MẤY ĐIỆU SEN THANH
Sưu tập: Cư sĩ Bành Tế Thanh & Hy Tốc 
Việt dịch: Hòa thượng Thích thượng Thiền hạ Tâm
PHƯƠNG LIÊN TỊNH XỨ MẬT TỊNH ĐẠO TRÀNG

 

TẬP III
PHẦN BA
TỨ CHÚNG VÃNG SANH
(Tiếp theo)


MINH QUẢ

Thích Minh Quả, người huyện Sương Âm tỉnh Hồ Nam hai mươi sáu tuổi, ông đến chùa núi Đạt Ma ở bản ấp, cầu xin thế độ với Đông Lâm trưởng lão. Sau khi thọ đại giới, sư đi tham phỏng khắp các bậc danh đức xa gần, có chỗ lãnh ngộ, và quyết chí theo đường hướng thiền tịnh song tu.

Lúc trở về Âm Sương, Minh Quả trụ tích nơi chùa Vạn Thọ tại Trường Sa. Kế đó, lại lãnh nhiệm vụ chủ trì chùa Tây Thiền ở Hoành Châu, sửa sang chấn chỉnh cảnh già lam tại đây thành một nơi danh thắng. Sau sư về thiền lâm Vạn Phước ở Trường Sa ẩn tích tu hành. Không bao lâu, hàng môn đồ là Văn Chân bỗng nhiên đau nặng. Sư muốn rước lương y đến điều trị. Văn Chân thưa: “Con chẳng phải thật đau bịnh, mà chính là sắp xả báo thân sanh về Cực Lạc.

Xin thầy đừng rước lương y và đỡ dùm con ngồi dậy!” Sư y lời, kế tiếp xưng hồng danh trợ niệm. Văn Chân sẽ động môi niệm Phật theo, giây phút liền chắp tay viên tịch.

Từ đó tâm tu Tịnh độ của Minh Quả càng tha thiết. Sư chán đi qua cảnh thành thị, lui về ở chùa Bạch Hà nơi miền đầm rộng phía bắc vùng Trường Sa. Tại đây Minh Quả tập họp hàng tăng tục kết liên xã niệm Phật. Gặp ai sư cũng đều lấy quê hương Cực Lạc làm nơi hẹn ước quy kỳ. Mùa đông năm Dân Quốc thứ sáu (1917), sư tự biết duyên của đời mình chẳng còn bao lâu, đem tất cả việc chùa giao phó cho đồ chúng. Sang mùa hạ năm sau, trước khi quy tịch, cả thân bỗng vương chứng phù thủng. Sư tự biết đây là dư báo phải trả lần cuối cùng, liền viết kệ từ biệt rằng:

Sáu mươi bảy tuổi bước suy già
Mây nước tham phương đã trải qua
Tay trắng thuyền không về Phật độ
Lòng thanh tánh tịnh ngộ Di Đà
Luân hồi ba cõi từ đây dứt
Sông núi muôn nơi vốn cảnh nhà
Thân huyễn ngày nay thôi trả lại
Một trời tam muội sáng tình hoa!

Viết xong, bảo đồ chúng rằng: “Cả mình ta đều phù thủng, nếu chẳng nhờ công phu niệm Phật mấy mươi năm, quên hết thân tâm, tất đau nhức không thể chịu nổi. Bây giờ các ngươi hãy chắp tay niệm Phật hộ trợ đưa ta về Tây phương!” Đang lúc đại chúng xướng hồng danh, Minh Quả chợt yên lặng như ngủ, giây phút lại mở mắt ra nói: “Ta thấy chư thánh tăng thân tướng cao đẹp trang nghiêm đến đón rước”. Đoạn ngồi ngay thẳng xây mặt về phía Tây, sẽ động môi niệm Phật theo đại chúng, giây lát liền viên tịch. Sư hưởng tuổi đời được sáu mươi bảy, tăng lạp ba mươi chín. Bấy giờ, nhằm tiết trọng hạ năm Dân Quốc thứ bảy.


BẢN TUYỀN

Thích Bản Tuyền, người đời Dân Quốc tự lấy hiệu là Thê Liên để tiêu biểu cho chí nguyện cầu sanh về Tịnh độ. Ban sơ sư học tán tụng theo nghề ứng phó để đi làm đám. Sau nhờ Tích Đoan lão nhơn chỉ dạy, sư thống thiết hối cải sự lỗi lầm trước, mang y bát đi hỏi đạo chư danh đức khắp các nơi.

Qua thời gian đó, Bản Tuyền về chủ trì các chùa: Long Hoa, Nhạc Lâm, trung hưng tòng lâm Thiên Thai, Hoa Đảnh. Lúc lớn tuổi lại kiến tạo hai ngôi già lam Đoan An và Tiên Nham. Sư có hoa tay viết vẽ rất khéo, thường vì người tả hồng danh chư Phật, cứ mỗi nét bút niệm một câu A Di Đà. Tuy bôn tẩu các nơi, sư thường thầm lặng niệm Phật, đem công đức hóa duyên tu tạo chùa tháp hồi hướng cầu sanh về Tây phương.

Năm Dân Quốc thứ hai, Bản Tuyền bỗng cảm bịnh nhẹ. Ngày mười ba tháng năm, Tắc Nguyện pháp sư nghe tin đến thăm viếng, thấy sư trạng mạo thư thái, vẫn nói chuyện như người thường. Nhưng chính Bản Tuyền lại bảo rằng mình sắp mạng chung. Kế đó sư gọi thị giả đem quyển Thông Thơ lại để chọn ngày lành về Tây phương, và nói: “Tôi sanh giờ Mão, tịch vào giờ Mão chẳng cũng là tốt đẹp ư?” Liền định giờ Mão ngày mười tám làm thời gian quy Phật. Đến kỳ hẹn, Bản Tuyền còn tự tay cùng mấy người thợ kết màn trướng. Tắc Nguyện pháp sư cùng chư Tăng đều bàn luận: “Ông ta dung thái vẫn như thường, làm sao mà vãng sanh được? Vậy chúng ta hãy tạm trở về trước, chừng nào có tin gì rồi sẽ hay!” Nhưng khi tất cả vừa ra khỏi cổng tam quan độ vài trăm thước, thì một vị Tăng ở trong chùa chạy theo kêu to lên rằng: “Lão Hòa thượng sắp vãng sanh về Tây phương, xin các ngài mau trở lại!”

Khi chư sư trở vào chùa, thấy Bản Tuyền đắp y ngồi thẳng trong bảo khám, mắt đã ngưng tròng, song miệng vẫn còn mấp máy niệm Phật. Đại chúng đồng thanh cao tiếng trợ niệm, giây phút sư lần lần nhắm mắt rồi đi thẳng.


KIM THỂ

Thích Kim Thể họ Phương, người ở Vu Đô, tỉnh Giang Tây. Sư có gieo căn lành từ kiếp trước, nên lúc còn niên thiếu đã biết trường trai lễ Phật. Qua ba mươi tuổi, Kim Thể chán cuộc thế vô thường, ba cõi như nhà lửa, đến xuất gia nơi chùa Báo Ân ở Trường Định, tỉnh Phúc Kiến.

Sau khi thọ giới Cụ túc, sư chuyên chí khổ hạnh, giữ chức Hương đăng nơi chùa Quang Hiếu tại Chương Châu. Cách hành sử của Kim Thể rất ngăn nắp cẩn thận, tinh sạch cung kính, mọi người trông thấy đều khen ngợi là chí thành. Sư tiếc của thường trụ như giữ tròng con mắt, hằng ngày chuyên lễ bái niệm Phật không lúc nào biếng trễ thối lui, nên được đại chúng trong chùa mến phục.

Kế đó lại muốn chuyên tu để đảm bảo sự giải thoát, Kim Thể rời chùa, dời đến ở trong hang đá nơi vùng thâm sơn thuộc huyện Ninh Đô. Sư gác cành thông làm tòa, bện cỏ tranh làm nền, trồng khoai làm thức ăn, vá vải thô làm áo mặc, sự khổ hạnh người thường khó kham nổi. Song riêng Kim Thể vẫn điềm nhiên vừa ý, lấy đạo làm vui. Lâu ngày có người hay biết, tìm đến viếng thăm; cúng cho tiền thì không nhận, chỉ thọ lãnh áo vải cơm thô. Trải một thời gian mấy năm ẩn tu, sư lại dời đến Kim Hoa Sơn Tự, xin vị trụ trì cho mình lấy gỗ ngăn thành một gian tịnh thất nhỏ bên hành lang chùa để tụng niệm. Đại chúng đều tôn trọng đạo hạnh của sư, nên để cho tùy tiện. Tại đây trọn ngày Kim Thể đóng cừa trì tụng. Trừ thời tiểu thực sáng và ngọ trai, ngoài ra tiếng khánh mõ hòa với hiệu Phật câu kinh lanh lảnh không dứt, mấy chục năm như một ngày.

Do đức chân tu của sư, hàng tăng tục tín mến càng lúc càng nhiều, khi có người thành tâm cúng dường, liệu không thể từ chối được, sư nhận lãnh và chuyển giao lại cho chùa, để hộ ưì Tam Bảo hoặc làm các công đức. Riêng mình, Kim Thể chỉ lưu lại mười đồng bạc, dự bị cho tiền mua củi để phần hóa lúc mạng chung. Hạnh an vui cam thanh khổ, tầm giải thoát không nhiễm trần của sư, đại để đều như thế. Có ai đến hỏi đạo, không luận là hàng xuất gia hay tại gia, sư đều khai thị: “Cõi Ta Bà nhơ khổ, miền Cực Lạc sạch vui, phải phát lòng Bồ đề, gấp cầu thoát khỏi sự sống chết luân hồi, lấy niệm Phật hồi hướng vãng sanh làm chánh yếu. Lại cần nên tin nhận rõ ràng lý nhân quả, giữ gìn giới cấm, tụng kinh trì chú, tu các phước lành làm phụ trợ. Hạnh tu phải trong ngoài như một, trước sau không thay đổi, mới được sự lợi ích chân thật”. Ngoài những điều ấy ra, sư không một lời đề cập đến việc phước lạc ở thế gian.

Năm Nhâm Ngọ niên hiệu Dân Quốc thứ bảy, Kim Thể đã được bảy mươi bốn tuổi. Vào ngày mùng một tháng mười, sư cảm bịnh nhẹ. Tới ngày mùng bốn không thấy ăn uống, vẫn tụng niệm như thường, đến canh khuya mới dứt. Sáng sớm ngày mùng năm, đại chúng trong chùa không nghe tiếng trì tụng, đến gõ cửa, thấy lặng lẽ liền vào thất xem thì sư đã ngồi kiết già thoát hóa. Tay mặt của Kim Thể vẫn còn cầm chiếc khánh nhỏ, đầu hơi cúi xuống, mặt lộ nét tươi vui. Điều nầy chứng tỏ sư đã vãng sanh trong khi niệm Phật. Đại chúng đều khen ngợi, đoán quyết rằng sư đã thần về Tịnh độ, chất gởi bảo liên chẳng còn nghi ngờ chi nữa!


GIỚI NHIÊN

Thích Giới Nhiên hiệu Thanh Tuyền, nguyên quán tại thôn Uyển Bình phủ Thuận Thiên. Nhà ông ở khoảng giữa hai ngôi chùa Trung Hoa và Lạt Ma giáo. Thuở bé ông không biết chữ, thích nghe mấy vị Lạt Ma tụng kinh, dường như có chỗ cảm ngộ.

Đến hai mươi chín tuổi, ông xin với mẹ cho xuất gia xuống tóc tại chùa Di Đà. Hơn một năm sau, được thọ đại giới nơi chùa Niêm Hoa. Kế đó lại đến Tịnh viện Tư Phước ở Hồng Loa Sơn nghiên cứu giáo lý và niệm Phật. Cư ngụ tại đây trước sau bảy năm, nhân nghe giảng về Duy thức không lãnh hội, niệm Phật lại chẳng đắc lực, Giới Nhiên nghĩ hận mình căn tánh tối tăm, nếu không gắng sức khổ hạnh, chắc cũng sẽ luống qua một đời. Do đó sư phát nguyện đốt hương triều bái các nơi thánh tích, thề ba bước lễ một lạy. Trong hơn hai năm, Giới Nhiên triều lễ các chùa núi: Nga My, Cửu Hoa, Phổ Đà, Thiên Đông, Thiên Mục. Sau thời gian ấy, sư từ chùa Kim Sơn về phương bắc thăm viếng thân mẫu. Kế tiếp lại triều bái non Ngũ Đài, lễ thánh tích của đức Văn Thù Bồ Tát. Mãn nguyện, sư thường thay đổi cư ngụ tại hai chùa Kim Sơn, Cao Mãn để rèn luyện thân tâm.

Tháng giêng năm Dân Quốc thứ bảy, Giới Nhiên từ Kim Sơn đến cửa Hộ, trụ tích nơi chùa Ngọc Phật. Lúc ấy có cư sĩ Trình Tuyết Lâu đến hỏi đạo, đàm luận rất thích hợp hân hoan. Tháng hai năm Canh Thân, Tuyết Lâu vương bịnh, sư nhân đến thăm, hỏi rằng: “Cư sĩ thấy trong người có mỏi nhọc nhiều chăng?” Tuyết Lâu đáp: “Bịnh dây dưa lâu ngày, thật rất khổ”. Sư bảo: “Thân đau bịnh mặc nó, tâm ta vẫn thanh tịnh không liên quan, cứ chuyên niệm Phật thì sự đi ở đều được tự tại!” Ngày hai mươi chín tháng ba năm ấy, Trình cư sĩ đã lành bịnh, đến viếng Giới Nhiên tại chùa Ngọc Phật, cả hai trò chuyện tương đắc tới mười giờ đêm. Lúc cư sĩ từ giã ra về, sư có nói:

“Ngày mai mùng một, tôi sẽ nỗ lực niệm Phật!” Sáng hôm sau, Giới Nhiên thức dậy sớm đem y ra phơi, chợt bảo vị Tăng đồng bạn rằng: “Tôi sắp cáo biệt nên đêm nay không thể chấp tác, phiền thầy thay nhọc dùm!” Ngọ trai xong, sư vào thất đóng cửa, mặc áo hậu, đắp cà sa trang nghiêm, ngồi kiết già cầm chuỗi niệm Phật. Trì tụng một lúc lâu, yên lặng nhắm mắt mà viên tịch.

Trình Tuyết Lâu nghe tin vội đến thăm, thấy Giới Nhiên còn ngồi thẳng trên đơn, đôi dép để ngay ngắn, y phục đều nghiêm chỉnh sạch sẽ. Hỏi ra thì mấy bữa trước sư có lãnh tiền trai tăng, nhờ may y phục mới. Kế hôm qua, Giới Nhiên đã dự bị tắm gội và thu xếp mọi việc. Trước khi vãng sanh lại thay đồ mới, an nhiên không bịnh mà từ trần. Sư hưởng tuổi đời được sáu mươi, tăng lạp ba mươi mốt.


CHÁNH THÀNH

Thích Chánh Thành họ Châu, người ở Dực Dương tỉnh Giang Tây. Ông nhà nghèo, đã có chí xuất trần từ lâu. Trước tiên được nghe Mẫn Giác đại sư, vị hóa chủ ở chùa Tây Nhiên Mục, dạy pháp thức niệm Phật cầu sanh Tây phương, ông liền tin chắc và từ đó thường hành trì theo. Nhân có người bà con bên ngoại nghèo khổ không nơi nương tựa, nên cha con ông đem về nhà ủng hộ, tìm cách sanh nhai để phụng dưỡng, ông thường bảo con rằng: “Chờ khi người nầy thọ chung, chôn cất xong xuôi, cha con ta sẽ đồng xuất gia”.

Quả nhiên, đến năm sáu mươi tám tuổi, lo liệu việc tẩn táng cho kẻ ngoại thân xong, ông đem con đến chùa núi Phong Đảnh thuộc huyện Duyên Sơn cầu xin thế độ. Người con trở thành đồ đệ, pháp danh là Minh Trí. Sau khi xuấl gia, Chánh Thành càng gắng sức tu trì. Trong phòng có hai tòa bằng trúc và gỗ, mùa hạ sư ngồi tòa trúc, mùa đông ngồi tòa gỗ mà niệm Phật. Sư ở núi trọn mười ba năm, chưa từng đặt lưng nằm xuống chiếu. Khi niệm Phật cất cao tiếng, thường lúc niệm đến cả mình xuất hạn mới thôi. Mấy vị ở bên hềm là huyên náo hằng khiển trách, lại có những bạn đồng giới khuyên nên nhỏ tiếng một chút để cho mọi người khỏi chán nhàm. Chánh Thành tuy mỉm cười cho là phải, song đến khi niệm được chừng một lúc lại dường như quên hẳn, vẫn y nhiên cao tiếng như cũ. Có lẽ sư niệm Phật rất chuyên thiết, nên đã đến cảnh giới nhứt tâm. Lúc niệm chỉ biết có Phật, không còn tưởng nghĩ chi khác, cũng chẳng biết mình niệm to hay nhỏ, có làm phiền rộn người cùng chăng, nên mới như vậy.

Gần chùa có ngôi tịnh thất do sư Cổ Hoa cư trụ tu hành, Chánh Thành thường ngồi nơi phiến đá dưới cội thông to bên tịnh thất, hướng về chót núi phía Tây mà niệm Phật. Sư hàng mục kích Phật hiện thân đứng trên đỉnh núi, tướng tốt trang nghiêm, đã hai ba phen gọi thầy Cổ Hoa ra xem, nhưng Cổ sư vẫn không thấy được.

Ngày mùng ba tháng sáu năm Nhâm Tuất thời Dân Quốc, Chánh Thành đến chợ huyện mua một vuông vài trắng, nhờ người may thành đài, bảo để đựng linh cốt sau khi thiêu hóa sắc thân. Kế đó lại nói bốn câu kệ, thỉnh thầy Cổ Hoa biên dùm lên mặt đãy. Vài người thấy sư không đau bịnh chi, tiết trời lại nóng, bảo đó là việc chưa cấp thiết hãy nên chậm lại. Nhưng Chánh Thành tự biết đã tới kỳ quy Tây, thôi thúc làm gấp. Quả nhiên, sang ngày mùng bốn, sư ngồi kiết già niệm Phật mà hóa. Lúc đó chiếc đãy vừa mới may xong. Còn Cổ sư thì thờ ơ quên sót bốn câu kệ, nên vẫn không biên ra được.

Tới ngày mùng bảy khi làm lễ trà tỳ, vừa đúng thông lệ hằng năm trong chùa đem tạng kinh ra phiên duyệt và phơi, nên hàng Phật tử tụ đến đông nhiều. Lúc cử hỏa bốn chúng vây quanh đứng xem, có kẻ thấy ánh lửa như hoa sen, có người thấy kim quang rực rỡ. có vị thấy hiện thành hoa lá màu xanh. Mọi người than thở ngợi khen là điềm lành hi hữu, đều tụng kinh niệm Phật hoặc lễ bái. Đây cũng là việc ít có của hàng tăng già thời pháp vậy.


TRUYỀN TÁNH

Thích Truyền Tánh tự Thanh Hoa, quê ở huyện Tam Thai tỉnh Tứ Xuyên. Sư xuất gia tại núi Nga My, chùa Kim Đảnh. Mùa đông niên hiệu Dân Quốc thứ năm, được thọ giời Cụ túc nơi chùa BảoQuang.

Năm Dàn Quốc thứ mười một, Truyền Tánh đi tham phương lần đến chùa Thê Chơn, huyện Gia Hưng rồi trụ nơi đó. Năm kế triều lễ núi Ngũ Đài, lúc trở về lại trụ ở Niêm Phật Đường chùa Thê Chơn mà tinh tu tịnh nghiệp. Tới niên hiệu Dân Quốc thứ mười ba, sáng ngày mười tám tháng tư, sư ngồi kiểt già niệm Phật mà hóa.

Trước đó, Truyền Tánh trình với vị tăng Tri khách rằng: “Tôi sắp phải đi xa!” Hỏi: “Thầy đi đâu?” Đáp:

 

“Có chỗ đi về!” Tri khách tăng đùa bảo: “Nếu được về cõi Cực Lạc ở Tây phương là điều rất quí!” Sư đáp: “Xin vâng! Tới ngày ấy. khóa tụng sáng xong, trước tiên Truyền Tánh niệm hương đảnh lễ Phật. Kế đó tới phương trượng lễ Liên Nhơn hòa thượng, rồi quì xin cáo biệt và cầu khai thị. Hòa thượng gạn hỏi, sư đáp: “Cơ duyên đã thuần thục, chẳng thể không đi!” Hòa thượng hứa nhận và phú kệ rằng:

Niệm Phật pháp mầu lại cõi huyễn
Đường Tây thẳng lối họp cơ duyên
Nhân thành nguyện mãn Di Đà gặp
Khỏi nỗi “Linh bình ngũ thập niên”.

Thọ lãnh pháp kệ xong, Truyền Tánh trở về trung đường ngồi kiết già niệm Phật. Được giây lát, đại chúng thấy đảnh đầu sư hơi nóng bốc lên như khói trắng, cả mình xuất hạn, sắc mặt khác thường. Vài vị vội đến dò xem, thì sư đã thoát hóa.


GIỚI TÂM

Thích Giới Tâm họ Đàm, quê ở Huỳnh huyện tỉnh Sơn Đông. Lúc tuổi trẻ ông rất mộ đạo, hằng có ý nguyện thoát trần. Lớn lên vì phải phụng dưỡng song thân, nên tới lúi buôn bán ở Ngưu trang. Tuy nhiên, ông vẫn giữ chí khổ tu, ăn chay niệm Phật, gặp những việc lành đều gắng hết sức mà làm.

Đến tuồi năm mươi bảy ông mới thật hành được ý nguyện, tới xuất gia nơi chùa Tường Vân tại Hải Thành. Mùa đông năm Dân Quốc thứ mười một, lại đắc giới nơi chùa Thiện Quả ở Bắc Bình. Từ đó, Giới Tâm càng tinh tấn niệm Phật, ngày đêm không biếng trễ. Khi gặp hàng thân hữu hoặc kẻ viếng thăm, sư chỉ khuyên tu Tịnh độ, không bàn luận đến việc thế gian. Mùa xuân năm Dân Quốc thứ mười ba, chùa Lăng Nghiêm ở Dinh Khẩu mới khởi cộng kiến trúc, sư phát tâm làm công quả coi sóc mọi việc, chẳng nài khổ nhọc khó khăn. Hai năm sau Giới Tâm vương bịnh ho, tự nghĩ đó là túc nghiệp, nên vào hôm lễ vía đức A Di Đà đốt bốn mươi tám liều hương nơi cánh tay, để cúng dường và cầu sám hối. Ngày mùng tám tháng chạp, nhằm vía đức Thích Ca thành đạo, lại đốt thêm bốn mươi tám liều hương nữa. Tuy bịnh chứng mỗi ngày một tăng, song sư vẫn gắng niệm Phật không thôi nghỉ.

Ngày mười hai tháng chạp, sáng sớm thức dậy, Giới Tâm đối trước đại chúng bạch rằng: “Đêm vừa rồi, tôi thấy thắng cảnh ở Tây phương và kim dung của Tam Thánh. Chắc có lẽ duyên trần đã mãn, thời kỳ quy Phật hầu gần. Nay xin đảnh lễ cáo từ và kính chúc đại chúng ở lại tu hành tinh tấn!” Lúc ấy có cư sĩ Vương Tinh Kiều, một lương y ở bản ấp, là bạn tốt của Giới Tâm, cũng trong đêm đó nằm mộng thấy người báo tin rằng: “Sư Giới Tâm sắp vãng sanh, nên mau tới trợ niệm!” Trong giấc mơ, Vương theo người ấy sang viếng thăm, hỏi: “Vừa rồi tôi chẩn mạch, thấy trước ngày rằm thầy vẫn chưa đến nỗi nào, nay sao lại đi vội gấp như thế?” Tâm đáp: “Sự vãng sanh đâu có luận gì mạch? Tam Thánh đã mách cho biết trước ngày về. Vậy liên hữu hãy dìu tôi ra ngoài, xem đã tới thời chưa?” Ra tới bên ngoài, sư hướng về Tây cả cười bảo: “Tôi sẽ sanh Tịnh độ, hưởng sự vui thắng diệu. Kìa, liên hữu hãy nhìn xem!” Vương ngẩng đầu trông lên, quả thấy đằng xa hiện cảnh giới trang nghiêm cõi Cực Lạc, Tây phương Tam Thánh đứng giữa hư không, liền hỏi: “Tam Thánh đã quang lâm tiếp dẫn, sao còn ở cách quá xa?” Bên tả bỗng có tiếng bảo: “Vị sư nầy đới nghiệp vãng sanh, chẳng phải Phật không đến tiếp dẫn!”

Tiỉnh giấc, sáng ra Vương đem điềm mộng ấy thuật với các bạn đồng tu, ai nấy đều cho là triệu chứng báo sư sắp về cõi Phật. Ngày mười ba, thời tiểu thực sáng xong, Giới Tâm trao tiền cho vị Hương đăng, bảo mua dầu đốt đèn bàn Phật và chú nguyện rằng: “Xin đem ánh sáng nầy soi phá sự tối tăm của chúng sanh ba cõi!” Nói xong tụng kinh A Di Đà bảy biến. Chiều lại, sư đối cư sĩ Lục Bính Nam và Phật từ Vĩnh Nhuận bảo: “Sau khi tôi về Cực Lạc chứng được đạo quả, sẽ phân thân trở lại Ta Bà độ thoát vô lượng chúng sanh!” Nói vừa dứt, liền ngồi kiết già ngay thẳng, chắp tay niệm Phật rồi an nhiên mà hóa, thọ được sáu mươi ba tuổi.


ĐỨC TRÍ

Thích Đức Trí họ Trương, người tỉnh Hồ Bắc, lúc chưa xuất gia chuyên nghề đánh cá. Khi tuổi gần sáu mươi, ông nghĩ mình nghiệp sát quá nặng, tất khó tránh khỏi ác báo, muốn được giải cứu chỉ có cách đối trước Tam Bảo sám hối tu hành.

Năm Nhâm Tý, đầu kỷ nguyên Dân Quốc, ông đến chùa Phật Đảnh ở non Phổ Đà, cầu xin xuống tóc xuất gia. Sau khi thọ đại giới, có nhiều vị sư dạy bảo cho cách thức tu thiền. Đức Trí cũng tham cứu ít lâu, song tự biết mình căn tối chướng sâu, khó được sự lợi ích thiết thật. Kế tiếp nghe Ấn Quang pháp sư đề xướng pháp môn Tịnh độ, sư đến đảnh lễ cầu khai thị. Sau khi nghe lời chỉ dạy, Đức Trí liền tin nhận, từ đó chuyên cần lễ bái tụng niệm, giữ thời khắc chắc chắn không trễ sót, hơn mười năm như một ngày. Tánh sư cang trực, lại cần kiệm chất phác, rất chuộng giới hạnh, lạnh nhạt lợi cùng danh, chỉ trọng sự chân thật tu hành. Đối với nhũng vị Tăng có đạo hạnh, thì đặc biệt cung kính, không luận già trẻ hoặc niên lạp cao thấp, đều đảnh lễ cầu xin khai thị. Khi được của cúng dường, đều chuyển giao cho thường trụ, hoặc giúp làm những công đức lành, bên mình không chứa để chi cả. Về sau vài bạn đồng môn đem việc phiền lụy đến người về chi phí củi lửa để thiêu hóa lúc mãn phần, đôi ba phen trách móc. Bởi duyên đó sư mới dành ra ba mươi đồng giao cho vị Tăng Tri khố nhờ cất giữ, chớ không chịu chứa để nhiều.

Mùa thu năm Bính Dần thời Dân Quốc, Đức Trí vương chứng hạ lỵ. Có người bày uống rượu ngâm với trái Vô hoa để chữa bịnh, tất sẽ mau lành. Sư khẳng khái bảo: “Tôi thà chết chứ không dám phá giới cấm uống rượu!” Hai năm sau bịnh ấy lại tái phát, kỳ nầy rất trầm trọng, thường làm dơ cả giường nệm, phải dời về Như Ý liêu để tĩnh dưỡng. Nhân vì bình sanh sư ưa kết duyên với người, nên lúc đó được vị Hương đăng có lòng tốt săn sóc, lo cơm chăn cùng lau rửa giường phòng, giặt giũ y phục chăn nệm. Đức Trí tự biết đây là do nghiệp sát sanh phát hiện, nhờ chân thật tu hành, nên chuyển từ trọng báo sang khinh báo. Vì thế nên tuy đau yếu, song sư vẫn chí tâm niệm Phật không xen hở.

Trước khi mãn phần ba ngày, căn bịnh bỗng giảm nhẹ, không còn làm nhơ uế, thần trí sư trở nên thanh tĩnh. Do Đức Trí thật ý tu trì, nên được nhiều người kính mến, hằng lui tới viếng thăm. Lúc ấy tầng lầu trên của liêu Như Ý có mấy vị Tăng đang duyệt xem Đại Tạng kinh, thấy trạng thái đó biết là sư sắp từ trần; phát tâm thay phiên nhau trợ niệm, cùng khai thị cho những điểm thiết yếu để được vãng sanh. Trước khi sư lâm chung bốn giờ, tất cả đều chuyên xưng hiệu Phật giúp phần chánh niệm cho bịnh nhơn, lại trần thiết tượng Phật tiếp dẫn để trước mặt. Đức Trí vui mừng cảm tạ và chú nguyện rằng: “Cầu cho chư vị đều được sanh về Tây phương Cực Lạc thế giới!” Ban sơ sư niệm ra tiếng nhỏ theo đại chúng, kế đó chỉ sẽ động môi niệm thầm.
Lúc sắp đi lại trở mình nằm nghiêng bên hữu, tay mặt tự sửa ngay ngắn, tay trái do một vị Tăng giúp để xuôi theo mình, thành ra tướng nằm kiết tường. Trong tiếng xưng hồng danh của chư Tăng, Đức Trí vẫn động môi niệm Phật đến giờ phút cuối cùng, rồi nhắm mắt đi thẳng.

Mấy giờ sau, cả mình sư đều lạnh, duy đảnh đầu còn nóng. Tới khi nhập khám, toàn thân Đức Trí đều mềm dịu, trong người sạch sẽ không có mùi hôi, lại tiết ra hương thơm thanh thoáng. Gương mặt sư bình thời vẫn đen nám tiều tụy, lúc đó lại lộ nét tươi đẹp sáng nhuần. Đấy là triệu chứng sư được nghiệp chướng tiêu trừ, sanh về Cực Lạc.


KHÔNG TAM

Thích Không Tam họ Lưu, quê ở huyện Hải Thành Phụng Thiên. Lúc còn ở nhà, ông làm công trong lò ngói gạch. Tánh ông ưa bố thí, từng cung cấp phần ngói gạch và ngư vĩ cho chùa Lăng Nghiêm ở Dinh Khấu lúc hưng công. Nhờ thế lần lượt hơn hai năm sau, ngôi tự viện mới được lạc thành. Kế đó Không Tam cảm nghĩ đời người như giấc mộng, tới chùa Trấn Hà ở trong huyện, đảnh lễ Thoát Trần pháp sư cầu xin thế độ.

Sau khi thọ đại giới, sư đến chùa Long Tuyền ở Thiên Sơn, ngày đêm tinh cần niệm Phật. Năm Dân Quốc thứ mười tám (1929). Không Tam nghe Đế Nhàn pháp sư đến chùa Cực Lạc ở Cáp Nhĩ Tân truyền giới, liền mang y bát tới nơi công quả, lãnh phận sự nấu nước giải lao và săn sóc cho các giới tử đau bịnh. Bấy giờ nhằm tiết hạ, khí hậu nóng bức, hàng tân giới mười người vương bịnh hết ba bốn. Vì thế nhiều lúc sư phải thức suốt đêm để lo thuốc thang săn sóc.

Được gần nửa hạ, Không Tam trình với vị Tri sự tăng trong chùa là Như Quang rằng: “Không bao lâu tôi sẽ về Tây phương Cực Lạc thế giới, xin thầy từ bi sắp cho một nơi thanh tĩnh để được phương tiện hơn”. Như Quang suy nghĩ rồi chấp thuận, hỏi: “Chừng nào thầy quy Phật?” Sư đáp: “Không quá mười ngày!” Đại chúng hay được việc ấy, phần đông đều mỉm cười nửa tin nửa ngờ. Sáng hôm sau, Không Tam được cho dời đến tịnh thất rộng rãi ở phía đông chùa. Kế tiếp vài ngày, sư báo tin hôm nay mình sẽ vãng sanh, và yêu cầu sau khi viên tịch đem hài cốt ra thiêu hóa. Lúc ấy đại chúng gồm hàng tăng tục hơn tám mươi người nghe tin tụ hội đến, có vị thành tâm trợ niệm, có kẻ chỉ tới nơi dò xem sự thể ra sao!

Bấy giờ giữa số đông người, Không Tam ngồi kiết già nhắm mắt chắp tay niệm Phật không dứt. Một vị Tăng thấy sư nét mặt an điềm, lại nghe thoảng mùi hương lạ, bỗng sanh lòng tin tưởng, lên tiếng hỏi: “Thầy sắp về Phật, chẳng lẽ không để lại một bài kệ nào lưu niệm hay sao?” Sư mở mắt ra đáp: “Tôi xuất thân là kẻ làm công trong lò gạch, đã dốt nát lại nửa đời người mới vào chùa xuống tóc tu hành. Như thế đâu có đủ khả năng chi để thuyết kệ? Nhưng thời gian trước tôi có nghe hai câu kệ của một vị giảng sư, nên ghi nhớ và hằng lấy đó là phương châm trên bước tu hành. Hai câu ấy là: Nói được làm không được. Tất không phải người trí”. Đại chúng nghe lời ấy, biết sự tu hành của sư chẳng dựa nơi điều phù phiếm, mà đã đạp trên bước chân chắc chắn chân thật, nên đều chắp tay tỏ vẻ cung kính. Giây lát Không Tam ngồi thoát hóa trong tiếng niệm Phật của đông người. Bấy giờ nhằm ngày mười ba tiết trọng hạ.

Hai hôm sau mới làm lễ nhập khám, di hài của sư vẫn còn ngồi ngay thẳng tươi tỉnh như sống. Xung quanh ruồi muỗi tuyệt không có một con, thi thể lại thường tiết ra mùi hương lạ. Lúc trà tỳ, mọi người đều nghe hơi thơm chiên đàn bay thanh thoảng.


KIM TRƯỢC

Thích Kim Trược, người ở Thai Châu, xuất gia tại chùa Diên Thọ thuộc bản xứ hồi mới lên tám tuổi. Đến niên kỷ hai mươi, sư được thọ đại giới nơi chùa Quốc Thanh.

Bước hành đạo đầu tiên, thầy thế độ dạy sư tụng chú Đại Bi và niệm thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát. Mỗi ngày Kim Trược tụng chú bốn mươi tám biến, ngoài ra chỉ chuyên niệm Quán Âm. Sư tu tập như thế không xen hở, bình sanh xem danh lợi như bóng bọt, thói quen tập nhiễm nhờ công đức trì niệm lần lượt đều tiêu trừ. Lại do sức trì chú, Kim Trược trị bịnh cho nhiều người lành mạnh một cách mau lẹ, cũng không nhận sự thù ân.

Năm Mậu Thìn niên hiệu Dân Quốc, sư ở tu một mình trong am nhỏ, đêm nọ bỗng bị giặc cướp. Chúng xét thấy ngoài y bát ra không có vật chi quí giá, nên nổi giận đâm sư hai dao bên hữu trán và một ở cánh tay mặt. Kim Trược chỉ bị bất tỉnh, sau đó được lành, dấu dao đâm còn in dấu rành rạnh. Đây là nghiệp trái nhiều kiếp về trước, do công tu nên dồn phát lộ, chuyển quả báo nặng thành nhẹ, trả ngay trong hiện đời. Mùa hạ năm Kỷ Tỵ, sư đến chùa A Dục Vương ở Ninh Ba, niêm yết danh sách xin đơn (chỗ giường nằm) nhập chúng. Chờ hơn nửa ngày song không được chấp nhận, Kim Trược chẳng một lời trách hờn, vẫn điềm nhiên ngồi tịnh mãi. Vị tăng Tri sự thấy thế, đưa vào Dưỡng Tâm Đường cho ở tạm.

Tới tháng tám, vị sư Quản đường lại bảo phải đi nơi khác. Kim Trược thưa: “Tôi tạm ở đây không bao lâu sẽ sanh về Tây phương. Xin từ bi cho tôi nhập chúng đến mãn tiết mạnh đông”. Sư Quản đường trình lên vị tăng Tri chúng miễn cưỡng chấp thuận. Tới ngày mười chín tháng mười, Kim Trược bạch với chúng rằng: “Trong vòng ba ngày, tôi sẽ thoát ly biển khổ, sanh về Cực Lạc. Xin các bạn đồng tham nên cô gắng niệm Phật cho chắc thật, hoặc chuyên xưng danh hiệu một trong hai vị đại sĩ tùy thị ở Tây phương, quyết định sẽ được vãng sanh. Đức Thế Tôn không bao giờ nói dối! Hiện thời Quán Thế Âm Bồ Tát đang bưng đài bạc đứng giữa hư không trước mắt tôi!” Đại chúng nghe nói, phần nhiều không tin, cho là lời huyễn hoặc. Trước giờ ngọ ngày hai mươi mốt, Kim Trược đắp y lên các điện lễ Phật, Bồ Tát, rồi xuống thưa các vị sư Quản đường rằng: “Quá ngọ một giờ, tôi sẽ về Tây phương”. Chư Tăng vẫn còn cho đó là lời càn dối.

Tới chín giờ, sư lên quá đường dùng hai chén như thường ngày, rồi về nói với một bạn đồng liêu rằng: “Theo qui lệ của thường trụ ở đây, vị Tăng nào tịch phải đưa thi hài vào núi, tiền mướn người khiêng đi là bốn hào. Tôi không còn vật chi, duy có đôi dép xin đi phụng tặng, nhờ thầy lo liệu giùm việc ấy!” Sang mười một giờ, Kim Trược tắm gội thay y phục ngồi kiết già day mặt phương Tây, lâm râm trì niệm. Đến xế qua một giờ, đúng như lời nói, sư an nhiên mà thoát hóa.


ĐẾ NHÀN

Thích Đế Nhàn, pháp danh Cổ Hư, hiệu Trác Tam họ Châu, người ở Hoàng Nham tình Triết Giang. Pháp sư tánh huệ đã trồng, căn lành sẵn đủ, hai mươi tuổi đến xuất gia nơi chùa Bạch Vân huyện Lâm Hải. Hai năm sau được thọ giới Cụ túc tại chùa Quốc Thanh ở non Thiên Thai.

Từ đó đồng tham thiền, hạ học Phật, Pháp sư tinh tấn hành đạo, gần gũi với các bậc kỳ túc, và rất tương đắc cùng Mẫn Hy lão nhơn. Ngài từng dự khóa giảng Pháp Hoa, nghe chưa trọn bộ đã lãnh hội ý mầu Tam đế tam quán. Kế tiếp được cho ngồi tiểu tòa phúc giảng lại, lời sâu mầu lý thông suốt, khiến hàng đồng bối đều kinh hãi thán phục. Mẫn công cũng thở than khen ngợi cho là bậc long tượng trong pháp môn.

Năm hai mươi tám tuổi, Pháp sư mở diễn hội Pháp Hoa nơi chùa Lục Thông tại Hàng Châu. Khi giảng tới đoạn “Khai Phật tri kiến”, Ngài bỗng vào định lặng yên. Giây lát xuất định giảng tiếp thì biện tài không ngại, đáp nạn giải nghi như bình tuôn nước, lời lẽ thâu mở tự tại chẳng ai chế ngự nổi. Từ đó về sau, thường lấy sự hoằng pháp lợi sanh làm trách nhiệm của mình. Pháp sư lại lo huệ nhiều định ít sợ nỗi chướng đạo, nên đóng cửa nhập thất nơi am Thánh Quả ở chùa Từ Khê. Lúc rỗi rảnh thì nghiên cứu thêm về Đại thừa kinh điển.

Ba năm sau vừa ra thất, Ngài liền nhận lời cầu thỉnh giảng kinh Pháp Hoa tại chùa Long Hoa ở Thượng Hải. Khóa giảng xong lại về Kim Sơn tự tham thiền, rồi đến chùa Quốc Thanh tu quán. Trải qua thời gian đó, sự giải ngộ của Pháp sư càng đến chỗ sâu sắc nhiệm màu, được Tổ Thích Đoan Dung chọn làm truyền nhơn môn phái Thiên Thai đời thứ bốn mươi ba. Từ đây đến hơn hai mươi năm về sau, Ngài ứng lời cầu thỉnh liên tục đi giảng khắp nơi ít khi rỗi rảnh, mở pháp hội kể có mấy ngàn lần. Mỗi ngày Pháp sư đều tụng kinh Kim Cang, Viên Giác, Quán Vô Lượng Thọ, Phổ Hiền Hạnh Nguyện phẩm và niệm Phật hơn một muôn câu lấy làm thường khóa. Ngày rằm và ba mươi lại tụng thêm kinh Phạm Võng.

Trong một đời hoằng hóa, Ngài đã trùng hưng chùa Đầu Đà ở Ôn Châu, chùa Vạn Niên ở Thiên Thai, chùa Quán Tông ở Ninh Ba, chùa Phạm Thiên ở Hàng Châu. Ngoài ra còn mở Phật học đường để đào tạo Tăng tài, lập tịnh viện cho đại chúng tu tập. Chùa Quán Tông là nơi thường trụ tích của Pháp sư. Ngài trứ thuật rất nhiêu lời khai thị, dưới thích ứng với cơ duyên, trên thâm hợp cùng Phật lý, khiến cho phần đông hàng đạo tục đều được lợi ích thấm nhuần. Cách thức chỉ dạy thì giáo mở Thiên Thai, hạnh chuyên Tịnh độ, nên mỗi khi giảng kinh đều chỉ quy về sự niệm Phật. Bản thân của Pháp sư cũng thật hành theo đường lối đó, hạnh giải kiêm toàn chúng đều khâm phục, được mọi người tôn xưng là bậc trung hưng Thai giáo thời bấy giờ. Cho đến những điều công ích, các việc từ thiện ngài đều khẳng khái giúp thành.

Trong hai mùa xuân hạ năm Tân Mùi thời Dân quốc, Pháp sư giảng kinh nơi chùa Ngọc Phật ở Thượng Hài. Ngoài ra lại ứng đáp lời cầu thỉnh của Vô Tích cư sĩ, giảng bài văn Phát Bồ Đề Tâm của Tĩnh Am đại sư. Nhân vì tuổi đã cao, thời tiết nóng bức, Phật sự quá nhọc nhằn, nên sau kỳ giảng Pháp sư lâm bịnh. Lúc trở về bản tự, tinh thần cùng sự ăn uống mỗi ngày thêm suy giảm. Ngài bèn tuyệt hết các duyên, quyết ý chuyên niệm Phật cầu sanh. Sang mùa hạ năm Nhâm Thân, Pháp sư đem thủ tục và quy chế ở chùa Quán Tông giao phó hoàn tất, chỉ định cho môn nhơn là Bảo Tịnh nối tiếp hoằng trì.

Đến ngày mùng hai tháng bảy, trước giờ ngọ, Pháp sư bỗng chắp tay hướng về Tây yên lặng giây phút rồi bảo: “Đức A Di Đà đã quang lâm tiếp dẫn, lão nhơn xin từ đây giã biệt!” Nói đoạn, bảo thị giả nấu nước thơm để mình tắm gội. Sau khi thay y phục mới sạch, đắp cà sa xong, Pháp sư dạy đỡ mình lên chánh điện lễ Phật, rồi bảo dìu xuống tự ngồi kiết già trong bảo khám. Kế tiếp, trước khi dạy chúng đồng thanh niệm Phật. Ngài nói lời kệ phú chúc vắn tắt rằng:

Ta nhờ niệm Phật
Tịnh độ hiện tiền
Chân thật thọ dụng
Chúng gắng tinh chuyên!

Quá ngọ một giờ ba khắc, ngài an lành mỉm cười vãng sanh trong tiếng trợ niệm của đại chúng. Lúc ấy sắc mặt của Pháp sư hiện vẻ rất tươi sáng, mấy giờ sau đảnh đầu còn nóng. Bấy giờ nhằm ngày mùng hai tháng bảy, năm Dân Quốc thứ hai mươi mốt (1932), Pháp sư hưởng thọ bảy mươi lăm tuổi, Tăng lạp năm mươi lăm. Di hài được môn nhơn làm lễ nhập tháp nơi chùa Từ Khê, non Ngũ Lôi.


TỊNH ĐỘ THI

I
Chuyên cần lễ niệm sớm rồi hôm
Ao báu đài sén nhập mộng hồn.
Xương nát thân tan ngàn vạn kiếp
Khó đền ân đức Đại Từ Tôn!

II
Sáu thời tưởng niệm Từ bi phụ
Con trẻ ngày nao trở gót về?
Nói đến luân hồi vô tận việc
Trông mau rớt lệ động lòng quê?

III
Anh khuyên em dạ niệm Di Đà
Lại độ thê nhi thoát ái hà
Ví được đồng tâm cùng niệm Phật
Diêm La thúc thủ biết sao mà?

IV
Xưa có sĩ phu Ngô Tử Tài
Gõ hòm mỗi sớm nhắc quy lai
Thân tuy còn ở trong ba cõi
Hồn đã nương về Bạch ngẫu thai.

(Thai sen trắng)

V
Niệm Phật phải chuyên niệm đến cùng
Đến cùng tâm niệm bỗng tiêu dung!
Ta Bà biển khổ phong ba lặng
Yên ổn thuyền sen tới Lạc cung.

VI
Muốn kết duyên lành hội Thắng liên
Hơn thua phải quấy thảy đều quên!
Pháp mầu khó gập tâm hằng nhớ
Vui vẻ đồng lên giải thoát thuyền.

VII
Bởi còn chấp ngã khởi tham sân
Chôn lấp hoàng kim trượng lục thân!
Nay gặp duyên may vào Tinh xã
Chẳng nên theo cũ dính phong trần.

VIII
Khắp đem đất trược Tam thiên độ
Gieo giồng trời Tây cửu phàm liên
Đường đạo đây hơn không cách khác
Chỉ cần một niệm vững bền thuyền.

IX
Hằng để thân tâm hướng tịch dương
Tịch dương nơi ẩy có liên hương!
Gió cây chim nước tuyên lời diệu
Xót kẻ tình đời mộng hãy vương.

X
Ba mươi sáu chước, chước chi mầu?
Câu Phật ngàn muôn niệm đến đâu!
Nến tắt hương tàn mơ cõi báu
Bóng câu kiếp tạm chẳng bền lâu!

Trung Phong đại sư.


TẠ XUÂN HOA

Cư sĩ Tạ Xuân Hoa, người ở tiền Đường tại Hàng Châu. Ông bản tánh hòa nhã chân thật, không ưa tranh chấp với người, thờ cha mẹ rất có hiếu, chưa từng làm cho song thân phật ý. Đối với những việc lành, ông cũng thường hết sức giúp đỡ, song chưa biết ăn chay niệm Phật.

Năm Quang Chữ thứ mười, Xuân Hoa bỗng mang bịnh cổ trướng, thuốc thang cầu đảo đều vô hiệu, chỉ nằm rên rỉ chờ mãn phần. Người em họ là cư sĩ Châu Kim Bá tu hành đã lâu, hiểu biết Phật pháp, một hôm nhân đến thăm, thấy thế bảo rằng: “Căn bịnh của anh, xét kỹ lại chính là túc nghiệp. Nếu không phát nguyện lớn, làm lành và sám hối niệm Phật, e khó tiêu trừ!” Xuân Hoa nghe nói chấp nhận, liền lập thệ trọn đời giữ giới không sát, phóng sanh và chí tâm niệm Phật. Châu cư sĩ hết lòng tán trợ, đến nhà dạy bảo cho cách thức tu hành, lại định hạn kỳ cùng với ông niệm Phật bốn mươi chín ngày. Đêm hoàn mãn, Xuân Hoa mộng thấy mội vị Tăng đem trao cho hoàn thuốc bảo uống. Tỉnh giấc ông cảm thấy trong bụng sôi động, đi ngoài vài lần, thân liền an ổn, ba hôm sau bịnh liền hẳn.

Từ đó Xuân Hoa phát lòng tin sâu, khẩn thiết niệm Phật không xen hở. Những kỳ pháp hội, cư sĩ đều có dự vào. Đầu mùa hạ năm Quang Chữ thứ mười lăm, Xuân Hoa cảm bịnh nhẹ, ăn uống kém dần, song niệm Phật càng tha thiết. Đến ngày hai mươi sáu tháng tư, cư sĩ mộng thấy Tây phương Tam Thánh, tỉnh giấc biết đó là triệu chứng vãng sanh. Lúc ấy, bịnh cũng đã thuyên giảm, ông đi từ giã khắp các bạn thân, bảo mình sắp sanh về Tịnh độ. Xuân Hoa lại nói với cư sĩ Diêu Minh Trai rằng: “Ngày hai mươi tám tới đây tôi sẽ về Tây phương, xin nhờ liên hữu tới trợ niệm!” Minh Trai bảo: “Ngày đó tôi có việc cần”. Ông lại dời sang ngày hai mươi chín, song Minh Trai cũng đáp chưa rảnh.

Xuân Hoa lại nói: “Thế thì tôi nhứt định ngày mùng một tháng năm sẽ đi, anh có đến được chăng?” Minh Trai bảo: “Hôm ấy việc đã xong, tôi xin tới trợ niệm!”

Đến kỳ hạn, cư sĩ tắm gội, thay y phục, ngồi ngay thẳng về hướng Tây, gọi con cái lại dặn rằng: “Các con nếu có hiếu tâm, hãy niệm Phật giúp cha, đừng nên thương khóc. Sau khi cha mãn phần, phải gắng làm người hoàn thiện, tinh tấn tu hành!” Kế tiếp các liên hữu đều hội lại, cùng nhau xưng hồng danh trợ niệm. Ước chừng nửa cây hương, Xuân Hoa chắp tay đưa lên cao tỏ ý từ biệt, rồi để hai tay xuống ngang ngực, ngước mắt lên như nhìn thấy cảnh tượng chi. Giây phút, cư sĩ mỉm cười nhắm mắt mà đi thẳng. Lúc ấy mùi hương lạ bay khắp nhà, vài ngày sau vẫn chưa tan.


DIỆP TRÚC AM

Cư sĩ Diệp Trúc Am, người đời Thanh, quê ở huyện Dư Dao tỉnh Triết Giang. Thuở còn bé ông đã có tánh khác với trẻ thường, chưa từng nói lời thô ác và đùa cợt. Đến lúc vào trường học, hạnh kiểm lại đoan trang nghiêm cẩn còn hơn bậc thành nhơn.

Lúc mười tám tuổi, lên đại học đường, Trúc Am không thích tập nghề khoa cử, chỉ chuyên tâm nghiên cứu phần lý học, tìm hiểu thêm các kinh sách Phật giáo. Hiểu đến đâu ông cố gắng thực hành tới đó, chẳng ưa nói điểu phù phiếm cao xa, cùng viết sách trứ thuật.

Đến khi cuộc loạn giặc tóc dài cùa nhóm Hồng Tú Toàn, Dương Tú Thanh nổi lên, khắp nơi biến diễn lắm cảnh thảm mắt đau lòng. Trúc Am mục kích hiện tượng ấy, bỗng suy nghĩ: “Kiếp vận giặc giã cướp phá, sự giết hại đói khổ tràn lan không phải sức một người có thể cứu vãn. Tuy nhiên quyền sanh sát loài vật chỉ do nơi ta. Nếu ta biết giữ giới tu phước, tất sẽ nhờ biệt nghiệp của công đức lành, tránh khỏi ảnh hưởng cộng nghiệp!” Từ đó ông lập nguyện: ăn chay, giữ giới không sát, bố thí, phóng sanh, và hết sức làm các điều lành. Mặc cho bọn hủ nho dùng thuyết: tế lễ phải có rượu thịt để bài bác, và trong họ hàng người làng xóm chấp nê theo thông tục mà giải khuyên, ông vẫn không đổi ý chí. Tất cả cuộc tế lễ đãi khách, ông đều dùng toàn đồ chay, và lấy đó làm hiệu lịnh trong nhà.

Hơn năm mươi tuổi, Trúc Am mới biết quy hướng về Tịnh độ. Mỗi buổi sáng, ông đều hướng về Tây đảnh lễ tụng trì, dù trải thời tiết nóng lạnh vẫn chuyên niệm Phật không trễ bỏ. Năm Mậu Tuất niên hiệu Quang Chữ, lúc được sáu mươi chín tuổi, vào ngày mùng một tháng ba, Trúc Am bỗng vương bịnh. Tới nửa đêm ngày mùng bốn, ông gọi con trai lớn là Diệp Bình Quân lại bảo: “Nếu bịnh thế của cha không thuyên giảm, con nên đốc suất trong gia thuộc chí tâm niệm Phật để tống chung, chẳng nên lộ vẻ buồn rầu thương khóc. Điều nầy rất thiết yếu, con hãy ghi nhớ kỹ, nhược bằng trái lời tức là phạm lỗi không hiếu thuận!” Từ đó khi mê lúc tỉnh, ông thường niệm Phật rành rẽ rõ ràng. Vài hôm sau, tuy hơi sức kém yếu, tiếng niệm nhỏ lần, lời nói cũng đứt đoạn khó khăn, song câu Phật hiệu vẫn thông suốt. Bịnh kéo dài tới giờ Tuất ngày mười ba ông mới quy Tây.

Trước đó ba hôm, những người thay phiên phục thị, đều nghe mùi hương lạ. Khi lâm chung, ông vẫn giữ chánh niệm cho tới lúc tắt hơi. Vừa lúc ấy thịt nơi đỉnh đầu của ông bỗng nổi cao lên to như búi tóc. Các bạn đồng tu đều khen ngợi, cho đó là điềm tốt vãng sanh.


HỒ DIỆC TIẾT

cư sĩ Hồ Diệc Tiết, người huyện Thái Thuận, tỉnh Triết Giang. Ở địa phương nầy có chùa Hoa Nghiêm, do Triệt Quyền đại sư chủ trì. Đại sư chuyên tu Tịnh độ, dạy người niệm Phật nên chắc thật già dặn, đừng chuộng sự hào hoa.

Lúc Diệc Tiết được ba mươi tuổi, đến quy y với Triệt sư, ban ngày về nhà lo việc ruộng nương, đêm lại tới chùa niệm Phật! Năm ba mươi lăm tuổi, ông đau yếu, bảo với vợ rằng: “Tôi sẽ đến Hoa Nghiêm Tự dưỡng bịnh, liều mình niệm Phật, gởi thân mạng cho đức A Di Đà Thế Tôn”. Tới chùa rồi, ông liền thật hành đúng như lời nói, ngày đêm chí thành niệm Phật không xen hở. Được nửa tháng, Diệc Tiết tự biết mình sắp sanh về Tây phương, nên buông bỏ cả muôn duyên, không đề cập tới gia đình cùng thế sự.

Khi lâm chung, ông bảo vợ lễ thỉnh ngài Triệt Quyền và chư Tăng trong chùa từ bi trợ niệm. Lúc đại chúng đồng thanh niệm Phật, Diệc Tiết cũng niệm theo. Được một lát tiếng ông càng vang to, âm thanh chấn động đến vách ngói. Thấy tiếng xướng Phật hiệu của Diệc Tiết càng lúc càm vang dội, sau cùng chư Tăng đành yên lặng nhường cho ông tự niệm. Giây phút Diệc Tiết bỗng nín giọng tắt hơi, song đại chúng vẫn nghe tiếng niệm Phật của ông vượt thẳng lên hư không đi về Tây, càng xa càng nhỏ lần, đến năm sáu mươi câu mới dứt. Đây thật là việc thù thắng lạ đời ít có. Những người nghe thấy đều khen công đức niệm Phật vãng sanh không thể nghĩ bàn!


HẠ QUỐC XƯƠNG

Cư sĩ Hạ Quốc Xương, người thời Trung Hoa Dân Quốc, quê ở Bình Hương, tỉnh Giang Tây. Ông nội và cha đều xuất thân chốn quan trường, có tiếng là liêm khiết. Quốc Xương từng giữ chức Tri huyện, thuyên chuyển đi vài nơi, sau thời cách mạng lại làm Dân chánh trưởng ở bản tỉnh.

Mùa thu năm Dân quốc thứ hai, vì liên can vào việc thảo trừ Viên Thế Khải, mưu sự không thành, nên ông lánh nạn vào ẩn cư ở một ngôi chùa tại Nam Nhạc tỉnh Hồ Nam. Từ đó Quốc Xương cải hiệu là Hoành Tiều, mỗi ngày trì các chân ngôn: Lăng Nghiêm, Chuẩn Đề và niệm Phật. Mùa xuân năm Dân Quốc thứ tư, ông được người có thế lực tiến cử, song bị viên Ấp lịnh vu cáo, phải tự đến Băc Kinh trần bạch mới được trắng án.

Bấy giờ có cư sĩ La Kiệt là bạn đồng cảnh ngộ với Quốc Xương. Vì thế, sau cơn hoạn nạn, đôi bên thường qua lại thân thiết nhau. Cả hai đều trường trai và tập tham thiền. Một hôm trong cơn tĩnh định, Quốc Xương bỗng nghe có người gọi mình là Liêu Không Tử. Do đó ông cảm tác bài thi có hai câu như sau:

Liêu Không biết được đường lui tới
Phù thế phen nầy lại trải chơi!

Từ đó ông quy hướng Tịnh độ, mỗi ngày tụng kinh Hoa Nghiêm vài quyển, lễ Phật một trăm lạy, niệm hồng danh A Di Đà hai muôn câu. Cư sĩ lại soạn các quy ước: Trì trai, niệm Phật, Quán tâm, Giản suất, để tự răn nhắc sách tấn.

Mùa xuân năm Dân Quốc thứ tám, Quốc Xương về thăm viếng quê hương, gặp lúc trời hạn lâu, liền làm lễ đảo võ, được mưa xuống dồi dào, đồng ruộng đầy dẫy nước. Kế đó ông lại lập đàn thí thực tụng kinh cầu siêu cho tiên linh và những nạn nhơn trong cuộc chiến tranh Nam, Bắc. Trong khi cúng thí, người dự hội đều thấy đức A Di Đà hiện thân giữa hư không, vô số ngạ quỉ cô hồn cúi đâu đảnh lễ, rồi theo Phật bay về Tây phương. Sau công việc ấy, cư sĩ giã từ hương lữ, bảo mình không trở lại nữa. Ông lại dặn dò người thân thuộc khi nghe tin mình mãn phần, không được sát sanh cúng tế. Về tới Bắc Kinh, cư sĩ liền cảm bịnh. Gia nhơn cùng bạn hữu muốn rước lương y điều trị, ông liền từ khước bảo rằng: “Tâm tôi rất yên ổn, nẻo đi về đã biết rõ ràng, cần chi dùng thang thuốc!” Rồi ông vẫn cố gắng lễ niệm như lúc bình thời, và nói: “Lúc này khi nhắm hay mở mắt, tôi đều thấy Phật cùng Bồ Tát hiện thân to lớn đầy khắp hư không!”

Kế đó bịnh ông có vẻ giảm bớt. Khi hàng quyến thuộc hay tin đến viếng thăm đông đủ, cư sĩ ngồi lên ngay thẳng, từ từ nhìn mọi người đứng xung quanh qua một lượt, rồi mỉm cười chắp tay yên lặng mà thoát hóa.

Lúc cư sĩ mới phát tâm niệm Phật, nằm mơ thấy đóa hoa sen đầy khắp hư không, mỗi đóa hoa đều có người ngồi, duy một tòa còn bỏ trống, ông hỏi duyên cớ thì một vị ngồi gần bên đáp rằng: “Tòa sen này để dành chờ Liêu Không Tử!” Lại khi Quốc Xương trở về tới Bắc Kinh, cô con gái là Hạ Vinh nằm mơ thấy cha mình ngồi trên hoa sen bay về Tây phương. Cư sĩ tuy kẻ bạch y, song giữ giới rất mực nghiêm cẩn. Lúc sắp mãn phần, hàng đệ tử là Bành Hiến thỉnh huấn, ông bảo: “Chúng ta ở sâu vào thời mạt pháp, túc nghiệp đều rất nặng. Muốn dứt cội rễ sống chết luân hồi, cần phải niệm Phật cầu sanh Cực Lạc. Trong pháp môn Tịnh độ: Sự phát nguyện phải chân thật. Sám hối phải chí thiết. Giữ giới phải bền chắc. Niệm Phật phải chuyên cần. Giới là vô thượng Bồ đề, là gốc muôn điều lành, là cội của chánh pháp, là chỗ vào của người học đạo, là thầy tốt của con. Nếu con giữ ba nghiệp cho thanh tịnh mà niệm Phật, quyết định sẽ thấy đức A Di Đà”.

Lời trên đây cho thấy sự giữ giới tu hành của ông rất nghiêm cẩn.


PHƯƠNG HẢI SANH

Đồng tử Phương Hải Sanh là con của cư sĩ Phương Dưỡng Thu ở Hương Cảng. Dưỡng Thu ưa làm việc phước thiện, sau tuổi trung niên lại chuyên tâm hướng về Tịnh độ.

Hải Sanh mới bảy tuổi, cùng song thân cư ngụ ở Hương Cảng, thường tập theo cha l Phật trì niệm. Em có thể tụng được chú Chuẩn Đề cùng bài kệ Phá địa ngục trong kinh Hoa Nghiêm. Đôi khi còn nhớ lời cha dạy, đem cảnh Tịnh độ thuật lại với người quen thân và bảo: “Phải chuyên cần niệm Phật. Niệm hồng danh A Di Đà sẽ được sanh về thế giới Cực lạc”.

Tháng hai năm Dân Quốc thứ chín, vào ngày vía đức Quán Thế Âm. Hải sanh bỗng nằm bịnh. Dưỡng Thu ngồi một bên xưng hồng danh hộ trợ, đồng tử cũng xướng niệm theo cha. Lúc nhắm mắt hôn mê lại tụng chú Chuẩn Đề rành rẽ không sót một chữ. Dưỡng Thu bồng con đến trước bàn Phật, nhắc bảo chiêm ngưỡng chân dung Tây phương Tam Thánh, Hải Sanh trông thấy tôn tượng liền cao tiếng niệm Nam Mô A Di Đà Phật hơn vài mươi câu, tiếng to vang hơn lúc còn chưa bịnh.

Qua xế chiều ngày hai mươi mốt, đồng tử bỗng xuống giường lần đi từng bước. Dưỡng Thu vội chạy lại đỡ, hỏi muốn đi đâu thì đáp: “Con lên l Phật!”. Bấy giờ tiếng nói của em đã hơi khó khăn, song vẫn còn có thể đốt hương l Phật. Đến mười giờ đêm, bà vú, đứa em gái của Hải Sanh đang niệm Phật cầu cho đồng tử mau khỏi bịnh, bỗng thấy tường vách đều biến mất trống không, có kim quang ẩn hiện năm sắc chiếu rực rỡ như đêm trăng sáng. Trong kim quang, một vị bồng Hải sanh vượt lên khỏi nóc nhà bay về Tây phương. Bà còn đang nghi lự, chợt như tỉnh mộng, tường vách đều hiện lại như cũ. Nhũ mẫu vội chạy xuống hỏi thăm thì Hải Sanh đã tắt thở.

Lúc em sắp măn phần thì tay chân lạnh trước, đôi mắt chăm chú nhìn song thân. Dưỡng Thu đốc suất bảo xưng hồng danh trợ niệm. Cư sĩ lại nói sự vui đẹp ở Liên bang, khuyên con đừng luyến tưởng chi khác, hãy chuyên tâm hướng về Cực lạc. Hải Sanh vâng lời, chí tâm niệm Phật, cho đến lúc tắt hơi. Sau khi em mãn phần, tay chân trở lại nóng ấm, sắc mặt tươi như sống. Một ngày trước khi Hải Sanh vương bịnh, bà mẹ trong cơn mơ màng, thấy tòa đại điện rất nguy nga tráng lệ, kim quang chiếu rực rỡ, khoảng chiều sâu chính giữa có đóa hoa sen lớn đẹp, một vị Phật thân sắc vàng ngồi nơi trên. Từ xa trông vào chỉ thấy đôi chân Như Lai ngồi kiết già. Hải Sanh kiếp trước đã trồng căn lành sâu nên mới lên bảy tuổi liền biết niệm Phật. Em lại được cha hiền hộ trợ, khi lâm chung điềm lành ứng hiện, chánh niệm rõ ràng.

Đồng thời lại có Đàm Lạc Kiều, người quận Nam Hải, làm khách sanh nhai ở Hương Cảng. Tánh ông rất chân thật, tin sâu lý nhân quả, cùng với Dưỡng Thu có quen biết nhau. Dưỡng Thu có trao cho quyển Tây Quy Trực Chỉ, khuyến tấn về sự niệm Phật vãng sanh. Lạc Kiều liền tin nhận thật hành, ngày đêm không biếng tr. Ít lâu sau ông mang bịnh, tự biết mình khó qua khỏi, liền thu xếp công việc trở lại quê hương. Dọc đường ông vẫn cố gắng chuyên tâm niệm Phật, về tới nhà bịnh khổ như tan mất, ông bảo vợ rằng: “Tôi sắp vãng sanh Tịnh độ, bà chẳng cần rước lương y, nên giúp tôi xưng niệm Phật!”. Bà vợ trước nay vẫn tin Tam Bảo, liền làm theo lời khuyên dạy. Đến lúc sắp từ trần, Lạc Kiều còn có thể xuống giường bước di, bảo vợ đem y phục mới sạch cho mình thay đổi. Xong mọi việc, ông ngồi niệm Phật mà qua đời, dung mạo rất an lành tươi tỉnh.


TỪ LÔI

Từ Lôi tự Điện Xu, người thời Dân Quốc, ở huyện Lạc Thanh, tỉnh Triết Giang. Ông xuất thân nơi quân ngũ, thích uống rượu ưa chơi bời. Trong nhà việc sát sanh nấu nướng và yến ẩm vui đùa không lúc nào dứt.

Đêm mùng một tháng giêng năm Canh Thân thời Dân Quốc, Từ Lôi nằm mộng thấy một người tay chân bị trói vào bốn chiếc cọc ngắn, nằm sấp trên mặt đất. Hai con quỉ dùng chày đập trên lưng người đó, cảnh trạng thảm khốc đáng ghê sợ. Ông lại gần xem, thì kẻ ấy chính là thân mình. Trong lúc kinh hoàng sảng sốt, Từ Lôi bất giác cảm thấy mình cùng tội nhơn hiệp lại làm một. Lưng ông bị đánh cực đau đớn hầu như sắp gẫy nát, chỉ còn biết thốt giọng rên xiết kêu thương. Đang lúc ấy, bỗng nghe giữa hư không có tiếng niệm Phật nho nhỏ. Ông vội lớn tiếng niệm theo thì giật mình tỉnh giấc, nơi lưng hãy còn đau nhức.

Nhân điềm mộng ấy, Từ Lôi cả sợ. Ông hồi tưởng những việc buông lung sai quấy mình làm trong lúc bình thời, vừa hổ thẹn lại vừa hối hận. Kế đó lại chợt mãnh tỉnh tự bảo: “Ta nghe tu học Phật pháp có thể khỏi sự sống chết luân hồi, thoát cảnh khổ nơi địa ngục Thế thì tội chướng kia chắc chắn cũng sẽ được giải trừ!” Từ đó ông cải hối ăn chay làm lành, mỗi ngày trì phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện trong kinh Hoa Nghiêm, và niệm Phật không gián đoạn.

Mấy năm sau, Từ Lôi bỗng vương bịnh, mỗi ngày càng thêm trầm trọng. Song với ý niệm sợ tội cầu giải thoát, ông vẫn cố gắng trì danh hiệu Phật và tụng phẩm kinh đã học thuộc lòng. Trong cơn mê lúc tỉnh, ông thường thấy giữa hư không có vùng ánh sáng trắng, trạng như chiếc gương tròn to lớn. Một đêm nọ, Từ Lôi gọi vợ bảo rằng: “Đức A Di Đà và chư Bồ Tát cho biết ngày mai sẽ đến tiếp dẫn tôi. Vậy bà hãy đến quét dọn trong nhà sạch sẽ, và lên đèn đốt hương đừng để tắt dứt. Lại nhớ nên nấu nước thơm cho tôi tắm gội thay đổi y phục”.

Ngày hôm sau, khi mọi việc xong xuôi, Từ Lôi gắng đến ngồi ngay thẳng trước bàn Tam Bảo niệm Phật một lúc rồi hóa.


CHÂU NẢI LUÂN

Cư sĩ Châu Nải Luân tự Lan Hinh, hiệu Quốc Hương người ở Gia Thiện tỉnh Triết Giang. Cha là Kiềm Nam tánh thuần hậu ưa bố thí, hơn năm mươi tuổi mà không con nối dõi, cầu tự nơi chùa núi Thiên Trắc ở Hàng Châu, sanh được Nải Luân.

Không bao lâu Kiềm Nam mất, mẹ con trong cảnh cô quả bị hàng thân tộc lấn hiếp, mới dời nhà về ở Tây Đường. Nải Luân thuở bé rất mẫn tuệ, theo học với anh rể là Tú tài Kim Văn Giai, văn tự một phen qua mắt liền thông thuộc. Năm mười bảy tuổi được bổ làm bác sĩ đệ tử viên, văn tài nổi danh khắp vùng Mân, Triết. Lúc ấy nhằm cuối đời nhà Thanh, khoa cử bị phế bỏ, Nải Luân liền chuyển ngành vào trường ở Thượng Hải, học tập về môn Lý hóa, Bác vật. Sau khi tốt nghiệp, ông làm Giáo chức dạy các trường Trung, Tiểu học. Thấy sinh viên trong khi học tập, tánh không cẩn thận, làm tổn nhiều vật mạng, Nải Luân bỗng ngộ lý nhân quả báo ứng, phát bi nguyện quy y Tam Bảo, trường trai niệm Phật, cầu sanh Cực Lạc cứu độ chúng sanh.

Ông muốn nghỉ việc, chuyển tìm sanh kế khác để có nhiều thời giờ tu niệm. Nhưng vì không dám cãi lời mẹ khuyên dạy, nên gắng gượng lãnh làm Hiệu trưởng trường Trung học đệ nhị ở Triết Giang. Tuy tựu chức, song hằng ngày vẫn niệm Phật không quên bỏ. Nhân thấy cư sĩ Phạm Cổ Nông tinh thông về Phật lý, Nải Luân thường qua lại học hỏi nghiên cứu, do đó mức tu càng tiến triển. Những ngày nghỉ, thường hội họp sinh viên lại giảng diễn về Phật lý, dụng ý muốn đem diệu pháp cảm hóa tầng lớp thanh niên. Cư sĩ thờ mẹ rất hiếu thuận, được làng xóm ngợi khen là con thảo. Một hôm đang ở nhiệm sở, nghĩ tới mẹ đau lâu không lành mạnh, Nải Luân liền đốt hương, chích máu ngón tay viết theo lối giai tự thành sáu chữ lớn: Nam Mô A Di Đà Phật. Bên dưới ghi tiếp theo bài kệ “Nguyện đồng người niệm Phật. Đều sanh về Cực Lạc. Thấy Phật khỏi sống chết. Như Phật độ chúng sanh”, để cầu nguyện cho mẫu thân. Sau tiếp được thơ nhà, nói bà mẹ trong ngày ấy bỗng khỏe mạnh ngồi dậy đi lại, ăn uống như thường. Đây đều do lòng hiếu thành cảm cách. Cư sĩ Phạm Cổ Nông có đem hai mươi sáu chữ ấy, khắc bản ấn tống khắp trong thành. Đoạn dưới ấn bản có nói phụ thêm về nguyên nhân và điềm lành cảm ứng.

Mùa đông năm Dân Quốc thứ chín, vì thần kinh yếu, Nải Luân cáo bịnh về nhà. Đến ngày mười bảy tháng chạp, cư sĩ thản nhiên niệm Phật thoát hóa. Khi ông vãng sanh, các liên hữu khám nghiệm, thấy cả mình đều lạnh, đảnh đầu cực nóng, nét mặt rất an điềm tươi tỉnh. Lúc ấy cư sĩ mới được ba mươi bảy tuổi.


TRƯƠNG VĂN PHỦ

Trương Văn Phủ, quê ở Sùng Minh tỉnh Giang Tô. Vợ ông chết sớm, người dâu cũng tiếp theo từ trần, con trai thì đi chèo đò ở bến Thân, ít khi về nhà. Văn Phủ ban ngày làm mướn, đêm lại niệm Phật tụng kinh. Những ngày sóc vọng, lễ niệm càng siêng năng, suốt đêm không ngủ. Tánh ông cần kiệm chịu khó, hàng xóm đều mến ưa khen ngợi. Gặp người đi ăn xin, hoặc tuổi già nghèo khổ thì trút túi giúp đỡ, nhường cơm chịu đói, là chuyện quen thường.

Ngày mười bảy tháng bảy trong một năm Dân Quốc, sáng sớm thức dậy, Văn Phủ thấy trong người không khỏe, nói với ông bạn láng giềng rằng: “Chư Bồ Tát đã mách bảo: đến giờ Ngọ ngày hai mươi ba tới đây, tôi sẽ vãng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới. Vậy xin nhờ anh đến bến Thân! đưa tin thôi thúc con tôi về sớm!” Trong nhà, Văn Phủ đãi sắm sẵn một chiếc vại sành cùng y phục dưỡng thọ và áo tràng mới để dự bị hậu sự. Kể từ ngày đó, ông không ăn cơm, chỉ uống nước trong, thần khí thanh sảng như người không bịnh. Hôm sau, đứa con trai về tới, ông giao phó dặn dò tất cả mọi việc.

Đến giờ Tỵ ngày hai mươi ba, Văn Phủ tắm gội xong, thay y phục mặc áo tràng mới, vào ngồi ngay thẳng trên chiếc vại sành, lâm râm niệm Phật. Hàng xóm và bè bạn hay tin đều đến thăm viếng tiễn đưa. Quả nhiên khi đồng hồ chỉ đúng mười hai giờ trưa, Văn Phủ liền ngồi thoát hóa. Lúc đó già trẻ nam nữ trong làng tụ họp lại xem đông tới mấy trăm người.

Trước khi vãng sanh, Văn Phủ đã dặn con trai không được chấp nhận điếu lễ và đốt giấy tiền vàng bạc. Nếu ai có lòng chiếu cố, chỉ đốt một cây hương cũng đủ. Tới chiều, trước khi đậy nắp niêm phong chiếc vại, đảnh đầu ông còn nóng, gương mặt vẫn tươi tỉnh như lúc sanh tiền. Ông hưởng thọ được sáu mươi bốn tuổi.