Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

KINH VĂN THÙ SƯ LỢI SỞ THUYẾT BẤT TƯ NGHỊ PHẬT CẢNH GIỚI

Hán dịch: Đời Đường, Tam tạng Pháp sư Bồ Đề Lưu Chí
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Đức Phật ở tại khu lâm viên Kỳ Đà – Cấp Cô Độc, thuộc nước Xá-vệ, cùng với chúng Đại Tỳ-kheo một ngàn vị và Bồ-tát mười ngàn vị. Lại có chư Thiên tử của Dục giới, chư Thiên tử của Sắc giới và Thiên tử cõi trời Tịnh Cư, cùng với vô lượng trăm ngàn quyến thuộc của họ đang vây quanh để cung kính cúng dường, nghe Đức Phật giảng nói pháp.

Bấy giờ, Đức Phật bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Này đồng tử! Ông có biện tài, khéo có thể khai diễn. Nay ông nên vì đại chúng Bồ-tát giảng nói rõ về pháp nhiệm mầu.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:

–Thưa Thế Tôn! Nay Thế Tôn bảo con nói những pháp gì?

Đức Phật dạy:

–Này đồng tử! Nay ông nên giảng nói về cảnh giới của chư Phật.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Bạch Thế Tôn! Cảnh giới của chư Phật thì chẳng phải là cảnh giới của mắt, chẳng phải là cảnh giới của sắc, chẳng phải là cảnh giới

của tai, chẳng phải là cảnh giới của tiếng, chẳng phải là cảnh giới của mũi, chẳng phải là cảnh giới của hương, chẳng phải là cảnh giới của lưỡi, chẳng phải là cảnh giới của vị, chẳng phải là cảnh giới của thân, chẳng phải là cảnh giới của xúc, chẳng phải là cảnh giới của ý, chẳng phải là cảnh giới của pháp. Không có các cảnh giới sai biệt như vậy, đó chính là cảnh giới của chư Phật.

Bạch Thế Tôn! Thiện nam, thiện nữ nào có ý muốn hội nhập vào cảnh giới của Phật, lấy không có đối tượng được hội nhập làm phương tiện thì mới có thể tỏ ngộ hội nhập.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Như Lai có bao nhiêu cảnh giới để có thể thành tựu đạo quả Bồ-đề? Đức Phật dạy:

–Này Đồng tử! Ta ở nơi cảnh giới không mà thành tựu được đạo quả Bồ-đề, vì các kiến giải luôn bình đẳng. Ở nơi cảnh giới vô tướng mà đạt được Bồ-đề vì các tướng đều bình đẳng. Ở nơi cảnh giới vô nguyện mà đạt được Bồ-đề, vì ba cõi đều bình đẳng. Ở nơi cảnh giới vô tác mà đạt được Bồ-đề, vì các hành luôn bình đẳng. Này đồng tử! Ta ở nơi cảnh giới vô sinh, vô khởi, vo vi, mà đạt được Bồ-đề vì tất cả hữu vi đều bình đẳng.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Vô vi là cảnh giới thế nào?

Đức Phật dạy:

–Này Đồng tử! Vô vi là cảnh giới không thể suy lường được.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Bạch Thế Tôn! Cảnh giới không thể suy lường là cảnh giới của Phật. Vì sao? Vì trong cảnh giới không thể suy lường, không có văn tự. Vì không có văn tự nên không có biện thuyết. Vì không có biện thuyết nên dứt bặt các ngôn luận. Vì dứt bặt mọi ngôn luận nên đó là cảnh giới của Phật.

Đức Phật hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Này Đồng tử! Phải cầu cảnh giới chư Phật ở đâu?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Bạch Thế Tôn! Cảnh giới của chư Phật phải cầu ở trong phiền não của tất cả chúng sinh. Vì sao? Nếu hiểu rõ đúng đắn về phiền não của chúng sinh, đó chính là cảnh giới của chư Phật. Sự hiểu rõ đúng đắn về phiền não của chung sinh này là cảnh giới của chư Phật, đó chẳng phải là nơi chốn hành hóa của tất cả hàng Thanh văn, Phậtbích-chi.

Đức Thế Tôn lại hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Này Đồng tử! Nếu cảnh giới của chư Phật phải cầu ngay trong phiền não của tất cả chúng sinh, vậy cảnh giới của chư Phật đó có đến, có đi chăng?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Chẳng phải vậy, thưa Thế Tôn! Cảnh giới của chư Phật thì không đến, không đi.

Đức Phật hỏi:

–Này Đồng tử! Nếu cảnh giới của chư Phật không đến, không đi, vậy tại sao nói: “Nếu hiểu rõ đúng đắn về phiền não của chúng sinh, đó chính là cảnh giới của chư Phật?”.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Bạch Thế Tôn! Giống như cảnh giới của chư Phật không có đến, không có đi, tự tánh của phiền não cũng vậy, không có đến, không có đi.

Đức Phật bảo:

–Này Đồng tử! Những gì là tự tánh của các phiền não?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Bạch Thế Tôn! Tự tánh nơi cảnh giới của chư Phật chính là tự tánh của các phiền não. Bạch Thế Tôn! Nếu tự tánh nơi cảnh giới của chư Phật khác với tự tánh của các phiền não thì Như Lai chẳng phải là Chánh giác Bình đẳng. Vì không khác, nên đối với tất cả pháp đều Chánh giác Bình đẳng mới gọi là Như Lai.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Này Đồng tử! Ông có thể hiểu rõ về pháp bình đẳng mà Như Lai an trụ chăng?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Bạch Thế Tôn! Con đã hiểu rõ.

Đức Phật hỏi:

–Này Đồng tử! Những gì gọi là pháp bình đẳng mà Như Lai an trụ?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Bạch Thế Tôn! Chỗ khởi lên tham, sân, si của tất cả hàng phàm phu chính là pháp bình đẳng mà Như Lai an trụ.

Đức Phật hỏi:

–Này Đồng tử! Tại sao gọi là chỗ khởi lên tham, sân, si của tất cả hàng phàm phu chính là pháp bình đẳng mà Như Lai an trụ?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Bạch Thế Tôn! Tất cả phàm phu ở trong pháp không, vô tướng, vô nguyện khởi lên tham, sân, si, cho nên chỗ khởi lên tham, sân, si của tất cả phàm phu chính là pháp bình đẳng mà Như Lai an trụ.

Đức Phật hỏi:

–Nay Đồng tử! Với cái không, lẽ nào lại có pháp để nói trong đó có tham, sân, si sao?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Bạch Thế Tôn! Không là có cho nên tham, sân, si cũng là có.

Đức Phật hỏi:

–Này Đồng tử! Vì sao không là có? Lại vì sao tham, sân, si là có?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Bạch Thế Tôn! Không, vì dùng lời nói diễn đạt nên có. Tham, sân, si cũng dùng lời nói diễn đạt nên có. Như Phật đã dạy Tỳ-kheo: “Hữu là không sinh, không khởi, vô tác, vô vi, chẳng phải là pháp của các hành. Cái không sinh, không khởi, vô tác, vô vi ấy chẳng phải là pháp của các hành, chẳng phải là chẳng có. Nếu là không có, tức ở nơi sinh khởi, tạo ra pháp cua các hành, nên không xuất ly. Vì có nên nói là xuất ly”. Điều này cũng vậy. Nếu không có không, thì đối với tham, sân, si không có sự xuất ly được. Vì có cái không nên nói lìa các phiền não như tham, sân, si, v.v… Đức Phật nói:

–Này Đồng tử! Đúng vậy! Đúng vậy! Như điều ông đã nói, tất cả phiền não như tham, sân, si chẳng có thứ nào mà chẳng ở trong không.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lại bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nếu người tu hành xa lìa tham, sân, si mà cầu nơi không, nên biết người đó chưa khéo tu tập, không thể gọi là người tu hành được. Vì sao? Vì tất cả phiền não như tham, sân, si tức là không.

Đức Thế Tôn lại hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Này Đồng tử! Ông đối với tham, sân, si là đã xa lìa hay chưa xa lìa?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Bạch Thế Tôn! Tánh của tham, sân, si, tức là bình đẳng. Con luôn an trụ nơi bình đẳng như vậy, cho nên con đối với tham, sân, si chẳng phải là đã xa lìa, cũng chẳng phải là chưa xa lìa. Bạch Thế Tôn! Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào tự thấy mình xa lìa tham, sân, si; thấy người khác có tham, sân, si, tức là nhị kiến: Đoạn kiến và thường kiến. Vì sao? Vì nếu thấy tự thân mình xa lìa tham, sân, si tức là đoạn kiến. Nếu thấy người khác có tham, sân, si tức là thường kiến. Bạch Thế Tôn! Người như vậy không phải là chánh trụ. Chánh trụ thì không nên cho mình là hơn và người khác là kém.

Đức Thế Tôn lại hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Này Đồng tử! Nếu đúng như vậy, thì trụ nơi nào mới là chánh trụ?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Bạch Thế Tôn! Hễ là chánh trụ thì không có trụ nơi nào cả.

Trụ nơi không chỗ trụ, đó mới là chánh trụ.

Đức Phật hỏi:

–Này Đồng tử! Lẽ nào không lấy sự trụ nơi chánh đạo làm chánh trụ sao?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Bạch Thế Tôn! Nếu trụ nơi chánh đạo thì đó là trụ nơi hữu vi. Nếu trụ nơi hữu vi thì không trụ nơi pháp tánh bình đẳng. Vì sao? Vì pháp hữu vi có sinh, diệt.

Đức Thế Tôn lại hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Này Đồng tử! Vô vi là pháp của số lượng chăng?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Bạch Thế Tôn! Vô vi không phải là pháp của số lượng. Bạch Thế Tôn! Nếu pháp vô vi rơi vào số lượng thời đó là hữu vi, chẳng phải là vô vi.

Đức Phật hỏi:

–Này Đồng tử! Tất cả Thánh nhân đạt được pháp vô vi, vậy không có số lượng chăng?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Bạch Thế Tôn! Chẳng phải là các Thánh nhân đã chứng đắc pháp của số lượng mà đã xuất ly các pháp của số lượng.

Đức Phật lại hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Này Đồng tử! Ông đã thành tựu Thánh pháp, hay thành tựu chẳng phải Thánh pháp?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Bạch Thế Tôn! Con không thành tựu Thánh pháp, cũng không thành tựu chẳng phải Thánh pháp. Bạch Thế Tôn! Như có người được biến hóa, vậy người ấy có thành tựu Thánh pháp hay thành tựu chẳng phải Thánh pháp?

Đức Phật nói:

–Này Đồng tử! Người được biến hóa không thể nói thành tựu Thánh pháp, cũng không thể nói thành tựu chẳng phải Thánh pháp.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Bạch Thế Tôn! Tất cả các pháp như tướng huyễn hóa. Con cũng như vậy, nên sao có thể nói là thành tựu Thánh pháp hay thành tựu chẳng phải Thánh pháp?

Đức Thế Tôn lại hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Này Đồng tử! Nếu đúng như vậy thì ông chứng đắc cái gì?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Bạch Thế Tôn! Con chứng đắc cảnh giới không có tự tánh bình đẳng của Như Lai.

Đức Phật nói:

–Này Đồng tử! Ông đạt được cảnh giới của Phật sao?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thưa:

–Nếu Thế Tôn đối với cảnh giới của Phật mà có sở đắc thì con cũng chứng đắc cảnh giới của Phật.

Bấy giờ, Trưởng lão Tu-bồ-đề hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Này Đại sĩ! Đức Như Lai không chứng đắc cảnh giới của Phật sao?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Này Đại đức! Đại đức có đạt được cảnh giới của Thanh văn chăng?

Tu-bồ-đề nói:

–Này Đại sĩ! Tâm giải thoát của bậc Thánh không có cảnh giới, cho nên nay tôi không có cảnh giới để có thể chứng đắc.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Này Đại đức! Phật cũng vậy. Tâm giải thoát của Ngài không có cảnh giới, vậy sao có thể cho Phật là có sở đắc?

Tu-bồ-đề nói:

–Này Đại sĩ! Nay Đại sĩ thuyết pháp, có thể không tạo sự che chở cho tâm kẻ sơ học chăng?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Này Đại đức! Nay tôi xin hỏi Tôn giả, tùy ý trả lời. Như có vị lương y nhằm điều trị bệnh nhân, vì có tâm muốn che chở bệnh nhân nên không cho những loại thuốc có vị cay, chua, mặn, đắng, thích ứng với con bệnh. Vậy có thể làm cho người bệnh được lành, được an lạc chăng?

Thưa:

–Không thể được.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Này Đại đức! Điều này cũng như vậy. Nếu vị thầy thuyết pháp, vì muốn che chở cho tâm kẻ sơ học nên giấu kiến pháp thâm diệu không nói ra, chỉ tùy theo ý muốn của kẻ ấy, diễn nói các ý nghĩa thô thiển, để cho kẻ tu học ra khỏi các khổ nơi sinh tử đạt đến Niết-bàn an lạc. Điều đó không bao giờ có.

Khi Bồ-tát giảng thuyết pháp ấy, có năm trăm Tỳ-kheo Tăng ở trong chúng, vĩnh viễn đoạn trừ các lậu, tâm được giải thoát. Tám trăm các Thiên tử xa lìa trần cấu, đạt được pháp nhãn thanh tịnh. Lại có bay trăm các Thiên tử nghe sự biện tài của Bồ-tát, sinh tâm tin thích sâu xa, đều phát tâm cầu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Tôn giả Tu-bồ-đề hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Thưa Đại sĩ! Vả chăng Đại sĩ cũng đối với thừa Thanh văn mà sinh sự tin hiểu, lại dùng pháp của Thừa này để cứu độ chúng sinh chăng?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Này Đại đức! Tôi đối với tất cả thừa đều sinh tâm tin hiểu. Đại đức! Tôi tin hiểu thừa Thanh văn, cũng tin hiểu thừa Phật-bích-chi, cũng tin hiểu Phật thừa.

Tu-bồ-đề thưa:

–Này Đại sĩ! Vậy Đại sĩ là Thanh văn, là Phật-bích-chi, hay là Tam Miệu Tam Phật Đa?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Này Đại đức! Tôi tuy là Thanh văn, nhưng không theo người khác để nghe. Tuy là Phật-bích-chi nhưng không bỏ tâm đại bi và vô sở úy. Tuy đã thành Chánh đẳng giác nhưng đối với tất cả việc cần làm, chưa bao giờ dừng nghỉ.

Tu-bồ-đề lại hỏi:

–Này Đại sĩ! Vì sao Đại sĩ là Thanh văn?

Đáp:

–Tôi thường vì hết thảy chúng sinh thuyết giảng những pháp họ chưa được nghe, cho nên tôi là Thanh văn.

Lại hỏi:

–Vì sao Đại sĩ là Phật-bích-chi?

Đáp:

–Tôi có thể hiểu rõ tất cả các pháp đều từ duyên khởi, cho nên tôi là Phật-bích-chi.

Lại hỏi:

–Vì sao Đại sĩ là Tam Miệu Tam Phật Đà?

Đáp:

–Tôi thường giác ngộ tất cả các pháp, thể tướng là bình đẳng, cho nên tôi là Tam Miệu Tam Phật Đà.

Tôn giả Tu-bồ-đề lại hỏi:

–Này Đại sĩ! Đại sĩ quyết định trụ nơi địa nào? Là địa Thanh văn, địa Phật-bích-chi, hay Phật địa?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Này Đại đức! Đại đức nên biết là tôi quyết định trụ nơi tất cả địa.

Tu-bồ-đề hỏi:

–Này Đại sĩ! Đại sĩ cũng có thể quyết định trụ cả nơi địa Phàm phu sao?

Đáp:

–Đúng vậy. Vì sao? Vì tất cả các pháp và chúng sinh, tánh của nó là quyết định chánh vị. Tôi luôn an trụ ở chánh vị ấy, nên tôi nói quyết định trụ nơi địa Phàm phu.

Tu-bồ-đề lại hỏi:

–Nếu tất cả pháp và chúng sinh chính là quyết định chánh vị, vậy sao lại kiến lập sự sai khac nơi các địa? Nói đây là địa Phàm phu, đây là địa Thanh văn, đây là địa Phật-bích-chi, đây là Phật địa?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Này Đại đức! Ví như thế gian vì có ngôn thuyết nên ở trong hư không kiến lập thành mười phương, nêu tên: Đây là phương Đông, đây là phương Nam, cho đến đây là phương trên, đây là phương dưới. Tuy hư không không có sai biệt, nhưng các phương thì có các thứ sai biệt như vậy. Ở đây cũng thế. Đức Như Lai đối với tất cả các pháp quyết định ở trong chánh vị. Vì phương tiện khéo léo mới lập ra các địa, gọi tên: đây là địa Phàm phu, đây là địa Thanh văn, đây là địa Phật-bíchchi, đây là địa Bồ-tát, đây là Phật địa, tuy chánh vị không co sai biệt, nhưng các địa thì có sai biệt.

Tôn giả Tu-bồ-đề lại thưa Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Thưa Đại sĩ! Đại sĩ đã nhập chánh vị rồi chăng?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Đại đức! Tôi đã nhập nhưng cũng lại chẳng nhập.

Tu-bồ-đề hỏi:

–Này Đại sĩ! Sao gọi là nhập mà chẳng nhập?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Đại đức nên biết! Đây là trí tuệ thiện xảo của Bồ-tát. Nay tôi sẽ nói cho Tôn giả một thí dụ, những người có trí tuệ, nhờ ví dụ mà được hiểu rõ. Này Đại đức! Như có người chuyên về bắn cung, kỹ năng là tột bậc. Anh ta chỉ có một người con trai nên hết sức yêu mến. Đồng thời anh ta lại có một kẻ vô cùng thù oán, đến nỗi tai anh ta không muon nghe tên, mắt anh ta không muốn nhìn thấy người ấy. Lúc nọ, người con anh ta ra khỏi nhà rong chơi, đang đứng bên đường ở một chỗ xa, người cha từ xa trông thấy cho rằng đó là kẻ thù, mới lấy tên lắp cung vào nhắm bắn. Khi mũi tên bay đi rồi, anh mới hay đó là con của mình, nên liền khóc lóc, chạy thật nhanh để bắt mũi tên lại. Mũi tên chưa đến nơi, anh đã chụp lại được. Người bắn tên dụ cho Bồ-tát. Một người con dụ cho chúng sinh. Kẻ thù oán dụ cho phiền não. Mũi tên dụ cho trí tuệ của bậc Thánh. Đại đức nên biết! Đại Bồtát dùng trí tuệ Ba-la-mật quán tất cả pháp vô sinh, chánh vị, đại bi, thiện xảo, nên không tác chứng đối với thật tế, mà an tru nơi địa Thanh văn, Phật-bích-chi, thệ nguyện dẫn dắt, hóa độ tất cả chúng sinh đạt đến Phật địa.

Tôn giả Tu-bồ-đề lại hỏi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Đại sĩ! Những Bồ-tát nào có thể hành được hạnh này?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Đại đức! Nếu Bồ-tát thị hiện việc làm ở thế gian, nhưng không bị pháp thế gian làm ô nhiễm; hiện đồng như thế gian nhưng không khởi kiến chấp đối với các pháp. Tuy là đoạn trừ phiền não của hết thảy chúng sinh, nhưng siêng năng tinh tấn hội nhập vào pháp giới, không thấy tướng dứt hết. Tuy không trụ vào hữu vi, nhưng cũng không thủ đắc vô vi. Tuy ở trong sinh tử nhưng cũng như dạo chơi nơi vườn rừng, lầu gác, dù bản nguyện chưa viên mãn nhưng cũng không cầu mau chứng Vô thượng Niết-bàn. Tuy biết sâu về vô ngã nhưng luôn hóa độ chúng sinh. Tuy quán tự tánh của các pháp giống như hư không, nhưng dốc tâm tu tập các công đức, làm thanh tịnh quốc độ của Phật. Tuy hội nhập vào pháp giới thấy pháp bình đẳng, nhưng vì làm trang nghiêm thân, khẩu, ý của Phật nên không bỏ tinh tấn. Nếu các Bồ-tát có đầy đủ các hạnh như vậy thì mới có thể hành được.

Tôn giả Tu-bồ-đề lại bạch Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Đại sĩ! Nay Đại sĩ giảng nói chỗ tu hành của Bồ-tát như thế, chẳng phải là pháp mà thế gian có thể tín thọ được.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Đại đức! Tôi nay vì muốn khiến cho các chúng sinh vĩnh viễn ra khỏi thế gian, nên giảng nói về hạnh của Bồ-tát biết rõ pháp thế gian để xuất ly.

Tu-bồ-đề thưa:

–Đại sĩ! Thế nào là pháp thế gian? Thế nào gọi là xuất ly?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Đại đức! Pháp thế gian là năm uẩn. Sao gọi là năm? Đó là Sắc uẩn, Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn, Thức uẩn. Các uẩn như vậy: Sắc như chùm bong bóng nước, Thọ như bọt nước nổi, Tưởng như dợn nắng, Hành như thân cây chuối, Thức như huyễn hóa. Cho nên ở trong đó không có thế gian, cũng không có các uẩn, cho đến ngôn thuyết, danh tự cũng như vậy. Nếu hiểu được như vậy, tâm mới không tán loạn. Nếu tâm không tán loạn, không nhiễm pháp thế gian. Nếu không nhiễm pháp thế gian tức là xuất ly pháp thế gian.

Lại nữa, này Đại đức! Các pháp như năm uẩn, tánh của chúng vốn không. Vì tánh không nên không hai. Vì không hai nên không có ngã và ngã sở. Vì không có ngã và ngã sở nên không có gì để nắm giữ, chấp trước.Vì không có gì để nắm giữ, chấp trước tức là xuất ly thế gian pháp.

Lại nữa, này Đại đức! Pháp năm uẩn do nhân duyên mà có. Vì do nhân duyên mà có nên không có năng lực. Vì không có năng lực nên không có chủ thể. Vì không có chủ thể nên không có ngã và ngã sở. Vì không có ngã và ngã sở nên không có thọ nhận, giữ lấy. Vì không có thọ nhận, giữ lấy nên không có chấp thủ và cạnh tranh. Vì không có chấp thủ và cạnh tranh nên không có tranh luận. Vì không tranh luận nên đó là pháp của Sa-môn. Vì pháp của Sa-môn là biết tất cả các pháp như tiếng vang trong không trung. Nếu có thể hiểu rõ tất cả các pháp như tiếng vang trong không trung tức là xuất ly khỏi pháp thế gian.

Lại nữa, này Đại đức! Pháp của năm uẩn này đồng với pháp giới. Pháp giới tức chẳng phải là cảnh giới. Trong chỗ chẳng phải là cảnh giới thì không có nhãn giới, không có sắc giới, không có nhãn thức giới, không có nhĩ giới, không có thanh giới, không có nhĩ thức giới, không có tỉ giới, không có hương giới, không có tỷ thức giới, không có thiệt giới, không có vị giới, không có thiệt thức giới, không có thân giới, không có xúc giới, không có thân thức giới, không có ý giới, không có pháp giới, không có ý thức giới. Trong đó cũng không có Địa giới, Thủy giới, Hỏa giới, Phong giới, Hư không giới, và Thức giới. Cũng không có Dục giới, Sắc giới, và Vô sắc giới. Cũng không có hữu vi giới, vô vi giới, ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả.

Như vậy, tất cả đều không thực có, quyết định là không thể thủ đắc. Nếu có thể hội nhập vào ý nghĩa sâu xa bình đẳng này, cùng tương ưng với không chỗ nhập, tức là xuất ly khỏi pháp thế gian.

Khi Bồ-tát giảng nói pháp này, có hai trăm Tỳ-kheo ở nơi chúng hội vĩnh viễn chấm dứt các lậu, tâm được giải thoát. Tất cả đều đem y đang mặc trên thân, dâng lên Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, thưa:

–Nếu có chúng sinh được nghe diệu pháp sâu xa này, chắc chắn sinh tâm tín thọ. Nếu họ không sinh lòng tin mà cầu chứng ngộ thì không bao giờ có được.

Bấy giờ, Trưởng lão Tu-bồ-đề nói với các Tỳ-kheo:

–Các vị đã đắc gì, đã chứng gì?

Các Tỳ-kheo thưa:

–Đại đức! Không đắc, không chứng là pháp của Sa-môn. Vì sao? Vì nếu có sở đắc, tâm liền loạn động, nếu có sở chứng thì tự mình kiêu căng, tự phụ. Nếu có loạn động, kiêu căng, tự phụ thì liền rơi vào nghiệp ma. Nếu có người tự nói: “Tôi đắc”, “Tôi chứng”, nên biết người ấy la tăng thượng mạn.

Đức Phật dạy:

–Này các Tỳ-kheo! Các vị có biết rõ ý nghĩa về tăng thượng mạn chăng?

Các Tỳ-kheo thưa:

–Bạch Thế Tôn! Theo ý của chúng con, nếu có người nói: “Tôi có thể biết Khổ”, thì kẻ ấy không biết về tướng khổ mà tự nói “Tôi biết”, “Tôi có thể đoạn Tập, chứng Diệt, tu Đạo”, thì kẻ ấy không biết về tướng Tập, Diệt, Đạo. Cho đến nói: “Tôi có thể tu Đạo” thì nên biết đó là tăng thượng mạn. Vì sao? Vì tướng Khổ là tướng vô sinh. Tướng Tập, Diệt, Đạo chính là tướng vô sinh. Tướng vô sinh tức là phi tướng, là tướng bình đẳng. Đó là các Thánh nhân, đối với tất cả các pháp đạt được tướng giải thoát, trong đó không có sự biet Khổ, đoạn Tập, chứng Diệt, tu Đạo. Có thể chứng đắc những tướng như vậy. Nếu có chúng sinh nghe được ý nghĩa bình đẳng nơi tất cả các pháp mà sinh tâm sợ hãi, nên biết kẻ ấy là tăng thượng mạn.

Đức Thế Tôn liền bảo:

–Lành thay! Lành thay! Này các Tỳ-kheo! Như lời các vị đã nói, đúng vậy, đúng vậy! Này Tôn giả Tu-bồ-đề, chư vị nên biết các Tỳkheo này ở trong thời quá khứ của Đức Phật Ca-diếp đã từng theo Đồng tử Văn-thù-sư-lợi, được nghe pháp hết sức thâm diệu như vậy, nhờ nghe pháp nên mau đạt được thần thông. Nay lại được nghe pháp, tùy thuận, không chống trái. Này Tu-bồ-đề! Nếu lại có người ở trong pháp của Ta được nghe về ý nghĩa này, sinh tâm tin hiểu thì kẻ ấy đời sau sẽ được gặp Đức Phật Di-lặc. Nếu chưa phát tâm cầu Đại thừa, đối với trong ba hội đều được giải thoát. Nếu đã phát tâm cầu Đại thừa, thì sẽ được an trụ nơi địa kham nhẫn.

Bấy giờ, Thiên tử Thiện Thắng bạch Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Đại sĩ! Đại sĩ thường ở trong cõi Diêm-phù-đề này thuyết pháp cho chúng sinh. Nay ở cõi trời Đâu-suất có các Thiên tử đã từng ở thời quá khứ gặp vô lượng Đức Phật, cung kính cúng dường, trồng các căn lành, nhưng vì thọ sinh ở cõi trời, tham đắm cảnh giới, không thể đến pháp hội này để nghe pháp. Xưa họ đã vun trồng căn lành, nay lại thoái thất. Nếu được nhờ vào sự dạy bảo, dẫn dắt cua Bồ-tát, chắc căn lành nơi họ lại được tăng trưởng. Cúi mong Đại sĩ đến thiên cung trong giây lát, vì các Thiên tử ấy rộng nói, nêu bày pháp yếu.

Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi dùng diệu lực của thần thông, liền ngay nơi chỗ đứng bỗng nhiên hóa thành thiên cung Đâu-suất, đầy đủ các thứ, chẳng thiếu vật gì, khiến cho Thiên tử Thiện Thắng và tất cả chư Thiên, nhân trong hội này đều cho là đang ở trên cõi trời Đâu-suất. Họ thấy cõi trời ấy đầy đủ các thứ trang nghiêm: vườn, rừng, ao tắm, cây cối từng hàng, cung điện, lầu gác, mái hiên giao nhau, cây trụ chạm trổ nối liền sàn nhà, các cửa sổ điêu khắc ở giữa nhà, nhiều lớp trụ ngắn trên sàn nhà, phân bố nhiều đá nhỏ, cây báu làm đài, trang nghiêm đẹp đẽ. Đài ấy rất nhỏ, chỉ có bảy tầng, hoặc tám tầng, chín tầng, cho đến cao hai mươi tầng. Cứ trên mỗi đài, nơi nơi đều có cấp bậc, tất cả đều có các Thiên nữ, đang tuổi xuân thì tươi đẹp, tay chân mềm mại, trán rộng, mi dài, mặt mắt thanh tịnh, như tấm lưới vàng, thường có ánh sáng, cũng như hoa sen lìa các bụi nhơ, phát ngôn vui vẻ, đi đứng uyển chuyển, cử động hợp với oai nghi, thanh nhã, có phép tắc, ví như trăng rằm, ai cũng thích nhìn. Họ sử dụng các thứ đàn không hầu, cầm, sắt, ống tiêu, ống sáo, chuông trống, hoặc ca hoặc hát, âm tiết hòa nhịp. Các kỹ nữ đẹp xếp thành từng hàng, chia nhau đứng trên sân cùng múa. Những việc như vậy bỗng nhiên đều đầy đủ.

Bấy giờ, Thiên tử Thiện Thắng thấy cung điện mình và các quyến thuộc vui chơi như vậy, trong tâm sinh nghi hoặc, bạch Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Lạ thay, Đại sĩ! Làm sao Đại sĩ có thể khiến cho con và đại chúng trong nháy mắt được đến cõi này?

Khi ấy, Trưởng lão Tu-bồ-đề nói với Thiên tử Thiện Thắng.

–Thiên tử! Ban đầu tôi cũng cho rằng tôi cùng chư vị nơi đại chúng đều đến cõi trời Đâu-suất-đà, nhưng giờ mới biết trước nay đều bất động, chưa từng có việc cùng đến cõi trời ấy. Những điều đã thấy như vậy đều do thần thông Tam-muội của Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi hiện ra.

Thiên tử Thiện Thắng bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi thật vô cùng hy hữu mới có thể dùng diệu lực của thần thông Tam-muội không thể nghĩ bàn khiến cho chúng hội này không rời khỏi chốn cũ mà cho là đã đến cõi trời Đâu-suất-đà.

Đức Phật bảo:

–Này Thiên tử! Ông chỉ biết được chút ít diệu lực nơi thần thông biến hóa của Đồng tử Văn-thù-sư-lợi, nhưng Như Lai thì biết thần thông của vị ấy nhiều vô lượng.

Này Thiên tử! Do diệu lực nơi thần thông của Đại sĩ Văn-thù-sưlợi, giả sử các quốc độ của Phật nhiều như cát sông Hằng, thảy đều trang nghiêm, đẹp đẽ, mỗi mỗi không đồng, có thể ở trong một cõi Phật, thảy đều làm cho thấy rõ khắp. Lại dùng các quốc độ của Phật nhiều như cát sông Hằng tập hợp nơi một chỗ giống như một bó lụa đem ném lên phương trên, chẳng có khó gì. Lại dùng các quốc độ của Phật nhiều như cát sông Hằng với các biển lớn hiện có đem đặt lên một lỗ chân lông, nhưng khiến cho các chúng sinh trong đó không hay, không biết, không bị va chạm. Lại dùng các quốc độ của chư Phật nhiều như cát sông Hằng với các núi chúa Tu-di hiện có, đem các núi ấy đặt vào một ngọn núi, lại lấy các ngọn núi ấy cho vào trong một hạt cải, khiến tất cả chư Thiên trụ nơi các núi ấy không biết, không hay, cũng không bị trở ngại.

Lại dùng các quốc độ của chư Phật nhiều như cát sông Hằng, trong đó với năm đường chúng sinh hiện có đặt trong lòng bàn tay mặt, lại lấy tất cả vật dụng tạo sự an lạc trong các quốc độ này, mỗi mỗi chúng sinh đều đem cho hết, bình đẳng, không sai biệt. Lại đem các quốc độ của chư Phật nhiều như cát sông Hằng lúc kiếp tận, bị thiêu rụi, tất cả những ngọn lửa lớn hiện có ấy gom lại một chỗ, khiến cho các ngọn lửa lớn, nhỏ ấy chỉ như một ngọn đèn, nhưng ngọn lửa vẫn như cũ không sai khác.

Lại dùng các quốc độ của chư Phật như cát sông Hằng, tất cả các mặt trăng, mặt trời hiện có, hoặc ở nơi một lỗ chân lông thu tóm ánh sáng nơi các mặt trời, mặt trăng ấy, làm cho chúng bị che khuất không hiện ra.

Này Thiên tử! Ta ở trong một kiếp, hoặc hơn một kiếp nói về diệu lực nơi Tam-muội thần thông biến hóa của Đồng tử Văn-thù-sưlợi cũng không thể nào hết.

Bấy giờ, ma Ba-tuần tự biến thân mình thành một Tỳ-kheo, ở trong chúng hội, ngồi qua một bên, bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nay con nghe nói về diệu lực nơi thần thông của Đồng tử Văn-thù-sư-lợi, không sao tín thọ được. Cúi mong Thế Tôn khiến ở trước con, bảo vị ấy hiện bày thần lực để con được thấy.

Khi ấy, Đức Thế Tôn biết đây là ma ác biến làm Tỳ-kheo, cũng muốn khiến cho chúng sinh tăng trưởng thiện căn, nên bảo Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Này Bồ-tát nên tự hiện bày diệu lực thần thông, khiến cho vô lượng chúng sinh trong chúng hội đều được thiện lợi.

*********

Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi vâng theo lời Phật dạy, liền nhập Tam-muội thần thông tâm tự tại với tất cả các pháp. Nhập vào Tammuội này xong, phát khởi diệu lực thần thông, hiện bày các thần biến như đã nói, hiển nhiên, rực sáng, thảy đều hiện tiền, như lời Phật dạy, không thêm không bớt, làm cho những người có mặt nơi chúng hội không ai không thấy rõ.

Lúc này, đại chúng thấy thần lực ấy đều khen chưa từng có, đồng thanh xướng lên:

–Lành thay! Lành thay! Chư Phật, Như Lai vì các chúng sinh xuất hiện ở thế gian. Lại có vị Đại sĩ với phương tiện thiện xảo như vậy đồng xuất hiện ơ đời mới có thể hiển bày diệu lực thần thông không thể nghĩ bàn ấy.

Khi ấy, ma ác thấy các thứ thần biến này xong hết sức vui mừng, lạy nơi chân Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, chấp tay cung kính hướng về Đức Như Lai, thưa:

–Đồng tử Văn-thù-sư-lợi rất hy hữu mới có thể hiện thần thông biến hóa không thể nghĩ bàn như thế. Các người nghe thấy ai mà không kinh ngạc, hồ nghi. Nếu có chúng sinh được nghe sự việc này, có thể sinh tâm tín thọ, gia sử ma ác nhiều như cát sông Hằng, muốn làm não hại những người ấy thì cũng không bao giờ hại được.

Bạch Thế Tôn! Con là ma ác thường ở chỗ Phật, rình rập chờ cơ hội, tâm thích não hại tất cả chúng sinh. Nếu thấy có người siêng năng tu tập điều lành thì con sẽ dùng oai lực của mình tạo chướng ngại cho họ.

Bạch Thế Tôn! Kể từ hôm nay, con xin phát tâm thệ nguyện sâu xa: Chỉ cần người nào đem pháp môn này hoằng dương ở đâu, nơi đất nước, thành ấp, làng xóm, trong khoảng một trăm do-tuần, thì con ở đó để hộ vệ. Ví như người mù chẳng làm gì được, những kẻ xấu ác không thể đối với các chúng sinh kia sinh tâm não hại. Nếu con thấy có người thọ trì, đọc tụng, tư duy, giải thích kinh này, liền sinh tâm tôn trọng, cung cấp, cúng dường.

Bạch Thế Tôn! Bè nhóm của chúng con thích gây trở ngại cho pháp Phật. Nếu thấy có người tu hành pháp thiện, họ liền gây thêm sự bức bách, cản trở, khiến phải thoái chuyển. Nay con vì để đoạn trừ những việc ác như vậy nên nói Đà-la-ni này:

Liền nói thần chú: Đát điệt tha A ma lê, Tỳ ma lê, Sĩ đá đáp tỳ, A yết bà nể thị đa thiết đốt lộ, thệ duệ, thệ da mạt để, thâu bà mạt để, Thiểm mê phiến để, A phổ mê, Phổ phổ mê, địa rị, A khế, mạc khế, khư khế, nhị lý la, A già mê, Phổ la, Phổ la phổ la, Thâu mê thâu thâu mê, địa rị, địa rị, A na bạt để, Sĩ đá đáp tỳ, Ngật lý đa yết thê, Ngật lý đa tỳ đề, Tỳ lô chiết đảm, Tát đạt ma Bà nổ câu, yết tả tô đát la tả đà lộ ca, A bạt la mục đa y bà tô lý da.

Bạch Thế Tôn! Đà-la-ni này ủng hộ các vị Pháp sư, có thể khiến cho vị ấy dũng mãnh, tinh tấn, biện tài không gián đoạn, tất cả ma ác không thể lợi dụng được. Lại khiến cho các ma ấy tâm sinh hoan hỷ, dùng các thứ y phục, ngọa cụ, ẩm thực, thuốc thang, các nhu cầu cần thiết để cúng dường.

Bạch Thế Tôn! Nếu có thiện nam, thiện nữ nào thọ trì chú này, ngày đêm liên tục, sẽ được tất cả hàng Thiên, Long, Càn-thát-bà, Atu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhân và phi nhân … thường hộ vệ, tất cả kẻ oán thù, ganh ghét đều không thể hại được.

Đức Phật nói với ma:

–Lành thay! Lành thay! Nay ngươi nói Đà-la-ni ấy, khiến cho vô lượng Hằng hà sa thế giới hiện đủ sáu thứ chấn động. Ma vương nên biết, chỗ biện thuyết nơi ngươi là thần lực của Đồng tử Văn-thù-sư-lợi tạo ra.

Khi Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi dùng thần lực khiến cho ma Ba-tuần nói thần chú này, ba vạn người trong chúng hội đều phát tâm cầu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi hiện bày sự biến hóa xong bèn thâu giữ thần lực, liền bảo Thiên tử Thiện Thắng:

–Này Thiên tử! Nay ta muốn đến cõi trời Đâu-suất-đà, ông hãy về trước bảo Thiên chúng tụ tập đông đủ.

Thiên tử Thiện Thắng nghe lời ấy xong, cùng với quyến thuộc đi nhiễu theo phía bên phải Phật và đại chúng Bồ-tát như Đồng tử Vănthù-sư-lợi rồi liền biến mất, trong khoảnh khắc đi đến thiên cung. Đến nơi, bảo khắp Thiên chúng:

–Các vị nên biết! Đại Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi vì thương xót chúng ta nên sắp đến đây. Tất cả Thiên chúng hãy lìa bỏ các sự vui chơi, phóng dật, cùng đến tụ tập ở đây để nghe pháp.

Khi Thiên tử Thiện Thắng nói lời ấy xong thì các Thiên tử cùng kiến lập đạo tràng nơi thiên cung rất rộng, thanh tịnh, trang nghiêm, đẹp đẽ, làm bằng các thứ ngọc báu như ý của cõi trời. Đông – Tây rộng ba vạn hai ngàn do-tuần, Nam – Bắc một vạn sáu ngàn do-tuần. Lại trong đạo tràng ấy đặt vô lượng trăm ngàn tòa sư tử, tòa đều cao rộng đủ các thứ trang nghiêm, dùng y báu cõi trời phủ lên trên.

Lúc này, Thiên tử Thiện Thắng trang nghiêm đạo tràng và tòa sư tử xong, bèn cung kính chắp tay từ xa hướng về Bồ-tát Văn-thù-sưlợi thưa:

–Con trở về thiên cung chuẩn bị mọi việc đã xong, mong Đại sĩ giáng lâm, nay đã đúng lúc.

Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi cùng với các Bồ-tát một vạn hai ngàn người, đại Thanh văn một ngàn năm trăm người, ngoài ra còn có vô lượng trăm ngàn chúng Thiên, Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà v.v… từ tòa đứng dậy, đảnh lễ nơi chân Phật, nhiễu quanh phía bên phải ba vòng, ở trước Đức Như Lai liền biến mất, trong khoảnh khắc đến cõi trời Đâu-suất-đà, đi vào đạo tràng, ngồi trên tòa đã soạn sẵn.

Khi ấy, các vị trời Tứ Thiên vương, Tam Thập Tam, Dạ-ma, Hóa Lạc, Tha Hóa Tự Tại, và các chúng Phạm thiên trong cõi Sắc, lần lượt truyền nhau, nói rõ:

–Hiện nay Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đang ở tại cõi trời Đâu-suất-đà, sắp thuyết giảng đại pháp, chúng ta nên cùng nhau đến chốn ấy để nghe những pháp chưa được nghe, cùng chứng kiến những việc hy hữu.

Nói vậy xong, các chúng Thiên tử nhiều vô lượng, vô số nơi Dục giới, Sắc giới, chỉ trong một khoảnh khắc đều từ trụ xứ của mình đi đến tụ hội tại cung trời Đâu-suất. Nhờ sức từ oai thần của Bồ-tát Vănthù-sư-lợi nên khiến cho đạo tràng dung chứa tất cả, không hề bị trở ngại.

Thiên tử Thiện Thắng bạch Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Thưa Đại sĩ! Nay đại chúng đều đã tập hội, mong Đại sĩ dùng biện tài để mở bày giáo pháp.

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi bảo khắp Thiên chúng:

–Các Nhân giả! Nếu các Bồ-tát trụ nơi bốn thứ hạnh thì có thể thành tựu tất ca pháp thiện. Những gì là bốn? Một là trì giới. Hai là tu thiền. Ba là thần thông. Bốn là điều phục. Nếu Bồ-tát có thể trì giới thì thành tựu đa văn. Nếu hay tu thiền thì thành tựu Bát nhã. Nếu được thần thông thì thành tựu trí thắng. Nếu biết điều phục thì có thể thành tựu tâm không phóng dật. Vì vậy, ta nói: “Các Bồ-tát trụ nơi bốn hạnh thì có thể thành tựu tất cả pháp thiện”.

Này các Nhân giả! Nên biết trì giới, thực hiện tám pháp đầy đủ thì luôn được thanh tịnh. Những gì là tám?

  1. Thân hành chánh trực.
  2. Các nghiệp thuần tịnh.
  3. Tâm không cấu uế.
  4. Ý chí luôn kiên định.
  5. Tự nuôi sống bằng chánh mạng.
  6. Hành pháp Đầu-đà, tri túc.
  7. Xa lìa các hình tướng dối trá, hư giả không thật.
  8. Luôn không quên mất tâm Bồ-đề.
  9. Đó gọi là trì giới với tám thứ thanh tịnh.

Lại nữa, này các Nhân giả! Nên biết đa văn cũng do tám pháp mà được thanh tịnh. Những gì là tám?

  1. Kính thuận sư trưởng.
  2. Diệt trừ kiêu mạn.
  3. Siêng năng ghi nhớ, thọ trì.
  4. Chánh niệm, không nhầm lẫn.
  5. Thuyết pháp, giải thích không mệt mỏi.
  6. Không tự kiêu căng, khoe công.
  7. Quán sát đúng như lý.
  8. Theo lời dạy mà tu hành.

Đó gọi la đa văn với tám thứ thanh tịnh.

Lại nữa, này các Nhân giả! Nên biết thiền định cũng nhờ tám pháp mà được thanh tịnh. Những gì là tám?

  1. Thường ở chỗ vắng vẻ, tịch tĩnh tư duy.
  2. Không cùng với nhiều người tụ hội trò chuyen.
  3. Đối với cảnh giới bên ngoài không có tham chấp.
  4. Cả thân lẫn tâm đều xả bỏ các sự vinh hoa.
  5. Ăn uống theo thiểu dục.
  6. Không có tâm duyên dựa ngoại cảnh.
  7. Không thích sự trau chuốt âm thanh văn tự.
  8. Khuyên bảo người khác khiến đạt được cái vui của bậc Thánh.

Đó gọi là thiền định có tám thứ thanh tịnh.

Lại nữa, này các Nhân giả! Nên biết Bát nhã cũng nhờ tám pháp mà được thanh tịnh. Những gì là tám?

  1. Khéo biết các uẩn.
  2. Khéo nhận biết các giới.
  3. Khéo biết các xứ.
  4. Khéo biết các căn.
  5. Khéo biết ba môn giải thoát.
  6. Vĩnh viễn chặt đứt cội gốc của tất cả phiền não.
  7. Vĩnh viễn ra khỏi tất cả các Hoặc ngăn che, trói buộc.
  8. Vĩnh viễn xa lìa tất cả nẻo hành của các thứ kiến chấp.

Đó gọi là tám thứ thanh tịnh của Bát nhã.

Lại nữa, này các Nhân giả! Nên biết thần thông cũng nhờ tám pháp mà được thanh tịnh. Những gì là tám?

  1. Thấy tất cả sắc khong bị chướng ngại.
  2. Nghe tất cả tiếng không bị giới hạn.
  3. Biết khắp nẻo hành nơi tâm của chúng sinh.
  4. Nhớ nghĩ về đời trước không bị chướng ngại, không tham đắm.
  5. Thần túc du hành khắp các cõi Phật.
  6. Dứt sạch hết tất cả lậu mà không sai thời.
  7. Tích tập rộng mọi căn lành, lìa các sự tán loạn, náo động.
  8. Như lúc mới phát thệ nguyện, luôn vì các thiện hữu độ khắp chúng sinh.

Đó gọi là tám thứ thanh tịnh của thần thông.

Lại nữa, này các Nhân giả! Nên biết với trí thù thắng cũng có tám pháp mà được thanh tịnh. Những gì là tám?

  1. Trí về khổ, biết khắp về năm uẩn.
  2. Trí về tập, vĩnh viễn đoạn trừ các ái.
  3. Trí về diệt, quán các duyên khởi rốt ráo không sinh.
  4. Trí về đạo, có thể chứng đắc công đức hữu vi, vô vi.
  5. Trí về nhân quả, biết nghiệp cùng với việc làm không có chống trái.
  6. Trí quyết định, biết rõ về vô ngã, vô chúng sinh v.v…
  7. Trí về ba đời, khéo hay phân biệt sự luân chuyển của ba đời.
  8. Trí nhất thiết trí, đó là Bát nhã Ba-la-mật.

Đó gọi là tám thứ thanh tịnh của trí thù thắng.

Lại nữa, này các Nhân giả! Nên biết sự điều phục cũng nhờ tám pháp mà được thanh tịnh. Những gì là tám?

  1. Bên trong luôn luôn tịch tĩnh.
  2. Bên ngoài gìn giữ nẻo hành hóa.
  3. Không bỏ ba cõi.
  4. Tùy thuận duyên khởi.
  5. Quán sát các pháp, bản tánh của chúng là không sinh.
  6. Quán sát các pháp không có người tạo ra.
  7. Quán sát các pháp xưa nay là vô ngã.
  8. Rốt ráo không khởi tất cả phiền não.

Đó gọi là tám thứ thanh tịnh nhờ điều phục.

Lại nữa, này các Nhân giả! Nên biết không phóng dật cũng nhờ tám pháp mà được thanh tịnh. Những gì là tám?

  1. Không làm ô uế giới hạnh.
  2. Luôn làm thanh tịnh đa văn.
  3. Thành tựu các định.
  4. Tu hành Bát nhã.
  5. Đầy đủ thần thông.
  6. Không tự cao ngạo.
  7. Tiêu diệt các thứ tranh luận.
  8. Không thoái chuyển đối với các pháp thiện.

Đó gọi là tám thứ thanh tịnh của sự không phóng dật.

Này chư Nhân giả! Nếu các Bồ-tát an trụ nơi sự không phóng dật thì không mất ba thứ vui. Những gì là ba? Đó là vui của chư Thiên, vui thiền định, vui Niết-bàn.

Lại được giải thoát khỏi ba cõi ác. Những gì là ba? Đó là: Địa ngục, súc sinh và ngạ qủy.

Lại không bị ba thứ khổ bức bách. Những gì là ba?

  1. Đó là khổ về sinh, khổ về già và kho về chết.
  2. Lại được xa lìa vĩnh viễn ba thứ sợ hãi. Những gì là ba?
  3. Đó là: Sợ không sống, sợ tiếng xấu ác, sợ oai đức của đại chúng.

Lại được vượt ra khỏi ba thứ hữu. Những gì là ba?

  1. Đó là: Hữu nơi cõi Dục, hữu nơi cõi Sắc, hữu nơi cõi Vô sắc.
  2. Lại được tẩy trừ ba thứ cấu uế. Những gì là ba? Đó là: Cấu uế của tham dục, sân hận và ngu si.
  3. Lại được viên mãn ba thứ học. Những gì là ba?

Đó là: Học về giới, học về tâm và học ve tuệ.

Lại được ba thứ thanh tịnh. Những gì là ba?

  1. Đó là: Thân thanh tịnh, ngữ thanh tịnh và ý thanh tịnh.
  2. Lại được đầy đủ ba thứ tạo thành phước. Những gì là ba?
  3. Đó là: Thí tạo thành phước, giới tạo thành phước và tu tao thành phước.

Lại có thể tu tập ba môn giải thoát. Những gì là ba?

  1. Đó là: Giải thoát môn không, giải thoát môn vô tướng và giải thoát môn vô nguyện.
  2. Lại khiến cho ba thứ chủng tánh vĩnh viễn không đoạn tuyệt. Những gì là ba?
  3. Đó là: Chủng tánh của Phật, chủng tánh của Pháp và chủng tánh của Tăng.

Này chư Nhân giả! Hạnh không phóng dật có năng lực như vậy, cho nên các vị nên cùng nhau tu hành.

Lại nữa, này chư Nhân giả! Bồ-tát thực hành sáu pháp Ba-lamật, mỗi mỗi pháp có đủ ba thứ chướng ngại cần được đối trị. Nếu trụ nơi pháp không phóng dật thì có thể mau chóng đoạn trừ. Những gì là ba? Đó là tự mình không bố thí, không muốn người khác bố thí, sân hận với người bố thí. Tự mình không trì giới, không muốn người khác trì giới, sân hận với người hay trì giới. Tự mình không nhẫn nhục, không muốn người khác nhẫn nhục, sân hận với người hay nhẫn nhục.

Tự mình không tinh tấn, không muốn người khác tinh tấn, sân hận với người hay tinh tấn. Tự mình không tu định, không muốn người khác tu định, sân hận với người hay tu định. Tự mình không có trí tuệ, không muốn người khác có trí tuệ, sân hận với người có trí tuệ. Như vậy, Bồtát thực hành sáu độ, mỗi mỗi đủ ba thứ chướng ngại sai biệt, nhưng nhờ không phóng dật mà được đoạn trừ.

Lại nữa, này chư Nhân giả! Bồ-tát thực hành sáu pháp Ba-lamật đều dùng ba pháp mà được viên mãn. Những gì là ba? Đó là: Bố thí có ba, nghĩa là: hay xả tất cả, không cầu quả báo và hồi hướng đến Bồ-đề. Trì giới có ba, nghĩa là: hết lòng kính thọ, hộ trì không sót và hướng đến Bồ-đề. Nhẫn nhục có ba, nghĩa là: nhu hòa, khoan dung; tự bảo vệ và bảo vệ người khác, hồi hướng đến Bồ-đề. Tinh tấn có ba, nghĩa là: không bỏ gánh nặng về thien, không có tưởng khứ lai, hồi hướng đến Bồ-đề. Thiền định có ba, nghĩa là: nhập khắp các định, không có chỗ duyên dưa, hồi hướng đến Bồ-đề. Bát nhã có ba, nghĩa là: trí sáng chiếu khắp, diệt các hý luận, hồi hướng đến Bồ-đề. Như vậy gọi là Bồ-tát tu tập sáu độ, mỗi mỗi độ đều có ba thứ, có thể thành pháp viên mãn, nhờ hạnh không phóng dật mà tăng trưởng.

Lại nữa, này các Nhân giả! Tất cả các Bồ-tát nhờ không phóng dật nên mau thành tựu ba mươi bảy pháp phần Bồ-đề v.v… với các pháp thiện hiện có, chứng được Bồ-đề Vô thượng của chư Phật. Thế nào là mau thành tựu pháp phần Bồ-đề? Đó là các Bồ-tát nhờ không phóng dật, tu bốn niệm xứ, không trải qua sự khổ nhọc, mau được viên mãn.

Thế nào là tu? Đó là quán Thân-xứ là không thật có, quán Thọxứ là không thật có, quán Tâm-xứ là không thật có, quán Pháp-xứ là không thật có. Đối với tất cả pháp đều không thủ đắc. Như vậy gọi là tu bốn niệm xứ.

Lại nữa, các Bồ-tát nhờ không phóng dật nên tu Bốn chánh cần mau được viên mãn. Tu tập thế nào? Đó là các Bồ-tát tuy luôn quán xét tất cả các pháp xưa nay vốn là vo sinh, vô đắc, vô khởi, không có tác giả, giống như hư không, nhưng vì các pháp ác, bất thiện chưa sinh khiến cho chúng không sinh, thâu giữ tâm chánh trụ, siêng hành tinh tấn. Tuy quán tất cả các pháp là không nghiệp, không quả, nhưng vì các chúng sinh đã tạo các pháp ác, bất thiện, muốn khiến đoạn trừ, nên thâu giữ tâm chánh trụ, siêng hành tinh tấn. Tuy tin hiểu tất cả pháp là không, không thật có, nhưng vì các pháp thiện chưa sinh, muốn khiến cho sinh, nên thâu giữ tâm chánh trụ, siêng hành tinh tấn. Tuy biết các pháp xưa nay là tịch tĩnh, nhưng vì các pháp thiện đã sinh muốn khiến cho an trụ, không bị thoái thất, càng thêm tăng trưởng, nên thâu giữ tam chánh trụ, siêng hành tinh tấn.

Các Bồ-tát ấy tuy luôn quán xét tất cả các pháp là không có đối tượng được tạo tác, không có chủ thể tạo tác. Thể tướng vốn bình đẳng, trong đó không có một chút pháp nào có thể được hoặc sinh, hoặc diệt, nhưng thường tinh tấn tu tập không lìa bỏ, đó gọi là tu tập Bốn chánh cần.

Lại nữa, các Bồ-tát nhờ không phóng dật nên tu Bốn thần túc mau được viên mãn. Tu tập thế nào? Đó là tất cả các Bồ-tát tuy đã vĩnh viễn đoạn trừ tham dục mà vẫn luôn luôn không bỏ các pháp thiện, muốn thân hay tâm thường tu hạnh thiện. Tuy quán các pháp là không, không thể thủ đắc, nhưng vì hóa độ chúng sinh nên thường hành tinh tấn. Tuy biết rõ tâm thức như huyễn, như hóa mà vẫn luôn không rời bỏ, hành đủ các pháp Phật, thành tựu tâm chánh giác. Tuy biết các pháp là không nương tựa, không tạo tác, không thể chấp giữ, nhưng luôn tùy theo điều được nghe, tư duy như lý. Như vậy gọi là tu tập thần túc.

Lại nữa, các Bồ-tát nhờ không phóng dật nên tu Năm căn mau được viên mãn. Tu tập thế nào? Đó là tất cả các Bồ-tát tuy nương vào tự lực mà có giác ngộ, không nghe theo người khác, nhưng để giáo hóa chúng sinh, khiến họ nhận biết rõ, phát sinh niềm tin sâu xa. Tuy không có ý tưởng đến, cũng không có ý tưởng đi, nhưng siêng tu tất cả hạnh của Nhất thiết trí. Tuy đối với cảnh giới không nghĩ, không nhớ, nhưng ở trong đó không quên, không ngu. Tuy dùng ánh sáng của trí tuệ hiểu rõ các pháp, nhưng luôn chánh định, vắng lặng không động. Tuy thường an trụ nơi pháp tánh bình đẳng, nhưng đoạn trừ các chướng ngại, các thứ hý luận phân biệt. Như vậy gọi là tu tập năm căn.

Lại nữa, các Bồ-tát nhờ không phóng dật nên tu tập Năm lực mau được viên mãn. Tu tập thế nào? Đó là tất cả các Bồ-tát khi tu Tín lực thì tất cả hý luận của ngoại đạo không thể làm họ bị khuynh động. Khi tu Tinh tấn lực thì tất cả ma ác không thể gây trở ngại, phá hoại được. Nhờ tu Niệm lực nên không rơi vào quả vị Thanh văn và Phậtbích-chi. Nhờ tu Định lực nên mau lìa xa được các phiền não như năm thứ ngăn che. Nhờ tu Tuệ lực nên vĩnh viễn không chấp giữ đối với các cảnh giới thấy được. Đó gọi là tu tập năm lực.

Lại nữa, các Bồ-tát nhờ không phóng dật nên tu Bảy giác phần mau được viên mãn. Tu tập thế nào? Đó là tất cả các Bồ-tát đối với tất cả pháp thiện luôn không quên mất, đó là tu Niệm giác phần. Đối với các pháp duyên khởi thường thích quán sát, đó là tu Trạch pháp giác phần. Khi hành đạo Bồ-đề, vĩnh viễn không thoái chuyển, đó là tu Tinh tấn giác phần. Biết pháp vốn đủ, chẳng có mong cầu, đó là tu Hỷ giác phần. Xa lìa thân tâm tán động, đó là tu Ỷ giác phần. Nhập nẻo giải thoát không, vo tướng, vô nguyện, đó là tu Định giác phần. Lìa bỏ tâm sinh khởi về chỗ học tập, đó là tu Xả giác phần. Như vậy gọi là tu pháp Bảy giác phần.

Lại nữa, các Bồ-tát nhờ không phóng dật nên tu Tám thánh đạo mau được vien mãn. Tu tập thế nào? Đó là nhờ xa lìa đoạn kiến, thường kiến, gọi là tu tập Chánh kiến. Lìa dục giác, sân giác và hại giác, gọi là tu tập Chánh tư duy. Xa lìa sự bất bình đẳng mình và người, gọi là tu tập Chánh ngữ. Lìa tướng dua nịnh, hư giả không thật, gọi là tu tập Chánh mạng. Lìa bỏ việc làm khiến thân tâm khiếp nhược, gọi là tu tập Chánh nghiệp. Xa lìa tâm tự kiêu căng, khinh mạn người khác, gọi là tu tập Chánh tinh tấn. Xa lìa các sự hôn trầm, ngu si, gọi là tập Chánh niệm. Dứt hết các sự phân biệt, gọi là tu tập Chánh định. Đó gọi là tu tập Tám thánh đạo phần.

Này các Nhân giả! Tôi dùng ý nghĩa đã nói như trước bảo các Bồ-tát trụ nơi pháp không phóng dật, thì có thể thành tựu ba mươi bảy thứ Bồ-đề phần cùng tất cả pháp thiện, chứng đắc Bồ-đề Vô thượng của chư Phật.

Chư Nhân giả! Bồ-tát không phóng dật này đã nhập vào pháp Bồ-đề phần như vậy rồi thì ra khỏi tất cả vũng lầy ứ đọng của sinh tử, đã ra khỏi sinh tử rồi thì đối với tất cả pháp hoàn toàn không có đối tượng được thấy. Vì không có đối tượng được thấy nên chẳng có đối tượng để nói. Vì không có đối tượng để nói nên được nhập vào cõi tịch tĩnh rốt ráo.

Sao gọi là tịch tĩnh rốt ráo? Vì tất cả các pháp chẳng phải là chỗ

tạo tác. Vì chẳng phải là chỗ tạo tác nên không thể nắm giữ. Vì không thể nắm giữ nên không có công dụng. Vì không có công dụng nên không thể an lập. Lấy đó làm có là không thể an lập. Vì lấy đó làm có nên biết chính là tịch tĩnh rốt ráo.

Khi Bồ-tát giảng nói pháp này, có một vạn hai ngàn Thiên tử trong chúng hội xa lìa trần cấu, đạt được pháp nhãn thanh tịnh. Bấy giờ, Thiên tử Thiện Thắng lại bạch Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Đại sĩ! Sao gọi là tu hành theo đạo Bồ-tát?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Thiên tử! Bồ-tát tuy không bỏ sinh tử mà không bị các điều ác của sinh tử làm nhiễm ô. Tuy không trụ ở vô vi mà luôn tu công đức vô vi. Tuy tu hành đầy đủ sáu pháp Ba-la-mật mà thị hiện hạnh Thanh văn và Phật-bích-chi. Đó gọi là tu hành theo đạo Bồ-tát.

Lại nữa, này Thiên tử! Bồ-tát tuy ở nơi không, thanh tịnh, mà khéo thị hiện các cảnh, cũng không nắm giữ cảnh. Tuy ở nơi vô tướng, thanh tịnh mà khéo hội nhập các tướng, cũng không chấp nơi tướng. Tuy ở nơi vô nguyện, thanh tịnh mà khéo hành nơi ba cõi, cũng không đắm chấp cảnh giới. Tuy ở nơi vô sinh, vô diệt, thanh tịnh mà khéo giảng nói về sinh diệt, cũng không thọ nhận sinh diệt. Vì sao? Đó là Bồ-tát đã điều phục tâm. Tuy biết rõ tất cả các pháp là không, không thật có, nhưng do các chúng sinh ở trong cảnh giới sinh khởi chấp, vì kiến chấp nên phiền não tăng trưởng. Bồ-tát muốn khiến đoạn trừ các kiến chấp nên mới thuyết pháp, khiến cho chúng sinh biết rằng tất cả cảnh giới là không. Như đã nói về không, vô tướng, vô nguyện thì với vô sinh, vô diệt đều cũng như vậy. Đó gọi là tu hành theo đạo Bồ-tát.

Lại nữa, Thiên tử! Có đi, có lại, gọi là tu theo đạo Bồ-tát. Sao gọi là có đi có lại? Đó là quán tâm ưa thích điều dục của chúng sinh, gọi là có đi. Tùy theo chỗ ứng hợp vì họ mà thuyết pháp, nên gọi là lại. Tự nhập nơi Tam-muội gọi là đi, khiến chúng sinh đạt được Tammuội gọi là lại. Tự hành Thánh đạo gọi là đi, mà có thể giáo hóa tất cả phàm phu gọi là lại. Tự chứng được pháp nhẫn Vô sinh gọi là đi, khiến cho chúng sinh đều đạt được nhẫn này gọi là lại. Dùng phương tiện ra khỏi sinh tử gọi là đi, khiến cho chúng sinh đều được xuất ly gọi là lại. Tâm thích tịch tĩnh gọi là đi, thường ở trong sinh tử để giáo hóa chúng sinh gọi là lại. Tự siêng quán xét các hành qua lại gọi là đi, vì các chúng sinh thuyết giảng pháp như vậy gọi là lại. Tu các môn giải thoát không, vô tướng, vô nguyện gọi là đi, vì khiến cho chúng sinh đoạn trừ ba loại tâm giác quán mà thuyết pháp gọi là lại. Phát lời thệ nguyện kiên cố gọi là đi, tùy theo thệ nguyện, cứu vớt chúng sinh gọi là lại. Phát tâm Bồ-đề, nguyện ngồi nơi đạo tràng gọi là đi, tu đủ các hạnh Bồ-tát cần phải làm gọi là lại. Đó gọi là con đường đi và lại của Bồ-tát.

Khi Bồ-tát giảng nói pháp này, có năm trăm Bồ-tát ở trong chúng hội đều được pháp nhẫn Vô sinh.

Bấy giờ, Thiên tử Thiện Thắng lại bạch Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:

–Đại sĩ! Tôi từng nghe có thế giới Nhất Thiết Công Đức Quang Minh. Thế giới như vậy ở chốn nào? Tên của Đức Phật ở đó là gì, có đang thuyết pháp tại đó chăng?

Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đáp:

–Thiên tử! Ở phương Trên, trải qua mười hai Hằng hà sa cõi Phật, có thế giới tên là Nhất Thiết Công Đức Quang Minh, hiệu của Phật là Phổ Hiền Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác ở nơi cõi đó diễn nói chánh pháp.

Thiên tử Thiện Thắng thưa:

–Đại sĩ! Tâm con muốn được thấy thế giới và Đức Như Lai của cõi ấy. Cúi mong Đại sĩ xót thương làm cho con được thấy.

Khi ấy, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi liền nhập Tam-muội gọi là Ly Cấu Quang Minh. Từ trong thân Đại sĩ phóng ra vô số ánh sáng. Ánh sáng này, trên thấu đến mười hai Hằng hà sa cõi Phật, thẳng đến thế giới Nhất Thiết Công Đức Quang Minh, vô số ánh sáng có màu sắc chiếu khắp cõi Phật ấy. Các Bồ-tát nơi cõi ấy thấy hào quang này, cho là điều chưa từng có, liền chắp tay cung kính bạch Đức Như Lai Phổ Hiền:

“Bạch Thế Tôn! Nay luồng ánh sáng này từ đâu chiếu đến?”.

Đức Phật Phổ Hiền đáp:

“Thiện nam! Ở phương Dưới, trải qua mười hai Hằng hà sa cõi Phật, có thế giới tên là Ta-bà, Phật ở cõi ấy hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, hiện đang thuyết pháp. Ngài có vị Bồ-tát tên là Văn-thù-sư-lợi, trụ nơi pháp Bất thoái chuyển, nhập Tam-muội Ly Cấu Quang Minh, từ thân của vị ấy phóng ra vô số ánh sáng, ánh sáng ấy đi xa đến vô lượng a-tăng-kỳ thế giới trong mười phương, mỗi mỗi thế giới, hào quang đều trùm khắp. Cho nên bây giờ hiện có luồng ánh sáng ấy”.

Các Bồ-tát kia lại thưa:

“Bạch Thế Tôn! Nay chúng con đều mong được thấy Phật Thích Ca Mâu Ni và Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi của thế giới Ta-bà”.

Bấy giờ, Như Lai Phổ Hiền liền phóng luồng ánh sáng lớn từ nơi bàn chân có tướng bánh xe ngàn căm, hào quang ấy rất sáng, chiếu xa mười hai Hằng hà sa cõi Phật ở phương dưới, nhập vào thế giới Ta-bà, hào quang bao trùm tất cả.

Các Bồ-tát này, nhờ hào quang của Phật, nên hết thảy đều thấy rõ Phật Thích Ca Mâu Ni và các Bồ-tát ở cõi Ta-bà. Các Bồ-tát ở cõi Ta-bà cung thấy Đức Như Lai Phổ Hiền và chúng Bồ-tát ở thế giới kia.

Lúc này, Đức Như Lai Phổ Hiền bảo các Bồ-tát:

“Ở thế giới Ta-bà, Đức Phật luôn giảng nói đại pháp. Các vị ai có thể đến đó nghe và thọ trì chánh pháp?”.

Trong chúng hội có một vị Bồ-tát tên là Chấp Trí Cự, từ tòa ngồi đứng dậy, bạch Thế Tôn:

“Nay con mong được nương theo thần lực của Phật, để đến thế giới Ta-bà. Cúi xin Đức Như Lai rủ lòng thương xót chấp nhận”.

Đức Như Lai Phổ Hiền dạy:

“Này thiện nam! Nay đã đúng lúc, mau đi đến cõi đó”.

Khi đó Bồ-tát Chấp Trí Cự cùng với mười ức Bồ-tát cúi đầu kính lễ Như Lai Phổ Hiền, chắp tay cung kính nhiễu bảy vòng quanh theo phía phải, liền biến mất ở cõi đó, ví như trong khoảnh khắc lực sĩ co duỗi cánh tay, đi đến cung trời Đâu-suất của thế giới Ta-bà, khéo an trụ trong lầu quán, phía trước chúng hội của Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi, cúi đầu, chắp tay đảnh lễ nơi chân Bồ-tát, bạch:

–Thưa Đại sĩ! Đại sĩ đã phóng hào quang đến cõi nước chúng tôi. Đức Thế Tôn của chúng tôi là Như Lai Phổ Hiền Ứng Chánh Đẳng Giác cho phép chúng tôi đến thế giới này để ra mắt, đảnh lễ, chiêm ngưỡng và nghe giáo pháp của Đại sĩ.

Lúc này, các Thiên tử ở cõi Dục, cõi Sắc, thấy các Bồ-tát ở cõi nước kia đến, đều nói:

–Lành thay! Lành thay! Không thể nghĩ lường. Hết sức hy hữu! Hết sức hy hữu! Chỉ có Đại sĩ Văn-thù-sư-lợi với phương tiện quyền xảo có thần thông biến hóa như vậy. Đại sĩ đã dùng diệu lực Tammuội phóng luồng hào quang này mới có thể tới được thế giới nơi phương kia, khiến các Bồ-tát ở đấy đi đến đây nhanh chóng như vậy.

Khi ấy, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi vì đại chúng giảng nói rộng về diệu pháp. Có bảy mươi hai na-do-tha các chúng Thiên tử ở trong pháp hội sinh tâm tin hiểu sâu xa, phát tâm cầu đạo quả Bồ-đề Vô thượng.

Bấy giờ, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi ở cung trời Đâu-suất, sự việc đã viên mãn, cùng với các Bồ-tát, Thích, Phạm, Tứ Thiên vương v.v… vô lượng chư Thiên và các Bồ-tát đến từ quốc độ Nhất Thiết Công Đức Quang Minh, không rời khỏi tòa ngồi, biến khỏi cung trời, trong khoảng một niệm, trở về chỗ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, đều từ tòa đứng dậy, đảnh lễ nơi chân Phật, chắp tay cung kính, nhiễu bên phải bảy lần. Khi nhiễu quanh Phật xong, Bồ-tát Chấp Trí Cự cùng mười ức vị đến trước bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Đức Như Lai Phổ Hiền có lời kính hỏi thăm Thế Tôn: thân thể có khỏe mạnh, ít bệnh, ít phiền não, an lạc chăng?

Đức Thế Tôn đúng như pháp an ủi, hỏi thăm các Bồ-tát xong, xem khắp đại chúng mới đến, bảo mọi người ngồi xuống, rồi thuyết giảng rộng về các pháp khiến tất cả chúng hội đều hoan hỷ.

Đức Thế Tôn lại bảo đại chúng:

–Các vị nên biết! Đồng tử Văn-thù-sư-lợi và Bồ-tát Chấp Trí Cự này, vì muốn tạo sự thành tựu đầy đủ cho vô lượng chúng sinh nên mới hiện bày các thần thông biến hóa này. Hai vị Bồ-tát này có thể thành tựu các thứ phương tiện, đạt lý sâu xa gồm đủ trí tuệ, biện tài, đã ở trong vô lượng a-tăng-kỳ kiếp hành hóa Phật sự, vì chúng sinh mới sinh ở thế gian. Nếu có chúng sinh nào được thấy hai vị Bồ-tát này, nên biết, liền được sáu căn tự tại, vĩnh viễn không rơi vào cảnh giới của các ma.

Bấy giờ, Bồ-tát Chấp Trí Cự và các chúng Bồ-tát mới đến quốc độ này, được thấy Đức Thế Tôn, nhờ được nghe pháp nên chứng đắc nhẫn Vô sinh. Khi được pháp nhẫn này liền đi nhiễu theo phía bên phải Phật, kính lạy nơi hai chân Ngài.

Ngay lúc ấy, ba ngàn đại thiên thế giới chấn động. Các Bồ-tát ấy đang ở trước Đức Phật liền biến mất không hiện, chỉ trong khoảnh khắc trở về bản quốc.

Đức Thế Tôn bảo Trưởng lão A-nan:

–Ông nên phụng trì pháp môn này, thuyết giảng rộng cho mọi người.

Tôn giả A-nan thưa:

–Bạch Thế Tôn! Pháp môn này tên gọi là gì? Phụng trì như thế nào?

Đức Phật dạy:

–Pháp môn này gọi là “Những điều Văn-thù-sư-lợi nói về cảnh giới không thể nghĩ bàn của chư Phật”. Phải phụng trì như vậy.

Đức Phật giảng nói kinh này xong, Thiên tử Thiện Thắng, Trưởng lão A-nan và hết thảy chư Thiên, nhân, A-tu-la, Càn-thát-bà v.v… ở thế gian thảy đều hết sức hoan hỷ, tín thọ, phụng hành.

 

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.