LUẬN
ĐẠI TRÍ ĐỘ

Nguyên tác: Bồ tát Long Thọ
Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập
Việt dịch: Tỳ kheo ni THÍCH NỮ DIỆU KHÔNG

 

TẬP V
QUYỂN 82

Phẩm Thứ Sáu Mươi Chín
Đại Phương Tiện

(Phương Tiện Lớn)

Kinh:

Lúc bấy giờ, ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Bồ Tát phát tâm trong bao nhiêu lâu mới thành tựu được các lực phương tiện như vậy?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát phát tâm trải qua vô lượng a tăng ký kiếp mới thành tựu được các lực phương tiện như vậy.

Ngài Tu Bồ Đề Bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Bồ Tát ấy đã cúng dường bao nhiêu đức Phật mới thành tựu được các lực phương tiện như vậy?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát ấy đã cúng dường hằng sa đức Phật mới thành tựu được các lực phương tiện như vậy.

Ngài Tu Bồ Đề Bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Bồ Tát ấy đã gieo trồng thiện căn như thế nào, mới thành tựu được các lực phương tiện như vậy?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! Từ sơ phát tâm đến nay, Bồ Tát ấy đã gieo trồng thiện căn nơi Đàn Ba La Mật, nơi Thi Ba La Mật, noi Sẵn Đề Ba La Mật, nơi Tỳ Lê Gia Ba La Mật, nơi Thiền Ba La Mật, nơi Bát Nhã Ba La Mật, mới thành tựu đầy đủ các lực phương tiện như vậy.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: bạch Thế Tôn! Bồ tát thành tựu được các lực phương tiện như vậy là rất ít có.

Phật dạy: Đúng như vậy, đúng như vậy! Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát thành tựu được các phương tiện như vậy thật là rất ít có.

Này Tu Bồ Đề! Ví như mặt trời, mặt trăng chiếu ánh sang khắp 4 châu thiên hạ, đem lại nhiều sự lợi ích cho chúng sanh. Bát Nhã Ba La Mật, cũng như vậy, chiếu 5 Ba La Mật kia, đem lại nhiều lợi ích cho chúng sanh.

Này Tu Bồ Đề! Ví như vị chuyển luân thánh vương có luân bảo mới được gọi là chuyển luân thánh vương. Cũng như vậy, nếu ly Bát Nhã Ba La Mật, thì 5 Ba La Mật kia chẳng được gọi là Bát Nhã Ba La Mật.

Này Tu Bồ Đề ! Ví như người phụ nữ chẳng có chồng rất dễ bị xâm phạm. Cũng như vậy, nếu ly Bát Nhã Ba La Mật, thì 5 Ba La Mật kia rất dễ bị các thiên ma phá hoại. Ví như người phụ nữ có chồng rất khó bị xâm phạm. Cũng như vậy, 5 Ba La Mật kia, nếu được Bát Nhã Ba La Mật hộ trì, thì thiên ma chẳng có thể phá hoại được.

Này Tu Bồ Đề! Ví như một nước có binh hung, tướng mạnh, có vũ khí đầy đủ, thì các nước láng giềng cường địch chẳng dám xâm lăng. Cũng như vậy, nếu 5 Ba La Mật kia trọn chẳng ly Bát Nhã Ba La Mật, thì các thiên ma, các kẻ thăng thượng mạn chẳng sao có thể phá hoại được.

Này Tu Bồ Đề! Ví như các tiểu vương thường chầu hầu vị chuyển luân thánh vương. Cũng như vậy, 5 Ba La Mật kia đều tùy thuận theo Bát Nhã Ba La Mật.

Này Tu Bồ Đề! Ví như nước từ các dòng song đều chảy dồn vào biển nhớ. Cũng như vậy, 5 Ba La Mật kia, được Bát Nhã Ba La Mật thủ hộ, đều đến được nhất thiết chủng trí.

Này Tu Bồ Đề! Ví như người làm việc bằng tay phải, được thuận lợi hơn người làm việc bằng tay trái. Cũng như vậy, Bát Nhã Ba La Mật có lực phương tiện thù thắng hơn các Ba La Mật kia.

Này Tu Bồ Đề! Ví như nước từ nhiều dòng song, khi đã vào biển lớn rồi, đều chỉ còn một vị. Cũng như vậy, 5 Ba La Mật kia, được Bát Nhã Ba La Mật đưa đến nhất thiết chủng trí rồi, thì cùng với Bát Nhã Ba La Mật chẳng còn sai khác.

Này Tu Bồ Đề! Ví như vị chuyển luân thánh vương, ngự trên luân bảo, dẫn đạo 4 bình chủng. Cũng Như vậy, Bát Nhã Ba La Mật dẫn đạo 5 Ba La Mật kia đến nhất thiết chủng trí. Bát Nhã Ba La Mật dẫn đạo, mà chẳng phân biệt có các Ba La Mật kia tùy tùng theo. Vì sao? Vì tánh của Bát Nhã Ba La Mật là chẳng có chỗ năng tác; tự tánh của Bát Nhã Ba La Mật là không, là như huyễn.

Lúc bấy giờ, ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Nếu hết thảy pháp đều là tự tánh không, thì làm sao Bồ Tát hành 6 pháp Ba La Mật, mà có thề đến được Vô Thượng Bồ Đề?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! Khi hành 6 pháp Ba La Mật, Bồ Tát tự nghĩ rằng: “Tâm thế gian điên đảo. Nếu ta chẳng hành 6 pháp Ba La Mật, thì ta chẳng có thể độ chúng sanh thoát khỏi sanh tử. Ta phải vì chúng sanh mà hành 6 pháp Ba La Mật”.

Bồ Tát vì chúng sanh xả hết thảy các nội ngoại vật sở hữu. Khi hành xả, Bồ Tát tự nghĩ rằng, “ Hết thảy các vật đều tán hoại, nên ta chằng có gì xả vậy”. Suy nghĩ như v6ay5, nên Bồ Tát được đầy đủ trì giới Ba La Mật.

Bồ Tát vì chúng sanh trọn chẳng phá giới, tự nghĩ rằng, “ Ta vì chúng sanh mà phát Vô Thượng Bồ Đề tâm. Ta chẳng nên phá giới, chẳng nên sát sanh, chẳng nên tà kiến, chẳng nên tham trước Nhị Thừa địa”. Suy nghĩ như vậy, nên Bồ Tát được đầy đủ trì giới Ba La Mật.

Bồ Tát vì chúng sanh trọn chẳng sanh tâm sân Hận, dù chỉ 1 niệm, tự nghĩ rằng: “Ta vì lợi ích chúng sang mà phát Vô Thượng Bồ Đề Tâm, vì sao ta lại sân hận?”. Suy nghĩ như vậy, nên Bồ Tát được đầy đủ nhẫn nhục Ba La Mật.

Bồ Tát vì chúng sanh trọn chẳng sanh tâm giải đãi. Do tinh tấn như vậy, nên Bồ Tát được đầy đủ nhẫn nhục Ba La Mật.

Bồ Tát vì chúng sanh trọn chẳng sanh tâm tán loạn. Do nhiếp tâm như vậy nên Bồ Tát được đầy đủ thiền Ba La Mật.

Bồ Tát vì chúng sanh, từ khi sơ phát tâm cho đến khi được Vô Thượng Bồ Đề, trọn chẳng ly tu trí huệ. Vì sao? Vì nếu chẳng tu trí huệ, thì chẳng có thể độ thoát chúng sanh. Do tu trí huệ như vậy, nên Bồ Tát được đầy đủ Bát Nhã Ba La Mật.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Nếu các Ba La Mật đều chẳng có tướng sai khác nhau, thì như vậy vì sao nói: “ trong 6 Ba La Mật, Bát Nhã Ba La Mật là vi diệu, là tối thượng, đệ nhất?”.

Phật dạy: Đúng như vậy, đúng như vậy! Này Tu Bồ Đề! Các Ba La Mật tuy chẳng có tướng sai khác, nhưng nếu chẳng có Bát Nhã Ba La Mật, thì 5 Ba La Mật kia chẳng thể được gọi là Ba La Mật.

Này Tu Bồ Đề! Ví như các loài chim có sắc lông sai khác nhau, nhưng khi vào đến bên núi Tu Di, thì đều trở thành đồng một màu sắc với nhau. Cũng như vậy, 5 Ba La Mật kia được Bát Nhã Ba La Mật dẫn đạo đều đến được nhất thiết chủng trí. Khi đến nhất thiết chủng trí rồi, thì cả 6 Ba La Mật, từ Đàn Ba La Mật …dẫn đến Bát Nhã Ba La Mật đều đồng như nhau, chẳng có sai khác, chẳng có phân biệt. Vì sao? Vì các Ba La Mật đều chẳng có tự tánh, nên là chẳng có sai biệt.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Nếu y theo thật nghĩa là chẳng có phân biệt. Như vậy, vì sao so với 5 Ba La Mật kia, Bát Nhã Ba La Mật là vi diệu,t ối thượng?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! Đúng như vậy, đùng như vậy! Dù y theo thuật nghĩa là chẳng có phân biệt, nhưng y theo thế tục nên nói ra 6 pháp Ba La Mật. Đó là vì muốn độ chúng sanh thoát khỏi sanh tử, mà thật ra chúng sanh là chẳng sanh, chẳng khởi.

Này Tu Bồ Đề! Vì chúng sanh là vô sở hữu, nên hết thảy pháp cũng là vô sở hữu. Bởi nhân duyên vậy, nên Bát Nhã Ba La Mật so với 5 Ba La Mật kia là vi diệu, tối thượng.

Này Tu Bồ Đề! Ví như trong cõi Diêm Phù Đề, thì trong hang phụ nữ, Ngọc Nữ là tối diệu, tối thượng. Cũng như vậy, trong tất cả 6 Ba La Mật, thì Bát Nhã Ba La Mật là tối diệu, tối thượng.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Do ý gì mà Phật nói Bát Nhã Ba La Mật là tối diệu, tối thượng?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! Vì Bát Nhã Ba La Mật nhiếp hết thảy các thiện pháp, đưa đến nhất thiết chủng trí; trú trong đó mà chằng trú vậy.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Bát Nhã Ba La Mật có pháp có thể thủ (khả thủ), có thể xả (khả xả) chăng?

Phật dạy: Chẳng phải vậy! Này Tu Bồ Đề! Bát Nhã Ba La Mật chẳng có Pháp có thể thủ, có thể xả. Vì sao? Vì hết thảy pháp đều chẳng thủ (Bất thủ), chẳng xả (bất xả).

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Bát Nhã Ba La Mật ở nơi những pháp nào, chẳng thủ, chẳng xả.?

Phật dạy:Này Tu Bồ Đề! Bát Nhã Ba La Mật ở nơi sắc, chẳng thủ, Chẳng xảm … dẫn đến ở nơi Vô Thượng Bồ Đề, chẳng thủ, chẳng xả.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế Tôn nào là Bát Nhã Ba La Mật chẳng thủ sắc, …dẫn đến chẳng thủ Vôn thượng Bồ Đề?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát chẳng niệm sắc …dẫn đến chẳng niệm Vô Thượng Bồ Đề gọi là Bồ Tát chẳng thủ sắc..dẫn đến chẳng thủ Vô Thượng Bồ Đề.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Nếu chẳng niệm sắc…dẫn đến chẳng niệm Vô thượng Bồ Đề, thì làm sao tăng trưởng được thiện căn?

Làm sao được đầy đủ các Ba La Mật? Làm sao được Vô Thượng Bồ Đề?

Phật dạy: Này Tu Bổ Đề! Bồ Tát chẳng niệm sắc …dẫn đến chẳng niệm Vô Thượng Bồ Đề là tăng trưởng thiện căn. Do tăng trưởng thiện căn nên được đầy đủ các pháp Ba La Mật,nên được Vô Thượng Bồ Đề! Vì sao? Vì chẳng niệm sắc…dẫn đến chẳng niệm Vô thượng Bồ Đề, thì lúc đó mới chính là được Vô Thượng Bồ Đề.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Vì sao ngay lúc chẳng niệm sắc …dẫn đến chẳng niệm Vô Thượng Bồ Đề là liền được Vô thượng Bồ Đề?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! Vì có niệm là còn chấp 3 cõi, chẳng niệm là chẳng có chỗ chấp trước. Vậy nên, Bồ Tát hành Bát Nhã Ba La Mật chẳng nên có chỗ chấp trước.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Nếu hành Bát Nhã Ba La Mật như vậy, thì Bồ Tát an trú ở chỗ nào?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát hành Bát Nhã Ba La Mật như vậy chẳng trú sắc, …dẫn đến chẳng trú nhất thiết chủng trí.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Vì sao Bồ Tát chẳng trú sắc, …dẫn đến chẳng trú nhất thiết chủng trí?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! Do chẳng chấp trước, nên chẳng trú. Vì sao? Vì Bồ Tát chẳng có pháp để chấp (khả chấp), có pháp để trú (khả trú). Vậy nên Bồ Tát ở nơi các pháp chẳng có chấp, chẳng có trú mà hành Bát Nhã Ba La Mật vậy.

Này Tu Bồ Đề!Nếu Bồ Tát dấy niệm, “Hành như vậy, tu như vậy là hành Bát Nhã Ba La Mật. Nay ta hành Bát Nhã Ba La Mật như vậy, thì đó là có chấp tướng, nên là xa lìa Bát Nhã Ba La Mật. Nếu xa lìa Bát Nhã Ba La Mật, thì xa lìa 5 Ba La Mật kia…dẫn đến xa lìa nhất thiệt chủng trí. Vì sao? Vì Bát Nhã Ba La Mật là chẳng có chỗ chấp, là tự tánh không. Nếu Bồ Tát chấp tường như vậy, thì ở nơi Bát Nhã Ba La Mật đã thối chuyển. Nếu thối chuyển nơi Bát Nhã Ba La Mật, thì cũng thối chuyển nơi Vô Thượng Bồ Đề, nên chẳng được thọ ký

Nếu Bồ Tát dấy niệm, “ Trú trong Bát Nhã Ba La Mật có thể danh 5 Ba La Mật kia …dẫn đến có thể sanh đại bi”, thì như vậy là đánh mất Bát Nhã Ba La Mật. Do đánh mất Bát Nhã Ba La Mật, nên chẳng thề sanh 5 Ba La Mật kia…dẫn đến chẳng thể sanh đại bi vậy.

Nếu Bồ Tát dấy niệm, “ Chư Phật biết các pháp mà chẳng thọ, chẳng tưởng, nên được Vô Thượng Bồ Đề”, rồi diễn nói, khai thị, giáo hóa như vậy, thì cũng là đánh mất Bát Nhã Ba La Mật. Vì sao? Vì ở nơi các pháp, chư Phật chẳng có chỗ biết (vô sở tri), chẳng có chỗ được (vô sở đắc), chẳng có chỗ Thuyết (vô sở thuyết), huống nữa là có chỗ được (hữu sở đắc). Chẳng thể nào như vậy được.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Bồ Tát phải hành Bát Nhã Ba La Mật như thế nào để chẳng phạm các lỗi lầm như vậy?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát hành Bát Nhã Ba La Mật mà tự nghĩ rằng: “Các pháp là vô sở hữu, nên chẳng thể chấp. Nếu các pháp là vô sở hữu, là chẳng thề chấp, nên cũng là chẳng thể được”, thì như vậy là hành Bát Nhã Ba La Mật.

Nếu Bồ Tát còn chấp pháp vô sở hữu, là xa  lìa Bát Nhã Ba La Mật. Vì sao? Vì trong Bát Nhã Ba La Mật chẳng có pháp để chấp, cũng chẳng có sự chấp pháp vậy.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Bát Nhã Ba La Mật xa lìa Bát Nhã Ba La Mật chăng? Đàn Ba La Mật xa lìa Đàn Ba La Mật chăng? Dẫn đến nhất thiết chủng trí xa lìa nhất thiết chủng trí chăng?

Bạch Thế Tôn! Nếu Bát Nhã Ba La Mật xa lìa Bát Nhã Ba La Mật …dẫn đến nhất thiết chủng trí xa lìa nhất thiết chủng trí, thì làm sao Bồ Tát được Bát Nhã Ba La Mật…dẫn đến được nhất thiết chủng trí?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! Khi hành Bát Nhã Ba La Mật, Bồ tát chẳng niệm sắc, chẳng niệm sắc ấy là gì ….dẫn đến chẳng niệm nhất thiết chủng trí,

Chẳng niệm nhất thiết chủng trí là gì, và ai được nhất thiết chủng trí. Như vậy là Bồ Tát thường sanh Bát Nhã Ba La Mật…dẫn đến thường sanh nhất thiết chủng trí.

Lại nữa, này Tu Bồ Đề ! khi hành Bát Nhã Ba La Mật, Bô Tát chẳng thấy sắc là thường hay là vô thường, là khổ hay là lạc, là ly hay là vô ngã, là không hay là bất không, là ly hay là phi ly. Vì sao? Vì tự tánh chẳng sanh được tự tánh.

Dẫn đến đối với nhất thiết chủng trí cũng là như vậy.

Nếu Bồ tát hành Bát Nhã Ba La Mật, mà quán sắc …dẫn đến quán nhất thiết chủng trí như vậy, thì thường sanh được Bát Nhã Ba La Mật…dẫn đến thường sanh được nhất thiết chủng trí.

Ví như vì chuyển luân thánh vương đi đến đâu, thì 4 binh chủng đều tháp tùng theo. Cũng như vậy, Bát Nhã Ba La Mật đến đâu, thì 5 Ba La Mật kia cũng tùy tùng theo . 5 Ba La Mật kia theo Bát Nhã Ba La Mật vào trong nhất thiết chũng trí, và an trú nơi đây.

Ví như người đánh giỏi, đánh cỗ xe “tứ mã” đi suốt lộ trình mà chẳng bao giờ bị mất hướng, tùy ý đi thẳng đến đích. Cũng như vậy, Bát Nhã Ba La Mật dẫn 5 Ba La Mật kia thẳng đến nhất thiết chủng trí, chẳng bao giờ mất chánh đạo.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế Nào gọi là “ đạo và thế nào gọi là “phi đạo” của Bồ tát?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! Thanh Văn đạo, Bích Chi Phật đạo là phi đạo của Bồ tát. Nhất thiết chủng trí là đạo của Bồ tát. Đó là “đạo” và “phi đạo” của Bồ Tát Ma Ha Tát.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Chư đại Bồ Tát, vì đại sự nhân duyên, mà phát khởi Bát Nhã Ba La Mật. Như vậy, đó có phải là khai thị và phân biệt rõ: “đạo” và “phi đạo” chăng?

Phật dạy: Đúng như vậy, đúng như vậy! Này Tu Bồ Đề! Bát Nhã Ba La Mật, vì đại sự nhân duyên, nên khởi. Đó là khai thị và phân biệt “đạo” và “phi đạo”.

 Này Tu Bồ Đề! Bát Nhã Ba La Mật, vì độ vô lượng chúng sanh nên khởi; vì lợi ích vô lượng chúng sanh nên khởi. Bát Nhã Ba La Mật tuy làm lợi ích chúng sanh, nhưng chẳng thọ sắc …đến chẳng thọ thức; cũng chẳng thọ Thanh Văn địa và Bích Chi Phật địa.

Này Tu Bồ Đề! Bát Nhã Ba La Mật vì chư Bồ tát chỉ bày đường dẫn đến Vô Thượng Bồ Đề. Khiến xa lìa được Thanh Văn địa và Bích Chi Phật địa, mà an trú trong nhất thiết chủng trí. Vì sao? Vì Bát Nhã Ba La Mật chẳng có chỗ sanh, chẳng có chỗ diệt, là các pháp thường trú vậy.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tốn! Nếu

Bát Nhã Ba La Mật chẳng có chỗ sanh, chẳng có chỗ diệt, thì vì sao Bồ tát hành Bát Nhã Ba La Mật lại phải tu bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề ! Bồ Tát niệm nhất thiết chủng trí, phải tu bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ rồi đem hết thảy công đức đó để cùng với hết thảy chúng sanh, đồng hồi hướng về Vô Thượng Bồ Đề. Như vậy là đầy đủ 6 pháp Ba La Mật, đầy đủ tâm từ bi cùng các công đức khác.

Này Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát chẳng xa lìa 6 pháp Ba La Mật, thì chẳng xa lìa nhất thiết chủng trí. Bởi vậy nên muốn được Vô Thượng Bồ Đề, Bồ Tát phải học và phải hành 6 pháp Ba La Mật.

Bồ Tát hành 6 pháp Ba La Mật mới được đầy đủ các thiện căn, dẫn đến sẽ được Vô Thượng Bồ Đề. Bởi vậy nên Bồ tát phải tập hành 6 pháp Ba La Mật.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Bồ Tát phải tập hành 6 pháp Ba La Mật như thế nào?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! Bồ tát phải quán sắc chẳng hợp, chẳng tan; quán “thọ, tưởng, hành, thức” chẳng hợp, chẳng tan; dẫn đến quán nhất thiết chủng trí chẳng hợp, chẳng tan. Như vậy à Bồ Tát tập hành 6 pháp Ba La Mật.

Lại nữa,  này Tu Bồ Đề ! Bồ Tát phải nên tự niệm rằng, “ Ta chẳng nên trú trong sắc, chẳng nên trú trong “ Thọ, tưởng, hành, thức”…dẫn đến chẳng nên trú trong nhất thiết chủng trí”. Như vậy là Bồ tát tập hành 6 pháp Ba La Mật. Vì sao? Vì sắc chẳng có chỗ trú …dẫn đến nhất thiết chủng trí chẳng có chỗ trú. Bồ tát dụng “vô sở trú pháp “ để tạp hành 6 pháp Ba La Mật, sẽ được Vô Thượng Bồ Đề.

Này Tu Bồ Đề! Ví như có người muốn ăn trái am la hoặc trái ba la na, thì phải ương hạt, tùy thời bón phân, tưới nước, chăm sóc mãi như vậy cho đến khi cây cao lớn mới có được quả ăn được. Cũng như vậy, Bồ tát muốn được Vô Thượng Bồ Đề phải học 6 pháp Ba La Mật, phải dùng bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định để nhiếp dộ chúng sanh, độ chúng sanh thoát khỏi sanh tử. Tập hành 6 pháp Ba La Mật như vậy sẽ mau được Vô Thượng Bồ Đề.

Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát muốn chẳng tùy theo lời người khác, thì phải học Bát Nhã Ba La Mật; muốn thanh tịnh Phật độ, muốn thành tựu chúng sanh, muốn tọa đạo tràng, muốn chuyển pháp luân, thì phải học Bát Nhã Ba La Mật.

Bồ tát muốn được tự tại ở nơi hết thảy các pháp, thì phải học Bát Nhã Ba La Mật. Vì sao? Vì được Bát Nhã Ba La Mật, thì ở nơi hết thảy các pháp đều được tự tại.

Lại nữa, này Tu Bồ Đề! Trong hết thảy các pháp, Bát Nhã Ba La Mật là tối đại. Ví như biển lớn dung chứa các nguồn nước từ nhiều dòng song chảy về, là tối đại. Cũng như vậy, Bát Nhã Ba La Mật dung nhiếp hết thảy các pháp, l2 tối đại.

Bởi vậy nên người muốn cầu Thanh Văn đạo, muốn cầu Bích Chi Phật đạo …dẫn đến muốn cầu Bồ Tát đạo, đều phải học Bát Nhã Ba La Mật.

Này Tu Bồ Đề! Ví như nhà thiện xạ điều khiển cung tên như ý muốn, nên chẳng sợ kẻ thù. Cũng như vậy, Bồ tát hành Bát Nhã Ba La Mật, thẳng đến nhất thiết chủng trí, chẳng còn bị các ma phá hoại nữa.

Bởi vậy nên, Bồ Tát muốn được Vô Thượng Bồ Đề, phải học Bát Nhã Ba La Mật. Vì sao? Vì Bồ Tát học Bát Nhã Ba La Mật được chư Phật trong khắp 10 phương hộ niệm.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Bồ Tát hành Bát Nhã Ba La Mật như thế nào, mà được chư Phật 10 phương thường hộ niệm?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! Bồ Tát hành Bát Nhã Ba La Mật được chư Phật trong khắp 10 phương hộ niệm, vì hành bố thí mà chẳng đắc bố thí, hành trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ v.v….dẫn đến hành nhất thiết chủng trí mà chẳng đắc. Do Bồ Tát được hết thảy pháp bất khả đắc như vậy, nên được chư Phật trong 10 phương thường hộ niệm.

Lại nữa, này Tu Bồ Đề! Chư Phật chẳng niệm sắc, chẳng niệm “thọ, tưởng, hành, thức”,… dẩn đến chẳng niệm nhất thiết chủng trí.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Chư Bồ tát học rất nhiều mà thật chẳng có chỗ học vậy.

Phật dạy: Đúng như vậy, đúng như vậy! Bồ Tát học rất nhiều, mà chẳng có chỗ học. Vì sao? Vì chỗ học của Bồ Tát là chỗ học các pháp đều bất khả đắc.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Chư Phật khi thuyết pháp, dù rộng thuyết, dù lược thuey6t1, đều dạy Bồ Tát “muốn cầu Vô Thượng Bồ Đề, phải học 6 pháp Ba La Mật”; dù rộng thuyết hay lược thuyết, đều dạy Bồ Tát phải thọ trì, than cận, đọc tụng 6 pháp Ba La Mật, rồi phải tư duy, chánh quán, chẳng để các tâm và tâm sở pháp hiện hành.

Phật dạy: Đúng như vậy, đúng như vậy! Này Tu Bồ Đề! Dù thuyết rộng, hay thuyết hẹp, thì Bồ Tát học 6 pháp Ba La Mật đều phải biết rõ các tướng rộng, hẹp của hết thảy các pháp.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Bồ tát phải làm thế nào để biết rõ các tướng rộng, hẹp của hết thảy các pháp ?

Phật dạy: Biết sắc là như tướng, biết “thọ, tưởng, hành, thức” là như tướng, … dẫn đến nhất thiết chủng trí là như tướng, là biết các tướng rộng, hẹp của hết thảy các pháp.

Ngàu Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là sắc như tướng …dẫn đến thế nào gọi là nhất thiết chủng trí như tướng ?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! Sắc như tướng là sắc chẳng sanh, chẳng trú, chẳng dị, chẳng diệt …dẫn đến nhất thiết chủng trí như tướng là nhất thiết chủng trí chẳng sanh, chẳng trú, chẳng dị, chẳng diệt.

Đây là sắc như tướng ….dẫn đến là nhất thiết chủng trí như tướng, Bồ tát phải như vậy mà học.

Lại nữa, Bồ tát biết thật tế của hết thảy các pháp, là biết các tướng rộng hẹp của hết thảy các pháp.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là thật tế của hết thảy các pháp?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! “ Vô tế” là “thật tế” Bồ tát học “ vô tế” như vậy, nên biết các tướng rộng, hẹp của hết thảy các pháp.

Lại nữa, Bồ Tát biết pháp tánh của hết thảy các pháp, là biết các tướng rộng, hẹp của hết thảy các pháp.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là pháp tánh của hết thảy các pháp?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! Sắc tánh gọi là pháp tánh. Tánh ấy chẳng phân (vô phân), cũng chẳng phải chẳng phân (vô phi phân). Do biết pháp tánh, Mà Bồ tát biết các tướng rộng, hẹp của hết thảy các pháp.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Bồ Tát lại còn phải làm thế nào để biết rõ các tướng rộng, hẹp của hết thảy các pháp?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! Bồ tát lại phải biết hết thảy các pháp là chẳng hợp, chẳng tan.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Những pháp gì chẳng hợp, chẳng tan?

Phật dạy: Này Tu Bồ Đề! Sắc chẳng hợp, chẳng tan, “thọ, tưởng, hành, thức” chợp, chẳng tan …dẫn đến nhất thiết chủng trí chẳng hợp, chẳng tan; hữu vi tánh chẳng hợp, chẳng tan,…dẫn đến vô vi tánh chẳng hợp, chẳng tan. Vì sao? Vì các pháp đều là tự tánh không, nên là chẳng hợp, chẳng tan.

Nếu các pháp là tự tánh không, thì tức là “phi pháp”; vì là chẳng phải pháp, nên là chẳng hợp, chẳng tan. Như vậy, gọi là biết các tướng rộng, hẹp của hết thảy các pháp.

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn! Như vậy gọi là Bồ tát lược nhiếp Bát Nhã Ba La Mật.

Bạch Thế Tôn! Bồ tát sơ phát tâm phải học lược nhiếp Bát Nhã Ba La Mật như vậy … dẫn đến Bồ Tát thập địa cũng phải học lược nhiếp Bát Nhã Ba La Mật như vậy. Bồ Tát học lược nhiếp Bát Nhã Ba La Mật như vậy, nên biết các tướng rộng, hẹp của hết thảy các pháp.

LUẬN:

Ngài Tu Bồ Đề nghe nói Bồ Tát có căn tướng thong lợi, khiến trú nơi 1 Ba La Mật có thể được đầy đủ cả 5 Ba La Mật kia là việc rất hy hữu, nên bạch Phật: Bồ Tát phát tâm trong bao nhiêu lâu mới được các lực phương tiện như vậy?

Phật dạy: Ngoại trừ các bậc đại Bồ tát, các Bồ Tát khác phát tâm trong vô lượng kiếp, mới có được đầy đủ các lực phương tiện như vậy. Vì từ sơ phát tâm trở về sau, Bồ tát còn bị nhiều tội lỗi ngăn che tâm tánh, khiến chẳng thấy các đức Phật, chẳng thân cận, cúng dường các đức Phật vậy.

Ngài Tu Bồ Đề lại hỏi: Bồ Tát đã cúng dường bao nhiêu đức Phật, mới có được các lực phương tiện như vậy?

Phật dạy: Bồ Tát đã cúng dường hằng sa đức Phật. Có Bồ tát đã cùng dường nhiều đức Phật, dù chưa phát tâm tu, chưa trồng thiện căn mà đã nghĩ rằng: “Ta thâm hành 6 pháp Ba La Mật, ắt sẽ được quả báo hành, vì thâm tâm hành 6 pháp Ba La mật là con đường dẫn đến Vô Thượng Bồ Đề”. Làm được công đức như vậy cũng gọi là trồng thiện căn rồi vậy.

Ngài Tu Bồ Đề lại hỏi: Bồ Tát đã trồng thiện căn như thế nào?

Phật dạy: Từ sơ phát tâm cho đến nay, Bồ Tát tu tập 6 pháp Ba La Mật, hành tất cả các phước đức, tu tập hết thảy các thiện pháp.

Ngài Tu Bồ Đề nghe Phật dạy như vậy, bạch Phật: Thất là hy hữu. Bồ Tát hành pháp như vậy được đại lực Phương tiện ; dù chưa đoạn sạch phiền não, chưa ra khỏi các đường sanh tử, mà đã được xem như đã đoạn sạch phiền não, đã thoát ly sanh tử. Từ vô thỉ đến nay nếu đã làm các ác pháp gì, thì hậu tâm của Bồ tát chẳng làm nữa, lại chẳng còn tùy tập các ác tâm nữa. Thật là hy hữu. Dù chúng sanh vô ơn, Bồ tát vẫn thường làm lợi ích cho họ; dù chúng sanh muốn đến sát hại, Bồ tát vẫn dùng mọi phương tiện để đem lại phước lạc và trí huệ cho họ. Các việc làm như vậy thật là hy hữu.

Phật ấn chứng lời nói của Ngài Tu Bồ Đề, và nêu lên các thí dụ sau đây để làm sáng tỏ vấn đề thêm nữa:

Mặt Trăng và mặt trời tỏa ánh sáng, chiếu khắp 4 châu thiên hạ. Nếu chẳng có mặt trăng, mặt trời, thì vạn vật sẽ chẳng có thể sanh trưởng được. Có mặt trăng cho âm khí, có mặt trời cho dương khí, thì vạn vật mới sanh trưởng được. Lợi ích của Bồ tát đối với hết thảy chúng sanh cũng là như vậy. Bồ tát dùng tâm đại bi, thương xót tất cả các loài chúng sanh, nên phát nguyện hành hết thảy các thiện pháp, lại dùng đại trí huệ, đem 6 pháp Ba La Mật gieo vào lòng chúng sanh, khiến các thiện pháp được tăng trưởng, dẫn chúng sanh thẳng đến Vô Thượng Bồ Đề.

Chúng sanh tuy có đôi mắt sáng, nhưng nếu chẳng có ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, thì chẳng có thề thấy được gì cả. Cũng như vậy, chúng sanh, dù có thể trí biện thông, nhưng nếu chẳng có Bát Nhã Ba La Mật soi sáng, thì đến quả Nhị Thừa còn chẳng được, huống nữa là được Vô Thượng Bồ Đề.

Bồ tát tuy có hành 5 Ba La mật kia, nhưng nếu chẳng có được trí huệ Bát Nhã Ba La Mật, thì chẳng thể gọi là hành các Ba La Mật. Vì sao? Vì nếu chẳng phá được sự chấp tâm, chẳng được lực Bát Nhã Ba La Mật hộ trì, thì dù có đem thân mạng ra bố thì, thì tâm bố thí đó cũng bị phá hoại . Ví như người phụ nữ chẳng có chồng rất dễ bị xâm  phạm. Trái lại, nếu được Bát Nhã Ba La Mật dẫn đạo, thì tâm bố thí đó chẳng thể bị phá hoại. Cho nên, dù Bồ tát có tu tập các thiện pháp, mà nếu chẳng có Bát Nhã Ba La Mật dẫn đạo, thì chẳng thể gọi là các Ba La mật, mà chỉ được gọi là hành các thiện pháp mà thôi.

Ví như vị chuyển luân thánh vương thường có 8 vạn 4 ngàn vị tiểu vương chầu hầu, có đầy đủ 7 báu1, lại thường ngự trên kim luân bảo do các thiên vương dâng hiến, đi khắp 4 châu thiên hạ, mới được gọi là chuyển luân thánh vương. Cũng như vậy, Bồ Tát tuy hành các thiện pháp, nhưng nếu chẳng có Bát Nhã Ba La Mật soi sáng, thì chẳng thề gọi là hành các Ba La Mật được. Vì sao? Vì Bồ tát ấy chẳng có thể trừ được các chướng ngại, nên chẳng hành Bồ tát đạo được.

Ví như một nước có binh hung, tướng mạnh, có đầy đủ vũ khí, thì các nước láng giềng chẳng thể xâm chiếm được. Cũng như vậy, Bồ tát hành Bát Nhã Ba La Mật, được lực Bát Nhã Ba La Mật hộ trì, thì các loài ma chẳng thể phá hoại được.

Lại ví như nước từ nhiều dòng song, khi đã chảy vào biển lớn chỉ còn một vị mặn. Cũng như vậy, 5 Ba La Mật kia, khi đã được Bát Nhã Ba La Mật đưa vào nhất thiết chủng trí, cùng với Bát Nhã Ba La Mật chẳng còn sai khác nữa.

Tóm Lại, người tu 5 Ba La mật kia phải được trí huệ Bát Nhã Ba La Mật soi sáng, dẫn đạo, mới đến được nhất thiết chủng trí vậy.

Chỉ có những hạng người chưa được Thánh đạo mới thường hủy bang Bồ tát hành Bát Nhã Ba La Mật. Những hạng người này dù có hành thiện pháp, nhưng tâm chẳng cùng Bát Nhã Ba La Mật tương ưng; họ thấy ác ma đến thọ ký, tin theo lời ác ma, nên khởi tâm kiêu mạn, khinh khi các người khác. Đây là trường hợp các ngoại đạo Phạm Chí các Bồ tát tăng thượng mạn.

Những hạng người này chẳng hành được thật tướng pháp. Chẳng nên vì họ thuyết về bố thí, mà nên khuyên họ hành “bình đẳng pháp”, là cửa ban đầu để nhập vào Bát Nhã Ba La Mật.

Còn đối với người độn căn, hoặc đã có phạm trọng tội, thì nên dạy họ hành bố thí để phá tan tham, hành trì giới để phá phiền não, hành nhẫn nhục để khai phước đức, hành tinh tấn như gió thổi lửa cháy để tiêu trừ giải đãi, hành thiền định để nhiếp tâm quán thật tướng các pháp.

Hỏi: Vì sao nói 5 Ba La mật kia phải được Bát Nhã Ba La Mật thủ hộ mới vào được nhất thiết chủng trí?

Đáp: Trước đây đã nói rằng Bát Nhã Ba La Mật có rất nhiều tên. Ví dụ Tát Bà Nhã, Nhất Thiết Chủng Trí…là những tên khác của Bát Nhã Ba La Mật.

Tu 5 Ba La Mật kia là tu phước đức; tu Bát Nhã Ba La Mật là tu trí huệ. Được thanh tịnh Bát Nhã Ba La Mật là vào được Phật đạo. Nơi đây, Bát Nhã Ba La Mật đổi tên là Tát Bà Nhã, hay là Nhất Thiết Chủng Trí.

-o0o-

Ở đoạn kinh trên đây có nêu lên nhiều thí dụ cho thấy vai trò dẫn đạo của Bát Nhã Ba La Mật:

Người làm tay phải làm các công việc được nhiều thuận lợi hơn người dùng tay trái, dụ cho người tu có lực phương tiện Bát Nhã Ba La Mật thù thắng hơn người tu mà chẳng có lực phương tiện Bát Nhã Ba La Mật.

Người có mắt sáng thành tựu dễ dàng các việc, dụ cho người tu có được trí huệ Bát Nhã Ba La Mật soi sáng có thể thành tựu được các công đức.

Vị chuyển luân thánh vương ngự trên luân bảo dẫn đạo 4 binh chủng, dụ cho Bát Nhã Ba La Mật dẫn đạo 5 Ba La Mật kia, phá tan giặc phiền não, thẳng đường đến nhất thiết chủng trí

-o0o-

Vào trong Bát Nhã Ba La Mật rồi, thì chẳng còn có phân biệt, chẳng còn có thương ghét, vì Bát Nhã Ba La Mật là vô phân biệt

Nơi đây, Phật nói lên các nhân duyên rằng, “Hết thảy các pháp đều là tánh không, là vô sở hữu”.

Ngài Tu Bồ Đề nghe Phật dạy như vậy, bèn hỏi Phật: Nếu hết thảy pháp đều là vô sở hữu, thì làm sao Bồ Tát tu 6 pháp Ba La Mật mà vào được Vô Thượng Bồ Đề?

Phật dạy: Bồ Tát hành 6 pháp Ba La Mật là hành rốt ráo không. Vì chúng sanh chẳng biết như vậy, nên sanh tâm chấp đắm. Do vậy mà Bồ Tát tự niệm rằng, “Nếu chẳng dùng lực phương tiện Bát Nhã Ba La Mật, thì chẳng sao độ thoát được chúng sanh”.

Lực phương tiện, nói ở đây, bao gồm sắc thân của Bồ Tát, các pháp môn mà Bồ Tát tu tập như: 10 Phật lực, 4 vơ sở úy, 4 vô ngại trí, 18 bất cộng pháp, đại, từ, đại, bi, cùng vô lượng Phật pháp khác. Bồ Tát có được các lực phương tiện như vậy, mới giáo hóa chúng sanh, khiến họ sanh tâm tín thọ. Người có đầy đủ các lực phương tiện như trên, thì hết thảy lời nói ra đều được chúng sanh tín thọ.

Chư Phật và chư đại Bồ Tát biết rõ thật tướng pháp tức là Niết Bàn tướng, nhưng vì lợi ích chúng sanh, mà các ngài phải hành đầy đủ cả 6 pháp Ba La Mật, để hóa độ chúng sanh.

Ngài Tu Bồ Đề lại bạch Phật: Nếu các pháp là rốt ráo không, thì chẳng có sai khác nhau. Như vậy vì sao nói trong các Ba La Mật, thì Bát Nhã Ba La Mật là vi diệu, tối đại?

Phật dạy: Trong rốt ráo không, thì các Ba La Mật chẳng có khác biệt nhau, nhưng nếu chẳng có Bát Nhã Ba La Mật, thì 5 Ba La Mật kia chẳng thể được gọi là Ba La Mật. Chỉ khi nào được Bát Nhã Ba La Mật dẫn đạo, đưa đến nhất thiết chủng trí rồi, thì 5 Ba La Mật kia mới cùng với Bát Nhã Ba La Mật chẳng còn sai khác nữa. Bởi vậy nên nói “Bát Nhã Ba La Mật là vi diệu, tối đại”.

Ngài Tu Bồ Đề muốn được Phật giải thêm, nên lại hỏi: Theo như thật nghĩa, thì chẳng có sai khác; vì sao nói trong các Ba La Mật, thì Bát Nhã Ba La Mật là hơn hết? Người chưa vào được thánh đạo “không”, thì thấy có sai khác. Nay đã vào được thánh đạo “không” rồi, thì ở nơi đệ nhất nghĩa, thánh đạo “không” là tối thượng. Người đã tin được như vậy, thì chẳng thấy có sai khác vậy.

Phật dạy: Đúng như vậy. Sở dĩ nói có 6 Ba La Mật, thì đó là dùng thể trí để phân biệt nói ra. Vì sao? Vì người đời chẳng thể hiểu được thật tướng pháp, nếu ngh nói về thật tướng pháp, thì họ sẽ càng thêm mê muội, càng thêm nghi hối. Nếu dùng thế đế, dùng ngôn ngữ thế gian, thì phải phân biệt nói có 6 pháp Ba La Mật để giao hóa chúng sanh; nhưng nếu dùng Đệ nhất nghĩa đế, thì chúng sanh vốn là không, các pháp cũng vốn là không, nên đều là chẳng có sanh, chẳng có khởi. Bát Nhã Ba La Mật tuy là không mà thường khai thị các pháp như vậy nên là đệ nhất, vi diệu, tối thượng trong các Ba La Mật. Cũng như trong hàng phụ nữ, thì Ngọc Nữ là đệ nhất, vi diệu, tối thượng. Ngài Tu Bồ Đề lại hỏi: Do ý gì mà Phật nói Bát Nhã Ba La Mật là tối diệu, tối thượng?

Phật dạy: Vì Bát Nhã Ba La Mật nhiếp hết thảy các thiện pháp, dẫn đến nhất thiết chủng trí, và trú trong đó, mà chẳng trú vậy. Vì sao? Vì hết thảy các pháp đều là không, nhất thiết chủng trí là không, nhưng nhờ có Bát Nhã Ba La Mật dẫn đạo, mà 5 Ba La Mật kia đều đến được  nhất thiết chủng trí vậy.

Hỏi: Hành các thiện pháp là có thể đến được nhất thiết chủng trí, vì sao nói chỉ có Bát Nhã Ba La Mật mới là diệu pháp dẫn đến nhất thiết chủng trí?

Đáp: Tuy nói dep phá được các phiền não là vào được Vô Thượng Bồ Đề, nhưng phải biết rằng trong sự dẹp phá phiền não này, thì công sức của trí huệ là tối đại. Ví như đại quân phải nhờ có sự chỉ huy sáng suốt của vị chủ tướng, thì mới chẳng được quân giặc.

Như có thuyết nói, “Nếu chẳng được Bát Nhã Ba La Mật dẫn đạo, thì các thiện pháp chẳng sao đến được nhất thiết chủng trí; còn Bát Nhã riêng một mình vẫn có thể thẳng đến nhất thiết chủng trí”.

Hỏi: Trong kinh có nói, “Ở cõi nước của đức Phật Sư Tử Lôi Âm, có các cây báu trang nghiêm, thường phát ra vô lượng âm thanh thẳng diệu, nói lên các nghĩa về không, về vô sanh, về vô diệt v.v… của hết thảy các pháp”. Đây là nói nhân duyên các chúng sanh ở cõi nước ấy, từ khi mới sanh ra đời chẳng hề khởi ác tâm; khi nghe được các âm thanh đó là liền được vô sanh pháp nhẫn. Tất cả các chúng sanh ở cõi nước ấy chẳng cần tu các thiện pháp, chẳng cần bố thí, trì giới v.v… mà vẫn được đạo.

Lại nữa, có những người cuồng si, những người say rượu v.v… chỉ theo Phật nghe thuyết về 4 thánh đế, mà tức thời được đạo.

Như vậy vì sao chẳng nói đến các trường hợp này?

Đáp: Các trường hợp nêu trên đây chẳng phải là các trường hợp được đạo của hàng Bồ tát.

Mẫu đối thoại sau đây giữa ngài Tu Bồ Đề và Phật sẽ giải thích rõ về nghi vấn này.

-o0o-

Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật : Bát Nhã Ba La Mật là rốt ráo không, chẳng chấp thánh pháp, cũng chẳng xả phàm phu pháp. Như vậy vì sao lại nói Bát Nhã Ba La Mật nhiếp hết thảy các thiện pháp, đưa hết thảy các thiện pháp đến an trú trong nhất thiết chủng trí; trú trong đó, mà chẳng có trú?

Phật dạy: Đúng như vậy. Bát Nhã Ba La Mật chẳng thủ các pháp, cũng chẳng xả các pháp.Đó là nghĩa. “Tuy rằng Bát Nhã Ba La Mật đưa hết thảy các thiện pháp vào nhất thiết chủng trí, mà chẳng chấp, chẳng trú”.

Nơi đây, Phật nói lên nhân duyên hết thảy pháp đều chẳng có tướng khả thủ (có thể thủ), chẳng có tướng khả xả (có thể xả). Vì sao? Vì các pháp, từ sắc, …dẫn đến Vô Thượng Bồ Đề đều theo nhân duyên sanh, nên là chẳng thủ, chẳng xả vậy.

Ngài Tu Bồ Đề hỏi: Nếu chẳng niệm các pháp, thì làm sao mà tăng trưởng được thiện căn? Nếu thiện căn chẳng được tăng trưởng, thì làm sao đến được Vô Thượng Bồ Đề?

Phật dạy: Bồ Tát trú nơi 3 giải thoát môn “không, vô tướng và vô tác” nên diệt các pháp tướng ngay trong ức niệm. Vào trong 3 giải thoát môn tức là vào trong thật tướng pháp. Bởi vậy nên, tuy Bổ Tát có thành tựu thiện căn, mà chẳng chấp tướng thiện căn.

Ví như khi trồng lúa, dù cây mạ tốt mà trong ruộng đầy dẫy cỏ dại, thì cây lúa mọc lên sẽ chẳng thể tăng trưởng tốt đẹp được. Cũng như vậy, do chúng sanh thường ức niệm, thường chấp tướng, nên thường sanh vào trong 3 cõi; trái lại, nếu chẳng ức niệm, thì chẳng chấp, mà nếu chẳng chấp, thì chẳng sanh vậy.

Ngài Tu Bồ Đề nghe Phật dạy, liền tư duy, trù lượng, rồi tự nghĩ rắng, “ Nếu các pháp là rốt ráo không, thì là vô sở hữu; mà đã là vô sở hữu, thì cũng là vô sở đắc, vô sở trú vậy”.

Do suy nghĩ như vậy, nên ngài hỏi Phật: Bồ Tát hành Bát Nhã Ba La Mật sẽ an trú ở chỗ nào, và sẽ đắc pháp gì?

Phật dạy: Bồ Tát chẳng trú nơi hết thảy pháp, dẫn đến chẳng trú nơi “chỗ chẳng trú” đó. Do chẳng trú nên chẳng chấp. Bồ Tát chẳng thấy pháp có thể chấp, chẳng thấy pháp có thể trú …dẫn đến chẳng thấy người chấp pháp, chẳng thấy có người trú pháp. Bồ tát trú pháp như vậy, nên chẳng có ai có thể phá hoại được.

Trái lại, nếu Bồ Tát trú trong chúng sanh không và trong pháp không, mà còn dấy niệm nghĩ rằng, “Ta có hành pháp như vậy”, thì đó là xa lìa Bát Nhã Ba La Mật. Vì sao? Vì Bát Nhã Ba La Mật là chẳng có chấp tướng, mà Bồ tát dụng ngã tâm, bên ngoài chấp pháp không, bên trong chấp ngã không. Như vậy là chẳng phải như thật hành Bát Nhã Ba La Mật, là xa lìa Bát Nhã Ba La Mật vậy.

Vì sao? Vì Bát Nhã Ba La Mật là chẳng chấp tướng, là tánh không. Nếu chấp “không” là có lỗi, phải phá chấp “không” mới vào được Bát Nhã Ba La Mật. Thế nhưng, nếu còn chấp Bát Nhã vô tánh cũng là có lỗi. Do có 2 lỗi lầm đó, nên chẳng thể được thọ ký.

Lại nữa, nếu dấy niệm, “trú trong Bát Nhã Ba La Mật thường sanh bố thí, trì giới v.v… cũng là có lỗi”.

Hỏi: Nói đến 2 lỗi lầm trên còn hợp lý; nhưng vì sao nói “ Trú trong Bát Nhã Ba La Mật” cũng có lỗi?

Đáp: Người phạm 2 lỗi lầm, hoặc chấp không, hoặc chấp vô tánh pháp đều có lỗi. hạng người này chẳng tu được các công đức bố thí, trì giới v..v…, rồi dẫn sanh tà kiến, dấy niệm nghĩ rằng, “nếu các pháp đều không, thì phải y vào đâu mà tu hành?”

Lại có người, tuy chẳng chấp không, chẳng chấp vô tánh pháp, nhưng nếu còn dấy niệm rằng; “Ta phải chẳng chấp không, chẳng chấp vô tánh pháp, mà hành các công đức, mới thấy là hành chân đạo”, thì đó cũng là có lỗi. Vì sao? Vì tâm còn hy vọn, còn mong cầu, nên mất Bát Nhã Ba La Mật.

Nếu mất Bát Nhã Ba La Mật, thì chẳng hành được bố trí, trì giới v.v…dẫn đến chẳng sanh được tâm đại bi. Vì sao? Vì Vô Thượng Bồ Đề là chân thật pháp, nên người dụng tâm chấp mà hành Bát Nhã Ba La Mật chỉ là hành tương tự Bát Nhã Ba La Mật, chẳng sao có thể đến được Vô Thượng Bồ Đề vậy.

Trái lại nếu người niệm hết thảy các pháp mà chẳng chấp tướng, thì chư Phật liền biết người ấy sẽ được Vô Thượng Bồ Đề.

Lại nữa, có người cầu “không”, cầu “vô tánh”, nhưng biết mình chưa tận đoạn phiền não, chẳng thể làm Phật được, nên chỉ nghe Phật mà chẳng tư duy, phân biệt, tự mình chẳng như thuyết tu tập, thì cũng có lỗi. Vì sao? Vì chư Phật trú nơi vô sở đắc, mà người này chỉ chấp nghĩa; vì các pháp đều là tướng tịch diệt, chẳng có hý luận, mà người này chỉ chấp giả danh tự vậy.

Ngài Tu Bồ Đề nghĩ rằng, “Người chấp không cũng có lỗi, mà người trú trong không cũng có lỗi:, nên ngài hỏi Phật: Hành giả phải làm sao để tránh những lỗi lầm như vậy?

Phật dạy: Nếu biết rõ các pháp đều là rốt ráo không, là vô sở hữu, là chẳng thể chấp, chẳng thể thủ, chẳng thể đắc, mà tu hành, thì như vậy là chẳng có lỗi lầm. Trái lại, nếu chấp rốt ráo không, chấp vô tánh, chấp chỗ hành Bồ tát đạo v.v… thì đều là có lỗi cả. Bồ tát hành Bồ tát đạo phải xả tâm chấp. Nếu còn chấp chỗ Phật hành đạo, mà dấy niệm rằng, “Chỗ Phật hành đạo là chân thật đạo; ta cũng phải theo Phật hành hết thảy các pháp vô sở hữu, bất khả thủm bất khả đắc”, thì như vậy cũng là có lỗi. Vì sao? Vì Bồ Tát phải biết rằng ở trong tâm Phật, thì chỗ đắc là vô sở đắc. Nếu Bồ tát biết rõ chỗ đắc của chư Phật là vô sở đắc, thì chẳng còn tham quý chư Phật, chẳng còn khinh khi các người hạ tiện. Do nghĩ như vậy mà khởi sanh được tâm bình đẳng, vô phân biệt. Như vậy mới là hành thanh tịnh Bát Nhã Ba La Mật, chẳng có các lỗi lầm. Vì sao? Vì chẳng ly tự tướng, thì có lỗi chấp pháp; ly tự tướng là chẳng chấp pháp vậy.

Ngài Tu Bồ Đề hỏi Phật: Nếu ly tự tướng, thì làm sao mà hành Bát Nhã Ba La Mật?

Phật dạy: Nếu Bồ Tát, ở nơi hết thảy các pháp, chẳng sanh tâm, thì đó là hành Bát Nhã Ba La Mật. Nếu Bồ tát chẳng niệm sắc, chẳng niệm sắc ấy là gì …dẫn đến chẳng niệm nhất thiết chủng trí, chẳng niệm nhất thiết chủng trí là gì, thì đó là hành Bát Nhã Ba La Mật. Nếu Bồ tát chẳng thấy sắc là thường hay là vô thường, là khổ hay là lạc, là ngã hay là vô ngã, là không hay là bất không, là khổ hay là lạc, là ngã hay là vô ngã, là không hay là bất không, là ly hay là phi ly, thì đó là hành Bát Nhã Ba La Mật.

Sắc là như vậy…dẫn đến nhất thiết chủng trí cũng là như vậy, là rốt ráo không, là chẳng có sanh, chẳng có khởi, nên là chẳng có thể tầm cầu mà được vậy. Vì sao? Vì tánh chẳng thể sanh tánh, vô tánh chẳng thể sanh vô tánh.

Như vậy, công đức phá các chấp điên đảo, đưa đến thật luận nghi đều do nơi lực Bát Nhã Ba La Mật mà được thành tựu. Bởi vậy nên 5 Ba La Mật đều tùy theo Bát Nhã Ba La Mật.

Vì như vị chuyển luân thánh vương đi đâu, thì 4 binh chủng đều theo bảo luân mà hành động. Cũng như vậy, hết thảy các thiện pháp đều được Bát Nhã Ba La Mật đưa về Phật tánh, để cùng đến Phật đạo.

Ví như người dùng xe “tứ mã” để đi đến một nơi nào, tuy nói nhờ xe, nhờ ngựa, nhưng thực sự phải có người đánh xe khéo điều khiển 4 con ngựa mới đưa cỗ xe đến nơi đến chốn được. Cũng như vậy, tuy hành bố thí, trì giới v.v…đều có công đức, nhưng phải có sự dẫn đạo của Bát Nhã Ba La Mật, thì mới mong đến được Vô Thượng Bồ Đề.

Ngài Tu Bồ Đề hỏi Phật: Thế nào gọi là đạo và thế nào gọi là phi đạo của Bồ tát?

Phật dạy: Nhị Thừa đạo là phi đạo của Bồ tát; hành Bát Nhã Ba La Mật dẫn đến Phật đạo là đạo của Bồ tát Lời ta nói đây là y nơi nhân mà nói đến quả. Người theo thô sự, do chẳng hiểu đến, nên chẳng có nghi; người theo tế sự mới nghi, nền mới nạn hỏi.

Ngài Tu Bồ Đề hoan hỷ tán than, và bạch Phật: Bát Nhã Ba La Mật vì đại sự nhân duyên mà khởi.

Phật dạy: Đúng như vậy, Bát Nhã Ba La Mật vì đại sự nhân duyên mà khởi. Bát Nhã Ba La Mật dẫn đường đến Vô Thượng Bồ Đề, vì Bát Nhã Ba La Mật chẳng có chỗ sanh, chẳng có chỗ diệt, là các pháp thường trú vậy.

Ngài Tu Bồ Đề hỏi: Nếu các pháp là vô sanh, vô diệt, thì vì sao Bồ tát còn hành bố thím trì giới …để làm gì nữa?

Phật dạy: Bát Nhã Ba La Mật là vô sanh, vô diệt, là rốt ráo không. Vì là rốt ráo không, nên chẳng ngăn ngại sự tu tập 6 pháp Ba La Mật. Bồ Tát vì nhất thiết chủng trí mà hành bố thí, trì giới v.v… đề rồi đem hết thảy các công ấy, cùng với hết thảy chúng sanh đồng hồi hướng về Vô Thượng Bồ Đề. Trong sự hồi hướng đó, Bồ Tát được đầy đủ 6 pháp Ba La Mật, đầy đủ tâm từ bi, xa lìa các chấp điên đảo, dụng tâm bình đẳng thành tựu các thiện căn công đức.

Ngài Tu Bồ Đề hỏi: Bồ Tát phải tập hành 6 pháp Ba La Mật như thế nào?

Phật dạy: Bồ Tát phải quán hết thảy pháp chẳng hợp, chẳng tan. Các pháp di nhân duyên hòa hợp mà giả danh tạm có, nhưng phàm phu do điên đảo chấp tướng mà hư

Vọng cho là có hợp, có tan. Vì biết rõ các pháp đều chẳng hợp, chẳng tan, đều như huyễn, như hóa nên Bồ Tát thường giữ tấm thanh tịnh, chẳng hề sanh tâm cao ngạo.

Lại nữa, vì biết rõ các pháp đều chẳng có trú xứ, nên Bồ Tát an trú trong “vô trú pháp” mà được Vô Thượng Bồ Đề.

Trong kinh có nêu thí dụ: Nhân là Bát Nhã Ba La Mật, quả là Vô Thượng Bồ Đề. Người muốn được Vô Thượng Bồ Đề phải gây nhân Bát Nhã Ba La Mật. Ví như phải ương hạt mới có cây, phải bón phân, tưới nước, cho cây lớn lên rồi mới có quả ăn được. Cũng như vậy, Bồ tát phải trồng chánh nhân là Phật, tức là Bát Nhã Ba La Mật, lại phải hành đầy đủ 5 Ba La Mật kia; tuy nay chưa có quả mà thời gian sau quyết định sẽ được quà Vô Thượng Bồ Đề.

Trong kinh cũng có nói, “ Bồ Tát chẳng nên tùy theo người tu các hạnh khác, mà phải tu thật tướng pháp. Nếu có người tà kiến đến phá, thì cũng chẳng nên tùy thuận theo. Vì sao? Vì muốn thanh tịnh Phật độ, muốn thành tựu chúng sanh, thì phải học Bát Nhã Ba La Mật.

Ngài Tu Bồ Đề hỏi: Hết thảy các pháp tướng đều bình đẳng. Như vậy vì sao Bồ tát phải tu học Bát Nhã Ba La Mật?

Phật dạy: nếu học Bát Nhã Ba La Mật, thì ở nơi hết thảy pháp đều được tự tại. Cho ne6nm Bồ tát phải học Bát Nhã Ba La Mật. Vì sao? Vì ở trong hết thảy pháp thì Bát Nhã Ba La Mật là tối đại, ví như so với muôn ngàn con sông, thì biển cả là lớn hơn hết. Nếu Bồ tát được tự tại ở nơi hết thảy pháp, thì chẳng ai có thể phá hoại được. Bồ Tát thường tu tập Bát Nhã Ba La Mật như vậy là được tương ưng với Phật, nên được chư Phật trong khắp 10 phương hộ niệm.

Ngài Tu Bồ Đề hỏi: Bồ tát hành Bát Nhã Ba La Mật như thế nào mới được chư Phật khắp 10 phương hộ niệm?

Phật dạy: Bồ tát hành 6 pháp Ba La mật, mà phải quán 6 pháp ấy là rốt ráo không, mới đượcchư Phật 10 phương hộ niệm.

Bồ tát hành sắc …dẫn đến hành nhất thiết chủng trí, mà chẳng thọ, chẳng chấp, vì biết rõ hét thảy pháp đều là hư vọng, chẳng thật có, nên được chư Phật 10 phương thường hộ niệm. Vì sao? Vì lúc bấy giờ, Bồ tát đã chứng được pháp thân thanh tịnh, đồng thể tương ưng với chư Phật vậy.

-o0o-

Bồ tát học 6 pháp Ba La Mật, nhưng đồng thời cũng học hết thảy các pháp thế gian. Bồ tát học các pháp của phàm phu mà biết rõ các pháp ấy cũng đều là rốt ráo không.

Bồ Tát học khởi pháp, và cũng học diệt pháp. Còn phàm phu chỉ biết khởi mà chẳng biết diệt; hàng Nhị Thừa học diệt mà chẳng học khởi. Bồ tát phải học cả khởi lẫn diệt, nên phải học nhiều. Đối với Bồ tát thì khởi pháp và diệt pháp đều là như mộng, như huyễn, nên tuy học nhiều, mà xem như chẳng có học gì cả. Do học như vậy, nên Bồ tát được vô sở đắc.

Ngài Tu Bồ Đề thưa: Chư Phật thue6t1 pháp, dù thuyết rộng hay hẹp, thì chỗ nên học vẫn là chỗ vô sở đắc.

Ý Ngài Tu Bồ Đề muốn nói rằng, “Bồ tát phải học đầy đủ 8 vạn 4 ngàn pháp môn trình bày đầy đủ trong 12 bộ kinh, vừa rộng vừa hẹp, tổng nhiếp cả 3 thừa giáo, nhưng lại phải dùng trí huệ Bát Nhã Ba La Mật để hành 6 pháp Ba La Mật, mới đến được Vô Thượng Bồ Đề. Hết thảy các pháp môn tu, dù rộng, dù hẹp, Bồ tát đều phải thân cận, tu học, tư duy, đọc tụng, mãi như vậy cho đến khi nào được vô tướng tam muội, chẳng để cho các tâm và tâm sở pháp hiện hành”.

Phật dạy: Bồ tát học như vậy mới biết được các tướng rộng, hẹp của hết thảy các pháp.

Rộng là nói đến 8 vạn 4 ngàn pháp môn tu, cùng vô lượng Phật pháp. Hẹp là nói đến 1 tiểu phẩm trong kinh Bát Nhã Ba La Mật …dẫn đến 1 đoạn nhỏ trích trong tiểu phẩm đó.

Rộng là nói về vô lượng biệt tướng sai khác nhau của các pháp. Hẹp là nói hết thảy pháp đều là không, vô tướng vô tác, vô sanh, vô diệt

Ngài Tu Bồ Đề hỏi: Bồ tát phải làm thế nào đề biết rõ các tướng rộng, hẹp của hết thảy các pháp?

Phật dạy: Biết hết thảy pháp là như tướng, là bất sanh, bất trú, bất dị, bất diệt, là biết các tướng rộng, hẹp của hết thảy pháp.

Ngài Tu Bồ Đề hỏi: Nếu như tướng là vô sanh tướng, thì làm sao có thể biết được tổng tướng và biệt tướng của hết thảy pháp?

Phật dạy: Như tướng là thật tướng của các pháp, thường trú, bất hoại, chẳng có tùy thuộc theo các quán. Bồ tát được như tánh, nên phá được hết thảy các vô minh, tà kiến điên đảo. Vì như thật biết được thật pháp của vũ trụ, nên ở trong thế gian Bồ tát biết rõ được tổng tướng cùng biệt tướng của vạn vật. trái lại, hàng phàm phu, vì bị vô minh ngăn che chân trí huệ, chẳng có được huệ nhãn, nên chẳng có thể thấy biết một cách chân thật được. Sự thấy biết của phàm phu đều là bệnh hoạn cả.

Ngài Tu Bồ Đề hỏi: Pháp tướng chân thật là không, là vô tướng, là vô tác. Như vậy, khi trí huệ đã diệt rồi, thì làm sao biết được như thật pháp tướng? Làm sao biết được tổng tướng và biệt tướng của hết thảy các pháp?

Phật dạy: Vì ông ở nơi pháp tánh mà chấp tướng, nên mới nạn hỏi. Nếu ông biết rõ được “như tánh”, thì chẳng còn gì để nạn hỏi nữa. Vì sao? Vì “như tánh” là vô tướng, là như như, là rốt ráo không, nên chẳng ngại tổng tướng và biệt tướng. Lúc bấy giờ, Bồ tát đã thành tựu được huệ nhãn thanh tịnh, nên mới như thật biết, như thật thấy vậy. Ví như một người ở tuổi trưởng thành có thể thấy biết được những việc khờ dại mà mình đã làm trong thời thơ ấu.

Bồ tát sau khi đã có huệ nhãn thanh tịnh, đã vào được thật tướng các pháp rồi, lại thị hiện thọ thân, sanh vào trong 3 cõi để độ sanh.

Vì đã được giải thoát an lạc, đã thấy rõ 6 tình là hư vọng, là nguồn gốc khổ đau, nên dù vẫn dùng 6 căn, duyên 6 trần, khởi 6 thức, mà Bồ tát vẫn thường thấy tịch diệt. Như vậy gọi là Bồ Tát biết tổng tướng và biệt tướng của các pháp.

Bồ Tát biết rõ các pháp thế gian, dù bậc thượng, trung, hay hạ, đều là bất tịnh, là vô thường, khổ, không, vô ngã, lại biết rõ 8 vạn 4 ngàn pháp môn tu ở thế gian cũng lầm lỗi. Như vậy gọi là Bồ Tát biết tổng tướng và biệt tướng của các pháp.

Bồ Tát cũng biết rõ “như như pháp tánh thật tế” là gốc của vạn vật nên biết rõ tổng tướng và biệt tướng của hết thảy các pháp đều là “như như pháp tánh thật tế”, nhưng vẫn tùy thuận thế gian mà phân biệt mỗi pháp có tướng sai khác.

-o0o-

Phật dạy, “vô tế” là “thật tế” là vô tướng, nên chẳng có pháp có thể chấp.

Khi đã biết rõ “pháp tánh”, thì biết rõ hết thảy các sắc tánh đều là pháp tánh, đều là “vô phân”, “vô phi nhân” cả.

Nói “vô phân” là nói các pháp chẳng thể chỉ bày được. Đây cũng có nghĩa là vô tướng, vô lượng, vô phân biệt.

Nói “vô phi nhân” là chẳng chấp vô tướng, chẳng chấp vô lượng, là phá hết thảy tướng và lượng, phá hết thảy các pháp tướng

Bồ Tát vào 3 giải thoát môn “không, vô tướng và vô tác”, trú trong “như như bình đẳng pháp”, nên biết được tổng tướng và biệt tướng của hết thảy các pháp.

(Hết Quyển 82)

CHÚ THÍCH

  1. Bày báu (Thất Bảo) nói đây là 7 thứ quý báu nhất của vị chuyển luân thánh vương, gồm: 1. Luân bảo, còn gọi là kim luân bảo, là cổ xe quý bằng vàng ròng. 2. Tượng bảo là con voi quý. 3. Mã bảo là con ngựa quý. 4. Nữ bảo là người đàn bà đẹp nhất được chọn làm vị Hoàng Hậu. 5. Bảo ma ni châu là viên ngọc quý. 6. Chủ tang Thần là vị quan giữ kho báu. 7. Chủ binh Thần là vị quan thống lãnh các binh chủng.