Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

KINH BỒ TÁT THIỆN GIỚI

SỐ 1582

QUYỂN 01

Hán dịch: Đời Lưu Tống, Tam Tạng Cầu Na Bạt Ma.
Việt dịch: Tỳ Kheo Thích Thiện Thông.

Trọn bộ mười quyển 

DUYÊN KHỞI

Mùa An cư năm 1981 tại già lam Quảng Hương, lúc đó hòa thượng Thích Trí Thủ còn sinh thời, tôi xin nhập hạ tại đó, trong lúc lên thư viện mượn một ít kinh luận để đọc, tôi bỗng bắt gặp một tập sách lẻ loi rất dày và đẹp, cạnh mạ vàng óng ánh, thật là loại kinh sách quý.  Mở ra xem thì đó là 1 tập thuộc Tân Tu Đại Chánh Tạng, dày 1,000 trang, trong đó chứa đựng nội dung các bộ kinh Bồ tát Thiện Giới, Du Già Sư Địa Luận và một vài bộ kinh nào nữa mà nay tôi không còn nhớ rõ. Mới đọc qua vài trang đầu, tôi không sao hiểu nổi ý nghĩa, vì trình độ Hán văn quá ít ỏi, nói đến dịch thuật, thật là chuyện mơ hồ.

Hai năm sau tôi nhận một ngôi chùa ở vùng Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.  Một dịp nọ ra Long Khánh, đến chùa Bảo Sơn của thầy Huệ Tâm, trong lúc chuyện trò, bớt chợt nhìn vào tủ kinh sách, thấy một tập kinh in trên giấy thật trắng, tôi xin phép mượn xem thử tại chỗ, lại thấy đó là một tập trong đại tạng Tần Già, ngoài bìa đề “Đại Thừa Luật” bên trong gồm 20 quyển; Bồ tát Thiện Giới 10 quyển, Phạm Võng 2 quyển, Anh Lạc Bổn Nghiệp 2 quyển, Văn Thù Sư Lợi Vấn Phật 2 quyển, Thập Thiện 1 quyển, Thọ Thập Thiện Giới 1 quyển, Bồ Tát Nội Giới 2 quyển.  Bỗng tôi nghĩ:  Có một cái gì lạ lùng khiến tôi hai lần gặp được Bộ Bồ Tát Thiện Giới như vầy? Đây không phải là chuyện ngẫu nhiên may rủi, chắc chắn có nguyên nhân gì với giáo pháp, nên mới khiến tôi bắt gặp bộ kinh quý báu này.  Thế là tôi mượn tập kinh ấy đem về nghiên cứu, và thầy Huệ Tâm bằng lòng cho mượn.  Sau khi đem về, mở kinh Bồ Tát Thiện Giới ra đọc tới đọc lui, độ 5, 7 tờ thấy sao mà bao la sâu thẳm quá, mình chữ nghĩa chỉ lõm bõm sơ sài, biết có kham nổi không đây? Tuy vậy, tôi quyết chí cố gắng diễn dịch, hy vọng có thể vượt qua những khó khăn.

Mùa An cư 1984 tôi bắt đầu hạ bút, trước hết là dịch mấy bộ kinh ngắn, như kinh Thập Thiện (bản đời Tống), kinh Văn Thù Vấn Phật…Qua mùa hạ 1985 tôi khởi sự dịch bộ này, mỗi ngày dành 3 giờ để làm việc, sau mùa An cư năm đó tôi dịch được 5 quyển và 5 quyển sau tôi hoàn tất trong cuối năm 1985, tôi so sánh sửa chữa, chép đi chép lại đến 3 lần.  Qua năm 1986, nhân lúc gặp TT. Đức Chơn, tôi đưa bản thảo nhờ góp ý, trong lúc nhập thất TT. Đức Chơn viết thư ra, phát biểu rằng: “Tôi đã đọc xong bộ kinh của thầy dịch, thật là một bộ mới lạ hiếm có.  Thì ra trong Tạng còn nhiều bộ kinh lớn như thế này mà ít người chịu dịch đến, phần nhiều người ta dịch những bản đã có người dịch trước, tôi rất tùy hỷ việc làm của thầy, sau khi ra thất tôi sẽ cho người đánh máy giúp, và tôi sẽ bồi dưỡng tiền công cho họ”.  Thượng Tọa Đức Chơn đã thực hiện lời hứa ấy và trao cho tôi 3 bản đánh máy.

Năm 1990, lúc đến Phật học viện Huệ Nghiêm, gặp thầy Toàn Châu đang dịch mấy quyển Phật Tâm Tông, thầy cho biết HT. Từ Đàm mới vô già lam Quảng Hương, thầy đề nghị tôi nên nhờ Hòa thượng giảo chánh lại, tôi đồng ý, chúng tôi hẹn ngày  đến gặp Ôn Từ Đàm.  Sáng mùng 2/8 thầy Toàn Châu và tôi được Hoà thượng tiếp chuyện, qua lời giới thiệu của TT. Toàn Châu, Hòa thượng đồng ý duyệt lại bản thảo, HT hỏi có đem bản chính theo không? Tôi trao tạng bản, thì Hòa thượng nói:

– Nhân duyên nào thầy có tạng bản này?

– Kính bạch Hòa thượng. Con mượn ở chùa Bảo Sơn huyện Long Khánh.

– Tôi nhớ tại Linh Quang (Huế) có tạng Tần Già này, vì sao lại rơi rớt ở đó kìa?

– Thưa Hòa thượng con cũng không rõ.  Có lẽ vị nào đó từ Huế đem vào, rồi bỏ quên lại đó chăng?  Vậy nếu cần, sau khi duyệt xong, Hoà thượng đem về đó thì hay quá, như vậy khỏi bị thất lạc.

Nghe tôi nói vậy, Hòa thượng Từ Đàm gật đầu.  Hòa thượng yêu cầu tôi đọc bản Việt, còn ngài cầm bản chữ Hán để theo dõi.  Sáng hôm đó HT không được khỏe, vì vừa qua một cơn bệnh nhẹ, tuy vậy HT vẫn nằm trên võng nghe tôi đọc phần Việt dịch, đến chỗ nào hơi nghi ngờ, HT yêu cầu tôi giải thích về những từ ngữ mà tôi xử dụng, sau khi tôi trình bày, HT chấp nhận.  Đọc đến hết quyển 4, HT bảo “Hãy thôi, không cần phải đọc nữa.  Qua 4 quyển vừa rồi tôi xét thấy mức độ chính xác 98/100, bản này thầy dịch theo lối văn mới, được lắm đó” Hòa thượng dạy những lời trên trước sự hiện diện của TT Đức Chơn và thầy Toàn Châu.  Tôi ngỏ ý thỉnh Hòa thượng viết cho lời tựa, nhưng Hòa thượng nói:

–  Thầy cứ viết đi, rồi tôi giới thiệu cho.

Sau khi được sự khích lệ tinh thần của bậc tôn túc khả kính, tôi lần hồi dịch tiếp bộ Bồ Tát Anh Lạc Bổn Nghiệp (vì đã có bản chép tay), từ dạo đó đến nay, trước sau đã 10 năm, phần thì thiếu thốn tài chánh, phần thì bận tới lui giảng dạy ở một số trường Phật học, tôi vẫn giữ nguyên bản thảo, chưa có dịp lưu thông, nay xét giới tu sĩ trẻ càng ngày càng đông, nền giáo dục Phật pháp càng được mở rộng, tôi dành dụm chút đỉnh tài chánh làm lại bản thảo này để ra mắt học giới, mong đóng góp phần nhỏ trong việc phổ biến giáo pháp hiện tại và tương lai.

Nay tôi ghi lại những lời này trước là kính gởi lên Hòa thượng Từ Đàm sự tri ân sâu đậm vì ngài đã không quản ngại tuổi cao sức yếu, duyệt qua bản thảo và khích lệ tinh thần trong việc dịch thuật này.  Tôi cũng xin cảm tạ sự sốt sắng hỗ trợ của TT Đức Chơn trong thời gian trước đây.  Thành thật tán thán sự đóng góp tịnh tài của chư thượng tọa và các Phật tử phát tâm, để bộ kinh Bồ Tát Thiện Giới được lưu thông mặc dầu trong phạm vi giới hạn nội bộ.

Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát Mahatát.
Dịch giả cẩn chí.
Thích Thiện Thông

LỜI TỰA

Bồ Tát Thiện Giới, hiểu theo nghĩa Việt là những giới tốt lành, hay kheo, chơn chánh của Bồ tát.

Nói đến giới Bồ tát, ta thường nghĩ ngay đến mười giới trọng, bốn mươi tám giới khinh được nói trong kinh Phạm Võng, hoặc sáu giới trọng hai mươi tám giới khinh trong kinh Thi Ca La Việt.  Theo ý nghĩa nơi kinh này, thì giới Bồ tát không chỉ hạn hẹp trong bao nhiêu đó mà là rộng rãi vô cùng, bao quát tất cả.  Phàm những gì mà một Bồ tát từ khi sơ phát tâm cho đến khi chứng quả Phật, bao nhiêu quá trình tu tập mà vị đó trải qua, bao nhiêu công hạnh vị đó thực hiện và những quả đức đã chứng nhập, đều được gọi là “Thiện giới”.  Do ý nghĩa ấy mà bậc tiên đức đã nói “Về giới Bồ tát, nếu tính đến lượng đông với hư không, về cảnh thì lan khắp pháp giới”, tất cả những Giới, Hạnh, Quả như vậy được tóm thâu trong ba cú nghĩa: Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới, Nhiêu ích hữu tình giới, chúng ta quen gọi là Tam tụ luật nghi của Bồ tát.

Vì “Thiện giới” bao hàm tất cả những nghĩa như vậy, cho nên trong kinh này nơi cuối quyển 9, khi ngài Ưu Ba Ly hỏi về tên kinh, đức Phật đã dạy: “Ưu Ba Ly!  Kinh này gọi là Thiện giới, gọi là Bồ tát địa, gọi là Luật Bồ tát, gọi là Luận Bồ tát, gọi là Như Lai Tạng, gọi là Căn bản của tất cả thiện pháp, gọi là Nhân của sự an lạc, gọi là Sự chứa nhóm các hạnh ba la mật…”

Trọn bộ kinh gồm 10 quyển, chia làm 30 phẩm.  Chín quyển đầu thuyết minh tất cả hạnh môn của Bồ tát địa và Phật địa, một quyển sau dạy về thể thức truyền giới, tự thệ thọ giới, cũng như thuyết minh tám giới trọng và 55 giới khinh của Bồ tát, xem như một bộ giới bổn, ngoài bộ giới Bổn Phạm Võng.  Điểm đặc biệt của quyển giới bổn này là dạy rõ vừa pháp giá vừa pháp khai trong 55 giới khinh của Bồ tát, mà từ trước đến nay chưa thấy có bản dịch nào nói đến, cho nên phần giới bổn trong bộ kinh này có thể triển khai nhiều phương diện, giúp ích cho những vị đã thọ học giới Bồ tát, muốn biết để thực hành.

Qua 30 phẩm kinh, đức Phật đã giảng nói một cách cô đọng, sâu thẳm về vô biên hạnh của Bồ tát, như Mười Ba la mật, Bốn nhiếp pháp, Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Mười hai nhân duyên, Bốn Vô lượng tâm, Ba giải thoát môn, Bốn pháp ấn…Ngoài những hạnh môn của Bồ tát, ngài còn dạy rõ về 140 pháp bất cộng của chư Phật, như nhân địa và thành quả 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, Bốn tịnh hạnh, Mười lực, Bốn vô sở úy, Ba niệm xứ, Ba bất hộ, Đại bi, Thường không quên mất, Trí đoạn tập nhân phiền não, Nhứt thiết chủng trí…

Có một điểm đáng lưu ý mà chúng tôi muốn trình bày là: trong khi diễn nói những hạnh môn ba la mật của Bồ tát đức Phật dạy về hành trình của 41 ngôi vị, nhất là 10 địa trong hàng thập thánh, phần này rất cô đọng nhưng đã tóm nhiếp giáo nghĩa bậc Thập địa nơi kinh Hoa Nghiêm, hoặc trong kinh Phạm Võng (quyển thượng) Kinh Anh Lạc Bổn Nghiệp, kinh Lăng Nghiêm v.v…Như vậy, kinh Bồ tát Thiện giới này là Bồ tát luật, Bồ tát luận, là Như Lai Tạng, quả thật không sai.

Trong khi dịch thuật bộ này, chúng tôi nhận thấy rằng, nội dung của kinh chứa đựng quá nhiều thuật ngữ, cũng như pháp số mà nhiều kinh khác có chỗ cũng nói đến.  Có lẽ các nhà sớ giải Trung hoa đã nương vào kinh này, để giải thích thuật ngữ, pháp số nằm trong những hạnh môn của Bồ tát địa.

Tóm lại, tuy chỉ gồm trong 10 quyển nhưng đã bao gồm tất cả những giáo lý tối thượng Phật thừa, mà đức Thế Tôn của chúng ta đã thành tựu, và ngài vì hàng Bồ tát Vị lai mà nói ra.

Kinh này được tam tạng pháp sư Cầu Na Bạt Ma người Ấn độ. Cầu Na Bạt Ma (Gunavarman), người Hoa dịch là Công Đức Khải, ngài đến kinh đô Kiến Nghiệp năm Nguyên Gia thứ 8 đời vua Tống Văn Đế, từng dịch hơn một chục bộ kinh, luật được vua Tống rất khen ngợi cung kính.

Vì một nhân duyên nào đó, khiến tôi gặp kinh này và phát nguyện dịch ra Việt văn, để góp phần văn hóa Phật giáo nước nhà, và giúp thêm tư liệu cho chư vị tại gia xuất gia rộng đường duyệt lãm.  Mặc dù cố gắng hết mình và sửa đi sửa lại nhiều lần, nhưng thánh ý cao viễn vô biên, tâm phàm không sao trắc lượng, chắc chắn không tránh khỏi mọi sự vụng về sai lạc, rất mong chư vị thiện tri thức cao minh chỉ bày cho những chỗ khuyết điểm, để khi có cơ hội ấn hành sau, được hoàn chỉnh hơn.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Tháng quý Thu, năm Ất Hợi 1995
Dịch giả kính ghi

ĐỊA BỒ TÁT

PHẨM THỨ NHẤT
PHẨM TỰA

Tôi nghe như vầy:

Một thời đức Phật ở nước Xá Vệ, Tịnh xá Kỳ Hoàn, nơi vườn cây của Thái tử Kỳ Đà và trưởng giả Cấp Cô Độc, cùng với số đông đại Tỳ kheo Tăng gồm năm trăm người, vô lượng Bồ Tát, trong đó có một ngàn vị Đại Bồ Tát làm bực thượng thủ.

Bấy giờ đức Phật bảo chư Bồ Tát:

– Trong đời ác sau này, ai có thể thọ trì, ủng hộ đạo Vô thượng chánh đẳng Chánh giác? Ai có thể hộ pháp? Ai có thể giáo hóa chúng sanh?

Khi đó, Đại Bồ Tát Di Lặc từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa áo vai mặt, gối bên mặt sát đất, quỳ thẳng chắp tay bạch Phật:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Trong đời ác sau này, con có thể thọ trì, ủng hộ đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, có thể bảo vệ Chánh pháp có thể giáo hóa chúng sanh.

Sư Tử Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể dùng  các phương tiện nhiếp giữ chúng sanh.

Kim Cang Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Nếu có chúng sanh sắp đọa vào ba đường ác, con có thể che chở giữ gìn, làm cho chúng đó khỏi bị đọa lạc.

Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Nếu chúng sanh nào cầu xin những gì, con có thể giúp họ đầy đủ tất cả.

Trí Tràng Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể đem lại cho chúng sanh trí tuệ rộng lớn.

Pháp tràng Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể đem giáo pháp thí khắp chúng sanh.

Nhựt Quang Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể bố thí chúng sanh sự an vui.

Nguyệt Quang Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể giáo hóa tất cả chúng sanh, khiến họ tu phước đức.

Thiện Hộ Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể giáo hóa tất cả chúng sanh, khiến họ không buông lung.

Vô Tận Ý Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể chỉ dạy tất cả chúng sanh, khiến họ rõ biết ý nghĩa vô tận của các lãnh vực.

Nguyệt Tý Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể bố thí tất cả chúng sanh sự an vui cao tột.

Thiên Nguyệt Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể đem lại cho tất cả chúng sanh sở nhân của sự an lạc.

Quan Thế Âm Bồ Tát thưa:

–  Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể cứu giúp tất cả chúng sanh khỏi sự sợ hãi.

Đại Thế Chí Bồ Tát thưa:

–  Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể làm những người chưa độ được độ thoát.

Chúng Thiện Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể làm cho những kẻ chưa điều phục được điều phục.

Thiện Ý Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Nếu có chúng sanh đọa vào đường súc sanh, con có thể giáo hóa, khiến chúng đó được điều phục.

Bất Lạc Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể bố thí trí tuệ cho những kẻ ngu muội.

Quang Tụ Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể làm cho người căn tánh thấp kém, trở thành căn tánh cao thượng.

Bất Đế Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể chỉ con đường chân chánh cho kẻ mê cuồng.

Nhạo Kiến Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể bố thí sự an lạc cho vô lượng chúng sanh.

Thích Tràng Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể làm cho những chúng sanh đã trót chịu khổ, luôn luôn nhớ đến sự khổ.

Bất Khả Tư Nghị Giải Thoát Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế tôn! Con có thể làm cho chúng sanh trong đường ngạ quỷ, được xa lìa nỗi khổ đói khát.

Thánh Quang Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể điều phục những chúng sanh  chẳng ai điều phục.

Duy Ma Cật Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể phá vỡ lòng nghi của chúng sanh.

Quang Minh Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể đóng bít cửa nẻo ba đường ác.

Kim Cang Công Đức Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể làm cho những chúng sanh có những hiểu biết dị biệt, trở thành hiểu biết thuần nhất.

Vô Lượng Hạnh Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể đem lại cho chúng sanh đạo quả vô lậu.

Vô Sở Úy Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể làm tan hoại những thứ sợ sệt của chúng sanh.

Bảo Công Đức Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể chỉ rõ kho tàng công đức quý báu cho tất cả chúng sanh.

Thiện Ý Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể dùng lời nói thanh tao mềm mỏng điều phục chúng sanh.

Tịnh Quang Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể dùng sự yêu mến để điều phục chúng sanh.

Phổ Hiền Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể làm cho tất cả chúng sanh nhớ lại đời quá khứ.

Cao Quý Đức Quang Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể làm cho chúng sanh chuyên cần tinh tấn tu hành.

Thiện Công Đức Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể làm cho những chúng sanh khổ não đều được giải thoát.

Bảo Thủ Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể thí khắp vô lượng chúng sanh các món báu vật.

Ý Châu Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể phá hỏng sự nghèo cùng của chúng sanh.

Phá Kiết Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể phá hoại sự phiền não của các chúng sanh.

Kim Quang Minh Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể chỉ con đường chơn thật cho những chúng sanh tà ngụy.

Công Đức Sắc Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể làm cho chúng sanh thuộc các Thừa, trụ vào nhứt Thừa.

Pháp Ý Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể làm cho chúng sanh được con mắt pháp.

Kim Cang Tử Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể làm hư hỏng nghiệp ác của các chúng sanh.

Pháp Tăng Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể đúng như pháp nhiếp giữ chúng sanh.

Vô Sanh Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể làm cho tất cả chúng sanh lìa khỏi ba độc.

Nguyệt Thắng Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể chỉ phương tiện khéo léo cho chúng sanh.

Sư Tử Ý Bồ Tát thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Con có thể đem Phật Pháp thí khắp chúng sanh.

Sư Tử Hống Bồ Tát thưa:

– Kính lạy đức Thế Tôn! Con có thể phá hỏng lưới nghi của chúng sanh.

Hương Thượng Vương Bồ Tát thưa:

– Kính lạy đức Thế Tôn! Về đời ác sau này, trong giấc chiêm bao của chúng sanh, con có thể chỉ cho họ phá hoại phiền não.

*
*     *

Bấy giờ Tôn giả Xá Lợi Phất tự suy nghĩ như vầy:

Lạ lùng thay! Kỳ đặc thay! Những việc của chư Bồ Tát thật chẳng thể nghĩ bàn.  Nghĩ như vậy rồi, ngài liền bạch Phật:

– Kính lạy đức Thế Tôn! Nếu có Bồ Tát siêng năng tinh tấn tu hành, đầy đủ có phương tiện, để có thể đem lại lợi ích cho chúng sanh về mọi mặt.  Bạch đức Thế Tôn! Những vị Đại Bồ Tát đã như thế, thì sao chúng sanh lại còn theo các vị này hỏi xin đầu, mắt, tủy, não, máu, thịt hay những nhu cầu khác?

– Kính bạch đức Thế Tôn! Nay con định chắc, người đến xin đây chính là Bồ Tát Ma ha tát.

Đức Phật nói:

– Đúng vậy! Đúng vậy Xá Lợi Phất! Quả như lời ông vừa nói.  Chỉ có chư Bồ Tát mới biết Bồ Tát.  Bậc Thanh Văn, Duyên Giác thật sự chẳng thể theo kịp nổi.

– Này Xá Lợi Phất! Bồ Tát Ma ha tát tuy hiện các thứ thần túc của Phật, nhưng trọn không bỏ tâm Bồ Tát.

– Xá Lợi Phất! Nếu kẻ trưởng giả nào sanh tâm kiêu mạn, Bồ Tát liền hiện thân trưởng giả để phá sự  kiêu mạn của kẻ đó, cả đến trời Na La Diên hoặc người đàng hoàng, nếu có điều kiêu mạn, Bồ Tát cũng đều hiện thân như vậy, để phá tâm kiêu mạn của những kẻ ấy.  Nếu họ chứng được Thánh pháp, Bồ Tát liền đem pháp Đại Thừa khai thị.

Tại sao vậy?

– Lìa sự giải thoát của Nhứt Thừa, không có giải thoát nào riêng khác, bởi thế mệnh danh là Như Lai.

– Này Xá Lợi Phất! Bồ Tát tại gia tu tập hai điều bố thí: Một là Tài thí.  Hai là Pháp thí.  Bồ Tát xuất gia tu tập bố thí có bốn: Một là Cho viết Hai là Cho mực.  Ba là Cho kinh.  Bốn là Nói pháp cho người.  Bồ Tát xuất gia thực hành đủ bốn việc bố thí này rồi, có thể tự điều phục tâm mình, phá bỏ tâm kiêu mạn và tu phước đức nhẫn nhục.

– Xá Lợi Phất! Bồ Tát xuất gia tu đức nhẫn nhục, là có thể thọ trì giới cấm của Bồ Tát.  Lại còn phải đủ ba điều huệ thí nữa, mới có thể thọ trì giới cấm của Bồ Tát.  Ba điều huệ thí là gì?

  1. Bố thí.  2.  Đại thí.  3.  Vô thượng thí.

Thế nào là bố thí? – Bố thí vật quý cho chúng sanh trong bốn châu thiên hạ còn chẳng lẫn tiếc, huống là vật mọn.  Đây gọi là bố thí.

Thế nào là Đại thí? – Có thể xả bỏ vợ, con cấp thí.

Thế nào là Vô thượng thí? – Bố thí đầu, mắt, tủy, não, xương, thịt, da, máu v.v…Bồ Tát đầy đủ ba thứ thí trên đây là đủ đức nhẫn nhục.  Đủ đức Nhẫn này rồi, có thể thọ trì giới cấm của Bồ Tát.

– Xá Lợi Phất! Khi muốn thọ giới Bồ Tát, trước hết nên chế ngự các giác quan cho được mềm mỏng.  Đối với sự phát sanh dục nhiễm, Bồ Tát chẳng sanh tâm ham muốn, với sự giận dỗi, Bồ Tát chẳng sanh lòng giận, đối với sự si mê, Bồ Tát chẳng sanh tâm si, với sự sợ sệt, Bồ Tát chẳng sanh tâm lo sợ.

– Nếu Bồ Tát tự hiểu đủ bốn điều như trên, tức như chỗ biết của chư Phật mười phương, vị này cũng có thể biết mười phương chư Phật.

– Xá Lợi Phất! Nếu biết chẳng đủ bốn điều của người thọ giới Bồ Tát, người này chẳng đắc giới Bồ Tát, cũng là luống dối với chư Phật, chư Bồ Tát hiện tại trong mười phương.

– Xá Lợi Phất! Bồ Tát có hai hạng: Hạng thứ nhất theo nhân duyên sân hận.  Hạng thứ hai theo nhân duyên si mê.

– Xá Lợi Phất! Sự giận dỗi có thể gây nhân duyên tám địa ngục lớn.  Sự si mê có thể làm nhân duyên cho các phiền não xấu ác.  Do hai nhân duyên giận dỗi, si mê này mà có thể làm hỏng giới Bồ Tát.

– Xá Lợi Phất! Nếu muốn thọ giới Bồ Tát, trước hết người thọ phải xa lìa tham dục, giận dỗi, si mê, sợ sệt.  Người thọ giới nên ở riêng một chỗ rảnh rang, suốt thời gian sáu tháng, ngày đêm sám hối các tội, phát lời như sau:

Con tên là (pháp danh là)…Quy y Phật, Quy y Pháp, Quy y Tăng, Quy y các đức Phật hiện tại trong khắp mười phương và chư Bồ Tát Tăng.  Quy y đức Thích Ca Như Lai.

Nam Mô Phật Đà
Nam Mô Đạt Ma
Nam Mô Tăng Già
Nam Mô Thập Phương chư Phật cùng Bồ Tát Tăng.
Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam Mô Kim Cang Vô Hoại Thân Phật.
Nam Mô Bảo Quang Phật.
Nam Mô Vô Lượng Tự Tại Vương Phật.
Nam Mô Vô Thượng Lâm Vương Phật.
Nam Mô Vô Thượng Hoan Hỷ Phật.
Nam Mô Bão Hỏa Phật.
Nam Mô Bão Nguyệt Quang Phật.
Nam Mô Thanh Tịnh Phật.
Nam Mô Thủ Cần Tinh Tấn Phật.
Nam Mô Phạm Đức Phật.
Nam Mô Thiện Công Đức Phật.
Nam Mô Chiên Đàn Công Đức Phật.
Nam Mô Quang Công Đức Phật.
Nam Mô A Thúc Già Công Đức Phật.
Nam Mô Na La Diên Lực Phật.
Nam Mô Hoa Công Đức Phật.
Nam Mô Liên Hoa Phật.
Nam Mô Tài Công Đức Phật.
Nam Mô Niệm Công Đức Phật.
Nam Mô Thiện Danh Phật.
Nam Mô Thích Chủng Vương Phật.
Nam Mô Vô Thắng Phật.
Nam Mô Vô Biên Thân Quang Phật.
Nam Mô Vô Biên Thân Phật.
Nam Mô Vô Động Phật.
Nam Mô Đại Sơn Vương Phật.

Quy y như vậy vô lượng chư Phật, Bồ Tát trong vô lượng thế gian, thường trụ nơi đời, nói pháp giáo hóa.

Ngưỡng mong chư Phật xót thương đoái tưởng, như vô lượng đời trước hoặc đời hiện tại, con đã lỡ tạo các điều ác nghiệp bất thiện.  Hoặc tự mình làm hay thấy người làm sanh tâm vui mừng.  Hoặc lấy những vật của Phật, hoặc vật của Pháp, vật của chúng tăng, vật chiêu đề Tăng, vật hiện tiền tăng, hoặc tự mình lấy hay thấy người lấy sanh tâm vui mừng.  Hoặc tự mình gây tội ngũ nghịch, hay thấy người gây tội sanh tâm vui mừng.  Tự mình tạo mười nghiệp ác hay thấy người tạo, sanh tâm vui mừng.

Do nhân duyên các nghiệp chẳng lành này, sẽ đọa vào loài súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, hoặc nơi biên địa, hoặc sanh lên các cõi trời trường thọ, hoặc sanh làm người câm, điếc, ngọng, mù, hoặc gần thầy tà, bạn ác, không gặp chư Phật xuất thế.  Những tội như vậy, ngày nay thành tâm, cầu xin sám hối.

Như đối trước đức Thích Ca Mâu Ni hiện tại, đấng Như Lai Thế Tôn chơn thật rõ biết, trí Phật vô ngại, mắt Phật thấy suốt, ngài luôn luôn vì tất cả chúng sanh làm bậc chứng minh.  Kính mong đức Phật soi xét lòng thành sám hối của con, từ nay trở đi con không dám gây tội lỗi như trước.

Thứ nữa, ngưỡng mong mười phương chư Phật, chư đại Bồ Tát, đồng gia tâm chứng giám cho con.  Nếu con đã gây phước nghiệp bố thí trong vô lượng đời trước hay đã gây tạo trong hiện đời này, dầu là đem thí cho loài súc sanh một nắm thức ăn…Những công đức ấy đều đem hồi hướng.  Hoặc những công đức do sự trì giới mà con đã tạo trong lúc nào đó, tất cả đều đem hồi hướng về đạo Vô Thượng Bồ Đề, như sự phát nguyện hồi hướng của chư Phật Bồ Tát quá khứ, như sự phát nguyện hồi hướng của chư Phật, Bồ Tát vị lai, như sự phát nguyện hồi hướng của chư Phật, Bồ Tát hiện tại trong khắp mười phương hư không pháp giới.

– Xá Lợi Phất! Vị Bồ Tát chí tâm lễ lạy, cung kính chư Phật, trải qua sáu tháng như vậy rồi, hoặc tới lui, hoặc đi đứng, hoặc ngồi.  Lúc đó chư Phật mười phương hiện thân ra trước mặt, đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp.  Tuy thị hiện tướng hảo với Bồ Tát ấy, nhưng đối với pháp giới vẫn là bất động.

Tại sao thế?

– Các đức Như Lai chơn thật rõ biết tâm của Bồ Tát này.  Mười phương chư Phật đều biết chắc Bồ Tát này có thể kham lãnh thọ trì giới cấm của Bồ Tát để tu lòng Từ Bi, có thể phá hoại ma quân và chuyển bánh xe pháp, tuyên nói chánh pháp, điều phục chúng sanh trong khắp pháp giới.  Do ý nghĩa đó chư Phật mười phương vì Bồ Tát này, hiện ra thân tướng các ngài.

– Này Xá Lợi Phất! Như tiếng rống của sư tử, mèo, chồn có thể rống nổi không?

– Thưa không! Bạch đức Thế Tôn.

– Nếu người không vun trồng cội đức nơi vô lượng đức Phật, người đó có thể được giới Bồ Tát không?

– Bạch đức Thế tôn! Không thể nào được.

– Xá Lợi Phất! Như sức chuyên chở của voi chúa, con lừa có thể hơn không?

– Kính bạch Thế Tôn! Không thể nào hơn.

– Như ánh sáng mặt trời, mặt trăng, lửa đom đóm có thể sánh bằng không?

– Kính bạch Thế Tôn! Không thể sánh bằng.

– Như báu vật của Tỳ sa môn Thiên vương, kẻ nghèo nàn có thể bằng không?

– Kính bạch Thế Tôn! Không bằng.

– Như chim Đại bàng bay lượn, con quạ có thể theo kịp không?

– Kính bạch Thế Tôn! Không thể theo kịp.

– Này Xá Lợi Phất! Nếu như người nào, trong vô lượng đời, trong vô lượng chỗ của các đức Phật, đã từng trồng sâu cội đức, người này mới có thể thọ giới Bồ Tát, mới có thể thấy chư Phật mười phương một cách rõ ràng.

– Xá Lợi Phất! Khi thọ giới Bồ Tát rồi, nếu do khách trần phiền não, phạm phải những điều có thể sám hối, hãy nên hướng về chư Phật trong mười phương mà lễ sám.

Bồ Tát trọn không tạo năm tội nghịch.  Nếu tâm tham dục chẳng dứt, đến đỗi sanh con, phải nên đối trước chư Phật hiện tại trong mười phương, trường trải hai năm, ban ngày ban đêm, hết lòng trân trọng, cầu xin sám hối.

Nếu vì lòng tham của, trộm lấy vật của Phật của Pháp, của Tăng, cũng phải đối trước chư Phật sám hối hai năm như đã nói trên.

– Xá Lợi Phất! Bồ Tát do nhân duyên giận dỗi hủy phá giới cấm ư? Việc ấy không có.  Do nhân duyên giận dỗi phá hủy giới cấm lại được sám hối ư? Việc ấy cũng không có.

*

Bấy giờ Tôn giả Ưu Ba Ly, cũng trong buổi rạng đông hôm ấy, ngài ra khỏi thiền định, đứng dậy đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ Phật, nhiễu quanh đức Phật ba vòng rồi ngồi xuống một bên và bạch:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Như trong giới kinh nói “Nếu đệ tử Như Lai, những người có đức tin, một khi đã thọ giới, dầu phải mất cả mạng sống, suốt đời cũng không nên hủy phạm”.

– Kính bạch đức Thế Tôn! Hiện tại đây và về sau này, khi Phật Niết Bàn rồi, con nên phân biệt như thế nào, để biết rõ giới cấm của Thanh Văn, giới cấm của Duyên Giác và giới cấm của Bồ Tát? Đức Thế Tôn dạy rằng; con là người đứng đầu trong các vị trì luật, nay con chẳng rõ phương tiện của Tỳ ni, làm thế nào để nói ra? Nay đây có nhiều vị đại Tỳ kheo cùng chư Bồ Tát tăng, cúi mong đức Như Lai chỉ vẽ đầy đủ và giảng nói rộng rãi.

Đức Phật dạy:

– Lành thay! Lành thay Ưu Ba Ly! Hãy dốc lòng nghe kỹ và khéo suy nghĩ nhớ lấy, tôi sẽ vì ông mà nói rõ.

– Này Ưu Ba Ly! Giới của Thanh Văn nhơn duyên khác.  Giới của Bồ Tát nhơn duyên khác.  Giới của Thanh văn tâm lượng khác.  Giới của Bồ Tát tâm lượng khác. Sự trang nghiêm của giới Thanh văn khác.  Sự trang nghiêm của giới Bồ Tát khác.  Giới của Thanh văn phương tiện khác.  Giới của Bồ Tát phương tiện lại khác.

– Ưu Ba Ly! Sự trong sạch của giới Thanh văn không phải như sự trong sạch của giới Bồ Tát.  Sự trong sạch của giới Bồ Tát không phải như sự trong sạch  của giới Thanh văn.

Người thuộc Thanh văn đầu đến một niệm cũng không cầu thọ thân các cõi (Hữu), nên gọi là sự trong sạch của giới Thanh văn.  Bồ Tát thì trái lại, nếu chẳng cầu “Hữu” gọi là đại phá giới, gọi là giới không trong sạch.

Bực Thanh văn nếu còn cầu có sự thọ thân gọi là phá giới, gọi là giới không trong sạch.

– Ưu Ba Ly! Bồ Tát Ma ha tát trong vô lượng kiếp, luôn luôn ở trong các nẻo mà không mong tiến thủ, gọi là Bồ Tát hủy Tịnh của Thanh văn.  Bởi ý nghĩa đó cho nên Ưu Ba Ly, ông nên nói rằng: Thanh văn hủy cấm là gấp, Bồ Tát hủy cấm là hoãn, Thanh văn hủy giới bị đóng bít.  Bồ Tát hủy phạm được khai mở. Trong giới Thanh văn nên nói nhân duyên, trong giới Bồ Tát không nên nói nhân duyên.

– Ưu Ba Ly! Sự tùy thuận chúng sanh của Bồ Tát chẳng phải như hàng Thanh Văn.  Thế nên, đối với Bồ Tát, những giới dâu nhỏ, dâu hoãn, Thanh văn cũng phải bảo vệ như những giới gấp.

– Ưu Ba Ly! Bồ Tát trong buổi rạng đông phạm giới, vẫn cố nhớ nghĩ đến đạo Vô Thượng Bồ Đề, tự biết tội lỗi của mình, ngày đêm ba thời cũng cố nhớ nghĩ như vậy.  Đây gọi là giới Bồ Tát.

– Ưu Ba Ly! Nếu Bồ Tát mỗi lúc mỗi phạm chẳng gọi là phá giới.

Nếu như Thanh văn mỗi lúc mỗi phạm, gọi là phá giới, gọi là mất giới, gọi là chẳng được đạo quả của bậc sa môn.

Tại sao thế?

– Người Thanh văn vì muốn mau chóng phá hoại phiền não mà siêng năng tinh tấn, vì thế chẳng nên hủy phạm.

– Ưu Ba Ly! Bồ Tát nếu không Hằng hà sa kiếp thọ hưởng năm thứ dục lạc, cũng không mất giới cấm của Bồ Tát, chẳng gọi là mất giới, chẳng gọi là không được quả vị Bồ Tát.

– Ưu Ba Ly! Bồ Tát chẳng thể trong một đời sạch hết phiền não, mà phải dùng nhiều phương tiện trừ sạch lần lần.

– Ưu Ba Ly! Đạo Vô Thượng Bồ Đề, phải nhờ năng lực trang nghiêm cao tột vĩ đại, sau đó mới chứng quả vị Vô thượng Chánh giác, chẳng phải một đời chứng được.  Vì thế Như Lai không nói “Bồ Tát ở trong đường sống chết sanh tâm hối đối” cũng không tuyên nói rằng “phải đoạn hết tham ái” mà Như Lai vì Bồ Tát nói pháp hoan hỷ, pháp sâu xa, pháp không nghi ngờ, pháp rỗng rang, Bồ Tát nghe pháp ấy rồi thích ở trong đường sanh tử.

Ngài Ưu Ba Ly thưa:

– Kính bạch Thế Tôn! Phạm có ba thứ:

– Một là tham lam.  Hai là Giận dỗi.  Ba là si mê.

– Bồ Tát phạm tội nặng là những gì? Phạm tội nhẹ là những gì?

Phật đáp:

– Ưu Ba Ly! Nếu Bồ Tát phạm những điều thuộc tham, nhiều như số cát sông Hằng, chẳng gọi là hủy giới.  Nếu một lần phạm sân, làm nhân duyên hủy giới.  Đây gọi là phá giới.

– Vì sao thế?

– Này Ưu Bà Ly! Tâm giận dỗi bỏ rơi chúng sanh, tâm tham ái có thể che chở chúng sanh.  Nếu yêu mến chúng sanh chẳng gọi là phiền não.  Giận dỗi bỏ rơi chúng sanh gọi là phiền não sâu nặng.

– Ưu Bà Ly! Vì thế trong kinh Như Lai nói rằng: Những kiết sử tham khó đoạn chẳng gọi là nặng.  Giận dỗi dễ dứt, ấy gọi là nặng.

– Ưu Ba Ly! Thứ khó đoạn chẳng phải là nặng.  Bồ Tát thường đoạn giận dỗi là thứ giới trọng dễ trừ, cho đến trong giấc chiêm bao còn không giận dỗi.

– Ưu Ba Ly! Bồ Tát si mê không có phương tiện hay khéo lo sợ phạm ái.  Bồ Tát có trí, khéo biết phương tiện, lo sợ phạm sân, chẳng sợ phạm ái.

*

Khi đó, ngài Văn Thù Sư Lợi bạch Phật:

– Kính thưa đức Thế Tôn! Tỳ ni gọi là điều phục.  Tánh của các pháp rốt ráo là điêu.  Vì sao đức Như Lai tuyên nói về Tỳ ni?

Phật đáp:

– Văn Thù Sư Lợi! Nếu kẻ phàm phu có thể biết các pháp rốt ráo là điêu, thì Như Lai trọn không nói về Tỳ ni.  Bởi kẻ phàm phu chẳng biết, chẳng hiểu, do đó Như Lai vì nói Tỳ ni.

– Văn Thù Sư Lợi! Nay ông vì sao không nói về Tỳ ni? Ưu Ba Ly đang muốn nghe đó.

Bấy giờ ngài Văn Thù Sư Lợi nói với ngài Ưu Ba Ly:

– Này ông Ưu Ba Ly! Tất cả các pháp rốt ráo là điều phục.

– Tất cả các pháp tánh chẳng ô uế.

– Tất cả các pháp tánh chẳng điên đảo.

– Tất cả các pháp tánh vốn thanh tịnh.

– Tất cả các pháp chẳng thể tuyên nói.

– Tất cả các pháp không có chấp lấy.

– Tất cả các pháp không đi, không lại.

– Tất cả các pháp không thể nghĩ bàn.

– Tất cả các pháp không hề chướng ngại.

– Tất cả các pháp vốn không tự tánh.

– Tất cả các pháp chẳng sanh chẳng diệt.

– Tất cả các pháp không bị chi phối.

– Tất cả các pháp không có ba đời.

– Tất cả các pháp không có lưới nghi.

– Tất cả các pháp như vậy, Phật đều hiểu biết.

Ưu Ba Ly bạch Phật:

– Kính thưa đức Thế Tôn! Như chỗ nói ra của ngài Văn Thù Sư Lợi, chẳng phải là nói một cách rõ ràng.

Phật bảo:

– Này Ưu Ba Ly! Văn Thù Sư Lợi thường thích tuyên nói nghĩa lý giải thoát như vậy.

Ưu Ba Ly thưa:

– Kính bạch đức Thế Tôn! Vì sao gọi là Bồ Tát kiêu mạn? Phật đáp:

– Nếu Bồ Tát nói rằng “Ta có Bồ Đề  tâm, ta thực hành hạnh Bồ Đề, tu sáu pháp ba la mật.  Ta vì Bát nhã ba la mật mà tu các hạnh…” Hoặc nói hạnh Bồ Đề sâu, hạnh Thanh văn cạn.  Hạnh Bồ Đề trong sạch. Hạnh Thanh văn chẳng trong sạch.  Hạnh Bồ đề rốt ráo, hạnh Thanh văn chẳng rốt ráo…” Nếu lại sanh tâm phân biệt “là pháp Thanh văn, là pháp Duyên giác, là pháp Bồ Tát, là pháp Phật.  Đây gọi là tịnh, đây là bất tịnh, đây gọi là Đạo, đây chẳng phải Đạo…Như thế gọi là Bồ Tát kiêu mạn.

PHẨM THỨ HAI
TÁNH CỦA HẠNH LÀNH

Đại Bồ Tát tu tập Thánh hạnh, thực hành những quả lành thuộc đạo Bồ Đề, gồm có 10 pháp.  Mười pháp này có thể nhiếp lấy tất cả điều lành.  Những gì là mười?

  1. Chi
  2. Dực (phò giúp)
  3. Tịnh tâm
  4. Hạnh
  5. Hữu
  6. Nhân
  7. Khí (tài năng)
  8. Địa (quả vị)
  9. Phương tiện
  10. Trụ

CHI là gì? Nghĩa là tánh Bồ Tát.  Tánh Bồ Tát là sự mới phát tâm và ba mươi bảy phẩm trợ đạo.  Tại sao vậy?

Đại Bồ Tát phát tâm Bồ Đề, tâm Bồ Đề là căn bản của tất cả pháp lành, vì vậy gọi là CHI.  Do sự phát tâm này làm nhân mà được Vô Thượng Bồ Đề, thế nên gọi là NHÂN.  Do nhân của sự phát tâm quyết định được Vô thượng Bồ Đề, cho nên gọi là TÁNH.  Bởi các nhân sơ phát tâm của đại Bồ Tát, được tu Bố thí ba la mật, Trì giới ba la mật, Nhẫn nhục ba la mật, Tinh tấn ba la mật, Thiền định ba la mật và Bát nhã ba la mật.  Vì thực hành sáu độ ba la mật, tức được trí tuệ trang nghiêm, phước đức trang nghiêm và tu 37 phẩm Trợ Đạo, thế nên Bồ Tát phát tâm Bồ Đề, mệnh danh là CHI.  Đại Bồ Tát tùy sự phát tâm thực hành đầy đủ, được Vô thượng Bồ Đề cho nên gọi là CHI.

Đại Bồ Tát, nếu không có tánh Bồ Đề, dầu phát tâm siêng năng tinh tấn, rốt cuộc chẳng thể được Vô thượng Bồ Đề.  Thế nên biết, chẳng phải do riêng siêng năng tinh tấn mà có tánh Bồ Đề, do đúng như nghĩa của tánh Bồ Tát. Đây gọi là CHI.

Bồ Tát, tuy có Bồ Tát tánh, nhưng nếu không phát tâm siêng năng tinh tấn, không thể mau thành vô thượng chánh giác.

Có tánh Bồ Tát, phát tâm Bồ Đề, do siêng tu tinh tấn, có thể mau thành Vô thượng Bồ Đề.  Vì lẽ đó tánh của Bồ Tát gọi là CHI.

Vả lại, CHI cũng gọi là Nhân, cũng gọi là Nấc, cũng gọi là Thêm lớn, cũng gọi là Trang nghiêm, cũng gọi là Nương tựa, cũng gọi là Thứ lớp, cũng gọi Tiến hạnh, cũng gọi là Nhà ốc.  Do nghĩa đó, tánh gọi là CHI.

Thế nào là TÁNH? Tánh có hai:

Một là Bổn tánh.  Hai là Khách tánh.

Bổn tánh là Ấm, Giới, Nhập, thứ lớp liên tục, vô thỉ vô chung.  Pháp Tánh tự nó như vậy, vì thế gọi là Bổn tánh.

Khách tánh là tất cả pháp lành tụ tập để được tánh Bồ Tát, đó gọi là Khách tánh.  Kinh đây lấy hai thứ Bổn, Khách làm tánh.  Hai tánh đây, gọi là CHI.  Lại nữa, Tánh cũng gọi là chủng tử, là ranh vức.  Gồm có hai thứ: 1. Tế.  2. Thô.

Tế là gì? – Không nhân mà được, không nhân được quả, thế gọi là Tế.

Thô là gì? – Có nhân mà được.  Từ nhân được quả, thế gọi là Thô.

Đại Bồ Tát được hai thứ tánh (Bổn, Khách) là hơn tất cả Thanh văn, Duyên giác huống gì các hạng ngoại đạo.  Vì lẽ đó Bồ Tát được gọi là Hơn.

Vì sao lại hơn? – Do trong sạch vậy.

Trong sạch có hai:

Một là: Sạch sở tri chướng (trí chướng)

Hai là: Sạch phiền não chướng (kiết chướng)

Thanh văn, Duyên giác sạch phiền não chướng chẳng phải sạch sở tri chướng.

Đại Bồ Tát sạch cả hai chướng, do đó tánh Bồ Tát được gọi là Hơn.

Đại Bồ Tát có bốn điều hơn hết thảy Thanh văn, Duyên giác và ngoại đạo.  Bốn điều hơn là: 1. Căn hơn.  2. Hạnh hơn.  3. Phương tiện hơn.  4. Đắc quả hơn.

-Căn hơn: Đại Bồ Tát bản tánh dõng mãnh lanh lợi.  Duyên giác tánh trung bình, Thanh văn tánh chậm lụt.  Đây gọi là căn hơn.

-Hạnh hơn:  Thanh văn, Duyên giác vì tự độ mình mà tu các pháp lành, Bồ Tát chẳng tự vì mình, chỉ vì chúng sanh mà tu tập pháp lành, đem tâm Đại bi thương xót tất cả, ban bố an vui cho khắp chúng sanh, vì thế gọi là hạnh hơn.

-Phương tiện hơn: Thanh văn, Duyên giác chỉ có thể rõ thấu Ấm, Giới, Nhập mà chẳng rõ suốt mười hai nhân duyên và Xứ, chẳng phải Xứ.  Phương tiện của Bồ Tát có thể khéo biết tất cả pháp, thế gọi là phương tiện hơn.

-Quả hơn: Thanh văn tự được Thanh văn Bồ Đề, Duyên giác tự được Duyên giác Bồ Đề, Bồ Tát tự được Bồ Tát Bồ Đề.

Tánh Bồ Tát có sáu ấn, do sáu ấn này mà tất cả chúng sanh đưọc hay biết đó là Bồ Tát.  Sáu thứ ấn là gì? – Tức Bố thí ba la mật cho đến Bát nhã ba la mật.

Do nghĩa gì Bố thí độ gọi là Tánh ấn của Bồ Tát?

-Bản tánh đại Bồ Tát có thể được tâm Thí xả như vầy:

Đối với các thứ tiền của, dầu nhiều hay ít, tâm Bồ Tát không tham đắm, muốn đem cấp giúp cho người.  Khi cấp giúp và cấp giúp xong, tùy chỗ thí vật, Bồ Tát tâm sanh vui vẻ.  Dù ít dù nhiều, tâm không nghi ngờ hối tiếc, thí vật chút ít cũng không e thẹn.  Nếu không tiền của, cũng thường khen ngợi về sự bố thí.  Thấy người bỏn sẻn, có thể đả phá tâm bỏn sẻn nọ, gặp người làm việc bố thí, tâm sanh phấn khởi, vui mừng như gặp cha mẹ.  Thấy người đến xin lấy làm hân hạnh.  Nếu không tiền của cung ứng, bèn dùng sức khỏe trợ giúp cho bậc già nua, cha mẹ, sư tăng.  Ứng đối thì dùng lời nói vui vẻ, lời nói mềm mỏng, lời nói đúng cách, lời nói chơn thành lời nói ngay thẳng, để đối trị với lời nói hư vọng, lời nói đôi chiều, lời nói hung hiểm lời nói vô nghĩa của chúng sanh.

Hoặc có người hỏi, còn chẳng nói đến điều hay điều dở của người, huống gì không hỏi mà lại tự nói.

Nếu có những người lo sợ các nạn nước, lửa, vua quan, thú dữ, giặc cướp, có thể vì họ cứu nguy giải ách.  Biết ơn, nhớ ơn của người, thường nghĩ báo đáp.  Nhận vật người khác gởi gấm giao phó, chẳng làm kẻ ấy nghi ngờ, nếu là vật quý tâm không tham đắm.  Vật của mình có, tâm không lẫn tiếc.  Thường sắm áo mặc thức ăn cấp giúp cho người.  Luôn luôn chế ngự lòng tham đắm sắc dục, sự đam mê rượu chè, chế ngự sự ưa thích chơi giỡn hay sự vui thích đờn ca xướng hát, và tu tập tánh biết hổ thẹn, dầu được vật quý giá, cũng chẳng sanh ham vui.  Đây gọi là Tánh ấn của Bồ Tát thuộc Bố thí độ.

Thế nào là tánh ấn của Bồ Tát thuộc Trì giới độ?

-Thân, miệng, Ý của đại Bồ Tát tánh tự mềm mỏng trong sạch, Bồ Tát chẳng khởi tâm hung dữ, chẳng khởi tâm giận hại.  Nếu vì khách trần phiền não mà gây các tội lỗi, tạo rồi tâm rất ân hận, tâm rất hổ thẹn phát lộ sám hối.  Đối với chúng sanh, khởi lòng thương xót, tưởng như con một.  Trọn đời chẳng dùng tay chân gậy gộc, đá gạch để đánh đập mọi loài, luôn luôn tìm kiếm bực chơn thiện tri thức, chí thường ưa thích cúng dường cha mẹ, sư trưởng và các vị tôn túc kỳ cựu, phá bỏ tánh tình kiêu xa ngã mạn, hỏi han chào đón trước người, biết ơn, nhớ ơn, nếu ai đến hỏi xin, Bồ Tát từ tốn an ủi dẫn dụ chẳng dùng những trò huyễn thuật dối gạt chúng sanh, trọn chẳng nuôi sống bản thân bằng những điều trái phép, thường ưa tu tập tất cả công đức, dạy bảo chúng sanh rộng tu sự nghiệp phước đức.  Thấy các chúng sanh chịu các sự khổ, bị đánh, bị trói, bị giam, bị cầm, bị nóng lạnh đói khát, đến nỗi mất mạng.  Xem những cảnh ấy, Bồ Tát đau đớn không khác chính mình chịu khổ.  Bảo vệ giới luật Phật chế, dầu một giới khinh nhỏ nhặt cũng không có ý hủy phạm, huống gì những điều giới trọng.  Luôn luôn dùng mười nghiệp lành dạy dỗ mọi người, chẳng ưa xem nghe những kẻ đấu tranh mắng nhiếc.  Những gì thuộc về ba nghiệp thân, miệng, Ý của Bồ Tát là thường vì chúng sanh, trọn chẳng vì mình mà làm.  Nếu như có người gồm đủ giới đức, nhẫn nhục, trí tuệ, Bồ Tát ưa thích cùng họ làm việc, được lòng hòa dịu, không lòng oán hận hay lòng bất nhẫn.  Tâm của Bồ Tát luôn luôn kính trọng những giới Phật chế, không hề dối trá chúng sanh, không nói đôi chiều, không nói lời vô nghĩa.  Dầu không người hỏi vẫn cứ ca tụng điều tốt của người, huống có kẻ hỏi mà không tán dương.  Nói chung là luôn luôn tôn trọng sùng kính sự nói năng đúng đắn chân thật.  Đây gọi là tánh ấn của Bồ Tát thuộc Trì giới độ.

Thế nào là Tánh ấn của Bồ Tát thuộc Nhẫn nhục độ?

-Đại Bồ Tát thấy các chúng sanh, nếu có ai đến đánh đập thân mình, ngay đó chẳng đem điều ác trả đũa.  Vì sao thế? – Bởi thân ta đây chẳng phải là thân chân thật.  Nếu là thân chân thật làm sao có thể đánh.  Thân máu thịt này là thân hòa hợp, là thân nhơ nhớp.  Trong thân hòa hợp này, phần ít  thấy có đánh, phần nhiều không chút tổn hại.  Cái nhiều đã không tổn hại thì sao lại không vui? Kẻ giận ta là giận nơi phần ít, cái nhiều không giận.  Nếu cái đánh hòa hợp, đánh cái nhận hòa hợp, vậy thì ai đánh, ai nhận?  Ví như hai vật chạm nhau khua tiếng.  Nếu ta nổi giận là tự giận lấy mình.  Tại sao vậy? – Do vì nghiệp duyên mà có thân này, bởi có thân này nên chịu khổ độc này, cũng như do có mục tiêu, tên mới cắm vào.  Nếu ta tăng thêm lòng giận, tức chẳng thể có quan niệm oan thân lành dữ là điều bình đẳng.  Nếu chẳng thể quan sát sự bình đẳng giữa thiện và ác, quyết định sẽ đọa ba đường ác. Vì lẽ đó, nếu ai đánh mắng, đối với kẻ kia, ta chẳng nên nổi lòng sân hận.  Quán được như vậy, gọi là tánh ấn của Bồ Tát thuộc Nhẫn nhục độ.

Lại nữa, nếu gặp người đến đánh mắng, đối với kẻ đó, nên sanh ý tưởng họ như con một của ta, lòng không oán hận.  Đây gọi là tánh ấn của Bồ Tát thuộc Nhẫn nhục độ.

Thế nào là Tánh ấn của Bồ Tát thuộc Tinh tấn độ?

-Đại Bồ Tát siêng tu tinh tấn, hừng đông thức dậy, về khuya mới đi nghỉ, chẳng ưa nằm dài ngủ thẳng,  chẳng màng lạnh nóng, đói khát, lo mừng.  Phàm tạo tác những sự nghiệp thế gian hay sự nghiệp xuất thế, nhứt quyết phải làm, cho đến lúc hoàn tất, chẳng chịu bỏ phế nửa chừng.  Sự việc dầu chưa kết quả cũng không hối đổi.  Dầu được người cúng dường cung kính, việc tu của mình cũng không nghĩ, không thôi.  Với tự bản thân chẳng khởi tâm xem thường, cho rằng mình chẳng thể được Vô thượng Bồ Đề.  Tuy gặp những chuyện khó làm ở đời, trọn không dần dà, thoái thất.  Đây gọi là Tánh ấn của Bồ Tát thuộc Tinh Tấn độ.

Thế nào gọi là Tánh ấn của Bồ Tát thuộc Thiền Định độ?

-Đại Bồ Tát dốc lòng ưa thích quán sát nghĩa thật các pháp.  Thích ở chỗ vắng lặng rảnh rang, hoặc chỗ không người lai vãng.  Thích lìa kẻ ác để nuôi lớn pháp lành, gặp người vui  ưa vắng lặng liền sanh hoan hỷ cung kính.  Tuy có phiền não, tính chất cũng nhẹ mỏng, bao nhiêu tâm lành trọn không bị giác quán ác làm cho hư hỏng, tu tập lòng từ, xem kẻ oan gia không khác đích tử.  Hoặc gặp chúng sanh chịu sự khổ lớn, sanh lòng bi mẫn, tùy theo sức mình ra tay dứt trừ, mong các chúng sanh đều được an tồn, giả sử thân bị đau khổ chẳng sanh lo buồn, rủi mất thân mạng hay mất tiền của, bị trói, bị nhốt, bị đánh bị đuổi vẫn tự an ủi không sanh lo khổ, để phải đánh mất chánh niệm, chuyên tâm nghe pháp, biên chép thọ trì, đọc tụng giải nói.  Nếu người khác quên mất, có thể vì họ chỉ dạy v.v… Do nhân duyên sự dốc lòng trên đây, trong những đời sau không quên pháp giới.  Đây gọi là Tánh ấn của Bồ Tát thuộc Thiền Định độ.

Thế nào là Tánh ấn của Bồ Tát thuộc Trí tuệ độ?

-Đại Bồ Tát biết rõ hết thảy những việc thế gian, biết các phương thuật cũng như biết rành lời lẽ nói năng của các chúng sanh.  Tuy biết việc ấy nhưng tâm không mê lầm phóng túng, chẳng bị ngoại đạo lừa dối mê hoặc, chẳng theo nghĩa lý các luận thuyết tà kiến.  Đây là tánh ấn của Bồ Tát thuộc Trí tuệ độ.

Nay Như Lai nói sơ lược về tướng Ấn thô của Bồ Tát, còn tướng Ấn Tế về sau là chỗ biết của các đức Phật.

Tánh của Bồ Tát chẳng thể nghĩ bàn, thành tựu đầy đủ các công đức chân thật, đầy đủ tịnh pháp, cho nên gọi là trên hết, gọi là chẳng động, cũng gọi là ấn Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Đại Bồ Tát, nếu không xem thấy tai họa của các điều ác, tức chẳng được tu tất cả pháp lành. Khi Bồ Tát tu pháp lành bực thượng, nếu do nhân duyên khách trần phiền não, làm cho sa đọa vào ba đường ác, vẫn hơn những chúng sanh trong các đường ấy.

Vì sao vậy? – Vì có tánh Bồ Tát.

Nếu do nhân duyên khách trần phiền não đọa vào đường ác, có thể nhanh chóng phá hoại ác báo và mau được ra khỏi, như người chẳng ra cũng không đồng với những kẻ chịu khổ nặng nề trong chốn ác đạo.

Khi Bồ Tát chịu khổ, đối với chúng sanh vẫn còn sanh tâm Đại bi, do nhân duyên củaTánh mà được Bi tâm, thế nên Bồ Tát hơn tất cả chúng sanh trong ba ác đạo.

Đại Bồ Tát do nhân duyên bốn thứ phiền não làm cho hư hỏng pháp trong sạch.  Những gì là bốn?

Một là luôn luôn đặt nặng tài lợi.

Hai là, do hai kiết sử Giận, Si mà gần gũi bạc ác.

Ba là, ở chỗ tướng soái, giặc cướp, vua chúa, oán cừu, vì sự sợ hãi mà đánh mất thiện tâm, khởi các phiền não.

Bốn là, vì thân mạng mà tạo các điều dữ.

Tuy có tánh Bồ Tát nhưng do bốn điều này,  rốt cuộc chẳng chứng Vô thượng Bồ Đề.

Lại có bốn việc, tuy có tánh Đại Bồ Tát, nhưng chẳng chứng Vô thượng Bồ Đề.  Những gì là bốn?

Một là, không gặp thiện tri thức chư Phật, Bồ Tát nói những nghĩa lý không sai, không lộn.

Hai là, tuy gặp thiện hữu tri thức chư Phật Bồ Tát giải nói nhưng hiểu nghĩa lầm lộn.

Ba là, tuy gặp thiện hữu tri thức chư Phật Bồ Tát tùy thuận giải nghĩa, nhưng chẳng luôn luôn giữ giới Bồ Tát.

Bốn là,  tuy gặp thiện hữu Phật và Bồ Tát tùy thuận giải nghĩa, vị này cũng học giới Bồ Tát song căn lành chưa thành thục, chưa đủ để trang nghiêm đạo Vô thượng Bồ Đề.

Bồ Tát tuy có Bồ Tát tánh nếu không đầy đủ bốn việc như vậy, trọn không thể chứng đạo Vô thượng Bồ Đề.  Ngược lại, tuy đầy đủ bốn việc như trên, nhưng nếu không có tánh Bồ Tát mà có thể chứng Vô thượng Bồ Đề điều ấy cũng phi lý.

PHẨM THỨ BA
PHÁT TÂM BỒ ĐỀ

Đại Bồ Tát lúc mới phát tâm, lập chánh nguyện lớn, nói lời như sau:

“Khi tôi chứng được Vô thượng Bồ Đề, sẽ làm cho tất cả chúng sanh được lợi ích lớn”.

Phải nên đặt để tất cả chúng sanh nơi Đại Niết Bàn.  Lại phải giáo hóa tất cả chúng sanh, làm cho tất cả đều được trí tuệ rộng lớn.  Đây chính là tự lợi, lợi tha.  Vì vậy khi mới phát tâm Bồ Đề, được gọi là nhân duyên Bồ Đề, nhân duyên chúng sanh, nhân duyên nghĩa chánh, nhân duyên ba mươi bảy phẩm trợ đạo, nhiếp lấy tất cả pháp lành căn bản.  Bởi thế Bồ Tát được gọi là Thiện, Đại Thiện, là Thật, Chơn thật, cũng gọi là rễ lành của tất cả chúng sanh, có thể phá ba nghiệp ác nơi thân, miệng, ý.

Trong thế gian, tất cả những người có thệ nguyện thế hoặc xuất thế, không ai có thể hơn Vô thượng Bồ Đề.  Sự thệ nguyện của Bồ Tát cũng vậy, là vô thắng, vô thượng.

Đại Bồ Tát mới phát ba tâm Bồ Đề (1) gồm có năm sự: Một là Tánh.  Hai là Hạnh.  Ba là Cảnh giới.  Bốn là Công đức.  Năm là Tăng thêm.

Nếu Bồ Tát luôn luôn phát tâm Bồ Đề, được mệnh danh là Đại Bồ Tát tu hạnh Đại thừa, chắc chắn được Vô thượng Bồ Đề.  Thế nên mới Phát tâm Bồ Đề là có thể nhiếp lấy tất cả pháp lành.

Đại Bồ Tát phát tâm Bồ đề, tùy công hạnh mà lần lượt được Vô thượng Bồ Đề, nếu chẳng phát tâm, rốt cuộc chẳng thể nào được.  Vì vậy sự phát tâm là căn bản của Vô thượng Bồ Đề.

Đại Bồ Tát thấy chúng sanh đau khổ, sanh tâm thương xót, vì vậy Bồ Tát nhơn lòng Từ Bi mà phát tâm Bồ Đề, do tâm Bồ Đề tu ba mươi bảy phẩm trợ đạo, do tu ba mươi bảy phẩm trợ đạo được Vô thượng Bồ Đề, bởi thế sự phát tâm gọi là CHI.  Phát tâm Bồ Đề cho nên thực hành giới Bồ Tát, vì vậy sự phát tâm là CHI của giới Bồ Tát.  Sự phát tâm là gốc, là nhân, là nhiếp, là quả, cũng gọi là giống.

Bồ Tát phát tâm có hai hạng: Một là rốt ráo.  Hai là chẳng rốt ráo.

Rốt ráo là không hề thoái thất, mãi cho đến lúc chứng quả Vô thượng Bồ Đề.

Chẳng rốt ráo là có sự thoái thất.  Thoái thất lại có hai: 1. Rốt ráo thoái.  2. Rốt ráo chẳng thoái.

Rốt ráo thoái là: Kết cuộc chẳng phát tâm Vô thượng Bồ Đề, chẳng thể suy tầm tu tập pháp này.  Chẳng rốt ráo thoái là: Mong cầu tâm Bồ Đề và tu tập pháp này.

Tâm Bồ Đề đây có bốn thứ nhân.  Thế nào là bốn?

1. Kẻ thiện nam, người thiện nữ được thấy hoặc nghe các đức Phật và các Bồ Tát chẳng thể nghĩ bàn, bây giờ liền sanh tâm kính trọng, tin tưởng, nghĩ như thế này: “Việc của chư Phật, Bồ Tát chẳng thể nghĩ bàn.  Nếu sự việc chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật, Bồ Tát là có thể được, tôi cũng nên phát tâm Vô thượng Bồ Đề”.  Do tư duy như vậy cho nên dốc lòng nghĩ về Bồ Đề và phát tâm Bồ Đề.

2. Có kẻ chẳng thấy sự việc không thể nghĩ bàn của chư Phật, Bồ Tát, mà chỉ nghe nói đến tạng pháp bí yếu của Phật, Bồ Tát.  Nghe rồi tâm sanh kính trọng, tin tưởng.  Được tín tâm nên làm nhân cho Vô thượng Bồ Đề, làm nhân cho Đại trí, cho nên phát tâm Bồ Đề.

3. Lại có người không thấy sự việc chẳng thể nghĩ bàn của Phật, Bồ Tát, cũng chẳng được nghe pháp, nhưng gặp hồi chánh pháp hoại diệt, bèn tự nghĩ như vầy: “Phật pháp cao sâu vô thượng có thể diệt trừ vô lượng nỗi khổ của chúng sanh, làm lợi ích rất lớn, chỉ có chư Bồ Tát mới có thể làm cho giáo pháp của Phật trụ lâu nơi đời, chẳng bị hoại diệt, nay tôi cũng nên phát tâm Bồ Đề, làm cho chúng sanh xa lìa phiền não, lìa những khổ lớn”. Đây do ủng hộ Phật pháp trụ lâu nơi đời mà phát tâm Bồ Đề.

4. Lại có người chẳng gặp lúc Phật pháp bị hoại diệt, chỉ thấy chúng sanh trong đời ác trược đủ tất cả phiền não sâu nặng như tham, giận, si mê, không hổ, không thẹn, bỏn sẻn, ganh tỵ, lo rầu, khổ sở, bất tín, biếng lười v.v… Thấy những điều ấy rồi bèn tự nghĩ: “Thời buổi cực ác, chúng sanh đại ác, chẳng siêng tu tạo điều lành, thời đại ác trược thế này, chúng sanh còn chẳng thể phát tâm nhị thừa, huống gì phát tâm Vô thượng Bồ Đề.  Nay tôi nên phát tâm Bồ Đề, phát tâm này rồi sẽ dạy dỗ chúng sanh khiến họ cũng phát tâm Vô thượng Bồ Đề”.  Thế nên Bồ Tát ở thời đại ác, chúng sanh tệ ác mà phát tâm Bồ Đề.

Lại nữa, có bốn nhân phát tâm Bồ Đề.  Những gì là bốn?

Một là:  Tánh đầy đủ.

Hai là:  Bạn lành đầy đủ.

Ba là:  Lòng Từ đầy đủ.

Bốn là:  Xem khổ sống chết, Thánh hạnh đầy đủ, chẳng sợ những hạnh khổ khó làm.

  1. Tánh đầy đủ: Tánh Bồ Tát vốn tự đầy đủ.
  2. Bạn lành đầy đủ:  Gồm có bốn điều:

– Sáu căn đầy đủ, đủ trí huệ lớn, có thể chỉ bày đường lành, nẻo dữ, chẳng thực hành đạo tà.

– Tâm không buông lung, hay phá bỏ tánh tình buông lung, có thể đóng cửa ác đạo.

– Tự mình đầy đủ  giới cấm Bồ Tát và xoay vần theo giáo hóa người.

– Chẳng đem đường lối thấp thỏi xoay chuyển đường lối cao vời của người, chẳng đem tiểu thừa xoay chuyển người tu Đại thừa, chẳng dùng lối tu phước lay chuyển người đang tu huệ.  Đây gọi là bạn lành đầy đủ.

  1. Lòng Từ đầy đủ: có bốn:

– Thế giới nào có những nơi khổ não, hoặc thế giới không khổ não và nơi khổ não. Bồ Tát phát nguyện sanh qua nơi đó.  Hoặc thấy người chịu khổ hay tự mình chịu khổ, vì phá khổ ấy mà phát sanh lòng Từ.

– Sanh vào địa ngục, chứng kiến những cảnh chúng sanh chịu khổ, vì phá khổ ấy mà phát sanh lòng Từ.

– Sanh vào ngạ quỷ, thấy cảnh chúng sanh chịu khổ hay tự mình chịu khổ, vì muốn phá khổ ấy mà phát sanh lòng Từ.

– Sanh vào loài súc sinh, thấy chúng sanh chịu khổ hay tự mình chịu khổ cũng sanh lòng Từ để phá khổ ấy.

– Lòng Từ đầy đủ lại có ba bực:  Thượng, Trung, Hạ.

Bực thượng có bốn điều:

– Quán khổ sống chết.

– Tu tâm Từ Bi không có trước sau.

– Tâm tánh dõng kiện.

– Được tâm sáng suốt

Bực trung có bốn điều:

– Chẳng buông lung.

– Đầy đủ giới.

– Hay nhẫn nhục.

– Dốc lòng nhớ nghĩ về Vô thượng Bồ Tát.

Bực hạ lại có bốn điều:

– Xem chúng sanh như con một.

– Không khởi phân biệt với kẻ oán người thân.

– Được tâm tin tưởng chắc chắn.

– Tu hành hạnh Thánh.

Tu tập lòng Từ có bốn năng lực:

– Năng lực bên trong.

– Năng lực bên ngoài.

– Năng lực sở nhân.

– Năng lực trang nghiêm.

Đại Bồ Tát dốc lòng nhớ nghĩ về đạo Vô thượng Bồ Đề, gọi là năng lực bên trong.

Vì muốn hóa độ chúng sanh mà phát tâm Vô thượng Bồ Đề. Gọi là năng lượng bên ngoài.

Có thể ở trong Vô lượng A tăng kỳ kiếp tu tập khổ hạnh, vâng thờ chư Phật, Bồ Tát, gọi là năng lực sở nhân.

Đại Bồ Tát ưa gần gũi thiện trí thức nghe nhận chánh pháp, tư duy nghĩa lý, đúng theo giáo pháp tu tập, gọi là năng lực trang nghiêm.

Nếu Đại Bồ Tát dùng năng lực bên trong và năng lực sở nhân mà phát tâm Vô thượng Bồ Đề, đây gọi là chánh tâm, là tâm không động, là tâm không lui, tâm không thay đổi.

Nếu dùng năng lực bên ngoài và năng lực trang nghiêm mà phát tâm Bồ Đề, đó gọi là tâm không chánh, tâm bị động, tâm thoát lui, tâm thay đổi.

Bồ Tát đổi tâm có bốn nhân duyên:  Một là: Tánh không đầy đủ.  Hai là đầy dẫy bạn ác.  Ba là chẳng đủ lòng Từ bi đối với chúng sanh.  Bốn là chẳng luôn luôn quán sát mối lo ngại của sự khổ sống chết.

Đại Bồ Tát mới phát tâm Bồ Đề, có hai sự không thể nghĩ bàn:  Một là: Đối với chúng sanh tưởng như bà con thân thích.  Hai là: không tưởng chúng sanh.

Bồ Tát thường dùng trí tuệ quán sát: Cái gì là chúng sanh? Chúng sanh thuộc về gì? Như thế gọi là hai nhân.  Hai tâm này có thể làm cho Bồ Tát không thoái chuyển.

Mới phát tâm Bồ Đề có hai tâm: Một là: Vì đem lại cho chúng sanh sự an ổn.  Hai là: Vì đem lại cho chúng sanh sự vui sướng.  Dùng các pháp lành giáo hóa chúng sanh khiến họ loại bỏ điều ác, gọi là an ổn.  Hay đem tiền của cấp giúp, khiến chúng sanh lìa sự nghèo nàn, như cấp giúp quần áo, ăn uống, phòng nhà, mền nệm thuốc men.  Thế gọi là sung sướng.

Bồ Tát không thoái chuyển, có hai tâm:

Một là: Tánh trang nghiêm.  Hai là: Chuyên tâm thọ trì trang nghiêm.

-Thường suy nghĩ mong cho chúng sanh an vui, gọi là tánh trang nghiêm.

-Trọn không thoái chuyển tâm Bồ Đề, do đây hết lòng đem lại an vui cho tất cả chúng sanh, gọi là Thọ trì trang nghiêm.

Bồ Tát bất thoái sanh ra phước đức nhờ hai yếu tố:  Một là tâm Bồ Đề.  Hai là chúng sanh chịu khổ.  Hai yếu tố trên đây là chỗ chứa nhóm các pháp lành lớn.

Mới phát tâm kiên cố, Bồ Tát lại có hai điều hơn tất cả Thanh văn, Duyên giác.  Một là:  Nhân hơn.  Hai là: Quả hơn.

Đại Bồ Tát phát tâm Bồ Đề, tu tập pháp lành gọi là Nhân.  Do thực hành các thiện pháp, chứng được Vô thượng Bồ Đề gọi là Quả.  Nhân, Quả như thế hơn tất cả Thanh văn, Duyên giác.

Bồ Tát bất thoái có hai việc lớn.  Một là: Phát tâm này rồi liền vì tất cả vô lượng chúng sanh mà làm ruộng phước.  Được làm cha mẹ thầy dạy, Hòa thượng v.v…Bồ Tát sanh tâm xót thương rộng lớn.  Do xót thương chúng sanh, cho nên khi đi đứng, ngồi, nằm, thức, ngủ, chư thiên bảo vệ như vua chuyển luân thường được năm trăm quỷ thần mặc y phục xanh bảo vệ.  Bồ Tát bất thoái cũng vậy.  Vì tâm thương xót chúng sanh, cho nên nếu có thọ thêm thân nữa cũng không bệnh ngặt.  Hai là: Bồ Tát phát tâm thường được chúng sanh ưa thích, gặp gỡ, nhìn ngắm, như nhìn cha mẹ.  Tất cả chúng sanh đối với những gì thuộc thân, miệng, ý của Bồ Tát, đều không nhận thấy có điều xấu ác.

Đại Bồ Tát phát tâm Bồ Đề không mất chánh niệm.  Đối với chúng sanh, Bồ Tát không khởi tâm làm hại, chẳng ăn thịt, chẳng khi dối, thường dùng các pháp lành giáo hóa chúng sanh.  Dầu chúng sanh không nhận, Bồ Tát cũng không bỏ phế sầu lo, luôn luôn tự chế ngự mình và kẻ khác, làm cho họ tươi nhuận sự nghiệp phước đức.

Nếu vì nhân duyên khách trần phiền não, đọa ba đường ác, Bồ Tát cũng mau ra khỏi.  Dầu cũng chịu khổ như chúng sanh, vẫn không khởi tâm độc địa, thấy người chịu khổ sanh tâm thương xót.

Bồ Tát sơ phát Bồ Đề tâm, thành tựu vô lượng công đức như vậy.

Chú thích:

(1)   Phát ba tâm Bồ Đề:  Luận Khởi Tín giải thích ba tâm Bồ đề là: 1- Trực tâm, chánh niệm pháp chơn như.  2- Thâm tâm: là Tín sâu lý nhơn quá, chi ác, tác thiện.  3-  Đại bi tâm: lập nguyện cứu độ tất cả chúng sanh

PHẨM THỨ TƯ
LỢI ÍCH TRONG NGOÀI

Đại Bồ Tát phát tâm Bồ Đề, thế nào là Hạnh Bồ Đề?

-Bồ Tát nếu ở nơi này, nơi khác, hoặc học hoặc dạy, đều vì Vô thượng Bồ Đề.  Sự học ấy là:  Giới luật.  Văn Huệ. Tư Huệ. Tu Huệ.  Đây gọi là Hạnh Bồ Đề.

Đại Bồ Tát học về điều gì, thì sự học ấy đều có bảy ý nghĩa.  Thế nào là bảy?

Một là nghĩa bên trong.  Hai là nghĩa bên ngoài.  Ba là nghĩa chân thật.  Bốn là nghĩa không thể nghĩ bàn.  Năm là nghĩa điều phục chúng sanh.  Sáu là nghĩa thuộc rành Phật pháp.  Bảy là nghĩa Vô thượng Bồ Đề.

-Sao gọi là nghĩa bên trong? Nghĩa bên trong có mười.

  1. Nghĩa chơn thật.
  2. Nghĩa vị tha.
  3. Nghĩa điều phục.
  4. Nghĩa an ổn
  5. Nghĩa vui sướng.
  6. Nghĩa của nhân.
  7. Nghĩa của quả.
  8. Nghĩa hiện tại.
  9. Nghĩa đời khác.
  10. Nghĩa rốt ráo.

Đại Bồ Tát vì người mà phụng sự, đó là nghĩa bên trong.

1. Nghĩa chơn thật là thế nào? – Bồ Tát biết tánh chất phiền não và biết pháp môn đối trị.  Được sự vui của mình bèn thí đủ cho khắp chúng sanh, chí thường tu tập đạo Vô thượng chơn chánh, phàm có tìm cầu những gì đều dùng an ổn chúng sanh, được tiền của rồi lòng không tham đắm, thường đem cúng dường chư Phật, Giáo pháp, chúng Tăng, cha mẹ thầy dạy, vượt ngàn muôn dặm sưu tầm kinh điển của Phật và bí tạng Bồ Tát, tìm được pháp rồi phổ biến rộng rãi, chẳng sanh lẫn tiếc, cất kỹ, giữ kín.  Dầu hiểu nghĩa lý sâu xa cũng chẳng sanh tâm cao ngạo.

Vì người cầu sanh cõi trời mà nói lợi ích của việc giữ giới.  Vì chuyển luân vương nói đức bố thí.  Vì bực Nhị thừa nói cách tu tập chánh định.  Vì người muốn được quả báo lớn thế gian mà cúng dường tam bảo, rộng tu sự nghiệp phước đức.  Vì kẻ tham lam nói rõ hậu quả tánh tham.  Vì kẻ khi dối nói về hậu quả lừa dối.  Vì kẻ phi pháp mà làm người sai khiến.  Bồ Tát làm việc này xong, gọi là nghĩa chơn thật.

2. Phàm những điều gì tự lợi của Đại Bồ Tát đều vì tất cả chúng sanh.  Đây gọi là nghĩa lợi tha.

3. Đại Bồ Tát nếu có diễn thuyết, đều nhằm phá vỡ tà kiến, dị thuyết.  Tà kiến, dị thuyết là những luận điệu bài bác nhân quả.  Vì những kẻ phá dối không thấy tội lỗi, Bồ Tát nói những tội báo của sự hủy cấm. Vì phá ba độc mà diễn nói pháp.  Vì người thoái tu thiền định, thiện pháp, Bồ Tát giảng nói chánh pháp khiến họ không bị thoái chuyển.  Vì muốn nuôi lớn pháp lành, muốn chúng sanh được sức tự tại, Bồ Tát vì họ nói pháp.  Muốn khiến chúng sanh trong khắp mười phương  đều được sức thần túc, Bồ Tát vì họ nói pháp.  Đây gọi là nghĩa Điều phục.

Nghĩa trong cũng gọi là nghĩa ngoài, nghĩa ngoài cũng gọi là nghĩa trong, nghĩa trong ngoài gọi là nghĩa điều phục, nghĩa điều phục cũng gọi là nghĩa trong ngoài.  Mười lực, bốn Vô úy, mười tám pháp bất cộng, ba niệm trí, Đại bi, Bất vong.  Năm trí tam muội là nghĩa chơn thật.  Nghĩa chơn thật là nghĩa trong ngoài.  Nghĩa trong ngoài có hai:  Một là tự điều phục.  Hai là điều phục kẻ khác.  Đại Bồ Tát khéo biết phương tiện là nghĩa điều phục, Bồ Tát thực hành tất cả hạnh lành là nghĩa điều phục.

Vì sao lại gọi là nghĩa trong ngoài? Đây có năm việc. Một là, tịnh được thân người khác. Hai là thêm lớp pháp lành của người.  Ba là lợi ích hiện tại. Bốn là lợi ích đời khác.  Năm là hoại phiền não của người.

Đại Bồ Tát tùy chỗ tu thiện hoặc nhiều hay ít, lấy đó dạy lại chúng sanh, làm cho chúng sanh đồng như sở đắc của mình.  Đây là nghĩa điều phục.

4. Đại Bồ Tát tự mình được an ổn, lại đem sự an ổn ban cho chúng sanh, đó là sự an ổn xuất thế hoặc sự an ổn thế gian, sự an vui ở cõi Dục, hay sự an vui bởi kết quả tu tập thiền định.  Đây gọi là nghĩa an ổn.

Nghĩa an ổn cũng gọi là nghĩa trong ngoài, cũng gọi là nghĩa điều phục, cũng gọi là nghĩa chơn thật.

Nghĩa trong ngoài của Đại Bồ Tát có sự vui hiện tại, chẳng phải sự vui đời khác.  Có sự vui đời khác chẳng phải sự vui hiện tại.  Có sự vui hiện tại lẫn đời khác.  Có sự vui chẳng phải hiện tại chẳng phải đời khác.

Nghĩa trong ngoài lại có bốn:  Một là, có người thọ pháp hiện tại được vui đời khác chịu khổ.  Hai là, có người thọ pháp hiện tại chịu khổ đời khác được vui.  Ba là, có người thọ pháp hiện tại được vui đời sau cũng vui.  Bốn là, có người thọ pháp hiện tại chịu khổ, đời sau cũng khổ.

Đại Bồ Tát nếu nói về Niết Bàn hay Đại Niết Bàn, nói về tám thánh đạo hay ba mươi bảy phẩm trợ đạo, nói về đạo thế gian hay đạo xuất thế, như vậy gọi là nghĩa an ổn.  Nghĩa an ổn gọi là nghĩa trong ngoài, nghĩa trong ngoài gọi là nghĩa chánh.

Nghĩa chánh gọi là nghĩa vô thượng, nghĩa vô thắng, nghĩa an ổn, nghĩa Thường, Lạc.  Sự thọ thường lạc của Đại Bồ Tát có thể thành nghĩa trong ngoài, nghĩa chơn thật, nghĩa điều phục, nghĩa an ổn.

5. Sao gọi là nghĩa vui sướng? Nghĩa vui sướng có năm: Một là, vui của nhân.  Hai là, vui của thọ.  Ba là, vui đoạn thọ.  Bốn là, vui xa lìa.  Năm là, vui của đạo Bồ Đề.

Vui của nhân là gì? – Cái nhân tiếp xúc từ trong ra ngoài, do nhân của xúc và duyên của xúc nên có sự thọ vui.  Đây gọi là vui của nhân.  Do làm điều lành, được sự vui đời sau, gọi là vui của nhân.

Vui của thọ là gì? – Từ nhân và duyên của nhân mà thân đưọc nuôi lớn, tâm được an ổn, gọi là vui của thọ.  Cái vui của thọ này lại có hai: Hữu lậu, Vô lậu.  Vô lậu lại có hai:  Một là học xứ, hai là vô học xứ.  Hữu lậu có ba: Cõi Dục, cõi Sắc cõi vô sắc.  Ba cõi có trong ra ngoài vào, cho nên có sáu xúc.  Sáu xúc lại có hai: Một là thân vui.  Hai là tâm vui.  Năm thức chung chi phối là thân vui.  Ý thức cùng chi phối là tâm vui.

Tu tập thánh đạo dứt hết các thọ, đạo đức gia tăng, không có các thọ.  Đây là cái vui đoạn thọ.

Lìa hẳn phiền não, thân tâm không lo, gọi là cái vui xa lìa.

Vì được Thường, Lạc, cho nên gọi là vui của đạo Bồ đề.

Có người nói Vô tưởng định là cái vui đoạn thọ, nghĩa là không đúng.  Vì sao? – Vì chẳng dứt hết thọ.

Vui của sự xa lìa có bốn: Một là sự vui xuất gia.  Hai là sự vui vắng lặng.  Ba là sự vui đoạn hoặc.  Bốn là sự vui giác ngộ.

Người đời có nhiều lo khổ.  Dứt hẳn khổ ấy, gọi là vui xuất gia.  Dứt sự tham ái ở cõi Dục gọi là vui vắng lặng.  Chấm dứt phiền não ba cõi, gọi là vui đoạn hoặc.  Thọ đức thường lạc gọi là vui giác ngộ.

Bồ Tát thường đem lại cho chúng sanh sự vui gọi là vui giác ngộ.  Đại Bồ Tát tự mình thọ sự Thường, Lạc, chuyển sang bố thí chúng sanh, gọi là sự vui giác ngộ.

Vì sao gọi là vui của nhân?

-Cái vui đây là bởi nguyên nhân, cho nên gọi là vui của nhân, chẳng gọi là vui của thọ, vui của thọ chẳng gọi là vui của nhân mà gọi là vui của tánh.

Sự vui đoạn hoặc chẳng gọi là vui của nhân chẳng gọi vui của thọ, vì đoạn hoặc có nhiều vui nên gọi là vui đoạn hoặc.

Vui của sự xa lìa chẳng gọi là vui của nhân chẳng gọi vui của thọ, chẳng gọi vui đoạn hoặc.  Do quán sát tai họa sanh tử, gọi là cái vui trí tuệ.

Vui giác ngộ chẳng gọi là vui của nhân, chẳng gọi vui của thọ, chẳng gọi vui đoạn hoặc, chẳng gọi là vui xa lìa.  Vì đức chơn thường không có bờ mé, cho nên gọi là vui của Bồ Tát, gọi là vui không gì hơn, gọi là sự vui vô biên, sự vui vô thượng, cũng gọi là sự vui thường hằng, hay gọi là sự vui vắng lặng.

6. Đại Bồ Tát luôn luôn đem năm thứ vui như vậy ban cho chúng sanh.  Đây gọi là nghĩa của nhân.  Đại Bồ Tát thường hoại diệt nghiệp ác của chúng sanh, đem nghĩa chơn chánh chỉ dạy, do nghĩa chơn chánh mà chúng sanh được Vô thượng Bồ Đề.  Đây gọi là nghĩa của nhân. Đại Bồ Tát vì khắp chúng sanh mà chịu khổ lớn.  Do chịu khổ lớn cho nên có thể điều phục chúng sanh, đây gọi là nghĩa của nhân.  Đại Bồ Tát quán sát thiện ác, luôn luôn đem việc thiện ác chỉ cho chúng sanh.  Do sự khai thị ấy, chúng sanh được trí tuệ lớn.  Được trí tuệ lớn nên chúng sanh có thể phá hoại điều ác to lớn.  Đây gọi là nghĩa của nhân.

7. Đại Bồ Tát nhân nơi trí tuệ, thực hành sáu pháp ba la mật, đến khi chứng Vô thượng Bồ Đề gọi là nghĩa của quả.

Đại Bồ Tát hoại tâm tham, vì phá tâm tham cho nên đem lại chúng sanh năm thứ vui trên, để rồi chúng sanh được sự vui ấy.  Đây gọi là nghĩa của quả.

Đại Bồ Tát thương xót chúng sanh, muốn cho tất cả đều được an lạc như mình, đó gọi là nghĩa trong ngoài.  Nghĩa trong ngoài có ba.  Nhân cũng có ba.  Quả cũng có ba: Báo của nhân, Báo của quả, Nhân của phước, Quả của phước, Nhân của trí, Quả của trí.

Thế nào là báo? – Báo có tám: Một là sống lâu.  Hai là thân toàn vẹn.  Ba là giòng giống trên hết.  Bốn là được tự tại.  Năm là tiếng nói thanh tao.  Sáu là được thân người nam.  Bảy là được nhiều sức mạnh.  Tám là không ai hơn nổi.

Đại Bồ Tát tu tập lòng Từ cho nên được sống lâu.  Đây là báo của nhân.

Đại Bồ Tát đem áo quần, món ăn, thức uống, phòng nhà, mền nệm, thuốc thang cấp giúp chúng sanh, do đó được thân toàn vẹn.

Đại Bồ Tát phá tâm kiêu xa, ngã mạn, cung kính cha mẹ, thầy dạy, người có đức hạnh, do đó được dòng họ trên hết.

Đại Bồ Tát theo đúng phép tắc làm việc, phá bỏ điều trái phép, do đó được tự tại không ngại.

Đại Bồ Tát tâm tánh chân thật, không khi dễ chúng sanh, do đó đưọc tiếng nói thanh tao.

Đại Bồ Tát thường chê trách ngũ dục, do đó được thân người nam.

Đại Bồ Tát thường vui ưa cúng dường Tam Bảo, do đó được nhiều sức mạnh.

Đại Bồ Tát thường hay giáo hóa chúng sanh cúng dường Tam Bảo, do đó không ai hơn nổi.  Đây gọi là Báo của nhân.

Chẳng hại chúng sanh, mạng sống được tăng, gọi là báo của nhân.

Vui vẻ đem y phục, món ăn, thức uống, phòng nhà, mền nệm, thuốc thang cấp dưỡng chúng sanh, do đó Đại Bồ Tát được thân toàn vẹn.

Hay phá tánh kiêu xa, ngã mạn của chúng sanh, do đó Bồ Tát được họ hàng trên hết.

Hay trừ nghèo nàn khổ sở của chúng sanh, do đó được tự tại.

Hay phá bỏ lời nói hư vọng, lời nói đôi chiều, lời nói hỗn ẩu, lời nói nhảm nhí của chúng sanh, do đó được tiếng nói thanh tao.

Khen ngợi thân nam, chê trách thân nữ, bởi hai nhân đây, cho nên khi sanh trong loài người, được thân nam tử.  Lại do xa lìa tà mạng nên được thân nam.

Thường đem thức ăn sạch sẽ cấp thí chúng sanh, gặp người lâm nguy, sợ hãi, ra tay giải cứu, do đó thân Bồ Tát được nhiều sức mạnh.

Thọ trì chánh pháp, đọc tụng giảng nói, do đó không ai hơn nổi.

Trên  đây gọi là tám thứ báo.  Tám thứ báo này do ba việc mà tăng trưởng mãi mãi.  Một là Tâm tịnh. Hai là Trang nghiêm tịnh.  Ba là Phước điền tịnh.

Đại Bồ Tát hết lòng chuyên cầu Vô thượng Bồ Đề, gọi là Tâm tịnh.  Cúng dường bực đồng pháp, đồng học, đồng thầy, gọi là tâm tịnh. Hoặc gặp hoặc nghe bực đồng học, đồng thầy mà tâm sanh vui mừng gọi là Tâm Tịnh.

Tu tập các phẩm Trợ đạo, thường ưa thọ trì, biên chép, đọc tụng Tạng pháp Bồ Tát, lại đem những pháp đã có cảm hóa chúng sanh, nếu họ không nhận cũng không lo buồn, cũng không thôi nghĩ.  Đây gọi là Trang nghiêm Tịnh.

Do hai điều Tịnh trên đây, gọi là Phước điền Tịnh.

Sao gọi là Báo của quả? – Bồ Tát sống lâu là báo của Quả.

Vì sao Bồ Tát cầu sống lâu?

-Bồ Tát muốn được mạng sống lâu dài, trải qua vô lượng đời tu tập pháp lành để tự lợi, lợi tha.  Do đây Bồ Tát cầu trường thọ.  Đó gọi là Báo của quả.

Vì sao Bồ Tát cầu toàn thân tròn vẹn?

Bồ Tát vì được thân toàn vẹn, cho nên các chúng sanh thích gặp, yêu kính, vui mừng, do vui mừng nên dễ được cảm hóa, do đây Bồ Tát cầu thân toàn vẹn.  Đó gọi là Báo của quả.

Vì sao Bồ Tát cầu được giòng họ cao quý?

-Vì giòng họ cao quý nên thường được chúng sanh cung kính, do sự cung kính nên tin nhận lời nói.  Hoặc vì họ hàng, hoặc vì lợi lộc, hoặc vì nể sợ mà chúng sanh chịu nghe lời dạy của Bồ Tát, do đây Bồ Tát cầu giòng họ cao quý.  Đó gọi là Báo của quả.

Vì sao Bồ Tát cầu được tự tại?

Vì được tự tại nên có thể giáo hóa vô lượng chúng sanh, thành hình đầy đủ hạnh bố thí, do đây Bồ Tát cầu được tự do, tự tại.  Đó gọi là Báo của quả.

Vì sao Bồ Tát cầu được tiếng nói thanh tao?

-Do tiếng nói thanh tao cho nên mỗi khi Bồ Tát phát ra lời lẽ, chúng sanh thích nghe, người đồng pháp, đồng nghĩa, đồng hạnh, đồng thầy, Bồ Tát cũng thường chỉ bảo, làm cho họ tự điều phục, do đó Bồ Tát cầu được tiếng nói thanh tao.  Đây gọi là Báo của quả.

Vì sao Bồ Tát cầu thân người Nam?

-Thân nam tử là pháp khí của tất cả pháp lành, chịu nổi các thứ khó khổ, có thể quán tánh Pháp giới.  Đối với bốn chúng, không có cái nạn sợ sệt.  Đối với thời gian, đối với nghĩa lý, có thể mau chóng rõ suốt, có đi đến đâu cũng không ngần ngại rụt rè.  Do đó Bồ Tát cầu thân người nam. Đây là Báo của quả.

Vì sao Bồ Tát cầu được sức mạnh vĩ đại?

-Bồ Tát thành được sức mạnh này tức có thể tu hành tất cả thiện pháp, có thể siêng năng tinh tấn cứu vớt các khổ phiền não của chúng sanh, do đó Bồ Tát cầu sức mạnh vĩ đại.  Đây gọi là Báo của quả.

Vì sao Bồ Tát cầu không ai hơn?

-Nếu Bồ Tát được là kẻ không ai hơn, tức có thể ban cho tất cả chúng sanh mọi vật cần dùng.  Do nhân duyên đó, có thể làm cho chúng sanh thích gặp, nghe pháp và tin nhận lời nói của người, do đó Bồ Tát cầu không ai hơn nổi.  Đây gọi là Báo của quả.

Bồ Tát đủ tám thứ báo của quả này, liền có thể tăng trưởng Phật pháp Vô thượng, làm lợi ích chúng sanh, tức thấy Phật đạo như xem trái am ma lặc trong lòng bàn tay.

Bồ Tát thành tựu đầy đủ tám thứ quả nói trên, song nếu chẳng luôn luôn giáo hóa chúng sanh, làm cho chúng đều được điều phục, tức không thể chứng Vô thượng Bồ Đề.  Dầu lại giáo hóa khiến các chúng sanh đều được điều phục, nhưng nếu không đủ tám thứ quả này, cũng không thể chứng đạo Vô thượng Bồ Đề.

Đại Bồ Tát thành tựu tám thứ quả như thế, dùng ba thừa pháp giáo hóa chúng sanh và tự mình được Vô thượng Bồ Đề.

Sở dĩ Đại Bồ Tát đầy đủ tám quả trên đây, là vì muốn giáo hóa, chế ngự chúng sanh.  Đây gọi là nghĩa trong, nghĩa ngoài. Đầy đủ tám thứ quả, cũng gọi là nghĩa quả.  Báo của nhân, báo của quả cũng gọi là nghĩa của quả.

Thế nào là phước? Sao gọi là trí?

Ba Độ ba la mật Thí, Giới, Nhẫn gọi là phước đức, Bát nhã ba la mật gọi là trí tuệ, ngoài ra hai độ Tinh tấn, Thiền định là nhân của phước cũng là nhân của trí.

Nếu siêng năng tinh tấn tu tập thiền định, thành tựu đầy đủ bốn vô lượng tâm, do sức nhân duyên Tứ đẳng này mà được tự tại, đây gọi là nhân của phước.

Nếu siêng năng tinh tấn tu tập chánh định, quán sát sâu xa Ấm, Giới, Nhập, quán Khổ thật khổ, quán Tập đích thật là nguyên nhân của Khổ, quán diệt đích thật nguyên nhân của khổ bị diệt, quán Đạo đích thật là pháp diệt khổ, quán thật chẳng phải thật, quán thiện chẳng phải thiện, quán pháp chẳng phải pháp, quán trên, dưới, trắng, đen, quán mười hai nhân duyên v.v…Đây gọi là nhân của trí.

Nếu siêng năng tinh tấn tu tập nhứt tâm, vui vẻ cấp thí, giữ gìn cấm giới, vui tu nhẫn nhục, đây gọi là nhân của phước.

Nếu siêng năng tinh tấn tu tập nhứt tâm, đa văn thọ trì, biên chép đọc tụng, giải nói kinh điển bí yếu của Bồ Tát tạng, do sức nhân duyên này mà được trí tuệ lớn để có thể phân biệt Pháp giới, phân biệt pháp giới gọi là quả của trí.

Nhân phước của Bồ Tát cũng gọi là nhân, cũng gọi là quả.  Nhân trí của Bồ Tát cũng gọi là nhân, cũng gọi là quả.  Nhân trí của Bồ Tát cũng gọi là phước cũng gọi là trí.  Nhân phước của Bồ Tát cũng gọi là trí cũng gọi là phước.  Do đó nhân phước của Bồ Tát có sáu, nhân trí của Bồ Tát cũng có sáu. Những gì là sáu? Nghĩa là sáu ba la mật.

Thế nào là nhân phước nhân trí?

Nhân phước, nhân trí có ba: Một là lòng tin.  Hai là sự phát tâm. Ba là gần gủi thiện hữu.  Đây gọi là ba nhân phước.  Nhân trí có hai: Một là thiện.  Hai là bất thiện. Nếu gần bạn ác, thực hành đạo tà đưa đến định tuệ chẳng đúng, gọi là phước bất thiện.  Phá hỏng phước huệ bất thiện như thế, gọi là phước thiện.

Nếu không đức tin hoặc phát tâm mà chẳng gần thiện hữu, rốt cuộc chẳng được phước đức, trí tuệ.  Nếu nói xa lìa ba việc như trên mà được phước huệ, điều ấy không có lý.  Đây gọi là nhân phước đức, nhơn trí tuệ.

Thế nào là quả của phước, quả của trí?

-Đại Bồ Tát thành tựu đầy đủ phước đức như vậy, chẳng bị sanh tử làm nhiễm ô, đó gọi là quả.  Bồ Tát thành tựu đầy đủ trí tuệ, xa lìa đường ác tu tập đạo lành.  Đây gọi là quả.

Đại Bồ Tát thành tựu đầy đủ như thế, giáo hóa chúng sanh, thành Vô thượng Bồ Đề gọi là quả.  Bốn vô lượng tâm cũng gọi là quả phước, quả trí của Bồ Tát.

Báo nhân, báo quả của Đại Bồ Tát đều gọi là phước đức. Nhơn quả, phước đức cũng gọi là trí tuệ, nghĩa là nhơn trí tuệ và quả trí tuệ.

Nếu có ai nói trong hai pháp đây, lìa bớt một pháp cũng được Vô thượng Bồ Đề, điều ấy thật là vô lý.  Đây gọi là nghĩa quả. Nghĩa quả còn gọi là nghĩa trong ngoài.

8. Thế nào là nghĩa hiện tại?

Nếu Đại Bồ Tát học hết thảy các việc thế gian, do sự biết khắp nên rất tự tại, vì được tự tại nên có thể giáo hóa chúng sanh, chúng sanh nhận rồi tu tập pháp lành, đó gọi là nghĩa hiện tại.

Nếu Đại Bồ Tát vì khách trần phiền não, gây tạo các tội, tạo rồi xét nét sâu xa, quyết phải chịu quả, khi đó sanh tâm hối hận, hổ thẹn sám hối chẳng tiếp tục tạo, phá nghiệp ác hiện tại.  Đây gọi là nghĩa hiện tại.

Nếu do nhân duyên sức mạnh của nghiệp ác chiêu cảm, bị người mắng nhiếc, hoặc bị người giận dữ đánh đập, thân bị khổ sở, đó gọi là nghĩa hiện tại.

Nếu Đại Bồ Tát tu tập thiền định, do nhân duyên này mà thân an lạc, gọi là nghĩa hiện tại.

Đại Bồ Tát thân tâm tự tại, đủ các đức thường, lạc, ngã, tịnh. Gọi là nghĩa hiện tại.

Nếu Đại Bồ Tát tu tâm tám đạo, do nhân duyên này được chứng Niết Bàn, gọi là nghĩa hiện tại.  Chúng sanh cũng vậy cũng như Bồ Tát.

9. Thế nào là nghĩa Đời khác?

Do nhân và duyên hiện tại, cho nên thọ thân đời khác.  Đó gọi là nghĩa đời khác.  Nghĩa hiện tại và nghĩa đời khác gọi là nghĩa trong ngoài.

10. Sao gọi là nghĩa rốt ráo?

Phước đức cõi Dục chẳng phải nghĩa rốt ráo.  Phước đức thế gian ở cõi sắc, cõi vô sắc tuy được tự do, cũng không phải là nghĩa rốt ráo.

Như các Bồ Tát tu tám thánh đạo, chứng quả Niết Bàn, thân các vị đó vô ngại, không có bờ mé, thiện pháp nhiều không thể lường, gọi là nghĩa rốt ráo.

Rốt ráo có ba:

Một là: Tánh rốt ráo.  Hai là: Thoái rốt ráo.  Ba là: Báo tận rốt ráo.

Chẳng rốt ráo cũng như vậy.

Tánh rốt ráo mệnh danh là tánh Niết Bàn, chẳng rốt ráo là pháp hữu vi.

Thoái rốt ráo là chỗ tu tám thánh đạo của Thanh văn, Duyên giác.  Rốt ráo chẳng thoái là Bồ Tát bất thoái chuyển.

Báo tận rốt ráo là những gì thuộc về phước đức, quả báo thế gian.  Báo không cùng tận rốt ráo là đạo quả vô thượng.

Trên đây gọi là mười nghĩa.

Đại Bồ Tát thường nên tu tập và đem giáo hóa chúng sanh.  Sự học của Bồ Tát quá khứ, hiện tại và vị lai cũng đều như vậy.

Nếu Bồ Tát chẳng tu tập mười pháp này ắt chẳng được giới cấm của Bồ Tát.

KINH BỒ TÁT THIỆN GIỚI
HẾT QUYỂN MỘT

Pages: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.