Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

KINH THỦ LĂNG NGHIÊM

DỊCH ÂM – DIỄN NGHĨA – YẾU GIẢI

Hán dịch: Bát Thích Mật Đế
Việt dịch: Hòa Thượng Thiền Sư Thích Từ Quang

 

QUYỂN 3

 

1. Phục thứ, A-Nan! Vân hà lục-nhập, bổn Như-Lai Tạng, diệu Chơn-Như tánh?

2. A-Nan tức bỉ mục tình, trừng phát lao giả, kiêm mục dữ lao, đồng thị Bồ-Đề, trừng phát lao tướng. Nhân vu minh ám, nhị chưởng vọng-trần, phát kiến cư trung, hấp thử trần-tượng, danh vi kiến tánh, thử kiến ly bỉ, minh ám nhị trần, tất kiến vô thể.

3. Như thị, A-Nan! Đương tri thị kiến, phi minh ám lai, phi ư căn xuất, bất ư không sanh. Hà dĩ cố? Nhược tùng minh lai, ám tức tùy diệt, ứng phi kiến ám nhược tùng ám lai, minh tức tùy diệt, ứng vô kiến minh, nhược tùng căn sanh, tất vô minh ám, như thị kiến tinh, bổn vô Tự-Tánh, nhược ư không xuất, tiền thuộc trần-tượng, qui đương kiến căn, hựu không tự quan, hà quan nhữ nhập.

Thị cổ đương tri, nhãn nhập hư-vọng, bổn phi nhân-duyên, phi tự-nhiên tánh.

4. A-Nan! Thí như hữu nhân, dĩ lưỡng thủ chỉ, cấp tắc kỳ nhĩ, nhĩ căn lao cố, đầu trung tác thinh, kim nhỉ giữ lao, đồng thị Bồ-Đề, trừng phát lao tướng.

5. Nhân vu động tịnh, nhị chưởng vọng-trần, phát văn cư trung, hấp thử trần-tượng, danh thính văn tánh, thử văn ly bĩ, động tịnh nhị trần, tất cảnh vô thể.

6. Như thị, A-Nan! Đương tri thị văn, phi động tịnh lai, phi ư căn xuất, bất ư không sanh. Hà dĩ cố? Nhược tùng tịnh lai, động tức tùy diệt, ứng phi văn động, nhược tùng động lai, tịnh tức tùy diệt, ứng vô giác tịnh, nhược tùng căn sanh, tất vô động tịnh, như thị văn thể, bổn vô tự tánh, nhược ư không xuất, hữu văn thành tánh, tức phi hư-không, hựu không tự văn, hà quan nhữ nhập.

Thị cố đương tri, nhĩ-nhập hư-vọng, bổn phi nhân-duyên, phì tự-nhiên tánh.

7. A-Nan! Thí như hữu nhân cấp xúc kỳ tĩ, xúc cữu thành lao, tắc ư tĩ trung, văn hữu lãnh xúc, nhân xúc phân-biệt, thông tắc hư thiệt, như thị nãi chí, chư hương xú khí, kiêm tỹ dữ lao, đồng thị Bồ-Đề, trừng phát lao tướng. Nhân vu thông tắc, nhị chưởng vọng- trần, phát văn cư trung, hấp thử trần tượng, danh hứu văn tánh, thử văn ly bỉ, thông tắc nhị trần, tất cánh vô thể.

8. Đương tri thị văn, phi thông tắc lai, phi ư căn xuất, bất ư không sanh. Hà dĩ cố?

Nhược tùng thông lai, tắc tắc văn diệt, vân hà tri tắc, như nhân tắc hữu, thông tắc vô văn vân hà phát minh, hương xú đẳng xúc. Nhược tùng căn sanh, tất vô không tắc, như thị văn cơ, bổn vô Tự- Tánh. Nhược tùng không xuất, thị văn tự đương, hồi hữu nhữ tỹ, không tự hữu văn, hà quan nhữ nhập?

Thị cô’đương tri, tỹ nhập hư-vọng, bổn phi nhân-duyên, phi tự- nhỉên tánh.

9. A-Nan! thí như hữu nhân, dĩ thiệt đê vẫn, thục đê linh lao, kỳ nhân nhược bịnh, tắc hữu khổ vị, vô bịnh chi nhân, vi hữu điềm xúc, do điềm dữ khổ hiển thử thiệt căn, bất động chi thời đạm tánh thường tại, kiêm thiệt dữ lao, đồng thị Bồ-Đề, trừng phát lao tướng. Nhân điềm khổ đạm, nhị chưởng vọng-trần, phát tri cư trung, hấp thử trần-tượng, danh tri vị tánh; thử tri vị tánh, ly bỉ điềm khổ, cập đạm nhị trần, tất kiến vô thể.

10. Như thị, A-Nan! Đương tri như thị, thường khổ đạm tri, phi điềm khổ lai, phi nhân đạm hữu, hựu phi căn xuất, bất ư không sanh. Hà dĩ cố?

Nhược điềm khổ đạm tắt tri diệt. Vân hà tri đạm? Nhược tùng đạm xuất, điềm tức tri vong, phục vân hà tri, điềm khổ nhị tướng? Nhược tùng thiệt sanh, tất vô điềm đạm, cập dữ khổ trần, tư tri vị căn, bổn vô Tự-Tánh. Nhược ư không xuất, hư-không tự-vị, phi nhữ khẩu tri, hựu không tự tri, hà quan nhữ nhập?

Thị cố đương tri, thiệt nhập hư-vọng, bổn phi nhân-duyên, phi tự-nhiên tánh.

11. A-Nan! Thí như hữu nhân, dĩ nhứt lãnh thủ, xúc ư nhiệt thủ, nhược lãnh thế đa, nhiệt dã tùng lãnh, nhược nhiệt công thắng, lãnh giả thành nhiệt, như thị dĩ thử, hiệp giác chi xúc, hiển ư ly tri, thiệp thế nhược thành, nhân vu lao xúc, kiêm thân dữ lao, đồng thị Bồ-Đề, trừng phát lao tướng. Nhân vu ly hiệp, nhị chưởng vọng- trần, phát giác cư trung, hấp thử trần tượng, danh vi giác-tánh, thử tri giác-thể, ly bỉ ly hiệp, di thuận nhị trần, tất kiến vô thể.

12. Như thị, A-Nan! Đương tri thị giác, phi ly hiệp lai, phi di thuận hữu, bâ”t ư căn xuâ”t, hựu phi không sanh. Hà dĩ cô”?

13. Nhược hiệp thời lai, ly đương dĩ diệt, vân-hà giác ly? Dĩ thuận nhị tướng, diệc phục như thị. Nhược tùng căn xuất, tất vô ly hiệp. Vi thuận tứ tướng, tắc nhữ thân tri, nguyên vô Tự-Tánh, tất ư không xuất, không tự tri giác, hà quan nhữ nhập? Thị cố đương tri, thân- nhập hư-vọng, bổn phi nhân-duyên, phi tự-nhiên tánh.

14. A-Nan! Thí như hữu nhân, lao quyện tắc manh, thóa thục tiện ngộ, lạm trần tư ức, thất ức vi vong, thị kỳ điên-đảo, sanh trụ dị diệt, hấp tập trung qui, bất tương du việt, xứng ý tri căn, kiêm ý dữ lao, đồng thị Bồ-Đề, trừng phát lao tướng. Nhân vu sanh diệt, nhị chưởng vọng-trần, tập tri cư trung, hấp toát nội trần kiến văn nghịch lưu, lưu bâ”t cập địa, danh giác tri tánh, thử giác tri tánh, ly bĩ mụ mị, sanh diệt nhị trần, tất kiếu vô thể.

15. Như thị, A-Nan! Đương tri như thị, giác tri chi căn, phi ngộ mỵ lai, phi sanh diệt hữu, bất ư căn xuất, diệt phi không sanh. Hà dĩ cố?

Nhược tùng ngộ lai, mỵ tức tùy diệt, tương hà vi mỵ? Tất sanh thời hữu, diệt tức đồng vô, linh thì thọ diệt. Nhược tùng diệt hữu, sanh tức diệt vô, thùy tri sanh-giả. Nhược tùng căn xuất, mụ mỵ nhị tướng, tùy thân khai hiệp, ly tư nhị thể, thử giác tri giã, đồng ư không hoa, tất kiến vô tánh. Nhược tùng không sanh, tự thị không tri, hà quan nhữ nhập.

Thị cố đương tri, ý nhập hư-vong, bổn phỉ nhân-duyên, phỉ tự- nhiên tánh.

16. Phục thứ, A-Nan! Vân-hà thập nhị xứ bổn Như-Lai Tạng, diệu chơn-như tánh?

17. A-Nan! Nhữ thả quan thử, kỳ đà thọ lâm, cập chư tuyền trì. Ư ý vân hà? Thử đẳng vi thị, sắc sanh nhãn kiến, nhãn sanh sắc tướng.

A-Nan! Nhược phục nhãn căn, sanh sắc tướng giả, kiến không phi sắc, sắc tánh ứng tiêu, tiêu tắc hiển phát, nhứt thiết đô vô, sắc tướng ký vô, thùy minh không chất, sắc diệt như thị. Nhược phục sắc trần, sanh nhãn kiến dã, quan không phi sắc, kiến tức tiên vong, song tắc đô vô, thùy minh không sắc. Thị cố đương tri, kiến dữ sắc không cụ vô xứ sở, tức sắc dữ kiến, nhị xứ hư-vọng, bổn phi nhân-duyên, phi tự-nhiên tánh.

18. A-Nan! Nhữ cánh thính thử, Kỳ-đà viên trung, thực biện kích cổ, chúng tập chàng chung, chung cổ âm thinh, tiền hậu tương tục, Ư ý vân hà? Thử đẳng vi thị, thinh lai nhĩ biên nhĩ vân thinh xứ?

19. A-Nan! Nhược phục thử thinh, lai ư nhĩ biên, như ngã khất thực, Tất-La-Phiệt thành, tại Kỳ-đà lâm, tắc vô hữu ngã, thử thinh tất lai. A-Nan nhĩ xứ Mục-Liên, Ca-Diếp ưng bất cụ văn, hà huống kỳ trung, nhứt thiên nhị bá, ngũ thập sa-môn, nhứt văn chung thinh, đồng lai thực xứ. Nhược phục nhữ nhĩ, vân bỉ thinh biên, như ngã qui trú, Kỳ-đà lâm trung, tại Tất-La-Phiệt thành, tắc vô hữu ngã, nhữ văn cổ thinh, kỳ nhĩ dĩ vãng, kích cổ chi xứ, chung thinh tề xuất, ứng bất cụ văn, hà huống kỳ trung, tượng mã ngưu dương, chưởng chưởng âm hướng, nhược vô lai-vãng, diệt phục vô văn.

Thị cố đương tri, thinh giữ âm thinh, cụ vô xứ sở, tức thính giữ thinh, nhị xứ hư-vọng, bổn phi nhơn-duyên, phi tự-nhiên tánh.

20. A-Nan! Nhữ hựu khứu thử, lư trung chiên-đàn, thử hương nhược phục, nhiên ư nhứt chu, Thất-La-Phiệt thành, tú thập lý nội, dông thời văn khí. Ư ý vân hà? Thử hương vi phục, sanh chiên-đàn mộc? Sanh ư nhữ tỹ vi sanh ư không?

21. A-Nan! Nhược phục thử hương, sanh ư nhữ tỹ, xưng tỹ sở sanh, đương tùng tỹ xuất, tỹ phi chiên-đàn, vân hà tỷ trung, hữu chiên đàn khí? Xưng nhữ văn hương, đương ư tỹ nhập, tỹ trung xuất hương, thuyết văn phi nghĩa. Nhược sanh ư không, không tánh thường hằng, hương ứng thường tại, hà tại lư trung, nhiệt thử khô mộc? Nhược sanh ư mộc, tắc thử hương chất, nhân nhiệt thành yên, nhược tỹ đắc văn, hiệp mông yên khí, kỳ yên đằng không, vị cập diệu viển, tứ thập lý nội, vân hà dĩ vãn!

Thị cố đương tri, hương tỹ dữ văn, cụ vô xứ sở, tức khứu dữ hương, nhị xứ hư-vọng, bổn phi nhân-duyên, phi tự-nhiên tánh.

22. A-Nan! Nhữ thường nhị thời, chúng trung trì bát, kỳ gian hoặc ngộ tô-lạc đề hồ, danh vi thượng vị. Ư ý vân hà? Thử vị vi phục, sanh ư không trung? Sanh ư thiệt trung? Vi sanh thực trung.

23. A-Nan ! Nhược phục thử vi sanh ư nhữ thiệt, tại nhữ khẩu trung, kỳ hữu nhứt thiệt, kỳ thiệt nhĩ thời, dĩ thành tô vị, ngộ hắc thạch mật, ứng bất suy di; nhược bất biến di, bất danh tri vị, nhược biến di giả, thiệt phi đa thể, vân hà đa vị, nhứt thiết chi tri? Nhược sanh ư thực, thực phi hữu thức, vân hà tự tri? Hựu thực tự tri, tức đồng thực tha hà dự ư nhữ, danh vị chi tri? Nhược sanh ư không, nhữ dam hư-không, đương tác hà vị? Tất kỳ hư-không, nhược tác hàm vi, ký hàm nhữ thiệt, diệc hàm nhữ diện, tắc thử giới nhân, đồng ư hải ngư, ký thường thọ hàm, liễu bất tri đạm, nhược bất thức đạm, diệc bất giác hàm, tất vô sở tri, vân hà danh vị?

Thị cô’đương tri, vị thiệt dữ thường, cu vô xứ sở, tức thường dữ vị, nhị cụ hư vong, bổn phi nhân-duyên, phi tự-nhiên tánh.

24. A-Nan! Nhữ thường thần triêu, dĩ thủ ma đầu. Ư ý vân-hà? Thử ma sở tri, thùy vi năng xúc, năng vi tại thủ, vi phục tại đầu. Nhược tại ư thủ, đầu tắc vô tri, vân hà thành xúc? Nhược các các hữu, tắc nhữ A-Nan, ưng hữu nhị thân; nhược đầu dữ thủ, nhứt xức sở sanh, tắc thủ dữ đầu, đương vi nhứt thể, nhược nhứt thể giả, xúc tắc vô thành; nhược nhị thể giả, xúc thùy vi tại? Tại năng phi sở, tại sở phi năng, bất ứng hư-không, dữ nhữ thành xúc.

Thị cô’đương tri, giác xúc dữ thân, cu vô xứ sở, tức thân dữ xúc, nhị cu hư-vọng, bổn phi nhân-duyên, phi tự-nhiên tánh.

25. A-Nan! Nhữ thường ý trung, sở duyên thiện-ác, vô ký tâm tánh, sanh thành pháp tắc, thử pháp vi phục, tức tâm sở sanh? Vi đương ly tâm, biệt hữu phương sở?

26. A-Nan! Nhược tức tâm giả, pháp tắc phi trần, phi tâm sở duyên, vân hà thành xứ? Nhược ly ư tâm, biệt hựu phương sở, tắc pháp Tự-Tánh, vi tri phi tri? Tri tắc danh tâm, dị nhữ phi trần, đồng tha tâm lượng, tức nhữ tức tâm, vân hà nhữ tâm, cánh nhị ư nhữ? Nhược phi tri giả, thử trần ký phi, sắc thinh , hương vị, ly hiệp lãnh noãn, cập hư-không tướng, đương ư hà tại? Kim ư sắc không đô vô biểu thị, bất ưng nhân gian, cánh hữu không ngoại, tâm phi sở duyên, xứ tùng thì lập.

Thị cố đương tri, pháp tắc dữ tâm, cu vô xứ sở tắc ý dữ pháp, nhị cu hư-vọng, bổn phi nhân-duyên, phi tự-nhiên tánh.

27. Phục thứ A-Nan! Vân hà thập bát giới, bổn Như-Lai Tạng, diệu chơn-như tánh?

28. A-Nan! Như nhữ sở minh, nhãn sắc vi duyên, sanh ư nhãn- thức, thử thức vi phục, nhân nhãn sở sanh, dĩ nhãn vi giới, nhơn sắc sở sanh, dĩ sắc vi giới.

A-Nan! Nhược nhân nhãn sanh, ký vô sắc không, vô khả phân- biệt, túng hữu nhữ thức, dục tương hà dụng, nhữ kiến hựu phi, thanh, huỳnh, xích, bạch, vô sở biểu thi, tùng hà lập giới? Nhược nhân sắc sanh, không vô sắc thời, nhữ thức ứng diệt, vân hà thức tri, thị hư-không tánh? Nhược sắc biến thời, nhữ diệc thức kỳ sắc tướng thiên biến, nhữ thức bát thiên, giới tùng hà lập? Tùng biến tắc biến, giới tướng tự vô, bất biến tắc hằng, ký tùng sắc sanh, ứng bất thức tri, hư-không sở tại. Nhược kiêm nhị chưởng, nhãn sắc cộng sanh, hiệp tắc trung ly, ly tắc lưỡng hiệp, thể tánh tạp-loạn, vân hà thành gới?

Thị cố đương tri nhãn sắc vi duyên, sanh nhãn-thức-giới, tam xứ đô vô, tắc nhãn dữ sắc, cập sắc-giới tam, bổn phỉ nhân-duyên, phi tự-nhỉên tánh.

29. A-Nan! Hựu nhữ sở minh, nhĩ thinh vi duyên, sanh ư nhĩ thức, thử thức vi phục, nhân nhĩ sở sanh, dĩ nhĩ vi giới, nhân thinh sở sanh, dĩ thinh vi giới.

30. A-Nan! Nhược nhân nhĩ sanh, động tịnh nhị tướng, ký bất hiện tiền, căn bất thành tri, tất vô sở tri, tri thượng vô thành, thức hà hình mạo? Nhược thủ nhĩ văn vô động tịnh cô”, văn vô sở thành, vân hà nhĩ hình, tạp sắc xúc trần, danh vi thức-giđi, tắc nhĩ-thức- giới, phục tùng thùy lập? Nhược sanh ư thinh, thức nhân thinh hữu, tắc bất quan văn, vô văn tắc vong, thinh tướng sở tại, thức tùng thinh sanh, hưá, thinh hữu thinh tướng, văn ứng văn thức, bất văn phi giới, văn tấc đồng thinh, thức dĩ bi văn, thùy tri văn-thức? Nhược vô tri giả, chung như thảo-mộc, bất ứng thinh văn, tạp thành trung giới, giới vô trung vị, tấc nội ngoại tướng, phục tùng hà thành?

Thị cố đương tri, nhĩ thinh vỉ duyên, sanh nhĩ-thức-giới, tam xứ đô vô, tắc nhĩ dữ thinh, cập thinh giói tam, bổn phi nhân-duyên, phi tự-nhiên tánh.

31. A-Nan! Hựu nhữ sở minh, tỹ hương vi duyên, sanh ư tỹ thức, thử thức vi phục, nhân tỹ sở sanh, dĩ tỹ vi giới, nhân hương sở sanh, dĩ hương vi giới?

32. A-Nan! Nhược nhân tỹ sanh, tắc nhữ tâm trung, dĩ hà vi tỹ? Vi thủ nhục hình, song trảo chi tướng? Vi thủ khứu tri, động giao chi tánh? Nhược thủ nhục hình, nhục châ”t nãi thân, thân tri tất xúc, danh thân phi tỹ, danh xúc tức trần, tỹ thượng vô danh, vân hà lập giới? Nhược thủ khứu tri, hựu nhữ tâm trung, dĩ hà vi tri? Dĩ nhục vi tri, tắc nhục chi tri, nguyên xúc phi tỹ, dĩ không vi tri, không tắc tự tri, nhục ưng phi giác, như thị tắc ứng, hư-không thị nhữ, nhữ thân phi tri, kim nhựt A-Nan, ưng vô sở tại, dĩ hương vi tri, tri tự thuộc hương, hà dự ư nhữ? Nhược hương xú khí, tất sanh nhữ tỹ, tắc bỉ hương xú nhị chưởng lưu khí, bất sanh y lan, cập chiên-đàn mộc, nhị vật bất lai, nhữ tự khứu tỹ, vi hương vi xú? Xú tắc phi hương, hương ứng phi xú, nhược hương xú nhị, cụ năng văn dã, tắc nhữ nhứt nhân, ưng hữu lưỡng tỹ, đối ngã vân đạo, hữu nhị A-Nan, thùy vi nhữ thể? Nhược tỹ thị nhứt, hương xú xô nhị, xú ký vi hương, hương phục thành xú, nhị tánh bất hữu, giới tùng thùy lập?

Nhược nhân hương sanh, thức nhân hương hữu, như nhãn hữu kiến, bâ”t năng quang nhãn, nhân hương hữu cố’, ứng bất tri hương, tri tức phi sanh, bất tri phi thức, hương phi tri hữu, hương giới bất thành thức bất tri hương, nhân giới tất phi, tùng hương kiến lập, kỳ vô trung gian, bất thành nội ngoại, bĩ chư văn tánh, tất cảnh hư- vong.

Thị cố đương trí, tỷ hương vi duyên, sanh tỹ thức giới, tam xứ đô vô, tất tỹ dữ hương, cập hương-giới tam, bổn phi nhân-duyên, phi tự-nhỉên tánh.

33. A-Nan! Hựu nhữ sở minh, thiệt vị vi duyên, sanh ư thiệt-thức, thử thức vi phục, nhân thiệt sở sanh, dĩ thiệt vi giới, nhân vị sở sanh, dĩ vị vi giới?

34. A-Nan! Nhược nhân thiệt sanh, tắc chư thế-gian, cam giá Ô- mai, huỳnh-liên, thạch-diêm, tế-tân-cương-quế, đô vô hữu vị, nhữ tự thường thiệt, vi điềm vi khổ? Nhược thiệt tánh khổ, thùy lai thường thiệt, thiệt bất tự thường, thục vi tri giác, thiệt tánh phi khổ, vị bất tự sanh, vân hà lập giới? Nhược nhân vị sanh, thức tư vi vị, đồng ư thiệt căn, ứng bất tự thường, vân hà thức tri, thị vị phi vị? Hựu nhứt thiết vị, phi nhứt vật sanh, vị ký đa sanh, thức ứng đa thể, thức thể nhược nhứt, thể tất vị sanh, hàm đạm cam tân, hòa- hiệp cư sanh, chư biến dị tướng, đồng vi nhứt vị, ứng vô phân-biệt. Phân-biệt ký vô, tắc bất danh thức, vân hà phục danh, thiệt vị thức giới? Bết ứng hư-không, sanh nhữ tâm thức; thiệt vị hòa-hiệp, tức ư thị trung, nguơn vô Tự-Tánh, vân hà giới sanh?

Thị cố đương trí, thiệt vị vi duyên, sanh thiệt-thức-giới, tam xứ đô vô, tắc thiệt dữ vị, cập thiệt-giới tam, bổn phi nhân-duyên, phi tự-nhiên tánh.

35. A-Nan! Hựu nhữ sở minh, thân xúc vi duyên, sanh ư thân thức, thữ thức vi phục nhân thân sở sanh, dĩ thân vi giới? Nhân xúc sở sanh, dĩ xúc vi giới?

36. A-Nan! Nhược nhân thân sanh, tất vô hiệp ly, nhị giác quan duyên, thân hà sở thức. Nhược nhân xúc sanh, tất vô nhữ thân, thùy hữu phi thân, tri hiệp ly giả?

A-Nan! Vật bất xúc tri, thân tri hữu xúc, tri thân tức xúc, tri xúc tất thân, tức xúc phi thân, tức thân phi xúc, thân xúc nhị tướng, nguơn vô xứ sở, hiệp thân tức vi thân tự thể tánh, ly thân tức thị, hư-không đẳng tướng, nội ngoại bất thành, trung vân hà lập? Trung bất phục lập nội ngoại tánh không, tắc nhữ thức sanh, tùng thùy lập giới?

Thị cố đương tri, thân xúc vỉ duyên, sanh than thức giới, tam xứ đô vô, tắc thân dữ xúc, cập thân-gỉới tam, bổn phi nhân-duyên, phi tự nhiên tánh.

37. A-Nan! Hựu nhữ sở-minh, ý pháp vi duyên, sanh ưý-thức, thử thức vi phục, nhân ý sở sanh, dĩ ý vi giới? Nhân pháp sở sanh, dĩ pháp vi giới?

38. A-Nan! Nhược nhân ý sanh, ư nhữ ý trung, tất hữu sở tư, phát minh nhữ ý; nhược vô tiền-pháp, ý vô sở sanh, ly duyên vô hình, thức tướng hà dụng? Hữu nhữ thức tâm, dữ chư tư-lương, kiêm liễu biệt tánh, vi đồng vi dị? Đồng ý tức ý, vân hà sở sanh? Dị ý bất đồng,ứng vô sở thức, nhược vô sở thức, vân hà ý sanh? Nhược hữu sở thức, vân hà thức ý? Duy đồng dữ dị, nhị tánh vô thành, giới vân hà lập? Nhược nhân pháp sanh, thế gian chư pháp, bất ly ngũ trần, nhữ quan sắc pháp, cập chư thinh pháp, hương pháp vị pháp, cập dữ xúc pháp, tướng trạng phân minh, dĩ đối ngũ căn, phi ý sở nhiếp, nhữ thức quyết định, y ư pháp sanh, nhử kim đế quan, pháp pháp hà trạng? Nhược ly sắc không, động tịnh thông tắc, hiệp ly, sanh-diệt, việt thử chư tướng, chung vô sở đắc, sanh tắc sắc không, chư pháp đẳng sanh, diệt tắc sắc không, chư pháp đẳng diệt, sở nhân ký vô, nhân sanh hữu thức, tắc hà hình-tướng? Tướng trạng bất hữu, giới vân-hà sanh?

Thị cố dương tri, ý pháp vi duyên, sanh ý-thức giới, tam xứ đô vô, tắc ỷ dữ pháp, cập ý giới tam, bẩn phi nhân-duyên, phi tự- nhiên tánh.

39. A-Nan bạch Phật ngôn:

– Thế-Tôn! Như-Lai thường thuyết, hòa-hiệp nhân-duyên, nhứt thiết thế-gian, chưởng chưởng biến hóa, giai nhân tứ đại hòa-hiệp pháp minh, vân hà Như-Lai, nhân-duyên tự-nhiên, nhị cụ bài tẩn? ngã kim bất tri, tư nghĩa sở thuộc, duy thùy ai mẩu, khai thị chúng- sanh, trung đạo liễu-nghĩa, vô hý-luận pháp.

40. Nhĩ thời, Thế-Tôn-cáo A-Nan ngôn: Nhữ thiên yễm ly, Thinh- văn Duyên-giác, chưtiểu-thừa pháp, phát tâm cần-cầu, vô-thượng Bồ-Đề, cố ngã kim thời, vi nhữ khai thị, đệ nhứt nghĩa-đế, như hà phục tương, thế-gian hý-luận, vọng tưởng nhân-duyên, nhi tự truyền nhiễu? Nhữ tuy đa văn, như thuyết dược-nhân, chơn dược hiện- tiền, bất năng phân-biệt, Như-Lai thuyết vi, chơn khả liên-mẫn.

41. Nhữ kim đế thính, ngô đương vị nhữ, phân-biệt khai-thị, diệc linh đương-lai, tu đại-thừa giã, thông-đạt thiệt-tướng.

A-Nan mặc nhiên, thừa Phật Thánh-chỉ.

42. A-Nan! Như nhữ sở ngôn: Tứ đại hòa-hiệp, phát minh thế- gian, chưởng chưởng biến-hóa.

A-Nan! Nhược bỉ đại-tánh, thể phi hòa-hiệp, tắc bất năng dữ chư đại tạp hòa, du như hư-không, bất hòa chư sắc, nhược hòa- hiệp giã, đồng ưbiến-hóa, thỉ-chung tương thành, sanh-diệt tương- thục, sanh-tử tử-sanh, sanh sanh tử tử, như triền hỏa luân, vị hữu hưu tức. A-Nan! Như thũy thành băng, băng hoàn thành thũy.

43. A-Nan! nhữ quan địa-tánh, thố vi đại-địa, tế vi vi-trần, chí lân- hư-trần, chước bỉ cực vi, sắc biên tế tướng, thất phần sở thành, cánh chước lân-hư, tức thiệt không-tánh.

44. A-Nan! Nhược thử lân-hư, chước thành hư-không, đương tri hư-không, xuất sanh sắc tướng, nhữ kim vấn ngôn, do hòa hiệp cố, xuất sanh thế-gian, chư biến-hóa tướng. Nhữ thả quan thử nhứt lân-hư trần,dụng cơ hư-không, hòa hiệp nhi hữu, bất ưng lân hư, hiệp thành lân hư, hựu lân hư trần, chước nhập không giả, dụng kỷ sắc tướng, hiệp thành hư-không? Nhược sắc hiệp thời, hiệp sắc phi không, nhược không hiệp thời, hiệp không phi sắc, sắc do khả chước, không vân hà hiệp.

45. Nhữ nguơn bất tri, Như-Lai Tạng trung, tánh sắc chơn-không, tánh không chơn sắc, thanh-tịnh bổn-nhiên, châu-biến pháp-giới. Tùy chúng-sanh tâm, ứng sở tri lượng, tuần nghiệp phát hiện. Thế- gian vô tri, hoặc vi nhân-duyên, cập tự-nhiên tánh, giai thị thức- tâm, phân-biệt kế độ, dãn hữu ngôn thuyết, đô vô thiệt nghĩa.

46. A-Nan! Hỏa tánh vô ngã, ký ư chư duyên, nhữ quan thành trung, vị thực chi giã, dục suy thoán thới, thủ chấp dương toại, nhựt tiền cầu hỏa.

47. A-Nan! Danh hòa-hiệp giã, như ngã dữ, nhữ, nhứt thiên nhị bá, ngũ thập tỳ-khưu kim vị nhứt chúng, chúng tuy vi nhứt, cột kỳ căn bổn, các các hữu thân, giai hữu sở sanh, thị tộc danh-tụ, như Xá-Lợi-Phất, Bà-la-môn chủng. Ưu-Lầu-Tần-La, Ca-diếp-ba- chủng, nãi chi A-Nan, cù-đàm chủng tánh.

A-Nan! Nhược thử hỏa tánh, nhân hòa hiệp hữu, bỉ thủ chấp kính, ư nhựt cầu hỏa, thử hỏa vi tùng, kính trung nhi xuất? Vi tùng ngại xuất? Vi ư nhựt lai?

48. A-Nan! Nhược ngựt lai ngã, tự năng thiêu nhữ thủ trung chi ngại, lai xứ làm mộc, giai ưng thọ phần. Nhược cảnh trung xuất, tự năng ư cảnh, xuất nhiên ư ngại, cảnh hà bất dung, hư nhữ thủ chấp, thượng vô nhiệt tướng, vân hà dung bạn? Nhược sanh ư ngại, hà tịch nhựt cảnh, quang-minh tướng tiếp, nhiên-hậu hỏa sanh. Nhữ hựu đế quan, cảnh nhân thủ chấp, nhựt tùng Thiên lai, ngại bổn-địa sanh, hỏa tùng hà phương, du lịch ư thử? Nhựt cảnh tương viễn, phi hòa phi hiệp, bất ưng hỏa quang, vô tùng tự hữu. Nhữ do bất tri, Như-Lai Tạng trung, tánh không chơn-không, tánh không chơn hỏa, thanh-tịnh bổn-nhiên, chân-biến pháp-giới, tùy chúng- sanh tâm, ứng sở tri lượng.

49. A-Nan! Đương tri thế-nhân, nhứt xứ chấp cảnh, nhứt xứ hỏa sanh, biến pháp-giới chấp, mản thế-gian khởi, khởi biến thế-gian, ninh hữu phương sở tuần nghiệp phát hiện, thế-gian vô tri, hoặc vi nhân-duyên, cập tự-nhiên tánh, giai thị thức tâm, phân-biệt kế độ, dãn hữu ngôn thuyết, đô vô thiệt nghĩa.

50. A-Nan! Thủy tánh bất định lưu tức vô hằng, nhưThât-La-Phiệt- thành, Ta-Tỳ-Ca-La-tiên, Chước-Ca-La tiên, cập Bát-Đầu Ma-Ha Tát-Đa đẳng, chư đại huyễn sư, cầu Thái-Âm tinh, dụng hòa huyễn dược, thị chư sư đẳng, ư bạch nguyệt trú, chủ chấp phương chư, thừa nguyệt trung thủy; thử thũy vi phục, tùng châu trung xuất? Không trung tự hữu? Vi tùng nguyệt lai?

51. A-Nan! Nhược tùng nguyệt lai, thượng năng viễn phương. Linh châu xuất thũy, sở kinh lâm mộc, giai ứng thổ lưu, lưu tất hà đãi, phương chư sở xuất, bất lưu minh thũy, phi tùng nguyệt gián. Nhược tùng châu xuất, tắc thử châu trung, thường ưng lưu thũy, hà đãi trung tiêu thừa bạch nguyệt trú. Nhược tùng không sanh, không- tánh vô biên, thủy đương vô tế, túng nhân cập thiên, giai đồng thao nịch, vân hà phục hữu, thũy lục không hành. Nhữ cánh đế quan, nguyệt tùng thiên trắc, châu nhân thủ trì, thùa châu thũy bàn, bổn nhân phu thiết, thủy tùng hà phương lưu chú ư thử? Nguyệt châu tương viễn, phi hòa phi hiệp, bất ưng thủy tinh vô tùng tự hữu.

52. Nhữ thượng bất tri Như-Lai Tạng trung, tánh thủy chơn-không, tánh không chơn thủy, thanh-tịnh bổn-nhiên, châu-biến pháp-giới, tùy chúng-sanh tâm, ứng sở tri lượng, nhứt xứ chấp châu, nhứt xứ thủy xuất, biến pháp-giới chấp, mãn pháp giới sanh, sanh mãn thế-gian, ninh hữu phương sở, tuần nghiệp phát hiện, thế-gian, vô tri, hoặc vi nhân-duyên, cập tự-nhiên tánh, giai thị thức tâm, phân- biệt kế đạt, đãn hữu ngôn thuyết, đô vô thiệt nghĩa.

53. A-Nan! Phong-đại tánh vô thể, động tịnh bất thường, nhữ thường chỉnh y, nhập ư đại-chúng, TĂng-già-Lê-giấc, động cập bàng chơn, tắc hữu vi phong, phất bỉ nhân diện; thử phong vi phục, xuất Ca-sa giác, phát ư hư-không, sanh bỉ nhân diện?

54. A-Nan! Thử phong nhược phục, xuất Ca-sa giấc, như nãi phi phong, kỳ y phi diêu, ưng ly nhữ thể. Ngã kim thuyết pháp, hội trung thùy y, nhữ khán ngã y, phong hà sở tại? Bất ưng y trung, hữu tàng phong địa. Nhược sanh hư-không, nhữ y bất động, hà nhân vô phất? Không-tánh thường-trụ, phong ưng thường sanh, nhược vô phong thời, hư-không, đương diệt, diệt không khả kiến, diệt không hà trạng, nhược hữu sanh-diệt, bất danh hư-không, danh vi hư-không vân-hàphong xuất? Nhược phong tự sanh, bỉ phất chi diện, tùng bỉ diện sanh, đương ưng phất nhữ, tự nhữ chỉnh y, vân- hà đảo phất? Nhữ thẩm đế quan, chỉnh ư tại nhữ, diện thuộc bỉ nhân, hư-không tịch-nhiên, bất tham lưu-động, phong tự thùy phương, cổ động lai thử? Phong không tánh-cách, phi hòa phi hiệp, bất ưng phong tánh, vô tùng tự hữu.

55. Nhữ uyển bất tri, Như-Lai Tạng trung, tánh phong chơn-không, tánh không chơn phong, thanh-tịnh bổn-nhiên, châu-biến pháp- giới, tùy chúng-sanh tâm, ưng sở tri lượng.

A-Nan! Như nhữ nhứt nhân, vi động phục y, hữu vi phong xuất, biến pháp-giới phất, mãn quôc-độ sanh, châu-biến thế-gian, ninh hữu phương sỏ, tuần nghiệp phát hiện, thế-gian vô tri, hoặc vi nhân-duyên, cập tự-nhiên tánh, giai thị thức tâm, phân-biệt kế độ, đãn hữu ngôn thuyết, đô vô thiệt-nghĩa.

56. A-Nan! Không-tánh vô hình, nhân sắc hiển phát, nhưThất-La- Phiệt thành, khứ hà diêu xứ, chư Sát-lợi chưởng, cập Bà la-môn Tùy-xá, Thủ-đà, kiêm Phả-la-đọa, Chiên-đà-la đẳng tân lập an cư, tạc tỉnh cầu thủy, xuất thổ nhứt xích, ư trung tắc hữu, nhứt xích hư-không, như thị nãi chí, xuất thổ nhứt trượng, trung-gian hoàn đắc, nhứt trượng hư-không, hư-không thiển-thâm, tùy xuất đa thiểu. Thử không vi đương, nhân thổ sở xuất, nhân tạc sở-hữu, vô nhân tự sanh.

57. A-Nan! Nhược phục thử không, vô nhân tự sanh, vị tạc thổ tiền, hà bất vô-ngại? Duy kiến đại-địa huýnh vô thông-đạt. Nhược nhân thổ xuất, tắc thổ xuất thời ứng kiến không nhập; nhược thổ tiền xuất, vô không nhập giả, vân hà hư-không, nhân thổ nhi xuất? Nhược vô xuất nhập, tắc ứng không thổ, nguơn vô dị nhân, vô dị tắc đồng, tắc thổ xuất thời, không hà bất xuất? Nhược nhân tạc xuất, tắc tạt xuất không, ứng phi xuất thổ, bất nhân tạc xuất, tạc tự xuất thổ, vân hà kiến không? Nhữ cánh thẩm đế, đế thẩm đế quan, tạc tùng nhân thủ, tùy phương vận chuyển, thổ nhân-địa di, như thị hư-không, nhân hà sở xuất? Tạc không hư thiệt, bất ưng vi dụng, phi hòa phi hiệp, bất ưng hư-không, vô tùng tự xuất. Nhược thử hư-không, tánh viên chân-biến, bản bất động diêu, đương tri hiện- tiền, địa thũy hỏa phong, huân danh ngũ đại, tánh chơn viên-dung, giai Như-Lai Tạng, bổn vô sanh-diệt.

58. A-Nan! Nhữ tâm hôn mê, bất ngộ tứ đại, nguyên Như-Lai Tạng, đương quan hư-không, vi xuất vi nhập, vi phi xuất nhập. Nhữ toàn bất tri. Như-Lai Tạng trung, tánh giác chơn-không, tánh không chơn-giác, thanh-tịnh bổn-nhiên, châu biến pháp-giđi, tùy chúng- sanh tâm, ứng sở tri lượng.

A-Nan! Như nhứt tinh không, không sanh nhứt tinh, thập phương hư-không, diệc phục như thị, viên-mãn thập phương, ninh hữu phương sở, tuần nghiệp phát hiện, thế-gian vô tri, hoặc vi nhân- duyên, cập tự-nhiên tánh, giai thị thức-tâm, phân-biệt kế độ, dãn hữu ngôn thuyết, đô vô thiệt nghĩa.

59. A-Nan! Kiến giác vô tri, nhân sắc không hữu, như nhữ kim giả, tại Kỳ-đà-lâm, triêu minh tịch hôn, thiết cư trung tiêu, bạch nguyệt tắc quang, hắc nguyệt tiện, ám, tắc minh ám đẳng, nhân kiến phân tích. Thử kiến vi phục, dữ minh ám tướng, tinh đại hư- không, vi đồng nhứt thể, vi phi nhứt thể? Hoặc đồng phi đồng, hoặc dị phi dị.

60. A-Nan! Thử kiến nhược phục, dữ minh dữ ám, cậpdữhư-không, nguyên nhứt thể giả, tắc minh dữ ám, nhị thể tướng vong, ám thời vô-minh, minh thời vô ám, nhược dữ ám nhứt, minh tắc kiến vong, tất nhứt ư minh, ám thời đương diệt, diệc tắc vân hà, kiến minh kiến ám? Nhược minh ám thù, kiến vô sanh-diệt, nhứt vân hà thành? Nhược thử kiến-tinh, dữ ám dữ minh, phi nhứt thể giả, nhữ ly minh ám, cập dữ hư-không, phân chước kiến nguyên, tác hà hình-tướng, ly minh ly ám, cập ly hư-không, thị kiến nguơn đồng, qui mao thố giấc, minh ám hư-không, tạm sự cu dị, tùng hà lập kiến? Minh, ám, tương bội, vân-hà hoặc đồng? Ly tam nguyên vô, vân hà hoặc dị? Phân không phân kiến, bổn vô biên-bạn, vân hà phi đồng? Kiến ám kiến minh, tánh phi thiên cải, vân hà phi vị.

Nhữ cánh tế thẩm, vi tế thẩm tường, thẩm đế thẩm quan, minh tùng thái-dương, ám tùy hắc nguyệt, thông thuộc hư-không, ung qui đại địa, như thị kiến tinh, nhân hà sở xuất, kiến-giác không ngoan, phi hòa phi hiệp, bất ưng kiến-tinh, vô tùng tự xuất. Nhược kiến văn tri, tánh viên châu-biến, bổn bất động diêu, đương tri vô biên, bất động hư-không, tinh kỳ động diêu, địa thủy hỏa phong, huân danh lục đại, tánh chơn viên-dung, giai Như-Lai Tạng, bổn vô sanh-diệt.

A-Nan! Nhữ tánh trầm-luân, bất ngộ nhữ chi kiến văn giác tri, bổn Như-Lai-Tạng, nhữ đương quan thữ, kiến văn giác tri, vi sanh, vi diệt, vi đồng, vi dị, vi phi sanh diệt, vi phi đồng dị.

61. Nhữ tằng bất tri, Như-Lai Tạng trung, tánh kiến giác minh, giác tinh minh kiến, thanh-tịnh bổn-nhiên, châu-biến pháp-giới, tùy chúng-sanh tâm, ứng sở tri lượng, như nhứt kiến căn, kiến châu pháp-giới, thính Khứu thường xúc, giác xúc giác tri, diệu đức huýnh nhiên, biến châu pháp-giới, viên-mãn thập hư, minh hữu phương sở, tuần nghiệp phát hiện, thế-gian vô tri, hoặc vi nhân- duyên, cập tự-nhiên tánh, giai thị thức tâm, phân-biệt kế độ, đản hữu ngôn thuyết, đô vô thiệt-nghĩa.

62. A-Nan! Thức tánh vô nguyên, nhân vu lục chưởng, căn trần vọng xuất, nhữ kim biến quan thử hội Thánh-chúng, dụng mục tuần lịch kỳ mục châu thị, dãn như cảnh trung, vô biệt phân chước, nhữ thức ư trung, thứ đệ tiêu chỉ, thử thị Văn-Thù, thử Phú-Lầu- Na, thửMục-Kiền-Liên, thửTu-Bồ-Đề, thử Xá-Lợi-Phất; thử thức liễu tri, vi sanh ư kiến, vi sanh ư tướng, vi sanh hư-không, vi vô sở nhân, đột nhiên nhi xuất?

63. A-nan! Nhược nhữ thức tánh , sanh ư kiến trung, như vô minh ám, cập dữ sắc không, tứ chưởng tất vô, nguơn vô nhữ kiến, kiến tánh thượng vô, tùng hà phát thức? Nhược nhữ thức tánh, sanh ư tướng trung, bất tùng kiến sanh, ký bất kiến minh, diệc bất kiến ám, minh ám bất thuộc, tức vô sắc không, bỉ tướng thượng vô, thức tùng hà phát? Nhược sanh ư không, phi tướng phi kiến, phi kiến vô biện, tự bất năng tri, minh ám sắc không, phi tướng diệt duyên, kiến văn giác tri, vô xứ an lập, xứ thử nhị phi, không tắc đồng vô, hữu phi đồng vật, tùng phát nhữ thức, dục hà phân-biệt? Nhược vô sở nhân, đột nhiên nhị xuất, hà bất nhựt trung, biệt thức minh nguyệt? Nhữ cánh tế tường, vi tế tường thẩm, kiến thác nhữ tinh, tương thôi tiền cảnh, khả trạng thành hữu, bất tướng thành vô, như thị thức duyên, nhân hà xở xuất? Thức động kiến trừng, phi hòa phi hiệp, văn thính giác tri, diệc phục như thị, bất ưng thức duyên, vô tùng tự xuất. Nhược thử thức-tâm, bản vô sở tùng, đương tri liễu biệt, kiến văn giác tri viên mãn trạm-nhiên, tánh phi tùng sở, kiêm bỉ hư-không, địa thũy hỏa phong, quan danh thất đại, tánh chơn viên-dung, giai Như-Lai Tạng, bổn vô sanh-diệt.

A-Nan! Nhữ tâm thô phù, bất ngộ kiến văn, phát minh liễu tri, bổn Như-Lai Tạng, nhữ ưng quan thử, lục xứ thức-tâm, vi đồng vi dị? Vi không vi hữu? Vi phi đồng dị? Vi phi không hữu?

64. Nhữ nguyện bất tri Như-Lai Tạng trung, tánh thức minh tri, giác minh chơn-thức, diệu-giác trạm-nhiên, biến châu pháp-giới, hàm thổ thập hư, ninh hữu phương sở, tuần nghiệp phát-hiện, thế- gian vô tri, hoặc vi nhân-duyên, cập tự-nhiên tánh, giai thị thức- tâm, phân-biệt kế độ, đãn hữu ngôn thuyết, đô vô thiệt nghĩa.

65. Nhĩ thời A-Nan, cập chư đại-chúng, mong Phật Như-Lai, vi diệu khai thị, thân tâm dãn nhiên, đắc vô quái-ngại.

Thị chư đại-chúng, các các tự tri, tâm biến thập phương, kiến thập phương không, như quan thủ trung, sở trì diệp vật, nhứt thiết thế-gian, chư sở hữu vật, giai tức Bồ-Đề, diệu minh nguyên tâm, tâm tinh biến viện, hàm lý thập phương, phản quan phụ mẫu, sở sanh chi thân, du bỉ thập phương, hư-không chi trung, xuy nhứt vi trần, nhược tồn nhược vong, như trạm cự-hải, lưu nhứt phù âu, khởi diệt vô tùng; liễu nhiên tự tri, hoạch bản diệu-tâm, thường- trụ bất-diệt, lễ Phật hiệp-chưởng, đắc Vị-tằng-hữu, ư Như-Lai tiền, thuyết kệ tán Phật:

66. Diệu trạm tổng-trì bất-động tôn,
Thủ-Lăng-Nghiêm vương thế hi-hữu,
Tiêu ngã ức Kiếp điên-đảo tưởng,
Bất lịch tăng-kỳ hoạch Pháp-thân.
Nguyện kim đắc quả thành Bửu-vương,
Huờn độ như thị hằng-sa chúng,
Tương thử thâm-tâm phụng trần-sát,
Thị tắc danh vi báo Phật-ân.
Phục thỉnh Thế-Tôn vị chứng-minh,
Ngũ-trược ác-thế thệ tiên nhập,
Như nhứt chúng-sanh vị thành Phật,
Chung bất ư thử thủ Nê-hoàn.
Đại-hùng đại-lực đại từ-bi,
Hy cánh thẩm-trừ vi-tế hoặc,
Linh ngã tảo đăng Vô-Thượng Giác,
Ư thập-phương giới tọa đạo-tràng,
Thuấn-nhã-đa tánh khả tiêu-vong,
Thước-ca-ra tâm vô động-chuyển.

 

1. PHẬT HlỂN-MINH LỤC-NHẬP.

Đức Phật bảo ngài A-Nan:

-A-Nan! Tại sao gọi lục-nhập vốn ở tánh Chơn-nhưmầu-nhiệm của Như-Lai Tạng?

2. HlỂN-MINH NHÃN-NHẬP.

Đức Phật dạy:

-A-Nan! Như mắt thanh-tịnh chăm ngó mà sanh ra mỏi-mệt, thấy các tướng hư-vọng ấy đều do Tâm Bồ-Đề phát-hiện.

Nhân hai tướng vọng-trần: sáng tối, phát ra tánh thấy ở bên trong, rồi thâu-nhận các trần tượng, gọi là tánh thấy. Nhưng nếu ly hai tướng vọng-trần: sáng tôi, rốt-ráo tánh thây không có tự-thể.

3. Thật vậy, A-Nan! Ông phải biết tánh thấy đó chẳng phải do hai tướng sáng tối mà tới, hoặc do nhãn căn mà sanh, hoặc do hư- không mà có. Vì cớ sao?

Nếu tánh thây do tướng sáng mà tới, thì khi tối phải diệt theo tướng sáng rồi, không còn thế nào thấy được tướng tối.

Nếu tánh thấy do tướng tối mà tới, thì khi sáng phải diệt theo tướng tối rồi, không còn thế nào thấy được tướng sáng.

Lại nếu do nhãn-căn mà sanh thì chẳng có tướng sáng, tướng tối, như thế tánh thấy không có Tự-Tánh.

Nếu tánh thấy do hư-không mà có thì đáng lý phải thấy đủ cả nhãn-căn và trần-cảnh, cớ sao lại chỉ thấy trần-cảnh mà không thấy nhãn-căn?

Nếu khi trông tới thấy trần-cảnh, thì khi trở lui phải thấy nhãn- căn, như vậy thành ra hư-không tự thấy chớ không can-hệ gì Nhãn- nhập.

Xét theo lý ấy, nên nhận thức: Nhãn-nhập là hư-vọng, vôh không phải nhân-duyên hoặc tự-nhiên.

4. HIỂN-MINH NHĨ-NHẬP.

Đức Phật dạy:

-A-Nan! Như có người lấy hai ngón tay bịt kín lỗ tai lại, làm cho nhĩ-căn sanh ra mỏi-mệt, mà trong đầu có tiếng động, Cả tai và tướng mỏi-mệt đều do tâm Bồ-Đề phát hiện.

5. Nhân hai tướng vọng-trần: động-tịnh, phát ra tánh nghe ở bên trong, rồi thâu nhận các trần-tưựng gọi là tánh nghe. Nhưng nếu ly hai tướng vọng-trần: động-tịnh, rốt-ráo tánh nghe không có tự- thể.

6. Thật vậy, A-Nan! Ông phải biết tánh nghe ấy chẳng phải do. hai tướng động tịnh mà tới, hoặc do nhĩ-căn mà sanh, hoặc do hư- không mà có. Vì cớ sao?

Nếu tánh nghe do tướng động mà tới, thì khi tịnh phải diệt theo tướng động rồi, không còn làm sao biết được tướng tịnh.

Nếu tánh nghe do tướng tịnh mà tới, thì khi động phải diệt theo tướng tịnh rồi, không còn làm sao biết được tướng động.

Lại nếu do nhĩ-căn mà sanh, thì chẳng có hai tướng động tịnh, như thế tánh nghe không có Tự-Tánh.

Lại nếu tánh nghe do hư-không mà có, thì thành ra hư-không tự có tánh nghe, như vậy không còn can-hệ với nhĩ-nhập.

Xét theo lý ấy, phải nhận thức: Nhĩ-nhập là hư-vọng, vôh không phải nhân-duyên hoặc tự-nhỉên.

7. HIỂN-MINH TỸ-NHẬP.

Đức Phật dạy:

8. A-Nan! Như có người cố-gắng nín hơi thở ở lỗ mũi, nín lâu thành mỏi-mệt, trong mũi có hơi lạnh, gọi là lãnh-xúc, rồi do lãnh- xúc ấy mà phân-biệt các tướng: thông, bít, trống, ngăn, cho đến các mùi: thơm, thúi. Cả mũi và trần-tượng đều do Tâm Bồ-Đề phát hiện.

Nếu mũi do hai tướng: thông bít, phát ra tánh ngữi ở bên trong, rồi thâu-nhận các vọng trần, đó là tánh ngữi. Nhưng nếu ly hai tướng; thông bít, rốt ráo tánh ngữi không có tự-thể.

9. A-Nan! Tánh ngữi chẳng phải do hai tướng thông bít mà tới, hoặc do mũi mà sanh, hoặc do hư-không mà có. Vì cớ sao?

Như tánh ngữi do tướng thông mà tới, thì khi bít phải diệt theo tướng thông rồi, không còn làm sao biết được tướng bít.

Nếu tánh ngữi do tướng bít mà tới, thì khi thông phải diệt theo tướng bít rồi, không còn làm sao biết được các mùi thơm thúi.

Lại nếu do mũi mà sanh thì chẳng có hai tướng thông bít, như thế tánh ngữi không có Tự-Tánh. A-Nan! Lại nếu tánh ngữi do hư-không mà có, thì đáng lẽ tánh ấy phải xoay lại ngữi mũi ông và hư-không tự có tánh ngữi, như vậy chẳng còn can-hệ với Tỹ-nhập.

Xét theo lý ấy, phải nhận thức: Tỹ-nhập là hư-vọng, vốn không phải nhân-duyên hoặc tự-nhiên.

10. HIỂN-MINH THIỆT-NHẬP.

Đức Phật dạy:

– A-Nan! Như có người lấy lưỡi liếm mép, liếm lâu thành mỏi- mệt, chẳng khác nào người bịnh có vị đắng, kẻ khỏe có vị ngọt, ngoài ra khi bình-thường có vị lạt, do đó mới rõ thiệt-căn.

A-Nan! Ông nên biết: Thiệt-căn và các tướng vọng-trần đều do tâm Bồ-Đề phát hiện.

Thiệt-căn nhân theo các vị: đắng, ngọt lạt, sanh ra tánh biết ở bên trong, rồi thâu-nhận các trần-tượng, gọi là tánh biết-vị. Nhưng nếu ly các vị: đắng, ngọt và lạt, rốt-ráo tánh ấy không có tự-thể.

11. Thật vậy, A-Nan! Tánh biết-vị chẳng phải do đắng, ngọt, lạt mà tới, hoặc do thiệt-căn mà sanh, hoặc do hư-không mà có. Vì cớ sao?

Nếu tánh biết-vị do đắng, ngọt mà tới, thì khi lạt phải diệt theo đắng, ngọt rồi, không còn làm sao biết được lạt.

Nếu tánh biết-vị do lạt mà tới, thì khi đắng, ngọt phải diệt theo lạt rồi, không còn làm sao biết được đắng ngọt.

Lại nếu do thiệt-căn mà sanh thì chẳng có các tướng: đắng, ngọt và lạt, như thế tánh biết-vị không có Tự-Tánh.

Lại nếu tánh biết vị do hư-không mà có, thì hư-không tự biết vị, không còn can-hệ với Thiệt-nhập.

Xét theo lý ấy, nên nhận thức: Thiệt-pháp là hư-vọng, vốn không phải nhân-duyên hoặc tự-nhiên

12. HlỂN-MINH THÂN-NHẬP.

A-Nan! Như có người lấy bàn tay lạnh hiệp lại với bàn tay nóng. Nếu công-năng bên lạnh nhiều hơn, thì nóng phải theo lạnh. Nếu công-năng bên nóng nhiều hơn, thì lạnh phải theo nóng.

Nếu biết tướng cảm-xúc lạnh và nóng, trong khi hiệp lại thì biết trong lúc ly ra, công-năng lạnh hơn nóng làm cho nóng thành lạnh, và công-năng nóng hơn lạnh, làm cho lạnh thành nóng, đó là tướng cảm-xúc của hai bàn tay.

Cả thân-căn và các tướng cảm-xúc đều do tâm Bồ-Đề phát hiện.

Thân-căn nhân hai tướng hiệp ly mà sanh ra tánh biết ở bên trong, rồi thâu-nhận các vọng-trần, đó là tánh biết. Nhưng nếu xã hai tướng hiệp-ly, vọng-trần thuận nghịch thì rốt-ráo tánh biết không có tự-thể.

13. Thật vậy, A-Nan! Ông nên hiểu tánh biết chẳng phải do hiệp ly mà tới, hoặc do thuận nghịch mà đến, hoặc do thân-căn mà sanh hoặc do hư-không mà có. Vì cớ sao?

14. Nếu tánh biết do hiệp mà tới, thì khi ly phải diệt theo hiệp rồi, không còn làm sao biết được ly.

Nếu tánh biết do ly mà tới thì khi hiệp phải diệt theo ly rồi, không còn làm sao biết được hiệp.

Luận về tánh biết với hai vọng-trần thuận nghịch, nghĩa-lý giống như vậy.

Lại nếu tánh biết do thân-căn mà sanh, thì chẳng có bốn tướng: hiệp-ly, thuận-nghịch. Như thế, tánh biết không có Tự-Tánh.

Lại nếu tánh biết do hư-không mà có, thì hư-không tự biết chẳng còn can-hệ với Thân-nhập.

Xét theo lý ấy, nên nhận-thức: Thân-nhập là hư-vọng, vôh không phải nhân-duyên hoặc tự-nhiên.

15. HlỂN-MINH Ý-NHẬP.

A-Nan! Như có người mỏi-mệt thì ngủ, ngủ ngon giấc rồi thức, khi ngủ thì quên, khi thức thì nhớ, gồm có các tướng điên-đảo: sanh, trụ, dị, diệt(1) thâu-nhận vào trong, liên-tục nhau luôn, đó là ý-căn.

Cả ý-căn và các tướng vọng-trần đều do tâm Bồ-Đề phát hiện. Ý-căn nhân hai thứ vọng-trần: sanh diệt, tập-khởi tánh biết ở bên trong, rồi thâu-nhận các pháp-trần vào trong.

Nguyên năm căn khác nhưNhãn-căn, Nhĩ-căn, Tỹ-căn, Thiệt- căn và Thân-căn, mỗi căn chỉ duyên theo địa thế riêng mà thôi. Ví dụ: Nhãn-căn, chỉ thây chớ không duyên nghe. Nhĩ-căn chỉ nghe chớ không duyên ngữi. Tỹ-căn chỉ ngữi chớ không duyên nếm. Thiệt-căn chỉ nếm chớ không duyên xúc. Thân-căn chỉ xúc chớ không duyên hiểu-biết.phân-biệt. Duy có ý-căn năng duyên hiểu-biết phân-biệt hàm-xúc cả năm căn, bất luận chỗ nào năm căn không duyên được thì ý-căn duyên được. Vì thế gọi là tánh giác-tri. Tuy nhiên nếu ly hai thứ vọng-trần sanh diệt trong khi thức, khi ngủ thì rốt-ráo tánh giác-tri không có tự-thể.

Thật vậy, A-Nan! Nên hiểu: tánh giác-tri chẳng phải do thức ngủ mà tới, hoặc do sanh-diệt mà có, hoặc do căn mà hiện, hoặc do hư-không mà ra. Vì cớ sao?

Nếu tánh giác-tri do thức mà tới, thì khi ngủ phải mất theo thức rồi, còn lấy chi mà ngủ? Nếu tánh giác-tri do ngủ mà tới thì khi thức phải mất theo ngủ rồi, còn lấy chi làm thức?

Nếu tánh giác-tri do sanh màcó, thì khi diệt phải mất theo sanh rồi, còn lấy chi làm diệt? Nếu tánh giác-tri do diệt mà có, thì khi sanh phải mất theo diệt rồi, còn lấy chi làm sanh?

Lại nếu tánh giác-tri do căn mà hiện, thì hai tướng thức-ngủ tùy thân khai hiệp.

Nếu ly hai tướng thức ngủ, thì tánh giác-tri cũng nhưhoa-dốm giữ hư-không, rốt-ráo không có Tự-Tánh.

Lại nếu tánh giác-tri do hư-không mà ra, thì hư-không tự biết, không còn can-hệ vớiÝ-nhập.

Xét theo lý ấy, nên nhận thức: Ỷ-nhập là hư-vọng. vốn không phải nhân-duyên hoặc tự-nhiên.

16. HIỂN-MINH THẬP NHỊ xứ.

Đức Phật bảo ngài A-Nan:

-A-Nan! Tại sao gọi thập nhị xứ vốn ở tánh Chơn-như mầu- nhiệm của Như-Lai Tạng?

17. HIỆN-MINH nhãn Với sắc.

Đức Phật dạy:

-A-Nan! Ông hãy xem rừng Kỳ-Đà và các cảnh ao-suốì. Ý ông nghĩ sao? Đó là các sắc-tướng sanh ra tánh thây ở mắt hay là tánh thấy ở mắt sanh ra các sắc-tướng?

A-Nan! Nếu mắt sanh sắc thì khi thấy hư-không chẳng phải sắc, tức là tánh sanh sắc phải tiêu-mất. Nếu tánh sanh sắc tiêu- mất thì tất cả sắc-tướng đều không có. Nếu sắc-tướng không có thì chẳng có chi đốì-chiếu để biết hư-không.

Thế nên sắc chẳng phải do mắt sanh, cho tới hư-không cũng như vậy.

Lại nếu sắc sanh tánh thây ở mắt thì khi mắt xem hư-không chẳng phải sắc thì tánh thây phải tiêu mất. Nếu tánh thấy tiêu mất, thì chẳng có chi là không với sắc.

Đành rằng hư-không chẳng có xứ-sở, nhưng tánh thây với sắc- tướng lại cũng giông như thế.

Vậy phải biết: Nhãn với sắc đều hư-vọng, vôh không phải nhân- duyên hoặc tự-nhiên.

18. HIỂN-MINH NHĨ VỚI THINH

Đức Phật dạy:

-A-Nan! Ông nghe trong vườn Kỳ-Đà nầy, khi dọn cơm xong thì đánh trông, đánh chuông để thỉnh Đại-chúng nhóm-họp. Tiếng trống và tiếng chuông hòa nhau trước sau liên-tiếp. Ý ông nghĩ sao? Các tiếng tự tới Nhĩ-căn hay là Nhĩ-căn đến các chỗ phát ra tiếng.

19. A-Nan! Nếu các tiếng tự tới nhĩ-căn của ông thì không có lý gì tới được các nhĩ-căn khác. Ví-dụ: Ta đi khât thực trong thành Thất-La-Phiệt, thì tại vườn Kỳ-Đà phải vắng mặt Ta, vì một mình Ta không thể ở một lượt hai chỗ.

Nếu các tiếng tự tới Nhĩ-căn của ông thì đáng-lý hai ông Mục- Kiền-Liên và Ca-Diếp không thể đồng nghe với ông. Tại sao trong Đại-chúng có đến một ngàn hai trăm năm mươi vị Sa-môn(2) đồng nghe một lượt tiếng trông và tiếng chuông để vào họp tại nhà ăn?

Đó là chứng-tỏ tiếng trông và tiếng chuông không phải tự tới Nhĩ-căn của ông.

Nếu Nhĩ-căn của ông đến các chỗ phát ra tiếng, thì không thể đến được một lượt nhiều chỗ. Ví dụ: Ta khất-thực xong, trở về vườn Kỳ-Đà, dĩ nhiên ở thành Thất-La-Phiệt không thể có Ta nữa.

Nếu Nhĩ-căn của ông tới chỗ phát ra tiếng, thì khi ông nghe tiếng trống, tức là Nhĩ-căn đã qua chỗ đánh trống, không còn làm sao đến chỗ đánh chuông được. Nếu Nhĩ-căn không đến chỗ đánh chuông, thì khí chuông trông đồng nỗi lên một lượt, đáng lẽ ông chẳng nghe được cả trống lẫn chuông, vì chỗ đánh chuông không có Nhĩ-căn của ông, nhưng tại sao ông nghe được một lượt hai tiếng ấy?

Vã lại, ở trong đó còn có tiếng voi, ngựa, trâu, dê và nhiều thứ tiếng trong rừng đồng kêu và ông cũng đồng nghe.

Đó là chứng-tỏ Nhĩ với Thinh đi qua đi lại thì không đúng. Lại nếu Nhĩ với Thinh chẳng đi qua chẳng đi lại thì cũng không đúng, vì hai bên chẳng qua lại thì đáng lý ông không nghe, nhưng ông vẫn nghe được.

Vậy phải biết: Nhĩ và Thinh chẳng có xứ-sở, thảy đều hư-vọng, vốn không phải nhân-duyên hoặc tư-nhiên.

20. HIỂN-MINH tỹ Với Hương

Đức Phật dạy:

– Ông ngữi hương Chiên-đàn ở trong lư, khi hương ấy cháy lên một ít thì khắp thành Thất-La-Phiệt trong vòng 40 dặm, dân-chúng đồng ngữi mùi thơm. Ý ông nghĩ sao?

Hương sanh nơi cây Chiên-đàn, hoặc nơi Tỹ-căn của ông, hoặc nơi hư-không?

21. A-Nan! Nếu Hương sanh nơi Tỹ-căn của ông thì phải từ Tỹ- căn mà ra. Nhưng Tỹ-căn chẳng phải là Chiên-đàn làm sao trong Tỹ-căn lại có Hương Chiên-đàn.?

Vả chăng Tỹ-căn của ông ngữi Hương tất-nhiên Hương phải ở ngoài bay vào Tỹ-căn, rồi Tỹ-căn mới ngữi, chớ như Hương ở Tỹ- căn bay ra mà gọi là ngữi thì vô-lý.

Nếu Hương sanh nơi hư-không thì tánh hư-không vẫn trường- tồn, thì Hương cũng phải trường-tồn mới phải, cớ sao lại phải đốt cây Chiên-đàn khô trong lư mới có Hương?

Lại nếu Hương sanh nơi cây Chiên-đàn, thì chất Hương phải có đốt thành ra khói, Tỹ-căn mới ngữi được.

Tại sao khói ấy bay lên hư-không, chưa tản ra xa mà dân- chúng ở trong vòng 40 dặm đều ngữi được?

Vậy phải biết: Tỹ với Hương chẳng có xứ-sở, thảy đều hư-vọng, vốn không phải nhân-duyên hoặc tự-nhiên.

22. HIỆN-MINH thiệt với vị.

Đức Phật dạy:

– A-Nan! Thường nhựt hai thời, ông ở trong Đại-chúng trì bát khất-thực, có khi gặp những món tô-lạc đề-hồ <3) là thực-phẩm có vị rất ngon. Ý ông nghĩ sao?

Vị sanh ở hư-không, hoặc ở Thiệt-căn, hoặc ở thực-phẩm.

23. A-Nan! Nếu vị sanh ở Thiệt-căn của ông thì miệng chỉ có một Thiệt-căn, khi ấy thành vị tô-lạc đề-hồ rồi, nếu gặp một vị khác, chẳng hạn như vị mật hắc-thạch, Thiệt-căn cũng không thay-đổi vị. Nếu Thiệt-căn không thay đổi vị thì không được gọi là biết vị.

Nếu Thiệt -căn có thay-đổi vị thì Thiệt-căn không phải nhiều thể tức là không thế nào biết được nhiều vị.

Lại nếu vị ở thực-phẩm, thì thực-phẩm không có tánh biết, làm sao lại tự biết vị. Nếu thực-phẩm tự biết vị thì như kẻ khác ăn, không còn can-hệ với ông, như thế chẳng làm sao gọi là biêt vị.

Lại nếu vị sanh ở hư-không, thì ông thử nếm xem hư-không là vị gì?

Nếu hư-không là vị mặn thì hư-không làm mặn cả lưỡi và mặt của ông, cho đến tất cả dân-chúng ở khắp thế-giới đều thọ vị mặn cũng như cá biển. Như thế thật là phi-lý.

Lại nếu thọ mãi vị mặn, thì chẳng còn biết vị lạt. Nếu chẳng biết vị lạt, thì cũng chẳng biết vị mặn. Nếu chẳng biết vị nào cả tất nhiên không gọi là biết vị.

Vậy phải biết: Thiệt với vị chẳng có xứ-sở, thảy đều hư-vọng, vốn không phải nhân-duyên hoặc tự-nhiên.

24. HIỂN-MINH THÂN VỚI xúc.

Đức Phật dạy:

-A-Nan! Thường lệ sớm-mai, ông lấy tay chà đầu. Ý ông nghĩ sao?

Khi ông dùng tay chà đầu, như vậy do đâu có xúc, hoặc do tay, hoặc do đầu?

Nếu xúc do tay mà biết thì đầu không biết, làm sao thành xúc. Nếu xúc do đầu mà biết thì tay là vật vô dụng làm sao thành xúc? Nếu xúc do tay và đầu mà biết thì ông A-Nan phải có hai thân mới được.

Nếu tay và đầu chỉ có một xúc, hóa ra tay và đầu là một thể thì xúc không thành. Lại nếu tay và đầu là hai thể thì xúc thuộc về bên năng-xúc tức là hay phát ra xúc, hoặc sở-xúc tức là bị-xúc? Nếu thuộc về bên năng-xúc thì thiếu sở-xúc, còn thuộc về bên sở- xúc thì thiếu năng-xúc, có một thiếu một, một xúc cũng bất thành.

A-Nan! Như vậy lấy chi thế vào chỗ thiếu? Chẳng lẽ lấy hư- không thế vào chỗ thiếu, hoặc năng-xúc hoặc sở-xúc để thành lập cái xúc cho ông?

Nghiệm-xét theo lý ấy, phải biết: Thân với Xúc không có xứ-sở, thảy đều hư-vọng, vốn không phải nhân-duyên hoặc tự-nhiên.

25. HIỂN-MINH Ý VỚI PHÁP Đức Phật dạy:

-A-Nan! Thông-thường ý-căn của ông hay duyên theo tánh thiện, tánh ác, tánh vô-ký(4) mà sanh các pháp. Các pháp ấy do ý- căn sanh hoặc ly ý-căn mà có xứ-sở riêng?

26. A-Nan! Nếu các pháp do ý-căn sanh, thì không phải là trần. Nếu các pháp không có duyên theo ý-căn thì làm sao thành xứ-sở.

Nếu các pháp ly ý-căn mà có xứ-sở riêng, bổn-tánh của các pháp có biết hay không biết?

Nếu tánh pháp có biết thì gọi là Ý, chẳng phải là Trần, nhưng khác-biệt với thể của ông và đồng một tâm-lưỢng với kẻ khác.

Nếu pháp có biết là ông và cũng là ý của ông thì ý thành ra hai tướng ở trong người ông hay sao?

Lại nếu pháp không biết thì chẳng phải là các tướng: sắc, thinh, hương, vị, hiệp, ly, ấm, lạnh, cũng chẳng phải là tướng hư-không, như thế pháp ấy ở chỗ nào?

Nếu ở trong sắc-tướng và hư-không chẳng có chỗ nào chỉ rõ được cái gì là pháp, thì chẳng lẽ trong cõi nhân-gian lại có các pháp ở ngoài hư-không mà ý-căn chẳng duyên được, như vậy còn biết tự đâu mà lập xứ-sở?

Xét theo lý ấy, phải biết Ỳ với Pháp không có xứ-sở, thảy đều hư-vọng, vốn không phải nhân-duyên hoặc tự-nhiên.

27. PHẬT HlỂN-MINH THẬP BÁT-GIỚI.

Đức Phật bảo ngài A-Nan:

-A-Nan! Tại sao thập bát giới vốn ở tánh Chơn-Như mầu- nhiệm của Như-Lai Tạng?

28. HIỂN-MINH NHÃN-GIỚI, SẮC-GIỚI, NHÃN-THỨC GIỚI.

Đức Phật dạy:

– A-Nan! Như ông thừa hiểu, Nhãn-căn và sắc-trần làm duyên tương-đối nhau sanh ra Nhãn-thức. Vậy Thức do Nhãn sanh, lấy Nhãn làm giới-hạn hay là do sắc sanh, lấy sắc làm giới-hạn?

A-Nan! Nếu Thức do nhãn sanh, thì chẳng có sắc-tướng và hư- không, còn làm sao phân-biệt? Nếu không phân-biệt được thì thức của ông thành vô-dụng.

Vả lại tánh thấy của ông, ngoài các món: xanh, vàng, đỏ, trắng, v.v…, cũng không có chỗ nào chỉ rõ Nhãn-căn ở trong, sắc-trần ở ngoài, thì làm sao lập được giới-hạn của Thức.

Nếu Thức do sắc sanh thì trong khi có hư-không mà chẳng có sắc-tướng, Thức của ông phải tiêu diệt, còn làm sao biêt được tánh hư-không?

Ông cũng thừa hiểu, khi các sắc-tướng thay-đổi, cồn Thức của ông chẳng thay-đổi, thì do đâu mà lập giới-hạn?

Nếu Thức theo sắc mà thay-đổi tức là Thức biến-diệt thì không thể có giới hạn được. Nếu Thức chẳng thay-đổi thì Thức sanh ra bởi sắc, như vậy đáng lý chỉ biết sắc-trần chớ chẳng biết hư-không.

Lại nếu Thức do Nhãn và sắc chung hiệp mà sanh thì Nhãn Sắc hiệp, Thức phải ly, Nhãn sắc ly, Thức phải loạn, thể-tánh lộn- xộn, còn làm sao lập giới-hạn?

Vậy phải biết: Nhãn-cãn và sắc-trần làm duyên tương-đối mà sanh Nhãn-Thức giới, cả ba giới ấy đều không có thiệt-thể, toàn là hư-vọnẸ, vốn không phải nhân-duyên hoặc tự-nhỉên.

29. HIỆN-MINH NHĨ-GIỚI, THINH-GIỚI, NHĨ-THỨC-GIỚI.

Đức?Phật dạy:

– A-Nan! Như ông thừa hiểu, Nhĩ-căn và Thinh-trần làm duyên tương-đối nhau sanh ra Nhĩ-thức. Vậy Thức do Nhĩ sanh, lấy Nhĩ làm giới-hạn, hoặc do Thinh sanh, lấy Thinh làm giới-hạn?

30. A-Nan! Nếu Thức do Nhĩ-căn sanh thì hai tướng động tịnh chẳng hiện-tiền, Nhl-căn không thành tánh biết được. Như vậy lây hình tướng gì gọi là thức?

Nếu lấy Nhĩ căn năng nghe làm giới-hạn thì chẳng có hai tướng động tịnh, như vậy tánh nghe không thành hình tướng. Nếu Nhĩ- căn chạm với SẢc-trần và Xúc-trần thì làm sao gọi là Thức-giới và tự đâu lập được Nhĩ-thức-giớỊ?

Nếu Nhĩ-thức do Thinh-trần sanh ra, thì phải nhân Thinh-trần mà có. Vậy Thức với Thinh thành một thể, đáng lẽ trong khi nghe Thinh cũng phải nghe Thức. Nếu chẳng nghe Thức, thì Thinh với Thức thành hai thể, không còn là giới-hạn Nhĩ-thức. Nếu nghe được Thức, thì Thức đồng với Thinh, Nhĩ-thức đã bị nghe thì lấy chi mà biết nghe Thức?

Nếu không có tánh biết hóa ra như cây-cỏ hay sao?

Lại chẳng lẽ Nhĩ-căn và Thinh-trần xen-lộn lập ra giới hạn ở giữa?

Nếu không có giới-hạn ở giữa của Nhĩ-thức thì nội-tướng tức là Nhĩ-căn và ngoại-tướng tức là Thinh-trần không tự đâu mà thành- lập được.

Vậy phải biết: Nhĩ-căn, Thinh-trần làm duyên sanh ra Nhĩ-thức- giới, cả ba giới ấy đều không có thiệt-thể, toàn là hư-vọng, vốn không phải nhân-duyên hoặc tự-nhiên.

31. HIỂN-MINH TỸ-GIỚI, HƯƠNG-GIỚI, TỸ-THỨC-GIỚI.

Đức Phật dạy:

– A-Nan! Như ông thừa hiểu: Tỹ-căn và Hương-trần làm duyên tương-đối nhau sanh ra Tỹ-thức. Vậy Thức do Tỹ sanh, lấy Tỹ làm giới-hạn, hoặc do Hương sanh, lấy Hương làm giới-hạn?

32. A-Nan! Nếu Thức do Tỹ sanh, thì ý ông định lấy cái nào làm Tỹ? Phải là lấy tướng xác-thịt, giống như hai cái vấu thòng xuống, hoặc tánh biết ngữi lay-động làm Tỹ?

Nếu lấy tướng xác-thịt làm Tỹ-căn, thì tướng xác-thịt thuộc về Thân-căn; Thân-căn biết tức là xúc, đã là Thân-căn thì chẳng phải là Tỹ-căn, còn xúc tức là trần-cảnh. Như vậy không có cái gì đáng gọi là Tỹ-căn, thì làm sao lập giới-hạn được?

Nếu lây tánh biết ngữi làm Tỹ-căn thì ý ông định lấy cái nào làm tánh biết ngữi. Như lấy nhục-chất làm tánh biết ngữi tức là thân biết; thân biết tức là xúc-trần, chớ không phải Tỹ-căn.

Lại nếu lấy hư-không làm tánh biết ngữi, thì hư-không tự biết, chớ nhục-chất không biết. Như vậy hư-không là ông chăng? Nếu thân không biết thì hiện nay thân của ông A-Nan không có chỗ sở- tại hay sao?

Nếu lây Hương làm tánh biết ngữi, thì tánh ấy thuộc về Hương biết, chớ có can-hệ gì tới ông?

Lại nếu hai hơi thơm thúi sanh nơi Tỹ-căn, chớ không phải sanh nơi cây Chiên-đàn hoặc cây Y-Lan.

Nếu hai thứ cây ấy không có ở đây thì ông tự ngữi lây Tỹ-căn thơm hay thúi?

Như thúi thì không thơm, như thơm thì không thúi. Nếu ngữi được cả hai hơi thơm và thúi, thì phải có hai Tỹ-căn tức là hai thể. Như vậy trong khi ông hỏi đạo trước mặt Ta, phải có hai ông A- Nan, thì ông A-Nan nào là chơn-thể của ông?

Lại nếu Tỹ-căn chỉ có một, mà thơm và thúi không phải hai, thơm hóa thúi, thúi hóa thơm, hai tánh đều chẳng có thì tự đâu lập được Tỹ-thức-giới.

Lại nếu do Hương-trần sanh ra, cũng như tánh thấy do Nhãn- căn mà có, nhưng tánh thấy chẳng trông được Nhãn-căn thì Tỹ- thức do Hương-trần mà có, tất nhiên không biết được Hương-trần. Nếu biết Hương-trần thì không phải do Hương-trần sanh, còn chẳng biết Hương-trần thì không thể gọi là Tỹ-thức.

Như Hương-trần không có tánh biết thì bất thành giới-hạn. Như Tỹ-thức không biết Hương-trần thì Thức-giới bất lập.

Đã chẳng có Tỹ-thức ở giữa thì nội-căn tức là Tỹ-căn và ngoại- trần tức là Hương-trần không thành-lập được, dĩ-nhiên tánh biết ngữi là hư-vọng.

Vậy phải biết: Tỹ-căn và Hương-trần làm duyên sanh Tỹ-thức- giới, cả ba giới ấy đều không có thiệt-thể, toàn là hư-vọng, vôh không phải nhân-duyên hoặc tự-nhiên.

33. HIỆN-MINH THIỆT-GIỚI, VỊ-GIỚI, THIỆT-THỨC-GIỚI.

Đức Phật dạy:

– A-Nan! Như ông thừa hiểu: Thiệt-căn và Vị-trần làm duyên tương-đối nhau sanh ra Thiệt-thức. Vậy Thức do Thiệt sanh, lây Thiệt làm giới-hạn, hoặc do vị sanh, lấy vị làm giới-hạn.?

34. A-Nan! Nếu Thức do Thiệt-căn mà sanh, thì các vị-trần ở thế- gian, ngọt như mía, chua như me, đắng như huỳnh-liên, mặn như thạch-diêm, cay như tế-tân, gừng và quế, nếu không có vị, thì ông thử tự nếm Thiệt-căn của ông ngọt hay đắng, v.v…

Nếu tánh Thiệt-căn là đắng thì ai nếm Thiệt-căn? Thiệt-căn không thể tự nếm được Thiệt-căn thì ai biết Thiệt-căn là đắng?

Nếu tánh Thiệt-căn không thể đắng thì Thiệt-căn không tự sanh ra vị-trần, làm sao lập giới-hạn?

Nếu Thức do vị-trần sanh, thì Thức tự làm vị, cũng nhưThiệt- căn chẳng nếm được Thiệt-căn, làm sao biết được vị hoặc không phải vị?

Lại các vị chẳng phải do một vật mà do nhiều vật sanh ra, thì Thức cũng phải có nhiều thể.

Nếu Thức chỉ là một thể do vị-trần sanh ra, thì các thứ mặn, lạt, ngọt, cay, hòa-hiệp nhau sanh ra các tướng biến-đổi, đó là các vị chung lại làm một vị mà không có phân-biệt hay sao?

Nếu không có phân-biệt thì không gọi được là Thức, còn làm sao thành được Thiệt-căn, Vị-trần và Thiệt-thức-giới. Chí như hư- không chẳng sanh Thức cho ông được. Lại nếu Thiệt-căn và Vị- trần hòa-hiệp nhau thành Thức thì ở giữa căn và trần không có Tự- Tánh, làm sao thành đươc giới-hạn?

Vậy phải biết: Thiệt-căn và Vị-trần làm duyên sanh Thiệt-thức- giới, cả ba giới ấy đều không có thiệt-thể, toàn là hư-vọng, vôh không phải nhân-duyên hoặc tự-nhiên.

35. HlỂN-MINH THÂN-GIỚI, XÚC-GIỚI, THÂN-THỨC-GIỚI.

Đức Phật dạy:

– A-Nan! Như ông thừa hiểu, Thân-căn và Xúc-trần làm duyên tương-đối nhau sanh ra Thân-thức. Vậy Thức do Thân mà sanh, lây Thân làm giới-hạn hoặc do Xúc mà có, lấy Xúc làm giới-hạn?

36. A-Nan! Nếu Thức do Thân sanh, thì chắc không có hai xúc hiệp ly làm duyên giác-quán Thân còn biết chi nữa.

Nếu Thức do Xúc mà có thì chắc không có thân của ông.

Nếu không có thân thì lây chi biết được hiệp với ly?

A-Nan! Vật không làm sao biết xúc, thân mới biết xúc. Thân- căn tức là Xúc-trần, Xúc-trần tức là Thân-căn. Như Thân-căn tức là Xúc-trấn, thì Thân-căn chẳng phải Thân-căn còn xúc-trần tức là Thân-căn thì xúc trần chẳng phải xúc-trần. Đó là căn và trần không có xứ-sở.

Nếu Thức ly xúc mà hiệp với Thân, thì Thức là thể tánh của Thân.

Nếu Thức ly thân mà hiệp với xúc, thì Thức là tướng hư-không.

A-Nan! Như thế bất thành tướng trong tướng ngoài, còn làm sao lập giới được ở giữa? Nếu ở giữa đã chẳng lập được, thì trong ngoài đều tánh không, ông còn tự đâu mà lập Thân-thức-giới?

Vậy phải biết Thân-căn và Xúc-trần làm duyên sanh ra Thân- thức-gìới, cả ba giới ấy đều không có thiệt-thể, toàn là hư-vọng, vốn không phải nhân-duyên hoặc tự-nhiên.

37. HlỂN-MINH Ý-GIỚI, PHÁP-GIỚI, Ý-THỬC-GIỚI.

A-Nan! Như ông thừa hiểu, Ý-căn và Pháp-trần làm duyên tương-đôì nhau sanh ra Ý-thức. Vậy Thức do Ý sanh, lấy Ý làm giới hạn, hoặc do pháp sanh, lấy pháp làm giới-hạn?

38. A-Nan! Nếu Thức do ý sanh, thì trong ý ông có suy-nghĩ mới phát-minh ra được. Nếu chẳng có Pháp-trần, thì Ý-căn không thể tự sanh.

Nếu ly các sở-duyên của Pháp-trần, thì Ý-căn không có hình- tướng, như vậy Thức không có chỗ sử-dụng.

A-Nan! Ý-thức của ông với các tánh suy-nghĩ, hiểu biết, phân- biệt có đồng nhau hay khác nhau?

Nếu đồng với ý tức là Ý-căn, còn thế nào gọi là do Ý-căn sanh?

Nếu khác với ý thì thành ra vô-tình, không có tánh biết, còn thế nào gọi là do ý-căn sanh?

Lại nếu có tánh biết, thì Thức với ý-căn đồng nhau, cđ sao lại chia ra Thức và Ý-căn?

Hai tánh đồng và dị còn bất thành, huống chi giới-hạn làm sao lập được?

Lại nếu Thức do Pháp-trần thì các pháp thế-gian chẳng ly năm thứ trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc mà tướng của năm thứ trần ấy phát-hiện rõ-ràng, đối-đãi với năm căn chớ không phải ý-căn sở- nhiếp.

Lại như Thức do Pháp-trần sanh, thì bây giờ ông hãy nghiệm- xét các hình-trạng của Pháp-trần. Như ly các tướng: sắc không, động tịnh, thông bít, hiệp ly, sanh diệt, vượt ra ngoài các tướng ấy thì rốt-ráo không có gì là Pháp-trần. Vì cớ sao?

Vì sanh do nơi “sắc không” mà sanh, diệt do nơi “sắc không” mà diệt, nếu ly các pháp ra, thì quyết-định Pháp-trần không có thiệt-thể; chỗ sở-nhân của Pháp-trần còn không có, huống chi là

Thức làm sao do Pháp-trần sanh ra hình-tướng được.

Như thế làm sao lập được Ý-thức-giới?

Vậy phải biết: Ý-căn và Pháp-trần làm duyên sanh ra Ỷ-thức- giớỉ, cả ba giới ấy đều không có thiệt-thể, toàn là hư-vọng, vốn không phải nhân-duyên hoặc tự-nhiên.(S)

39. NGÀI A-NAN BÀY-TỎ sự NGHI-CHẤP.

Ngài A-Nan bạch Phật:

-Bạch Đức Thế -Tôn! Hôm nay Đức Thế-Tôn nhân giảng dạy về bôn món: Âm nhập xứ giới, Đức Thế-Tôn bác-bỏ cả hai lý nhân-duyên và tự-nhiên, khiến chúng tôi nghi-chấp.

Đức Thế-Tôn thường giảng dạy nghĩa nhân-duyên hòa-hiệp, nói tất cả sự-vật biến-hóa ở thế-gian đều do tứ đại: địa thủy hỏa phong hòa-hiệp mà phát-hiện. Vậy đáng lý Đức Thế-Tôn bác-bỏ nghĩa tự-nhiên chớ không nên bác-bỏ nghĩa nhân-duyên, vì bốn món: Âm nhập xứ giới là pháp sanh-diệt thuộc về tánh nhân-duyên mới đúng. Vì cớ nào Đức Thế-Tôn lại bác-bỏ cả nhân-duyên và tự-nhiên?

Nay tôi không biết lý-do bác-bỏ cả nhân-duyên và tự-nhiên thuộc về giáo-pháp nào? Ngưỡng-cầu Đức Thế-Tôn dũ lòng thương- xót khai-thị nghĩa rôVráo vô hý-luận của Trung-đạo cho chúng tôi hiểu rõ.

40. PHẬT GIẢI NGHI-CHẤP của ngài A-NAN.

Khi ấy Đức Phật dạy ngài A-Nan:

-A-Nan! Trước kia ông chán bỏ pháp tiểu-thừa của Thinh-văn và Duyên-giac mà phát-tâm cầu đạo Vô-Thượng Bồ-Đề, nên nay Ta vì ông, khai-thị nghĩa đế thứ nhứt, cớ sao ông lại đem thuyết nhân-duyên của thế-gian hý-luận vọng-tưởng mà tự ràng-buộc?

Ông tuy có tài đa-văn bậc nhứt, nhưng nghe tới Chơn-đế thì nghi-chấp, chẳng khác chi người nghe nói các vị thuốc mà không biết mặt thuốc và không phân-biệt được vị thuốc thiệt ở trước mặt. Như-Lai cho ông là người đáng thương-xót vô cùng.

41. Vậy ông hãy chăm nghe, Ta bất-đắc-dĩ phải dùng phương-tiện mà phân-biệt khai-thị cho ông và cũng truyền lại cho đời sau tu  pháp đại-thừa thông-hiểu thiệt-tướng.

Ngài A-Nan lặng thinh vâng theo Thánh-chỉ của Phật.

42. PHẬT HIỂN-MINH TỨ-ĐẠI: ĐỊA HỎA THỦY PHONG.

Đức Phật đạy:

– A-Nan! Như ông vừa nói tứ đại: địa, hỏa, thủy, phong hòa- hiệp mà phát sanh các sự-vật biến-hóa ở thế-gian.

A-Nan! Thể-tánh của tứ đại hòa-hiệp thì chẳng thế nào hòa- hiệp với các món khác, cũng như hư-không bất hòa-hiệp với các sắc-trần.

Nếu thể-tánh của tứ-đại hòa-hiệp thì đồng với các tướng biến- hóa, có thủy có chung, sanh-diệt liên-tục, sanh rồi tử, tử rồi sanh, sanh sanh tử tử, như bánh xe lửa xây tròn không dứt.

Nguyên thể-tánh của tứ-đại, tuy một gốc, nhưng hay sanh ra tướng, cũng như nước kết thành giá. Nước tuy chỉ có một thể, nhưng lạnh thì kết thành giá. Nước với giá vốn không có chỗ hòa- hiệp, mà hiện ra tướng hòa-hiệp. Như vậy nếu cho là bất hòa- hiệp thì không đúng.

Tướng của Tứ-đại tuy có sai-biệt, nhưng hội về một tánh, cũng như đem giá về với nước. Giá tuy khác tướng, nhưng tan ra thì chỉ là nước. Giá với nước hình như có chỗ hòa-hiệp, nhưng thiệt không thay-đổi. Như vậy cho là có hòa-hiệp thì không đúng.

43. HIỂN-MINH ĐỊA-ĐẠI.

A-Nan! Ông hãy xem tánh đất, lớn là đất bằng, nhỏ là hột bụi, cho đến hết sức nhỏ là hột bụi lân-hư, hột bụi nầy là một phần bảy của hột bụi nhỏ, nếu chia ra nữa thì lân-hư là tánh hư-không.

44. A-Nan! Nếu nói lân-hư chia ra thành hư-không thì hư-không cũng có thể sanh sắc-tướng. Nay ông nói: vì cớ có hòa-hiệp mới sanh ra các sắc-tướng biến-hóa ở thế-gian. Vậy ông hãy quan-sát: lân-hư phải dùng bao nhiêu phần hư-không hòa-hiệp mới có lân- hư, chớ chẳng lẽ lân-hư hòa-hiệp với nhau thành lân-hư?

Lại lân-hư chia ra hết sức nhỏ thành hư-không thì phải dùng bao nhiêu phần sắc-tướng hòa-hiệp mới thành hư-không?

Lân-hư gốc là sắc-tưđng thì có thể chia được, nên hiệp sắc, còn hư-không gốc chẳng phải là sắc-tướng thì lấy gì mà chia, lấy gì mà hiệp?

Đó là chứng tỏ khi hiệp “Sắc” thì “Sắc” hiệp, chớ chẳng phải “Không” hiệp; khi hiệp “Không” thì “Không” hiệp, chớ chẳng phải “Sắc” hiệp. Như vậy nghĩa hòa-hiệp bất thành.

45. Ông vốn chưa biết trong Như-Lai Tạng, tánh “Sắc” là thiệt thể của “Không”, tánh “Không” là thiệt thể của “Sắc”, sắc tức thị Không, Không tức thị sắc, sắc Không viên-thông, bản-nhiên thanh- tịnh, châu-biến khắp cả pháp-giới.

Chỉ vì nhân-quả của chúng-sanh không đồng, có thiện có ác, nên thể-tánh của sắc không tùy theo tâm, ứng theo lượng, thuận theo nghiệp của chúng-sanh, mà hiện ra các pháp.

Người thế-gian không biết thể-tánh! “tùy duyên bất biến” ấy, nên nhận lầm là tánh nhân-duyên, nói rằng có hòa-hiệp, hoặc nhận lầm làm tánh tự-nhiên, nới rằng bất hòa-hiệp đó là tại ý-thức phàm-phu so-đo, phân-biệt, chỉ bằng ngôn-ngữ, chớ không phải nghĩa chơn-thiệt.

46. HlỂN-MINH HỎA-ĐẠI.

Đức Phật dạy:

– A-Nan! Tánh hỏa không có tự-thể, chỉ nương trỢ-duyên mà phát sanh, như ông xem các nhà ở trong thành khi muốn nhúm bếp thì cầm tấm kiếng đưa trước sức nóng của mặt trời mà lấy lửa.

47. A-Nan! Nếu lửa là món có hòa-hiệp, thì phải có sắc-tướng phân-chia từng món mới hòa-hiệp được, cũng như Ta với ông, cho tới một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-khưu, hiệp làm một chúng, chúng tuy là một, nhưng xét lại căn-bổn thì ai cũng có thân riêng, quyến thuộc riêng và tánh-danh riêng, như Xá-Lợi-Phất thuộc dòng Bà-La-Môn, Ưu-Lầu-Tan-La thuộc dòng Ca-Diếp-Ba, cho đến ông A-Nan thuộc dòng Cù-đàm.

A-Nan! Nếu tánh của lửa do hòa-hiệp mà có thì khi tay của người cầm kiếng để lấy lửa dưới ánh mặt trời, thì lửa do mặt trời mà hiện, hoặc do kiếng mà có, hoặc do bùi-nhùi mà sanh?

48. A-Nan! Nếu lửa do mặt trời mà hiện thì đốt được bùi-nhùi cầm ở tay, cho đến những rừng cây đều bị cháy cả hay sao?

Nếu lửa do kiếng mà có, thì khi chưa cháy bùi-nhùi, kiếng phải cháy trước, tại sao kiếng không cháy, cho đến tay người cầm bùi-nhùi cũng không nóng?

Lại nếu lửa do bùi-nhùi mà sanh thì có cần gì sức nóng của mặt trời mà tấm kiếng đối-đãi nhau mới sanh được lửa?

Ông hãy xem-xét: vầng thái-dương tự trên trời rọi xuống tấm kiếng cầm nơi tay, bùi-nhùi do đất sanh, thế thì lửa từ hướng nào đến?

Vả chăng thái-dương với kiếng cách xa nhau, gốc không hòa không hiệp, thì chẳng lẽ lửa không có chỗ sở-nhân mà tự có?

Lý ấy Ta đã từng hiển-minh, nhưng ông vẫn chưa biết. Trong Như-Lai Tạng, tánh lửa vốn thiệt không, tánh không vốn thiệt lửa, bản-nhiên thanh-tịnh châu-biến khắp cả pháp-giới, tùy theo tâm, ứng theo lượng của chúng-sanh mà có.

49. A-Nan! Ông nên biết: người thế-gian, mỗi chỗ có cầm kiếng thì mỗi chỗ có lửa sanh. Khắp pháp-giới đều cầm kiếng thì cả thế-gian đều có lửa sanh, không hạn-định phương-hướng xứ-sở, chỉ thuận theo nghiệp của chúng-sanh mà phát hiện. Người thế- gian không biết, nhận lầm là tánh nhân-duyên hoặc tự-nhiên, đó là tại ý-thức phàm-phu so-đo, phân-biệt, chỉ bằng ngôn-ngữ chớ không phải nghĩa chơn-thiệt.

50. HIÊN-MINH THỦY-ĐẠI.

Đức Phật dạy:

– A-Nan! Tánh nước bất định, chảy hoặc ngưng không thường.

Như trong thành Thất-La-Phiệt có các đại-huyễn sư: Ta-Tỳ- Ca-La-tiên, Chước-Ca-La tiên, và Bát-Đầu Ma-Ha Tát-Đa hay làm phép huyễn-mị, khi các ông ấy muốn cầu Thái-Âm tinh để hòa với thuốc huyễn-mị thì giữa đêm rằm trăng tỏ, cầm hột châu, thủy-tinh để hứng nước trong ánh trăng. Vậy nước ấy do mặt trăng, hoặc hột châu, hoặc hư-không mà có?

51. Nếu nước ấy do mặt trăng mà có thì mặt trăng ở cách xa còn có thể làm cho hột-châu chảy ra nước, tại sao mặt trăng rọi qua mấy rừng cây lại không làm cho mấy rừng cây chảy nước? Nếu mặt trăng làm cho rừng cây chảy nước được thì cần gì hột châu. Nếu rừng cây không chảy nước được thì nước ấy chắc-chắn không phải do mặt trăng mà có.

Nếu nước ấy do hột châu mà có thì hột châu phải thường chảy nước, cần gì đợi đến giữa đêm rằm hứng nước dưới ánh trăng tròn?

Nếu nước ấy do hư-không mà có thì hư-không chẳng có bờ- bến, nước cũng không bờ-bến, như vậy các cõi Trời và Người bị chìm, còn thế nào có thủy, lục, không, hành?

Ông hãy cứu-xét, trăng ở trên Trời, hột châu cầm trong tay, vật hứng nước do người đặt ra, thì nước từ đâu chảy đến?

Mặt trăng và hột châu cách xa nhau, gốc không hòa không hiệp, chẳng sanh được nước thì chẳng lẽ nước khống có chỗ sở- nhân mà tự sanh?

52. Ông chưa biết trong Như-Lai Tạng, tánh nước vốn thiệt không, tánh không vốn thiệt nước, bản-nhiên thanh-tịnh, châu-biến khắp cả pháp-giới, tùy theo tâm và ứng theo lượng của chúng-sanh mà có. Chỗ nào có cầm hột châu thì chỗ ấy có nước chảy đến.

Khắp pháp-giới đều cầm hột châu, thì cả thế-gian đều có nước sanh, không hạn-định phương-hướng xứ-sở, chỉ thuận theo nghiệp của chúng-sanh mà phát hiện.

Người thế-gian không biết, nhận lầm là tánh nhân-duyên hoặc tự-nhiên, đó làtại ý-thức phàm-phu, so-đo, phân-biệt, chỉ bằng ngôn-n^ữ, chổ không phải nghĩa chơn-thiệt.

53. HIỆN-MINH PHONG-ĐẠI.

Đức Phật dạy:

– A-Nan! Tánh gió không có tự-thể, khi thổi khi ngưng bất thường. Như ông đắp y nhập chúng, chéo y Tăng-già-lê động tới người kế -cận thì có một chút gió phất qua mặt người ấy. Vậy gió do chéo y, hoặc hư-không, hoặc mặt người khác mà có?

54. A-Nan! Nếu gió do chéo y mà có thì y là gió phải bay ra khỏi thân ông.

Ta đang thuyết pháp, thả y xuống giữa chúng hội, ông thử xem-xét trong y của Ta, gió ở chỗ nào? Không lý trong y có chỗ chứa gió?

Nếu gió do hư-không mà có thì khi y không động, từ đâu sanh gió? Tánh hư-không thường-trụ thì gió phải thường thổi, nếu gió ngửng, thì hư-không phải mất; gió ngưng thì có thể nhận được, chớ hư-không mất thì hình-trạng thế nào?

Nếu có sanh-diệt thì chẳng gọi là hư-không được. Nếu gọi là hư-không, thì làm sao lại sanh gió?

Nếu gió do mặt người khác mà có thì đáng lý tự gió thổi ông, cớ sao ông lay-động cái y, rồi gió thổi qua mặt người khác?

Y do ông đắp, mặt của người khác, hư-không thì vắng-lặng, vậy gió ở phương nào phát sanh?

Ông hãy xét kỹ, tánh gió và tánh hư-không cách xa nhau, không hòa không hiệp, chẳng lẽ gió không có chỗ sở-nhân mà tự sanh?

55. A-Nan! Ông không biết trong Như-Lai Tạng, tánh gió vốn thiệt không, tánh không vốn thiệt gió, bản-nhiên thanh-tịnh, châu-biến khắp cả pháp-giới, tùy theo tâm và ứng theo lượng của chúng- sanh mà có.

A-Nan! Một người động y thì có gió, khắp pháp-giới đều động y thì cả thế-gian đều có gió, không hạn-định phương hướng xứ-sở, chỉ thuận theo nghiệp của chúng-sanh mà phát hiện.

Người thế-gian không biết, nhận lầm là tánh nhân-duyên hoặc tự-nhiên, đó là tại ý-thức phàm-phu, so-đo, phân-biệt, chỉ bằng ngôn-ngữ chớ không phải nghĩa chơn-thiệt.

56. PHẬT HlỂN-MINH TAM ĐẠI: KHÔNG, KIẾN, thức.

Đức Phật đã hiển-minh tứ-đại: địa, hỏa, thủy, phong.

Bây giờ Đức Phật hiển-minh thêm tam-đại nữa: không, kiến, thức. Tất cả là thất-đại.

57. HlỂN-MINH không-đại.

Đức Phật dạy:

– A-Nan! Tánh hư-không chẳng có hình-trạng, do các sắc-tướng mà phát ra. Như trong thành Thất-La-Phiệt, địa-thế cách xa sông rạch, nên những người dòng Sát-lợi, dòng Bà-la-môn, dòng Tùy- xá, dòngThủ-đà, dòng Phả-la-đọa, dòng Chiên-đà-la, vân..vân…., muôn cất nhà ở, phải đào giếng kiếm nước. Khi đào được một thước đất thì có một thước hư-không. Khi đào được một trượng đất thì có một trượng hư-không. Hư-không sâu hay cạn tùy ở chỗ đào nhiều hay ít. Vậy hư-không ấy chẳng có nương theo đâu mà tự phát, hoặc do đất đem ra mà có, hoặc do đào mà sanh?

58. A-Nan! Nếu hư-không chẳng có nương theo đâu mà tự phát thì tại sao trước khi đào đất, chẳng thấy chỗ đó tróng-rỗng lại thấy đầy đất?

Nếu hư-không do đất đem ra mà có thì khi đất đem ra, phải thây hư-không vào, cớ sao lại chẳng thấy? Nếu không có ra vào thì hư-không chẳng khác chi với đất, tức là đồng tánh với đất, nhưng tại sao khi đất đem ra, hư-không lại chẳng ra?

Lại nếu hư-không do đào đất mà sanh, thì thành ra đào hư- không chớ chẳng phải đào đất. Trái lại, nếu hư-không chẳng do đào đất mà sanh thì tại sao đào đất rồi thấy hư-không?

A-Nan! Ông nên nghiệm xét tinh-tường, đào đất là tự-tiện theo phương-thức mà vận-chuyển, đâ’t do từ chỗ đào dời ra, hai thứ ấy vốn chẳng có nhân-duyên chi với hư-không, tại sao lại thấy hư- không? Như-vậy hư-không từ đâu mà có?

Đào thuộc về thiệt, hư-không thuộc về hư, thiệt với hư khác nhau, không hòa không hiệp, thì làm sao sanh được hư-không? Có lý nào hư-không chẳng có chỗ sở-nhân mà tự-nhiên phát ra?

Tánh hư-không vốn chẳng lay-động, châu-biến viên-mãn. Ông nên biết: hư-không với tứ-đại địa hỏa thủy phong hiện-tiền gọi là ngũ đại, tánh thiệt viên-dung đều ở trong Như-Lai Tạng vốn không có sanh-diệt.

59. A-Nan! Ông chưa biết trong Như-Lai Tạng, tánh giác vốn thiệt là chơn-không, tánh không vốn thiệt là chơn-giác, bản-nhiên thanh- tịnh, châu-biến khắp cả pháp-giới, tùy theo tâm của chúng-sanh và ứng theo lượng của chúng sanh mà phát hiện diệu-dụng.

A-Nan! Như một cái giếng toàn hư-không, hư-không sanh một

cái giếng, cho tới hư-không khắp mười phương cũng như vậy chẳng có hạn-định phương-hướng xứ-sở, chỉ thuận theo nghiệp của chúng- sanh mà phát hiện. Người thế-gian không biết nhận lầm là tánh nhân-duyên hoặc tự-nhiên, đó là tại ý-thức phàm-phu so-đo, phân- biệt, chỉ bằng ngôn-ngữ chớ không phải nghĩa chơn-thiệt.

60. HIỂN-MINH KIẾN-ĐẠI.

Đức Phật dạy:

– A-Nan! Tánh thấy có cảm-giác, nhưng chẳng tự phân-biệt được, chỉ nhân đối-đãi với sắc-không mới có phân-biệt.

Như nay ông ở nơi rừng Kỳ-Đà, ban ngày, sớm mai thì sáng, chiều thì tối, ban đêm, có trăng thì sáng, không trăng thì tối, tánh thấy của ông nhân đối-đãi với tướng sáng tướng tối mà có phân- biệt.

Vậy tánh thấy đối với sáng, tối, hư-không, đồng một thể hay chẳng đồng một thể, hoặc đồng hoặc khác, hoặc chẳng đồng hoặc chẳng khác?

61. A-Nan! Nếu tánh thây đối với sáng, tối, hư-không đồng một thể, thì hai tướng sáng và tối khác nhau, một còn một mất, như sáng thì không tối, tối thì không sáng. Nếu tánh thây đồng thể với tối, thì khi sáng tánh thấy phải mất. Nếu tánh thấy đồng một thể với sáng, thì khi tối, tánh thây phải mâ’t. Như vậy làm sao thấy sáng thây tối được?

Sáng và tối khác nhau, nhưng tánh thấy không có sanh-diệt, thì nghĩa đồng-thể bất thành.

Nếu tánh thấy không đồng-thể với sáng, tối, hư-không thì thử ly ba thứ ấy ra, chỉ còn tánh thấy biểu-lộ hình-tướng thế nào? Có phải giông như lông rùa, sừng thỏ hay không? Vì ly sáng, tối, hư- không ra, thì không thể nào lập được tánh thấy? Như vậy nghĩa không đồng một thể cũng bất thành.

Sáng và tối trái-nghịch nhau thì tánh thấy làm sao đồng được?

Nếu ly sáng, tối, hư-không ra, thì tánh không có tự-thể, làm sao hoặc đồng hoặc không đồng? Phân-tách tánh thấy và hư-không vốn chẳng có giới-hạn, làm sao gọi chẳng phải đồng? Thấy sáng thấy tối nhưng tánh thấy vẫn không thay-đổi, thì làm sao gọi chẳng phải không đồng?

Ông phải xem-xét chu-đáo, sáng do mặt trời mọc, tối do mặt trăng lặn, thông-suốt thuộc về hư-không, ngăn-ngại thuộc về đại- địa, vậy tánh thấy do ở đâu mà có?

Tánh thấy có cảm-giác, hư-không chẳng có cảm-giác, không hòa không hiệp, thì chẳng lẽ tánh thây không có chỗ sở-nhân mà tự sanh?

A-Nan! Ông phải biết tánh thây giác-minh châu-biến viên- mãn, gốc không lay-động, với hư-không vắng-lặng vô-biên, cho tới tứ đại địa hỏa thủy phong hằng biến-chuyển, gọi là lục đại, tánh thiệt viên-dung đều là Như-Lai-Tạng, vốn không có sanh- diệt.

A-Nan! Vì tánh ông bị trầm-luân, nên chưa tỏ-ngộ các thứ kiến văn giác tri là Như-Lai Tạng.

Ông hãy quan-sát các thứ kiến văn giác tri là sanh, diệt, đồng dị, không phải sanh-diệt, không phải đồng dị.

62. A-Nan! Ông không biết trong Như-Lai Tạng, tánh thây giác- minh là Tự-Tánh chơn giác thiêng-sáng, hoàn-toàn khác-biệt với tánh thấy phàm-phu bị buộc ở nhãn-căn, tánh thây giác-minh vốn là bản-nhiên thanh-tịnh, châu-biến khắp cả pháp-giới, tùy theo tâm, ứng theo lượng của chúng-sanh mà phát hiện diệu-dụng.

Như riêng căn thây bao-trùm pháp-giới như vậy thì tai nghe, mũi ngữi, lưỡi nếm, thân xúc, ý biết, cũng là đức-dụng nhiệm- mầu châu-biến pháp-giới, chẳng có hạn-định phương-hướng xứ- sở, chỉ thuận theo nghiệp của chúng-sanh mà phát hiện diệu-dụng.

Người thế-gian không biết, nhận lầm là tánh nhân-duyên hoặc tự-nhiên, đó là tại ý-thức phàm-phu, so-đo, phân-biệt, chỉ bằng ngôn-n^ữ chớ không phải nghĩa chơn-thiệt.

63. HIỂN-MINH THỨC-ĐẠI.

Đức Phật dạy:

– A-Nan! Tánh của thức không có nguồn-gốc, chỉ nhân theo lục-căn và lục-trần mà vọng-động sanh ra.

Bây giờ ông hãy xem tất cả Thánh-chúng trong Hội. Khi mới ngó qua, chưa khởi niệm gì thì chỉ như bóng hiện vào gương, không có phân-biệt. Đến khi thức của ông dựa vào đó, mới phân-biệt được có thứ lớp, như đây là Văn-Thù, đây là Phú-Lầu-Na, đây là Mục-Kiền-Liên, đây là Tu-Bồ-Đề, đây là Xá-Lợi-Phất.

Vậy thức ấy sanh nơi thây, sanh nơi các tướng, sanh nơi hư- không hay là không nương theo chỗ nào mà bỗng-nhiên sanh? 63. A-Nan! Nếu Thức sanh nơi thây thì như chẳng có bôn tướng: sáng, tối, sắc, không, tánh thấy cũng chẳng có, như vậy do đâu mà phát ra thức?

Nếu thức sanh nơi các tướng thì các tướng là vật không có tánh thấy, không thấy sáng, tối, tức là chẳng có sắc, không, như vậy các tướng còn không có, huống chi là thức do đâu mà sanh?

Nêu thức sanh nơi hư-không, chớ chẳng phải sanh nơi thấy và nơi tướng, thì như chẳng phải sanh nơi thấy, làm sao biết được sắc, không, như chẳng phải sanh nơi tướng, thì không có chỗ trỢ-duyên, các thứ kiến văn giác tri lấy đâu mà thành lập? Vậy ở giữa hai khoảng chẳng phải thây và chẳng phải tướng thì thức không có tự- thể, cũng không thành lập được.

Nếu nói có thức, thì thức chẳng phải đồng như các vật mà cho rằng ở hư-không, như vậy làm sao phân-biệt được thức? Đó là chứng-tỏ ly tánh thấy và các tướng mà nói thức sanh nơi hư-không, thật vô lý.

Lại nếu thức không nương theo chỗ nào mà bỗng-nhiên sanh thì tại sao ban ngày không có mặt trăng, chẳng khởi ra thức phân- biệt mặt trăng mà lại chỉ phân-biệt mặt trời mà thôi?

Ông hãy xem-xét châu-đáo, tánh thây gởi nơi mắt, các tướng là tiền-trần, hễ có hình-thể thì thành sắc, chẳng có hình-thể thì thành không căn-trần, sắc-không minh-bạch như vậy, thì thức duyên từ đâu mà sanh?

Thức thì lay-động, tánh thây thì đứng lặng, không hòa không hiệp, cho đến tánh nghe, tánh ngữi và tánh biết cũng giông như thế, dĩ- nhiên thức không có thế nào sanh ở nơi mấy chỗ ấy được.

Vậy chẳng lẽ thức không có chỗ sở-nhân mà tự sanh?

Nếu tánh thức vốn không nương theo chỗ nào mà sanh thì phải biết các tánh phân-biệt và kiến văn giác tri đều vắng-lặng viên- mãn, không bị các sở-duyên ràng-buộc, đứng chung với lục-đại: địa hỏa thủy phong không kiến, gọi là thất đại, chơn-tánh viên- dung đều là Như-Lai-Tạng, vôri không có sanh-diệt.

64. A-Nan! Tâm của ông thô-sơ nên chưa tỏ-ngộ tánh hiểu-biết sáng-suốt phát-minh kiến văn gốc ở Như-Lai Tạng.

Ông nên xem-xét kỹ-càng, tánh thức ở sáu căn là đồng hay dị? Có hay không? Không đồng hay không dị? Chẳng có hay chẳng không?

A-Nan! Ông không biết trong Như-Lai Tạng, tánh thức minh- tri là tánh chơn-thức viên-giác, sáng-suốt nhiệm-mầu, thanh-tịnh trang-nghiêm, châu-biến khắp cả pháp-giới, chẳng có hạn-định phướng-hướng xứ-sở, chỉ thuận theo nghiệp của chúng-sanh mà phát hiện diệu-dụng. Người thế-gian không biết, nhận lầm là tánh nhân-duyên hoặc tự-nhiên, đólà ý-thức phàm-phu so-đo, phân- biệt, chỉ bằng ngôn-ngữ, chớ không phải nghĩa chơn-thiệt.

65. NGÀI A-NAN VÀ ĐẠI-CHÚNG KIẾN đạo.

Khi ấy, Ngài A-Nan và Đại-chúng nhờ những lời khai-thị nhiệm- mầu của Đức Như-Lai, nên thân-tâm tự-nhiên an-vui, không còn chi ngăn-ngại.

Mỗi người đều tự biết Bổn-Tâm châu-biêri khắp cả pháp-giới, cảm-thấy thập-phương hư-không như thấy là nắm trong tay. Tất cả sự-vật sở-hữu ở thế-gian đều là Nguyên-Tâm Bồ-Đề quang- minh huyền-diệu.

Vì Bổn-Tầm châu-biêri viên-mãn, trùm khắp thập-phương, nên quay lại xem sắc-thân của phụ-mẫu sanh-thành như thổi một hột bụi thoạt còn thoạt mất ở trong mười phương hư-không, lại cũng như trôi một giọt nước bọt khi sanh khi diệt ở giữa biển cả.

Ngài A-Nan nhờ Đức Như-Lai khai-thị nên hiểu-thấu Tự-Tâm Chơn-Như diệu-giác thường-trụ, thì hết lòng vui-mừng được việc chưa từng có. Ngài A-Nan đãnh lễ Phật rồi thuyết kệ khen Phật:

66. Diệu-trạm (6) Tổng-trì (7) Bất-động Tôn (8).
Thủ-Lăng-Nghiêm Vường đời ít có,
Úc kiếp điên-đảo tôi tiêu hết,
Khỏi trải tăng-kỳ (9), được Pháp-thân(10).
Nguyện nay đắc quả, thành Bảo-vương (11),
Trở lại độ-thoát Hằng-sa chúng (12),
Lấy tâm nhiệt-thành phụng trần-sát(í3),
Thế mới gọi là báo Phật ân (14).
Ngưỡng-cầu Thế-Tôn chứng-tninh cho!
Thề vào trước ngũ-trược ác-thế(15).
Nếu còn một người chưa thành Phật,
Không chịu về ở cảnh Niết-Bàn(16).
Đại-hùng, đại-lực, đại từ-bi(17),
Xét lại trừ-tuyệt hoặc vi-tế(18),
Khiến tôi lên bậc Vô-Thượng Giác (19),
Tọa đạo-tràng khắp cả mười phương.
Tánh Thuấn-nhã-đa (20> có tiêu-mất.
Tâm Thước-ca-ra (2I) không dời-đổi(22).

 

1. Sanh trụ dị diệt- Sanh: phát-hiện, trụ, đứng yên, dị: dời-đổi, diệt: dứt hết.

“Sanh trụ dị diệt” đồng nghĩa với “ Thành trụ hoại không”.

Ví-dụ: khi tưởng nhớ phát hiện là sanh, khi đang nhớ là trụ, quên lần lần là dị, quên mất là diệt.

Lại ví-dụ như cái nhà: cái nhà do vật-liệu và nhân công xây-cất gọi là sanh, cái nhà đứng yên che mưa đỡ nắng gọi là trụ, rồi cái nhà theo thời gian mà hư lần gọi là dị, cho tới khi cái nhà không còn dùng được nữa phải triệt-hạ gọi là diệt.

Lại ví-dụ như thân tứ-đại là xác-thịt do bôn thứ đất lửa nước gió giả- hiệp. Thân sanh ra, trụ một thời-gian, trẻ rồi lớn, lớn rồi già, già rồi suy yếu lần lần, kế chết. Thân tứ-đại mà người thế-gian hết lòng săn-sóc, không có thiệt-thể, hơi thở đi ra mà chẳng trở vào thì xương-thịt, sức nóng, tinh-huyết, hơi thở đều hoàn lại địa hỏa thủy phong, thân ấy tức- khắc biến thành tử-thi vô-tri vô-giác như khúc gỗ, vì thế gọi là thân hoạn, thân bất-tịnh. thân vô-thường, thân phi-ngã, vân…vân…Đó là chứng tỏ tất cả pháp hữu- vi như giấc mộng, huyễn-thuật, như bọt nước, bóng hình, như sương sa, điển chớp, thảy đều theo công-lệ sanh trụ dị diệt tức là không cồ chi tồn tại….

2. Sa-môn: cần tức. cần là tinh-tấn, tức là dứt sạch. Sa-môn là vị Tăng có đức-độ thanh-tịnh, tinh-tấn làm các điều lành, dứt sạch các điều dữ.

3. Tô-lạc đề-hồ: Thực-phẩm do sữa làm ra. Ví-dụ như: beuưe, fromage, creme, V…V…

4. Tánh thiện, tánh ác, tánh vỏ-ký: Tánh-thiện là tánh lành, tánh-ác là tánh dữ, tánh vô-ký là tánh không thể ghi-nhớ lành dữ.

5. Đoạn văn hiển-minh thập bất giới:

Thập bát giới là mười tám giới hạn.

  • Nhãn-giới, sắc-giới và Nhãn-thức-giới là giới-hạn của căn mắt, giới hạn của sắc-trần (các vật thấy được ở trần-cảnh) và giới hạn của tánh biết do mắt.
  • Nhĩ-giđi, Thinh-giới và Nhĩ-thức-giới là giới-hạn của căn tai, giới-hạn của Thinh-trần (các tiếng nghe được ở trần-cảnh) và giới hạn của tánh biết do tai.
  • Tỹ-giới, Hương-giới và Tỹ-thức-giới là giới-hạn của căn mũi, giới-hạn của Hương-trần (các hơi ngữi được ở trần-cảnh) và giới hạn của tánh biết do mũi.
  • Thiệt-giới, Vị-giới và Thiệt-thức-giới là giới hạn của căn lưỡi, giới-hạn của Vị-trần (các mùi nếm được ở trần-cảnh) và giới hạn của tánh biết do lưỡi.
  • Thân-giới, Xúc-giới và Thân-thức-giới là giới-hạn của căn thân, giới hạn của Xúc-trần (các sự cảm-xúc được ở trần cảnh) và giới-hạn của tánh biết do thân.
  • Ý-giới, Pháp-giới và Ý-thức-giới là giới-hạn của căn ý, giới hạn của Pháp-trần (các món hiểu-biết, tưởng-tượng, phân-biệt được ở trần cảnh) và giới-hạn của tánh biết do ý.

Thập bát giới gồm có sáu căn, sáu trần và sáu thức. Căn là món phát khởi. Trần làmón tục-lụy. Thức là món hiểu-biết. Giới là giới-hạn.

Mười tám món ấy đều có giới-hạn nên gọi Nhãn-giới, sắc-giới, Nhãn- thức-giới, vân…vân…

Sở dĩ Đức Phật nói pháp thập bát giới là hằng thuận chúng-sanh mà quyền-lập để giải mê cho chúng-sanh.

Thập bát giới hình như có riêng mỗi phần sai-biệt, nhưng tất cả đều luống-dối hư-vọng tức là không có thiệt-thể, không phải thuộc về tánh nhân-duyên sanh, cũng không phải thuộc về tánh tự-nhiên sanh.

Tóm-tắt lại, Thập bát giới thuộc vềphàm-tâm ở trong Như-Lai Tạng.

Nếu phàm-tâm dứt hết thì Phật-tâm tự hiện (Nên đọc lại Mục Yếu- Giải Quyển Nhì, số 23 và 24).

6. Diệu-trạm: Diệu là chiếu-minh, Trạm là tịch-tịnh

Diệu có tánh tùy-duyên, trạm có tánh bất-biến. Diệu tức trạm, trạm tức diệu. Diệu-trạm là vắng-lặng trong-sạch chiếu-soi sáng-suốt. Đó là lời khen Pháp-thân Phật.

7. Tổng-trì: Tổng là bao-hàm. Trì là gìn-giữ.

Tổng-trì là bao-hàm gìn-giữ tất cả pháp-môn, công-đức, giới-hạnh. Đó là lời khen Báo-thân Phật.

8. Bất-động Tôn: Bất-động là không bao giờ lay-chuyển. Tôn là kính- trọng như bậc cao-cả. Đức Phật tùy-duyên hóa-độ chúng-sanh, như- như bình-đẳng, không bao giờ lay-chuyển, nên gọi là Bất-động-Tôn. Đó là lời khen Hóa-thân Phật.

9. Tăng-Kỳ: Nói đủ chữ là A-tăng-kỳ (Asamkhya) chỉ về một số lớn nhứt trong mười số nhiều như:

1. A-tăng-kỳ
2. Vô-lượng
3. Vô-biên
4. Vô-đẳng
5. Bất khả sở
6. Bất khả xứng
7. Bất khả lượng
8. Bất khả tư-nghị
9. Bất khả thuyết
10. Bất khả thuyết, bất khả thuyết.

Lại như nói A-Tăng-Kỳ kiếp tức là Đại-kiếp. Nếu tính theo thế- gian thì một Tiểu-kiếp có 16.800.000 năm. Một Trung-kiếp gồm có 20 tiểu-kiếp tức là 16.800.000×20= 336.000.000 năm. Một Đại-kiếp gồm có bôn Trung-kiếp tức là 336.000.000 X 4 = 1.344.000.000 năm.

10. Pháp-thân: Pháp-thân tức là Tự-Tâm Chơn-Như, viên-giác thường- trụ.

11. Bảo-vương: Bậc Vô-thượng Chánh-đẳng Chánh-giác, tức là Phật.

12. Hằng-sa-chúng: Chúng-sanh rất nhiều như số cát ở sông Hằng, không thể đếm được.

13. Trần-sát: Cõi thế-gian.

14. Phật-ân: ân-đức của Phật giáo-hóa.

15. Ngũ-trược ác-thế: Ngũ-trược là năm thứ nhơ-đục. Ác-thế là cõi thế- gian độc-ác. Ngũ-trược ác-thế là cõi thế-gian có năm thứ nhơ-đục: Bao gồm:

  1.  Kiếp-trược: cuộc đời bị sanh lão bịnh tử và các tai-nạn chướng- ngại.
  2. Kiến-trược: thấy biết sai-lầm, lấy phải làm quấy, lấy quấy làm phải.
  3. Phiền-não trược: Tham sân si, vọng-tưởng, ngã-mạn mê-chấp, V.V.. ám-muội.
  4. Chúng-sanh trược: các nghiệp-báo oan-gia trái-chủ, nghịch-cảnh ác-duyên, vay-trả trả-vay và các thứ vật-chất buộc-ràng nhiễu-hại.
  5. Mạng-trược: Căn-mạng không bền-chắc, thoạt còn thoạt mất, sanh- diệt, vô-thường như hoa phù-dung sổm nở chiều tàn. Chúng-sanh ở cõi ác-thế bị năm thứ trƯỢc che-tối Tâm Chơn-Như, khiến cho hành-động mê-muội mà chìm-đắm ở biển-khổ luân-hồi sanh-tử.

16. Niết-Bàn: Tóm-tắt lại, Niết bàn có nghĩa là Viên-tịch. Viên là tròn đủ đức-độ, Tịch là dứt hết các chướng.

17. Đại-hùng đại-lực, đại từ-bi: Đó là đức-tánh Như-Lai, Đức Như-Lai dõng-mãnh tinh-tấn độ-sanh, không hề thốĩ-chuyển đó là đại-hùng.

Đức Như-Lai đầy đủ thập-lực, thấu-triệt tất cả thế-gian pháp v.à xuất thế-gian pháp đó là đại-lực.

Đức Như-Lai năng làm cho nhứt-thiết chúng-sanh thoát khổ được vui, đó là đại từ-bi.

18. Hoặc vi-tế: Hoặc: Nghi-ngờ mê-loạn, Vi-tế: nhỏ-nhen. Hoặc vi-tế là nghiệp nghi-ngờ mê-loạn nhỏ-nhen.

19. Vô-Thượng-Giác: Bậc hoàn-toàn giác-ngộ, không còn bậc nào hơn, tức là Phật.

20. Tánh Thuấn-nhã-đa: Thuấn-nhã-đa là hư-không. Tánh Thuấn-nhã- đa là tánh hư-không.

21. Tâm Thước ca-ra: Thước-ca-ra là cứng-cỏi bền-chắc. Tâm Thước ca-ra là Tâm cứng-cỏi bền-chắc.

22. Đoạn văn ngài A-Nan và Đại-chúng kiến-ãạo. Đức Phật giảng dạy ngũ-âm, lục-nhập, thập-nhị-xứ, thập-bát-giới và thất-đại rồi biểu thị Tầm Chơn-Như Viên-giác thường-trụ. Đức Phật qui-nạp ấm nhập xứ giới và đại về với Như-Lai Tạng tánh.

Nhờ những lời khai-thị chánh-đại quang-minh của Đức Phật, nên ngài A-Nan và Đại-chúng trừ được các vọng-tưởng nghi-chấp. Ai ai cũng hết sức hoan-hỉ được hiểu-rõ Tự-Tâm thuần-nhứt chơn-thiệt, như- nhưbất-động, châu-biến khắp cả pháp-giới, đó chính là Bổn-Lai Diện- Mục của mỗi người. Nhứt-thiết sự-vật đều hiển-hiện ở Tự-Tâm.

Vì Tự-Tam toàn-chơn toàn-giác, châu-biến, viên-mãn, nên cảm thấy dễ-dàng thập-phương hư-không như thấy cọng lá nhỏ nắm trong bàn tay.

Vì Tự-Tâm diệu-minh trạm-nhiên, thường tịch thường-chiếu, nên quay lại xem thân-hoạn của cha-mẹ sanh ra chẳng khác chi thổi một hột bụi nhỏ trong hư-không ở khắp mười-phương thế-giới, dầu còn dầu mất vẫn không quan-hệ đối với Tự-Tam, lại cũng như trôi một giọt nước bọt. giữa biển rộng mênh mông ở khắp tứ-hướng trùng-dương, dầu nổi dầu chìm vẫn không quan-hệ đôi với Tự-Tâm. Như vậy tất cả Đại-chúng đều tỏ-ngộ Diệu-pháp gọi là kiến-đạo.

Ngài A-Nan nhờ Đức Phật khai sáng, thấu-triệtTam-Chơn-Nhưviên- giác thường-trụ, nên vô-cùng vui-mừng được pháp chưa từng có.

Ngài A-Nan chí-thành đảnh lễ Đức Phật rồi xin phép thuyết kệ đại- ý như sau:

Ngài A-Nan khen-ngợi Pháp-thân, Báo-thân, và Hóa-thân của Đức Phật, khen-ngợi pháp-môn Thủ-Lăng-Nghiêm mầu-nhiệm cao-cả ít có trong đời, khen-ngỢi đức-dụng của pháp-môn Thủ-Lăng-Nghiêm tiêu- diệt được tất cả vọng-tưởng điên-đảo trong vô-lượng kiếp và được viên- chứng Tự-Tâm Chơn-Như viên-giác thường-trụ tức là Pháp-thân ở hiện- kiếp, khỏi trải qua vô-số kiếp, vì nếu tu-hành theo các pháp-môn khác, sợ phải trải qua vô-biên kiếp mới đắc Pháp-thân. Như xưa có nhiều vị tu hành phải trải qua ba A-Tăng-Kỳ kiếp mới đắc Pháp-thân. Đó là chứng-tỏ pháp-môn Thủ-Lăng-Nghiêm vi-mật huyền-diệu tuyệt-đôi.

Trước mặt Đức Thích-Ca, ngài A-Nan phát nguyện đắc Phật-quả để trở lại cõi Ta-bà, độ thoát hằng-hà sa-số chúng-sanh, quyết-định đem tâm nhiệt-thành, trên phụng-thờ Chư-Phật, dưới cứu-độ chúng-sanh ở khắp các cõi thế-gian, đó là báo-đáp hồng-ân của Đức Phật dạy-dỗ.

Ngài A-Nan ngưỡng-vọng Đức Phật chứng-minh cho. Ngài thề trở vào cõi thế-gian ngũ-trược độc-ác, để giải mê cứu khổ cho vạn loại hữu- tình, nếu còn một chúng-sanh nào chưa thành Phật thì nhứt-định không sớm hưởng quả Niết-Bàn.

Ngài A-Nan cung-thỉnh Đức Phật đại-hùng, đại lực đại từ-bi dũ lòng quảng-đại, thương-xót độ cho giải-trừ tận gốc các ác-chướng, thậm-chí tới hoặc-nghiệp nghi-chấp nhỏ-nhen cũng đều dứt sạch, hầu sớm viên- chứng Vô-Thượng Bồ-Đề, ngồi đạo-tràng thị-hiện khắp mười phương quốc độ, cứu-vớt chúng-sanh ra khỏi biển-khổ.

Ngài A-Nan phát đại-nguyện như vậy, kết-luận ngài còn nói hai câu hùng hồn: Tánh hư-không còn có thể tiêu-mất, nhưng Tâm Bồ-Đề lúc nào cũng không thối-chuyển và cứng-cỏi, bền chắc, kiên-ccí vĩnh-cửu.

 

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.