương Đẳng, tạo tội ngũ nghịch, Nhất-xiển-đề đều có Phật tánh. Hôm nay ở kinh này được nghe những điều đó. Đó gọi là chẳng nghe mà nghe.

**********

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nếu người phạm bốn trọng cấm, bài báng kinh Phương Đẳng, tạo tội ngũ nghịch, Nhất-xiển-đề v.v… mà có Phật tánh thì những người đó tại sao lại đọa vào địa ngục? Thưa Thế Tôn! Giả sử những người này có Phật tánh thì sao lại nói rằng họ không có thường, lạc, ngã, tịnh? Bạch Thế Tôn! Nếu đoạn dứt thiện căn gọi là Nhấtxiển-đề thì khi đoạn thiện căn sao chẳng đoạn Phật tánh? Phật tánh nếu đoạn thì sao nói thường, lạc, ngã, tịnh? Như Phật tánh chẳng đoạn thì vì sao gọi là Nhất-xiển-đề? Thưa Thế Tôn! Phạm bốn trọng cấm gọi là bất định. Bài báng kinh Phương Đẳng, tạo tội ngũ nghịch và Nhất-xiển-đề đều gọi là bất định. Những loại như vậy, nếu quyết định thì làm sao được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác? Từ Tu-đàhoàn cho đến Phật-bích-chi cũng gọi là bất định. Nếu từ Tu-đà-hoàn đến Phật-bích-chi là quyết định thì cũng chẳng thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Thưa Thế Tôn! Nếu người phạm bốn trọng cấm là bất định thì từ Tu-đà-hoàn cho đến Phật-bích-chi cũng bất định. Bất định như vậy thì chư Phật Như Lai cũng lại bất định. Nếu Phật bất định thì thể tánh Niết-bàn cũng lại bất định, đến tất cả các pháp cũng lại bất định. Sao gọi là bất định? Nếu Nhất-xiển-đề trừ Nhất-xiển-đề thì thành Phật đạo. Chư Phật Như Lai lẽ ra cũng như vậy, vào Niết-bàn rồi thì đáng lẽ cũng nên trở ra, chẳng vào Niết-bàn. Nếu như vậy thì tánh của Niết-bàn là bất định, vì bất định nên phải biết không có thường, lạc, ngã, tịnh thì sao nói Nhất-xiển-đề v.v… sẽ được Niết-bàn?

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Vì muốn tạo lợi ích cho vô lượng chúng sinh, khiến cho họ được an vui, thương xót nhớ nghĩ các thế gian, vì muốn tăng thêm chư Bồ-tát phát tâm Bồ-đề nên ông đã đặt câu hỏi như vậy. Này thiện nam! Ông đã gần gũi vô lượng chư Phật Thế Tôn đời quá khứ, ở chỗ chư Phật ấy gieo trồng các căn lành. Ông đã thành tựu công đức Bồ-đề lâu rồi, đã hàng phục chúng ma khiến cho chúng tan rã. Ông đã giáo hóa vô lượng vô biên chúng sinh đều khiến cho họ được đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ông đã thông đạt tạng bí mật thâm diệu của chư Phật Như Lai lâu rồi, đã hỏi nghĩa vi mật thâm diệu như vậy với vô lượng vô biên hằng hà sa số chư Phật Thế Tôn đời quá khứ. Ta chẳng thấy tất cả thế gian, hoặc trời, hoặc người, hoặc Sa-môn, hoặc Bà-la-môn, hoặc ma, hoặc Phạm v.v … có thể thưa hỏi Như Lai về nghĩa này. Hôm nay ông phải thành tâm lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì ông phân biệt giảng nói. Này thiện nam! Nhất-xiển-đề cũng bất định. Nếu quyết định thì Nhất-xiển-đề này trọn chẳng thể được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, mà do bất định nên có thể được. Như lời ông hỏi, Phật tánh chẳng đoạn thì làm sao Nhấtxiển-đề đoạn thiện căn? Này thiện nam! Thiện căn có hai thứ, một là nội, hai là ngoại. Phật tánh chẳng phải nội, chẳng phải ngoại. Do nghĩa này nên Phật tánh chẳng đoạn. Thiện căn lại có hai thứ, một là hữu lậu, hai là vô lậu. Phật tánh chẳng phải hữu lậu, chẳng phải vô lậu. Vậy nên Phật tánh chẳng đoạn. Thiện căn lại có hai thứ, một là thường, hai là vô thường. Phật tánh chẳng phải thường, chẳng phải vô thường. Vậy nên Phật tánh chẳng đoạn. Nếu là đoạn được thì lẽ ra trở lại được, nếu chẳng trở lại được thì gọi là chẳng đoạn. Nếu đoạn rồi thì gọi là Nhấtxiển-đề. Phạm bốn trọng cấm cũng là bất định. Nếu quyết định thì phạm bốn trọng cấm nhất định chẳng thể được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bài báng kinh Phương Đẳng cũng lại bất định. Nếu quyết định thì người bài báng chánh pháp nhất định chẳng thể được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tạo tội ngũ nghịch cũng lại bất định. Nếu quyết định thì người tạo tội ngũ nghịch nhất định chẳng thể được

Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Sắc và tướng của sắc cả hai đều bất định. Tướng của hương, vị, xúc, tướng của sinh cho đến tướng của vô minh, tướng của ấm, giới, nhập, tướng của hai mươi lăm hữu, bốn loài chúng sinh cho đến tất cả các pháp cũng đều bất định. Này thiện nam! Ví như nhà huyễn thuật, ở trong đại chúng hóa làm bốn thứ binh là xe, bộ, voi, ngựa, tạo tác những chuỗi ngọc, đồ trang sức nơi thân, tạo ra thành ấp, xóm làng, núi rừng, cây cối, suối ao, sông giếng. Ở trong chúng đó có các tiểu nhi, không có trí tuệ, khi nhìn thấy những thứ đó đều cho là thật. Kẻ trí trong chúng ấy biết những thứ kia là hư dối, do sức huyễn thuật nên mê hoặc mắt người. Này thiện nam! Tất cả phàm phu cho đến Thanh văn, Phật-bích-chi v.v… đối với tất cả pháp thấy có định tướng cũng như vậy. Chư Phật Bồ-tát đối với tất cả pháp không thấy định tướng. Này thiện nam! Ví như đứa trẻ con vào mùa hè khi thấy sóng nắng dợn thì gọi đó là nước. Người có trí đối với sóng nắng này nhất định chẳng sinh ra tư tưởng nước thật mà chỉ là sóng nắng làm làm lóa mắt người chẳng phải thật là nước. Tất cả phàm phu, Thanh văn, Duyên giác thấy tất cả các pháp cũng như vậy, đều cho là thật. Chư Phật, Bồ-tát đối với tất cả pháp chẳng thấy định tướng. Này thiện nam! Ví như hang núi, nhân tiếng mà có âm vang. Trẻ con nghe âm vang cho là tiếng thật. Người có trí biết được đó không thật mà chỉ có tướng của tiếng lừa dối nhận thức của tai. Này thiện nam! Tất cả phàm phu, Thanh văn, Duyên giác đối với tất cả các pháp cũng như vậy, thấy có định tướng. Các vị Bồ-tát hiểu rõ các pháp đều không định tướng mà là tướng vô thường, tướng không tịch, tướng không sinh diệt v.v… Do nghĩa này nên Đại Bồ-tát thấy tất cả các pháp là tướng vô thường. Này thiện nam! Cũng có định tướng. Sao gọi là định? Thường, lạc, ngã, tịnh. Ở tại đâu? Đó là Niết-bàn. Này thiện nam! Quả Tu-đàhoàn cũng lại bất định. Vì chẳng quyết định nên họ trải qua tám vạn kiếp mới được tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Quả Tư-đàhàm cũng lại bất định. Vì chẳng quyết định nên họ trải qua sáu vạn kiếp mới được tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Quả A-na-hàm cũng lại bất định. Vì chẳng quyết định nên họ trải qua bốn vạn kiếp mới được tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Quả A-la-hán cũng lại bất định. Vì chẳng quyết định nên họ trải qua hai vạn kiếp mới được tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Đạo Phật-bích-chi cũng lại bất định. Vì chẳng quyết định nên họ trải qua mười ngàn kiếp mới được tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này thiện nam! Như Lai hôm nay ở trong rừng Ta-la song thọ tại thành Câu-thi-na nầy thị hiện nằm tựa vào giường sư tử, muốn vào Niết-bàn khiến cho những chúng đệ tử chưa được quả A-la-hán và các lực sĩ sinh ra khổ não lớn, cũng khiến cho hàng trời, người, A-tu-la, Càn-thát-bà, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Mahầu-la-già v.v… thiết đại lễ cúng dường và muốn khiến cho mọi người dùng một ngàn tấm vải trắng quấn bọc thân Như Lai, dùng bảy báu làm áo quan đựng đầy dầu thơm, gom chứa gỗ thơm, dùng lửa để thiêu đốt, chỉ trừ hai tấm chẳng thể đốt được, một là tấm bọc xác thân, hai là tấm ở ngoài cùng, cũng vì các chúng sinh phân tán xá lợi làm tám phần. Tất cả đệ tử Thanh văn có mặt đều cho rằng, Như Lai vào Niếtbàn. Ông phải biết Như Lai cũng chẳng nhất định vào Niết-bàn. Vì sao? Vì Như Lai thường trụ bất biến. Do nghĩa này nên Như Lai Niếtbàn cũng lại bất định. Này thiện nam! Ông phải biết là, Như Lai cũng lại bất định. Như Lai chẳng phải trời. Vì sao? Vì có bốn thứ trời, một là trời thế gian, hai là trời sinh, ba là trời tịnh, bốn là trời nghĩa. Trời thế gian là như các quốc vương. Trời sinh là, từ Tứ thiên vương cho đến trời Phi hữu tưởng phi vô tưởng. Trời tịnh là, từ Tu-đà-hoàn cho đến Phật-bích-chi. Trời nghĩa là Đại Bồ-tát Thập Trụ v.v… Vì nghĩa gì mà Bồ-tát Thập Trụ gọi là trời nghĩa? Do Bồ-tát Thập Trụ có thể giỏi giải nghĩa các pháp. Sao gọi là nghĩa? Thấy tất cả pháp chính là nghĩa không. Này thiện nam! Như Lai chẳng phải vua, cũng chẳng phải bốn loại trời cho đến trời Phi hữu tưởng phi vô tưởng, chẳng phải từ Tu-đàhoàn cho đến Phật-bích-chi, Bồ-tát Thập Trụ. Do nghĩa này nên Như Lai chẳng phải là trời. Nhưng các chúng sinh cũng lại xưng Phật đấng Thiên Trung Thiên. Vậy nên Như Lai chẳng phải trời chẳng phải là chẳng phải trời, chẳng phải người chẳng phải là chẳng phải người, chẳng phải quỷ chẳng phải là chẳng phải quỷ; chẳng phải địa ngục ngạ quỷ súc sinh, chẳng phải là chẳng phải địa ngục ngạ quỷ súc sinh; chẳng phải chúng sinh chẳng phải là chẳng phải chúng sinh, chẳng phải pháp chẳng phải là chẳng phải pháp, chẳng phải sắc chẳng phải là chẳng phải sắc, chẳng phải dài chẳng phải là chẳng phải dài, chẳng phải ngắn chẳng phải là chẳng phải ngắn, chẳng phải tướng chẳng phải là chẳng phải tướng, chẳng phải tâm chẳng phải là chẳng phải tâm, chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu, chẳng phải hữu vi chẳng phải vô vi, chẳng phải thường chẳng phải vô thường, chẳng phải huyễn chẳng phải là chẳng phải huyễn, chẳng phải danh chẳng phải là chẳng phải danh, chẳng phải định chẳng phải là chẳng phải định, chẳng phải có chẳng phải không, chẳng phải thuyết chẳng phải là chẳng phải thuyết, chẳng phải Như Lai chẳng phải là chẳng phải Như Lai v.v… Do nghĩa này nên Như Lai bất định. Này thiện nam! Vì sao Như Lai chẳng gọi là trời thế gian? Trời thế gian tức là các vì vua. Như Lai từ lâu ở trong vô lượng kiếp đã bỏ vương vị. Vậy nên Như Lai chẳng phải là vua. Chẳng phải chẳng phải là vua là, Như Lai sinh ra trong vương gia Tịnh Phạn ở thành Ca-tỳ-la. Vậy nên Như Lai chẳng phải chẳng phải là vua. Chẳng phải trời sinh là, Như Lai từ lâu đã lìa khỏi các hữu. Vậy nên Như Lai chẳng phải trời sinh. Chẳng phải chẳng phải là trời sinh. Vì sao? Vì Như Lai lên trời Đâu-suất, xuống cõi Diêm-phù-đề. Vậy nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải trời sinh. Cũng chẳng phải trời tịnh. Vì sao? Vì Như Lai chẳng phải là Tu-đà-hoàn cho đến Phật-bích-chi. Vậy nên Như Lai chẳng phải là trời tịnh. Cũng chẳng phải là chẳng phải trời tịnh. Vì sao? Vì chẳng thể bị nhiễm tám pháp của thế gian, giống như hoa sen chẳng dính nước vẩn đục. Vậy nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải trời tịnh. Cũng chẳng phải trời nghĩa. Vì sao? Vì Như Lai chẳng phải là Bồ-tát Thập Trụ. Vậy nên Như Lai chẳng phải là trời nghĩa. Cũng chẳng phải là chẳng phải trời nghĩa. Vì sao? Vì Như Lai thường tụ mười tám nghĩa không. Vậy nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải trời nghĩa. Như Lai chẳng phải người. Vì sao? Vì Như Lai từ lâu ở trong vô lượng kiếp đã xa lìa cõi của loài người. Vậy nên Như Lai chẳng phải là người. Cũng chẳng phải là chẳng phải người. Vì sao? Vì Như Lai sinh ra ở thành Ca-tỳ-la nên chẳng phải là chẳng phải người. Như Lai chẳng phải quỷ. Vì sao? Vì chẳng hại tất cả chúng sinh. Vậy nên Như Lai chẳng phải quỷ. Cũng chẳng phải là chẳng phải quỷ. Vì sao? Vì cũng dùng hình dạng quỷ để giáo hóa chúng sinh nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải quỷ. Như Lai cũng chẳng phải là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Vì sao? Vì Như Lai từ lâu đã xa lìa các nghiệp ác. Vậy nên Như Lai chẳng phải là địa ngục ngạ quỷ súc sinh, cũng chẳng phải là chẳng phải địa ngục ngạ quỷ súc sinh. Vì sao? Vì Như Lai cũng thị hiện thọ thân của ba đường ác để hóa độ chúng sinh. Vậy nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải địa ngục ngạ quỷ súc sinh, cũng chẳng phải chúng sinh. Vì sao? Vì Như Lai từ lâu xa lìa tánh của chúng sinh. Vậy nên Như Lai chẳng phải là chúng sinh. Cũng chẳng phải là chẳng phải chúng sinh. Vì sao? Vì khi diễn nói Như Lai mang tướng chúng sinh. Vậy nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải chúng sinh. Như Lai chẳng phải pháp. Vì sao? Vì các pháp mỗi mỗi đều có tướng sai biệt mà Như Lai chẳng vậy, chỉ có một tướng. Vậy nên Như Lai chẳng phải pháp. Cũng chẳng phải là chẳng phải pháp. Vì sao? Vì Như Lai là pháp giới nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải pháp. Như Lai chẳng phải sắc. Vì sao? Vì đối với mười sắc nhập Như Lai chẳng thâu giữ. Vậy nên Như Lai chẳng phải sắc. Cũng chẳng phải là chẳng phải sắc. Vì sao? Vì thân có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải sắc. Như Lai chẳng phải cao. Vì sao? Vì đoạn trừ các sắc nên Như Lai chẳng phải cao. Cũng chẳng phải là chẳng phải cao. Vì sao? Vì tất cả thế gian không có ai có thể thấy tướng đảnh kế. Vậy nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải cao. Như Lai chẳng phải thấp. Vì sao? Vì từ lâu Như Lai đã xa lìa kiết sử kiêu mạn nên Như Lai chẳng phải thấp. Cũng chẳng phải là chẳng phải thấp. Vì sao? Vì Như Lai vì ông trưởng giả Cù-la-sư thị hiện thân ba thước nên chẳng phải là chẳng phải thấp. Như Lai chẳng phải tướng. Vì sao? Vì từ lâu Như Lai đã xa lìa các tướng của tướng. Vậy nên Như Lai chẳng phải tướng. Cũng chẳng phải là chẳng phải tướng. Vì sao? Vì Như Lai giỏi biết các tướng nên chẳng phải là chẳng phải tướng. Như Lai chẳng phải tâm. Vì sao? Vì là tướng hư không. Vậy nên Như Lai chẳng phải tâm. Cũng chẳng phải là chẳng phải tâm. Vì sao? Vì có tâm pháp mười lực, cũng có thể biết tâm của chúng sinh khác. Vậy nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải tâm. Như Lai chẳng phải hữu vi. Vì sao? Vì thường, lạc, ngã, tịnh. Vậy nên Như Lai chẳng phải hữu vi. Cũng chẳng phải vô vi. Vì sao? Vì Như Lai có đến, đi, nằm, ngồi và thị hiện Niết-bàn. Vậy nên Như Lai chẳng phải vô vi. Như Lai chẳng phải thường. Vì sao? Vì thân có phần đoạn nên chẳng phải thường. Sao gọi là chẳng phải thường? Vì có biết, mà pháp thường thì không biết giống như hư không. Như Lai có biết nên chẳng phải thường. Sao gọi là chẳng phải thường? Vì nói năng mà pháp thường thì không nói năng giống như hư không. Như Lai có nói năng nên là vô thường, có dòng họ nên gọi là vô thường, có tên họ nên gọi là vô thường. Pháp không dòng họ mới gọi là thường. Hư không thường nên không có dòng họ. Như Lai có họ là Cù-đàm nên vô thường, có cha mẹ nên gọi là vô thường, không cha mẹ thì mới gọi là thường. Hư không thường nên không có cha mẹ. Phật có cha mẹ nên là vô thường. Có bốn oai nghi gọi là vô thường, không có bốn oai nghi mới gọi là thường. Hư không thường nên không có bốn oai nghi, Phật có bốn oai nghi nên là vô thường. Pháp thường trụ không có phương sở. Hư không thường nên không có phương sở. Như Lai xuất hiện tại đất Đông Thiên Trúc, trụ ở thành Xábà-đề hay thành Vương-xá nên vô thường. Do nghĩa này nên Như Lai chẳng phải thường. Cũng chẳng phải là chẳng phải thường. Vì sao? Vì sự sinh đoạn trừ vĩnh viễn. Pháp có sinh gọi là vô thường. Pháp không sinh mới gọi là thường. Như Lai không sinh vậy nên là thường. Pháp thường không tánh, pháp có tánh thì gọi là vô thường. Như Lai không sinh, không tánh, mà không sinh, không tánh nên là thường. Pháp hữu thường cùng khắp tất cả chỗ giống như hư không không chỗ nào mà không có. Như Lai cũng vậy, cùng khắp tất cả chỗ. Vậy nên Như Lai là thường. Pháp vô thường, hoặc nói đây có, hoặc nói kia không. Như Lai chẳng vậy, chẳng thể nói rằng, chỗ này có, chỗ kia không. Vậy nên Như Lai là thường. Pháp vô thường có khi là có, có khi là không. Như Lai chẳng phải vậy, có khi là có, có khi là không. Vậy nên Như Lai là thường. Pháp thường trụ không danh, không sắc. Hư không thường nên không danh, không sắc. Như Lai cũng vậy, không danh, không sắc. Vậy nên Như Lai là thường. Pháp thường trụ không nhân không quả. Hư không thường nên không nhân không quả. Như Lai cũng vậy, không nhân không quả. Vậy nên Như Lai là thường. Pháp thường trụ chẳng thuộc ba đời. Như Lai cũng vậy, chẳng thuộc ba đời. Vậy nên Như Lai là thường. Như Lai chẳng phải huyễn. Vì sao? Vì vĩnh viễn đoạn trừ tất cả lòng hư dối. Vậy nên Như Lai chẳng phải huyễn, cũng chẳng phải là chẳng phải huyễn. Vì sao? Vì Như Lai, hoặc khi phân một thân này làm vô lượng thân. Rồi vô lượng thân lại làm thành một thân, đi xuyên qua tường vách mà không có chướng ngại, đi trên nước như trên đất, vào trong đất như trong nước, đi trên không như trên mặt đất, thân tuôn ra khói lửa như đám lửa lớn, mây sấm chấn động, âm thanh đáng sợ. Hoặc làm ra thành ấp, xóm làng, nhà cửa, núi sông, cây cối, hoặc tạo nên thân lớn, hoặc hóa làm thân nhỏ, thân trai, thân gái, thân bé trai, thân bé gái. Vậy nên Như Lai cũng chẳng phải là chẳng phải huyễn. Như Lai chẳng phải định. Vì sao? Vì Như Lai ở rừng Ta-la song thọ tại thành Câu-thi-na thị hiện vào Niết-bàn. Vậy nên Như Lai chẳng phải định. Cũng chẳng phải là chẳng phải định. Vì sao? Vì thường, lạc, ngã, tịnh nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải định. Như Lai chẳng phải hữu lậu. Vì sao? Vì Như Lai đoạn trừ ba lậu nên chẳng phải là hữu lậu. Ba lậu là, tất cả phiền não của Dục giới trừ vô minh thì đó gọi là dục lậu. Tất cả phiền não của Sắc giới và Vô sắc giới trừ vô minh thì đó gọi là Hữu lậu. Vô minh của ba cõi gọi là vô minh lậu. Như Lai đoạn trừ vĩnh viễn ba lậu, vậy nên chẳng phải lậu. Lại nữa, tất cả phàm phu chẳng thấy hữu lậu. Sao gọi là phàm phu chẳng thấy hữu lậu? Tất cả phàm phu đối với đời vị lai đều có tâm nghi là trong đời vị lai sẽ có thân chăng? Chẳng có thân chăng? Trong đời quá khứ, thân vốn có chăng? Vốn không chăng? Trong đời hiện tại, thân này có chăng? Thân này không chăng? Nếu có ngã thì là sắc chăng? Chẳng phải sắc chăng? Sắc chẳng phải sắc chăng? Chẳng phải sắc chẳng phải chẳng phải sắc chăng? Tưởng chăng? Chẳng phải tưởng chăng? Tưởng chẳng phải tưởng chăng? Chẳng phải tưởng chẳng phải chẳng phải tưởng chăng? Thân này thuộc về người khác chăng? Chẳng thuộc về người khác chăng? Thuộc chẳng thuộc về người khác chăng? Chẳng phải thuộc chẳng phải chẳng phải thuộc về người khác chăng? Có mạng không thân chăng? Có thân không mạng chăng? Có thân có mạng chăng? Không thân không mạng chăng? Thân cùng với mạng có thường chăng? Vô thường chăng? Thường vô thường chăng? Chẳng phải thường chẳng phải vô thường chăng? Thân cùng với mạng tự tại tạo tác chăng? Thời tiết tạo tác chăng? Vô nhân tạo tác chăng? Thể tánh tạo tác chăng? Vi trần tạo tác chăng? Pháp chẳng phải pháp tạo tác chăng? Sĩ phu tạo tác chăng? Phiền não tạo tác chăng? Cha mẹ tạo tác chăng? Trụ ở tâm chẳng trụ trong mắt chăng? Đầy khắp trong thân chăng? Từ đâu đến? Rồi đi về đâu? Ai sinh? Ai chết? Ở quá khứ là dòng Bà-la-môn chăng? Là dòng Sát-lợi chăng? Là dòng Tỳ-xá chăng? Là dòng Thủ-đà-la chăng? Ở đời vị lai sẽ được dòng gì? Thân này của ta, lúc quá khứ là thân nam, là thân nữ, là thân súc sinh chăng? Nếu ta sát sinh thì sẽ có tội hay không có tội? Cho đến uống rượu thì sẽ có tội hay không có tội? Ta tự làm hay vì người khác làm? Ta thọ báo hay thân thọ báo? Vô lượng phiền não của những nghi kiến như vậy che phủ tâm của chúng sinh. Nhân những nghi kiến này nên sinh ra sáu thứ tâm: Quyết định có ngã, quyết định không ngã, ngã thấy là ngã ngã, ngã thấy là vô ngã, vô ngã thấy là ngã, ngã tác, ngã thọ, ngã tri. Đó gọi là tà kiến. Như Lai vĩnh viễn bứng bỏ cội rễ của vô lượng kiến lậu như vậy. Vậy nên Như Lai chẳng phải lậu. Này thiện nam! Đại Bồ-tát ở trong Đại Niết-bàn tu Thánh hạnh thì cũng được vĩnh viễn đoạn trừ những lậu như vậy. Chư Phật Như Lai thường tu Thánh hạnh nên vô lậu.

Này thiện nam! Phàm phu chẳng thể khéo thâu giữ năm căn nên có ba lậu, bị sự dẫn dắt của ác đến chỗ bất tịnh. Này thiện nam! Ví như con ngựa dữ, tánh ngang bướng của nó có thể đưa người cỡi đến chỗ hiểm nguy. Người chẳng thể khéo thâu giữ năm căn cũng như vậy, khiến cho người xa lìa đường thiện Niết-bàn đi đến các chỗ ác. Ví như con voi dữ, chưa thuần mà có người cỡi nó thì chẳng đi theo ý mình mà nó sẽ lìa xa thành ấp, đi đến chỗ trống không. Người chẳng thể khéo thâu giữ năm căn này cũng như vậy, sẽ đem người rời xa thành ấp Niết-bàn đi đến chỗ đồng hoang sinh tử. Này thiện nam! Ví như người nịnh thần xúi vua làm ác. Nịnh thần năm căn cũng như vậy, thường sử chúng sinh tạo ác không lường. Này thiện nam! Ví như người con ác chẳng chịu nghe lời dạy bảo của cha mẹ, sư trưởng, thì không ác nào chẳng làm. Chẳng điều phục năm căn cũng như vậy, chẳng chịu nghe lời dạy bảo thiện của sư trưởng thì không ác nào chẳng làm. Này thiện nam! Người phàm phu chẳng thâu giữ năm căn thường bị giặc địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh làm hại, cũng như giặc cướp hại người tốt. Này thiện nam! Người phàm phu chẳng thâu giữ năm căn để giong ruổi theo năm trần thì ví như người chăn trâu chẳng khéo giữ gìn để trâu xâm phạm lúa má của người. Người phàm phu chẳng thâu giữ năm căn thường ở tại các cõi, chịu nhiều khổ não. Này thiện nam! Khi Đại Bồtát tu Đại Niết-bàn hành Thánh hạnh thì thường có thể giỏi điều phục thâu giữ năm căn, kinh sợ tham dục, sân hận, ngu si, kiêu mạn, ganh ghét… để được tất cả pháp thiện. Này thiện nam! Nếu người có thể khéo giữ năm căn này thì có thể thâu giữ tâm. Nếu có thể thâu giữ tâm thì thâu giữ được năm căn. Ví như có người ủng hộ vua thì ủng hộ đất nước, người ủng hộ đất nước thì ủng hộ nhà vua. Đại Bồ-tát cũng như vậy, nếu được nghe kinh Đại Niết-bàn thì được trí tuệ, mà được trí tuệ thì được chuyên niệm. Năm căn nếu tán loạn thì chánh niệm có thể dừng. Vì sao? Vì niệm là tuệ. Này thiện nam! Ví như người chăn trâu giỏi, giả sử trâu chạy đây đó ăn lúa má của người khác thì liền có thể ngăn chận lại, chẳng cho xâm phạm. Đại Bồ-tát cũng như vậy, nhân duyên niệm tuệ nên thâu giữ năm căn chẳng cho giong ruổi, tán loạn. Đại Bồ-tát có niệm tuệ thì chẳng thấy tướng của ngã, chẳng thấy tướng của ngã sở, chẳng thấy chúng sinh và sự thọ dụng, thấy tất cả pháp đồng tướng pháp tánh sinh ra tướng đất, đá, sành, sỏi. Ví như nhà cửa từ mọi duyên sinh ra, không có định tánh. Đại Bồ-tát thấy các chúng sinh là sự hợp thành của bốn đại, năm ấm, truy tìm không có định tánh. Vì không định tánh nên Bồ-tát ở trong đó chẳng sinh tham đắm. Tất cả phàm phu thấy có chúng sinh nên khởi lên phiền não. Đại Bồ-tát tu Đại Niết-bàn có niệm tuệ nên đối với các chúng sinh chẳng sinh tham đắm. Lại nữa, Đại Bồ-tát tu tập kinh Đại Niết-bàn thì chẳng tham đắm tướng chúng sinh khởi lên đủ thứ pháp tướng. Này thiện nam! Ví như họa sĩ dùng mọi thứ màu sắc vẽ ra mọi hình tượng, hoặc nam hoặc nữ, hoặc trâu, hoặc ngựa. Kẻ phàm phu không biết, nhìn thấy những hình tượng đó thì sinh ra tướng trai gái v.v… Còn họa sĩ rõ biết là không có tướng trai, gái. Đại Bồ-tát cũng như vậy, đối với tướng sai khác của pháp vẫn xem thấy một tướng, chẳng bao giờ sinh ra tướng chúng sinh. Vì sao? Vì Bồ-tát có niệm tuệ. Đại Bồ-tát tu Đại Niết-bàn, hoặc khi nhìn thấy người con gái đẹp chẳng bao giờ sinh lòng tham đắm. Vì sao? Vì khéo quan sát tướng. Này thiện nam! Đại Bồ-tát biết pháp năm dục không có niềm vui, chẳng được tạm dừng như chó gặm xương khô, như người cầm lửa đi ngược gió, như rắn độc trong hòm, như của được trong mơ, như cây trái ven đường bị nhiều người hái, như miếng thịt bị bầy chim tranh giành nhau, như bọt nước, như nét vẽ trên nước, như dệt hết chỉ, như người tù đi đến chợ, giống như mượn thế lực chẳng được lâu dài. Quan sát dục có nhiều những lỗi xấu như vậy. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát quan sát các chúng sinh vì nhân duyên sắc, hương, vị, xúc nên từ vô lượng vô số kiếp đến nay thường chịu khổ não. Mỗi một chúng sinh, trong một kiếp đã tích góp xương của bản thân như núi Tỳphú-la ở thành Vương-xá, đã uống nước sữa như nước bốn biển, máu của thân chảy ra lại nhiều như nước bốn biển, nước mắt chảy ra khi khóc cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc mạng chung nhiều như nước bốn biển lớn, chặt hết cỏ cây trên đất làm thẻ để tính số cha mẹ cũng chẳng thể hết, từ vô lượng kiếp đến nay, hoặc ở tại địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh đã chịu hành khổ chẳng thể kể xiết. Vo đại địa này thành hòn giống như quả táo thì dễ có thể hết được, nhưng sinh tử vô lượng chẳng thể hết được. Đại Bồ-tát quán sâu tất cả chúng sinh như thế vì nhân duyên dục nên thọ khổ không lường. Bồ-tát quan sát hành khổ sinh tử này nên chẳng mất niệm tuệ. Này thiện nam! Ví như thế gian có một số người rất đông, đứng đầy cả hai mươi lăm dặm. Nhà vua ra lệnh một người bề tôi bưng một bát dầu, đi qua số người ấy mà không cho nghiêng đổ. Nếu người đó làm rớt ra một giọt dầu thì bị chém. Vua lại sai một người cầm đao theo sau mà khủng bố người bưng dầu. Người bề tôi nhận lệnh của vua hết lòng kiên trì, đi qua giữa đại chúng ấy. Tuy thấy năm dục vừa ý nhưng lòng luôn nghĩ: “Nếu ta buông lung tham đắm những tà dục kia, phải bỏ sự kiên trì thì mạng chẳng được an toàn”. Người đó nhờ nhân duyên sợ này nên chẳng làm rớt một giọt dầu. Đại Bồ-tát cũng như vậy, ở trong sinh tử chẳng đánh mất niệm tuệ. Do chẳng đánh mất nên Bồ-tát tuy thấy năm dục nhưng lòng chẳng tham đắm, hoặc thấy sắc đẹp chẳng sinh tướng sắc, chỉ quan sát tướng khổ cho đến tướng thức cũng như vậy, chẳng tạo tác tướng sinh, chẳng tạo tác tướng diệt, chẳng tạo tác tướng nhân duyên mà chỉ quan sát tướng hòa hợp. Bấy giờ, Bồ-tát năm căn thanh tịnh mà căn thanh tịnh thì hộ căn giới đầy đủ. Tất cả phàm phu, năm căn chẳng tịnh, chẳng khéo giữ gìn nên gọi là căn lậu. Bồ-tát đoạn trừ vĩnh viễn điều đó nên vô lậu. Như Lai nhổ bật cội rễ, đoạn trừ vĩnh viễn, vậy nên chẳng phải lậu. Lại nữa, này thiện nam! Lại có xa lìa khỏi lậu. Đại Bồ-tát vì muốn quả Phật cam lồ vô thượng nên lìa khỏi lậu ác. Thế nào là lìa? Nếu có thể tu hành kinh Đại Niết-bàn, ghi chép, thọ trì, đọc tụng, giảng nói, tư duy ý nghĩa thì đó gọi là lìa. Vì sao? Này thiện nam! Vì ta đều chẳng thấy mười hai bộ loại kinh điển có thể lìa khỏi lậu ác như kinh Đại Niết-bàn Phương Đẳng này. Này thiện nam! Ví như vị lương y dạy các đệ tử. Trong các đệ tử có người thọ giáo, lòng chẳng tạo ác. Đại Bồ-tát tu kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn cũng như vậy, lòng chẳng tạo ác. Này thiện nam! Ví như thế gian có thứ chú thuật hay, nếu có người nghe một lần thì bảy năm sau đó chẳng bị trúng tất cả thuốc độc, rắn độc chẳng thể cắn. Nếu có người tụng chú ấy thì cho đến trọn đời, không có mọi thứ ác. Này thiện nam! Kinh Đại Niết-bàn này cũng như vậy, nếu có chúng sinh, một lần nghe kinh này thì bảy kiếp về sau chẳng rơi vào đường ác. Nếu có người ghi chép, đọc tụng, giảng nói, suy nghĩ về nghĩa kinh ấy thì nhất định được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, được thấy Phật tánh, như vị Thánh vương kia được vị cam lồ. Này thiện nam! Kinh Đại Niết-bàn này có vô lượng công đức như vậy v.v. Này thiện nam! Nếu có người có thể sao chép kinh này, đọc tụng, giảng nói, vì người khác trình bày và suy nghĩ về nghĩa của kinh thì phải biết người đó chân thật là đệ tử của Ta, khéo nghe lời dạy bảo của Ta. Đó là sở kiến của Ta, sở niệm của Ta. Người đó biết chắc chắn là Ta chẳng Niết-bàn. Tùy theo chỗ ở của người này, hoặc thành ấp, xóm làng, núi rừng, đồng hoang, nhà cửa, ruộng đất, lầu gác, cung điện v.v… Ta cũng thường trụ ở trong những chỗ đó, chẳng di dời. Ta đối với người này thường làm người thọ thí, hoặc làm Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Bà-la-môn, Phạm chí, người đi xin nghèo cùng. Làm thế nào khiến cho người đó biết được Như Lai nhận phẩm vật bố thí ấy? Này thiện nam! Người đó, ở trong đêm ngủ nằm mơ, mơ thấy hình dáng Đức Phật, hoặc thấy hình dáng trời, hình dáng Sa-môn, hình dáng quốc chủ, hình dáng Thánh vương, hình dáng sư tử chúa, hình dáng hoa sen, hình dáng hoa Ưu-đàm, hoặc thấy núi lớn hay nước biển cả, hoặc thấy mặt trời, mặt trăng, hoặc thấy hình dáng voi trắng, hình dáng ngựa trắng, hoặc thấy cha mẹ, hoặc thấy được hoa, được trái, được vàng, được bạc, lưu ly, pha lê v.v… các thứ báu, được năm thứ vị của sữa bò. Bấy giờ thì biết là Như Lai đã nhận sự bố thí của người ấy.

Người đó tỉnh dậy rồi, liền được đủ thứ vật cần dùng, lòng chẳng nghĩ ác, ưa tu pháp thiện. Này thiện nam! Kinh Đại Niết-bàn này có thể thành tựu vô lượng vô biên vô số công đức chẳng thể nghĩ bàn như vậy. Này thiện nam! Ông nay nên phải tin thọ lời nói của Ta. Nếu có thiện nam, thiện nữ nào muốn thấy Ta, muốn cung kính Ta, muốn đồng pháp tánh mà thấy được Ta, muốn được định không, muốn thấy thật tướng, muốn được tu tập định Thủ-lăng-nghiêm, định Sư tử vương, muốn phá tan tám ma: đó là bốn ma và vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh; muốn được niềm vui trong loài người trên cõi trời, thì thấy có người thọ trì kinh Đại Niết-bàn, sao chép, đọc tụng, vì người khác giảng nói, suy nghĩ về nghĩa lý, phải đi đến thân cận, nương kề, hỏi han thính thọ, cúng dường, tôn trọng, khen ngợi, vì người đó rửa tay chân, bố trí giường chiếu, cung cấp bốn sự cúng dường khiến cho người đó không thiếu thốn thứ gì. Nếu người đó từ xa đi lại thì nên nghênh đón trước mười do-tuần trên đường đi. Vì kinh này nên phải dùng những vật quý trọng để dâng cúng. Nếu như không có gì thì nên tự bán thân. Vì sao? Vì kinh này khó gặp hơn cả hoa Ưu-đàm. Này thiện nam! Ta nhớ ở đời quá khứ vô lượng vô biên na-do-tha kiếp, bấy giờ có thế giới tên là Tabà, có Đức Phật Thế Tôn hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, vì các đại chúng tuyên nói kinh Đại Niết-bàn này. Ta, bấy giờ, từ chỗ bạn lành nghe được Đức Phật đó sẽ vì đại chúng nói kinh Đại Niết-bàn. Ta nghe thế rồi, trong lòng hoan hỷ, muốn thiết lễ cúng dường nhưng nhà nghèo không có vật gì. Ta muốn tự bán thân nhưng bạc phước chẳng bán được, liền muốn trở về nhà. Trên đường về gặp một người, Ta liền nói: “Tôi muốn bán thân, ông có thể mua chăng?”. Người ấy đáp: “Việc làm của nhà ta, không ai kham được. Nếu ngươi có thể làm thì ta sẽ mua”. Ta liền đáp: “Phải làm việc gì mà người không thể làm được?”. Người ấy đáp: “Ta có bệnh ác, lương y xứ lý thuốc là cần phải mỗi ngày ăn ba lạng thịt người. Nếu ngươi có thể ngày ngày lấy ba lạng thịt của thân cung cấp cho ta thì ta sẽ cho ngươi năm xâu tiền vàng”. Khi Ta nghe rồi, trong lòng hoan hỷ, liền nói: “Ông cho tôi tiền và cho tôi hẹn lại sau bảy ngày, khi công việc cần làm xong, tôi sẽ trở lại”. Người ấy nói: “Bảy ngày thì không thể. Có thể xét lại cho ông một ngày”. Này thiện nam! Khi ấy, Ta liền nhận lấy tiền, trở lại đến chỗ Đức Phật, đầu mặt lễ dưới chân Ngài, đem hết tiền sẵn có ấy mà dâng cúng, rồi sau đó thành tâm thính thọ kinh này. Lúc ấy, Ta ám độn, tuy được nghe kinh nhưng chỉ có thể thọ trì một bài kệ:

Như Lai chứng Niết-bàn
Vĩnh viễn đoạn sinh tử
Nếu lắng nghe hết lòng
Thường được vui vô lượng.

Nhận bài kệ này rồi, Ta liền trở lại đến nhà người bệnh kia. Này thiện nam! Khi ấy tuy ngày ngày cho ba lạng thịt nhưng do nhân duyên niệm kệ nên chẳng lấy làm đau đớn, ngày ngày chẳng bỏ, đủ đầy một tháng. Này thiện nam! Do nhân duyên này mà bệnh ông ấy được chữa khỏi, thân Ta bình phục, cũng không lở loét. Ta thấy thân đầy đủ, nguyên vẹn, liền phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Hiệu lực của một bài kệ mà còn như vậy, huống gì là thọ trì, đọc tụng đầy đủ. Ta thấy kinh này có lợi như vậy lại phát tâm bội phần. Ta nguyện vào đời vị lai, thành Phật đạo hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Này thiện nam! Do nhân duyên diệu lực của một bài kệ nên khiến cho Ta ngày hôm nay, ở trong đại chúng, vì những hàng trời, người tuyên nói đầy đủ kinh này. Này thiện nam! Do nhân duyên này nên kinh Đại Niết-bàn chẳng thể nghĩ bàn, thành tựu vô lượng vô biên công đức và chính là tạng bí mật thâm diệu của chư Phật Như Lai. Do ý nghĩa này nên người hay thọ trì thì đoạn lìa lậu ác. Những điều mà gọi là ác đó là voi dữ, ngựa chứng, bò dữ, chó dữ, rắn độc…, gai độc, vực núi cheo leo, bờ hiểm, nước xoáy chảy mạnh, người ác, nước ác, thành ác, nhà ác, bạn ác v.v… Những thứ ác như vậy, nếu làm nhân hữu lậu thì Bồ-tát liền lìa khỏi, nếu chẳng thể làm thì chẳng xa lìa. Nếu tăng thêm hữu lậu thì liền lìa khỏi, nếu chẳng tăng thêm thì chẳng xa lìa. Nếu làm pháp ác thì liền lìa khỏi, nếu có thể làm pháp thiện thì chẳng xa lìa. Sao gọi là lìa? Chẳng nắm giữ dao gậy, thươn g dùng phương tiện chánh tuệ mà xa lìa những chỗ đó. Vậy nên gọi là chánh tuệ xa lìa, vì sinh pháp thiện thì xa lìa pháp ác. Đại Bồ-tát tự quan sát thân mình như bệnh, như ghẻ lở, như ung nhọt, như oán thù, như tên cắm vào thân thể chính là khối khố lớn, chính là căn bản của tất cả thiện ác. Thân này tuy bất tịnh như vậy nhưng Bồ-tát vẫn chăm sóc nuôi dưỡng. Vì sao? Chẳng phải vì tham thân mà vì pháp thiện, vì đến với Niết-bàn chẳng vì sinh tử; vì thường, lạc, ngã, tịnh mà chẳng vì vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh; vì đạo Bồ-đề chẳng vì đạo hữu vi, vì Nhất thừa chẳng vì Tam thừa, vì thân vi diệu ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp mà chẳng vì cho đến thân của trời Phi hữu tưởng phi vô tưởng, vì Pháp luân vương chẳng vì Chuyển luân vương. Này thiện nam! Đại Bồ-tát luôn phải hộ thân. Vì sao? Vì nếu chẳng hộ thân thì chẳng toàn mạng. Mạng nếu chẳng toàn thì chẳng thể được sao chép kinh này để thọ trì, đọc tụng, vì người khác giảng nói, suy nghĩ về nghĩa kinh ấy. Vậy Bồ-tát nên khéo hộ thân. Do nghĩa này nên Bồ-tát lìa khỏi được tất cả lậu ác. Này thiện nam! Như muốn qua sông thì phải khéo giữ gìn thuyền bè, người đi đường khéo chăm lo ngựa tốt, nhà nông gieo trồng khéo giữ gìn phân bón, như vì chữa khỏi độc thì khéo giữ gìn rắn độc, như người vì của cải nên bảo hộ Chiên-đà-la, vì phá giặc nên nuôi kiện tướng, cũng như người lạnh thích giữ lửa, như người bệnh hủi thì cầu thuốc độc. Đại Bồtát cũng như vậy, tuy thấy thân này đầy đủ vô lượng bất tịnh, nhưng vì muốn thọ trì kinh Đại Niết-bàn nên vẫn chăm sóc tốt chẳng để thiếu thốn. Đại Bồ-tát quan sát con voi dữ và bạn xấu ngang bằng nhau không có hai. Vì sao? Vì chúng đều hủy hoại thân. Đại Bồ-tát đối với voi dữ lòng không kinh sợ, nhưng đối với bạn xấu thì sinh lòng kinh sợ. Vì sao? Vì voi dữ này chỉ có thể hoại thân, chẳng có thể hoại tâm, còn bạn xấu ác thì hủy hoại cả hai. Voi dữ này chỉ hoại một thân, còn người bạn xấu thì hủy hoại vô lượng thân, vô lượng tâm. Voi dữ này chỉ có thể phá hoại tấm thân hôi thối bất tịnh, còn người bạn xấu thì có thể hoại thân thanh tịnh và cả tâm thanh tịnh. Voi dữ này có thể hoại nhục thân, còn bạn xấu thì hoại đến pháp thân. Bị voi dữ giết chết thì chẳng đến ba đường, còn bị bạn xấu giết thì nhất định đến ba đường. Voi dữ chỉ là oán của thân, còn bạn xấu là kẻ oán của pháp thiện. Vậy nên Bồ-tát thường phải xa lìa những bạn ác. Những lậu như vậy v.v… phàm phu chẳng lìa khỏi, nên họ sinh ra lậu hoặc. Bồ-tát lìa khỏi những lậu đó thì chẳng sinh ra lậu hoặc. Như vậy Bồ-tát còn không có lậu hoặc, huống gì là Như Lai. Vậy nên Như Lai chẳng còn lậu hoặc. Sao gọi là thân cận lậu? Tất cả phàm phu thọ nhận y phục, thức ăn, ngọa cụ, y dược là vì sự ưa thích của thân tâm. Vì cầu những vật như vậy, nên tạo ra đủ thứ ác, chẳng biết tội lỗi luân hồi ba đường. Vậy nên gọi là lậu. Đại Bồ-tát thấy tội lỗi như vậy thì liền lìa xa. Nếu khi cần y phục thì Bồ-tát liền nhận lấy, chẳng vì bản thân mà chỉ vì pháp, chẳng tăng trưởng kiêu mạn, lòng thường khiêm hạ, chẳng vì nghiêm sức chỉ vì xấu hổ, ngăn sự lạnh nóng, gió độc, mưa dữ, trùng độc, muỗi, nhặng, ruồi, bọ chét, rắn độc. Bồ-tát tuy nhận thức ăn uống nhưng lòng không tham đắm, chẳng vì thân thường chỉ vì chánh pháp, chẳng vì hình thể bề ngoài chỉ vì chúng sinh, chẳng vì kiêu mạn mà vì thân lực, chẳng vì oán hại mà vì trị bệnh đói. Tuy được vị ngon nhưng lòng không tham đắm. Bồ-tát thọ nhận phòng nhà cũng như vậy, tâm không còn những kiết sử tham đắm, kiêu mạn. Vì nhà Bồ-đề ngăn chận giặc kiết sử, vì ngăn gió mưa dữ nên Bồ-tát nhận lấy nhà cửa. Bồ-tát tuy cầu y dược mà lòng không tham đắm, kiêu mạn, chỉ vì chánh pháp, chẳng vì thọ mạng, chẳng vì mạng sống bình thường. Này thiện nam! Như người bệnh ghẻ lở, lấy thuốc bột đắp lên, dùng vải bó lại. Vì rút máu mủ nên dùng bột khô đắp lên, vì muốn ghẻ lở lành nên dùng bột thuốc bôi vào, vì gió dữ nên ở tận trong nhà sâu. Đại Bồ-tát cũng như vậy, quan sát thân là đồ ghẻ lở nên dùng áo che đậy, vì chín lỗ rỉ chảy nên tìm kiếm ăn uống, vì gió mưa hung dữ nên nhận lấy nhà cửa, vì bốn độc phát ra nên tìm cầu y dược. Bồ-tát nhận lấy bốn sự cúng dường là vì đạo Bồđề, chẳng phải vì thọ mạng. Vì sao? Vì Đại Bồ-tát nghĩ thế này: “Ta, nếu chẳng nhận bốn việc cúng dường này thì thân bị tiêu mòn, chẳng được bền chắc. Nếu thân chẳng bền chắc thì chẳng nhịn được khổ. Nếu chẳng nhịn được khổ thì chẳng thể tu tập pháp thiện. Nếu có thể chịu đựng được khổ thì có thể tu tập được vô lượng pháp thiện. Nếu ta chẳng thể đủ sức chịu đựng mọi khổ thì đối với việc thọ khổ sinh lòng sân giận, đối với việc thọ lạc sinh lòng tham đắm. Nếu cầu lạc chẳng được thì sinh ra vô minh. Vậy nên phàm phu đối với bốn việc cúng dường sinh ra hữu lậu”. Đại Bồ-tát có thể quan sát sâu nên chẳng sinh ra hữu lậu. Vậy nên Bồ-tát gọi là vô lậu thì sao gọi Như Lai là hữu lậu được? Vậy nên Như Lai chẳng gọi là hữu lậu.

Lại nữa, này thiện nam! Tất cả phàm phu tuy khéo hộ thân nhưng

tâm vẫn còn sinh ra ba thứ ý tưởng ác. Do nhân duyên này nên tuy đoạn trừ phiền não, được sinh lên cõi Phi tưởng phi phi tưởng, nhưng còn phải trở lại rơi vào ba đường ác. Này thiện nam! Ví như có người qua biển cả, sắp đến bờ bên kia mà bị chết đuối. Người phàm phu cũng như vậy, sắp tận cùng ba cõi nhưng trở lại rơi vào ba đường. Vì sao? Vì không có ý tưởng thiện. Những gì là ý tưởng thiện? Đó là sáu niệm xứ. Người phàm phu tâm thiện còm cõi, bất thiện bừng bừng. Tâm thiện còm cõi nên tâm tuệ mỏng manh. Tâm tuệ mỏng manh nên tăng trưởng các lậu. Đại Bồ-tát mắt tuệ thanh tịnh thấy lỗi lầm của ba ý tưởng ác. Biết ba ý tưởng ác này có đủ thứ tai họa, thường cùng với chúng sinh tạo tác oán kết đối với ba thừa. Do ba ý tưởng ác mới khiến cho vô lượng chúng sinh phàm phu chẳng thấy Phật tánh, ở trong vô lượng kiếp sinh tâm điên đảo, cho là Phật Thế Tôn không thường, lạc, ngã mà chỉ có một tịnh thôi, Như Lai rốt ráo vào Niết-bàn. Tất cả chúng sinh vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh, nhưng lòng họ điên đảo nên cho rằng có thường, lạc, ngã, tịnh. Thật ra không có Tam thừa nhưng do tâm điên đảo nên nói rằng có Tam thừa. Đạo Nhất thật là chân thật chẳng hư dối, nhưng do tâm điên đảo nên nói rằng không có đạo Nhất thật. Ba ý tưởng ác này thường bị sự quở trách của chư Phật và các vị Bồ-tát. Ba ý tưởng ác này thường hại mình và cũng hại đến người khác. Có ba ý tưởng ác này thì tất cả các ác thường đến làm tùy tùng. Ba ý tưởng ác này tức là ba sự trói buộc, nối liền chúng sinh với vô biên sinh tử. Đại Bồ-tát thường tạo tác sự quan sát ba ý tưởng ác như vậy. Hoặc khi Bồ-tát có nhân duyên đáng lẽ sinh ý tưởng dục thì mặc nhiên chẳng thọ. Ví như người đoan chánh tịnh khiết chẳng nhận tất cả phân bẩn bất tịnh, như không ai nhận lấy hòn sắt nóng, như dòng Bà-la-môn chẳng nhận thịt bò, như người no đủ chẳng nhận thức ăn dở, như vua Chuyển luân chẳng cùng với tất cả Chiên-đà-la ngồi trên một giường. Đại Bồtát đối với giặc ba ý tưởng ác chẳng nhận, chẳng tham cũng như vậy. Vì sao? Vì Bồ-tát suy nghĩ: “Chúng sinh biết ta là ruộng phước tốt thì sao ta lại thọ nhận những pháp ác này. Nếu ta thọ ý tưởng ác thì chẳng nhận làm ruộng phước của chúng sinh. Ta tự chẳng nói là ruộng phước tốt mà chúng sinh thấy tướng liền nói, ta là ruộng phước tốt. Nếu nay ta khởi lên ý tưởng ác như vậy tức là lừa dối tất cả chúng sinh. Ta vào thuở xa xưa, vì lừa dối nên đã ở trong vô lượng kiếp lưu chuyển sinh tử, rơi vào ba đường ác. Nếu ta dùng tâm ác để thọ của tín thí thì tất cả hàng trời, người, Tiên nhân ngũ thông đều sẽ chứng biết mà quở trách. Nếu ta có ý tưởng ác mà thọ của tín thí thì hoặc khiến cho quả báo của thí chủ giảm thiểu, hoặc rỗng không, không có quả báo. Nếu ta tâm ác mà thọ của đàn-việt bố thí thì cùng với thí chủ kết làm oán thù. Tất cả thí chủ luôn đối với ta khởi tưởng như đứa con yêu thì ta làm sao lừa dối họ mà sinh tưởng oán thù. Vì sao? Vì hoặc khiến cho thí chủ chẳng được quả báo, hoặc quả báo ít. Ta thường tự xưng là người xuất gia, mà xuất gia thì chẳng nên khởi ác, nếu khởi ác thì chẳng phải là xuất gia. Người xuất gia thì thân, miệng tương ứng, nếu chẳng tương ứng thì chẳng phải là xuất gia. Ta bỏ cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc, bạn bè v.v… xuất gia tu đạo chính là tu tập các ý tưởng thiện, chẳng phải là tu tập ý tưởng bất thiện. Ví như có người vào biển tìm châu báu chẳng chọn lấy chân châu mà chọn lấy thủy tinh, cũng như có người bỏ nghe âm nhạc vi diệu mà vui chơi chỗ phân dơ bẩn, như bỏ đi người con gái quý báu mà yêu hạng thấp hèn, như bỏ đồ bằng vàng mà dùng chén sành, như bỏ cam lồ mà uống thuốc độc, như bỏ thầy thuốc giỏi hiền lành thân thiết mà lại theo kẻ oán ghét xin thuốc trị liệu cho mình. Ta cũng như vậy, lìa bỏ cam lồ pháp vị của Đại sư Như Lai Thế Tôn mà uống đủ thứ ý tưởng ác của ma oán. Thân người khó được như hoa Ưu-đàm, ta nay đã được. Như Lai khó gặp hơn cả hoa Ưu-đàm, ta nay đã gặp. Pháp bảo thanh tịnh khó được thấy nghe, ta nay đã được nghe, giống như con rùa mù gặp lỗ hổng nơi miếng gỗ nổi trên biển. Mạng người chẳng dừng, qua nhanh như thác đổ. Ngày hôm nay tuy còn nhưng ngày mai cũng khó bảo tồn. Như thế thì sao ta lại buông lòng khiến trụ ở pháp ác? Hình sắc khỏe mạnh chẳng dừng, giống như ngựa chạy nhanh thì sao ỷ lại mà sinh kiêu mạn? Giống như loài quỷ ác rình tìm lỗi lầm của người, quỷ ác bốn đại cũng như vậy, thường đến rình tìm lỗi lầm của ta thì sao lại để cho ý tưởng ác phát khởi. Ví như ngôi nhà mục nát, nóc nhà sắp đổ vỡ, mạng ta cũng vậy thì sao lại khởi ác? Ta mang danh là Sa-môn, mà người Sa-môn gọi là học ý tưởng thiện. Ta nay dấy khởi ý tưởng bất thiện thì làm sao được gọi là Sa-môn? Ta mang danh là xuất gia, mà người xuất gia gọi là người tu đạo thiện. Ta nay làm ác thì sao được gọi là xuất gia? Ta nay mang danh là chân Bàla-môn, mà Bà-la-môn là người tu tịnh hạnh. Ta nay lại khởi ý tưởng ác bất tịnh thì sao được gọi là Bà-la-môn? Ta nay cũng mang danh là dòng họ lớn Sát-lợi, mà dòng Sát-lợi thì có thể diệt trừ oán địch. Ta nay chẳng thể trừ diệt oán địch ác thì làm sao được gọi là dòng Sát-lợi? Ta mang danh là Tỳ-kheo, mà người Tỳ-kheo thì gọi là người phá phiền não. Ta nay chẳng phá được phiền não ý tưởng ác thì sao được gọi là Tỳ-kheo? Đời có sáu việc khó có thể gặp gỡ được mà ta nay đã được thì sao còn để cho ý tưởng ác ở trong lòng? Những gì là sáu việc? Một là đời có Phật khó gặp, hai là chánh pháp khó được nghe, ba là tâm lo sợ khó khởi, bốn là khó sinh vào đất nước văn minh, năm là thân người khó được, sáu là các căn khó đủ. Sáu việc khó được như vậy mà đã được, vậy chẳng nên khởi lên ý tưởng ác”. Bấy giờ Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn như vậy, thường siêng quan sát những tâm ác này. Tất cả phàm phu chẳng thấy tội lỗi của tâm ác như vậy nên thọ ba ý tưởng ác, gọi là thọ lậu. Bồ-tát thấy rồi nên chẳng thọ, chẳng tham đắm, buông bỏ, chẳng hộ trì mà nương vào tám thánh đạo xô đuổi chúng đi, chặt đứt chúng. Vậy nên Bồ-tát không có thọ lậu thì tại sao lại nói, Như Lai hữu lậu? Do nghĩa này nên Như Lai Thế Tôn chẳng phải hữu lậu.

*********

Lại nữa, này thiện nam! Kẻ phàm phu nếu gặp thân tâm khổ não thì khởi lên đủ thứ ác. Nếu bị thân bệnh hay bị tâm bệnh thì khiến cho thân, miệng, ý tạo tác đủ thứ ác. Do tạo tác ác nên luân chuyển trong ba đường, chịu đủ các khổ. Vì sao? Vì người phàm phu không có niệm tuệ. Vậy nên họ sinh ra đủ thứ lậu, đó gọi là niệm lậu. Đại Bồ-tát thường tự suy nghĩ: “Ta từ thuở xa xưa, vô số kiếp đến nay, vì chính thân tâm này tạo ra đủ thứ ác, do nhân duyên này nên lưu chuyển sinh tử ở trong ba đường ác, chịu đủ mọi thứ khổ, khiến cho ta rời xa đường chánh tam thừa”. Bồ-tát do nhân duyên ác nầy nên đối với thân tâm của mình vô cùng kinh sợ, lìa bỏ mọi nẻo ác, hướng về đường thiện. Này thiện nam! Ví như có vị vua đem bốn con rắn độc đựng trong một cái hòm nhỏ, sai người nuôi dưỡng trông nom, ngủ dậy xoa rửa thân chúng. Nếu khiến cho một con rắn nổi giận thì vua sẽ theo đúng pháp hành hình tại chỗ. Bấy giờ, người ấy nghe lệnh bức bách của vua thì lòng sinh hoảng sợ, bỏ hòm rắn chạy trốn. Nhà vua lại sai năm người Chiên-đà-la vung đao đuổi theo. Người ấy quay nhìn lại thấy năm người đuổi theo sau thì bỏ chạy nhanh hơn. Lúc đó, năm người dùng phương tiện ác, giấu dao kín đáo, sai một người trá làm thân thiện mà nói với kẻ trốn đó rằng: “Ông nên trở về lại!” Người ấy chẳng tin, lao vào một xóm làng để trốn. Đã vào trong xóm rồi, người ấy nhìn thấy mọi nhà đều không có người, cầm các dụng cụ đựng đồ lên xem đều không có vật. Đã chẳng thấy người, vật chẳng tìm được, người ấy liền ngồi xuống đất thì nghe trong hư không có tiếng nói: “Này thiện nam! Xóm này trống rỗng, không có dân cư, đêm nay sẽ có sáu tên giặc lớn đến, nếu gặp phải họ thì mạng ngươi sẽ chẳng toàn. Ngươi hãy tìm cách trốn đi”. Bấy giờ, nỗi kinh sợ của người ấy càng tăng thêm, liền bỏ đi. Trên đường đi, lại gặp một dòng sông, nước sông chảy mạnh, lại không có thuyền bè. Vì kinh sợ nên người ấy liền lấy đủ thứ cỏ cây kết bè và lại suy nghĩ: “Giả sử ta đứng ở đây thì sẽ bị rắn độc, năm Chiênđà-la mà trong đó có một tên giả thân thiện và sáu tên giặc lớn làm nguy hại. Nếu qua sông này mà bè chẳng bảo đảm thì ta sẽ phải chết dưới nước. Ta thà chết đuối dưới nước, nhất định chẳng để rắn độc và giặc kia làm hại”. Người ấy liền đẩy bè cỏ xuống nước, thân dựa trên bè đó, vận động tay chân, rẽ nước mà đi. Đã đến bờ bên kia rồi, người ấy yên ổn, không còn hoạn nạn, lòng dạ thư thái, sợ hãi tiêu trừ.

Đại Bồ-tát được nghe, thọ trì kinh Đại Niết-bàn, quán thân như cái hòm nhỏ, đất nước lửa gió như bốn con rắn độc. Nhìn độc, chạm độc, hơi độc, cắn độc, tất cả chúng sinh gặp bốn thứ độc này nên mất mạng. Bốn đại của chúng sinh cũng như vậy, hoặc thấy là ác, hoặc chạm là ác, hoặc hơi là ác, hoặc cắn là ác. Do những nhân duyên này nên xa lìa mọi thiện. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát quan sát bốn con rắn độc có bốn dòng giống là Sát-lợi, Bà-la-môn, Tỳ-xá, Thủ-đà. Rắn bốn đại này cũng như vậy, có bốn thứ tánh là tánh cứng, tánh ẩm ướt, tánh nóng, tánh động. Vậy nên Bồ-tát quán bốn đại cùng bốn độc xà đồng chung chủng tánh ấy. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát quán bốn đại này như bốn con rắn độc. Sao gọi là quán? Bốn con rắn độc này thường rình rập chỗ sơ hở của con người, khi nào phải nhìn, khi nào phải chạm, khi nào phải hà hơi, khi nào phải cắn. Rắn độc bốn đại cũng như vậy, thường rình chúng sinh tìm chỗ sơ hở, thiếu sót của họ. Nếu bị bốn con rắn độc giết hại thì nhất định chẳng đến trong ba đường ác, còn nếu bị bốn đại giết hại thì ắt đến ba đường ác, chẳng có gì nghi ngờ. Bốn con rắn độc này tuy được trông nom nuôi dưỡng nhưng cũng muốn giết người. Bốn đại cũng vậy, tuy thường được cung cấp nhưng cũng thường dẫn dắt con người làm mọi việc ác. Bốn con rắn độc này, nếu một con giận dữ lên thì có thể hại người. Tánh của bốn đại cũng như vậy, nếu một đại bộc phát cũng có thể hại người. Bốn con rắn độc này tuy ở đồng một chỗ nhưng tánh đều khác nhau. Rắn độc bốn đại cũng như vậy, tuy đồng một chỗ nhưng tánh đều khác biệt. Bốn con rắn độc này tuy lại tuân phục nhưng cũng khó thân cận. Rắn độc bốn đại cũng vậy, tuy lại tuân phục nhưng cũng khó thân cận. Bốn con rắn độc này nếu khi hại người mà hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn v.v… dùng chú hay thuốc thì có thể trị liệu được. Bốn đại giết hại người, tuy có Samôn, Bà-la-môn v.v… dùng thần chú, thuốc hay đều chẳng thể trị liệu. Như người đang vui vẻ nghe hơi thối của bốn con rắn độc thì liền xa lìa. Các Đức Phật, Bồ-tát cũng như vậy, nghe mùi của bốn đại thì liền lìa xa. Bấy giờ, Bồ-tát lại suy nghĩ về rắn độc bốn đại rồi sinh ra kinh sợ, quay lưng chạy nhanh, lo tu tám Thánh đạo.

Chiên-đà-la tức là năm ấm. Thế nào là Bồ-tát quán năm ấm như Chiên-đà-la? Người Chiên-đà-la thường có thể khiến cho con người ân ái biệt ly, oán ghét gặp gỡ. Năm ấm cũng vậy, khiến cho con người tham lam, thân cận với pháp bất thiện, xa lìa tất cả pháp thiện. Lại nữa, này thiện nam! Như Chiên-đà-la tự trang nghiêm đủ thứ binh khí như dao, hoặc thuẩn, cung, hoặc tên, hoặc áo giáp đồng, hoặc giáo dài v.v… để có thể hại người. Năm ấm cũng vậy, dùng các phiền não tự trang nghiêm chắc chắn, hại những người si dại, khiến cho họ rơi vào các cõi hữu. Này thiện nam! Như Chiên-đà-la đối với người có tội lỗi thì được giết hại. Năm ấm cũng vậy, có những lỗi kiết sử thường có thể hại người. Vậy Bồ-tát nên quán sâu năm ấm như Chiên-đà-la. Lại nữa, Bồ-tát quan sát năm ấm như Chiên-đà-la là vì người Chiên-đà-la không có lòng từ bi, kẻ oán người thân đều hại. Năm ấm cũng vậy, không có lòng từ bi thiện ác đều hại. Như Chiên-đà-la làm não hại tất cả mọi người. Năm ấm cũng vậy, do những phiền não thường làm não hại tất cả chúng sinh sinh tử. Vậy Bồ-tát nên quán năm ấm như Chiênđà-la. Lại nữa, Bồ-tát quan sát năm ấm như Chiên-đà-la là vì người Chiên-đà-la thường ôm lòng hại. Năm ấm cũng vậy, thường mang các kết sử não hại tâm. Như người mà không có chân, dao, gậy, thị tùng thì phải biết, nhất định bị người Chiên-đà-la giết hại. Chúng sinh cũng vậy, không có chân, dao, không có thị tùng thì bị giặc năm ấm giết hại. Chân là giới, dao là tuệ, thị tùng là thiện tri thức. Không có ba việc này nên bị giặc năm ấm giết hại. Vậy Bồ-tát nên quán năm ấm như Chiênđà-la. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát quan sát năm ấm như Chiênđà-la. Vì sao? Vì nếu chúng sinh bị Chiên-đà-la giết hại thì chẳng rơi vào địa ngục, còn người bị năm ấm giết thì rơi vào địa ngục. Do nghĩa này nên Bồ-tát quán năm ấm hơn Chiên-đà-la. Bồ-tát phát khởi sự quan sát này rồi, phát thệ nguyện: “Ta thà trọn đời gần Chiên-đà-la, chẳng thể gần gũi năm ấm trong giây lát”. Người Chiên-đà-la chỉ có thể hại người ngu si của cõi Dục, còn giặc năm ấm này hại khắp chúng sinh phàm phu của ba cõi. Người Chiên-đà-la chỉ có thể giết chết người có tội, còn giặc năm ấm chẳng hỏi chúng sinh có tội hay không có tội, đều có thể hại hết. Người Chiên-đà-la chẳng hại người già yếu, phụ nữ, trẻ con, còn giặc năm ấm này chẳng cần hỏi chúng sinh ai già cả, phụ nữ, trẻ con yếu đuối, tất cả đều hại hết. Vậy Bồ-tát nên quan sát sâu năm ấm này còn hơn Chiên-đà-la, nên Bồ-tát phát nguyện rằng, thà trọn đời gần Chiên-đà-la, chẳng thể gần gũi năm ấm trong giây lát. Lại nữa, này thiện nam! Người Chiên-đà-la chỉ hại người khác, nhất định chẳng hại mình. Giặc năm ấm thì hại mình và hại cả người khác. Người Chiên-đà-la có thể dùng lời nói khéo, tiền tài, của báu để cầu xin thì được thoát. Năm ấm chẳng vậy, chẳng thể miễn cưỡng dùng lời nói khéo dụ dỗ, tiền tài, của báu để cầu xin mà được thoát. Người Chiênđà-la ở trong bốn mùa, chẳng nhất định phải thường giết hại. Năm ấm chẳng vậy, luôn ở trong từng niệm, từng niệm hại chúng sinh. Người Chiên-đà-la chỉ ở tại một chỗ nên có thể chạy trốn. Năm ấm chẳng vậy, ở khắp mọi chỗ nên không thể chạy trốn. Người Chiên-đà-la tuy hại người, hại mình rồi nhưng chẳng theo đuổi. Năm ấm chẳng vậy, giết hại chúng sinh rồi còn theo đuổi chẳng rời. Vậy Bồ-tát thà trọn đời gần Chiên-đà-la, chẳng thể trong giây lát gần gũi năm ấm. Người có trí dùng phương tiện khéo léo được thoát khỏi năm ấm, phương tiện khéo léo tức là tám Thánh đạo, sáu Ba-la-mật, bốn tâm vô lượng. Nhờ phương tiện này mà kẻ trí được giải thoát, thân tâm chẳng bị năm ấm giết hại. Vì sao? Vì thân như kim cương, tâm như hư không. Nên thân tâm khó có thể ngăn trở, hủy hoại. Do nghĩa này, Bồ-tát quan sát thấy ấm thành tựu đủ các thứ pháp bất thiện nên sinh ra kinh sợ mà tu tám Thánh đạo, cũng như người kia sợ bốn con rắn độc, năm Chiên-đà-la mà lặn lội trên đường đi không quay nhìn lại.

Người trá thân thiện là tham ái. Đại Bồ-tát quán sâu ái kết như kẻ oán trá hiện người thân. Nếu biết sự thật thì nó không thể làm gì, nếu chẳng biết thì nhất định bị hại. Tham ái cũng vậy, nếu biết tánh của chúng thì chẳng thể khiến cho chúng sinh luân chuyển trong khổ sinh tử, như chẳng biết tánh ấy thì luân chuyển sáu đường, chịu đủ mọi khổ. Vì sao? Vì ái là bệnh khó lìa bỏ như kẻ oán trá hiện người thân khó có thể xa lìa. Kẻ oán trá hiện thân thiện thường rình rập chỗ sơ hở của người, khiến cho họ xa lìa người thương yêu, gặp gỡ kẻ oán ghét. Ái cũng như vậy, khiến cho con người xa lìa tất cả pháp thiện, gần gũi với tất cả pháp bất thiện. Do nghĩa này nên Đại Bồ-tát quán sâu tham ái như oán trá hiện thân thiện. Vì thấy mà chẳng thấy, nghe mà chẳng nghe, nên như người phàm phu thấy lỗi sinh tử, tuy có trí tuệ nhưng vì ngu si che phủ nên về sau trở lại chẳng thấy. Thanh văn, Duyên giác cũng như vậy, tuy thấy nhưng chẳng thấy, tuy nghe nhưng chẳng nghe. Vì sao? Vì do tâm ái vậy. Vì sao? Vì thấy lỗi sinh tử nhưng chẳng thể mau chóng đến được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Do nghĩa này nên Đại Bồ-tát quán ái kết này như oán trá hiện thân thiện. Sao gọi là tướng oán trá hiện thân thiện? Như oán, chẳng thật mà trá hiện tướng thật, chẳng thể thân cận mà trá hiện tướng thân cận, thật là chẳng thiện mà trá hiện tướng thiện, thật là chẳng ái mà trá hiện tướng ái. Vì sao? Vì luôn rình rập chỗ sơ hở của người muốn làm hại họ. Ái cũng như vậy, thường vì chúng sinh, chẳng phải thật mà trá hiện thật, chẳng phải thân cận mà trá hiện thân cận, chẳng phải thiện mà trá hiện thiện, chẳng phải ái mà trá hiện ái, luôn lừa dối tất cả sinh tử luân hồi. Do nghĩa này nên Bồ-tát quan sát ái như oán trá hiện thân thiện. Kẻ oán trá hiện thân thiện thì chỉ thấy thân miệng, chẳng nhìn thấy lòng họ. Vậy nên họ có thể lừa dối. Ái cũng như vậy, chỉ là hư dối, thật chẳng thể nắm bắt. Vậy nên có thể mê hoặc tất cả chúng sinh. Kẻ oán trá hiện thân thiện thì có thỉ có chung, dễ có thể xa lìa. Ái chẳng như vậy, không thỉ không chung, khó có thể lìa xa. Kẻ oán trá hiện thân thiện ở xa thì khó biết, đến gần thì dễ biết. Ái chẳng như vậy, gần còn khó biết, huống chi là xa. Do nghĩa này nen Bồ-tát quán ái hơn oán trá hiện thân thiện. Tất cả chúng sinh do ái kết nên xa Đại Niết-bàn, gần với sinh tử, xa thường, lạc, ngã, tịnh, gần vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh. Vậy nên ở mọi chỗ trong kinh, Ta nói là ba cấu uế đối với việc hiện tại do vô minh, nên chẳng thấy tội lỗi, chẳng thể lìa bỏ. Oán ái mà trá hiện thân thiện nhất định chẳng thể hại người có trí. Vậy nên Bồ-tát quán sâu ái này vô cùng kinh sợ nên tu tám Thánh đạo giống như người kia sợ bốn con rắn độc, năm Chiên-đà-la và một người trá hiện thân thiện mà chạy thẳng chẳng quay lại.

Xóm làng trống không tức là sáu nhập bên trong. Đại Bồ-tát quán sáu nhập này rỗng không, không sở hữu, giống như xóm làng trống rỗng, như người sợ kia đã vào xóm làng rồi thậm chí chẳng thấy có một người ở, tìm hết trong các đồ đựng chẳng được một vật gì. Bồ-tát cũng vậy, quan sát kỹ sáu nhập trống rỗng, không có gì, chẳng thấy một vật thật nào là chúng sinh. Vậy nên Bồ-tát quan sát sáu nhập bên trong rỗng không, không có gìnhư xóm làng trống rỗng kia. Này thiện nam! Xóm làng trống rỗng kia, bọn giặc nhìn từ xa nhất định chẳng tưởng là rỗng không. Người phàm phu cũng như vậy, đối với xóm làng sáu nhập chẳng sinh tưởng về không. Do họ chẳng thể sinh tưởng về không nên sinh tử luân hồi, chịu khổ không lường. Này thiện nam! Bọn giặc đã đến nơi mới sinh ra tưởng về không, sinh ra tưởng về không thì chẳng sinh tử luân hồi, chịu khổ. Đại Bồ-tát đối với sáu nhập này thường không điên đảo. Không điên đảo nên chẳng sinh tử luân hồi. Lại nữa, này thiện nam! Như có bọn giặc vào xóm làng trống rỗng này thì được an vui. Các giặc phiền não cũng như vậy, vào sáu nhập này thì được an vui. Như giặc trụ ở xóm làng rỗng không, lòng không sợ hãi. Bọn giặc phiền não cũng như vậy, trụ ở sáu nhập này cũng không sợ gì. Như xóm làng trống rỗng kia chính là chỗ ở của sư tử, cọp, sói v.v… đủ thứ ác thú, sáu nhập bên trong này cũng như vậy, là chỗ trụ của tất cả loài ác thú phiền não. Vậy nên Bồ-tát quán sâu sáu nhập rỗng không, không có gì, thuần là chỗ trú của tất cả điều bất thiện. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát quan sát sáu nhập bên trong rỗng không, không có gì như xóm làng trống rỗng kia. Vì sao? Vì nó hư dối chẳng thật, rỗng không không có gì mà tưởng là có, thật không có vui mà tưởng là vui, thật không có người mà tưởng là có. Sáu nhập bên trong cũng như vậy, rỗng không không có gì mà tưởng là có, thật không có vui mà tưởng là vui, thật không có người mà tưởng là có. Chỉ có người trí mới có thể biết được sự thật ấy. Lại nữa, này thiện nam! Như xóm làng trống rỗng, hoặc khi có người, hoặc khi không có người. Sáu nhập chẳng vậy, chỉ một hướng là không người. Vì sao? Vì tánh luôn rỗng không. Sự nhận biết của người trí chẳng phải là mắt thấy. Vậy nên Bồtát quan sát sáu nhập bên trong có nhiều oán hại nên tu tám Thánh đạo chẳng ngưng nghỉ, giống như người kia sợ bốn con rắn độc, năm Chiênđà-la, một kẻ trá hiện thân thiện và sáu tên đại tặc khủng bố mà chạy thẳng.

Sáu đại tặc tức là sáu trần bên ngoài. Đại Bồ-tát quan sát sáu trần này như sáu tên giặc. Vì sao? Vì có thể cướp tất cả pháp thiện. Như sáu tên đại tặc có thể cướp tất cả của báu của dân chúng. Giặc sáu trần này cũng như vậy, có thể cướp tất cả của cải thiện của chúng sinh. Như sáu tên đại tặc, nếu vào nhà người thì có thể cướp đoạt vật hiện có trong nhà, chẳng phân biệt tốt xấu, khiến cho người cự phú bỗng nhiên thành bần cùng. Giặc sáu trần này cũng như vậy, nếu vào căn của người thì cũng có thể cướp đoạt tất cả pháp thiện. Pháp thiện đã hết thì trở nên bần cùng cô lộ, thành Nhất-xiển-đề. Vậy nên Bồ-tát quan sát kỹ sáu trần như sáu tên đại tặc. Lại nữa, này thiện nam! Như sáu tên đại tặc khi muốn cướp đoạt của người thì cốt yếu nhờ người ở bên trong. Nếu không có người bên trong thì liền trở về không. Giặc sáu trần này cũng như vậy, muốn cướp pháp thiện cốt nhờ bên trong có chúng sinh thấy biết tướng thường, lạc, ngã, tịnh, chẳng rỗng không v.v… Nếu bên trong không có những tướng như vậy thì giặc ác sáu trần chẳng thể cướp được tất cả pháp thiện. Người có trí bên trong không có tướng này mà kẻ phàm phu thì có. Vậy nên sáu trần thường đến chiếm đoạt của cải pháp thiện. Vì chẳng khéo hộ trì nên kẻ phàm phu bị sự cướp đoạt ấy. Người hộ trì gọi là có trí tuệ. Người có trí tuệ có thể khéo phòng hộ nên chẳng bị cướp. Vậy nên Bồ-tát quán sáu trần này như sáu tên đại tặc ngang bằng không sai khác. Lại nữa, này thiện nam! Như sáu tên đại tặc có thể làm cho thân tâm muôn dân khổ não. Giặc sáu trần này cũng như vậy, thường làm cho thân tâm chúng sinh khổ não. Sáu tên đại tặc thì chỉ có thể cướp tài vật hiện tại của con người, còn giặc sáu trần này thường cướp tài sản thiện của chúng sinh ba đời. Sáu tên đại tặc ban đêm thì vui sướng. Giặc ác sáu trần này cũng như vậy, ở chỗ vô minh tối tăm thì được hoan lạc. Sáu tên đại tặc này chỉ có các vị vua mới có thể ngăn chận. Giặc ác sáu trần này cũng như vậy, chỉ có Phật, Bồ-tát mới có thể ngăn chận. Sáu tên đại tặc này phàm muốn cướp đoạt thì chẳng lựa chọn dòng họ, đoan chánh, thông triết, đa văn, bác học, giàu sang, nghèo hèn v.v… Giặc ác sáu trần cũng như vậy, muốn cướp pháp thiện cũng chẳng chọn đoan chánh cho đến nghèo hèn. Sáu tên đại tặc này tuy bị nhà vua chặt tay chân chúng nhưng còn chẳng thể khiến cho lòng chúng dứt hết tâm ác. Giặc ác sáu trần cũng như vậy, tuy Tu-đàhoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm chặt tay chân chúng cũng chẳng thể khiến cho chúng chẳng cướp pháp thiện. Như người mạnh mẽ mới có thể tiêu diệt hàng phục sáu tên đại tặc này. Chư Phật, Bồ-tát cũng như vậy, mới có thể tiêu diệt hàng phục giặc ác sáu trần. Ví như có người có nhiều họ hàng, bè bạn đông đúc thì chẳng thể bị sự cướp đoạt của sáu tên giặc. Chúng sinh cũng vậy, có thiện tri thức thì chẳng bị giặc ác sáu trần cướp đoạt. Sáu tên giặc lớn này nếu thấy vật của người thì có thể trộm cướp. Giặc ác sáu trần chẳng vậy, hoặc thấy, hoặc biết, hoặc nghe, hoặc ngửi, hoặc xúc chạm, hoặc hay biết chúng đều có thể cướp. Sáu tên đại tặc thì chỉ có thể cướp đoạt của cải người Dục giới, chẳng thể cướp đoạt ở Sắc giới và Vô sắc giới. Giặc ác sáu trần thì chẳng như vậy, chúng có thể cướp đoạt tất cả của báu thiện trong ba cõi. Vậy nên Bồ-tát quan sát chắc chắn sáu trần hơn cả sáu tên đại tặc kia. Quán tưởng như vậy rồi, Bồ-tát tu tám Thánh đạo, đi thẳng chẳng trở lại. Như người kia sợ bốn con rắn độc, năm tên Chiên-đà-la, một kẻ trá hiện thân thiện và sáu tên đại tặc, bỏ xóm làng trống không, thẳng đường mà đi.

Trên đường gặp một dòng sông tức là phiền não. Sao gọi là Bồtát quán phiền não này giống như dòng sông lớn? Như dòng sông chảy xiết đó có thể cuốn trôi con hương tượng. Dòng sông phiền não chảy xiết cũng như vậy, có thể cuốn trôi Duyên giác. Vậy nên Bồ-tát quán sâu phiền não giống như dòng sông chảy xiết. Sâu khó đến được đáy nên gọi là sông. Bờ chẳng thể đến được nên gọi là lớn. Trong sông lớn ấy có nhiều loài cá dữ. Dòng sông lớn phiền não cũng như vậy, chỉ Phật, Bồ-tát mới có thể đến được đáy nên gọi rất sâu; chỉ Phật, Bồ-tát mới đến được bờ kia nên gọi là rộng lớn, thường hại tất cả chúng sinh ngu si nên gọi là cá dữ. Vậy nên Bồ-tát quán phiền não này giống như dòng sông lớn. Như nước dòng sông lớn có thể nuôi lớn tất cả cỏ cây, rừng rậm. Dòng sông lớn phiền não cũng như vậy, có thể làm lớn hai mươi lăm cõi của chúng sinh. Vậy nên Bồ-tát quán phiền não này giống như dòng sông lớn. Ví như có người rơi xuống dòng sông lớn mà không xấu hổ. Chúng sinh cũng vậy, rơi vào dòng sông phiền não mà không có hổ thẹn. Như người rơi vào dòng sông chưa đến được đáy sông liền mạng chung. Rơi vào dòng sông phiền não cũng như vậy, chưa đến tận đáy sông đã quay trở lại luân chuyển hai mươi lăm cõi. Cái gọi là đáy tức là tướng không. Nếu có người chẳng tu tướng không như vậy thì phải biết người này chẳng ra khỏi hai mươi lăm cõi. Tất cả chúng sinh chẳng thể khéo tu không, vô tướng nên thường bị dòng sông phiền não chảy xiết cuốn trôi. Như dòng sông lớn kia chỉ có thể hoại thân, chẳng thể cuốn trôi mất tất cả pháp thiện. Dòng sông lớn phiền não thì chẳng như vậy, có thể hoại tất cả pháp thiện của thân và tâm. Dòng sông lớn hung dữ chỉ có thể cuốn trôi, nhận chìm con người trong cõi Dục. Dòng sông lớn phiền não mới có thể cuốn trôi, nhận chìm hàng trời, người của ba cõi. Dòng sông lớn thế gian vận động tay chân thì đến bờ kia, còn dòng sông lớn phiền não chỉ có Bồ-tát nhờ vào sáu pháp Ba-la-mật mới có thể qua được. Như dòng sông lớn thì khó có thể qua được, dòng sông lớn phiền não cũng như vậy, khó có thể qua được. Sao gọi là khó có thể qua được? Cho đến chư Đại Bồ-tát hàng Thập Trụ còn chưa có thể qua được rốt ráo, chỉ có chư Phật mới qua khỏi rốt ráo. Vậy nên gọi là khó có thể qua được. Ví như có người bị dòng sông cuốn trôi chẳng thể tu tập một chút xíu pháp thiện, chúng sinh cũng vậy, bị dòng sông phiền não cuốn trôi thì cũng chẳng thể tu tập pháp thiện. Như người rơi xuống sông bị nước cuốn trôi, thì người nào có sức có thể cứu vớt được. Người rơi vào dòng sông phiền não làm Nhấtxiển-đề thì Thanh văn, Duyên giác cho đến các Đức Phật cũng chẳng thể cứu vớt được. Những dòng sông lớn thế gian khi kiếp tận, bảy mặt trời cùng chiếu thì có thể khiến cho khô cạn. Dòng sông lớn phiền não thì chẳng như vậy, Thanh văn, Duyên giác tuy tu bảy giác ý nhưng còn chẳng thể làm khô cạn được. Vậy nên Bồ-tát quán tưởng các phiền não giống như dòng sông chảy xiết.

Ví như người kia sợ bốn con rắn độc, năm người Chiên-đà-la, một kẻ trá hiện thân thiện và sáu tên đại tặc mà bỏ xóm làng trống không, thẳng đường mà đi, khi đến bên dòng sông, gom cỏ làm bè. Bồ-tát cũng vậy, sợ rắn bốn đại, Chiên-đà-la năm ấm, ái trá hiện thân thiện, xóm làng trống không sáu nhập, giặc ác sáu trần, đi đến dòng sông phiền não, tu giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, sáu pháp Bala-mật, ba mươi bảy phẩm trợ đạo v.v… dùng làm thuyền bè. Rồi Bồ-tát nương theo bè này qua dòng sông phiền não đi đến bờ thường lạc Niếtbàn kia. Bồ-tát tu hành Đại Niết-bàn thì khởi lên suy nghĩ này: “Ta, nếu chẳng thể nhẫn thọ thân khổ, tâm khổ như vậy thì chẳng thể khiến cho tất cả chúng sinh qua khỏi dòng sông phiền não”. Do suy nghĩ này, Bồ-tát tuy có thân tâm khổ não như thế, nhưng mặc nhiên nhẫn thọ. Do nhẫn thọ nên chẳng sinh ra lậu hoặc. Bồ-tát như vậy còn không có các lậu hoặc, huống gì là Phật Như Lai mà phải có lậu hoặc sao? Vậy nên chư Phật chẳng gọi là hữu lậu. Sao gọi là Như Lai chẳng phải vô lậu? Như Lai thường hành trong hữu lậu mà hữu lậu tức là hai mươi lăm cõi. Vậy nên người phàm phu, Thanh văn nói rằng, Phật có lậu hoặc. Nhưng chư Phật Như Lai chân thật vô lậu.

Này thiện nam! Do nhân duyên này, chư Phật Như Lai không có tướng nhất định. Này thiện nam! Vậy nên việc phạm bốn trọng cấm, bài báng kinh Phương Đẳng và Nhất-xiển-đề đều bất định.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương nói:

–Đúng vậy! Đúng vậy! Đúng như lời dạy của Đức Thánh. Tất cả các pháp đều bất định. Vì bất định nên phải biết, Như Lai cũng chẳng rốt ráo vào Niết-bàn. Như trước Đức Phật đã nói, Đại Bồ-tát tu Đại Niết-bàn, nghe mà chẳng nghe, trong đó có Niết-bàn, có Đại Niết-bàn. Sao gọi là Niết-bàn? Sao gọi là Đại Niết-bàn?

Bấy giờ, Đức Phật khen Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Nếu có Bồ-tát được niệm tổng trì thì mới có thể thưa hỏi được như ông. Này thiện nam! Như người đời thường nói, có biển thì có biển lớn, có sông thì có sông lớn, có núi thì có núi lớn, có đất thì có đất lớn, có thành thì có thành lớn, có chúng sinh thì có chúng sinh lớn, có vua thì có vua lớn, có người thì có các người lớn, có trời thì có đấng Thiên Trung Thiên, có đạo thì có đạo lớn. Niết-bàn cũng vậy, có Niết-bàn thì có Đại Niết-bàn. Sao gọi là Niết-bàn? Này thiện nam! Như người đói được ít cơm ăn thì gọi là an vui mà an vui như vậy cũng gọi là Niết-bàn. Như người bệnh được khỏi thì gọi là an vui, mà an vui như vậy cũng gọi là Niết-bàn. Như người sợ hãi được chỗ nương về thì được an vui, mà an vui như vậy cũng gọi là Niết-bàn. Như người nghèo cùng nhặt được vật bảy báu thì được an vui, mà an vui như vậy cũng gọi là Niết-bàn. Như người quan sát xương khô chẳng khởi lên tham dục thì được an vui, mà an vui như vậy cũng gọi là Niết-bàn. Những Niết-bàn như vậy chẳng được gọi là Đại Niết-bàn. Vì sao? Vì đói khát, vì bệnh, vì sợ, vì nghèo, vì sinh tham đắm nên đó gọi là Niết-bàn chẳng phải là Đại Niết-bàn. Này thiện nam! Nếu người phàm phu và tất cả Thanh văn hoặc nhân thế tục, hoặc nhân Thánh đạo đoạn được kiết sử cõi Dục thì được an vui, mà an vui như vậy cũng gọi là Niết-bàn, chẳng được gọi là Đại Niết-bàn. Họ có thể đoạn những kiết sử từ sơ thiền cho đến cõi Phi tưởng phi phi tưởng thì được an vui, mà an vui như vậy cũng gọi là Niết-bàn, chẳng được gọi là Đại Niết-bàn. Vì sao? Vì còn trở lại sinh phiền não, có tập khí. Sao gọi là tập khí phiền não? Thanh văn, Duyên giác có phiền não tập khí như cho là thân ta, áo ta, ta đi, ta lại, ta nói, ta nghe, chư Phật Như Lai vào Niết-bàn, tánh của Niết-bàn là vô ngã, vô lạc, chỉ có thường tịnh. Đó gọi là tập khí phiền não. Phật, Pháp, Tăng có tướng sai khác, Như Lai rốt ráo vào Niết-bàn, Niết-bàn sở đắc của Thanh văn, Duyên giác, chư Phật Như Lai bình đẳng không sai biệt… Do nghĩa này nên sở đắc của hàng Nhị thừa chẳng phải là Đại Niết-bàn. Vì sao? Vì không thường, lạc, ngã, tịnh. Thường, lạc, ngã, tịnh mới được gọi là Đại Niết-bàn.

Này thiện nam! Ví như có nơi có thể nhận mọi dòng nước gọi là biển cả. Theo đó, có chỗ chứng nhập của Thanh văn, Duyên giác, Bồtát, chư Phật Như Lai thì gọi là Đại Niết-bàn. Bốn thiền, ba Tam-muội, tám bối xả, tám thắng xứ, mười Nhất thiết xứ v.v… nơi có thể gồm thâu vô lượng những pháp thiện như vậy thì gọi là Đại Niết-bàn. Này thiện nam! Ví như có dòng sông mà con voi lớn đệ nhất chẳng thể lội đến được đáy thì gọi là sông lớn. Thanh văn, Duyên giác đến Bồ-tát Thập Trụ chẳng thấy Phật tánh gọi là Niết-bàn, chẳng phải là Đại Niết-bàn.

Nếu có thể thấy rõ Phật tánh thì được gọi là Đại Niết-bàn. Đại Niếtbàn này chỉ đại tượng vương có thể đến tận cùng đáy. Đại tượng vương tức là chư Phật. Này thiện nam! Như các đại Lực sĩ như Ma-ha Na-già và Bát-kiền-đà v.v… trải qua nhiều thời gian mà chẳng thể lên đến đỉnh mới gọi là núi lớn. Cảnh giới mà Thanh văn, Duyên giác và các Bồ-tát, đại Lực sĩ Ma-ha Na-già v.v… chẳng thể thấy được thì như vậy mới gọi là Đại Niết-bàn. Lại nữa, này thiện nam! Chỗ ở của Tiểu vương thì gọi là thành nhỏ, chỗ ở của Chuyển luân Thánh vương mới gọi là thành lớn. Cảnh giới của tám vạn, sáu vạn, bốn vạn, hai vạn, một vạn Thanh văn, Duyên giác gọi là Niết-bàn. Chỗ ở của đấng Pháp chủ Thánh vương vô thượng mới được gọi là Đại Bát Niết Bàn. Do vậy, nên gọi là Đại Bát Niết Bàn. Này thiện nam! Ví như có người thấy bốn thứ binh chẳng sinh kinh sợ thì phải biết người đó gọi là đại chúng sinh. Nếu có chúng sinh đối với nghiệp ác phiền não của ba đường ác, chẳng sinh ra sợ hãi mà có thể ở trong đó rộng độ chúng sinh thì phải biết người đó được Đại Niết-bàn. Nếu có người có thể cúng dường cha mẹ, cung kính Sa-môn và Bà-la-môn, tu hành pháp thiện, lời nói thành thật không có lừa dối, có thể nhận thức các ác, bố thí người nghèo thiếu thì gọi là đại trượng phu. Bồ-tát cũng vậy, có đại từ bi, thương xót tất cả, đối với chúng sinh giống như cha mẹ, có thể đưa chúng sinh qua khỏi dòng sông sinh tử, chỉ bày khắp chúng sinh đạo Nhất thật, đó gọi là Đại Bát Niết Bàn. Này thiện nam! Đại là chẳng thể nghĩ bàn. Nếu chẳng thể nghĩ bàn là điều tất cả chúng sinh chẳng thể tin thì đó gọi là Đại Bát Niết Bàn. Chỉ là sở kiến của Phật, Bồ-tát nên gọi là Đại Niết-bàn. Do nhân duyên gì lại gọi là đại? Do vô lượng nhân duyên, sau đó mới được gọi là đại. Này thiện nam! Như người thế gian, điều mà do nhiều nhân duyên mới được thì gọi là đại. Niết-bàn cũng vậy, do nhiều nhân duyên mới đạt được nên gọi là đại. Sao lại gọi là Đại Niết-bàn? Có đại ngã nên gọi là Đại Niết-bàn, có Niết-bàn thì vô ngã. Có đại tự tại nên gọi là đại ngã. Sao gọi là đại tự tại? Có tám tự tại thì gọi là ngã. Những gì là tám? Một là có thể thị hiện một thân làm nhiều thân. Số thân lớn nhỏ giống như vi trần tràn đầy mười phương vô lượng thế giới. Thân Như Lai thật chẳng phải vi trần, do tự tại nên hiện thân vi trần. Tự tại như vậy tức là đại ngã. Hai là thị hiện một thân vi trần tràn đầy ở ba ngàn đại thiên thế giới. Thân Như Lai thật chẳng đầy ba ngàn đại thiên thế giới. Vì sao? Vì vô ngại, chỉ do tự tại nên thân đầy ba ngàn đại thiên thế giới. Tự tại như vậy gọi là đại ngã. Ba là có thể dùng thân đầy ba ngàn đại thiên thế giới nhẹ nhàng bay lên hư không, vượt qua số thế giới chư Phật nhiều bằng hai mươi lần cát sông Hằng mà không ngăn ngại. Thân Như Lai thật không nặng, nhẹ, do tự tại nên có thể làm nặng, nhẹ. Tự tại như vậy gọi là đại ngã. Bốn là do tự tại nên được tự tại. Sao gọi là tự tại? Như Lai nhất tâm an trụ chẳng động, có thể thị hiện hóa ra vô lượng hình loại đều khiến cho chúng có tâm. Như Lai có khi, hoặc tạo ra một việc mà khiến cho mọi chúng sinh đều thành tựu. Thân Như Lai thường trụ ở một cõi mà khiến cho cõi khác tất cả đều thấy. Tự tại như vậy gọi là đại ngã. Năm là căn tự tại. Sao gọi là căn tự tại? Một căn của Như Lai cũng có thể thấy sắc, nghe tiếng, ngửi hương, phân biệt vị, cảm xúc, biết pháp. Sáu căn của Như Lai cũng chẳng thấy sắc, nghe tiếng, ngửi hương, phân biệt vị, cảm xúc, biết pháp. Do tự tại nên khiến cho căn tự tại. Tự tại như vậy gọi là đại ngã. Sáu là do tự tại nên chứng đắc tất cả các pháp. Tâm Như Lai cũng không có tưởng chứng đắc. Vì sao? Vì không sở đắc. Nếu là có thì có thể gọi là chứng đắc, nhưng thật ra không có thì sao gọi là chứng đắc? Nếu Như Lai có tưởng chứng đắc tức là chư Phật chẳng đắc Niết-bàn. Do không đắc nên gọi là đắc Niết-bàn. Do tự tại nên chứng đắc tất cả pháp, mà chứng đắc tất cả pháp nên gọi là đại ngã. Bảy là diễn nói tự tại nên Như Lai diễn nói ý nghĩa một bài kệ trải qua vô lượng kiếp mà ý nghĩa cũng chẳng thể hết, đó là hoặc nói về giới, hoặc định, hoặc thí, hoặc tuệ v.v… nhưng Như Lai bấy giờ hoàn toàn chẳng phát ý niệm Ta nói, người kia nghe, cũng lại chẳng sinh ý tưởng về một bài kệ. Theo người thế gian thì bốn câu là một bài kệ, Như Lai theo thế tục nói ra nên gọi là kệ. Tất cả pháp tánh cũng không có điều để nói nhưng do tự tại nên Như Lai diễn nói. Do diễn nói nên gọi là đại ngã. Tám là Như Lai cùng khắp tất cả mọi nơi giống như hư không. Tánh của hư không chẳng thể thấy được. Như Lai cũng vậy, chẳng thể thấy. Do tự tại nên khiến cho tất cả đều thấy. Tự tại như vậy gọi là đại ngã. Như vậy đại ngã gọi là Đại Niết-bàn. Do nghĩa này nên gọi là Đại Niết-bàn. Lại nữa, này thiện nam! Ví như kho báu với nhiều đồ trân quý kỳ lạ, hàng trăm thứ đầy đủ nên gọi là kho tàng lớn. Kho tàng rất thâm diệu của chư Phật Như Lai cũng như vậy, có nhiều thứ kỳ lạ, đầy đủ không thiếu sót nên gọi là Đại Niết-bàn. Lại nữa, này thiện nam! Vật vô biên mới gọi là đại. Niết-bàn vô biên, vậy nên gọi là đại. Lại nữa, này thiện nam! Có vui lớn nên gọi là Đại Niết-bàn, còn Niết-bàn thì không vui. Do bốn thứ vui nên gọi là Đại Niết-bàn. Những gì là bốn? Một là đoạn dứt những niềm vui. Chẳng đoạn dứt vui tức là khổ, mà nếu có khổ thì chẳng gọi là vui lớn. Do đoạn dứt vui thì không có khổ, mà không khổ, không vui mới gọi là vui lớn. Tánh của Niết-bàn không khổ, không vui. Vậy nên Niết-bàn gọi là vui lớn. Do nghĩa này nên gọi là Đại Niếtbàn. Lại nữa, này thiện nam! Vui có hai thứ, một là vui của phàm phu, hai là vui của chư Phật. Vui của phàm phu thì vô thường, bại hoại. Vậy nên không vui. Chư Phật thì thường vui không có biến đổi nên gọi là vui lớn. Lại nữa, này thiện nam! Có ba thứ thọ, một là khổ thọ, hai là lạc thọ, ba là bất khổ bất lạc thọ. Chẳng khổ chẳng vui cũng là khổ. Niết-bàn tuy đồng chẳng khổ, chẳng vui, nhưng gọi là vui lớn. Do vui lớn nên gọi là Đại Niết-bàn. Hai là đại tịch tĩnh nên gọi là vui lớn. Tánh của Niết-bàn là đại tịch tĩnh. Vì sao? Vì xa lìa tất cả pháp rối loạn, ồn ào. Do đại tịch tĩnh nên gọi là Đại Niết-bàn. Ba là biết tất cả nên gọi là vui lớn. Chẳng phải biết tất cả thì chẳng gọi là vui lớn. Chư Phật Như Lai biết tất cả nên gọi là vui lớn. Do vui lớn nên gọi là Đại Niết-bàn. Bốn là thân chẳng hoại nên gọi là vui lớn. Thân nếu có thể hoại thì chẳng gọi là vui. Thân của Như Lai là thân kim cương không hoại, chẳng phải là thân phiền não, là thân vô thường nên gọi là vui lớn. Do vui lớn nên gọi là Đại Niết-bàn. Này thiện nam! Tên của thế gian, hoặc có nhân duyên, hoặc không nhân duyên. Có nhân duyên là như Tôn giả Xá-lợi-phất có mẹ tên là Xá-lợi rồi nhân tên mẹ đặt tên con nên gọi là Xá-lợi-phất. Như đạo nhân Ma-du-la sinh ra ở nước Madu-la, rồi nhân nước mà đặt tên nên gọi là đạo nhân Ma-du-la. Như Tôn giả Mục-kiền-liên, Mục-kiền-liên tức là họ, rồi nhân họ đặt tên nên gọi là Mục-kiền-liên. Như Ta sinh ra ở dòng họ Cù-đàm, rồi nhân họ đặt tên, xưng là Cù-đàm. Như đạo nhân Tỳ-xá-khư, Tỳ-xá-khư tức là tên một vì sao. Nhân lấy sao làm tên nên gọi là Tỳ-xá-khư. Như tay có sáu ngón, nhân sáu ngón nên gọi là người sáu ngón. Như kẻ làm tôi cho Phật, làm tôi cho trời, nhân Phật, nhân trời nên gọi kẻ đó Phật nô, Thiên nô. Nhân ẩm thấp sinh ra nên gọi là thấp sinh. Như nhân âm thanh nên tên là Ca-la-la, tên Cứu-cứu-la, Đát-đát-la. Những tên như vậy v.v… gọi là tên nhân duyên. Tên không nhân duyên là như: hoa sen, đất, nước, gió, lửa, hư không. Như Mạn-đà-bà thì một là tên, hai là thật. Một là gọi nhà, hai là gọi nước uống. Nhà chẳng uống nước cũng lại được gọi là Mạn-đà-bà. Như Tát-ba-xa-đa gọi là Xà-cái mà thật chẳng phải là Xà-cái. Đó gọi là tên không nhân duyên mà chỉ miễn cưỡng đặt tên gọi. Như Để-la-bà-di gọi là dầu ăn nhưng thật ra chẳng phải dầu ăn, chỉ là khiên cưỡng đặt tên gọi là dầu ăn. Đó gọi là không có nhân duyên mà gượng đặt tên. Này thiện nam! Đại Niết-bàn này cũng như vậy, không có nhân duyên mà gượng đặt tên gọi. Này thiện nam! Ví như hư không chẳng nhân cái tiểu không mà gọi là đại không. Niết-bàn cũng thế, chẳng nhân tiểu tướng mà gọi Đại Niết-bàn. Này thiện nam! Ví như có pháp chẳng thể tính kể, chẳng thể nghĩ bàn nên được gọi là đại. Niết-bàn cũng vậy, chẳng thể tính kể, chẳng thể nghĩ bàn nên được gọi là Đại Bát Niết Bàn. Do thuần tịnh nên gọi là Đại Niết-bàn. Sao gọi là thuần tịnh? Tịnh có bốn thứ? Những gì là bốn?

Một là hai mươi lăm cõi gọi là bất tịnh mà có thể vĩnh viễn đoạn tuyệt nên được gọi là tịnh. Tịnh tức là Niết-bàn, mà Niết-bàn như vậy cũng được gọi là có. Nhưng Niết-bàn này thật chẳng phải là có. Chư Phật Như Lai theo thế tục nên nói Niết-bàn có. Ví như người đời, chẳng phải cha mà nói rằng cha, chẳng phải mẹ mà nói rằng mẹ. Thật chẳng phải là cha mẹ mà nói rằng cha mẹ. Niết-bàn cũng vậy, theo thế tục nên nói chư Phật có Đại Niết-bàn.

Hai là nghiệp thanh tịnh. Nghiệp của tất cả phàm phu chẳng thanh tịnh nên không có Niết-bàn. Chư Phật Như Lai thanh tịnh nên gọi là đại tịnh. Do đại tịnh nên gọi là Đại Niết-bàn.

Ba là thân thanh tịnh. Thân nếu vô thường thì gọi là bất tịnh. Thân Như Lai thường nên gọi là đại tịnh. Do đại tịnh nên gọi là Đại Niết-bàn.

Bốn là tâm thanh tịnh. Tâm nếu có lậu hoặc thì gọi là bất tịnh. Tâm Phật vô lậu nên gọi là đại tịnh. Do đại tịnh nên gọi là Đại Niếtbàn.

Này thiện nam! Đó gọi là thiện nam, thiện nữ tu hành Kinh Đại Niết Bàn này thành tựu đầy đủ công đức thứ nhất.

*********

Lại nữa, này thiện nam! Sao gọi là Đại Bồ-tát tu kinh Đại Niếtbàn vi diệu thành tựu đầy đủ công đức thứ hai? Này thiện nam! Đại Bồ-tát tu Đại Niết-bàn thì cái xưa chẳng được nay được, cái xưa chẳng thấy nay thấy, cái xưa chẳng nghe nay nghe, cái xưa chẳng đến nay đến, cái xưa chẳng biết nay biết. Sao gọi là cái xưa chẳng được mà nay được? Đó là thần thông, xưa chẳng được mà nay mới được. Thần thông có hai thứ, một là nội, hai là ngoại. Thần thông ngoại thì cùng chung với ngoại đạo. Thần thông nội lại có hai: Một là thần thông của Nhị thừa, hai là thần thông của Bồ-tát. Thần thông mà Bồ-tát tu hành kinh Đại Niết-bàn chứng đắc chẳng giống với thần thông của Thanh văn, Phật-bích-chi. Sao gọi là chẳng giống với Thanh văn, Phật-bích-chi? Sự biến hóa thần thông của Nhị thừa là một tâm chỉ biến ra một, chẳng biến được nhiều. Bồ-tát chẳng vậy, ở trong một tâm thì có thể biến đầy đủ thân năm đường. Vì sao? Vì do thế lực của kinh Đại Niết-bàn nên như vậy. Đó gọi là cái xưa chẳng được mà nay được. Lại nữa, sao gọi là cái xưa chẳng được mà nay được? Đó là thân được tự tại, tâm được tự tại. Vì sao? Vì thân tâm của tất cả hàng phàm phu chẳng được tự tại, hoặc tâm theo thân, hoặc thân theo tâm. Sao gọi là tâm theo thân? Ví như người say thì rượu ở trong thân, bấy giờ thân động thì tâm cũng động theo. Cũng như thân lười thì tâm cũng lười theo. Đó gọi là tâm theo thân. Lại như, trẻ con, thân nó trẻ nhỏ thì tâm cũng nhỏ theo, còn người lớn thì thân lớn nên tâm cũng lớn theo. Lại như có người thân thể thô rít, lòng thường suy nghĩ muốn được dầu mỡ thấm nhuần làm cho mịn màng. Đó gọi là tâm tùy theo thân. Sao gọi là thân tùy theo tâm?

Đó là đi, lại, ngồi, nằm, tu hành Thí, Giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, hễ người sầu não thì thân gầy còm, tiều tụy; người hoan hỷ thì thân béo mập, tươi tốt; người kinh sợ thì thân run rẩy, chao động; người chuyên tâm nghe pháp thì thân tươi vui, người buồn khổ thì nước mắt tuôn rơi. Đó gọi là thân tùy theo tâm. Bồ-tát chẳng vậy, đối với thân tâm đều được tự tại. Đó gọi là cái xưa chẳng được mà nay được. Lại nữa, này thiện nam! Thân tướng thị hiện của Đại Bồ-tát giống như vi trần. Do thân vi trần nầy nên đều có thể đến khắp vô lượng vô biên những thế giới Phật nhiều như cát sông Hằng, không có sự ngăn ngại mà tâm thường định như lúc ban đầu chẳng di động. Đó gọi là tâm chẳng tùy theo thân. Đó cũng gọi là cái xưa chẳng đến mà nay có thể đến. Sao gọi là xưa chẳng đến mà nay có thể đến? Chỗ mà tất cả Thanh văn, Phật-bích-chi v.v… chẳng thể đến, thì Bồ-tát có thể đến. Vậy nên gọi là cái xưa chẳng đến mà nay có thể đến. Tất cả Thanh văn, Phật-bích-chi v.v… tuy dùng thần thông nhưng chẳng thể biến thân nhỏ như vi trần đến khắp vô lượng những thế giới Phật nhiều như cát sông Hằng. Thân của Thanh văn, Duyên giác nếu khi động thì tâm cũng động theo. Bồtát chẳng vậy, tâm tuy chẳng động nhưng thân thì không đâu chẳng đến. Đó gọi là tâm Bồ-tát chẳng tùy theo thân. Lại nữa, này thiện nam! Bồ-tát hóa thân lớn như ba ngàn đại thiên thế giới, rồi dùng thân lớn này vào thân một vi trần mà tâm Bồ-tát ấy, bấy giờ cũng chẳng nhỏ theo. Thanh văn, Duyên giác tuy có thể hóa thân khiến cho lớn như ba ngàn đại thiên thế giới nhưng mà chẳng thể dùng thân lớn này vào thân vi trần. Đối với việc này còn tự chẳng thể được, huống chi là có thể khiến cho tâm chẳng động theo. Đó gọi là tâm Bồ-tát chẳng tùy theo thân. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát dùng một âm thanh có thể khiến cho chúng sinh của ba ngàn đại thiên thế giới đều nghe mà tâm chẳng nghĩ, làm cho âm thanh này khắp các thế giới, khiến cho điều các chúng sinh xưa chẳng nghe nay được nghe. Bồ-tát này cũng chẳng cho rằng, ta khiến cho chúng sinh điều mà xưa chẳng nghe nay được nghe. Bồ-tát, nếu nói rằng, nhờ ta nói pháp nên khiến cho các chúng sinh chẳng nghe được nghe, thì phải biết người này nhất định chẳng thể đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì sao? Vì tất cả chúng sinh chẳng nghe điều ta nói cho họ. Tâm như thế là tâm sinh tử, tất cả tâm Bồ-tát đã đoạn hết. Do nghĩa này nên thân, tâm của Đại Bồ-tát chẳng theo đuổi nhau. Này thiện nam! Thân, tâm của tất cả phàm phu theo nhau. Bồ-tát chẳng vậy, vì hóa độ chúng sinh nên tuy hiện thân nhỏ nhưng tâm cũng chẳng nhỏ. Vì sao? Vì tâm tánh của các Bồ-tát thường rộng lớn nên tuy hiện thân lớn nhưng tâm cũng chẳng lớn. Sao gọi là thân lớn? Thân như ba ngàn đại thiên thế giới. Sao gọi là tâm nhỏ? Là hành hạnh anh nhi. Do nghĩa này nên tâm chẳng tùy theo thân. Đại Bồtát đã ở vô lượng vô số kiếp xa lìa rượu chẳng uống mà tâm cũng động, lòng không bi khổ mà thân cũng chảy nước mắt, thật không kinh sợ mà thân cũng run rẩy. Do nghĩa này nên phải biết là, thân tâm của Bồ-tát tự tại chẳng theo nhau. Đại Bồ-tát chỉ hiện một thân mà các chúng sinh ai cũng đều thấy khác. Lại nữa, này thiện nam! Sao gọi là Đại Bồ-tát tu Đại Niết-bàn thì điều xưa chẳng nghe mà nay nghe được? Đại Bồtát trước tiên chọn tướng của tiếng như là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng người, tiếng ốc, tiếng trống, tiếng tiêu, tiếng sáo, tiếng ca, tiếng khóc v.v… mà tu tập. Do tu tập nên Bồ-tát có thể nghe âm thanh của địa ngục ở trong ba ngàn đại thiên thế giới. Bồ-tát lại tu tập chuyển đổi được nhĩ căn khác, khác với thiên nhĩ của Thanh văn, Duyên giác. Vì sao? Vì nhĩ căn thanh tịnh mà Nhị thừa sở đắc, nếu nương vào bốn đại tịnh diệu của Sơ thiền thì chỉ nghe Sơ thiền, chẳng nghe Nhị thiền, cho đến Tứ thiền cũng như vậy. Họ tuy có thể cùng một lúc nghe được âm thanh của ba ngàn đại thiên thế giới mà chẳng thể nghe được âm thanh của vô lượng vô biên hằng hà sa số thế giới. Do nghĩa này nên nhĩ căn của Bồ-tát khác với nhĩ căn của Thanh văn, Duyên giác. Do sự khác này nên điều xưa chẳng nghe mà nay được nghe, tuy nghe âm thanh mà tâm ban đầu không nghe tướng của âm thanh, chẳng khởi tướng có, tướng thường, tướng lạc, chẳng ngã, tướng tịnh, tướng chủ, tướng y, tướng tác, tướng nhân, tướng định, tướng quả. Do nghĩa này nên các Bồ-tát, điều xưa chẳng nghe nay được nghe.

Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương thưa:

–Như lời Phật nói, chẳng khởi tướng định, chẳng khởi tướng quả thì ý nghĩa này chẳng đúng. Vì sao? Vì Như Lai trước đã nói rằng, nếu người nghe được một câu, một chữ của Kinh Đại Niết-bàn này thì nhất định được thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Như Lai hôm nay sao lại nói rằng, không định, không quả? Nếu được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác tức là tướng định, tức là tướng quả thì sao nói rằng, không định, không quả? Nghe tiếng ác thì sinh tâm ác. Sinh tâm ác thì đến ba đường dữ. Nếu đến ba đường dữ tức định là quả thì sao nói rằng không định, không quả?

Bấy giờ, Đức Như Lai khen:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Chỉ có ông mới có thể hỏi câu hỏi này. Giả sử nếu các Đức Phật nói, các âm thanh có tướng định, quả, thì chẳng phải là tướng của chư Phật Thế Tôn mà là tướng Ma vương, tướng sinh tử, tướng xa Niết-bàn. Vì sao? Vì tất cả chư Phật phàm nói ra điều gì thì đều không có tướng định, quả. Này thiện nam! Ví như trong lưỡi dao phản chiếu dáng mặt người, dựng đứng dao thì thấy mặt người dài, cầm dao ngang thì thấy mặt người rộng. Nếu có tướng định thì sao khi dựng đứng thì thấy dài, khi cầm ngang thì thấy rộng? Do nghĩa này nên phàm sự dien nói của chư Phật Thế Tôn không có tướng định, quả. Này thiện nam! Niết-bàn thì chân thật chẳng phải là quả của âm thanh. Giả sử nếu Niết-bàn là quả của âm thanh thì phải biết Niết-bàn chẳng phải là pháp thường. Này thiện nam! Ví như thế gian, từ nhân sinh ra pháp, có nhân thì có quả, không nhân thì không quả. Nhân vô thường nên quả cũng vô thường. Vì sao? Vì nhân cũng tạo ra quả mà quả cũng tạo ra nhân. Do nghĩa này nên tất cả các pháp không có tướng định. Giả sử Niết-bàn từ nhân sinh ra mà nhân vô thường thì quả cũng vô thường. Nhưng Niết-bàn này chẳng từ nhân sinh ra nên thể của Niết-bàn này chẳng phải là quả. Vậy nên Niết-bàn này là thường. Này thiện nam! Do nghĩa này nên thể của Niết-bàn không định, không quả. Này thiện nam! Luận về Niết-bàn thì cũng có thể nói định, cũng có thể nói quả. Sao gọi là định? Niết-bàn của tất cả chư Phật là thường, lạc, ngã, tịnh, nên là định; không sinh, lão, hoại nên là định. Nhất-xiển-đề, những kẻ phạm bốn trọng cấm, bài báng kinh Phương Đẳng tạo tác tội ngũ nghịch mà trừ bỏ bản tâm thì nhất định được Niết-bàn, vậy nên là định. Này thiện nam! Như lời ông nói, nếu người nghe Ta nói một chữ, một câu của Đại Niết-bàn thì được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ông đối với nghĩa lời nói này còn chưa hiểu rõ. Ông hãy lắng nghe, Ta sẽ vì ông lại phân biệt, giảng nói.

Này thiện nam! Nếu có thiện nam, thiện nữ nào nghe một chữ, một câu của Kinh Đại Niết-bàn mà chẳng khởi tướng chữ, chẳng khởi tướng câu, chẳng khởi tướng nghe, chẳng khởi tướng Phật, chẳng khởi tướng nói thì như vậy gọi là tướng vô tướng. Do tướng vô tướng nên đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này thiện nam! Như lời ông nói, nghe tiếng ác nên đến ba đường, thì nghĩa này chẳng đúng. Vì sao? Vì chẳng phải do tiếng ác mà đến ba đường. Ông phải biết, quả này chính là do tâm ác. Vì sao? Vì có thiện nam, thiện nữ v.v… tuy nghe tiếng ác nhưng tâm chẳng sinh ác. Vậy nên ông phải biết chẳng phải nhân tiếng ác mà sinh ra trong ba đường. Các chúng sinh nhân phiền não kiết, tâm ác nhiều thêm nên sinh vào ba đường ác, chẳng phải nhân tiếng ác. Nếu tiếng có tướng nhất định thì những người có nghe đáng lẽ sinh ra tâm ác, nhưng lại có người sinh, có người không sinh. Vậy phải biết, tiếng không có tướng nhất định. Vì không có tướng nhất định nên tuy lại nhân vào đó nhưng chẳng sinh ra tâm ác.

–Bạch Thế Tôn! Tiếng nếu không nhất định thì vì sao điều Bồtát xưa chẳng nghe mà nay được nghe?

–Này thiện nam! Tướng không tướng nhất định nên điều xưa chẳng nghe mà khiến cho các Bồ-tát nay được nghe. Do nghĩa này nên Ta nói lời này, điều xưa chẳng nghe mà nay được nghe. Này thiện nam! Sao gọi là điều xưa chẳng thấy mà nay được thấy? Này thiện nam! Đại Bồ-tát tu tập kinh Đại Niết-bàn vi diệu thì trước tiên chọn lấy tướng ánh sáng như là ánh sáng mặt trời, mặt trăng, tinh tú, lửa nhà, đèn, đuốc, hỏa châu, dược thảo v.v… Do tu tập ánh sáng ấy nên được nhãn căn khác, khác với sở đắc của Thanh văn, Duyên giác. Thế nào là khác? Thiên nhãn thanh tịnh mà hàng Nhị thừa chứng đắc, nếu nương vào nhãn căn bốn đại của Dục giới thì chẳng thấy Sơ thiền, nếu nương vào Sơ thiền thì chẳng thấy cõi trên, thậm chí mắt của mình còn chẳng thể thấy. Nếu muốn thấy nhiều, đến cùng cực ba ngàn đại thiên thế giới thì Đại Bồ-tát chẳng tu thiên nhãn, mà quán thấy sắc thân đẹp đều là tướng xương. Bồ-tát tuy thấy sắc tướng của hằng hà sa số thế giới ở phương khác nhưng chẳng khởi tướng sắc, chẳng khởi tướng thường, tướng hữu, tướng vật, tướng danh tự, tướng tạo tác nhân duyên, chẳng khởi tướng thấy, chẳng nói rằng, tướng mắt vi diệu thanh tịnh mà chỉ thấy tướng nhân duyên chẳng phải nhân duyên. Sao gọi là nhân duyên? Sắc là duyên của mắt. Giả sử nếu sắc này chẳng phải nhân duyên thì tất cả phàm phu lẽ ra chẳng sinh tướng sắc. Do nghĩa này nên sắc gọi là nhân duyên. Chẳng phải nhân duyên là, Đại Bồ-tát tuy lại thấy sắc nhưng chẳng sinh khởi tướng sắc. Vậy nên chẳng phải là duyên. Do nghĩa này nên thiên nhãn thanh tịnh mà Bồ-tát sở đắc khác với sở đắc của Thanh văn, Duyên giác. Do sự khác này nên Bồ-tát cùng một lúc thấy khắp chư Phật hiện tại trong mười phương thế giới. Đó gọi là điều xưa Bồ-tát chẳng thấy mà nay được thấy. Do sự khác này nên có thể thấy vi trần, cái mà Thanh văn, Duyên giác chẳng thể thấy. Do sự khác này nên Bồ-tát tuy thấy mắt mình đầu tiên nhưng không có tướng thấy, thấy tướng vô thường, thấy thân phàm phu tràn đầy ba mươi sáu vật bất tịnh như xem quả A-ma-lặc trong lòng bàn tay. Do nghĩa này nên nói điều xưa chẳng thấy mà nay được thấy. Nếu thấy tướng sắc của chúng sinh thì biết căn người ấy là Đại thừa hay Tiểu thừa. Nếu chạm vào áo cũng biết tướng sai biệt của các căn thiện, ác của người đó. Do nghĩa này nên nói điều xưa chẳng biết mà nay được biết. Do sự biết này nên điều xưa chẳng biết mà nay được biết. Do sự biết này nên điều xưa chẳng thấy mà nay được thấy. Lại nữa, này thiện nam! Sao gọi là điều xưa Bồ-tát chẳng biết mà nay được biết? Đại Bồtát tuy biết tâm của phàm phu tham, sân, si nhưng ban đầu chẳng khởi tướng tâm và tâm sở, chẳng khởi tướng chúng sinh và cả tướng vật, tu tướng không rốt ráo đệ nhất nghĩa. Vì sao? Vì tất cả Bồ-tát thường khéo tu tập tướng không tánh. Do tu tập không nên điều xưa chẳng biết mà nay được biết. Sao gọi là biết? Biết không có ngã, không có ngã sở, biết các chúng sinh đều có Phật tánh. Do Phật tánh nên Nhất-xiển-đề v.v… lìa bỏ bản tâm thì đều sẽ được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những điều này đều là điều chẳng thể biết của Thanh văn, Duyên giác mà Bồ-tát lại biết. Do nghĩa này nên nói, điều xưa chẳng biết mà nay được biết. Lại nữa, này thiện nam! Sao gọi là điều xưa chẳng biết mà nay được biết? Đại Bồ-tát tu kinh điển Đại Niết-bàn vi diệu, nghĩ đến đời sống, dòng họ, cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc, bạn bè, kẻ oán ghét của tất cả chúng sinh đời quá khứ. Ở trong một niệm Bồ-tát được trí khác lạ, khác với trí tuệ của Thanh văn, Duyên giác. Sao gọi là khác? Trí tuệ của Thanh văn, Duyên giác nghĩ đến dòng họ, cha mẹ cho đến kẻ oán ghét của chúng sinh trong đời quá khứ, khởi tướng chủng tánh… cho đến tướng oán ghét. Bồ-tát chẳng vậy, tuy nghĩ đến dòng họ, cha mẹ cho đến kẻ oán ghét ở đời quá khứ nhưng nhất định chẳng sinh tướng dòng họ, tướng cha mẹ, tướng oán ghét, thường khởi tướng pháp, tướng không tịch. Đó gọi là điều xưa Bồtát chẳng biết mà nay được biết. Lại nữa, này thiện nam! Sao gọi là điều xưa chẳng biết mà nay được biết? Đại Bồ-tát tu kinh điển Đại Niết-bàn vi diệu được trí tha tâm khác với sở đắc của Thanh văn, Duyên giác. Sao gọi là khác? Khi Thanh văn, Duyên giác dùng trí nhất niệm để biết tâm người thì chẳng thể biết tâm của địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và trời. Bồ-tát chẳng vậy, ở trong một niệm biết khắp tâm của chúng sinh trong sáu đường. Đó gọi là điều xưa Bồ-tát chẳng biết mà nay được biết. Lại nữa, này thiện nam! Lại có sự biết khác. Đại Bồ-tát ở trong một tâm, biết từ tâm đầu tiên của Tu-đà-hoàn, rồi lần lượt đến tâm thứ mười sáu. Do nghĩa này nên nói, điều xưa chẳng biết mà nay được biết. Đó là Bồ-tát tu kinh điển Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ hai.

Lại nữa, này thiện nam! Sao gọi là Đại Bồ-tát tu kinh Đại Niếtbàn vi diệu thành tựu đầy đủ công đức thứ ba? Này thiện nam! Đại Bồtát tu Đại Niết-bàn bỏ tâm từ được tâm từ, khi được tâm từ chẳng do nhân duyên. Sao gọi là bỏ tâm từ được tâm từ? Này thiện nam! Tâm từ đó là thế đế. Đại Bồ-tát bỏ Từ thế đế được Từ đệ nhất nghĩa. Từ đệ nhất nghĩa chẳng từ duyên mà được. Lại nữa, sao gọi là bỏ tâm từ được tâm từ? Tâm từ nếu có thể bỏ thì gọi là tâm từ phàm phu. Tâm từ nếu có thể được tức là tâm từ không duyên của Bồ-tát. Bỏ tâm từ Nhấtxiển-đề, tâm từ phạm bốn trọng cấm, tâm từ bài báng Phương Đẳng, tâm từ tạo tội ngũ nghịch để được tâm từ thương xót, tâm từ Như Lai, tâm từ Thế Tôn, tâm từ không nhân duyên. Sao lại gọi là bỏ tâm từ được tâm từ? Bỏ tâm từ của hạng huỳnh môn, tâm từ của người không căn, người hai căn, người nữ, tâm từ của đồ tể, thợ săn, người chăn nuôi gà, heo v.v… cũng bỏ tâm từ của Thanh văn, Phật-bích-chi để được tâm từ không nhân duyên của những Bồ-tát. Hành giả chẳng thấy tâm từ của mình, chẳng thấy tâm từ của người khác, chẳng thấy trì giới, chẳng thấy phá giới. Tuy thấy tâm bi nhưng chẳng thấy chúng sinh. Tuy có khổ thọ nhưng chẳng thấy người thọ. Vì sao? Vì do tu đệ nhất chân thật nghĩa. Đó gọi là Bồ-tát tu Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ ba.

Lại nữa, này thiện nam! Sao gọi là Đại Bồ-tát tu Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ tư? Này thiện nam! Đại Bồ-tát tu Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ tư có mười việc. Những gì là mười? Một là căn sâu khó có thể nhổ bật. Hai là tự thân sinh tưởng quyết định. Ba là chẳng quan sát phước điền và chẳng phải phước điền. Bốn là tu làm thanh tịnh cõi Phật. Năm là diệt trừ hữu dư. Sáu là đoạn trừ nghiệp duyên. Bảy là tu thân thanh tịnh. Tám là rõ biết các duyên. Chín là lìa các oán địch. Mười là đoạn trừ nhị biên. Sao gọi là căn sâu khó nhổ bật? Cái gọi là căn tức là chẳng phóng dật. Chẳng phóng dật là căn gì? Đó là căn của Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này thiện nam! Những căn bản thiện của tất cả chư Phật đều là chẳng phóng dật. Chẳng phóng dật nên các thiện căn khác lần lượt thêm lớn. Do nó có thể làm tăng trưởng các thiện căn nên ở trong các thiện nó là tối thù thắng. Này thiện nam! Như trong các dấu chân thì dấu chân voi là trên hết. Pháp chẳng phóng dật cũng như vậy, đối với các pháp thiện là hơn hết. Này thiện nam! Như trong các thứ ánh sáng thì ánh sáng mặt trời là trên hết. Pháp chẳng phóng dật cũng như vậy, đối với các pháp thiện là hơn hết. Này thiện nam! Như trong các vì vua thì Chuyển luân Thánh vương là hơn hết. Pháp chẳng phóng dật cũng như vậy, đối với các pháp thiện là hơn hết. Này thiện nam! Như trong các dòng chảy thì bốn dòng sông là hơn hết. Pháp chẳng phóng dật cũng như vậy, đối với các pháp thiện là hơn hết. Này thiện nam! Như trong các núi thì núi Tu-di là hơn hết. Pháp chẳng phóng dật cũng như vậy, đối với các pháp thiện là hơn hết. Này thiện nam! Như các loài hoa sinh trong nước thì hoa sen xanh là hơn hết. Pháp chẳng phóng dật cũng như vậy, đối với các pháp thiện, là hơn hết. Này thiện nam! Như loài hoa sinh trên đất thì hoa Bà-lợi-sư là hơn hết. Pháp chẳng phóng dật cũng như vậy, đối với các pháp thiện, là hơn hết. Này thiện nam! Như trong các loài thú thì sư tử là hơn hết. Pháp chẳng phóng dật cũng như vậy, đối với các pháp thiện, là hơn hết. Này thiện nam! Như trong loài chim bay thì chim cánh vàng chúa là hơn hết. Pháp chẳng phóng dật cũng như vậy, đối với các pháp thiện, là hơn hết. Này thiện nam! Như trong loài thân lớn thì vua A-tu-la La-hầu là hơn hết. Pháp chẳng phóng dật cũng như vậy, đối với các pháp thiện, là hơn hết. Này thiện nam! Như trong tất cả chúng sinh, hoặc loài hai chân, bốn chân, nhiều chân hay không chân, thì Như Lai là hơn hết. Pháp chẳng phóng dật cũng như vậy, ở trong các pháp thiện, là hơn hết. Này thiện nam! Như trong các chúng thì Phật, Tăng là hơn hết. Pháp chẳng phóng dật cũng như vậy, ở trong các pháp thiện là hơn hết. Này thiện nam! Như trong pháp Phật thì pháp Đại Niết-bàn này là hơn hết. Pháp chẳng phóng dật cũng như vậy, đối với các pháp thiện là hơn hết. Này thiện nam! Do nghĩa này nên căn chẳng phóng dật thâm sâu, bền chắc khó bứng lên được. Những gì do chẳng phóng dật mà được tăng trưởng? Đó là tín căn, giới căn, thí căn, tuệ căn, nhẫn căn, văn căn, tấn căn, niệm căn, định căn, thiện tri thức căn, những căn như vậy mà chẳng phóng dật thì được tăng trưởng. Do chúng tăng trưởng nên thâm sâu bền chắc khó bứng lên được. Do nghĩa này nên gọi là Đại Bồ-tát tu Đại Niết-bàn thì căn thâm sâu khó bứng lên được.

Sao gọi là đối với thân khởi tưởng quyết định? Đối với tự thân sinh tâm quyết định: “Thân này của ta hôm nay ở đời vị lai, nhất định sẽ làm pháp khí Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tâm cũng như vậy, chẳng khởi nhỏ hẹp, chẳng khởi thay đổi, chẳng khởi tâm Thanh văn, Phật-bích-chi, chẳng khởi tâm ma và tâm tự lạc, tâm ưa sinh tử. Ta luôn vì chúng sinh cầu tâm từ bi”, đó gọi là Bồ-tát đối với tự thân sinh tâm quyết định: “Ta ở đời vị lai sẽ làm pháp khí Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Do nghĩa này nên Đại Bồ-tát tu Đại Niết-bàn đối với tự thân sinh tưởng quyết định.

Sao gọi là Bồ-tát chẳng quán phước điền và chẳng phải phước điền? Sao gọi là phước điền? Kẻ ngoại đạo trì giới lên đến chư Phật, đó gọi là phước điền. Nếu có người nghĩ rằng, những vị như vậy là chân phước điền thì nên biết, tâm này là hẹp hòi, kém cỏi. Đại Bồ-tát đều quán tất cả vô lượng chúng sinh đều là phước điền. Vì sao? Vì khéo tu tập niệm xứ khác. Có niệm xứ khác khéo tu tập là: Quán các chúng sinh không có trì giới và cả hủy giới, thường quán lời nói của chư Phật Thế Tôn. Thí tuy có bốn thứ nhưng đều được quả báo thanh tịnh. Những gì là bốn? Một là thí chủ thanh tịnh, người thọ thí bất tịnh. Hai là thí chủ bất tịnh, người thọ thí thanh tịnh. Ba là người thí, kẻ thọ thí đều thanh tịnh. Bốn là cả hai đều bất tịnh. Sao gọi là thí chủ thanh tịnh, người thọ thí bất tịnh? Thí chủ có đủ giới, đa văn, trí tuệ, biết có tuệ thí và cả quả báo. Kẻ thọ thí phá giới, chuyên chấp trước tà kiến, nói không có tuệ thí, không quả báo. Đó gọi là thí chủ thanh tịnh, người thọ thí bất tịnh. Sao gọi là thí chủ bất tịnh, người thọ thí thanh tịnh? Thí chủ phá giới, chuyên chấp trước tà kiến, nói rằng không có tuệ thí và cả quả báo. Kẻ thọ thí trì giới, đa văn, trí tuệ, biết có tuệ thí và quả báo của thí. Đó gọi là thí chủ bất tịnh, người thọ thí thanh tịnh. Sao gọi là người thí, kẻ thọ thí đều thanh tịnh? Người thí, kẻ thọ đều có trì giới, đa văn, trí tuệ, biết có tuệ thí và quả báo của thí. Đó gọi là người thí, kẻ thọ thí đều thanh tịnh. Sao gọi là cả hai đều bất tịnh? Người thí, kẻ thọ đều phá giới, tà kiến và nói rằng, không có thí và quả báo của thí. Nếu như vậy thì sao lại gọi rằng, được quả báo thanh tịnh? Do không thí, không quả báo nên gọi là thanh tịnh. Này thiện nam! Nếu có người chẳng thấy bố thí và quả báo của thí thì phải biết người này chẳng gọi phá giới, chuyên chấp trước tà kiến. Nếu nương vào Thanh văn mà nói, chẳng thấy bố thí và quả báo của thí thì đó gọi là phá giới, tà kiến. Nếu y vào kinh Đại Niết-bàn như vậy mà chẳng thấy tuệ thí và quả báo của thí thì đó gọi là trì giới, chánh kiến. Đại Bồ-tát có niệm xứ khác để tu tập nên chẳng thấy chúng sinh trì giới, phá giới, người thí, kẻ thọ và quả báo của thí. Vậy nên được gọi là trì giới, chánh kiến. Do nghĩa này nên Đại Bồ-tát chẳng quán phước điền và chẳng phải phước điền.

Sao gọi là làm thanh tịnh cõi Phật? Đại Bồ-tát tu Kinh điển Đại Niết-bàn vi diệu vì Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì độ chúng sinh nên lìa khỏi tâm giết hại. Rồi đem thiện căn này nguyện ban cho tất cả chúng sinh, nguyện cho các chúng sinh được thọ mạng lâu dài, có thế lực lớn, được đại thần thông. Do sức của nhân duyên thệ nguyện này nên ở đời vị lai, khi thành Phật thì tất cả chúng sinh của đất nước đó được thọ mạng lâu dài, có đại thế lực, được đại thần thông. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát tu kinh điển Đại Niết-bàn vi diệu vì Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì độ chúng sinh nên lìa khỏi tâm trộm cắp. Rồi đem thiện căn này nguyện ban cho tất cả chúng sinh, nguyện cho quốc độ của chư Phật thuần là bảy báu, chúng sinh giàu có đầy đủ, điều mong muốn được như ý. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên ở đời vị lai, khi thành Phật thì đất nước thuần là bảy báu, chúng sinh giàu có đầy đủ, điều mong muốn đều như ý. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát tu kinh điển Đại Niết-bàn vi diệu vì Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì độ chúng sinh nên lìa khỏi tâm dâm dục. Rồi đem thiện căn này nguyện ban cho tất cả chúng sinh, nguyện cho chúng sinh của các cõi Phật không có tâm tham dục, sân hận, ngu si, cũng không có hoạn nạn đói khát khổ não. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên ở đời vị lai, khi thành Phật thì chúng sinh trong đất nước mình xa lìa tâm tham dục, sân hận, ngu si và tất cả không có đói khát khổ não. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát tu kinh điển Đại Niết-bàn vi diệu vì Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì độ chúng sinh nên lìa khỏi tâm vọng ngữ. Rồi đem thiện căn này nguyện ban cho tất cả chúng sinh, nguyện cho chúng sinh của các cõi Phật thường có rừng rậm cây thơm hoa trái, chúng sinh được âm thanh vi diệu. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên ở đời vị lai, khi thành Phật thì có được đất nước thường có rừng rậm, cây thơm hoa trái. Chúng sinh trong cõi ấy đều được âm thanh thượng diệu thanh tịnh. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát tu kinh điển Đại Niết-bàn vi diệu vì Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì độ chúng sinh nên xa lìa lời nói hai lưỡi. Rồi đem thiện căn này nguyện ban cho tất cả chúng sinh, nguyện cho chúng sinh của các cõi Phật thường chung hòa hợp giảng nói chánh pháp. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên ở đời vị lai, khi thành Phật thì tất cả chúng sinh của đất nước mình đều chung hòa hợp giảng luận pháp chính yếu. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát tu kinh điển Đại Niết-bàn vi diệu vì Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì độ chúng sinh nên xa lìa lời nói ác khẩu. Rồi đem thiện căn này nguyện ban cho tất cả chúng sinh, nguyện cho đất của các cõi Phật bằng phẳng như lòng bàn tay, không cát đá, gai góc bén nhọn. Chúng sinh của những cõi ấy lòng bình đẳng. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên ở đời vị lai, khi thành Phật thì đất nước bằng như bàn tay không có cát đá, gai gốc bén nhọn và chúng sinh thì lòng bình đẳng. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát tu kinh điển Đại Niết-bàn vi diệu vì Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì độ chúng sinh nên lìa khỏi lời nói vô nghĩa. Rồi đem thiện căn này nguyện ban cho tất cả chúng sinh, nguyện cho tất cả chúng sinh của các cõi Phật không có khổ não. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên ở đời vị lai, khi thành Phật thì tất cả chúng sinh của đất nước không có khổ não. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồtát tu kinh điển Đại Niết-bàn vi diệu vì Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì độ chúng sinh nên xa lìa tham lam ganh ghét. Rồi đem thiện căn này nguyện ban cho tất cả chúng sinh, nguyện cho tất cả chúng sinh của các cõi Phật không có tham lam, ganh ghét. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên ở đời vị lai, khi thành Phật thì tất cả chúng sinh của đất nước đều không tham lam, ganh ghét. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát tu kinh điển Đại Niết-bàn vi diệu vì Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì độ chúng sinh nên xa lìa não hại. Rồi đem thiện căn này nguyện ban cho tất cả chúng sinh, nguyện cho chúng sinh của các cõi Phật đều chung tu tập đại từ, đại bi, được địa Nhất tử. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên vào đời vị lai, khi thành Phật thì tất cả chúng sinh của thế giới đó đều cùng tu tập đại từ đại bi, được địa Nhất tử. Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát tu kinh điển Đại Niết-bàn vi diệu vì Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì độ chúng sinh nên xa lìa tà kiến. Rồi đem thiện căn này nguyện ban cho tất cả chúng sinh, nguyện cho chúng sinh của các cõi Phật đều được Đại Bát nhã Ba-lamật. Do lực của nhân duyên thệ nguyện này nên vào đời vị lai, khi thành Phật thì chúng sinh của thế giới đó đều được thọ trì Đại Bát nhã Ba-la-mật. Đó gọi là Bồ-tát tu tập làm tịnh cõi Phật.

Sao gọi là Đại Bồ-tát diệt trừ hữu dư? Hữu dư có ba: một là phiền não dư báo, hai là dư nghiệp, ba là dư hữu. Này thiện nam! Sao gọi là phiền não dư báo? Nếu có chúng sinh quen gần tham dục mà quả báo này thành thục thì đọa vào địa ngục. Từ địa ngục ra thọ thân súc sinh như là bồ câu, chim sẻ, uyên ương, anh vũ, Kỳ-bà Kỳ-bà, xá-lợi-già, thanh tước, cá, rùa, khỉ, hươu nai v.v… Nếu được thân người thì thọ thân huỳnh môn, nữ nhân, người hai căn hay không căn, dâm nữ. Nếu được xuất gia thì phạm giới nặng đầu tiên. Đó gọi là dư báo.

Lại nữa, này thiện nam! Nếu có chúng sinh đem lòng sâu nặng

quen gần sân hận, thì khi báo này thành thục, rơi vào địa ngục. Từ địa ngục ra, thọ thân súc sinh như là rắn độc đủ bốn thứ độc: thấy độc, chạm độc, cắn độc, hơi độc; hoặc là sư tử, cọp, sói, gấu, mèo, chồn, chim ưng, diều hâu v.v… Nếu được thân người thì đầy đủ mười sáu thứ luật nghi ác. Nếu được xuất gia thì phạm trọng giới thứ hai. Đó gọi là dư báo.

Lại nữa, này thiện nam! Nếu có người tu tập ngu si thì khi quả báo này thành thục, rơi vào địa ngục. Từ địa ngục ra, thọ thân súc sinh như là voi, heo, bò, dê, trâu, rận, bọ chét, ruồi, muỗi, kiến v.v… Nếu được thân người thì điếc, mù, câm, ngọng, tàn phế, lưng gù v.v… các căn chẳng đủ, chẳng thể thọ pháp. Nếu được xuất gia thì các căn ám độn, ưa phạm trọng giới cho đến tội thấp hèn. Đó gọi là dư báo.

Lại nữa, này thiện nam! Nếu có người tu tập kiêu mạn thì khi quả báo này thành thục, rơi vào địa ngục. Từ địa ngục ra, thọ thân súc sinh như là trùng phân, lạc đà, lừa, chó, ngựa. Nếu sinh ra trong loài người thì thọ thân nô tỳ, nghèo cùng, ăn xin. Hoặc được xuất gia thì thường bị sự khinh miệt của chúng sinh và phá giới thứ tư. Đó gọi là dư báo. Những điều như vậy gọi là phiền não dư báo. Những dư báo như vậy, Đại Bồ-tát nhờ tu tập kinh Đại Niết-bàn nên đều được trừ diệt. Sao gọi là dư nghiệp? Đó là gọi nghiệp của tất cả phàm phu, nghiệp của tất cả Thanh văn, nghiệp thọ thân bảy lần của Tu-đà-hoàn, nghiệp thọ thân hai lần của Tư-đà-hàm, nghiệp thọ thân cõi Sắc của A-na-hàm. Đó gọi là dư nghiệp. Những dư nghiệp như vậy, Đại Bồ-tát nhờ khả năng tu tập kinh Đại Niết-bàn nên đều được đoạn trừ. Sao gọi là dư hữu? A-lahán đắc quả A-la-hán, Phật-bích-chi đắc quả Phật-bích-chi, không nghiệp không kết mà chuyển thành hai quả. Đó gọi là dư hữu. Ba thứ pháp hữu dư này, Đại Bồ-tát tu tập kinh Đại Niết-bàn Đại Thừa nên được diệt trừ. Đó gọi là Đại Bồ-tát diệt trừ hữu dư.

Sao gọi là Đại Bồ-tát tu thân thanh tịnh? Đại Bồ-tát tu giới bất sát có năm thứ tâm đó là hạ, trung, thượng, thượng trung và thượng thượng cho đến tu chánh kiến cũng như vậy. Năm mươi thứ tâm này gọi là tâm mới phát đầu tiên. Đầy đủ quyết định thành tựu năm mươi tâm thì gọi là mãn túc. Một trăm tâm như vậy gọi là một trăm phước đức. Đầy đủ một trăm phước đức thì thành được một tướng. Cứ như vậy lần lượt thành tựu đầy đủ ba mươi hai tướng thì gọi là thân thanh tịnh, cho nên lại tu tám mươi vẻ đẹp. Đời có chúng sinh thờ tám mươi vị thần. Những gì là tám mươi? Đó là mười hai mặt trời, mười hai đại thiên, năm vì tinh tú lớn là sao Bắc Đẩu, sao Mã Thiên, sao Hành Đạo Thiên, sao Bà-la-đọa-bạt-xà Thiên, sao Công Đức Thiên, hai mươi tám vì sao, Địa thiên, Phong thiên, Thủy thiên, Hỏa thiên, Phạm thiên, Lâu-đà thiên, Nhân-đề thiên, Câu-ma-la thiên, Bát Tý thiên, Ma-hêthủ-la thiên, Bán-xà-la thiên, Quỷ tử mẫu thiên, Tứ thiên vương thiên, Tạo-thơ thiên, Bà-tẩu thiên. Đó gọi là tám mươi. Bồ-tát vì chúng sinh này tu tám mươi vẻ đẹp để tự trang nghiêm. Đó gọi là thân thanh tịnh của Bồ-tát. Vì sao? Vì tám mươi trời đó được sự tín phục của tất cả chúng sinh. Vậy nên Bồ-tát tu tám mươi vẻ đẹp mà thân chẳng động, khiến cho chúng sinh kia theo lòng tin của họ đều được thấy. Thấy rồi họ đều tôn kính và phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Do nghĩa này nên Đại Bồ-tát tu thân thanh tịnh. Này thiện nam! Ví như có người muốn thỉnh vị vua lớn thì cần phải trang nghiêm nhà cửa cho cực kỳ thanh tịnh, bày biện đủ trăm món ăn ngon lành, rồi sau đó mới thỉnh vua đến. Đại Bồ-tát cũng như vậy, muốn thỉnh vua pháp luân Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì trước phải sửa thân cho cực kỳ thanh tịnh, rồi vua pháp Vô thượng mới đến ở đó. Do nghĩa này nên Đại Bồ-tát cần phải tu thân thanh tịnh. Này thiện nam! Ví như có người muốn uống cam lồ thì trước phải tịnh thân. Đại Bồ-tát cũng như vậy, muốn uống pháp vị cam lồ vô thượng Bát nhã Ba-la-mật thì trước cần phải dùng tám mươi vẻ đẹp mà thanh tịnh thân ấy. Này thiện nam! Ví như đồ đựng báu bằng vàng bạc tốt đẹp đựng nước sạch thì trong ngoài đều sạch. Thân thanh tịnh ấy của Đại Bồ-tát cũng như vậy, đựng nước Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì trong ngoài đều thanh tịnh. Này thiện nam! Như áo lụa trắng Ba-la-nại dễ nhuộm màu. Vì sao? Vì tánh trắng sạch. Đại Bồ-tát cũng như vậy, do thân thanh tịnh nên mau chóng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Do nghĩa này nên Đại Bồ-tát tu thân thanh tịnh. Sao gọi là Đại Bồ-tát rõ biết các duyên? Đại Bồ-tát chẳng thấy sắc tướng, chẳng thấy sắc duyên, chẳng thấy sắc thể, chẳng thấy sắc sinh, chẳng thấy sắc diệt, chẳng thấy tướng một, chẳng thấy tướng khác, chẳng thấy người thấy, chẳng thấy tướng mạo, chẳng thấy người thọ. Vì sao? Vì rõ nhân duyên. Như sắc, tất cả pháp cũng như vậy. Đó gọi là Bồ-tát rõ biết các duyên.

Sao gọi là Bồ-tát lìa các oán địch? Tất cả phiền não là oán địch của Bồ-tát nên Đại Bồ-tát thường xa lìa. Đó gọi là Bồ-tát hoại diệt các oán địch. Bồ-tát trụ địa thứ năm nhìn thấy các phiền não chẳng gọi là oán địch. Vì sao? Vì nhân có phiền não nên Bồ-tát mới sinh, do có sinh nên có thể lần lượt giáo hóa chúng sinh. Do nghĩa này nên chẳng gọi là oán. Những gì là oán? Đó là người bài báng kinh Phương Đẳng. Bồ-tát tùy theo chỗ sinh ra, chẳng sợ địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh mà chỉ sợ người bài báng kinh Phương Đẳng như vậy. Tất cả Bồ-tát có tám thứ ma gọi là oán gia, xa lìa tám ma này gọi là lìa khỏi oan gia. Đó gọi là Bồ-tát lìa các oán địch.

Sao gọi là Bồ-tát xa lìa nhị biên? Nói nhị biên là gọi hai mươi lăm cõi và phiền não ái. Bồ-tát thường lìa khỏi hai mươi lăm cõi và phiền não ái thì đó gọi là Bồ-tát lìa nhị biên.

Đó gọi là Đại Bồ-tát tu Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ tư.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như lời Phật nói, nếu có Bồ-tát tu tập kinh điển Đại Niết-bàn thì đều tạo tác mười việc công đức như vậy thì sao Như Lai chỉ tu chín việc mà chẳng tu cõi thanh tịnh?

Đức Phật dạy:

–Này thiện nam! Ta, vào thuở xưa, cũng thường tu đủ mười việc như vậy. Tất cả Bồ-tát và các Đức Như Lai không ai chẳng tu mười việc như thế. Giả sử nếu thế giới bất tịnh tràn đầy mà chư Phật Thế Tôn xuất hiện trong đó thì đó là điều không có. Này thiện nam! Ông nay cho rằng, chư Phật xuất hiện ở thế giới bất tịnh thì ông phải biết tâm ấy chẳng tốt mà hẹp hòi, thấp hèn. Ông nay phải biết, Ta thật chẳng xuất hiện ở cõi Diêm-phù-đề. Ví như có người nói, cõi này độc nhất có mặt trời, mặt trăng, thế giới phương khác không có mặt trời, mặt trăng. Lời nói như vậy không có nghĩa lý. Nếu có Bồ-tát phát ngôn như vầy: “Thế giới Phật này ô uế bất tịnh, cõi Phật phương khác thanh tịnh trang nghiêm” thì cũng như vậy. Này thiện nam! Phương Tây, cách thế giới Ta-bà này ba mươi hai lần cát sông Hằng những cõi Phật, tại đó có thế giới tên là Vô Thắng. Cõi đó vì sao tên là Vô Thắng? Vì việc trang nghiêm của cõi ấy đều bình đẳng, không có sai biệt, giống như thế giới An Lạc ở phương Tây, cũng như thế giới Mãn Nguyệt ở phương Đông. Ta ở cõi Vô Thắng đó xuất hiện ở đời. Vì hóa độ chúng sinh nên Ta ở trong cõi Diêm-phù-đề này thị chuyển bánh xe pháp. Chẳng phải chỉ độc một mình thân Ta ở trong cõi này thị hiện chuyển pháp luân, mà tất cả chư Phật cũng ở trong cõi này mà chuyển bánh xe pháp. Do nghĩa này nên chư Phật Thế Tôn chẳng phải chẳng tu hành mười việc như vậy. Này thiện nam! Bồ-tát Từ Thị do thệ nguyện nên đời đương lai sẽ khiến cho thế giới này thanh tịnh trang nghiêm. Do nghĩa này nên tất cả thế giới của chư Phật không đâu chẳng nghiêm tịnh.

Lại nữa, này thiện nam! Sao gọi là Đại Bồ-tát tu kinh điển Đại Niết-bàn vi diệu thành tựu đầy đủ công đức thứ năm? Này thiện nam! Đại Bồ-tát tu kinh Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ năm có năm việc. Những gì là năm? Một là các căn đầy đủ, hai là chẳng sinh ở vùng biên địa, ba là chư Thiên ái niệm, bốn là thường được sự cung kính của Trời, Ma, Sa-môn, Sát-lợi, Bà-la-môn v.v…, năm là được trí túc mạng. Bồ-tát do lực của nhân duyên Đại Niết-bàn này nên đầy đủ năm việc công đức như vậy.

Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương bạch:

–Như lời Phật nói, nếu có thiện nam, thiện nữ nào tu bố thí thì được thành tựu đầy đủ năm việc công đức, vậy sao hôm nay Phật nói nhân Đại Niết-bàn được năm việc này?

Đức Phật dạy:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Việc như vậy, ý nghĩa của nó đều khác. Hôm nay Ta sẽ vì ông phân biệt, giảng nói. Bố thí được năm việc là chẳng định, chẳng thường, chẳng tịnh, chẳng thắng và chẳng khác. Đó chẳng phải là vô lậu, chẳng thể lợi ích, an lạc, thương xót tất cả chúng sinh. Nếu nương vào Kinh Đại Niết-bàn như vậy thì năm việc sở đắc là định, là thường, là tịnh, là thắng, là khác. Đó là vô lậu, có thể lợi ích, an lạc, thương xót tất cả chúng sinh. Này thiện nam! Luận về bố thí thì được lìa khỏi đói khát. Kinh Đại Niết-bàn có thể khiến cho chúng sinh đều được lìa khỏi bệnh khát ái của hai mươi lăm cõi. Nhân duyên bố thí khiến cho sinh tử nối tiếp. Kinh Đại Niết-bàn có thể khiến cho sinh tử đoạn trừ, chẳng nối tiếp. Nhân bố thí nên nhận pháp phàm phu, nhân Đại Niết-bàn được làm Bồ-tát. Nhân duyên bố thí có thể đoạn trừ tất cả bần cùng khổ não, kinh Đại Niết-bàn có thể đoạn trừ tất cả sự nghèo thiếu pháp thiện. Nhân duyên bố thí có phân biệt, có quả báo; nhân duyên Đại Niết-bàn được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, không phân biệt, không quả báo. Đó gọi là Đại Bồtát tu kinh điển Đại Niết-bàn vi diệu thành tựu đầy đủ công đức thứ năm.

Này thiện nam! Sao gọi là Đại Bồ-tát tu kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ sáu? Đại Bồ-tát tu Đại Niếtbàn được Tam-muội Kim cương. Bồ-tát an trụ trong Tam-muội này đều có thể phá tan tất cả các pháp, thấy tất cả pháp đều là vô thường, đều là tướng động, nhân duyên của khủng bố, bệnh khổ, trộm cướp, từng niệm từng niệm diệt hoại không có chân thật, tất cả đều là cảnh giới của ma, không thể thấy tướng. Đại Bồ-tát trụ ở Tam-muội này, tuy bố thí cho chúng sinh nhưng thậm chí chẳng thấy một chúng sinh thật. Vì chúng sinh nên tinh cần tu tập Giới Ba-la-mật cho đến tu tập Bát nhã Ba-la-mật cũng như vậy. Nếu Bồ-tát thấy có một chúng sinh thì chẳng thể rốt ráo thành tựu đầy đủ Thí Ba-la-mật cho đến Bát nhã Ba-la-mật. Này thiện nam! Ví như chỗ kim cương va chạm vào, không có gì chẳng tan nát mà kim cương thì không bị trầy xước. Tam-muội Kim cương cũng như vậy, pháp nào bị va chạm thì không gì chẳng tan nát mà Tam-muội không có tổn hại. Này thiện nam! Như trong các báu, kim cương là hơn hết. Tam-muội Kim cương mà Bồ-tát sở đắc cũng như vậy, đối với các Tam-muội là hơn hết. Vì sao? Vì Đại Bồ-tát tu Tammuội này thì tất cả Tam-muội đều quy phục. Này thiện nam! Như các tiểu vương đều đến quy phục Chuyển luân Thánh vương. Tất cả Tammuội cũng như vậy, đều đến quy phục Tam-muội Kim cương. Này thiện nam! Ví như có người là oán thù của đất nước, bị mọi người chán ghét, nếu có người giết hắn thì tất cả người đời không ai chẳng xưng tán công đức người này. Tam-muội Kim cương cũng như vậy, Bồ-tát tu tập có thể hoại oán địch của tất cả chúng sinh. Vậy nên thường được sự tôn kính của tất cả Tam-muội. Này thiện nam! Ví như có người sức rất mạnh không ai đương cự được. Nhưng lại có người sức có thể hàng phục được người đó thì phải biết người này được đời khen ngợi. Tammuội Kim cương cũng như vậy, sức có thể hàng phục pháp khó hàng phục. Do nghĩa này nên tất cả Tam-muội đều đến quy phục. Này thiện nam! Ví như có người tắm ở biển lớn thì phải biết người này đã sử dụng nước của những dòng sông, dòng suối và ao. Đại Bồ-tát cũng như vậy, tu tập Tam-muội Kim cương như thế thì phải biết là đã tu tập tất cả Tam-muội khác. Này thiện nam! Như trong núi Hương có một dòng nước suối tên là A-nậu-đạt. Suối ấy đầy đủ nước tám vị. Có người uống nước suối ấy thì không có các bệnh khổ. Tam-muội Kim cương cũng như vậy, đủ tám chánh đạo mà Bồ-tát tu tập thì đoạn trừ những trọng bệnh ghẻ lở phiền não. Này thiện nam! Như người cúng dường trời Ma-hê-thủ-la thì phải biết người này đã cúng dường tất cả chư Thiên. Tam-muội Kim cương cũng như vậy, nếu có người tu tập thì phải biết người này đã tu tập tất cả các Tam-muội khác. Này thiện nam! Nếu có Bồ-tát an trụ ở Tam-muội kim cương như vậy thì thấy tất cả pháp không có chướng ngại như xem quả A-ma-lặc ở trong lòng bàn tay. Bồtát tuy lại được thấy như vậy nhưng nhất định chẳng khởi tưởng thấy tất cả pháp. Này thiện nam! Ví như có người ngồi ngã tư đường thấy các chúng sinh đi, đứng, nằm, ngồi. Tam-muội Kim cương cũng như vậy, thấy tất cả pháp sinh diệt hiện ra, mất đi. Này thiện nam! Ví như núi cao có người leo lên đó, trông xa các phương đều rõ. Núi định kim cương cũng như vậy, Bồ-tát leo lên đó xa trông các pháp, không pháp nào chẳng sáng tỏ. Này thiện nam! Ví như mùa xuân trời đổ mưa. Những giọt mưa ấy ly ti không chỗ trống, người mắt sáng thấy chúng rõ ràng. Bồ-tát cũng vậy, được mắt thanh tịnh định kim cương, thấy từ xa những thế giới của phương Đông. Trong số ấy, hoặc có đất nước thành hay hoại, tất cả đều thấy rõ ràng không ngăn ngại cho đến mười phương cũng như vậy. Này thiện nam! Như núi Do-càn-đà, khi bảy mặt trời đồng thời xuất hiện thì cây cối, rừng rậm của núi ấy, tất cả đều cháy hết. Bồ-tát tu tập Tam-muội Kim cương cũng như vậy, tất cả rừng rậm phiền não tức thời tiêu diệt. Này thiện nam! Ví như kim cương tuy có thể phá vỡ tất cả vật nhưng chẳng bao giờ sinh ra ý nghĩ là ta có thể phá vỡ Tam-muội Kim cương cũng như vậy, Bồ-tát tu rồi có thể phá phiền não nhưng chẳng bao giờ sinh ý nghĩ là: Ta có thể phá tan kiết sử. Này thiện nam! Ví như đại địa có thể giữ gìn vạn vật, nhưng chẳng bao giờ sinh ý nghĩ là sức ta có thể giữ gìn. Lửa cũng chẳng nghĩ là ta có thể đốt cháy vật. Nước cũng chẳng nghĩ là ta có thể thấm nhuần. Gió cũng chẳng nghĩ là ta có thể lay động vật. Không cũng chẳng nghĩ là ta có thể dung thọ hết. Niết-bàn cũng chẳng sinh ý nghĩ là ta khiến cho chúng sinh được diệt độ. Tam-muội Kim cương cũng như vậy, tuy có thể diệt trừ tất cả phiền não mà không cho là ta có thể diệt. Nếu có Bồ-tát an trụ vào Tam-muội Kim cương như vậy thì ở trong một niệm, biến thân như Phật mà số ấy vô lượng, cùng khắp hằng hà sa thế giới chư Phật trong mười phương. Bồ-tát này tuy làm sự biến hóa này nhưng tâm Bồ-tát ấy không có tư tưởng kiêu mạn. Vì sao? Vì Bồ-tát thường nghĩ là hễ ai có định này thì có thể biến hóa như thế. Chỉ có Bồ-tát an trụ ở Tam-muội Kim cương như vậy mới có thể biến hóa. Đại Bồ-tát an trụ ở Tam-muội Kim cương như vậy thì ở trong một niệm, đi đến khắp hằng hà sa số thế giới của chư Phật trong mười phương, rồi trở lại chỗ cũ của mình. Bồ-tát tuy có năm lực này nhưng cũng chẳng nghĩ là ta có năng lực như vậy. Vì sao? Vì đó là do năng lực của nhân duyên Tammuội. Đại Bồ-tát an trụ Tam-muội Kim cương như vậy, ở trong một niệm có thể đoạn trừ phiền não của chúng sinh trong hằng hà sa số thế giới khắp mười phương mà tâm không có tư tưởng đoạn trừ phiền não của các chúng sinh. Vì sao? Vì do năng lực của nhân duyên Tam-muội này. Bồ-tát trụ Tam-muội Kim cương này, dùng một thứ âm thanh của mình để diễn nói mà tất cả chúng sinh tùy theo chủng loại đều được hiểu rõ, thị hiện một sắc mà tất cả chúng sinh đều thấy đủ thứ sắc tướng, an trụ một chỗ, thân chẳng di dịch mà có thể khiến cho chúng sinh tùy theo nơi chốn của mình, đều thấy, diễn nói một pháp hoặc là giới hay nhập thì tất cả chúng sinh đều tùy theo sự hiểu biết của mình mà được nghe hết. Bồ-tát an trụ ở Tam-muội như vậy, tuy thấy chúng sinh mà tâm không có tướng chúng sinh, tuy thấy nam nữ mà không có tướng nam nữ, tuy thấy sắc pháp mà không có tướng sắc cho đến thấy thức cũng không có tướng thức, tuy thấy ngày đêm mà không có tướng ngày đêm, tuy thấy tất cả mà không có tướng tất cả, tuy thấy các kết của tất cả phiền não mà cũng không có tướng của tất cả phiền não, tuy thấy tám Thánh đạo mà không có tướng tám Thánh đạo, tuy thấy Bồđề mà không có tướng Bồ-đề, tuy thấy Niết-bàn mà không có tướng Niết-bàn. Vì sao? Này thiện nam! Vì tất cả các pháp vốn không có tướng. Bồ-tát do năng lực của Tam-muội này nên thấy tất cả pháp vốn không có tướng. Vì sao gọi là Tam-muội Kim cương? Này thiện nam! Ví như kim cương ở giữa trưa thì màu sắc chẳng định. Tam-muội Kim cương cũng như vậy, ở trong đại chúng thì sắc cũng chẳng định. Vậy nên gọi là Tam-muội Kim cương. Này thiện nam! Ví như kim cương, tất cả người đời chẳng thể đánh giá. Tam-muội Kim cương cũng như vậy, công đức của Tam-muội này, tất cả hàng trời, người chẳng thể đánh giá, đo lường. Vậy nên gọi là Tam-muội Kim cương. Này thiện nam! Ví như người nghèo được báu kim cương thì được thoát khỏi bần cùng khốn khổ, quỷ ác tà độc. Đại Bồ-tát cũng như vậy, được Tammuội này thì có thể xa lìa phiền não, các khổ, các ma tà độc. Vậy nên lại gọi là Tam-muội Kim cương. Đó gọi là Đại Bồ-tát tu kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ sáu.

**********

Sao gọi là Đại Bồ-tát tu kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ bảy? Này thiện nam! Đại Bồ-tát tu kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn suy nghĩ thế này: “Pháp nào có thể làm nhân gần cho Đại Niết-bàn?”. Bồ-tát liền biết có bốn thứ pháp có thể làm nhân gần cho Đại Niết-bàn. Nếu nói siêng tu tất cả khổ hạnh là nhân gần của Đại Niết-bàn thì nghĩa này chẳng đúng. Vì sao? Vì nếu lìa khỏi bốn pháp mà đắc Niết-bàn thì đó là điều không có. Những gì là bốn pháp? Một là thân cận bạn lành, hai là chuyên tâm nghe pháp, ba là buộc ý niệm tư duy, bốn là như pháp tu hành. Này thiện nam! Ví như có người, thân mắc mọi thứ bệnh hoặc nóng, hoặc lạnh, ho lao, sốt rét và mọi thứ tà quỷ độc hại, đi đến chỗ thầy thuốc giỏi. Thầy thuốc giỏi liền vì người ấy theo bệnh cho toa. Người này chí tâm khéo theo lời dặn của thầy thuốc, rồi theo lời dặn mà pha chế thuốc, theo đúng như pháp uống thuốc, uống xong bệnh khỏi, thân được an vui. Người có bệnh là ví các Bồ-tát. Vị đại lương y là ví cho thiện tri thức. Lời dặn của lương y là ví kinh Phương Đẳng. Khéo thọ lời dặn của thầy thuốc là ví cho sự khéo suy nghĩ nghĩa của kinh Phương Đẳng. Theo lời dặn pha chế thuốc là ví cho việc theo đúng như pháp tu hành Ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Bệnh trừ khỏi là ví cho việc diệt phiền não. Được an vui là ví cho việc được Niết-bàn thường, lạc, ngã, tịnh. Này thiện nam! Ví như có vị vua muốn theo đúng như pháp cai trị khiến cho dân an vui, bèn hỏi các bề tôi trí tuệ, pháp ấy là gì. Các bề tôi liền đem pháp xưa của tiên vương mà nói cho vua nghe. Vua đã nghe rồi, chí tâm tin làm, đúng như pháp trị nước, không có các oán địch, nên khiến cho dân an vui, không có hoạn nạn. Này thiện nam! Vua là ví cho các vị Bồ-tát. Các bề tôi trí tuệ là ví thiện tri thức. Lời nói pháp trị của bề tôi trí tuệ vì vua là ví mười hai bộ loại kinh điển. Vua đã nghe rồi chí tâm tin làm là ví các vị Bồ-tát ràng buộc tâm suy nghĩ nghĩa thâm diệu của mười hai bộ loại kinh điển. Theo đúng như pháp trị nước là ví các Bồ-tát theo đúng như pháp tu hành như sáu pháp Ba-la-mật. Do có thể tu tập sáu pháp Ba-la-mật nên không có oán địch là ví các Bồ-tát đã lìa khỏi những tặc ác phiền não kiết. Được an vui là ví các Bồ-tát được Đại Niết-bàn thường, lạc, ngã, tịnh. Này thiện nam! Ví như có người mắc bệnh hủi, có thiện tri thức nói với ông ta: “Nếu ông có thể đến bên núi Tu-di thì bệnh có thể được khỏi. Vì sao? Vì ở đó có thuốc hay, vị như cam lồ. Nếu có thể được uống thì không gì chẳng khỏi”. Người bệnh ấy chí tâm tin việc này, rồi liền đi đến núi đó, tìm uống cam lồ thì bệnh ấy trừ khỏi, thân được an vui. Người bệnh hủi ví cho các phàm phu. Thiện tri thức ví cho các Bồ-tát v.v… chí tâm tín thọ ví cho bốn tâm vô lượng. Núi Tu-di ví cho tám Thánh đạo. Vị cam lồ ví cho Phật tánh. Bệnh hủi trừ khỏi ví cho diệt phiền não. Được yên vui ví cho được Niết-bàn thường, lạc, ngã, tịnh. Này thiện nam! Ví như có người nuôi các đệ tử thông minh đại trí. Người này ngày đêm thường dạy bảo họ chẳng mệt mỏi. Các Bồ-tát v.v… cũng như vậy, tất cả chúng sinh có tin hay chẳng tin đều thường giáo hóa không có mệt mỏi. Này thiện nam! Thiện tri thức là Phật, Bồ-tát, Phật-bích-chi, Thanh văn, kẻ tin kinh Phương Đẳng trong loài người. Vì sao gọi là thiện tri thức? Thiện tri thức thì có thể dạy bảo các chúng sinh xa lìa mười ác, tu hành mười thiện. Do nghĩa này nên gọi là thiện tri thức. Lại nữa, thiện tri thức là nói đúng như pháp, làm đúng như lời nói. Sao gọi là nói đúng như pháp, làm đúng như lời nói? Tự chẳng sát sinh, dạy người chẳng sát sinh cho đến tự làm theo chánh kiến, dạy người chánh kiến. Nếu có thể như vậy thì được gọi là chân thiện tri thức. Tự tu Bồ-đề, cũng dạy người tu hạnh Bồ-đề, do nghĩa này nên gọi là thiện tri thức. Tự có thể tu hành tín, giới, bố thí, đa văn, trí tuệ, cũng có thể dạy người tín, giới, bố thí, đa văn, trí tuệ, lại do nghĩa này nên gọi là thiện tri thức. Người thiện tri thức thì có pháp thiện. Những gì là pháp thiện? Việc của mình làm chẳng cầu vui cho mình, thường vì chúng sinh mà cầu an vui. Thấy người khác có lỗi chẳng nói ra sở đoản của họ. Miệng thường tuyên nói toàn việc thiện. Do những nghĩa này nên gọi là thiện tri thức. Này thiện nam! Như vầng trăng trong không, từ ngày mùng một đến ngày mười lăm tăng trưởng dần dần. Thiện tri thức cũng như vậy, khiến cho những người học xa dần pháp ác, tăng trưởng pháp thiện. Này thiện nam! Nếu có người thân cận thiện tri thức mà vốn chưa có giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến thì liền có những thứ đó, chưa đầy đủ thì được rộng thêm. Vì sao? Vì do thân cận thiện tri thức ấy. Nhân sự thân cận này được thấu rõ nghĩa thâm diệu của Mười hai bộ loại kinh điển. Nếu người có thể nghe nghĩa thâm diệu của Mười hai bộ loại kinh điển này thì gọi là nghe pháp.

Nghe pháp tức là nghe kinh điển Đại Thừa Phương Đẳng này. Nghe kinh Phương Đẳng thì gọi là nghe pháp một cách chân chánh. Nghe pháp một cách chân chánh tức là nghe thọ kinh Đại Niết-bàn. Trong kinh Đại Niết-bàn nghe có Phật tánh, Như Lai rốt ráo không nhập Niết-bàn. Vậy nên gọi là chuyên tâm nghe pháp, mà chuyên tâm nghe pháp gọi là tám Thánh đạo. Do tám Thánh đạo có thể đoạn trừ tham dục, sân hận, ngu si nên gọi là nghe pháp. Luận về nghe pháp là gọi mười một pháp không. Vì những pháp không này đối với tất cả pháp chẳng tạo tác tướng mạo. Luận về nghe pháp là gọi tâm mới phát cho đến tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác rốt ráo. Vì do tâm ban đầu mà đắc Đại Niết-bàn, chẳng do nghe đắc Đại Niết-bàn, mà do tu tập nên đắc Đại Niết-bàn. Này thiện nam! Ví như người bệnh tuy nghe lời dạy bảo của thầy thuốc và tên các vị thuốc thì chẳng thể khỏi bệnh mà cần phải uống thuốc mới trừ khỏi bệnh. Tuy nghe pháp mười hai nhân duyên thâm diệu nhưng chẳng thể đoạn diệt tất cả phiền não mà cần phải buộc niệm khéo tư duy mới có thể đoạn trừ được. Đó gọi là pháp thứ ba nhiếp niệm tư duy.

Lại nữa, do nghĩa gì gọi là nhiếp niệm tư duy? Đó gọi là ba Tammuội: Không, Vô tướng, Vô nguyện. Không là đối với hai mươi lăm cõi chẳng thấy một cái gì thật cả. Vô tác là đối với hai mươi lăm cõi chẳng khởi sự mong cầu. Vô tướng là không có mười tướng, đó là tướng sắc, tướng thanh, tướng hương, tướng vị, tướng xúc, tướng sinh, tướng trụ, tướng diệt, tướng nam, tướng nữ. Tu tập ba Tam-muội như vậy thì đó gọi là Bồ-tát nhiếp niệm tư duy.

Sao gọi là đúng như pháp tu hành? Như pháp tu hành tức là tu Thí Ba-la-mật cho đến Bát nhã Ba-la-mật, biết tướng chân thật của ấm, giới, nhập, cũng biết Thanh văn, Duyên giác và chư Phật đồng một đạo, mà pháp Niết-bàn tức là thường, lạc, ngã, tịnh, chẳng sinh, chẳng già, chẳng bệnh, chẳng chết, chẳng đói, chẳng khát, chẳng khổ, chẳng não, chẳng thoái, chẳng mất. Này thiện nam! Hiểu được nghĩa thâm diệu của Đại Niết-bàn thì biết chư Phật nhất định chẳng rốt ráo vào Niết-bàn.

Này thiện nam! Thiện tri thức chân thật đệ nhất là gọi Bồ-tát, chư Phật Thế Tôn. Vì sao? Vì các vị thường dùng ba thứ thiện để điều ngự. Những gì là ba? Một là lời nói êm dịu rốt ráo, hai là lời quở trách rốt ráo, ba là lời quở trách êm dịu. Do nghĩa này nên Bồ-tát, chư Phật tức là thiện tri thức rốt ráo. Lại nữa, này thiện nam! Phật và Bồ-tát là bậc đại y nên gọi là thiện tri thức. Vì sao? Vì các vị biết bệnh, biết thuốc và tùy bệnh mà cho thuốc. Ví như vị lương y giỏi tám thứ y thuật, trước tiên xem tướng bệnh. Tướng bệnh có ba thứ. Những gì là ba? Đó là phong, nhiệt, thủy. Người bệnh về phong thì trao cho tô du. Người bệnh về nhiệt thì trao cho thạch mật (đường táng). Người bệnh về nước thì trao cho nước gừng nóng. Do biết căn bệnh cho thuốc được khỏi nên gọi là lương y. Phật và Bồ-tát cũng như vậy, biết bệnh của các phàm phu có ba thứ, một là tham dục, hai là sân hận, ba là ngu si. Người bệnh về tham dục thì dạy quán tướng xương khô. Người bệnh về sân hận thì dạy quán tướng từ bi. Người bệnh về ngu si thì dạy quán tướng mười hai nhân duyên. Do nghĩa này nên chư Phật Bồ-tát được gọi là thiện tri thức. Này thiện nam! Ví như vị thuyền sư giỏi đưa người nên gọi là đại thuyền sư. Chư Phật, Bồ-tát cũng như vậy, đưa các chúng sinh qua biển lớn sinh tử. Do nghĩa này nên gọi là thiện tri thức. Lại nữa, này thiện nam! Nhờ Phật, Bồ-tát làm cho các chúng sinh tu hành đạt được đầy đủ căn bản pháp thiện. Này thiện nam! Ví như núi Tuyết mới là chỗ cội gốc của đủ thứ thuốc hay vi diệu. Phật và Bồ-tát cũng như vậy, đều là chỗ nguồn gốc của tất cả thiện căn. Do nghĩa này nên gọi là thiện tri thức. Này thiện nam! Trong núi Tuyết có thứ thuốc rất thơm tên là Ta-ha mà có người nhìn thấy nó thì được sống lâu không lường, không có bệnh khổ, tuy có bốn thứ độc nhưng chẳng thể gây tổn thương. Nếu có người chạm đến nó thì tăng trưởng thọ mạng đầy một trăm hai mươi năm. Nếu có người nghĩ đến nó thì được trí túc mạng. Vì sao? Vì hiệu lực của thuốc. Chư Phật, Bồ-tát cũng như vậy, nếu có người thấy liền đoạn trừ tất cả phiền não, tuy có bốn ma nhưng chẳng thể gây rối loạn. Nếu có người tiếp xúc thì mạng chẳng thể chết yểu, chẳng sinh, chẳng chết, chẳng thoái, chẳng chìm đắm. Nghĩa là người tiếp xúc, hoặc ở bên Phật nghe thọ diệu pháp. Nếu có người nghĩ đến thì được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Do nghĩa này nên chư Phật, Bồ-tát gọi là thiện tri thức. Này thiện nam! Như trong núi Hương có ao A-nậu-đạt. Do ao này nên có bốn dòng sông lớn, đó là sông Hằng, Tân-đầu, Tư-đà, Bác-xoa. Chúng sinh ở thế gian thường nói: “Nếu người có tội tắm ở bốn dòng sông này thì mọi tội được trừ diệt”. Ông phải biết lời nói này là hư dối chẳng thật. Trừ việc này ra, thì những gì là thật? Chư Phật, Bồ-tát mới chính là thật. Vì sao? Vì nếu người thân cận chư Phật Bồ-tát thì được diệt trừ tất cả mọi tội. Do nghĩa này nên gọi là thiện tri thức. Lại nữa, này thiện nam! Ví như những cây thuốc, tất cả rừng rậm, trăm thứ lúa, mía đường, hoa quả trên đại địa, gặp thời tiết nóng hạn lớn, sắp khô chết, vua rồng Nan-đà và Bà-nan-đà thương xót chúng sinh, từ biển cả xuất hiện, tuôn xuống mưa cam lồ thì tất cả rừng rậm, trăm thứ lúa, cỏ cây thấm nhuần mà sống trở lại. Tất cả chúng sinh cũng như vậy, thiện căn của họ sắp muốn tiêu diệt, chư Phật, Bồ-tát phát sinh đại từ bi, từ biển trí tuệ tuôn mưa cam lồ khiến cho các chúng sinh trở lại được đầy đủ mười pháp thiện. Do nghĩa này nên chư Phật, Bồ-tát gọi là thiện tri thức. Này thiện nam! Ví như vị lương y giỏi tám thứ phương thuật, thấy các người bệnh, chẳng phân biệt dòng họ, đoan chánh, xấu hèn, tiền tài, của báu mà đều vì họ trị liệu. Vậy nên đời xưng tụng là bậc đại lương y. Chư Phật, Bồ-tát cũng như vậy, thấy các chúng sinh có bệnh phiền não, chẳng cần quan sát dòng họ, đẹp đẽ, xấu hèn, tiền tài, của báu mà đều sinh lòng thương xót vì họ nói pháp. Chúng sinh nghe rồi, bệnh phiền não tiêu trừ. Do nghĩa này nên chư Phật, Bồ-tát gọi là thiện tri thức. Do nhân duyên gần gũi bạn lành này nên được gần với Đại Bát Niết Bàn.

Sao gọi là nhờ nhân duyên nghe pháp mà Bồ-tát được gần với

Đại Bát Niết Bàn? Tất cả chúng sinh do nghe pháp nên đủ tín căn, mà được tín căn nên ưa hành bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, đắc quả Tu-đà-hoàn cho đến quả Phật. Vậy phải biết, được các pháp thiện đều là do diệu lực của nhân duyên nghe pháp này. Này thiện nam! Ví như ông trưởng giả chỉ có một đứa con. Ông sai con đi đến nước khác để trao đổi buôn bán. Ông chỉ cho con chỗ thông thương, ách tắc trên đường đi và dặn: “Nếu gặp dâm nữ thì dè chừng chớ thân ái. Nếu thân ái thì chôn thân mất mạng và mất cả của báu. Với người xấu ác cũng chớ giao du”. Người con ấy kính thuận lời dạy bảo của cha nên thân tâm yên ổn, thu hoạch được nhiều của cải quý báu. Đại Bồ-tát vì các chúng sinh phô diễn pháp chính yếu cũng như vậy, chỉ bày cho các chúng sinh và bốn bộ chúng sự thông suốt hay trở ngại của các con đường để những chúng này, do nghe pháp nên xa lìa các ác, đầy đủ pháp thiện. Do nghĩa này nên nói nhờ nhân duyên nghe pháp mà được gần với Đại Bát Niết Bàn. Này thiện nam! Ví như gương sáng soi dáng mặt người thì không hình dáng nào mà chẳng sáng rõ. Gương sáng nghe pháp cũng lại như thế, có người soi vào đó thì thấy thiện, ác rõ ràng, không bị ngăn che. Do nghĩa này nên nói nhờ nhân duyên nghe pháp mà được gần với Đại Bát Niết Bàn. Này thiện nam! Ví như thương nhân muốn đến chỗ của báu mà chẳng biết đường đi, có người chỉ đường, người ấy theo lời chỉ liền đến được chỗ có của báu, thu hoạch được nhiều châu báu chẳng thể kể xiết. Tất cả chúng sinh cũng như vậy, muốn đến chỗ thiện để thu nhặt lấy sự quý báu của đạo mà chẳng biết tướng thông suốt hay trở ngại của con đường ấy, Bồ-tát chỉ bày cho chúng sinh đi theo được đến chỗ thiện, thu hoạch được báu Đại Niết-bàn vô thượng. Do nghĩa này nên nói nhờ nhân duyên nghe pháp mà được gần với Đại Bát Niết Bàn. Này thiện nam! Ví như con voi say điên cuồng lồng lộn, bạo ác muốn giết hại nhiều. Có người quản tượng dùng móc sắt lớn, khéo léo móc vào đỉnh đầu voi ấy, tức thời nó bị điều phục, lòng ác hết sạch. Tất cả chúng sinh cũng như vậy, vì say mê tham dục, sân hận, ngu si nên muốn tạo nhiều việc ác. Các Bồ-tát dùng móc nghe pháp, khéo léo móc lấy khiến cho họ dừng lại, chẳng khởi tâm tạo các việc ác. Do nghĩa này nên nói nhờ nhân duyên nghe pháp mà được gần với Đại Bát Niết Bàn. Vậy nên ở khắp nơi trong kinh, Ta nói rằng, đệ tử của Ta chuyên tâm nghe thọ Mười hai bộ loại kinh điển thì lìa khỏi năm cái, tu bảy giác phần. Do tu tập bảy giác phần nên được gần Đại Bát Niết Bàn. Do nghe pháp nên bậc Tu-đàhoàn lìa khỏi các sự sợ hãi. Vì sao? Vì như ông trưởng giả Tu-đạt, thân gặp bệnh nặng, lòng buồn rầu lo sợ. Ông nghe Tôn giả Xá-lợi-phất nói về Tu-đà-hoàn có bốn công đức và mười thứ an ủi. Nghe những điều này rồi, thì sự sợ hãi liền trừ diệt. Do nghĩa này nên nói nhờ nhân duyên nghe pháp mà được gần với Đại Bát Niết Bàn. Vì sao? Vì được mở pháp nhãn. Đời có ba hạng người, một là người đui mù, hai là người một mắt, ba là người hai mắt. Người đui mù thì thường chẳng nghe pháp. Người một mắt thì tuy nghe pháp nhưng lòng họ chẳng ghi nhớ. Người hai mắt thì chuyên tâm nghe thọ, theo đúng điều đã nghe mà thực hành. Do nghe pháp nên được biết ba hạng người như vậy của thế gian. Do nghĩa này nên nói nhờ nhân duyên nghe pháp mà được gần với Đại Bát Niết Bàn. Này thiện nam! Như Ta thuở trước khi ở thành Câu-thi-na, khi ấy Xá-lợi-phất thân gặp bệnh khổ. Ta dặn dò Tỳ-kheo A-nan rộng vì mọi người nói pháp. Xá-lợi-phất nghe việc này rồi, bảo bốn đệ tử: “Các ông hãy khiêng giường của ta đi đến chỗ Đức Phật, ta muốn nghe pháp”. Bốn người đệ tử vâng lệnh khiêng đến, ông đã nghe được pháp, nhờ lực nghe pháp nên bệnh khổ trừ khỏi, thân được yên ổn. Do nghĩa này nên nói nhờ nhân duyên nghe pháp mà được gần với Đại Bát Niết Bàn.

Sao gọi là Bồ-tát nhờ nhân duyên tư duy mà được gần với Đại Bát Niết Bàn? Nhân tư duy này mà tâm được giải thoát. Vì sao? Vì tất cả chúng sinh thường bị sự trói buộc của năm dục, nhờ tư duy nên được giải thoát. Do nghĩa này nên nói nhờ nhân duyên tư duy mà được gần với Đại Bát Niết Bàn. Lại nữa, này thiện nam! Tất cả chúng sinh thường bị bốn pháp thường, lạc, ngã, tịnh làm điên đảo. Do tư duy nên được thấy các pháp vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Thấy như vậy rồi thì bốn điên đảo liền đoạn trừ. Do nghĩa này nên nói nhờ nhân duyên tư duy mà được gần với Đại Bát Niết Bàn. Lại nữa, này thiện nam! Tất cả các pháp có bốn thứ tướng. Những gì là bốn? Một là tướng sinh, hai là tướng già, ba là tướng bệnh, bốn là tướng diệt. Do bốn tướng này có thể khiến cho tất cả chúng sinh phàm phu cho đến Tu-đàhoàn sinh ra khổ não lớn. Nếu người có thể nhiếp ý niệm khéo tư duy thì tuy gặp bốn tướng này nhưng chẳng sinh mọi khổ. Do nghĩa này nên nói nhờ nhân duyên tư duy mà được gần với Đại Bát Niết Bàn. Lại nữa, này thiện nam! Tất cả pháp thiện không gì chẳng nhân tư duy này mà được. Vì sao? Vì có người tuy ở vô lượng vô biên vô số kiếp chuyên tâm nghe pháp, nhưng nếu chẳng tư duy thì nhất định chẳng thể chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Do nghĩa này nên nói nhờ nhân duyên tư duy mà được gần với Đại Bát Niết Bàn. Lại nữa, này thiện nam! Nếu có chúng sinh tin Phật, Pháp, Tăng không có biến đổi mà sinh lòng cung kính thì phải biết đều chính là sức của nhân duyên nhiếp niệm tư duy và nhân đó được đoạn trừ tất cả phiền não. Do nghĩa này nên nói nhờ nhân duyên tư duy mà được gần với Đại Bát Niết Bàn.

Sao gọi là Bồ-tát như pháp tu hành? Này thiện nam! Đoạn trừ pháp ác, tu tập pháp thiện. Đó gọi là Bồ-tát như pháp tu hành. Lại nữa, sao gọi là như pháp tu hành? Thấy tất cả pháp trống rỗng, không sở hữu, vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Do sự thấy này nên thà xả bỏ thân mạng, chẳng phạm giới cấm. Đó gọi là Bồ-tát như pháp tu hành. Lại nữa, thế nào gọi là như pháp tu hành? Tu có hai thứ, một là chân thật, hai là chẳng chân thật. Chẳng thật thì chẳng biết Niết-bàn, Phật tánh, Như Lai, Pháp, Tăng, tướng thật, tướng hư không v.v… Đó gọi là chẳng thật. Thế nào gọi là chân thật? Có thể biết Niết-bàn, Phật tánh, Như Lai, Pháp, Tăng, tướng thật, tướng hư không v.v… Đó gọi là chân thật. Thế nào gọi là biết tướng Niết-bàn? Tướng Niết-bàn có tám tính chất. Những gì là tám? Một là tận, hai là tánh thiện, ba là thật, bốn là chân, năm là thường, sáu là lạc, bảy là ngã, tám là tịnh. Đó gọi là Niếtbàn. Lại có tám tính chất. Những gì là tám? Một là giải thoát, hai là tánh thiện, ba là chẳng thật, bốn là chẳng chân, năm là vô thường, sáu là vô lạc, bảy là vô ngã, tám là vô tịnh. Lại có sáu tướng, một là giải thoát, hai là tánh thiện, ba là chẳng thật, bốn là chẳng chân, năm là an lạc, sáu là thanh tịnh. Nếu có chúng sinh nương theo đạo thế tục, đoạn trừ phiền não thì Niết-bàn như vậy có tám việc giải thoát chẳng thật. Vì sao? Vì vô thường. Do vô thường nên không có thật, vì không có thật nên không có chân; tuy đoạn phiền não nhưng rồi sẽ khởi trở lại nên vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Đó gọi là tám việc giải thoát của Niết-bàn. Sao gọi là sáu tướng? Thanh văn, Duyên giác đoạn được phiền não nên gọi là giải thoát mà chưa có thể được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nên gọi là chẳng thật. Do chẳng thật nên gọi là chẳng chân, đời vị lai sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nên gọi là vô thường. Do được tám chánh đạo vô lậu nên gọi là tịnh lạc. Này thiện nam! Nếu biết như vậy thì chính là biết Niết-bàn, chẳng gọi là Phật tánh, Như Lai, Pháp, Tăng, tướng thật, tướng hư không. Thế nào là Bồ-tát biết Phật tánh? Phật tánh có sáu. Những gì là sáu? Một là thường, hai là tịnh, ba là thật, bốn là thiện, năm là đương kiến, sáu là chân. Lại có bảy việc, một là khả năng chứng, sáu cái còn lại như trên. Đó gọi là Bồ-tát biết đến Phật tánh. Thế nào là Bồ-tát biết tướng Như Lai? Như Lai tức là tướng giác, tướng thiện, thường, lạc, ngã, tịnh, giải thoát, chân thật thị hiện đạo có thể thấy. Đó gọi là Bồ-tát biết tướng Như Lai. Thế nào là Bồ-tát biết tướng của pháp? Pháp thì hoặc thiện hay chẳng thiện, hoặc thường hay vô thường, hoặc vui hay chẳng vui, hoặc ngã hay vô ngã, hoặc tịnh hay bất tịnh, hoặc biết hay chẳng biết, hoặc hiểu hay chẳng hiểu, hoặc chân hay chẳng chân, hoặc tu hay chẳng tu, hoặc thầy hay chẳng phải thầy, hoặc thật hay chẳng thật. Đó gọi là Bồ-tát biết đến tướng của pháp. Thế nào là Bồ-tát biết đến tướng của Tăng? Tăng thì hoặc là thường, lạc, ngã, tịnh, là tướng đệ tử, tướng có thể thấy, thiện, chân, chẳng thật. Vì sao? Vì tất cả Thanh văn đều đắc Phật đạo. Thế nào là chân? Vì giác ngộ pháp tánh. Đó gọi là Bồtát biết đến tướng của Tăng. Thế nào là Bồ-tát biết tướng thật? Tướng thật thì hoặc thường hay vô thường, hoặc vui hay không vui, hoặc ngã hay vô ngã, hoặc tịnh hay bất tịnh, hoặc thiện hay bất thiện, hoặc có hay không, hoặc Niết-bàn hay chẳng phải Niết-bàn, hoặc giải thoát hay chẳng phải giải thoát, hoặc biết hay chẳng biết, hoặc đoạn hay chẳng đoạn, hoặc chứng hay chẳng chứng, hoặc tu hay chẳng tu, hoặc thấy hay chẳng thấy. Đó gọi là tướng thật, chẳng phải Niết-bàn, Phật tánh, Như Lai, Pháp, Tăng, hư không. Đó gọi là Bồ-tát nhờ tu Đại Niếtbàn như vậy mà biết được Niết-bàn, Phật tánh, Như Lai, Pháp, Tăng, tướng thật, tướng các pháp sai biệt như hư không v.v… Này thiện nam! Đại Bồ-tát tu kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn chẳng thấy hư không. Vì sao? Vì Phật và Bồ-tát tuy có năm nhãn nhưng chẳng thấy. Chỉ có tuệ nhãn mới có thể thấy hư không đó. Cái thấy của tuệ nhãn là không có pháp có thể thấy. Vậy nên gọi là thấy. Nếu thấy không có vật gọi là hư không thì hư không như vậy mới gọi là thật. Do sự thật này nên gọi là thường không có. Do thường không có nên không có lạc, ngã, tịnh. Này thiện nam! Trống không gọi là không có pháp, không có pháp gọi là trống không. Ví như thế gian không có vật gọi là trống không. Tánh hư không cũng như vậy, không sở hữu nên gọi là hư không. Này thiện nam! Tánh của chúng sinh cùng tánh hư không đều không thật tánh. Vì sao? Vì như người nói, trừ diệt vật có, sau đó thành ra không, nhưng mà hư không này thật chẳng thể tạo thành. Vì sao? Vì không sở hữu. Do không có nên phải biết là không có không. Tánh của hư không này nếu có tạo tác thì gọi là vô thường, mà nếu vô thường thì chẳng gọi là hư không. Này thiện nam! Như người thế gian nói, hư không không sắc, không ngăn ngại, thường trụ chẳng biến dịch. Vậy nên đời xưng pháp hư không là “đại” thứ năm. Này thiện nam! Nhưng hư không này thật không có tánh. Do ánh sáng nên gọi là hư không, thật ra không có hư không. Giống như thế đế thật ra không có tánh ấy, nhưng vì chúng sinh nên nói có thế đế. Này thiện nam! Thể của Niết-bàn cũng như vậy, không có trụ xứ, chỉ là chỗ đoạn phiền não của các Đức Phật nên gọi là Niết-bàn. Niết-bàn tức là thường, lạc, ngã, tịnh. Niết-bàn tuy lạc nhưng chẳng phải thọ lạc mới là niềm vui tịch diệt thượng diệu. Chư Phật Như Lai có hai thứ lạc, một là tịch diệt lạc, hai là giác tri lạc. Thể của thật tướng có ba thứ lạc, một là thọ lạc, hai là tịch diệt lạc, ba là giác tri lạc. Phật tánh có một lạc, do thường kiến nên khi đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì gọi là Bồ-đề lạc.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nếu chỗ đoạn phiền não là Niết-bàn thì việc này chẳng phải vậy. Vì sao? Vì Như Lai thuở trước mới thành Phật, đến bên dòng sông Ni-liên-thiền. Lúc này, Ma vương cùng quyến thuộc đến chỗ Đức Phật nói: “Thưa Thế Tôn! Thời gian Niết-bàn đến rồi. Vì sao Phật chẳng vào Niết-bàn?”. Đức Phật bảo: “Này Ma vương! Ta nay chưa có nhiều đệ tử đa văn, giỏi giữ gìn giới cấm, trí tuệ thông minh, lanh lợi có thể giáo hóa chúng sinh. Vậy nên ta chẳng vào”. Nếu nói, chỗ đoạn phiền não là Niết-bàn thì các Bồ-tát v.v… ở vô lượng kiếp đã đoạn dứt phiền não thì vì sao chẳng được gọi là Niết-bàn? Cùng đều là chỗ đoạn nhưng vì duyên gì chỉ nói chư Phật có Niết-bàn còn Bồ-tát thì không? Nếu đoạn phiền não chẳng phải Niết-bàn thì vì sao Như Lai thuở trước bảo Bà-la-môn Sinh Danh rằng: “Thân này của Ta hôm nay tức là Niết-bàn”. Lại nữa, khi Như Lai ở tại nước Tỳ-xá-ly, Ma vương lại thưa thỉnh Như Lai: “Thuở xưa vì chưa có đệ tử đa văn, trì giới, trí tuệ thông minh, lanh lợi có thể giáo hóa chúng sinh nên chẳng vào Niết-bàn, nay đã đầy đủ vì sao chẳng vào?”. Bấy giờ, Đức Như Lai liền bảo Ma vương: “Ông nay chớ sinh tư tưởng chậm trễ. Sau ba tháng nữa Ta sẽ vào Niết-bàn”. Bạch Thế Tôn! Giả sử diệt độ chẳng phải là Niết-bàn thì vì sao Như Lai tự hẹn sau ba tháng sẽ vào Niết-bàn? Bạch Thế Tôn! Nếu đoạn trừ phiền não là Niết-bàn thì Như Lai thuở trước mới ở tại dưới đạo tràng Bồ-đề, khi đoạn trừ phiền não liền chính là Niết-bàn thì vì sao nay lại nói sau ba tháng nữa sẽ vào Niết-bàn? Thưa Thế Tôn! Giả sử, bấy giờ Niết-bàn thì sao nói với các Lực sĩ của thành Câu-thi-na, cuối đêm sẽ vào Niết-bàn? Như Lai thành thật mà sao phát lời nói hư dối này?

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương:

–Này thiện nam! Nếu nói, Như Lai được tướng lưỡi rộng dài thì phải biết Như Lai ở vô lượng kiếp đã lìa khỏi vọng ngữ. Tất cả chư Phật và các vị Bồ-tát, phàm đã nói ra là thành thật chắc chắn, không hư dối. Này thiện nam! Như lời ông nói, ma Ba-tuần thuở trước thưa thỉnh Ta vào Niết-bàn, nhưng này thiện nam! Ma vương này thật ra chẳng biết tướng định của Niết-bàn. Vì sao? Vì ý của ma Ba-tuần cho là chẳng giáo hóa chúng sinh mặc nhiên mà trụ tức là Niết-bàn. Này thiện nam! Ví như người đời thấy người chẳng nói, không làm liền cho là người này như chết, không khác. Ma Ba-tuần cũng như vậy, cho là Như Lai chẳng hóa độ chúng sinh, lặng thinh không nói là Như Lai đã vào Niết-bàn. Này thiện nam! Như Lai chẳng nói Phật, Pháp, Tăng không có tướng sai biệt mà chỉ nói hai pháp thường trụ, thanh tịnh không sai biệt. Này thiện nam! Như Lai cũng chẳng nói, Phật và Phật tánh, Niết-bàn không có tướng sai biệt mà chỉ nói, thường hằng, bất biến không sai biệt. Này thiện nam! Phật cũng chẳng nói Niết-bàn thật tướng không có tướng sai biệt mà chỉ nói, thường trụ thật chẳng biến dịch không sai biệt. Này thiện nam! Bấy giờ, các đệ tử Thanh văn của Ta sinh ra tranh tụng như các Tỳ-kheo ác Câu-diệm-di làm trái lời dạy của Ta, phạm nhiều giới cấm, nhận vật bất tịnh, tham cầu lợi dưỡng, hướng về những người bạch y mà tự ngợi khen: “Ta được vô lậu, gọi là quả Tu-đà-hoàn cho đến được quả A-la-hán”, hủy nhục người khác, đối với Phật, Pháp, Tăng, giới luật, Hòa thượng chẳng sinh lòng cung kính. Công khai ở trước Ta nói, những vật như vầy Đức Phật cho phép cất chứa, những vật như vầy Đức Phật không cho phép cất chứa. Ta cũng nói, những vật như vậy Ta quả thật chẳng cho phép. Những người ác như vậy chẳng tin lời nói của Ta. Vì những người này nên Ta bảo ma Ba-tuần: “Ngươi chớ cho là chậm trễ, sau ba tháng nữa Ta sẽ vào Niếtbàn”. Này thiện nam! Nhân những Tỳ-kheo ác khiến cho những đệ tử Thanh văn thọ học chẳng thấy thân Ta, chẳng nghe pháp của Ta, liền nói, Đức Như Lai vào Niết-bàn. Chỉ có các Bồ-tát có thể thấy thân Ta thường trụ, nghe pháp của Ta nên chẳng nói, Ta vào Niết-bàn. Đệ tử Thanh văn tuy lại phát ra lời, Như Lai Niết-bàn, nhưng mà Ta thật chẳng vào Niết-bàn. Này thiện nam! Nếu đệ tử Thanh văn của Ta, có người nói, Như Lai vào Niết-bàn thì phải biết người này chẳng phải là đệ tử của Ta, đó là bè đảng của ma, là người ác tà kiến, chẳng phải là chánh kiến. Nếu có người nói, Như Lai chẳng vào Niết-bàn thì phải biết đó là đệ tử chân thật của Ta, chẳng phải là bè đảng của ma, là người chánh kiến, chẳng phải là tà kiến. Này thiện nam! Ta trước kia chẳng thấy trong hàng đệ tử có người nói, Như Lai chẳng giáo hóa chúng sinh, mặc nhiên mà an trụ gọi là Bát-niết-bàn. Này thiện nam! Ví như ông trưởng giả có nhiều con, bỏ đi đến phương khác mà chưa trở về được. Các con đều cho là người cha đã chết mà ông trưởng giả này thật chẳng chết. Các con của ông đều sinh tưởng điên đảo cho là đã chết. Đệ tử Thanh văn cũng như vậy, chẳng thấy Ta nên liền cho là Như Lai đã nhập Niết-bàn ở vùng Ta-la song thọ của thành Câu-thi-na, nhưng Ta thật chẳng nhập Niết-bàn mà đệ tử Thanh văn sinh ra tưởng Niết-bàn. Này thiện nam! Ví như đèn sáng, có người che nó, người khác không biết cho là đèn đã tắt. Nhưng ánh sáng đèn này thật ra chẳng tắt mà do chẳng biết nên sinh tưởng về đèn tắt đó thôi. Đệ tử Thanh văn cũng như vậy, tuy có tuệ nhãn nhưng do phiền não che khuất nên khiến cho tâm điên đảo, chẳng thấy chân thân mà liền vọng sinh ra tư tưởng diệt độ. Nhưng Ta thật chẳng rốt ráo diệt độ. Này thiện nam! Như người mù bẩm sinh chẳng thấy mặt trời, mặt trăng. Vì chẳng thấy nên họ chẳng biết tướng ngày đêm, sáng tối. Vì chẳng biết nên họ liền nói thật không có mặt trời, mặt trăng. Thật sự có mặt trời, mặt trăng mà do người mù chẳng thấy. Do chẳng thấy mà sinh tư tưởng điên đảo nên họ nói, không có mặt trời, không có mặt trăng. Đệ tử Thanh văn cũng như vậy, như người mù bẩm sinh kia, chẳng thấy Như Lai liền cho là Như Lai vào Niết-bàn. Nhưng Như Lai thật chẳng vào Niết-bàn, do tưởng điên đảo nên họ sinh tâm như vậy. Này thiện nam! Ví như mây mù che khuất mặt trời, mặt trăng. Người ngu si liền nói, không có mặt trời, mặt trăng mà mặt trời, mặt trăng là thật có, nhưng vì bị che khuất nên chúng sinh chẳng thấy đó thôi. Đệ tử Thanh văn cũng như vậy, vì các phiền não che khuất mắt trí tuệ nên chẳng thấy Như Lai, liền nói Như Lai diệt độ. Này thiện nam! Chính là Như Lai thị hiện hạnh anh nhi chẳng phải là diệt độ. Này thiện nam! Như khi mặt trời của cõi Diêm-phù-đề lặn thì chúng sinh chẳng thấy vì núi Đen ngăn che. Nhưng mặt trời này tánh chân thật, không lặn mất, do chúng sinh chẳng thấy nên sinh tư tưởng lặn mất. Đệ tử Thanh văn cũng như vậy, bị sự che phủ của những núi phiền não nên chẳng thấy thân Ta. Do chẳng thấy nên họ liền đối với Như Lai sinh tư tưởng diệt độ, mà Ta chân thật chẳng rốt ráo diệt độ. Vậy nên, ở thành Tỳ-xá-ly, Ta bảo ma Ba-tuần: “Sau ba tháng nữa, Ta sẽ Niết-bàn”. Này thiện nam! Như Lai thấy trước Bồ-tát Ca-diếp sau ba tháng nữa thì căn lành sẽ thành thục, cũng thấy trước ông Tu-bạt-đà-la ở núi Hương an cư xong rồi sẽ đến chỗ Ta. Vậy nên Ta bảo Ma vương Ba-tuần, sau ba tháng nữa Ta sẽ vào Niết-bàn. Này thiện nam! Có các Lực sĩ mà số đến năm trăm người, ba tháng nữa cũng sẽ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ta vì những điều đó nên bảo với ma Ba-tuần, sau ba tháng nữa Ta sẽ vào Niết-bàn. Này thiện nam! Như ông Thuần-đà và năm trăm người con gái Ly-xa-am-la-quả, sau ba tháng nữa thì thiện căn của đạo tâm vô thượng sẽ thành thục. Vì những người đó nên Ta bảo ma Batuần, sau ba tháng nữa Ta sẽ vào Niết-bàn. Này thiện nam! Ông Tuna-sát-đa gần gũi ngoại đạo Ni-kiền-tử v.v… Ta vì người đó nói pháp trọn mười hai năm mà người tà kiến đó chẳng tin, chẳng thọ. Ta biết gốc rễ tà kiến của người này sau ba tháng nữa nhất định có thể nhổ đứt. Ta vì việc này nên bảo với ma Ba-tuần, sau ba tháng nữa Ta sẽ vào Niết-bàn. Này thiện nam! Vì nhân duyên gì mà thuở trước, ở bên dòng sông Ni Liên, Ta bảo với ma Ba-tuần, Ta nay chưa có đệ tử nhiều trí tuệ, nên chẳng vào Niết-bàn. Khi đó Ta vì muốn năm vị Tỳ-kheo ở thành Ba-la-nại chuyển pháp luân. Tiếp theo Ta lại vì muốn năm Tỳkheo như là Gia-xa, Phú-na, Tỳ-ma-la-xà, Kiều-phạm-ba-đề, Tu-bàhầu, tiếp theo lại vì muốn các ông trưởng giả Úc-già gồm năm mươi người v.v… thứ đến lại vì muốn vua Tần-bà-ta-la của nước Ma-già-đà cùng vô lượng hàng trời, người v.v… thứ đến lại vì muốn Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp với môn đồ gồm năm trăm Tỳ-kheo, thứ đến lại vì muốn hai anh em Na-đề Ca-diếp, Dà-già Ca-diếp và năm trăm đệ tử, thứ đến lại vì muốn Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên với hai trăm năm mươi Tỳ-kheo v.v… chuyển bánh xe diệu pháp. Vậy nên Ta bảo Ma vương Ba-tuần, chẳng nhập Niết-bàn. Này thiện nam! Có cái tên là Niết-bàn chẳng phải Đại Niết-bàn. Sao gọi là Niết-bàn chẳng phải Đại Niết-bàn? Do chẳng thấy Phật tánh mà đoạn phiền não gọi đó là Niết-bàn, chẳng phải Đại Niết-bàn. Do chẳng thấy Phật tánh nên vô thường, vô ngã, chỉ có lạc và tịnh. Do nghĩa này nên tuy đoạn phiền não nhưng chẳng được gọi là Đại Niết-bàn. Nếu thấy Phật tánh có thể đoạn phiền não thì đó gọi là Đại Bát Niết Bàn. Do thấy Phật tánh nên được gọi là thường, lạc, ngã, tịnh. Do nghĩa này nên đoạn trừ phiền não thì cũng được xưng là Đại Bát Niết Bàn. Này thiện nam! Niết là “chẳng”. Bàn là “diệt”. Nghĩa chẳng diệt gọi là Niết-bàn. Lại nữa, chữ bàn nghĩa là che. Nghĩa chẳng che là Niết-bàn. Bàn nghĩa là khứ lai, chẳng khứ, chẳng lai là Niết-bàn. Bàn nghĩa là nắm bắt, chẳng nắm bắt là Niết-bàn. Bàn nghĩa là bất định, định không bất định mới gọi là Niết-bàn. Bàn nghĩa là mới, không mới nên gọi là Niết-bàn. Bàn nghĩa là chướng ngại, nghĩa không chướng ngại nên mới gọi là Niết-bàn. Này thiện nam! Có đệ tử của Ưu-lâu-ca, Ca-tỳ-la v.v… nói, Bàn là tướng, nghĩa vô tướng thì mới gọi là Niết-bàn. Này thiện nam! Bàn là có, nghĩa không có mới gọi là Niết-bàn. Bàn là hòa hợp, nghĩa không hòa hợp mới gọi là Niết-bàn. Bàn là khổ, nghĩa không khổ mới gọi là Niết-bàn. Này thiện nam! Đoạn trừ phiền não thì chẳng gọi là Niết-bàn, chẳng sinh ra phiền não mới gọi là Niết-bàn. Này thiện nam! Chư Phật Như Lai chẳng khởi phiền não thì đó gọi là Niết-bàn. Có trí tuệ đối với pháp không ngăn ngại thì đó là Như Lai. Như Lai chẳng phải là phàm phu, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát mà đó gọi là Phật tánh. Thân tâm trí tuệ của Như Lai đầy khắp vô lượng vô biên vô số cõi, không có sự chướng ngại thì đó gọi là hư không. Như Lai thường trụ không biến dịch thì gọi là thật tướng. Do nghĩa này nên Như Lai chân thật chẳng rốt ráo Niết-bàn. Đó gọi là Bồ-tát tu kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ bảy.

Sao gọi là Đại Bồ-tát tu kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ tám? Này thiện nam! Đại Bồ-tát tu Đại Niết-bàn thì đoạn trừ năm việc, lìa xa năm việc, thành tựu sáu việc, tu tập năm việc, giữ gìn một việc, thân cận bốn việc, tin thuận một sự thật, tâm khéo giải thoát, tuệ khéo giải thoát. Này thiện nam! Thế nào là Bồ-tát đoạn trừ năm việc? Đó là đoạn trừ năm ấm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Thế nào là ấm? Có thể khiến cho chúng sinh sinh tử nối tiếp nhau, chẳng lìa khỏi gánh nặng, phân tán tụ hợp thuộc về ba đời, tìm cầu nghĩa thật của nó rõ ràng chẳng thể được, do những nghĩa này nên gọi là ấm. Đại Bồ-tát tuy thấy sắc ấm nhưng chẳng thấy tướng của sắc ấy. Vì sao? Vì ở trong mười sắc mà tìm kiếm tánh của nó đều chẳng thể được. Vì thế giới nên nói là ấm. Thọ có một trăm lẻ tám. Tuy thấy thọ ấm nhưng đầu tiên không có tướng thọ. Vì sao? Thọ tuy một trăm lẻ tám nhưng lý không nhất định chân thật. Vậy nên Bồ-tát chẳng thấy thọ ấm. Tưởng, hành, thức v.v… cũng như vậy. Đại Bồ-tát thấy sâu năm ấm chính là cội gốc phát sinh phiền não. Do nghĩa này nên dùng phương tiện khiến cho chúng đoạn trừ. Sao gọi là Bồ-tát xa lìa năm việc? Đó là xa lìa năm kiến. Những gì là năm? Một là thân kiến, hai là biên kiến, ba là tà kiến, bốn là giới thủ, năm là kiến thủ. Nhân năm kiến này sinh ra sáu mươi hai kiến. Nhân những kiến này mà sinh tử chẳng dứt. Vậy nên Bồ-tát phòng hộ chẳng gần gũi. Sao gọi là Bồ-tát thành tựu sáu việc? Đó là sáu niệm xứ. Những gì là sáu? Một là niệm Phật, hai là niệm Pháp, ba là niệm Tăng, bốn là niệm Thiên, năm là niệm Thí, sáu là niệm Giới. Đó gọi là Bồ-tát thành tựu sáu việc. Sao gọi là Bồ-tát tu tập năm việc? Đó là tu tập năm định, một là định tri, hai là định tịch, ba là định thân tâm thọ an lạc, bốn là định vô lạc, năm là định Thủ-lăng-nghiêm. Tu tập năm thứ định tâm như vậy thì được gần với Đại Bát Niết Bàn. Vậy nên Bồ-tát phải siêng năng tu tập. Thế nào là Bồ-tát giữ gìn một việc? Đó là giữ gìn tâm Bồ-đề. Đại Bồ-tát thường phải siêng giữ gìn tâm Bồ-đề, giống như người đời giữ gìn con một, cũng như kẻ chột giữ gìn con mắt còn lại, như người đi giữa chốn hoang vắng giữ gìn kẻ dẫn đường. Bồ-tát giữ gìn tâm Bồ-đề cũng như vậy. Nhân giữ gìn tâm Bồ-đề như vậy nên được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nhân được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nên có đầy đủ thường, lạc, ngã, tịnh, tức là Đại Bát Niết Bàn vô thượng. Vậy nên Bồ-tát giữ gìn một pháp. Thế nào là Bồ-tát thân cận bốn việc? Đó là bốn tâm vô lượng. Những gì là bốn? Một là đại từ, hai là đại bi, ba là đại hỷ, bốn là đại xả. Nhân bốn tâm này có thể khiến cho vô lượng vô biên chúng sinh phát tâm Bồ-đề. Vậy nên Bồ-tát chuyên tâm gần gũi. Thế nào là Bồ-tát tin thuận một sự thật? Bồ-tát biết rõ tất cả chúng sinh đều về một đạo. Một đạo là Đại Thừa. Chư Phật, Bồ-tát vì chúng sinh nên phân thừa đó làm ba. Vậy nên Bồ-tát tin thuận chẳng nghịch lại. Thế nào là tâm Bồ-tát hoàn toàn giải thoát? Tâm tham, sân, si đoạn diệt vĩnh viễn thì đó gọi là tâm Bồ-tát hoàn toàn giải thoát. Thế nào là tuệ Bồ-tát hoàn toàn giải thoát? Đại Bồ-tát đối với tất cả pháp biết không có chướng ngại. Đó gọi là tuệ Bồ-tát hoàn toàn giải thoát. Nhờ tuệ giải thoát nên điều xưa chẳng nghe mà nay được nghe, điều xưa chẳng thấy mà nay được thấy, nơi xưa chẳng đến mà nay được đến.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương bạch:

–Bạch Thế Tôn! Như lời Phật nói, tâm giải thoát thì nghĩa chẳng vậy. Vì sao? Vì tâm vốn không trói buộc. Vì sao như thế? Vì bản tánh của tâm không có sự trói buộc của các kiết tham dục, sân hận, ngu si. Nếu vốn không trói buộc thì sao nói tâm hoàn toàn giải thoát? Thưa Thế Tôn! Nếu bản tánh của tâm chẳng bị sự ràng buộc của tham kiết thì do nhân duyên gì mà có thể buộc? Như người vắt vào sừng vốn không có tướng sữa thì tuy thêm công lực, sữa cũng không từ đó ra. Người vắt vào vú thì chẳng như vậy, sữa tuy ít nhưng thêm công lực thì ra nhiều. Tâm cũng như vậy, vốn không tham thì sao nay lại có? Nếu tâm vốn không tham mà sau mới có thì chư Phật, Bồ-tát vốn không tướng tham thì nay đều nên có. Bạch Thế Tôn! Ví như người con gái bằng đá vốn không tướng con, tuy thêm nhiều công lực với vô lượng nhân duyên nhưng con chẳng thể có được. Tâm cũng như vậy, vốn không tướng tham thì tuy tạo đủ mọi duyên nhưng tham không từ đó sinh ra. Bạch Thế Tôn! Như dùi gỗ ẩm ướt thì lửa chẳng thể phát. Tâm cũng như vậy, tuy dùi cầu tham nhưng chẳng thể được, vậy sao gọi là tham kiết có thể ràng buộc tâm? Bạch Thế Tôn! Ví như ép cát thì chẳng thể được dầu. Tâm cũng như vậy, tuy lại ép tâm nhưng tham chẳng thể có được. Phải biết, tham và tâm hai lý đều khác mà giả sử lại có tham thì sao có thể làm bẩn tâm? Bạch Thế Tôn! Ví như có người cắm cọc giữa hư không thì nhất định chẳng đứng được, đặt tham vào tâm cũng như vậy, dù cho đủ thứ nhân duyên cũng chẳng thể khiến cho tham ràng buộc được tâm. Bạch Thế Tôn! Nếu tâm không tham gọi là giải thoát thì chư Phật, Bồ-tát vì sao chẳng nhổ gai nhọn trong hư không? Thưa Thế Tôn! Tâm đời quá khứ chẳng gọi là giải thoát, tâm đời vị lai cũng không gọi là giải thoát, tâm đời hiện tại chẳng cùng với đạo thì tâm của đời nào gọi là được giải thoát? Thưa Thế Tôn! Như vậy đèn quá khứ chẳng thể diệt tối, đèn vị lai cũng chẳng thể diệt tối, đèn hiện tại lại chẳng diệt tối. Vì sao? Vì ánh sáng cùng bóng tối, cả hai chẳng tồn tại đồng thời. Tâm cũng như vậy, thì làm sao mà nói tâm được giải thoát? Bạch Thế Tôn! Tham cũng là có, nếu tham không có thì khi thấy tướng nữ chẳng nên sinh tham. Nếu nhân tướng nữ mà được sinh ra thì phải biết là tham chân thật là có và do có tham nên đọa vào ba đường ác. Bạch Thế Tôn! Ví như có người thấy bức vẽ hình người con gái cũng lại sinh tham. Do sinh tham nên bị đủ thứ tội. Nếu vốn không tham thì sao thấy bức họa mà sinh ra tham? Nếu tâm không tham thì sao Như Lai nói, tâm Bồ-tát được giải thoát? Nếu tâm có tham thì sao thấy tướng rồi sau đó mới sinh? Còn chẳng thấy tướng thì chẳng sinh? Con nay hiện thấy có quả báo ác thì phải biết là có tham dục; sân hận, ngu si cũng như vậy. Bạch Thế Tôn! Ví như chúng sinh có thân vô ngã mà các phàm phu chấp tưởng là ngã, tuy có tưởng về ngã nhưng chẳng đọa vào ba đường ác thì sao người tham đối với tướng không nữ mà khởi lên tưởng nữ bị đọa vào ba đường ác? Thưa Thế Tôn! Ví như dùi cây sinh ra lửa. Nhưng tánh lửa này trong mọi duyên không có thì do nhân duyên gì mà được sinh ra? Bạch Thế Tôn! Tham cũng như vậy, trong sắc không có tham và hương, vị, xúc, pháp cũng lại không tham thì sao đối với sắc, hương, vị, xúc, pháp mà sinh ra tham? Nếu trong mọi duyên đều không tham thì sao chỉ một mình chúng sinh sinh ra tham, còn chư Phật, Bồ-tát chẳng sinh? Bạch Thế Tôn! Tâm cũng chẳng định. Nếu tâm định thì không có tham dục, sân hận, ngu si. Nếu tâm chẳng định thì làm sao mà nói tâm được giải thoát? Tham cũng chẳng định, mà nếu chẳng định thì làm sao nhân đó sinh ra ba đường ác? Tham và cảnh giới, cả hai đều bất định. Vì sao? Vì đều duyên vào một sắc rồi hoặc sinh ra tham, hoặc sinh ra sân, hoặc sinh ra ngu si. Vậy nên cùng với cảnh giới, cả hai đều bất định. Nếu chúng đều bất định thì vì sao Như Lai nói Bồ-tát tu Đại Niết-bàn thì tâm được giải thoát?

Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Tâm cũng chẳng bị sự trói buộc của tham kiết, cũng chẳng phải chẳng trói buộc, chẳng phải là giải thoát, chẳng phải chẳng giải thoát, chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng phải hiện tại, chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai. Vì sao? Này thiện nam! Vì tất cả các pháp không tự tánh. Này thiện nam! Có các ngoại đạo nói: “Nhân duyên hòa hợp thì có kết quả sinh. Nếu trong mọi duyên vốn không có tánh sinh mà có thể sinh ra quả thì hư không chẳng sinh đáng lẽ sinh ra quả. Hư không chẳng sinh chẳng phải là nhân mà do trong mọi duyên vốn có tánh quả. Vậy nên tập hợp mà được sinh ra quả. Vì sao? Vì như Đề-bà-đạt muốn tạo tường vách thì lấy bùn đất chẳng lấy màu sắc, muốn tạo bức tượng vẽ thì gom màu chẳng lấy cỏ cây, may áo thì lấy vải lụa chẳng lấy bùn cây, làm nhà thì lấy bùn chẳng lấy vải lụa. Do người lấy nên phải biết là trong đó đều có thể sinh ra quả. Do có thể sinh ra quả nên phải biết là trong nhân nhất định trước có tánh. Nếu không tánh thì trong một vật cần phải sinh ra tất cả các vật. Nếu nó có thể lấy, có thể tạo tác, có thể sinh ra thì phải biết là trong đó nhất định trước đã có quả. Nếu không có quả thì người chẳng lấy, chẳng làm, chẳng sinh ra mà chỉ có hư không không lấy, không làm nên có thể sinh ra tất cả vạn vật. Do có nhân nên hạt Ni-câu-đà ở cây Ni-câu-đà, trong sữa có đề hồ, trong tơ có vải, trong bùn có bình”. Này thiện nam! Tất cả phàm phu bị vô minh làm mờ tối tạo tác ra định thuyết này: Sắc có nghĩa tham đắm, tâm có tánh tham, lại nói, tâm phàm phu có tánh tham, cũng có tánh giải thoát, gặp nhân duyên tham thì tâm sinh ra tham, nếu gặp giải thoát thì tâm giải thoát. Tuy họ tạo ra lý thuyết này nhưng nghĩa đó chẳng đúng. Có những phàm phu lại nói: “Trong tất cả nhân đều không có quả. Nhân có hai thứ, một là vi tế, hai là thô. Tế tức là thường, thô thì vô thường. Từ nhân vi tế chuyển thành nhân thô, rồi từ nhân thô này chuyển lại thành quả. Nhân thô vô thường nên quả cũng vô thường”. Này thiện nam! Có các phàm phu lại nói: “Tâm cũng không nhân, tham cũng không nhân. Do thời tiết nên sinh ra tâm tham”. Hạng người như vậy do chẳng thể biết nhân duyên của tâm nên luân hồi trong sáu đường, chịu đủ sinh tử. Này thiện nam! Ví như con chó bị cột vào trụ, trọn ngày chạy quanh cây trụ, chẳng thể rời khỏi. Tất cả phàm phu cũng như vậy, bị gông vô minh trói buộc vào trụ sinh tử, chạy quanh hai mươi lăm cõi, chẳng thể rời khỏi. Này thiện nam! Ví như có người rơi vào nhà xí đã được ra khỏi rồi mà lại trở vào, như người khỏi bệnh mà lại gây nhân bệnh, như người đi đường gặp nơi hoang vắng, đã qua được rồi mà lại quay trở lại, lại như rửa sạch rồi trở lại trét bùn đất. Tất cả phàm phu cũng như vậy, đã được giải thoát vô sở hữu xứ, chỉ chưa được thoát khỏi phi tưởng phi phi tưởng xứ mà lại đi trở lại ba đường ác. Vì sao? Vì tất cả phàm phu chỉ quan sát ở kết quả, chẳng quan sát nhân duyên. Như con chó đuổi theo hòn đất, chẳng đuổi theo người. Người phàm phu cũng như vậy, chỉ quan sát kết quả, chẳng quan sát nhân duyên. Do chẳng quan sát nhân duyên nên từ phi tưởng lùi trở lại ba đường ác. Này thiện nam! Chư Phật, Bồ-tát chẳng bao giờ nói chắc chắn là trong nhân có quả, trong nhân không quả, và vừa có quả vừa không có quả, chẳng phải có chẳng phải không quả. Nếu nói, trong nhân trước đã chắc chắn có quả và chắc chắn không quả, chắc chắn vừa có quả vừa không quả, chắc chắn chẳng phải có chẳng phải không quả, thì phải biết những người này đều là bè đảng của ma, hệ thuộc với ma, tức là người tham ái, người tham ái như vậy thì chẳng thể đoạn trừ vĩnh viễn sự ràng buộc của sinh tử, chẳng biết tướng của tâm và cả tướng của tham. Này thiện nam! Chư Phật, Bồ-tát hiển bày trung đạo. Vì sao? Vì các vị tuy nói các pháp chẳng phải có, chẳng phải không mà chẳng quyết định. Vì sao? Vì nhân mắt, nhân sắc, nhân ánh sáng, nhân tâm, nhân niệm mà thức được sinh ra. Thức này quyết định chẳng ở trong mắt, trong sắc, trong ánh sáng, trong tâm, trong niệm, cũng chẳng phải trung gian, chẳng phải có, chẳng phải không, từ duyên sinh ra nên gọi đó là có, không tự tánh nên gọi đó là không. Vậy nên Như Lai nói, các pháp chẳng phải có, chẳng phải không. Này thiện nam! Chư Phật, Bồ-tát chẳng bao giờ nói xác định là tâm có tánh tịnh và tánh bất tịnh. Tâm tịnh hay bất tịnh không có chỗ trụ. Từ duyên sinh ra tham nên nói, chẳng phải không; vốn không có tánh tham nên nói, chẳng phải có. Này thiện nam! Từ nhân duyên nên tâm sinh ra tham, từ nhân duyên nên tâm giải thoát. Này thiện nam! Nhân duyên có hai, một là theo sinh tử, hai là theo Đại Niết-bàn. Này thiện nam! Có nhân duyên nên tâm cùng với tham sinh ra, cùng với tham diệt hết. Có nhân duyên cùng với tham sinh ra, chẳng cùng với tham diệt. Có nhân duyên chẳng cùng tham sinh mà cùng tham diệt. Có nhân duyên chẳng cùng tham sinh, chẳng cùng tham diệt. Sao gọi là tâm cùng với tham sinh ra, cùng với tham đều diệt? Này thiện nam! Nếu có phàm phu chưa đoạn trừ tâm tham, tu tập tâm tham thì người như vậy, tâm cùng với tham sinh ra, tâm cùng với tham diệt. Tất cả chúng sinh chẳng đoạn tâm tham thì tâm cùng với tham sinh ra, tâm cùng với tham diệt. Như chúng sinh cõi Dục, tất cả đều có vị thiền Sơ địa, hoặc tu hay chẳng tu thường được thành tựu, gặp nhân duyên nên liền được ngay, nói nhân duyên là gọi hỏa tai. Tất cả phàm phu cũng như vậy, hoặc tu hay chẳng tu, thì tâm cùng với tham sinh, tâm cùng với tham diệt. Vì sao? Vì chẳng đoạn trừ tham. Sao gọi là tâm cùng với tham sinh, chẳng cùng với tham diệt? Đệ tử Thanh văn có nhân duyên nên sinh ra tâm tham. Rồi họ sợ tâm tham nên tu quán tưởng xương trắng. Đó gọi là tâm cùng với tham sinh, chẳng cùng với tham diệt. Lại có tâm cùng với tham sinh, chẳng cùng với tham diệt. Như hàng Thanh văn chưa chứng được bốn quả, có nhân duyên nên sinh ra tâm tham, khi chứng bốn quả thì tâm tham được diệt. Đó gọi là tâm cùng với tham sinh, chẳng cùng với tham diệt. Bậc Đại Bồ-tát khi được địa Bất động thì tâm cùng với tham sinh, chẳng cùng với tham diệt. Sao gọi là tâm chẳng cùng với tham sinh mà cùng với tham diệt? Nếu Đại Bồ-tát đoạn trừ tâm tham, rồi vì chúng sinh nên thị hiện có tham, do thị hiện nên có thể khiến cho vô lượng vô biên chúng sinh thưa hỏi nghe thọ phap thiện, thành tựu đầy đủ, thì đó gọi là chẳng cùng với tham sinh mà cùng với tham diệt. Sao gọi là chẳng cùng với tham sinh, chẳng cùng với tham diệt? Đó là A-la-hán, Duyên giác, chư Phật, trừ hàng địa Bất động. Ngoài ra còn các vị Bồ-tát. Đó gọi là chẳng cùng với tham sinh, chẳng cùng với tham diệt. Do nghĩa này nên chư Phật, Bồ-tát chẳng quyết định nói, tâm tánh vốn tịnh, tánh vốn chẳng tịnh. Này thiện nam! Tâm này chẳng cùng với tham kết hòa hợp, cũng lại chẳng cùng với sân si hòa hợp. Này thiện nam! Ví như mặt trời, mặt trăng bị sự che phủ của khói, bụi, mây, mù và A-tu-la. Do nhân duyên này khiến cho các chúng sinh chẳng thể thấy được. Tuy họ chẳng thể thấy tánh của mặt trời, mặt trăng nhưng chẳng bao giờ hòa hợp với năm sự che ngăn kia. Tâm cũng như vậy, do nhân duyên nên sinh ra tham kiết. Chúng sinh tuy nói tâm cùng với tham hòa hợp nhưng mà tánh của tâm này thật chẳng cùng hòa hợp. Nếu tâm tham này tức là tánh tham hay tâm chẳng tham này tức là tánh chẳng tham thì tâm chẳng tham chẳng thể là tham và tâm tham kết chẳng thể chẳng tham. Này thiện nam! Do nghĩa này nên tham dục kết chẳng thể làm bẩn tâm. Chư Phật, Bồ-tát phá hoại vĩnh viễn tham kiết. Vậy nên nói, tâm được giải thoát. Tất cả chúng sinh từ nhân duyên nên sinh ra tham kết, từ nhân duyên nên tâm được giải thoát. Này thiện nam! Ví như núi Tuyết, chỗ cheo leo chót vót, người cùng vượn đều chẳng thể đi; hoặc lại có chỗ vượn có thể đi, người chẳng thể đi; hoặc lại có chỗ người cùng vượn cả hai có thể đi. Này thiện nam! Chỗ người cùng vượn có thể đi là như nơi các thợ săn thuần dùng nhựa keo đặt lên đó để bắt vượn. Con vượn dại nên đưa tay chạm vào, chạm rồi dính tay. Vượn muốn thoát tay nên lấy chân đạp thì chân lại mắc theo. Muốn thoát thân nên vượn dùng miệng cắn vào đó thì miệng lại dính luôn. Như vậy năm chỗ đều không thoát được. Đến đây, người thợ săn dùng gậy xâu qua con vượn khiêng về. Chỗ cao của núi Tuyết ví cho sự được chánh đạo của Phật, Bồ-tát. Vượn là ví các phàm phu. Thợ săn là ví ma Batuần. Nhựa keo là ví tham dục kết. Người cùng vượn đều chẳng thể đi là ví những phàm phu, Ma vương Ba-tuần đều chẳng thể đi. Vượn có thể đi, người chẳng thể đi là ví những người có trí tuệ của ngoại đạo, những ma ác v.v… tuy do năm dục nhưng chẳng thể ràng buộc. Người cùng vượn đều có thể đi là ví tất cả phàm phu và ma Ba-tuần thường ở trong sinh tử, chẳng thể tu hành. Người phàm phu bị năm dục trói buộc, khiến cho ma Ba-tuần tự tại đem đi như người thợ săn kia đánh bẫy nhựa bắt vượn khiêng về nhà. Này thiện nam! Ví như vị quốc vương an trụ ở nước mình thì thân tâm an vui, nếu đến cõi khác thì bị mọi khổ sở. Tất cả chúng sinh cũng như vậy, nếu có thể tự trụ ở cảnh giới của mình thì được an vui, nếu đến cảnh giới khác thì gặp ma ác chịu những khổ não. Cảnh giới của mình là bốn niệm xứ. Cảnh giới khác là năm dục. Sao gọi là hệ thuộc ma? Có những chúng sinh vô thường thấy thường, thường thấy vô thường; khổ thấy vui, vui thấy khổ; chẳng tịnh thấy tịnh, tịnh thấy chẳng tịnh; vô ngã thấy ngã, ngã thấy vô ngã; chẳng phải thật giải thoát vọng thấy giải thoát, chân thật giải thoát thấy chẳng phải giải thoát; chẳng phải thừa thấy thừa, thừa thấy chẳng phải thừa… Người như vậy gọi là hệ thuộc ma, mà hệ thuộc ma thì lòng chẳng thanh tịnh. Lại nữa, này thiện nam! Nếu thấy các pháp chân thật là có định tướng tổng biệt thì phải biết người này khi thấy sắc thì liền tạo ra sắc tướng cho đến thấy thức cũng tạo ra tướng thức, thấy nam tạo ra tướng nam, thấy nữ tạo ra tướng nữ, thấy ngày tạo ra tướng ngày, thấy tháng tạo ra tướng tháng, thấy năm tạo ra tướng năm, thấy ấm tạo ra tướng ấm, thấy nhập tạo ra tướng nhập, thấy giới tạo ra tướng giới. Người thấy như vậy thì gọi hệ thuộc ma, mà hệ thuộc ma thì tâm chẳng thanh tịnh. Lại nữa, này thiện nam! Nếu thấy ngã là sắc, trong sắc có ngã, trong ngã có sắc và sắc thuộc về ngã cho đến thấy ngã là thức, trong thức có ngã, trong ngã có thức và thức thuộc về ngã… thì người thấy như vậy là hệ thuộc ma, chẳng phải là đệ tử của Ta. Này thiện nam! Đệ tử Thanh văn của Ta xa lìa Mười hai bộ loại kinh điển của Như Lai, tu tập đủ thứ kinh sách của ngoại đạo, chẳng tu nghiệp xuất gia tịch tĩnh, toàn kinh doanh việc tại gia thế tục. Những gì gọi là việc tại gia? Nhận nuôi chứa tất cả vật bất tịnh như nô tỳ, ruộng, nhà, voi, ngựa, xe cộ, la, lừa, gà, chó, vượn, heo, dê, đủ thứ lúa mì v.v… xa lìa chúng Tăng, gần gũi bạch y, trái nghịch lời dạy của Thánh và hướng về những người bạch y nói: “Đức Phật cho phép Tỳ-kheo nhận nuôi chứa đủ thứ vật bất tịnh”. Đó gọi là tu tập việc tại gia. Có các đệ tử chẳng vì Niết-bàn, chỉ vì lợi dưỡng mà thân cận nghe thọ mười hai bộ loại kinh điển. Dùng vật của Tăng bốn phương và y phục của Tăng, ăn mặc như tự của mình có, tham tiếc vật của nhà người khác, khen ngợi gần gũi quốc vương và các vương tử, bói quẻ cát hung, đoán vận thịnh suy, chơi cờ vây, đánh bạc, đánh xu bồ, ném bầu, gần gũi Tỳ-kheo-ni và những gái chưa chồng, nuôi hai hạng Sa-di, thường giao du với nhà thợ săn, đồ tể, bán rượu và chỗ ở của bọn Chiên-đà-la, buôn bán đủ thứ, tay tự làm thức ăn, làm sứ giả lân quốc, thông báo tin tức. Những người như vậy thì phải biết là quyến thuộc của ma, chẳng phải đệ tử của Ta. Do nhân duyên này nên tâm cùng với tham sinh, tâm cùng với tham diệt. Cho đến tâm cùng với si sinh, tâm cùng với si diệt cũng như vậy. Này thiện nam! Do nhân duyên này nên tánh của tâm chẳng phải tịnh, chẳng phải bất tịnh. Vậy nên Ta nói, tâm được giải thoát. Nếu có người chẳng nhận, chẳng nuôi chứa tất cả vật bất tịnh, vì Đại Niết-bàn thọ trì, đọc tụng mười hai bộ loại kinh điển, sao chép, giảng nói thì phải biết những người đó là đệ tử chân thật của Ta, chẳng làm theo cảnh giới của ma ác Ba-tuần, tu tập ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Do tu tập nên họ chẳng cùng với tham sinh, chẳng cùng với tham diệt. Đó gọi là Đại Bồtát tu kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ tám.

**********

Lại nữa, này thiện nam! Sao gọi là Đại Bồ-tát tu kinh vi diệu Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ chín? Này thiện nam! Đại Bồ-tát tu kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn, đầu tiên phát khởi năm việc đều được thành tựu. Những gì là năm? Một là tín, hai là trực tâm, ba là giới, bốn là thân cận bạn lành, năm là học rộng. Sao gọi là tín? Đại Bồ-tát tin vào sự bố thí Tam bảo có quả báo, tin vào con đường Nhất thừa Nhị đế, lại không đường khác, nhưng vì muốn cho chúng sinh mau được giải thoát nên chư Phật, Bồ-tát phân biệt làm ba, tin đệ nhất nghĩa đế, tin phương tiện thiện. Đó gọi là tín. Người tin như vậy thì hoặc các Samôn, hoặc Bà-la-môn, hoặc Thiên ma, Phạm thiên, tất cả chúng sinh chẳng thể phá hoại họ. Nhân đức tin này nên được tánh của Thánh nhân, tu hành bố thí hoặc nhiều hay ít đều được gần với Đại Bát Niết Bàn, chẳng rơi vào sinh tử. Giới cấm, đa văn, trí tuệ cũng như vậy. Đó gọi là tín. Tuy có tín này mà cũng chẳng chấp thì đó gọi là Bồ-tát tu Đại Niết-bàn thành tựu việc đầu tiên.

Sao gọi là trực tâm? Đại Bồ-tát đối với các chúng sinh khởi tâm chất trực. Tất cả chúng sinh nếu gặp nhân duyên thì sinh ra nịnh hót quanh co còn Bồ-tát chẳng vậy. Vì sao? Vì khéo hiểu các pháp đều do nhân duyên. Đại Bồ-tát tuy thấy những tội lỗi ác của chúng sinh nhưng nhất định chẳng nói ra. Vì sao? Vì sợ họ sinh ra phiền não, mà nếu sinh phiền não thì rơi vào đường ác. Như vậy Bồ-tát nếu thấy chúng sinh có ít việc thiện thì khen ngợi họ. Sao gọi là thiện? Đó gọi là Phật tánh, do khen ngợi Phật tánh nên khiến cho các chúng sinh phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như lời Phật nói, Bồ-tát khen ngợi Phật tánh khiến cho vô lượng chúng sinh phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thì nghĩa này chẳng phải vậy. Vì sao? Vì Như Lai ban đầu khai kinh Đại Niết-bàn, nói có ba hạng. Một là, nếu có người bệnh mà được lương y, thuốc hay và người chăm sóc thì bệnh dễ khỏi. Như người bệnh ấy chẳng được như vậy thì chẳng thể lành bệnh. Hai là, nếu được hay chẳng được đều chẳng thể khỏi bệnh. Ba là, nếu được hay chẳng được đều có thể khỏi bệnh. Tất cả chúng sinh cũng như vậy, nếu gặp bạn lành, các Đức Phật, Bồ-tát nghe nói diệu pháp thì có thể phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Như những chúng sinh chẳng gặp thì chẳng thể phát tâm như là Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, Ala-hán, Phật-bích-chi. Hai là, tuy họ gặp bạn lành, chư Phật, Bồ-tát, nghe nói diệu pháp cũng chẳng thể phát tâm, hoặc họ chẳng gặp nên cũng chẳng thể phát tâm như là bọn Nhất-xiển-đề. Ba là, hoặc gặp hay chẳng gặp, tất cả đều có thể phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác như là Bồ-tát. Nếu nói, gặp cùng chẳng gặp đều phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì Đức Như Lai hôm nay làm sao nói, nhân khen Phật tánh khiến cho các chúng sinh phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác? Thưa Thế Tôn! Nếu gặp bạn lành, chư Phật, Bồ-tát, nghe nói diệu pháp và cả chẳng gặp đều chẳng thể phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì phải biết nghĩa này cũng lại chẳng phải. Vì sao? Vì người như vậy sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bọn Nhất-xiển-đề do có Phật tánh nên hoặc nghe hay chẳng nghe đều cũng sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bạch Thế Tôn! Như lời Phật nói: “Thế nào gọi là Nhất-xiển-đề? Đó là kẻ đoạn dứt thiện căn”, thì nghĩa như vậy cũng lại chẳng đúng. Vì sao? Vì chẳng đoạn dứt Phật tánh. Như vậy là Phật tánh, lý chẳng thể đoạn thì sao Phật nói đoạn các thiện căn? Như Phật thuở trước nói trong Mười hai bộ loại kinh điển, thiện có hai thứ: một là thường, hai là vô thường. Thường là chẳng đoạn, vô thường là đoạn, vô thường có thể đoạn nên đọa vào địa ngục. Thường chẳng thể đoạn thì vì sao chẳng ngăn chận? Phật tánh chẳng đoạn thì chẳng phải Nhất-xiển-đề mà vì sao Đức Như Lai nói như vậy là Nhất-xiển-đề? Bạch Thế Tôn! Nếu nhân Phật tánh mà phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì vì sao Đức Như Lai rộng vì chúng sinh nói Mười hai bộ loại kinh điển? Thưa Thế Tôn! Ví như bốn dòng sông, xuất phát từ ao A-nậu-đạt. Nếu có hàng trời, người, chư Phật Thế Tôn nói những dòng sông này chẳng chảy vào biển cả mà sẽ trở lại nguồn cũ thì không có điều này. Tâm Bồ-đề cũng như vậy, nếu người có Phật tánh thì hoặc nghe hay chẳng nghe, hoặc giới hay chẳng phải giới, hoặc thí hay chẳng phải thí, hoặc tu hay chẳng phải tu, hoặc trí hay chẳng phải trí đều nên đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bạch Thế Tôn! Như mặt trời từ trong núi Ưuđà-diên mọc lên, đi đến hướng chánh Nam. Nếu mặt trời nghĩ rằng, ta chẳng đến phương Tây mà trở lại phương Đông thì không có điều này. Phật tánh cũng vậy, nếu chẳng nghe, chẳng trì giới, chẳng bố thí, chẳng tu, chẳng trí tuệ, chẳng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì không có điều này. Bạch Thế Tôn! Chư Phật Như Lai nói, tánh của nhân quả chẳng phải có, chẳng phải không, nghĩa như vậy cũng chẳng đúng. Vì sao? Vì như trong sữa ấy không có tánh váng sữa thì không có váng sữa, hạt Ni-câu-đà không tánh năm trượng thì chẳng thể sinh cây năm trượng. Nếu trong Phật tánh không cây Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì làm sao sinh ra cây Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác? Do nghĩa này nên nói, nhân quả chẳng phải có, chẳng phải không thì nghĩa này như vậy làm sao tương ứng?

Bấy giờ, Đức Thế Tôn khen:

–Hay thay! Hay thay! Này thiện nam! Đời có hai hạng người rất là hiếm có như hoa Ưu-đàm. Một là người chẳng làm điều ác, hai là người có tội mà biết sám hối. Người như vậy rất là hiếm có. Lại có hai hạng người, một là làm ơn, hai là nhớ ơn. Lại có hai hạng người, một là người học hỏi thọ nhận pháp mới, hai là người ôn cũ chẳng quên. Lại có hai hạng người, một là người tạo ra cái mới, hai là người ôn sửa cái cũ. Lại có hai hạng người, một là người ưa nghe pháp, hai là người ưa nói pháp. Lại có hai hạng người, một là người giỏi vấn nạn, hai là người giỏi giải đáp. Người giỏi vấn nạn là thân ông đó. Người giỏi giải đáp là Như Lai. Này thiện nam! Nhân sự khéo hỏi này, Ta liền được chuyển bánh xe pháp vô thượng, có thể làm khô cây đại thọ mười hai nhân duyên, có thể qua khỏi vô biên dòng sông lớn sinh tử, có thể cùng Ma vương Ba-tuần chiến đấu, có thể xô ngã sự kiến lập cờ thắng của ma Ba-tuần. Này thiện nam! Như trước Ta đã nói, ba thứ mà người bệnh gặp là lương y, người chăm sóc, thuốc tốt và cả việc chẳng gặp được thì bệnh đều được khỏi. Nghĩa này thế nào? Nghĩa này là, nếu gặp được hay chẳng gặp được gọi là thọ mạng nhất định. Vì sao? Vì người này đã ở trong vô lượng đời, tu ba thứ thiện là thượng, trung, hạ. Do tu ba thứ thiện như vậy nên được thọ mạng nhất định, như người nơi cõi Uất-đan-việt thọ mạng một ngàn năm. Có người bị bệnh, nếu gặp được lương y, thuốc tốt, người chăm sóc và cả việc chẳng được đều khỏi bệnh. Vì sao? Vì đã có thọ mạng nhất định. Này thiện nam! Như lời Ta nói, nếu có người bệnh được gặp lương y, thuốc tốt, người chăm sóc thì bệnh được trừ khỏi, nếu chẳng gặp thì chẳng được khỏi. Nghĩa này ra sao? Này thiện nam! Người như vậy thọ mạng chẳng nhất định, mạng tuy chưa hết nhưng có chín nhân duyên có thể làm chết yểu. Những gì là chín? Một là biết ăn chẳng an ổn mà cứ ăn. Hai là ăn nhiều. Ba là thức ăn trước chưa tiêu mà lại ăn nữa. Bốn là đi đại tiểu tiện chẳng đúng lúc. Năm là khi bệnh chẳng theo lời dạy của thầy thuốc. Sáu là chẳng theo lời dạy bảo của người chăm sóc. Bảy là cố cưỡng lại chẳng mửa ra. Tám là đi đêm, do đi đêm nên bị quỷ ác đánh. Chín là việc phòng the quá độ. Do những nhân duyên này nên Ta nói người bệnh nếu gặp lương y, thuốc tốt, người chăm sóc thì bệnh có thể khỏi, còn nếu chẳng gặp thì chẳng thể bớt. Này thiện nam! Như trước Ta đã nói, nếu gặp hay chẳng gặp đều chẳng thể khỏi. Nghĩa này thế nào? Có người mạng hết, nếu gặp hay chẳng gặp đều chẳng thể khỏi. Vì sao? Vì mạng đã hết. Do nghĩa này nên Ta nói người bệnh, nếu gặp lương y, thuốc tốt, người chăm sóc và cả chẳng gặp đều chẳng thể khỏi được. Chúng sinh cũng vậy, người phát tâm Bồ-đề nếu gặp bạn lành, chư Phật, Bồ-tát thưa hỏi nghe thọ pháp sâu xa hay chẳng gặp được thì đều thành tựu. Vì sao? Vì người ấy có thể phát tâm Bồ-đề như người ở cõi Uất-đan-việt được thọ mạng nhất định. Như lời Ta nói, từ Tu-đàhoàn đến Phật-bích-chi nếu nghe pháp sâu xa mà chư Phật, Bồ-tát và bạn lành đã nói thì phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, còn nếu chẳng gặp chư Phật, Bồ-tát nghe nói pháp sâu xa thì chẳng thể phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Như người mạng bất định vì chín nhân duyên nên chết yểu. Như người bệnh đó gặp lương y, thuốc tốt thì bệnh sẽ khỏi, còn nếu chẳng gặp thì bệnh chẳng khỏi. Vậy nên Ta nói gặp Phật, Bồ-tát, nghe nói pháp sâu xa thì có thể phát tâm, còn nếu chẳng gặp thì chẳng thể phát tâm. Như trước Ta đã nói, nếu gặp bạn lành, chư Phật, Bồ-tát, nghe nói pháp sâu xa và nếu chẳng gặp cũng đều chẳng thể phát tâm nghĩa này thế nào? Này thiện nam! Hạng Nhất-xiển-đề nếu gặp bạn lành, chư Phật, Bồ-tát nghe nói pháp sâu xa và cả chẳng gặp đều chẳng được lìa khỏi tâm Nhất-xiển-đề. Vì sao? Vì đoạn pháp thiện. Còn vì sao bọn Nhất-xiển-đề cũng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác? Nếu chúng có thể phát tâm Bồ-đề thì chẳng gọi là Nhất-xiển-đề. Này thiện nam! Do nhân duyên gì nói, Nhất-xiểnđề được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác? Bọn Nhất-xiển-đề thật chẳng thể được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác như người mạng hết tuy gặp lương y, thuốc tốt, có người chăm sóc nhưng chẳng thể khỏi được. Vì sao? Vì mạng hết. Này thiện nam! Nhất xiển gọi là tin, đề gọi là chẳng đủ. Tin chẳng đủ nên gọi là Nhất-xiển-đề. Phật tánh chẳng phải tin, chúng sinh chẳng phải đủ. Vì chẳng đủ nên làm sao có thể đoạn? Nhất xiển gọi là phương tiện thiện, đề gọi là chẳng đủ. Tu phương tiện thiện chẳng đầy đủ nên gọi là Nhất-xiển-đề. Phật tánh chẳng phải là tu phương tiện thiện, chúng sinh chẳng phải đủ. Vì chẳng đủ nên làm sao có thể đoạn? Nhất xiển gọi là tấn, đề gọi là chẳng đủ. Tấn chẳng đủ nên gọi là Nhất-xiển-đề. Phật tánh chẳng phải tấn, chúng sinh chẳng phải đủ. Vì chẳng đủ nên làm sao có thể đoạn? Nhất xiển gọi là niệm, đề gọi là chẳng đủ. Niệm chẳng đủ nên gọi là Nhấtxiển-đề. Phật tánh chẳng phải niệm, chúng sinh chẳng đủ. Vì chẳng đủ nên làm sao có thể đoạn? Nhất xiển gọi là định, đề gọi là chẳng đủ. Định chẳng đủ nên gọi là Nhất-xiển-đề. Phật tánh chẳng phải định, chúng sinh chẳng phải đủ. Vì chẳng đủ nên làm sao có thể đoạn? Nhất xiển gọi là tuệ, đề gọi là chẳng đủ. Tuệ chẳng đủ nên gọi là Nhất-xiểnđề. Phật tánh chẳng phải tuệ, chúng sinh chẳng phải đủ. Vì chẳng đủ nên làm sao có thể đoạn? Nhất xiển gọi là thiện vô thường, đề gọi là chẳng đủ. Vì thiện vô thường chẳng đủ nên gọi là Nhất-xiển-đề. Phật tánh chẳng phải vô thường, chẳng phải thiện, chẳng phải bất thiện. Vì sao? Vì pháp thiện cần phải từ phương tiện mà được, mà Phật tánh này chẳng phải phương tiện được. Vậy nên chẳng phải thiện. Vì sao lại gọi là chẳng phải bất thiện? Vì có thể được quả thiện. Quả thiện tức là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại, pháp thiện thì sinh rồi được mà Phật tánh này chẳng phải sinh rồi được. Vậy nên chẳng phải thiện. Do đoạn trừ sinh mà được các pháp thiện nên gọi là Nhất-xiển-đề. Này thiện nam! Như lời ông nói, nếu Nhất-xiển-đề có Phật tánh thì sao chẳng ngăn chận tội địa ngục? Này thiện nam! Trong Nhất-xiển-đề không có Phật tánh. Này thiện nam! Ví như có vị vua nghe tiếng đàn không hầu. Âm thanh đàn ấy trong trẻo vi diệu, lòng liền tham đắm, thích thú đam mê, ý không rời bỏ, liền bảo vị đại thần: “Âm thanh vi diệu như vậy từ đâu phát ra?”. Vị đại thần đáp: “Âm thanh vi diệu như vậy từ cây đàn không hầu phát ra”. Nhà vua lại nói: “Hãy đem âm thanh đó lại đây”. Bấy giờ vị đại thần liền mang cây đàn không hầu đặt ở trước đức vua mà nói: “Tâu đại vương! Đại vương nên biết, đây tức là âm thanh”. Nhà vua nói: “Này không hầu! Hãy phát ra tiếng! Hãy phát ra tiếng!”. Nhưng tiếng đàn không hầu cũng chẳng phát ra. Lúc này, vị đại vương liền cắt đứt dây của đàn ấy mà tiếng cũng chẳng phát ra. Ông đem da, gỗ của đàn ấy chẻ, xé ra hết để tìm kiếm tiếng đàn ấy mà cuối cùng chẳng thể được. Bấy giờ, vị đại vương liền giận trách vị đại thần: “Sao mà nói dối như vậy?’. Vị đại thần tâu: “Nói về cách lấy âm thanh thì phương pháp chẳng như vậy mà nên dùng mọi duyên và phương tiện khéo léo thì âm thanh mới phát ra”. Phật tánh của chúng sinh cũng như vậy, không có trụ xứ, do phương tiện khéo léo nên có thể thấy được. Do có thể thấy nên được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bọn Nhất-xiển-đề chẳng thấy Phật tánh thì làm sao có thể ngăn chận tội của ba đường ác? Này thiện nam! Nếu Nhất-xiển-đề tin có Phật tánh thì phải biết người này chẳng đến ba đường, người này cũng chẳng gọi là Nhất-xiển-đề. Do chẳng tự tin có Phật tánh nên liền rơi vào ba đường ác mà rơi vào ba đường ác nên gọi là Nhất-xiển-đề.

Này thiện nam! Như lời ông nói, nếu sữa không có tánh của váng sữa thì đáng lẽ chẳng sinh váng sữa, hạt cây ni-câu-đà không có tánh năm trượng thì đáng lẽ chẳng có cây năm trượng? Người ngu si nói lời như vậy, còn kẻ trí thì nhất định chẳng phát ngôn như vậy. Vì sao? Vì do vô tánh. Này thiện nam! Như trong sữa có tánh váng sữa thì chẳng cần lại nhờ sức mọi duyên. Này thiện nam! Như sữa và nước đá nằm xen nhau đến cả tháng cũng nhất định chẳng thành váng sữa. Dùng một giọt nước nhựa cây pha cầu cho vào trong sữa liền trở thành váng sữa. Nếu sữa vốn có váng sữa thì vì sao phải đợi duyên. Phật tánh của chúng sinh cũng như vậy, nhờ mọi duyên nên liền có thể thấy, nhờ mọi duyên nên được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nếu đợi mọi duyên, rồi sau đó mới thành tức là vô tánh. Do vô tánh nên có thể đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này thiện nam! Do nghĩa này nên Đại Bồ-tát thường khen cái thiện của con người và chẳng trách cái khiếm khuyết của ho. Đó gọi là tâm chất trực.

Lại nữa, này thiện nam! Sao gọi là tâm chất trực của Bồ-tát? Đại Bồ-tát thường chẳng phạm việc ác. Giả sử có lỗi lầm thì tức thời sám hối, đối với thầy, bạn đồng học chẳng bao giờ che giấu, hổ thẹn tự trách, chẳng dám làm nữa, đối với tội nhẹ sinh tư tưởng tội rất nặng, nếu có người cật vấn thì đáp, thật sự phạm tội. Người lại hỏi: “Tội này là tốt hay chẳng tốt?”. Đáp: “Chẳng tốt!”. Người lại hỏi: “Tội này là thiện hay bất thiện?”. Đáp: “Bất thiện”. Người lại hỏi: “Tội này là quả thiện hay quả bất thiện?”. Đáp: “Tội ấy thật chẳng phải là quả thiện!”. Lại hỏi: “Ai đã tạo ra tội này? Chắc chẳng phải là việc làm của Phật, Pháp, Tăng?”. Đáp: “Chẳng phải việc làm của Phật, Pháp, Tăng, mà là việc làm của tôi. Đó là sự tập hợp của phiền não”. Do tâm chất trực nên tin có Phật tánh, mà tin Phật tánh thì chẳng gọi là Nhất-xiển-đề. Do trực tâm nên gọi là đệ tử của Phật. Nếu thọ y phục, thực phẩm, đồ nằm, thuốc thang của chúng sinh, mỗi thứ ngàn vạn chẳng đủ cho là nhiều, thì đó là tâm chất trực của Bồ-tát.

Sao gọi là Bồ-tát tu trì giới? Đại Bồ-tát thọ trì giới cấm chẳng vì để sinh lên trời, chẳng vì sợ hãi… cho đến chẳng thọ giới chó, giới gà, giới bò, giới trĩ, chẳng tạo tác sự phá giới, chẳng làm khuyết giới, chẳng làm giới có tỳ vết, chẳng làm giới tạp, chẳng hành giới Thanh văn, mà thọ trì giới Đại Bồ-tát, Giới Ba-la-mật, giới Cụ túc, chẳng sinh kiêu mạn, đó gọi là Bồ-tát tu Đại Niết-bàn đủ giới thứ ba.

Sao gọi là Bồ-tát thân cận bạn lành? Đại Bồ-tát thường vì chúng sinh nói về đạo thiện, chẳng nói đạo ác, nói đạo ác chẳng phải là quả báo thiện. Này thiện nam! Thân Ta tức là chân thiện tri thức của tất cả chúng sinh. Vậy nên Ta có thể đoạn trừ tà kiến của Bà-la-môn Phú dà la. Này thiện nam! Nếu có chúng sinh thân cận Ta thì tuy có nhân duyên đáng lẽ sinh vào địa ngục, nhưng liền được sinh lên trời. Như Tu-na-sát-đa v.v… đáng lẽ đọa vào địa ngục, do thấy Ta nên liền được đoạn trừ nhân duyên địa ngục, sinh lên cõi trời Sắc. Tuy có Xá-lợiphất, Mục-kiền-liên v.v… nhưng chẳng gọi là thiện tri thức chân thật của chúng sinh. Vì sao? Vì họ là nhân duyên sinh tâm Nhất-xiển-đề. Này thiện nam! Thuở trước, Ta trụ ở nước Ba-la-nại, Xá-lợi-phất dạy hai người đệ tử, một người quán tưởng xương trắng, một người dạy cho quán sổ tức. Trải qua nhiều năm cả hai đều chẳng được định. Do nhân duyên này liền sinh ra tà kiến nên họ nói: “Không có pháp Niết-bàn vô lậu. Nếu pháp ấy có thì lẽ ra chúng tôi đã chứng đắc. Vì sao? Vì chúng tôi có thể khéo trì giới đã thọ”. Lúc ấy, Ta thấy những Tỳ-kheo đó sinh ra tà tâm này nên gọi Xá-lợi-phất mà quở trách: “Ông chẳng khéo dạy! Vì sao nói pháp đảo ngược cho hai đệ tử này? Hai người đệ tử của ông tánh của họ đều khác. Một người là chuyên giặt quần áo, một người là thợ vàng. Người thợ vàng nên dạy họ sổ tức, người giặt quần áo nên dạy họ quán tưởng bạch cốt. Do ông dạy nhầm nên khiến cho hai người này sinh ra tà kiến ác”. Bấy giờ, Ta vì hai người này, đúng như căn cơ của họ mà nói pháp. Hai người nghe rồi, được quả A-la-hán. Vậy nên ta là chân thiện tri thức của tất cả chúng sinh, chứ chẳng phải Xá-lợiphất, Mục-kiền-liên v.v… Giả sử chúng sinh có kết rất nặng mà được gặp Ta thì Ta dùng phương tiện liền vì họ đoạn trừ. Như Nan-đà em Ta có ái dục rất nặng, Ta dùng đủ thứ phương tiện khéo léo để đoạn trừ. Ương-quật-ma-la có sân hận nặng nhờ thấy Ta nên sân hận liền đoạn trừ. Vua A-xà-thế có ngu si nặng, nhờ thấy Ta nên lòng ngu si liền diệt. Như trưởng giả Bà-hy-già, từ trong vô lượng kiếp, tích tập, thành tựu phiền não rất nặng, nhờ thấy Ta nên liền đoạn diệt. Giả sử có người hạ tiện tệ ác mà gần gũi và làm đệ tử Ta thì do nhân duyên này nên được tất cả hàng trời, người cung kính, thương tưởng. Tà kiến của Thi-lợi-cúc-đa rất nặng, nhân thấy Ta nên tà kiến liền diệt, nhân thấy Ta nên đoạn trừ nhân của địa ngục, tạo duyên sinh lên trời. Như người Chiên-đà-la Khí hư, khi mạng sắp hết, nhân thấy Ta nên lại được sống lâu. Như Kiều-thi-ca, cuồng tâm thác loạn, nhân thấy Ta nên tâm tánh tỉnh lại. Như Cù-đàm-di gầy ốm, con của nhà đồ tể, thường làm nghiệp ác, nhờ thấy Ta nên liền lìa bỏ. Như Tỳ-kheo Xiển đề nhân thấy Ta nên thà bỏ thân mạng, chẳng hủy phạm giới cấm. Như Tỳ-kheo nghiêm trì giới cấm, như Tỳ-kheo cột cỏ. Do nghĩa này nên Tỳ-kheo A-nan nói là bán phạm hạnh, gọi là thiện tri thức. Ta nói, chẳng vậy. Phải đầy đủ phạm hạnh mới gọi là thiện tri thức. Đó là Bồ-tát tu Đại Niết-bàn thành tựu việc thứ tư là gần gũi thiện tri thức.

Sao gọi là Bồ-tát đầy đủ đa văn? Đại Bồ-tát vì kinh Đại Niếtbàn, Mười hai bộ loại kinh điển mà sao chép, đọc tụng, phân biệt, giảng nói thì đó gọi là Bồ-tát đầy đủ đa văn. Trừ Mười một bộ loại kinh điển, chỉ thọ trì, đọc tụng, ghi chép, giảng nói kinh Tỳ-phật-lược thì cũng gọi là Bồ-tát đầy đủ đa văn. Trừ Mười hai bộ loại kinh điển, nếu Bồ-tát có thể thọ trì kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn, ghi chép, đọc tụng, phân biệt, giảng nói thì đó cũng gọi là Bồ-tát đầy đủ đa văn. Trừ hết toàn thể kinh điển này, neu Bồ-tát có thể thọ trì một bài kệ bốn câu, lại trừ luôn bài kệ này, nếu Bồ-tát có thể thọ trì câu: “Như Lai thường trụ, tánh không biến dịch”, thì đó cũng gọi là Bồ-tát đầy đủ đa văn. Lại trừ luôn việc này mà nếu hành giả biết là: Như Lai thường chẳng nói pháp, thì cũng gọi là Bồ-tát đầy đủ đa văn. Vì sao? Vì pháp vô tánh. Như Lai tuy nói tất cả các pháp nhưng thường không có điều gì để nói. Đó gọi là Bồ-tát tu Đại Niết-bàn thành tựu việc thứ năm là đầy đủ đa văn.

Này thiện nam! Nếu có thiện nam, thiện nữ nào vì Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ năm việc như vậy thì việc khó làm có thể làm, điều khó nhẫn có thể nhẫn, của khó thí có thể thí. Sao gọi là việc khó làm Bồ-tát có thể làm? Như nghe có người ăn một hạt mè mà được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì tin lời nói này nên cho đến vô lượng vô số kiếp, thường ăn một hạt mè. Hoặc nghe nói, vào lửa được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì trong vô lượng kiếp, ở tại địa ngục A-tỳ, vào đám lửa đỏ rực. Đó gọi là việc khó làm Bồ-tát có thể làm. Sao gọi là điều khó nhẫn Bồ-tát có thể nhẫn? Nếu nghe nói chịu đựng nhân duyên gây khổ như do tay, gậy, dao, đá, chặt, đánh mà đắc Đại Niết-bàn thì liền ở vô lượng vô số kiếp, thân chịu đủ những thứ đó mà chẳng lấy làm khổ sở, đó gọi là việc khó nhẫn Bồ-tát có thể nhẫn. Sao gọi là của khó thí Bồ-tát có thể thí? Như nghe nói, có thể dùng đất nước, thành quách, vợ con, đầu mắt, não tủy ban cho người thì sẽ đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, liền ở vô lượng vô số kiếp, dùng đất nước, thành quách, vợ con, đầu mắt, não tủy của mình mà ban cho người, đó gọi là của khó thí Bồ-tát có thể thí. Bồ-tát tuy lại có thể làm việc khó làm nhưng chẳng bao giờ nghĩ rằng chính là việc làm của ta cho đến của khó cho có thể cho cũng như vậy. Này thiện nam! Ví như cha mẹ chỉ có một đứa con yêu thương rất nặng tình, dùng quần áo đẹp, thức ăn ngon thượng diệu, tùy thời nuôi dưỡng, không gì thiếu thốn. Giả sử đứa con ấy đối với cha mẹ đã dấy khởi lòng khinh mạn, ác khẩu mạ nhục, nhưng cha mẹ vì yêu thương nên chẳng sinh ra sân hận, cũng chẳng nghĩ rằng: Ta cho đứa trẻ này quần áo, thức ăn, thức uống. Đại Bồ-tát cũng như vậy, nhìn các chúng sinh giống như con một. Nếu đứa con gặp bệnh thì cha mẹ cũng bệnh theo. Vì con mà cầu thầy thuốc, siêng năng gia công trị liệu, cứu chữa. Khi bệnh đã khỏi rồi, cha mẹ chẳng bao giờ sinh ý niệm là ta vì đứa trẻ này trị liệu bệnh khổ. Bồ-tát cũng vậy, thấy các chúng sinh gặp bệnh phiền não sinh lòng thương yêu mà vì họ nói pháp. Chúng sinh nhờ nghe pháp nên các phiền não được đoạn trừ. Phiền não đoạn rồi, Bồ-tát nhất định chẳng nghĩ rằng ta vì chúng sinh đoạn trừ phiền não. Nếu Bồ-tát phát sinh ý niệm này thì nhất định chẳng được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bồ-tát khởi ý niệm này: “Không một chúng sinh nào được ta nói pháp khiến cho họ được đoạn trừ phiền não”. Đại Bồ-tát đối với các chúng sinh chẳng giận, chẳng mừng. Vì sao? Vì có khả năng khéo tu tập Tam-muội Không. Bồ-tát nếu tu Tam-muội Không thì sẽ sinh giận, sinh mừng với ai đây? Này thiện nam! Ví như rừng núi bị lửa dữ đốt cháy, hoặc con người đốn chặt, hay bị nước cuốn trôi thì rừng cây này sẽ sinh ra giận, sinh ra mừng với ai đây? Đại Bồ-tát cũng như vậy, đối với các chúng sinh không giận, không mừng. Vì sao? Vì tu Tammuội Không.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Tánh của tất cả các pháp tự nó là không chăng? Vì không không cho nên không chăng? Nếu tánh tự không thì chẳng cần tu không, rồi sau đó thấy không. Sao Như Lai nói rằng, do tu không mà thấy không? Nếu tánh tự chẳng không thì tuy tu Không nhưng chẳng thể khiến cho nó không.

Này thiện nam! Tánh của tất cả các pháp vốn tự không. Vì sao? Vì tánh của tất cả pháp chẳng thể nắm bắt được. Này thiện nam! Tánh của sắc cũng chẳng thể nắm bắt được. Sao gọi là tánh của sắc? Tánh của sắc chẳng phải là đất, nước, gió, lửa; chẳng lìa đất, nước, gió, lửa; chẳng phải xanh, vàng, đỏ, trắng; chẳng phải lìa xanh, vàng, đỏ, trắng; chẳng phải có, chẳng phải không thì sao sẽ nói là sắc có tự tánh? Do tánh chẳng thể nắm bắt được nên nói là không. Tất cả các pháp cũng như vậy. Do sự giống nhau, tiếp nối nhau nên các phàm phu thấy rồi nói là, tánh của các pháp chẳng rỗng lặng. Đại Bồ-tát đầy đủ năm việc nên thấy tánh của pháp vốn rỗng lặng. Này thiện nam! Nếu Sa-môn, Bà-la-môn thấy tánh của tất cả pháp chẳng không thì phải biết người đó chẳng phải là Sa-môn, chẳng phải là Bà-la-môn, chẳng được tu tập Bát nhã Ba-la-mật, chẳng được vào Đại Bát Niết Bàn, chẳng được hiện thấy chư Phật, Bồ-tát mà họ là quyến thuộc của ma. Này thiện nam! Tánh của tất cả các pháp vốn tự không và cũng nhân Bồ-tát tu tập không nên thấy các pháp không. Này thiện nam! Như tánh của tất cả pháp vô thường nên diệt có thể diệt nó. Nếu nó chẳng phải vô thường thì diệt chẳng thể diệt. Pháp hữu vi có tướng sinh nên sinh có thể sinh ra nó, có tướng diệt nên diệt có thể diệt nó. Tất cả các pháp có tướng khổ nên khổ có thể khiến cho nó khổ. Này thiện nam! Như tánh của muối là mặn có thể làm mặn vật khác, tánh của đường ngọt có thể làm ngọt vật khác, tánh của dấm chua có thể làm chua vật khác, tánh gừng là cay có thể làm cay vật khác, quả ha-lê-lặc đắng có thể làm đắng vật khác, quả am-la nhạt có thể làm nhạt vật khác, tánh độc có thể hại nên khiến cho vật khác bị hại, tánh của cam lồ khiến cho người chẳng chết, nếu đem hòa hợp với vật khác cũng có thể chẳng chết. Bồ-tát tu không cũng như vậy, do tu không nên thấy tánh của tất cả pháp đều rỗng lặng.

Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương lại nói:

–Bạch Thế Tôn! Nếu muối có thể khiến cho vật chẳng mặn trở thành mặn, tu Tam-muội Không nếu như vậy thì phải biết định này chẳng phải thiện, chẳng phải diệu, tánh định ấy điên đảo. Nếu Tammuội Không chỉ thấy rỗng không thì không là không có pháp vậy thấy cái gì?

–Này thiện nam! Tam-muội Không này thấy pháp chẳng không có thể khiến cho nó rỗng lặng nhưng chẳng phải điên đảo. Như muối làm cho vật chẳng phải mặn trở thành mặn, Tam-muội Không này cũng như vậy, pháp chẳng không làm trở thành không. Này thiện nam! Tham là hữu tánh, chẳng phải là không tánh. Tham nếu là không thì chúng sinh chẳng nên vì nhân duyên này mà rơi vào địa ngục. Nếu rơi vào địa ngục thì sao gọi tánh tham là không được? Này thiện nam! Tánh của sắc là có thì những tánh nào gọi là điên đảo? Do điên đảo nên chúng sinh sinh ra tham. Nếu tánh của sắc này chẳng phải điên đảo thì sao có thể khiến cho chúng sinh sinh ra tham? Do sinh ra tham nên phải biết tánh của sắc chẳng phải chẳng có. Do nghĩa này nên tu Tam-muội Không chẳng phải là điên đảo. Này thiện nam! Tất cả phàm phu nếu thấy nữ nhân liền sinh ra tướng nữ. Bồ-tát chẳng vậy, tuy thấy nữ nhân nhưng chẳng sinh tướng nữ. Do chẳng sinh ra tướng nữ nên tham chẳng sinh ra, mà tham chẳng sinh nên chẳng phải điên đảo. Do người thế gian thấy có nữ nên Bồ-tát theo đó nói có nữ nhân. Còn nếu khi thấy nam mà nói là nữ thì đó là điên đảo. Vậy nên Ta vì ông Xà-đề nói: “Này Bà-la-môn! Nếu lấy ngày làm đêm thì là điên đảo, lấy đêm làm ngày thì cũng là điên đảo. Ngày là tướng ngày, đêm là tướng đêm thì sao gọi điên đảo?”. Này thiện nam! Tất cả Bồ-tát trụ ở địa thứ chín thấy pháp có tánh, do sự thấy này nên chẳng thấy Phật tánh. Nếu thấy Phật tánh thì chẳng thấy tánh của tất cả pháp. Do tu Tam-muội Không như vậy nên chẳng thấy tánh của pháp, mà do chẳng thấy nên thấy Phật tánh. Chư Phật, Bồ-tát có hai thứ pháp tánh, một là hữu tánh, hai là vô tánh. Vì chúng sinh nên nói có pháp tánh, vì các Hiền thánh nên nói không có pháp tánh. Vì người chẳng không thấy pháp không nên tu Tam-muội Không khiến cho được thấy không. Vì người không thấy pháp tánh thì cũng tu không nên không. Do nghĩa này nên tu không thì thấy không. Này thiện nam! Ông hỏi rằng, thấy không mà không là không có pháp thì thấy cái gì? Này thiện nam! Đúng vậy! Đúng vậy! Đại Bồ-tát quả thật không thấy gì. Không thấy gì tức là không có gì, mà không có gì tức là tất cả pháp. Đại Bồ-tát tu Đại Bát Niết Bàn thì đối với tất cả pháp đều không thấy gì. Nếu có thấy thì chẳng thấy Phật tánh, chẳng thể tu tập Bát nhã Ba-la-mật, chẳng được vào Đại Bát Niết Bàn. Vậy nên Bồ-tát thấy tánh của tất cả pháp không có gì. Này thiện nam! Bồ-tát chẳng những chỉ nhân thấy Tam-muội mà thấy không, mà Bát nhã Ba-la-mật cũng không, Thiền Ba-la-mật cũng không, Tinh tấn Ba-la-mật cũng không, Nhẫn Ba-la-mật cũng không, Giới Ba-la-mật cũng không, Thí Ba-la-mật cũng không, sắc cũng không, nhãn cũng không, thức cũng không, Như Lai cũng không, Đại Bát Niết Bàn cũng không. Vậy nên Bồ-tát thấy tất cả pháp đều là không. Nên khi Ta ở thành Ca-tỳ-la có bảo A-nan: “Ông chớ sầu não kêu gào khóc lóc!”. Anan liền đáp: “Thưa Thế Tôn! Thân thuộc của con hôm nay đều bị diệt hết thì con làm sao chẳng buồn khóc được? Như Lai cùng con đều sinh ra ở thành này, cùng đồng họ Thích, thân thích, quyến thuộc mà sao Như Lai một mình chẳng sầu não, nét mặt sáng ngời?”. Này thiện nam! Ta bảo: “Này A-nan! Ông thấy thành Ca-tỳ-la chân thật là có, còn Ta thấy rỗng không, không có gì. Ông thấy dòng họ Thích là thân thích, còn Ta tu không nên đều không thấy gì. Do nhân duyên này nên ông sinh ra sầu khổ, còn thân Ta thì dung nhan lại sáng ngời”. Chư Phật, Bồ-tát tu tập Tam-muội Không như vậy nên chẳng sinh sầu não. Đó gọi là Đại Bồ-tát tu kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ chín.

Này thiện nam! Sao gọi là Đại Bồ-tát tu kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ mười sau cùng? Này thiện nam! Bồ-tát tu tập ba mươi bảy phẩm trợ đạo, vào Đại Niết-bàn thường, lạc, ngã, tịnh, vì các chúng sinh phân biệt giảng nói kinh Đại Niết-bàn, hiển bày Phật tánh. Nếu Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, Phật-bích-chi, Bồ-tát tin lời nói này thì đều được vào Đại Bát Niết Bàn. Nếu họ chẳng tin thì luân hồi sinh tử.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Những chúng sinh nào đối với kinh này chẳng sinh lòng cung kính?

–Này thiện nam! Sau khi Ta Niết-bàn, có đệ tử Thanh văn ngu si,

phá giới, ưa sinh ra tranh cãi, bỏ Mười hai bộ loại kinh điển mà đi đọc tụng đủ thứ điển tịch của ngoại đạo, làm văn khen ngợi, tự tay ghi chép. Họ nhận nuôi chứa tất cả vật bất tịnh mà nói là Phật cho phép. Người như vậy đem chiên-đàn tốt đổi lấy gỗ thường, đem vàng đổi lấy đá quặng, bạc đổi lấy bạch lạp, lụa đổi vải thô, đem vị cam lồ đổi lấy chất độc. Sao gọi là đem chiên-đàn đổi lấy gỗ thường? Như đệ tử của Ta vì sự cúng dường nên hướng về những người bạch y, diễn nói kinh pháp bạch y thì tánh tình buông thả, chẳng ưa nghe pháp, bạch y ở trên cao, Tỳ-kheo ở dưới thấp, thêm dùng đủ thứ thức ăn ngon mà cung cấp cho họ, họ còn chẳng chịu nghe. Đó gọi là đem chiên-đàn đổi lấy gỗ thường. Sao gọi là đem vàng đổi lấy đá quặng? Đá quặng ví cho sắc, thanh, hương, vị, xúc. Vàng ví cho giới. Các đệ tử của Ta do nhân duyên sắc mà phá giới đã thọ. Đó gọi là đem vàng đổi lấy đá quặng. Sao gọi là đem bạc đổi lấy bạch lạp? Bạc ví cho mười thiện, bạch lạp ví cho mười ác. Các đệ tử của Ta buông bỏ mười thiện, làm mười pháp ác. Đó gọi là đem bạc đổi lấy bạch lạp. Sao gọi là đem lụa đổi vải thô? Vải thô ví cho không hổ không thẹn, lụa ví cho hổ thẹn. Các đệ tử của Ta buông bỏ hổ thẹn, tập quen không hổ thẹn. Đó gọi là đem lụa đổi vải thô. Sao gọi là đem vị cam lồ đổi lấy độc dược? Độc dược là ví cho đủ thứ lợi dưỡng, cam lồ là ví cho các pháp vô lậu. Các đệ tử của Ta vì lợi dưỡng nên hướng về các bạch y mà tự khen mình được vô lậu. Đó gọi là đem vị cam lồ đổi lấy độc dược. Do những Tỳ-kheo ác như vậy nên đang khi kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn này lưu hành trải rộng cõi Diêm-phù-đề, có các đệ tử thọ trì, đọc tụng, sao chép diễn nói, lưu hành thì bị những Tỳ-kheo ác như vậy giết hại họ. Những Tỳ-kheo ác đó cùng nhau tụ hội, chung nhau lập định chế nghiêm ngặt: “Nếu có người thọ trì kinh Đại Niết-bàn, sao chép, đọc tụng, phân biệt, giảng nói thì tất cả chẳng được ở chung, ngồi chung đàm luận nói năng. Vì sao? Vì Kinh Đại Niết-bàn chẳng phải là của Phật, là sự tạo ra của tà kiến, mà người tà kiến tức là Lục sư ngoại đạo. Lời nói của Lục sư thì chẳng phải là kinh điển của Phật. Vì sao? Vì tất cả chư Phật đều nói các pháp là vô thường, vô ngã, vô lạc, vô tịnh. Nếu nói, các pháp là thường, lạc, ngã, tịnh thì đâu phải là kinh của Phật nói. Chư Phật, Bồtát cho phép các Tỳ-kheo nuôi chứa đủ thứ vật, còn lời nói của Lục sư thì chẳng cho phép đệ tử nuôi chứa tất cả vật. Nghĩa như vậy thì đâu phải là lời nói của Phật. Chư Phật, Bồ-tát chẳng cấm chế đệ tử đoạn dứt năm vị của sữa bò và cả việc ăn thịt, còn Lục sư chẳng cho phép ăn năm thứ muối, năm thứ vị của sữa bò vả cả mỡ, máu. Nếu đoạn dứt điều đó thì đâu phải là chánh điển của Phật. Chư Phật, Bồ-tát diễn nói ba thừa mà trong kinh này thuần nói Nhất thừa, gọi là Đại Niết-bàn. Lời nói như thế thì đâu phải là chánh điển của Phật. Chư Phật rốt ráo vào Niết-bàn, còn kinh này nói, Phật thường, lạc, ngã, tịnh chẳng vào Niết-bàn. Kinh này chẳng ở trong số Mười hai bộ loại kinh điển tức là lời nói của ma, chẳng phải là lời nói của Phật”. Này thiện nam! Người như vậy tuy là đệ tử của Ta nhưng chẳng thể tin thuận kinh Niết-bàn này. Này thiện nam! Lúc ấy, nếu có chúng sinh tin kinh điển này, thậm chí chỉ nửa câu kệ thì phải biết người này là đệ tử chân thật của Ta. Nhân họ tin như vậy nên liền thấy Phật tánh vào Niết-bàn.

Bấy giờ, Đại Bồ-tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Hay thay! Hay thay! Ngày hôm nay Như Lai khéo khai thị kinh Đại Niết-bàn. Thưa Thế Tôn! Con nhân việc này liền được hiểu rõ từng nửa câu, từng câu của kinh Đại Niết-bàn. Do hiểu được một câu đến nửa câu nên thấy chút Phật tánh. Như lời Đức Phật nói thì con cũng sẽ được vào Đại Niết-bàn. Đó gọi là Đại Bồ-tát tu kinh điển vi diệu Đại Niết-bàn thành tựu đầy đủ công đức thứ mười.

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.