Want create site? Find Free WordPress Themes and plugins.

LUẬN BẢO HÀNH VƯƠNG CHÍNH
Trần Thiên Trúc Tam tạng Chân Đế dịch
Nguyên Hồng dịch tiếng Việt

 

Phẩm 1: AN LẠC GIẢI THOÁT

Giải thoát tất cả chướng,

Đức trọn vẹn trang nghiêm.

Kính lễ Nhất thiết trí,

Bạn lành của chúng sinh.

Chính pháp quyết định thiện,

Vì yêu pháp đại vương.

Tôi sẽ nói do pháp,

Rót chảy người pháp khí.

Trước nói vui pháp nhân,

Sau giảng pháp giải thoát.

Chúng sinh trước an lạc,

Sau lại được giải thoát.

Thiện đạo đủ là vui,

Giải thoát phiền não hết.

Lược nói 2 nhân này,

Chỉ tín, trí 2 căn.

Nhân tin giữ được pháp,

Do trí hiểu như thật.

Trong hai, trí là hơn,

Trước nhờ tin phát khởi.

Do si, tham giận sợ,

Mà không hoại được pháp.

Phải biết là có tin,

Cát tường vui khí cụ.

Đã thành thục giản trạch,

Ba nghiệp thân khẩu ý.

Hằng lợi ích mình người,

Nói là người có trí.

Sát sinh, trộm, tà dâm,

Nói dối và đâm thọc.

Không mắng nhiếc thô ác,

Tham sân với tà kiến.

Pháp này là mười ác,

Ngược lại là mười thiện.

Bỏ rượu sống thanh tịnh,

Không có tâm quấy nhiễu.

Cúng dường nơi đáng kính,

Lược nói pháp như vậy.

Nếu chỉ làm khổ hạnh,

Quyết không sinh thiện pháp.

Vì lìa bi và trí.

Nếu chỉ có khổ hạnh,

Không thể trừ tổn người,

Và cứu tế lợi ích.

Phải biết tu thí giới,

Đường chính pháp rộng lớn.

Nếu bỏ, hành tà đạo,

Tự thụ khổ trâu bò,

Sống chết nơi đồng hoang,

Không thức ăn, bóng mát,

Hoặc bị lang sói ăn,

Dài lâu chịu như vậy.

Do sát sinh chết yểu,

Khổ não lại nhiều bệnh.

Do trộm khiến bị nghèo,

Xâm phạm nên bị oán.

Nói dối, bị phỉ báng,

Đâm thọc thân ái lìa.

Ác khẩu nghe không thích,

Thêu dệt chắng ai ưa.

Do tham, hại chỗ cầu,

Giận dữ chịu sợ hãi.

Tà kiến sinh tà chấp,

Uống rượu rối loạn tâm.

Không thí nên bần cùng,

Tà mạng gặp dối gạt.

Không kính sinh ti tiện,

Ganh ghét không oai đức.

Hằng hận hình sắc xấu,

Không học hỏi nên nghi.

Báo này trong nhân đạo,

Trước đã thụ ác thú.

Sát sinh các tội pháp,

Như đã nói quả báo.

Không tham và các nghiệp,

Gọi là tập nhân thiện.

Tập ác và các khổ

Đều từ tà pháp sinh.

Các nẻo thiện an vui

Đều do thiện pháp khởi.

Thường lìa tất cả ác,

Hằng làm tất cả thiện.

Do nghiệp thân khẩu ý,

Phải biết hai pháp này,

Do một pháp thoát được.

Địa ngục … bốn nẻo đến.

Pháp thứ hai cảm được,

Giàu có vua người trời.

Do định Phạm trụ không,

Được thụ vui cõi Phạm.

Lược nói như thế đó,

Là lạc nhân lạc quả.

Lại nữa pháp giải thoát,

Vi tế sâu khó thấy.

Tâm phàm phu không tai,

Nghe thì sinh hoảng sợ.

Ngã không sẽ không sinh,

Hiện tại vị lai không.

Người phàm nghĩ mà sợ,

Người trí hết sợ rồi.

Người đời ngã kiến sinh,

Chấp việc bị trói buộc.

Phật do chí đạo chứng,

Đem bi vì người nói.

Ngã hữu và ngã sở

Cả hai thật sự không.

Do thấy lý như thật,

Hai chấp không sinh nữa.

Các ấm ngã chấp sinh,

Ngã chấp do nghĩa rỗng.

Nếu hạt giống không chắc,

Mầm hạt làm sao tốt.

Nếu thấy ấm không thật,

Thì ngã kiến không sinh.

Do diệt hết ngã kiến,

Các ấm không khởi nữa.

Như ai đó soi gương,

Trông thấy khuôn mặt mình.

Ảnh ấy chỉ thấy được,

Mà hoàn toàn không thật.

Ngã kiến cũng như vậy,

Nương ấm mà hiển hiện.

Như thật lấy phi hữu

Giống như ảnh trong gương.

Nếu ai không cầm gương,

Không thấy ảnh mặt mình.

Cũng vậy nếu phá ấm,

Thì không có ngã kiến.

Do nghe nghĩa như vậy,

Đại Tịnh mạng A-nan,

Liền được pháp nhãn tịnh.

Hằng vì dạy người khác.

Nếu còn có chấp ấm,

Thì ngã kiến vẫn còn.

Do vì có ngã kiến,

Nghiệp và hữu hằng còn.

Bánh xe sinh tử quay,

Không có trước giữa sau.

Ví như vòng lửa quay,

Sinh tử nối tiếp nhau.

Từ tự tha và hai

Ba đời cũng không có.

Chứng ngã kiến diệt này,

Nghiệp báo tiếp cũng vậy.

Thấy nhân quả như thế

Sinh khởi và diệt tận,

Nên không chấp thật hữu.

Thế gian có và không.

Người ngu nghe pháp này

Hết được tất cả khổ.

Do không trí sinh sợ,

Ở nơi không sợ hãi,

Nơi Niết-bàn không thế.

Sao người sinh sợ hãi?

Giải thoát không ngã ấm.

Nếu người thụ pháp này

Bỏ ngã và các ấm,

Sao người lại chẳng vui?

Vô, còn phi Niết-bàn,

Huống chi lại là hữu.

Sạch hết chấp hữu vô

Phật gọi là Niết-bàn.

Nếu lược nói tà kiến,

Là phủ định nhân quả.

Đây khiến phi phúc mãn,

Nhân ác đạo rất nặng.

Nếu lược nói chính kiến

Là tin có nhân quả.

Khiến được đầy phúc đức,

Nhân thiện đạo trên hết.

Do trí có không tịch,

Siêu vượt phúc phi phúc.

Nên lìa thiện ác đạo

Phật nói là giải thoát.

Nếu thấy sinh có nhân,

Người trí bỏ chấp không.

Do thấy diệt cọng nhân,

Cho nên bỏ chấp có.

Trước câu sinh hai nhân,

Thật nghĩa thì phi nhân.

Vì giả danh vô y,

Vì sinh là phi thật.

Nếu đây có kia có,

Ví như dài và ngắn.

Do đây sinh kia sinh,

Như đèn và ánh sáng.

Trước dài sau là ngắn,

Chẳng vậy là phi tính.

Vì ánh sáng không sinh,

Đèn cũng chẳng thật có.

Như thế nhân quả sinh,

Nếu thấy chẳng chấp không.

Đã tin đời chân thật,

Do loạn tâm sinh ra.

Vì thấy diệt chẳng rỗng,

Tức chứng được chân như.

Cho nên chẳng chấp có,

Chẳng y hai giải thoát.

Sắc là xa cái thấy,

Nếu gần rất rõ ràng.

Nai khát nước nếu thật,

Đến gần sao chẳng thấy?

Nếu xa nơi thật trí,

Tức thấy có thế gian.

Chứng thật thì không thấy,

Như con nai khát nước.

Nai thấy giống như nước.

Chẳng nước chẳng có thật.

Ấm giống người cũng vậy,

Chẳng người chẳng thật pháp.

Nai khát chấp là nước,

Qua đó để mà uống.

Nếu không, chấp là nước,

Người ngu si cũng vậy.

Người đời: nai khát nước,

Nên chấp thật có không.

Đó tức là vô minh,

Ngu si không giải thoát.

Chấp không: đọa nẻo ác

Chấp có: sinh đường thiện.

Nếu biết được như thật

Không hai y giải thoát.

Không thích chấp có không

Do chọn nghĩa chân thật.

Nếu đọa nơi chấp không,

Sao không nói là có?

Nếu nói phá chấp có,

Đến nghĩa nên là không.

Như vậy nếu phá không,

Sao chẳng phải là có?

Không ngôn hành và tâm

Do y Bồ-đề vậy.

Nếu nói là phá không,

Vì sao chẳng phá có?

Tăng-khư, Bệ-thế sư,

Ni-kiền nói về ấm.

Theo thế gian hỏi kia

Nếu nói lỗi có không

Là không thể nói pháp

Vì bởi lỗi có không.

Người phải biết rất sâu

Chính giáo Phật cam lồ.

Nếu hiểu không khứ lai,

Cũng không dừng một niệm.

Nếu thể qua 3 đời,

Đời nào là thật có?

Hai đời không khứ lai,

Hiện tại thật không trụ.

Thế gian sinh, trụ, diệt,

Nói thế nào là thật?

Nếu hằng có biến đổi,

Pháp nào là không diệt?

Nếu không niệm niệm diệt,

Làm sao có biến đổi?

Nếu nói niệm niệm diệt,

Từng phần toàn phần diệt.

Vì không thấy bình đẳng

Không hai đạo lý này.

Nếu niệm diệt đều hết

Làm sao có vật cũ?

Chấp cứng không niệm diệt

Vật cũ làm sao thành?

Nếu sau một sát-na,

Trước, giữa cũng đều có,

Do sát-na chia ba

Nên niệm không dừng trụ.

Một niệm ba ranh giới,

Phải chọn ranh giới niệm.

Ranh giới trước giữa sau,

Không do tự tha thành.

Một niệm chẳng chia nhiều,

Không chia làm sao có?

Làm sao lìa một nhiều?

Lìa có, pháp nào không?

Do diệt và đối trị.

Nếu nói có thành không,

Không này và đối trị,

Pháp nào có không vậy?

Nên thế gian, Niết-bàn,

Do nghĩa chẳng thành có.

Thế gian có đời sau?

Ai hỏi Phật không đáp.

Thế Tôn Nhất thiết trí,

Nên người trí hiểu Phật.

Do pháp rất sâu này,

Không nói hạng phi khí.

Như pháp giải thoát này

Rất sâu không trói buộc.

Chư Phật nhất thiết trí

Nên nói không y trước.

Nơi pháp chẳng y trước,

Lỗi có không hai bên.

Người đời chấp y trước,

Do lỗi si sợ hãi.

Mình lỗi lại hại người,

Sợ hãi không chỗ dựa.

Vua muốn người chẳng động,

Chớ do kia tự hoại.

Vì người thành tự hoại,

Tôi sẽ nói chân lý.

Do y không đảo hợp,

Lìa có không, hai chấp.

Lỗi này phúc phi phúc,

Hiểu rõ nghĩa rất sâu,

Chẳng thân kiến, sợ không,

Người, cảnh, hai sẽ nói.

Bốn đại và không, thức,

Một nhóm đều chẳng người.

Nếu hợp lìa chẳng người,

Làm sao chấp người có?

Nếu sáu cõi chẳng người,

Nhóm nên rỗng chẳng thật.

Mỗi mỗi cõi đều vậy,

Do nhóm nên chẳng thật.

Ấm chẳng ngã ngã sở,

Lìa ấm ngã chẳng hiện.

Không như củi với lửa,

Nương đâu ấm thành ngã?

Địa giới chẳng ba đại,

Trong địa cũng không ba.

Trong ba cũng không địa.

Tách rời nhau không thành.

Địa thủy hỏa phong đại,

Đều tự không thành tính.

Một lìa ba không thành,

Ba lìa một cũng vậy.

Một ba với ba một,

Tách rời nếu không thành,

Mỗi mỗi tự chẳng thành,

Thì làm sao tách rời?

Nếu mỗi lìa tự thành,

Sao lìa củi không lửa?

Động ngại và họp nhau,

Thủy, phong, địa cũng vậy.

Nếu lửa không tự thành,

Ba thứ làm sao lập?

Nghĩa duyên sinh ba đại,

Mâu thuẫn làm sao thành?

Nếu chúng đều tự thành,

Làm sao lại cùng có?

Nếu mỗi tự không thành,

Làm sao cùng thành có.

Nếu nói chẳng rời nhau,

Các đại đều tự thành.

Chẳng rời thì chẳng chung,

Nếu rời chẳng riêng thành.

Các đại chẳng riêng thành,

Làm sao riêng tính tướng?

Riêng thành không lệch nhiều,

Nên nói tướng giả danh.

Sắc thanh hương vị xúc

Lựa chọn nghĩa như đại.

Nhãn sắc thức vô minh

Nghiệp sinh chọn cũng vậy.

Tác giả, nghiệp và sự

Số hợp nhân quả đời.

Ngắn dài và danh tưởng

Phi tưởng chọn cũng vậy.

Địa thủy phong và hỏa

Ngắn dài và nhỏ lớn.

Thiện ác là trí biết,

Trong trí diệt không sót.

Như thức xứ vô hình

Biến khắp không biên giới.

Trong đây địa, các đại

Tất cả đều diệt hết.

Nơi đây trí không tướng

Ngắn dài cùng thiện ác

Danh sắc và các ấm

Như vậy diệt không sót.

Với thức các thứ này

Do vô minh có trước.

Với thức nếu khởi trí,

Các thứ này đều hết.

Pháp thế gian cũng vậy,

Nhen nhóm củi lửa thức.

Do thật lượng lửa sáng,

Củi thế thức cháy hết.

Si phân biệt có không,

Sau lựa chọn chân như.

Tìm “có” đã chẳng được,

Thì làm sao được ”không”?

Do không sắc tạo thành,

Nên “không”chỉ là danh.

Rời đại, gì là sắc?

Nên sắc cũng là danh.

Thụ tưởng hành và thức,

Hãy nghĩ như bốn đại.

Bốn đại như ngã rỗng,

Sáu cõi chẳng nhân pháp.

Phẩm 2: TẠP

Nếu cứ phân chia mãi,

Không sót, hết chẳng còn.

Phân tích người sáu cõi,

Hết sạch cũng như vậy.

Cho nên chính Phật nói:

Tất cả pháp vô ngã.

Chỉ tên pháp sáu cõi,

Phán quyết thật vô ngã.

Hai nghĩa ngã, vô ngã,

Không thể nào kiểm chứng.

Cho nên Như Lai ngăn

Cực đoan ngã, vô ngã.

Nói thấy nghe hay biết,

Phật bảo không thật hư.

Hai tướng đối đãi thành,

Cả hai như thật không.

Như thật kiểm thế gian,

Quá thật cũng quá hư

Thì thế gian y thật,

Nên sa vào có không.

Nếu pháp khắp chẳng như

Thì sao Phật lại nói

Bên có với bên không,

Có hai với không hai?

Quá khứ Phật vô lượng

Như hiện tại vị lai.

Quá số bên chúng sinh

Ba đời do Phật hiển.

Đời không nhân dài lâu,

Làm sao Phật ghi nhận.

Pháp sâu xa như vậy

Không nói cho người phàm.

Nới đời như ảo hóa,

Là Phật dạy cam lồ.

Như ảnh tượng ảo hóa

Sinh diệt còn thấy được.

Ảnh tượng sinh diệt này,

Xét thật nghĩa chẳng có.

Thế gian như ảo hóa

Sinh diệt có thể thấy.

Thế gian và sinh diệt,

Ảo thật nghĩa đều rỗng.

Ảo ảnh không đâu đến,

Cũng chẳng đi về đâu.

Chỉ tâm mê chúng sinh

Do không trụ thật hữu.

Thể thế qua ba đời

Nếu vậy đời nào thật?

Lìa lời nói có không,

Có không thật vô nghĩa.

Nên Phật nói bốn câu,

Mà không nói thế gian.

Do có không đều rỗng.

Rỗng này chẳng rỗng nên

Thân này tướng bất tịnh

Thô chứng cảnh giới trí.

Hằng thường điều trông thấy

Còn chẳng nhập tâm trụ,

Huống chính pháp vi tế

Rất sâu không đáy nương.

Tâm tán loạn khó chứng,

Làm sao dễ nhập được?

Nên khi mới thành đạo,

Phật không nói Niết-bàn.

Bởi thấy chính pháp này

Rất sâu nên khó hiểu.

Nếu không rõ chính pháp

Thì hại kẻ không thông.

Do không bằng chấp đây,

Đọa tà kiến ô uế.

Ai không hiểu rõ pháp,

Mà tự cao khinh pháp,

Khởi hủy báng tự thân

Chúc đầu xuống địa ngục.

Ví như thức ăn ngon,

Dùng không đúng thành hại.

Nếu ăn dùng đúng lượng,

Được thọ mạng cường tráng.

Nếu hiểu lệch chính pháp,

Gặp khổ cũng như vậy.

Nếu hiểu được như lý,

Cảm thụ vui Bồ-đề.

Người trí với chính pháp,

Bỏ chê bai tà chấp,

Khởi dụng nơi chính trí,

Được như ý thành tựu.

Bởi không hiểu pháp này,

Nên mãi khởi ngã kiến.

Do đó tạo ba nghiệp,

Sinh vào đường thiện ác.

Cho đến chưa chứng pháp.

Nếu diệt trừ ngã kiến,

Cung kính khởi chính cần,

Đối với giới, thí, nhẫn,

Tác pháp lấy làm đầu,

Và cho đến giữa, sau,

Là chân lý không rỗng.

Nay, mai sau, không đắm,

Do pháp được tiếng thơm,

Lâm chung không sợ hãi.

Đời sau được giàu sang,

Nên phải theo chính pháp.

Duy chính pháp trị dân,

Chính pháp thiên hạ mến.

Nếu vua được dân yêu,

Nay sau không bị gạt.

Nếu phi pháp trị dân,

Vua bị tôi chán ghét.

Do người đời ghét bỏ,

Nay và sau không vui.

Phép vua dối gạt người,

Là đại nạn ác đạo.

Ác trí với tà mạng,

Sao được gọi là chính?

Nếu ai chuyên dối người,

Làm sao nói việc chính?

Do đó với mọi loài,

Hằng bị chúng dối gạt.

Nếu muốn khiến oán ưu,

Bỏ mất lấy cái được.

Mình lợi do đây đủ,

Tức khiến oán ưu não.

Nếu thí và ái ngữ,

Lợi hạnh cùng đồng sự.

Xin người nhiếp thế gian,

Nhờ đó hoằng chính pháp.

Nếu vua một lời thật,

Khiến dân sinh tin chắc.

Nếu bề trên vọng ngữ,

Không làm người an trụ.

Khởi thật ý không trái,

Điều tốt làm lợi tha,

Như thế là thật ngữ,

Ngược lại là vọng ngôn.

Nếu biết bỏ tiền của

Mà giấu được lỗi vua,

Như thế là mua chuộc,

Làm tổn đức của vua.

Nếu vua thôi các ác,

Đức sâu người quý trọng.

Nhân đây khuyên minh vương,

Nên chuộng sự tĩnh lặng.

Bởi vua trí khó chuyển,

Tự hiểu không tin ai,

Hằng không gặp lừa dối,

Nên quyết phải tu trí.

Y đế xả tĩnh trí,

Vua thì đủ bốn thiện.

Như bốn đức chính pháp,

Người trời đều ngợi khen.

Hay thuyết phục thanh tịnh,

Do trí bi không bẩn.

Hằng họp cùng người trí.

Trí vương pháp sinh trưởng.

Người khéo nói khó được,

Nghe lời hay cũng khó,

Người thứ ba hơn cả,

Mau chóng hành thiện giáo.

Nếu thiện dầu chẳng thích,

Đã biết thì mau tu.

Như vị thuốc tuy đắng,

Nhưng vẫn phải cố uống.

Vua sống lâu không bệnh,

Nhưng phải nghĩ vô thường.

Rồi sinh tưởng chán sợ,

Sau chuyên tâm tu trì.

Thấy chắc chắn phải chết,

Chết theo ác gặp khổ.

Người trí thấy hiện vui

Nên không tạo các tội.

Thấy một niệm không sợ,

Nếu thấy sau thì sợ.

Nếu một niệm tâm an,

Làm sao sau không sợ?

Say rượu bị người khinh,

Hỏng việc giảm sức lực.

Ngu si làm việc quấy,

Nên người trí dứt rượu.

Cờ bạc và du hý,

Là nhân sinh tham giận,

Dối gạt cùng ác khẩu,

Nên hằng phải lìa xa.

Sinh tội lỗi dâm dật,

Tưởng thân nữ thanh tịnh.

Suy tìm trong nữ thân,

Thật chẳng chút thanh tịnh.

Miệng đồ chứa nước dãi,

Răng lưỡi bẩn hôi hám,

Mũi thì có nước mũi,

Mắt thì có nước mắt,

Bụng ruột rà phân tiểu,

Còn thân là đống thịt xương.

Người si mê không chán,

Nên tham đắm thân này.

Căn môn xú uế nhất,

Nhân của thân xấu xa.

Trong đó sinh ái nhiễm,

Do đâu được lìa dục?

Như nơi đại tiểu tiện,

Lợn ưa thích trong đó.

Cửa bất tịnh trong thân,

Nhiều hý dục cũng vậy.

Cửa này sở dĩ sinh,

Là bỏ thân thô uế.

Người si chấp tà ái,

Chẳng đoái điều thiện lợi.

Người tự thấy một phần,

Đại tiểu tiện bất tịnh

Tụ họp gọi là thân,

Sao người sinh ưa thích?

Đỏ trắng là giống sinh,

Nước bẩn làm dinh dưỡng.

Nếu biết thân bất tịnh,

Ý gì khổ sinh ái?

Đống ô uế đáng ghét,

Hôi nhớp bọc trong da.

Nếu nằm được trong đó,

Thì hãy thích nữ thân.

Nếu đáng yêu đáng ghét,

Già lão và bé gái,

Nữ thân đều bất tịnh,

Ham muốn ở chỗ nào?

Dẫu đống phân sắc đẹp,

Tướng yểu điệu đoan chính

Mà khởi ái không nên,

Yêu nữ thân cũng vậy.

Trong hôi rất bất tịnh,

Ngoài da bọc giấu che,

Là dòng giống tử thi,

Sao thấy mà không biết?

Da bất tịnh như áo,

Không thể tạm cởi giặt.

Làm sao da đống bẩn

Tạm thời làm sạch được?

Bình đẹp đầy phân nhơ

Nếu người ghét bề ngoài,

Thân này đầy ô ế,

Sao người lại không chán?

Nếu người ghét bất tịnh,

Thì sao không ghét thân?

Hương hoa và ẩm thực

Vốn sạch có thể nhơ.

Nếu người đều ghét bỏ,

Phân nhơ mình và người,

Thì sao người không chán

Thân bất tịnh mình người?

Nếu nữ thân bất tịnh,

Thân mình cũng nhơ vậy.

Cho nên người lìa dục,

Với trong ngoài tương xứng.

Chín cửa tuôn bất tịnh,

Tự chứng tự gột sạch.

Nếu không biết bất tịnh

Mà tạo ái dục luận,

Hi hữu cực vô tri,

Không xấu hổ khinh người,

Với thân rất bất tịnh

Có ích lợi gì người?

Do đó nhiều chúng sinh

Vô minh che khuất tâm,

Bị dục trần kết oán

Như chó giành ăn phân.

Như gãi ngứa làm thích,

Không ngứa là thích nhất.

Có dục lạc như vậy,

Vô dục là thích nhất.

Nếu người nghĩ nghĩa này,

Lìa dục không được thành

Do nghĩ dục còn nhẹ,

Không gặp lỗi dâm dật.

Săn bắt thọ mạng ngắn,

Sợ hãi, khổ bức bách.

Đời sau ắt phải chịu,

Nên kiên trì từ bi.

Nếu ai người khác thấy

Sinh nơi sợ hãi kia,

Như phân bẩn mình mẩy,

Tuôn ra các rắn độc.

Người ấy đến nơi kia

Chúng sinh được an lạc.

Như tháng hè mây kéo,

Nhà nông thấy sắp mưa.

Người nên bỏ pháp ác,

Quyết tâm tu hạnh lành.

Vì mình người đều được

Quả Bồ-đề vô thượng.

Là căn bản Bồ-đề,

Tâm vững như núi chúa.

Do thương xót mười phương

Và nương trí không hai.

Đại vương! Người hãy nghe,

Do tôi nay nói đây,

Cảm ba mươi hai tướng,

Trang nghiên lên thân người.

Tháp miếu bậc Thánh tôn,

Cúng dường hằng thân cận.

Tay chân tướng luân báu,

Sẽ thành vua Chuyển luân.

Tay chân đều mềm mại,

Thân lớn bảy chỗ cao.

Do bố thí ăn uống

Cho người được đầy đủ.

Thân viên mãn đoan chính,

Ngón tay chân tròn dài,

Người sẽ được sống lâu,

Do tha chết tử tội.

Đại vương giữ vững pháp,

Khiến hằng trụ thanh tịnh.

Do đó được bình an,

Sẽ được thành Bồ-tát.

Hành bố thí, ái ngữ,

Lợi hạnh và đồng sự,

Do đó lưới ngón kín,

Tay chân tám mươi vẻ.

Bàn chân cao khả ái,

Lông xoay hướng lên trên.

Do lâu không vất bỏ

Chỗ giáo pháp thụ trì,

Do cung kính thí thụ

Minh xứ và công xảo,

Nên được tướng đùi nai

Và thông minh đại trí.

Người cầu xin mình có,

Thì liền vui vẻ cho.

Do mở rộng tầm tay

Được làm vị hóa chủ.

Thân ái nếu chia ly,

Bồ-tát khiến hòa họp.

Đây cảm tướng âm tàng,

Hằng mặc áo tàm quý.

Thường thí lầu cung điện,

Đồ tế nhuyễn khả ái,

Nên cảm sắc thân trời

Sáng láng và vi diệu.

Do thí vô thượng được

Như lý thuận tôn trưởng,

Cảm mỗi lỗ chân lông,

Tướng bạch hào đoan nghiêm.

Thường nói lời thiện ái

Lại thuận dạy chính giáo,

Trên thân như sư tử

Cổ tròn như Cam-phù

Xem bệnh cho thuốc uống,

Hoặc sai người săn sóc,

Nên được nách đầy đặn,

Ngàn mạch riêng trăm vị.

Các pháp sự tự tha,

Thường làm người đứng đầu.

Xương đỉnh Uất-ni-sa,

Gò má như Nặc-cù.

Do từ lâu nói khéo,

Thật đẹp những lời thiện,

Được tám tướng Phạm âm

Và tướng lưỡi dài rộng.

Đã biết sự thật lợi,

Thường thường vì người nói.

Được tốt như sư tử,

Mặt mày mới khả ái.

Do kính người không chê,

Tùy thuận hành chính lý.

Răng trắng đều ngay ngắn,

Ví như hàng ngọc trai.

Do thường tập lời này,

Thành thật không đâm thọc.

Nên đủ bốn mươi răng,

Đều đặn chắc sạch sẽ.

Do đoái trông chúng sinh,

Tâm không tham sân si,

Mắt ngọc trong xanh biếc,

Hiền như mắt ngưu vương.

Sơ lược nói như vậy

Tướng Đại nhân và nhân,

Chuyển luân vương Bồ-tát

Đẹp đẽ người nên biết,

Tùy tướng có tám mươi,

Do từ bi lưu xuất.

Đại vương! Tôi không nói

Vì tránh lắm văn từ.

Tuy các vua Chuyển luân

Đồng có tướng tốt này

Trong sáng và khả ái

Đều không kịp Như Lai.

Từ thiện tâm Bồ-tát

Một phần trong một niệm

Nhân tướng hảo Chuyển luân

Còn không thể bì kịp.

Một người muôn ức kiếp

Tu thiện căn sinh trưởng,

So Phật một mảy lông

Không cảm được nhân này.

Chư Phật với Chuyển luân,

Trong tướng có một phần.

Đom đóm ví mặt trời,

Ánh sáng giống chút ít.

Phẩm 3: BỒ-ĐỀ TƯ LƯƠNG

Chư Phật đại tướng hảo,

Sinh phúc khó nghĩ lường.

Tôi nay vì người nói,

Y Đại thừa A-hàm,

Tất cả phúc Duyên Giác,

Phúc hữu học, vô học,

Phúc mười phương thế gian,

Phúc thế gian khó lường,

Phúc đó gấp mười lần,

Cảm Phật một mảy lông.

Chín vạn chín ngàn lông

Phúc đều như vậy cả.

Như rất nhiều phúc đây

Sinh một mảy lông Phật.

Lại tăng gấp trăm lần

Mới cảm một tướng Phật.

Nhiều như vậy như vậy,

Mỗi tướng tốt được thành

Cho đến đủ tám mươi,

Tạo nên một tướng lớn.

Như vậy phúc đức nhóm

Cảm tám mươi tướng tốt.

Họp lại tăng gấp trăm,

Bạch hào như mãn nguyệt.

Cảm được phúc bạch hào

Lại tăng gấp ngàn lần,

Phúc này khó cảm thấy

Trên đỉnh Uất-ni-sa.

Phúc vô lượng như vậy,

Phương tiện nói hữu lượng.

Trong tất cả mười phương,

Nói gấp mười thế gian,

Nhân sắc thân chư Phật

Hơn thế gian vô lượng.

Huống nhân pháp thân Phật

Mà còn giới hạn sao?

Nhân thế gian tuy nhỏ,

Mà quả lớn khó lường.

Nhân Phật đã vô lượng,

Quả không thể lường được.

Chư Phật có sắc thân

Đều do phúc hạnh khởi.

Đại vương! Pháp thân Phật

Do hạnh trí tuệ thành.

Hạnh phúc tuệ của Phật

Là chính nhân Bồ-đề.

Người nên thường thực hành,

Hạnh phúc tuệ Bồ-đề.

Thành tựu phúc Bồ-đề,

Người không sa chìm đắm.

Hữu lý và A-hàm

Khiến tín tâm an ổn.

Như mười phương vô biên

Hư không, địa, thủy, hỏa.

Nỗi khổ các chúng sinh

Cũng vậy không bờ bến.

Chúng sinh vô biên này,

Bồ-tát nương Đại bi,

Từ khổ mà cứu vớt

Cho chúng đến Niết-bàn.

Từ tâm kiên cố này,

Lúc đi đứng ngủ thức,

Hoặc thời ít phóng dật,

Vô lượng phúc tuôn ra.

Lượng phúc như chúng sinh

Thường tuôn ra không ngớt.

Nhân quả đã tương xứng,

Nên Bồ-đề chẳng khó.

Thời tiết và chúng sinh,

Bồ-đề cùng phúc đức.

Do bốn vô lượng này,

Bồ-tát vững tâm tu.

Bồ-đề tuy vô lượng,

Do bốn vô lượng trước

Tu hai hạnh phúc tuệ,

Thì sao khó chứng đắc?

Hai thứ hạnh phúc tuệ

Là không có giới hạn.

Bồ-tát thân tâm khổ, u

Nên mau được tiêu trừ.

Kìa ác đạo đói khát,

Thân khổ ác nghiệp sinh.

Bồ-tát hằng lìa ác

Làm thiện khổ chẳng sinh.

Tham dục, giận, hãi sợ,

Tâm khổ từ si sinh.

Do nương trí không hai

Bồ-tát lìa tâm khổ.

Nếu gặp khi có khổ

Khó nhẫn huống chi nhiều.

Khi không khổ dài lâu

Có vui làm sao khó?

Thân khổ hằng chẳng có,

Tạm nói có khổ tâm.

Thương thế gian hai khổ

Nên hằng trụ sinh tử.

Nên Bồ-đề dài lâu

Người trí tâm không đắm.

Vì diệt ác sinh thiện,

Tu hành không gián đoạn.

Tham sân và vô minh,

Xin người biết lìa bỏ.

Không tham và các thiện,

Biết thì cung kính tu.

Do tham sinh ngạ quỷ,

Do sân đọa địa ngục,

Do si vào súc sinh.

Ngược lại hoặc trời, người.

Bỏ ác và tu thiện,

Pháp này là nhân vui.

Nếu là pháp giải thoát,

Do trí bỏ hai chấp.

Phật tượng và tháp miếu,

Đền đài và chùa chiền,

Tốt nhất để cúng dường,

Người nên thành kính lập.

Ngồi tòa hoa sen báu,

Nét vẽ đẹp vi diệu,

Các thứ kim loại báu,

Người nên tạo tượng Phật.

Chính pháp và Thánh chúng

Đem mạng mà bảo hộ.

Tàn lọng và lưới báu,

Dâng cúng che tháp miếu.

Vàng bạc các hoa báu,

San hô, ngọc, lưu ly,

Và ngọc xanh Đế Thích,

Kim cương cúng tháp đền.

Người biết giảng chính pháp,

Đem cúng dưởng bốn việc.

Các pháp sáu hòa kính,

Thường phải siêng tu hành.

Với tôn đức kính nghe,

Phục vụ và hầu hạ.

Bồ-tát ắt phải làm,

Quên mình mà cúng dường.

Với thiên ma ngoại đạo,

Không gần gũi lễ kính.

Do không biết tin tà,

Chớ theo ác tri thức.

Phật A-hàm và luận,

Biên chép, đọc tụng, thí,

Cũng cho giấy bút mực,

Người nên tu phúc này.

Trong nước lập trường học,

Mướn thầy và chiêu sinh,

Tạo cơ nghiệp dài lâu,

Hạnh của người trí tuệ,

Kỹ thuật, y, lịch, số,

Đều hỗ trợ nghề nông.

Giúp già trẻ bệnh khổ,

Làm lợi ích đất nước.

Làm đường sá, Già-lam,

Vườn, hồ nước, nhà nghỉ,

Trong đó cấp phương tiện,

Chiếu chăn đồ ăn uống,

Nơi vùng miền lớn nhỏ,

Nên xây dựng chùa quán.

Đường dài thiếu nước uống,

Đào ao và giếng nước.

Nghèo bệnh không chỗ nương,

Kẻ thấp bé sợ hãi,

Đem từ bi nhiếp thụ,

Ân cần an lập chúng.

Tùy lúc cho ăn uống,

Rau quả và gạo thóc.

Đám đông và người cần,

Chưa cho chớ dùng trước.

Dép, dù, bình, dao, nhiếp,

Kim, chỉ và quạt tay,

Các đồ dùng nghỉ ngơi,

Nên thí cho chùa quán.

Tam quả và tam tân,

Mật, đường, sữa, thuốc mắt.

Hằng phải được nghỉ ngơi

Sách đọc cùng thuốc thang,

Dầu xoa thân xức tóc,

Bồn tắm và đèn sáng,

Đồ đựng nước, dao, búa,

Nên cấp cho chùa quán.

Gạo thóc, mè các thứ,

Cũng cấp đường, dầu ăn,

Hằng để nơi mát mẻ,

Và nước sạch đầy vò.

Nơi lỗ kiến hang chuột,

Cho thức ăn, gạo, đường.

Hãy khiến người tin cậy

Ngày ngày phân bố đủ.

Trước hay sau khi ăn,

Hằng thí cho ngạ quỷ.

Nào chó, chuột, chim, kiến.

Hãy hằng thí cho ăn.

Khi nạn đói dịch bệnh,

Hạn hán và giặc cướp,

Việc cần phải cứu tế,

Xin người hằng xót thương.

Nhà nông không đủ sức,

Cấp giống má nông cụ.

Tùy thời cho miễn thuế,

Hoặc điều chỉnh giảm nhẹ.

Thí vật giúp nghèo thiếu

Xuất tức chẳng trường khinh.

Thiết lập chỗ nghỉ ngơi

Để khi tiếp khách khứa.

Gần xa có trộm cướp,

Phương tiện khiến dứt trừ.

Tùy thời phái khách buôn,

Làm bình ổn vật giá.

Triều đình xét đoán việc,

Tự quan sát đúng lý.

Việc gì lợi muôn dân,

Thường cung kính tuân thủ.

Tự lợi nên làm gì.

Người hằng tự suy nghĩ.

Làm sao được lợi tha

Phải gấp suy nghĩ trước.

Địa thủy hỏa và phong

Thảo dược và cây rừng

Như thế hoặc tạm thời

Cho không hại chính sách.

Bảy bước nên khởi tâm

Xả của cải trong ngoài.

Bồ-tát phúc đức thành

Khó lường như hư không.

Đồng nữ sắc đoan nghiêm,

Huệ thí mong cầu được,

Nên được Đà-la-ni

Giữ gìn tất cả pháp.

Yêu sắc đủ trang nghiêm,

Cùng tất cả phương tiện,

Thí tám vạn đồng nữ,

Khi xưa Phật Thích-ca

Sáng chói đủ các sắc

Y phục và trang sức

Hương thơm đều đem thí

Do thương kẻ mong cầu.

Nếu ai lìa duyên này

Không an hành nơi pháp

Thì nên thí cho họ,

Quá đây sau chớ thí.

Độc cũng có thể thí

Nếu có thể lợi tha.

Dầu cam lồ không thí

Nếu tổn hại người khác.

Rắn cắn ngón tay người,

Phật cũng cho thì trừ.

Hoặc Phật dạy lợi tha,

Bức não cũng làm được.

Phải nắm vững chính pháp

Và thuyết pháp cho người.

Cung kính vâng nghe pháp,

Hoặc đem pháp thí người.

Chớ chuộng đời khen ngợi,

Hằng yêu pháp xuất tục.

Nếu lập đức cho mình,

Thì với người cũng vậy.

Học chớ lấy làm đủ,

Tư duy tu thật nghĩa,

Với thầy nghĩ báo ơn,

Cung kính thí không tiếc.

Chớ đọc các tà luận,

Vì kiêu căng tranh cãi.

Không nên khen đức mình,

Oán đức cũng đáng khen.

Chớ bới chuyện riêng ai,

Và ác tâm đâm thọc.

Mình có lỗi với ai,

Như lý xét sám hối.

Nếu do lỗi lầm này

Người trí quở trách ai,

Mình phải lìa lỗi ấy,

Mới cứu được người khác.

Ai làm nhục chớ giận,

Hãy quán nghiệp đời trước.

Người ác chớ báo thù,

Để sau khỏi thụ khổ.

Chỉ tự mình chịu khổ,

Cầu mọi người được vui.

Nếu được giàu sang lớn,

Thì chớ nên tự cao.

Gặp oan uổng ngạ quỷ,

Chớ khởi hạnh hạ bi.

Giả sử mất ngôi vua,

Hoặc chết do lời thật,

Cũng hằng nói lời ấy.

Không thật lợi im lặng.

Nói và làm đi đôi,

Xin người gắng làm lành.

Nhân đó tiếng tốt truyền,

Tự tại thành thắng lượng.

Xin hãy lựa chọn kỹ

Sau y lý mà làm.

Chớ làm theo người khác,

Tự mình hiểu thật nghĩa.

Nếu y lý làm thiện,

Tiếng tốt khắp mười phương.

Vương hầu đều quy tụ,

Giàu sang càng thêm lớn.

Duyên chết trăm một thứ,

Nhân thọ mạng không nhiều.

Nhân này hoặc duyên chết,

Nên hằng phải tu thiện.

Nếu ai hằng tu thiện,

Thì sẽ được an vui.

Nếu tự tha bình đẳng,

Thiện lạc này trọn vẹn.

Y pháp là tính người,

Ngủ thức thường an lạc.

Mơ thấy toàn việc tốt,

Do tâm không tội ác.

Ai phụng dưỡng cha mẹ,

Cung kính bậc tôn trưởng.

Kính người thiện dùng tiền,

Nhẫn nhục độ lượng lớn.

Nhỏ nhẹ không đâm thọc,

Lời thật mọi người vui.

Đây nhân vua chín trời,

Nên tu hành suốt đời.

Do xưa tu chín pháp,

Thiên chủ cảm ngôi vua.

Thời thời nơi giảng đường,

Đến nay hằng nói vậy.

Một ngày thí ba lần,

Mỹ thực ba trăm món.

Phúc chẳng kịp sát-na

Hành từ trăm phần một.

Trời người đều ái hộ,

Ngày đêm thụ hỷ lạc.

Khỏi lửa, độc, đao, gậy,

Là hiện quả hành từ.

Không dụng công được của,

Sau sinh trời Sắc giới,

Được từ, mười công đức.

Nếu người chưa giải thoát

Dạy tất cả chúng sinh

Vững phát tâm Bồ-đề.

Bồ-tát đức như núi,

Tâm Bồ-đề kiên cố,

Do tin lìa tám nạn,

Nhân giới sinh đường thiện.

Thường tu chân như không

Được thiện không phóng dật.

Không siểm được niệm căn,

Tư duy được tuệ nhãn.

Cung kính được nghĩa lý.

Hộ pháp cảm túc mạng.

Bố thí nghe chính pháp,

Không trở ngại người nghe.

Mau được như sở thích,

Và gặp gỡ chư Phật.

Không tham, việc thành tựu.

Không xan, của cải nhiều.

Không kiêu, lên thượng phẩm.

Pháp nhẫn được tổng trì.

Do hành năm thật thí,

Và thí vô bố úy,

Mắng nhiếc chẳng làm nhục

Nên cảm sức thắng lớn.

Dãy đèn sáng đền tháp,

Cầm đuốc soi tăm tối.

Thí dầu tiếp nối sáng

Nên được tịnh thiên nhãn.

Khi cúng dường đền tháp

Đánh trống trổi âm nhạc,

Cùng với thổi sừng ốc,

Nên được tịnh thiên nhĩ.

Với lỗi người, im lặng.

Không nói ai thiếu đức.

Tùy thuận theo ý người,

Nên được tha tâm trí.

Do thí dép, xe, thuyền,

Chuyên chở người thiếu kém,

Cung kính bậc tôn trưởng,

Nên được như ý thông.

Khiến người nhớ pháp sự,

Và nghĩa lý chính pháp,

Hoặc tịnh tâm thí pháp,

Nên cảm túc mạng trí.

Do biết nghĩa chân thật,

Là các pháp không tính,

Được thần thông thứ sáu.

Tối thắng là lậu tận,

Bình đẳng bi tương ứng,

Do tu trí như thật,

Nên tự được thành Phật.

Hằng giải thoát chúng sinh.

Do các thứ tịnh nguyện,

Nên cõi Phật thanh tịnh.

Các báu cúng đền tháp,

Nên hào quang vô biên.

Nghiệp và quả như vậy,

Đã biết nghĩa tương ứng,

Nên phải tu lợi tha,

Tức Bồ-tát tự lợi.

Phẩm 4: CHÍNH GIÁO VƯƠNG

Nếu vua làm phi pháp,

Làm việc trái đạo lý,

Người thờ vua cũng khen,

Nên tốt xấu khó biết.

Cũng có người thế gian

Không ưa thiện, khó dạy.

Huống chi bậc Đại vương

Nhận được lời nói thiện.

Tôi nay thương xót người,

Và thương cả người đời,

Nên tôi dạy điều thiện,

Thật ích nếu chẳng thích

Chân thật có nghĩa lợi,

Y thời do từ bi

Phật khiến dạy đệ tử

Nên tôi vì người nói.

Nếu nghe lời chân thật

Thì xin trụ không giận.

Nếu được phải chấp nhận

Như tắm dùng nước sạch.

Tôi nay nói lời thiện,

Nay sau có lợi ích.

Người biết phải thực hành,

Vì mình và vì đời.

Do xưa thí nghèo khổ,

Nên nay được giàu có.

Do tham chẳng biết ơn,

Bỏ thí sẽ không được.

Chỉ lương thực đi đường,

Chẳng mướn ai mang giúp.

Do thí cho hạ phẩm

Đời sau nặng gấp trăm.

Xin người phát đại tâm,

Hằng xây dựng việc lớn.

Làm việc với đại tâm,

Người đó được quả lớn.

Tâm ý mà nhỏ mọn,

Chưa hề chạm tâm nguyện,

Tiếng tốt và việc tốt

Nương Tam Bảo nên làm

Xin vua chớ xem nhẹ.

Nếu việc làm phi pháp,

Chết cũng khởi ô danh,

Không làm là tốt nhất.

Rộng làm việc đại sự,

Đại nhân hi hữu dụng,

Trở ngại nguyện kẻ dưới,

Dùng mạng thành việc này

Không giữ mình bỏ người

Một mình vào vị lai.

Nếu nơi pháp an tài,

Trước đến nghịch đối nhau,

Các sản nghiệp vua trước,

Bỏ gốc thuộc vua mới.

Có thể vì vua trước

Sinh pháp lạc hảo danh.

Dùng của hiện thụ vui,

Nếu thí cảm vui sau.

Nều không, hai đều mất,

Chỉ sống khổ không vui.

Sắp chết muốn hành thí,

Trở ngại mất tự do.

Mất ngôi nên bỏ ái,

Theo lạc dục vua mới.

Nếu bỏ tất cả vật

Người yên tâm hoằng pháp.

Cũng thường nơi duyên chết

Như ngọn đèn trước gió.

Các vua trước tạo lập

Nơi công đức bình đẳng

Là đền miếu thiên thần,

Xin tu sửa như cũ.

Lìa sát hại, hành thiện,

Giữ giới bao dung hết.

Làm giàu không tranh giành,

Gắng sức hằng tu thiện.

Thanh tịnh không tích tụ,

Không bỏ dầu việc người,

An lập và dắt dẫn,

Kho công đức cho đời.

Mù lòa, bệnh, khuyết tật,

Đáng thương kẻ bơ vơ.

Nơi miếu đường chẳng cấm,

Bình đẳng cho uống ăn.

Đạo đức chẳng cầu người,

Hoặc ở nơi vua chúa.

Cung cấp cũng như nhau

Không có tâm đây kia.

Với tất cả pháp sự

Nên kiếm người mạnh, siêng,

Không tham, lành, có trí,

Sợ tội, không phạm pháp,

Hiểu chính luận, hành thiện,

Thân ái, bốn quán tịnh.

Đẹp lời, không khiếp sợ,

Thượng tính, biết giữ giới.

Biết ơn, biết người khổ,

Biết quyết đoán đúng lý.

Tám nhẫn hỗ trợ nhau,

Vì nước lập đại thần

Nhu hòa độ lượng lớn,

Dũng mãnh biết thờ vua,

Kiên thật trọng của cải,

Hằng thiện, không phóng dật.

Việc làm suy nghĩ kỹ,

Phân biệt mười hai luân.

Thường hành bốn phương tiện,

Nên lập làm đại thần.

Giữ pháp, giới thanh tịnh,

Hiểu việc, có năng lực,

Biết làm ra của cải,

Biết kỹ thuật, tính toán,

Hiểu tâm sự người khác,

Sợ tội, thân yêu vua,

Giàu có, nhiều quyến thuộc,

Nên lập làm quan chức.

Ngày ngày nên thăm hỏi

Việc thu nhập chi xuất.

Cũng hỏi việc hành pháp,

Hoan hỷ khéo dạy bảo.

Vì pháp ở ngôi vua,

Chẳng cầu danh dục trần.

Ngôi vua hơn có lợi,

Khác đây thì không nên.

Đại vương tức thế gian,

Phần nhiều ăn nuốt nhau.

Lập nghĩa ngôi pháp vương,

Xin người nghe tôi nói.

Trưởng lão ở nơi vua,

Thượng tộc rõ thị phi.

Ghét xấu, nhiều tùy thuận,

Xin chúng xem việc vua,

Phạt trói cùng đánh đập,

Nếu chúng theo lý làm,

Tâm vua thường đại bi

Nên ra ơn cho chúng.

Vì lợi cho mọi người

Nên hằng khởi từ tâm.

Nếu chúng làm quá ác

Cũng nên sinh đại bi.

Ác nặng rất hại tâm

Nên bi tâm cho chúng.

Chúng tức là bi khí,

Người chính hành bi cảnh.

Người nghèo nếu bị giữ,

Năm ngày phải thả ra.

Người khác thì đúng lý,

Tùy người chớ câu lưu.

Nếu ở nơi một người

Trói nhốt để lâu ngày

Tùy người sinh chẳng hộ

Do đó ác lưu hành.

Cho đến chúng chưa tan,

Tuy trói cũng an lạc.

Tắm rửa và ăn uống,

Thuốc thang, quạt, các thứ,

Vua muốn người thành khí,

Nương bi lập thiện giáo.

Thiện ác người như nhau,

Chẳng do giận và dục.

Nghĩ kỹ biết thật rồi

Người thêm khởi phản nghịch.

Không giết, không ép chúng,

Xin vua đuổi xứ khác.

Thấy nhà mình như oán,

Người tham dự tịnh nhãn

Hằng niệm không phóng dật

Xin làm như pháp sự.

Trọng thưởng và cúng dường,

Người có ơn đều được.

Nếu ơn đức hơn kém,

Báo thưởng cũng như vậy.

Tương tiếp là đơm hoa,

Thưởng cho là đại quả.

Cây vua bóng nhẫn nhục,

Chim dân đậu khắp cành.

Vua giữ giới bố thí,

Có oai được lòng người.

Ví như viên đường cát,

Vị thơm ngọt hòa nhau.

Nếu vua y đạo lý

Ngu pháp quyết không làm.

Không khó, không phi pháp,

Hằng có pháp hoan lạc.

Nếu không từ đời trước

Không thể dẫn đời sau.

Ngôi vua từ pháp được,

Thì chớ nên hoại pháp.

Ngôi vua như tiệm buôn

Truyền trao cho đúng giá.

Không cầu xin mà được,

Người nên làm như vậy.

Ngôi vua như tiệm buôn,

Truyền ngôi cho đúng giá.

Nếu như muốn cầu được,

Vậy thì phải tu hành.

Vua Chuyển luân được đất

Hoặc đủ bốn thiên hạ,

Chỉ thân tâm an lạc,

Còn giàu sang đều rỗng.

Chỉ đối trị các khổ,

Là thân được an lạc.

Tâm vui là tưởng loại,

Đều phân biệt làm ra.

Đối trị khổ là thể,

Và phân biệt là loại.

Tất cả vui thế gian,

Đều rỗng không chân thật.

Lãnh thỗ cùng đất đai,

Ngai vàng với áo bào,

Ăn uống, ngủ, xe cộ,

Voi ngựa và thê thiếp,

Nếu tâm duyên thứ nào,

Là thứ đó sinh vui.

Những cảnh khác không duyên,

Thành rỗng không, vô dụng.

Năm căn duyên năm trần,

Nếu tâm không phân biệt

Thì tuy được thành trần,

Không do đó sinh vui.

Căn này duyên trần này,

Ngoài ra không năng sở.

Nên các căn trần khác

Thật sự không có nghĩa.

Căn này duyên trần này,

Tâm thủ tướng quá khứ,

Phân biệt khởi tịnh tưởng,

Nơi đó sinh lạc thụ.

Khi tâm duyên một trần,

Tâm trần không cùng lúc.

Đã lìa tâm chẳng trần,

Lìa trần cũng chẳng tâm.

Lấy cha mẹ làm nhân,

Người nói có con sinh.

Cũng vậy mắt duyên sắc,

Thì nói có thức sinh.

Căn trần đời vị lai

Bất thành do vô nghĩa.

Không lìa hai đời nên

Hiện căn trần vô nghĩa.

Như mắt thấy vòng lửa,

Là do căn đảo loạn.

Ở trong trần hiện tại,

Căn duyên trần cũng vậy.

Năm căn và cảnh giới

Là loại trần bốn đại.

Mỗi một đại rỗng không,

Trần căn phi bất hữu.

Nếu đại tách rời thành,

Rời củi lửa cũng vậy.

Nếu lìa, không biệt thể,

Trần cũng đồng như thế.

Bốn đại hai nghĩa rỗng,

Nên không thành hòa đồng.

Đã thật không hòa đồng,

Nên sắc trần chẳng thành.

Thức, thụ, tưởng và hành,

Mỗi mỗi thể bất thành.

Không hợp, trái duyên sinh,

Phi hữu nên không hợp.

Nếu phân biệt hỷ lạc,

Duyên khổ đối trị thành.

Cũng vậy nếu chấp khổ,

Do lạc hoại nên thành.

Với lạc hòa hợp ái,

Duyên vô tướng thì diệt.

Với khổ xa lìa tham,

Do đó quán không sinh.

Nếu theo thế tục nói,

Tâm là người năng kiến.

Không vậy lìa sở kiến,

Sẽ bất thành sở kiến.

Quán hành thấy thế gian,

Như huyễn, thật chẳng có.

Không thủ, không phân biệt,

Bát-niết-bàn như lửa.

Bồ-tát thấy như vậy,

Bồ-đề không thoái lui.

Do đại bi dắt dẫn,

Tiếp tục đến quả Phật.

Chư Bồ-tát tu đạo,

Phật nói nơi Đại thừa,

Người vô trí ganh ghét,

Tự hại, không chấp nhận.

Không biết, mất công đức.

Với đức khởi tưởng mất,

Hoặc ganh ghét thắng hơn,

Nên chê bai Đại thừa.

Nếu biết tội hại người,

Công đức được lợi ích,

Nên nói người phỉ báng,

Không biết, ghét điều thiện.

Do không quán tự lợi,

Một mặt lợi ích người.

Đại thừa chứa các đức,

Chê người như bụi tro.

Tin người do tà chấp,

Không tin do ganh ghét,

Tin người, chê, còn cháy,

Huống chi là giận ghét.

Hợp độc làm trị độc,

Như y học có nói.

Khổ diệt ác cũng diệt,

Nói thế có sai đâu.

Các pháp tâm đi trước,

Bởi tâm là đứng đầu.

Khổ diệt ác người khác,

Người thiện tâm không lỗi.

Khổ đến nếu có lợi,

Nên chịu huống chi vui.

Hoặc nơi mình và người,

Đây vốn pháp đứng đầu.

Có thể bỏ chút vui,

Mà sau được vui lớn.

Người trí bỏ vui nhỏ,

Xét đến vui lớn sau.

Nếu không chịu lời này,

Thầy thuốc cho khổ vui.

Phạm tội không thể thứ,

Nên nghĩa không phải vậy.

Hoặc thấy sự không đúng,

Người trí làm theo nghĩa,

Hoặc ngăn cấm hoặc cho,

Nghĩa này nhiều nơi có.

Chư Bồ-tát oai nghi,

Bi là trước trí thành.

Đại thừa nói như thế,

Nhân đâu phỉ báng được?

Không biết nên chìm đắm.

Thượng thừa nghĩa rộng sâu.

Nên phỉ báng Đại thừa,

Thành tự tha oan trái.

Thí, giới, nhẫn, tinh tiến,

Định trí bi là thể.

Vậy Phật nói Đại thừa,

Có gì tà thuyết lậu?

Do thí giới lợi tha,

Nhẫn, tiến là tự lợi.

Định tuệ thoát tự tha,

Lược thâu Đại thừa nghĩa.

Lược nói chính giáo Phật

Là giải thoát tự tha.

Sáu độ là kho tàng,

Ai có thể bác bỏ?

Phúc tuệ là chủng loại

Phật nói đạo Bồ-đề,

Lập đó là Đại thừa,

Si ám không thể nhẫn.

Như hư không, khó lường,

Phúc tuệ hành thành tựu.

Chư Phật đức khó lường.

Nơi Đại thừa nguyện nhẫn.

Đại đức Xá-lợi-phất,

Phật giới chẳng phải cảnh

Nên Phật đức khó lường.

Làm sao không thể nhẫn?

Nơi Đại thừa vô sinh,

Tiểu thừa nói không diệt.

Vô sinh diệt một thể,

Chớ trái phản tự nghĩa.

Chân không và Phật đức,

Nếu như pháp lựa chọn,

Đại, Tiểu hai thừa giáo,

Người trí không tranh cãi.

Phật nói không liễu nghĩa,

Người hạ trí khó hiểu.

Trong một thừa ba thừa,

Tự thể chớ tổn thương.

Nếu bỏ không phi phúc,

Nếu ghét ác không thiện,

Nếu muốn yêu tự thân,

Không nên chê Đại thừa.

Bồ-tát nguyện và hạnh,

Hồi hướng bình đẳng không.

Nếu tu theo Tiểu thừa,

Làm sao thành Bồ-tát?

Bồ-tát đạo bốn y,

Nơi Tiểu thừa không nói.

Phật đã tu pháp nào,

Mà nói hơn được kia?

Y bốn đế, trợ đạo,

Phật với kia nếu đồng,

Tu nhân đã không khác,

Thì sao quả vượt hơn?

Hạnh Bồ-đề chung riêng,

Trong Tiểu thừa không nói.

Trong Đại thừa nói đủ,

Nên người trí tin thụ.

Như Luận Tì-già-la,

Trước dạy học tự mẫu.

Phật lập giáo như thế,

Để thụ hóa căn tính.

Hoặc có nơi nói pháp,

Khiến kia lìa các ác.

Hoặc vì thành phúc đức,

Hoặc y trước cả hai,

Hoặc vì trừ cả hai,

Rất sâu sợ người kém.

Hoặc rất thương là trên

Khiến người thành Bồ-đề.

Cho nên người thông minh

Không nên ghét Đại thừa.

Khởi tâm tin thụ hơn

Để được vô thượng giác.

Do tin thụ Đại thừa,

Thực hành Đại thừa giáo,

Nên thành đạo vô thượng.

Trung gian các thứ vui,

Thí, giới và nhẫn nhục,

Là vì tại gia nói.

Pháp này bi là trên,

Xin người tu thành tính.

Do đời không bình đẳng,

Vương vị nếu trái pháp,

Vì tiếng tốt và pháp,

Sự và xuất gia hơn.

Phẩm 5: CHÍNH HẠNH XUẤT GIA

Người xuất gia sơ học,

Kính tâm tu cấm giới.

Với Mộc-xoa Tì-ni,

Học nhiều nghĩa phá lập.

Tiếp khởi tâm chính cần,

Lìa thô loại phiền não.

Có đến năm mươi bảy,

Hãy nghe tôi sẽ nói.

Quái gọi tâm trái nhau,

Hận là kết lỗi người.

Giấu che ác tội danh,

Và trước ác hiển thiện.

Khoe người là lừa dối,

Siểm là tâm uốn cong. T

ật thì lo đức người.

Bỏn sẻn, sợ sệt, bỏ,

Không hổ và không thẹn,

Với mình người là sỉ.

Không hạ mình kính người,

Động loạn, sân, phương tiện.

Say là bất kể người,

Phóng túng không tu thiện.

Khinh mạn có bảy thứ.

Tôi nay sẽ lược nói.

Nếu ai khởi phân biệt,

Từ hạ hạ, đẳng đẳng,

Từ hạ và đẳng thắng,

Phiền não này là mạn.

Hạ nhân chấp tự thân

Hạ như đối đẳng nhân.

Nói đây là hạ mạn.

Do tự hạ đẳng loại.

Người hạ, cao tự mình,

Cùng thắng nhân bình đẳng.

Phiền não này cao mạn,

Do tự cao đẳng thắng.

Hạ nhân chấp tự mình,

Thắng hơn người loại thắng.

Nơi năm thứ thủ ấm,

Tự tính không, không người,

Do si nên chấp ngã,

Nói đây là ngã mạn.

Thật chưa được Thánh đạo,

Chấp tự mình đã được,

Do tu đạo thiên lệch,

Nên gọi tăng thượng mạn.

Nếu ai do làm ác,

Mà chấp tự mình hơn.

Lại bác bỏ đức người,

Gọi đây là tà mạn.

Nay tôi không dùng nữa,

Hoặc là hạ tự thể,

Đây cũng gọi hạ mạn,

Chỉ duyên tự thể khởi.

Vì cầu lợi dưỡng khen.

Nên nhiếp thủ sáu căn.

Năng ẩn ý tham dục,

Hoặc này là cống cao.

Vì được lợi cúng dường,

Với người khởi ái ngữ.

Hoặc này duyên thế pháp,

Nói đây là tạ ngôn.

Vì muốn được vật kia,

Nếu khen tốt của này,

Thì gọi là hiện tướng,

Vì biểu thị tự tâm.

Để muốn được sở cầu,

Hiện tiền chẳng bác bỏ,

Thì gọi là quở trách,

Hàng phục kia khiến thuận.

Do thí muốn cầu lợi,

Hoặc khen kia đạo đức,

Gọi là lợi cầu lợi,

Đây gồm năm tà mạng.

Nếu ai duyên lỗi người.

Tâm số các thứ tụng,

Thì gọi là ám ải.

Hoặc này tập hận tâm,

Kinh sợ không thể yên.

Do không biết và bệnh,

Với hạ thô tự đủ,

Chê bai và biếng nhác,

Dục, sân, si, ô tưởng,

Gọi là các thứ tướng.

Không bằng hiện quán sát,

Gọi là phi tư duy.

Biếng nhác với việc chính,

Gọi là không cung kính.

Với thầy chẳng biết tôn,

Gọi là không tôn trọng.

Thượng tâm muốn phát khởi,

Bên ngoài là kiên trước.

Thượng tâm kiên muốn sinh,

Tối trọng là biến trước.

Của cải sinh trưởng: dục.

Chẳng biết đủ là tham.

Ái trước nơi tha vật,

Gọi là bất đẳng dục.

Với người nữ phi cảnh,

Muốn được phi pháp dục,

Không đức tỏ ra đức,

Gọi đó là ác dục.

Lìa tri túc hằng cầu,

Gọi đó là đại dục.

Muốn người biết đức mình,

Gọi là vì biết dục.

Không yên chịu thụ khổ,

Thì gọi là bất nhẫn.

Với thầy tôn chính sự

Tà hạnh là không quý.

Như pháp khéo dạy bảo,

Khinh mạn là khó dạy.

Với người thân, ái trước

Tư duy là thân giác.

Do dục nơi phương tiện

Muốn được là độ giác.

Không nghĩ chết sợ hãi

Gọi là bất tử giác.

Do chân thật công đức,

Muốn người tôn trọng mình,

Tư duy duyên thức khác,

Gọi là thuận giác giác.

Do tâm yêu và ghét,

Nghĩ lợi mình hại người,

Duyên mình và người khác,

Gọi là hại tha giác.

Tâm nhiễm ô nghĩ nhớ

Vô y là bất an.

Thân nặng nề là cực.

Trì hoãn là lười biếng.

Do các phiền não trên

Khúc phát thân là tần.

Thân loạn ăn quá độ

Gọi là say mê ăn.

Thân tâm cực mệt mỏi,

Đó gọi là hạ liệt.

Tham ái nơi năm trần,

Đó gọi là dục dục.

Có ý tổn hại người,

Từ chín nhân duyên sinh,

Ba thời nghi tai họa,

Đó gọi là giận dữ.

Do thân tâm nặng nề,

Không được việc là yếu.

Tâm tối tăm là ngủ.

Thân tâm trạo là động.

Do hối hận việc ác,

Sau lo là đốt cháy.

Đối Tam Bảo, Tứ đế,

Do dự gọi là nghi.

Nếu Bồ-tát xuất gia,

Phải lìa thô loại này.

Nếu khỏi được ác này,

Đối trị đức dễ sinh.

Trong đây các công đức,

Bồ-tát phải tu trị,

Là thí, giới, và nhẫn,

Với cần, định, tuệ, bi.

Xả của mình là thí.

Làm lợi người là giới.

Giải thoát giận là nhẫn.

Làm thiện là tinh tiến.

Tâm tĩnh lặng là định.

Thông chân nghĩa, là trí.

Với tất cả chúng sinh,

Làm lợi gọi là bi.

Thí, sinh, phú, giới, lạc,

Nhẫn, ái, cần, diệm xí,

Định tĩnh trí giải thoát,

Bi sinh tất cả lợi.

Bảy pháp này nếu thành,

Đều được đến cứu cánh.

Cảnh giới trí khó lường,

Khiến đến Thế Tôn vị.

Như ở trong Tiểu thừa

Nói các địa Thanh Văn,

Sơ địa là Hoan hỷ.

Trong Hoan hỷ ít có,

Do ba kết diệt hết,

Và sinh trong nhà Phật.

Do quả báo địa này,

Hiện tiền tu thí độ.

Trong trăm thế giới Phật,

Được tự tại bất động.

Trong Diêm-phù các châu,

Làm Đại Chuyển luân vương.

Trong thế gian hằng chuyển

Bảo luân và Pháp luân.

Thứ hai là Vô cấu,

Thân, khẩu, ý các nghiệp,

Mười thứ đều thanh tịnh,

Tự tính được tự tại.

Do quả báo địa này,

Hiện tiền tu giới độ.

Trong ngàn thế giới Phật

Được tự tại bất động.

Tiên, người, trời, Đế Thích,

Trừ được thiên ái dục,

Thiên ma và ngoại đạo

Đều không lay động được.

Thứ ba là Minh diệm,

Sinh ánh sáng tịch tuệ.

Do định và thần thông

Dục sân phiền não hết.

Do quả báo địa này

Hiện tiền tu nhẫn độ.

Trong muôn thế giới Phật

Được tự tại bất động.

Làm vua trời Dạ-ma,

Diệt thân thấy tập khí.

Tất cả tà sư chấp,

Năng phá, năng chính giáo.

Thứ tư là Thiêu nhiên,

Lửa trí ánh sáng sinh.

Do quả báo địa này,

Tinh tiến độ hiện tiền.

Tu tập nhiều đạo phẩm,

Diệt phiền não sinh đạo,

Đâu-suất-đà thiên chủ,

Trừ ngoại đạo kiến giới.

Do được sinh Tự Tại.

Trong mười phương cõi Phật.

Đi về không chướng ngại,

Nghĩa khác như địa trước.

Thứ năm tên Nan thắng,

Ma hai thừa chẳng kịp.

Thánh đế nghĩa vi tế

Vì chứng kiến sở sinh.

Do quả báo địa này

Định độ được hiện tiền

Làm Hóa Lạc thiên chủ,

Quay Nhị thừa hướng Đại.

Thứ sáu tên Hiện tiền,

Vì chính hướng Phật pháp.

Do thường tập định tuệ

Chứng được diệt viên mãn.

Do quả báo địa này,

Bát-nhã độ hiện tiền.

Tha Hóa Tự Tại thiên

Giáo hóa chân tục đế.

Thứ bảy tên Viễn hành.

Viễn hành số liên tục.

Trong đó niệm niệm được,

Vô sinh và vô diệt.

Do quả báo địa này,

Trí phương tiện hiện tiền,

Được làm Đại Phạm thiên,

Thông hiểu Đệ nhất nghĩa,

Chứng phương tiện thắng trí,

Lục độ sinh vô gián.

Trong Tam thừa thế tục,

Là người thầy thứ nhất.

Đồng tử địa bất động

Do bất xuất chân quán,

Vô phân biệt khó lường,

Phi thân khẩu ý cảnh.

Do quả báo địa này

Nguyện độ thường hiện tiền.

Thắng Biến Quang Phạm chủ.

Tịnh độ như Tự tại.

Nhị thừa đều không kịp.

Nơi chân tục nhất nghĩa,

Đều tu động tĩnh nên

Hành nhị lợi vô gián.

Thứ chín là Thiện tuệ.

Ngôi Thái tử Pháp vương.

Trong đây trí hơn hết,

Thông đạt bốn biện tài.

Do quả báo địa này,

Lực độ thường hiện tiền.

Làm Phạm vương Biến Tịnh,

Bốn đáp, nạn không thể.

Thứ mười là Pháp vân,

Hay tuôn mưa chính pháp.

Ánh sáng Phật tắm thân,

Thụ Phật quán đảnh vị.

Do quả báo địa này,

Trí độ thường hiện tiền.

Làm Phạm vương Tịnh Cư,

Vương chủ Đại Tự Tại.

Cảnh trí tuệ khó lường,

Tạng bí mật chư Phật.

Được cụ túc tự tại,

Sau sinh bổ xứ vị.

Như thế Bồ-tát địa,

Mười thứ tôi đã nói.

Phật địa với kia khác,

Đủ thắng đức khó lường.

Địa này chỉ lược nói,

Mười lực đều tương ưng.

Tùy mỗi mỗi lực này,

Khó lường như hư không.

Như đây có thể nói,

Chư Phật vô lượng đức.

Như hư không mười phương,

Và địa, thủy, hỏa, phong,

Chư Phật vô lượng đức,

Với người khác khó tin.

Nếu không thấy nhân này,

Khó lường quả như vậy.

Vì nhân và quả này,

Hiện tiền Phật tháp miếu,

Ngày đêm đều ba lần

Nguyện tụng hai mươi kệ.

Chư Phật Pháp và Tăng,

Tất cả chư Bồ-tát.

Tôi đảnh lễ quy y,

Ngoài ra đều tôn kính.

Tôi lìa tất cả ác,

Gìn giữ tất cả thiện.

Chúng sinh các thiện hạnh,

Tùy hỷ và thuận hành.

Đầu mặt lễ chư Phật,

Chắp tay thỉnh trụ thế,

Xin vì chuyển pháp luân,

Cho đến cùng sinh tử.

Từ đó tu các đức,

Đã làm và chưa làm.

Nhân đó nguyện chúng sinh,

Đều phát tâm Bồ-đề,

Vượt qua các chướng nạn,

Viên mãn căn vô cấu,

Đủ tịnh mạng tương ưng.

Nguyện chúng tự tại sự,

Tất cả đủ vô biên

Với tay báu tương ưng,

Sau cùng đến vô tận.

Nguyện chúng sinh như vậy,

Nguyện tất cả người nữ

Đều thành thắng trượng phu,

Trong tất cả mọi thời,

Đủ sáng suốt viên mãn.

Hình tướng đẹp oai đức,

Sắc đẹp người ưa thấy,

Không bệnh đủ sức lực,

Và nguyện được sống lâu.

Giải thoát các khổ, sợ,

Một niệm quy Tam Bảo.

Với phương tiện thiện xảo,

Phật pháp của cải lớn,

Từ, bi, hỷ, và xả,

Hằng ở bốn Phạm trụ.

Thí, giới, nhẫn, tinh tiến,

Định, trí đều trang nghiêm.

Viên mãn hành phúc tuệ,

Tướng tốt sáng chói chiếu.

Nguyện kia khó nghĩ lường,

Hành mười địa không ngại.

Với đức này tương ưng,

Các đức khác trang nghiêm.

Giải thoát tất cả lỗi,

Nguyện tôi yêu chúng sinh.

Viên mãn tất cả thiện,

Và an lạc chúng sinh,

Trừ được các khổ não.

Nguyện tôi hằng như thế,

Nếu chúng sinh sợ hãi,

Mọi lúc và mọi nơi,

Do chỉ nhớ tên tôi,

Là thoát tất cả khổ.

Kính tin tôi và sân,

Nếu thấy và nhớ giữ,

Cho đến nghe tên tôi,

Nguyện chúng định Bồ-đề.

Nguyện tôi được năm thông,

Hàng tùy tất cả sinh,

Nguyện tôi có thể sinh

Chúng sinh thiện, an lạc.

Nếu chúng muốn làm ác,

Trong tất cả thế giới,

Nguyện khắp đoạn các ác,

Như lý khiến tu thiện.

Như địa, thủy, hỏa, phong,

Cây thuốc và núi rừng,

Như chúng muốn thụ dụng,

Nguyện tôi tự nhẫn chịu.

Nguyện tôi chúng yêu mến,

Như niệm tự thọ mạng.

Nguyện tôi nhớ chúng sinh,

Vạn lần hơn yêu mình.

Nguyện chúng có làm ác,

Với tôi khi quả chín,

Một người chưa giải thoát,

Nơi các hữu tùy sinh.

Nguyện tôi vì chúng trụ,

Không trước đượcBồ-đề.

Năng tu hành như thế,

Phúc đức nếu hữu thể,

Nơi Hằng sa thế giới,

Công ấy không thể lường.

Phật Thế Tôn tự nói,

Nhân như thế khó lường.

Cõi chúng sinh vô lượng,

Nguyện lợi ích cũng vậy.

Pháp này tôi lược nói,

Năng sinh tự tha lợi.

Nguyện người yêu pháp này,

Như ái niệm chính mình.

Nếu ai yêu pháp này,

Chính là yêu tự thân.

Là đáng yêu mà ghét,

Ghét này do pháp thành.

Nên sự pháp như thân,

Sự hành như sự pháp,

Như hành sự tuệ vậy.

Người trí như tuệ sự,

Tịnh thuận có trí tuệ,

Nói chính lý thuyết phục.

Do mình xấu nghi người,

Người ấy tự tổn hại.

Là các thiện tri thức,

Người nên biết sơ lược.

Tri túc, từ, bi, giới,

Trí tuệ diệt được ác,

Thiện hữu phải dạy người,

Người biết nên thuận làm.

Do đức tốt trong ngoài,

Người ắt đến chỗ tốt.

Thật thệ nói ái ngữ,

Lạc tính không thể động.

Chính sự tăng siểm khúc,

Nguyện người tự dễ dạy.

Đã xả rồi không hối,

Có bốc cháy, tâm lặng

Không biếng nhác, khuấy động,

Không cống cao, hòa đồng.

Nguyện mát mẻ như trăng,

Bừng cháy như mặt trời,

Rất sâu như biển lớn,

Trụ vững như núi chúa,

Tất cả quả đều lìa,

Tất cả đức trang nghiêm,

Chúng sinh được thụ dụng.

Nguyện người tất cả trí,

Tôi không chỉ vì vua,

Nói thiện pháp như vậy.

Thật lý vì mọi người,

Do muốn lợi tất cả.

Đại vương! Chính luận này,

Người ngày ngày lắng nghe,

Để cho mình và người,

Được Bồ-đề vô thượng.

Giới tốt, kính tôn trưởng,

Nhẫn nhục không ganh ghét,

Không bỏn sẻn, biết đủ,

Cứu giúp người khó khăn,

Với người ác, làm thiện,

Giữ vững và chế phục.

Hoằng hộ chính pháp Phật,

Tu hành cầu Bồ-đề./.

(HẾT)

Did you find apk for android? You can find new Free Android Games and apps.