Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

ĐẠI THỪA NGHĨA CHƯƠNG

SỐ 1851

QUYỂN 20

Đời Tùy, Pháp Sư Tuệ Viễn soạn.
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh.

 

(Phần Đầu)

PHẦN PHÁP TỊNH TRONG QUẢ PHÁP

– Có bảy phần:

  1. Nghĩa năm phần Pháp Thân
  2. Nghĩa năm thứ mắt
  3. Nghĩa sáu thông
  4. Nghĩa mười lực
  5. Nghĩa mười hiệu
  6. Nghĩa mười tám pháp bất cộng
  7. Nghĩa một trăm bốn mươi pháp bất cộng

1. NGHĨA NĂM PHẦN PHÁP THÂN

– Chia làm bốn phần:

1- Giải thích tên gọi. 2- Nói về tướng.

  1. Phân biệt ba học.
  2. Phân biệt ba nhóm.

1. Giải thích tên gọi:

Các kinh phần nhiều nói về năm phần pháp thân, tên gọi năm phần trong pháp thân là: Giới, Định, Tuệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến. Năm phần này ý nghĩa chung cả nhân quả. Trong kinh phần nhiều căn cứ theo nghĩa Vô học mà nói. Trong Vô học chung cả Đại thừa và Tiểu thừa. Nay nói về đức của Phật:

Giới là y cứ trên thực hành phương tiện phòng cấm nên gọi là giới. Phòng cấm các lỗi khiến không bao giờ khởi. Nói theo thật thì pháp thân thể thanh tịnh không lỗi nào khởi cả nên gọi là Giới.

Định là y cứ trên thực hành phương tiện, dứt loạn trụ duyên, gọi là Định. Y theo thật mà nói thì chân tâm thể vắng lặng, tự tánh chẳng động gọi là Định.

Tuệ là y cứ trên thực hành phương tiện quán chiếu thấu suốt gọi là Tuệ, y theo thật mà nói thì chân tâm thể sáng suốt tự tánh không tối gọi là Tuệ.

Giải thoát là y cứ trên thực hành phương tiện thoát khỏi triền phược gọi là thoát, nói theo thật thì tự thể không có ràng buộc, nên gọi là Giải thoát.

Giải thoát tri kiến là y cứ trên thực hành phương tiện biết tự mình ra khỏi ràng buộc nên gọi là Giải thoát tri kiến, y theo thật mà nói thì chứng cùng tột tự biết chân thật vốn vô nhiễm gọi là Giải thoát tri kiến.

Hỏi: Tri kiến là tên khác của Tuệ, nêu một gồm đủ tất cả, đâu cần khổ nhọc để lập thuyết?

Ngài Long Thọ giải thích: Tri và Kiến đều có nghĩa riêng, hoặc có khi là Kiến mà chẳng phải Tri, như tâm tám nhẫn của Tiểu thừa, suy cầu gọi là Kiến mà chưa quyết liễu nên không gọi là Tri. Hoặc có khi là Tri mà chẳng phải Kiến, như Trí Tận, Trí Vô Sinh của Tiểu thừa, đối với cảnh biết rõ nên gọi là Tri, bậc Vô học dứt suy cầu nên không gọi là Kiến. Nay lập thuyết khác với kia, Tri mà Kiến nên gọi là Giải thoát tri kiến, với chỗ sở đắc của mình quán sát mong cầu gọi là Kiến, giác liễu gọi là Tri. Ngài Long Thọ lại nói, vì vững chắc nghĩa kia nên gọi chung là Tri Kiến.

Đây là phần phân biệt tên của năm món lại chia về nhân năm phần pháp thân này thành tựu nhân của thân nên gọi là phân. Pháp tên là tự thể, năm món này dùng Vô học làm tự thể nên gọi là Pháp. Lại pháp nghĩa là khuôn phép, năm món này thành tựu khuôn phép nên gọi là pháp. Thể của năm Pháp thân Phật này gọi là thân, lại đức chứa nhóm cũng gọi là Thân.

2. Nói về tướng:

1. Giới. Có ba loại:

  • Biệt giải thoát Giới: Như kinh Di Giáo nói: “Giới là gốc chánh thuận giải thoát” nên gọi là Giải thoát. Lại nữa, theo phần mà tránh khỏi, cắt đứt lưới nghiệp nên gọi là giải thoát. Tán tâm thọ nhận được không giống như hai tâm đạo, định nên gọi là Biệt.
  • Thiền giới: Cũng gọi là giới Định cộng đối với tâm thiền định có pháp vô tác lìa ác phát sinh nên gọi là giới Thiền. Giới này giống như định, có định thì có giới, xả định thì mất giới nên gọi là giới Định cộng.
  • Đạo giới: Cũng gọi là Đạo cộng, đối với tâm Thánh đạo có riêng pháp vô tác lìa lỗi phát sinh, nên gọi là Đạo giới. Giới này đi chung với Đạo nên gọi là Đạo cộng.

Nghĩa này như trong phần ba luật nghi ở trước đã nói đầy đủ. Trong ba loại này, chia quả khác nhân, lấy riêng quả Phật câu sinh Đạo giới làm giới thân, nhiếp nhân thành quả thì cả ba đều như thế.

  1. Định thân: Có hai thứ:

Sự định: Đó là tám định thế gian, trong sự ấy tâm an, dứt trừ sự loạn nên gọi là Sự định.

Lý định: là Ba loại Tam-muội, v.v… trong lý an tâm, dứt trừ tánh loạn nên gọi là Lý Định. Giữ tánh trái lý nên gọi là tánh loạn. Lại trụ vào thật tế, dứt trừ tất cả vọng tưởng phân biệt cũng gọi là Lý Định. Tâm chấp tướng gọi là vọng phân biệt.

Trong hai thứ định này, chọn lấy quả khác nhân, chỉ nhận quả Phật tương ưng với Lý định làm định thân của Phật, nhiếp nhân thành quả, tất cả đều như thế.

  1. Tuệ thân: Có hai thứ:

Thế Trí: biết rõ pháp thế gian.

Đệ Nhất Nghĩa Trí: biết đệ nhất nghĩa.

Hai trí này đều chung cả nhân quả, phân biệt quả khác nhân, trí trong quả là Phật tuệ thân, nhiếp nhân thành quả, tất cả đều đúng.

  1. Giải thoát: có hai:

Hữu vi Giải Thoát: Thánh đạo vô vi dứt bặt các ràng buộc.

Vô vi Giải Thoát: Diệt đế Niết-bàn dứt lìa các ràng buộc.

Hai giải thoát này chung cả nhân quả, phân biệt quả khác nhân, giải thoát trong quả là giải thoát thân của Phật, trong nhân thì không phải; nhiếp nhân thành quả thì tất cả đều đúng. Lại trong hữu vi, vô vi nay, nói theo tướng thì hữu vi giải thoát là giải thoát thân, vô vi thì không đúng. Vì sao? Giải thoát thân là sự sai biệt trong tuệ nên hữu vi là đúng, vô vi chẳng phải tuệ nên không lấy.

Lại thân là nghĩa chứa nhóm, công đức hữu vi có nghĩa chứa nhóm nên gọi là thân, pháp vô vi không có nghĩa chứa nhóm nên chẳng thành thân. Nếu nhiếp tướng để nói thì tất cả đúng.

Hỏi: Vô Vi không có nghĩa chứa nhóm, làm sao thành thân?

Đáp: Thân là nghĩa của thể, Vô vi giải thoát cũng là pháp thể công đức của Như Lai nên được gọi là Phật. Trong Hoa Nghiêm nói mười thân Phật, bắt đầu từ Nguyện thân đến Trí thân, thân thứ chín là Pháp thân.

Luận tự giải thích rằng; pháp thân là giới vô lậu, giới vô lậu là Niết-bàn, nên pháp vô vi cũng được gọi là thân, giống với Phật Niếtbàn trong Hoa Nghiêm.

Trong Hữu Vi lại có hai thứ:

Tâm giải thoát: Dứt trừ bốn trụ, công đức tâm tịnh.

Tuệ giải thoát: Dứt trừ vô minh, tất cả trí tịnh.

Hai thứ này đều có tên chung là Giải thoát thân.

5. Giải thoát tri kiến. Có hai thứ:

Tự tri giải thoát: Tự biết rõ ràng chỗ sở đắc của mình.

Tri tha giải thoát: Biết tất cả chỗ sở đắc của Ba thừa. Cả hai đều gọi chung là Tri kiến thân.

3. Phân biệt theo tam học:

Tam học là Giới, Định, Tuệ. Trong năm phần pháp thân, thứ nhất là Giới, kế là Định, ba pháp sau là Tuệ.

Hỏi: Vì sao trong Tuệ chia riêng làm ba, Giới Định mỗi pháp chỉ là một?

Có chỗ giải thích: Tuệ có nhiều công năng nên chia làm ba, Giới Định không như thế nên mỗi pháp chỉ có một.

Tướng một như thế, chưa phải là nhất định, vì sao? Vì trong kinh hoặc có khi chia Giới là nhiều, Định và Tuệ mỗi thứ là một, như trong môn sáu độ thì bốn môn đầu là Giới, môn thứ năm là Định, môn thứ sáu là Tuệ. Giới đi đầu các pháp khác giúp đỡ mới được thành, nên chia ra nhiều thứ, các pháp còn lại không như thế nên chỉ có một. Hoặc có khi chia Định là nhiều, Giới và Tuệ mỗi thứ là một, như bốn thứ Vô tội lạc thì Giới là một gọi là xuất gia lạc. Định chia làm hai: “Viễn ly lạc” và “tịch diệt lạc”. Sơ thiền xa lìa dục ác bất thiện nên gọi Viễn ly lạc, nhị thiền trở lên giác quán ngừng nghỉ nên gọi là Tịch diệt lạc; Tuệ là một gọi là Bồ-đề lạc. Vì thiền định dứt khổ, tướng vui tăng mạnh nên chia làm nhiều; Giới, Tuệ không như thế nên là một. Hoăc có khi chia Tuệ nhiều; Giới, Định mỗi thứ một. Như trong môn Thất tịnh thì Tuệ chia làm năm là Kiến Tịnh, Độ Nghi Tịnh, Đạo phi Đạo Tịnh, Hành Tịnh và Hành Đoạn Trí Tịnh. Giới chỉ có một là Giới Tịnh, Định cũng chỉ có một là Tâm Tịnh. Vì về phần trừ chướng lìa lỗi Tuệ có nhiều công năng nên chia làm năm; Giới, Định không như thế nên chỉ có một. Hoặc Giới, Định, Tuệ cả ba đều được phân chia, như trong môn tám Chánh Đạo, Giới chia làm ba: Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp và Chánh Mạng; Định chia làm hai: Chánh Niệm và Chánh Định; Tuệ chia làm hai: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy. Vì các hạnh ấy đều có tướng khác nên cùng phân.

Nay nói năm phần pháp thân, chỉ nghiêng về Tuệ, Giới và Định chỉ có một, giống như trong môn Thất tịnh ở trên, vì pháp môn phân chia và gộp lại không giống nhau nên không nhất định.

4. Phân biệt theo ba nhóm: (TAM TỤ)

Ba nhóm là Sắc, pháp, Tâm pháp, Phi Sắc tâm.

Theo Luận Tỳ-đàm, năm phần pháp thân quan trọng chỉ là Sắc – Tâm, một phần giới đầu là Sắc, bốn phần còn lại là Tâm. Vì sao trong Tâm pháp chia làm nhiều phần? Nhiều chỗ giải thích: Tâm có nhiều công dụng nên chia làm nhiều, Sắc pháp không như thế nên chỉ có một.

Có lẻ đó là một tướng mà nói, chưa thể chuyên định.

Nghĩa này thế nào?

Trong kinh hoặc có khi nói rộng về Sắc, nói lược về Tâm như Thập nhị nhập; hoặc có khi nói rộng Tâm mà lược Sắc, như Năm ấm; hoặc có khi Sắc – tâm đều nói rộng như Thập bát giới; hoặc có khi Sắc Tâm đều lược như môn Danh Sắc. Nay nói năm phần pháp thân nghĩa tương đương Năm ấm. Vì vậy, nhiều môn phân ra và gộp lại chẳng phải một, nên không chuyên định.

Nếu theo Luận Thành Thật, thì trong giới thân ban đầu, Tác giới là Sắc, Vô tác là phi Sắc phi Tâm, bốn pháp sau là Tâm. Theo thuyết này thì một Giới thân đầu tiên phi tình làm Thể, bốn pháp sau là Tình.

Hỏi: Vì sao trong pháp phi tình lập riêng là một, pháp tình là bốn?

Đáp: Nhiều chỗ giải thích rằng: Vì trong tâm pháp thành người mạnh nên chia làm bốn. Điều này cũng không nhất định. Trong kinh hoặc có khi chia giới làm nhiều như sáu độ môn, hoặc Giới và Tâm cùng chia làm nhiều như tám chánh môn, không thể nhất định được.

Theo Đại thừa, Giới chung cả ba nghiệp, vì dùng giới để nói về mười đường lành, trong đó tác giới là Sắc là Tâm, thân miệng tạo nghiệp gọi là Sắc, ý tạo nghiệp gọi là Tâm. Vô tác là pháp Sắc, Tâm, không phải là sự Sắc Tâm là nghiệp sắc tâm từ sắc tâm sinh, gọi là Sắc, gọi là Tâm, chẳng phải hình chất chướng ngại, cũng chẳng phải tri thức. Do nghĩa này nên pháp phi Sắc Tâm như trong Ba nhóm Giới ở trước đã nói đầy đủ.

Giới thân như thế, bốn tâm pháp còn lại, như nói vô vi giải thoát là thân, giải thoát thân cũng phi sắc tâm.

2. NGHĨA NGŨ NHÃN.

– Chia làm tám phần:

  1. Giải thích tên gọi.
  2. Nói về tướng.
  3. Thứ đệ tu thành.
  4. Phân biệt theo cảnh.
  5. Phân biệt theo người.
  6. Chứng hạn sở kiến.
  7. Nói nhân.
  8. Đối với mười nhãn trên thâu nhiếp lẫn nhau.

1. Giải thích tên gọi:

Nghĩa của Ngũ Nhãn, các kinh phần nhiều có nói, chiếu soi nhìn ngắm gọi là nhãn. Nhãn phân biệt khác nhau. Một thuyết nói có ngũ nhãn: một nhục nhãn, hai thiên nhãn, ba mắt tuệ nhãn, bốn pháp nhãn, năm Phật nhãn. Nhục nhãn và tuệ nhãn là theo thể mà đặt tên, dùng con mắt gọi là mắt Tuệ nhãn. Pháp nhãn theo cảnh mà đặt tên, vì thấy được pháp gọi là pháp nhãn. Thiên nhãn và Phật nhãn thì gọi tên không nhất định. Vì sao? Vì tên thiên nhãn có ba thứ:

  1. Từ người đặt tên: trong cõi người theo nghĩa mà gọi, chư Phật Bồ-tát gọi là Tịnh Thiên, sinh trong loài người quả báo được mắt thấy thấu suốt Tam thiên Đại thiên thế giới, từ Tịnh Thiên để đặt tên, nên gọi là Thiên nhãn.
  2. Theo cõi đặt tên; từ Bốn vị Thiên Vương cho đến cõi Phi Tưởng gọi chung là cõi trời, sinh trong cõi trời, có phước báo được mắt nhìn thấy xa nên gọi là Thiên nhãn.
  3. Theo nhãn mà được tên, như luận Địa Trì nói: “Tất cả thiền định trong Tam trụ gọi là Thiên trụ, y theo Thiên Trụ này tu được thanh tịnh nhãn, theo nhân này nên gọi là Thiên nhãn”.

Vì Thiên nhãn có ba thứ khác nhau này nên gọi là sai biệt không đồng.

Phật nhãn có hai cách gọi tên:

  1. Theo người đặt tên, người tùy nghĩa mà gọi. Chư Phật, Như Lai có năng lực giác ngộ nên gọi là Phật, mắt Phật gọi là Phật nhãn.
  2. Theo thể đặt tên, Phật gọi là giác, trí giác ngộ gọi là giác, giác trí này dùng làm mắt nên gọi là Phật nhãn.

Vì Phật nhãn có hai thứ, tên gọi khác nhau. Về Phật nhãn cũng chia làm hai:

  • Tướng chung Phật nhãn: Bốn thứ mắt khi còn trong nhân đến lúc đạt quả Phật gọi chung là Phật nhãn. Ngài Long Thọ nói: “Thí như bốn dòng sông chảy ra biển lớn đều gọi chung là biển lớn, cũng thế, bốn loại mắt đặt quả Phật cùng gọi chung là Phật nhãn, như thế Phật nhãn theo người mà đặt tên”.
  • Tướng riêng Phật nhãn: Soi thấy Như Lai Tạng tánh chân thật gọi là Phật nhãn, Phật như thế là nhãn đương thể mà đặt tên.

    Tên Ngũ Nhãn có những vấn đề phụ như thế.

    Giải thích sau:

Nhục nhãn: hình mạo gọi là nhục, mắt tịnh nhục có thể nhìn thấy nên gọi là nhục nhãn.

Thiên nhãn: Giải thích không nhất định, theo loài đặt tên thì chỗ thọ dụng tự nhiên gọi là Thiên, như Luận Địa Trì nói: “Mắt của loài trời gọi là Thiên nhãn”.

Nếu giải thích theo người thì chư Phật, Bồ-tát do thanh tịnh nên gọi là Thiên, mắt của Tịnh thiên gọi là Thiên nhãn.

Nếu giải thích theo Thiền thì tất cả Thiền định vì lìa dục thanh tịnh nên gọi là Thiên nhãn.

Mắt tuệ Nhãn: Quán sát thấu đạt gọi là Tuệ. Tuệ có công năng soi sáng nên gọi là Tuệ nhãn.

Pháp nhãn: Khuôn phép gọi là Pháp. Luận Thành thật nói: “Pháp gọi là tự thể, các việc thiện ác mỗi việc đều có tự thể nên gọi là pháp, mắt chiếu soi pháp gọi là pháp nhãn”.

Phật nhãn: Giải thích chung thì Phật là bậc giác ngộ, mắt của người giác ngộ gọi là Phật.

Giải thích riêng thì Phật là giác trí, giác trí này có công năng chiếu soi, nên gọi Phật nhãn. Nghĩa là như thế.

2. Nói về thể tướng:

Trong thứ nhãn, nhục nhãn lấy sắc pháp làm thể, thiên nhãn vừa sắc vừa tâm pháp. Ba loại sau là tâm pháp, trí tuệ làm thể.

Trong nhục nhãn có hai loại: Một là báo, hai là trưởng dưỡng. Do nghiệp đời trước mà được gọi là báo, còn do sức của thực phẩm thuốc men mà được đôi mắt tốt thì gọi là trưởng dưỡng.

Thiên nhãn có hai: Một là chiếu hiện sắc tượng, sắc căn làm thể, hai là soi thấy vị lai, trí tuệ làm thể. Trong sắc có hai, một là phương tiện, hai là báo. Phương tiện là do tu thiền có được, như Luận Tỳ-đàm nói: “Y theo thiền trên tu tập thiên nhãn, được bốn đại thanh tịnh của thượng địa, cùng ở một nơi như nhục nhãn mà thấy xa gọi là thiên nhãn”.

Nếu theo luận Thành Thật, do năng lực thiền định chuyển nhục nhãn của cõi phàm có thể thấy xa gọi là Thiên nhãn, không cần phải khác loài.

Cách lập thuyết của Đại thừa đồng với Luận Tỳ-đàm, người có mắt bốn đại bậc thượng và người nhục nhãn bậc hạ ở một nơi, cũng thấy xa gần khác nhau, phương tiện như thế.

Báo có hai loại:

Một là chư Phật, Bồ-tát do năng lực nhân duyên hạnh nghiệp nhiều đời nên dù sinh nơi nào cũng có quả báo được thiên nhãn nhìn xa.

Hai là các vị trời sinh ở cõi trời, quả báo được tịnh nhãn có thể thấy xa. Trong quả báo cõi trời lại có hai thứ, một là nghiệp quả tám thiện là các tầng trời cõi Dục, hai là nghiệp quả định thiện, là các tầng trời cõi Sắc. Nếu nói chung Vô Sắc cũng có Đại thừa nói cõi Vô Sắc cũng có Sắc. Về phần thiên nhãn có tuệ làm thể, trong pháp Tiểu thừa chỉ có phương tiện; trong pháp Đại thừa có hai loại: Một là phương tiện, nhờ tu thiền mà được. Hai là Báo, chư Phật Bồ-tát cũng nhờ năng lực tu mà quả báo được tịnh trí, thấy được việc ở đời vị lai.

Tuệ nhãn có hai: Một là phương tiện, hai là báo sinh. Phương tiện là ở đời hiện tại gần bạn nghe pháp tư duy tu tập, thấy các pháp không. Báo sinh Địa luận gọi là báo sinh thức trí, do năng lực đã tu tập hễ sinh ra bất cứ nơi nào tự nhiện cũng soi thấy tất cả pháp không, chẳng đợi tu tập.

Pháp nhãn cũng có hai loại: Phương tiện và Báo sinh, đồng với Tuệ nhãn, chỉ có Cảnh giới sở kiến là khác.

Phật nhãn: Cũng có hai loại: Một là phương tiện, học quán thật tánh; hai là báo thành, do đã tu tập mà mắt tánh thành tựu. Do phước báo thành tựu nên trong kinh luận gọi là Báo Phật. Thể tướng của ngũ nhãn thứ như thế.

3. Thứ lớp tu hành:

Hành giả vì dục nuôi lớn thân mình, trước tu nhục nhãn, tuy có nhục nhãn nhưng chỉ có thể thấy phần thô, không thể thấy phần tế, chỉ có thể thấy gần không thể thấy xa, chỉ có thể thấy sáng không thể thấy tối, chỉ có thể thấy phía trước, không thể thấy phía sau, chỉ có thể thấy trong bức tường, không thể thấy ngoài vật ngăn. Có những chướng ngại như thế nên tu thiên nhãn, do có Thiên nhãn nên tất cả đều thấy, thứ lớp tu tập của hai thứ nhãn trước là cố định.

Ba loại nhãn sau thứ lớp không nhất định, trong đây nói đầy đủ, thứ lớp có hai, nghĩa chia ra có tám.

Thứ lớp có hai: Nếu y theo quán nhập thì trước là Pháp Nhãn, kế là tuệ Nhãn, sau nói rõ Phật Nhãn, nếu nói theo thứ lớp từ tịch khởi dụng thì trước là tuệ Nhãn kế là Pháp nhãn, sau là Phật Nhãn.

Nghĩa chia ra làm tám, trong môn trước nghĩa chia ra làm bốn, môn sau cũng vậy.

Môn trước chia làm bốn:

Tu thiên nhãn trước, chỉ thấy việc sắc tượng, chưa thể soi thấy tất cả pháp tướng nên phải tu pháp nhãn; pháp nhãn tuy thấy tất cả pháp tướng nhưng chưa thể soi thấu phá tướng lý không, nên tiếp theo tu mắt tuệ Nhãn. Tuệ Nhãn tuy thấy phá tướng lý không, nhưng chưa cùng tận, vì chưa cùng tận nên tiếp theo tu Phật Nhãn, do Phật Nhãn nên phá tướng hoàn toàn thấy không đến cùng tận.

Trong môn này, Phật Nhãn và tuệ Nhãn đồng thấy lý không nhưng có tận và bất tận khác nhau, như Ngài Long Thọ nói: “Bồ-tát ba-nhược đến quả vị Phật chuyển tên là trí Tát-bà-nhã”.

Nghĩa này như thế.

Tu thiên nhãn trước, chỉ thấy việc sắc tượng mà không thể thấy tất cả pháp tướng, kế tu pháp nhãn, pháp nhãn tuy thấy tất cả pháp tướng mà chưa thể thấy phá tướng lý không, do không thấy nên kế đó tu tuệ Nhãn, tuệ Nhãn tuy thấy phá tướng lý không mà chưa thể thấy như thật chân không, do không thấy nên phải tu Phật nhãn, vì Phật nhãn thấy như thật không. Như Ngài Long Thọ nói: “Bồ-tát tu học sinh không, pháp không, dần dần tu được lý không bất khả đắc lý không, bất khả đắc là chân không. Như Lai tạng, tánh từ xưa đến nay không khởi không diệt, tự tánh thường vắng lặng, không đợi phá pháp rồi mới có lý không, nên gọi là chân không”.

Tu thiên nhãn trước, chỉ thấy sắc tượng, tu pháp nhãn thấy suốt tất cả pháp tướng, mắt tuệ thấy rõ phá tướng lý không nên thấy chân không, nên kinh Vô Lượng Thọ nói: “Tuệ nhãn thấy chân thật, đây nói là thấy”. Như kinh Niết-bàn nói: “Không có pháp để thấy nên gọi là thấy không”. Tuệ nhãn tuy thấy tất cả lý không nhưng chẳng thể thấy Phật tánh thật có, do không thấy nên kế đó tu Phật nhãn, từ đó rõ biết pháp giới như thật chân hữu.

Ba môn trên đây căn cứ theo tướng riêng của Phật nhãn.

Nói theo tướng chung của Phật nhãn thì trước tu Thiên nhãn thấy rõ sắc tướng, Pháp nhãn thấy rõ tất cả pháp tướng và thấy pháp lành trong Như Lai tàng chân thật mà không cùng tận, tuệ nhãn chiếu soi phá tướng lý không, cũng thấy nghĩa không như thật. Như Lai tàng chân thật không tột cùng. Do bốn loại mắt trước cách thấy chẳng tột cùng, kế tu Phật nhãn, do Phật nhãn nên đối với chỗ không tận cùng của bốn loại nhãn trên, tất cả đều thấu suốt. Trong môn này, bốn loại nhãn trước thành tựu rốt ráo nên gọi là Phật nhãn.

Quán nhập thứ lớp, ý nghĩa như thế.

Khởi dụng thứ lớp bốn nghĩa thế nào?

Dùng Thiên nhãn trước, thấy sắc tướng nhưng chưa thể thấy phá tướng lý không. Kế tu tuệ nhãn, tuệ nhãn thấy không mà chưa thể thấy tất cả chúng sinh căn dục tánh tâm và tất cả pháp hóa độ chúng sinh. Kế tu Pháp nhãn, Pháp nhãn tuy thấy được căn dục tánh tâm của tất cả chúng sinh và pháp hóa độ sinh nhưng chưa cùng tận. Do không cùng tận nên kế tu Phật nhãn, do Phật nhãn nên thấy tột cùng. Trong môn này Phật nhãn cùng pháp nhãn đồng thấy có tận cùng và không tận cùng có khác nhau, như Ngài Long Thọ nói: “Pháp nhãn của Bồ-tát khi đến giai vị Phật chuyển thành Phật nhãn, nghĩa tương đương với môn này”.

Dùng Thiên nhãn trước, thấy được sắc tướng, kế tu tuệ nhãn thấy phá tướng lý không. Kế tu Pháp nhãn thấy căn dục tâm tánh của các chúng sinh và pháp hóa độ sinh, nhưng chưa thấy pháp giới chân hữu trong Như Lai tàng. Kế tu Phật nhãn, do Phật nhãn nên đối với pháp chân hữu tất cả đều thấy. Phật nhãn và Pháp nhãn trước, cách thấy có khác nhau.

Dùng Thiên nhãn trước thấy sắc tướng, kế tu tuệ nhãn thấy phá tướng lý không. Kế tu Pháp nhãn soi thấy tâm tánh căn dục của chúng sinh và pháp hóa độ chúng sinh, và thấy pháp giới chân hữu trong Như Lai tàng chân thật. Tuy thấy pháp này nhưng chưa thấy như thật chân không phi hữu phi vô, kế tu Phật nhãn, do tu Phật nhãn nên rõ biết pháp tánh như thật chân không.

Ba môn này là phân biệt đối với tướng riêng của Phật nhãn.

Nói theo tướngchung của Phật nhãn: Trước tu Thiên nhãn thấy sắc tướng, kế tu tuệ nhãn thấy phá tướng lý không và Phật tánh như thật chân không, không cùng tận. Kế tu Pháp nhãn thấy pháp tướng hữu và thấy chân hữu nhưng chưa rốt ráo. Do bốn thứ mắt trước chưa rốt ráo nên phải tu Phật nhãn, nhờ Phật nhãn nên đối với chỗ không cùng tận của bốn thứ mắt trước đều thấy cùng tận. Đây là đối với bốn thứ mắt đầy đủ nên gọi là Phật nhãn, không còn có pháp khác. Tu theo thứ lớp thành tướng trạng như thế.

4. Phân biệt theo cảnh:

Căn cứ vào cảnh có bốn thứ: Một Sự, hai Pháp, ba Lý, bốn Thật. Sự khác nhau của ấm, giới, nhập v.v… là Sự; Pháp thông tướng của khổ, vô thường v.v… là Pháp. Phá tướng nghĩa không là Lý. Trong Như Lai tàng tất cả các nghĩa tự tánh như thế là Thật.

Hỏi: Chỗ thấy của ngũ nhãn đối với bốn thứ này thế nào?

Đáp: Căn cứ theo tướng riêng ngũ nhãn phân biệt, sau căn cứ theo tướng chung ngũ nhãn mà phân biệt.

Hỏi: Tướng riêng ngũ nhãn phân biệt ra sao?

Đáp: Nhục nhãn, Thiên nhãn chỉ thấy phần thô của một sắc tướng, ngoài ra đều không thấy. Như kinh Niết-bàn nói: “Thiên nhãn Bồ-tát chẳng phải thấy được sắc, cũng thấy được sắc tướng sinh diệt kia”. Nếu theo nghĩa này cũng phân biệt là thấy pháp, vì ít nên không nói. Pháp nhãn thấy tất cả các loại như; ấm, giới, nhập v.v… và thấy pháp Tuệ nhãn thấy nơi phá tướng lý không, Phật nhãn thấy chân thật.

Tướng riêng là như thế.

Hỏi: Chung và riêng ngũ nhãn thấy cảnh thế nào?

Đáp: Bốn loại mắt trước là riêng nên thấy bốn cảnh riêng. Một loại Phật nhãn sau là chỗ chung nên thấy chung bốn cảnh.

Theo riêng ở trước, nhục nhãn và Thiên nhãn thấy một phần sắc của thô mà không cùng tận. Pháp nhãn thấy pháp sự tướng, ấm giới, nhập v.v… và thấy tất cả pháp sinh, diệt, khổ, vô thường v.v… cũng thấy pháp thiện có trong Như Lai tàng nhưng không cùng tận. Tuệ nhãn thấy phá tướng lý không, cũng thấy tự thể chân không trong Như Lai tàng chân thật, mà không hoàn toàn. Phật nhãn thấy các pháp của bốn thứ mắt trước, thảy đều cùng tận. Nên Ngài Long Thọ nói: “Nên biết Phật nhãn không có chỗ nào không thấy, không có gì không nghe, không có gì không biết, nói chung như thế”.

Hỏi: Phật nhãn chính là thấy, sao nói là nghe?

Đáp: Ngài Long Thọ giải thích: “Từ nhĩ thức mà sinh trí tuệ cho nên nói là nghe, lại các căn là quyến thuộc của Phật nhãn cho nên nói là nghe”.

5. Phân biệt theo người:

Người ở đây là phàm phu, Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát và Phật,

căn cứ các bậc này mà chia ra ngũ nhãn, trong đây có ba.

  1. Phân biệt theo tướng: Nhục nhãn, Thiên nhãn thấy sự tướng là pháp phàm phu, phân loại thuộc phàm phu, dù cho bậc Thánh có tánh cũng thuộc phàm phu. Pháp nhãn tuệ nhãn phối hợp với người không nhất định, nếu nói theo thứ lớp quán nhập, Pháp nhãn thấy các pháp thường sinh diệt, khổ, vô thường, v.v… xếp vào Nhị thừa, nên người Nhị thừa khi nhập Kiến đạo gọi là Pháp nhãn tịnh. Tuệ nhãn thấy lý không bình đẳng, xếp vào Bồ-tát. Nếu y theo thứ lớp từ tịch khởi dụng thì, tuệ nhãn thấy ấm, giới, nhập, v.v…không, vô ngã nhân, xếp vào Nhị thừa. Pháp nhãn thấy tâm tánh căn dục của tất cả chúng sinh và thấy tất cả pháp hóa độ chúng sinh, pháp xếp vào Bồ-tát. Phật nhãn ở Phật, nghĩa dễ biết.
  2. Phân biệt hơn khác kém: Được mắt bậc thượng gồm cả bậc hạ, có mắt bậc hạ không sánh bằng bậc thượng, trong môn này, hàng phàm phu chỉ có Nhục nhãn, Thiên nhãn, không có ba thứ kia. Thanh văn, Duyên giác nghĩa ấy không nhất định, nếu theo môn quán nhập thì các vị ấy có Pháp nhãn, Nhục nhãn, Thiên nhãn không có hai thứ kia. Nếu theo môn khởi dụng, các vị ấy có tuệ nhãn, Nhục nhãn, Thiên nhãn không có hai thứ mắt kia. Bồ-tát đầy đủ bốn thứ mắt, nhưng chưa được Phật nhãn. Chư Phật, Như Lai đầy đủ ngũ nhãn, nên kinh nói: “Đầy đủ ngũ nhãn thành tựu Bồ-đề”.
  3. Phân biệt Đại khác Tiểu: Phàm phu, Nhị thừa là Tiểu thừa, Chư Phật, Bồ-tát là Đại thừa. Trong phần Tiểu thừa, thứ mắt bậc thấp không sánh bằng mắt bậc cao, mắt bậc cao gồm cả loại thấp. Trong phần đại, chư Phật Bồ-tát đầy đủ ngũ nhãn,chỉ có tròn đầy và chưa tròn đầy là khác nhau.

    6. Giới hạn thấy biết của ngũ nhãn thức:

Trước nói về nhục nhãn. Như Ngài Long Thọ nói: “Phàm phu nhục nhãn thấy xa nhất không thể thấy quá trăm do-tuần, còn vua Chuyển Luân từ đó trở lên xa gần không nhất định”.

Hỏi: Mặt trời, mặt trăng cách trái đất bốn mươi hai ngàn do-tuần, người đời cùng thấy, vì sao không thấy hết trăm do-tuần?

Luận giải thích: Mặt trời, mặt trăng có ánh sáng phản chiếu tự thể nên người thấy, chẳng phải do sức của mắt, lại người tuy thấy mà không tương xứng với thật, nên không gọi là thấy.

Vì sao không tương xứng? Vì mặt trời, mặt trăng tròn đủ năm trăm do-tuần, mà thấy như cái quạt tròn cho nên nói là không tương xứng.

Hàng Thanh văn, Duyên giác nhục nhãn như phàm phu, Bồ-tát nhục nhãn gần xa không nhất định. Trong kinh Đại Phẩm nói: ” Gần thì thấy một trăm do-tuần, xa nhất là Tam thiên Đại thiên thế giới”.

Hỏi: Chỗ gần có tiêu chuẩn nhất định nào mà nói gần thấy một trăm do-tuần?

Đáp: Ngài Long Thọ giải thích: ” Vì phân biệt hàng phàm phu, với vua Chuyển Luân nên nói thấy một trăm do-tuần, thật ra không nhất định”.

Hỏi: Vì sao chỗ xa không thể thấy nhiều, mà nói thấy rất xa cõi Tam thiên?

Đáp: Luận giải thích có ba:”Ngoài cõi Tam thiên trong chốn hư không có đại phong luân là chỗ trái với mắt thịt, do chướng ngại này nên không thể thấy xa hơn”.

Nếu không có thiên nhãn, gắng tu có phước thù thắng có thể thấy xa. Do có thiên nhãn lại không tu tập phước cao quý nên không thấy xa.

Bồ-tát nhục nhãn cũng có thể thấy xa, nhưng Phật không nói, sau giải thích ứng thiện vì sao biết được?

Như trong kinh nói: “Cõi nước của Phật A-di-đà quả báo được nhục nhãn thấy rõ việc trong vô số cõi Tam thiên, nên biết không cuộc hạn ở một cõi Tam thiên”.

Kinh Đại phẩm nói thấy cõi Tam thiên căn cứ theo đây.

Hỏi: Nhục nhãn không thể thấy hình sắc chướng ngại bên ngoài, làm sao thấy được cõi Tam thiên?

Luận giải thích có hai:

Nghĩa thích: ” Tuy thấy Tam thiên nhưng chỗ chướng ngại không thấy, thì chỗ không chướng ngại”.

Bồ-tát tuy sinh trong loài người, do nhân duyên nghiệp thanh tịnh nhiều đời, phước báo được thiên nhãn và nhục nhãn đồng ở một nơi. Dùng năng lực của thiên nhãn khai đạo, khiến cho nhục nhãn thấy được vật bên ngoài chướng ngại.

Hỏi: Nếu do dùng thiên nhãn khai đạo mà nhục nhãn được thấy vật ngoài chướng ngại, thì vật trong chỗ tối, thiên nhãn mở đường có được thấy chăng?

Đáp: Không được. Luận giải thích: Lúc đêm tối chỉ dùng Thiên nhãn, còn nhục nhãn không thấy. Vì sao?

Vì ở sắc bên ngoài vật chướng có không có minh, sinh đủ duyên cho thức nên được thiên nhãn khai đạo mới thấy, sắc trong tối chỗ đó không có ánh sáng, duyên sinh thức bị thiếu nên thiên nhãn tuy khai đạo mà không thấy, đây là một lý. Lại sắc bên ngoài vật chướng ngại không ở trong tối, chỗ ấy rõ ràng có sức mạnh lôi kéo tâm, nên thiên nhãn khai đạo thì có thể thấy, sắc trong chỗ tối không có nghĩa lôi kéo tâm, nên dù mở cũng không thấy.

Hỏi: Nhục nhãn của Phật, thấy xa bao nhiêu?

Luận giải thích có hai:

“Như Lai và Bồ-tát đồng thấy cõi Tam thiên”.

Pháp của Phật khó lường, nhục nhãn cũng có thể thấy xa, tuy thấy xa mà Phật thường không dùng, vì không cho là thật. Nghĩa này như trong phần thần thông tự tại của Phật có nói. Phật đối với sắc đẹp không sinh tham ưa, đối với sắc xấu cũng không sinh chán ghét, đối với hai loại sắc này hoặc có lúc hành xả. Vì thế tuy được nhục nhãn tốt vượt hơn người mà không ưa thích, vì không ưa nên không thường dùng.

Hỏi: Nhục nhãn của Như Lai thấy được xa, sao không gọi là thiên nhãn mà gọi là nhục nhãn ?

Đáp: Nương nhờ từ nhục nhãn mà được nên gọi là nhục nhãn, lại nhờ thiên nhãn khai đạo mới thấy chẳng phải do sức của nhục nhãn cho nên gọi là nhục nhãn.

Kế nói về giới hạn của Thiên nhãn.

Như Ngài Long Thọ nói: “Phàm phu tu được thiên nhãn, xa nhất có thể thấy một Tứ thiên hạ”.

Phàm phu có phước báo được Thiên nhãn, phạm vi của chỗ thấy kinh luận không phân biệt, nay nói theo nơi chốn, như trong kinh nói: “Trụ xứ Sơ Thiền bằng một ngàn Tứ thiên hạ, trụ xứ Nhị thiền bằng hai ngàn Tứ thiên hạ, trụ xứ Tam thiền bằng ba ngàn Tứ thiên hạ, trụ xứ Tứ thiền rộng lớn vô lượng, tuy nói vô lượng nhưng không nhất định bao nhiêu, nhưng y theo cấp số tăng ở trên thì bằng bốn ngàn Tứ thiên hạ, chỗ thấy hình như cũng vậy, văn không nõi rõ nên chưa thể nhất định”.

Hàng Thanh văn có Đại thừa có Tiểu thừa. Tiểu thừa Thanh văn thấy Tiểu thừa thiên thế giới, tương tự với Phạm Vương Sơ thiền. Chỗ khác nhau Ngài Long Thọ nói: ” Phạm Vương thân ở bên mé ngàn thế giới nhìn vào thì thấy, nhìn ra thì không, Thanh văn thì không phải như vậy, hễ thân ở đâu, nhìn vào nhìn ra đều thấy ngàn thế giới. Bậc Đại Thanh văn thấy Trung thiên giới, trừ A-na-luật, vì A-na-luật do năng lực chuyên tu thấy cõi Tam thiên, nên gọi là Thiên nhãn bậc nhất”.

Duyên giác có Đại thừa có Tiểu thừa, Tiểu thừa Duyên giác thấy

được trung thiên giới, Đại thừa Duyên giác thấy đại thiên thế giới.

Thiên nhãn của Bồ-tát có hai bậc: Một là tu khởi, hai là do quả báo được. Người tu phát tâm theo Đại Tiểu thừa chỗ thấy không nhất định. Nói về chỗ tột, thấy tất cả cõi. Nên Luận Địa Trì nói: ” Bồ-tát đem tất cả thế giới chung làm cảnh giới”. Được phước báo. Kinh Đại phẩm nói : “Nhất có thể thấy một Tam thiên thế giới”.

Thiên nhãn của Như Lai cũng có hai: Một là tu đắc thấy tất cả cõi; hai là báo đắc cũng như Bồ-tát thấy cõi Tam thiên cũng có thể thấy vô lượng thế giới.

Theo nhục nhãn ở trước, nghĩa ấy như thế, ba loại nhục nhãn sau không thể dùng nơi chốn mà luận bàn, chỉ được căn cứ về mặt sâu cạn của pháp.

Trước nói về Tuệ nhãn: Hàng Thanh văn, Duyên giác có được tuệ nhãn chỉ thấy sinh không, như Địa Trì cũng nói, dù được pháp không nhưng rất ít chẳng đủ để nói. Tuệ nhãn của Bồ-tát thấy đủ hai không, mà chẳng cùng tận. Tuệ nhãn của Như Lai thấy “Không” được cùng tận.

Kế nói về Pháp nhãn: Thanh văn, Duyên giác được pháp nhãn chỉ thấy ấm, giới, nhập, Bốn đế và mười hai nhân duyên, tuy vậy nhưng chỉ thấy tướng phần thô quán, không thể thấy phần vi tế. Pháp nhãn của Bồ-tát thấy rõ tâm tánh căn dục của chúng sinh và tất cả pháp; đối với tất cả pháp hoặc chung hoặc riêng thô hoặc tế đều biết không cùng tận. Pháp nhãn của Như Lai biết rõ tâm tánh căn dục của chúng sinh và tất cả pháp, thảy đều cùng tột.

Kế nói về Phật nhãn: Nhị thừa hoàn toàn không có, còn Bồ-tát tiến lùi không nhất định. Bồ-tát Địa Tiền nghe thấy Phật tánh, do nghe thấy nên gọi là Đại Thanh văn; Bồ-tát Địa thượng mắt thấy Phật tánh, do thấy nên gọi là chứng, nếu theo kinh Niết-bàn thì bậc Cửu Địa trở lên nghe thấy Phật tánh, Thập Địa mắt thấy nhưng chưa rõ ràng, chỉ thấy tự thân có Phật tánh, không thấy nơi chúng sinh, nên gọi là không rõ: Lại ở tự thân thấy một phần mười nên gọi là không rõ. Phật nhãn của Như Lai thấy tánh cùng tột, ngũ nhãn thấy có giới hạn.

7. Nói về nhân

Nhân của ngũ nhãn có chung có riêng.

Nói chung thì tất cả các hạnh đều được, hạnh Đại Phẩm nói Bồ-tát tu học Bát-nhã Ba-la-mật định nơi ngũ nhãn, Bát-nhã đã như vậy, các hạnh khác đều như vậy.

Hỏi: Vì sao không nói sinh nơi ngũ nhãn thứ mà nói tịnh?

Đáp: Ngài Long Thọ giải thích: “Bồ-tát trước có nhục nhãn, cũng có được phần bốn thứ mắt kia, vì kiết sử che đậy nên không thể tịnh, như gương tánh nó là sáng, vì bụi nên mờ, nếu trừ bụi thì chiếu sáng như cũ, như thế Thiên nhãn, Tuệ nhãn, Pháp nhãn cho đến Phật nhãn chẳng phải mới có, nên không gọi là sinh, xưa có nay hiển bày nên nói là Tịnh. Xét theo đây thì, Phật đức vốn có, nghĩa này không hư dối, nhưng nhất tướng mà nói trong đây phân biệt cũng có nghĩa sinh tướng chung như thế”.

Nếu nói về riêng, do nhân duyên bố thí đèn sáng, vật sạch thì được nhục nhãn. Do năng lực nhân duyên thiền định trì giới nên được Thiên nhãn, nhân duyên trì giới được ở cõi Dục giới có Thiên nhãn nhân duyên tu thiền định được tất cả thiên nhãn trên cõi Sắc. Nhân duyên tu tập vô lượng tịnh tuệ được ba thứ nhãn còn lại. Lại luận nói: ” Tu tập vô lượng công đức trí tuệ được ba thứ nhãn kia”.

8. Đối với thập nhãn cùng thâu nhiếp nhau:

Thập nhãn trong kinh Hoa Nghiêm nói:

Nhục nhãn: Thấy tất cả sắc.

Thiên nhãn: Thấy các chúng sinh chết đây sinh kia.

Tuệ nhãn: Thấy các chúng sinh các căn khác nhau.

Pháp nhãn: Thấy tướng chân thật của tất cả pháp, là thấy tướng đệ nhất nghĩa của các pháp.

Phật nhãn: Xem phần mười Lực của Phật.

Trí nhãn: phân biệt biết rõ tất cả pháp.

Minh nhãn: Thấy ánh sáng của tất cả chư Phật.

Xuất sinh tử nhãn: Thấy pháp Niết-bàn.

Vô ngại nhãn: Thấy tất cả pháp không chướng ngại.

Phổ nhãn: Thấy pháp môn bình đẳng trong pháp giới.

Trong mười loại này, đầu tiên là Nhục nhãn ở trên đã nói cũng gồm Thiên nhãn, vì thấy sắc nhỏ nhiệm ở xa là Thiên nhãn. Thiên nhãn thứ hai là Thiên nhãn ở trước. Sáu thứ: tuệ nhãn, Phật nhãn, Trí nhãn, Minh nhãn, Xuất sinh tử nhãn, Vô ngại nhãn, sáu thứ mắt này là Pháp nhãn trước. Pháp nhãn thứ tư ở đây là mắt tuệ ở trước, vì thấy Chân đế. Phổ nhãn thứ mười là Phật nhãn trước, vì Phật nhãn thấy cùng khắp chân pháp bình đẳng gọi là Phổ nhãn.

Nghĩa của ngũ nhãn thứ nói lược như thế.

3. NGHĨA LỤC THÔNG

Chia làm chín môn:

  1. Giải thích tên gọi.
  2. Nói thể.
  3. Nghĩa tu đắc.
  4. Đại thừa, tiểu thừa khác nhau.
  5. Phân biệt tam tánh.
  6. Phân biệt tam nghiệp.
  7. Phân biệt thông suốt thị hiện v.v…
  8. Thứ lớp tu khởi.
  9. Y theo kinh nói về tướng.

1. Thích danh tên gọi :

Tác dụng không trở ngại gọi là Thông, phân biệt về thông có nhiều cửa, một cửa nói sáu thông, sáu thông là:

1- Thần thông, 2- Thiên nhãn, 3- Thiên nhĩ, 4- Tha tâm trí 5- Túc mệnh trí , 6- Lậu tận thông.

Trong đây giải thích, chia làm ba phần:

  • Đặt tên.
  • Giải thích nghĩa.
  • Phân biệt các căn như mắt, v.v… để lập nghĩa thông và bất thông.

1. Đặt tên như thế nào? Ba thông là Thiên nhĩ, Tha Tâm và Túc Mệnh, danh nghĩa là nhất định; Thiên nhĩ là tùy theo căn mà đặt tên, Tha Tâm và Túc mệnh từ cảnh mà đặt tên, biết tâm người khác nên gọi là Tha Tâm Thông, biết túc mệnh nên gọi là Túc Mệnh Thông, Lậu tận thì danh nhất định mà nghĩa bất định, trong kinh luận chỉ gọi là lậu tận nên tên nhất định, nói về nghĩa thì có hai thứ riêng: Một là sức trí của bậc Vô học dứt bỏ được các lậu gọi là Lậu tận thông, đây là gọi tên theo khả năng, vì chấm dứt được lậu hoặc nêu cũng được gọi là “vì trừ hoạn mà đặt tên”. Hai là biết lậu tận gọi là Lậu tận thông, nghĩa này từ cảnh đặt tên.

Thân thông và Thiên nhãn, hai thứ này danh và nghĩa đều bất định. Trong Thân thông hoặc gọi là Thân thông, hoặc gọi là Thần Thông, hoặc gọi là Thần Túc, đó là danh bất định. Theo danh giải nghĩa, nghĩa ấy mỗi thứ khác nhau, là nghĩa bất định. Tướng khác ra sao?

Thân thông này, hoăc từ sở y để đặt tên, hoặc từ cảnh mà gọi. Nương vào sắc thân giả danh của tự mình, biến chuyển tự tại gọi là Thân thông, đó là từ sở y mà đặt tên. Ở ngoài sắc thân chuyển biến tự tại gọi là Thân thông, đây là đặt tên theo cảnh giới. Thần thông là gọi tên theo khả năng, nghĩa là thần dị gọi là Thần; tác dụng không dính mắc gọi là Thông, nên gọi là theo khả năng. Thần Túc là từ khả năng đặt tên theo dụ; Thần là từ khả năng, giải thích như trước, túc là theo dụ, đi đứng qua lại việc giống như hai chân nên gọi là Túc.

Thiên nhãn thông, hoặc gọi là Sinh tử trí thông, đó là tên không nhất định. Theo tên giải nghĩa, nghĩa ấy đều khác, đó là nghĩa không nhất định. Tướng khác ra sao?

Thiên nhãn thông là đặt tên theo căn, Sinh tử trí thông là đặt tên theo cảnh. Do ý nghĩa này mà Thân thông và Thiên nhãn, danh và nghĩa đều bất định, cái thô của định.

2. Giải thích: Thân thông: Hình sắc chứa nhóm nên gọi là Thân, ở thân này tác dụng không trệ ngại, nên gọi là Thân Thông. Thần thông là cùng tột khó lường nên gọi là Thần, lại chỗ thần dị cũng gọi là Thần, nghĩa chữ “Thông” giống như trước. Nói Thần Túc: chữ Thần như giải thích như trước, việc làm tự tại như chân đi khắp nơi nên gọi là Thần túc.

Thiên nhãn thông: Tất cả thiền định gọi là Thiên Trụ, nương thiền được nhãn nên gọi là Thiên nhãn, chiếu soi không trệ ngại gọi là Thiên nhãn thông.

Sinh tử Trí Thông: Là chết sống vị lai gọi là sinh tử, đối với sinh tử này soi thấy không dính mắc gọi là Sinh tử Trí Thông. Nhưng Thiên nhãn và Sinh tử Trí, nói có ly hợp. Trong kinh Tăng Nhất A-hàm chia ra làm hai, do chia riêng nên kinh ấy lập ra bảy thông, ở đây có gì khác nhau? Soi thấy sắc tượng gọi là Thiên nhãn, vì chỗ thấy hiện tại tìm biết vị lai chết đây sinh kia gọi là Sinh tử trí. Do sự khác nhau này nên chia làm hai. Lại như trong phần Thập Minh của Hoa Nghiêm, cũng chia làm hai: Soi thấy sắc tượng gọi là do Thiên nhãn; Trí sáng hay biết vị lai chết đây sinh kia gọi là trí sáng biết tận mé vị lai. Do có phân biệt này, cho nên chia làm hai. Trong kinh Hoa Nghiêm quyển 10 cũng chia là hai, soi rõ sắc tượng hiện tại. Nói Thiên nhãn trí minh có thể biết sinh này tử kia đời quá khứ vị lai. Còn những kinh luận khác phần nhiều hợp làm thành một. Vì sao? Vì Thiên nhãn chiếu soi sắc tượng, bèn tìm biết vị lai chết đây sinh kia, vì lý do này hợp thành một.

Thiên nhĩ thông: Chữ “thiên” giải thích như trước, nương thiền được nhĩ nên gọi Thiên nhĩ, khi nghe không chướng ngại nên gọi là Thiên nhĩ thông.

Tha Tâm Thông: Chẳng phải tâm lự của mình gọi là tha, đối với tha tâm này soi biết không chướng ngại gọi là Tha tâm thông.

Hỏi: Thông này chẳng những chỉ biết tha tâm mà còn biết tưởng,

v.v… vì sao gọi riêng là tha tâm?

Đáp: Vì tâm là chính nên gọi là Tha tâm, lại các tâm sở như vì tưởng, v.v… đều gọi chung là Tâm, nên gọi là Tha tâm.

Túc mệnh thông, sự việc trôi qua ở quá khứ gọi là Túc, pháp quá khứ tiếp nối gọi là Mệnh, đối với túc mệnh này soi biết không chướng ngại gọi là Túc mệnh thông.

Hỏi: Thần thông này không những chỉ biết về mệnh, mà còn biết tám việc, sáu thứ đồng hành ở quá khứ, vì sao gọi riêng là túc mệnh?

Đáp: Không nói danh tánh, v.v… ở đời trước, lấy mệnh báo làm chính nên nói riêng như thế. Lại mệnh là sau cùng căn cứ vào phép sau để trình bày nên nói túc mệnh.

Lậu tận thông: Những kiết sử tai họa đã dứt gọi là Lậu tận, đối với Lậu tận này biết rõ không chướng ngại gọi là Lậu tận thông. Lại trí của bậc Vô học có công năng phá trừ các lậu, cho nên cũng gọi là lậu tận trí thông.

3. Phân biệt sáu căn: như có lập nghĩa thông và không lập nghĩa.

Trong lục căn, ba căn lập thông là nhãn, nhĩ, ý. Thiên nhãn thông là nói theo nhãn căn. Thiên nhĩ thông là gọi theo nhĩ căn, ngoài ra bốn thông đều nương theo ý căn. Ba căn không lập thông. Ba căn không lập là tỷ, thiệt, thân. Vì sao?

Vì chỉ có Phật thì chư Phật, Như Lai sáu căn sử dụng chung đều đồng lập thông, nhưng nghĩa sáu thông thì nói về người khác, nay nói thông giải thích theo người.

Trong sáu căn, hai căn nhãn và nhĩ trong lìa mà sinh biết, nghĩa là từ xa có khả năng thấy nghe nên lập thông. Ý căn thì lìa hợp đều biết, rất được tự tại nên lập nhiều thông. Tỷ, thiệt, thân trong hợp sinh biết, trần đến ngay các căn mới rõ biết, không có nghĩa xa nên không nói chung.

Hỏi: Trong lục thông có thân thông, vì sao nói trong thân căn mà không lập thông?

Đáp: Thân thông là ở sắc thân giả danh biến chuyển tự tại gọi là Thân thông, chẳng phải ở thân căn hiểu biết tự tại gọi là Thân thông, cho nên nói thân căn bất lập.

Hỏi: Nếu tỷ, thiệt, thân căn có hợp thì mới biết không lập thông, kinh Hoa Nghiêm nói: ” Tỷ căn của Bồ-tát ngửi mùi hương của cung điện Vô Sắc”. Lại như trong kinh Thập Trụ dứt kiết sử nói: ” Có tỷ thông”. Vượt hơn nhãn nhĩ, vì sao nói tỷ không lập thông?

Đáp: Sáu thông là pháp chung của Ba thừa, Hàng Nhị thừa tỷ, thiệt, thân căn không có nghĩa thông, vì thế không lập. Nếu đối với pháp bất cộng của Đại thừa. Sáu căn của chư Phật, Bồ-tát sử dụng lẫn nhau, trong mỗi căn có đủ tất cả dụng, nói thông chẳng có lỗi. Lại Phật Bồ-tát pháp thân tự tại dụng không chướng ngại, tất cả các căn đều là thần thông, không nên lấy đó để vấn hỏi sáu thông.

2. Nói về thể tánh:

Trong đây có chia ra năm phần:

  • Phân biệt theo ba nhóm sắc, tâm, phi sắc tâm.
  • Phân biệt theo lục thức.
  • Phân biệt theo nghĩa thập nhất trí.
  • Phân biệt theo thập minh.
  • Phân biệt theo hai loại giải thoát: tuệ, tâm.
  1. Phân biệt theo sắc, tâm, phi sắc tâm:

Có chỗ giải thích hai thông Nhãn, Nhĩ lấy sắc pháp làm thể vì sắc căn thanh tịnh nên làm thể chung, bốn thông còn lại lấy tâm pháp làm thể vì tuệ là thể. Nghĩa này không đúng, phải phân biệt Thiên nhãn, Thiên nhĩ thể thật là sắc, không dùng nhãn nhĩ mà làm thể chung, nên biết thể chung đều lấy trí tuệ tâm pháp làm thể, vì sao biết?

Vì theo Luận Tỳ-đàm, dùng thập trí để phân biệt lục thông, lục thông đều thuộc về thập trí, nên biết chẳng phải sắc. Lại trong Luận Thành Thật biện nghĩa lục thông, mới đầu đã nêu tên lục thông trí phẩm, cho rằng bốn thông thể tánh là trí, còn hai thông thì không phải, lẽ ra nói tứ thông trí phẩm, vì sao nói là lục thông trí phẩm. Lại trong kinh Hoa Nghiêm chia lục thông làm thập minh, thập minh là trí, thì không thể nói hai thông là sắc. Lại Địa luận nói: ” Tứ thông gọi là Trí, Thiên nhãn gọi là Kiến”. Tứ thông trí là thiên nhĩ, tha tâm, túc mệnh, thân thông, luận ấy đã nói thiên nhĩ là trí thì phải biết thiên nhĩ thông là thể chẳng phải sắc, thiên nhĩ đã như thế, Thiên nhãn cũng vậy. Nhưng luận ấy dùng nhãn xem thấy, theo dụng mà gọi là thấy, nếu nói về thể thì là trí, nên kinh gọi là sinh tử trí thông. Căn cứ sắc v.v… phân biệt như thế.

  1. Căn cứ vào lục thức mà phân biệt lục thông: Các luận nói khác nhau.

Nếu theo Luận Tỳ-đàm, hai thông nhãn và nhĩ lấy hai thức nhãn,

nhĩ tương ưng tâm sở tuệ làm thể, vì hai thông này là dụng bên ngoài định, còn bốn thông kia lấy ý thức tương ưng tâm sở tuệ làm thể, vì định là dụng. Trong tông này, các pháp tâm, tâm sở có mặt đồng lúc nên nói tương ưng tâm sở tuệ làm thể.

Nếu theo Luận Thành Thật, lục thông đều lấy ý thức thứ sáu, tuệ trong tâm hành ấy làm thể tánh. Theo tông này, năm thức trước hoàn toàn không có trí tuệ, nên không nói lấy tuệ trong năm thức làm thể, lại theo tông ấy các pháp tâm, tâm sở khởi riêng trước sau, nên không nói lấy tuệ tương ưng làm thể của thông.

Trong pháp Đại thừa, nói thần thông của phàm phu, Nhị thừa phần lớn giống như Luận Tỳ-đàm, vì cũng nói pháp tâm khởi đồng thời, nói thần thông của Phật, Bồ-tát dùng tuệ tương ưng của ý thức làm thể, giống như Luận Thành Thật.

3. Căn cứ vào Thập nhất trí mà phân biệt: Thập nhất trí là Thập trí cộng thêm Như Thật trí. Thập trí là? Khổ trí, Tập trí, Diệt trí, Đạo trí là bốn, Pháp trí, Tỷ trí chung với trước là sáu. Tứ đế trí trước ở tại cõi Dục gọi là Pháp trí; tại hai cõi trên gọi là Tỷ trí. Tận trí, Vô sinh trí thêm là tám, vì sáu trí trước ở quả vị Vô Học gọi là Tận trí, Vô sinh trí; Tám trí này một bề là Vô lậu. Thứ chín Đẳng trí một bề là Hữu lậu, thứ mười Tha Tâm trí chung cả hữu lậu và vô lậu. Thập trí này đã giảng rộng trong chương “Thập Trí” ở trước. Như Thật Trí là chư Phật Bồ-tát lìa tăng thượng mạn, đối với tất cả pháp đều biết, biết như thật, chẳng phải không biết mà dối xưng là biết, nên gọi là Trí Như Thật.

Nếu nói về thể, như Địa Trì nói; nghĩa là Thanh tịnh trí, Nhất thiết trí, Vô ngại trí như trong chương “Tam Trí” ở trước đã giải thích đầy đủ.

Nay căn cứ vào trí này phân biệt sáu thông. Tiểu thừa; lục thông đều thuộc về Thập Trí; Đại thừa: lục thông thuộc về Như Thật Trí.

Lục thông của Tiểu thừa thuộc về thập trí, tướng ấy ra sao? Như Luận Tỳ-đàm nói: ” Bốn thông là Thân thông, Thiên nhãn, Thiên nhĩ và Túc mệnh đều là Đẳng trí tánh. Chỉ có hữu lậu. Tha tâm thông đủ cả năm trí tánh, nếu biết tâm hữu lậu của tha nhân thì là Đẳng trí tánh. Nếu biết tâm vô lậu của tha nhân thì là Đạo trí, Pháp trí, Tỷ trí. Biết tha tâm vô lậu ở cõi Dục gọi là Pháp trí tánh. Biết tha tâm vô lậu ở cõi trên là Tỷ trí tánh. Biết cả trên lần dưới là thông Đạo với trí tánh. Biết hữu lậu và vô lậu đều thông là trí của Tha tâm, cho nên Tha tâm đủ cả Năm trí tánh.

Hỏi: Biết tha tâm vô lậu, vì sao được gọi là Đạo trí tánh ?

Đáp: Tha tâm vô lậu thể tánh là đạo, cho nên biết tha tâm được gọi là Đạo.trí.

Hỏi: Nếu thế, tha tâm hữu lậu được biết đó, thể nó là Khổ Tập, thì trí năng tri vì sao không gọi là Khổ Tập trí?

Đáp: Cũng như nhau, nhưng tha tâm vô lậu được biết đó, thể tánh nhỏ nhiệm sâu cạn tương tự Đạo đế kia. Biết tâm ấy thì sẽ biết đạo nên biết tâm ấy là Đạo trí tánh. Tha tâm hữu lậu sự tướng thì thô còn nghĩa lý của Khổ Tập thì vi tế, kẻ phàm người trí thô thì không bằng với vi tế cho nên trí biết tha tâm hữu lậu không được gọi là Khổ Tập trí. Đây là giải thích thô, cùng tột vẫn không đúng, lại phải nghiên cứu cùng tột.

Hỏi: Người biết tha tâm vô lậu là biết sự vô lậu tha tâm, hay biết cả lý bốn nghĩa Đạo Như Tích Thừa trong tâm vô lậu ?

Đáp: Chánh luận biết sự tha tâm, nếu nói biết lý, thì lý tướng thông lẫn nhau không phân biệt tự tha, làm sao được gọi là tha tâm trí.

Hỏi: Nếu biết sự tha tâm mà không duyên lý thì luận văn tự phán định: Tuy đối với thập lục hạnh trừ ám chẳng phải vô lậu, vì sao được gọi là Đạo trí?

Đáp: Nghĩa này thật khó không phải dễ, cần phải thông suốt. Chính nói về thông này khi biết tha tâm chẳng phải Vô lậu, cũng chẳng phải Đạo trí. Nhưng trong luận kia gọi là Vô lậu, vì gần Vô lậu tương tự vô lậu nên gọi là vô lậu. Lại gần vô lậu trước sau nói chung nên gọi là Vô lậu. Lại nói đó là Đạo trí, lại cũng vì gần Đạo quán, tương tự Đạo Quán gọi là Cụ Đạo trí. Lại nữa, gần đạo trước sau nói chung là Cụ Đạo trí. Nghĩa này ra sao?

Hễ khi muốn biết tâm vô lậu của người, thì trước phải quán lý của tướng chung Đạo Như Tích Thừa, sau mới theo đó suy lường để biết tâm người, cho nên trước sau tướng chung gọi là Đạo trí, gọi là Vô lậu. Phân biệt trước để nói sau, đây chẳng phải vô lậu cũng chẳng phải đạo trí.

Hỏi: Vì sao muốn biết sự vô lậu của tâm người khác, trước phải quán lý, rồi mới theo đó suy lường biết tha tâm, không thể nhìn thẳng biết được tha tâm?

Đáp: Lý Đạo Như Tích Thừa từ Noãn v.v… quán nhiều phải thuần thục, nghĩ tâm sẽ thấy được vô lậu, tha tâm xưa nay chưa biết, bậc A-nahàm trở lên mới học quán, hễ muốn biết chỗ khó thì phải theo chỗ dễ, cho nên muốn biết vô lậu tha tâm trước phải quán lý, lý quán là nhân gần quyết định của việc kia, nên nói chung là Cụ Đạo trí.

Hỏi: Nếu muốn biết tha tâm vô lậu thì trước phải quán lý, từ phương tiện gần gọi là đạo trí, biết tâm hữu lậu lẽ ra cũng như thế, vì sao không được từ phương tiện gần gọi là Khổ Tập trí?

Đáp: Không đúng. Lý quán trong Vô lậu ở trước, biết tâm ở sau, trước dễ sau khó, nên trước quán lý sau biết được tâm. Trong hữu lậu kia, phàm phu vốn có vài lần biết tha tâm, khi xưa từng biết chưa quán Khổ Tập, nay không phải từ quán Khổ Tập mà vào, vì thế không được gọi là Cụ Khổ Tập trí. Lại xưa nay nhiều lần biết tâm hữu lậu của người, biết thì dễ; mà lý khổ tập xưa nay chưa thấy. Noãn, v.v… xưa nay mới học quán, biết đó là khó. Chỗ dễ biết không thể dùng chỗ khó biết làm phương tiện, quán khổ tập không phải là nhân gần của kia, không thể nói chung là khổ Tập trí.

Ý kiến như thế, dù có lời giải thích khác đều cho đó là khó, tha tâm thông như thế.

Lậu tận thông xếp vào trí không nhất định, hoặc sáu, hoặc tám, hoặc đủ mười trí. Nếu biết lậu tận gọi là Lậu tận trí thì thuộc về sáu trí, đó là: Diệt trí, Pháp trí, Tỷ trí, Tận trí, Vô Sinh trí và Đẳng trí. Biết diệt đế ở cõi Dục là Pháp trí. Biết Diệt đế cõi trên là Tỷ trí. Biết trên và dưới gọi chung là Diệt trí. Bậc Vô học quán diệt đế gọi là Tận Trí, Vô Sinh trí. Tâm hữu lậu duyên là Đẳng trí, trừ Khổ, Tập, Đạo và Tha tâm trí, vì kia chẳng phải lậu tận. Nếu bậc Thánh Vô học Thánh tuệ dứt hết các lậu gọi là Lậu tận trí thuộc về tám trí tánh. Trừ Đẳng trí và Tha tâm trí, Đẳng trí không thể dứt hết kiết sử nên trừ Đẳng trí, bậc Vô học dứt cầu không tìm tha tâm nên trừ Tha tâm, tám trí còn lại đều có khả năng dứt trừ kiết sử rốt ráo nên đủ tám trí.

Hỏi: Pháp trí vì sao có khả năng chấm dứt kiết sử rốt ráo mà nói là cụ Pháp trí?

Đáp: Diệt, Đạo Pháp trí ở cõi Dục có thể dứt hết kiết sử cõi trên mà được Vô học.

Nếu nói người lậu tận được tên Lậu tận thông thì thuộc về mười trí tánh. Tiểu thừa như thế.

Trong pháp Đại thừa thuộc về Như thật trí. Tướng ấy như thế nào?

Năm thông đầu đều thuộc về Nhất thiết trí, Vô ngại trí. Lậu tận thông, biết lậu tận gọi là Lậu tận thông cũng thuộc về Nhất thiết trí, Vô ngại trí, nếu chứng lậu tận gọi là lậu tận thông thuộc về Thanh tịnh trí.

Phân biệt theo các trí như thế.

4. Căn cứ vào thập minh phân biệt lục thông:

Kinh Hoa Nghiêm nói lục thông chia thành thập minh, nên phải theo đó phân biệt lục thông. Tướng trạng thế nào?

Tha tâm thông: Trong kinh nói: Một Tha tâm trí minh.

Túc mệnh minh là một Túc mệnh trí minh.

Bốn thông kia mỗi thông chia làm hai:

Thân thông có hai:

An trụ vô úy thần lực trí minh, chuyển biến tự tại ở mười phương, qua lại không ngại.

Chủng chủng sắc thân trí minh, hiện ra các thứ sắc thân khác nhau.

Thiên nhãn chia làm hai:

  • Thiên nhãn trí minh, chiếu soi rõ ràng sắc tượng hiện tiền.
  • Tận mé vị lai kiếp trí minh, biết rõ vị lai chết đây sinh kia.

Thiên nhĩ chia làm hai:

  • Thiên nhĩ trí minh, nghe được tiếng từ xa.
  • Vô lượng chủng chủng âm thanh trí minh, biết rõ tất cả lời nói, âm thanh khác nhau của chúng sinh.

Lậu tận chia làm hai:

  • Như thật trí minh, chứng thật tánh các pháp, dứt hết các lậu.
  • Diệt định trí minh, biết rõ pháp diệt tận của Ba thừa.

Đây căn cứ vào thập minh phân biệt.

5. Căn cứ hai giải thoát:

Hai giải thoát: Tâm giải thoát và Tuệ giải thoát. Kinh nói giải thoát có hai loại:

Dứt trừ ái kết định tâm tự tại, gọi là Tâm giải thoát; dứt bặt vô minh, trí tuệ vô ngại gọi là Tuệ giải thoát. Nên kinh nói: “Dứt si thì tuệ sáng, trừ ái thì tâm giải thoát”. Duy-ma nói: “Dứt hẳn si ái sinh ra sáng suốt và giải thoát” cũng chính là nghĩa này. Trong đây lục thông đều thuộc về Tuệ giải thoát là trí tuệ; Tâm giải thoát là chỗ y cứ của sáu thông, nhân của sáu thông chẳng phải chánh thể của thông.

Như kinh Niết-bàn nói: “Dứt trừ tất cả tánh kiết sử phiền não, chân tâm ra khỏi ngăn chướng gọi là Tâm giải thoát”. Văn kinh ấy nói: “Tham dục sân si dứt trừ hẳn, gọi là Tâm giải thoát”. Nên biết dứt trừ tánh kiết sử phiền não là tâm giải thoát. Lại kinh ấy nói: “Tâm này bản tánh không hòa hợp với tham dục sân si, ví như mặt trời, mặt trăng tuy bị khói mây, bụi mờ v.v… che phủ nhưng không hòa hợp với chúng. Do không hòa hợp nên chư Phật, Bồ-tát phá hẳn tham dục gọi là Tâm giải thoát”. Cho nên biết chân tâm ra khỏi chướng phiền não gọi là Tâm giải thoát. Cắt dứt sự vô tri, đối tất cả pháp soi thấy không ngăn ngại gọi là Tuệ giải thoát. Nên kinh ấy nói: “Đối với tất cả pháp chỗ biết không ngăn ngại, gọi là Tuệ giải thoát”. Theo nghĩa này thì sáu thông thuộc về cả hai giải thoát.

Tướng thuộc về ra sao?

Năm thông trước thuộc Tuệ giải thoát, kinh Niết-bàn nói: “Nhờ Tuệ giải thoát nên chỗ trước chưa nghe nay được nghe, chỗ trước chưa thấy nay được thấy, chỗ trước chưa đến nay được đến”. Cũng nên nói là chỗ trước chưa biết nay được biết, vì văn lược không nói. Chẳng nghe được nghe là thiên nhĩ thông; chẳng thấy được thấy là thiên nhãn thông; chẳng đến được đến là thân thông; chẳng biết được biết là hai thông Tha Tâm và Túc mệnh. Trong Lậu tận thông nghĩa gồm hai: Một là tự chứng lậu tận gọi là Lậu tận thông; thuộc về Tâm giải thoát; hai là biết tha lậu tận gọi là Lậu tận thông, thuộc Tuệ giải thoát. Thể tánh như thế.

3. Nghĩa tu đắc được của sáu thông:

Được có hai: Một là lìa dục mà được, hai là Phương tiện mà được. Khi dứt lìa dục cõi hạ được thiền cõi thượng thì được thần thông sở hữu của thiền, gọi là lìa dục mà được; từ tu phương tiện mà có sở đắc gọi là do Phương tiện mà được.

Theo Luận Tỳ-đàm, trong sáu thông chỉ có Lậu tận thông là do lìa dục đắc, Thiên nhãn và Thiên nhĩ chỉ la phương tiện đắc, ba thông còn lại vừa lìa dục, vừa phương tiện đắc.

Hỏi: Vì sao Lậu tận chỉ lìa dục đắc?

Đáp: Vì chỗ kiết sử dứt hết có Thánh đức vô lậu tức là thần thông, nên nói tự chứng lậu tận là lậu tận thông chỉ lìa dục đắc. Nếu biết người khác có lậu tận hay không có tận mà Lậu tận thông do tha tâm thông đó là Phương tiện. Ở đây theo một nghĩa nên lược qua không nói.

Hỏi: Vì sao Thiên nhãn, Thiên nhĩ chỉ phương tiện đắc?

Đáp: Luận Tỳ-đàm nói: Hai thông Nhãn và Nhĩ thể là vô ký, là tác dụng ngoài định không chung với định, khi dứt lìa dục cõi hạ được định cõi thượng thì không được thông này, do đó không lìa dục đắc. Sau khi được định phân biệt tu phương tiện mới được, nên chỉ Phương tiện đắc.

Hỏi: Vì sao ba thông kia vừa Ly dục đắc vừa Phương tiện đắc?

Đáp: Tánh của chúng là chung giữa thiện và định tâm, khi đoạn lìa dục cõi hạ được định cõi thượng liền được cho nên ly dục đắc . khi lìa dục cõi hạ, tuy được nhưng mới thành tựu mà không hiện tiền, không được hiện dụng làm phương tiện mới được hiện dụng cho nên Phương tiện đắc. Như của cải ở nơi khác tuy thuộc về mình mà chẳng xài ngay được, phương tiện lấy về mới được sử dụng, kia cũng giống như thế.

Hỏi: Nếu theo Luận Thành Thật thì Lậu tận thông chỉ lìa dục đắc cũng như Luận Tỳ-đàm. Còn năm thông kia chỉ phương tiện đắc. Vì sao như thế?

Đáp: Tông ấy nói: “Tất cả công đức sau khi tu đắc thành tựu không mất mới gọi là đắc”. Không có pháp chưa tu, chưa hiện mà gọi là đắc, do nghĩa này nên có thân thông, v.v… khi lìa hai dục chưa gọi là đắc, sau khi tu mới đắc, nên Phương tiện đắc.

Nếu theo Đại thừa, chư Phật, Bồ-tát tự chứng lậu tận gọi là Lậu tận thông, chỉ lìa dục đắc. Biết tha lậu tận và năm thông kia vừa lìa dục, đắc vừa Phương tiện đắc. Vì sao?

Vì sáu thông của Đại thừa lấy như thật tuệ làm thể, thể ấy tức là định, khi dứt trừ phiền não, nội chứng tịch diệt như thật định thì được định thông, nên là lìa dục đắc, khi mới tu nhờ phương tiện huân phát, tác dụng trong chân tâm sinh theo, nên nói Phương tiện đắc. Làm sao biết lục thông của Đại thừa đều chung định?

Như Duy-ma nói: “Chư Phật Như Lai thường ở trong Tam-muội đều thấy cõi Phật, không do Nhị tướng”. Thiên nhãn như thế, các thông kia cũng vậy, nên đều là định, tức là định nên đều là lìa dục đắc.

Hỏi: Lậu tận lìa dục đắc, là lìa dục ở địa nào mà được lậu tận thông?

Đáp: Chia ra làm ba:

  1. Phân biệt đoạn cuối khác với đoạn đầu, lìa dục Phi tưởng được

lậu tận thông vì lìa dục cõi hạ chẳng phải lậu tận.

  1. Căn cứ vào cuối nhiếp đầu: dứt trừ dục của địa Phi tưởng rồi, vô lậu đối trị trong các địa cõi hạ đều thêm sáng tỏ, nhiếp chung để làm lậu tận trí thông.
  2. Tùy phần nói chung, đối trong các địa tùy phần lìa dục, chỗ được

vô lậu đều lậu tận thông. Trong Địa Trì nói Bồ-tát có lậu tận thông.

Hỏi: Lậu tận xa lìa dục đắc là lìa dục cõi hạ được công đức cõi thượng? Hay lìa dục cõi thượng được công đức cõi hạ? Hay đang lìa dục tự địa được công đức tự địa?

Đáp: Các nghĩa này. Vì sao?

Như dứt trừ kiết sử cõi Dục được công đức vô lậu cõi Sơ thiền, như thế tất cả đều gọi là dứt trừ dục cõi hạ được công đức cõi thượng. Như dứt trừ kiết sử từ Nhị thiền đến Phi tưởng được thắng phần vô lậu cõi Sơ thiền, như thế tất cả gọi là dứt trừ dục cõi thượng được công đức cõi hạ.

Thế nào thắng phần vô lậu Cõi Sơ thiền?

Theo Luận Tỳ-đàm, vô lậu Sơ thiền dứt trừ được kiết sử từ Sơ thiền đến Phi tưởng.

Luận Thành Thật và pháp Đại thừa nói vô lậu Sơ thiền dứt trừ được tất cả phiền não ba cõi ở trong đây dứt trừ được hoặc từ Nhị thiền đến Phi tưởng gọi là thắng phần vô lậu Sơ thiền. Vô lậu này cần phải dứt trừ kiết sử bậc thượng mới được những chỗ chưa được ở trước. Dứt kiết sử Sơ thiền lại được công đức vô lậu Sơ thiền, gọi là dứt trừ phiền não tự địa được công đức tự địa, tất cả như thế.

Hỏi: Tất cả lìa xa dục đắc là được đối với pháp sở đắc ở trước, hay được ở chỗ chưa được?

Nếu chỉ được đối với pháp sở đắc ở trước thì công đức vô lậu xưa nay chưa được khi lìa dục lẽ ra không được. Nếu được ở chỗ chưa được thì phàm phu khi lìa dục lẽ ra được vô lậu; Thanh văn, Duyên giác khi lìa dục lẽ ra được tất cả công đức Sơ thiền. Nếu được đầy đủ thì lẽ ra đồng với chư Phật, các địa Phật cũng như thế?

Đáp: Chỗ được lìa dục không nhất định. Hoặc có khi chỉ được pháp sở đắc ở trước, phàm phu xưa nay từng được các thiền mới được các công đức sinh từ thiền. Có khi lui sụt khởi phiền não cõi hạ mất công đức cõi thượng, sau dứt kiết sử cõi hạ lại được pháp đã mất lúc xưa. Không được vô lậu vì phàm phu đối với pháp vô lậu không có phương tiện thú hướng. Hoặc có khi được chung cả pháp chưa đắc ở trước. Bậc Thánh khi dứt lìa kiết sử cõi hạ thì được chung cả vô lậu công đức cõi thượng, trước có phương tiện thú hướng nên tuy là được mà mỗi thứ đều có phần hạn không được quá lượng. Vì là tiểu Thánh không được đồng với Phật.

Nghĩa này thế nào?

Nay chỉ giải thích theo Sơ thiền, các cái kia có thể biết.

Trong Sơ thiền, các phẩm công đức vô lậu khác nhau vô lượng, trong đó có đủ đức Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát, Phật. Tùy chỗ phần hạn trước chưa lìa dục tạo phương tiện, sau lìa dục rồi thì được, không phương tiện thì khi lìa dục không được. Đó là Thanh văn khi lìa dục chỉ được công đức vô lậu của Thanh văn, không được công đức vô lậu các bậc khác. Tất cả Như thế. Lại công đức và chướng của Sơ thiền có ba thứ:

  • Chướng cõi hạ, phiền não cõi Dục, chướng công đức Sơ thiền.
  • Chướng tự địa, phiền não Sơ thiền chướng công đức Sơ thiền.
  • Chướng cõi thượng, tất cả phiền não Nhị thiền trở lên chướng

công đức Sơ thiền.

Trong chướng cõi hạ thô tế có nhiều vô lượng. Thanh văn dứt trừ thô được công đức phẩm thô trong Sơ thiền, bậc Duyên giác đoạn trừ dần phần tế, sở đắc dần thù thắng, cho đến chư Phật dứt trừ cùng tận, được chỗ tôt cùng. Trong chướng tự địa, phẩm cũng nhiều vô lượng, Thanh văn dứt trừ phần thô được thô phẩm công đức trong sơ thiền, Duyên giác chuyển tế chỗ đắc dần cao siêu, đến Phật mới cùng tận, chỗ đắc mới tột cùng. Trong chướng cõi thượng phẩm cũng nhiều vô lượng, tùy phần dứt trừ chỗ đắc mỗi khác nhau. Sơ thiền như thế các thiền kia cũng thế. Do nghĩa này nên lìa dục, tuy đắc chỗ chưa đắc ở trước, không đồng với Phật.

Hỏi: Nếu nói phiền não Sơ thiền làm chướng công đức Sơ thiền, kiết sử Nhị thiền trở lên đến Phi tưởng cũng làm chướng công đức Sơ thiền, Bồ-tát Thập địa thì chướng trong Sơ địa lại làmchướng công đức Sơ địa chăng? Chướng của Nhị địa đến Phật địa cũng làm chướng công đức Sơ địa chăng?

Giải thích: Có đồng dị.

  • Nói về dị: Tám thiền là chỗ sinh, được công đức vô lậu sinh trong Sơ thiền địa có công năng dứt trừ tất cả phiền não ba cõi, từ phiền não bị dứt nhìn về chỗ năng đoạn đồng có nghĩa chướng. Các thiền khác cũng như thế. Chỗ dứt trừ chướng tu phần hạn khác nhau trong Thập địa: Giải thoát của Sơ địa không thể dứt trừ chướng của Nhị địa cho đến chướng của Phật địa. Do không dứt nên chướng Nhị địa cho đến chướng Phật địa không chướng Sơ địa, các địa khác cũng như thế. Như giải thoát của Kiến đạo và giải thoát của Tu đạo không đối trị tạp.

Hỏi: Thập Địa là chỗ dứt đắc, có thể dứt trừ lỗi ở cõi hạ được công đức cõi thượng, tám thiền đã chẳng phải là chỗ dứt trừ đắc, khi lìa lỗi cõi hạ lẽ ra không được công đức của thiền cõi thượng.

Đáp: Tịnh thiền là chỗ dứt trừ đắc đồng với Thập địa nên lìa dục cõi hạ được công đức cõi thượng. Từ Tịnh nhìn về Vô lậu là chỗ sinh đắc nên nương vào vô lậu phát từ thiền cõi hạ có công năng dứt trừ tất cả phiền não tự địa và thượng địa, khi dứt kiết sử ấy được công đức vô lậu hạ địa, dù cho dùng các thiền khác dứt phiền não cõi thượng cũng được công đức vô lậu cõi hạ. Vì đồng trị tu nên không đồng với Thập Địa mỗi vị mỗi vị dứt trừ riêng biệt.

Nghĩa dị là như thế.

  • Nói về Đồng: Vị Thập Địa, trong pháp mỗi giai vị thô tế trần chướng vô lượng, hãy nói về Sơ địa, các địa khác cũng vậy. Trong Sơ địa chướng thô phẩm khi tịnh tâm dứt được công đức phẩm thô của Sơ địa, chỗ vi tế khi Nhị địa dứt được thì công đức dần cao hơn trong Sơ địa. Chướng ngại từ Sơ địa đến Phật, cho đến công đức sở đắc đến Phật mới tận cùng. Vì chướng ở Sơ địa các địa cùng đoạn nên sở đoạn chướng của các địa đồng với chướng Sơ địa. Các địa khác cũng như thế. Kinh Hoa Nghiêm noi: “Một địa Bồ-tát nhiếp khắp công đức của tất cả các địa”.

    Nghĩa tương đương chỗ này.

    Ở đây nhìn về pháp vị đồng với thiền địa.

    Hỏi: Trước nói Lậu tận trí thông là lìa dục đắc, tướng lìa ra sao?

    Đáp: Như trong chương Đoạn kiết trước đã nói đủ, không lặp lại.

Hỏi: Luận Tỳ-đàm nói thân thông v.v… cũng lìa dục mà đắc, các dục được lìa và những điều chướng ngại của thần thông là đồng hay khác?

Đáp: Không đồng, dục được lìa nhiễm ô phiền não, chướng ngại của thông là không nhiễm ô vô tri. Lại khi dứt lìa dục ấy là được thiền, được thần thông. Còn khi dứt trừ chướng ngại của chướng thông chỉ được thông. Lại dục được lìa nghiêng về thân thông. Tha tâm, Túc mệnh, chướng của thông bao gồm cả năm thông. Lại nữa, dục ấy dứt trừ, được thần thông gọi là lìa dục đắc, còn chướng của thông khi dứt trừ được thông gọi là phương tiện đắc, vì thế hoàn toàn khác nhau.

Hỏi: Các trệ ngại này, trong năm trụ hoặc thuộc về trụ nào?

Đáp: Có hai nghĩa:

  • Phân ra thô khác tế: Là phiền não quyến thuộc Bốn trụ chẳng phải vô minh địa. Vô minh trụ địa Nhị thừa chẳng dứt. Chướng ngại của thông thì phàm phu, Nhị thừa có khả năng dứt trừ.
  • Nhiếp ngọn về gốc: Là bất nhiễm vô tri trong vô minh, nếu là vô minh thì phàm phu, Nhị thừa đâu thể dứt trừ, theo chỗ học mà ngăn, không thể lìa hẳn nên không gọi là Dứt.

    Lại hỏi: Chướng ngại này, trong ba cõi, chín địa thuộc địa nào?

Đáp: Chướng ngại này không đồng nhiễm hoặc, định thuộc các địa, mà các địa này tâm chướng ngại ở cõi Dục cho đến Tứ thiền, ở các địa này vì có chướng ngại, lại theo các địa này mà có thô tế.

Hỏi: Trước nói năm thứ Thân thông, v.v… đều là Phương tiện đắc. Phương tiện ra sao?

Đáp: Năm thông nương vào bốn thiền căn bản mà tu tập, nên Tạp Tâm nói: “Năm thông ở tại bốn thiền căn bản chẳng phải các định khác”. Vả lại, theo Sơ thiền để nói tướng tu các thông, các loại khác có thể tự biết.

Tu tập thân thông có ba thứ đạo:

  • Phương tiện Đạo: Trước nhập Sơ thiền căn bản định tâm, đây là chỉ. Sau khởi tưởng bay bổng qua lại, hoặc tưởng chuyển biến lớn nhỏ, đây tức là quán. Trở lại nhập vào định lại khởi các tưởng bay bổng qua lại… như thế nhiều phen. Đây là Thân thông phương tiện đạo.
  • Vô ngại đạo: Do năng lực huân phát của phương tiện trước nhập định phát tuệ, một vô ngại đạo dứt trừ các chướng ngại của thần thông.
  • Giải thoát đạo: Giải thoát đạo sau vô ngại đạo chứng trừ các chướng kia, từ đây về sau muốn làm những gì như tâm tưởng ở trước liền có thể làm, thân thông như thế.

    Tha tâm thông cũng có ba thứ đạo.

  • Phương tiện đạo: Cũng trước nhập định, kế quán tâm người, khác suy lường tâm ấy, như thế nhiều phen, gọi là Phương tiện đạo.
  • Vô ngại đạo: Do phương tiện trước có năng lực huân phát, nhập định phát tuệ, một vô ngại đạo dứt trừ chướng ngại của thần thông.
  • Giải thoát đạo: Một giải thoát đạo sau Vô Ngại, đạo dứt trừ chướng kia, sau đó muốn biết tâm người sẽ biết được.

    Tu Túc mệnh thông cũng có ba thứ đạo.

Phương tiện đạo: Trước nhập định Sơ thiền căn bản, tức là dừng nghĩ. Sau khởi tâm tưởng tìm nhớ lại việc đã qua, từ xa đến gần thứ lớp mà tìm, trở lại nhập định, nhiều phen như thế. Đây là thân thông phương tiện đạo.

Vô ngại đạo.

Giải thoát đạo: đều giống như trước.

Tu Thiên nhãn thông, theo Luận A Tỳ-đàm chỉ có hai.

  • Phương tiện đạo: Trước nhập định, kế giữ gìn các tướng sáng như mặt trời, mặt trăng, ánh sáng đen, v.v… khởi tưởng thấy xa, trở lại nhập vào định, như thế nhiều phen nên rất thuần phục.
  • Vô ngại đạo: Do năng lực huân phát của phương tiện trước nhập định phát tuệ, một vô ngại đạo dứt trừ chướng ngại của thông. Về sau xuất định muốn thấy thì thấy ngay.

Kia nói Thiên nhãn là vô ký, nên trong định không có Giải thoát đạo. Nếu theo Luận Thành Thật và Pháp Đại thừa, thì Thiên nhãn là thiện chung với định tâm, tu tập như thế có Giải thoát đạo, đồng với Thân thông v.v… ở trước.

Tu Thiên nhĩ thông, theo Tỳ-đàm cũng có hai:

Phương tiện đạo: Trước nhập định, kế giữ các tiếng tăm khởi tướng khi nghe từ xa trở lại nhập vào định nhiều phen như thế, làm cho thuần phục.

Vô ngại đạo: Do năng lực huân phát của phương tiện trước nhập định phát tuệ, vô ngại đạo dứt trừ chướng ngại thông bít, sau khi xuất định muốn nghe liền nghe. Không có giải thoát đạo, giống như Thiên nhãn. Thành Thật và Đại thừa cũng có Giải thoát đạo, giống như Thiên nhãn ở trước.

Hỏi: Các thông có lìa dục đắc và phương tiện đắc, hai sở đắc này có rộng hẹp chăng?

Giải thích có ba nghĩa:

  • Phân biệt lìa dục đắc hẹp, phương tiện đắc rộng. Lìa dục đắc chỉ được pháp sở đắc đã từng được, các thần thông thắng diệu ở trước chưa được đều do phương tiện tu hiện tại mà được.
  • Lìa dục đắc rộng, Phương tiện đắc hẹp. Lìa dục kia, đối với pháp sở đắc sở đắc từ vô thỉ đến nay đã từng được, tất cả đều đắc. Phương tiện kia, ở đời hiện tại năng nhập mới đắc, chỗ không nhập thì không đắc.
  • Lìa dục và phương tiện, sở đắc đồng nhau. Chư Phật và các Đại Bồ-tát theo chỗ sở đắc của lìa dục đều có thể hiện nhập. tu đắc cũng như thế.

    4. Nghĩa không đồng nhua giữa Đại thừa và Tiểu thừa: Không khác nhau có năm:

  1. Thể tánh khác nhau: Lục thông đều dùng trí tuệ làm thể, Lục thông của Tiểu thừa dùng tâm sở tuệ trong sự thức làm thể. Trong pháp Đại thừa, khi mới tu dùng tâm sở tuệ trong Sự thức làm thể, ngoài tâm có pháp, tự tại trong ấy gọi là Thông. Kế đến tu dùng tuệ trong vọng thức kia làm thể, thấy tất cả pháp do từ tâm khởi, ngoài tâm không có pháp trong tự tâm mà pháp vô ngại tự tại. Sau cùng thành tựu thì dùng Thật tuệ trong Chân thức làm thể, thấy pháp là chân, đối với pháp tự thể chân thật được vô ngại tự tại.
  2. Duyên tâm khác nhau: Tiểu thừa lục thông hễ có chỗ hành động đều phan duyên phân biệt không thể không phan duyên. Trong pháp Đại thừa, mới tu có duyên, kế đến tu dứt trừ duyên không thể không duyên, sau cùng thành tựu bình đẳng không duyên như mặt trời chiếu khắp mà không phân biệt, tất cả việc làm do năng lực pháp mà làm, đều không khởi tâm.
  3. Thường, vô thường khác nhau: Sáu thông của Tiểu thừa vô thường sinh diệt. Sáu thông của Đại thừa ban đầu vô thường, sau cùng chân thường, chẳng thấy hưng phế thể thường chẳng thay đổi.
  4. Y định khác nhau: Sáu thông của Tiểu thừa nương vào sự việc có định, trong sự trụ tâm là sự định. Sáu thông của Đại thừa ban đầu nương vào sự định, kế là nương vào lý định, phá tướng trụ nơi không là lý định. Sau cùng thành tựu ở chân thật tự thể tịch định, chân tâm tánh tịch là thể định. Trụ trong định này tâm không lay động, pháp lực Tammuội tự nhiên hiện dụng. Lại, trong Tiểu thừa, năm thông trước chỉ vào nương định của Tứ thiền căn bản mà khởi, Lậu tận thông nương vào Tứ thiền, Vị lai, Trung gian và ba Vô sắc. Đại thừa mới tu đồng với Tiểu thừa, sau cùng thành tựu nương tất cả thiền đều khởi. Lại, các Thanh văn hễ nương định nào, thì nhập thần thông vào các định khác đều không thể khởi dụng. Chư Phật, Bồ-tát thì không phải như thế, tùy theo nương vào định nào thì thần thông phát ra vào các định khác đều khởi dụng. Như Ngài Long Thọ đã nói.
  5. Tác dụng khác nhau:

    Sáu thông nói riêng:

    Trong Thân thông, có mười thứ khác nhau:

  • Trên dưới khác nhau: Thanh văn, Duyên giác nương Sơ thiền, thần thông phát ra chỉ đạt Sơ thiền không thể đạt đến các địa trên, vì giới hạn giai vị. Các định khác cũng thế chỉ đạt đến tự địa không thể vượt hơn. Chư Phật, Bồ-tát thì không như thế, nương Sơ thiền phát ra thần thông đạt đến tất cả địa, các định khác cũng thế.
  • Rộng hẹp khác nhau: Như Địa Trì nói, hàng Thanh văn hai ngàn cõi nước là cảnh giới thân thông, Duyên giác thì ba ngàn cõi nước cũng là cảnh giới thân thông. Lại Ngài Long Thọ nói: “Tiểu Thanh văn hạng trung không tác ý, một ngàn cõi nước là cảnh giới thần thông, nếu tác ý là hai ngàn cõi nước cũng là thần thông. Đại Thanh văn hạng trung không tác ý hai ngàn cõi nước là cảnh giới thần thông, nếu tác ý là ba ngàn cõi nước cũng là cảnh giới thần thông. Duyên giác Bậc trung có Đại và có Tiểu, tiểu Duyên giác không tác ý hai ngàn cõi nước, là cảnh giới thần thông, nếu tác ý thì ba ngàn cõi nước cũng là cảnh giới thần thông. Đại Duyên giác không nói tác ý hay chẳng tác ý đều lấy Tam thiên đại thiên quốc độ làm cảnh giới thần thông. Đây là hẹp. Chư Phật, Bồ-tát lấy tất cả thế giới tất cả chúng sinh làm cảnh giới thần thông, nên gọi là rộng.
  • Nhiều ít khác nhau: Thanh văn, Duyên giác có một tâm, một khởi niệm không thể có nhiều. Chư Phật, Bồ-tát cùng lúc hóa hiện tất cả các sắc tượng ở thế giới mười phương, và cùng lúc có thể hiện thân trong năm đường.
  • Đại tiểu khác nhau: Thanh văn, Duyên giác hóa hiện thân lớn không thể vào thân nhỏ, hóa hiện thân nhỏ không thể dung vào thân lớn. Chư Phật, Bồ-tát hóa hiện thân lớn đầy khắp Tam thiên, có thể đem thân lớn vào một hạt bụi, lại chư Phật, Bồ-tát hóa hiện thân nhỏ như cát bụi, có thể dùng thân nhỏ dung thọ tất cả, chư Phật Bồ-tát đối với thế giới vật sắc có thể đem lớn vào nhỏ, nhỏ chứa được lớn. Hàng Nhị thừa không thể được.
  • Mau chậm khác nhau: Thanh văn, Duyên giác muốn đến chỗ xa thời gian lâu mới đến vì không được thần thông như ý. Chư Phật Bồ-tát chỉ trong một niệm có thể đến các thế giới ở mười phương, vì được thần thông như ý.
  • Hư thật khác nhau: Chỗ hóa hiện của Thanh văn Duyên giác thì tất cả cảnh giới chỉ tương tự mà không được thật dụng, chư Phật Bồ-tát có hóa hiện gì đều được thật dụng, Luận Địa Trì nói.
  • Sở tác khác nhau: chư Phật Bồ-tát hóa hiện vô lượng người, mỗi mỗi đều có tâm, hễ làm một việc gì đều khiến người dễ hiểu, Hàng Nhị thừa không thể được.
  • Sở hiện khác nhau: chư Phật, Bồ-tát chỉ hiện một thân để người dễ thấy, chỉ phát một âm thanh làm cho người dễ nghe, an trụ một cõi, mười phương đều hiện. Nhị thừa không thể như vậy.
  • Căn dụng khác nhau: Như kinh Niết-bàn nói: ” Phật, Bồ-tát sáu căn sử dụng lẫn nhau, Nhị thừa không thể làm được”.
  • Tự tại khác nhau: Như kinh Niết-bàn nói: “Chư Phật, Bồ-tát làm việc thân tâm tự tại không bị lôi kéo, thân hiện lớn tâm cũng không thấy lớn, thân hiện nhỏ tâm cũng không thấy nhỏ, thân hiện vui mừng tâm không thấy vui mừng, thân hiện buồn tâm cũng không buồn”.

    Tất cả như thế.

    Nhị thừa không được như vậy.

    Thân thông như thế.

    Thiên nhĩ thông khác nhau: có sáu:

  • Trên dưới khác nhau: Thanh văn, Duyên giác nương Sơ thiền được thiên nhĩ, chỉ nghe âm thanh từ Sơ thiền trở xuống, không nghe thấu cõi trên. Các thiền khác cũng như thế, chỉ nghe tự địa không vượt hơn. Chư Phật, Bồ-tát nương vào thiền nào mà được thiên nhĩ, nghe tất cả các âm thanh.
  • Rộng hẹp khác nhau: Y theo phần trước sẽ hiểu.
  • Đốn biệt khác nhau: Thanh văn, Duyên giác đối với các âm

thanh khi nghe thấy riêng biệt không thể cùng một lúc. Chư Phật, Bồ-tát nghe được cùng một lúc.

  • Thô tế khác nhau: Luận Địa Trì nói: ” Cho đến âm thanh cực nhỏ nhiệm chư Phật, Bồ-tát đều nghe, Nhị thừa không thể nghe”.

Mau chậm khác nhau: chư Phật, Bồ-tát đối với các âm thanh, khởi tâm liền nghe. Nhị thừa không thể, phải tạo nhiều phương tiện mới được nghe biết.

  • Hư thật khác nhau: chư Phật, Bồ-tát đối với các âm thanh được nghe không sai lầm, Nhị thừa không được như vậy, khi nghe có sai lầm.

    Thiên nhĩ như thế.

    Tha tâm thông khác nhau có bảy:

  • Thượng hạ khác nhau: Theo Luận Tỳ-đàm có ba trường hợp không biết tha tâm.

Trường hợp về cõi người: Người cõi dưới không biết tâm người cõi trên.

Trường hợp về căn cơ: Người độn căn không biết tâm người lợi căn.

Trường hợp về cõi đất: Người ở hạ thiền không biết tâm người ở thượng thiền. Luận Thành Thật chỉ nói về cõi người và căn cơ, không nói cõi đất. Luận Thành Thật nói như Pháp Đại thừa. Pháp Đại thừa nói Chư Phật, Bồ-tát nương cõi hạ phát thần thông, cũng có thể biết tâm người cõi thượng.

  • Rộng hẹp khác nhau: Thanh văn, Duyên giác biết tột cùng, chỉ biết tâm chúng sinh trong một thế giới Tam thiên. Chư Phật, Bồ-tát có khả năng biết tất cả.
  • Đốn biệt khác nhau: chư Phật, Bồ-tát một lúc có thể biết rõ tâm, tâm sở của tất cả chúng sinh. Nhị thừa không được.
  • Thô tế khác nhau: Thanh văn, Duyên giác chỉ biết tâm thô của phàm phu và Tiểu Thánh nhưng không biết tâm vi tế. Chư Phật Bồ-tát hiểu biết sâu kín, cho đến tâm Phật cũng biết.
  • Mau chậm khác nhau: chư Phật, Bồ-tát đối tất cả tâm muốn biết liền biết. Nhị thừa không được như vậy, phải tạo nhiều phương tiện mới biết.
  • Hư thật khác nhau: chư Phật, Bồ-tát hiểu biết không lầm, Nhị thừa hiểu biết không được như thế.
  • Thời phân khác nhau: Thanh văn, Duyên giác chỉ biết tâm chúng sinh hiện tại. Chư Phật, Bồ-tát biết được tâm chúng sinh ba đời.

    Tha tâm như thế.

    Thiên nhãn thông khác nhau, có mười:

  • Thượng hạ khác nhau: Thanh văn, Duyên giác nương theo bất cứ thiền nào đều được Thiên nhãn, đồng thấy tự địa, không thể thấy ở cõi trên, chư Phật, Bồ-tát thấy tất cả.
  • Rộng hẹp khác nhau.
  • Đốn biệt khác nhau, giải thích y như trước.
  • Thô tế khác nhau: chư Phật, Bồ-tát chỗ thấy nhỏ nhiệm cho đến vật chất nhỏ như hạt bụi gần với hư không, tất cả đều thấy, Nhị thừa không thể như vậy.
  • Mau chậm khác nhau:
  • Hư thật khác nhau. Tương tự như trước
  • Thời phân khác nhau: Thanh văn, Duyên giác có khả năng thấy xa từ đời vị lai trong việc tám muôn kiếp. Chư Phật, Bồ-tát thấy tột cùng mé sau.
  • Tự tha khác nhau: Như kinh Niết-bàn nói: “Thanh văn, Duyên giác chỉ thấy sắc bên ngoài không thấy mắt của mình. Chư Phật, Bồ-tát có khả năng thấy được mắt mình”.
  • Thấy pháp khác nhau: Như kinh Niết-bàn nói: “Chư Phật, Bồ-tát có Thiên nhãn thấy được các sắc niệm niệm sinh diệt và thấy mình và người các xương cốt bất tịnh. Nhị thừa không thể như vậy”.
  • Biết căn cơ khác nhau: Như kinh Niết-bàn nói: “Chư Phật, Bồ-tát thấy hình dáng người liền biết căn cơ mau chậm, trình độ cao thấp”.

    Nhị thừa không thể.

    Thiên nhãn bất đồng khác nhau như thế.

    Túc mệnh thông khác nhau có tám:

  • Thượng hạ khác nhau: Thanh văn, Duyên giác nương bất cứ thiền nào đều được Túc mệnh thông, chỉ biết tự địa và túc mệnh chúng sinh ở cõi dưới, không thể biết cõi trên. Chư Phật, Bồ-tát đều biết tất cả.
  • Rộng hẹp khác nhau.
  • Đốn biệt khác nhau: Theo như trước rất dễ biết.
  • Thô tế khác nhau: chư Phật, Bồ-tát đối với việc quá khứ rất nhỏ nhiệm đều biết, Nhị thừa không thể biết.
  • Mau chậm khác nhau: Chư Phật, Bồ-tát đối với việc quá khứ khởi tâm liền biết. Nhị thừa không thể.
  • Hư thật khác nhau: chư Phật, Bồ-tát biết không lầm, chẳng như Nhị thừa.
  • Thời phân khác nhau: Nhị thừa xa nhất chỉ biết việc trong tám muôn kiếp, chư Phật, Bồ-tát thấy biết không cùng tận.

Hỏi: Kinh nói vị tiên Ca-tỳ-la có thể biết việc quá khứ trong tám muôn kiếp, việc vị lai cũng thế. Thanh văn, Duyên giác đã là bậc Thánh, sự hiểu biết lẽ ra phải xa hơn, vì sao đồng với kia?

Đáp: Ở đây dùng trí thế tục để biết, trong thế tục người lợi căn nhiều phen huân tập hiểu biết sâu rộng, độn căn ít huân tập sự biết sẽ thấp kém, không phân biệt phàm Thánh.

  • Tự tại khác nhau: Như kinh Địa Trì nói, chư Phật, Bồ-tát tự biết túc mệnh, biết túc mệnh của người, có thể khiến người biết túc mệnh của mình, có thể khiến người tự biết túc mệnh của họ, có thể khiến người biết túc mệnh người khác, cho đến khiến các chúng sinh khác lần lượt cùng biết túc mệnh nhau.

    Nhị thừa thì không thể.

    Túc mệnh bất đồng khác nhau như thế.

Lậu tận thông có hai loại: Một là biết lậu tận của người, gọi là Lậu tận thông; hai là tự chứng lậu tận gọi là Lậu tận thông.

Biết lậu tận của người (tri tha lâu tận) khác nhau có bảy:

  • Thượng hạ khác nhau: Thanh văn, Duyên giác chỉ biết tự địa và lậu tận cõi dưới, không thể biết cõi trên. Chư Phật, Bồ-tát tất cả đều biết.
  • Rộng hẹp khác nhau: Thanh văn, Duyên giác biết lậu tận của người trong một thế giới, chư Phật Bồ-tát biết hết tất cả.
  • Đốn biệt khác nhau: Thanh văn, Duyên giác duyên khác nhau, biết khác nhau. Chư Phật, Bồ-tát cùng lúc biết ngay.
  • Thô tế khác nhau: Thanh văn, Duyên giác hiểu biết thô thiển. Chư Phật, Bồ-tát hiểu biết vi tế sâu xa.
  • Mau chậm khác nhau: chư Phật, Bồ-tát không nhờ phương tiện, khởi tâm liền biết. Nhị thừa không thể như thế.
  • Hư thật khác nhau: Thanh văn, Duyên giác hiểu biết còn sai lầm, chư Phật, Bồ-tát hiểu biết chân thật.
  • Thời phân khác nhau: Thanh văn, Duyên giác biết chúng sinh lậu tận ở hiện tại, không biết quá khứ, vị lai. Chư Phật, Bồ-tát tất cả đều biết.

    Tri tha lậu tận khác nhau.

    Tự chứng lậu tận khác nhau, có ba:

  • Chứng pháp khác nhau: Thanh văn, Duyên giác chứng pháp thô thiển, chỉ được nhân không. Chư Phật, Bồ-tát chỗ chứng sâu xa, biết cả nhị không và chứng rất sâu Như Lai tạng tánh.
  • Trừ chướng khác nhau: Thanh văn, Duyên giác chỉ dứt tứ trụ, chư Phật Bồ-tát dứt cả ngũ trụ.
  • Lấy bỏ khác nhau: Thanh văn, Duyên giác được vắng lặng thì thủ chứng. Chư Phật, Bồ-tát được vắng lặng không trụ, được đại Niếtbàn không bỏ thế gian, không bỏ thế gian mà thường ở Niết-bàn. Đại tiểu bất đồng khác nhau như thế.

    5. Phân biệt tam tánh:

Tam tánh là thiện, ác, vô ký. Trong sáu thông, lậu tận thông với thể tánh chỉ có thiện, năm thông còn lại nói chung có bốn:

Báo thông: Các vị trời có phước báo được năm thông như trên, tất cả như thế.

Dược thông: Như các vị tiên nhờ năng lực của thuốc nên bay đi

tự tại.

Chú thông: Như Ba-la-nại có Bà-la-môn dùng thần chú bay lên cung trời Đế-thích, biến thân thành Đế-thích v.v… hành dâm với Xá-chi (phu nhân) những việc như thế là chú thông.

Tu thông: Nương vào tu thiền được thần thông.

Ba loại trước trong bốn thứ này là vô ký, loại thứ tư không nhất định.

Theo Luận Tỳ-đàm, Tha Tâm và Túc mệnh một bề là thiện, Thiên nhãn, Thiên nhĩ một bề vô ký. Thân thông thể tánh là thiện, chỗ khởi hóa tâm là vô ký. Tha tâm, Túc mệnh tương ưng ý thức, tâm sở tuệ là thể, chung với thiền định nên tánh là thiện. Hai thức thiên nhãn, thiên nhĩ tương ưng tuệ tâm sở, tuệ dùng thông làm thể, không chung với định nên tánh vô ký. Thể của thân thông cũng là ý thức tương ưng tâm sở tuệ, chung với định tâm nên tánh là thiện. Chỗ khởi hóa tâm trước định tác ý muốn làm các việc, nhưng chỗ khởi kia hoặc tự địa, hoặc tha địa tâm, không chung với định, nên tánh vô ký.

Nếu theo Luận Thành Thật, năm thông đều dùng tuệ hành trong ý thức làm thể, đều vì lợi ích chúng sinh mà khởi tâm nên tánh đều là thiện. Cho đến hóa tâm cũng vì lợi ích chúng sinh mà khởi tâm nên tánh cũng là thiện.

Đại thừa nói thông thế tục, phần nhiều giống với Luận Tỳ-đàm, nên Địa Trì nói vô ký hóa thiền. Chư Phật, Bồ-tát thành tựu năm thông, thật tuệ làm thể, cho đến khởi lên các thứ biến hóa đều không lìa định, đều từ năng lực Tam-muội pháp môn sinh khởi, thể tánh đều là thiện.

Tam tánh như thế.

  1. Phân biệt tam nghiệp:

Tam nghiệp là thân, miệng, ý. Nói cho cùng thể tánh của sáu thông đều dùng trí tuệ làm thể. Tuệ ở nội tâm đều là ý nghiệp tánh, nói theo tướng thì thuộc về ba nghiệp. Như Địa Trì nói, ban đầu Thân thông là thân nghiệp thanh tịnh. Thiên nhĩ, Tha Tâm là khẩu nghiệp thanh tịnh. Túc mệnh, Thiên nhãn là ý nghiệp thanh tịnh, Lậu tận thông luận ấy không nói. Thân thông biến hóa ở hình tướng, cho nên nói là thân nghiệp thanh tịnh. Thiên nhĩ, Tha tâm y theo đó khởi lên lời nói, cho nên nói khẩu nghiệp thanh tịnh. Thế nào là khởi nói? Do có thiên nhĩ nên nghe chánh pháp từ Phật, Bồ-tát và nghe tiếng nói của các loài chúng sinh, nương đó nói năng, nhờ tha tâm mà biết rõ tâm người, theo đó khởi nói. Do trọng hai thông này, khởi nói mạnh nên luận nói là khẩu nghiệp thanh tịnh. Túc mệnh,Thiên nhãn biết rõ việc quá khứ vị lai. Quá khứ, vị lai cách đời khó biết, chỉ có ý mới biết, cho nên nói là ý nghiệp thanh tịnh. Trong Lậu tận thông, tự chứng lậu tận, nội tâm lìa nhiễm cũng là ý nghiệp tịnh. Biết lậu tận của người gọi là lậu tận, đây cũng là biết trong tâm chúng sinh lậu hoặc đã tận hay chưa tận, nói theo đó thì như Tha tâm thông cũng là khẩu nghiệp thanh tịnh. Tam nghiệp như thế.

  1. Phân biệt ba thứ thông – minh – thị hiện:

Như Tạp Tâm nói, cả sáu đều là Thông vì không chướng ngại. Nghĩa của Minh và Thị hiện có ẩn có hiển, dùng bốn câu để nói.

  1. Thị hiện mà chẳng phải Minh: Thân thông và Tha tâm, hai thông này giáo hóa lợi ích chúng sinh, sinh lòng tin rõ ràng nên gọi là Thị hiện, không thể lìa ba thứ ngu nên không gọi là Minh, ba thứ ngu dưới đây:
  2. Minh mà chẳng phải Thị hiện: Thiên nhãn và Túc mạng thông. Túc mạng thông trừ ngu của mé trước, Thiên nhãn trừ ngu mé sau, nên nói là minh. Hóa độ chúng sinh sinh lòng tin không hiển bày tột cùng, nên chẳng phải thị hiện. Vì sao không hiển bày? Túc mệnh biết sự việc quá khứ, nói việc quá khứ để hóa độ chúng sinh, vì cách đời khó biết, người phần nhiều không tin, nên chẳng phải thị hiện. Thiên nhãn biết việc vị lai, nói việc vị lai hóa độ lợi ích cho chúng sinh, cách đời khó biết người cũng không tin cho nên không thị hiện.
  3. Vừa Minh vừa Thị hiện: Lậu tận thông biết rõ chân đế chứng

thành lậu tận, trừ ngu chân đế nên gọi là Minh, biết lậu tận của người khác, biết chúng sinh ấy trong tâm phiền não sạch hay không sạch mà khuyến hóa, họ sẽ sinh lòng tin, sinh lòng tin rõ nên gọi là Thị hiện.

  1. Chẳng phải Minh cũng chẳng phải Thị hiện: Thiên nhĩ thông không thể trừ ba thứ ngu trước nên không được gọi là Minh, dùng đây giáo hóa khiến người sinh lòng tin không thể hiển bày, nên chẳng phải Thị hiện. Vì sao không hiển bày? Thiên nhĩ tuy có thể nghe tiếng ở xa, đem nói với người, người không nghe được nên không tín nhận, nên nói không hiển bày. Lại dù cho hướng dẫn người mà dẫn lời xa xôi, muốn giáo hóa người hiện tiền mà nói lời người khác truyền lại, không phải sức mình nên phần nhiều không tin.

Minh và Thị hiện, ẩn hiển như thế, nói về Thông thì đều là Minh. Nên trong kinh Hoa Nghiêm chia lục thông ra làm mười minh, cũng là thị hiện, vì chư Phật, Bồ-tát thị hiện đức này để hóa độ chúng sinh.

Hỏi: Túc mệnh, Thiên nhãn, Lậu tận, kinh nói là thông, lại nói là Minh, cũng gọi là tam đạt, có gì khác nhau?

Đáp: Giải thích chung thì nghĩa như nhau, trong đó chia riêng, chẳng phải không khác nhau. Tướng khác như thế nào? Như Ngài Long Thọ nói: “Biết đúng tám việc quá khứ gọi là Túc mệnh thông”. Trong quá khứ ấy biết nghiệp, nhân quả, nhân duyên đạo lý gọi là Túc mệnh minh. Biết đời vị lai chết đây sinh kia, gọi là Thiên nhãn thông. Biết nghiệp, nhân quả, nhân duyên đạo lý gọi là Thiên nhãn minh. Biết thẳng lậu tận, gọi là Lậu tận thông. Không biết còn sinh gọi là Lậu tận minh. Lại biết từ Đạo đế được Diệt đế khác nhau cũng gọi là Minh. Đối với tất cả các thứ ấy biết cùng tận gọi là tam đạt.

Tận có bốn thứ:

  • Biết sự, tận không sự nào không biết.
  • Biết nghĩa pháp tướng nhân quả, tận không có nghĩa nào không biết.
  • Biết Chân đế lý không, tận cùng các tướng đều không.
  • Biết tánh, biết hết các pháp như thế đều từ bổn tánh Như Lai tạng khởi tướng tức là thật.

Tận cùng đạt bốn thứ này gọi là tam đạt, nói về thần thông cả phàm đều có, chỉ trừ Lậu tận. Về Minh thì Nhị thừa cũng có, về đạt chỉ có Như Lai. Phân biệt về Thông, Minh, Thị hiện như thế.

8. Tu thứ lớp lục thông:

Lý thật thì lục thông không có thứ lớp nhất định, nay nói thứ lớp

có ba:

1. Thứ lớp tu thành: Nói theo Phật. Khi Phật sắp thành đạo, Ma Vương Ba-tuần sợ Phật thành đạo nên đến quấy nhiễu, Như Lai lúc ấy dùng thần lực hàng phục. Do nghĩa này trước tu Thân thông. Ma đã bị hàng phục ẩn hình trong hư không, bấy giờ Như Lai không biết ở chỗ nào, phải dùng Thiên nhãn biết chỗ ở của nó, nên kế đến tu khởi Thiên nhãn. Mắt tuy thấy hình nhưng không hiểu lời nói, phải dùng Thiên nhĩ hiểu rõ lời nói, kế đến thứ ba là tu khởi thiên nhĩ. Tai tuy nghe tiếng mà không lường được tâm, không biết nội tâm là sợ hay mạnh, nên thứ tư là tu Tha tâm thông. Do thông này biết tâm kia hoảng hốt, bất an. Tuy biết hiện tâm không biết quá khứ phước đức nhiều ít. Nếu phước hơn ta thì sẽ làm chướng ngại sự thành đạo của ta. Vì biết phước quá khứ nên kế tu Túc mệnh thông. Biết ma ở quá khứ có nhân duyên có mở một đại hội Vô Già nay thọ quả báo này. Ta ở quá khứ vô lượng ức kiếp vì các chúng sinh xả bỏ thân mình, tay chân đầu mắt, tủy não, chịu nhiều khổ não, phước ta hơn kia. Đã biết hơn nên không sợ kia làm chướng ngại, vì vậy dứt được kiết sử, chứng thành lậu tận, nên thứ sáu minh nói về Lậu tận thông. Lại Ngài Long Thọ nói: “Phật vào đầu hôm đắc một thông, một minh lại thân thông và Túc mệnh minh. Vào nửa đêm đắc một thông, một minh là Thiên nhĩ thông và Thiên nhãn minh. Vào gần sáng đắc một thông, một minh là Tha Tâm thông và Lậu tận minh”.

Hỏi: Vì sao trước đắc thông sau đắc minh?

Luận tự giải thích: Từ lục thông cầu tam minh, sử dụng công lực trọng yếu nên trước được thông, sau được minh.

Hỏi: Vì sao thứ lớp như thế?

Luận tự giải thích: Đầu hôm ma đến muốn quấy nhiễu, vì hàng phục nên trước khởi thân thông. Hàng phục xong rồi liền tự nghĩ, ta đối với thân này vì sao được sức mạnh như thế, liền cầu nhân đời trước, thấy quá khứ của mình tu nhiều phước lành được sức mạnh như thế, nên khởi Túc mệnh. Nửa đêm ma lui hết không thấy tăm hơi, Phật đem lòng từ niệm tất cả chúng sinh, muốn nghe tiếng họ nên cầu thiên nhĩ, đã được thiên nhĩ nghe âm thanh khổ, vui v.v… của chúng sinh trong năm đường ở mười phương, muốn thấy hình chúng nên cầu thiên nhãn. Gần sáng muốn biết vật tâm để tùy nghi giáo hóa nên cầu tha tâm, biết các chúng sinh đều muốn lìa khổ được vui liền cầu an vui, tự ta không được vui lậu tận thì không thể ban cho họ, nên cầu lậu tận.

Đây cũng là chỗ thứ lớp tu thành. Một nghĩa như thế.

  1. Thứ lớp tu thành. Cũng lập thuyết theo Phật: như trong luật

nói, Phật vào đầu hôm được Túc mạng minh, vô minh chấm dứt, ánh sáng phát ra, bóng tối tiêu tan, hào quang phát sáng. Vào nửa đêm được Thiên nhãn minh, vô minh chấm dứt ánh sáng phát ra, bóng tối tiêu tan, hào quang phát sáng. Vào lúc gần sáng được Lậu tận minh, vô minh hết ánh sáng phát ra, bóng tối tiêu tan, hào quang phát sáng. Ba minh này là thứ lớp tu thành.

Được Lậu tận rồi muốn hóa độ chúng sinh, không biết chúng sinh nào cần hóa độ, phải dùng thiên nhĩ nghe các âm thanh khổ vui của chúng sinh, kế đó bèn khởi thiên nhĩ. Tuy biết chúng sinh khổ vui khác nhau nhưng kia đây cách trở khó đến giáo hóa, nên kế đó khởi thân thông. Tuy đến chỗ ấy nhưng không biết điều mong ước thì không thể trao pháp, kế đó khởi Tha tâm. Ba thứ thông sau này là thứ lớp khởi hóa.

  1. Nói thẳng về thứ lớp khởi hóa: Cũng nương theo Phật dạy, muốn hóa độ người, không biết chỗ nơi trước dùng Thiên nhãn, đã thấy chỗ nơi cần đến hóa độ kế đó dùng Thân thông. Đã đến chỗ mà không hiểu lời nói, nên dùng Thiên nhãn. Tuy hiểu lời nói mà không biết căn cơ, nên dùng Túc mạng quán sát căn tánh đại tiểu. Tuy biết căn cơ quá khứ, không biết chỗ mong cầu hiện tại, nên dùng Tha tâm. Tuy biết tâm kia mà không biết trong tâm có phiền não hay không? Nên dùng Lậu tận, quán trong tâm ấy có phiền não hay không, nói pháp cho họ nghe để đối trị, khiến chứng lậu tận. Thứ lớp là như thế.

    9. Y theo kinh nói về tướng: Như Luận Địa Trì nói:

    Thân thông có hai: Biến và Hóa.

    Đổi thay thân hình cũ gọi là biến, việc nào cũng hiện gọi là hóa.

    Biến có nhiều thứ, tóm lại là mười sáu:

    Rung chuyển: Có thể rung chuyển một thế giới.

    Lừng lẫy: Phía trên thân phát lửa, phía dưới thân phát nước, v.v…

    Sung mãn: Thân phát ra ánh sáng đầy khắp thế giới.

    Thị hiện: Vì tất cả chúng Sa-môn.

Chuyển đổi phần khác: Biến đất thành nước, biến nước thành lửa, v.v…

Tới lui: Vận hành tới lui, vô ngại tự tại.

Đại tiểu: Biến nhỏ thành lớn, lớn thành nhỏ.

Sắc tượng, nhập thân: Khiến tất cả cõi, tất cả chúng sinh vào thân mình.

Sở vãng tương tự: Hễ đến chỗ nào đều hiện giống như chúng sinh nơi ấy, âm thanh tiếng nói đều giống.

Ẩn hiển: Hiện ra rồi biến mất như thế…

Tự tại: Khiến cho chúng sinh đến đi, nằm ngồi v.v… tất cả tùy tâm.

Chướng tha thần thông: Trừ bậc trên còn tất cả đều che chướng.

Cho biện tài: Chúng sinh không biện tài hay cho biện tài.

Cho niệm: Chúng sinh mất chánh niệm thì cho chánh niệm.

Cho vui: Chúng sinh không an vui đều cho an vui.

Phát ra ánh sáng: Thân phát ra ánh sáng chiếu khắp tất cả.

Nghĩa Biến như thế.

Hóa cũng vô lượng, tóm tắt có ba:

  • Hóa thân, hóa tất cả hình loại chúng sinh.
  • Hóa ngữ, hóa tất cả âm thanh, lời nói.
  • Hóa cảnh giới, hóa thành tất cả việc uống ăn.

Trong hóa thân lược có năm thứ:

  • Hóa tợ tự thân.
  • Không tương tự.
  • Tự tha thân.
  • Không tương tự tha thân.
  • Tự thân tha thân tương tự, không tương tự tất cả đều hóa.

Trong hóa ngữ có bảy:

  • Diệu âm: Nói pháp âm thanh vi diệu.
  • Quảng âm: Nói pháp âm thanh phát ra tất cả đều được nghe.
  • Từ tự thân khởi hóa tạo ngữ ngôn, giống như tương tự tự thân khởi.
  • Từ tha thân khởi hóa tạo lời nói, giống như từ tha khởi.
  • Không từ đâu khởi.
  • Nói chánh pháp.
  • Theo sự giáo hóa.

Như thế trong hóa cảnh tạo vô lượng việc.

Thân thông như thế.

1. Thiên nhãn, có hai:

  • Thấy sắc tướng hiện tại.
  • Thấy vị lai chết đây sinh kia.
  1. Thiên nhĩ thông: Tất cả âm thanh của chúng sinh trong sáu đường tánh, chẳng phải tánh, tiếng thô tiếng tế, thanh biện hay chẳng biện, thanh hóa chẳng hóa, tiếng xa tiếng gần, tất cả tiếng đều nghe.
  2. Tha tâm thông: tất cả chúng sinh có tâm, tâm sở đều biết hết. Hỏi: Thông này biết thẳng tâm, cũng biết sở duyên phải không?

Đáp: Theo Luận Tỳ-đàm thì chỉ biết tha tâm, không biết sở duyên, nếu biết sở duyên thì người trước mặt khởi ý phan duyên tâm ta, ta duyên theo tâm họ thì có lỗi tự tâm duyên chiếu, nên chỉ biết tâm, không biết sở duyên. Nếu theo luận Thành Thật, chính khi biết tâm thì biết cả sở duyên. Đại thừa cũng thế, nếu tâm tự duyên thì có lỗi gì?

  1. Túc mệnh thông có sáu:

a/ Tự tri túc mệnh. Biết quá khứ, có tám việc:

  • Tên như thế.- Họ như thế.
  • Sống như thế
  • Ăn uống như thế
  • Khổ vui như thế
  • Sống lâu như thế- Tồn tại lâu dài như thế – Thọ mạng như thế.

Biết quá khứ của ta có tám việc như thế, gọi là tự biết. b/ Tri tha. Biết chúng sinh khác có sáu việc đồng hạnh:

Tên như thế.

Họ như thế.

Sinh như thế.

Ăn uống như thế.

Thiện ác như thế.

Thọ mạng như thế.

Biết việc của người như thế, gọi là biết người. c/ Giúp cho chúng sinh biết túc mệnh của mình. d/ Giúp cho chúng sinh tự biết túc mệnh của họ. e/ Giúp cho chúng sinh biết túc mệnh của người. f/ Giúp cho các chúng sinh lần lượt biết nhau.

5. Trong Lậu tận có hai:

Bậc Thánh trí vô lậu có khả năng dứt hết các lậu gọi là lậu tận thông.

Biết lậu tận gọi là lậu tận thông.

Biết lậu tận, có bốn nghĩa khác nhau, như Địa Trì nói:

Tự biết lậu hết.

Biết người lậu hết.

Phương tiện lậu hết đã khởi đều biết như thật. Thánh đạo gọi là phương tiện lậu hết.

Lậu tận tăng thượng mạn có khởi tâm, không khởi tâm đều biết như thật. Chưa được cho là được, đó là tăng thượng mạn. Nghĩa lục thông nói lược như thế.

ĐẠI THỪA NGHĨA CHƯƠNG.

QUYỂN 20 (Phần Đầu)

(HẾT)

ĐẠI THỪA NGHĨA CHƯƠNG

SỐ 1851

QUYỂN 20

Đời Tùy, Pháp Sư Tuệ Viễn soạn.
Việt dịch: Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh.

(Phần Cuối)

5. NGHĨA MƯỜI HIỆU

Mười hiệu là danh hiệu công đức của Phật, Như Lai. Danh hiệu có chung riêng, như: Thích-ca, Di-lặc, A-súc, v.v… là danh hiệu riêng của Phật Như Lai… là danh hiệu chung của chư Phật, Như Lai, lẽ ra tướng phải phân biệt nên đặt danh hiệu riêng, Đức chân thật phải hiển bày nên phải đặt danh hiệu chung. Đức chân thật có vô lượng, nương vào đức để đặt danh hiệu, danh hiệu ấy cũng vô biên. Nay y cứ vào một số nào đó mà nói mười danh hiệu, mười danh hiệu là: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Mười danh hiệu này trong kinh nói là mười hiệu, hoặc gọi là danh xưng, giải thích chung có nghĩa ngang bằng, phân biệt theo tướng, hiển bày thể làm danh, nêu đức gọi là xưng. Danh xưng hiển bày ra bên ngoài, làm hiệu lệnh cho thiên hạ, nên nói đó là hiệu. Trong mười hiệu năm hiệu trước là đức tự lợi, năm hiệu sau là lợi tha. Thì trong tự lợi được chia làm hai cặp: Đầu tiên là hai đối một, trước nói đạo viên, sau làm rõ diệt cực; sau cùng là ba đối một, trước hai nhân viên, sau một quả cực. Đầu tiên Như Lai: Nước ngoài gọi là Đa-đà A-già-độ, cũng gọi Đa-đà A-già-đà, Hán dịch là Như Lai, đây mới chính là đức để đặt danh hiệu Như Lai. Trong đức không định, hiểu rõ hai nghĩa:

  1. Y cứ vào lời Phật để hiểu: Như kinh Bát-nhã giải thích, như lời của chư Phật ba đời đã nói không dời đổi, nên gọi là Như, Phật Như mà Lai nên gọi là Như Lai. Nếu từ giải thích này thì theo nghĩa mà đặt tên.
  2. Giải thích theo lý: “Như” là như lý, “Lai” là đức này, nên ngài Long Thọ nói: “Thừa như thật đạo, Lai thành Chánh giác”; nói: Như Lai, kinh Niết-bàn nói: “Thừa sáu Ba-la-mật, mười một không mà lai, cho nên nói Như Lai, phải nên biết đây cũng giải thích theo lý mà thôi.

     

Nếu từ nghĩa này, thì tên Cảnh Đức của Như Lai họ với phẩm đề, lại theo những thứ này chia ra giải thích khác nhau. Dẫn lời “Thừa Như Lai thành Chánh giác gọi là Như Lai:

Theo người chứng đạo hiểu được nghĩa Như Lai. Chẳng phải không Như gọi là Như Lai, người giảng dạy đạo giải thích được hai chữ Như Lai; “Nương sáu Ba-la-mật, mười một không mà lai gọi là Như Lai:

Y theo bất trụ đạo để hiểu Như Lai, phân biệt tướng cũng giống như vậy, suy xét tìm cầu những thứ này chung thành một nghĩa. Đức Phật dựa vào lý mà thành tựu nên nói: Thừa Như Lai thành Chánh giác, thừa như do hành, hành gọi là sáu độ. Nên lại giảng nói: Thừa sáu Bala-mật, mười một không mà lai.

Nghĩa mười một không, như ở trên có trình bày rộng, ở đây giống như vậy. Bên trong chứng khó rõ ràng. Dựa vào lời nói để hiển bày, cho nên lại nói: đều đúng như lời nói. Hiệu thứ hai là Ứng Cúng, nước ngoài gọi là A-la-ha, Hán dịch là Ứng Cúng, hiệu này cũng theo đức để đặt tên Như Lai. Trong đức ấy không định, giải thích có bốn nghĩa:

  1. Giải thích theo đối chướng, như kinh Niết-bàn nói: “Tất cả pháp ác Phật ứng phó đoạn trừ nên gọi là ứng”.
  2. Giải thích theo đối pháp: Niết-bàn vắng lặng Như Lai ứng chứng, nên gọi là ứng.
  3. Giải thích theo đối nhân: tất cả chúng sinh được Như Lai ứng hóa nên gọi là ứng. Kinh Niết-bàn nói: “Ứng gọi là lạc, chư Phật quá khứ khi tu hạnh Bồ-tát, trong vô lượng kiếp, vì chúng sinh nên chịu các khổ não mãi, không lúc nào vui mà được thường lạc, nên gọi là ứng”.

Ba nghĩa trước một mạch theo nội đức để đặt tên Như Lai.

  1. Giải thích theo đối cúng: Trong đó có hai:
  2. So sánh Phật với người phàm phu để giải thích Ứng Cúng, các lỗi lầm Như Lai đều đã dứt sạch, ruộng phước thanh tịnh, xứng đáng thọ vật cúng dường nên gọi là Ứng Cúng, đây là một nghĩa. Đối cúng hiển đức;
  3. So người phàm phu với Phật để giải thích hai chữ Ứng Cúng, như kinh Niết-bàn giải thích: “Tất cả trời người, dùng các thứ như hương hoa v.v… dâng lên cúng dường Phật, nên gọi là Ứng Cúng, đây là một nghĩa. Nêu duyên hiển đức, phần đầu đã đối xong. Thứ hai trong đối, hai thứ trước là nhân viên, một cái sau là quả cực. Lại trong hai thứ trước, Chánh Biến Tri nói về sự hiểu biết viên mãn của Phật, Minh Hạnh Túc: là hiển bày sự viên mãn của Phật; Chánh Biến Tri trong kinh còn gọi là Đẳng Chánh Giác, đây cũng căn cứ theo đức để đặt tên Như Lai. Nhưng chính trong đức thể cảnh hợp với phẩm đề, chánh là lý này, lý được sự trợ giúp của vô lậu nên gọi là Chánh, ở đây nêu cảnh sự; còn giải thích theo lý cùng tột, nên gọi là Biến tri; xưng lý mà biết nên nói là Đẳng giác; Đẳng do biến, giác do tri. Ở đây nêu về thể của đức, như trong kinh Niết-bàn nói: “Lại có nhiều nghĩa, ở đây không thể nói đầy đủ”. Minh Hạnh Túc: hiệu này cũng theo đức mà đặt tên Như Lai. Đức của Phật rất nhiều do đó giải thích tên theo đức, nghĩa của nó cũng rất nhiều, ở đây chỉ lược nói có năm thứ:

1. Giải thích Minh Hạnh Túc theo nhân: Minh là chứng hạnh chứng pháp, hiển bày rõ ràng không mờ ám gọi là Minh; Hạnh là lời dạy thực hành, sáu Ba-la-mật như giới, định, tuệ v.v… tu khởi danh hạnh, hai thứ đầy đủ trọn vẹn, nên gọi là Túc.

(864) 2. Giải thích Minh Hạnh Túc theo quả: Như kinh Niết-bàn nói: “Minh là giải thoát, để xa lìa sự ràng buộc tối tăm của vô minh; Hạnh là Bồ-đề, đạo hạnh viên mãn; Túc là quả Niết-bàn cùng cực”.

  1. Y cứ vào quả tìm ra nhân để giải thích Minh Hạnh Túc, như kinh Niết-bàn nói: “Minh là A-nậu Bồ-đề, ở đây nêu về quả. Hạnh: là giới tuệ, đây là hai chân, vì sao là hai chân? Vì từ đây sinh ra nguyên nhân của nó”.
  2. Từ nhân hướng về quả: giải thích Minh Hạnh Túc, như kinh Niết-bàn nói: “Được gọi là tâm không buông lung, xa lìa các sự si mê uế trược nên gọi là Minh; Hạnh: là sáu Ba-la-mật; Túc: là A-nậu Bồđề; Quả cực gọi là Túc”.
  3. Theo nghĩa mà nói chung: Minh: Nghĩa là ba minh, như Ngài Long Thọ nói là: “Túc mạng, Thiên nhãn và Lậu tận. Thật ra Ba minh này”, như kinh Niết-bàn nói: “1. Bồ-tát minh; 2. Chư Phật minh; 3. Vô minh là ba minh, Bồ-tát minh là Bát-nhã Ba-la-mật; chư Phật minh là Phật nhãn; Vô minh minh là mười một không, tánh kia chẳng được trí tuệ chiếu soi, nên gọi là Vô minh. Trí này tùy theo cảnh giới có thể sinh khởi trí minh, nên còn gọi là Minh”. Đã nói là Hạnh, như Ngài Long Thọ nói: “Giới, định, tuệ v.v…, đều gọi là Hạnh”. Kinh Niết-bàn nói: “Vì chúng sinh nên tu các nghiệp thiện, gọi là Hạnh”. Túc: Như trong phần thứ ba giải thích, đầy đủ cả phần chỉ quán, nên gọi là Túc. Kinh Niết-bàn nói: “Thấy rõ tánh Phật, thấy cùng tột nên gọi là Túc”.

Hỏi: Trong phần giải thích về Minh Hạnh Túc này có đầy đủ cả nhân quả, vì sao ở trước nói Biến tri, Minh hạnh để làm rõ nhân viên, ở đây theo nghĩa ban đầu đủ để phán đoán?

Đáp: Lại trong kinh luận thường giải thích theo nhân. Có nhiều

cách nói, nói Thiện Thệ: Đây là từ nghĩa đức để đặt tên Như Lai; Thiện là thích, Thệ là đi. Như Lai khéo đi, nên gọi là Thiện Thệ.

Hỏi: Như Lai quả đức cùng tột, đâu có đi đâu mà nói là khéo đi?

Giải thích: Quả này từ nhân mà đi, căn cứ theo nhân được quả nên nói là đi. Lại Phật, Như Lai tuy không có chỗ đi mà chẳng thể không đi nên gọi là Thiện Thệ. Như hết nạn lửa tuy không bị lửa thiêu đốt, nhưng vẫn còn bị lửa đốt cháy, hai chữ Thiện Thệ kia cũng giống như vậy. Trong đó chia ra làm ba thứ:

  1. Tu giáo hạnh: Y cứ vào quả giải thích, như kinh Niết-bàn nói: “Thiện: Nghĩa tâm ban đầu phát tâm tu đạo; Thệ: Là do tâm đắc Đại Niết-bàn”.
  2. Tu chứng hạnh: Y cứ theo quả giải thích, như kinh Niết-bàn nói: “Thiện: Nghĩa là thấy ở tánh Phật, Thệ là nhận thấy đắc Đại Niếtbàn”.
  3. Giải thích theo quả hai chữ Thiện Thệ, như kinh Niết-bàn nói: “Thiện: tức là tâm Như Lai, tâm Phật mềm mỏng không có cao ngạo, nên gọi là Thiện; Thệ: gọi là cao, ở vị A-nậu Bồ-đề chia ra “cao”, nên gọi là Thệ”. Năm hiệu trước là tự đức, năm hiệu sau là hóa đức. Trong đó bốn đức trước có thể giáo hóa muôn vật, đức còn lại để đời kính phục. Theo bốn đức trước, đầu tiên nói ai chuyển hóa được trí của người, hiểu rõ được thế gian; thứ hai nói ai chuyển hóa được năng đặt của người khác thì sẽ điều phục được tâm; thứ ba nói ai chuyển hóa được đức của người khác, thì nhà đức đầy đủ, thứ tư nói ai chuyển hóa hạnh của người khác thì giác hạnh viên mãn. Thế gian giải: Theo đức lập đặt tên, nhưng theo trong đức thể cảnh hợp với phẩm đề, thế gian là cảnh, còn giải là thể. Theo kinh Hoa Nghiêm, thế gian có ba:
    1. Chúng sinh thế gian.
    2. Khí thế gian, cõi nước trú xứ.
    3. Trí chánh thế gian, hai đế các pháp, ở đây đều giải, gọi là Thế gian giải, theo kinh Niết-bàn, thì thế gian có năm:
  • Chúng sinh thế gian: Như Lai có thể biết, gọi là Thế gian giải.
  • Năm ấm thế gian, Như Lai có thể biết, gọi là Thế gian giải, đây có sai khác giữa hai chúng sinh.
  • Cõi nước thế gian, Như Lai có khả năng biết rõ gọi là Thế gian giải.
  • Năm dục thế gian, Như Lai biết mà không đắm nhiễm, gọi là Thế gian giải.
  • Tám pháp thế gian, Như Lai biết mà không bị nghiêng động, gọi

là Thế gian giải. Đây là sự khác nhau giữa ba khí thế gian, chung cả trí giác kia. Nghĩa giải của thế gian gồm có sáu: Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu gom thành một hiệu, theo người đặt tên, gọi là Vô Thượng Sĩ là khen người tài giỏi hơn mình; Điều Ngự Trượng Phu là người có năng lực hơn mình. Sĩ là tiếng gọi riêng về người nào đó trong số người tối thắng, ngoài ra không thể có người nào hơn, gọi là Vô Thượng Sĩ, Vô thượng chia ra bảy thứ:

  1. Thân vô thượng: Là thân đầy đủ tướng tốt.
  2. Đạo vô thượng: Có đạo tự lợi, lợi tha.
  3. Chánh vô thượng: Có bốn chánh: Nghĩa là chánh kiến, chánh giới, chánh oai nghi và chánh mạng.
  4. Trí vô thượng: Có bốn vô ngại.
  5. Thần lực vô thượng: Có sáu món thần thông.
  6. Đoạn vô thượng: Dứt phiền não chướng và tri chướng.
  7. Trụ vô thượng: Có ba trụ, nghĩa là trụ Thánh, trụ Phạm thiên và trụ Thiên. Không vô tướng vô nguyện, diệt tận chánh thọ là người trụ ở bậc Thánh; Thực hành bốn tâm vô lượng là người trụ ở Phạm thiên; Thực hành tám thiền địa định là người trụ ở cõi trời. Bảy hạng này đều gọi là Vô Thượng Sĩ, trong kinh Niết-bàn chỉ có năm thứ, không có đạo vô thượng và thần lực vô thượng.
  • Điều Ngự Trượng Phu: Phật là Trượng phu, có khả năng điều phục trượng phu, cho nên hiệu Phật là Điều Ngự Trượng Phu.
  • Thiên Nhân Sư: đặt tên theo người, là bậc thầy có ích, ở cõi người có khả năng giáo hóa chúng sinh dứt ác tu thiện, nên gọi là Sư. Như Lai thật là bậc thầy của sáu đường, hàng trời người có thể vào đường Thánh, hưởng lợi ích rất nhiều, cho nên gọi là Thiên Nhân Sư.
  • Phật: Y theo đức mà đặt tên Như Lai, Phật là đấng giác tri, theo đây đặt tên gọi. Giác có hai nghĩa:
  1. Hiểu rõ ràng gọi là Giác, có người hiểu rõ đó là giặc.
  2. Giác ngộ gọi là giác, như người ngủ tỉnh giấc.

Giác của sự hiểu biết rõ ràng là đối với phiền não chướng, việc phiền não xâm hại v.v… như là giặc, chỉ có bậc Thánh hiểu biết mới không bị nó làm tổn hại, nên gọi là Giác. Trong kinh Niết-bàn nói: “Nếu người biết đó là giặc thì giặc kia không thể làm gì được. Phật cũng giống như vậy, biết được vô lượng các phiền não, khiến các phiền não không còn khổ để hại, nên gọi là Phật”. Giác của giác ngộ là đối với phiền não tri chướng, vô minh hôn trầm v.v… như ngủ nghỉ chỉ có bậc Thánh có trí tuệ vực dậy hoát nhiên đại ngộ, như ngủ được thức tỉnh, nên gọi là Giác. Đã tự giác biết được, lại có thể giác ngộ cho người giác hạnh viên mãn, nên gọi là Phật. Dẫn nói tự giác phân biệt khác với phàm phu, nói rằng giác tha, nói khác hai thừa, giác hạnh viên mãn, nói lên khác với Bồ-tát, cho nên độc nhất ở đây chỉ gọi riêng Phật. Thế Tôn: Phật đầy đủ các đức, được đời kính trọng, nên hiệu là Thế Tôn. Trong kinh ẩn tên Thế Tôn, hiển dương Bà-già-bà. Bà-già-bà là tiếng Phạm, Hán dịch có bảy nghĩa, như kinh Niết-bàn nói:

  1. Bà-già dịch là phá, Bà là phiền não, có khả năng phá trừ phiền não gọi là Bà-già-bà.
  2. Có khả năng thành tựu các pháp lành, gọi là Bà-già-bà.
  3. Có khả năng khéo hiểu nghĩa các pháp, gọi là Bà-già-bà.
  4. Có công đức lớn không ai hơn, gọi là Bà-già-bà.
  5. Có tiếng tăm vang khắp mười phương, gọi là Bà-già-bà.
  6. Có khả năng bố thí nhiều thứ, gọi là Bà-già-bà.
  7. Trong vô lượng A-tăng-kỳ kiếp, đã bỏ nữ căn gọi là Bà-già-bà. Các phiền não xấu là gốc của nữ căn, Như Lai xả bỏ hết nên gọi là thổ.

Mười hiệu như thế.

– Nghĩa mười Lực chia làm tám môn:

  1. Giải thích tên gọi;
  2. Nói về thể;
  3. Nói về tướng;
  4. Giới hạn khác nhau;
  5. Tác nghiệp không đồng;
  6. Nghĩa thứ lớp;
  7. Phân biệt giáo hóa giáo thọ;
  8. Những điều Đại thừa, Tiểu thừa nói khác nhau.

1) Giải thích tên gọi có mười Lực:

  1. Như Lai thị xứ phi xứ trí lực.
  2. Tự nghiệp trí lực.
  3. Định lực.
  4. Các căn lợi độn trí lực.
  5. Dục lực.
  6. Tánh lực.
  7. Chí xứ đạo lực.
  8. Túc mạng trí lực.
  9. Thiên nhãn trí lực.
  10. Lậu tận trí lực: Phật tùy theo căn cơ giáo hóa Nhị thừa nên nói mười thứ này, Ương-quật-ma-la nói: “Đức Phật có mười Lực, Thanh văn thừa ở đây chẳng phải là Ma-ha-diễn; Đại thừa có vô lượng lực, nên Phật không thể nghĩ bàn”.

1. Đầu tiên nói Như Lai thị xứ phi xứ trí lực: Như phần thứ tám giải thích, quả báo khổ vui v.v… dựa vào nhân khác nhau, gọi là Thị xứ. Nhân khác nhau tướng trái nghịch nhau nên gọi là phi xứ. Y theo lời giải thích này, gọi là Trí. Lực có hai nghĩa; như phần giải thích nên.

  • Tự thực hành xả bỏ tất cả ma quân được thù thắng, nên gọi là Lực.
  • Theo lợi tha, có thể đem lại tất cả lợi ích cho chúng sinh, nên gọi là Lực. Đáng lẽ ra lực này biết tất cả pháp là phi nghĩa, vì các ngoại đạo phần đông mê mờ nhân quả. Đức Phật vì họ giáo hóa, cho nên phần nhiều giải thích theo nhân quả.

2. Tự Nghiệp Trí Lực: Tạo tác gọi là Nghiệp, vì phân biệt nhưng ngoại đạo nên nói nghiệp không có nhân, nhân điên đảo v.v…, nói là tự mình. Làm lành là an vui tự nghiệp của chính mình, làm ác là đau khổ tự nghiệp của chính mình. Theo lời giải thích này, gọi là nghiệp trí lực.

  • Hỏi: Lực này không biết ngay là nghiệp, cũng biết phiền não và bốn pháp thọ, vì sao không gọi nghiệp lực.
  • Giải thích: Trong kinh có vô lượng pháp môn, tức là nghĩa này, hễ cho nghiệp là nhân của phiền não khổ vui, y cứ vào đó nêu ra, nên chỉ nói riêng về nghiệp lực, tìm quả biết nhân, nên nêu nghiệp phiền não, quả khổ vui. Lại biết bốn thọ, cái gì là bốn thọ: Có pháp ở hiện tiền khổ mà về sau thọ vui; có pháp hiện tiền vui mà sau chịu khổ; có pháp hiện tiền khổ về sau cũng chịu khổ; có pháp hiện tiền vui về sau cũng thọ vui, những thứ này gọi là bốn pháp thọ.
  1. Định lực: Tâm an trụ không loạn, gọi là Định. Ở trong định tự tại gọi là định lực, lại biết được định cũng gọi là Định lực. Định lực này, không biết ngay đó là định, cũng biết đó là không định, lấy định làm chínhnên gọi là Định lực. Lại có thể biết đó là định cũng gọi là Định lực, chẳng biết ngay đó là định, cũng biết là không định, lấy định làm chính gọi là Định lực. Như lậu tận thông chẳng biết đó là tận, cũng biết không phải tận, lấy tận làm chính gọi là Lậu tận thông, thì đây cũng giống như vậy.
  2. Căn lực: Thuở xưa có huân tập Tín – Tấn – Niệm v.v… hôm nay thành tựu, ngày sau sẽ sinh, nên gọi là Căn, biết phân biệt căn lớn nhỏ lợi độn v.v… gọi là căn lực. Lực này chẳng biết ngay đó là gốc lành, cũng biết đó là căn bất thiện, vô ký v.v… biết là thọ pháp, trong kinh có nói nhiều về thiện.
  3. Dục lực: Trong kinh có chỗ gọi Hy vọng lực, hoặc gọi là giải lực. Nói giải lực: Theo ban đầu làm danh, trước sinh tín tâm hiểu sau khởi Hy dục, cho nên theo pháp ban đầu gọi là giải lực. Từ Tín giải trước sau khởi Hy dục, cho nên theo phần sau gọi là Dục lực, Hy vọng lực thôi. Lực này không biết thằng đó là Thiện dục, cũng biết được đó là dục bất thiện, vô ký, v.v… biết là trao pháp, trong kinh nói nhiều về thiện.
  4. Tánh lực: Trong luận Địa Trì quyển tám gọi là Giới Trí lực, hoặc gọi Sử Trí lực. Nói tánh và giới biết cả thiện ác. Nếu nói Sử Lực chỉ biết bất thiện, quen với dục không sửa đổi, gọi là Tánh. Giới là giới biệt, phân biệt tánh Ba thừa gọi là giới. Theo lời giải thích này gọi là Tánh lực và Giới trí lực. Tánh quen thành xấu ác, tùy người không bỏ, lại hay bị ràng buộc, ác do Công Sử, nên gọi là sử. Y theo lời giải thích này gọi là sử trí lực, vì muốn dựa vào đây mà trao đối trị nên nói là Tri sử.
  5. Chí Xứ Đạo Lực: Quả báo khổ vui v.v… là chỗ hướng về đến nhân thiện ác v.v…gọi là nơi hướng về đạo. Y theo lời giải thích này gọi là Chí Xứ Đạo Lực.

    Hỏi: Lực ban đầu đã biết nghiệp quả, đâu phải lực này?

Luận Thành Thật giải thích: “Lực ban đầu biết chung, lực này biết riêng, biết nhân như vậy chịu quả như vậy; biết quả như vậy báo đáp nhân như vậy. Lại nữa, lực ban đầu biết đúng biết sai, lực này biết nhân có khả năng sinh quả, cũng lại biết quả từ nhân sinh, có sự khác nhau này nên phải phân biệt”.

  1. Túc mạng lực: sự việc đã qua gọi là Túc, pháp thường nối tiếp nhau, xem đó là mạng. Y theo lời giải thích này gọi là Túc mạng lực.

– Hỏi: Lực này chẳng biết ngay đó là Mạng, cũng biết quá khứ việc tám chủng lục chủng đồng hành, vì sao chỉ gọi là Túc mạng lực ư ?

Đây nếu giải thích theo sáu tông ở trước, mạng là chủ quả báo nên nói riêng về mạng. Lại nữa, trong tám thứ mạng được chia ra làm nhiều thứ, nên chỉ nói về Mạng, lại mạng sau cùng là y cứ ở sau nói Mạng.

  1. Thiên nhãn lực: Trong kinh cũng gọi là sinh tử tri lực, dấy khởi hết ở vị lai gọi là sinh tử. Theo lời giải thích này gọi là sinh tử trí lực, tất cả thiền định gọi là Thiên trụ. Nương thiền đắc nhãn gọi là Thiên nhãn, dựa vào Thiên nhãn, soi thấy tự tại gọi là Thiên nhãn lực.
  2. Lậu tận lực: Kiết hoạn đấy rồi, gọi là lậu tận, theo lời giải thích này gọi là Lậu tận lực. Đây chẳng biết ngay đó là lậu tận, cũng biết không tận và lậu tận, phương tiện đã khởi chưa khởi, đều biết lậu tận, tâm tăng thượng mạn có khởi không khởi. Lấy tận làm chính, nói riêng Lậu tận lực danh nghĩa như vậy.

    2) Thứ hai là Định thể: Trong đó phân biệt cục bộ có năm môn:

    1. Nói chung về định thể.
    2. Phân biệt theo năm thứ mắt.
    3. Phân biệt theo bảy thông.
    4. Phân biệt theo mười một trí.
    5. Phân biệt theo bốn niệm.
  3. Đầu tiên là nói chung về định thể: mỗi người nói khác nhau, như Luận Địa Trì nói: “Có người giảng nói: năm căn như Tín v.v… là lực thể tánh; có người lại nói trí tuệ làm thể”. Những điều Địa Trì tồn tại trí tuệ làm thể, nên kia là văn ngôn. Kinh nói xứ phi xứ trí lực, không nói các lực như xứ phi xứ tín v.v… Tất cả biết rõ như vậy. Mười Lực dùng trí làm thể, chẳng phải là tín v.v…định chung như vậy, đây là xong môn thứ nhất. Kế đến, phân biệt hai môn năm thứ mắt.
  4. Năm thứ mắt như ở trên đã trình bày: năm thứ mắt là: 1. Nhục nhãn; 2. Thiên nhãn; 3. Tuệ nhãn; 4. Pháp nhãn; 5. Phật nhãn. Trong năm thứ mắt thì nhục nhãn lấy sắc pháp làm thể, Thiên nhãn là một thứ nghĩa gồm cả hai nghĩa:
    1. Sắc pháp làm thể, chiếu hiện hình sắc.
    2. Trí tuệ làm thể, tiêu biểu cho việc sinh tử ở vị lai. Ngoài ra còn có ba thứ, chỉ có trí làm thể, năm thứ mắt như vậy. Mười Lực và bốn nhãn sau tự tánh là nhục nhãn còn lại. Theo mười Lực, biết cảnh xứ phi xứ ban đầu rộng rãi, biết thấu suốt các pháp là chẳng thật, đầy đủ bốn tánh về mắt. Thứ bảy là Chí xứ đạo lực cũng vậy, biết rõ những nơi hướng về ở vị lai, tức là Thiên nhãn; biết năm độ môn là Chí xứ đạo, tức là pháp nhãn; biết không vô ngã là Chí xứ đạo, tức là mắt tuệ. Rõ biết tạng Phật tánh của Như Lai là Chí xứ đạo, tức là mắt Phật; Trong nghiệp lực, đầy đủ hai tánh mắt, thấy nghiệp tánh tạo tác như thân, miệng, v.v… tức là tánh mắt trời; Thấy phiền não khởi và suy nghĩ v.v… tức là tánh mắt pháp. Định căn dục tánh túc mạng lậu tận, sáu lực này, là tánh mắt pháp. Thiên nhãn lực: Tức là tánh thiên nhãn, năm thứ mắt như vậy, đây là xong môn thứ hai.
  5. Phân biệt ba môn bảy thông: Về sáu thông trước lại thêm pháp trí thông, thành bảy thông. Đối với các tướng pháp biết rõ vô ngại. Pháp trí thông này, trong mười Lực thì Túc mạng lực, tức là Túc mạng thông; Thiên nhãn lực, tức là Thiên nhãn thông; Lậu tận lực, tức là Lậu tận thông. Định căn dục tánh, bốn lực này là Tha tâm thông để biết được tâm. Xứ phi xứ lực nghiệp lực cho đến Chí xứ đạo lực, ba thứ này là Pháp trí thông, ở đây chỉ lược nói như vậy, trong mỗi thứ sẽ nói tỉ mỉ hơn.

Trong Xứ phi xứ lại có đủ bốn thông, biết nhân quả của nó ở quá khứ đúng sai tức là Túc mạng thông, biết nhân quả của nó ở vị lai đúng sai tức là Thiên nhãn thông, biết nghĩa lậu tận của nó đúng sai tức là Lậu tận thông, biết được nghĩa của tất cả phải quấy tức là Pháp trí thông. Trong nghiệp lực, có đủ ba thông: biết nghiệp quả ở đời quá khứ khác nhau tức là Túc mạng thông, biết nghiệp đắc quả ở đời vị lai tức là Thiên nhãn thông, hiểu biết tất cả nhân quả đạo lý tức là Pháp trí thông.

Trong Chí xứ đạo có đủ bốn thông: Biết đạo ở đời quá khứ đã hành tức là Túc mạng thông, biết đời vị lai đã đến tức là Thiên nhãn thông, biết quả đã đến ở lậu tận tức là Lậu tận thông, biết rõ dụng mạnh mẽ của hai trí đế, gọi là Lực. Thân thông chỉ có thể chuyển biến việc hiển hiện, không thể đối với pháp biết cùng tận vô ngại, trí lực không mạnh nên không gọi là Lực. Thiên nhĩ chỉ lặng nghe âm thanh phát ra, không thể đối với pháp biết cùng tận vô ngại, trí lực không mạnh nên không gọi là Lực. Thiên nhãn như thế chiếu soi sắc hiển hiện, vì sao gọi là Lực. Nếu nói là Thiên nhãn thì hiện ngay màu sắc, thật ra không gọi là Lực. Vì Thiên nhãn kia thấy các chúng sinh tận mé vị lai chết đây sinh kia, thấy một chúng sinh ở tận mé vị lai chết đây sinh kia, còn dùng để gạn hỏi, huống chi là tất cả. Vì gạn hỏi biết cái này mà có thể biết được cái kia, nên nói là Lực, vậy không có như thế có thể cho là không loại, đến đây là xong môn thứ ba.

  1. Môn thứ tư, y cứ vào mười một trí: để phân biệt nghĩa mười một trí, như trên đã trình bày đầy đủ, mười trí như khổ trí v.v… và Như thật trí, thành mười một. Trong pháp Tiểu thừa, nói Phật có mười Lực thuộc về Mười trí, trong pháp Đại thừa, nói Phật có mười Lực thuộc về Như Thật trí, tướng trạng của nó như thế nào.

Trước nói về Tiểu thừa, như Luận Tỳ-đàm nói: “Năng lực ban đầu rộng khắp có đủ mười trí tánh, biết tất cả pháp là phi nghĩa”. Nghiệp lực có đủ tám trí tánh, còn diệt đạo trí, diệt đế phi nghiệp, nên trừ diệt trí, vô lậu Thánh đạo, phá hoại sinh tử không chứa nhóm quả về sau; lại đã thuộc về phi nghiệp, nên trừ đạo trí.

Hỏi: Nghiệp lực biết nghiệp quả của nó phần đoạn sự thô, không thể sánh kịp lý, vì sao đầy đủ được khổ tập trí ?

Nghĩa hai trí khổ tập đã gạn hỏi đầy đủ, vì sao đầy đủ được pháp trí so với trí tận, Vô sinh trí.

Giải thích có ba nghĩa:

  • Nghĩa thứ nhất: Nghiệp lực của Như Lai, không biết ngay đó là Nghiệp, cũng không biết nghiệp quả. Đã biết quả thì chung cả sự và lý; đã biết nhân quả trong sáu đường khác nhau, thì thâu tóm được mọi việc; có khả năng biết được thì thuộc về trí. Về mặt nhân biết nhân huân tập nên có duyên, thì chung cả tướng lý, tức là lý tập; về mặt quả lìa biết khổ, vô thường, không, vô ngã v.v… thì chung cả tướng lý, tức là lý khổ. Biết đây chung cả tướng nhân và quả, cũng thuộc về nghiệp lực, nên đầy đủ trí khổ tập, v.v…
  • Nghĩa thứ hai: Nghiệp lực của Như Lai không biết ngay được nhân quả riêng ở thế gian, cũng biết tướng mỗi niệm sinh khởi nhân quả. Về nhân quả trong sáu đường kia, biết tướng mỗi niệm kia sinh khởi nhân quả, là lý khổ tập, nên có thể dùng trí để quán xét cho là trí khổ tập, v.v…
  • Nghĩa thứ ba: Nói nghĩa mười Lực, biết pháp cùng tột, sự đạt lý cùng, xưa nay biết mới gọi là lực. Nếu không rõ nguồn gốc, dẫu biết cũng chẳng phải Lực, nên trong nghiệp lực biết được nghiệp tướng của nó. Cũng biết nghiệp tánh, nghiệp tướng của nó, chính là các trí biết được lý nghiệp tánh khổ tập tức là pháp khổ tập trí so với trí v.v… Nên có đủ tám trí, Định căn dục tánh, bốn lực này, mỗi lực có chín trí tánh, ngoại diệt trí biết là hữu lậu là các trí và khổ tập trí; đã biết vô lậu tức là trí pháp đạo so với các trí v.v… những trí này nói chung là Tha tâm trí. Diệt chẳng phải là tâm pháp, nên trừ diệt trí.

Hỏi: Các trí này biết được tâm và các việc của nó, vì sao đầy đủ được trí khổ tập, v.v…?

Đáp: Thế nên như ở trên giải thích, sự đạt lý cùng tột mới gọi là Lực, nên đầy đủ trí khổ tập. Trong Chí xứ đạo có đủ mười trí tánh, đã biết rộng, nên Túc mạng, Thiên nhãn đồng trí tánh, nên biết được đời riêng biệt chẳng có lý chung.

  • Hỏi: Ở trước nói biết sự và lý mới gọi là Lực, đây đã là Lực, sao không biết Lý?
  • Giải thích: Nguyện lực của bậc Thánh có khả năng thật biết đạo lý, nhưng đem phân biệt cục pháp hai đời thì nó trái ngược nhau, lý hẳn rộng thông, ngoài ra thì chẳng phải lý, cho nên không đầy đủ trí khổ tập v.v… Trong Lậu tận lực thì xếp trí bất định, nếu biết lậu tận gọi là

Lậu tận lực, thì sáu trí tánh, trừ đạo Khổ tập và Tha tâm trí, sáu trí tánh chẳng cùng tận.

Nếu chứng lậu tận gọi là Lậu tận lực, tám trí tánh, trừ các trí kia và trí Tha tâm, những trí có lậu không thể kiết hết, cho nên trừ bỏ. Vô học dứt cầu, không tìm tòi tha tâm, nên trừ tha tâm. Nếu người nào được lậu tận gọi là Lậu tận lực. Mười trí tánh do người lậu tận có đủ mười trí, đối với Tiểu thừa là như vậy.

Hỏi: Còn trong pháp Đại thừa thì thuộc về Như thật trí, nghĩa ấy như thế nào?

Đáp: Như Luận Địa Trì giải thích: “Lìa trí tăng thượng mạn gọi là trí Như thật, chẳng phải không biết nói dối là biết, nên gọi là Như thật”.

Hỏi: Cái gì thế ư ?

Luận giải thích; nghĩa là trí Thanh tịnh, trí Nhất thiết, trí Vô ngại. Vậy trí Thanh tịnh là trí ấy chứng lý đệ nhất nghĩa trí, tất cả vô ngại là trí Thế đế, biết pháp rộng rãi gọi là trí Nhất thiết, biết pháp tự tại gọi là trí Vô ngại.

Như trong chương ba trí ở trước đã giải thích đầy đủ, trong mười Lực. Lực đầu tiên thuộc về ba trí. Nghiệp định căn dục cùng với Tánh lực, trí Nhất thiết thuộc về trí Vô ngại. Chí xứ đạo lực, cũng thuộc về ba trí. Túc mạng, Thiên nhãn, cũng thuộc về trí Nhất thiết trí Vô ngại. Lậu tận trí lực cũng thuộc về ba trí, tự chứng lậu tận là trí Thanh tịnh. Biết Tha lậu tận là thuộc trí Nhất thiết trí Vô ngại, đến đây hoàn thành Bốn môn.

(5) Môn năm Y cứ vào Bốn niệm xứ phân biệt mười Lực: Bốn niệm xứ quán thể tánh là tuệ căn cứ theo đây. Thân thọ tâm pháp, là bốn niệm, nghĩa ấy như trên đã giải thích. Theo Luận Tỳ-bà-sa, dục lực và Túc mạng trí lực chỉ có pháp niệm xứ, ngoài ra còn chung cả bốn niệm. Nếu nói khác, lại phải phân biệt, Lực ban đầu rộng thông đầy đủ bốn niệm xứ, nghĩa ấy rất dễ biết. Nghiệp lực thứ hai cũng có đầy đủ bốn niệm, biết hai thứ thiện, bất thiện, năm ấm làm nghiệp nhân, là vì bốn niệm; Biết ấm khổ vui là nghiệp quả của nó, là quả bốn niệm.

  • Thứ ba là Định lực, hay gọi là tìm cầu Duy nhất pháp niệm, định là hành ấm thuộc về pháp niệm, theo nghĩa nói chung đầy đủ là Bốn niệm xứ. Biết giới định cộng, cũng thuộc về Định lực, tức là Thân niệm xứ. Lại biết theo định khởi biến hóa v.v… cũng thuộc về Định lực, nên biết cũng thuộc về Thân niệm xứ. Biết trong các thiền thọ hỷ lạc v.v… cũng thuộc về Định lực, tức là Thọ niệm xứ. Biết tâm ở trong định là Tâm niệm xứ; biết định số v.v… là pháp niệm xứ. Trong căn lực, biết căn tín v.v… gọi là căn lực. Nhưng niệm xứ, nếu nói biết chung hai mươi hai căn gọi là căn lực, thì đầy đủ bốn niệm: Biết các căn như mắt v.v… là Thân niệm xứ, biết năm thọ căn là Thọ niệm xứ, biết ý căn là Tâm niệm xứ, biết các căn như tín v.v… là pháp niệm xứ.
  • Thứ năm là Dục lực, hay gọi là tìm cầu Duy pháp niệm xứ, Dục là hành ấm thuộc về pháp niệm, nên Luận Tỳ-bà-sa nói: “Theo ý này, nếu dựa vào Đại thừa, biết chung sở dục, thì đầy đủ bốn niệm. Biết dục sắc v.v… tức là Thân niệm xứ; biết dục các thọ tức là Thọ niệm xứ; biết tâm kia lạc dục tương ưng, tức là tâm niệm xứ; biết pháp tâm dục và Sở dục tức là pháp niệm xứ”. Trong tánh lực, biết dục không đổi gọi là Tánh lực. Nhưng pháp niệm xứ: biết chung tánh khác của tất cả các pháp gọi là tánh lực, thì đầy đủ bốn niệm. Trong Chí xứ trung đạo, đã biết rộng về pháp, cũng đầy đủ bốn niệm; Biết bất tịnh v.v… là thân niệm xứ, biết những quả báo chí xứ khổ vui là Thọ niệm xứ. Đối với người nặng về chấp ngã, nên dạy phân biệt giới, trong giới có tâm tức là Tâm niệm xứ; biết từ bi v.v…là pháp niệm xứ. Túc mạng trí lực thì gọi là tìm cầu Duy nhất pháp niệm. Mạng là pháp, Luận Tỳ-bà-sa nói: “Nói theo đây thì lý thật trong đó cũng đủ bốn niệm. Còn tướng đầy đủ thì như thế nào” ?

Là Túc mạng lực, biết tám việc ở đời quá khứ sáu thứ đồng hành. Trong tám việc kia, biết sắc như vậy, ăn uống như vậy, tức là Thân niệm xứ, biết khổ vui như vậy là Thọ niệm xứ; biết danh tự kia và thọ mạng v.v… là pháp niệm xứ. Biết dùng tâm phân biệt quả báo ở đời quá khứ tức là Tâm niệm xứ. Lại Túc mạng lực, biết một đời cho đến vô số đời ở quá khứ biết sinh ấm thân thì đầy đủ bốn niệm. Thiên nhãn cũng vậy, thấy chúng sinh sinh ở đời vị lai thọ ấm thân đầy đủ bốn niệm xứ. Trong Lậu tận lực, biết lậu tận gọi là Lậu tận lực. Nhưng pháp niệm xứ, nếu chứng minh Lậu tận gọi là Lậu tận lực, thì có đủ bốn niệm. Tất cả pháp dứt trừ phiền não, nên thể tánh như vậy.

3) Môn thứ ba, phân biệt tướng: Trong đó chia làm ba môn:

  1. Phân biệt chung và riêng.
  2. Phân biệt rộng và hẹp.
  3. Phân biệt dài và ngắn.
  1. Nói chung và riêng: Năng lực đầu tiên vừa chung, vừa riêng, còn chín lực còn lại là riêng, bao gồm chín đều không thuộc nên ban đầu là chung. Trong đó phân ra còn lại chín lực, ngoài chín lực thì không thuộc. Lại nữa, năng lực ban đầu còn nên ban đầu là riêng. Như trong mười hai bộ kinh thì bộ Tu-đa-la vừa chung riêng, ngoài bộ ấy ra chỉ là riêng, giống với ở đây, kia bao gồm các bộ, đều thành một Tu-đa-la, nên ban đầu là chung, theo nghĩa phân biệt, còn mười một bộ, ngoài bộ ấy ra, thì không thuộc. Trở lại về Tu-đa-la, nói là riêng, lại cũng như ba nhóm tịnh giới kia: nhóm đầu tiên là giới luật nghi vừa chung, vừa riêng, hai nhóm còn lại là riêng. Nhiếp chung ba nhóm đều là luật nghi, nên ban đầu là chung, chia riêng còn có hai, ngoài những cái đó ra thì không thuộc. Lại trong luật nghi, ban đầu là riêng, ở đây cũng giống như vậy, đây là xong môn thứ nhất.
  2. Môn thứ hai phân biệt rộng hẹp: trong đó ban đầu y cứ vào nhân quả mà phân biệt, kế y cứ vào hữu vi và vô vi mà phân biệt, sau các pháp lý sự môn phân biệt.
  • Đầu tiên y cứ vào nhân quả mà phân biệt: Biết có nhân quả gọi đó là rộng, biết phân biệt nhân quả gọi là hẹp, theo mười Lực, xứ phi xứ lực, Chí xứ đạo lực danh thể đều rộng. Trong danh hiển chung cả nhân và quả, nên gọi là rộng. Thật ra lực này nhân quả đều biết, nên thể phải rộng. Nghiệp lực túc mạng sinh tử trí lực và Lậu tận lực, bốn thứ này danh hẹp thể rộng. Trong nghiệp lực, chỉ nêu nghiệp nhân, nên gọi là hẹp. Thật ra năng lực này biết nghiệp phiền não và bốn pháp thọ, nên thể phải rộng. Túc mạng lực, sinh tử trí lực và Lậu tận lực danh chỉ hiển quả, nên gọi là hẹp, thật ra lực này biết suốt nhân quả, nên thể phải rộng. Trong Túc mạng lực, biết đời quá khứ danh như vậy v.v… là quả của nó; trong sáu đồng hành biết thiện biết ác, là nhân của nó; Trong Thiên nhãn lực, thấy tạo tác các việc thân miệng, v.v…, biết đó là nhân; sau thân hoại mạng chung, đọa vào địa ngục v.v… biết đó là quả. Trong lậu tận lực, tự biết lậu tận biết luôn lậu tận của người khác, biết đó là quả; biết lậu tận dễ dàng khởi những gì đã khởi, những gì chưa khởi, biết đó là nhân, cho nên ở đây gọi là hẹp thể thì rộng.

Định căn dục tánh: Danh thể đều hẹp, danh chỉ nêu nhân, nên gọi hẹp; lực cũng biết nhân, nên thể phải hẹp, thật ra bốn thứ này cũng biết chung về quả, trong kinh nói rất nhiều về nhân theo các sự việc, đây là xong môn thứ nhất.

  • Môn thứ hai: Y cứ theo pháp hữu vi vô vi, để nói về rộng hẹp; biết chung là rộng, biết riêng là hẹp. Sắc tâm và phi sắc phi tâm là hữu vi; hư không thường diệt và chẳng thường diệt là vô vi. Theo mười Lực thì Xứ phi xứ lực, Chí xứ đạo lực danh thể đều rộng. Lực đầu tiên chung y cứ vào sinh tử. Niết-bàn: “Tất cả nhân quả là để biết đúng sai”. Năng lực thứ bảy xếp chung các pháp vào hai thứ chí xứ sinh tử Niết-bàn, để nói về đạo Như Lai, trong danh đầy đủ cả ý này, nên gọi là rộng. Năng lực thật biết thế, nên thể phải rộng, lậu tận một lực, danh hẹp thể rộng. Trong danh chỉ hiển biết đối với pháp lậu tận vô vi, nên danh phải hẹp. Lý thật lực này chẳng biết ngay là tận, cũng biết lậu tận là đạo phương tiện đã khởi chưa khởi, và biết lậu tận tâm tăng thượng mạn có khởi chưa khởi, biết chung là hữu vi và vô vi, nên thể phải rộng. Bảy lực còn lại, danh thể đều hẹp; danh hiển hữu vi nên gọi là hẹp, biết lực hữu vi nên thể phải hẹp, đây là xong môn thứ hai.
  • Kế đến môn thứ ba: Y cứ theo lý sự, mà nói về rộng hẹp; chân đế gọi là lý, thế đế gọi là sự; biết chung gọi là rộng, biết riêng gọi là hẹp. Xứ phi xứ và Chí xứ đạo đầu tiên, danh thể đều rộng. Trong năng lực đầu tiên, chung thì tất cả nói đúng nói sai, nên gọi là rộng. Lực thật biết chung lý sự đúng sai, nên thể phải rộng. Trong Chí xứ đạo năm độ môn là Chí xứ đạo, đây là sự của nó; Luận Trì Địa nói: Lý không vô ngã là Chí xứ đạo, đây là lý của nó; trong danh hiển bày việc này, nên gọi là rộng. Lực thật biết thế, nên thể phải rộng; một lực Lậu tận, danh hẹp thể rộng; danh hiển biết tận, nên gọi là hẹp. Lực này lý thật biết hết là sự, chứng tận biết lý; nếu không biết lý, lậu mãi không tận, thể đầy đủ nghĩa này, nên thể phải rộng. Bảy lực còn lại, danh thể đều hẹp, danh chỉ hiển bày sự, nên gọi là hẹp; Thể chỉ biết sự, nên thể phải hẹp (đây là xong môn thứ hai).

3- Môn thứ ba phân biệt về dài ngắn: Nói theo thời gian thì thời gian có nghĩa là ba đời. Trong mười Lực, một lực Túc mạng, trước dài sau ngắn, biết trước vô cùng, gọi là trước dài; không biết đời sau, nên gọi là sau ngắn. Một lực Thiên nhãn, trước ngắn sau dài; không biết quá khứ, gọi là trước ngắn; có thể biết hiện tại và đời vị lai, nói là sau dài. Còn lực thứ tám hiện tại và đời vị lai, nói là sau dài. Còn lực thứ tám đã biết chung cho cả ba đời, trước sau đều dài, xét tướng như vậy.

4) Môn thứ tư, rõ ràng mười Lực, ở đây chia ra khác nhau: Luận Địa Trì nói: Biết thiện được vui, biết ác là khổ, chẳng thọ điên đảo, gọi là Xứ phi xứ lực. Biết nghiệp thiện ác đắc quả không lui sụt không tạo tác không thọ, là nghiệp lực thiện ác; cho đến biết ở thiền kia giải thoát v.v… nghiệp này chẳng như vậy. Nghiệp lực cũng vậy, biết thiền giải thoát tam-muội chánh thọ, thị hiện ba thứ, giáo hóa chúng sinh là định lực của Thiền: Thân nghiệp hiện thần thông, miệng nói pháp, ý ở trong chánh niệm, gọi là ba thứ thị hiện. Cho đến biết các căn kia tương ưng với tâm Thiền định, cũng gọi là định lực. Luận Địa Trì nói: “Cho đến biết thiền kia thanh tịnh v.v…đều sinh tương ưng, gọi là Thiền giải thoát tam-muội trí lực, tịnh là tín, đều lấy tinh tấn, niệm, định, tuệ làm căn bản, nên nói Tịnh v.v… tương ưng với đây, đều sinh tâm định, gọi là Tịnh v.v… đều sinh tâm”.

Biết nghĩa như vậy, thuộc về định lực ở trước, chúng sinh Chánh tri thượng căn nhuần nhuyễn gọi là căn lực, cho đến biết các căn kia dễ dàng sinh mong cầu, tìm trước biết sau, cũng gọi là căn lực. Thật biết xuyên suốt mong cầu các thứ, gọi là dục lực, cho đến biết dục thành các thứ tánh, biết hạt giống của thế gian mỗi mỗi phân biệt khác nhau. Tìm trước biết sau, cũng gọi là dục lực; thật biết tâm tánh chúng sinh mỗi mỗi khác nhau, biết hạt giống của thế gian mỗi mỗi phân biệt khác nhau, gọi là tánh lực; cho đến biết tánh khởi đạo đến quả mỗi mỗi phân biệt khác nhau, tìm trước biết sau cũng gọi là Tánh lực. Nên Luận Địa Trì nói: “Cho đến biết pháp Niết-bàn và thuận giới đạo tích, cũng gọi là chủng chủng giới trí lực”.

Biết pháp Niết-bàn là nương theo chỗ đã đến của tánh trước; Thuật giới đạo tích cũng y theo đạo đã khởi của tánh trước, giới do ở tánh; tùy theo tánh nhỏ mà khởi đạo nhỏ; tùy theo tánh lớn mà khởi đạo lớn, gọi là thuận giới đạo tích. Biết nghĩa như vậy gọi là giới lực, cũng gọi là Tánh lực. Biết tất cả đạo các thứ phiền não, các thứ thanh tịnh mỗi mỗi đều có chỗ đến, gọi là Chí xứ lực; cho đến biết túc mạng ở đời quá khứ kia tất cả nhận hướng đến, cũng gọi là Chí xứ đạo trí lực. Thật biết tám việc ở quá khứ và sáu thứ đồng hành, gọi là Túc mạng lực. Tám việc: Trong sáu món thần thông ở trước, đã trình bày về danh của nó, nay lại nói về nó. Các luận nói không đồng, theo như Địa Trì thì:

  1. Danh như thế, biết danh tự ở quá khứ kia khác nhau.
  2. Tánh như vậy biết họ hàng ở đời quá khứ có khác, nghĩa là họ trương, họ Vương v.v…
  3. Sinh như vậy, biết nơi sinh ở đời quá khứ có khác, như sang hèn, v.v…
  4. Ẩm thật như thế, biết chỗ ăn khác nhau.
  5. Khổ vui như thế thọ quả báo có khác.
  6. Mạng sống lâu.
  7. Mạng cửu trụ như vậy cho đến nhiều năm.
  8. Tuổi thọ có thời hạn trung niên, chết yểu.

Nếu theo Địa luận, thêm sắc như thế, như đẹp xấu, v.v… Trong mạng chia làm hai, mạng cực thiên toán gọi là cửu trụ; hai thứ còn lại hợp thành thọ mạng, nên phân biệt biết, nói tám thứ này. Kia đây cộng lại gọi là đồng hành, đó là những gì? 1. Danh như vậy; 2. Tánh như vậy;

3. Sinh như vậy; 4. Ăn uống như vậy; 5. Thiện ác như vậy; 6. Tuổi thọ như vậy. Thật biết những thứ này gọi là Túc mạng lực, cho đến biết sự sinh tử ở đời quá khứ kia, cũng gọi là sinh tử trí lực; Biết sự sinh tử ở đời vị lai là sinh tử trí lực, cho đến biết ở đời vị lai chưa đắc lậu tận rốt ráo, tự ngã vẫn còn sinh tử, cũng gọi là sinh tử trí lực. Biết lậu tận rốt ráo kia tự ngã đắc pháp Niết-bàn, gọi là lậu tận lực, chia đều như vậy.

  1. Môn thứ năm mười Lực kia tạo nghiệp khác nhau: Như Luận Địa Trì nói: Xứ phi xứ lực nhân quả chân thật, rõ biết như thật, hàng phục nhân quả tranh luận với các Sa-môn, Bà-la-môn. Các Sa-môn, Bà-la-môn là người cầu tìm chân lý, nên chỉ nêu riêng, hoặc có người nói: “Làm lành chịu khổ, làm ác được vui”, trái với chánh thuyết, gọi là tranh luận. Lực đầu tiên thật biết việc sai trái của nhân quả, nên có thể hàng phục được. Từ nghiệp trí lực, từ chỗ tạo nghiệp, nghiệp này thọ quả báo, rõ biết như thật, hàng phục thí phước Sa-môn, Bà-la-môn. Có người cho rằng bố thí có phước, có người lại nói không phước, nên gọi là bố thí phước tranh luận. Thứ hai là nghiệp lực: Biết bố thí là có phước, nên sẽ hàng phục được. Lý hàng phục được tất cả, hạnh bố thí đầu tiên lại phải y cứ vào lời nói. Thứ ba là Định lực: Có hai thứ nghiệp:
  2. Nương vào Thiền định mà thị hiện ba thứ: dạy bảo chúng sinh là nghiệp giáo hóa chân chánh.
  3. Hàng phục, đối trị được sự tranh luận trái nghịch nhau, Sa-môn Bà-la-môn, là nghiệp hàng phục tà.

    Có người cho rằng: “Thánh đạo có thể trị, lại có người cho rằng:

hạnh khổ có thể trị, gọi là đối trị tranh luận trái nghịch nhau”. Nương vào định lực, như pháp dạy đúng, nên hàng phục được. Thứ tư là căn lực: Biết căn tánh chúng sinh cao, thấp, trung bình, mà nói pháp cho họ nghe. Thứ năm là Dục lực: Biết căn tánh các chúng sinh mềm mỏng ở bậc trung thượng, mà dạy họ tu tịnh giải thoát, lìa bất tịnh giải thoát. Thứ sáu là Tánh lực: Biết tâm tánh các chúng sinh mỗi mỗi khác nhau, mà nói cách trị, dạy dỗ đem lại lợi ích cho họ. Thứ bảy là Chí xứ đạo lực: Dùng năm độ môn dạy bảo chúng sinh, như các Thanh văn, là trao nghĩa không vô ngã. Như Luận Địa Trì nói: “Túc mạng trí lực, quán xét túc mạng, biết có hiện tại bởi do đời trước kia, hàng phục tranh luận đoạn thường với Sa-môn, Bà-la-môn”; Sinh tử trí lực, nói về các nơi chúng sinh vãng sinh, hàng phục sự tranh luận, đoạn diệt Sa-môn Bàla-môn; Lậu tận trí lực, khéo biết về lậu tận, hàng phục các nghi ngờ về giải thoát của Sa-môn, Bà-la-môn, tạo nghiệp như vậy.

  1. Môn thứ sáu nói về thứ lớp của nó: Như Luận Địa Trì nói: “Khi Phật đắc A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-bồ-đề, liền được mười Lực”. Sau theo hóa dụng thứ lớp hiện tiền, trong đó có ba:
  2. Dựa vào trí Thế đế khởi giáo hóa, theo thứ lớp đầu tiên đem Xứ phi xứ trí lực này, quán xét phần nhân quả của Thế đế; kế là dùng nghiệp lực quán nghiệp cõi Dục, mà nói pháp cho chúng sinh nghe, khiến họ xa lìa nghiệp ác, tu các nghiệp lành; kế là dùng định lực quán nghiệp của hai cõi thiền trên, để dạy các chúng sinh, nương theo đạo thế tục, dứt lìa các dục; sau đem căn lực chí lậu tận lực, dạy các chúng sinh, nương theo đạo xuất thế, dứt hẳn các dục.

Về phần này, trước dùng căn lực quán xét các căn tánh lợi độn của chúng sinh; kế là dùng dục lực quán sát sự mong cầu của nó; kế là dùng tánh lực quán sát tánh sai sử của nó; kế là dùng Chí xứ đạo lực, tùy chứng bệnh khác nhau, dùng năm độ môn mà dạy dỗ, thâu nhiếp làm cho tâm an trụ; kế đến dùng Túc mạng sinh tử trí lực dạy các chúng sinh, để xa lìa đoạn thường, an trụ Trung đạo.

Có các chúng sinh bị sự ràng buộc, không dứt phiền não, khởi tăng thượng mạn, nên sau dùng lậu tận trí lực dạy bảo chúng sinh, khiến họ dứt lìa phiền não, rốt ráo lậu tận. Đây là xong môn thứ nhất.

  1. Nương vào đệ nhất nghĩa trí khởi giáo hóa, về thứ lớp phần môn này: Trước dùng Xứ phi xứ trí lực này quán đệ nhất nghĩa, kế là dùng nghiệp lực quán cư sĩ tại gia tạo các thứ nghiệp, khiến họ tu tịnh nghiệp, kế đến dùng Định lực quán người xuất gia, khiến họ tu định hạnh, sau dùng căn lực chí lậu tận lực, khiến các chúng sinh giải thoát khổ não dùng đạo độ họ. Trong đó thứ lớp giống như với môn đầu tiên, đây là xong môn thứ hai.
  2. Nương vào trí duyên khởi pháp giới giáo hóa: Thứ lớp ra sao? Duyên khởi pháp giới này có pháp tướng, là thế đế; không pháp tướng là đệ nhất nghĩa, hữu vô đều lìa. Trong Như Lai tạng trải qua hằng hà sa pháp, tướng duyên khởi thành tựu gọi là Duyên khởi pháp giới. Trong đó, trước là dùng xứ phi xứ lực, quán duyên khởi pháp giới; kế là dùng nghiệp lực, quán chúng sinh ở thế gian tạo nghiệp như thế thọ quả như thế, kế là dùng định lực, vì chúng sinh khổ nên thị hiện ba thứ, để dạy bảo họ, khiến cho hiểu và có tín tâm, sau dùng căn lực Chí xứ đạo lực, dùng đạo độ thoát, khiến ra khỏi các khổ, trong đó thứ lớp giống như môn đầu tiên.
  3. Môn thứ bảy Phân biệt hai môn giáo hóa, giáo thọ: Như Luận Địa Trì nói: “Hai lực đầu là giáo hóa lực, tám lực sau là giáo thọ lực. Nói chung nhân quả, dạy bảo chúng sinh, giúp họ sinh ra tín hiểu, gọi là giáo hóa lực; hiển bày oai nghi đức hạnh, chỉ trao cái khúc mắc ở trong lòng, gọi là Giáo thọ lực”.

(869) Trong hai năng lực trước, xứ phi xứ đầu tiên, giáo hóa chúng sinh, khiến họ xa lìa nhân quả điên đảo. Thứ hai là nghiệp lực, giáo hóa chúng sinh, khiến họ xa lìa vô nhân vô quả. Trong bốn lực đầu của tám lực, biết vật tâm khí, bốn lực sau là trao pháp.

Theo bốn lực trước, tâm ban đầu tìm cầu là biết tâm tìm cầu.

Cái gì là tâm?

Nghĩa là thiền định; Vì sao gọi là Tâm? Vì định trụ ở duyên, ngừng nghỉ ngoài dụng của nó, ngừng dụng theo thể nên gọi là Tâm, tâm hướng về pháp môn gọi là cầu, ngoài cầu ra cũng vậy.

Thế nào là minh tâm?

Như Ngài Long Thọ nói: Trong tâm tán loạn tuệ không thể hấp thu pháp, như tơ lụa không dính các thứ bùn đất.

Nếu nương vào định lực mới có thể tiếp thu pháp, nên phải minh tâm, vì sao trước nói về định tâm?

Kinh nói không định, y như kinh Hoa Nghiêm nói: “Văn nhất xứ”, sau tánh lực mới bắt đầu nói định. Một chỗ kinh văn, chí xứ nói sau. Trong các kinh phần nhiều nói căn lực trước, giải thích có hai nghĩa:

  1. Theo tự giải thích: chư Phật, Như Lai tự trụ thiền định mới khởi hóa dụng, nên trước nói về định.
  2. Theo sự giáo hóa chúng sinh để giải thích: Trong năm căn của chúng sinh lấy tuệ làm chính, tuệ nói trước định, nghĩa ấy theo thứ lớp nên trước nói về tâm.

    Hai căn cầu: Biết căn cầu, cái gì là căn?

    Nghĩa là: Tín, tấn, niệm, định, tuệ… Vì sao là căn?

Như ở trước giải thích, trước huân tập cho thành tựu, về sau có thể sinh, nên gọi là Căn.

Vì sao nói về căn?

Nếu muốn thọ đạo pháp không có căn tánh thì không thể tiếp thu được, nên phải rõ căn.

Vì sao kế đến nói căn này, Giải thích có hai nghĩa:

  1. Theo lời giải thích ở trước, trong năm căn, lấy tuệ làm chính định nói sau tuệ, có nghĩa thứ lớp nên kế là nói căn.
  2. Theo lời giải thích sau, căn là trước khi thành tựu, dục là hiện tiện sinh. Trước khi thành tựu ở hiện tiền nên kế đến nói căn.
  3. Hy vọng cầu là biết hy vọng. Thế nào là hy vọng? Nghĩa là tâm ham muốn.

    Vì sao gọi là hy?

    Tâm ham muốn cầu pháp nên gọi là hy. Vì sao là nói về hy ?

Vì muốn thọ đạo pháp không mong muốn, không thể chấp lấy được, nên phải nói về hy. Vì sao kế đến nói về hy vọng.

Giải thích có hai nghĩa:

  1. Theo lời giải thích trước: căn là trước khi thành tựu, dục là hiện tiền sinh, căn nói sau dục, nghĩa này theo thứ lớp nên kế đến nói về hy.
  2. Theo lời giải thích sau: Đối với pháp mới bắt đầu cầu, gọi là dục, quen với dục không thay đổi, mới bắt đầu thành tánh, tánh nói trước dục, nghĩa này theo thứ lớp nên kế đến nói về ly. Bốn kiết sử cầu là biết kiết sử cầu, cái gì là kiết sử; nghĩa là tánh phiền não.

    Vì sao gọi là Sử ?

    Vì tánh thành phiền não, theo người trói buộc nên gọi là Sử.

    Thế nào là minh sử ?

Dục tùy theo tai hoạn mà trao cho cách đối trị. Vì sao nhận rõ theo thứ lớp ?

Giải thích có hai nghĩa:

  1. Theo lời giải thích trước, tập khí quen dục không sửa đổi, mới trở thành tánh kiết sử, đối với dục sau mới biết rõ đó là sử.
  2. Theo lời giải thích sau, trước cần phải biết bệnh, rồi mới trao thuốc, cho nên ở phía trước Chí xứ đạo lực kia, rõ biết tánh kiết sử. Bốn lực đã nói trên, biết vật tâm khí, dưới đây là bốn việc trao pháp. Trong đó đầu tiên trao cho pháp sự, khiến các chúng sinh an ổn tâm trong sự.

Túc mạng thiên nhãn; trao cho pháp lý, khiến sự kia hướng về Trung đạo. Cuối cùng nhất lậu tận, trao cho pháp quả, khiến cho họ được rốt ráo; trong khi đó tùy theo tai hoạn sai khiến cho mọi người khác nhau dùng năm độ môn dạy bảo họ. Đối với chúng sinh tham nhiều, dạy quán bất tịnh; đối với chúng sinh nặng về sân thì dạy tu từ bi.

Hỏi: Tham sân phiền não cõi Dục đang trái nghịch với định, người đắc thiền định, thì không còn lỗi này, hướng về định lực ở trước, biết định tâm người khác; người có định tâm, đã lìa tham sân, nay sao lại cho rằng chúng sinh nặng về tham dạy quán bất tịnh, chúng sinh nặng về sân dạy tu từ bi?

Giải thích: Người phàm phu tuy đắc thiền định chỉ mới hàng phục được phần khởi thô, do đó tánh sử vẫn còn, nên dạy cho họ điều này. Lại định lực trước, lấy định làm chính, gọi là định lực; trong đó cũng biết được người nào tâm không định người nào tâm định, tuy không sân si, vẫn còn điều này điều nọ, nên ở đây dạy môn quán bất tịnh v.v… người ngu nhiều dạy họ quán nhân duyên.

  • Hỏi: Đối với Thanh văn cho là độn căn nên dạy quán Bốn đế, không dạy quán nhân duyên, còn các Duyên giác lợi căn dạy quán nhân duyên. Nay vì sao lại cho rằng đối người nặng về ngu si dạy quán nhân duyên?
  • Giải thích: Ngu si có hai hạng:
  1. Chúng sinh tối tăm không hiểu biết, như con bò, con dê, v.v… không có khả năng phân biệt, gọi là ngu si.
  2. Chúng sinh căn tánh tuy thông minh lanh lợi vọng có kiến đặt, mê chánh nhân duyên quả, gọi là ngu si. Nên nay nói ngu si dạy quán nhân duyên, nghĩa ấy sẽ rõ ở môn sau. Tuy họ căn tánh ngu si thật ra còn chút thông minh lanh lợi, nên dạy quán nhân duyên, dạy quán việc làm vô minh ở quá khứ v.v… khiến họ biết nhân đã qua thấy mà xa lìa cái vô nhân. Dạy quán sinh già chết ở đời vị lai v.v… khiến họ biết được quả đời sau thấy mà xa lìa cái vô quả. Dạy quán danh sắc ở hiện tại, v.v… khiến họ biết cả nhân quả.

Hỏi: Về xứ phi xứ lực và nghiệp lực trước đã dạy nhân quả, nay lại dạy về Bồ-đề, khiến họ biết về nhân quả, cùng với hai lực kia có khác gì đâu?

Giải thích: Về xứ phi xứ lực ở trước v.v… tuy là dạy về nhân quả, theo lời nói mà khởi lòng tin, lìa bỏ các thô kiệt tà kiến, khi tâm chưa thấy pháp tánh thì kiết sử lại sinh khởi. Nay về mặt này, dạy quán nhân duyên, khiến tự mình thấy pháp, lại trừ bỏ tánh kiết sử. Còn sự vật người chấp ngã nhiều, dạy họ phân biệt giới, như dựa vào Luận Tỳ-đàm dạy quán sáu giới, gọi là phân biệt giới, bốn đại và không, thức là sáu giới. Lại kinh Niết-bàn nói: “Quán mười tám giới gọi là phân biệt giới”. Đối với người giác quán nhiều, dạy họ quán sổ tức, những thứ này trong chương năm độ trước đều có phân biệt rộng.

Theo sự nhập lý, kế là dùng Túc mạng thiên nhãn dạy họ. Nếu dùng Túc mạng lực, dạy quán về quá khứ, thì khiến họ biết được pháp hiện tại theo nhân quá khứ sinh thể tánh phi thường. Nếu dùng Thiên nhãn lực, dạy quán về vị lai, thì khiến họ biết được pháp hiện tại thể tánh sinh mãi mãi về sau không gián đoạn, chẳng phải thường chẳng phải đoạn gọi là Trung đạo.

Hỏi: Về phần Chí xứ đạo trước đối với chúng sinh ngu si thì dạy quán nhân duyên, trong khi quán nhân duyên thì biết được nhân quá khứ, sao phải dùng Túc mạng trí lực dạy quán nhân quá khứ? Khi quán nhân duyên cũng biết được quả về sau, sao phải dùng Thiên nhãn trí lực dạy quán quả tương lại.

Giải thích: Túc mạng thiên nhãn đã dạy không khác gì với nhân duyên, nhưng tâm nhập vào pháp thì có thứ lớp; trước dạy nhân duyên có thể biết ngay việc nhân quả ở quá khứ vị lai, chưa thể dùng sự để nghiệm lý kia. Nay ở đây dùng sự nghiệm lý, sâu cạn khác nhau, nên phải dạy; tâm của chúng sinh đã dạy, tuy nhập vào lý bị hạn chế trình bày, chưa có chỗ rốt ráo sinh ý nghĩ rốt ráo, cho nên thường khởi bốn thứ tâm kiêu mạn:

  1. Bất tác tác tăng thượng mạn.
  2. Bất đắc đắc tăng thượng mạn.
  3. Bất xúc xúc tăng thượng mạn.
  4. Bất chứng chứng tăng thượng mạn.

Cho nên phải dùng lậu tận trí lực dạy trừ bỏ bốn thứ kiêu mạn để chứng lậu tận. Bốn thứ kiêu mạn có gì khác nhau?

Trong hạnh có hai môn: 1. Giáo; 2. Chứng. Trong sự thuộc về hạnh, nương vào giáo mà tu khởi gọi là giáo hạnh, khế hợp với lý hạnh như thế gọi là chứng. Hai thứ hạnh này, mỗi hạnh có sự khởi đầu và kết thúc. Giáo hạnh đây mở đầu tạo duyên tu khởi, gọi đó là Tác; nhưng ở đây chưa tác, tự cho là đã tác, nên gọi là Bất tác tác tăng thượng mạn.

Giáo hạnh kết thúc và thành tựu gọi là Đắc; Ở đây chưa Đắc, tự cho là đã Đắc, gọi là Bất đắc đắc tăng thượng mạn.

Mở đầu chứng hạnh, tâm pháp hiện tại vị lai được tâm giác biết, gọi là xúc; ở đây chưa xúc, tự cho là xúc, gọi là bất xúc xúc tăng thượng mạn.

Kết thúc chứng hạnh, dứt sạch tâm liễu ngộ pháp, gọi là Chứng; ở đây chưa chứng, tự cho là đã chứng, gọi là bất chứng chứng tăng thượng mạn.

Phá trừ tâm kiêu mạn ban đầu, khiến bất tác kia thành thật tác; phá trừ tâm kiêu mạn thứ hai, để bất đắc kia thành thật đắc; phá trừ tâm kiêu mạn thứ ba để bất xúc kia thành thật xúc; phá trừ tâm kiêu mạn thứ tư, để bất chứng kia thành thật chứng. Thật đức thành tựu, gọi là chứng lậu tận, như luận Địa Trì nói: Tám sự dạy bảo này thuộc về ba xứ. Năm sự đầu làm một xứ, đối với người chưa trụ tâm, khiến họ buộc niệm duyên theo; hai sự kế tiếp làm thành một sự, đối với người đã trụ tâm thuyết đắc tự nghĩa, chánh phương tiện đạo lậu tận Niết-bàn, nghĩa làm lợi cho chính mình gọi là tự nghĩa, lý hợp với chánh quán, cùng với kia làm nhân, hướng về nghĩa kia gọi là tự nghĩa; sau cùng là chánh phương tiện đạo làm một xứ, đối với người chưa rốt ráo rốt cục khiến được rốt ráo, dạy dỗ giáo hóa, ở đây lược nói như vậy.

8) Môn thứ tám, nói về những điều Đại Tiểu thừa nói không, có bảy thứ khác nhau:

  1. Thể tánh khác nhau: Tiểu thừa nói tâm vọng là thể, nói hiểu biết sự việc kia là lực thể; còn Đại thừa nói chân tâm là thể, tám thức chân tâm là lực thể?
  2. Trí hạnh khác nhau: Trong pháp Tiểu thừa, nói mười Lực mười trí của Phật làm thể; trong pháp Đại thừa, nói mười Lực của Phật dụng như thật trí lấy đó làm thể.
  3. Tâm duyên khác nhau: trong pháp Tiểu thừa, nói mười Lực của Phật đối với pháp phan duyên phân biệt mà biết; còn trong pháp Đại thừa, nói mười Lực của Phật đối với pháp không duyên mà có thể biết khắp, như tấm gương chiếu vật không có duyên niệm, các đức cũng đều như vậy. Vì sao lại như vậy? Như Tiểu thừa đã nói, ngoài tâm có pháp, ngoài pháp có tâm, tâm pháp khác thể, vì khác thể, nên hướng ra bên ngoài chấp cảnh; Trí ở trong duyên, phan duyên hiểu rõ, gọi là Lực, nên có duyên niệm. Còn Đại thừa đã nói, tâm ngoài không pháp, pháp ngoài không tâm, tâm pháp đồng thể, vì đồng thể, nên không cần hướng ra bên ngoài phan duyên chấp pháp; tất cả các duyên đều hiển hiện trong trí gọi là Lực, như ở thế gian muôn vạn hình tượng trong gương hiện ra nên không có duyên niệm.
  4. Hiểu pháp khác nhau: Trong pháp Tiểu thừa, nói mười Lực của Phật chỉ có thể rõ biết ấm giới, các nhập, mười hai nhân duyên, bốn chân đế v.v… không nói đến nghĩa khác. Còn trong pháp Đại thừa, nói mười Lực của Phật biết cùng tột tất cả, cho đến tạng tánh sâu xa của Như Lai đều có thể tự biết.
  5. Nhiều ít khác nhau: Trong pháp Tiểu thừa, nói mười Lực không nhiều không ít. Còn trong pháp Đại thừa, tùy theo sự giáo hóa chúng sinh, nói mười Lực của Phật, lý thật thì Phật lực vô lượng vô biên. Kinh Ương-quật-ma-la nói: “Mười thứ lực của Phật, đó là Thanh văn thừa”. Đây chẳng phải là Ma-ha-diễn, Đại thừa có vô lượng lực, nên Phật không thể nghĩ bàn.

Hỏi: Phật lực thật có vô lượng, vì sao theo sự giáo hóa chúng sinh chỉ nói có mười thứ ?

Ngài Long Thọ giải thích: “Vì mười thứ này độ sinh đầy đủ”. Thế nào là cụ túc? Hai thứ đầu là giáo hóa lực túc, tám thứ sau là giáo thọ lực túc, như trên đều rõ ràng.

  1. Thường, vô thường khác nhau: Trong pháp Tiểu thừa, nói mười Lực của Phật thể tánh mãi quy về Ma diệt hướng nhập vô dư. Còn trong pháp Đại thừa, nói mười Lực của Phật dụng có hưng phế thể chân thường trụ, vô vi không thay đổi.
  2. Đắc độ khác nhau: Trong pháp Tiểu thừa, nói mười Lực của Phật dưới cội Bồ-đề khi Ngài thành Phật là Đắc. Còn trong pháp Đại thừa, nói mười Lực của Phật chứng đắc lần lượt từ nhãn giới phần chứng tánh đến quả vị Phật mới viên mãn. Trong luận Địa Trì nói: “Bồ-tát thành tựu mười Lực chủng tánh gọi là Lực chủng tánh”.

Hỏi: Trong ba tạng giáo giảng nói mười Lực là công đức của Phật, còn người chưa chứng đắc quả vị Phật, vì sao nói như vậy?

Ngài Long Thọ giải thích: “Vì làm tăng thêm lòng tin đối với các Thanh văn, Bồ-tát, lại muốn cho các vị ấy khởi lòng mong cầu, lại nữa muốn khiến họ khởi tâm niệm Phật tam-muội, và muốn cho ngoại đạo kia được hàng phục, thế nên có khác”.

Hỏi: Trong mười Lực này, lực nào cao nhất, mỗi người nói mỗi khác. Ngài Long Thọ trình bày: “Có người nói: lực đầu tiên là cao nhất, vì nó thâu nhiếp cả mười Lực”. Có người nói: “lậu tận lực là cao nhất, vì nó dẫn đến Niết-bàn”; lại có người nói: “Mười Lực mỗi lực ở vào sự việc của nó là cao nhất, có thể biết xứ phi xứ, lực đầu tiên là cao nhất cho đến lậu tận lực thứ mười là cao nhất, tất cả như thế”; Có người nói: “Mười Lực đều lấy vô ngại giải thoát làm gốc, tất cả đều tăng thượng không hơn không kém”.

6. NGHĨA MƯỜI TÁM PHÁP BẤT CỘNG. Chia làm sáu môn:

  1. Nêu tên gọi tướng.
  2. Đúng sai.
  3. Thể tánh.
  4. Phân biệt theo xứ.
  5. Phân biệt ba nghiệp.
  6. Phân biệt bốn duyên.

1. Nêu tên gọi tướng: Theo môn đầu tiên, trước giải thích chung về Danh, kế phân biệt, sau cùng là giải thích. Mười tám pháp bất cộng, như Đại Phẩm nói: Công đức của Như Lai khác với các thứ khác, gọi là pháp bất cộng. Tóm lại, tất cả công đức đều gọi là bất cộng, nên trong luận Địa Trì nói có một trăm bốn mươi pháp bất cộng, nay y cứ vào một môn mà nói mười tám pháp bất cộng. Mười tám pháp bất cộng là: ba phần số mục: Sáu bất cộng đầu là một phần: 1. Thân không lỗi; 2. Miệng không lỗi; 3. Ý không lỗi, cũng gọi là niệm không lỗi; 4. Không có tưởng khác; 5. Vô bất định tâm; 6. Không có gì chẳng biết đã xả. Sáu bất cộng kế tiếp là một phần: 1. Dục không giảm; 2. Tinh tấn không giảm; 3. Niệm không giảm; 4. Trí tuệ không giảm; 5. Giải thoát không giảm; 6. Giải thoát tri kiến không giảm. Sáu bất cộng sau cùng là một phần: 1. Thân nghiệp hành theo tuệ; 2. Khẩu nghiệp hành theo tuệ; 3. Ý nghiệp hành theo tuệ; 4. Biết đời quá khứ vô ngại; 5. Biết đời hiện tại vô ngại; 6. Biết đời vị lai vô ngại. Gộp chung lại thành mười tám.

Đầu tiên thân miệng ý không lỗi: Ba nghiệp của Như Lai, hoàn toàn thanh tịnh, xa lìa tạp nhiễm, nên không lỗi lầm. Vậy có nhân duyên gì đắc được điều này không lầm lỗi, có bốn nghĩa:

  1. Vô huân tập xa lìa lỗi lầm dứt sạch các điều ác.
  2. Thường giữ chánh niệm tuệ đối trị vững chắc.
  3. Tu giới, định, tuệ đối trị đầy đủ.
  4. Trụ ở Đệ nhất nghĩa đối trị sâu sắc, nên đắc được những điều này không lầm lỗi.
  • Không có tưởng khác: Phật trụ tâm bình đẳng, đối với các chúng sinh, thường thực hành tâm hỷ xả, không nghĩ oán thân, gọi là không có tưởng khác, vì sao có được như thế? Phật trong vô lượng kiếp, đối với các chúng sinh thường tu bình đẳng xem như con một, nên thấy người vô ngã; lìa oán thân, nên thấy pháp vắng lặng; không kia đây, nên thấy các chúng sinh đồng một Phật tánh pháp thân.
  • Vô bất định tâm: Phật thường nhất tâm không chút tán loạn, gọi là Vô bất định.

Hỏi: Định là từ thiền vị lai cho đến diệt định. Nếu Phật thường ở trong định, làm sao vì người nói pháp đầy đủ bốn oai nghi được?

Ngài Long Thọ giải thích: Cõi Dục có định, Phật ra khỏi các thiền, nhập định cõi Dục, nên có thể khởi thuyết hiển hiện bốn oai nghi, lại Đức Phật trụ trong định thật tướng, vọng tưởng không còn, nên chẳng ở đâu là không định. Tam-muội pháp lực: Không chỗ nào không làm, nên có thể khởi thuyết, hiện bốn oai nghi.

  • Không có gì chẳng biết đã xả: chia ra làm hai: 1/. Môn tự hành; 2/. Môn giáo hóa người.

    Trong môn tự hành chia ra làm hai:

  1. Y cứ theo ba thọ mà phân biệt. Ngài Long Thọ nói: Ngoài người độn căn ra phần nhiều biết rõ được khổ vui; biết vui sinh lòng ham thích, biết khổ sinh sân hận, tâm khởi nhàm chán. Đối với không khổ vui thì không thể hiểu biết được, hành với tâm xả, bị si mê kiết sử sai khiến. Đức Phật đối với ba thọ đều giác biết, biết rồi nhàm chán; phàm phu chẳng có không biết, chỉ hành tâm xả bị si mê kiết sử sai khiến; Phật chẳng có không biết rồi xả bỏ.
  2. Y cứ theo ba môn: Chỉ – cử – xả mà phân biệt, Như Lai khéo tu bảy giác phần, nên khi tâm trầm thì cử, tâm trạo thì chỉ, xa lìa đối với hai bên mới bắt đầu hành, xả chẳng phải người không hiểu biết trông mong ngay vào hành xả. Trong môn giáo hóa người cũng có chia làm hai:
  3. Theo bốn hóa tâm vô lượng mà phân biệt, Như Lai khéo biết chúng sinh không được vui, thương xót mà ứng hiện giúp họ vui; khi chúng sinh đau khổ, xót xa ứng hiện cứu giúp, khi chúng sinh đắc pháp, Ngài vui mừng ứng hiện chúc mừng, biết chúng sinh rốt ráo được giải thoát, mới bắt đầu hành xả, chẳng phải không hiểu rõ mà trông mong ngay vào hành xả được.
  4. Y cứ vào thân miệng thực hành giáo hóa mà phân biệt, có lúc Như Lai thân, miệng, ngừng giáo hóa, nhập vào thiền định, một tháng hai tháng, có người sinh nghi, Như Lai hiện ra nơi đời, vì họ giáo hóa, đâu thể không biết những chúng sinh cần giáo hóa mà bỏ nhập định. Đức Phật nói: Ta biết các nhân duyên, nên nhập thiền định, chẳng phải không biết, mà bỏ nhập định, biết nhân duyên gì cần xả nhập định, giải thích có ba thứ:
  5. Người thế gian thường thấy Như Lai, tâm sinh nhàm chán, không tăng thêm lòng khát ngưỡng, muốn cho họ khát ngưỡng nên bỏ nhập định.
  6. Muốn cho mọi người vâng theo lời dạy mà tu hành, nên bỏ nhập định.
  7. Muốn đem pháp phó chúc cho đệ tử khiến họ giảng nói truyền bá, nên bỏ nhập định. Đầy đủ nhiều nghĩa như thế, nên Phật không có gì không biết xả.

– Dục không giảm: Công đức của Phật tuy viên mãn, mà đối với các pháp thường mong muốn không ngừng, gọi là dục không giảm.

Hỏi: Kinh nói Phật dứt tất cả dục trong pháp lành, vì sao lại nói dục của Phật không giảm. Luận ấy nói: Phật dứt trừ dục pháp lành: dục có hai thứ: 1. Chưa đắc dục; 2. Đã đắc rồi cầu dục thêm lớn. Công đức của Phật viên mãn nên dứt được hai dục này. Nay trong bất cộng dục không giảm: Phật tuy viên mãn, vì huân tập đã lâu nên ưa dục không giảm. Lại biết pháp lành có nhiều lợi ích, nên ưa dục không giảm. Như vua Chuyển Luân có ngựa báu, hễ đến nơi nào tâm không ngừng nghỉ, đến chết không thôi. Lại cũng như nạn lửa kia đã dứt không còn thiêu đốt, nhưng hơi nóng vẫn còn. Lại nữa, Phật Như Lai hạnh lành tuy viên mãn nhưng chưa ngừng giáo hóa, nên dục không giảm.

Hỏi: Chúng sinh giáo hóa chưa hết, vì sao Như Lai lại bỏ nhập Niết-bàn ?

Luận nói: Chúng sinh có hai hàng người được độ:

  1. Người hiện tiền đáng được độ Phật đã độ xong.
  2. Người vị lai được độ sau Phật sẽ độ.

Vì nay họ chưa thể độ nên Phật nhập Niết-bàn.

– Tinh tấn không giảm: Ngài Long Thọ giải thích: Như trong dục nói, dục và tinh tấn nghĩa ấy giống nhau.

Hỏi: Nếu dục và tinh tấn giống nhau, nay trong bất cộng cần gì phải phân biệt nói?

Giải thích: Có ba điều khác nhau?

  1. Khởi đầu kết thúc khác nhau, dục là hạnh đầu tiên, thế muốn tăng trưởng nói là tinh tấn; bắt đầu ưa muốn đây, như khát cần nước; kết thúc tinh tấn, như tập mục nước mới dễ dàng tìm được nước.
  2. Trong ngoài khác nhau: Dục ở trong tâm, tinh tấn ở ngoài, tu tạo ở duyên gọi là bên ngoài.
  3. Thông cục khác nhau, dục chỉ ở ý, thực hành tinh tấn, thông suốt khắp ba nghiệp, có khác nhau, nên phải phân biệt.

– Niệm không giảm: Đối với pháp ba đời, trì niệm bất cộng, gọi là niệm không giảm.

Hỏi: Trước về ý không mất: trong kinh cũng gọi là niệm không mất, có khác gì với đây?

Luận tự giải thích: Niệm trước không mất, lìa xa sai lầm: Nay niệm không giảm, xa lìa đối với giảm ít. Lại niệm không mất, ở trong oai nghi kia chỗ tạo sự, không sai không mất, niệm không giảm; trong các thiền định, thần thông nhớ nghĩ tất cả pháp quá khứ, hiện tại, vị lai, thông đạt không giảm.

Hỏi: Thanh văn cũng có bốn niệm vững chắc không mất, vì sao nói riêng niệm không giảm mất là bất cộng của Phật?

Ngài Long Thọ giải thích: Đối với người Nhị thừa, tuy có bốn niệm vững chắc không mất vẫn còn giảm mất, không thể thấu đạt hết sự việc ở ba đời, nên ở đời quá khứ rất xa có thể biết sự việc của tám muôn kiếp, ngoài ra không biết, ở vị lai cũng vậy, còn Phật thì biết hết tất cả. Lại, trong mười sáu tâm kiến đạo, Thanh văn không thể niệm niệm đầy đủ; biết Phật khi sinh trụ diệt ở đây, niệm niệm đều biết, nên nói bất cộng, tuệ không giảm. Chư Phật, Như Lai đắc trí Nhất thiết, đối với tất cả pháp lành biết phân biệt, nên tuệ không giảm.

Hỏi: Làm sao được không giảm này?

Luận tự giải thích: Vì huân tập lâu, lại theo nhiều Phật thọ trì rộng, và nương nhờ vô lượng công đức nên trí tuệ không giảm.

  • Giải thoát không giảm: Phật đầy đủ hai thứ giải thoát tâm tuệ, cũng có đủ giải thoát hữu vi vô vi, lại đầy đủ pháp giới vô lượng vô biên các môn giải thoát, gọi là giải thoát không giảm.
  • Giải thoát tri kiến không giảm: Phật đối với sự giải thoát của tất cả chư Phật, thấy biết rõ ràng, không có ám chướng gọi là giải thoát tri kiến không giảm.

    Hỏi: Thẳng thắn nói biết như thế thì phải nhọc gì nói thấy?

Ngài Long Thọ giải thích: Vì chứng minh Như Lai đối với những sự việc đã biết, biết sâu xa chắc chắn, nên nói tri kiến, như vật bị sợi dây cột nhiều vòng thì chắc chắn, đây cũng giống như vậy. Lại nữa, như trong pháp Tiểu thừa kia, chỉ nói biết bao nhiêu đó, nhiếp tuệ không cùng tận và chỉ nói thấy bao nhiêu đó, nhiếp tuệ cũng không cùng tận nên phải nói tri kiến đi đôi với nhau, thế nào là không cùng tận? Nói tuệ có ba:

  1. Biết mà chẳng thấy, như tuệ và trí tận, vô sinh tương ưng với năm thức kia, vì trong năm thức tâm tuệ yếu kém, không thể tìm tòi, cho nên chẳng thấy. Trí tận vô sinh: Thì tâm ngừng mong cầu, cũng không tìm tòi, vì thế chẳng thấy.
  2. Thấy mà chẳng biết: Nghĩa là trong năm tà kiến và kiến đạo là tuệ của tám nhẫn. Năm kiến tìm tòi nên được gọi là kiến; điên đảo tìm cầu không biết lý pháp, nên không gọi là tri; tám nhẫn tìm tòi nên được gọi là kiến, cùng với si đều đắc, đối với pháp không chắc chắn nên không gọi là Biết.
  3. Vừa thấy vừa biết, ngoài ra tất cả tuệ dùng sự có này phân biệt, vì chỉ nêu không cùng tận, nên phải nói tri kiến đi đôi với nhau. Lại như có người theo người khác nghe pháp suy nghĩ, có thể gọi là biết; tự thân chứng đắc, mới gọi là thấy. Lại nữa, chính tai nghe được gọi là biết; chính mắt thấy vô ngại, mới gọi là thấy, nên phải nói tri kiến đi đôi với nhau.

Hỏi: Người Nhị thừa đối với sự giải thoát vừa biết vừa thấy, vì sao chỉ nói riêng giải thoát tri kiến là bất cộng của Phật?

Giải thích: Người Nhị thừa ở trong giải thoát, dù thấy dù biết, thấy

biết không cùng tận, nên có giảm ít.

Phật đối với giải thoát thấy biết cùng tận, không có giảm ít, nên gọi là bất cộng.

Hỏi: Công đức của Phật vô lượng vô biên, vì sao chỉ nói sáu việc như dục, tinh tấn v.v… không giảm?

Ngài Long Thọ giải thích: “Phật đối với đức tự lợi lợi tha có bốn việc được thành tựu”.

  1. Ưa thích làm tất cả pháp lành căn bản.
  2. Tinh tấn làm các việc lành .
  3. Niệm tâm giữ gìn các căn.
  4. Dùng trí tuệ quán xét điều ác thì dứt trừ.

Nhờ bốn việc này mà được hai quả báo, nghĩa là giải thoát và giải thoát tri kiến, nên nói có sáu.

Thân, khẩu, ý nghiệp thực hành theo tuệ: chư Phật, Như Lai trước dùng trí tuệ quán xét được mất, sau đó mới tạo tác nghiệp thân, miệng, ý nên không mắc lỗi lầm. Thân, miệng, ý nghiệp của các La-hán… không theo tuệ nên thường mắc lỗi lầm, như Kiều-phạm-ma-đề ăn vào nhả ra rồi ăn lại; Tỳ-kheo Ma-đầu-bàn đến nhà đàn việt nhảy nhót trên nóc gác, trên cây trên tường, các lỗi của thân nghiệp như vậy v.v… Tấtlăng-già-bà-tha mắc lỗi khẩu nghiệp thường mắng chửi thần nước, ngài Xá-lợi quen với tâm sân, ngài Nan-đà quen với lòng tham. Các lỗi của ý nghiệp như vậy. Phật đều không mắc phải.

Hỏi: Như Lai có lúc cũng mắng Đề-bà-đạt-đa, vì sao cho là không có?

Giải thích: Có thể là vì muốn giáo hóa nên phải như vậy, không gọi là lỗi lầm.

Hỏi: Ở trên nói ba nghiệp không lỗi nghĩa ấy đã đủ, vì sao phải nói ba nghiệp theo tuệ nữa.

Luận nói: Trên nói ba nghiệp không lỗi, chẳng hay nhân gì được không mắc phải lỗi này, nay muốn minh chứng việc đó, hành theo trí tuệ nên đắc không lỗi.

Biết ba đời vô ngại: Đức Phật ở trong ba đời tất cả sự việc biết rõ không ngại.

Hỏi: Quá khứ đã diệt, nay không có vị lai, không có hiện tại vô trụ, vì sao nói Phật thông suốt việc ba đời.

Giải thích: Quá khứ tuy đã diệt, chẳng phải không từng có, vị lai sẽ có hiện tại giả có, nên Phật biết được.

Hỏi: Ở trên nói trí tuệ không giảm, chẳng có chỗ nào không biết,

cần gì lại nói biết ba đời ư?

Giải thích: Ở trên nói trí tuệ không giảm là, đối với các pháp tướng thông đạt không giảm, ở đây nói biết rõ việc trong ba đời kia không ngai, nên lại nói biết ba đời, phân tích tướng là như vậy.

2. Đúng sai: Môn thứ hai, phân tích đúng sai về định. Mười tám bất cộng có ba cách nói:

  1. Nói như ở trên.
  2. Như ngài Ca-chiên-diên-ni tử nói: “Gồm mười Lực của Như Lai, bốn vô sở úy là mười bốn, cộng Đại bi là mười lăm, thêm ba niệm xứ, tổng cộng thành mười tám”. Thuyết này không phải Ngài Long Thọ nói: “Do đặt ra thuyết này, cho nên gọi là thuyết Ca-chiên-diên Ni tử. Nếu các Thích tử nói thì không như vậy, Đức của Phật như biển, vô lượng vô biên, vì sao lại nói mười Lực của Như Lai, bốn Vô úy v.v… là pháp bất cộng. Lại luận nói: “Các La-hán, Bích-chi và các Bồ-tát, cũng có thể biết đó là xứ, phi xứ cho đến lậu tận”. Vì sao tuyên nói mười Lực công đức là pháp bất cộng.

Hỏi: Nếu nói mười Lực công đức còn người ngang bằng nhau chẳng bất cộng, thân không lỗi v.v… người Nhị thừa cũng có một phần nhỏ, vì sao nói đó là pháp bất cộng?

Luận tự giải thích: Tôi không nói thân không lỗi v.v… là pháp bất cộng, tôi chỉ nói thân v.v… thường không lầm lỗi là pháp bất cộng, cho nên các Thanh văn, Duyên giác không có được.

  1. Trong Luận Đại Trí Độ lại có một thuyết về pháp bất cộng: 1. Như Lai đầy đủ tất cả trí, hiểu biết rộng khắp; 2. Như Lai đầy đủ vô lượng công đức; 3. Như Lai có đủ tâm đại bi; 4. Trí tuệ của Như Lai tự tại, hiểu biết vô ngại; 5. Thiền định của Như Lai tự tại; 6. Như Lai biến hóa tự tại; 7. Như Lai có thể thọ ký cho vô lượng người; 8. Đã thọ ký thì không luống dối; 9. Lời nói không lỗi; 10. Tuệ không giảm; 11. Thường thực hành tâm hỷ xả; 12. Biết thời, phi thời, nghĩa là biết chúng sinh khi nào thọ nhận mới giáo hóa, và biết chúng sinh khi nào chưa thể giáo hóa; 13. Niệm không lỗi; 14. Không huân tập phiền não; 15. Không thể đúng như pháp chỉ ra lỗi lầm của Như Lai; 16. Không thể thấy được đảnh đầu của Như Lai; 17. Dưới lòng bàn chân của Như Lai mềm mại, chúng sinh nào gặp được Như Lai liền được an vui; 18. Được thần thông lực, xoay vần tâm chúng sinh dễ hóa độ, đó là mười tám, thuyết này Ngài Long Thọ cũng chẳng nói, thuyết này chẳng có trong ba tạng, đây chính là Thanh văn và các nhà soạn luận v.v… Lời khen ngợi Đức Phật trong kinh ghi chép mười tám bất cộng này. Nếu nói không lỗi và niệm không lỗi trí tuệ không giảm, thường hành tâm xả, thì đối với pháp bất cộng của Đại thừa đây chấp cho là luận. Không thấy được đảnh đầu và dưới lòng bàn chân mềm mại, là tướng tốt của Phật. Nếu nói những thứ này là pháp bất cộng, thì bất cộng rất nhiều, đâu chỉ có mười tám. Trong ba thuyết này, thuyết đầu tiên là đúng, còn hai thuyết sau là sai, đúng sai là như vậy.

3. Thể tánh: Môn thứ ba phân biệt thể tánh bất cộng, trong đó đại khái chia ra bốn môn:

  1. Phân biệt ba tánh: thiện, ác, vô ký. Như Ngài Long Thọ nói: “Thể tánh của mười tám pháp bất cộng chỉ có thiện”.
  2. Phân biệt theo hữu lậu và vô lậu, như Ngài Long Thọ nói: “Thể của mười tám bất cộng chỉ có vô lậu”.
  3. Phân biệt theo công đức trí tuệ, luận nói bất định, theo chủ để nói: Thể của mười tám bất cộng chỉ có trí tuệ, cho nên Ngài Long Thọ nói: “Trong Đại thừa nói mười tám bất cộng, tất cả đều lấy trí tuệ làm nghĩa”. Vì trí tuệ làm chính, nên nói là Tuệ; phân biệt theo tướng thì mười tám pháp bất cộng thuộc về hai môn công đức, trí tuệ. Nên Ngài Long Thọ nói: “Trí tuệ công đức của Như Lai là pháp bất cộng, không nói phước báo tự nhiên tướng tốt là pháp bất cộng. Trong mười tám bất cộng”. Đều biết mình đối với trí tuệ không giảm, tri kiến không giảm, rõ biết ba đời, sáu thứ đây là tuệ, ngoài ra là công đức. Cũng có thể sáu cái trên và trong giải thoát thể tánh trí tuệ giải thoát là tuệ, ngoài ra là công đức.
  4. Phân biệt theo năm ấm của Như Lai: Theo mười tám pháp bất cộng, thân miệng không mất và cùng thân miệng thực hành theo trí tuệ. Bốn sắc ấm này không có tưởng khác là tưởng ấm của Như Lai không đâu tâm không định nên thuộc về hành ấm, mà trong luận văn nói là thức ấm. Vì trong định thì dứt dụng theo thể nên nói là Thức, chẳng phải chánh luận định, ngoài ra là hành ấm, lược bỏ không có thọ ấm, thể tánh như vậy.

4. Phân biệt theo xứ: Môn thứ tư, phân biệt theo xứ, luận có hai thuyết:

  1. Nói về mười tám pháp bất cộng ở đệ Tứ thiền, khi Đức Phật thành đạo, ở Đệ tự thiền Bồ-đề.
  2. Nói thân miệng không lỗi, thân miệng theo tuệ, ở cõi Dục cõi

Sắc thuộc về Năm địa; cõi Dục Tứ thiền là Năm địa, ngoài ra là bất cộng, thông suốt khắp ba cõi thuộc về chín địa; tám thiền cõi Dục là chín địa, nói về xứ như vậy.

  1. Phân biệt ba nghiệp: Môn thứ năm phân biệt ba nghiệp, thân nghiệp không lỗi thực hành theo trí tuệ là thân nghiệp của Như Lai; khẩu nghiệp không lỗi, miệng thực hành theo trí tuệ là khẩu nghiệp của Như Lai, ngoài ra các pháp bất cộng đều là ý nghiệp.
  2. Phân biệt bốn duyên: Môn thứ sáu phân biệt bốn duyên, như trong luận nói: Thân miệng không lỗi và thân miệng thực hành theo trí tuệ là sắc pháp, nên chỉ có hai duyên sinh; nghĩa là nhân duyên và duyên Tăng thượng, pháp phi tâm không theo duyên duyên, thứ lớp duyên sinh. Công đức của mười bốn tâm pháp, có đủ bốn duyên sinh, theo nghiệp lành ở quá khứ kia huân khởi nhân duyên sinh; tướng tâm phát khởi thứ lớp duyên sinh. Duyên cảnh mà khởi là duyên duyên sinh; Muôn pháp thường chướng ngại tăng thượng duyên sinh, mười tám bất cộng, lược nói như vậy.
  3. NGHĨA MỘT TRĂM BỐN MƯƠI PHÁP BẤT CỘNG. Có ba môn:
    1. Phân biệt tướng.
    2. Tạo nghiệp.
    3. Thuộc về mười tám tướng cộng, bất cộng.

1. Nói về tướng: Một trăm bốn mươi pháp bất cộng xuất xứ từ luận Địa Trì, công đức của Như Lai, không đồng với những vị thấp hơn gọi là pháp bất cộng, chia ra làm hai:

  1. Đối với phàm phu, Nhị thừa v.v… hữu vô khác nhau gọi là bất cộng.
  2. Khác đối với Bồ-tát viên mãn hay không viên mãn, cũng gọi là Bất cộng.

Y theo đức mà nói rộng, bất cộng có vô lượng. Nay y cứ theo một môn nói một trăm bốn mươi pháp, đó là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp của Như Lai, gộp thành một trăm mười hai pháp; bốn Nhất thiết chủng tịnh hợp thành một trăm mười sáu pháp; cộng chung với mười Lực trên thành một trăm hai mươi sáu; thêm bốn Vô úy là ba trăm. Đại bi là một; pháp bất vọng là hai; thêm ba niệm xứ và ba bất hộ là tám; dứt trừ các tập là chín; trí nhất thiết chủng diệu là mười, cộng với một trăm bốn mươi bất cộng ở trước là một trăm bốn mươi pháp bất cộng, danh số là như vậy, nay phân biệt từng môn, giải thích theo thứ lớp. Ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, nhan sắc hình dáng công đức được phân biệt chung một nơi. Phước trạng hiển hiện ra bên ngoài gọi là Tướng, lại đức biểu hiện ở bên trong cũng gọi là tướng; dáng dấp dịu dàng đáng yêu, được mọi người ưa mến, gọi đó là Hảo. Phân biệt tướng tốt này, tóm lược có ba môn: 1. Nói về quả của Phật; 2. Phân biệt nhân của Phật; 3. Nói về sự tu hành chứng đắc. Theo trong nhân quả nói đại khái có năm môn:

  1. Trình bày theo hàng lối chính xác.
  2. Xác định có bao nhiêu.
  3. Nói về chân – ứng.
  4. Nói về chỗ chứng đắc.
  5. Phân biệt về định hơn kém.

1) Trình bày theo hàng lối chính xác: Như kinh Niết-bàn, luận Địa Trì nói: ba mươi hai tướng của Như Lai:

  1. Dưới lòng bàn chân của Như Lai bằng phẳng như đáy hộp gương.
  2. Dưới chân Như Lai có bánh xe ngàn căm.
  3. Ngón chân nhỏ dài.
  4. Gót chân đầy đặn.
  5. Tay chân có màng lưới như ngỗng trắng đầu đàn.
  6. Tay chân mềm mại.
  7. Đùi vế thon thả như nai đầu đàn Y-ni-diên.
  8. Xương mắt cá không lộ ra.
  9. Khi đứng bình thường tay duỗi dài đến gối.
  10. Tinh hoàn ẩn tàng như ngựa đầu đàn.
  11. Thân viên mãn như cây Ni-câu-luật.
  12. Lông trên thân đẹp mượt mà.
  13. Mỗi sợi lông trên thân Như Lai xoay về phía phải.
  14. Thân màu vàng ròng.
  15. Ánh sáng chiếu xa tới một tầm (tám thước) ở đây nói về thân Phật Thích-ca, còn thân Phật khác ánh sáng chiếu xa bao nhiêu không xác định được.
  16. Lớp da bên ngoài mịn màng không dính bụi bặm.
  17. Bảy chỗ: hai tay, hai chân, hai vai, cổ đầy đặn.
  18. Thân oai hùng như sư tử.
  19. Khuỷu tay tròn trịa.

20 Bộ xương không thiếu sót.

  1. Thân thẳng đứng.
  2. Có bốn mươi chiếc răng.
  3. Răng mọc khít với nhau.
  4. Răng trắng trong.
  5. Gò má vuông vức như sư tử.
  6. Thân theo thứ lớp đắc thượng vị.
  7. Đảnh nhục kế và đảnh vô kiến cộng thành một tướng.
  8. Lưỡi rộng dài.
  9. Tiếng Phạm âm.
  10. Mắt màu xanh biếc.
  11. Hai hàng lông mi của mắt như trâu đầu đàn.
  12. Giữa hai đầu chân mày có sợi lông trắng.

Tên ba mươi hai tướng là như vậy.

Tám mươi vẻ đẹp, như luận Địa Trì nói: Hai mươi ngón tay ngón chân xinh đẹp là hai mươi; hai tay hai chân ngoài và trong tám chỗ đầy đặn, gộp chung hai mươi món trước thành hai mươi tám thứ vẻ đẹp. Hai gót chân, hai đầu gối, hai vế, hai vai, hai khuỷu tay, hai cổ tay, hai đùi, hai hông tướng ẩn tàng, hai viên tinh hoàn, bắp tay, hai sườn, hai nách, hai vú, eo, lưng, tim bằng nhau và cổ họng, ruột, tất cả đều đẹp đẽ; là ba mươi hai, cộng chung với hai mươi tám thứ trước thành sáu mươi thứ đẹp đẽ. Đây là sáu mươi thứ đẹp từ cổ họng trở xuống. Hai hàm răng trên dưới tất cả đều đẹp đẽ, lại cho là hai; hai môi, hai lợi, hai má, hai tóc mai, hai mắt, hai tai; hai lông mày mũi, hai khổng ngạch, hai xương trán, tất cả đều đẹp đẽ là mười tám; gộp chung với hai thứ trước thành hai mươi vẻ đẹp, đây là hai mươi thứ đẹp đẽ từ cổ họng trở lên. Vậy là đầy đủ tám mươi vẻ đẹp (đây là xong môn thứ nhất).

  1. Xác định có bao nhiêu:

Hỏi: Tướng tốt chỉ có chừng ấy hay là còn nữa?

Như Phẩm Tướng Hải Kinh Hoa Nghiêm nói: “Đối với ba mươi hai tướng trên, mỗi chỗ có vô lượng vô biên A-tăng-kỳ công đức tướng tốt, cho nên tên gọi của các tướng tốt mỗi mỗi phân biệt”; ở các cõi mười phương công đức tạo nghiệp lợi ích cũng khác, tuy có tướng, nhưng mầu nhiệm khó thấy, như hạt ngọc trên đảnh vua trời Phạm Thiên gọi là Nhân-đà-la, tất cả các vị trời đều không thấy. Lại cũng như hạt ngọc Như ý kia, viên ngọc này có đầy đủ vô lượng thế lực. Hình dáng viên ngọc có thể thấy, nhưng năng lực công dụng của hạt ngọc này không thể thấy được. Tướng của Phật cũng giống như vậy, hóa thân thô tướng, có thể thấy bằng mắt, nhưng tướng thật đức mầu nhiệm, tất cả trời người không thể thấy được tướng ấy, chỉ có bậc đại Bồ-tát, mới biết được chút ít, và Phật mới rõ biết cùng tận; vì để hóa độ Thanh văn phàm phu, nên chỉ hiện nói ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp.

Hỏi: Kinh Hoa Nghiêm nói ở ngực Như Lai có tướng chữ (vạn) bằng kim cương, gọi là vô tỷ, vì sao trong ba mươi hai tướng vừa nêu trên không nêu tên này, đó là thuộc về rất nhiều tướng hảo, nên ở trong ba mươi hai tướng không nêu (đây là xong môn thứ hai).

  1. Phân biệt định chân, ứng:

– Hỏi: Công đức tướng tốt vừa nói trên là chân hay ứng, chia ra làm hai:

  1. Đối với thân lìa tướng mầu nhiệm do đó thị hiện, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, hiện sinh cung vua đều gọi là ứng, vì là ứng nên kết cục trở về diệt tận.
  2. Theo ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp hiển hiện, theo nghĩa phân biệt vừa chân, vừa ứng. Nghiệp do chính mình khởi niệm gọi là chân, trong Luận Địa Trì gọi đây là tướng tốt là báo thân chân thật. Lại tướng tốt này, tùy theo sự tinh thô của các chúng sinh khác nhau mà hiển hiện; hoặc sinh hoặc diệt thì gọi là Ứng. Hễ cho chân ứng không có tướng lìa, nên hiện thân sinh mà thường không sinh, hiện thân diệt mà cũng không diệt. Sinh diệt đã như vậy, thì nghĩa tinh thô cũng giống như vậy. (Đây là xong môn thứ ba).
    1. Nói về chỗ chứng đắc của Như Lai:

Đối với nhân khác nhau thì chỗ đắc cũng có khác. Nếu đối với thiện nghiệp đã tu ở trước, khi tám tịnh rồi thì bỏ tướng tốt theo quả báo sinh; nếu đối với nhân đã tu ở trên, theo các chỗ quả báo thứ lớp sinh, thì hai nghĩa này đúng như luận Địa Trì nói. (Đây là xong môn thứ tư).

  1. Phân biệt hơn kém:

Như trong Luận Địa Trì nói: Sau khi Thế Tôn đắc quả Phật rồi, tất cả chúng sinh tích lũy phước đức, bằng tướng một sợi lông của Như Lai; tất cả phước đức của tướng sợi lông chứa nhóm, bằng một tùy hình hảo của Như Lai kia; tất cả công đức đã được tích lũy, tăng cho đến một trăm lần mới được một tướng. Ngoài tướng lông trắng, tướng búi tóc, tướng Phạm âm, trừ ba tướng này, còn đắc những tướng khác. Còn tất cả tướng công đức tích lũy, tăng đến một ngàn lần mới được tướng sợi lông trắng; Công đức của tướng lông trắng tăng đến một ngàn lần, mới được nhục kế không thấy đảnh đầu; công đức của tướng lông trắng tăng đến ức trăm ngàn lần, mới được tướng pháp lễ âm của Như Lai. Cho nên Như Lai tùy ý phát ra âm thanh, Phạm âm thanh tịnh, cho đến vô lượng thế giới ở mười phương, Như Lai có vô lượng vô biên công đức chứa nhóm không thể nghĩ bàn như thế. Vừa rồi môn đầu tiên nói về quả tướng tốt, môn thứ hai nói về thân tướng tốt. Kinh chỉ nói về tướng nhân, mà không bàn gì về nhân tốt. Trong tướng nhân chia ra bốn môn:

  1. Trình bày nhân chân chánh.
  2. Phân biệt theo địa vị.
  3. Nói về nhân này có vô lượng khả năng sinh tướng tốt.
  4. Minh chứng những điều Đại thừa, Tiểu thừa nói khác nhau.

Trong phần phân biệt nhân, nghĩa chia ra ba môn: 1. Biệt nhân; 2. Thất nhân; 3. Thông nhân.

  • Đầu tiên nói về biệt nhân: Nhân đắc ba mươi hai tướng đều khác nhau, như luận Địa Trì nói: “Nhờ trì giới, nhẫn nhục, bố thí nên dưới lòng bàn chân của Như Lai được bằng phẳng”. Như kinh Niết-bàn nói: “Trì giới không phạm, tâm không buông lung, nói lời chân thật, nên dưới lòng bàn chân Ngài được bằng phẳng, cúng dường cha mẹ, Hòa thượng, sư trưởng, cứu giúp chúng sinh hết khổ não, nên bàn chân Ngài có hình bánh xe ngàn căm”. Không giết hại chúng sinh, không nghĩ đến trộm cắp, đối với bậc trưởng thượng, trước dùng lời thăm hỏi cung kính chắp tay, đem tài vật yêu mến mà cúng dường, phá các kiêu mạn, nên các ngón tay chân của Như Lai nhỏ dài. Nếu được ba tướng trên, thì được phước báo gót chân cân đối. Dùng bốn pháp thu nhiếp chúng sinh, nên được phước báo giữa các ngón tay chân có màng trong suốt; tôn kính bậc trưởng thượng, hầu cận tắm gội thân nhơ, xoa chà đấm bóp, nên được tướng tay chân mềm mại; tu các pháp lành tiến thân không mỏi, nên được tướng chân thon thả sát nhau. Kinh Niết-bàn nói: “Dốc tâm nghe pháp giảng nói đúng như lời Phật dạy, nên được đùi vế thon thả như nai đầu đàn; đích thân thọ nhận chánh pháp, nói riêng cho người nghe, khai mở rõ ràng giúp người dễ hiểu, nên được phước báo xương mắt cá không lồi ra”.

Tu hành ba nghiệp thanh tịnh, thăm bệnh cho thuốc, xa lìa các ngã mạn; tu tập biết đủ, nên được quả báo tay duỗi dài chấm gối; thấy mọi người chia rẽ nhau, tìm cách làm cho hòa hợp, tu tập biết hổ thẹn, bố thí y phục cho người, thì được tướng mã âm tàng. Tịnh tu ba nghiệp, vừa dạy mọi người cùng tu, ăn uống đều độ, gặp người bệnh cúng dường thuốc men, giúp đỡ họ khi hoạn nạn, chứa nhóm tài sản, bốn đại thêm bớt làm cho điều hòa, nên Phật được thân tướng vô minh. Lại ở trên được chân đùi thon thả, nghiệp đắc lông trên thân mượt mà; tu các pháp lành, trí tuệ sáng suốt ; tư duy nghĩa của các pháp lành nhỏ nhiệm; Đối với những bậc trưởng thượng ưa tu cúng dường; Đối với người đồng ở, dùng danh nghĩa là bạn tốt giúp đỡ, hướng dẫn họ nhận rõ nghĩa lý, nên Phật được phước báo mỗi sợi lông xoay về bên phải. Ngài lại đem các đồ đạc, y phục, xe cộ lưu ly trang nghiêm thân để bố thí cho tất cả, không chút giận hờn, nên Phật được hai tướng thân màu vàng ròng ánh sáng chiếu xa một tầm. Lại ở trên được phước báo mỗi sợi lông xoay về bên phải, được da dẻ mềm mại; mở hội Đại thí, bố thí khắp chúng sinh, nên Phật được bảy điều viên mãn. Tất cả pháp lành đã khởi chưa khởi, là việc dẫn đầu; xa lìa ngã mạn nhu hòa tánh mình, là dứt bỏ điều bất thiện; dạy bảo dùng pháp thiện, nên Phật được thân oai hùng như sư tử. Lại nữa, ở trên Phật có ngón tay nhỏ dài, ba tướng: Khuỷu tay tròn trịa; cốt xương đầy đủ và thân thẳng đứng. Phật xa lìa nói lưỡi hai chiều, chia rẽ mọi người, nên Phật được hai tướng có bốn mươi cái răng và răng mọc bằng khít; Tu từ cõi Dục, tư duy nghĩa pháp, răng được trắng trong; Tùy các chúng sinh vui mừng bố thí, nên hai gò má Phật vuông vức; ban bố pháp vị cao quý, đối với người hủy hoại các mùi vị, làm cho mùi vị họ thanh tịnh, nên Phật theo thứ lớp đắc thượng vị; thọ trì năm giới, chuyển trao cho người, thường thực hành tâm từ bi, hồi hướng đại pháp nên Phật được hai tướng nhục kế đảnh đầu không thấy và tướng lưỡi rộng dài. Thường tu nói lời chân thật, lời dễ nghe, nói đúng như pháp ngữ, phương tiện nói pháp, nên Phật được Phạm âm; Thường thực hành lòng từ đối với khắp cả chúng sinh, giống như cha mẹ, nên Phật được hai tướng mắt màu xanh biếc, mí trên dưới đều nháy. Thấy người đức độ, xưng dương khen ngợi, nên Phật được tướng sợi lông trắng giữa hai đầu chân mày. Do riêng như vậy.

Nói về lý do chung; có rất nhiều tướng tốt sinh chung một nhân duyên gọi là nhân chung. Trong đó có hai môn như luận Địa Trì nói: “Thứ nhất y cứ theo bốn sự tu mà phân biệt, đối với các pháp lành nhất định Phật đã tu, nên dưới lòng bàn chân Ngài được bằng phẳng”. Phật chuyên tâm tu, nên Ngài được chín tướng: Dưới chân có ngàn phúc luân, chân thon thả, tay chân có màng lưới, mềm mại, bảy chỗ tròn đầy, xương cốt đầy đủ, khuỷu tay tròn trịa, thân thẳng đứng, lưỡi rộng dài. Phật thường tu, nên Ngài được năm tướng ngón tay ngón chân nhỏ thon dài, khi đứng bình thường tay duỗi dài chấm đầu gối, thân viên mãn, răng mọc khít nhau; ngoài ra người tu hành chân chánh không phạm tội lỗi, còn được các tướng khác.

  • Phân biệt theo tám thứ tịnh nghiệp; đối với các chúng sinh, không sinh tâm giận dữ, nên Phật được hai tướng tay chân mềm mại, da dẻ mịn màng. Thứ lớp theo thời giờ tu, Phật được tướng hai bàn chân đầy đặn. Dùng ánh sáng vui mừng mà cúng dường, với âm thanh tâm lành mà khen ngợi, nên Phật được bốn tướng thân màu vàng ròng, ánh sáng phát ra một tầm, răng trắng trong, sợi lông trắng giữa hai đầu chân mày; nghe khen không mừng, ẩn tàng công đức, nên Phật được tướng mà tàng. Các gốc lành đã tu, hồi hướng về Bồ-đề, nên Phật được bốn tướng: Lông trên thân mượt mà, có tới bốn mươi cái răng, được thượng vị nơi thân và nhục kế. Khuyên tu tinh tấn nên Như Lai được hai tướng: Thân như sư tử, hai gò má vuông vức. An tâm chúng sinh, xem như con một nên Như Lai được ba tướng răng mọc khít nhau, mắt xanh biếc và mí mắt trên dưới đều nháy. Tu điều lành không biết thỏa mãn, ngoài ra còn được những tướng khác. Nhân chung là như vậy.

    1) Nói về nhân chung, tất cả các tướng nhân hành vô phân biệt, gọi là nhân chung. Trong môn này có ba thứ khác nhau:

  1. Nói chung về giới hạnh làm nhân, như luận Địa Trì nói: “Ba mươi hai tướng không có nhân khác nhau”. Đều là trì giới, nếu không trì giới, thì thần người hèn hạ còn không được làm thân người hèn hạ, huống được tướng người cao lớn.
  2. Nói trăm phước làm nhân, như kinh Niết-bàn chép: “Ba mươi hai tướng mỗi tướng đều là trăm phước nghiêm thân, trăm phước là: Trong năm phẩm tâm, tu tập mười điều lành; nghĩa là hạ trung, thượng thượng trung, thượng thượng tức là năm mươi, khởi đầu năm mươi, kết thúc tu năm mươi là thành một trăm phước. Một trăm phước này vẫn là giới hạnh khác nhau.
  3. Y Theo tất cả các hạnh mà nói nhân, lý thật nói chung, tất cả các hạnh mỗi hạnh điều đắc quả tướng tốt, không có khác nhau. (Đây là xong môn thứ nhất).
  4. Môn thứ hai, Phân biệt theo địa vị: lý thật nói chung; khởi đầu từ Phát Tâm, cuối cùng là Pháp Vân. Trong mỗi nơi, chỗ nào cũng đầy đủ tu nhân tướng tốt, tùy theo tướng đều phân chia. Trong địa vị Thiện thú, mới bắt đầu tu tập, thành tựu hạt giống rồi hướng đến thành tựu hạt giống. Trong địa vị Giải hạnh dễ dàng sinh quả, từ Sơ quả trở lên mới chứng quả hiện tiền. (Đây là xong môn thứ hai).
  5. Môn thứ ba, Nói về nhân tướng tốt: có đủ ba vô lượng có khả năng sinh tướng tốt. Luận Địa Trì nói:
  6. Kiếp vô lượng, cũng được gọi là thời vô lượng, từ chủng tánh trở

lên, tu hành ba A-tăng đại kiếp, sinh tướng tốt.

  1. Tâm vô lượng: Làm an vui lợi ích cho tất cả chúng sinh, nên

sinh tướng tốt.

  1. Hạnh vô lượng: Tất cả nghiệp lành, chẳng có nghiệp nào mà Như Lai không tu, nên sinh tướng tốt.

    4) Nói về sự khác nhau giữa Đại thừa và Tiểu thừa đã nói. Có mười một môn:

  2. Phân biệt theo giới, người Đại thừa nói: “Nhân tướng tốt, chỉ tu ở cõi Dục, chẳng phải cõi trên”. Ngài Long Thọ nói: “Nhân tướng tốt tu ở cõi Dục và cõi Sắc, chẳng ở cõi Vô sắc. Theo hai lý này có thể nói chung: Tất cả nghiệp lành đều có thể sinh khởi nhân tướng tốt”.
  3. Phân biệt theo thú, người Tiểu thừa nói: “Đó là điểm chính của người tu tập”. Ngài Long Thọ nói: “Chung cho cả năm đường, như Long vương Ba-già kia v.v… đều là các bậc Bồ-tát đồng tu nhân Phật”.
  4. Phân biệt theo xứ; trong thuyết Tiểu thừa nói: “Tu ở cõi Diêmphù-đề, ngoài ra không ở nơi nào khác”. Ngài Long Thọ nói: “Tu ở ba thiên hạ, ngoại trừ Uất-đơn-việt; Theo hai lý này có thể nói chung rằng: Bồ-tát ở khắp mọi nơi, tu tất cả đều có thể thành nhân tướng tốt”.
  5. Phân biệt theo thân, trong thuyết Tiểu thừa nói: “Tu ở thân nam nữ”. Ngài Long Thọ nói: “Cả thân nam, nữ cũng đều có thể tu tập”.
  6. Phân biệt theo cụ: Trong thuyết Tiểu thừa nói: “Chỉ tu ở ý, không chung với thân miệng, đây là một nghĩa”. Ngài Long Thọ không phá lý mà nói chung cả ba nghiệp, tất cả điều lành như lễ bái, khen ngợi v.v… tất cả đều có thể làm nhân tướng tốt.
  7. Phân biệt theo thức: Tiểu thừa nói: “Tu trong ý thức”. Ngài Long Thọ nói: “Chung cả sáu thức”.
  8. Phân biệt nhiều ít: Nói theo Tiểu thừa thì mỗi tướng kia lấy một tư làm nhân, nhiều tư giúp nhau mà thành. Ngài Long Thọ nói: “Đối với mỗi tướng, dùng vô lượng tư làm nhân”.
  9. Phân biệt theo thời: Nói theo Tiểu thừa: Phật tu khi ra ngoài, còn khi khác thì không tu. Ngài Long Thọ nói: “Bất cứ lúc nào Phật cũng đều tu”.
  10. Phân biệt theo địa vị: Tiểu thừa nói: “Bồ-tát tu trải qua ba Atăng-kỳ kiếp, riêng trong một trăm kiếp tu nghiệp tướng, có ít nhất chín mươi mốt kiếp tu tập, như Phật Thích-ca”. Ngài Long Thọ nói: “tu từ khi phát tâm cho đến khi thành Phật”.
  11. Phân biệt theo cảnh: về mặt Tiểu thừa nói: “Tu duyên thân Phật”. Ngài Long Thọ nói: “Chung cả mười hai nhân duyên”.
  12. Phân biệt theo thứ lớp: Trong pháp Tiểu thừa có chỗ nói: “Trước tu tướng dưới lòng bàn chân bằng phẳng, cốt yếu muốn đôi chân đứng thẳng rồi sau đó mới sinh khởi được thứ khác. Hoặc có chỗ nói: Trước tu tướng đôi mắt xanh biếc của Như Lai, rồi dùng tướng mắt này, thấy thương xót chúng sinh nên trước tu mắt”. Ngài Long Thọ bác bỏ các ý kiến này, nói tu chẳng có thứ lớp.

Hai môn vừa rồi nói về nhân tướng tốt, kế môn thứ ba nói về chỗ tu chứng, lý thật thông suốt nhau, phân biệt theo nghĩa: Tu tập các tướng, là làm sạch thân để nhiếp thọ tịnh pháp A-nậu-đa-la-tam-miệutam-bồ-đề. như muốn mời vua đến nhà, thì trước phải trang nghiêm nhà cửa; muốn thức ăn được ngon, thì trước phải rửa sạch đồ đựng. Ở đây cũng giống như vậy. Kinh Niết-bàn nói: “Đây là tự lợi, sở dĩ tu tập các tướng tốt, vì muốn thâu nhiếp chúng sinh khiến họ sinh lòng yêu thích kính mến”. Kinh Niết-bàn nói: Chúng sinh ở thế gian tôn thờ tám mươi vị Thần, Phật vì họ thâu nhiếp, cho nên tu tập tám mươi thứ đẹp đẽ. Tám mươi vị thần kia, như trong mười đức của kinh Niết-bàn nói.

  • Bốn Nhất thiết chủng tịnh là: Thân tịnh, tâm tịnh, cảnh giới tịnh và trí tịnh, nghĩa như trên đã giải thích.
  • Mười Lực: Từ Xứ phi xứ cho đến Lậu tận, nghĩa cũng như trên đã giải thích, nay lại nương vào kinh lược bàn về tướng. Kinh nói lực đầu tiên có chín:
  1. Như Lai thọ nhân biệt đức. Luận Địa Trì giải thích: Lời đã nói không trái với chân như, nên gọi là Như Lai.
  2. Xứ phi xứ nêu lên lực cảnh kia, quả tịnh bất tịnh nương vào nhân khác nhau nên gọi là xứ, còn trái với nhân khác nhau gọi là phi xứ.
  3. Trí Như thật sinh khởi lực thể của nó. Luận Địa Trì giải thích: Lìa khỏi trí tăng thượng mạn, chẳng phải không biết dối cho là trí.
  4. Lực này nói về danh nghĩa của lực. Luận Địa Trì giải thích: Đối với tất cả ma quân xa lìa sự đắc thắng gọi đó là lực, hay là lực tự hạnh. Lại có thể đem lại tất cả lợi ích cho chúng sinh, gọi là lực, hay là lực hóa tha.
  5. Thành tựu quả giản nhân dị, như luận Địa Trì giải thích: Tu tập nhiếp thọ theo dục tự tại, nên gọi là thành tựu; còn tu tập nhiếp thọ thành lực thể, theo dục tự tại thành lực dụng.
  6. Thắng diệu hiển bày quả viên mãn của nó: Niết-bàn vô thượng gọi là thắng diệu.
  7. An ổn hiển bày nhân thuần thục của nó: Đắc tám Thánh đạo, xa

lìa tất cả sự não loạn, sợ sệt, gọi là an ổn.

  1. Có khả năng chuyển được phạm luân;
  2. Rống được tiếng rống sư tử. Công dụng của hai lực này đem lại lợi ích tốt đẹp cho mọi người; dứt bỏ phiền não được vắng lặng gọi là chuyển phạm luân; hàng phục các tà mị, khiến xả bỏ các dị kiến, gọi là sư tử hống. Trong chín thứ thì bảy thứ trước, là tự mình an ổn nơi đạo, hai thứ sau là làm an ổn cho người.

    Nghiệp lực trong kinh có bảy:

    1. Biết nghiệp ba đời.
    2. Biết nghiệp ba thứ thân, miệng, ý.
    3. Biết bốn pháp thọ: Có pháp ở hiện tại khổ nhưng về sau vui; có pháp hiện tại vui về sau khổ; có pháp hiện tại khổ về sau cũng khổ; có pháp hiện tại vui về sau cũng vui. Trong Luận nói rộng, đây là bốn pháp thọ.
    4. Biết chúng sinh thường tạo nghiệp ở cõi người.
    5. Biết chúng sinh và phi chúng sinh tạo nghiệp cảnh giới.
    6. Biết nghiệp nhân.
    7. Biết nghiệp quả.

    – Định lực có hai:

    1. Như Lai đối với định tự tại hóa hiện các thứ.
    2. Biết chúng sinh tâm có định hay không, tùy theo căn cơ mà dạy bảo tu: Biết chúng sinh khác nhuần nhuyễn trung thượng căn, gọi là căn lực; biết tha chúng sinh nhuần nhuyễn trung thượng dục, gọi là dục căn; biết chúng sinh ba thừa có tánh riêng khác và tánh phiền não mỗi thứ khác nhau, thì gọi là Tánh lực; Biết các độ môn dạy bảo chúng sinh, và biết chúng sinh thấy các thứ khác nhau, mỗi thứ có chỗ đến gọi là chí xứ đạo; biết tám thứ sự, sáu món đồng hành ở đời quá khứ, gọi là Túc mạng lực. Tám thư sự và sáu món đồng hành đã trình bày đầy đủ.

Thiên nhãn lực: Thiên nhãn của Như Lai giúp nhận ra người nào là trong sạch, người nào lỗi lầm, thấy các chúng sinh đẹp hay xấu, lại thấy thân, miệng, ý của chúng sinh hành thiện hay bất thiện, khi chết đi, hoặc sinh về đường lành, hoặc đọa vào đường ác.

Lậu tận lực: Như Lai các lậu đều đã dứt sạch, đầy đủ tất cả công đức, biết chúng sinh các lậu đã dứt sạch hay chưa, tùy duyên mà giáo hóa, mười Lực như vậy.

  • Bốn Vô úy: Nghĩa là tất cả trí cho đến đạo có thể nói hết khổ, nghĩa ấy như trên đã giải thích.
  • Ba niệm xứ: Như Lai luôn nghĩ pháp của Ngài trên hết, nhưng

đối với người thọ pháp và người không thọ, không khởi tâm phiền não. Chúng có ba thứ: 1. Các chánh; 2. Các tà; 3. Các phi chánh phi tà. Đối với ba thứ này, nhờ tâm chánh niệm, nên không thêm bớt, nên gọi là ba niệm xứ.

  • Ba bất hộ: Phật đã vượt thoát hẳn, không còn nghiệp thân, miệng, ý, không cần đề phòng, gọi là ba bất hộ.
  • Đại bi: Bốn tâm vô lượng gọi chung là đại bi.
  • Pháp không mất: Đức Như Lai đối với thân, miệng, ý kia, việc gì có thể làm Ngài thường nhớ không quên, gọi là pháp không quên.
  • Dứt các tập: Như Lai tự chỉ quán xem xét lời nói xa lìa đối với tất cả phiền não đã khởi, giống như các tập khác, gọi là dứt các tập.
  • Trí Nhất thiết chủng diệu: Phật biết ba pháp: 1/. Nghĩa lợi ích là pháp lành của Phật; 2/. Phi nghĩa lợi ích là pháp bất thiện; 3/. Phi nghĩa phi phi nghĩa là pháp vô ký, vì hai pháp trước khác nhau, cho nên nói phi nghĩa phi phi nghĩa. Trong ba pháp này, biết đó là ác, vô ký gọi là trí Nhất thiết chủng trí; biết đó là pháp thiện gọi là diệu trí; gộp hai trí này lại gọi là trí Nhất thiết chủng chủng. Một trăm bốn mươi pháp tướng được phân biệt như vậy.

2. Tạo nghiệp: Môn thứ hai nói về tạo nghiệp. Pháp bất cộng này, có thể làm lợi ích cho chúng sinh các cõi ở mười phương. Có mười thứ nghiệp:

  1. Muốn giúp cho chúng sinh có lòng tin thanh tịnh, được thân trượng phu sinh khởi các tướng hảo.
  2. Tất cả nghiệp đã tạo vô ngại tự tại, khởi bốn Nhất thiết chủng tịnh.
  3. Vì lợi ích cho chúng sinh, dứt tất cả nghi ngờ, khởi mười năng lực của Phật.
  4. Vì khai mở tất cả tri kiến của Như Lai, giải đáp tất cả mọi vấn đề, hàng phục các tà luận, lập ra chánh nghĩa, khởi bốn Vô úy.
  5. Trí tuệ của Như Lai điều phục chúng sinh, tùy theo chúng sinh, ở trong chánh pháp, nếu có trụ hay không trụ, thì cũng không khởi tâm phiền não, mà khởi ba niệm xứ.
  6. Tất cả nghiệp đã tạo không có lỗi lầm, khởi ba bất hộ.
  7. Thường dùng mắt Phật quán xét thế gian, mà khởi tâm đại bi.
  8. Đối với tất cả chỗ tạo tác của chúng sinh đã làm nên đều khởi pháp không quên.
  9. Như Lai đã thực hành thuận theo như không có các lỗi lầm khác

mà khởi lên thì dứt trừ.

  1. Đối với pháp bất thiện, cung kính tất cả xa lìa, còn đối với pháp lành thì phân biệt hiển bày, nên khởi trí Nhất thiết chủng diệu.

3. Mười tám pháp bất cộng:
Môn thứ ba, đối với mười tám pháp bất cộng thuộc về cộng tướng. Mười tám bất cộng, như ở trên đã trình bày rộng. Trong mười tám bất cộng kia có ba nghiệp không lỗi và ba nghiệp tùy theo trí tuệ. Trong một trăm bốn mươi pháp tướng thuộc về ba bất hộ. Không có tưởng khác: Đối với các chúng sinh, trụ tâm bình đẳng không nghĩ oán thân. Trong một trăm bốn mươi pháp nhiếp ba niệm xứ, chẳng có lúc nào không định tâm. Trong một trăm bốn mươi pháp thuộc về định lực, chẳng có gì không biết rồi xả. Trong một trăm bốn mươi pháp thuộc về pháp bất cộng, trí tuệ không giảm, thấy biết không giảm. Trong một trăm bốn mươi pháp lược bỏ không nói. Trong một trăm bốn mươi gồm có: Ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, bốn Nhất thiết chủng tịnh, mười Lực, bốn Vô úy đại bi. Trong mười tám bất cộng ẩn một không hiển bày, công đức của Phật vô lượng lúc ẩn lúc hiển lẫn nhau, không thể chê trách. Một trăm bốn mươi pháp bất cộng của Phật được trình bày tóm lược như vậy.

ĐẠI THỪA NGHĨA CHƯƠNG

QUYỂN 20 (Phần Cuối) HẾT

Print Friendly, PDF & Email
Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.