MẤY ĐIỆU SEN THANH
Sưu tập: Cư sĩ Bành Tế Thanh & Hy Tốc 
Việt dịch: Hòa thượng Thích thượng Thiền hạ Tâm
PHƯƠNG LIÊN TỊNH XỨ MẬT TỊNH ĐẠO TRÀNG

 

TẬP III
PHẦN BA
TỨ CHÚNG VÃNG SANH
(Tiếp theo)


TĂNG CẢM

Thích Tăng Cảm quê ở Tinh Châu, thường tụng trì hai thứ kinh: Quán Vô Lượng Thọ và A Dì Đà. Lâu ngày sư mộng thấy thân mình sanh ra hai cánh:

Cánh bên mặt là văn kinh A Di Đà. Cánh bên trái là văn Quán kinh. Lúc ấy chớp cánh muốn bay, mà thân còn nặng nên chưa vượt lên được.

Tụng tiếp hai năm, Tăng Cảm mộng thấy lông cánh thêm dài, bay lên được nhưng còn nặng nhọc chưa thể đi xa. Lại tụng tiếp hai năm nữa, mộng thấy tự tại bay đi không còn ưở ngại. Sư liền hướng về phương Tây bay đến thế giới Cực Lạc, thấy đức A Di Đà và hai vị Bồ Tát bào: “Do sức ngươi tụng kinh, nên nay mới đốộc tới miền biên địa cõi Tây phương. Vậy hãy trở về Ta Bà, mỗi ngày tụng đù bốn mươi tám biến. Như thế sau một ngàn ngày, ngươi sẽ được sanh về thượng phẩm ở Cực Lạc”.

Tăng Cảm tỉnh giấc, y theo lời dạy mà tu hành, ba năm sau tự biết trước thời khắc quy Tây. Lúc sư viên tịch, nơi chỗ nằm bỗng mọc lên bảy cành hoa sen. Trong một tuần hoa vẫn tươi đẹp không rũ héo. Hàng đạo tục nghe chuyện lạ, đều đến xem rất đông.


ĐẠO THUYÊN

Thích Đạo Thuyên đọc xong bộ Trí Độ Luận, rất tôn ngưỡng Long Thọ Bồ Tát. Sư liền viết lời kệ khen gợi phát nguyện rằng:

Thắng đại sĩ Long Thọ
Chứng Sơ hoan hỷ địa
Sanh về cõi Cực Lạc
Phụ giúp A Di Đà
Tiếp dẫn người niệm Phật
Mười phương đến vãng sanh
Xin rủ lòng thương xót
Dìu dẳt tới Liên thành!

Đạo Thuyên lại tạo tượng Long Thọ đại sĩ cao ba thước mộc để cúng dường và chuyên lòng cầu nguyện. Một đêm, sư mộng thấy vị Sa môn thân tướng cao lớn trang nghiêm đến bảo: “Ba năm sau ngươi có thể sanh về cõi Cực Lạc!” Đạo Thuyên thưa: “Con hãy còn bổn sư và sanh mẫu, nếu xả báo thân trước e không tròn đạo”. Vị Sa môn nói: Thế thì hãy chờ ta bạch với đức A Di Đà Thế Tôn, rồi sẽ trở lại cho ngươi biết”. Ba đêm sau, sư lại mộng thấy vị Sa môn ấy bảo: “Ta vì ngươi bạch với Phật. Ngài dạy rằng: Thầy của ngươi mười hai năm sau sẽ viên tịch, còn mẹ ngươi sau hai mươi năm mới mãn phần. Đức Thế Tôn tăng thọ cho ngươi sống thêm hai mươi ba năm nữa, sau thời gian ấy ngươi sẽ được sanh về Cực Lạc thế giới”. Đạo Thuyên bạch: “Cha mẹ cùng thầy bạn của con có được sanh về Tịnh độ chăng?” Sa môn đáp: “Nếu đồng tâm phát nguyện tu hành, quyết sẽ được vãng sanh, chớ nên nghi ngại!” Sư mừng rỡ lại hỏi: “Tôn đức là ai?” Vị Sa môn đáp: “Ta là Long Thọ. Vì ngươi tạo tượng ta cầu nguyện, nên đến đây báo cho ngươi biết!”

Về sau thầy và mẹ của Đạo Thuyên đều mãn phần đúng thời kỳ Phật đã bảo trước. Sư cũng viên tịch hai mươi ba năm sau, vào ngày rằm tháng giêng. Lúc Đạo Nguyên xả thọ; có áng mây tím che phủ am, đầy trời âm nhạc rền vang thanh diệu. Đây chỉ lược thuật, điềm lành của sư còn có rất nhiều.


GIÁC CHIẾU

Thích Giác Chiếu, chưa được rõ xuất xứ, trụ nơi La Hán, trấn Thâu Thành, tại một huyện ở Giang Bắc. Trọn đời sư giữ giới hạnh tinh nghiêm, chuyên tu về Tịnh độ.

Một đêm vào tháng mùa đông năm Dân Quốc thứ mười hai. Giác Chiếu nằm mơ thấy đến chỗ xa lạ, trước mặt có tòa núi to lớn cao chớn chở che ngăn. Sư vẫn bình thản đi chậm rãi vừa thầm niệm Phật. Thoạt nhiên núi non biến mất cảnh trí mở rộng, có ánh sáng lớn soi đến thân mình, ao sen cây báu hiện ra trước mắt. Giác Chiếu bỗng thấy một vị trưởng giả hiện thân nói: “Đây là Tây phương Cực Lạc thế giới, ông có muốn về chăng?” Sư đáp là mình nguyện vãng sanh, lại ước hẹn với vị trưởng giả rằng: “Cuối tháng nầy tôi sẽ thỉnh cầu Hoằng Thai pháp sư trụ trì bản viện. Khi ” mọi việc sắp đặt xong xuôi, tất sẽ đến đây!” Nói xong cảnh chợt tan biến, sư liền tỉnh giấc.

Bấy giờ Hoằng Thai pháp sư đang làm chủ hội kỳ niệm Phật bảy ngày, tại chùa Vĩnh Ninh ở Diêm Thành. Khi tiếp được thơ của Giác Chiếu gởi đến, kỳ thất cũng vừa hoàn mãn, ông vội vã trở về La Hán viện để đảm trách Phật sự. Quả nhiên vào giờ Thìn ngày mùng bốn tháng chạp, Giác Chiếu tự vào ngồi trong bảo khám, day mặt về Tây mà viên tịch. Trải hơn hai giờ, cả mình sư đều lạnh, duy đảnh đầu còn nóng. Lúc làm lễ trà tỳ, đại chúng đều thấy trên ngọn lửa hiện ra một áng tường vân từ từ bốc lên cao bay thẳng về Tây phương.


TRƯỜNG LINH

Thích Trường Linh, người huyện Trấn Hải tỉnh Triết Giang, vào tuổi trung niên mới đến xuất gia tại một ngôi chùa ở Mâu Sơn. Năm sau, sư thọ giới Sa Di nơi chùa Phổ Đà. Kế tiếp tới Phổ Ninh Tự thọ Tỳ kheo giới.

Ban sơ, Trường Linh tỏ ra rất có đạo tâm. Nhưng sau vì lãnh trụ trì một ngôi chùa nhỏ, không ai quản thúc, nên tự do lui tới giao tiếp với bạn bè xấu ác. Rồi dần dà sư nhiễm quen thói hư, phóng đãng chơi bời, lãnh đám tụng kinh mướn, đua lợi tranh danh, cho đến ăn thịt uống rượu.

Lúc lớn tuổi, sư nghĩ lại việc cũ, sanh lòng ăn năn hổ thẹn. Được tin Liễu Thanh hòa thượng ở sơn am gần chùa Phổ Đà, tổ chức hội niệm Phật chuyên tu Tịnh độ. Trường Linh khẳng khái xếp lại mọi việc, mang y bát đến tham dự. Sau khi nghe Liễu công thuyết pháp chỉ dạy, sư mới biết đường lối của Tịnh tông, liền dứt bỏ hết tập quán xấu, một lòng tin sâu nguyện thiết, niệm Phật cầu sanh Tây phương.

Năm Dân Quốc thứ hai mươi, hàng nhơn sĩ ở Đại Sơn thỉnh Trường Linh đến trụ trì chùa Siêu Quả núi Bồng Lai thuộc mặt biển phía tây bắc Phổ Đà Tự, để hướng dẫn chư thiện tín tu hành. Lúc ấy sư đã suy yếu lớn tuổi, thỉnh thoảng hay phát chứng suyễn. Sang năm Dân Quốc thứ hai mươi mốt, vào ngày mùng tám tháng bảy. Trường Linh dự biết ngày lâm chung, bảo chúng rằng: “Xin thỉnh vài vị Tăng tới niệm Phật, giúp tôi sanh về Tây phương!” Khi chư tăng đến, sư lại nói: “Hiện sắp tới rằm Trung ngươn, xin trước tiên hành khóa Chẩn tế, để làm lợi vui cho khắp kẻ âm người dương”. Sau ba ngày pháp sự viên mãn, sư liền thỉnh chúng sang ngọa thất thương lượng về cách thức trợ niệm, rồi tự cử xướng trước, mọi người đều niệm theo đến hết một cây hương. Sáng sớm ngày mười hai, Trường Linh bảo nấu nước trầm đàn, tự tắm gội sạch sẽ, xong đắp y cầm cụ, nhờ người dìu lên đại điện niệm hương lễ Phật, rồi trở về ngọa thất. Khi cho người khiêng chiếc bảo khám tới ; xong, sư vào trong ngồi ngay thẳng, gương mặt lộ vẻ tươi cười, nói: “Trước xin cảm tạ các vị đã gần gũi chiếu cố đến tôi trong mấy tháng. Sau nguyện mong tất cả đều cố gắng niệm Phật, để cùng nhau tái hội ở Liên bang! Lúc nầy so với thuở bình thời chẳng đồng, nên vì tôi niệm đủ mười sáu chữ: “Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật”. Chúng đáp tuân mạng, rồi cử xướng trì niệm.

Trường Linh cũng chắp tay niệm theo, hiện nét tươi sáng vô tả! Được một lúc sư buông tay trái xuống để lật ngửa trên đầu gối, tay mặt vịn vào vách bảo khám, sẽ cúi đâu mà viên tịch, thân tâm an vui, không lộ một chút chi thống khổ.

Bấy giờ đúng ngọ ngày mười hai tháng bảy. Sư hưởng thọ được sáu mươi tuổi.

LỜI BÌNH:

Đức Thế Tôn bảo: “Kẻ tạo tội Ngũ nghịch, Thập ác, lúc lâm chung chí tâm niệm hồng danh A Di Đà mười niệm đều được vãng sanh”. Điều trên đây tuy do hạt giống niệm Phật kiếp trước đã đến thời kỳ thành thục, nhưng cũng toàn nhờ sức tín nguyện hạnh trong hiện đời cảm thông với từ lực của đức A Di Đà, nên mới được như thế. Sư Trường Linh nhiều năm cẩu thả may trong cảnh muộn biết hồi đầu, khi lâm chung được điềm tốt, âu cũng là một loại như các vị Hùng Tuấn, Duy Cung đó ư? Hai vị Tăng thuật lại chuyện nầy là Hựu Quán và Nguyệt Tịnh có nói: “Đại chúng ở chùa Pháp Võ non Phổ Đà hơn vài mươi năm nay, tuy nghe Ấn Quang đại sư hoằng dương khen ngợi pháp nhiệm mầu đặc biệt đới nghiệp vãng sanh của môn Tịnh độ, song hãy còn nửa tin nửa ngờ. Đến khi thấy sư Trường Linh, một người đã tạo nhiều tội mà được vãng sanh, mới không còn nghi lời thiết thật của đức Thế Tôn đã nói trong Quán kinh, cùng điểm chỉ dạy của Ấn Quang trưởng lão.

Do đó toàn thể chư Tăng Ni thiện tín ở vùng hải đảo non Phổ Đà, đều cảm động phát tâm tự tu và hoằng dương môn Tịnh độ, để làm thỏa mãn bản hoài ứng thế của chư Phật.


THÍCH NỮ NĂNG KHAI

Tỳ kheo ni Năng Khai, cư ngụ tại Giang Bắc, trụ trì chùa Thiên Hậu thuộc Sơn Đông Hội Quán ở Diêm Thành. Bình sanh Ni sư chuyên tu Tịnh độ, giữ luật hạnh đúng như thanh quy. Bổn sư của Năng Khai là Học Như cũng tu tịnh nghiệp, sau khi viên tịch môn đồ làm lễ thiêu hóa, bới tro tàn tìm được ba viên xá lợi to sáng và hai thanh bảo kiếm sắc xanh biếc. Ni sư mục kích điềm lành ấy, càng thêm tinh tấn tu hành.

Mùa thu năm Dân Quốc thứ mười hai, Năng Khai mộng thấy đức Văn Thù mách bảo cho biết trước ngày giờ vãng sanh. Sau khi tỉnh giấc, Ni sư lại họp đại chúng lại uiệm Phật mấy ngày rồi tọa hóa. Có điểm ly kỳ là lúc Ni sư viên tịch, nơi đảnh đầu hơi nóng bốc lên như khói, phát ra âm thanh tợ nước sôi trào và những tiếng nổ nhỏ liên tiếp.


THÍCH NỮ ĐỨC THÀNH

Tỳ kheo ni Đức Thành nguyên là con gái của Phương Tập, một hàng quan thân giàu sang ở An Khánh. Khi mới lên chín tuổi, cô đã xin cha mẹ cho vào xuất gia nơi am Tịnh Thất tại bản thành. Năm hai mươi lăm tuổi được thọ giới Cụ túc.

Bình sanh Đức Thành giữ luật hạnh trang nghiêm, đối đãi hòa nhã với tất cả mọi người. Lúc tuổi trẻ, cô lễ bái và trì tụng kinh Kim Cang, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm cùng các kinh điển đại thừa khác. Khi đã cao niên, Ni sư chuyên tinh niệm Phật, sự tu hành hôm sớm rất chuyên cần, dù trải tiết lạnh nóng cũng không trễ bỏ. Ngoài ra Ni sư còn tùy hỷ làm các công đức, đề xướng Phật pháp, quyên tiền xây dựng trường học, kiến lập Liên xã, lãnh nữ chúng niệm Phật tu hành. Đức Thành lại thường thỉnh các vị Pháp sư đến giảng kinh, hoặc mời hàng cư sĩ diễn thuyết về Phật lý. Vì thế một vùng An Khánh chánh pháp lần lần hưng thạnh, dân chúng hướng về đạo Phật rất đông.

Mùa xuân năm Dân Quốc thứ hai mươi mốt (1932), Ni sư đóng cửa nhập thất, chuyên tâm niệm Phật. Trong cơn tịnh định, Đức Thành thấy bốn chữ: Ngã, Bi, Thường, Tịch to lớn sáng rỡ, lại nghe Phật gọi pháp danh của mình báo cho biết ngày giờ vãng sanh. Lúc ra thất, Ni sư liền họp chúng lại sắp đặt về hậu sự. Sang đầu tháng sau, quả nhiên Đức Thành viên tịch. Lúc trà tỳ được mấy viên xá lợi, trong đó có một hạt dài độ nửa tấc mộc, chiếu ra năm sắc, người xem đều khen ngợi cho là hy hữu.

Ni sư thọ sáu mươi lăm tuổi đời, được bốn mươi mốt hạ lạp.


NHỚ VỀ TỊNH ĐỘ

I
Từng nghe bạch hạc vốn tiên cầm
Trăng sáng bay về gởi hảo âm
Muốn nhắn tin xa hàng bạn đạo
Để ai hiểu rõ mối hoài tâm!
Thủy lâu cành bích mơ trời ngọc
Ngân hải đai kim nghĩ lối tầm
Khảy ngón phù sinh dường mộng huyễn
Cõi trần chỉ ngại lưới duyên thâm!

II
Lưu ly đất báu tử kim tràng
Phỉ thúy lầu cao cửa ngọc nhàn!
Quỳnh quyển vân chương khen chẳng hết
Thân tâm hướng lễ ý hằng sang
Phượng loan chớp cánh hàng hàng múa
Anh vũ đưa hơi tiếng tiếng vàng
Thanh mộng còn tham say giấc đẹp
Lầu xa trống điểm giục canh tàn.

Sở Thạch thiền sư.

III
Sen Phật hiện trong biển lửa hồng
Bạn chi tám giáo lại năm tông?
Mỗi câu hằng tịnh ma xa lánh
Muôn niệm đều như Phật cảm thông
Kiếp bụi mê căn lần sạch gốc
Đời tu tinh tấn đến tròn công
Chỉ ưng quyết chí toàn thành tựu
Vì bởi hàm linh thể tánh đồng.

IV
Phàm phu trí kém quán chưa rành
Chỉ giữ trì danh tất vãng sanh
Cõi trược chí tu như chẳng đổi
Trời tây đài báu tự ghi danh!
Đầu dao mật dính trần mau nhiễm
Mặt nước bèo trôi đạo khó thành
Về gấp thôi chi lần lựa nữa
Đầm sen hương lạ sắc tinh anh.

Tĩnh Am đại sư.

V
Đông tây xuôi ngược bước phong trần
Ngoảnh lại phù sinh mấy chục xuân!
Niệm Phật những mơ miền bích thảo
Cúi đầu hướng đến néo hoa tân
Ai thương Đỗ vũ sầu non nước
Ta mến Di Đà niệm thiết thân!
Chẳng học cao tăng nguyền chuyển độ, (chuyển kiếp độ sanh)
Chỉ mong Cực Lạc được làm dân.

VI
Muốn nương Liên quốc gởi tinh thần
Niệm Phật đường lâm bịnh mãn phần!
Thân tợ sa lầy mong khỏi vực
Ý như chạy giặc nghĩ đào sanh!
Bích sa đến động ba đào thắm
Hồng thụ về trời cỏ biếc xuân
Mây ráng tàn dương nhìn lối cũ
Mưa hoa nhạc báu khác phàm trần!

Liên Lữ cư sĩ


TRƯƠNG NGƯƠN THỌ

Trương Ngươn Thọ quê ở Tịnh Châu, gia thế làm nghề sát sanh. Sau khi cha mẹ mãn phần, ông giữ giới sát, chuyên niệm hồng danh A Di Đà Phật để cầu siêu cho song thân.

Ngươn Thọ lại tạo tượng A Di Đà cao ba thước mộc, hằng ngày cúng dường lễ bái. Một đêm ông nằm mộng thấy nhà cửa bỗng sáng suốt rực rỡ, trong vùng ánh sáng có hơn hai mươi người đều ngồi trên tòa sen. Hai người trong số đó, gọi Ngươn Thọ bảo: “Chúng ta là cha mẹ của con, bình sanh tuy cũng niệm Phật, nhưng vì nghiệp sát quá nặng nên khi chết đọa vào Khiếu Hoán địa ngục. Tuy đọa địa ngục nhưng nhờ sức niệm Phật nên sắt nóng cùng nước đồng sôi đều biến thành mát mẻ như nước. Hôm trước có vị Sa môn cao ba thước mộc đến nói pháp. Chúng ta cùng đồng nghiệp hơn hai mươi người tỏ ngộ Phật lý, đồng được thoát ly địa ngục. Hiện thời tất cả sắp sanh về Tịnh độ. Do nhân duyên đó nên đến mách bảo cho con biết!”

Nói xong, tất cả đồng bay về Tây phương.


TIỂU VƯƠNG

Tiểu Vương nguyên là gia nô của cư sĩ Tôn Hậu Tại, quê quán tỉnh Hồ Bắc. Vì y vốn họ Vương, lạị thuộc thân phận thấp nhỏ của một đứa ở, nên mọi người đều gọi là Tiểu Vương. Tôn cư sĩ gia thế thờ Phật, sau dời về cư ngụ ở Thượng Hải. Tiểu Vương cũng đi theo chủ.

Giúp việc lâu năm nơi nhà Tôn Hậu Tại, được ảnh hưởng về sự tu hành, Tiểu Vương cũng lần lần thấm nhuần, rồi phát tâm niệm Phật. Y vốn có tật cà lăm, nói năng chạm chạp, khó khăn, nên ban sơ niệm Phật không thành câu. Song với tâm chí thành, y vẫn cố gắng trì tụng. Như thế được mấy năm, một đêm Tiểu Vương mộng thấy có người nắm lưỡi của mình kéo ra thật mạnh, tâm sảng sốt cảm giác rất đau. Khi tỉnh giấc, tật cũ dứt trừ, nói năng lanh lẹ thông suốt, câu niệm Phật cũng rõ ràng rành rẽ. Do đó lòng tin nguyện của y rất sâu thiết, sự trì niệm càng chuyên cần. Tiếp tục tu hơn hai năm, thì không thấy Tiểu Vương niệm Phật nữa. Có người hỏi duyên cớ, y đáp: “Tôi niệm Phật đã thành một khối, nay không niệm mà vẫn tự niệm, nên không cần phát ra tiếng, chỉ khởi ý giữ cho câu hồng danh thầm liên tục chẳng đứt đoạn mà thôi”. Mọi người nghe nói cũng không mấy lưu tâm, để cho y tùy tiện. Tình trạng mặc niệm như thế lại tiếp tục thêm năm độ xuân thu nữa.

Một hôm Tiểu Vương gọi đứa con hai mười lăm tuổi, đang ngụ cư ở học đường về nhà bảo: “Hôm nay cha sắp đi, con nên giúp sức niệm Phật để tiễn đưa một lần cuối!” Mọi người thấy y vẫn bình thường, chẳng tỏ ra chút chi đau yếu, đều không tin, chỉ nhìn nhau mỉm cười. Tiểu Vương biết ý, bảo: “Tôi nói thật đấy, chẳng phải là lời đùa cợt bông lông đâu!” Có kẻ hỏi: “Chú nói đi, mà đi về nơi nào?” Đáp: “Về nhà!” Lại gạn hỏi: “Nhà nào, ở đâu?” Đáp: “Quê nhà cũ, tức là thế giới Cực Lạc ở Tây phương!” Trong ấy có một vị sanh lòng tin bảo: “Con của chú hãy còn nhỏ dại, nên lưu lại thêm ít năm nữa để chiếu cố, nó mới có thể thành lập được!” Tiểu Vương nói: “Thời tiết đã đến, tôi không thể lưu trụ, thôi mọi việc đều phó cho nhân duyên!” Nói xong, bảo con đồng thanh niệm Phật với mình. Mọi người đều đứng yên, lặng lẽ nhìn xem sự thể diễn tiến ra sao? Lúc ấy Tiểu Vương ngồi ngay thẳng trên giường niệm Phật. Kế đó bỗng hắt hơi hai tiếng, hiện tướng ngọc trợ hạ thùy, rồi nhắm mắt đi thẳng. (Tức là hai dòng nước mũi trắng đặc thòng xuống, một biểu tượng của bậc xả thân thăng hóa).

Hôm sau vào buổi chiều tối, cư sĩ Tôn Hậu Tại cho đem di hài làm lễ thiêu hóa nơi chùa Lưu Vân. Lúc cử hỏa, đống củi liền bừng cháy, khói trắng xông thẳng lên hư không. Trên ngọn lửa hiện ra một đóa sen to lớn sáng rỡ chập chờn, càng lúc càng đẹp rõ, cho đến khi lửa tắt. Sáng ra kiểm lại, trên tro xương cũng hiện nét tướng hoa sen rành rạnh in như vẽ. Bấy giờ nhằm năm Dân Quốc thứ mười sáu.


VIÊN BẢO TRỊ

Đồng tử Viên Bảo Trị nguyên là con trai của cư sĩ Viên Nguyên Niên ở Yên Kinh. Nghiêu Niên làm quan Chánh án, học rộng hiểu nhiều, nghiên cứu sâu về Phật lý, hết lòng tin nhận thật hành.

Vợ ông là Trương thị cũng xuất thân từ nhà vọng tộc, tánh hiền thục, thông nghĩa lễ thi thơ, nết hạnh được nhiều người khen ngợi.

Bảo Trị sanh vào ngày mùng sáu tháng bảy năm Dân Quốc thứ mười hai. Hạ sanh vừa vài tháng, đồng tử đã thông tuệ khác hơn trẻ em thường, gọi được hai tiếng cha mẹ. Mỗi khi thân phụ vắng mặt đi xa, em bò quanh giường cha kêu khóc mãi. Kế tiếp vì chức vụ Nghiêu Niên thuyên chuyển về Tân Giang, đem cả gia đình đi theo, càng ngày lời nói và cử động của em đều khác lạ. Khi đồng tử được ba tuổi, mẹ viết đại tự từng chữ lên trên tấm giấy dạy cho học, dạy bảo qua một lần liền ghi nhớ, lần lượt thông thuộc hơn vài trăm chữ, nhiều phen thí nghiệm vẫn không sai lầm. Duy có điều khi gặp hai chữ: Phụ, Mẫu em đọc xong liền để trên mấy chữ khác. Người xung quanh lấy làm lạ hỏi, em đáp: “Phụ, Mẫu là cha, mẹ phải nên tôn kính!” Mỗi khi đồng tử ăn bánh in, trên bánh có bốn chữ nổi: Trương Chánh Dũ Ký thì để chữ Trương lại không dùng, bảo ăn cho hết, em lắc đầu nói: “Đó là họ của mẫu thân, không nên ăn!” Hạnh hiếu thuận của đồng tử phát xuất từ thiên tánh, đại để là như thế.

Nghiêu Niên kính tin ngôi Tam Bảo, thường chuyên dạy cho đồng tử hiểu mấy chi tiết về môn Tịnh độ như: – Niệm hồng danh đức A Di Đà sẽ được sanh về Tây phương. – Cõi Cực Lạc trang nghiêm ra sao? – Nghi thức niệm Phật như thế nào? Khi chăm chú nghe xong, em liền im lặng tỏ vẻ tôn sùng cảm động! Từ đó về sau mỗi ngày đồng tử đềụ lễ Phật trì niệm không thiếu sót. Tuy còn bé, Bảo Trị có thể tụng chú Quán Âm, xưng danh hiệu đức Thích Ca Mâu Ni và Tây phương Tam Thánh. Tiếng của em thành khẩn trong trẻo rõ ràng, tràng chuỗi thường chẳng rời tay, khi nằm ngủ cũng không buông bỏ. Sau bữa cơm tối, như cha mẹ có việc chưa kịp lên Phật đường trì niệm, đồng tử liền đến níu áo mời thỉnh thôi thúc song thân mau đi niệm Phật. Mẫu thân dạy bảo đừng nên giết hại, vì chúng sanh đều ham sống sợ chết, giết nó là bất nhơn, lại mang khổ báo. Do đó mỗi khi lên ngồi ăn, đồng tử liền chỉ và hỏi: “Món nầy có phải là sát sanh không?” Sau khi bảo rõ từng món đều toàn đồ chay, em mới vui vẻ ngồi ăn. Mỗi bước đi, em rất lưu ý tránh loài trùng kiến, thấy người nhà bố thí giúp cho hạng già cả ăn xin liền lộ sắc vui mừng, lại thường ưa chắp tay chiêm ngưỡng tượng Phật.

Mùa hạ năm Bính Dần, Nghiêu Niên dẫn con đi lễ Phật nơi chùa Cực Lạc. Bảo Trị chiêm ngưỡng khắp các tôn tượng dường như có vẻ cảm động, gặp chư Tăng tụng kinh lại hoan hỷ lắng nghe, lưu luyến không muốn rời đi. Đứa em bé của đồng tử chết non, có người nói: “Em con đi đâu rồi?” Đáp: “Em sanh về Cực Lạc!” Kế lại nói tiếp: “Bảo Trị cũng muốn đi theo nữa!” Ông nội nghe nói la rầy, nhưng đồng từ vẫn bảo: “Chẳng bao lâu con cũng sẽ đi!” Lời nầy dường như phát xuất từ tánh linh dự biết trước.

Buổi chiều tối ngày hai mươi sáu năm ấy, Bảo Trị bỗng cảm bịnh ói mửa, không nói điều chi khác, chỉ kêu: “Con đi đây! Con đi đây!” Người nhà vây quanh niệm Phật, đồng tử cũng chắp tay niệm và nói: “Phải niệm to tiếng, niệm Phật cho nhiều!” Hôm sau hơi thở em yếu dần, thân sắc đổi khác. Nghiêu niên thỉnh tượng Di Đà tiếp dẫn để trước mặt, rồi an ủi khuyên con chí tâm niệm Phật. Đồng tử đáp tiếng rất nhỏ tỏ ý vâng lời, đoạn mỉm cười nằm nghiêng bên mặt hướng về tôn tượng. Người nhà vẫn tiếp tục luân phiên trợ niệm.

Độ hơn bốn giờ chiều ngày hai mươi bảy, Bảo Trị an nhiên vãng sanh. Đến tối đảnh đầu của em vẫn còn nóng ấm. Mọi người đều nghe mùi hương lạ thơm ngát đầy nhà. Bấy giờ đồng tử mới chỉ được bốn tuổi. Mục kích cảnh tượng ấy, từ đó về sau Nghiêu Niên càng thêm lòng tin tưởng, chuyên tu Tịnh độ pháp môn.


VƯƠNG DI THIỆN

Cư sĩ Vương Di Thiện, tự Tích Hiên, pháp danh Liên Đài người ở huyện Thiệu tỉnh Triết Giang. Tánh ông thuần hậu chân thật, sớm đem việc nhà giao phó cho con để chuyên tâm niệm Phật. Ông hành trì theo pháp môn Tịnh độ như thế, gần suốt ba mươi năm.

Tháng bảy năm Bính Dần (1926) thời Dân Quốc, Di Thiện vương chứng cảm nhẹ. Ban sơ ông chẳng để tâm, nhưng bịnh dây dưa đến ngày mùng năm tháng chín, bỗng trở nên nguy kịch. Di Thiện có ý lo, bảo thỉnh tám liên hữu trong đoàn trrợ niệm luân phiên đến nhà xưng hồng danh Phật gần bên giường, ông cũng sẽ động môi giữ pháp Kim cang trì niệm theo, thần ý rất thanh sảng, ứng đối như thường, chỉ nói: “Lần bịnh nầy chắc không qua khỏi, nhưng tôi tuyệt nhiên chẳng sợ chết. Duy phiền các vị gắng trì niệm để giúp cho mau được vãng sanh, nơi tâm nguyện đã đầy đủ!” Trước tiên lúc mới bịnh, ông nằm mơ hai lần thấy đức Quán Thế Âm hiện thân, song chưa nói ra. Tới khi đau nặng lại thấy nữa. Trong giấc mơ, Di Thiện ai cầu Bồ Tát sớm đến tiếp dẫn. Đại sĩ an ủi bảo: “Ngươi có thể vãng sanh, nhưng công hạnh còn kém ít, sau khi về Tây phương phải tu thêm. Chờ tới thời, ta sẽ đến tiếp dẫn!” Kế đó ông mộng thấy đóa hoa sen xanh còn non nhỏ, nên nhứt tâm niệm Phật không xen hở. Tới đêm mùng mười, bịnh chuyển nguy, lại mơ thấy sen xanh đổi thành đóa kim liên rất to lớn. Lúc tỉnh giấc, trong lòng có phần an ủi. Nửa đêm ấy, Di Thiện mấy lần hỏi trời sáng chưa, và nói: “Ngày mai tôi sẽ vãng sanh, xin cho mời Liên Hàng cư sĩ tới đây để được gặp mặt lần chót!” Sáng ra người nhà liền gọi điện thoại mời, gần trưa Liên Hàng mới đến, thì thấy các bạn đồng tu đang vây quanh giường niệm Phật. Cư sĩ lại gần giường bịnh nói: “Tôi tới đây trợ niệm, liên hữu nên nhứt tâm trì danh để được chánh niệm vãng sanh!” Di Thiện tuy nghe song chẳng đáp được, chỉ sẽ gật đầu. Bấy giờ thân nhơn đã dự bị tắm gội thay y phục mới và mặc áo tràng cho ông, hoàn tất. Người xung quanh chỉ thấy ông động môi thầm niệm Phật, hơi thở vẫn điều hòa không vội gấp. Giây phút lại có cư sĩ Đơn Thích Chi đến, đánh khánh cùng cao tiếng trợ niệm.

Trải độ nửa giờ sau, hơi thở của Di Thiện yếu lần, gương mặt hiện ra sắc vui tươi. Lúc ấy người nhà lớn nhỏ đều đứng xung quanh cầm hương đồng niệm. Một đứa cháu trai mới chín tuổi cũng tay mặt cầm hương, tay trái để nơi ngực cao tiếng niệm Phật, lại trải qua nửa giờ, ông mới lặng lẽ tắt hơi như vào thiền định, yên ổn mà vãng sanh. Hai giờ sau, đảnh đầu vẫn còn nóng. Ông thọ được bảy mươi bốn tuổi.


LẠI TƯỜNG LÂN

Lại Tường Lân, người thời Dân Quốc, ở huyện Hưng Quốc tỉnh Giang Tây. Ông bẩm tánh chất phác quê mùa, trọn đời làm nghề nông, ăn mặc đơn giản, không tham cầu danh lợi. Đến hơn sáu mươi tuổi, đứa con trai duy nhứt mãn phần. Tường Lân phải nhọc nhằn canh tác để bảo đảm sự sống cho dâu và cháu nội.

Trong khoảng tuổi già lại gặp đau khổ, ông sanh niệm nhàm chán cõi trần, hằng mong tìm đường giải thoát. Được người cháu họ là cư sĩ Lai Thiền Dung thường giảng cho nghe về pháp môn Tịnh độ, ông phát tâm ăn chay trường và niệm Phật, chuyên chí cầu vãng sanh. Nhưng vì bình thời ưa thích uống rượu để mua vui giải muộn, nên phần tửu giới Tường Lân còn chưa giữ được. Lai Thiền Dung đến chơi, nhiều lần khuyên giải về sự lỗi lầm họa hại của nghiệp rượu, ông tỉnh ngộ nguyện gắng sức răn chừa. Ban sơ khi nói kiêng rượu, Tường Lân cảm thấy thân mình tay chân ngứa ngáy khó chịu, trong người rã rời mỏi mệt. Do sự lập tâm kiên quyết, nên lần lần trạng thái ấy dứt hẳn, thân thể khỏe mạnh, thần chí thanh sáng, công phu niệm Phật càng tinh cần. Lâu ngày sức niệm thuần thục, tuy làm việc có khi từ sáng đến tối, mà sự trì niệm của Tường Lân vẫn không gián đoạn. Người trong thôn ấp gặp mặt ông đều niệm Phật chào gọi, ông cũng đáp: “A Di Đà Phật”.

Đầu tháng tám năm Dân Quốc thứ mười tám, Tường Lân cảm bịnh, hai chân phù thủng, đi đứng có vẻ khó khăn. Vài giờ trước khi thọ chung, ông bảo đứa cháu nội đặt bàn hướng về Tây dâng hương cúng lễ, và nói: “Cảnh Tây phương rất đẹp cháu hãy nhìn xem hoa sen nở thật nhiều! Ngày hôm nay ông sẽ về thế giới Cực Lạc”. Đứa cháu nói: “Hai chân bị sưng, làm sao đi được?” Tường Lân đáp: “Tâm đi chứ không phải thân đi!” Quả nhiên trời vừa xế bóng, lúc đứa cháu đang đốt hương dâng thêm, ông ngồi xây mặt về Tây niệm Phật mà vãng sanh. Trong đám tang có sư Phổ Minh và cư sĩ Thiền Dung đến tham dự. Người hàng xóm nghe tin đều khen ngợi, tề tựu đông đảo. Ông thọ được bảy mươi tuổi.


TÀO VÂN TÔN

Cư sĩ Tào Vân Tôn pháp danh Liễu Nghĩa, người huyện Cửu Giang, tỉnh Giang Tây. Ông nhà nghèo, sanh nhai bằng nghề buôn bán, tánh hiếu thuận, ưa bố thí làm lành. Vì thuở bé mồ côi bị thất học, nên lúc gia tư đã hơi khá, ôngxuất tiền xây cất trường học, rước thầy dạy dỗ để giúp trẻ em trong vùng.

Thân mẫu ông là Đàm thị tín Phật, từng phát nguyện triều lễ chùa núi Phổ Đà và Cửu Hoa, song chưa kịp đi mà đã tạ thế. Vì muốn làm tròn tâm nguyện của mẹ, nên vào tháng hai năm Quý Mão thời Quang Chữ nhà Thanh, Vân Tôn sắm cúng phẩm đi triều lễ thánh tích núi Cửu Hoa. Xong việc đó, kế tiếp lại triều lễ non Phổ Đà. Khi đổ thuyền lên bộ, đến rừng Tử Trúc Lâm, ông thấy mẫu thân ngồi nghiễm nhiên nơi trong, liền mừng rỡ kêu gọi chạy vội đến, bỗng hình tượng chợt tan biến. Ông bi cảm đứng thương khóc. Một vị Tăng ở trong chùa, thấy thế làm lạ bước ra thăm hỏi. Sau khi biết được nguyên do, tăng sĩ bảo: “Đó là đức Quán Thế Âm Bồ Tát hóa thân để an ủi lòng hiếu cảm của ông. Thế thì việc hoàn nguyện thay cho mẹ của ông, đã được ngài chứng giám!” Sau khi lễ điện Lạc Già xong xuống thuyền trở về, Vân Tôn thấy trên mặt biển nổi hiện đóa hoa sen ngàn cánh. Trên hoa có đức Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát ngồi kiết già, tướng tốt trang nghiêm kỳ diệu. Mục kích cảnh tượng, ông mừng thương lẫn lộn, sanh lòng tin rất thiết sâu.

Về sau, khi được gần gũi Ấn Quang pháp sư, Vân Tôn mới biết pháp môn Niệm Phật. Ông từng đến chùa Lô Sơn ở huyện Cửu Giang, cùng các chùa khác tổ chức những kỳ Phật thất và đề xướng pháp môn Tịnh độ. Mùa hạ năm Quý Sửu ông xả cúng nhà ở sửa sang lại thành ngôi Niệm Phật Lâm. Đến mùa hạ năm Kỷ Tỵ, lại kết lập hội Đông Lâm Liên Xã, lấy nơi đây làm trụ sở. Vân Tôn cùng với vị sư trụ trì ký vào bản quy ước đem trú xứ này cúng dường cho mười phương Tăng, mở đón tiếp chúng các nơi, tự ông đảm nhiệm chịu phần kinh phí. Qua cuối đông lại trù định cất ngôi điện các thờ thánh tượng đức Văn Thù. Khi vật liệu xây dựng như ngói gạch gỗ đá vừa đầy đủ, tượng cũng đã thỉnh về, thì ông lâm bịnh.

Sang xuân Canh Ngọ, vào ngày mười chín tháng hai, nhằm lễ vía đức Quán Thế Âm, Vân Tôn mời các vị cư sĩ tập họp lại và nói: “Văn Thù Bồ Tát đã hứa ba hôm sau sẽ đến rước tôi về cõi Cực Lạc, xin mời chư vị đúng kỳ hạn đến trợ niệm để đưa nhau lần cuối cùng!” Các cư sĩ nghe nói lấy làm kinh lạ. Trước khi lâm chung, ông gọi con trai lớn là Thiên Chương, nấu nước cho mình tắm gội và thay y phục mới sạch. Xong mọi việc, ông lại phú chúc bảo: “Thời kỳ vãng sanh của cha đã đến không thể lưu lại được. Mọi sự kiện nơi Đông Lâm Liên Xã cùng việc kiến tạo điện các đức Văn Thù, con phải nối chí duy trì và hoàn thành chớ nên trễ sót!” Nói xong ngỏ lời giã biệt các liên hữu, ngồi kiết già ngay ngắn và cầm chuỗi niệm Phật giây lát, rồi mãn phần giữa tiếng xưng niệm hồng danh của đại chúng.

Bấy giờ nhằm tiết Xuân phân, năm Dân Quốc thứ mười chín (1930). Ông thọ được sáu mươi ba tuổi.


TRẦN SẦM HIÊN

Trần Sầm Hiên, người huyện Trấn Hải tình Triết Giang, làm nghề buôn bán, từng thành lập công ty tàu đò Nguyên ích đưa rước hành khách ở bến Hộ. Ông rất tin Phật pháp, tánh khoan hòa ưa bố thí.

Khi có người đến cầu giúp đỡ, liền sốt sắng xuất tiền của không lộ nét khó khăn. Vì sự cứu tế lợi sanh, lắm khi mang nợ cũng chẳng lấy làm hối tiếc.

Một hôm Sầm Hiên mộng thấy dạo chơi nơi pháp hội chợt nhẹ nhàng bay lên hư không, phút chốc đã đến trước Phật. Đức A Di Đà bảo: “Mạng số của ngươi vẫn còn mười năm. Nhưng vì e ngươi bị trần lụy làm mê, nên ta dùng thần lực rút ngắn tuổi thọ và đưa ngươi tới đây để nhắc nhở. Vậy phải gắng tinh tấn chớ nên biếng trễ!” Ông nghe xong bỗng tỉnh giấc. Từ đó Sầm Hiên dụng công niệm Phật rất chuyên thiết, chẳng kể ngày đêm. Mùa hạ năm sau, trước khi xả báo thân ông cảm bịnh nhẹ, gọi gia nhơn bảo: “Phật đến rước tôi!” Rồi mỉm cười mà qua đời. Lúc bấy giờ khí hậu nóng bức, đình thi mấy ngày mà không có mùi hôi, đầy nhà thơm ngát hương lạ. Mặt ông hiện kim sắc, thần thái y như sống, đảnh đầu nóng đến ba ngày sau.

Bấy giờ nhằm năm Dần Quốc thứ mười chín.


VƯỜN THƠ TỊNH ĐỘ

I
Xem khắp kinh văn với luật nghi
Nơi nơi đều khuyến niệm A Di!
Một câu tiêu hết muôn đời nghiệp
Hà huống nhiều năm mãi tụng trì?

II
Song trăng, trà cúc, cảnh nhàn tu
Ngày tháng năm qua với số châu
Mười ngón lần tràng không rảnh rỗi
Phù sinh dám để phí công phu.

III
Thiện Đạo tiếc than nay đã khuất!
Thiếu Khang vắng bóng đại từ bi!
Đem tiền dụ trẻ từng câu Phật
Trai gái đều khuyên khắp tụng trì.

IV
Di Đà sáu chữ phỉ bình sanh
Mỗi tối trì vang ước mấy canh
Đối bóng nghĩ thương ngoài thế cuộc!
Dưới trăng, trước gió lại kinh hành.

V
Hàng cây, ao báu, nhạc thanh hòa
Đôi bến cầu vàng lại nối qua
Chợt thấy hóa sanh tân Phật tử
Sen hồng nở cánh, tiếng chim ca!

Bắc Sơn đại sư.

VI
Tây phương Cực Lạc chúng đều tôn
Khuyên khắp người đời học diệu môn
Có miệng bớt duyên trò chuyện nhảm
Một câu Phật hiệu độ thần hôn.

Nhứt Nguyên đại sư

VII
Chuỗi hạt một tràng đen nhánh nhánh
Như Lai ngang đáng hiện đoàn đoàn
Xoay vần tịnh niệm theo nhau mãi
Thâu lại buông ra chỉ một ban.

Cổ Âm pháp sư.

VIII
Sáu chữ chân kỉnh nghĩa rộng xa
Tổng trì nào khác kệ dà đà?
Những từ nhắm lối Tây phương thẳng
Giết hết Đài sơn chỉ lộ bà. 1

Liên Trì đại sư

IX
Đời mạt tình người hiểm đáng kinh
Di Đà sáu chữ chớ xem khinh
Một lòng niệm đến quên thân cảnh
Bát giác thần chơi tựa các quỳnh!

X
Một muôn câu Phật giữ thường quy
Mỗi tối sơ canh lại tụng trì
Gối mộng có cầu sang Cực Lạc
Thân nầy đã tựa bích liên chi!

Cư sĩ Trầm Lãng Thanh.


DIỆP CỬU THÀNH

Cư sĩ Diệp Cửu Thành pháp danh Huệ Cơ, người huyện Dư Dao tỉnh Triết Giang, ông từng theo cha đó đây lập nghề buôn bán từ thuở nhỏ. Sau khi thân phụ từ trần, Cửu Thành thu dọn công việc trở về quê nhà an dưỡng. Trong sự giao tế, ông được tiếng khen là người tinh tường sáng lẹ.

Trên bước đường học Phật, trước tiên Cửu Thành được cư sĩ Hà Mai Sơn trao tặng cho quyển Sơ Cơ Tịnh Chỉ Nam. Sau khi xem xong, ông phát lòng tin, gia nhập vào Phật học hội ở Dư Dao. Lâu ngày được Hà cư sĩ và các bạn đồng tu nhắc nhở, lòng tín nguyện của ông càng thêm bền chắc. Thời bấy giờ hàng phụ nữ địa phương nầy còn tập quán mê tín, nghĩ rằng niệm một câu Phật sẽ được phước báu một đồng tiền. Cửu Thành cùng cháu là cư sĩ Chiếu Không thường giảng diễn hết sức giải thích điều sai lầm ấy. Do đó nữ chúng ở Do Dao mới biết sự lợi ích niệm Phật được sanh về Tây phương, nên tu Tịnh độ mỗi ngày một thêm đông. Kế tiếp nhân các cư sĩ thỉnh Tịnh Quyền pháp sư đến Phật học hội giảng về kinh điển Đại thừa, Cửu Thành hiểu biết càng sâu rộng hơn. Mỗi buổi sáng ông đều thức dậy trrì niệm, sự tu tập hàng ngày đều có định khóa. Đối với việc giới sát phóng sanh, ông tuân hành rất cẩn mật.

Mùa hạ năm Đinh Mão thời Dân Quốc, Cửu Thành mới chính thức thọ Tam quy với Bảo Tịnh pháp sư. Đến năm Canh Ngọ, nhằm ngày vía Địa Tạng lại thọ thêm Ngũ giới. Sang tháng chín ông bị bịnh hạ lỵ, thuốc thang điều trị không công hiệu, liền quyết ý gác bỏ muôn duyên, ở riêng trong một gian tịnh thất chuyên tâm tinh tấn niệm Phật Đêm mười chín tháng ấy, trong khi tịnh niệm, Cửu Thành bỗng thấy cảnh giới Cực Lạc mầu đẹp trang nghiêm, hiện ra tỏ rõ. Giây lâu thắng tướng mới ẩn, song ánh sáng vẫn còn rạng rỡ trước mắt. Cách vài đêm sau lại trông thấy nữa. Lúc đó bịnh trở nặng, ông tự biết mình không qua khỏi. Các liên hữu cùng Chiếu Không cư sĩ đến viếng thăm, an ủi sách tấn. Cửu Thành nói: “Mỗi ngày tôi đều cầu Quán Thế Âm Bồ Tát gia bị cho nghiệp chướng mau tiêu trừ, tịnh duyên sớm thành tựu!”

Vài hôm sau, ông gọi hai con trai lại dặn dò hậu sự, dạy thỉnh các bạn đồng tu mỗi ngày đến trợ niệm. Lại bảo vợ rằng: “Từ giờ phút nầy, tôi chì để tâm cầu Phật tiếp dẫn. Khi tôi sắp mãn phần, đừng cho dâu con lại gần, vì e chướng ngại đến sự vãng sanh!” Đêm trước khi lâm chung, hai cư sĩ Hà và Lý hướng dẫn đoàn liên hữu trợ niệm. Cửu Thành vẫn theo đại chúng thầm trì danh niệm Phật. Bảy giờ sáng hôm sau, Hà cư sĩ thấy sắc mặt ông hơi đổi khác, liền cảnh giác ràng: “Thời khắc nầy rất khẩn yếu, phải nên gắng sức!” Đại chúng đều đứng vây quanh to tiếng niệm Phật, Cửu Thành sẽ động môi thầm niệm theo. Độ mười lăm phút sau, thấy môi miệng chẳng còn máy động, một liên hữu dò thăm, thì ông đã tắt hơi. Bấy giờ nhằm ngày hai mươi bốn tháng mười một, năm Dân Quốc thứ mười chín. Ông hưởng dương được năm mươi lăm tuổi.

LỜI BÌNH:

Kinh nói: “Đức A Di Đà thường phóng ánh sáng đến khắp mười phương nhiếp lấy những chúng sanh niệm Phật!” Cho nên nếu kẻ nào chí tâm thanh tịnh niệm hồng danh A Di Đà, do duyên cơ cảm sẽ thấy ánh sáng đó, và cũng nương theo quang minh ấy mà được thấy Phật hoặc cõi Tịnh độ. Sự mục kích ánh sáng và cảnh Tây phương của Diệp Cửu Thành, chứng tỏ cõi Cực Lạc có thật, không phải là lời thí dụ, hoặc cõi phương tiện giả lập để khuyến dẫn người tu.


PHAN TRINH QUẾ

Phan Trinh Quế, người huyện Tế Ninh tỉnh Sơn Đông. Ông nhà nghèo, lúc thiếu thời thường theo bọn vô loại kéo bè lũ ăn chơi, tung hoành phá rối khắp trong vùng ấy.

Trong khoảng hai năm Canh Thân, Tân Dậu thời Dân Quốc, nhân cư sĩ Phan Đối Phù đi quyên tiền xây cất chùa Tịnh Cư ở Tế Nam, Trinh Quế nghe giảng nói pháp môn Tịnh độ, liền một lòng quy hướng. Kế được xem quyển Sơ Cơ Tịnh Nghiệp Chỉ Nam, ông sửa đổi tâm hạnh, trường trai giới sát, gắng sức làm lành và tùy phương tiện giúp đỡ người. Trước kia ngày nào cũng say sưa, nhưng từ khi ăn năn cải hối, một giọt rượu cũng không thấm vào môi. Mỗi ngày ông đều quì niệm Phật một cây hương, lấy đó làm thường khóa. Bấy giờ gặp lúc binh loạn, thấy cảnh khổ do nghiệp sát diễn ra rất thê thảm, mỗi khi ưì tụng ông đều quì sám hối tiền khiên, lệ rơi theo tiếng.

Mùa đông năm nọ, Trinh Quế cảm thấy sức khỏe kém dần, trong người thường đau nhức mỏi nhọc. Dây dưa đến tháng ba năm sau bịnh tăng nguy kịch. Song ông cũng cố gắng giữ câu Phật hiệu, căn dặn người nhà đừng rối động lo thương, làm cho mình mất chánh niệm. Một hôm, ông bỗng tự nói: “Vừa rồi, có hai vị đồng tử tướng mạo thanh đẹp hiện đến trước mặt, thốt lời khen ngợi, rồi lấy tay xoa nơi đầu tôi!” Lại một ngày, Trinh Quế bảo vợ: “Mau nấu nước cho tôi tắm gội và đem y phục mới để thay đổi, vì tôi sắp ra mắt Tây phương Tam Thánh”. Xong mọi việc, vừa ngồi lại giường, ông bỗng nói: “Tây phương Tam Thánh đã quang lâm đến!” Rồi thôi thúc đôi ba phen, bảo vợ mau đốt hương. Kế đó chắp tay bảo: “Tôi quyết định được sanh về Cực Lạc!” Nói xong liền mãn phần.

Lúc ấy ông vừa được bốn mươi tuổi.


ÂU DƯƠNG TRỤ

Âu Dương Trụ tự Thạch Chi, hiệu Liễu Nhứt cư sĩ, người ở phủ Tân Hội tỉnh Quảng Đông. Buổi thiếu thời ông học Nho, chủ trương việc thay đổi pháp chế cho nước giàu dân mạnh, hằng lấy điều nầy làm chí hướng. Sau thấy nền chánh trị nhà Thanh càng lúc càng rối bời không cương kỷ, biết chẳng thể làm chi được, nên lòng nguội lạnh đối với việc quốc gia, theo Dương Nhân Sơn cư sĩ học Phật.

Sau khi quy y Tam Bảo, ông hướng về Tịnh độ, mỗi ngày hằng niệm hồng danh Phật, kiêm tu môn quán thứ mười ba trong kinh Quán Vô Lượng Thọ. Thạch Chi có lập một khu tiểu viên nơi trấn Long Hoa tại Thượng Hải, thường đóng cửa để tu niệm. Lâu ngày pháp quán thành, lúc nhắm hay mở mắt đều thấy thắng tướng hiển hiện. Do đó ông cực lực đề xướng môn tu của mình, khi luận biện thường cao hứng vỗ bàn, vẻ mừng rờ lộ ra nét mặt dường như cho rằng tất cả việc đáng quý thuộc thế gian và xuất thế gian, không chi hơn Tịnh độ. Thái độ thành khẩn ấy đã cảm được nhiều người hưởng ứng niệm Phật cầu vãng sanh. Mẹ của Thạch Chi là Châu Thái nghi nhơn giữ tiết thanh trinh, sương cư đã mấy mươi năm, lúc tuổi già do ông khuyến tấn, cũng tu trì không xen hở.

Vào niên hiệu Tuyên Thông năm đầu, Âu Dương Trụ ngồi niệm Phật rồi lặng lẽ qua đời. Khi lâm chung cảm niệm điềm lành rất nhiều. Tập sách nhỏ Quyết Định Sanh Tây Phương Nhựt Khóa của ông viết ra được lưu hành rất rộng. Ông rất chú ý đến việc giới sát hộ sanh. Muốn cho mọi người bớt nghiệp sát, hướng về đạo Phật, ông cùng các đồng bạn nghiên cứu cách nấu chay đủ tánh chất vừa bổ dưỡng vừa ngon miệng, rồi viết sách quảng bá khắp nơi. Để chứng minh điều ấy, Thạch Chi còn lập một tiệm cơm chay ở Thượng Hải, lấy tên là Công Đức Lâm được hàng nhơn sĩ trong và ngoài nước tán thưởng. Từ đó, phong trào ăn chay và lập các tiệm cơm gọi là Tổ thực quán, lần lượt nổi lên khắp các thành phố lớn trong nước. Công đức lợi sanh của ông thật sâu rộng.

Trước khi lâm chung, Thạch Chi cảm bịnh nhẹ, mỗi ngày chỉ niệm Phật không một lời đề cập đến việc nhà. Có người hỏi: Phải sắp xếp gia sự như thế nào? Ông ngẫu nhiên đáp thành lời kệ:

Tất cả pháp hữu vi
Như mộng huyễn, bọt bóng
Duy niệm Phật sanh Tây
Mới là điều chân thật!
Quản chi đển việc trần
Mạc thạnh, suy, được, mất!

Khi sắp mãn phần, trạng mạo của ông cực an lành không lộ một nét thống khổ, chỉ sẽ động môi thầm niệm Phật cho đến lúc tắt hơi mới thôi. Mấy giở sau khi thọ chung, đảnh đầu hãy còn nóng. Ba hôm sau mới đại liệm, tay chân ông vẫn mềm dịu, gương mặt tươi tắn lộ sắc sáng nhuần. Đến ngày thứ bảy, nơi gian lầu của Thạch Chi thường tu tịnh khóa, bỗng có một vầng khói sáng trắng như mây tỏa mùi thơm bát ngát, bay xung quanh rồi lan rộng ra, hơn một giờ mới tan. Khi đó trong nhà không có ai đốt hương cả. Gia nhơn cùng những người phúng điếu đến gần linh cữu của ông, ai nấy đều nghe mùi hương lạ thơm sực nức. Lúc sanh thời, bà vợ Thạch Chi hỏi rằng: “Trọn ngày ông chăm chăm tu tịnh nghiệp, có chi để làm bằng chứng chăng?” Ông đáp: “Ngày sau tôi vãng sanh, sẽ phóng mây hương cho bà biết tin tức!” Ban sơ người vợ chỉ nghĩ là lời nói cho qua, đến bây giờ mới biết quả có ứng nghiệm.


TRẦN TÁNH LƯƠNG

Trần Tánh Lương tự Tích Châu, quê ờ huyện Vô Vi, tỉnh An Huy. Ông là người thuộc giới thương chánh, tuổi trung niên mới sanh được một đứa con đặt tên là Thiện Thọ, bẩm tánh khá thông minh, nhưng chẳng may lại yểu số vào lúc mười bốn tuổi. Tánh Lương tự nghĩ mình xưa nay giữ lòng nhân hậu thường làm điều phước đức, tại sao lại tuyệt tự, nên đối với việc nhân quả báo ứng hoàn toàn không tin. Bà bạn kế phối là Hồ phu nhơn tánh hiền lành rất tin Phật pháp, biết mối chấp của chồng không thể giải thích, chỉ gắng sức âm thầm tu trì, niệm thánh hiệu Quán Thế Âm để cầu tự. Không bao lâu cô có thai, nhưng lúc sắp sanh bỗng vương nạn. Trong vòng hai mươi chín ngày, cô không thể ăn uống nói năng hoặc day trở, mình nóng hực như lửa, thân gầy tợ củi khô. Các hàng danh y Trung, Tây đều bó tay, tuyệt không còn hy vọng cứu sống.

Một đêm Hồ thị nằm mơ thấy bà lão cầm cành hoa sen cọng dài, phất từ đầu đến chân bảo: “Do túc nghiệp ngươi mới vương trọng bịnh, song cũng may nhờ biết tu niệm chí thành. Nay ta quét trừ nghiệp chướng và cho ngươi một đứa con tốt! Lúc đỏ cô cảm thấy thân tâm mát mẻ, kinh lạ vui mừng chợt tỉnh, thì bịnh dường như tan biến đâu mất, xuống giường đi lại như thường. Sáng ra liền sanh được một đứa con trai nặng cân khỏe mạnh, tướng mạo phương phi tốt đẹp. Sự kiện khác thường nầy làm cho Tánh Lương rất kinh ngạc! Nhưng sau khi hỏi han và nghe vợ thuật lại mọi chi tiết, ông mới tin sự lý nhân quả trong ba đời đều chân thật không phải hư vô. Nơi thâm tâm, ông rất cảm ơn đức từ bi rộng lớn của chư Phật, Bồ Tát. Từ đó vợ chồng cùng trường trai niệm Phật, quyết ý tu trì, cứu giúp người nghèo khổ hoạn nạn, cất chùa trai Tăng, tất cả việc lành đều gắng hết sức tu hành. Biết việc Hồ thị dứt bịnh sanh con, chính do đức Quán Thế Âm cứu độ, nên Tánh Lương thường đến chùa núi Phổ Đà triều lễ Đại sĩ. Vợ chồng đều quy y với Ấn Quang pháp sư, Trần Tánh Lương pháp danh là Liễu Viên, và vợ Hồ thị pháp danh là Liễu Thường. Khoảng Dân Quốc năm đầu, các chùa nơi núi Phổ Đà đều khiếm lương thực, và toàn vùng bị chánh phủ trưng dụng cho kiều dân người Đức ở. Tánh Lương bôn tẩu nhờ các bạn trong hàng quan liêu giúp đỡ can thiệp, nên kết cuộc khỏi tai qua. Cư sĩ lại tự xuất của trùng tu tháp Đa Bảo và làm các Phật sự xây cất lại bản sơn để báo ân Tam Bảo.

Niên hiệu Dân Quốc thứ chín, vợ chồng và con cái năm người cùng thọ giới Bồ Tát nơi chùa Pháp Nguyên tại Bắc Kinh. Ba năm sau, Liễu Thường bỗng lâm bịnh. Vào ngày hai mươi tám tháng hai, đúng lúc đang niệm Phật, cô bỗng thấy hai vị đồng tử cầm tràng phan có bốn chữ: “Tây Phương Tiếp Dẫn”. Biết là điềm sắp vãng sanh, cô nhờ chồng mình thỉnh bốn vị Tăng đến nhà giúp sám hối niệm Phật. Tới ngày hai mươi tám tháng sau, bịnh được an lành. Nhưng sang thượng tuần tháng tư, Liễu Thường lại thấy trong người không khỏe, tự biết quy kỳ sắp đến, liền một lòng niệm Phật cầu sớm vãng sanh. Vào bữa mùng năm, Tánh Lương thỉnh chư Tăng đến nhà, bảo người trong nhà thuộc hợp cùng đại chúng luân phiên trợ niệm cho ngày đêm tiếng Phật không dứt. Liễu Thường cũng thầm trì niệm theo. Sáng ngày mùng sáu cô bảo người nhà nấu nước cho mình tắm gội thay y phục. Đoạn cố gắng đến trước bàn Phật niệm hương lễ bái, rồi nhờ xây giường để mình nằm nghiêng bên hữu day mặt về hướng Tây. Khi nằm yên xong, cô chuyên tâm niệm Phật cho đến giờ Hợi, bỗng chợt ngồi dậy chắp tay nói: “Tây phương Tam Thánh đã đên!” Lại bảo: “Còn thiếụ ba ngàn câu Phật, niệm đủ tôi sẽ đi!” Lúc đó hàng tăng tục hơn ba mươi người đều lớn tiếng niệm hồng danh. Liễu Thường cũng cao tiếng niệm theo được một lúc gương mặt lộ nét tươi cười rạng rỡ mà qua đời. Khi ấy trong nhà bay thoảng mùi hương lạ. Giờ Ngọ hôm sau nhập liệm, đảnh đầu cô vẫn nóng, tay chân mềm dịu, hơi thơm hãy còn.

Khi Thiên Thọ, đứa con trai đầu lồng yểu số, vì gấp cầu tự, Tánh Lương cưới thêm cô thiếp là Sa thị mới mười bảy tuổi, về nhà chồng được mấy năm cô nhờ sự huấn luyện, cũng khởi lòng tin chân chánh, quy y với Ấn Quang pháp sư, pháp danh là Liễu Từ. Từ đó Sa thị giữ chắc năm giới, trường trai niệm Phật, về sau Liễu Từ đau dây dưa mãi không lành, nằm trên giường bịnh suốt hai năm. Song lòng tin nguyện bền chắc, cô vẫn không rời câu niệm Phật. Ngày rằm tháng hai năm Dân Quốc thứ mười chín, nhằm lễ vía đức Thế Tôn nhập Niết Bàn, cả gia đình cùng thỉnh chư Tăng tập họp tại nhà, tu Đại Bi Sám Pháp. Vừa đến ngọ lễ sám xong, đưa tớ gái bưng chén nước có trì chú Đại Bi cho Liễu Từ uống. Cô gượng ngồi dậy tay run rẫy tiếp lấy chén nước, tự nói thấy nước trong đó chao động phóng ra ánh sáng. Tánh Lương đứng một bên vội đỡ tay bưng chén giùm. Lúc đó cô lại bảo thấy tay ông cầm hoa sen, e rằng thời khắc vãng sanh đã đến. Tánh Lương nghe nói liền ra ngoài thỉnh chư Tăng vào phòng trợ niệm. Liễu Từ bỗng quì trên giường cúi lạy nói: “Đức Quán Thế Âm Bồ Tát từ cõi Cực Lạc phóng quang tới chiếu sáng khắp thân mình”. Tánh Lương khuyên cô nên xả bỏ tất cả, chỉ một lòng chuyên cầu Đại sĩ tiếp dẫn. Liễu Từ vâng lời chắp tay chúc nguyện: “Con đau bịnh chịu sự thống khổ đã nhiều, cầu cho người đời sớm được giải thoát, xa lìa bịnh khổ. Xin Bồ Tát xót thương tiếp dẫn con về cõi Cực Lạc!” Quá ngọ hai giờ, cô nói: “Bồ Tát đã quang lâm! Xin thỉnh chư Tăng ra ngoài, để con lau mình thay y phục”. Nhưng khi vừa thay áo, cô lại bảo: “Đức A Di Đà đã đến từ xa, đang duỗi tay phóng quang tiếp dẫn, có Vi Đà Kim Cang theo hầu hạ, xin mau thỉnh chư Tăng vào phòng trợ niệm!” Lúc đó Liễu Từ không kịp mặc áo tràng vội ngồi kiết già chắp tay liên tiếp niệm A Di Đà Phật rồi nói: “Tôi đi đây!” Đoạn liền nhắm mắt lặng lẽ vãng sanh, hai tay vẫn còn chắp nơi ngực. Khi ấy tất cả người trong nhà đều nghe dị hương bát ngát. Đến trưa hôm sau đảnh đầu cô còn nóng, sắc mặt tươi tắn sáng nhuần hơn lúc sanh tiền.

Tánh Lương mục kích thê, thiếp do niệm Phật đều được điềm lành và chứng nghiệm vãng sanh một cách hiện thật, lòng tin càng thêm bền chắc. Sau khi ấy ông tu chính ngôi tiền đường thờ cúng trang nghiêm như cảnh chùa am, đề bảng hiệu Niệm Phật Cư Sĩ Lâm, thường tập họp chư liên hữu lại cùng nhau tu trì sách tấn. Mùa đông năm Tân Mùi cư sĩ vương bịnh, sắm lễ thỉnh chư Tăng chùa Thiên Phước đến lưu trụ tại Cư Sĩ Lâm, mỗi ngày vào phòng xưng hồng danh, để được thường nghe Phật hiệu thành tựu chánh niệm. Tới ngày mười một tháng ba năm Nhâm Thân (1932), vào lúc chánh ngọ, Tánh Lương nói: “Tôi thấy Phật, Bồ Tát tướng tốt trang nghiêm và hoa sen rất to đẹp!” Chư Tăng cùng người nhà biết thời khắc Tây quy của ông đã đến, đều họp lại phòng cao tiếng niệm Phật. Cư sĩ cũng ngồi lần chuỗi sẽ niệm theo, tới quá ngọ hai giờ yên lặng vãng sanh.

Chiều hôm ấy cư sĩ Từ Huất Như, bạn thân của Tánh Lương, cũng là vị Lâm trường, nghe tin cáo phó vội cho mời đoàn liên hữu cùng đến phúng điếu. Khi phái đoàn tới nơi thì đã tám giờ tối. Chư liên hữu đều thấy Tánh Lương vẫn còn ngồi kiết già ngay thẳng, tay cầm chuỗi, gương mặt tươi tỉnh như sống. Thử dò xem thì đảnh đầu còn nóng, tay chân mềm dịu.


GIANG AM NAM

Giang Am Nam người ở Vụ Nguyên, tỉnh An Huy. Lúc lớn tuổi, do cư sĩ Giang Diệc Viên khuyên xem các kinh sách Tịnh độ, ông mới phát lòng tín nguyện tu hành. Mỗi sớm hôm, Am Nam đều hướng dẫn hai đứa cháu nhỏ tụng kinh niệm Phật.

Đến tháng ba năm Nhâm Thân thời Dân Quốc, ông bị chứng ung thư phát bối. Ông tự biết mình không qua khỏi. Giang Am Nam càng gắng sức tinh chuyên niệm Phật. Do đó tuy bịnh nặng, cũng không cảm thấy bị quá dày vò thống khổ. Một đêm bịnh thế tăng nhiều, ông quyết xả bỏ tất cả, chuyên tâm trì niệm. Bỗng nhiên trước mắt mở ra cảnh Tây phương Cực Lạc thế giới, trang nghiêm sáng đẹp không thể hình dung! Sau khi ấy, Am Nam gượng đau viết thư gởi cho Diệc Viên, dưới đây trích phần đại khái:

“…Đệ đang bịnh nặng. Vào giờ Dần ngày hai mươi lăm tháng ba, sau cơn sấm sét mưa to, trời bỗng sáng tạnh như ban ngày. Nhìn về phương Tây, đệ chợt thấy chân cảnh cõi Cực Lạc sáng rực rỡ rộng mênh mang, không biết đâu là bờ mé! Trong đó lầu các nguy nga, ao sen tươi đẹp, cây báu tháp ngọc, toàn là thất bảo trang nghiêm, nhiều cảnh lạ mầu không làm sao tả xiết! Lúc ấy Phật ngồi giữa hư không bảo đệ lên tiếp kiến. Nhưng khi đệ vừa đến trước đức Thế Tôn, thì hình tướng và âm thanh của ngài bỗng xa nhỏ lần rồi tất cả chợt tan biến. Do đây, đệ càng tin chắc thế giới Cực Lạc ở Tây phương là quả có và hiện thật…”

Từ đó Giang Am Nam càng siêng năng trì niệm. Ông lại dặn trước người nhà, khi mình sắp mất chớ thương khóc, nên đồng thanh xưng danh hiệu Phật, đợi khi thân thể hoàn toàn lạnh sẽ tẩn liệm. Trong đám tang phải dùng thức chay tuyệt đối trừ bỏ rượu và đồ huyết nhục. Sang tháng tư, vào ngày hai mươi hai, Giang Am Nam niệm Phật mà vãng sanh. Thân quyến lo việc trợ niệm và đám tang y theo lời di chúc.

Đồng thời cũng tại bản thôn, có người bà con của Am Nam là Giang Nhậm Thuyên, trước nay vẫn đồng tu Tịnh độ. Năm Tân Mùi, Nhậm Thuyên cảm bịnh ngày thêm nguy kịch, song chẳng rời câu niệm Phật. Sang tháng tư năm Nhâm Thân, vào ngày hai mươi ba, ông bỗng chết ngất. Gia nhân vội thỉnh vài liên hữu đến trợ niệm. Không bao lâu ông tỉnh lại, nói với người xung quanh rằng: “Vừa rồi tôi bị dẫn đưa tới Âm Ty, Diêm Vương xử rằng: do túc nghiệp đáng lẽ tôi phải đọa vào loài Ngạ quỉ, song vì biết quy y Tam Bảo niệm Phật tu hành, lại nhờ sức trợ niệm của gia nhơn và các liên hữu trong bảy ngày nay, nên nghiệp báo ấy tiêu diệt, được phóng thích cho trở về”. Sáng hôm sau, Nhậm Thuyên dạy các con đứng chắp tay niệm Phật. Lại bảo vợ ngồi đối trước mình, rồi chậm rãi nói rằng: “Thánh chúng ở Tây phương đã đến tiếp dẫn, hiện còn đứng giữa hư không. Tôi xin giã biệt và nguyện trong thân quyến từ nay đồng siêng cần tu niệm để cùng gặp nhau nơi cõi Liên bang!” Nói xong ngồi ngay thẳng mà qua đời.


LÝ QUỐC TUYỀN

Bé Lý Quốc Tuyền nguyên là con của cư sĩ Lý Tây Canh, ở huyện Miên Dương tỉnh Tứ Xuyên. Em học hành không được sáng lắm, duy có điều khi thấy cha hôm sớm tụng kinh niệm Phật thì đặc biệt chú ý, thường lên ngồi xem nghe, Tây Canh vẫn để nguyên không ngăn cấm. Đồng tử cũng chẳng đợi cha dạy bảo, tự động tập lễ bái tụng niệm theo. Không bao lâu, em thuộc lòng chú Đại Bi. Từ đó mỗi buổi trưa đi học về, Quốc Tuyền đều đến trước bàn Tam Bảo lễ ba lạy, ngồi tụng chú Đại Bi ba biến, niệm Phật độ hơn trăm câu, rồi mới xuống ăn cơm.

Mùa xuân năm Nhâm Thân thời Dân Quốc, đồng tử theo ông nội đi du ngoạn danh lam thắng canh. Em thường nhìn về phương Tây hỏi ông rằng: “Núi Côn Lôn ở đâu? Cõi Cực Lạc cách đây bao xa?” Khi trở về nhà, một hôm lại đem câu kệ trong kinh Đại thừa hỏi cha, xin giải thích.

Ngày mười hai tháng trọng hạ năm ấy, Quốc Tuyền bỗng vương chứng bịnh nónh lạnh nhức đầu, mấy phen điều trị không công hiệu. Đến ngày mười hai, em đòi ăn hạt sen tươi. Sáng sớm mười ba, có người bà con đem ba cành hoa sen và ba cái gương sen đến nói để cúng Phật. Đồng tử nằm ở trong phòng nghe biết, đòi lấy hạt sen ăn. Trong hai ngày mười tám sang ngày mười chín em đau bụng mỗi lúc thêm nhiều, xin cha tụng chú Đại Bi vào nước để uống, uống xong chứng đau bịnh liền bớt.

Đêm ấy Lý Tây Canh lại tụng chú Đại Bi vào nước, định cho con uống. Niệm chưa xong biến thứ hai, ông bỗng thấy nơi đầu Quốc Tuyền hiện ra vầng hồng quang sáng rực lớn như cái đấu. Ánh sáng đỏ chói lên đầu màn giây lâu mới tắt. Cư sĩ lại gần xem thấy con ngủ say, cũng lui về giường của mình nằm nghỉ. Giây phút Tây Canh mộng thấy có ba vị cao lớn mặc khôi giáp theo thời xưa đứng trước giường đồng tử, kế tiếp nghe tiếng con kêu đau bụng. Ông giựt mình thức giấc lại thăm thấy thần sắc Quốc Tuyền đã bị biến đổi, vội gọi người nhà vây quanh niệm Phật. Đến gần sáng, đồng tử gượng ngồi dậy, to tiếng niệm Nam mô A Di Đà Phật một câu, liền tắt hơi. Hơn nửa ngày sau, đảnh đầu em còn nóng ấm, gương mặt hiện ra hồng quang. Qua ngày kế, liệm vào quan tài cũng không nghe mùi hôi, mặc dù lúc đó tiết trời đang nóng nực.

Tối mùng hai tháng bảy, người nhà theo tục lệ thế gian làm lễ Trừ ương, đem chăn nệm và y phục cũ của em ra đốt. Nửa đêm đó, bỗng nghe giữa hư không có tiếng âm nhạc dìu dặt nhiệm mầu. Sáng ra xét nghiệm lại, nơi các đống tro đều hiện nét hoa sen tươi đẹp in như vẽ.


CHÂU TRIỆU PHÁP

Châu Triệu Pháp người ở phường Nghĩa Ô tỉnh Triết Giang. Lúc tuổi trẻ ông nổi tiếng nơi nhà trường về văn chương lưu loát, học hành gồm ưu. Nhưng vì cảnh nhà thanh bần khó nổi tiến thân, ông đành gác bỏ việc khoa cử, làm nghề dạy học để nuôi sống.

Hơn sáu mươi tuổi, Triệu Pháp lại phạm phải tật trùng thính, tai nghe lùng bùng. Khi đó ông mới xét tỉnh mộng đời, phát tâm học Phật. Cảnh nhà càng lúc càng khó khăn, lắm khi ông phải tụng kinh mướn để duy trì sự sống. Lúc rỗi rảnh, lại chuyên tâm niệm Phật. Bà vợ của ông đã mù lòa từ trước, cũng theo chồng lo tu tịnh nghiệp.

Mùa hạ năm Nhâm Thân thời Dân Quốc, đôi mắt của Triệu Pháp cũng tiếp theo mù lòa, vợ chồng phải chịu khổ sở sống trong cảnh tối tăm chật vật. Biết là nghiệp đời trước phát hiện, ông cam lòng ẩn nhẫn, ngày đêm tha thiết niệm Phật không dứt, cầu được sớm sanh về Tây phương. Quang âm thắm thoát, đến sáng ngày mùng một tháng chín, Triệu Pháp bỗng gọi vợ bảo rằng: “Đêm vừa rồi, đức A Di Đà Thế Tôn hẹn trước tiết Trùng Dương, sẽ tiếp dẫn tôi về Cực Lạc. Bà nên chuẩn bị giúp sức trợ niệm để thêm kết duyên lành!” Bà vợ e dè đáp: “Ông thử xét nghiệm lại xem? Dù có thật cũng phải cẩn thận, chớ nên vội nói với người ngoài!” Triệu Pháp cũng hối mình lỡ lời, lấy tay vả vào má để tự răn. Tới ngày mùng ba, ông lại ôn tồn khuyên vợ gia công niệm Phật và nói: “Hãy bền chí cố gắng tinh tấn, chớ nên thương buồn! Hai năm sau tôi sẽ theo Phật đến tiếp dẫn bà sanh về Cực Lạc! xế mai vào giờ Mùi là thời khắc tôi quy Tây. Tới chừng đó bà chớ nên than khóc, gắng bình tĩnh niệm Phật trợ duyên”. Dặn dò xong, liền cùng vợ lần đến Phật đường, khóa tụng như thường lệ.

Đúng ngọ ngày mùng bốn, dùng cháo trưa xong, Triệu Pháp nói: “Xin giã biệt, từ đây về sau tôi không còn ăn nữa!” Nói đoạn lên lễ Tam Bào, rồi ngồi ngay thẳng niệm Phật, âm vận rất thanh nhuần. Sang giờ Mùi, thần thái an lành, ông chắp tay mỉm cười rồi nhắm mắt đi thẳng. Khi nhập liệm, đảnh đầu hãy còn nóng.

LỜI BÌNH:

Rõ biển đời sóng khổ dập dồn, biết quay đầu tỉnh ngộ cố gắng tu hành, là điều đáng khen thứ nhứt. Gặp cảnh mù lòa nghèo khổ, cam lòng ẩn nhẫn không trách buồn thối chuyển, vẫn tinh tấn tu niệm, là điều đáng khen thứ hai. Bởi thế cho nên, tâm thành cảm cách, Phật thánh chứng tri, nghiệp chướng tiêu trừ, sớm về Cực Lạc. Thân nhơ huyễn lần tan nơi trược độ, tướng đẹp nghiêm bỗng hiện chốn liên trì. Đông buồn tuyết lạnh chảy qua, xuân sáng oanh ca lại đến. Nỗi vui khổ cảnh trần như bóng mộng, nửa thương bi nửa tợ mơ hồ. Duyên đẹp lành cõi ngọc rưới mưa hoa, mùi thanh dịu mùi pha giải thoát. Cảnh duyên của Châu Triệu Pháp đáng thương mà cũng đáng mừng vậy!

CHÚ THÍCH

  1. Đài Sơn chỉ lộ bà: Bà lão chỉ đường đi non Ngũ Đài. Sự tích đại lược như sau:

    Một thiền sư đi Ngũ Đài Sơn, giữa đường gặp bà lão nơi quán trà, hỏi: “Thưa bà, đường nào đến non Ngũ Đài để lễ đức Văn Thù ?” Bà lão là một bậc phi thường, bảo: “Cứ nhìn lối thẳng mà đi!” Thiền sư không hiểu đó là cơ ngữ khai thị về tự tánh, nghe xong cứ mặc nhiên lầm lũi tiến bước. Bà lão quở to: “Ủa? Khéo cho vị sư này!”

    Trong đây, ý ngài Liên Trì muốn nói: – Niệm Phật chính là vô Thượng thiên, những cái không chỉ đường, hay chỉ đường như lão bà, đều giết bỏ hết: tức là thề nhập chân tâm, diệt các ý niệm đó.

    Ngay lúc bà lão nói, nếu ở vào trường hợp của đại sư, có lẽ ngài đáp lại bằng một tiếng hét.