MẤY ĐIỆU SEN THANH
Sưu tập: Cư sĩ Bành Tế Thanh & Hy Tốc 
Việt dịch: Hòa thượng Thích thượng Thiền hạ Tâm
PHƯƠNG LIÊN TỊNH XỨ MẬT TỊNH ĐẠO TRÀNG

 

TẬP II
PHẦN BA
TỨ CHÚNG VÃNG SANH
(Tiếp theo)


NGÔ TÔN NGỤY

Cư sĩ Ngô Tôn Ngụy tự Thu Đình, người ở Nguyên Hòa. Cha ông là Ngô Liêm tu Tịnh độ được vãng sanh, mẹ Châu thị vẫn có chứng đau gan. Tôn Ngụy thờ thân mẫu chí hiếu, khi mẹ đau nặng, ông cắt thịt bắp vế hòa với thuốc sắc đem dâng, bịnh chứng lần thuyên giảm. Không bao lâu thân mẫu lìa trần, trong vòng bốn mươi chín ngày, ông chích máu tả kinh Địa Tạng để cầu cho mẹ được siêu thoát.

Từ đó Tôn Ngụy quy tâm về Phật thừa, lần lần suốt thông cả tông lẫn giáo, được nhiều bậc lão túc ở các nơi |khen ngợi. Ông trường trai thọ ngũ giới, chuyên tu Tịnh độ, tự hiệu là Nhứt Như cư sĩ. Tôn Ngụy từng thành lập liên xã ở am Kỳ Diệp, khuyên người niệm Phật. Đối với các việc lành như: phóng sanh, bố thí, đều gắng hết sức mà làm. Về sau ông vương bịnh, tự biết mình khó qua khỏi, viết thơ nhờ người chuyển giao cho các liên hữu, xin đến giúp phần trợ niệm. Trong thơ có đoạn nói: “Với sức thông hiểu sâu về tông lẫn giáo, với sự hành trì có thể gọi là không dám biếng trễ, hiện thời tôi thấy mình vẫn chưa tự chủ được. Công phu lúc bình nhựt của tôi, khi đau bịnh chỉ còn được phân nửa, có thối lui không tiến triển, thật khó gắng sức. Xin các bạn đồng tu đừng nên nói: Bây giờ ta hãy tạm lo việc đời, đợi đến lúc bịnh sẽ dụng công, tất sẽ tự lầm lạc rất to, ăn năn không kịp!” Trước khi cư sĩ lâm chung một ngày, có liên hữu Tiền Văn Xán đến thăm viếng, hỏi: “Anh vẫn còn nhớ niệm Phật chăng?” Lúc ấy Tôn Ngụy nói năng đã khó khăn, ra dấu đem giấy bút lại, đáp rằng: “Cơn đau đớn lúc mãn phần đã khổ như thế, nên sức niệm Phật nguyện cầu vãng sanh càng thêm bền chắc!” Qua hôm sau, trong tiếng trợ niệm của đồng bạn, ông an lành tươi tỉnh mà qua đời.

Cư sĩ di chúc người nhà không nên đốt áo, giấy tiền cùng vẽ chân dung lưu lại. Trong đám không được sát sanh để cúng tế, tiếp đãi. Bấy giờ nhằm ngày hai mươi sáu tháng bảy, năm Đạo Quang thứ mười tám.


TRƯƠNG XỈ DIÊN

Trương Xỉ Diên, người đời Thanh, nguyên là Quốc học sinh ở Thường Thục. Ông tánh hào sảng, tửu lượng cao, thường cho mình là phi phàm, nghe ai nói đến kinh Phật, liền tác sắc to tiếng.

Một hôm, Xỉ Diên nhân được xem quyển Nhân Quả Luân Hồi, bỗng giác ngộ sự sống chết là việc lớn, liền giới sát, dứt uống rượu, mỗi ngày đều tụng kinh Kim Cang, chú Đại Bi và niệm Phật. Sau mỗi thời khóa, quì hồi hướng phát nguyện cầu sanh về Tây phương. Kế đó, ông quy y Tam Bảo, ăn chay trường, chí thành sám hối nghiệp trước. Lúc ấy cư sĩ đang bị chứng thiên phong, nửa mình bên mặt khô gầy. Có kẻ khuyên nên dùng thịt cá để điều dưỡng, ông chỉ mỉm cười từ tạ mà thôi.

Mùa xuân năm Đạo Quang thứ mười chín, cư sĩ tả phẩm Phổ Môn rồi mướn người khắc bản để ấn tống. Có kẻ hỏi lý do, ông nói: “Đức Quán Thế Âm Bồ Tát bi tâm sâu rộng, ứng thân khắp pháp giới, là thuyền từ nơi biển khổ, cơ duyên trước mắt, chớ để lầm qua!” Mùa thu năm ấy, Xỉ Diên mộng thấy mình nuốt hoa sen, nên từ đó càng thêm tinh tấn. Cư sĩ bảo em là Nhỉ Đán rằng: “Anh phải tụng phẩm Phổ Môn một muôn hai ngàn quyển, mới vừa ý nguyện!” Nhỉ Đán hỏi duyên cớ, ông than thở đáp: “Bốn nỗi khổ sanh, già, bịnh, chết trong đời anh đã trải qua ba thứ, chỉ còn cái chết là chưa biết lúc nào đến mà thôi. Nhưng chắc nó cũng đã tới gần rồi. Như thế đâu nên lơ là chẳng lo dự bị tư lương trước ư?”

Đêm mười một tháng giêng năm Đạo Quang thứ hai mươi, Nhỉ Đản nằm không yên giấc, trong cơn mơ màng nghe Xỉ Diên tụng phẩm Phổ Môn tiếng rang rảng. Lúc ấy chợt thức tỉnh, liền quay mình sang định hỏi, thì thấy ông đang nằm nhắm mắt ngủ. Thì ra cư sĩ đã tụng kinh trong giấc mộng. Rạng ngày Xỉ Diên thức dậy sớm, khóa tụng theo thường lệ xong, rồi có việc đến nhà người thông gia. Vừa tới nơi, ông bị chứng đàm lên ngăn cổ họng, được tạm cứu chữa trở về nhà, liền nằm bất tỉnh nơi giường. Chiều ngày mười ba, bạn đồng tu là Tạ Phụng Ngô khi đến thăm bịnh, bảo người nhà đốt hương nến bày nơi bàn trước giường Xỉ Diên, rồi lấy hàng chuỗi lúc bình nhựt của ông trao vào tận tay. Cư sĩ liền nắm lấy để trước ngực lần từng hạt, ánh mắt nhìn thẳng lên, cả thân mình đều rung động, giây phút tắt hơi mãn phần. Các liên hữu đều quyết đoán đó là cái chết lành, tất được sanh về Tây phương. Riêng có người vợ của ông không tin, đối trước quan tài khấn rằng: “Nếu quả như thế, xin về báo mộng cho biết!”

Trải qua năm ngày, đêm lại người vợ nằm mơ thấy có vị gọi bảo: “Chớ nên thương khóc! Ông bạn đời của ngươi đã đi xa cách đây mười muôn ức cõi Phật rồi!” Thức giấc bà lấy làm lạ, nhưng vì bình sanh chưa từng tụng kinh A Di Đà, nên không biết năm chữ: “Mười muôn ức cõi Phật” có ý nghĩa gì. Sáng ra, bà đem điềm ấy hỏi mấy nhà tu Phật, mới biết chồng mình đã vãng sanh, có chứng nghiệm chắc chắn.


TỪ HY

Từ Hy tự Mộng Bạch, người đời Thanh, nguyên là một nho sĩ. Thuở thiếu thời ông từng du ngoạn đất Sầm Điền, thấy cảnh sông núi thắng tươi, lòng dạ thanh thoát; gặp việc trung hiếu tiết nghĩa, liền khắp tuyên dương. Tuổi trung niên, mở trường dạy học ở tình ngoài. Đến hơn bốn mươi, được người quen là Châu Lân Thơ tặng cho tập Long Thơ Tịnh Độ Văn, xem xong liền tin thờ Phật, lấy hiệu là Mộng Liên.

Kế tiếp ông đến am Tôn Thắng quy y với Lượng Khoan hòa thượng, được pháp danh là Như Siêu. Từ đó cư sĩ giữ thập trai, lập nhựt khóa trì niệm, quyết cầu sanh về Tây phương. Hơn sáu mươi tuổi, Từ Hy lại nương ngài Linh Thứu Nghĩa thọ giới Bồ Tát, sự tu tập càng thêm tinh tấn. Bấy giờ chư Tăng ở am Sô Sư quyên tiền xây dựng ngôi Đại Thông Các, ông hết sức giúp đỡ cho đến khi lạc thành.

Năm Đạo Quang thứ hai mươi mốt, vào mùa hạ, cư sĩ bỗng thanh lý việc nhà, bảo gia nhơn rằng: “Người đời sống được bảy mươi, đã mừng xưa nay ít có. Ta nay may mắn thọ được bảy mươi hai tuổi, mùa thu nầy mạng chung cũng đã vừa thời!” Kế đó ông viết một thiên nhan đề là Phản Bổn Tỏa Ngôn nhắc nhở các việc khi mình sắp mãn phần. Trong ấy có đoạn nói:

“Kiếp người như gởi tạm, đã sanh tất có tử. Cái chết vẫn là việc thường của nhơn thế, nhưng vì ân tình giữa vợ chồng con cái từ đây vĩnh biệt, nên chẳng khỏi có sự kêu gọi khóc thương. Tuy nhiên phải biết sống gởi thác về, được yên ổn mãn phần là phước. Huống chi chúng ta đã tu tịnh nghiệp, chính muốn vượt qua biển khổ, về đến cõi sen. Như thế, lúc lâm chung cần phải giữ một lòng không loạn, mới mong được ý nguyện vãng sanh. Nếu để nghe tiếng kêu khóc, tất kẻ sắp chết dễ bị tình ái kéo lôi, tâm tư rối loạn khóc than. Sau khi ta tắt hơi, ít nhứt phải hơn bốn giờ, mới được thay y phục cùng di động, càng chậm càng tốt. Thuở xưa cha của Thiệu Khang Tiết tiên sinh, cũng là trượng nhơn của ngài Y Xuyên, lúc sắp chết bảo người nhà rằng: “Phải đợi khi thành liệm xong mới được cử ai, chớ vội kêu khóc làm cho ta lạc lối!” Lời nầy có ghi trong quyển Khang Tiết Ngoại Truyện.

Cư sĩ có viết mấy lời chọn lọc về Thiền và Tịnh như sau:

Tham thiền chẳng niệm Phật
Phải như thùng lọt đáy.
Thảng còn một điểm nghi
Kết cuộc uổng công lực!
Niệm Phật lại tham thiền
Hai việc chính là một
Tham niệm dính liền nhau
Chẳng thể dễ phóng dật.
Không tham cũng chẳng niệm
Đắc đạo mới bỏ pháp.1
Nếu chưa đến bờ kia
Biển khổ không thuyền vớt.

Mùa thu năm ấy, quả như lời đã nói, cư sĩ vương bịnh. Mỗi ngày ông cho người mời chư Tăng hoặc các liên hữu luân phiên đến nhà trợ niệm. Lại dặn trước giường thiết bàn Phật, hương đèn tiếp nối luôn. Từ đầu hạ tuần tháng bảy đến đầu hạ tuần tháng tám, suốt ba mươi ngày. Từ Hy không ăn cơm cháo được, chỉ uống nước gạo rang tiếp sức mà thôi. Người nhà rước y sĩ đến, ông tự biết không thể qua khỏi, kiên quyết chẳng chịu uống thuốc. Khi bịnh ngặt sắp mãn phần, cư sĩ mạnh mẽ đem hết tàn lực chắp tay niệm Phật to tiếng mà vãng sanh.

– Vợ của Từ Hy là Nghiêm thị, thuở bình cư cũng trì chú niệm Phật. Đến bảy mươi ba tuổi, vì vương chứng kiết lỵ, nằm liệt trên giường, song vẫn liên tiếp thầm trì niệm. Một hôm bà cảm thấy sự đau khổ nơi thân bỗng tiêu tan, chứng điếc tai từ lâu cũng dứt hẳn, nghe được tiếng lớn nhỏ gần xa. Người con là Lập Phương đem việc vãng sanh để sách tấn. Nghiêm thị bảo: “Mẹ vẫn thường niệm Phật, chưa từng tạm quên”. Vào khoảng canh hai đêm ấy, bà bảo người nhà rằng: “Rạng ngày ta sẽ đi!” Rồi ngồi dậy cầm chuỗi, lớn tiếng niệm hết một tràng, tới đó mỏi sức mới chịu nằm xuống. Đến sáng hôm sau, bà nhìn quanh thốt lời giã biệt rằng: “Đã tới thời khắc ta vãng sanh!” Nói đoạn gượng ngồi lên, chắp tay nghiêm chỉnh. Lập Phương khuyên: “Mẹ nên đi thẳng một đường, đừng nghĩ ngợi chi cả!” Nghiêm thị quả quyết ứng tiếng đáp: “Được!” Rồi niệm Phật độ mười hơi mà thoát hóa.

– Bạn đồng sư của Từ Hy là Kim Đình Đống tự Hữu Lan, người ở Tô Châu cũng chuyên tu tịnh nghiệp. Mùa đông năm Đạo Quang thứ hai mươi, ông mang bịnh. Biết mình sắp mãn phần, ông cho thỉnh thầy quy y là Lượng Khoan hòa thượng cùng vài thiện hữu đến thưa rằng: “Hữu Lan đã đến bờ vực sống chết, xin thầy và các đồng bạn giúp cho thành tựu duyên sen!” Hòa thượng và đại chúng đồng thanh xưng danh hiệu Phật trợ niệm. Giây lát, ông nói: “Hiện thời tôi thấy trước mắt đất đai đều là bảy báu hợp thành, chân đạp bước lên mềm mại êm như bông. Những tiếng nghe bên tai đều nhiệm mầu khó diễn tả. Lại thấy xa xa về phương Tây có tám chữ sắc vàng rất phân minh”. Một liên hữu cải chính nói: “Anh lầm rồi! Nay đại chúng chỉ niệm tụng có sáu chữ thôi”. Kim Đình Đống đưa tay chỉ bảo: “Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Phật, chẳng phải tám chữ là gì?” Độ một lúc lâu, cư sĩ lại chắp tay thưa với thầy rằng: “Đệ tử xin đi!” Rồi nhắm mắt mà hóa.


TIỀN VẠN DẬT

Cư sĩ Tiền Vạn Dật tự Dực Sơn, người đời Thanh, quê ở trấn Mai Lý xứ Thường Thục. Buổi thiếu thời, Vạn Dật theo gia nghiệp, chuyên bán rượu.

Sau ông đổi nghề, giữ giới không sát làm lành tu tịnh nghiệp, hết sức sửa lỗi lầm trước. Vạn Dật chỉ có một trai, chẳng may bị bịnh lao, niệm Phật mà qua đời. Người láng giềng chê cười, bảo tại lo tu hành nên con mới chết. Ông nghe nói chỉ mỉm cười, vẫn an nhiên thờ Phật như cũ.

Một đêm lửa bén cháy nhà, Vạn Dật chắp tay ngửa lên hư không khấn rằng: “Nghiệp con nặng, đáng bị thiêu hủy gia sản, nguyện xin đừng tổn thương đến những nhà gần bên!” Sau khi lửa tắt, chỉ có nhà ông tiêu ra tro, các gia cư gần đó đều không sao cả. cố gắng lo chỗ ở tạm xong, Vạn Dật lại khuyên mẹ là Ngô thị trường trai niệm Phật, bà mẹ y theo lời. Kế tiếp ông cũng tự ăn chay trường, nhưng vì tập quán cũ hãy còn, nên thường hay uống rượu. Song nhờ có người thân thích là cư sĩ Tạ Phụng Ngô khuyên can, ông cố gắng lần dứt trừ được.

Mùa xuân năm Đạo Quang thứ hai mươi hai, vợ đau chết, Vạn Dật vẫn sống trong cảnh lẻ loi. Nhiều người khuyên nên tục huyền, ông cự tuyệt và bảo: “Đã có con mà bị chết sớm, tái thú nữa để làm gì? Vả lại chí tôi ở nơi xuất tục, có phải khăng khăng trong sự nối dõi đâu!” Mùa hạ năm ấy, ông đau bịnh lạc huyết, chí thoát trần càng tha thiết, vẫn cố gắng gia công niệm Phật. Đến đầu tháng bảy, bịnh ông thêm nặng, ăn vào liền mửa ra. Phụng Ngô sang viếng thăm, nhân an ủi bảo cho biết: cổ đức đã có một vị nhịn ăn để cầu thấy Phật. Vạn Dật nghe nói, mừng rỡ bảo: “Nếu có việc rất tiện lợi như thế, tôi sẽ gắng sức làm theo”. Liền hôm sau, ông tắm gội sạch sẽ, đến trước bàn Phật niệm hương phát nguyện giữ thanh trai trong bảy ngày, xuất tiền mua vật mạng phóng sanh để cầu về Tịnh độ. Kế đó ngày đêm ông niệm Phật không dứt, lúc khát chỉ ăn trái dưa mà thôi. Có người hỏi: “Suốt đêm không ngủ như thế, có mệt mỏi chăng?” Vạn Dật đáp: “Nhờ không ngủ mới niệm Phật được nhiều. Khi tôi không bịnh thì chẳng được an nhàn. Nay nhân lúc bịnh được rảnh rang, phải gắng sức, có mệt nhọc chi đâu!”

Bảy ngày vừa mãn, bởi tuyệt cốc nên kiệt sức, thần thức ông hôn loạn. Người nhà cho ăn chút cháo loãng, liền buồn dạ no hơi, hôn loạn càng thêm. Vạn Dật cả sợ, chắp tay để trên gối, bảo đốt ngón tay cúng dường Phật. Phụng Ngô nói: “Lúc nầy mà anh phát được tâm nguyện ấy, thì cũng đồng như đã đốt ngón tay rồi. Thôi chi bằng rũ sạch muôn duyên, nhứt tâm cầu về Cực Lạc là hơn!” Ông nghe nói liền nhắm mắt niệm Phật, ban sơ như còn gắng gượng, kế đó nhờ dùng sức dõng mãnh, nên thần chí lần lần an định. Duyên may nhờ mười mấy liên hữu hay tin đến trợ niệm, nên ngày đêm trong nhà ông tiếng niệm Phật nối nhau không dứt.

Chiều bữa mùng mười tháng bảy, Vạn Dật tự nói thấy một vị đi đến trước đầu giường, bảo cả dưa và trái cây đều cho chó ăn, hỏi thì xưng là sứ giả ở thượng giới. Qua ngày hôm sau, ông bỗng thấy Tây phương Tam Thánh hiện thân sáng đẹp trang nghiêm đứng giữa hư không. Đức Đại Thế Chí Bồ Tát tay bưng kim đài mỉm cười nhìn xuống. Ông muốn vượt lên ngồi vào kim đài, chợt nghe tiếng bảo: “Thân ngươi còn chưa sạch!” Kế đó các tướng đều ẩn mất. Vạn Dật liền bảo nấu nước thơm để mình tắm gội. Sau khi tắm rửa thay y phục mới xong, Tam Thánh lại hiện ra như trước. Ông gọi người nhà lại nói: “Tôi đã dạo chơi Tịnh độ, thấy vô số hoa sen, mình ngồi trên một đài hoa, vui không thể tả!” Lại tự chỉ thân mình nói: “Đây không phải là thân tôi”.

Sáng sớm ngày mười hai, Vạn Dật tạm biệt mẹ và thưa rằng: “Phật cùng chư thánh chúng đã đến đầy nhà. Con đi đây!” Nói xong, liền chắp tay niệm Phật mà vãng sanh. Lúc bấy giờ, ông được ba mươi bảy tuổi.


CHÂU LÂN THƠ

Cư sĩ Châu Lân Thơ tự Văn Tuyền, người đời Thanh, nguyên là hàng chư sanh ở Tân Dương. Lúc gần năm mươi tuổi, ông bị bịnh nặng suýt chết, sau khi được lành mạnh, sanh niệm sợ hãi mới để tâm nghiên cứu về kinh Phật. Ông duyệt xem nội điển rất nhiều, thường đem các sách khuyến thiện tặng cho người.

Bấy giờ Lượng Khoan hòa thượng từ chùa Sư Lâm thối viện, về trụ ở am Tôn Thắng, nổi tiếng là bậc hạnh giải kiêm toàn. Lân Thơ nghe danh đến thọ Tam quy ngũ giới, được pháp danh là Như Nhân. Cư sĩ gọi các bạn đồng tu đến kiết Liên xã ở am Tôn Thắng, mỗi tháng họp một lần, lễ Đại Bi sám pháp và niệm Phật. Mỗi kỳ hội đều có giảng diễn về pháp môn Tịnh độ, và cùng trình bày chỗ kinh nghiệm để sách tấn lẫn nhau, về sau cư sĩ đôi mắt lần kém không xem kinh sách được, nhưng khóa tụng càng siêng cần. Khi đi đứng nằm ngồi, đều thầm niệm Phật hiệu không dứt. Đến bảy mươi tuổi, Vân Thơ vương bịnh dây dưa vài tháng. Trước khi mãn phần mấy ngày, cư sĩ mộng thấy hào quang sắc trắng chiếu sáng rực rỡ. Thức giấc, ông viết mấy bài kệ như sau:

I
Lạc bước trần lao danh lợi mê
Đua toan nào kể tội muôn bề!
Vợ nhà hờn trách khi cùng quẫn
Kiếp tạm ngày qua luống ủ ê!

II
Lần hồi vui đạo biết an phần
Dưỡng tánh gìn lòng lại nẻo chân,
Ứng phó tùy cho xong nợ trước
Cảnh duyên hoa mộng mặc xoay vần!

III
Trôi dạt tha hương bảy chục thu
Nổi chìm vinh nhục há không do?
Quay đầu bến giác đi về thẳng
Tùy cảnh chi sờn bước tịnh du.

IV
Nghiệp báo ngày nay trả dứt xong
Rất may tánh Phật chẳng mê lòng.
Vô sanh đặt bước đường bằng ổn
Liên quốc miền vui trưởc mắt trông!

Khi bịnh ngặt sắp mãn phần, cư sĩ gắng sức ngồi lên niệm Phật mà hóa. Tuy tắt hơi đã lâu, song hai tay vẫn chắp lại chẳng buông ra. Các liên hữu dò thăm, đỉnh đầu rất nóng. Bấy giờ nhằm mùa đông năm Đạo Quang thứ hai mươi lăm.


CÙ TẤN HÒE

Cù Tấn Hòe, người ở Thường Thục, bình thời không tin Phật, cho việc cầu sanh Tây phương là ngu. Tháng ba năm Đạo Quang thứ mười bảy, ông bị chứng lạc huyết lần lần chuyển nặng, thuốc thang vô hiệu. Một đêm, Tấn Hòe nằm thấy thần báo mộng rằng: “Bịnh của ngươi duy có họ Tôn mới chữa trị được thôi!”

Tỉnh giấc, ông nhớ trong hàng thích hữu có y sĩ Tôn Chiên Lâm, liền cho người mời đến điều chẩn. Chiên Lâm xem mạch xong, bảo: “Bịnh đã thâm nhập khó bề cứu vãn, dù hốt thuốc chẳng qua là gắng gượng làm cho tận nhơn sự mà thôi. Nếu anh chịu phát tâm niệm Phật hồi hướng, đó mới chính là diệu phương. Bằng chẳng thế thì tôi không thể nào làm chi hơn được!” Tấn Hòe nghe nói liền nguyện xin niệm Phật, rồi gọi người nhà dặn: “Từ nay tôi giữ giới không sát, xin vì tôi mua vật mạng phóng sanh”. Lại bảo: “Nay tôi đã tỉnh ngộ, hãy đến chùa mời Hòa thượng đến nhà để truyền thọ quy giới, và xin sám hối túc nghiệp!” Đó là ông đột nhiên tự phát tâm, từ trước đến nay chưa có ai nói cho biết chuyện ấy.

Trước khi mãn phần vài ngày, Tấn Hòe đem việc nhà giao phó dặn dò với mẹ, như người sắp đi xa. Đến ngày mười bốn tháng tư, ông gượng ngồi dậy tựa vào ghế, bỗng ngước mắt nhìn lên như thấy cảnh giới chi. Kế đó chắp tay lớn tiếng liên tiếp niệm A Di Đà Phật hơn mười câu, rồi tắt hơi đi thẳng.

LỜI BÌNH:

Có kẻ nghĩ rằng Tấn Hòe cơ duyên đã thuần thục, tại sao vị thần không dạy bảo ngay, lại chuyển lời nhờ đến họ Tôn? Ôi! Há chẳng nghe thuở Phật còn tại thế, dân chúng trong một thành nọ không ai hóa độ được, mà chì có duyên với ngài Mục Kiền Liên đó ư?


TÔN TÙNG ĐÌNH

Tôn Tùng Đình, người ở Tiền Đường, bình thời vốn thờ bà Đẩu Mẫu. Mùa thu năm Đạo Quang thứ mười bảy, đang lúc nằm bịnh, thấy có nhiều vị cờ lọng xe ngựa đến chờ đón rước. Ông liền gọi thân quyến thuật lại việc đó, và nói: “Thôi xin trân trọng giã biệt tất cả, tôi sắp đi đây!” Người em út là Tôn Hựu Thôn ngăn lại bảo: “Hãy khoan! Đó là cõi quỉ thần, không phải chỗ tốt, xin anh đừng đi theo!”

Giây lát, Tùng Đình nói: “Vì tôi không chịu đi, nên các vị ấy đều ẩn mất, bây giờ biết về nơi nào?” Hựu Thôn đem pháp môn Tịnh độ ra giảng khuyến. Tùng Đình nghe nói vui vẻ phấn chấn, muốn xưng hồng danh Phật, song lúc đó lưỡi cứng nói đớ không thể niệm thành sáu chữ. Hựu Thôn liền giúp lớn tiếng trợ niệm, Tùng Đình mới nương theo tụng ra tiếng được rõ ràng. Niệm đến hơn một ngàn câu, ông liền im lặng mà về Phật.


ĐINH ĐỒNG TỬ

Đinh đồng tử, người ở trấn Mai Lý xứ Thường Thục. Lúc lên bảy, cậu bé nghe cha mẹ niệm Phật, nên mỗi buổi sáng cũng ra trước bàn Phật trì niệm theo.

Không bao lâu em vương bịnh nhẹ, sớm mai đang nằm bỗng chợt ngồi dậy nói: “Hôm nay chưa niệm Phật là tự lầm lỗi to rồi!” Liền vội gắng đi súc miệng rửa mặt, ra trước lễ Phật trì niệm xong, mới nằm trở lại. Đến xế chiều cậu bé thưa với mẹ rằng: “Con thấy đằng xa trước mắt có ao báu lớn, hoa sen đua nhau tươi nở, giữa hư không Phật và chư thánh đang chờ đón rước. Con xin theo Phật về Tây phương, mong cha mẹ đừng lấy làm kinh lạ!” Đoạn liên tiếp niệm Phật một lúc lâu rồi ngất đi. Trong cơn bất ngờ, người mẹ còn mong cho con tỉnh lại, song chỉ nghe tiếng nấc nấc trong cổ họng, như muốn nói mà không ra lời. Bỗng đồng tử niệm to bốn chữ: “Đại từ đại bi…” rồi tắt hơi.

Qua hôm sau nhập liệm, cả mình đều lạnh, chỉ có đỉnh đầu còn nóng.


KHUYÊN TU

I
Biển trần tham dục biết sao cùng!
Khóa lợi vàm danh có dứt xong.
Tình niệm nếu xoay thành Phật niệm
Tây phương Cực Lạc một đường thông.

II
Nghĩ sâu địa ngục phát bồ đề
Trở gót quê sen chớ lại mê!
Nong nả lối xưa nên sớm bước
Kẻo khi trời tối lạc đường về.

III
Niệm Phật đâu từng ngại việc làm
Người theo công việc tự mê tâm.
Bóng câu thần huyễn không tồn tại
Chớ phụ trời Tây đấng Nguyện vương!

IV
Màu tranh mưa tạnh ánh dương hồng
Thoáng chốc mù che lại chẳng đồng.
Huống nữa mạng người trong nhịp thở
Chuông mai còn chắc được nghe không?

V
Sống chết mênh mang khắp biển trần
Di Đà thuyền nguyện độ mê tân.
Kiếp xưa có phận đời nay gặp
Mau bước lên thuyền lại cõi chân.

VI
Một niệm mê sanh vạn mối mang
Trần lao nghiệp thức kết thành đoàn!
Nếu không phải bậc tâm hùng liệt
Đâu dễ vươn mình đến Lạc Bang?


DƯƠNG THỊ

Dương thị người thời Càn Long nhà Thanh, nguyên là bà nội của cư sĩ Viên Tử Tài. Vì con trai mất sớm, bà nương theo con gái là Hồng phu nhơn mà tu hành.

Dương thị tĩnh cư riêng ờ một gian lầu, ba mươi năm chân không bước xuống đất. Bà thờ Quán Âm đại sĩ rất thành kính, tụng kinh niệm Phật không ngớt. Tánh lại hiền từ, nếu nghe dưới lầu có tiếng đánh đập nô tỳ, thì bàng hoàng ăn không được. Có đứa tớ gái nào lên lầu, bà liền chia thức ngon của mình cho ăn. Đến chín mươi bảy tuổi, trước khi mãn phần, Dương thị bảo lấy bồn để rửa chân. Cô tớ gái xách cái bồn bằng gỗ thường dùng đem đến. Bà nói: “Không được! Lần đi nầy ta sẽ bước lên hoa sen, hãy lấy cái bồn bằng đồng đem lại đây!”

Rửa chân vừa xong, bỗng nghe mùi hương thanh lạ như chiên đàn bay ngào ngạt khắp gian phòng. Dương thị liền ngồi kiết già niệm Phật mà hóa. Trải hơn ba ngày đêm mùi hương ấy mới tan.


NHAN THỊ

Nhan thị, hiệu Huệ Phương, người ở Triều Dương tỉnh Quảng Đông, nguyên là vợ của Lâm Chi Kỳ và mẹ của cư sĩ Lâm Tiết. Chi Kỳ nhà nghèo, khổ công học tập song thi mãi không đỗ, nên u uất thành bịnh mà mãn phần. Lúc ấy Nhan thị đang có thai, hơn tháng sau mới sanh ra Lâm Tiết.

Tánh bà hiền thục, tuy chồng vừa chết, nhưng nhờ bên cha mẹ ruột giàu có được chia phần ăn, nên sự sống cũng tạm yên. Nhan thị hiếu để với cha mẹ chồng, hòa thuận cùng làng xóm, giữ tiết nuôi con cho đến khi khôn lớn. Gia thế vốn thờ phụng đức Quán Âm, đến phiên bà lại càng thêm lễ niệm thành kính. Một hôm bàn tay bà bị gai đâm sưng lên đau đớn khó chịu, dùng nhiều thứ thuốc xoa uống vẫn không hiệu nghiệm. Đêm nọ, Nhan thị mộng thấy Bồ Tát đến xoa nắn chỗ đau, trao cho một hạt đậu, ăn vào thấy ngọt. Lúc tỉnh dậy, bịnh liền dứt hẳn. Từ đó bà phát tâm ăn chay trường và tụnh kinh niệm Phật, mỗi ngày đều có định khóa.

Trải mười lăm năm, Nhan thị tu hành một mực như thế không thối chuyển. Trước khi mãn phần một tháng, bà gọi con và dâu lại khuyên bảo trai giới tu niệm, lại dặn sắm y phục mới cho mình cách thức như nhà tu. Trước giờ lâm chung, Nhan thị ngồi niệm Phật một lúc rồi yên lặng vãng sanh, thọ sáu mươi lăm tuổi. Sau khi bà mất, Lâm Tiết mộng thấy mình theo thanh y đồng tử, ngồi thuyền vượt biển đến một chỗ lầu các nguy nga ánh sáng rực rỡ. Có một vị lại gần bên bảo: “Mẹ ngươi là Ưu bà di Nhan thị, đã vãng sanh về cõi Cực Lạc!”

Bấy giờ vào khoảng cuối năm Gia Khánh đời Thanh.


TIỀN LAN TRINH

Tiền Lan Trinh, người đời Thanh, quê ở Tô Châu. Thuở bé, tánh cô rất đoan trang nghiêm tĩnh. Lớn lên, được cha mẹ gả cho họ Cố. Về sau đang lúc mang thai, cô bị bịnh nguy ngặt, nửa thân hình đều lạnh, tâm thần mê loạn. Có hàng chí thích nhân đến thăm, khuyên người chồng nên lập thệ giữ giới không sát, và niệm thánh hiệu Quán Thế Âm. Họ Cố chí tâm tin theo lời. Ba hôm sau, Tiền thị cả mình đều xuất hạn, cơn bịnh dường như mất hẳn.

Sau khi lành bịnh, Lan Trinh phát tâm niệm Phật và thánh hiệu Quán Thế Âm. Cô giữ thời khóa rất chắc, dù lúc tiết trời giá lạnh hoặc nóng bức, vẫn không thay đổi. Mùa đông năm Đạo Quang thứ hai mươi tám, Lan Trinh nhiễm chứng lạc huyết, bịnh lần thêm nặng. Dây dưa đến ngày mùng tám tháng mười năm sau, cô bỗng nói: “Biển khổ mênh mang, ba hôm nữa tôi đã có thể ra khỏi!”

Đến sáng ngày mùng mười, Lan Trinh bảo lập bàn hương án phía bên hữu giường nằm, rồi bảo: “Hôm nay quyết định về Phật!” Nói đoạn, niệm danh hiệu đại sĩ, giây lát bỗng xưng A Di Đà Phật. Tới giờ Thân tiếng niệm Phật lần thấp nhỏ, hướng về Tây an lành mà mãn phần. Qua hôm sau, đảnh đầu còn nóng. Cô hưởng dương được hai mươi chín tuổi.


TRẦM TRINH NỮ

Trầm trinh nữ, quên sót tên, nguyên là con gái của cư sĩ Trầm Tuyết Phong. Thuở bé, cô nghe cha mẹ giảng nói về lý nhân quả, lập chí giới không sát phóng sanh. Lớn lên, nghe nói đến việc nghị hôn, liền khóc lóc không ăn. Cha mẹ dò hỏi ý, cô đáp: “Con muốn chờ học cho kinh nghĩa thông thuộc, rồi sẽ xuất gia làm ni”. Trầm cư sĩ nghe nói, liền khen ngợi chấp thuận.

Bấy giờ cô mới vừa thông văn tự, chỉ đọc Di Đà, Kim Cang, Tâm kinh, chú Đại Bi, Song chưa hiểu nghĩa, duy một lòng niệm Phật mà thôi.

Không bao lâu mẹ mất, Trinh nữ liền phát tâm trường trai. Lúc cô hai mươi mốt tuổi, vào đầu tháng năm, bỗng vương chứng thời khí, bịnh dây dưa hơn vài mươi ngày. Trầm cư sĩ thăm bịnh, thường thường dặn con niệm Phật quán Phật, một lòng hướng về Tây phương. Sáng sớm ngày ba mươi, cô hôn mê, cư sĩ gọi tên để cảnh tỉnh, chỉ bày sự vui vẻ khi sanh về Tây phương, và bảo con an lòng niệm Phật. Sang giờ Mùi, cô bỗng bào đứa tớ gái đỡ dậy, ngồi hướng về Tây chắp tay niệm Phật. Lúc đó, nhân bà mẹ của quan Tri huyện bị bịnh, Trầm cư sĩ được rước đến chẩn mạch, nên đi vắng. Trinh nữ niệm Phật giây lát, bỗng mở mắt nhìn quanh, hỏi cha ở đâu? Gia nhơn đáp: “Ông đi lên huyện”. Cô nói: “Không việc chi, chẳng cần gọi cha tôi về, chỉ xin nhờ chuyển lời nói người nên an lòng. Vừa rồi tôi được hai vị Bồ Tát dẫn đi đến thế giới Cực Lạc, bảo Phật đã thọ ký cho vào hàng Hạ phẩm hạ sanh. Nhân vì tôi có hiếu tâm cắt thịt bắp vế hai phen sắc hòa với thuốc để trị bịnh song thân, nên được đổi lại thành Hạ phẩm trung sanh!” Lúc đó bà quản gia họ Tôn, cũng trường trai niệm Phật, nghe cô thuật lại tình hình ấy, liền thưa: “Tiểu thơ là bậc đồng nữ tu chân, nên mới được sự lợi ích như thế. Còn chúng tôi tu hành nửa vời, chắc bước theo không kịp!” Trinh nữ bảo: “Các vị bình thời niệm Phật chưa chân thiết, e không đắc lực. Nếu có thể chân tâm niệm Phật, đến lúc lâm chung như thế nầy mới biết được sự thọ dụng. Các vị nên cố gắng. Thôi tôi xin đi!” Nói xong, liền nhắm mắt mà qua đời.

Đen giờ Dậu, Trầm cư sĩ trờ về, mới nghe thuật lại mọi việc. Ông lại dò thăm, thấy đảnh đầu cô hãy còn nóng.


BẠCH THỊ

Bạch thị, người vào thời Quang Chữ nhà Thanh, nguyên là bà ngoại của cư sĩ Châu Thuần Phu. Đến tuổi trung niên chồng bị bạo bịnh mất, kế tiếp con trai và dâu đều nối nhau qua đời. Nỗi thương chồng khóc con quá nhiều, khiến cho bà đôi mắt mù lòa, không còn chút chi là sanh thú.

Từ đó, Bạch thị lạnh lùng với trăm việc, chuyên tu Tịnh độ, đi đứng nằm ngồi niệm Phật không ngớt. Đến năm sáu mươi sáu tuổi, vào tháng tám bà bỗng cảm bịnh nhẹ, cho người gọi con gái về gấp. Lúc đó cư sĩ Châu Thuần Phu cũng theo mẹ sang nhà bà ngoại. Tới nơi, thấy bà ngồi ngay thẳng trên giường, tợ hồ như không có bịnh chi. Bà bảo con gái: “Mẹ định vào giờ Dần ngày hai mươi sáu tới đây sẽ về Tây phương nên mới bảo con sang gấp!” Thân mẫu của Châu cư sĩ thăm hỏi, giọng nói đầy vẻ bi thương. Bạch thị khuyên: “Từ lâu đối với việc đời, lòng mẹ đã nguội lạnh như tro tàn, không còn chi tham luyến. Mẹ xem sự sống chết đều là tướng huyễn, con hãy cố gắng niệm Phật để cầu giải thoát, chớ nên lo buồn!” Đến nửa đêm ngày hai mươi lăm, bà bảo con gái vì mình nấu nước tắm gội và thay đổi y phục mới sạch. Mọi việc xong, bà ngồi kiết già nơi giường, xây mặt về Tây niệm Phật.

Lúc đó hàng thân tộc tụ họp hơn hai mươi người. Tới canh năm, Bạch thị bảo mỗi người cầm một cây hương đốt lên chắp vào tay, đồng thanh to tiếng niệm: Nam mô A Di Đà Phật. Bà cũng cao tiếng niệm theo. Đến lúc trời hửng sáng, một cơn gió thơm nhẹ thổi tới, tất cà đều nghe có tiếng âm nhạc văng vẳng giữa hư không. Tiếng niệm của Bạch thị cũng thấp nhỏ lần rồi dứt hẳn. Một người thân lại gần xem thì bà đã về Phật.


MỘT TRINH NỮ

Một trinh nữ ở làng Đông tại Hoàng Pha, tỉnh Hồ Bắc, ký giả quên sót tên họ. Cô bẩm sanh đã có túc huệ, rất nhiệt tâm hướng về đạo. Lúc hơn mười tuổi cha mẹ chọn nhiều nơi định hôn phối, Trinh nữ đều khóc lóc từ chối thệ quyết không chịu lập gia đình. Chẳng bao lâu, cô xin cha đến chùa cầu thọ giới Bồ Tát, kế tiếp chuyên tu Tịnh độ. Cô giữ thời khóa tụng rất chắc, chân không bước khỏi khuê môn.

Một hôm, người chị dâu đang bồng con, bảo cô lấy giùm tấm tã. Trinh nữ đáp: “Tâm em là tâm Phật, tay em tức là tay Phật, thiết tưởng không nên đụng chạm đến những thứ đó!” Người chị dâu cười lạt bảo: “Em không phải kẻ xuất gia, cứ ở nhà mãi như thế nầy, ngày kia cũng chưa khắc khỏi có đôi bạn. Rồi chừng ấy làm sao tránh được việc nuôi con?” Trinh nữ nghe nói đứng ngậm ngùi bàng hoàng một lúc, bất đắc dĩ nhón hai ngón tay cầm tấm tã đem lại. Đến tuổi cập kê, cha mẹ nhận lời người đến hỏi và bắt buộc cô phải lấy chồng. Trinh nữ chỉ biết buồn thương và chí thiết niệm Phật cầu nguyện. Gần tới ngày cưới cô cảm bịnh nhẹ, thưa với cha mẹ rằng mình sắp về Phật, xin lo trước hậu sự. Song thân cô không tin, nên chẳng nghe lời. Trước lễ cưới một ngày, Trinh nữ từ giã cha mẹ rằng: “Con đã được hân hạnh sanh về Tây phương Cực Lạc thế giới, xin song thân cố gắng tu hành, đừng nên hoài niệm!” Nói xong, cô chắp tay niệm Phật một lúc rồi thoát hóa.

Sau khi cô mãn phần, người nhà y lời trối dặn trước, liệm thi hài trong một chiếc vại to bằng sành. Ba năm sau đem ra định thiêu hóa, thấy thân thể cô không tan rã, chẳng có chút mùi hôi, dung mạo tươi như sống. Duy nguyên hai ngón tay cầm tã thì lộ sắc nám đen.


CHÂU PHU NHƠN

Châu phu nhơn, người đời Thanh, nguyên là vợ của Vương Sở Thần ở huyện Sơn Âm tỉnh Triết Giang, và mẹ của Vương Tâm Tam, một cư sĩ hữu danh thuở ấy. Năm hai mươi sáu tuổi, bà về với họ Vương. Bên chồng nhà giàu, lại rất tin Phật pháp. Phu nhơn cũng sùng tín ngôi Tam Bảo, từng xuất của lập chùa thờ đức Quán Âm đại sĩ và cất miếu thờ thần Thiên Y. Ngoài ra, lại còn bố thí giúp đỡ kẻ nghèo bịnh, phóng sanh, tiếc giấy chữ, tóm lại tất cả việc lành đều hết sức đề xướng và thật hành. Những thiện cử trên tuy do Vương quân nắm phần cương lãnh, song kỳ thật nhờ phu nhơn âm thầm khuyến khích và giúp đỡ rất nhiều.

Từ khi về nhà chồng, phu nhơn liền ăn chay trường, mặc áo vải, ban ngày thì thêu dệt may vá, ban đêm lại lễ Phật tụng kinh. Công việc cứ giữ điều hòa như thế, suốt cả năm không bước chân ra ngoài cửa ngõ. Phu nhơn tánh trầm lặng ít nói, khi hàng thân thích đến thăm, sau ít lời hàn huyên, liền dẫn giải việc tội phước nhân quả. Lúc Vương quân qua đời, hai trẻ hãy còn nhỏ dại, phu nhơn phụng sự mẹ chồng, giáo huấn con thơ, trải đủ nỗi gian nan, hiếu từ đều trọn vẹn. Bà có hỏi con gái họ Lũ cho Tầm Tam, song chưa kịp cưới thì cô ấy bị đau, mù cả đôi mắt. Hàng thân tộc đều khuyên bảo nên thối hôn, nhưng phu nhơn cự tuyệt không nghe theo, cưới đem về, lại dặn Tâm Tam rằng: “Đang khi con sang làm lễ hỏi, thì vợ con đôi mắt hãy còn sáng và tươi đẹp. Nhưng trước khi cưới, nó lại bị mù lòa, đấy cũng là phần số của con. Nếu mẹ và con chê bỏ, tất sẽ làm hư hỏng và tủi nhục đời một người con gái. Vậy con phải săn sóc và thương yêu vợ con, giữ ttọn bổn phận làm chồng cho đến lúc nó mãn phần!” Chỉ riêng một điều nầy, đủ thấy phu nhơn là một người đầy lòng từ bi và nhân hậu.

Trước kia cứ sáng sớm phu nhơn đều tụng Tâm kinh, mỗi ngày có định số. Từ khi sương cư, bà chuyên tâm niệm Phật, quyết định cầu sánh về Tây phương. Vào tháng ba đầu niên hiệu Tuyên Thống, mẹ chồng mất, phu nhơn lo việc tang lễ chôn cất rất chu đáo, nỗi thương cảm nhọc nhằn khiến thành đau bịnh. Bà nằm liệt nơi giường hơn bốn mươi ngày mới mãn phần. Ba hôm trước khi lâm chung, phu nhơn dặn hai con lo các việc hậu sự và bảo: “Ba ngày sau vào giờ Ngọ, mẹ sẽ về Phật. Hai con nên tiến tu đức nghiệp, gắng làm người hoàn thiện, và theo gương mẹ chuyên niệm Phật cầu sanh Tây phương!” Đến thời khắc đã định, bà gượng ngồi dậy nhắm mắt thầm niệm Phật, trạng thái rất an lành. Tâm Tam hỏi có thấy chi không, phu nhơn đáp: “Hãy đốt ngọn đèn lồng treo trước cửa và đừng hỏi han làm loạn chánh niệm của ta!” Nói xong bà ngồi yên một lúc rồi lặng lẽ thoát hóa. Mấy giờ sau, Tâm Tam dò xem thấy hai tay phu nhơn đều mềm dịu, đảnh đầu rất nóng.

XÓA SẠCH DUYÊN TRẦN
(Phỏng dịch “Thất Bút Câu” của ngài Liên Trì)

I. XÓA SỰ HIẾU DƯỠNG THEO ĐỜI
Công sanh dưỡng
Biển thẳm non cao
Gấm vóc trân tu đáp được nào?
Cha mẹ ữa trần cấu
Đạo con mới thành tựu!
Ôi chà chà!
Giải thoát xuất trần nhân lớn lao
Phàm tình đâu đã hiểu!
Cháu hiền cùng con thảo
Chân không, lẽ diệu mau tham cứu!
Bởi thế nên đem
Năm sắc kim chương xóa sạch làu!

II. XÓA TÌNH VỢ CHỒNG ÂN ÁI
Vợ chồng duyên đẹp
Loan phượng mến yêu
Mối giây ân ái thuở nào tiêu?
Mộng tình theo lẽo đẽo
Duyên hết lìa đôi nẻo!
Ôi chà chà!
Vấn vương vui hết lại buồn đau
Tam đồ thêm khổ não!
Xét rõ phá oan gia
Tìm cửa đạo mầu mau thoát tháo.
Bởi thế nên đem
Cá nước duyên kia xóa sạch làu!

III. XÓA LÒNG QUYẾN LUYẾN CON CHÁU
Cháu con đeo đẳng
Như thịt bứa thừa.
Vì con cháu chịu kiếp trâu lừa!
Họ Đậu non Yên xưa
Ngày nay đâu còn nữa?
Ôi chà chà!
Nghĩ lo trăm kế lại ngàn mưu
Cũng về nơi Ô hữu!
Trở lại tánh Bản lai
Dầu rằng vạn kiếp trường xuân hảo!
Bởi thế nên đem
Con cháu kim lan xóa sạch làu!

IV. XÓA BỎ NIỆM CÔNG DANH
Công danh khoa bảng
Riêng chiếm ngao đầu
Vui mừng đắc ý buổi thanh thu!
Ấn vàng ngời tinh đẩu
Danh đẹp thơm trường cửu
Ôi chà chà!
Bao nhiêu thanh thiếu những mong cầu
Tóc xanh thành bạch thủ!
Khi tỉnh giấc hoàng lương
Một tiếng cười khan đời mộng ảo!
Bởi thế nên đem
Quý hiển công danh xóa sạch làu!

V. XÓA BỎ SỰ THAM SANG GIÀU
Của tiền giàu có
Xe ngựa nhà lầu.
Lẫy lừng thanh thế sánh vương hầu.
Khi cầu nhiều kiếp khổ
Lúc được lo nghiêng đổ!
Ôi chà chà!
Đạm thanh biết đủ thắng trân tu!
Áo gai dường cẩm tú!
Khoảng trời đất tiêu dao
Nhà rộng của nhiều đâu đủ báu?
Bởi thế nên đem
Tài sản điền viên xóa sạch làu!

VI. XÓA TÂM MÊ ĐẤM SẮC TÀI
Cầm kỳ văn họa
Tài sắc phong lưu
Gieo vàng tỏ ngọc vẻ tươi mầu!
Cờ thi hòa rượu đấu
Cầm ca dìu dặt tấu!
Ôi chà chà!
Gấm hoa xán lạn suốt canh thâu
Nhã nhạc lừng ngưu đẩu!
Già chết chợt đến nơi
Cấp cứu trầm luân ai đảm bảo?
Bởi thế nên đem
Tài sắc văn chương xóa sạch làu!

VII. XÓA TÁNH ƯA THÍCH DU NGOẠN
Dạo chơi thắng cảnh
Thu đẹp xuân kiều!
Túi thi đàn rượu khắp ngao du!
Non nước vài thân hữu
Mưa khói mờ hoa liễu!
Ôi chà chà!
Ráng hồng suối bạc sánh phong lưu
Đâu nghĩ ngày mai hậu?
Sáng tối thoáng qua mau
Thảng thốt quay đầu suy, bịnh, lão!
Bởi thế nên đem
Phong nguyệt tình vui xóa sạch làu!


VIỆT QUỐC PHU NHƠN

Việt Quốc phu nhơn Vương thị, nguyên là vợ của Kinh Vương. Kinh Vương lại là chú của Triết Tôn hoàng đế đời Tống. Phu nhơn chuyên niệm Phật ngày đêm không gián đoạn, lại hướng dân các hàng tỳ thiếp đều tu Tịnh độ cầu sanh Cực Lạc. Trong hàng tỳ thiếp ấy, có một cô thường hay biếng trễ. Phu nhơn gọi lên bảo: “Không thể vì một mình ngươi, mà phá hoại quy củ của ta!” Rồi liền đuổi ra khỏi đoàn thể.

Người thiếp sợ hãi ăn năn, phát tâm tinh tấn niệm Phật không nài mỏi nhọc. Một hôm, cô bảo bạn đồng sự rằng: “Em sắp đi xa!” Đêm lại mùi hương lạ bay đầy phòng, cô không bịnh chi mà qua đời. Cách vài hôm sau, cô bạn đồng sự thưa với phu nhơn rằng: “Đêm vừa rồi, con mơ thấy người thiếp mãn phần nhờ chuyển lời kính xin cảm tạ ân đức vô lượng của phu nhơn. Bởi nhờ phu nhơn răn trách, mà cô đã được sanh về Cực Lạc!” Phu nhơn bảo: “Nếu nó có thể ứng mộng cho ta biết thì ta mới tin”. Đêm ấy, phu nhơn nằm mộng thấy người thiếp quá cố đến tạ ân như lời đã nói, liền hỏi: “Cõi Tây phương có thể đến được chăng?” Cô đáp rằng được, rồi dẫn phu nhơn bay đi. Độ giây phút, đến một bảo trì to rộng mênh mang, ánh sáng giao hòa chói suốt. Trong ao báu, hoa sen lớn nhỏ xen lẫn gồm nhiều màu sắc và quang minh, có đóa hoặc tươi hoặc héo. Phu nhơn hỏi duyên cớ, người thiếp thưa: “Chúng sanh ở Ta Bà vừa phát tâm niệm Phật cầu về Cực Lạc, thì nơi đây liền hóa sanh một hoa sen. Nếu dương nhơn mỗi ngày tinh tấn tu niệm, thì hoa càng thêm lớn và tươi đẹp. Trái lại nửa chừng lần lần biếng trễ, tất hoa sẽ héo. Như không tiếp tục tu hành, hoa liền tàn rồi ẩn mất. Còn phát tâm tinh tấn niệm Phật trở lại, thì một hoa sen khác mọc lên. Nếu công tu lâu ngày vẫn không thối chuyển, tất tịnh quả sẽ thành thục. Khi dương nhơn bỏ báo thân ở Ta Bà, thần thức sẽ nương gởi vào thai sen ấy, đợi đến khi hoa nở thấỵ Phật”. Nhìn ra xa, trên một đài hoa có vị đội mão ngọc, cổ đeo chuỗi anh lạc, phục sức và thân tướng trang nghiêm, phu nhơn hỏi: “Ai đấy thế?” Người thiếp thưa: “Đó là Vô Vi cư sĩ Dương Kiệt. Vị ấy vừa mới vãng sanh về đây”. Phu nhơn thấy một người khác mặc triều phục, ngồi trên đóa sen hơi kém hơn, lại hỏi thăm. Cô đáp: “Đó là cư sĩ Mã Vu, chờ khi công thành quả mãn, cũng lại sắp vãng sanh về đây”. Phu nhơn hỏi: “Còn ta sẽ sanh về chỗ nào?” Người thiếp liền dẫn bà bay đi độ vài dặm. Nơi ấy có một hoa tòa to lớn, cánh bích ngọc, đài hoàng kim, phóng ánh sáng rực rỡ. Người thiếp chỉ đóa hoa nói: “Đây là chỗ sanh của phu nhơn, thuộc về kim đài thượng phẩm!”

Khi thức dậy, phu nhơn ghi nhớ rõ điềm mộng, nỗi vui mừng bi cảm lẫn lộn, càng tinh tấn tu hành. Đến hơn tám mươi tuổi, nhằm ngày sanh nhựt, sáng sớm bà thức dậy, hai tay bưng lò trầm hương nhỏ, khói thơm bay tỏa, nghiêm kính đứng hướng về phía Quán Âm Các. Tất cả tỳ thiếp y phục chỉnh tề, sắp thành hàng bước đến định làm lễ chúc thọ. Nhưng khi nhìn xem lại, thì phu nhơn đã thoát hóa.

LỜI BÌNH:

Ấn Quang Pháp sư nói: “Tác dụng của thần thức và nghiệp lành dữ đều không thể nghĩ bàn! Có kẻ tạo ác, tuy còn sống ở trên dương thế, mà một phần hình thần đã thọ khổ nơi địa ngục. Lại có hành giả tu Tịnh độ, tuy hiện đang ở cõi trược, mà phần thần thức đã sanh về Liên bang”. Trường hợp của Mã Vu trên đây cũng như thế.

Người nữ sanh về Cực Lạc, đều chuyển thành thân nam đủ ba mươi hai tướng tốt trang nghiêm. Nhưng cô thiếp lại hiện ra thân nữ cho đồng bạn và Kinh Vương phu nhơn trơng thấy cũng chỉ là phương tiện hóa hiện, để người quen dễ được nhận thức đó thôi. Điều này độc giả nên thông hiểu và đừng lấy làm nghi hoặc.


TẨN THỊ

Tần Thị có chồng là họ Vu, làm nghề đánh cá ở Tiền Đường. Con của bà chơi bời theo du đãng, phạm hình luật bị bắt đến quan, khiến cho sản nghiệp đều tiêu tán. Tần thị sầu khổ, đến mé sông muốn tự trầm.

Vừa may đâu, bà gặp một vị tăng ở chùa Tịnh Trụ hỏi thăm biết duyên cớ, khuyên bảo rằng: “Người đời khi bị những cảnh khổ bức bách, đó đều là nghiệp duyên kiếp trước? Vậy nên cố gắng an lòng nhẫn chịu. Nếu quẫn trí mà tự tử, tất gốc tội nghiệp càng sâu. Muốn giải trừ nghiệp khổ, chỉ có con đường duy nhất là làm lành niệm Phật!” Tần thị nghe nói tỉnh ngộ, liền đốt một ngón tay trước bàn Phật để cúng dường, và phát nguyện ăn chay trường tu Tịnh độ. Bà hành trì như thế hơn mười năm không biếng trễ. Khi gặp mọi người, đều chắp tay xưng là Phật tử.

Một hôm Tần thị thỉnh tăng đến nhà tụng kinh Quán Vô Lượng Thọ, còn mình thì lần chuỗi niệm Phật. Khi tụng đến chương Quán Tượng, bà yên lặng mà thoát hóa.


PHÙNG THỊ

Phùng Thị, tên Pháp Tín, người đời Tống, quê ở quận Quảng Bình. Bà nguyên là vợ của quan Thừa tuyên sứ Trần Tư Cung. Thuở nhỏ phu nhơn vốn hay đau yếu, khi về nhà họ Trần, bịnh càng nhiều.

Bấy giờ Từ Thọ Thâm thiền sư đang hoằng pháp ở Vương Thành. Bà đến nơi đảnh lễ, cầu xin chỉ dạy phương pháp trừ bịnh tật. Thiền sư bảo phải trì trai và niệm Phật. Phu nhơn tin nhận, về nhà chưa đầy một tháng, liền bỏ đồ trang sức, ăn chay trường, mặc áo vải, mỗi ngày hằng tụng kinh niệm Phật. Khi làm các công đức, bà đều hồi hướng cầu sanh Tây phương. Không bao lâu, bịnh hoàn toàn lành mạnh. Tuy vẫn lo liệu việc nhà như cũ, nhưng phu nhơn không bỏ thời khóa tu trì.

Hành đạo như thế hơn mười năm, bà không lộ dáng biếng trễ, chẳng tỏ vẻ kiêu căng, thể mạnh tâm an, thần khí càng thêm hưng vượng. Một hôm phu nhơn cầm bút viết kệ rằng:

Duyên nghiệp cuốn lôi xót những ngày!
Từ lâu uổng chịu kiếp trâu cày
Buộc vàm sỏ mũi nay đà thoát
Rũ sạch thân tâm lại cõi Tây.

Hàng tùy thuộc thấy lời kệ, đều lấy làm lạ. Phu nhơn bảo: “Ta từ thanh tịnh giới, vì sai một niệm nên lạc đến chốn nầy. Nay duyên Chi ta sắp mãn, quả Liên quốc hầu kề, rất thích hợp với nguyện ta, có điều gì mà kỳ lạ?” Tháng chín năm ấy, phu nhơn nhiễm bịnh. Vào ngày đầu tháng mười một, bà gọi thị nữ bảo: “Thần thức ta dạo chơi Tịnh độ, lễ cẩn đức A Di Đà Thế Tôn. Bồ Tát Quán Âm, Thế Chí dùng con mắt từ bi hoan hỷ, ngắm nhìn. Trăm ngàn muôn ức Phật tử thanh tịnh đều cúi đầu chào mừng ta được sanh về cõi ấy. Đến như rừng quỳnh ao báu, cung ngọc lưới châu, ánh sáng vẻ đẹp, đều đúng y như kinh Thập Lục Quán đã nói. Cảnh trí kỳ diệu không cùng, đến đó mới biết, không thể diễn tả cho hết được!” Thị nữ mời Trần Tư Cung tới thuật lại, rồi đồng cùng nhau chắp tay niệm Phật.

Đến sáng hôm sau, phu nhơn nằm nghiêng mình bên mặt mà mãn phần. Ba ngày kế mới nhập liệm, người trong nhà vẫn còn nghe mùi hương lạ. Khi sắp trà tỳ, gia nhơn còn quyến luyến giở ra nhìn, thấy gương mặt còn tươi như lúc sống. Phu nhơn hưởng dương ba mươi sáu tuổi.


NGÔ THỊ

Ngô Thị, người đời Tống, nguyên là vợ quan Đô viên ngoại lang Lữ Hoằng. Viên ngoại lang vốn là bậc thông suốt Phật lý, cùng vợ trí hướng thanh tu.

Phu nhơn có hai vị thị nữ, cũng trường trai tu niệm như bà. Một cô ưa Thiền tông, sau mang bịnh nhưng vẫn thản nhiên cười nói, và ngồi thoát hóa xem rất tự tại. Cô kia giữ giới khắc khổ, nhiều khi trọn ngày không ăn, chỉ uống một chén nước gia trì chú Đại bi của phu nhơn mà thôi. Ngày nọ, cô thấy ba vị đứng trên ba đài sen báu hiện ra trước mắt, nhưng chỉ lộ những bàn chân. Vài hôm sau đến đầu gôi. Đôi ba bữa nữa, Thấy tới thân mình. Rồi lần lần đầu mặt, viên quang, các tướng tốt đều hiện ra đầy đủ. Trước mắt, nghiễm nhiên là diệu tướng của Tây phương tam thánh, đức A Di Đà đứng giữa, hai bên là Bồ Tát Quán Ấm, Thế Chí. Không bao lâu, đất vàng, ao báu, lầu đài, rừng cây, chim lạ, các nam tử thanh tịnh ngồi thiền hoặc đi kinh hành, đều lần lượt hiện ra đầy đủ rõ ràng, như nhìn chỉ trong lòng bàn tay. Cô thấy như thế suốt ba năm, chớp mắt cũng không ngăn cách, hằng đem cảnh giới ấy thuật lại cho mọi người biết. Đôi ba kẻ hỏi: “Cô có nghe được Phật thuyết pháp chăng?” Đáp: “Tôi chỉ được thiên nhãn, chưa đắc thiên nhĩ, nên không nghe được lời thuyết pháp của Phật và chư Bồ Tát”. Ít lâu sau, cô tự biết trước ngày vãng sanh, từ biệt người quen thân, rồi niệm Phật mà hóa.

Riêng phần phu nhơn, thờ đức Quán Thế Âm rất thành kính. Trên bàn Phật, bà để vài mươi chiêc bình đựng đầy nước sạch. Mỗi khi phu nhơn trì chú Đại bi, thường thấy đức Quán Thế Âm phóng ánh sáng vào bình. Ai đau bịnh, bà đem nước ấy cho uống đều được an lành. Có điều lạ, qua tiết đông nước trong bình không hóa thành băng, và dù để lâu sắc vị cũng chẳng biến đổi. Do những sự việc trên, người trong vùng đều gọi phu nhơn là Quán Âm huyện quân. Sau bà trì chú niệm Phật rồi an lành mà vãng sanh.


DIÊU BÀ

Diêu Bà, chưa được rõ tên và nguyên quán. Bà chuyên tu Tịnh độ, quán tưởng và niệm Phật không xen hở. Một buổi chiều, đang ngồi hướng về Tây trì niệm, bà bỗng thấy nơi vầng nhựt, đức Phật A Di Đà hiện thân, tướng tốt trang nghiêm đầy đủ. Bà đem việc đó thuật rõ với Tư Tịnh đại sư, xin họa cảnh tượng ấy. Có vị tăng là Pháp Di, làm bài kệ tán như sau, để dưới bức tượng:

Thế giới Cực Lạc có phương sở.
Ở chỗ mặt trời lặn mỗi ngày.
Vì thế Phật dạy Vi Đề Hy.
Quán vầng nhựt lặn như huyền cổ.
Lành thay Diệu thi một lão bà!
Dùng được tâm nầy cầu Tịnh độ
Sáng tưởng tối tưởng qua nhiều năm
Đi niệm ngồi niệm quên lao khổ.
Di Đà lần từ tâm tịnh sanh.
Hốt nhiên trước mặt kim dung lộ.
Bấy giờ hư không chẳng chút mây.
Ngọn dâu bỏng xế ngự ngàn cây.
Rực rỡ Phật huy nhờ ảnh nhựt.
Ngọc hào, mắt biếc tưởng mầu đầy.
Mừng vui kinh lạ lẫn thương bi!
Bà liền đến chùa bạch đại sư.
Thuật rành chỗ thấy điềm hy hữu.
Xin vẽ kim dung cảnh tượng nầy.
Tôi khen việc lạ, khi nghe rõ.
Khai thị người mê dùng kệ tỏ.
Đức Phật, Tây phương vốn chẳng xa.
Xiển đề đâu hiểu sự lý đó.2
Mười muôn ức cõi tuy cách nhau.
Một niệm vượt qua nguyên chẳng khó.
Nếu muốn tìm đường hỏi lối Tây.
Tây phương thẳng lối từ tâm nọ.


VƯƠNG THỊ

Vương Thị, người đời Tống, quê ở Minh Châu, mỗi ngày thường trì tụng kinh Kim Cang. Cô mang thai đã hai mươi tám tháng mà chưa sanh, thân hình càng lúc càng gầy. Ngày nọ, ngẫu nhiên đứng tựa cửa, một bậc dị tăng đi ngang qua chăm chú nhìn, rồi bảo: “Ngươi có căn lành, sao chẳng ấn thí kinh Kim Cang một ngàn quyển?” Vương thị y theo lời, lại trai tăng ngàn vị và tụng ngàn quyển kinh Kim Cang. Việc hoàn tất, canh ba đêm hôm ấy, cô mộng thấy vị thần cầm Kim cang bảo xử chỉ vào bụng. Khi thức dậy đã sanh hai đứa con trai nơi giường.

Từ đó Vương thị trì trai tụng kinh không thôi nghỉ. Đến năm sáu mươi mốt tuổi, cô bị bạo bịnh chợt tắt hơi, thấy hai sứ giả dẫn xuống ra mắt Minh Vương. Sau khi trình bày mình đã tụng kinh Kim Cang từ lúc tuổi trẻ, cô được Minh Vương cho ngồi nơi giường băng vàng bên mé điện, và bảo thử tụng qua một biến kinh. Vương thị vâng lời tụng xong, vua hỏi: “Sao chẳng niệm chú bổ khuyết?” Cô đáp: “Trên dương thế không thấy bản chân ngôn ấy?” Minh Vương sai phán lại soạn trong đại tạng, lấy bản chú ra trao cho Vương thị và bảo: “Khi trở lại dương gian, nên lưu thông bản chú nầy đừng sơ sót. Về sau ngươi mãn phần, sẽ được sanh thẳng sang thế giới Cực Lạc, không còn trở lại đây nữa!”

Sau khi hoàn sanh, Vương thị làm y theo lời chỉ dạy. Đến năm chín mươi mốt tuổi, không bịnh mà tọa hóa. Chân ngôn bổ khuyết ấy như sau: “Um! Hô rô hô rô xả duệ mục khế sóa ha”.


VỢ TƯỞNG THẬP BÁT

Vợ Tưởng Thập Bát, người đời Tống, quê ở Hải Diêm. Đến tuổi trung niên, cô khuyên chồng cùng mình dứt trừ ái dục, hợp chí tu hành. Mỗi ngày vợ chồng đều tụng kinh đại thừa và niệm Phật. Hai người hành trì như thế trải hơn bốn mươi năm.

Một hôm, cả hai tắm gội thay y phục, rồi đốt hương lễ sám niệm Phật. Kế đó, đều lưu lại một bài tụng mà vãng sanh. Tưởng Thập Bát viết bài tụng rằng:

Chất thân hư huyễn nầy.
Bốn đại hợp thành đây!
Sẽ tan về gốc cũ
Rồi tiếp tục vần xây.
Các huyễn khi đã diệt
Tro bay, khói cũng tuyệt
Như khoảng không cơn gió
Tợ trời xanh bóng nguyệt.
Đã chẳng chi ngăn cách
Lại một mầu sáng sạch
Tất cả đều dứt trừ
Không nghĩ bàn biện bạch!
Năm qua hơn bốn chục
Xa lìa các thị dục
Chỉ xiển dương đại thừa
Sớm chiều niệm tụng đọc
Ngày nay buông xả trở về Tây
Tự có duyên lành quả cụ túc!

Bài tụng của vợ Tưởng Thập Bát như sau:

Tụng quá Liên kinh muôn bốn thiên
Bình sanh hương hỏa có nhân duyên
Tây phương là chỗ ta về đến
Trăng gió đồng nương Bát nhã thuyền!

CHÚ THÍCH

  1. Nguyên văn “Bất tham diệc bất niệm. Đắc pháp khả xả pháp”. Ý nói: Tham thiền và niệm Phật đều là phương tiện để chứng đạo pháp, cho nên không tham thiền tất phải niệm Phật. Nếu không tham thiền cũng chẳng niệm Phật, chỉ trừ bậc đã chứng đạo pháp mà thôi. Bậc đắc đạo mới bỏ pháp phương tiện, như người đã qua bờ kia mới bỏ chiếc bè. Trái lại, tất phải chìm trong biển khổ, không làm sao cứu vớt được.
  2. Xiển đề: Người không có lòng tin.