KINH ĐẠI THỪA ĐẠI TẬP ĐỊA TẠNG THẬP LUÂN

Hán dịch: Tam tạng Pháp sư Huyền Trang
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

Phẩm 7: PHƯỚC ĐIỀN TƯỚNG

(Từ giữa Quyển 9 đến đầu Quyển 10)

Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát có mười luân: Mười tài thí đại giáp trụ. Đại Bồ-tát nào thành tựu luan này, từ khi mới phát tâm có thể đoạn trừ hết thảy năm dục, vượt hơn cả các hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho tất cả Thanh văn, Độc giác. Các hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, giữ gìn. Những gì là mười? Đó là bố thí các loại thức ăn uống, y phục, đồ trang sức quý báu, voi, ngựa, xe cộ cùng với tay, chân, tai, mũi, đầu, mắt, tủy, não, xương cốt, da thịt, máu mủ, quốc gia, thành ấp, vợ con, tôi tớ, ruộng vườn, nhà cửa như thế, mỗi khi bố thí đều không luyến tiếc thân mạng, không vì mong cầu sự an vui ở thế gian và xuất thế gian mà mình phát tâm bố thí, chỉ vì muốn cho tất cả chúng hữu tình phải nuôi lớn mầm đại Từ, đại Bi mà phát tâm bố thí. Vì muốn chúng sinh phát khởi phương tiện thiện xảo, trí tuệ thù thắng nên phát tâm bố thí. Vì muốn làm cho tất cả chúng hữu tình được an lạc nên phát tâm bố thí. Vì muốn trừ diệt mọi khổ não cho chúng hữu tình nên phát tâm bố thí. Cũng không vì tâm muốn hơn người, tâm hung dữ, tâm ganh ghét, tâm keo kiệt mà bố thí; đối với các vật thí, dù nhiều hay ít, cho đến một bữa ăn, cũng không vì mong cầu phước báo cho mình mà phát tâm bố thí. Cũng không mong cầu quả vị Thanh văn mà phát tâm bố thí, cũng không mong cầu quả vị Độc giác mà phát tâm bố thí. Đối với các vật thí hoặc nhiều hoặc ít, cho đến một bữa ăn chỉ vì mong cầu Nhất thiết chủng trí mà phát tâm bố thí.

Này thiện nam! Đại Bồ-tát nào thành tựu luân: Mười tài thí đại giáp trụ như thế từ khi mới phát tâm thì có thể đoạn trừ tất cả năm dục lạc, vượt hơn hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho hàng Thanh văn, Độc giác. Tất cả hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, giữ gìn. Vì sao? Vì hàng Thanh văn, Độc giác phát tâm bố thí không có đại Từ bi, chỉ vì muốn xả bỏ nghèo cùng cho tự thân mình, muốn mình thoát khỏi các khổ não, muốn cho mình được an lạc, muốn cho mình chứng đắc đạo quả Niết-bàn, chứ không vì tất cả chúng hữu tình mà làm bố thí. Còn Đại Bồ-tát phát tâm bố thí thì có đại Từ bi, vì muốn cho chúng hữu tình xa lìa bần cùng, muốn cho chúng hữu tình thoát khỏi mọi khổ não, muốn cho chúng hữu tình được an lạc tự tại, muốn cho chúng hữu tình chứng đạo quả Niết-bàn. Đó là không vì tự thân mà phát tâm bố thí. Do nghĩa này, nên vượt hơn hàng Thanh văn, Độc giác, lại vì muốn làm ruộng phước lớn cho hàng Thanh văn, Độc giác, tất cả hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, giữ gìn.

Khi Đại Bồ-tát tu pháp tài thí Ba-la-mật, đối với mọi thú vui năm dục, tâm không đắm nhiễm, không tự mình hưởng thọ đầy đủ các pháp an lạc, mà đem bố thí hết cho chúng hữu tình, đem tâm giúp đỡ tất cả chúng hữu tình, đem tâm nhẫn chịu tất cả khổ não của mọi loài, đem tâm diệt khổ cho tất cả hữu tình, đem tâm làm an vui cho mọi người và đem tâm đại Niết-bàn cho các loài hữu tình mà bố thí. Do ý nghĩa này, nên vượt hơn các hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho khắp hàng Thanh văn, Độc giác, tất cả hàng Thanh văn, Độc giác nên cúng dường, phụng sự, giữ gìn.

Này thiện nam! Nếu đối với năm dục mà tâm không đắm nhiễm, đem tâm đại Từ bi mà bố thí như thế thì gọi là Đại Bồ-tát, cũng gọi là ruộng phước chân thật của tất cả Thanh văn, Độc giác. Nếu không đoạn trừ năm dục ở thế gian, không có đại Từ bi khi bố thí thì tuy xả bỏ vô lượng, vô biên tài vật cũng không được gọi là Đại Bo-tát, cũng chẳng phải là ruộng phước chân thật của tất cả Thanh văn, Độc giác, không được ấn chứng vào quả vị Thánh. Cho nên phải đoạn trừ năm dục ở thế gian và phải có đầy đủ tâm đại Từ bi để làm bố thí. Nếu không như thế mà làm bố thí thì chẳng phải là Bồ-tát, chẳng phải là ruộng phước chân thật.

Này thiện nam! Đem tâm nhiễm trước các thứ năm dục mà hành luân bố thí không thể diệt trừ một chút phần phiền não của bản thân mình, làm sao có thể diệt trừ vô lượng các khổ não của tất cả chúng sinh!

Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn nói rõ lại nghĩa trên, nên đọc bài kệ:

Thành tựu tài thí luân
Người trí tịnh ý lạc
Xa lìa hết năm dục
An lạc chúng hữu tình.
Vì an lạc chúng sinh
Không tự cầu quả báo
Dầu chỉ thí chút phần
Là ruộng phước chân thật.
Tuy bố thí rất nhiều
Mà dựa vào năm dục
Chẳng thể vào đạo Thánh
Trụ trong tụ bất định.
Tuy làm việc thí ít
Mà không dựa năm dục
Là ruộng phước chân thật
Của Thanh văn, Độc giác.
Nên phải bỏ năm Dục giới
Thường hành thí thanh tịnh
An lạc chúng hữu tình
Thành ruộng phước chân thật.

Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát có luân: Mười pháp thí đại giáp trụ. Nếu Đại Bồ-tát nào thành tựu luân này từ khi mới phát tâm thì có thể đoạn trừ tất cả năm dục, mau có thể đắc định Nhật đăng quang, vượt qua các hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho tất cả Thanh văn, Độc giác. Các hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, giữ gìn.

Thế nào là mười? Đó là chánh pháp do chư Như Lai thuyết ra: Hoặc là chánh pháp tương ưng với Thanh văn thừa, hoặc chánh pháp tương ưng với Độc giác thừa, hoặc chánh pháp tương ưng với Đại thừa, hoặc pháp thế gian, hoặc pháp xuất thế gian, hoặc pháp hữu lậu, hoặc pháp vô lậu, hoặc pháp hữu vi, hoặc pháp vô vi, hoặc pháp bất nhị.

Đại Bo-tát đối với mười pháp này phải có lòng tin kính sâu xa, lắng nghe tất cả rồi tùy theo khả năng mà suy xét lãnh thọ, suy nghĩ quán sát đến chỗ rốt ráo thông suốt, tùy theo sự ưa thích mà diễn thuyết cho người khác. Lúc thuyết pháp không có tâm ganh ghét, tâm bỏn xẻn, tâm kiêu mạn, tâm không cầu lợi, tâm không khinh người, tâm không cao ngạo, mà phải có tâm cung kính, có tâm làm lợi ích khắp cùng, có tâm đại Từ, có tâm đại Bi. Nói pháp Thanh văn cho hàng Thanh văn, không nói pháp Độc giác thừa hoặc Đại thừa cho họ. Thuyết pháp Độc giác cho hàng Độc giác, chứ không thuyết pháp Thanh văn hay Đại thừa cho họ. Đối với hàng Đại thừa, thuyết pháp Đại thừa, không thuyết các pháp Thanh văn hay Độc giác thừa cho họ. Tùy theo căn cơ của các chúng sinh mà thuyết chánh pháp cho họ. Nếu không có căn cơ thì không nói pháp. Đối với hàng Đại thừa, hoàn toàn không khuyên tu hạnh Độc giác, hạnh Thanh văn. Còn đối với hàng Độc giác, có lúc cũng khuyên họ tu hạnh Đại thừa. Đối với hàng Thanh văn, có lúc khuyên tu theo hạnh Độc giác thừa, hoặc khuyên tu hạnh Đại thừa. Đối với những lời thuyết pháp của Đức Như Lai, cho đến một bài tụng, thậm chí nửa câu, cũng đều tin kính sâu xa, hoàn toàn không phỉ báng, làm chướng ngại, vùi lấp. Đối với vị Pháp sư thuyết pháp tưởng như Đức Thế Tôn, với đại chúng nghe pháp tưởng như người bệnh, với pháp được nghe tưởng là lương dược, đoạn trừ năm dục, không còn mong cầu mà tuyên thuyết chánh pháp.

Này thiện nam! Đó gọi là luân: Mười pháp thí đại giáp trụ của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát nào thành tựu được luân này thì có thể đoạn trừ hết năm dục, mau chứng được định Nhật đăng quang, vượt xa hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho tất cả Thanh văn, Độc giác, các hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, giữ gìn.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn làm rõ nghĩa này nên nói kệ:

Bậc trí tu pháp thí
Tùy cơ nói ba thừa
Không thuyết các thừa khác
Sợ nghe hủy báng pháp.
Đúng căn cơ thuyết pháp
Chẳng phải thì không thuyết
Tùy theo sự ưa thích
Khuyên tu khiến vui vẻ.
Trọn không khuyến Đại thừa
Chỉ khiến tu Nhị thừa
Hoặc lúc khuyên Nhị thừa
Tiến dần lên Thượng thừa.
Thường cung kính nghe pháp
Tin sâu, không hủy báng
Cúng dường đến Pháp sư
Tưởng như Bậc Thế Tôn.
Khuyên nghe thuốc diệu pháp
Để trừ bệnh não phiền
Bỏ lợi dưỡng, danh dự
Mà tuyên bày chánh pháp.

Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát lại có luân: Tịnh giới đại giáp trụ. Nếu Đại Bồ-tát nào thành tựu luân này từ lúc mới phát tâm thì có thể đoạn trừ hết năm dục, vượt hơn tất cả Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho tất cả Thanh văn, Độc giác, hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, giữ gìn.

Thế nào là luân: Tịnh giới đại giáp trụ? Này thiện nam! Tịnh giới của Bồ-tát có hai tướng: Một là Cộng. Hai là Bất cộng.

Thế nào là luân Cộng tịnh giới của Bồ-tát? Đó là các luật nghi đã thọ của hàng tại gia cận sự, cận trụ, hoặc giới biệt giải thoát của hàng xuất gia và thọ giới Cụ túc. Luật nghi, giới biệt giải thoát như vậy gọi là luân Cộng tịnh giới của Bồ-tát, cùng chung với hàng Thanh văn, Độc giac thừa. Bậc Bồ-tát không do luân tịnh giới này mà có thể trừ được tất cả phiền não, ác kiến và có thể giải thoát nghiệp chướng sinh tử. Đây không gọi là luân đại giáp trụ, cũng không do đấy mà gọi là Đại Bồ-tát và cũng không gọi đây là ruộng phước chân thật của tất cả Thanh văn, Độc giác.

Thế nào là luân Bất cộng tịnh giới đại giáp trụ của Bồ-tát? Đó là các Bồ-tát đối với chúng hữu tình ở khắp mười phương đều khởi tâm bình đẳng, không quấy nhiễu, không oán hận mà hộ trì tịnh giới. Đối với tất cả người trì giới, kẻ phạm giới, người bố thí, kẻ tham lam bỏn xẻn, người Từ bi, kẻ sân hận, người tinh tấn, kẻ lười biếng, các hữu tình thượng, trung, hạ, Bồ-tát đều đem tâm không sai biệt, tưởng không sai biệt mà hộ trì tịnh giới. Đối với các hữu tình trong tam giới, không hề sân giận, cũng không làm các hạnh ác mà chỉ hộ trì tịnh giới. Đối với uẩn, giới, xứ trong ba cõi, không có sự phân biệt mà chỉ hộ trì tịnh giới. Cũng không nương theo Dục giới mà hộ trì tịnh giới, cũng không nương theo Sắc giới mà hộ trì tịnh giới, không nương theo Vô sắc giới mà hộ trì tịnh giới; không quán tất cả quả báo của các cõi mà hộ trì tịnh giới; không nương theo tất cả cái được và cái không được mà hộ trì tịnh giới; không nương theo các hành mà hộ trì tịnh giới. Đó gọi là luân Bất cộng tịnh giới đại giáp trụ cua Bồ-tát.

Này thiện nam! Nếu Đại Bồ-tát nào thành tựu được luân Tịnh giới đại giáp trụ này từ khi mới phát tâm thì có thể đoạn trừ tất cả năm dục, nên gọi là Đại Bồ-tát, vượt trên tất cả Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho hàng Thanh văn, Độc giác, tất cả hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, giữ gìn.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói bài tụng để làm rõ nghĩa trên:

Luật nghi hàng tại gia
Biệt giải thoát xuất gia
Cùng chung cho Nhị thừa
Không gọi Ma-ha-tát.
Bậc trí tu pháp không
Không nương theo thế gian
Cũng không nương các cõi
Mà hộ trì tịnh giới.
Trì giới lìa chấp tướng
Không nhiễm, không các lậu
Hộ trì giới như thế
Là ruộng phước chân thật.

Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát còn có luân: An nhẫn đại giáp trụ. Đại Bồ-tát nào thành tựu được luân này từ khi mới phát tâm thì có thể đoạn trừ hết năm dục, vượt trên hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho tất cả hàng Thanh văn, Độc giác. Hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, giữ gìn.

Thế nào là luân An nhẫn đại giáp trụ? Này thiện nam! An nhẫn của Bồ-tát có hai tướng: Một là: Thế gian. Hai là: Xuất thế gian.

Thế nào là luân An nhẫn thế gian của Bồ-tát? Đó là nhẫn hữu lậu: Là nhẫn phát sinh do duyên theo chúng hữu tình, có chấp thủ, có tướng, do nương theo quả báo, nương theo các phước nghiệp, nhẫn phát sinh do nương theo sắc, thanh, hương, vị, xúc của bản thân. Đó còn là nhẫn hữu phát thú, nhẫn vô kham năng, nhẫn lực luy liệt, nhẫn khí chúng sinh, nhẫn hữu cuống trá, nhẫn kiều duyệt tha, nhẫn không làm lơi lạc cho chúng hữu tình. Đó gọi là An nhẫn thuộc thế gian của Bồ-tát. An nhẫn như vậy cùng chung với hàng Thanh văn, Độc giác. Đây không thể gọi là luân đại giáp trụ, cũng không do đây mà gọi là Đại Bồ-tát, hay là ruộng phước chân thật cho hàng Thanh văn, Độc giác.

Thế nào là luân An nhẫn xuất thế gian đại giáp trụ của Bồtát? Đó là nhẫn vô lậu. Tất cả đại pháp quang minh bậc Hiền thánh vì lợi lạc cho các chúng hữu tình mà an nhan không dích mắc, đoạn trừ hẳn tất cả sự nghiệp. Ngôn ngữ, nhân tướng, văn tự, âm thanh, việc làm đều hành theo an nhẫn. Tu hạnh nhẫn này có thể đoạn trừ tam kết, tam thọ, tam tướng, tam thế, tam hữu, tam hành, tam bất căn lành, tứ chủng bộc lưu, tứ ách, tứ thủ, tứ chủng thân hệ. Khi tu các hạnh nhẫn này thì tâm ý được an định, đó gọi là luân An nhẫn xuất thế gian đại giáp trụ của Bồ-tát.

Này thiện nam! Nếu Đại Bồ-tát nào thành tưu được luân An nhẫn đại giáp trụ này từ lúc mới phát tâm thì có thể đoạn trừ hết năm dục nên gọi là Đại Bồ-tát, vượt xa hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho hàng Thanh văn, Độc giác. Tất cả hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, giữ gìn.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn dùng bài tụng để nói rõ nghĩa trên:

An nhẫn có hai loại
Là hữu tướng, vô tướng
Nhẫn hữu tướng chấp giữ
Bậc trí không khen ngợi.
Tu nhẫn nương tam hành
Nương theo uẩn, giới, xứ
Đó là nhẫn hữu lậu
Chẳng phải tướng Bồ-tát.
Để diệt bốn điên đảo
Tu nhẫn vô nhiễm trước
Tịch tĩnh cùng tam hành
Nhẫn này được ngợi khen.
Muôn hạnh đều an tịnh
Lìa tất cả phân biệt
Bình đẳng như hư không
Nhẫn này nên khen ngợi.
Muôn pháp quy về một
Không, vô tướng, tịch diệt
Tâm không chỗ dích mắc
Nhẫn này lợi ích lớn.

Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát có luân Tinh tấn đại giáp trụ. Nếu Đại Bồ-tát nào thành tựu được luân này từ khi mới phát tâm thì có thể đoạn trừ được năm dục, vượt xa hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho hàng Thanh văn, Độc giác. Tất cả hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, giữ gìn.

Thế nào là luân Tinh tấn đại giáp trụ? Này thiện nam! Tinh tấn

của Bồ-tát có hai tướng: Một là: Thế gian. Hai là: Xuất thế gian.

Thế nào là luân Tinh tấn thế gian của Bồ-tát? Đó là cac Bồ-tát tinh tấn dũng mãnh, chuyên cần tu ba loại phước nghiệp thế gian. Ba loại đó là:

  1. Thí phước nghiệp sự.
  2. Giới phước nghiệp sự.
  3. Tu phước nghiệp sự.

Pháp tu này là ba loại tinh tấn. Tinh tấn như vậy là duyên theo cac chúng sinh hữu lậu chấp thủ, là nương theo các quả báo, là nương theo các phước nghiệp. Đây gọi là Tinh tấn thế gian của Bồ-tát. Tinh tấn này cùng chung với hàng Thanh văn, Độc giác nên không gọi là luân đại giáp tru, cũng không vì thế mà gọi là Đại Bồ-tát, là ruộng phước chân thật của tất cả hàng Thanh văn, Độc giác.

Thế nào gọi là luân Tinh tấn xuất thế gian đại giáp trụ của Bồ-tát? Nghĩa là Bồ-tát này dũng mãnh tinh tấn, đối với tất cả chúng sinh đều bình đẳng phát tâm, trừ hết mọi nghiệp khổ phiền não cho họ. Tinh tấn như thế được tất cả Hiền thánh khen ngợi, là vô lậu, là không chấp thủ, là không chỗ sở trú. Đối với tất cả người tinh tấn, kẻ biếng nhác, người bố thí, kẻ tham lam keo kiệt, người trì giới, kẻ phá giới, người Từ bi, kẻ sân hận, các chúng sinh thượng, trung, hạ đều không đem tâm phân biệt, không có tưởng phân biệt mà chỉ dũng mãnh tinh tấn. Đối với chúng sinh trong tam giới đều bình đẳng không hai, vì họ mà từ lời nói, việc làm, suy nghĩ đều nương vào chỗ không chấp trước mà dũng mãnh tinh tấn. Đối với uẩn, xứ, giới trong tam hữu cũng đều tinh tấn dũng mãnh, không phân biệt, không nương theo Dục giới mà tinh tấn dũng mãnh, không nương theo Sắc giới mà tinh tấn dũng mãnh, không nương theo Vô sắc giới mà tinh tấn dũng mãnh, không quán tất cả quả báo của các cõi mà tinh tấn dũng mãnh, không nương theo tất cả cái được và cái không được mà tinh tấn dũng mãnh, không nương theo các hạnh mà tinh tấn dũng mãnh, không nương theo ba loại phước nghiệp sự ở thế gian mà tinh tấn dũng mãnh. Vì muốn đầy đủ ba phước nghiệp sự xuất thế mà tinh tấn dũng mãnh. Đó gọi là luân Tinh tấn xuất thế gian đại giáp trụ của Bồ-tát.

Này thiện nam! Nếu Đại Bồ-tát nào thành tựu được luân Tinh tấn đại giáp trụ này từ khi mới phát tâm thì có thể đoạn trừ hết năm dục, được gọi là Đại Bồ-tát, vượt trên hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho hàng Thanh văn, Độc giác. Tất cả hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, giữ gìn.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn dùng bài kệ để làm rõ nghĩa này:

Nơi sáu căn nhiễm trước
Chìm nổi theo năm dòng
Tuy tinh tấn dũng mãnh
Người trí đều chán xa.
Duyên chúng sinh tinh tấn
Hữu lậu và chấp thủ
Chẳng phải ruộng phước thật
Không gọi Ma-ha-tát.
Bậc trí siêng tinh tấn
Xa lìa mọi nhiễm trước
Tâm không bị lệ thuộc
Là ruộng phước chân thật.
Không dính mắc danh sắc
Lìa các uẩn, xứ, giới
Làm chỗ nương cho chúng
Gọi là Ma-ha-tát.
Giữa đời như trăng (dưới) nước
Luân tinh tấn rốt ráo
Có thể đoạn trừ hết
Phiền não của chúng sinh.

Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát có luân Tĩnh lự đại giáp trụ. Nếu Đại Bồ-tát nào thành tựu được luân này từ lúc mới phát tâm thì có thể đoạn trừ được năm dục, vượt xa hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho hàng Thanh văn, Độc giác. Tất cả hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, giữ gìn.

Thế nào la luân Tĩnh lự đại giáp trụ? Này thiện nam! Tĩnh lự của Bồ-tát có hai tướng: Một là: Thế gian; hai là: xuất thế gian.

Thế nào là luân Tĩnh lự thế gian của Bồ-tát? Nghĩa là các Bồtát phải nương theo các uẩn mà tu tập tĩnh lự, nương vào các giới mà tu tập tĩnh lự, nương vào các xứ mà tu tập tĩnh lự, nương vào Dục giới mà tu tập tĩnh lự, nương vào Sắc giới mà tu tập tĩnh lự, nương vào Vô sắc giới mà tu tập tĩnh lự, nương vào ba luật nghi mà tu tập tĩnh lự, nương vào ba giải thoát mà tu tập tĩnh lự, nương vào bốn Niệm trụ mà tu tập tĩnh lự, nương vào bốn Chánh đoạn mà tu tập tĩnh lự, nương vào bốn Thần túc mà tu tập tĩnh lự, nương vào năm căn mà tu tập tĩnh lự, nương vào năm lực mà tu tập tĩnh lự, nương vào bảy Giác chi mà tu tập tĩnh lự, nương vào tám chi Thánh đạo mà tu tập tĩnh lự, nương vào địa giới mà tu tập tĩnh lự, nương vào thủy giới mà tu tập tĩnh lự, nương vào hỏa giới mà tu tập tĩnh lự, nương vào phong giới mà tu tập tĩnh lự, nương vào không giới mà tu tập tĩnh lự, nương vào thức giới mà tu tập tĩnh lự, nương vào lạc thọ mà tu tập tĩnh lự, nương vào khổ thọ mà tu tập tĩnh lự, nương vào bất khổ bất lạc thọ mà tu tập tĩnh lự, nương vào hư không vô biên xứ mà tu tập tĩnh lự, nương vào thức vô biên xứ mà tu tập tĩnh lự, nương vào vô sở hữu xứ mà tu tập tĩnh lự, nương vào phi tưởng phi phi tưởng xứ mà tu tập tĩnh lự, nương vào đời này mà tu tập tĩnh lự, nương vào đời khác mà tu tập tĩnh lự, nương vào tiểu tưởng mà tu tập tĩnh lự, nương vào đại tưởng mà tu tập tĩnh lự, nương vào vô lượng tưởng mà tu tập tĩnh lự. Tĩnh lự như thế là hữu lậu, là có chấp thủ, là có chỗ nương theo, gọi là Tĩnh lự thế gian của Bồ-tát. Tĩnh lự này cùng chung với hàng Thanh văn, Độc giác. Đây không thể gọi là luân đại giáp trụ, cũng không gọi là Đại Bồ-tat, là ruộng phước chân thật của tất cả hàng Thanh văn, Độc giác.

Thế nào là luân Tĩnh lự xuất thế gian đại giáp trụ của Bồ-tát? Nghĩa là Bồ-tát đã xa lìa các uẩn mà tu tập tĩnh lự, xa lìa các giới mà tu tập tĩnh lự, xa lìa các xứ mà tu tập tĩnh lự, xa lìa Dục giới mà tu tập tĩnh lự, xa lìa Sắc giới mà tu tập tĩnh lự, xa lìa Vô sắc giới mà tu tập tĩnh lự, xa lìa ba luật nghi mà tu tập tĩnh lự, xa lìa ba giải thoát mà tu tập tĩnh lự, xa lìa bốn Niệm trụ mà tu tập tĩnh lự, xa lìa bốn Chánh đoạn mà tu tập tĩnh lự, xa lìa bốn Thần túc mà tu tập tĩnh lự, xa lìa năm căn mà tu tập tĩnh lự, xa lìa năm lực mà tu tập tĩnh lự, xa lìa bảy Giác chi mà tu tập tĩnh lự, xa lìa tám chi Thánh đạo mà tu tập tĩnh lự, xa lìa địa giới mà tu tập tĩnh lự, xa lìa thủy giới mà tu tập tĩnh lự, xa lìa hỏa giới mà tu tập tĩnh lự, xa lìa phong giới mà tu tập tĩnh lự, xa lìa không giới mà tu tập tĩnh lự, xa lìa thức giới mà tu tập tĩnh lự, xa lìa lạc thọ mà tu tập tĩnh lự, xa lìa khổ thọ mà tu tập tĩnh lự, xa lìa bất khổ bất lạc thọ mà tu tập tĩnh lự, xa lìa hư không vô biên xứ mà tu tập tĩnh lự, nương vào thức vô biên xứ mà tu tập tĩnh lự, nương vào vô sở hữu xứ mà tu tập tĩnh lự, nương vào phi tưởng phi phi tưởng xứ mà tu tập tĩnh lự, nương vào đời này mà tu tập tĩnh lự, nương vào đời khác mà tu tập tĩnh lự, nương vào tiểu tưởng mà tu tập tĩnh lự, nương vào đại tưởng mà tu tập tĩnh lự, nương vào vô lượng tưởng mà tu tập tĩnh lự. Tĩnh lự như thế mới có thể phát ánh sáng rộng lớn của chư Hiền thánh, là vô lậu, là không chấp thủ, là không có chỗ nương theo. Đó gọi là luân Tĩnh lự xuất thế gian đại giáp trụ của Bồ-tát.

Này thiện nam! Nếu Đại Bồ-tát nào thành tựu luân Tĩnh lự đại giáp trụ này từ khi mới phát tâm thì có thể đoạn trừ hết năm dục, được gọi là Đại Bồ-tát, vượt xa hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho hàng Thanh văn, Độc giác. Tất cả hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, giữ gìn.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn tuyên nói bài tụng để làm rõ nghĩa trên:

Vì mình bỏ nguyện lớn
Tu dẫu có đắc định
Đoạn phiền não riêng mình
Chẳng phải bậc trí chân!
Quán chiếu phải nương theo
Cầu giải thoát tu định
Chấp trước bờ này kia
Chẳng lợi ích hữu tình.
Vì lợi lạc mọi loài
Tu định, bỏ gánh nặng
Diệt hết mọi não phiền
Là bậc chân trí vậy.
Vì lợi khắp chúng sinh
Tu định, không chấp trước
Chấm dứt mọi khát ái
Đó là bậc Đại tuệ.
Vì giải thoát trói buộc
Trụ được thành Vô úy
Tu định được vắng lang
Thật là Đại Bồ-tát.

*********

Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát có luân Bát-nhã đại giáp trụ. Nếu Đại Bồ-tát nào thành tựu được luân này từ lúc mới phát tâm thì có thể đoạn trừ hết năm dục, vượt hơn cả hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho hàng Thanh văn, Độc giác. Tất cả hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, hộ trì.

Thế nào gọi là luân Bát-nhã đại giáp trụ của Bồ-tát? Này thiện nam! Bát-nhã của Bồ-tát có hai tướng: Một là: Thế gian; hai là: Xuất thế gian.

Thế nào là Bát-nhã thế gian của Bồ-tát? Nghĩa là chư Bồ-tát chỉ nương vào sự đọc tụng, ghi chep, lắng nghe rồi diễn thuyết chánh pháp ba thừa cho mọi người, vì muốn diệt trừ vô minh hắc ám cho tất cả chúng sinh, muốn cầu sự phát sinh trí tuệ quang minh cho tất cả chúng sinh. Nghĩa là, đối với chánh pháp Như Lai thuyết ra tương ưng với Thanh văn thừa đều phải chuyên cần đọc tụng, lắng nghe, ghi chép, giảng thuyết cho người và khuyên nên tu hành. Hoặc là đối với chánh pháp của Như Lai thuyết ra tương ưng với Độc giác thừa đều phải tinh cần đọc tụng, lắng nghe, ghi chép, giảng thuyết cho người và khuyên nên tu tập. Hoặc đối với chánh pháp của Như Lai thuyết ra tương ưng với Vô thượng thừa đều phải tinh cần đọc tụng, lắng nghe, ghi chép, giảng thuyết cho người và khuyên cùng tu tập. Không cầu đạo vô lậu của bậc Hiền thánh, không cầu Thánh đạo, không cầu sự giáo hóa giải thoát của Thánh đạo, không hành Bát-nhã chân thật tịch tĩnh, chỉ thường thực hành theo Bát-nhã hữu kiến, hữu tướng. Như thế là Bát-nhã có chấp trước, có chấp thủ. Đó là Bát-nhã thế gian của Bồ-tát. Bát-nhã này chung đồng với Thanh văn và Độc giác thừa. Đây không thể gọi là luân đại giáp trụ, cũng không gọi là Đại Bồ-tát, cũng không gọi là ruộng phước chân thật cho tất cả hàng Thanh văn, Độc giác.

Thế nào gọi là luân Bát-nhã xuất thế gian đại giáp trụ của Bồtát? Nghĩa là các Bồ-tát lúc tinh cần tu tập đạo quả Bồ-đề, phải tùy theo khả năng mà đọc tụng, lắng nghe, ghi chép, giảng nói chánh pháp ba thừa cho người nghe, nhưng trong đó phải nương vô sở đắc làm phương tiện mà an trú, cũng không có sự hành động, không có sự tư duy, không có căn bản, dùng tâm như hư không, tâm tịch tĩnh khắp cả, tâm không chấp trước, tuệ không tăng giảm, tâm không sinh diệt, tâm không thoái chuyển, tâm pháp bình đẳng, tâm chân như, tâm thật tế, tâm pháp giới, tâm vô ngã, tâm không phân biệt, tâm tịch diệt an nhẫn, lìa hết mọi sự phân biệt, khéo léo an trụ vào địa vô thành hoại, khéo léo an trụ vào địa không trụ, không chấp trước tuệ thắng diệu. Đó là Bát-nhã không chấp giữ, không dính mắc, là luân Bát-nhã xuất thế gian đại giáp trụ của Bồ-tát.

Này thiện nam! Đại Bồ-tát nào thành tựu luân Bát-nhã đại giáp trụ này từ lúc mới phát tâm, có thể đoạn trừ hết năm dục nên gọi là Đại Bồ-tát, vượt hơn cả hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho tất cả hàng Thanh văn, Độc giác. Hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, hộ trì.

Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát còn có luân: Phương tiện thiện xảo đại giáp trụ. Đại Bồ-tát nào thành tựu được luân này từ lúc mới phát tâm, có thể đoạn trừ hết năm dục, vượt hơn hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho hàng Thanh văn, Độc giác. Tất cả hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, hộ trì.

Thế nào là luân Phương tiện thiện xảo đại giáp trụ của Bồ-tát? Này thiện nam! Phương tiện thiện xảo của Bồ-tát có hai tướng: Một là: Thế gian; hai là: Xuất thế gian.

Thế nào gọi là Phương tiện thiện xảo thế gian của Bồ-tát? Nghĩa là chư Bồ-tát hoặc vì tự lợi, hoặc vì lợi tha, hoặc vì lợi cả hai, thường phân biệt kia đây, thị hiện các thứ kỹ thuật khéo léo, làm cho mình và người khác đều thành thục, rồi lấy đó mà phụng sự, cúng dường hoặc chư Phật Thế Tôn, hoặc chư Bồ-tát, hoặc hàng Thanh văn, Độc giác, hoặc cha mẹ, hoặc cho người bệnh, hoặc cho người già yếu không nơi nương tựa. Hoặc thấy người gặp ách nạn sắp bị hại chịu khổ nhọc thì dùng các phương tiện mà cứu giúp, lấy bốn Nhiếp pháp mà giáo hóa hữu tình.

Chư Bồ-tát này tự tại trong Đại thừa, đối với hàng Thanh văn, Độc giác chẳng phải là bậc Đại thừa, hoặc đối với hàng Thanh văn, Độc giác có căn cơ chưa thành thục thì nói giáo pháp vi diệu thâm sâu, làm cho họ tu tập theo. Hoặc khuyên siêng tu các tĩnh lự của chư Thánh, hoặc là khai thị nghĩa đế tối thắng, khuyên tu hành để vượt qua bốn điên đảo, giác ngộ bốn chủng loại pháp tánh không đọa, hoặc có thể nhập bốn vô ngại giải, để trở lại khuyên an trụ bốn Niệm trụ, bốn Chánh đoạn, bốn Thần túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác chi, tám chi Thanh đạo, đạo và đạo quả hữu dư vô dư, đạt đến trí tuệ quyền xảo, khiến cho đều được thành thục. Hoặc có chúng hữu tình tham cầu danh xưng, lợi dưỡng phú quý, các căn còn loạn động, căn lành chưa thành thục thì khuyên họ đọc tụng kinh A-cấp-ma và Tỳnại-da, A-tỳ-đạt-ma, hoặc khuyên đọc tụng các luận giải thoát khác của Phật thuyết ra để làm cho thành thục. Nếu hữu tình không thích bố thí thì khuyên họ nên xả bỏ mọi tài vật quý giá, để được thành thục. Nếu có hữu tình bạo ác không có lòng nhân thì khuyên họ tu pháp bốn phạm trụ. Hoặc có hữu tình nhiều sân giận thì khuyên họ tu pháp nhẫn; hoặc có hữu tình thường biếng nhác thì khuyên tu tinh tấn; hoặc có hữu tình tâm nhiều tán loạn thì khuyên tu pháp tĩnh lự; hoặc với hữu tình có đầy đủ ác trí thì thuyết chánh pháp cho họ, nghĩa là dùng phương tiện dạy bảo, ghi chép làm cho họ được thành thục. Hoặc có hữu tình không kính tin Tam bảo, có đủ các pháp Vô y hành thì khuyên thọ tam quy, làm cho họ kính tin Tam bảo, hoặc khuyên thọ luật nghi giới làm cận sự, hoặc khuyên thọ luật nghi giới làm cận trụ, khiến cho họ được thành thục, hoặc khuyen tu tập theo các loại nghề nghiệp công xảo kỹ thuật khiến cho họ được thành thục. Chư Đại Bồ-tát như thế, dùng vô số phương tiện thiện xảo thế gian, dùng các loại sách vở kỹ thuật, nghề nghiệp khéo léo để cho mọi người gia hành tinh tấn các phương tiện thiện xảo ấy mà bẻ gãy các học thuyết của ngoại đạo. Như thế gọi là Phương tiện thiện xảo thế gian của Bồtát. Phương tiện thiện xảo này cùng chung với hàng Thanh văn, Độc giác, cũng là các nhân nương nhờ của Phật pháp, cũng là chỗ nương nhờ của các hạnh thiện xảo, cũng là pháp thiện xảo xoay vần không diệt, không thoái chuyển.

Lại nữa, này thiện nam! Nếu các Bồ-tát không nương theo bậc minh sư, không cùng bạn lành tu hành các pháp phương tiện thiện xảo thế gian thì các Bồ-tát này đối với các phương tiện thiện xảo thế gian sẽ ngu muội hướng về nẻo ác, không thể tùy thuận an trụ trí phương tiện thiện xảo xuất the gian, cũng không là ruộng phước chân thật cho tất cả, không thể biết rõ được căn hạnh sai khác của chúng hữu tình. Do ngu muội về phương tiện thiện xảo nên đối với hàng Thanh văn và Độc giác không có khả năng là bậc Đại thừa và đối với người chưa thành thục được căn khí Đại thừa thì lại nói pháp Đại thừa cho họ tu học. Còn đối với hữu tình có khả năng là bậc Đại thừa thì lại giảng nói pháp của hàng Thanh văn và Độc giác, làm cho họ tu học theo hạnh của hàng Thanh văn, Độc giác. Đối với hữu tình có khả năng là bậc Độc giác lại nói pháp hàng Thanh văn, làm cho họ tu theo hạnh của hàng Thanh văn. Còn đối với hữu tình có khả năng là bậc Thanh văn thì nói pháp sinh tử để cho họ yêu mến tham đắm mà không nói pháp nhàm chán sinh tử.

Lại nữa, vì ngu mê nơi phương tiện thiện xảo, nếu các chúng hữu tình thích làm việc sát sinh, nói rộng cho đến chấp trước tà kiến thì lại tuyên nói pháp Đại thừa thâm sâu cho họ, chớ không tuyên nói các quả báo khổ đau sinh tử lưu chuyển, chết đây sinh kia để cho họ lo sợ mà lìa xa các pháp ác. Lại nữa, vì ngu mê nơi phương tiện thiện xảo, cho đến neu các hữu tình thích tu tịnh giới thì lại khuyên tu bố thí, hoặc chúng hữu tình ưa tu an nhẫn thì lại khuyên bỏ an nhẫn mà tu tịnh giới, hoặc chúng hữu tình thích tu tinh tấn lại khuyên bỏ tinh tấn mà tu an nhẫn, hoặc chúng hữu tình thích tu tĩnh lự lại khuyên bỏ tĩnh lự mà tu tinh tấn, hoặc chúng hữu tình thích tu Bát-nhã lại khuyên bỏ Bát-nhã mà tu tĩnh lự. Các Bồ-tát như thế vì ngu mê đối với phương tiện thiện xảo thế gian nên không thể làm lợi lạc cho chúng hữu tình một cách chân thật, làm ác tri thức của các hữu tình, phương tiện thiện xảo này còn nương vào chỗ sở đắc và chỗ chấp trước. Như thế gọi là phương tiện thiện xảo thế gian của Bồ-tát. Phương tiện thiện xảo thế gian như vậy cùng chung với hàng Thanh văn và Độc giác, không gọi là luân đại giáp trụ, cũng không gọi là Đại Bồ-tát và cũng không là ruộng phước chân thật của tất cả Thanh văn, Độc giác.

Thế nào goi là Phương tiện thiện xảo xuất thế gian đại giáp trụ của Bồ-tát? Nghĩa là chư Bồ-tát vì lợi tha mà không vì tự lợi, chỉ bày các kỹ thuật khéo léo để cho mọi người thành thục mà phụng sự, cúng dường hoặc chư Phật The Tôn, hoặc chư Bồ-tát, hoặc các Thanh văn, Độc giác, hoặc cha mẹ, hoặc người bệnh, hoặc người già yếu không nơi nương tựa.

Nếu thấy người gặp ách nạn, sắp bị hại thì chẳng ngại dùng các phương tiện khó khăn để cứu giúp họ, lấy bốn Nhiếp pháp mà giáo hóa chúng hữu tình, tùy theo ý thích, tùy theo căn tánh của chúng hữu tình mà giảng nói chánh pháp. Lại có thể dần dần khuyên hàng Thanh văn tu pháp Độc giác thừa, khuyên hàng Độc giác tu theo pháp Đại thừa. Nếu hàng Thanh văn và Độc giác, căn tánh chưa thành thục thì thuyết pháp chán xa khổ sinh tử, để cho họ tu pháp nhàm chán sinh tử, ưa cầu Niết-bàn. Hoặc có chúng hữu tình ưa thích sát sinh, nói rộng cho đến ưa chấp trước tà kiến thì tùy theo căn tánh của họ hoặc là giảng nói các quả báo đau khổ sinh tử luân chuyển, chết đây sinh kia làm cho họ chán sợ mà xa lìa pháp ác, hoặc là tuyên giảng chánh pháp tương ưng với Thanh văn thừa, hoặc là tuyên giảng chánh pháp tương ưng với Độc giác thừa, hoặc là giảng thuyết các pháp gần với Vô thượng thừa làm cho họ dần dần tu học theo. Hoặc có chúng hữu tình ưa làm việc bố thí thì nói các tịnh giới tối thượng thọ trì làm cho họ tu học. Nói rộng cho đến hoặc có chúng hữu tình ham thích tu tĩnh lự thì thuyết pháp Bát-nhã Thánh đạo vô lậu thù thắng làm cho họ tu tập theo. Phương tiện thiện xảo này không có sở đắc, cũng không có chỗ chấp trước để nương. Như thế gọi là luân Phương tiện thiện xảo xuất thế gian đại giáp trụ của Bồ-tát.

Này thiện nam! Đại Bồ-tát nào thành tựu được luân Phương tiện

thiện xảo đại giáp trụ này tư lúc mới phát tâm thì có thể đoạn trừ hết năm dục, nên gọi là Đại Bồ-tát, vượt xa các hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho tất cả Thanh văn, Độc giác. Hàng Thanh văn, Độc giác nên cúng dường, phụng sự, hộ trì.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn làm rõ nghĩa trên mà nói kệ:

Sự tu tuệ có hai
Thế gian và xuất thế
Chấp trước là thế gian
Lìa chấp là xuất thế.
Tu phương tiện thiện xảo
Nương hai pháp sai biệt
Sở đắc là thế gian
Vô sở đắc: Xuất thế.
Nếu chỉ nói Nhất thừa
Đó là thuyết pháp xấu
Không thể tự thành thục
Cũng không thể độ người.
Với người chuyên làm ác
Thuyết giáo pháp ba thừa
Đó là vì ngu si
Không gọi Ma-ha-tát.
Có thể học ba thừa
Vui cầu nghe chánh pháp
Mà thuyết ưa sinh tử
Chẳng phải tướng kẻ trí.
Chuyên tâm tư duy kỹ
Tùy căn cơ giáo hóa
Phương tiện thiện xảo này
Được bậc trí tán thán.
Chúng sinh tuy có ác
Có thể vào ba thừa
Tùy căn cơ dạy bảo
Khiến giải thoát được ác.

Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát lại có luân: Đại từ đại giáp trụ. Đại Bồ-tát nào thành tựu được luân này từ lúc mới phát tâm có thể đoạn trừ hết năm dục, vượt xa hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho hàng Thanh văn, Độc giác. Tất cả hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, hộ trì.

Thế nào là luân Đại từ đại giáp trụ của Bồ-tát? Này thiện nam! Từ có hai nghĩa: Pháp duyên từ và hữu tình duyên từ. Pháp duyên từ cũng gọi là đại Từ, là đại giáp trụ. Hữu tình duyên từ không gọi là đại Từ, cũng chẳng phải là đại giáp trụ. Vì sao? Vì hữu tình duyên từ cùng chung với pháp Thanh văn, Độc giác. Thanh văn, Độc giác chỉ tự lợi, không vì chúng hữu tình mà tinh cần tu tập hữu tình duyên từ. Hàng Thanh văn, Độc giác chỉ tự tìm cầu nơi yên tĩnh, tự tìm Niếtbàn cho riêng mình, diệt trừ các hoặc va các kết sử cho riêng mình, chứ không vì chúng hữu tình mà tinh tấn tu tập hữu tình duyên từ. Vì thế mà pháp từ này không gọi là đại Từ, chẳng phải là đại giáp trụ. Còn pháp duyên từ thì không cùng chung với Thanh văn, Độc giác, chỉ có hàng Đại Bồ-tát mới có thể tu hành. Đại Bồ-tát vì làm lợi lạc cho tất cả chúng sinh mà tinh tấn tu tập pháp duyên từ này. Đại Bồtát vì làm cho chúng hữu tình tu tịch diệt và đắc Niết-bàn, diệt hết phiền não trói buộc mà tinh cần tu tập pháp duyên từ này. Do vậy, pháp từ này gọi là đại Từ, là đại giáp trụ.

Các Bồ-tát tu pháp duyên Từ, không nương theo các uẩn, không nương theo các xứ, không nương theo các giới, không nương theo niệm trụ, cho đến không nương theo tám chi Thánh đạo, không nương theo Dục giới, không nương theo Sắc giới, không nương theo Vô sắc giới, không nương theo đời này, không nương theo đời khác, không nương theo bờ nay, không nương theo bờ khác, không nương theo cái được, không nương theo cái không được. Bồ-tát tu pháp duyên Từ như vậy là vượt qua quả vị của hàng Thanh văn, Độc giác. Đó là luân: Pháp duyên đại Từ đại giáp trụ của Bồ-tát.

Này thiện nam! Đại Bồ-tát nào thành tựu luân Đại từ đại giáp trụ này, từ lúc mới phát tâm, có thể đoạn trừ hết năm dục, được gọi là Đại Bồ-tát, vượt qua tất cả hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho hàng Thanh văn, Độc giác. Tất cả hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, hộ trì.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn làm rõ lại nghĩa trên mà nói kệ:

Thanh văn và Độc giác
Tu hữu tình duyên Từ
Bị mắc mười ba lỗi
Chỉ cầu lợi riêng mình.
Các bậc Đại Bồ-tát
Vì khắp loài hữu tình
Tu đại Từ bất cộng
Tâm lìa mười ba lỗi.
Tâm trừ mười ba cấu
Để đạt đến Bồ-đề
Tu pháp duyên đại Từ
Thành phước điền không xa.
An trụ mười ba lực
Vượt qua muôn hữu tình
Cũng như sư tử vương
Vượt hơn các cầm thú.
Hàng phục mười ba oán
Lìa chấp đoạn, chấp thường
Tâm không còn cấu nhiễm
Mau đắc quả Bồ-đề.

Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát lại có luân: Đại Bi đại giáp trụ. Đại Bồ-tát nào thành tựu được luân này, từ lúc mới phát tâm có thể đoạn trừ hết năm dục, vượt xa hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho tất cả Thanh văn, Độc giác. Hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, hộ trì. Vì sao? Vì tất cả Thanh văn, Độc giác chỉ mong cầu lợi lạc cho tự thân mà tu hạnh đại Bi, không muốn cho tất cả chúng hữu tình được cùng lợi lạc mà tu hạnh đại Bi.

Đại Bồ-tát thì không vì lợi lạc cho mình mà tu hạnh đại Bi, chỉ muốn đem lợi lạc cho khắp quần sinh mà tu hạnh đại Bi. Vì vậy, Bồtát thành tựu luân Đại bi đại giáp trụ này, vượt hơn hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho hàng Thanh văn, Độc giác. Tất cả hàng Thanh văn, Độc giác nên cúng dường, phụng sự, hộ trì.

Đại Bồ-tát vì muốn đem lại lợi ích cho chúng hữu tình, nên tu hành bốn Nhiếp pháp một cách thành thục, nghĩa là do đại Bi mà lam lợi lạc cho chúng hữu tình nên hành pháp bố thí nhiếp: là có thể xả bỏ hết tài vật, trân bảo, cầm thú, kẻ ở, nước nhà, vợ con, cho đến thân mạng cũng không hề tiếc. Do thực hành mà không dính mắc nên không thấy tất cả chúng hữu tình được giáo hóa, cũng không thấy người ban cho, không thấy người thọ nhận, cũng không thấy vật ban cho, không thấy hành động ban cho, cũng không thấy phước báo có được do ban cho, cho đến không thấy hành động không dính mắc. Cũng vậy, do đại Bi làm lợi lạc cho chúng hữu tình, nên hành pháp Ái ngữ nhiếp, hành Lợi hành nhiếp, hành Đồng sự nhiếp. Tùy theo chỗ thích ứng rộng nói như trên, cho đến không thấy hành, không dính mắc.

Đại Bồ-tát này thường dùng tâm có thể điều phục tối thắng, tâm có thể tịch tĩnh tối thắng, tâm vô số lượng tối thắng, tâm không hành các pháp uẩn, giới, xứ tối thắng, nên phát sinh luân Đại bi đại giáp trụ không động, không trụ, giáo hóa chúng sinh đến chỗ thành thục mà không mệt mỏi. Như thế gọi là luân đại Bi đại giáp trụ của Bồ-tát, không cùng chung với tất cả hàng Thanh văn, Độc giác.

Này thiện nam! Đại Bồ-tát nào thành tựu luân Đại bi đại giáp trụ này, từ lúc mới phát tâm, có thể đoạn trừ hết năm dục, nên gọi là Đại Bồ-tát, vượt xa hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho tất cả hàng Thanh văn, Độc giác. Hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, hộ trì.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn làm rõ lại nghĩa trên mà nói kệ:

Pháp vi diệu sâu xa
Thành tựu tâm đại Bi
Khó lường như hư không
Không sắc, không an trụ.
Bồ-tát thường tinh tấn
Đủ công đức Đầu-đà
Thắng trí thành đại Bi
Dũng mãnh vượt thế gian.
Hữu tình không nơi nương
Ràng buộc khổ sinh tử
Tắm gội nước đại Bi
Khiến xa lìa các khổ.
Bồ-tát hành đại Bi
Làm cạn biển sinh tử
Chẳng phải việc Thanh văn
Cùng Độc giác đã làm.
Chúng sinh vì tham sân
Mê lầm phải đọa ác
Dùng nước đại Bi rửa
Thoát khổ, được an vui.

Lại nữa, này thiện nam! Đại Bồ-tát lại có luân: Đại nhẫn đại giáp trụ năng dẫn biến mãn hư không, vô lượng, vô biên quảng đại chúng cụ từ vô ngại giải nhất thiết Phật pháp, chư Tam-ma-địa, chư Đà-la-ni kiên cố. Đại Bồ-tát nào thành tựu được luân này, từ lúc mới phát tâm có thể đoạn trừ hết năm dục, vượt qua hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho hàng Thanh văn, Độc giác. Tất cả hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, hộ trì.

Thế nào là luân Đại nhẫn đại giáp trụ năng dẫn biến mãn hư không, vô lượng, vô biên quảng đại chúng cụ từ vô ngại giải nhất thiết Phật pháp, chư Tam-ma-địa, chư Đà-la-ni kiên cố? Nghĩa là chư Bồ-tát đối với tất cả pháp đều suy xét rõ ràng, sâu xa như mặt trăng sáng tỏ chiếu khắp cả hư không, tâm bình đẳng không nương, không tướng, không trụ, cũng không nhiễm. Đối với tất cả các pháp Tam-ma-địa, Đà-la-ni tâm không lệ thuộc theo; đối với các nhãn sắc, nhãn thức, nhãn xúc ý không nhiễm trước, tâm không lệ thuộc. Do nhãn xúc làm duyên, sinh ra ba thọ: Hoặc lạc thọ, hoặc khổ thọ, hoặc không khổ không lạc thọ thì tâm thường tịch định, không bị sự vướng mắc. Đối với các nhĩ thanh, nhĩ thức, nhĩ xúc; đối với các tỷ hương, tỷ thức, tỷ xúc; đối với các thiệt vị, thiệt thức, thiệt xúc; đối với các thân xúc, thân thức, thân xúc; đối với các ý pháp, ý thức, ý xúc, nói rộng cũng như trên. Đối với tất cả tâm, ý, thức, tâm thường tịnh định, không bị vướng mắc. Từ tâm, ý, thức sinh ra ba thọ: Hoặc lạc thọ, hoặc khổ thọ, hoặc không khổ không lạc thọ thì tâm vẫn thường tịch định, không bị vướng mắc. Đối với các uẩn, giới, xứ trong ba đời đều không bị vướng mắc, tâm không lệ thuộc. Đối với tất cả phẩm loại của ba giới, ba hành, ba xúc, ba thọ, ba căn, ba thừa, ba luật nghi, ba giải thoát, tâm đều tịch tĩnh, không trụ, không tướng, không bị vướng mắc, bình đẳng mà an trụ. Đối với tất cả bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, tĩnh lự, Bát-nhã ba-la-mật đa tâm không lệ thuộc theo, tịch tĩnh mà an trụ. Cũng vậy, đối với bốn Niệm trụ, bốn Chánh đoạn, bốn Thần túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác chi, tám Thánh đạo tâm đều không lệ thuộc theo, tịch tĩnh mà an trụ. Đối với tất cả trước sau chín định tâm không lệ thuộc theo, tịch tĩnh mà an trụ.

Lại đối với những tác dụng do ba hành không chướng ngại, pháp trí, đạo chi, đạo thể đưa đến đều không bị vướng mắc, tâm không lệ thuộc. Đối với A-lại-da, chẳng phải A-lại-da; hữu thủ, vô thủ; hữu lậu, vô lậu; bờ này, bờ kia; nhỏ, lớn, vô lượng; làm, không làm; thiện, ác, vô ký tâm đều không lệ thuộc, tịch tĩnh mà an trụ. Đối với tất cả đại Từ đại Bi, phương tiện thiện xảo giáo hóa hữu tình, cho đến mười Địa, ba bất hộ, bốn Vô sở úy, cho đến mười tám pháp Bất cộng của Phật đều không bị vướng mắc, tâm không bị lệ thuộc, tịch tĩnh mà an trụ. Do luân này nên Đại Bồ-tát có thể dứt trừ hẳn tội lỗi của ba thọ, đoạn trừ hẳn tất cả mọi phân biệt, xa lìa hẳn tất cả pháp tướng lại có thể an trú luân: Phương tiện thiện xảo đại giáp trụ năng dẫn nhất thiết hư không nhãn đảnh chư Tam-ma-địa, chư Đà-la-ni.

Bồ-tát an trụ luân này nên tất cả các nghiệp sinh tử trong các đường, các cõi, các việc xấu ác bất thiện, những cảnh giới đau khổ trong đường ác, từ quá khứ đến nay chưa dứt trừ hết đều có thể đoạn trừ tất cả, không còn sót lại, không thọ quả báo.

Này thiện nam! Ví như thế giới lúc hỏa tai khởi lên, năm mặt trời xuất hiện thì tất cả nước trong ao nho, ao lớn, sông nhỏ, sông lớn, biển nhỏ, biển lớn của thế gian đều khô cạn hết, không còn giọt nào. Cũng vậy, Bồ-tát khi thành tựu luân: Đại nhẫn đại giáp trụ năng dẫn biến mãn hư không, vô lượng, vô biên quảng đại chúng cụ từ vô ngại giải nhất thiết Phật pháp, chư Tam-ma-địa, chư Đà-la-ni kiên cố thì có thể an trụ luân: Phương tiện thiện xảo đại giáp trụ năng dẫn nhất thiết hư không nhãn đảnh chư Tam-ma-địa, chư Đà-la-ni. Do đó, tất cả các nghiệp sinh tử trong các đường, các cõi, các việc xấu ác bất thiện, những cảnh giới đau khổ trong đường ác, từ quá khứ đến nay chưa dứt trừ hết đều có thể đoạn trừ tất cả, không còn sót lại, không thọ quả báo.

Này thiện nam! Ví như thế giới khi thủy tai khởi lên thì tam thiên đại thiên thế giới, các thế giới nhỏ, bốn đại châu, tám vạn đảo nhỏ, núi Diệu cao và các núi đều bị chìm đắm trong biển nước, tan hoại không còn gì cả. Cũng vậy, khi Bồ-tát thành tựu luân: Đại nhẫn đại giáp trụ năng dẫn biến mãn hư không, vô lượng, vô biên quảng đại chúng cụ từ vô ngại giải nhất thiết Phật pháp, chư Tam-ma-địa, chư Đà-la-ni kiên cố thì có thể an trụ luân: Phương tiện thiện xảo đại giáp trụ năng dẫn nhất thiết hư không nhãn đảnh chư Tam-ma-địa, chư Đà-la-ni. Do đó, tất cả các nghiệp sinh tử trong các đường, các cõi, các việc xấu ác bất thiện, những cảnh giới đau khổ trong đường ác, từ quá khứ đến nay chưa dứt trừ hết đều có thể đoạn trừ tất cả, không còn sót lại, không thọ quả báo.

Này thiện nam! Ví như bóng tối bao trùm khắp không gian, khi mặt trời xuất hiện, bóng tối biến mất. Cũng vậy, Bồ-tát khi thành tựu luân: Đại nhẫn đại giáp trụ năng dẫn biến mãn hư không, vô lượng, vô biên quảng đại chúng cụ từ vô ngại giải nhất thiết Phật pháp, chư Tam-ma-địa, chư Đà-la-ni kiên cố thì có thể an trụ luân: Phương tiện thiện xảo đại giáp trụ năng dẫn nhất thiết hư không nhãn đảnh chư Tam-ma-địa, chư Đà-la-ni. Do đó, mà phát sinh mặt trời trí tuệ vô biên hư không, có thể đoạn trừ hẳn bốn điên đảo, vô minh tăm tối của thân mình, làm cho tất cả các nghiệp sinh tử trong các đường, các cõi, các việc xấu ác bất thiện, những cảnh giới đau khổ trong đường ác, từ quá khứ đến nay chưa dứt trừ hết đều có thể đoạn trừ tất cả, không còn sót lại, không thọ quả báo.

Do đó, nên đối với chư Phật pháp càng thêm tự tại, thường không thoái chuyển, không làm theo bạn ác, thường được gặp tất cả chư Phật và các đệ tử Thanh văn, Bồ-tát, được nghe giáo pháp, thân cận cúng dường chúng Tăng, đối với các công đức không nhàm chán, cho đến đạo Bồ-đề không để gián đoạn. Lại thường không xa lìa sự nhớ nghĩ niệm Phật, cho đến trong mộng cũng không tạm quên.

Này thiện nam! Thế nào là luân: Đại nhẫn đại giáp trụ năng dẫn biến mãn hư không, vô lượng, vô biên quảng đại chúng cụ từ vô ngại giải nhất thiết Phật pháp, chư Tam-ma-địa, chư Đà-la-ni kiên cố của Đại Bồ-tát? Nghĩa là các Bồ-tát nhập thiền thứ nhất cho đến thiền thứ tư, nhập vô biên hư không xứ, cho đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nhập diệt thọ tưởng định. An trụ trong định này thì tất cả ba thọ, ba hành đều đoạn diệt, tâm không lệ thuộc theo, các thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý đều đoạn trừ. An trú trong định này, hoặc một ngày đêm cho đến bốn mươi chín ngày đêm thọ thức ăn định vị. Từ định này xuất ra, tâm được tịch tĩnh, không bị vướng mắc, tự nhiên vui vẻ mà an trụ.

Lại nhap định Thắng nghĩa cứu cánh không, trụ trong định này, tâm được bình đẳng, không bị vướng mắc, cũng như hư không, các lỗ chân lông nơi thân xuất ra mồ hôi giống như sao Mão, diệt trừ tất cả những hơi nước cát phược. Từ định này xuất ra, được nhớ nghĩ chân chánh, hỷ lạc tối thắng, sung mãn khắp thân. Như Thiên tử ở cõi trời Đại tự tại, khi nhập định Hiện nhất thiết lạc thì các lỗ chân lông nơi thân cũng đều hưởng thọ lạc. Cũng vậy, Bồ-tát khi cảm giác lạc tiếp xúc thân mình, liền nghĩ nhớ niệm Phật. Do nghĩ nhớ Phật nên chỉ thấy Phật, không thấy tướng nào khác.

Khi Bồ-tát nghĩ đến một Đức Phật, liền thấy một Đức Phật. Nếu nghĩ đến nhiều Đức Phật, lien thấy nhiều Đức Phật. Nếu nghĩ đến Phật thân tướng nhỏ, liền thấy Phật thân tướng nhỏ. Nếu nghĩ đến Phật thân tướng lớn, liền thấy Phật thân tướng lớn. Nếu nghĩ đến Phật vô lượng thân, liền thấy Phật vô lượng thân. Nếu nghĩ đến thân mình là thân tướng Phật, liền thấy thân mình đồng với thân Phật, các tướng đều viên mãn. Nếu nghĩ đến thân khác là thân tướng Phật, liền thấy thân khác cũng đồng với thân Phật, các tướng đều viên mãn. Nếu nghĩ đến tất cả hữu tình, phi tình có sắc tướng là thân tướng Phật, liền thấy tất cả hữu tình, phi tình có sắc tướng đồng với thân Phật, các tướng đều viên mãn, không thấy mọi sắc tướng nào khác.

Khi ấy, Bồ-tát liền nghĩ: “Tất cả các pháp, tất cả sắc tướng đều như huyễn. Đó là chắc thật, không hư vọng. Ta nên đoạn trừ hết thảy ba thọ, ba hành, làm cho không còn sót lại.” Nghĩ vậy rồi, Bồ-tát nhập Diệt tận định. An trụ trong định này, nếu tâm có mong mỏi điều gì đều đoạn diệt hết, thọ thức ăn định vị, hoặc trong một tuần, hoặc hai tuần, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười tuần, hoặc trải qua vô lượng trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa kiếp, tùy theo năng lực mà có thể an trụ ở định này, thọ thức ăn định vị. Từ định này xuất ra, tâm được tịch tĩnh, không bị vướng mắc, tự nhiên mà an trụ. Lại nhập vào định Thắng nghĩa cứu cánh không, nói rộng như trước, cho đến khi nghĩ nhớ thân tướng của Phật xong, biết tất cả pháp, tất cả sắc tướng đều như huyễn. Đó là chắc thật, không hư vọng.

Này thiện nam! Đó là luân: Đại nhẫn đại giáp trụ năng dẫn biến mãn hư không, vô lượng, vô biên quảng đại chúng cụ từ vô ngại giải nhất thiết Phật pháp, chư Tam-ma-địa, chư Đà-la-ni kiên cố của Đại Bồ-tát. Đại Bồ-tát nào thành tựu được luân này thì có thể an trụ luân: Phương tiện thiện xảo đại giáp trụ năng dẫn nhất thiết hư không nhãn đảnh chư Tam-ma-địa, chư Đà-la-ni. Trụ vào luân này, nên có thể phát sinh mặt trời trí tuệ vô biên hư không, có thể đoạn trừ hẳn bốn điên đảo, vô minh tăm tối của chính mình, làm cho tất cả các nghiệp sinh tử trong các đường, các cõi, các việc xấu ác bất thiện, những cảnh giới đau khổ trong đường ác, từ quá khứ đến nay chưa dứt trừ hết đều có thể đoạn trừ tất cả, không còn sót lại, không thọ quả báo.

Này thiện nam! Đại Bồ-tát nào thành tựu luân này, từ lúc mới phát tâm có thể đoạn trừ hết năm dục, vượt xa hàng Thanh văn, Độc giác, làm ruộng phước lớn cho hàng Thanh văn, Độc giác. Tất cả hàng Thanh văn, Độc giác đều nên cúng dường, phụng sự, hộ trì.

Do luân này, nên đối với Phật pháp được tăng trưởng tự tại, không bị thoái chuyển, không làm theo bạn ác, thường được gặp tất cả chư Phật và các đệ tử Thanh văn, Bồ-tát, thường được nghe pháp, thân cận cúng dường chúng Tăng, không biết nhàm chán, tạo lập công đức, cho đến đạo Bồ-đề không hề gián đoạn. Lại thường nhớ nghĩ niệm Phật, dù là ở trong mộng vẫn không tạm quên. Do đó, phước đức trí tuệ của Bồ-tát mau được viên mãn, chẳng bao lâu sẽ được an trụ nơi cõi Phật thanh tịnh, chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề. Ở nơi cõi Phật đó, tất cả hữu tình đều là hóa sinh nên sắc tướng như Phật, phiền não mỏng ít, an trụ trong Đại thừa.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn làm rõ nghĩa trên mà nói kệ:

Muốn thành tựu pháp khí
Đoạn trừ hết phiền não
Thường nhập vào chân không
Muôn việc không khó làm.
Đoạn trừ mọi buộc ràng
Nên chuyên tu Đẳng trì
Tương ưng công đức định
Ắt đạt tuệ khó lường.
Tu tĩnh lự vô sắc
Diệt định quán chân không
Thắng trí nghĩ nhớ Phật
Diệt hết tất cả ác.
Tất cả pháp hữu vô
Phá bằng quán chân không
Xa lìa các đường ác
Thường được gặp chư Phật.
Khéo tu quán chân không
Siêng học các pháp thiện
Cúng dường hết thảy Phật
Mau chứng thành đạo quả.
Làm bạn với hữu tình
Trừ diệt bệnh phiền não
Mau trụ nước Phật tịnh
Chứng đạo quả Bồ-đề.
Chúng sinh tướng như Phật
Ở khắp các quốc độ
Đều mong cầu Phật thừa
Lìa Độc giác, Thanh văn.