Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

KINH TỲ DA SA VẤN

Hán dịch: Đời Nguyên Ngụy, Đại sư Cù Đàm Bát Nhã Lưu Chi
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Đức Bà-già-bà du hóa đến bờ sông A-du-xà-cường-già cùng với chúng Đại Tỳ-kheo. Chúng Tỳ-kheo này, việc cần làm đã làm xong, đã diệt trừ hết các lậu, xa lìa các hữu, không còn thoái chuyển, siêng tu thiền tụng, ngồi thiền. Ngồi bất cứ nơi đâu thì nơi đó cũng có hai người cùng nhau bàn luận đúng như pháp, tập trung cùng tụ tập như thiên nga, như uyên ương, có người ở nơi nhà trống, có vị ở nơi gốc cây đều hành thiền, có thể chọn lấy ánh sáng giáo pháp của Như Lai, trụ vững oai nghi. Lại có vô lượng chúng Bồ-tát đã thành tựu vô lượng công đức, danh tiếng vang khắp. Ở đó có vô lượng trăm ngàn đủ loại rừng cây với nhiều tiếng chim hót hay như tiếng chim Câu-kỳlạ, khổng tước, ngỗng, tiếng của đàn ong v.v… nhánh lá cây Ta-la chỉ rủ xuống tỏa ra. Người ở nơi như thế, mọi tâm dục, biếng nhác, ưa thích ngủ nghỉ uể oải đều biến mất. Cây ấy thường có vô lượng hoa đẹp, hương lành.

Bấy giờ, Đức Phật bảo chúng Tỳ-kheo:

–Này các Tỳ-kheo! Các ông phải thường chuyên cần tu tập, làm việc nên làm, giữ giới, hành hạnh chân chánh

Khi ấy, Đức Thế Tôn cùng với chúng Đại Thanh văn như Tuệ mạng A-nan-đà, Trưởng lão Đại Ca-diếp, Trưởng lão Xá-lợi-phất, Trưởng lão Bạc-câu-la, Trưởng lão Lợi-bà-đa cùng sống trong thanh vắng, vui thích bàn luận.

Bấy giờ, phương Tây xuất hiện tướng ánh sáng giống như mặt trời. Khi ấy Tôn giả A-nan-đà lậu hoặc chưa hết nên thấy tướng đó liền thưa Phật:

–Bạch Thế Tôn! Tại sao ở phương Tây có ánh sáng oai đức rực rỡ?

Đức Phật bảo Tôn giả A-nan:

–Thế giới đó có vị tiên chứng được năm loại thần thông tên là Tỳ-da-sa, con của bà Kiền-đà-dà-ly, có năm trăm vị tiên làm quyến thuộc. Ở đó họ siêng năng tu tập khổ hạnh, không ăn uống để giữ trai giới, thân thể đều gầy yếu chỉ còn mạng sống. Hơn nữa, họ siêng đọc tụng không ngừng để trang nghiêm. Tên của các vị ấy là tiên đồng tử A-tư, Na-la-đề-sa-bùi, Nhã-ba-da-na-na, Đồ-diên-na-già-ma-diên-na, Thương-chỉ-la-bà-tỳ, Kha-na-bà-đồ-la-đà v.v… các vị tiên này thường cùng nhau kinh hành.

Khi đó, tiên Tỳ-da-sa thấy Đức Thế Tôn và hàng ngàn Tỳ-kheo quyến thuộc vây quanh, các căn, tâm ý vắng lặng, ở trong rừng cây, thiền định, lìa dục và được an lạc. Tiên Tỳ-da-sa thấy Đức Phật liền nghĩ: “Người này đúng là bậc Nhất thiết trí tiếng tăm vang dội, người ấy chắc chắn không nói dối, đúng là bậc Như Lai đầy đủ các sắc thù thắng, thành tựu các tướng hiếm có, ở thế gian chưa từng có, Sắc tướng thật tốt đẹp hiếm có. Đức Thế Tôn này đã tự tại bỏ những thú vui của ngôi vua, xả bỏ sự phú quý của vua Chuyển luân như bỏ thức ăn độc hại: Thế Tôn xả bỏ sáu vạn thể nữ sắc đẹp tuyệt vời, đi xuất gia sống trong rừng. Trong chúng tiên nhân có một vị tên Na-la-đà khi thấy Đức Thế Tôn, tâm vui mừng dùng kệ hay tán thán Như Lai:

Trong rừng cây màu xanh
Màu vàng ai rực rỡ
Trong như Tỳ-lưu-ly
Mặt trời khỏi núi mây.

Khi ấy, vị Đại tiên và chúng tiên nghe ke rồi vui mừng được mắt trí, đều chấp tay hướng về Đức Phật.

Bấy giờ, Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:

–Này các Tỳ-kheo! Các vị có thấy những vị tiên ở Diêm-phù-đề trói tay chân, tự treo thân trên cây, không ăn uống để giư trai giới, mặc áo vỏ cây, nằm ở trên đất chăng? Hoặc ở trên đá dùng hai tay bụm lấy thức ăn rồi mở tay ra mà ăn, hoặc hít thở không khí làm thức ăn, hoặc có người mười lăm ngày không ăn để giữ trai giới hoặc có người một tháng không ăn để giữ trai giới, khiến cho râu, tóc, móng tay đều dài ra, ba thời sáng, trưa, chiều đều tụng kinh. Có loại tài sản của dòng họ, có loại tài sản do phước đức, trước tiên chú nguyện các vật rồi đặt vào trong lửa, để cúng dường lửa; còn nằm thì nằm ở dưới đất, có người nằm ở đất trống, có người nằm nơi gốc cây, có người tự trói tay mình trên cây mà ngủ. Hoặc có người ngồi chồm hổm mà ngủ, hoặc có người ơ trong nước mà ngủ, rồi dùng năm thứ nóng để nướng thân. Có người tự nằm trên lửa để nướng thân, có người nằm dưới ngọn gió cháy rực, có người nằm trên gai, có người nướng thân dưới mặt trời chịu đau đớn để mong cau phước, tự lừa dối thân để cầu ở chỗ thuận tiện, chủng tánh tôn quý, tâm cho là đủ, tâm cho là vui mừng, xa lìa trí vô thượng. Này các Tỳ-kheo! Vị Đại Tiên nhân này không thể biết được sự giải thoát sinh tử, do tham dục, si mê lại sinh trong các cõi, tự cho là chánh hạnh mà không biết đó là sai lầm.

Lúc đó, các Tỳ-kheo đảnh lễ Đức Phật và thưa:

–Bạch Thế Tôn! Chúng con có đầy đủ phạm hạnh chân chánh, cùng nhau hòa hợp xa lìa các cõi.

Vị Đại Tiên nhân Tỳ-da-sa kia, thấy năng lực oai đức của A-lahán mà sinh lo sợ, nhìn một cách chăm chú, tâm ý kính trọng, nhất tâm chuyên ý, cùng đi với các vị tiên nhân quyến thuộc, quấn gọn mái tóc về một chỗ rồi dùng dây đẹp đeo trên thân, hình thể đen đủi, hai mắt vàng khè, đầu tóc khô cứng kết bện vào nhau, tay cầm ba khúc cây to, đồ vật đặt trong bình là thứ xấu nhất trên đời, các thứ ngôn ngữ đều khéo léo, vì thành tựu môn ngôn ngữ, đi trong hư không đến chỗ Như Lai thưa:

–Bạch Thế Tôn! Ngài nên biết ý nghĩa này, vì nhân duyên gì mà con và các quyến thuộc đến đây?

Đức Phật bảo:

–Này Đại tiên! Ta đã biết rõ tất cả loài có sự sống và tất cả các pháp.

Bấy giờ, A-nan-đà bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Vị Đại tiên búi tóc đứng giữa tiên chúng với tâm trí sáng suốt biết rõ cùng tận mọi chuyện và không hề có thái độ sợ hãi tên là gì?

Đức Phật dạy:

–Này A-nan! Đó là vị tiên nhân tên là Tỳ-da-sa, người sáng tác ra bốn bộ Tỳ-da của Bà-la-môn, khéo rõ biết văn luận thế tục.

Bấy giờ, các vị A-la-hán thấy Đại tiên Tỳ-da-sa rồi đều suy nghĩ: “Vị tiên này chịu khổ chuyên cần trì giới có được sở đắc gì? Tỳda-sa này chưa được giải thoát khổ não sinh tử”. Các vị A-la-hán lại nghĩ như vầy: “Tiên Tỳ-da-sa này đến chỗ Đức Phật sẽ thưa hỏi đều gì, hỏi về nhân duyên, hay vô ngã?”.

Khi đó, Tiên Tỳ-da-sa thưa Thế Tôn:

–Bạch Thế Tôn! Sinh ra đời gặp Phật là rất khó, hôm nay chúng tiên nhân cùng hội tụ về đây, con có đôi điều muốn hỏi. Cúi xin Thế

Tôn giảng giải cho.

Đức Phật bảo:

–Này Đại tiên! Ông cứ tự nhiên thưa hỏi. Tùy theo ý nghĩ của ông thưa hỏi, Ta sẽ giảng giải cho ông.

Tiên Tỳ-da-sa thưa:

–Bạch Thế Tôn! Thế nào là bố thí? Vì sao phải bố thí? Nghĩa bố thí là gì? Thế nào là thí chủ? Thí chủ có nghĩa là gì? Thế nào là người bố thí chẳng gọi là thí chủ? Thế nào không cho mà được gọi là thí chủ? Thế nào là người chết rồi bố thí mà phước đi theo? Phước bố thí thế nào? Có hình tướng không? Tụ tập lại có thể thấy hay là không thể thấy? Phước bố thí của thí chủ ở đâu, tại người thọ nhận hay ở người cho? Bạch Thế Tôn! Sau khi Ngài nhập diệt, cúng dường tháp như thế nào để được phước báu?

Bấy giờ, Thế Tôn bảo:

–Này Đại tiên Tỳ-da-sa! Những điều ông hỏi thật vi tế, ông có biện tài không thể nghĩ bàn mới có thể hỏi như vậy.

Bấy giờ, Trưởng lão Xá-lợi-phất tóc bạc mặt nhăn, lông mày phủ mặt, đưa tay đỡ long mày, kéo dài hơi thở, ngắm nhìn hồi lâu mới nói:

–Đại Tiên nhân Tỳ-da-sa này có danh tiếng lớn, mọi người đều biết và nói đến, đâu có thể không biết như những người ngu si hay trẻ nít không có trí tuệ ở đời mà khong hỏi về nhân duyên hay vô ngã những giáo pháp thâm sâu, những điều hiểu biết tốt đẹp, ngôn ngữ trí tuệ mà lại hỏi về pháp bố thí như thế?

Khi ấy, Tôn giả A-nan đảnh lễ sát chân Phật bạch:

–Bạch Thế Tôn! Đại tiên Tỳ-da-sa này hỏi về quả báo của sự bố thí, con cũng có thể giải nói.

Đức Phật dạy:

–Này A-nan! Đây chẳng đúng lúc, nếu hỏi Như Lai mà hàng Thanh văn giải đáp thì không thích hợp. Thôi đi A-nan, không có đạo lý này.

Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Tùy theo ý tiên nhân hỏi như thế nào thì con cũng có thể giảng giải đầy đủ theo ý đó.

Đức Phật bảo:

–Này Xá-lợi-phất! Thầy nói quá vội vàng, tâm không suy nghĩ. Này Xá-lợi-phất! Chớ nói như vậy, điều này không thích hợp. Vì nếu hỏi Ta mà hàng Thanh văn đáp thì điều này không thích hợp, vì sẽ có người cho rằng Đức Như Lai chẳng phải bậc Nhất thiết trí, hoặc sẽ có người lại nói, tiên Tỳ-da-sa đến hỏi Như Lai, vì không có khả năng giải đáp nên giao cho hàng Thanh văn đáp; hoặc có người cho rằng, Như Lai còn có ngã mạn, biết mà không giải đáp.

Lúc đó, chư Tỳ-kheo nghe Đức Phật nói như vậy rồi đều sinh lòng tin thanh tịnh, bạch:

–Bạch Thế Tôn! Đại tiên Tỳ-da-sa kia có điều thưa hỏi, xin Thế Tôn giải đáp để có thể đoạn trừ hết nghi vấn của tiên nhân.

Đức Phật bảo Đại tiên Tỳ-da-sa:

–Đại tiên hãy lắng nghe quả báo của việc bố thí và bố thí có ý nghĩa gì? Khi đã bố thí rồi thì tự mình được ăn uong, được thanh tịnh, khi thí rồi thì được quả báo nên gọi là bố thí. Do nghĩa nào mà gọi là thí chủ? Đại tiên hãy lắng nghe, nếu người có tài vật mà phát sinh tín tâm, rồi đem tài vật giao cho người khác sai đến nước khác bố thí thì người chủ kia được phước chứ chẳng phải phước của người bố thí. Người được sai kia tuy cầm vật bố thí nhưng chẳng phải là người bố thí. Nếu người có vật tự tay bố thí thì gọi là người bố thí cũng gọi là thí chủ. Đại tiên nên biết, có ba mươi ba hạng người bố thí chẳng thanh tịnh. Những gì là ba mươi ba?

  1. Người có tâm tà, thấy biết điên đảo, không có tâm tịnh mà bố thí. Người bố thí như vậy chẳng phải bố thí thanh tịnh.
  2. Người vì báo ân mà bố thí tài vật thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  3. Người chẳng có lòng thương mà bố thí thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  4. Người vì tâm ham muốn mà bố thí thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  5. Người bố thí vật cho lửa cũng chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  6. Người bố thí vật cho nước thì cũng chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  7. Người người khởi tâm như vầy: “Ta bố thí vật cho vua hy vọng được vua biết đến”. Bố thí như vậy chẳng phải la bố thí thanh tịnh.
  8. Người người vì sợ giặc mà thí vật cho chúng thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  9. Người bố thí chất độc thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  10. Người bố thí đao thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  11. Giết người lấy thịt mà bố thí thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  12. Thâu phục chúng sinh, bình đẳng bố thí và tập trung nuôi dưỡng mong được sức mạnh của họ thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  13. Người vì danh vọng mà bố thí tài vật thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  14. Người người vì ca hát vui chơi mà bố thí cho ca kỹ thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  15. Người vì năm cùng, tháng tận, phá tan tài vật thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  16. Người vì sự cố về nhà cửa mà bố thí tài vật thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  17. Người vì bạn hữu mà lấy vật của người khác trao cho thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  18. Có người hoặc ở trên đồng ruộng hoặc trong nhà có nhiều lúa, lúa tẻ bị nai, chim, chuột ăn mà người đó không vui lòng thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  19. Có người vì sự học nghề mà bố thí tài vật cho thầy thợ, thì chẳng phải là bố thí thí thanh tịnh.
  20. Có người thân nhiều bệnh hoạn, lo sợ cái chết mà bố thí tài vật cho thầy thuốc thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  21. Có người đánh mắng người khác rồi lòng sinh hối hận hổ thẹn nên đem vật bố thí thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  22. Nếu có người đã bố thí rồi mà sinh tâm nghi ngờ là có được quả báo không thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  23. Có người bố thí rồi mà trong lòng bực bội hối tiếc thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  24. Có người bố thí vật cho người khác rồi mà suy nghĩ như vầy: Những người này lấy vật của ta thì phải phụ thuộc vào ta và làm theo ta. Bố thí như vậy chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  25. Người bố thí rồi mà nghĩ như vầy: Bố thí như vậy phước báo thuoc về ta không thuộc về người khác thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  26. Có người lúc trẻ trung thì không bố thí, đến lúc tuổi già do bị bệnh khổ, hoặc lúc sắp chết, tay chân rời rã, thân thể khổ não giày vò sắp đến cõi chết, tâm không thanh tịnh, không có lòng tin chân chánh, sứ giả của Diêm-la đùa cợt trước mặt, quyến thuộc nhìn ngó khóc than mới bố thí thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  27. Có người bố thí vì danh tiếng như muốn tên mình lan khắp các nước, mọi thành thị mình là đại thí chủ. Người bố thí như vậy chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  28. Nếu cho người khác mà thay đổi, ganh ghét như khi thấy người khác thực hành bố thí nhiều tài vật liền sinh tâm ngạo mạn không chịu nổi, do lòng ganh tị với người kia nên bố thí tài vật thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  29. Có người muốn chiếm đoạt người nữ nên đem châu báu, vàng, bạc, kim cương, tỳ-lưu-ly, áo quần lụa là, và mọi thứ vật dụng cho dòng họ của người nữ ấy, thì các bố thí như vậy chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  30. Có người suy nghĩ như vầy: Bố thí vật cho mọi người vì ta không có con mà của cải thì nhiều nên phải bố thí. Bố thí như vậy chang phải là bố thí thanh tịnh.
  31. Có người sinh tâm tính toán như vầy: Nếu ta bố thí cho người này thì có phước đức, còn bố thí cho người kia thì không có phước đức. Bố thí như vậy thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.
  32. Người bố thí mà xa lánh người bần cùng, y áo rách nát, dơ bẩn, lại cho người giàu sang phú quý thì chẳng phải gọi là bố thí thanh tịnh.
  33. Nếu người mong cầu được quả báo tốt đẹp mà bố thí cho người khác thì chẳng phải là bố thí thanh tịnh.

Này Đại tiên! Ông nên biết, đối với ba mươi ba loại bố thí cấu nhiễm này mà xả bỏ tài vật có được phước báo của sự bố thí kia thì cũng giống như có người đem các hạt giống gieo trồng trên ruộng muối, thì những hạt giống sẽ bị thối nát hư hoại không thành. Đại tiên nên biết! Hạng người ấy tuy có bố thí nhưng chẳng được quả báo tốt đẹp. Lại nữa Đại tiên, ví như người có được các loại hạt giống rồi đem gieo trồng ở ruộng hoang, những hạt giống ấy nương nơi đất đó lại gặp mưa, hoặc bị hư hoại hay dù có nảy mầm mọc lên đi nữa thì chắc chắn không đem lại thành quả tốt. Việc bố thí này không được kết quả cũng như vậy. Thế Tôn giải đáp như thế rồi, Đại tiên Tỳ-da-sa chấp tay hướng về Đức Phật thưa:

–Như Lai Thế Tôn là bậc Nhất thiết trí dùng lời thích hợp giảng dạy về quả báo của sự bố thí đã tạo lợi ích an lạc cho chúng sinh. Bạch Thế Tôn! Thế nào là bố thí mà không mất quả báo? Bố thí cho cả hai hạng người có trì giới và không có trì giới thì nghĩa đó như thế nào?

Phật dạy:

–Này Đại tiên! Nay ông hãy lắng nghe về phước báo của sự bố thí. Nếu người có lòng tin bố thí cho tất cả thì gọi là bố thí. Họ không lo đến vị lai mà thực hành bố thí, không xem thường hủy nhục người khác mà thực hành bố thí, do vậy mới gọi là bố thí. Đại tiên nên biết, lại có người bố thí mà không chọn lựa ruộng phước dù người trì giới hay không trì giới chỉ với đức tin để khai mở mắt trí, phát sinh lòng kính mến mà cúng thí, tâm thường duyên khắp tất cả chúng sinh. Đại tiên nên biết, với thí chủ thì có đầy đủ năm loại thí chủ. Những gì là năm?

  1. Bố thí đúng lúc.
  2. Bố thí cho người hành đạo.
  3. Bố thí cho người bệnh và người chăm sóc bệnh
  4. Bố thí cho vị rường cột đạo pháp.
  5. Bố thí cho người sắp đi nước khác.

Lại có năm loại thí. Những gì là năm?

  1. Bố thí chánh pháp.
  2. Bố thí tiền của để sinh sống.
  3. Bố thí nhà cửa.
  4. Bố thí đèn sáng.
  5. Bố thí hương hoa.

–Bạch Thế Tôn! Thế nào là bố thí thanh tịnh?

Đức Phật dạy:

–Này Đại tiên! Nếu người có lòng tin ưa chúng sinh mà thường khởi tâm từ bi, tâm hoan hỷ, xả vật bố thí, rồi vì những điều thanh tịnh đó và nguyện xin giải thoát, thì bố thí như vậy tức là thanh tịnh.

Lại có năm loại bố thí vô thượng. Những gì là năm?

  1. Cúng dường Như Lai là vô thượng.
  2. Cúng dường chúng Tăng là vô thượng.
  3. Cúng dường Pháp khí là vô thượng.
  4. Cúng dường cho cha mẹ là vô thượng.
  5. Bố thí cho nhà vua mất ngôi bần cùng là vô thượng.

Bố thí như vậy là bố thí vô thượng. Hoặc bố thí cho người già nua cô quạnh tật bệnh gọi là bố thí lớn. Hoặc người làm cho vua nổi giận phải bị tội hành hình, hoặc người bị nạn nguy khốn đến tính mạng vì để cứu mạng sống những người kia nên không tiếc thân mình mà thí xả tài vật cho người kia là bố thí lớn. Bố thí thuốc men cho người bệnh tật là bố thí lớn. Hoặc đối với chúng Tăng giữ giới đầy đủ mà bố thí theo thời là bố thí lớn. Cung cấp cho người cầu trí tuệ là bố thí lớn. Hoặc bố thí cho súc sinh có sự sợ hãi như là chồn, nai v.v… là bố thí lớn. Hoặc bố thí cho người khốn khổ thiếu thốn tùy nhu cầu là bố thí lớn. Đại tiên nên biết, đây là bố thí lớn, cần phải tu tập đúng đắn. Lại có người được người khác sai đem tài vật đi bố thí mà chính người đó có tâm thanh tịnh thì cũng được phước bố thí. Hoặc có người thấy người khác bố thí mà sinh tâm tùy hỷ thì cũng được phước bố thí. Những người khuyến khích bố thí hay người bố thí đều được phước báu lớn. Nói chung tất cả các người biết cách bố thí như vậy đều có quả báo tốt đẹp.

Lại nữa, này Đại tiên! Như trước ông đã hỏi, sau khi Thế Tôn nhập Niết-bàn, vì sao cúng dường tháp miếu mà được phước báo? Đại tiên, ông nên biết, nếu có người đối với Ta sau khi nhập Niết-bàn mà thiết lễ cúng dường, hoặc lại có người Ta chưa Niết-bàn, hiện còn tại thế mà cúng dường Ta, thì phước báo mà cả hai đạt được đều giống nhau không khác. Vì sao? Vì Như Lai là pháp thân chẳng phải là sắc thân. Nếu ai cúng dường khi Ta còn trụ thế hay sau khi nhập diệt mà cúng dường với tâm bình đẳng thì được phước báo không khác. Đại tiên nên biết, Như Chuyển luân vương truyền lệnh khắp các cõi nước: “Tất cả dân chúng bắt đầu từ nay không được giết hại chúng sinh, không được vọng ngữ”. Người nào đó khi nghe vua ban lệnh tuy không thấy vua nhưng hoàn toàn tuân hành mệnh lệnh của vua. Người như vậy tuy không cúng dường thân của Chuyển luân vương nhưng nhà vua đối với người kia tâm sinh vui mừng. Người này hoàn toàn tuân hành mệnh lệnh của vua do không giết hại chúng sinh nhờ nhân duyên nghiệp thiện nên được quả báo sinh về cõi trời. Đại tiên nên biết, nếu người không thấy tướng sắc thân của Ta, không tu học giới luật thì chứng đắc được gì. Nếu người thấy được Ta mà tâm tà kiến như Đề-bà-đạt-đa thì bị đọa vào địa ngục. Nếu người đối với Ta sau khi nhập Niết mà khéo học giới thì nên biết, người kia hơn hết. Đại tiên nên biết, hôm nay sắc thân tối thắng của Ta đã chứng Nhất thiết trí, đối với chúng sinh không có đức tin thì cũng có thể làm cho họ học giới, huống nữa là người có lòng tin. Người đối với Ta sau khi nhập Niết-bàn mà cúng dường là người nay đang cúng dường Ta không có gì sai khác. Đại tiên nên biết, ví như cỏ lau sậy rậm rạp trong rừng sâu, trong đó lửa bùng cháy, nếu lúc đó có một trận mưa thì sẽ dập tắt chỗ cháy đó. Cũng thế, tùy theo thí chủ bố thí, phước đức đầy đủ thế nào thì cơn mưa thấm nhuần phước đức như vậy, tức nương vào thí chủ mà không rơi vào nơi nào khác. Đại tiên nên biết, phước đức của bố thí chẳng có chứa nhóm, cũng chẳng có hình tướng. Như thế, người đã bố thí sau khi qua đời thì phước đức của bố thí ấy không xa lìa, như bóng theo hình. Đó gọi là người bố thí được quả báo phước đức, phước quả không mất. Ví như cây mía, trái nho lúc chưa ép thì không được mật, có ép mới được. Nhưng nước mật kia chẳng phải trong cây mía hay trong trái nho, hiện tại do hòa hợp các điều kiện mà thấy có nước mật, chẳng phải tự ở trong tiết ra cung chẳng phải không có mật. Bố thí tài vật cũng vậy, quả báo của sự bố thí cũng vậy, đối với thí chủ thì nó chẳng ở trong tay, chẳng ở trong tâm, chẳng ở trong bụng, nhưng nó cũng không rời xa thí chủ, cũng như nước mật kia không rời cây mía hay trái nho. Như vậy, phước báo của bố thí không xa lìa thí chủ, chưa chín thì chưa lãnh thọ, mạng sống chưa hết thì không được quả báo của bố thí. Ví như hạt Ni-câu-đà của thọ vương, hạt của nó rất nhỏ, gieo xuống đất thì chẳng thấy, đến khi mọc cây mới có thể thấy được. Phước báo bố thí của thí chủ cũng như vậy, khi các duyên chín muồi mới được phước báo. Ví như người buôn mang rất ít hành trang vào trong thành lớn, thành ấy rất khan hiếm vật dụng, nên họ thâu lợi nhuận rất nhiều. Bố thí cũng vậy, bố thí tuy ít nhưng được phước đức lớn. Lại như ong lấy mật hoa mà không làm tổn hại đến hoa. Thí chủ cũng vậy, tùy theo sự bố thí thế nào thì được năng lực phước báo như thế, đó là thí chủ. Đại tiên, thế lực phước đức của sự bố thí của thí chủ cũng như vậy. Nói thí chủ là do tự mình bố thí nên được gọi là thí.

Thế nào là người thọ? Thọ nhận sự bố thí của người khác, có thể tiêu vật của người đó, cho nên gọi là người lãnh thọ. Lại hỏi: Thế nào là phước đức của sự bố thí? Ở trong thế gian có thể giúp đỡ, cứu hộ, có thể làm đầy đủ để được làm thân trời người nên gọi là phước đức. Nói về đời khác là, tuần tự chuyển đổi sự sống đến thân đời sau nên gọi là đời khác.

Bấy giờ, Đại tiên Tỳ-da-sa bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Con đã xa lìa tâm nghi ngờ đã rõ chắc chắn về phần bố thí nhưng còn có điều nghi vấn. Bạch Thế Tôn! Thần thức trong thân chuyển đổi thế nào? Sao thấy được thần thức? Trong thân người, thần thức tham luyến như thế nào?

Đức Phật dạy:

–Này Đại tiên! Ví như vị vua của một nước ở trong thành lo sợ quân địch nên trước tiên lo đào hào đắp lũy xung quanh thành, tích chứa lương thực, cung tên giáo mác, đủ các loại binh khí, tập trung nhiều người khỏe mạnh có thể chiến đấu, lập thành đoàn quân dũng mãnh, cũng quy tụ nhiều thiếu niên mạnh mẽ, cấp cho họ lương thực, ra lệnh các hàng rượu bày nhiều loại rượu ngon, thu nhận người xuất gia bố thí cúng dường, dùng tài vật quý giá để thâu nhận mọi người, đã làm như vậy rồi, lớn tiếng bảo: “Hãy vững tâm chớ dao động. Hãy trang bị binh khí tay cầm cung tên, thân mặc áo giáp rút đao cảnh giác đề phòng”. Dạy như vậy rồi, đội quân nước khác tiến đến rất nhiều voi ngựa. Lúc đó, nhà vua an ủi các binh chủng: Hãy dốc hết sức lực chớ lo sợ, nơi thành lũy nếu chỗ nào không được bền chắc thì phải thường xuyên đề phòng canh giữ thật tốt. Tất cả đều chuẩn bị như vậy nhưng đến khi phước đức của vua đã hết roi sẽ bị quân địch tiêu diệt, chỉ trong chốc lát bị thua trận phải bỏ nước ra đi. Thần thức cũng vậy, trú ẩn trong thành thân người nhập vào trong vua, khi thấy quân vô thường đến thì sinh lo sợ, liền đào hào đắp lũy tín tâm, bờ cao trì giới, khoác áo giáp ức niệm, phát khởi tinh tấn, dùng Tạng pháp làm nhiệt huyết, khéo điều phục ngựa tâm, lúc đó tuyên cáo với mọi người: “Hãy làm những việc cần làm”. Nếu có năng lực lớn và vô lượng năng lực thì khi quân vô thường kéo đến công phá thành thân thì nhanh chóng mặc áo giáp bố thí, cầm gương trí tuệ, khí giới tâm quý, an trí tương ứng, hộ trì giới vững chắc. Giữ vững như vậy, nếu quân vô thường kia bỗng nhiên kéo đến, tức thời cùng nhau giao chiến, kịp chống trả lại. Nếu quân vô thường thắng trận thì thức liền bỏ đi, như vua trong thành bỏ thành mà đi. Thức cũng như thế, ở trong căn đại giới trong thân hòa hợp, khi thân đã hoại, sáu nhập mất rồi thì xả bỏ thân thành kia, như thành bị đánh tan thì vua bỏ thành chạy thoát. Vị vua kia đã bỏ thành này rồi lại đến trú thành khác. Thức cũng như vậy, bỏ thân này rồi đến gá vào thân khác. Thế nên biết thức này và vua không khác.

Bấy giờ, tiên Tỳ-da-sa bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Thức như vậy thì vì sao biết thân có phước đức hay không phước đức? Thức này làm thế nào để biết là mình xả bỏ thân này?

Đức Phật bảo:

–Này Đại tiên! Ví như người đi đường, gặp sóng lớn, nước sông dâng cao, vì qua sông đó nên phải lên bè lớn. Dòng sông kia sóng đã mạnh dữ dội, nước lại rất đục, lại có những loại sinh vật hung dữ như Na-ca-la-thư, Thư-ma-la, rắn nước, rái dữ, lại có gió độc lớn thổi xoáy tròn. Nhờ chiếc bè ấy nên sang được bờ bên kia bình an vô sự. Người đó ở nơi dòng sông dữ dội đó vô cùng sợ hãi như trong chốn hãi hùng. Người này khi đã vượt qua sông rồi liền đi quanh chiếc bè ba vòng, sinh tâm luyến tiếc nghĩ: “Lành thay, tôi nhờ bè này mà mình có thể vượt qua dòng sông lớn này”.

Này Đại tiên! Cũng vậy, người có phước đức sau khi mạng chung, thức nghĩ thế này: “Do thân này của tôi mà được sinh về đường lành, sinh lên cõi trời. Khi ta làm thân người được lợi ích chẳng luống uổng. Thân chết này của ta giống như chiếc bè bền chắc có thể khiến ta vượt khỏi dòng nước lớn, trên con đường hiểm. Thân của ta rất tốt đẹp thật đáng cúng dường. Thân như vậy không luống dối ta. Trong tội lỗi của sinh tử, ban cho ta lên cõi trời”. Nghĩ như thế rồi, đối với thân sinh tâm thân kia như chiếc bè, xả bỏ thân kia rồi, tìm đến giới khác.

Lại có người không có phước đức thì thức tâm người ấy như người đi bè xấu hư để qua sông lớn. Bè kia bị vỡ hoặc bị chìm, người ấy lo âu sợ hãi nghĩ: “Ta nay chẳng bao lâu sẽ chết cũng như nương vào bè hư, thật đáng lo sợ theo dòng nước trôi giạt vào chốn rất khủng khiếp có nhiều thú dữ như sư tử, hổ v.v… Sau đó vượt qua được sông lớn rồi, người ấy giận ghét, nguyền rủa chiếc bè hư thế này: “Thứ điên đảo, làm ác, sao lại lênh đênh trên con sông sóng dữ đục ngầu này, khiến cho ta bị rơi vào chỗ ác như vậy? Ta ở trong chiếc bè này cuối cùng đạt được năng lực gì, dùng chiếc bè này để làm gì?”. Nói như vậy rồi liền bỏ chiếc bè đó. Cũng như thế, tâm thức của chúng sinh nương vào thân không phước đức thì tùy theo dòng chảy mà bị thoái lui, đọa vào chốn địa ngục, rồi quở trách thân này, nói như vầy: “Ta đã bị nghiệp gì mà phải nhận quả báo thân ác này? Thân như loài Yết-na. Ta dựa vào thân này như dựa vào loài Yết-na. Nay, ta rất ác do thân mục nát này đến cửa địa ngục, giống như tơ của hoa sen tự vấn lấy thân”.

Đại tiên nên biết, thức cũng như vậy, neu phước đức hoàn hảo thì như nương vào chiếc bè tốt được vượt qua sinh tử. Nếu không có phước đức thì như nương vào bè hư mục, bị đọa đường ác. Đó là hai loại thân có phước đức và không có phước đức, cần phải biết.

Lai nữa, thức này khi chuyển bỏ thân này thì được thân thứ hai. Trước hết ở trong thai mẹ vừa được bảy ngày liền nhớ biết như vậy: “Ta từ nơi kia sinh vào đây”. Cũng có thể nhớ biết nghiệp trước đã làm: “Ta đã tạo nghiệp này”. Nếu tạo nghiệp thiện thì tâm sinh vui mừng ngay trong thai mẹ, khiến cho mẹ vui cười, hiện nhiều tướng lành: Mặt mẹ luôn vui vẻ tươi đẹp, tùy theo việc mà hành động, phần nhiều dùng chân phải giẫm mạnh xuống đất, vô cớ tay thường xoa hông phải, thích mặc y phục trắng sạch, đeo đồ trang sức xinh đẹp. Chúng sinh có thức phước đức như vậy, trụ trong thai mẹ, tướng hiện như thế.

Đại tiên nên biết, nếu thức vô phước thì khi mới thọ sinh trong bảy ngày, có thể nhớ biết: “Ta từ nơi kia mà sinh đến đây”. Cũng có thể nhớ biết nghiệp trước đã tạo, nghĩ: “Ta đã tạo nghiệp ác”. Nhớ nghĩ như vậy nên lòng sầu não lo âu, vì lòng lo âu nên khiến mẹ hiện tướng bên ngoài. Chúng sinh không có phước đức, không làm việc thiện đó ở trong thai mẹ khiến hiện ra tướng bên ngoài, như thân hôi hám lại gầy gò, tâm phiền muộn thường ói mửa, choáng váng mặt mày. Chúng sinh như vậy khi mới ơ trong thai mẹ, liền khiến cho gia đình đó gặp hoạn nạn hay bệnh hoạn. Chúng sinh vô phước tạo nghiệp ác như vậy, khi sắp sinh ra hoặc có thể làm mẹ chết, hoặc chết ngay trong thai. Chúng sinh vô phước có tướng như thế.

Khi ấy, Đại tiên Tỳ-da-sa bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Thức tâm ban đầu này khi mới nhập thai thì nhớ nghĩ và thấy biết những gì?

Đức Phật dạy:

–Này Đại tiên! Thần thức ấy lúc mới sinh ra nhớ nghĩ và thấy biết những nơi vui chơi trong rừng, cung điện lầu gác, ao hồ sông nước quanh co, đầm chầm rộng rãi, đủ loại nhà cửa. Ở cõi Diêm-phù-đề này có nhiều người thương yêu như cha mẹ anh em. Thấy biết như vậy rồi, vô cùng yêu mến, phước đức cùng tụ tập, tương nhiếp với nhau, có người bố thí lại có người nhận vật. Lại có thể biết các việc làm ở đời quá khứ, nhớ biết vô lượng trăm đời, vô lượng ngàn đời quá khứ. Thức đó luôn luôn nhớ nghĩ như vậy, đã nhớ nghĩ rồi, sinh tâm ưa thích, có thể biết như vầy: “Người mẹ này ở quá khứ đã năm trăm đời làm mẹ của ta”. Người ấy đã nhớ nghĩ như vậy, đối với nơi sinh đến không còn ý thích, tâm ý nhàm chán nghĩ: “Ta đã nhiều lần chết đi sống lại ở nơi này rồi từ nay về sau không còn muốn sinh tử nữa, cũng không nhập thai nữa”.

Đức Phật giảng rồi, Đại tiên Tỳ-da-sa hỏi Phật:

–Bạch Thế Tôn! Thức ấy trong sinh tử muốn thoát ly có được chăng?

Đức Phật bảo:

–Này Đại tiên! Không thể được, chưa phải lúc, chưa phải nơi. Lúc đó thức kia không có sắc chẳng thấy không có ánh sáng. Cảnh giới thức như vậy chẳng phải ở nơi đó mà được thoát ly. Trong cõi hữu vi luôn luôn còn tái sinh. Nếu có một chúng sinh được thoát ly như vậy thì người có phước và kẻ vô phước đều đạt đến Niết-bàn. Nghĩa đó là như thế.

Đại tiên nên biết! Nếu thức tâm kia suy nghĩ như thế thì thức tâm đó có năng lực rất thù thắng. Nên biết như thế chẳng phải là năng lực của thân. Đã gọi là thức thì thế nào gọi là thức biết? Do tập hợp nên biết suy nghĩ, do biết nên gọi là trí, vì vậy gọi là thức biết. Nghĩa thức như vậy, Đại tiên nên biết. Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ:

Đề phòng các oan gia
Nhóm họp tạo phiền não
Có biết, có không biết
Ngu, tuệ đi với nhau.
Thấy kiêu mạn, vô minh…
Tất cả đều biết rõ
Ba thứ không lìa thức
Chẳng phải nơi khác có.
Cùng tương quan thành thức
Một bánh chẳng phải xe
Hai bánh cũng chẳng thành
Có người lại có trâu.
Xe đủ căm và trục
Hai bánh cùng tương ứng
Vòng ách và giây cương
Như vậy gọi là xe.
Xe thân cũng như vậy
Do các giới hòa hợp
Lại có căn hòa hợp
Thức thấy xe thân kia.
Lóng đốt dính liền nhau
Gân mạch nối kết lại
Tóc, xương, răng và đầu
Được che phủ bởi da.
Sườn, ruột và bao tử
Bụng phổi và tim gan
Hòa hợp tất cả chúng
Đầy đủ gọi là thân.
Vua thức ở trong đó
Ngự trị điều khiển thân
Rõ biết tất cả pháp
Cho nên gọi là thức.

Này Đại tiên! Thức này vi tế không có hình sắc hay thể chất, chẳng có thể thấy được. Thức ấy chẳng có hình sắc chẳng có các màu xanh, trong sắc không có căn, nhưng nếu thức ấy lìa căn thì không có cảnh giới. Nếu người kinh động sợ hãi hoặc nghi ngờ suy tưởng, tất cả đều là năng lực của thức.

Bấy giờ, tiên Tỳ-da-sa lại bạch Phật:

–Bạch Thế Tôn! Bản tánh của chúng sinh thế nào? Thế nào là sinh ở cõi trời? Thế nào là sinh nơi ngạ quỷ? Thế nào là sinh nơi súc sinh? Thế nào là sinh nơi địa ngục? Thế nào là sinh căn lành? Sao người căn lành được sinh lên trời? Do nghiệp gì mà phải sinh vào loài súc sinh? Do nghiệp gì mà sinh vào ngạ quỷ? Do nghiệp gì mà sinh vào địa ngục?

Đức Phật bảo Đại tiên:

–Này Đại tiên! Ông nên lắng nghe, Ta sẽ giảng nói cho ông rõ. Bản tánh của chúng sinh phàm phu suy kém, nhưng nếu sinh khởi phước đức thì pháp này chỉ có bậc Nhất thiết trí mới biết được, chẳng phải là cảnh giới mà hàng tiên nhân chứng đắc ngũ thông biết được, cũng chẳng phải là hàng trời, hàng Phạm-a-già-ni có thể biết. Đây là cảnh giới biết của bậc Nhất thiết trí. Pháp này còn chẳng phải là chỗ biết của hàng Thanh văn huống nữa là các địa vị khác có thể biết được.

Đại tiên nên biết, nếu hàng đệ tử Thanh văn của Ta đã xa lìa ba cấu chứng đắc quả vị thứ nhất, thì cảnh giới mà họ biết, các vị trời lớn trong cõi trời, tất cả đều không biết, chẳng phải là cảnh giới hiểu biết của hàng tiên nhân y như ông, thậm chí chẳng biết được tí nào cả.

Nghe Đức Phật nói như vậy rồi, tiên Tỳ-da-sa tự nghĩ: “Sinh tử đã lừa dối ta”. Nghĩ xong liền đảnh lễ dưới chân Như Lai, thưa:

–Bạch Thế Tôn! Nay con đã già nua, thân thể suy hoại, không có nhớ nghĩ, chẳng có thể đắc quả, không có khả năng gánh vác gánh nặng Bồ-đề, kể từ nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tăng. Từ ngày hôm nay cho đến khi mạng chung, con xin thọ Tam quy y. Xin Đức Thế Tôn chỉ dạy cho con và đệ tử để được lợi ích an vui. Đức Thế Tôn là bậc Nhất thiết trí, là mặt trời để trừ bóng tối phiền não. Xin Thế Tôn nói về bản tánh của chúng sinh này thác sinh về cõi trời.

Đức Phật dạy:

–Này Đại tiên! Nay đã đúng lúc, Ta sẽ nói cho ông. Đại tiên nên biết, nếu người dùng tràng hoa thơm mà cúng dường, tâm ưa thích tu hành tương ưng với tín tâm, thì sau khi chết được sinh về cõi trời Mạn Trang Nghiêm. Khi người đó sắp chết, trong thân có hương thơm tỏa sắc. Lại, khi sắp chết, tự thấy có vòng hoa đủ các màu sắc rải trên thân mình. Khi đó những người thân thuộc như cha mẹ, anh em tay cầm hương hoa đến cúng dường, cảm thương than khóc. Khi ấy, gương mặt người kia tươi sáng mắt nhìn chăm chú bất động, tay chân xuôi thẳng rồi xả thân mạng. Khi người kia sắp chết thấy có tướng thù thắng, nghĩa là thấy gò nổng, thấy vòng hoa tươi đẹp, thấy trăm ngàn thiên nư xinh đẹp vây quanh và các cung điện của cõi trời. Thấy như vậy rồi người kia nói với các bà con anh em: “Ở trong mộng tôi thấy một khối lớn nhiều loại châu báu, các loại trang sức, tung rải nhiều thứ hoa thơm”. Nếu người bệnh nói như vậy thì nên biết sẽ có hiện các tướng này, nên lúc mạng chung người đó sẽ sinh đến cõi trời Mạn Trang Nghiêm. Người đó lúc sắp chết thấy cha mẹ hòa hợp trong phòng, thấy rồi liền thác sinh. Khi ở cõi trơi Mạn Trang Nghiêm có hai loại căn hòa hợp để hành dục cũng như nam nữ của cõi Diêm-phùđề không khác. Có cách đặc biệt là bất tịnh không xuất, khi tâm dục phát khởi, hai bên biết nhau rồi, thì thân hòa hợp, khi đó gio ái dục xuất hiện thì thọ dục lạc ngay lập tức và trải qua bảy ngày trong thai mẹ trời. Tròn bảy ngày, từ hông phải hạ sinh, ngay khi sinh có hương hoa thơm ngát thật dễ chịu. Trước ngực đứa bé sơ sinh đó hiện tướng tràng hoa đẹp đủ các loại hoa, lại có hương thơm vi diệu theo gió xông khắp đến cả do-tuần. Khi ấy lại có tràng hoa đủ màu sắc xuất hiện, đó là màu trắng đen vàng đỏ, màu tỳ-lưu-ly, màu nước diêm-phù, màu hoa sen đẹp đẽ thanh khiết, đủ các loại màu sắc: màu đồng, màu lửa, những tràng hoa đẹp ấy không úa tàn khi vị trời ấy chưa chết, thường thoảng hương thơm. Do ý nghĩa đó nên gọi là trời Mạn Trang Nghiêm. Ở cung trời Mạn Trang Nghiêm này có cây trời tuyệt đẹp không cao cũng không thấp, nước mật nó thơm ngon như nước cam lộ, cành cây rủ xuống rất sạch sẽ, đủ các loại rừng cây dày đặc khắp nơi, cây đều có quả đủ tám mùi vị ở cõi trời, hình lượng như trái Tần-loa, tùy ý nghĩ của vị trời ấy muốn ăn quả nào thì quả đó đều hiện ra. Trời ấy chỉ ăn thứ trái đó, gọi là đoàn thực. Ở nơi đó mặt đất không có gai gốc, chỉ toàn hoa đẹp, lại có chỗ có cỏ xanh mềm, lại có nơi phủ đầy cát vàng và có sừng vàng mọc lên, lại có chỗ nằm tự nhiên có các đồ trải, lại có các thiên nữ thanh vô cấu, vai quấn y tuyệt đẹp, cùng nhau vui đùa, trên thân đủ các loại y phục đẹp, ở nơi đó có niềm vui hơn hết. Vị trời ấy thọ đủ hai trăm năm. Lúc trời ấy sắp mạng chung, có năm hiện tướng:

  1. Cây trong vườn trời lá khô héo, cành cây rủ xuống, bông hoa mất mùi thơm.
  2. Cây kia bỗng nhiên không tươi tắn.
  3. Tràng hoa khô héo.
  4. Gió mát dịu biến thành gió nóng.
  5. Các thiên nữ tâm sinh thương xót đều sầu thương đồng than khóc nói kệ:

Trời đủ quả cam lồ
Tạo lợi ích cây trời
Lại có nhiều nữ hầu
Cõi trời vui thắng diệu
Khi phước trời đã hết
Xả bỏ rồi ra đi.

Các thiên nữ đi quanh vị trời ấy kêu khóc lớn: “Vô thường ác thay, không có lòng thương xót, do đó cho vị trời sinh tâm luyến ái, chẳng được tự tại, ở nơi này vị trời đó liền sinh xuống làm người”. Các thiên nữ áo não than khóc như vậy rồi, lúc ấy toàn thân thể Thiên tử đó bị phát nhiệt, đã phát nhiệt rồi, thân đều cháy hết như một ngọn lửa liền rời khỏi nơi đó. Thân tuy cháy nhưng không chịu khổ não, đã rời cõi đó rồi liền thấy cha mẹ trong cõi người đang hòa hợp, liền gá vào mà thọ sinh.

Đại tiên nên biết, khi Thiên tử ở cõi trời Mạn Trang Nghiêm thác sinh thì ở trong thai thế nào? Vị ấy ở bên hông mẹ thì người mẹ đó có tướng thù thắng. Nếu ở trong tạng thì người mẹ ưa thích mùi hương, ưa thích tràng hoa và ưa thích các cây rừng xanh tươi, tâm thọ dụng tùy thích. Tất cả niềm vui như vậy đều đầy đủ, thân chẳng thấy mệt mỏi. Lại nhờ phước của con ở trong thai nên người mẹ có những điều tốt, như mộng thấy các nơi thành ấp, đủ loại vật báu, đủ loại tràng hoa, tung rải khắp ngõ đường. Đó là những tướng tốt của mẹ vị trời đó.

Đại tiên, đồng tử ở trong cõi trời Mạn Trang Nghiêm thoái lui rồi, sinh vào loài người, nếu thấy tràng hoa thì rất thích, ưa thích y phục sạch sẽ, hình dáng tuyệt đẹp, tâm tuy không thông tỏ hết nhưng không thích đa dâm, say mê vui chơi. Nếu đến ở nơi nào thì đều liền đến chỗ vui chơi ưa thích, y phục mịn màng, rất thích vườn cây và các người giàu sang khác, bày nhiều phương tiện để mong đạt được mọi ham muốn. Đại tiên nên biết, trời Mạn Trang Nghiêm khi sinh xuống làm người thường có những tướng như vậy.

*********

Lại nữa, này Đại tiên! Tướng thoái sinh của trời Tứ Thiên vương lại càng nên biết. Nếu đối với người nghèo cùng thì sinh tâm thương yêu, bố thí y phục, các thức ăn uống; đối với người bệnh tật thì bố thí thuốc men theo nhu cầu. Tùy theo thời mà bố thí để trừ nạn khổ rét, trồng cây dọc đường để người qua lại có nơi ngơi nghỉ, đào ao giếng, mương rãnh để dẫn nước cung cấp cho tất cả. Do có lòng tin ưa thích bố thí như vậy, nên người đó kết được duyên lành, lúc lâm chung thân không nhơ bẩn cũng không gầy ốm, sắc không biến đổi, không có mồ hôi, tất cả bộ phận của thân thể không bị khổ não, tiếng không khàn tắt, bà con thân thuộc đều sum họp đầy đủ, không bị phân chia nên không lo sầu, khổ não, không gặp nạn đói khát, chân duỗi thẳng, không chịu khổ não, luôn được dễ chịu, không bị chướng ngại nên không sầu khổ, các căn không bị hư tổn. Người ấy, tất cả đều đầy đủ an vui, không buồn khổ về cái chết. Nếu khi xả bỏ thân mạng thì tâm thức được an vui, người ấy thấy chúng trời Tứ thiên vương vui chơi trong rừng, khi thấy chúng trời rồi, lúc mạng chung sắc diện tử thi như hoa sen tươi, miệng thoảng mùi thơm, hương thơm đó như mùi thơm của hoa A-ta-bà, các loại hương thơm của hoa theo gió xông ướp tử thi. Lúc đó thần thức của người chết thấy sinh vào trời Tứ Thiên vương, gần gũi với cha mẹ. Thiên phụ đang du hành vui chơi đùa giỡn ở chỗ vui chơi, dục tâm khởi lên, dùng bàn tay phải xoa dưới rốn thiên mẫu. Do việc xoa chạm đó, thần thức liền gá vào trong thai. Sau bảy ngày mới mọc tóc, đầy đủ các tướng trang nghiêm, Thiên đồng tử sinh ra. Khi vừa sinh liền muốn vui đùa ca hát, tất cả đều có thể làm được.

Lại nữa, này Đại tiên! Chỗ ở của chư Thiên nơi cõi Tứ Thiên vương đó có cung điện, đất bằng vàng ròng, đủ loại trang hoàng, đủ loại màu sắc, chạm trỗ sắc sảo. Trong cung điện có hàng trăm ngàn Thiên nữ, trăm ngàn loại cây, cành nhánh trang hoàng đẹp đẽ, có làn gió tuy theo ý muốn chạm vào thân cảm thấy an lạc.

Này Đại tiên! Chỗ ở của Thiên chúng nơi cõi Tứ Thiên vương đó thành, hào bằng phẳng, bốn phương của thành đó bao quanh rộng tám vạn bốn ngàn do-tuần. Đại tiên nên biết, trong rừng đó có châu báu cõi trời dùng làm đèn sáng, dùng tơ lụa mỏng quấn trên thân cây, trên các nhánh cây treo các cờ phướn. Các cây rất mềm mại, chư Thiên nhìn thấy sinh tâm ưa thích. Trong rừng đó các tiếng nhạc hoa hợp như tiếng sáo, tiếng vỗ tay, tiếng tỳ bà như ở trong hang.

Này Đại tiên! Các vị Thiên đồng tử có thể ăn các thứ cơm thơm của cõi trời làm phát sinh sắc hương mỹ vị đầy đủ công đức. Có loại gạo thơm ngon tên là Liên hoa quang, tự nhiên mà chín, ngon như chất cam lộ, các loại sắc màu và mùi vị đầy đủ, thích hợp. Có hai loại mâm đựng thức ăn: Một là mâm bằng vàng ròng, hai là mâm bằng các loại vật báu. Tùy theo sự cần dùng của các vị Thiên đồng tử muốn ăn món gì thì trong mâm ấy hiện ra đủ các món ăn đó.

Lại nữa, này Đại tiên! Lúc ấy trong mâm của vị trời ấy sinh nước Mâu-khư-ly, rồi biến thành hoa tên là A-ta-bà có mùi thơm ngát và nước kia trong mát, uống vào khoan khoái mát mẻ, hương vị của loại nước đó làm cho Thiên đồng tử say mê ưa thích.

Này Đại tiên! Chung quanh cung điện của trời Tứ Thiên vương đó thường có tràng hoa tuyệt đẹp, có nhiều loại hoa đẹp trang hoàng cột cung điện. Dùng những cột này để trang hoàng trong những cung điện bằng vàng quý và kim cương, trên có treo Ta-la-sí-man. Có hàng trăm ngàn cột, giường, tọa cụ trải ra làm trang nghiêm cung điện. Có sáu vạn Thiên nữ đi lại khiến cho cung điện thêm lộng lẫy, những cử động về thân tướng tuyệt đẹp của những Thiên nữ này đều rất khả ái, y phục trời sáng rực làm thân hình họ thêm đẹp, vòng xuyến êm dịu, dáng dấp thùy mị, hương lành, sắc đẹp, thân hình mền mại tương ứng dục tâm, ca múa vui cười thường xuyên không dứt. Có nhiều tiên nữ dáng vẻ thùy mị, từng cặp hòa nhau phát ra âm thanh mỹ diệu hòa cùng tiếng sáo. Cung điện cõi trời đó có đầy đủ những thứ như vậy.

Lại nữa, này Đại tiên! Những cột của thiên cung kia có vàng, báu đan xen lẫn với phướn lụa treo rủ xuống khắp nơi. Này Đại tiên! Bốn Đại Thiên vương là Đề-đầu-lại-tra, Tỳ-lâu-lặc-xoa, Tỳ-lâu-bácxoa, Câu-tỳ-lâu đều hưởng thụ các dục lạc thù thắng. Bốn Đại Thiên vương sống trong cung điện vui chơi ca múa, ngâm vịnh đủ các loại. Họ ăn uống đầy đủ, các căn vui sướng, mong muốn sinh vào nơi vui vẻ tối thắng, tất cả đều được đầy đủ.

Lại nữa, này Đại tiên! Các Thiên đồng tử trong chúng trời của bốn Đại Thiên vương đó, tay dài lớn thẳng không thô không nhỏ, đi lại mạnh mẽ như voi say, đầy đủ sức trượng phu, thân thể mềm mại và đủ các tướng trời. Khi vị trời đó đi thường có hương thơm vi diệu xông tỏa cả một do-tuần.

Này Đại tiên! Các Thiên tử ở cõi trời Thiên vương thọ năm trăm tuổi. Trong thời gian đó, họ không bị chết yểu hay thương tổn, ma thường hưởng thụ mọi thú vui thắng diệu, mở mắt nhìn thấy mọi điều vừa ý. Chư Thiên này có nhiều nơi vui chơi như chỗ Tô-bà-già-đồ-ca, Ca-đàm-bà-ca, Tỳ-ma-la, rừng Quang Minh Trang Nghiêm và Xà-naca, đều là những nơi vui chơi đẹp đẽ. Ở những nơi đó có hương thơm tuyệt hảo nên cảm thấy thoải mái: Các Thiên tử đến các chỗ đó rồi, có những bậc cấp bằng vàng bạc châu báu xen lẫn. Bậc thềm vuông vắn, đẹp đẽ trang nghiêm gọi là thềm bảo châu. Nơi đó có trăm ngàn Thiên nữ ca hát ngâm vịnh, âm thanh vi diệu, nhạc khí bằng châu báu tự nhiên phát ra âm thanh. Các Thiên tử này thọ hưởng nhiều dục lạc, khi phước đã hết, mạng chung thì có các tướng hiện ra. Trước hết là mất bóng, không nghe mùi hoa, tai không còn nghe tiếng hay của Thiên nữ Ca-lăng-tần-già. Này Đại tiên nên biết! Các vị Thiên đồng tử trong Thiên chúng thường tụ tập trong cung điện trời suốt ngày. Trong cung điện ấy có trăm ngàn Thiên nữ, cây cối sinh anh lạc, có hoa tuyệt đẹp. Trong rừng có đủ tiếng chim như Câu-sí-la v.v… các tiếng chim rừng đều hòa quyện đầy đủ. Tuy nhiên họ không ưa thích, chỉ muốn đi loanh quanh trên đất, y ao dơ bẩn, thân thể nóng bức, sầu khổ, chỉ nhìn xuống mặt đất mà đi, ở chốn hoa nở cũng không ưa thích, thân thường toát mồ hôi, mắt thường ngày mở lớn, đến nay bị nhấp nháy, mọi nơi đều thay đổi như cá bắt ra khỏi nước bị mặt trời thiêu đốt lăn lộn trên mặt đất. Các Thiên nữ thấy vậy đều đến vây quanh thương cảm cùng nhau than khóc: “Người chúng tôi yêu mến sao lại đến thế này. Muốn đi đến nơi nào? Thân mềm mại trang sức đủ các loại tuyệt đẹp sạch sẽ, ngực nở, vai rộng, dáng vẻ ngay ngắn thường thích dạo chơi vui đùa mọi nơi mà sao bỗng nhiên nay lại xa lìa chúng tôi, lại rời bỏ cung điện sẽ đi đến nơi nào?”. Những vị Thiên nữ than thở nói kệ:

Tâm nghĩ các việc lành
Cây trời trang hoàng đẹp
Chỗ bốn đại thiên vương
Nhiều thú vui ăn uống
Có bốn chốn tương ứng
Chỗ đẹp trời phước đức
Nhiều Thiên nữ yêu thương
Hoa rộ lòng lành vui
Bỗng đâu ác vô thường
Khiến bỏ đây mà đi.

Những Thiên nữ vây quanh như vậy, lớn tiếng la khóc, nước dãi chảy ra, khàn cả tiếng, vừa khóc vừa kể, thật đáng thương. Thiên nữ nói: “Lìa bỏ để sống nơi xa xăm” Lại dùng tay phải cầm hoa rải lên mình Thiên tử ấy mà nói: “Hãy sinh về cõi lành, làm vua ở cõi lành, hướng đến cõi người mà đi, sinh nơi có phước, hãy tin tưởng mà đến đó, phải biết rằng thân Thiên tử này là như vậy”. Thiên tử sắp chết nghe vậy suy nghĩ tự biết mình sắp chết nên rất sầu khổ, toàn thân đốt nóng, do nóng bức bách nên thân bị tiêu chảy như giọt nước. Thi thể đó ở trong mồ tiêu rã hư hoại, thân thể khô héo, khi có gió thổi đến, phân chia thành ngàn phần như bụi trần bay khắp trong hư không. Từ cõi trời ấy sinh xuống muốn thọ thân người nên thấy cha mẹ ở cõi Diêm-phù-đề hòa hợp, hoan hỷ vui thích, liền nhập vào thai tạng. Vừa mới thọ sinh vào thai mẹ, mẹ liền có những hiện tướng như vui cười, muốn được ăn ngon, không thích ăn thịt, thích mặc y phục sáng sủa như y phục màu đỏ, thích nơi tụ họp đông người, đối với anh em thì đặc biệt thương mến, dù bụng mang thai con nhưng không thấy khó chịu, miệng không chảy nước dãi, lại không có tâm ác, không bao giờ bị bệnh khi đang mang thai, tay chân đều mạnh khỏe. Sau khi sinh ra, đứa bé trai ấy thân thể đoan nghiêm đẹp đẽ, ai thấy cũng thương mến. Đứa bé khi lớn lên, nghe nói về Tứ Thiên vương thì vui mừng, tu hành bố thí, uống rượu không để say, tâm thường sáng suốt, thân thể mập mạp, tươi nhuận, luôn xông ướp các loại hương thơm vào thân, ưa thích nơi vui đùa ở trong rừng, tâm nhiều dục nhiễm, thích thân cận với nữ giới, luôn luôn ăn uống ưa thích loại hảo hạng, thường thích ca hát, thân thể tươi nhuận, không trắng không đen, mắt như Tỳ-lưu-ly sinh.

Đại tiên nên biết! Bốn Đại Thiên vương khi sinh xuống làm người, tánh vốn như vậy. Vì ở cõi trời bốn Đại Thiên vương đã luôn huân tập các tướng như vậy.

Lại nữa, này Đại tiên! Nếu có chúng sinh nào với lòng tin thanh tịnh, xa lìa sát sinh, tu hành bố thí, xa lìa trộm cắp, rồi dùng Khư-đàni, Bồ-xà-ni, Thực-lê-hà, Châu sa, những vật cần dùng khác như y, áo, của cải, châu báu, vàng bạc để bố thí và với lòng tin vui hoan hỷ, dùng các loại hoa dâng cúng, lễ lạy chùa tháp, bố thí cúng dường, thì khi chết, thân không bị thối rữa, mọi ô uế đều không có, tâm sinh vui mừng tự nhớ nghĩ về việc lành đã làm nên khi sắp chết hiện ra những tướng như: Sắc mặt tựa màu hoàng kim, sóng mũi chẳng xẹp gãy, tâm không loạn động, co không bế khí, không khò khè, không hổn hển, thân không nóng bức, các căn không bị hự hoại, gân cốt máu huyết lưu thông, thân không khổ não, nằm yên không xoay trở, không vỡ tiếng.

Này Đại tiên! Chúng sinh đó hoặc do bệnh nóng mà chết, hoặc do trúng độc mà chết, hoặc do ham thích hoa mà trèo lên cây bị rơi xuống mà chết, hoặc do ăn thức ăn ngon không tiêu mà chết. Những người đó khi sắp xả thân ngũ ấm thì thức bên trong đã thấy cung điện trang nghiêm của trời Tam Thập Tam có các loại châu báu, vàng bạc, kim cương. Ở giữa mỗi nơi xen lẫn nhiều thứ báu tạo thành hình cá vàng, hình ma-già-la trang hoàng cửa cung điện, trên cửa treo cờ vàng, có các loại nhạc cụ chạm nhau vang lên âm thanh thật hay làm cho tâm vui thích. Lại có rất nhiều loại cành tương ứng với cây đẹp trang hoàng trong rừng như cây Ưu-đồ-ca-ta la, chiên-đàn, mật thơm dùng làm bùn tô lên mặt đất. Những bưc họa bằng tơ lụa màu vàng, trân châu trắng, treo khắp trên cây, mặt đất mền mại, luôn luôn được trang hoàng, lúc nào cũng sạch, có các vàng trải khắp mặt đất. Ánh sáng châu báu cõi trời tỏa ra dùng làm đèn. Phần nhiều Thiên nữ, chỗ ở của họ ánh sáng trang nghiêm thường tấu lên nhạc trời âm thanh tuyệt diệu, dưới khuỷu tay trang nghiêm, trên ngực có mang anh lạc, ở cổ có đeo một nửa anh lạc, cổ tay đeo vòng, ngón tay có nhẫn và tai có hoa tai. Những Thiên nữ xinh đẹp với trang sức đủ loại như vậy. Đại tiên nên biết, trong chúng chư Thiên ở cõi trời Tam Thập Tam, Thiên tử ở nơi đó vui chơi thọ hưởng khoái lạc, thọ hưởng sự hành dục khi đi trong rừng cây. Do vui chơi nơi ấy nên tâm sinh ưa thích, thần thức kia với phước đức thấy các Thiên tử và Thiên nữ ở cõi trời đó cùng ngồi một nơi, nên tâm sinh yêu mến liền nhập vào thai tạng, như sợi tơ xâu qua viên ngọc kéo ngọc đi theo, không sinh vào đường khác. Ngay lúc đó, trong tay Thiên mẫu sinh ra nụ hoa, Thiên nữ thấy như vậy rồi tự biết đã có hài nhi, liền đem hoa trao cho Thiên phụ, nói: “Nay chàng đã có con, nên vui lên!”. Thiên phụ thấy rồi, niềm vui càng thêm lớn, biết chắc vợ mình sẽ sinh Thiên tử. Thiên phụ và Thiên mẫu lòng sinh vui. Sau khi sinh tròn bảy ngày, Thiên đồng tử tóc dài xoắn tròn, sạch sẽ không dơ, có đầy đủ y phục. Khi vị Thiên tử ay chưa sinh, trong vòng bảy ngày đó nhớ nghĩ thế này: “Ta từ chỗ đó chết rồi sinh đến nơi này, những người đó là cha mẹ ta, ta đã từng làm điều lành đó”. Nghĩ nhớ như vậy rồi sinh lòng vui mừng khôn xiết, sinh lòng vui mưng rồi thì liền phát dục, mà có dục tức là si. Với dục lạc ấy, từ xa trông thấy cung điện, nơi vui chơi cõi trời. Thấy vậy rồi mong muốn được thác sinh lên đó, nên liền đi đến chỗ vui chơi ấy như voi say. Cánh tay Thiên tử suông như vòi voi tròn mà dài, ngực bằng phẳng, cánh tay sắc vàng, phần trên và phần dưới thân thì thô, phần giữa thân thì tế, khi đi thì an tường, eo như cung, xương sống thẳng, hai vế tròn trịa như thân cây chuối, khéo biết pháp cõi trời, râu tóc cắt ngắn, hương trời thật thơm, móng tay, móng chân màu hồng, thân thể sạch thơm, không cần trang điểm, dùng cái không bệnh khổ của cõi trời trang nghiêm thân, thân có hương lành mặc áo trời đẹp, sắc tướng tuyệt đẹp, hoa trời trang nghiêm. Ở trong cung điện, dần dần vị này dạo khắp nơi ấy, thấy có Thiên nữ không chồng. Khi họ thấy Thiên đồng tử mọi người đều đến vây quanh thưa: “Thánh tử, hãy đến đây, Thánh tử, hãy đến đây, cung điện này là của ông, chúng tôi không có chồng. Từ lâu chúng tôi đã bỏ chồng, chỉ có một mình đồng tử. Nay chúng tôi còn đầy đủ nhan sắc, trẻ đẹp xin dâng cúng bình sữa như bình vàng, gương mặt như hoa sen hồng đang nở, thân như điện chớp trong mây, dễ thương vừa ý. Chúng tôi là Thiên nữ, nay muốn xin được hiến dâng hầu hạ. Đây là chốn vui chơi vườn cây Ba-ly-da-đacâu-chỉ-đà-la-câu-la-bà-ca có nhiều cành nhánh mền mại đẹp đẻ điểm tô vẻ đẹp. Có sáu vạn Thiên nữ cùng vui chơi trong đó để hầu hạ Thánh tử ở các cung điện khác, cũng đều có đầy đủ. Nơi ấy có nhạc cụ như đàn tỳ bà, trống, sáo v.v… đủ loại âm thanh. Các thứ trang nghiêm của cõi trời tự nhiên xuất sinh nơi tòa sư tử. Vị Thiên tử đã thấy đủ loại trang nghiêm, có lọng báu che như lúc vua lên ngôi nơi tòa sư tử. Vị Thiên đồng tử ngồi nơi tòa sư tử cũng vậy. Khi Thiên tử ngồi rồi, những nhạc cụ vang lên âm thanh khả ái vang đi khắp nơi xướng lên: “Người lành này từ cõi Diêm-phù-đề do làm phước đức nên sinh đến nơi đây”. Trong cung điện của trời có tiếng nói với các Thiên nữ: “Các người hãy mau đến đây, hãy mau đến gần chỗ này đàn hát ca múa vui chơi làm vui Thiên tử này, người này đã tạo các căn lành trong cõi người”. Âm thanh ấy phát ra rồi, ở trong rừng cây kia, sáu vạn Thiên nữ hai tay cầm hoa, dùng hương tốt trang điểm, mình mặc y phục trời tuyệt đẹp gọi là y Đầu-cư-la. Y phục ấy nhẹ, mỏng, châu báu hảo hạng làm kiền đeo chân phát ra tiếng kêu hay. Những Thiên nữ như vậy đến cận kề Thiên tử để hầu hạ cung dưỡng. Những Thiên nư đoan chánh vừa ý như trăng mới mọc, gương mặt tựa hoa sen, hương thơm như hoa A-ta-bà. Những Thiên nữ này đến gần gũi đồng tử nói: “Thưa Thánh tử, chúng tôi có các vật cần dùng xin cung phụng, tùy ý Thánh tử sử dụng”. Đồng tử này tự có năng lực căn lành tập hợp nên được hưởng phước đức. Vì thế hôm nay ở đây hưởng thụ những lạc thú ở cõi trời.

Này Đại tiên! Thiên tử và các Thiên nữ đó cùng nhau dạo chơi trong các khu vườn rừng Hoan hỷ, rừng Chúng tạp ở cõi trời Ba Mươi Ba, như vườn Bạch y trên đá có ánh sáng rực rỡ, trong rừng Ta-tỳ-đô, ao suối Khư-la-khư-la, Đà-đà-là-ca, vườn rừng A-tra-bà-ca có hoa Baly-da-đa-câu-chỉ-đà-la màu sắc tuyệt đẹp. Ở những nơi vui chơi như thế mát mẻ, vui vẻ đệ nhất. Nơi đó không có gió độc thổi mạnh. Ở trong rừng đâu đâu cũng có bao nhiêu là loài chim hót rất hay, lại có nhiều hoa quả cõi trời hương thơm ngào ngạt với các loại ngọc như tỳlưu-ly, ngọc mâu-ta-la và mã não v.v… dùng làm đèn chiếu sáng. Lại có các loài ong và đủ các loài chim có tiếng hót tuyệt diệu như dục túy, câu-xí-la v.v… Lại có các loài chim như chim cánh vàng có lông cổ màu xanh, tô điểm xen lẫn trên mình bằng châu báu tuyệt đẹp như tỳ-lưu-ly, có nhiều tiếng hót vi diệu, lại có những tiếng hót của chim Ta-đà-ly thật hay. Trong rừng đó có nhiều loài hoa đủ màu sắc xen lẫn làm đẹp mặt đất. Ở đó, Thiên đồng tử thọ hưởng dục lạc.

Lại nữa, này Đại tiên! Ở nơi cung điện cõi trời Ba Mươi Ba, có ao nước trong mát vi diệu như mặt trăng, đầy đủ tám công đức thanh tịnh. Lại có hoa sen trăm cánh đẹp đẽ nở ra tươi thắm. Ở bên bờ ao, cây báu trang nghiêm, hoa rơi khắp mặt đất. Nước công đức vi diệu như vậy, Thiên tử, Thiên nữ cùng nhau vui chơi trong ao mát đó, tâm ý thỏa thích. Nếu cần ăn thì có đủ loại thức ăn báu hiện ra trong mâm, tùy theo nhu cầu đều có đầy đủ. Ao thức ăn có loại sắc hương tinh khiết như hoa sen trắng, hoa sen đỏ, các sắc như tuyết, đủ loại sắc hương. Các Thiên nữ rót rượu, giăng màn cung phụng Thiên đồng ăn uống no đủ, an ổn tiêu hóa liền, không có ba vị cay, chua, đắng. Người ăn uống như thế, có năng lực vô thượng của trời gọi là cam lồ. Các loại thức ăn đều chứa trong mâm tùy theo nghiệp lực mà có được.

Đại tiên nên biết, nếu người bố thí với tâm cấu bẩn thì bị quả báo như vậy, cùng một loại thức ăn trên mâm mà khi ăn có nhiều màu khác nhau, có người thấy màu đỏ, có người thấy màu vàng, có người thấy màu đen. Báo thân thì thành đều cùng một loại sắc nhưng thức ăn trong mâm có khác nhau. Như vậy Đại tiên! Nếu người bố thí rồi mà sinh hối tiếc thì do nghiệp đó mà được quả báo màu sắc của thức ăn không ngon.

Lại nữa, này Đại tiên! Cõi trời Ba Mươi Ba còn có chỗ vui chơi, nơi đó gọi là Thi-lợi-sa-cám, có đủ loại cây cối, hoa lá tươi đẹp, có trăm ngàn loài cây cõi trời chen chúc. Ở đó thanh tịnh như pha lê, trong suốt mềm mại, lại có đầy đủ các loại cây cối hoa quả cõi trời. Nơi chốn như thế, người chẳng ham muốn thì an trú ở nơi thanh tịnh Thi-lợi-sa-cám, còn những Thiên nữ thì không ở nơi vui chơi Thi-lợisa-cám thắng diệu. Tất cả rừng cây thường có hoa đẹp, rừng hoa như vậy, thường có chư Thiên giảng thuyết trong đó.

Đại tiên nên biết! Hàng Thanh văn của ta, người đứng đầu trong hàng đệ tử như là Trưởng lão Già-bà-ba-đế sinh trong dòng họ Bà-lamôn, tâm an trú thiền định, tâm từ tâm bi, mở mắt thì an trú vào Tammuội tâm từ tâm bi trong suốt bảy ngày hơi thở không ra không vào. Đại tiên nên biết! Khi nhập vào Tam-muội Từ rồi, nếu muốn gió thì có gió thổi, nếu không cần thì thôi. Khi kiếp tận hỏa đốt cháy, mặt đất thành một ngọn lưa, thì thân đó không bị thiêu đốt dù bằng hạt cải, hoặc núi Tu-di có đè trên từng bộ phận cơ thể thì bộ phận đó sẽ đứng yên không lay động. Hoặc sức độc mãnh liệt của hai Long vương ác độc là Nan-đà và Ưu-bà-nan-đà phun hơi có thể làm cho núi Tu-di lay động. Sức độc như thế có thể làm cho nước bốn biển lớn thành vị mặn, nhưng sức độc mãnh liệt của hai Long vương như thế không thể làm hại năng lực Tam-muội của Già-bà-ba-đế.

Lại nữa, này Đại tiên! Khi Trưởng lão Già-bà-ba-đế dạo chốn vui chơi Thi-lợi-sa-cám, các Thiên nữ tâm nhiễm dục nên thấy Trưởng lão Già-bà-ba-đế liền sinh lòng tin yêu, đem hoa Mạn-đà-la ở cõi trời, hoa Xa-ca cõi đời tung rải cung dường, chấp tay cung kính. Lại nữa, ở đó có các Thiên tử ở cõi trời Ba Mươi Ba vây quanh, dùng cơm trời, cam lồ trời cúng dường đầy đủ cho Trưởng lão Già-bà-ba-đế. Trong mỗi ngày thường cúng dường như thế. Tôn giả Gia-bà-ba-đế dạo chơi trong rừng cây, cành nhánh lay động vì các Thiên tử thường diễn thuyết những bộ loại kinh văn như Phúng tụng, Tự thuyết, Nhân duyên, Bản sự, Bản sinh, Phương quảng, Vị tằng hữu, Tỳ-nại-da, Luận nghị, Thí dụ, khiến cho các Thiên tử nghe rồi vui vẻ sinh lòng tin tưởng. Ở nơi cung điện rất đẹp cõi trời, ngồi thiền, đọc tụng, kinh hành, nghỉ ngơi cũng lại đến nơi vui chơi Thi-lợi-sa-cám để dạo chơi.

Lại nữa, này Đại tiên! Cõi trời Ba Mươi Ba có Thiện pháp đường, là nơi chư Thiên tụ tập. Đại tiên nên biết! Pháp đường này có tám vạn bốn ngàn cột, toàn làm bằng vàng ròng, kim cương báu, mani xanh, Ca-la-bà, mã não v.v… cùng với lõi chiên-đàn thắng diệu, bên trên lại vang tiếng kêu thật hay, mặt đất phủ bằng cát vàng. Đại tiên nên biết! Thiện pháp đường treo phướn lụa cõi trời rủ xuống, dựng cờ báu treo phướn ở trên. Lại có những tiếng nhạc như đàn cầm, đàn sắc, đàn tranh, tiếng sáo, trống lớn trống nhỏ, tiếng vỗ tay, tiếng thổi kèn, tiếng tiêu đủ các âm thanh tuyệt vời. Tay của Thiên tử, Thiên nữ như hoa đẹp, mềm mại, tròn như lõi cây, cùng nắm tay nhau sinh lòng vui thích, miệng thường mỉm cười. Thiên tử và Thiên nữ hưởng lạc như thế. Đại tiên nên biết! Thiện pháp đường đó thường có nhiều chư Thiên đến hội họp, đất nơi đó có nhiều loại châu báu xen lẫn, mặt đất bóng sạch như tỳ-lưu-ly, trơn láng không cấu bẩn như gương, có nhiều loại hương hoa của trời, đủ loại hương bột, không còn ruồi muỗi côn trùng, gió thổi khắp nơi, không có ngủ nghỉ, biếng nhác uốn mình. Thiện pháp đường ấy có gió thổi qua các khung cửa, tường vách của lâu đài được họa vẽ bằng những hoa văn hình cong như nửa vầng trăng, tựa như mắt trâu, lưới trời phủ khắp, cửa đẹp rộng lớn, có gió mát tràng hoa báu trang nghiêm, hương thơm ngào ngạt của các loài hoa đẹp tỏa khắp, có vô lượng trăm ngàn Thiên nữ ưa thích vui đùa mà không hề có tật xấu ganh ghét, tranh cãi v.v… thương yêu nhau bền chắc, diện mạo trong sáng như vầng trăng. Theo cách trang điểm của Thiên nữ là dùng hương màu sắc rực rỡ để xoa lên mặt, các Thiên nữ cùng nhau ngâm vịnh vua đùa. Đại tiên nên biết! Bốn góc của bốn phương Thiện pháp đường đó có bốn mảnh đất rộng lớn, có nhiều rừng cây, mây phủ dày đặc. Ở chỗ vui chơi có nhiều loài hoa. Rừng cây ấy rộng lớn đến trăm do-tuần, ở đâu cũng đều thẳng tắp, có hoa sen vàng và nhiều loài hoa rải khắp mặt đất, lại có nhiều tiếng ca ngâm vi diệu, có nhiều cây như là Cư-ca-na-đà, Ba-lợi-da-đa, Câu-tỳ-đà-la, những loại cây ấy đâu đâu cũng có, dùng để trang nghiêm.

Lại nữa, Thiện pháp đường đó, tất cả những vật trang hoàng đều bằng những khối như vàng, kim cương, ngọc ma-ni xanh, ngọc Ca-labà. Lại có ngọc pha lê, ngọc tỳ-lưu-ly v.v… không có chủ nhân chẳng có người giữ. Có nhiều kho tàng tài vật vàng bạc châu báu. Tất cả những tài vật và tất cả khối báu đều dùng để trang hoàng chỗ Thiện pháp đường. Các khối báu đó có nhiều màu sắc dùng trang nghiêm. Chung quanh Thiện pháp đường có trăm ngàn chỗ vui chơi, không nóng bức. Nhiều loại y phục để trang sức ở đó.

Lại nữa, này Đại tiên! Trời Ba Mươi Ba ưa dạo chơi, ở chỗ vui thú, tất cả đều đến tụ tập ở Thiện pháp đường để vui chơi.

Này Đại tiên! Cung điện Thiện kiến của trời Ba Mươi Ba trong sáng như gương, có nhiều hương hoa treo rủ xuống. có ngàn Thiên nữ trang sức thật đẹp du hí vui chơi, mắt liếc nhìn quyến rũ làm rung động đấng mày râu giống như sóng dữ, đi trong hư không, thân thể trang điểm bằng các loại hoa. Cung điện Thiện kiến trang hoàng như vậy, bên trong cung điện có nhiều bình châu báu, dây chuông rèm màn phát ra âm thanh thật hay để trang nghiêm, hoặc có ngựa, voi đi lại trong cung điện, mỗi bước chân giẫm đạp lên đất tung lên bụi vàng. Ở đó có nhiều Thiên nữ xinh đẹp, thân đeo ngọc báu sắc đỏ rực rỡ, hoặc đánh kêu ra tiếng, hoặc ôm, hoặc đeo ở y áo làm cho ngọc báu ở nơi vui chơi đó thêm phần kỳ lạ.

Lại nữa, này Đại tiên! Cung điện Thiện kiến có sáu vạn cột đều bằng vàng ròng tốt cõi trời, dùng báu tỳ-lưu-ly và kim cang làm đầu của cột và xen kẽ các loại báu khác. Trong cung điện có các loại nước thơm, lá thơm, trầm thủy và các loại hương xông. Thiên vương Đế thích ở nơi đó, có trăm ngàn Thiên nữ vây quanh. Thiên vương Đế thích tay cầm ngà kim cang ở tại điện báu ấy vui chơi đùa giỡn.

Này Đại tiên! Thiên vương Nhân-đà-la ở cõi trời Ba Mươi Ba có sức mạnh bằng chín ngàn con rồng. Cánh tay của vua Đế thích như vòi voi trời, thân thể như vàng sạch bóng, hình thể cân đối, phan trên tế, phần dưới thô. Gân cốt trong thân không lộ bày, thân thể vững chắc, tóc lông đều xoáy tròn sạch sẽ. Thân có ánh sáng, y phục dài rộng. Thiên vương Nhân-đà-la sáng tác thích luận có thể phá sự tranh luận, có vô lượng trăm ngàn Thiên tử thường theo hầu cận, theo dạo chơi trong cung điện vườn trời và các nơi vua vui chơi, dây vàng buộc thân, chuỗi anh lạc, hoặc nửa chuỗi anh lạc tuyệt đẹp trang nghiêm ở ngực, thân thể rất đẹp, không lớn không nhỏ, lưng eo, đùi vế cân đối, thường ăn cơm trắng, uống nước cam lồ. Trăm ngàn Thiên nữ mắt nhìn long lanh, mày mặt đoan trang. Họ có con voi say tai quạt ra gió, tiếng gió thật hay.

Lại nữa, này Đại tiên! Thiên vương Nhân-đà-la mạch trong thân không hiện, hơi thở thơm tuyệt diệu như mùi hương hoa, giọng nói hòa dịu. Đại tiên nên biết, hương lành trong thân Thiên vương thoảng ra, nếu như voi trắng của cõi trời phát dục mãnh liệt thì khi nghe được mùi hương trên thân vua, liền tỉnh lại ngay.

Lại nữa, này Đại tiên! Mức cao thấp của thân vua Nhân-đà-la giống như chư Thiên khác cỡi ngựa cao phi rất đẹp. Nếu đem so sắc thân của vua đó với tượng vàng thì tượng vàng sẽ mờ nhạt.

Bấy giờ, Đại tiên Tỳ-da-sa thưa Phật:

–Bạch Thế Tôn! Hy hữu thay Thế Tôn! Thiên vương Đế thích Nhân-đà-la thật là tối diệu như Thế Tôn, đã giảng thuyết thánh pháp đầy đủ không khác.

Phật dạy:

–Này Đại tiên! Ông đã dựa vào nghĩa gì mà khen ngợi như thế vì thân này là vô thường.

Thiên vương Nhân-đà-la mà nghe nói hiếm có thì sinh tâm lo sợ. Ví như đứa trẻ khéo tay dùng đất sét để nặn thành hình con người, loài vật v.v… rồi gắn những lá và xâu hoa ở bên ngoài, dùng các màu sắc để vẽ lên làm thành số đông binh lính, dùng cây làm dụng cụ khắc họa, như cây thì tô vẽ thêm hoa, chẳng bao lâu thì hoa héo tàn. Giống như dùng tim đèn để trong lò, dùng lửa đốt thì có ánh sáng. Thân Đế thích cũng như vậy. Đại tiên nên biết, A-nê-lâu-đại được cha mẹ sinh ra có năng lực mạnh, Thiên vương Nhân-đà-la cũng có sức lực của thân, A-nê-lâu-đại thân lực được cha mẹ sinh ra mạnh mẽ.

Lại nữa, này Đại tiên! Hôm nay ông hãy xem năng lực thần thông của A-nê-lâu-đại. Nghe nói như vậy, A-nê-lâu-đại tâm liền nghĩ: “Như Lai thêm sức mạnh cho ta”. Nghĩ như thế rồi liền nhập Tam-muội, nhập Tam-muội rồi thân như hoàng kim, liền được thân vua cõi trời đội mão vàng đẹp đẽ như màu hoàng kim biển. Từ trên đầu có châu báu rủ xuống đến mắt, làm lay động, va chạm nhau, búi tóc xanh như ngọc, thân thể tươi nhuận, có ánh sáng thù thắng. Mắt như tỳ-lưu-ly tuyệt đẹp của cõi trời, màu xanh biếc. Lại có châu báu như báu ma-ni màu xanh, báu Ca-la-bà, báu nhật châu v.v… để trang điểm cánh tay. Dùng năng lực biến hóa mà thân được như vậy. Lại tỏa ra hương cõi trời, xông khắp đại chúng. Đại tiên Tỳ-da-sa thấy thân đó rồi lòng rất rung động liền đứng dậy chấp tay cung kính cho là ít có, lớn tiếng xướng lên: “Lạ thay! Lành thay! Có gì sướng bằng, ta được thân người thật là chẳng uổng. Hôm nay ta gặp được Như Lai là bậc Nhất Thiết trí, tương xứng với lời giảng dạy khiến cho ta được thấy nghe pháp nay chưa từng thấy như vậy”.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn hỏi Đại tiên Tỳ-da-sa:

–Ý ông thế nào? Thân của Thiên vương Nhân-đà-la và thân của Trưởng lão A-nê-lâu-đại, hai thân như vậy, thân nào hơn?

Đại tiên Tỳ-da-sa thưa Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nếu đem thân của Thiên vương Nhân-đà-la mà so với thân của Trưởng lão A-nê-lâu-đại thì không bằng một phần trăm, cũng không bằng một phần ngàn. Thân sắc của Trưởng lão Anê-lâu-đại hoàn hảo hơn.

Đức Như Lai dạy:

–Này Đại tiên! Đúng vậy, chớ vui mừng. Vì người đã tạo phước đức phát nguyện như thế nên được thân đó.

Khi ấy, đại chúng của Đại tiên Tỳ-da-sa sinh lòng vui mừng, thưa Đức Phật:

–Bạch Thế Tôn! Nguyện xin Thế Tôn vì chúng con mà giảng về cõi trời Ba Mươi Ba.

Đức Phật dạy:

–Này Đại tiên! Thiên hậu đệ nhất của Thiên vương Đế thích ở cõi trời Ba Mươi Ba tên là Xá-chi. Bà ấy ở rừng Hoan hỷ có trăm ngàn Thiên nữ hầu hạ, có đủ các loài hoa nở phát ra ánh sáng tập trung tại thân ba, má như cánh sen hồng, môi như như quả tần bà vàng. Bà ấy mặc y phục mịn màng tươi sáng nhất, an nhiên ngao du chỗ vui chơi trong rừng, dùng các thứ trang điểm của cõi trời để trang điểm; dùng vòng xuyến báu bằng ngọc kha của trời đeo vào tay, lại dùng chuỗi anh lạc hoặc nửa anh lạc để trang điểm nơi thân. Chân đeo xuyến báu, vòng xuyến có tiếng vi diệu. Bà ấy du hành như vậy trong rừng Hoan hỷ có đủ loại âm nhạc. Gò má bà ấy rộng. Hoa đẹp rải đường đi, dưới rốn có lớp lông tơ. Quần bằng cát báu khi đi phát ra âm thanh, mắt xanh mở to sáng đẹp, tóc đen mà dài lại xoáy tròn, mũi cao mà thẳng. Bà ấy bỏ hẳn những thói xấu sân hận, ganh tỵ tranh cãi, cũng không giận hờn nhăn nhó gắt gỏng, thân không lỗi lầm.

Đại tiên nên biết! Thiên hậu Xá-chi say mê ân ái. Núi Thắng-dilâu là nơi đẹp nhất. Núi ấy rộng dài có nhiều rừng cây, cành lá rậm rạp che khuất ánh sáng, tâm sinh ưa thích, gió nhẹ thổi hoa đưa hương thơm lan khắp, rồi chạm vào thân phu nhân. Thân hình phu nhân Xáchi không cao không thấp, không mập không ốm, gương mặt tuyệt đẹp như hoa sen nở, miệng thoảng ra hương thơm vi diệu, nói năng khéo léo tăng trưởng hạt giống Phật.

Đại tiên nên biết! Tất cả chư Thiên ở cõi trời Ba Mươi Ba, thân thể đều thơm, không bệnh tật, ưa du hành ở nơi vui chơi hay ở các cung điện.

Lại nữa, này Đại tiên! Thọ mạng cua trời Ba Mươi Ba là một

ngàn tuổi. Đến khi sắp lâm chung ở cung điện đó vốn chưa từng có năm tướng xuất hiện. Nên biết năm tướng là: Nơi ao hồ nước trong mát giống như pha lê, mát lạnh, có gợn sóng, có nhạc, có gió nhẹ thổi. Nơi ấy có đủ loại cành hoa. Vị sắp chết ấy lúc vào hồ rồi, mồ hôi toát ra. Thấy mồ hôi toát ra như vậy rồi, tâm sinh, nghi ngờ, lo nghĩ liền nhảy lên khỏi nước, chạy thẳng vào rừng cây. Các Thiên nữ thấy vị ay chạy, cùng chạy theo sau. Vị trời ấy dừng ở dưới cội cây, các Thiên nữ buồn rầu nghẹn ngào than thở: “Hôm nay sao Thánh tử bỏ chúng tôi mà một mình đứng đây? Ở đây có gì vui?”.

Thiên đồng tử đó dùng lời thảm thiết nói với các Thiên nữ: “Trên đầu ta từ trước đến nay chưa từng có chất nhờn bẩn toát ra”. Nói như vậy xong thì ở dưới hai nách liền toát ra mồ hôi. Các Thiên nữ thấy mồ hôi toát ra như vậy liền bỏ đi xa. Vị Thiên tử nay thấy Thiên nữ bỏ đi nên lòng lo sợ, hơi thở hổn hển tâm thêm nhiệt não. Vì nóng bức nên tràng hoa trên đầu chưa từng thấy úa mà nay héo tàn, thế rồi y áo chưa từng bẩn nay đã nhơ nhớp, lại không còn ưa thích chỗ nằm của cõi trời nữa. Các Thiên nữ thấy hiện tướng như thế liền nghĩ: Tướng chết của Thiên đồng tử này đã hiện ra, sắp bị hủy hoại và biết rằng vị ấy chắc chắn chết. Vì nghe mùi hôi không chịu nổi nên đứng xa rồi thương xót than thở, nghẹn ngào: “Mới lúc nào đây thân trời mịn màng tuyệt vời cùng đi trong rừng nơi vui chơi đùa giỡn ở cõi trời Ba Mươi Ba này. Ở nơi ao hồ đó có chim uyên ương. Nơi rừng Hoan hỷ ở Thiện pháp đường có nga vương, uyên ương; nước ao Mạnđà-kỳ thơm, tinh khiết, có nhiều rừng gọi là cây biến hương (Tượng trần ba lê da đa câu kỳ đa la), ở trong vườn vui chơi có nhiều ong mật, ở trong rừng tạp đủ loại dùng để trang nghiêm, thường dạo chơi nơi đây, hôm nay bỗng nhiên bỏ ta đi nơi nào? Năm tướng suy hủy hoại đã hiện là sắp chết”. Các Thiên nữ than khóc như vậy, rồi lại càng than khóc nhiều hơn. Thiên đồng tử nghe thấy than khóc, tâm bị hủy hoại, càng thêm lo sợ, thân liền phát nhiệt, mắt bị loạn thị, như đi trên đường lạc mất bạn đồng hành, cũng như người buôn trên biển bị chìm thuyền, như người đánh mất châu như ý, tâm ý áo não quệt chân trên đất, như ngọn gió mạnh có thể làm sụp đổ góc núi, gió lớn vô thường đã làm cho Thiên tử ngã xuống cũng như vậy. Thân Thiên tử nóng bức đi vòng vòng trên mặt đất như rồng con bị Kim sí điểu cắp đi sinh sợ hãi liền gồng thân chống lại. Vị Thiên tư liền chấp tay hướng về Thiên nữ nói: “Nay ta bị nóng bức, các nàng hãy đến đây, hãy đến đây, có thể dùng tay xoa bóp cho ta được mát lại”. Thân nóng bức, tâm bồn chồn muốn được như vậy, cả thân tâm đều chịu khổ não. Các Thiên nữ trong lòng bị sầu khổ thiêu đốt chỉ đứng xa nhìn lại thương xót lo buồn mà không dám đến gần, không xoa bóp và không tiếp xúc. Các Thiên nữ trong rừng cây cầm các hoa lá giơ tay từ xa đặt trên tim Thiên đồng tử và nói: “Nay Thiên đồng tử đã hết phước đức cõi trời nguyện cho Thiên tử mau sinh về thế gian”. Nghe lời nói của Thiên nữ, Thiên đồng tử biết chắc chắn phải chết liền thét lớn: “Sao lại khổ vậy? Cõi trời Ba Mươi Ba này chính là chỗ ác. Nơi chốn vui chơi đầy đủ những thứ trang nghiêm, cung điện đẹp nhất, thọ hưởng các thú vui. Có nhiều Thiên nữ dùng đủ loại ái nhiễm ràng buộc tâm ta, bỗng nhiên hôm nay các Thiên nữ đứng từ xa bảo ta sắp chết, và nói: “Nguyện cho Ngài chết rồi sinh vào thế gian”. Vị Thiên đồng tử suy nghĩ lời nói ấy, động thân muốn đứng dậy, càng đau khổ hơn, khóc lóc: “Khổ thay, mới hôm nào rừng cây Hoan hỷ và rừng nhiều loại cây, trên tảng đá Bạch y, ngồi vui chơi. Mới ngày nào ở Thiện pháp đường, Ba-lưu-sa-ca, Ba-lợi-da-đa, Tỳ-bà-xà, Mạn-đà-kỳ-ni-đại-balưu-sa-ca, những cung điện như thế là cung điện đẹp nhất, cửa nẻo kiên cố, tất cả đều tụ tập, nhưng hôm nay tôi bỗng nhiên rời bỏ cung điện cõi trời này, không được tự do mà rời khỏi nơi này”. Trời Ba Mươi Ba thọ mạng sắp hết nên đối với cung điện của mình không còn thấy nữa, chỉ thấy Thiên nữ cúi đầu, lấy tay lau nước mắt ràng rụa trên mặt. Thiên tử sắp rời khỏi cõi trời liền nói: “Hôm nay tôi sắp vào đường chết. Mới ngày nào các người là những người thân yêu của ta, sao lại không chuyện trò với ta, nay ta sắp đi vào con đường dài sinh tử. Những người yêu hãy mau đến ôm vào cổ ta. Ta từ nay không còn gặp lại các ngươi nữa. Các ngươi cũng vậy, không còn gặp ta nữa. Nơi cõi trời này sao lại ác lắm vậy? Nghiệp quả đã hết, mờ mịt không còn thấy được. Sao cõi trời Ba Mươi Ba này khi sắp bỏ, tất cả đều trống vắng? Sao cõi trời Ba Mươi Ba này đâu không có nhạc trời, tiếng vỗ tay, mà hôm nay ta lại không nghe tiếng? Mới hôm nào đây trời Ba Mươi Ba này có trời Càn-thát-bà dễ thương đệ nhất, thiên sắc trang nghiêm, kim cang kim địa. Thiên vương Đế thích ngàn mắt có những phước đức gì mà chúng sinh tập trung đến để được thấy? Nào là hoa Ba-lợi-da, hoa Câu-tỳ-la và các tràng hoa khác trên đầu ta sao nó lại héo úa”. Vị ấy sắp từ bỏ cõi trời liền thét lên như thế. Chư Thiên cõi trời Ba Mươi Ba nghe tiếng ông ta tất cả đều sầu lo đem đủ các loại hoa để tự trang nghiêm làm sạch sẽ râu tóc. Thiên Đế thích được trăm ngàn chúng trời vây quanh, Thiên hậu Xá-chi và Thiên nữ đứng quanh. Các trời Càn-thát-bà như Na-la-đạt-ly-chi-đa-già, Đại-bát-giá, Thi-khí-đôn-phù-lư v.v… tấu các âm nhạc vi diệu của trời hướng đến vị Thiên tử sắp chết. Vị Thiên tướng ấy liền hiện ra năm tướng suy. Thấy vậy tất cả đều sinh lòng thương xót, đồng than: “Sao khổ vậy? Vô thường ác này không có lòng từ bi”.

Đế thích thấy Thiên tử sắp rời cõi trời, nói: “Tất cả pháp của chúng ta đều như vậy, chớ sinh lòng huyến ái, nên đoạn trừ tâm ấy. Nếu không đoạn trừ tâm ái thì sẽ đọa vào đường ác”. Các Thiên tử khác cũng vậy, tất cả đồng thanh nói: “Ngài nên làm việc thiện để sinh vào cõi người, nơi tất cả chúng sinh tu tạo nghiệp thiện”.

Vị Thiên tử sắp chết nghe lời khuyên bảo như vậy rồi, bèn nghĩ: “Nay ta quyết chắc sẽ đọa lạc”, liền chấp tay hướng về chúng Thiên tử nói: “Tất cả Thiên tử ở cõi trời Ba Mươi Ba xin hãy thương xót tôi, thời gian tôi đọa lạc đã đến”. Nói xong, vị Thiên tử ấy thở ra, nhìn thẳng, có hai hiện tướng xuất hiện là hố mắt như cánh hoa sen, các món trang sức đều biến mất. Các Thiên tử ấy thấy Thiên đồng tử sắp đọa lạc xa rời mọi trang sức của cõi trời liền dùng các loại hoa Manla-bà-cư-thế, Xá-da-cư-dà-na-đại để tung rải trên thân của Thiên đồng tử, nhạc trời như đàn, trống, sáo đều trỗi lên đủ loại âm thanh. Thiên đồng tử thấy mọi người cúng dường (tiễn đưa) cho thân mình như vậy nên tuy bị đọa khỏi cõi trời nhưng tâm vẫn vui mừng, muốn sinh vào cõi Diêm-phù-đề, mắt rơi lệ, tiếng nói hụt hẩng. Lúc đó các nghiệp tương ưng kéo đến, mạng sống kết thúc. Vị ấy chết rồi, gió Già-a-na thổi đến tử thi. Hương thơm ngào ngạt của làn gió ấy tỏa khắp, vị Thiên tử kia liền lìa xa cõi trời Ba Mươi Ba, nhưng thần thức mù tịt không biết chỗ nào, không có nơi chốn, không thể sinh ở chỗ nào khác hoặc nhớ nghĩ hoặc biết rõ. Thiên đồng tử này liền sinh xuống nhân gian, nhập vào thai làm cho mẹ hiện ra các tướng ca múa vui cười, thích dục lạc, luôn luôn vui vẻ, ưa những nơi rừng cây hoa quả, thích mặc các thứ y phục nhiều màu tươi đẹp, thường thích ăn uống. Dù đang mang thai mà mẹ vẫn không hề cảm thấy khó chịu, chẳng ưa tà dục, ưa thích hương thơm, trang điểm tràng hoa, lúc ngủ thì chiêm bao thấy cảnh tốt chẳng thấy sự điên đảo.

Này Đại tiên! Thiên tử cõi trời Ba Mươi Ba sinh xuống cõi Diêm-phù-đề, lúc còn trong thai mẹ, có những hiện tượng như vậy.

Đại tiên nên biết! Trong thời gian mang thai ấy, người mẹ được khỏi tất cả những bệnh tật, cho đến sau khi sinh. Khi sinh ra, trẻ đồng tử thân thể ngay ngắn, chỉ tay rõ nét, tay chân mềm mại, răng đều và kín, thân thể mềm mại, lòng thích những công đức thiện thù thắng, tính thích dục lạc tốt, y phục thì thích loại mịn màng, lại thích chỗ chơi trong rừng, thân thể có hơi thơm đặc biệt, sang quý giàu có, đầy đủ vàng bạc châu báu, sinh vào nhà quý tộc, thường hành bố thí, trì giới. Còn người nào có lòng ham muốn nhiều thì sẽ sinh vào nhà nghèo cùng. Tâm nghĩ về bố thí, không đen không trắng, tay chân ngay ngắn, ai thấy cũng sinh lòng yêu kính, tánh thích bàn luận, tâm luôn hòa dịu, ít giận hờn, ưa gần vợ người, đối với vợ mình thì lại không yêu thích, đối với người thân, anh em, bà con, cũng chẳng thương luyến.

Đại tiên nên biết! Các vị Thiên tử nơi cõi trời Ba Mươi Ba sinh xuống nhân gian vốn có tánh như vậy.

Đức Thế Tôn giảng nói kinh này xong, Đại tiên Tỳ-da-sa cùng tất cả chúng tiên đều vui mừng đồng tiếng khen ngợi: “Lành thay!”.

 

KINH TỲ DA SA VẤN

HẾT

(TRỌN BỘ HAI QUYỂN)

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.