Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

PHẬT THUYẾT HẢI LONG VƯƠNG KINH

Hán dịch: Đời Tây Tấn, Tam tạng Pháp sư Trúc Pháp Hộ, người nước Nguyệt Chi
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

QUYỂN 1

Phẩm 1: HẠNH

Nghe như vầy:

Một thuở, Đức Phật ở trên núi Linh thứu tại thành Vương xá cùng với chúng đại Tỳ-kheo gồm tám ngàn vị, một vạn hai ngàn vị Bồ-tát và tất cả đại Thánh từ mười phương đến hội đủ. Các vị ấy đầy đủ cả đức, được các tổng trì, hiểu biết rộng rãi, biện tài chí chân, giải quyết được tất cả nghi ngờ, vào đại thần thông, phân biệt nghĩa tuệ các Độ vô cực, qua đến bờ kia, bậc Khai sĩ thông suốt, định ý chánh thọ, các Đức Phật ngợi khen, đi khắp mọi khu vực khác, đi bằng thần túc, hàng phục hóa độ chúng ma, phân biệt các pháp biết đúng như nguồn gốc chân thật, nhìn thấy căn nguyên của tất cả chúng sinh, tích lũy đạo phẩm, ở trong tám pháp của thế gian mà không chấp trước, dùng đại Từ bi trang nghiêm thân miệng ý, mặc áo giáp vô cực, vượt qua đại tinh tấn ở vô số kiếp mà chẳng chán mệt, làm tiếng gầm sư tử khai hóa ngoại đạo, dùng không thoái chuyển in dấu ấn chân như, hiểu rõ pháp tạng thâm yếu của chư Phật.

Những vị ấy tên là Bồ-tát Sơn Quang, Bồ-tát Tuệ Sơn, Bồ-tát Đại Minh, Bồ-tát Tổng Trì Sơn Cương, Bồ-tát Sơn Khải Vương, Bồ- tát Sơn Đỉnh, Bồ-tát Sơn Tràng, Bồ-tát Sơn Vương, Bồ-tát Thạeh Ma Vương, Bồ-tát Lôi Âm, Bồ-tát Vũ Vương, Bồ-tát Bảo Vũ, Bồ-tát Bảo Anh, Bồ-tát Bảo Thủ, Bồ-tát Bảo Tạng, Bồ-tát Bảo Minh, Bồ-tát Bảo Tràng, Bồ-tát Bảo Đỉnh, Bồ-tát Bảo Ấn Thủ, Bồ-tát Bảo Xướng, Bồ-tát Bảo Nghiêm, Bồ-tát Bảo Thủy, Bồ-tát Bảo Quang, Bồ-tát Bảo Khải, Bồ-tát Bảo Hiện, Bồ-tát Bảo Tạo, Bồ-tát Lạc Nghiêm Pháp, Bồ-tát Tịnh Vương, Bồ-tát Nghiêm Đỉnh Tướng, Bồ-tát Kim Quang Sức, Bồ-tát Bảo Kế, Bồ-tát Thiên Quân, Bồ-tát Thiên Quang, Bồ-tát Nguyên Diệm, Bồ-tát Chiếu Muội, Bồ-tát Nguyệt Biện, Bồ-tát Phát Ý Chuyển Pháp Luân, Bồ-tát Kim Quang Tịnh, Bồ-tát Thường Thí Vô Úy… một vạn hai ngàn vị Bồ-tát, công đức đều như vậy.

Ở trong kiếp Hiền, Đại sĩ Di-lặc với sáu mươi đại thánh như Nhuyễn Thủ… và mười sáu vị Chánh sĩ giải thoát phiền não chẳng thể nghĩ bàn… Đế Thích, Tứ Thiên vương cùng dân chúng cõi trời Đao-lợi, trời Diệm, trời Đâu-thuật, trời Bất kiêu lạc, trời Hóa tự tại, Đạo sư Ma tử, vua trời Phạm, vua trời Phạm tịnh, vua trời Thiện phạm, vua trời Phạm cụ túc, trời Đại thần diệu, trời Tịnh cư, trời Ly cấu quang cho đến trời Nhất thiện, trời Yến cư, trời Vô thiện thần… Họ đều cùng với sáu vạn quyến thuộc, vua thần Sơn thọ với bốn vạn hai ngàn quyến thuộc, vua thần lực sĩ, còn tên là Trì Hoa với ba vạn hai ngàn quyến thuộc cùng với thần Hương âm, vua rồng Vô phần cùng với bảy vạn hai ngàn các rồng, vua chim cánh vàng bốn phương và tất cả các đại tôn thần khác…Trời, rồng, quỷ thần, thần Vô thiện, vua thần Phượng hoàng, vua thần Sơn thọ, thần Điềm nhu… đều cùng với quyến thuộc đi đến chỗ Đức Phật cúi đầu lễ bái xong đứng sang một bên. Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, thiện nam, tín nữ, làm lễ Đức Phật, rồi đều ngồi sang một bên.

Khi đó, Đức Phật cùng với ngần ấy trăm ngàn chúng theo hầu vây quanh. Đức Phật ngồi trên tòa Sư tử cao rộng mà chư Thiên đã nghiêm tịnh, vì bốn bộ chúng giảng nói pháp. Đức Phật ở giữa chúng như núi chúa sừng sững, rực sáng hiện lên ở biển cả, đức Ngài vượt chư Thiên, thế gian, không ai sánh nổi, ánh sáng lồng lộng không đâu chẳng soi đến. Khi uy lực của Đức Như Lai ứng biến thì ở không trung hóa ra lọng báu với mọi thứ báu trang sức xen nhau chè khắp bốn phương, vô số trăm ngàn chuỗi ngọc buông xuống, ánh sáng ngọc báu xanh vàng đỏ trắng sáng sạch soi khắp hư không, ánh sáng của ngọc, từ ngọc phát ra, màu sắc của nó nhiều không lường, chẳng thể xưng kể, mưa xuống những hoa thơm, hoa ngập đến đầu gối, ở trong hư không phát ra tiếng sấm lớn, mưa xuống đủ loại hương quý. Đến đây, Hiền giả Đại Mục-kiền-liên, nương Thánh chỉ Đức Phật, hỏi Đức Phật:

-Sự cảm động hôm nay con chưa từng nghe thấy! Đây là điềm lành gì?

Đức Phật dạy:

-Này Mục-liên! Hôm nay, Long Vương muốn đến yết kiến Phật nên trước hiện điềm lành này.

Lời Đức Phật chưa xong, tức thời Long Vương cùng bảy mươi hai ức thể nữ, tám mươi tư ức quyến thuộc đều mang theo hoa thơm, cờ phướn, lọng, trăm ngàn nhạc cụ đi đến chỗ Đức Phật, cúi đầu xong, nhiễu quanh bảy vòng, đem đồ mang theo của từng người tung lên trên Đức Phật và tấu âm nhạc cúng dường, rồi cùng với quyến thuộc trong cung đều đứng trước Đức Phật, dùng kệ khen:

Thí từ xót thương đời
Cùng mắt đời thị hiện
Tuy sinh ở thế gian
Như hoa sen không đắm.
Thí yên ổn thế gian
Ở đời soi ba đời
Hiểu pháp như mặt trời
Cúi lạy Đấng Tối Thượng
Mười  lực vượt thí, giới
Quyến thuộc tự điều phục
Thiêu trừ tối trần lao
Điều chúng như ngựa thuần.
Ban cho bảy của lớn
Chúng sinh thêm ân từ
Làm cha mẹ tất cả
Cúi lạy Đấng Phước Điền  
Tướng chặng mày sáng chói
Như mặt trời sáng trong
Người ở trên trời Phạm
Không thể nhìn đỉnh Ngài.
Mặt Phật phát hào quang
Nhờ ánh sáng được yên
Soi khắp trăm ngàn nước
Tận cùng ngục Vô gián
Lời êm dịu vô cực
Nghi kết giải quyết thông
Tiếng thanh tịnh vô cấu
Cùng khắp trời, thế gian
Trừ tham,sân, si tối
Soi bằng ánh trí tuệ
Cho an khiến hoan hỷ
Và thị hiện giải thoát.
Hiểu thông suốt ba đời
Sánh cầu không ai bằng
Người biết hạnh chúng sinh
Rõ con đường ác lành.
Quan sát căn nguyên người
Cùng lúc đều nhìn thông
Mở lòng khiến giải thoát
Cúi lạy Đấng Tuệ Thượng
Các ma trăm ngàn ức
Đến đây, cầu Thế Tôn
Uy thần, nguyện công đức
Hàng phục, hóa tâm tà.
Chẳng sân, chẳng nhàm chán
Lực Từ bi dẫn đường
Cúng dường Đấng Tôn Quý
Ai dám lười, kiêu căng?
Quán pháp không thật có
Ví chúng như hư không
Như chớp, mù, bèo bọt
Huyễn hóa, cùng sóng nắng
Vốn không, duyên nhau có
Xé không ngã, ngã sở
Tuệ bày pháp sinh tử
Nên chớ chẳng cúng dường.
Sở dĩ vô số kiếp
Ức ức kiếp tu hành
Cúng dường hàng ức vạn
Chẳng thể kể Thế Tôn.
Bố thí, Trì giới, Nhẫn
Tinh tấn, Thiền định, Tuệ
Nguyện Ngài đã đầy đủ
Cúi lạy Đấng Đại Hùng.

Đến đây, vua rồng biển nói kệ khen Đức Phật này xong, ở trước Đức Phật bạch rằng:

-Con có điều muốn thưa hỏi! Nếu Ngài cho phép thì con mới dám trình bày!

Đức Phật nói:

-Điều ông hỏi, nếu có nghi ngờ thì Như Lai sẽ vì ông giảng nói đầy đủ!

Long Vương thấy Đức Phật cho phép thì mừng rỡ hỏi:

-Sao gọi là Bồ-tát trừ các đường ác?
-Sao gọi là Bồ-tát vượt ra các nạn?
-Sao gọi là Bồ-tát sinh chư Thiên, nhân gian?
-Sao gọi là Bồ-tát chẳng lìa các Đức Phật?
-Sao gọi là Bồ-tát được gặp bạn lành?
-Sao gọi là Bồ-tát thường trụ yên ổn?
-Sao gọi là Bồ-tát luôn dốc lòng tin?
-Sao gọi là Bồ-tát nhiều hoan hỷ hộ trì?
-Sao gọi là Bồ-tát tế độ mọi nhân duyên?
-Sao gọi là Bồ-tát lớn thêm thiện pháp?
-Sao gọi là Bồ-tát vui mừng tạo cội gốc đức?
-Sao gọi là Bồ-tát luôn vui với nghĩa?
-Sao gọi là Bồ-tát chẳng nhiễm trước năm ấm?
-Sao gọi là Bồ-tát luôn ưa thích pháp?
-Sao gọi là Bồ-tát vui với pháp lạc?
-Sao gọi là Bồ-tát nghe không chán?
-Sao gọi là Bồ-tát thưa thỉnh việc lợi ích quán sát nghĩa?
-Sao gọi là Bồ-tát nghe có thể phụng hành?
-Sao gọi là Bồ-tát đủ đức xuất gia?
-Sao gọi là Bồ-tát lìa chỗ ở thuận với giới?
-Sao gọi là Bồ-tát bỏ gánh nặng?
-Sao gọi là Bồ-tát thường ở dưới gốc cây?
-Sao gọi là Bồ-tát ưa chỗ nhàn tịnh?
-Sao gọi là Bồ-tát ở chỗ yên một mình?
-Sao gọi là Bồ-tát lìa các dua nịnh?
-Sao gọi là Bồ-tát đủ tuệ xuất gia?
-Sao gọi là Bồ-tát vào pháp thâm yếu?
-Sao gọi là Bồ-tát quán pháp như huyễn?
-Sao gọi là Bồ-tát chẳng rơi vào đoạn kiến?
-Sao gọi là Bồ-tát chẳng rơi vào thường kiến?
-Sao gọi là Bồ-tát vượt pháp nhân duyên?
-Sao gọi là Bồ-tát vượt các tà kiến?
-Sao gọi là Bồ-tát thần thông tự an lạc?
-Sao gọi là Bồ-tát được sáu thông?
-Sao gọi là Bồ-tát được tuệ thông
-Sao gọi là Bồ-tát lậu tận thần đạo?
-Sao gọi là Bồ-tát hiện Từ bi không ngăn ngại?
-Sao gọi là nhận thức của Bồ-tát không ngại?
-Sao gọi là Bồ-tát hiểu rõ sự vận hạnh của tâm chúng sinh?
-Sao gọi là Bồ-tát tạo tác không chán đủ?
-Sao gọi là Bồ-tát phân biệt lời dạy bảo cho người giáo hóa?
-Sao gọi là Bồ-tát hàng phục ma oán?
-Sao gọi là Bồ-tát lìa khỏi các sợ sệt?
-Sao gọi là Bồ-tát ngăn người thoái chuyển?
-Sao gọi là Bồ-tát được không thoái chuyển?
-Sao gọi là Bồ-tát chứng được Nhẫn bất khởi?
-Sao gọi là Bồ-tát qua khỏi các tịnh?
-Sao gọi là các hạnh Bồ-tát thanh tịnh?
-Sao gọi là Bồ-tát được Đức Thế Tôn thọ ký?

Đức Phật khen:

-Hay thay, hay thay! Này Hải Long vương! Chỉ có ông mới hỏi Như Lai những nghĩa như thế này! Hãy lắng nghe, lắng nghe và khéo suy nghĩ những vấn đề đó!

Long vương thưa:

-Thưa vâng, Đức Thế Tôn! Con nguyện ưa muốn nghe!

Đức Phật dạy rằng:

-Bồ-tát có bốn việc bỏ các đường ác! Những gì là bốn?

1. Bồ-tát, tâm không làm hại.
2. Đối với chúng sinh luôn hộ trì mười đức.
3. Chẳng nói sai sót của người cũng chẳng khinh mạn.
4.Tự xét lỗi mình chẳng nói cái xấu của kẻ khác.

Đó là bốn.

Lại có bốn việc vượt qua các nạn. Những gì là bốn?

1. Thường khen Tam bảo, Phật, Pháp, Thánh chúng.
2. Có người ưa pháp mà chẳng nhiễu loạn.
3. Chẳng tạo sự nghi ngờ cho người.
4.Có kẻ do dự thì mở đường dẫn lối cho họ.

Đó là bốn.

Lại có bốn việc sinh lên chư Thiên, nhân gian. Những gì là bốn?
1. Chẳng bỏ tâm đạo
2. Lại dạy người khác cũng chẳng hủy giới.
3. Tâm nguyện thanh tịnh.
4. Vì người nói kinh mà phát tâm Từ bi lớn.

Đó là bốn.

Lại có tám việc chẳng lìa khỏi chư Phật. Những gì là tám?
1. Thường nhớ nghĩ chư Phật.
2. Cúng dường Như Lai.
3. Khen ngợi Thế Tôn.
4. Tạo hình tượng Đức Phật.
5. Khuyến hóa chúng sinh khiến cho họ thấy Như Lai.
6. Hướng về phương hướng nghe có danh hiệu Phật. Nguyện sinh về nước Phật đó.
7. Chí chẳng khiếp nhược.
8. Thường ưa chánh tuệ vi diệu của Phật.

Đó là tám việc.

Lại có bốn việc được gặp bạn lành. Những gì là bốn?

1. Chẳng kiêu mạn, không dua nịnh.
2. Thường thêm cung kính.
3. Lời nói thuận nhu hòa mà chẳng tự đại.
4. Thường nhận lấy lời dạy bảo.

Đó là bốn việc.

Lại có ba việc luôn ở chỗ yên ổn. Những gì là ba?

1. Chẳng cứng nhắc chẳng tạo tác mà chẳng dua nịnh.
2. Trừ các tham, ganh ghét.
3. Thấy người được cung cấp thay họ vui mừng.

Đó là ba việc.

Lại có năm việc thường dốc lòng tin. Những gì là năm?
1. Thông đạt ưa lực giải thoát.
2. Tích chứa lực công đức.
3. Nhập vào lực báo ứng.
4. Noi theo lực đạo tâm.
5. Đem theo lực ngự pháp.

Đó là năm việc

Lại có hai việc nhiều chỗ hoan hỷ hộ trì. Những gì là hai?

1. Chẳng xả hoan hỷ.
2. Chẳng ở tại sân hận.

Đó là hai việc

Lại có hai mươi việc hộ trì mọi nhân duyên. Những gì là hai mươi?

1. Luôn tin lời Phật dạy.
2. Chẳng chấp trước duyên khác.
3. Việc mình làm tự bảo hộ.
4. Người khác làm người khác chịu.
5. Pháp pháp tương ưng.
6. Pháp pháp soi nhau.
7. Thiện ác báo ứng.
8. Không loạn chẳng thuận.
9. Lòng không tưởng niệm.
10. Không ngã không nhân.
11. Đều không thật có.
12. Cũng không qua lại.
13. Không chỗ đi về.
14. Trừ nhân duyên quả báo.
15. Do tội phước an nguy.
16. Hộ trì các duyên.
17.18.Các Đức Phật Thế Tôn đều do thanh tịnh mà thành đạo.
19.20.Trừ mọi việc ác nên chúng ta tu hành gốc thiện.

Đó là hai mươi việc.

Lại có hai việc lớn thêm pháp lành. Những gì là hai?

1.Biết đến ba phẩm.
2. Tu hành không buông lung.
Đó là hai việc.

Lại có hai việc nữa. Những gì là hai?

1. Vui mừng tạo cội gốc đức.
2. Cũng chẳng tưởng đến báo đền.

Đó là hai việc.

Lại có năm việc thường vui với nghĩa. Những gì là năm?

-Chẳng đắm trước sắc, thanh, hương, vị, xúc. Đó là năm.

Lại có năm việc luôn ham thích pháp. Những gì là năm?

-Chẳng tham sắc, thọ cho đến được trí tuệ, ủng hộ tất cả. Đó là năm.

Lại có sáu việc luôn vui với pháp. Những gì là sáu?

1. Vui với năm căn, chẳng ưa năm dục.
2. Thường vui pháp hội, chẳng ưa bàn luận về thế gian.
3.  Ưa giảng nói kinh, chẳng ưa ăn mặc
4.  Thường ưa quán pháp, chẳng ưa bất tịnh.
5.  Ưa tu theo pháp, chẳng ưa văn tự.
6.  Pháp của Phật, chẳng ưa pháp của Thanh văn, Duyên giác.

Đó là sáu việc.

Lại có tám việc ưa thích pháp lạc. Những gì là tám?

1.Ưa giảng Phật đạo, chẳng ưa thấp hèn.
2.Ưa độ vô cực, chẳng ưa đạo Thanh văn, Duyên giác.
3. Ưa khen bốn ân, chẳng ưa phi pháp
4. Ưa đại từ bi, chẳng ưa việc đời
5. Ưa nói đại đạo, chẳng ưa pháp đầu tiên hay cuối cùng
6. Ưa giảng gốc duyên khởi pháp sâu xa, chẳng ưa thường, vô thường, ngã, nhân, thọ mạng.
7. Pháp chân đế Không, Vô thường, Vô nguyên, chẳng ưa hý luận lìa tưởng phóng dật.
8.Ưa cõi nước Phật trang nghiêm, chẳng ưa quán đoạn diệt.

Đó là tám việc.

Lại có năm việc để nghe không nhàm chán. Những gì là năm?

1.  Học rộng lợi cho trí tuệ, đối với điều mình đạt nghe không nhàm chán.
2. Nghe khắp chẳng lười, giải quyết các hồ nghi nghe không nhàm chán.
3.  Nhờ nghe lại hiểu rõ phiền não sân hận nên không nhàm chán.
4. Nhờ nghe đoạn trừ dục mà trừ tất cả những chấp trước cấu uế của chúng sinh nên không nhàm chán.
5.  Nhờ nghe dũng mãnh, giải quyết tất cả nghi ngờ nên không nhàm chán.

Đó là năm việc.

Lại có hai việc quan sát nghĩa cầu nghe chẳng mệt? Những gì là hai?

1. Dấy khởi hạnh chánh kiến của Hiền thánh.
2. Được cốt yếu của Tổng trì vô ngại biện.

Đó là hai việc.

Lại có mười việc để nghe có thể phụng hành. Những gì là mười?

1. Lợi biết nhàm chán ở nơi nhàn nhã.
2. Thân miệng tâm tịch tĩnh, tiến dừng an tường.
3. Điều nghe được đều quán thanh tịnh.
4. Ở một mình ít việc, chẳng ưa sự huyên náo.
5. Đầu đêm cuối đêm thường quán tinh tấn.
6. Kính trọng bạn lành.
7. Để tâm đến điều xấu hổ.
8.Thường đem lòng thương bảo hộ cho tất cả.
9. Thiền định Hiền thánh bình đẳng, phước đức đầy đủ.
10. Dùng bố thí cứu hộ trên trời và thế gian.

Đó là mười việc.

Lại có năm việc để đủ đức xuất gia. Những gì là năm?

1. Việc làm đã thành chẳng quên mất nữa.
2. Diệt trừ kết sử phiền não.
3. Tâm ấy phải bỏ tất cả các chấp trước.
4. Đối với các Đức Phật Thế Tôn chẳng nói lỗi lầm.
5. Đã được giải thoát, thấy những người bị trói buộc vì họ nói pháp giải thoát.

Đó là năm việc.

Lại có năm việc để xuất gia thuận theo giới cấm. Những gì là năm?

1. Thuận theo giới pháp, cứu tế người hủy giới.
2. Thuận theo các điều đã nghe, cứu tế người ít nghe.
3. Thuận các định ý cứu tế người loạn tâm.
4. Thuận các trí tuệ cứu tế người ác trí.
5. Thuận kẻ được độ, an lập mọi người yên ổn vô vi.

Đó là năm việc.

Lại có năm việc nữa. Những gì là năm?

1. Bỏ gánh nặng mà trừ năm ấm.
2. Đoạn dứt kết sử ân ái và các sự tích tập.
3. Luôn dùng tịch định xả bỏ tịch diệt.
4. Vào với đạo đức phụng hành tám đạo.
5. Vào với Thánh đế, kiến lập tất cả mọi người ở pháp Chánh đế.

Đó là năm.

Lại có bốn pháp thường ở dưới gốc cây. Những gì là bốn?

1. Chẳng tiếc thân mạng.
2. Phụng hành tất cả các pháp đức lành.
3. Phát tuệ thần thông.
4. Tu hành việc tịch nhiên người trời mừng vui.

Đó là bốn pháp.

Lại có bốn việc ưa ở nhàn nhã. Những gì là bốn?

1. Phát khởi đại Bi do ở nhàn nhã, được sự khen ngợi của chư Phật muốn cứu chúng sinh.

2.Không thiên về tà hạnh, khi ngồi thành Phật trang nghiêm tự tại, chẳng bị phiền não.

3. Học hạnh rốt ráo của Bồ-tát khác, tích lũy đức nhàn tịnh.
4. Vào đến nước thành, huyện ấp, xóm làng vì mọi người nói pháp.
Đó là bốn việc.

Lại có ba việc để ngồi yên tu tập công đức tối tôn vô thượng vi diệu, làm hạnh Hiền thánh. Những gì là ba?

1. Chẳng tích tập yêu ghét cũng không ham thích.
2. Tự tại ly dục lòng không bị trói buộc, bước đi tự do, lòng bình đẳng với tất cả.
3. Mau chóng được định ý.

Đó là ba việc.

Lại có ba việc:

1. Lìa khỏi các dua nịnh.
2. Lòng ngay thẳng không sân hận.
3. Đã trụ với hạnh mọi kết sử liền đoạn trừ.

Đó là ba việc.

Lại có tám việc để đủ đức xuất gia. Những gì là tám?
1. Hiền thánh biết đủ, ở chỗ riêng
2. Biết được giới hạn.
3. Đạt được những điều biết rộng học nhiều.
4. Bỏ sân hận, luôn nhẫn nhục.
5. Chẳng xả đạo tâm, hành bốn Ý chỉ.
6. Chuyên tinh định ý.
7. Ứng hợp trí tuệ.
8. Tất cả việc dấy khởi lấy hạnh làm quan trọng.
Đó là tám.

Lại có mười việc vào pháp yếu sâu xa. Những gì là mười?
1. Thấy thân tự nhiên thì các pháp tự nhiên.
2. Thân tịnh thì tất cả pháp tịnh.
3. Thấy mình không ngã thì các pháp không ngã.
4. Tự quán thân không thì chẳng nghi pháp không.
5. Thân mình không tiếng thì các pháp như tiếng vang.
6. Xét thân tịch mịch thì các pháp tịch mặc.
7. Xét chân thật ngã thì quán thấy thật pháp.
8. Chí mình thâm diệu thì thấy pháp sâu xa
9. Thân mình không nghe thì các pháp như điếc.
10. Ta không thọ nhận thì thấy tất cả pháp không thể nắm giữ.

Đó là mười việc.

Lại có mười việc:
1. Các pháp như huyễn dấy khởi tướng dối trá
2. Các pháp như mộng, điều thấy không thật.
3. Các pháp như sóng nắng, khởi tưởng điên đảo, thấy chẳng chắc chắn.
4. Các pháp như bóng, nhân duyên tạo tác không cho là vui.
5. Các pháp như trăng đáy nước, bắt lấy chẳng thể được, tướng ấy lìa khỏi hành động.
6. Các pháp như tiếng vang, gốc ngọn đều rỗng không.
7. Các pháp như ánh chớp, sáng hiện rồi diệt theo.
8. Các pháp như bức tranh lìa khỏi tham, sân si.
9. Các pháp vốn tịnh chẳng bị sự nhiễm ô của khách trần ô nhiễm.
10. Các pháp như hư không vừa khởi lên liền diệt, không có xứ sở.

Đó là mười việc.

Lại có hai việc chẳng rơi vào đoạn kiến. Những gì là hai?

1. Tuệ tùy lúc nhập vào tội phước.
2. Phân biệt rõ sự sáng suốt của Thánh trí chư Phật.

Đó là hai việc.

Lại có hai việc chẳng rơi vào thường kiến. Những gì là hai?

1. Tất cả nói tuệ vô thường.
2. Ý vừa khởi liền diệt, không tồn tại mãi.

Đó là hai việc.

Lại có bốn việc vượt pháp nhân duyên. Những gì là bốn?

1. Tích tập không sáng suốt.
2. Tích tập vào sinh tử.
3. Không sáng suốt đã diệt thì sinh tử liền trừ.
4. Chẳng rơi vào đoạn kiến, chẳng trụ ở thường kiến.

Đó là bốn việc.

Lại có bốn việc lìa các tà kiến. Những gì là bốn?

1.Hiểu tuệ rỗng không chẳng thấy bỉ ngã.
2. Hiểu được vô tướng chẳng thấy thọ mạng.
3. Rõ không, vô nguyện chẳng thấy ba xứ
4.Phân biệt duyên khởi lìa khỏi thường và vô thường.

Đó là bốn việc.

Lại có sáu việc dùng các thần thông mà tự an vui. Những gì là sáu?

1. Chẳng dùng mắt ác nhìn chúng sinh thì được Thiên nhãn thanh tịnh.
2.Nghe âm thanh ác mà có thể nhẫn nhục thì đạt được Thiên nhĩ tịnh thanh tịnh.
3. Tâm ấy chẳng loạn thì nhìn thấy tâm người khác thanh tịnh.
4.Gieo trồng mọi cội gốc đức thì biết việc đã qua.
5. Hành động của thân cũng như lời nói thì được Thần túc thanh tịnh.
6. Tu hành các sự cung kính, chẳng dối Pháp sư thì hết các lậu, được thanh tịnh.

Đó là sáu việc.

Lại có sáu việc được sáu thông. Những gì là sáu?
1. Do thắp đèn nên được Thiên nhãn thanh tịnh.
2. Bố thí các âm nhạc nên được Thiên nhĩ thanh tịnh.
3.Bố thí không mong cầu nên rõ biết tâm chúng sinh.
4. Gieo trồng cội gốc mọi đức nên biết việc quá khứ.
5.Khước trừ các ấm cái, giải quyết mọi hồ nghi chứng được thần túc thanh tịnh.
6. Dùng pháp bố thí nên diệt trừ các lậu được thanh tịnh.

Đó là sáu việc.

Lại có sáu việc đạt được thông tuệ. Những gì là sáu?
1. Vừa thấy Như Lai thì được Thiên nhãn thanh tịnh.
2. Vào chúng hội nói pháp thì được Thiên nhĩ thanh tịnh.
3. Chế phục được tâm mình thì thấy ý của chúng sinh.
4. Thường tu tập sáu niệm thì được biết đời trước.
5. Bỏ các tham đắm thì chứng được thần túc, bay lên nhẹ nhàng.
6. Tu tập các pháp thì được diệt trừ các lậu

Đó là sáu việc.

Đức Phật lại bảo Long vương:

-Những Thanh văn, Duyên giác và Thần tiên, ngoại đạo, trời, rồng, quỷ thần, thần Vô Thiện, thần chúa Phượng Hoàng, vua thần Núi, thần Điềm Nhu, người cùng chẳng phải người mà có Thiên nhãn thì có thể dùng thần thông mà tự an vui. Xét về mắt, mắt Bồ-tát thì tối thượng vô cực thanh tịnh sáng suốt, ngoại trừ mắt của Như Lai, mắt của Bồ-tát không đâu chẳng thấy, màu sắc ánh sáng của trời, người, nguồn gốc của các pháp không gì ngăn ngại.

Lại Thanh văn, Duyên giác và trời, rồng, thần, người cùng chẳng phải người… Xét về tai của Bồ-tát thì tối thượng vô cực thanh tịnh sáng suốt, ngoại trừ tai của Như Lai, tai của Bồ-tát không gì chẳng nghe. Sự giảng nói các pháp và âm thanh trời người không gì ngăn ngại, nghe các âm thanh biết rõ ba đạt, rõ biết tâm của tất cả chúng sinh, việc làm tạo niệm nhân duyên báo ứng, ý tưởng qua lại, tịnh chẳng tịnh, trước chẳng trước… ngần ấy thứ tâm, hoặc tâm nghịch, hoặc tâm thuận, tâm trói, tâm mở, tâm nương, tâm chẳng nương, tâm mê hoặc, tâm định, tâm hữu xứ, tâm vô xứ, hoặc tâm hưng suy… đã hiểu rõ chúng, thấy hết căn cơ của người để theo đúng như sự ứng hợp mà nói pháp, đã rõ túc mạng, biết gốc bỉ ngã, sự khởi lên đầu cuối (trọn vẹn) không gì chẳng thông đạt, chí thành chẳng hư dối, thần túc không nương cậy, không đâu chẳng thị hiện. Đó là năm thần thông của Bồ-tát.

Lại, tâm tự tại đầy đủ tạo tác, đó là an vui, thị hiện thân Phật mà vào Niết-bàn, chẳng hoàn toàn diệt độ.

-Sao gọi là Bồ-tát lậu tận thần thông?

1. Bồ-tát vượt qua Thanh văn, Duyên giác.
2. Chứng đắc giải thoát.
3. Nương vào Phật tuệ.
4. Hiểu rõ chúng sinh tất cả vốn tịnh
5. Chẳng diệt tận các lậu mà chẳng thủ chấp chứng đắc.
6. Vì tất cả người, khen ngợi các lậu tận.
Đó là sáu thần thông.

Lại có bốn việc thấy tuệ không bị ngăn che. Những gì là bốn?
1. Tu theo tuệ đức đạt đến năm Thông này.
2. Hành đại Từ, đại Bi biết bốn hạnh giải thoát.
3. Giữ gìn phương tiện trí tuệ, đạt được bốn Vô ngại.
4. Định ý chánh thọ Không, Vô tướng, Vô nguyện đạt đến ba mươi bảy pháp đạo phẩm.

Đó là bốn việc.

Đức Phật lại bảo vua rồng:

Sao gọi là sự thấy không bị ngăn che?

-Trừ tất cả dơ bẩn các phiền não hiện hữu và nếu có, ngăn ngại thị hiện ở gốc sinh tử, dẫn đường khiến ở Niết-bàn, hiện thừa Thanh văn, Duyên giác giáo hóa đến đạo tràng, tùy theo tập tục khuyên người thực hành tịch tĩnh. Đó gọi là không ngăn che.

Lại có không ngăn che nữa. Hiện tất cả số đến không cùng tận, hiện diệt các số chứng không chấp trước, tuy các hạnh ở tại số lượng nhưng đối với pháp vô số không bị ngăn ngại, do không ấm cái được đến vô vi mà đối với pháp hữu vi cũng không ngăn ngại. Đó gọi là Bồ-tát hiện bày tuệ vô ngại.

Lại có bốn việc:
1. Hiểu rõ tâm hành chúng sinh.
2. Tùy theo tập tục được tuệ chánh thọ.
3. Biết việc làm của ý là phương tiện thiện xảo.
4.Tự tại đối với các pháp.

Đó là bốn việc.

Lại có năm việc hành hóa không nhàm chán. Những gì là năm?

1.Đã được an ổn thì làm cho chúng sinh được yên
2.Đại Bi kiên cường.
3.Nhìn tất cả người biết cốt tủy của mình.
4.Theo hạnh nguyện của người mà thị hiện hạnh.
5.Đứng ở trên cùng đức đặc biệt kỳ lạ.

Đó là năm việc.

Lại có sáu việc phân biệt lời giáo hóa đã thọ nhận. Những gì là sáu?

1. Chứng được Tổng trì.
2. Tâm an lập tịch nhiên.
3. Nhập vào chân lý thanh tịnh.
4. Tâm vào các tuệ.
5. Biện tài không chấp trước không dừng.
6. Tuệ phương tiện theo thứ lớp giải nói.

Đó là sáu việc.

Lại có tám việc hàng phục ma oán. Những gì là tám?

1. Hiểu rõ năm ấm ví như huyễn, lìa tham kiến phiền não, làm việc không chấp trước.
2. Biết tất cả pháp đều không sinh ra, theo chỗ sinh ấy mà mở đường dẫn lối.
3. Chẳng bỏ tâm đạo, tinh tấn kiên cường.
4. Chẳng bỏ Phật đạo, chẳng sợ ba cõi.
5. Lìa bỏ sở hữu, quan sát người vật.
6. Tìm xét chân lý, quan sát tướng vô thường.
7. Tích chứa đức chẳng nhàm chán, tập hợp trí tuệ.
8. Chẳng ưa trí Thanh văn, Duyên giác.

Đó là tám việc.

Lại có mười việc lìa các sợ sệt, làm việc Bồ-tát. Những gì là mười?

1. Tu hành bố thí để tự trang nghiêm.
2. Trụ ở cấm giới đoạn dứt các đường ác.
3. Ở với nhẫn nhục các căn chẳng loạn.
4. Kiên cường tinh tấn, gieo trồng căn lành chẳng mỏi mệt.
5. Tu hành thiền định tâm chẳng hoảng sợ.
6. Thành được trí tuệ lìa khỏi phiền não.
7.Phương tiện thiện xảo hiểu rõ nguyện của Thánh trí vô biên, phân biệt được mọi việc.
8. Hiểu rõ nghĩa các pháp tùy thuận biện tài.
9. Chứng được tổng trì giải quyết, trừ khử các hồ nghi của chúng sinh.
10. Được trụ chỗ trụ của Phật hộ trì tất cả pháp.

Đó là mười việc.

Lại có tám việc chế ngự sự thoái chuyển. Những gì là tám?

1. Nói với làm tương ứng.
2. Tự xét lỗi mình, chẳng nói khuyết điểm người khác.
3. Thà mất thân mạng chẳng tạo sự khinh trọng.
4. Được lợi chẳng mừng, không lợi chẳng buồn.
5. Tâm chẳng mang ác hại, dẫn dụ tất cả dấy khởi ý tưởng hộ trì chúng sinh.
6. Giữ gìn tất cả cấm giới chẳng bỏ phép của thầy.
7. An vui cho mọi người, chẳng tự cầu yên vui cho mình.
8. Bố thí tất cả sự yêu thích mà chẳng hối tiếc.

Đó là tám việc.

Lại có năm việc được chẳng thoái chuyển đối với đạo Vô thượng chánh chân. Những gì là năm?

1. Phương tiện quyền xảo thành tựu vô ngại các Ba-la-mật.
2. Vào sâu diệu pháp, rõ nghĩa của chân lý.
3. Thần thông vô ngại thấy căn cơ của chúng sinh, phân biệt các tuệ.
4. Thực hành hạnh không chấp trước chẳng thể cùng tận.
5. Theo pháp duyên khởi chẳng cùng tận, chứng tết cả các lậu.

Đó là năm việc.

Lại có ba việc chứng Nhẫn bất khởi. Những gì là ba?
1. Quan sát nhân thanh tịnh không ngã, ngã sỏ.
2. Pháp tịch tĩnh.
3. Tuệ tịnh không chấp trước.

Đó là ba việc.

Lại có ba việc vượt qua các thanh tịnh:

1. Quá khứ thanh tịnh, các pháp thường chấm dứt.
2. Vị lai thanh tịnh, pháp không sinh khởi.
3. Hiện tại thanh tịnh, pháp khổng chỗ trụ.

Đó là ba.

Lại có ba việc:

1. Thân làm thanh tịnh công đức dồi dào.
2. Miệng nói thanh tịnh trí tuệ vòi vọi.
3. Ý niệm thanh tịnh định chẳng lay chuyển.
Đó là ba.

Lại có bốn việc được gặp Đức Phật Thế Tôn và được thọ ký. Những gì là bốn?

1. Tánh tình hòa thuận, tuân theo pháp.
2. Đầy đủ các hạnh, quán hạnh thanh bạch.
3. Chứng được tuệ lực, thông đạt tất cả tâm.
4. Rõ các pháp vốn tịnh, chẳng khởi, chẳng diệt, cũng chẳng loạn động.

Đức Phật bảo vua rồng:

-Đó là bốn pháp hành trì của Bồ-tát, được gặp Đức Phật Thế Tôn và được thọ ký.

 

Phẩm 2: PHÂN BIỆT

Đức Phật nói những điều đó rồi, mười hai ức trăm ngàn các trời, rồng, thần, thần Hương Âm, người cùng chẳng phải người đều phát ý đạo Vô thượng chánh chân, bảy vạn hai ngàn Bồ-tát được pháp Nhẫn bất khởi, một trăm bốn mươi vạn chúng được Pháp nhãn tịnh, xa lìa trần cấu, tám ngàn Tỳ-kheo lậu tận ý giải, năm ngàn Thiên tử được lìa ái dục, tam thiên đại thiên thế giới chấn động sáu cách. Ánh sáng lớn ấy soi khắp thế giới. Ở trong hư không tự nhiên mưa xuống hoa trời, chư Thiên ở bên trên tấu lên trăm ngàn âm nhạc, cùng nhau khen ngợi:

-Việc nói kinh pháp hôm nay của Đức Thế Tôn là một lần nữa ngài chuyển bánh xe pháp. Hôm nay, Ngài nói kinh này lại gia tăng bội phần việc chuyển bánh xe pháp tại thành Ba-la-nại. Vì sao? Đối với kinh này, vì vô lượng số chẳng kể xiết người nghe mà mở đường dẫn lối đi đến lợi ích. Nếu người nghe kinh này thì cội gốc đức chẳng quên, huống là thọ trì, có thể phụng hành thì khéo được thân người, thích thấy Như Lai, lắng nghe pháp này. Nghe pháp này rồi liền phát ý đạo Vô thượng chánh chân, đóng chặt đường ác, mở dấu trời người. Phải xem đây sánh như được diệt độ.

Đến đây, Đức Thế Tôn khen các Thiên tử:

-Hay thay, hay thay, lời nói này hay lắm! Người nghe kinh pháp này mà hoan hỷ tin theo là đã kiến lập sự khai hóa Đại thừa của Phật. Những người đó đã đạt được tuệ của Như Lai, dùng ấn không thoái chuyển mà ấn cho họ, Nhất định họ không đi con đường nào khác mà thuận đi đến Phật đạo, vượt khỏi các khổ nạn.

Bấy giờ, vua rồng nghe nói kinh này thì vui mừng hớn hở, lòng lành phát sinh, nên lấy ngọc Ma-ni tên là Lập hải thanh tịnh bảo nghiêm phổ minh giá trị bằng tam thiên đại thiên thế giới, đem dâng lên Đức Thế Tôn. Ánh sáng của viên ngọc ấy che mờ ánh sáng mặt trời, mặt trăng. Tất cả chúng hội thấy được việc chưa từng có, lễ Phật rồi đứng lên đồng lời khen:

-Đức Phật ra đời khó gặp! Nay ngài đã xuất hiện ở thế gian nên mới thị hiện pháp chưa từng có như vậy.

Long vương hiến ngọc báu xong, bạch Đức Phật:

-Con dùng cội gốc đức đó để đạt được ánh sáng thân Phật vô ngại và khiến cho ánh sáng ấy soi khắp các đất nước Phật trong mười phương. Nếu người được nhờ ánh sáng đó thì tiêu trừ các phiền não như ánh sáng ở chặng mày của Đức Như Lai hôm nay đã khiến cho con tiêu trừ mọi tối tăm, chứng được bình đẳng giác như vậy. Kẻ vào lối tà thì khiến cho trụ ở chánh đạo.

 

Phẩm 3: LỤC ĐỘ

Hải Long vương bạch Đức Phật:

-Sao gọi là Bồ-tát trừ bỏ mọi tối tăm?

Đức Phật nói với Long vương:

-Trí tuệ của Bồ-tát khác lạ: Tay cầm đèn tuệ để soi sáng trí tuệ thì trí tuệ tối thắng, tay nắm giữ kiếm trí tuệ mà có sự tạo lập thì đều dùng trí tuệ kiến lập trí tuệ. Bồ-tát dùng Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền tư, Trí tuệ để kiến lập trí tuệ. Tu hành đối với giới, nhẫn nhục, tinh tấn, nhất tâm, quan sát khắp các pháp kiến lập trí tuệ, khai hóa chúng sinh.

Sao gọi là Bồ-tát kiến lập trí tuệ mà hành bố thí bình đẳng với bố thí?

-Bố thí đã bình đẳng thì bình đẳng với ngã, ngã sở. Ngã, ngã sở đã bình đẳng thì bình đẳng với nhân. Đã bình đẳng với nhân thì các pháp được bình đẳng. Các pháp đã bình đẳng thì được sự bình đẳng của chư Phật. Tuy có bố thí nhưng chẳng bỏ bình đẳng đó. Đã bố thí thì chẳng theo phiền não vì khi bố thí là xả bỏ tất cả phiền não. Cũng lại như vậy, bỏ tất cả đời sống là bố thí tất cả. Lìa khỏi các kiên chấp, bỏ các sở hữu. Đó là Bồ-tát kiến lập trí tuệ mà dùng để bố thí vậy.

Sao gọi là Bồ-tát kiến lập trí tuệ mà phụng trì cấm giới?

-Thấy thân ý tịch tĩnh ấy là hộ trì cấm giới. Chẳng nương tựa thân miệng ý, chẳng dựa đời nay đời sau, cũng không trong ngoài, chẳng dựa ấm cái, bốn đại, các nhập, chẳng dựa giác ý, chẳng dựa diệt độ, đối với tất cả pháp, cũng không chỗ dựa thì đó là hộ trì giới. Chẳng dùng giới hý luận, cũng chẳng buông lung. Đó là Bồ-tát kiến lập tuệ giới.

Bồ-tát thực hành nhẫn nhục cũng chẳng được ngã, cũng chẳng được nhân, cũng chẳng được ngã nhân, chẳng trụ ở ngã sở, chẳng trụ ở ngã và ngã sở. Nhân thanh tịnh thì ngã tịnh, nhân thanh tịnh thì thấy thanh tịnh, tất cả pháp thanh tịnh. Đó là thực hành nhẫn.

Bồ-tát tuy thực hành nhẫn nhưng đối với pháp không tạo tác, đối với pháp chẳng khởi, chẳng diệt. Bồ-tát tuy tu hành nhẫn nhưng đối với các pháp, không tịch nào chẳng tịch. Bồ-tát tuy tu hành nhẫn nhưng thấy nhẫn rỗng không vắng lặng mà không ngã, ngã sở, cũng chẳng sợ hãi. Bồ-tát tuy tu hành nhẫn nhưng cũng chẳng được thân, miệng, ý. Bồ-tát tuy hủy hoại thân thể từng đoạn, từng đốt rời ra nhưng tự quán thân ấy như cỏ cây, tường vách. Đó là nhẫn nhục.

Bồ-tát nghe lời nói ác, lời nói mắng nhiếc, lời nói tự tại, lời nói chẳng thể chấp thủ, lời nói thanh tịnh không xứ sở, hiểu rõ lời nói thì đó là nhẫn nhục. Bồ-tát tuy loạn tâm nhưng tâm không oán kết, tâm vốn không, mỗi mỗi đều không thật, giây lát diệt hết. Quan sát như thế này thì gọi là nhẫn nhục. Đó là Bồ-tát kiến lập tuệ nhẫn.

Bồ-tát tu tinh tấn trưởng dưỡng các pháp thiện, quán pháp giới ấy chẳng tăng chẳng giảm bình đẳng ngự trị pháp giới, quan sát tất cả pháp chẳng thấy các pháp. Đó là người an lập thành tựu.

Người quan sát dựa vào đời thì do từ sự điên đảo chẳng thật khởi lên. Bồ-tát kia dùng ánh sáng của tri tuệ thanh tịnh quan sát tất cả pháp chẳng theo các pháp, chẳng bỏ các pháp, chẳng nhìn thấy sự tích tụ của các pháp, chẳng thấy sự đến đi, từ chỗ nào đến? Từ chỗ nào đi? Hiểu rõ các pháp. Tu theo pháp như vậy mà phân biệt sự điên đảo của khổ đế là người nói pháp tu hành tinh tấn. Những chúng sinh kia không thật, không chắc chắn. Nếu nhân không thể nắm bắt thì tất cả các pháp cũng chẳng nắm bắt. Vì sao?

Vì nhân chẳng lìa pháp, pháp chẳng lìa nhân. Như nhân mà tự nhiên thì ngã, ngã sở tự nhiên. Ngã, ngã sở tự nhiên thì các pháp tự nhiên. Các pháp tự nhiên thì Phật pháp tự nhiên. Bồ-tát ấy do vậy mà cầu các Phật pháp. Như tự nhiên là giải thoát tự nhiên rồi, liền chứng được Phật pháp. Bồ-tát ấy có mong cầu, hoặc đã cầu, hay sẽ cầu, cầu thế này rồi lại cầu vô sở đắc. Đó là Bồ-tát kiến lập hạnh tinh tấn trí tuệ.

Bồ-tát đối với thiền định mà dùng chánh thọ chẳng hủy hoại bình đẳng, cũng chẳng thành tựu. Bồ-tát đối với thiền định mà dùng chánh thọ, đối với các pháp không nghĩ ngợi, cũng không có gì xả bỏ, cũng chẳng hợp lại, đối với các cảnh giới tu hành không nương vào thiền để lập các pháp thiền, đối với các pháp… cũng không lẫn lộn, chẳng phải thân, chẳng phải tâm. Suy nghĩ về chí tánh của thiền định thì không có gì ứng với hạnh, chẳng dùng thiền hạnh, dùng bình đẳng với “bản vô” mà chánh thọ. Đối với pháp bản tịnh mà đạt đến bình đẳng. Bình đẳng với tất cả mọi người là đạt đến bình đẳng. Các pháp vốn tịnh, bình đẳng không có sắc, chẳng dùng Tam-muội, hành động luôn ứng hợp. Tâm chẳng trụ bên trong, cũng chẳng bên ngoài, “Thức” không chỗ trụ, qua khỏi tất cả những sự rơi vào điên đảo, vượt ngoài thiền định chánh thọ của bậc ngũ thông Thanh văn, Duyên giác. Bồ-tát đó dùng thiền định phát ra trí tuệ tối thượng để tiêu trừ phiền não kiến chấp. Bồ-tát đó dùng thiền định phát ra chí nguyện với đạo và khai hóa chúng sinh, tức là Như Lai luôn có một thiền định đến với Diệt độ. Đó là Bồ-tát kiến lập thiền định trí tuệ.

Bồ-tát quan sát các pháp bằng Tuệ nhãn, cũng chẳng phải Nhục nhãn, cũng chẳng phải Thiên nhãn. Quán các pháp rồi, thấy các pháp tịch, quán sát các pháp mặc. Các pháp tịch mịch không hành, không xứ. Các pháp điềm nhiên không thành tựu. Quan sát khắp các pháp đều đã như vậy cả. Người quan sát như vậy thì chính là pháp quán. Pháp quán như vậy thì chẳng thấy đường về của các pháp. Người ấy có thấy pháp mà chẳng quan sát, chẳng dùng thấy pháp mà thành tựu quan sát vậy. Không tìm, không hiểu, chẳng biết, chẳng thấy thì đó là thấy pháp. Không ngã, không nhân, không thọ mạng thì đó là thấy pháp. Giả sử Bồ-tát quan sát pháp như thế này, thấy người điên đảo, muốn giúp cho chúng sinh mà phát tâm Đại bi. Pháp thanh tịnh như vậy mọi người đều nhờ cậy. Đến đây, Bồ-tát phát chí rộng lớn muốn độ chúng sinh mà chúng sinh đó thì thường không mầm mống. Đó là Bồ-tát kiến lập tuệ pháp.

 

Phẩm 4: VÔ TẬN TẠNG

Đức Phật bảo:

-Này Long vương, sao gọi là Bồ-tát kiến lập trí tuệ vì người nói pháp chẳng thấy có người?

-Người là không ngã, không nhân, chẳng phải thân. Người là tịch mịch, người không thật có. Người vốn thanh tịnh. Người là âm thanh. Người là cái tên gọi vậy. Người là Không, Vô tướng, Vô nguyện. Người chẳng phải có số. Người như xét về chân lý. Người không sinh ra. Người chẳng sinh khởi. Vì người nói pháp là giảng nói người thanh tịnh, chẳng chấp ngã, ngã sở, không thọ, không mạng, chẳng diệt tự nhiên, chẳng diệt sở hữu. Theo hạnh vốn có của người mà vì họ nói pháp, huống là chúng sinh vốn tự nhiên tịnh, tự nhiên không ngã, tự nhiên không hình tức là người tự nhiên. Giả sử, người tự nhiên mà do đây tự nhiên thì các pháp tự nhiên. Giả sử các pháp tự nhiên thì tất cả Phật pháp cũng lại tự nhiên. Đó gọi là tất cả các pháp đều là Phật pháp.

Tất cả các pháp chỉ là giả danh vậy, do gọi mà có tên. Giả sử nói các pháp tức là giảng nói phi pháp. Vì sao? Vì lời nói đúng như pháp thì phi pháp cũng vậy. Như nói lên âm pháp tức là âm phi pháp. Vì sao? Vì pháp giới của các pháp vốn đều thanh tịnh, chẳng thể ngôn thuyết, cũng không sở đắc. Pháp giới vốn tịnh cũng không có cái để nắm giữ. Các pháp của tất cả pháp giới vốn tịnh, hủy hoại tất cả pháp thì thành tựu chỗ nào? Đó là các Đức Phật vì chúng sinh nói Kinh pháp. Do nhân duyên tịch mịch như vậy nên chẳng có sự giáo hóa hiểu biết của âm thanh các Phật pháp vậy.

Phật pháp không giáo hóa mà chẳng thể ở hữu vi, vô vi. Vì sao? Vì chẳng lìa khỏi hữu vi, vô vi mà có giải thoát. Chắc có pháp khác có thể tính kể ư?

Long vương đáp:

-Bạch Thế Tôn! Chẳng có vậy! Vì các pháp vô số, Như Lai vô số!

Đức Phật dạy:

-Đúng vậy, đúng vậy, đúng như lời nói của ông! Các pháp vô số, Như Lai vô số tức là không có hai. Này Long vương! Ý ông thế nào? Nói vô số là có xứ sở ư?

Đáp rằng:

-Bạch Thế Tôn, chẳng phải vậy!

Đức Phật dạy:

-Vì sao vậy? Ông nên biết! Ông phải khởi sự quan sát ấy! Phật pháp không xứ, không lời! Như Phật pháp không xứ, không lời thì tất cả các pháp không xứ, không lời cũng lại như vậy.

Này Long Vương! Ông hãy nhìn xem Đại bi của Như Lai vòi vọi! Nếu đem điều ấy khai hóa chúng sinh thì khiến cho họ an lập kiên cố. Lại tất cả pháp không xứ sở, không ngôn thuyết nên nói chỉ là lời dạy phương tiện: Đây là pháp hữu lậu, đó là pháp vô lậu, đây là việc thế gian, đó là việc xuất thế gian, chấp trước, vô trước, hữu số vô số, hữu vi vô vi, phiền não sân hận, là tích tập là xả bỏ, pháp của phàm phu pháp của Thánh hiền, pháp học, pháp chẳng học, pháp Thanh văn, pháp Duyên giác, pháp Bồ-tát, pháp của Phật…

Đức Phật dạy:

-Này Long Vương! Như vậy, Như Lai vì người thuyết pháp giảng nói xứ sở ấy, cũng chẳng thấy pháp và không có các pháp tưởng. Ví như có người, đối với hư không không sắc, không thấy mà muốn dùng các sắc vẽ vào hư không. Họ vẽ tượng trời và tượng người, tượng voi, ngựa, tượng người đi bộ, kẻ ngồi xe… Người đó vẽ thế có khó không?

Đáp rằng:

-Rất khó, rất khó, thật chưa từng có! Thưa Đấng Thiên Trung Thiên!

Đức Phật dạy rằng:

-Này Long Vương! Việc làm của Như Lai là rất khó. Đối với các pháp đó không sắc, không chấp thủ mà chẳng thể thấy, cũng không văn tự, cũng không sở đắc mà vì tất cả giảng nói dạy bảo, thị hiện ra văn tự. Thiết lập bằng phương tiện này mới là rất khó. Nếu có người tin vào tượng pháp như vậy thì chính là những người phần lớn được thành tựu. Nếu người nhận nghĩa pháp thâm diệu này thì chẳng bị sự chi phối của các ma. Nhớ lại đời quá khứ của ta, này Long Vương! Ta lại thấy cúng dường vô lượng số Đức Phật, luôn sẳn sàng bỏ nhà, tịnh tu phạm hạnh. Nhưng những Đức Như Lai đó chưa từng vì ta nói pháp thâm diệu, ứng với bệnh mà giảng nói bố thí, trì giới, pháp học đạo, lắng nghe lời dạy nhẫn nhục, nhân ái, hòa thuận, ở yên nơi vắng lặng, công đức của chỉ túc. Vì sao? Vì đức tu hành chưa xong. Đức tu hành xong rồi, từ Đức Như Lai Đại Thù Diệu, ta liền được nghe pháp thâm diệu ấy, ngay tức thời chứng pháp Nhẫn nhu thuận. Cho ông nên biết ý nghĩa này, ông nên khởi sự quan sát này: Nghe pháp thâm diệu đó thì công đức đầy đủ. Từ đời quá khứ bậc chánh giác nhận Kinh thâm diệu này, không tưởng, không danh, mọi nhân duyên nhơ uế, không ngã, không nhân, không thọ mạng, tin ưa, thọ trì, phúng tụng vì người khác giảng nói thì phước ấy rất nhiều. Nếu có Bồ-tát thương xót tất cả muôn khiến cho yên ổn, khiến cho mỗi một chúng sinh trong tam thiên đại thiên thế giới đều được yên ổn, chư Thiên, nhân dân tập hợp công đức này thí cho một người.

       Này Long Vương! Ý ông thế nào? Bồ-tát ấy chắc đã vì chúng sinh gia tăng thêm yên ổn vô cực chăng?

Đáp rằng:

-Rất nhiều, rất nhiều, thưa Đấng Thiên Trung Thiên!

Đức Phật dạy:

-Có Bồ-tát cho những chúng sinh ngần ấy yên ổn, nhưng nếu ông vì người nói một câu về nghĩa của vô thường, khổ, không, phi thân, về việc Không, Vô tướng, Vô nguyện, vô ngã, vô nhân, vô thọ, vô mạng, chẳng sinh, chẳng khởi thì phước bố thí yên ổn đó khó xưng lường. Vì sao? Vì sự yên ổn hữu vi thì chúng sinh đều trải qua, còn sự yên ổn vô vi thì họ chưa từng trải vậy. Bồ-tát ấy dùng pháp thâm diệu này làm âm thanh, lấy yên ổn vô vi làm đồ ăn uống. Vậy nên, Bồ-tát muốn tự lập nghĩa, đủ nguyện cho thế gian thì phải học pháp thâm diệu.

Nếu có Bồ-tát đã ngồi tại pháp hội mà bỏ pháp thâm diệu, nói tạp cú, trau chuốt thì đó là người đoạn tuyệt sự giáo hóa của chánh pháp. Vì sao? Vì pháp thâm diệu đó ban bố khắp cõi Diêm-phù-lợi mà chẳng mất hết sự nghe nhận của con người. Người ưa thích pháp thì chẳng đủ để nói, còn chẳng phải người nghe pháp thì rất nhiều. Giả sử Pháp sư giấu pháp thâm diệu, đọc tụng tạp cú, là người chẳng ưa pháp sâu xa thì trời chẳng hoan hỷ. Thiện nam đó đã theo niềm vui của đời mà nói việc thế tục. Than ôi! Đau đớn thay!

Trong chúng hội này, người không nói pháp, lòng lo buồn mà lui ra, bỏ đi.

Hải Long Vương bạch Đức Thế Tôn:

-Pháp học đạo bố thí, trì giới là việc thế tục sao? Bỏ nhà xuất gia học tịnh tu phạm hạnh chẳng phải là Phật pháp sao?

Đức Thế Tôn đáp:

-Các Đức Phật ra đời rồi khởi lên pháp vô khởi. Hành hóa ở ba cõi, có sự cứu hộ đều là việc thế tục, chẳng phải là lời nói của Phật. Những cái đó thì sao gọi là bốn Thiền, bốn Tâm bình đẳng, bốn Định vô sắc, năm Thông, mười Hạnh thiện, Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Nhất tâm, Trí tuệ, sách sớ, tính toán, kinh quyển, y học, phương thuốc, nghề khéo, kỹ thuật, thân tưởng, y thực, tài vật, cái yêu thích, thiền định… hành động tại ba cõi đều là việc thế tục, chẳng phải là lời của Như Lai?

Đức Phật bảo Long vương:

-Phật xuất hiện ở thế gian chưa từng nghe khổ của phi thường, tịch của phi ngã, trừ tan nghĩa Khổ, đoạn dứt nghĩa Tập, chứng đến nghĩa Diệt, tuân tu nghĩa Đạo, vào đến nghĩa Không, qua khỏi Vô tướng, dẫn đến Vô nguyện, đối với các hạnh chẳng sinh, chẳng khởi, nghĩa Ý chỉ, Ý đoạn, Căn, Lực, Thần túc, Giác ý, quan sát tám đường tịch tĩnh, cầu chân đế bản tịnh, như không khởi lên ấm, gieo trồng các nhập là nghĩa không tịch, do các nghĩa chẳng hoại các pháp, chẳng hoại phi pháp, hiểu tất cả pháp chẳng sinh chẳng trưởng thì đều không có cái để khởi lên, chẳng chấp là có thường, không thường, do nhân duyên khởi nên không chỗ sinh ra. Trở lại với bản tịnh mà lìa khỏi sắc dục, hiện vô số pháp vào với đạo pháp. Ở trong đạo pháp không tưởng gì chẳng tưởng, không ứng gì chẳng ứng, xả bỏ tất cả niệm tưởng thanh tịnh, chẳng tịnh, không nâng lên không hạ xuống, cửa ấm tối tăm tự nhiên như không, được hạnh bình đẳng thì đối với tưởng bình đẳng với tưởng, vô tưởng, đối với tưởng lìa khỏi tưởng đồng đều với tất cả tưởng; lìa khỏi tất cả tưởng thì không quan sát thấy tịch nhiên, đối với các kiến chấp hiện lên các điên đảo, tất cả bình đẳng, nên gọi là được quả Tu-đà-hoàn đều là âm thanh vậy, cái đó không sở đắc, cũng không chẳng đắc, chẳng thọ, chẳng xả.

Đức Phật nói với Long Vương:

-Những điều trước đó nói về sự ngự trị của các pháp, sở đắc chẳng thể xưng nói, đến với Thanh văn thì được thừa Thanh văn, đến với Duyên giác được thừa Duyên giác, đến với Bồ-tát chứng được pháp Nhẫn bất khởi, thành đạo Như Lai Vô thượng Chánh chân, làm bậc Tối Chánh Giác. Ấy gọi là lời nói của Phật. Lời nói đó là lời dạy theo tập tục đều là pháp giáo của Phật đối với chân đế. Phật đạo không văn tự, lời Phật không lời, lời Phật không dấu vết, lời Phật không hình tướng, lời Phật không khen ngợi, lời Phật không giáo hóa, lời Phật không dừng lại, lời Phật không danh tự, lời Phật không suy nghĩ, lời Phật dạy không có tâm ý, thức, cũng không có điều để nghĩ. Đó gọi là lời Phật dạy mà chẳng thể nói, cũng không ngổn giáo, chẳng thể chỉ ra, hiện lên.

Đức Phật nói với Long Vương:

-Lời dạy so sánh như vậy mới là lời nói của Phật. Như Lai chẳng dùng văn nghĩa nói pháp, lời dạy không văn tự mới là nói pháp. Vậy nên, không văn tự thì chính là lời Phật. Pháp của Đức Phật nói chẳng có cái để chứng. Diệt tất cả là được pháp của Đức Phật nói. Vậy nên, không được là lời nói của Đức Phật.

Kinh Phật đã nói từng không ngôn giáo, ngôn giáo tịch diệt. Do vậy nên nói rằng, vô giáo là Phật ngôn! Nói pháp không chấp thủ pháp, không nương cậy vào pháp, không buông lung pháp, chẳng tưởng đến pháp, không khởi lên pháp, không hủy hoại pháp, không rốt ráo pháp, không chứng đắc pháp, không chí nguyện pháp, không niệm pháp, không tu hành pháp, không phân biệt pháp, không tưởng đến pháp, không mong được pháp, không tư duy pháp.

Đức Phật nói với Long Vương:

-Như Lai vì người nói pháp chưa từng có hành hóa, có sự chứng đắc. Lời nói của ta, tất cả vốn thanh tịnh, pháp không hình sắc. Vậy nên, này Long vương! Các pháp không hình dáng đó gọi là lời nói của Phật.

Lại nữa, sao gọi là lời nói của Phật?

-Hiểu rõ tất cả âm thanh không gì chẳng thấu đạt nên gọi là lời Phật nói. Quan sát quá khứ, vị lai và hiện tại không gì ngăn ngại nên gọi là lời Phật nói, hiểu hết mọi lời nói nên gọi là lời Phật nói, đáp lại được các vấn đề nên gọi là lời Phật nói.

Tất cả nhân duyên đã nói bằng lời nói không gì chẳng rộng rãi nên gọi là lời Phật nói, hiểu biết những lời nói như âm vang của tiếng kêu nên gọi là lời Phật nói, không văn tự, không lời nói nên gọi là lời Phật nói, những văn tự, ngôn thuyết Phật đã dùng cũng đều là lời Phật nói. Vì sao? Vì những văn tự đó là lời nói của Phật quá khứ, vị lai và hiện tại. Lời nói của Phật hôm nay đã nói và vị lai sẽ nói. Do đó tất cả văn tự, các sự ngôn giáo đều gọi là lời Phật nói. Vào được sự so sánh như thế này, hiểu rõ mọi tuệ đó gọi là Bồ-tát phân biệt đạo nghĩa. Vậy nên nói rằng văn tự, ngôn thuyết đều là lời Phật nói.

Chẳng hoại pháp giới, để tâm vào một vị tuệ đó gọi là Bồ-tát phân biệt kinh bản. Vậy nên nói rằng, văn tự ngôn thuyết đều là lời Phật nói. Nếu ứng hợp thuận với pháp tuệ thì đó gọi là Bồ-tát phân biệt thuận tịch. Vậy nên nói rằng, văn tự, ngôn thuyết đều là lời Phật nói. Người nào nói tuệ không xứ sở, không chấp trước thì đó gọi là Bồ-tát phân biệt hiểu rõ.

Vậy nên, này Long Vương! Tất cả các pháp không gì chẳng trở về sự phân biệt bốn nghĩa này. Bồ-tát hiểu bốn nghĩa này thì văn tự, ngôn thuyết, các chỗ hướng đến, thân hiện tại không gì chẳng khuyên tiến tới đều hiểu lời Phật dạy. Vậy nên không chấp trước vốn không chỗ trụ. Ở trăm ngàn kiếp có ngôn thuyết không thể hạn chế. Vì sao? Vì đó gọi là Vô tận tạng Tổng trì môn.

Giả sử Bồ-tát chứng được Tổng trì ấy thì nói Vô tận cú, khéo thuận với lời dạy, bỏ được lỗi lầm đến đi, luôn ứng hợp, không dựa vào sự trang nghiêm hay trăm ngàn lời lẽ vi diệu. Nhẫn với bản tịnh hỗ tương chẳng loạn, nghĩa tôn ty hiểu rõ bình đẳng, soi sáng phiền não sân nhuế, vào tất cả hạnh mà thuận giải thoát, tám muôn bốn ngàn các căn liền ứng hợp, khéo giảng bản tánh mà vì họ nói pháp, chẳng hết tám nạn, các pháp âm thanh cũng không hết và ví dụ tuệ ba đời không hết mà nguyện quả báo ứng có thể hết sao?

– Kinh điển thuận khắp có thể hết sao?
– Sở nhập của tâm có thể hết sao?
– Dấu ngu của nhân duyên có thể hết sao?
– Thuận tại ái dục có thể hết sao?
– Phát khởi Tổng trì ấy có thể hết sao?
– Nói chỗ của thừa có thể hết sao?
– Phân biệt chỗ của pháp có thể hết sao?
–  Tạp cú thâm diệu có thể hết sao?
–  Đến với cứu cánh có thể hết sao?
–  Lời nói nghịch, thuận có thể hết sao?
–  Lời nói khuôn phép của văn tự có thể hết sao?
–  Khen ngợi Phật, Pháp, Tăng có thể hết sao?
– Nói chánh đế có thể hết sao?
–  Phật đạo, Pháp phẩm có thể hết sao?
–  Sự đáp ứng tội, phước có thể hết sao?
–  Giảng Độ vô cực có thể hết sao?

Đức Phật nói với Long Vương rằng:

Đó gọi là giảng thuyết vô tận, hiệu là Pháp Tạng Vô Tận, là pháp môn Tổng trì vậy.

Pages: 1 2 3 4
Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.