1668-Luận Thích Ma Ha Diễn

1668-Luận Thích Ma Ha Diễn
Luận Tạng - TQ, Phật Giáo Tuệ Quang Việt Tạng

SỐ 1668/10
LUẬN THÍCH MA HA DIỄN
Tác giả: Bồ-tát Long Thọ.
Hán dịch: Đời Diêu Tần, Đại sư Phiệt Đề Ma Đa.
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ (2013).

 

QUYỂN 1

Đảnh lễ Giác viên mãn

Giác Pháp tạng đã chứng

Và Đại sĩ tạo luận

Cùng các chúng Hiền Thánh.

Muốn mở cửa bố thí

Tạm hiển hướng quả vị

Lợi ích các chúng sinh

Báo ân Sư muôn một.

Luận nói: Nay tạo Luận này là nhằm giải thích lần nữa về Đại thừa (Ma-ha-diễn), vì muốn hiển bày chỉ rõ về chỗ sâu xa, vi diệu tột cùng của Thể ấy từ nơi bậc thầy. Nếu người chưa đạt sự chứng đắc đích thực và chưa ra khỏi hành tà, thì tối tăm mờ mịt hoàn toàn không nhìn thấy gì, vì Ma-ha-diễn đã luôn vượt quá cảnh giới của tư duy. Hoặc vì muốn khiến cho chúng sinh theo căn cơ lợi độn, mở được cánh cửa vào nhanh nơi pháp Phật, nêu rõ phần vị tu hành tiệm tiến hướng nhập diệu lý của Kinh Luận được giảng giải vốn rất sâu rộng. Hoặc do bậc thầy đã thành tựu đầy đủ các thứ công đức hết sức sâu nặng, tức để đền đáp phần nào ân lớn của thầy. Hoặc vì bí mật quán xét chúng sinh nơi đời vị lai, dấy khởi trăm ngàn thứ tranh chấp hủy hoại Tông chỉ của Luận. Hoặc là tự thân lắng nghe thọ nhận ý lạc. Vì có các nhân duyên như vậy, nên phải tạo ra Luận này.

Đã nói về phần gốc, tiếp theo là nói về phần sai biệt của luận. Luận có bao nhiêu thứ loại, bao nhiêu luận đã gồm thâu? Luận Ma Ha Diễn thuộc về loại nào?

– Tụng nêu:

Mười vạn chín ngàn bộ

Mười Luận gồm thâu chung

Ma Ha La, Bạt Đề

Ô Xá Ma, Xà Tha

Luận Phiệt Na, Đề Xá

A Bộ Đế, Bạt Ma

Ô Ha Ma Tăng Na

Và Kiện Bà Ma Ca.

– Luận nói: Tập hợp vô số các Luận của một đời nói chung là có mười vạn chín ngàn bộ. Các Luận như vậy được gồm thâu trong mười bộ. Những gì là mười bộ? Đó là: (1) Luận Ma Ha La. (2) Luận Bạt Đề. (3) Luận Ô Xá Ma. (4) Luận Xà Tha. (5) Luận Phiệt Na Đề Xá. (6) Luận A Bộ Đế. (7) Luận Bạt Ma. (8) Luận Hô Ha. (9) Luận Ma Tăng Na. (10) Luận Kiện Bà. Đó gọi là mười bộ. Luận Ma Ha Diễn thuộc về Luận Như Ý. Bộ Luận do Bồ-tát Mã Minh soạn thuật, luận đó có bao nhiêu văn, bao nhiêu nghĩa? Luận Ma Ha Diễn thuộc về loại nào?

– Tụng nêu:

Gồm có một trăm bộ

Chín mươi chín thứ văn

Mười thứ nghĩa gồm thâu

Luận này thuộc sách quý.

* Luận nói: Các Luận do Bồ-tát Mã Minh soạn thuật gồm có một trăm bộ, ở trong một trăm bộ có chín mươi chín thứ thuộc về Luận hoa văn, còn lại mười thứ luận thuộc về Luận gồm thâu nghĩa. Luận này thuộc loại sách quý. Mười thứ Luận gồm thâu nghĩa, tên gọi của chúng là thế nào, luận đó đã mở bày chỉ rõ là đồng hay là khác?

* Tụng nêu:

Biến Mãn cùng Quy Chân

Trung Tạng cùng Vi Diệu

Hợp Nhất và Tam Muội

Luận Thanh Tịnh, Bản Nguyên

Luận Huyền Lý, Khởi Tín

Kiến lập đồng một tướng.

* Luận nói: Những gì là mười loại? Đó là: (1) Luận Nhất Tâm Biến Mãn. (2) Luận Dung Tục Quy Chân. (3) Luận Pháp Giới Trung Tạng. (4) Luận Bí Mật Vi Diệu. (5) Luận Chúng Mạng Hợp Nhất. (6) Luận Chân Như Tam Muội. (7) Luận Tâm Tánh Thanh Tịnh. (8) Luận Bất Động Bản Nguyên. (9) Luận Thậm Thâm Huyền Lý. (10) Luận Đại Thừa Khởi Tín. Đó gọi là mười. Mười Luận như thế về số lượng tuy khác nhau, nhưng tướng kiến lập là đồng một loại.

Đã nói về phần sai biệt của Luận, tiếp đến là nói về sự sai biệt của Tạng. Tạng có bao nhiêu loại, bao nhiêu tạng đã gồm thâu? Luận Ma-ha-diễn thuộc về Tạng nào?

– Tụng nêu:

Hoặc năm mươi mốt Tạng

Hoặc chỉ mười như Kinh

Gồm thâu vào ba Tạng

Luận hoặc chung hoặc riêng.

* Luận nói: Năm mươi mốt Tạng là phân biệt nhân quả, là biểu hiện công đức để dẫn dắt người thực hành. Trong Khế kinh Kim Cương nói như vầy: “Đức Phật dạy: Này Phật tử! Ta sẽ vì ông dùng ngôn từ vô ngại, tuyên thuyết nêu bày năm mươi Tạng về nhân và một Tạng về quả”. Thế nên hoặc có mười Tạng. Những gì là mười Tạng? Đó là:

1. Chỉ thiết lập một Tạng gồm thâu toàn bộ các pháp. Đó là Tạng Pháp Giới Pháp Luân. Trong Khế kinh Viên Mãn nói như vầy: “Tất cả ngôn âm hiện có của chúng sinh, không loại nào là không thuộc về âm thanh pháp luân của Như Lai”.

2. Thiết lập hai Tạng gồm thâu toàn bộ các pháp. Đó là Tạng Thanh văn và Tạng Bồ-tát. Trong Khế kinh Tổng Trì nói như vầy: “Pháp môn tuy vô biên nhưng không ra ngoài hai thứ Tạng”.

3. Thiết lập ba Tạng gồm thâu toàn bộ các pháp. Đó là thêm vào Tạng Như Lai. Trong Khế kinh Quang Minh nói như vầy: “Hết thảy chư Phật nhiều hơn số Hằng hà sa, chỉ nhằm tuyên thuyết về pháp tạng Thanh văn, pháp tạng Bồ-tát và pháp tạng Như Lai, lại không còn một đạo nào nữa”.

4. Thiết lập bốn Tạng gồm thâu toàn bộ các pháp. Đó là thêm vào Tạng Bổ Đặc Già La. Trong Kinh Đạo Phẩm nói như vầy: “Này Phật tử! Hãy lắng nghe rõ. Ta sẽ vì ông giảng nói về Tạng nhân, Tạng nghĩa, Tạng lễ, Tạng trí cho đến Tạng tín cùng Tạng Thanh văn, Tạng Bồ-tát và Pháp tạng Đại giác. Vì sao? Vì để cho những người thực hành lần lượt chuyển biến theo pháp cùng thứ lớp được thắng lợi”.

5. Thiết lập năm Tạng gồm thâu toàn bộ các pháp. Đó là thêm vào Tạng thiên. Trong Khế kinh Thiên Tử nói như vầy: “Đức Phật nói với Da Luận: Không thể ngôn thuyết về báo không thanh tịnh. Ta vì đại chúng nêu giảng rộng khắp về Tạng tịnh, Tạng nhân và Tạng của Nhị thừa cùng Pháp tạng Đại giác của tất cả chư Phật”.

6. Thiết lập sáu Tạng gồm thâu toàn bộ các pháp. Đó là thêm vào Tạng Nại-lạc-ca. Trong Khế kinh Bố Úy nói như vầy: “Ta an trụ bất động phân biệt tuyên thuyết về tám vạn bốn ngàn Tạng Nạilạc-ca”. Như trước đã nói về năm loại Tạng.

7. Thiết lập bảy Tạng gồm thâu toàn bộ các pháp. Đó là thêm vào Tạng Ma La Cưu Đa Da. Trong Khế kinh Ban Mẫu nói như vầy: “Nay Ta dùng lời chân thật vì Ban Mẫu cùng một ức bảy vạn ba ngàn đại chúng phân biệt giảng nói về năm vạn một ngàn ba trăm lẻ hai loại Tạng quỷ thần”. Như trước đã nói về sáu loại Tạng.

8. Thiết lập tám Tạng gồm thâu toàn bộ các pháp. Đó là thêm vào Tạng Kiện Bà Đà Na Bạt. Trong Khế kinh Long Vương nói như vầy: “Long vương Nan-đà phát ra tám ngàn câu hỏi, thưa hỏi Đức Như Lai. Đức Phật mở ra mười ức Tạng bàng sinh đạo”.

Như trước đã nói về bảy loại Tạng.

9. Thiết lập chín Tạng gồm thâu toàn bộ các pháp. Đó là thêm vào Tạng Khí Thế Giới. Trong Khế kinh Thế Giới nói như vầy: “Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói với Thọ Thần: Lành thay! Lành thay! Như ông đã nói, nếu muốn nghe về điều ấy, nay Ta sẽ vì ông phân biệt diễn nói về Tạng của đối tượng nương dựa”. Như trước đã nói về tám loại Tạng.

10. Thiết lập mười Tạng gồm thâu toàn bộ các pháp. Đó là thêm vào Tạng Tạp Loạn. Trong Khế kinh Âm Thanh nói như vầy: “Ta nay mở bày chỉ rõ về tám loại Tạng tạp loạn”. Như trước đã nói về chín loại Tạng.

Đấy gọi là mười Tạng. Các Tạng như vậy là gồm thâu toàn bộ mười ức tám ngàn Pháp Tạng.

Ba Tạng căn bản hoặc gồm thâu mười Tạng. Những gì là ba Tạng? Đó là: (1) Tạng Tố-đát-lãm (Tạng Kinh). (2) Tạng Tỳ-nạida (Tạng Luật). (3) Tạng A-tỳ-đạt-ma (Tạng Luận). Đấy gọi là ba Tạng. Luận Ma-ha-diễn hoặc thuộc về các Tạng, hoặc chỉ thuộc về Tạng A-tỳ-đạt-ma. Vì vậy Tụng nói “Hoặc chung – hoặc riêng”. Chung nghĩa là thông hợp toàn bộ, riêng nghĩa là lựa chọn phân biệt. Người hành trì pháp theo chỗ ứng hợp không mất, vì thế lập tên gọi là Tạng.

Đã nói về sự sai biệt của Tạng, tiếp theo là nói về sự sai biệt của Kinh.

Kinh có bao nhiêu số và bao nhiêu kinh đã gồm thâu? Nay Luận Ma Ha Diễn này thì những kinh nào làm nơi nương dựa?

* Tụng nêu:

Gồm trăm số Lạc-xoa

Thâu mười hai bộ kinh

Tu Đa La, Kỳ Dạ

Cùng Tỳ Già La Na.

Già Đà, Ưu Đà Na

Cùng với Ni Đà Na

Kinh A Ba Đà Na

Y Đế Mục Đa Già .

Xà Đà Già, Phật Lược

A Phù Đà, Đạt Ma

Kinh Ưu Ba Đề Xá

Dựa hoặc chung hoặc riêng.

* Luận nói: Tập hợp tất cả các kinh thuộc các loại trong một đời Đức Phật thuyết giảng có một trăm ức bộ. Các kinh như vậy gồm thâu vào mười hai bộ. Những gì là mười hai bộ? Đó là: (1) Tu-đa-la (Khế kinh). (2) Kỳ Dạ (Trùng tụng). (3) Tỳ Già La Na (Cô khởi). (4) Già Đà (Phúng tụng). (5) Ưu Đà Na (Tự thuyết). (6) Ni Đà Na (Nhân duyên). (7) A Ba Đà Na (Thí dụ). (8) Y Đế Mục Đa Già (Bản sự). (9) Xà Đà Già (Bản sinh). (10) Tỳ Phật Lược (Phương quảng). (11) A Phù Đà Đạt Ma (Vị tằng hữu). (12) Ưu Ba Đề Xá (Luận nghị).

Đây gọi là mười hai bộ. Kinh căn bản làm nơi nương dựa của Luận Ma-ha-diễn, hoặc là chung, hoặc là riêng. Chung nghĩa là thông hợp toàn bộ, riêng nghĩa là lựa chọn phân biệt. Luận Maha-diễn văn thì hẹp, câu thì gọn, tức hết sức nhỏ, gọn, vì sao đại dương của Khế kinh là vô lượng vô biên lại làm chỗ nương dựa chung? Vì như Bà Tát Y Già cho phép, như Tiêu Đa La dẫn đưa, vì vậy không có lỗi. Kinh làm chỗ nương dựa riêng thì số lượng ấy có bao nhiêu, tên gọi là những gì và quyến thuộc của mỗi thứ là bao nhiêu?

* Tụng nêu:

Gồm một trăm Khế kinh

Như Quang Minh Đại Giác…

Năm mươi đầu đều trăm

Năm mươi sau đều ngàn.

* Luận nói: Kinh làm chỗ nương dựa riêng của Luận Ma-hadiễn, gồm có một trăm kinh. Những gì là một trăm? Đó là: (1) Kinh Quang Minh Đại Giác. (2) Kinh Thậm Thâm Thuận Lý. (3) Kinh Kim Cương Tam Muội. (4) Kinh Chư Pháp Vô Hành. (5) Kinh Thọ Lâm Thuyết Pháp. (6) Kinh Vô Tận Nhất Địa. (7) Kinh Thanh Tịnh Như Như. (8) Kinh Tự Tánh Tự Thể. (9) Kinh Đại Thừa Đồng Tánh. (10) Kinh A Lê Da Thức. (11) Kinh Quả Viên Mãn. (12) Kinh Hư Không Đẳng. (13) Kinh Tam Tam Muội. (14) Kinh Nhất Tâm Pháp. (15) Kinh Bản Tánh Trí. (16) Kinh Chân Pháp Giới. (17) Kinh Nhiếp Vô Lượng. (18) Kinh Tối Thượng Cực. (19) Kinh Duy Ma Cật. (20) Kinh Lăng Già Vương. (21) Kinh Trung Thật. (22) Kinh Vô Thủy. (23) Kinh Thập Nhân. (24) Kinh Luân Chuyển. (25) Kinh Từ Vân. (26) Kinh Khí Tâm. (27) Kinh Vô Vị. (28) Kinh Hiền Thánh. (29) Kinh Ẩn Mật. (30) Kinh Hoa Nghiêm. (31) Kinh Đại Phẩm. (32) Kinh Tịch Diệt. (33) Kinh Thánh Quỹ. (34) Kinh Biến Duyên. (35) Kinh Huân Tập. (36) Kinh Phật Tánh.

(37) Kinh Huyền Lý. (38) Kinh Lăng Già. (39) Kinh Bản Nghiệp. (40) Kinh Uẩn Cao Sơn. (41) Kinh Quy Bản. (42) Kinh Chân Tu. (43) Kinh Bát Đức. (44) Kinh Phật Tuệ. (45) Kinh Duyên Khởi. (46) Kinh Nhất Thể. (47) Kinh Tự Phật. (48) Kinh Đại Hải. (49) Kinh Vô Tướng. (50) Kinh Biến Chân Như. (51) Kinh Thập Chủng Như Lai Tạng. (52) Kinh Tam Thân Bản Hữu. (53) Kinh Bát Thức Thông Đạt Duyên. (54) Kinh Chúng Sinh Thân Đẳng Pháp. (55) Kinh Chư Phật Vô Tận Tạng. (56) Kinh Tán Thán Bất Thiện Phẩm. (57) Kinh Chư Pháp Đồng Nhất Tướng. (58) Kinh Nhất Thể Đại Bi Quán. (59) Kinh Như Như Bản Trí Tuệ. (60) Kinh Trần Trần Pháp Giới Sát Độ. (61) Kinh Luân Chuyển Bản Tế. (62) Kinh Pháp Giới Pháp Luân. (63) Kinh Đại Trí Bản Hữu. (64) Kinh Bình Đẳng Pháp Giới. (65) Kinh Tứ Tướng Thường Trụ. (66) Kinh Chân Như Nhất Tướng. (67) Kinh Lưu Chuyển Bất Động. (68) Kinh Tịch Tĩnh Niết Bàn. (69) Kinh Thông Đạt Âm Thanh. (70) Kinh Như Lai Tự Tướng. (71) Kinh Phu Nhân. (72) Kinh Pháp Môn. (73) Kinh Bát Dụ. (74) Kinh Trung Tại. (75) Kinh Tổng Trì. (76) Kinh Bất Động. (77) Kinh Lưỡng Trí. (78) Kinh Đạo Trí. (79) Kinh Bản Giác. (80) Kinh Đại Vô Lượng. (81) Kinh Tự Nhiên Bản Quả. (82) Kinh Thậm Thâm Pháp Tạng. (83) Kinh Nhất Đạo Thanh Tịnh. (84) Kinh Thập Chủng Vọng Tưởng. (85) Kinh Pháp Môn Hiển Liễu. (86) Kinh Cảnh Giới Viên Mãn. (87) Kinh Quang Minh Thật Trí. (88) Kinh Nhân Quả Đồng Thể. (89) Kinh Tâm Thần Bất Không. (90) Kinh Chân Trí Vô Sinh Hạnh. (91) Kinh Vô Ngại Giải Thoát. (92) Kinh Tùy Duyên Tăng Trưởng. (93) Kinh Pháp Tánh Thật Tế. (94) Kinh Quảng Đại Hư Không. (95) Kinh Bản Nhân Duyên Khởi. (96) Kinh Chư Pháp Vô Vi. (97) Kinh Bản Lai Thanh Tịnh. (98) Kinh Tu Hành Đạo Địa. (99) Kinh Bất Tu Cụ Đức. (100) Kinh Ma Ha Tát Vân Nhã.

Đấy gọi là một trăm kinh. Quyến thuộc của một trăm kinh như vậy, như dưới đây thì năm mươi kinh đầu đều có số trăm, năm mươi kinh sau đều có số ngàn. Nêu lên mục lục của kinh là làm rõ về mạng lưới của luận. Phần sau sẽ tùy theo văn để mở bày chỉ rõ.

Đã nói về sự sai biệt của kinh, tiếp theo sẽ nói về người tạo luận. Khế kinh nói có khác nhau, số ấy có bao nhiêu? Nay Sư Mã Minh là thuộc về vị nào?

* Tụng nêu:

Gồm có sáu Mã Minh

Khế kinh nói khác nhau

Nhưng thuận hợp căn cơ

Không có tướng sai trái.

* Luận nói: Tập hợp tất cả các Khế kinh trong một đời Đức Thế Tôn thuyết giảng thì có nhiều loại văn khác nhau, gồm chung có sáu loại. Những gì là sáu loại? Đó là:

(1) Trong Khế kinh Đại Thừa Bản Pháp nói như vầy: “Đấng Đại Giác vô thượng nói về duyên nhập Niết-bàn, Bồ-tát Mã Minh liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ nơi chân Phật, chấp tay cung kính, hướng về Đức Thế Tôn nói kệ:

Vô Thượng Tôn đầy đủ đại từ

Vô biên biển kiếp đủ vạn hạnh

Chỉ vì từ bi thương muôn loài

Nên Phật tự nói nhập Niết-bàn.

Con cùng tất cả các đại chúng

Mờ mịt tán loạn, tâm tưởng mất

Thế Tôn bậc đầy đủ đại từ

Bỏ đàn con đến thế giới khác.

Huống hồ con từ bi chưa đủ

Theo Đức Phật đến thế giới khác.

Bấy giờ, Bồ-tát Mã Minh nói kệ này xong, nhìn thấy đôi mắt Đức Phật từ từ tự mạng chung”.

1. Trong Khế kinh Biến Hóa Công Đức nói như vầy: “Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói với Bồ-tát Mã Minh: Sau khi Ta diệt độ hơn ba trăm năm, ông sẽ vâng theo diệu lực gia hộ của Ta, dùng vô số thứ pháp làm phương tiện tạo lợi ích an lạc cho chúng sinh đời vị lai. Nếu Ta không gia hộ diệu lực thì ông sẽ không thể tự thực hiện”.

2. Trong Khế kinh Ma Ha Ma Da nêu bày như vầy: “Sau khi Đức Như Lai diệt độ khoảng sáu trăm năm, tức có chín mươi sáu thứ các ngoại đạo, cùng với những tà kiến tranh nhau xuất hiện hủy diệt pháp Phật. Bấy giờ, một vị Tỳ-kheo tên là Mã Minh, khéo giảng nói về pháp yếu, hàng phục tất cả các đám ngoại đạo”.

3. Trong Khế kinh Thường Đức Tam Muội nêu rõ như vầy: “Sau khi Đức Phật diệt độ trong khoảng tám trăm năm, có một người trí tuệ tên là Mã Minh, hoặc từ nơi chúng ngoại đạo, hoặc là đệ tử nhà Phật, phá trừ các ngoại đạo kiến lập pháp Phật”.

4. Trong Khế kinh Ma Ni Thanh Tịnh nêu bày như vầy: “Sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn hơn một trăm năm, Đại sĩ Mã Minh xuất hiện ở thế gian, bảo vệ chánh pháp, dựng lên ngọn cờ Phật giáo”.

5. Trong Khế kinh Thắng Đảnh Vương nêu bày như vầy: “Như Lai thành đạo vào bảy ngày thứ mười, có một ngoại đạo tên là Ca La Nặc Cưu Thi Ma, biến hóa thân mình làm Đại Long vương, hiện rõ tám vạn sáu ngàn đầu với tám vạn sáu ngàn lưỡi, trong một lúc phát khởi tám vạn sáu ngàn vấn nạn trái nhau để chất vấn Đức Như Lai. Như Lai tức thì tạo ba lớp giải đáp, trả lời thông suốt tất cả các vấn nạn kia. Lúc ấy, Long vương lại tạo ra mười lớp vấn nạn để hỏi Phật. Đức Phật tức thì tạo ra trăm lớp giải đáp để giải thích thông suốt hết thảy. Hỏi đáp như vậy xong, Đức Phật nói với Long vương: Lành thay! Lành thay! Sa-môn Mã Minh, vì nhằm bảo vệ thành lũy giáo pháp, dùng hình tướng phá hoại để kiến lập pháp Phật. Nhẫn nại cùng nhẫn nại, luôn tu như vậy, luôn hành như vậy, chớ nên du hành theo lối nhỏ, phải du hành rộng khắp. Thế là Long vương dùng thân hình vốn có của mình, xả bỏ tướng súc sinh, đến trước Đấng Vô Thượng thân khẩu ý thành kính lễ bái, dung mạo hoan hỷ, hướng về Đức Thế Tôn nói tụng:

Lời lành thay, lành thay!

Nơi tai con lắng nghe

Tự giả hay là thật

Trong tâm con rất nghi.

Con chẳng thân súc sinh

Con chẳng chúng ngoại đạo

Nhưng tán thán hóa sinh

Biến hóa hình như vậy.

Thế Tôn như gương biết

Con ẩn tại cõi này

Hiện nơi thế giới khác

Như pháp du hành khắp.

Bấy giờ, Mã Minh nêu bày kệ này xong, như đi vào căn nhà vắng lặng nhập thiền định”.

Đấy gọi là sáu loại.

Các kinh như vậy là đều nói khác nhau, tùy theo căn cơ ứng hiện thì không có lỗi mâu thuẫn. Bồ-tát Mã Minh là người đang ở quả vị nào? Cõi nào? Nhân duyên gì mà Mã Minh sinh ra?

* Tụng nêu:

Vốn Phật Đại Quang Minh

Nhân trong địa Bất động

Xuất hiện Tây Thiên Trúc

Theo quá khứ lập tên.

* Luận nói: Bồ-tát Mã Minh nếu nói đúng về gốc là Đức Phật Đại Quang Minh. Nếu luận về nhân tức là Bồ-tát trụ vị trong địa thứ tám. Sinh ra ở vùng Tây Thiên Trúc, cha tên Lư Già, mẹ là Cù Na, đồng sinh lợi ích. Trong đời quá khứ, có một vị Đại vương tên là Luân Đà, có hàng ngàn loài chim màu trắng đều có tiếng hót rất hay. Nếu chim cất tiếng hót thì phước đức của Đại vương tăng lên. Nếu chim không cất tiếng hót thì phước đức của Đại vương tổn giảm. Các loài chim như vậy, nếu thấy ngựa trắng tức thì cất tiếng hót rất hay. Nếu lúc không thấy ngựa trắng thì luôn im lặng không hót. Bấy giờ, Đại vương đi khắp nơi cầu tìm ngựa trắng, nhưng suốt cả ngày vẫn không tìm được, liền nói như vầy: Nếu như chim hót này thuộc chúng ngoại đạo, thì đều phá bỏ mọi thứ riêng tôn kính riêng tin vào Phật giáo. Nếu như chim hót này thuộc đệ tử của Phật, thì đều phá bỏ mọi thứ riêng tôn kính riêng tin vào giáo pháp ngoại đạo. Khi đó, Bồ-tát dùng sức thần thông, hiện ra ngàn ngựa trắng hý vang và ngàn chim trắng cất tiếng hót, nối tiếp làm hưng thịnh chánh pháp khiến không đoạn dứt. Vì vậy Đức Thế Tôn gọi Bồ-tát ấy là Mã Minh.

Đã nói về tướng sai khác của người tạo luận. Tiếp theo nêu nguyên bản để giải thích.

* Bản luận viết:

Quy mạng khắp mười phương

Nghiệp tối thắng, biến trí

Sắc tự tại vô ngại

Đại bi cứu thế gian.

* Luận giải thích: Trong một tụng này tức có hai môn. Thế nào là hai? Đó là: (1) Môn gồm thâu chung tất cả chúng mạng. (2) Môn quy hướng nơi bậc Đại giác viên mãn.

Môn gồm thâu chung: Là thâu tóm chung chúng mạng căn của hết thảy chúng sinh hiện có trong mười phương thế giới. Như trong Bản luận nói “Mạng khắp mười phương”.

Môn quy hướng: Là dùng chúng mạng căn như vậy quay về hợp với con người đầy đủ đại từ bi. Như trong Bản luận nói “Nghiệp tối thắng biến trí, sắc tự tại vô ngại, đại bi cứu thế gian”.

Luận sư nêu ra bao nhiêu đức để tán thán bậc Đại giác? Những tướng ấy như thế nào?

* Tụng nêu:

Gồm tám vạn bốn ngàn

Bốn mươi tám thứ đức

Đức tối thắng v.v… đều mười

Trí vô ngại đều bốn.

Và tám vạn bốn ngàn

Các sắc tướng sai biệt

Công đức tuy vô lượng

Trọn không ngoài số này.

* Luận giải thích: Bồ-tát Mã Minh nêu tổng quát về tám vạn bốn ngàn, bốn mươi, tám loại công đức để cùng kính ca ngợi bậc Đại giác vô thượng. Phẩm công đức thanh tịnh trong quả vị Phật viên mãn tuy có vô lượng vô biên, nhưng chung quy không ra ngoài số lượng này. Vì vậy Bồ-tát Mã Minh đã tán thán về tướng chung. Những gì là tám vạn bốn ngàn công đức? Vì sắc tướng có sai biệt nên thành tám vạn bốn ngàn. Những gì là bốn mươi? Vì tối thắng nghiệp biến (hiện hành khắp) mỗi thứ đều có mười loại công đức nên thành số bốn mươi. Thế nào là tám loại? Vì trí và vô ngại mỗi thứ đều có bốn loại nên thành tám loại.

Những gì mười Tối (Bậc nhất)? Đó là: (1) Tối siêu quá: Là xa lìa địa Nhị thừa. (2) Tối xuất ly: Là vĩnh viễn lìa bỏ biên vực của ba cõi. (3) Tối đối trị: Là nhanh chóng đoạn dứt bốn trụ địa. (4) Tối yếm hoạn: Là đã vượt qua xóm làng của năm uẩn. (5) Tối ly ái: Là vĩnh viễn cách biệt con đường rẽ vào sáu nẻo. (6) Tối uy đức: Là chiến thắng làm thoái chuyển bảy loại quân xấu ác. (7) Tối binh chúng: Là đều diệt trừ hết tám khu rừng tà vạy. (8) Tối trí tuệ kiếm: Là chặt đứt hoàn toàn chín loại kiết buộc. (9) Tối giải thoát: Là đoạn trừ mười thứ dây trói buộc. (10) Tối dũng mãnh: Là phá trừ, hàng phục chín mươi sáu thứ ngoại đạo. Đấy gọi là mười Tối. Ở trong Khế kinh nói là mười loại đệ nhất.

Những gì là mười Thắng? Đó là: (1) Thắng lực: Là đầy đủ mười lực. (2) Thắng vô úy: Là đầy đủ bốn vô úy. (3) Thắng bất cộng: Là đầy đủ mười tám pháp bất cộng. (4) Thắng đạo phẩm: Là đầy đủ ba mươi bảy đạo phẩm. (5) Thắng biến hóa: Là đầy đủ trăm ngàn thứ biến hóa. (6) Thắng ngôn âm: Là đầy đủ tám mươi tám loại Phạm âm. (7) Thắng đoan nghiêm: Là đầy đủ ba mươi hai thứ tướng của bậc đại trượng phu. (8) Thắng cát tường: Là tùy theo nơi chốn của cảnh giới tạo tác, luôn xuất sinh làm tăng trưởng các công đức căn thiện. (9) Thắng nan đắc: Là bậc được tôn kính nhất ở trong ba cõi. (10) Thắng trụ xứ: Là nơi cung điện mình cư trú, dùng chín vạn tám ngàn thứ vi diệu viên mãn để trang nghiêm. Đấy gọi là mười Thắng. Ở trong Khế kinh nói là mười loại thù thắng.

Những gì là mười Nghiệp? Đó là: (1) Nghiệp tự nhiên: Là những việc làm luôn tự tại. (2) Nghiệp bình đẳng: Là giáo hóa đem lại lợi ích không sai biệt. (3) Nghiệp tương ưng: Là thuận theo căn cơ mà xuất hiện. (4) Nghiệp cụ túc: Là đầy đủ hai thứ tư lương phước và trí. (5) Nghiệp vô tận: Là hành tác không có biên vực giới hạn. (6) Nghiệp đồng sinh: Là thuận theo các nẻo, cõi để thọ sinh. (7) Nghiệp vô trước: Là xa lìa mọi hệ lụy trần tục, giống như hoa sen. (8) Nghiệp y chỉ: Là tạo tác làm nơi chốn quy về nương dựa như đại địa. (9) Nghiệp vô yếm: Là gồm thâu chúng sinh không cùng tận như biển lớn. (10) Nghiệp thông đạt: Là hành tác không có chướng ngại như hư không. Đấy gọi là mười Nghiệp. Ở trong Khế kinh nói là mười loại tác dụng.

Những gì là mười Biến (Hiện hành khắp)? Đó là: (1) Căn biến: Là các sắc căn của Phật, mỗi mỗi thứ đều hiện bày khắp pháp giới. (2) Thức biến: Là các tâm thức của Phật không gì là không thông suốt. (3) Cảnh giới biến: Là đối tượng duyên của trí viên mãn không phân chia giới hạn. (4) Thọ mạng biến: Là hành hóa đều không thể nghĩ bàn. (5) Quyến thuộc biến: Là hành tác không thể lường tính. (6) Công đức biến: Là mỗi mỗi công đức sánh bằng hư không giới. (7) Từ bi biến: Là hành hóa không có phân biệt lựa chọn. (8) Ngôn thuyết biến: Là âm thanh của Đức Phật giảng nói không đâu là không đến. (9) Chứng biến: Là không nơi chốn nào là không cùng tận. (10) Vô đẳng biến: Là không gì có thể sánh bằng. Đấy gọi là mười Biến. Ở trong Khế kinh nói là mười loại chu biến.

Những gì là bốn Trí? Đó là: (1) Trí quang minh vô tận tạng, vì có thể sinh ra mười ức một ngàn môn trí tuệ. (2) Trí nhất vị nhất tướng, vì thông đạt Hằng sa hết thảy các pháp không sai biệt. (3) Trí đại bi vô biên, vì thuận theo chúng sinh thực hiện sự giáo hóa đồng nhất đủ khắp tất cả thế giới ở mười phương. (4) Trí vô vi tịch diệt, vì xa lìa tất cả mọi hành động tạo nghiệp. Đấy gọi là bốn Trí. Ở trong Khế kinh nói là bốn loại trí viên mãn.

Những gì là bốn Vô ngại? Đó là: (1) Pháp vô ngại: Là nhận biết rõ về thật tướng, thật tánh của các pháp. (2) Nghĩa vô ngại: Là nhận biết rõ về các pháp cùng tướng sai biệt và tướng sinh diệt của các chúng. (3) Từ vô ngại: Là không hủy hoại giả danh mà nêu rõ về thật tướng. (4) Lạc thuyết vô ngại: Là phát khởi vô biên ngôn thuyết về biển Khế kinh theo thứ lớp không đoạn dứt. Đấy gọi là bốn Vô ngại. Ở trong Khế kinh nói là bốn loại trí giải thoát.

Nói tự tại là đều chung cho cả phần trên nên không giải thích riêng. Còn danh nghĩa của sắc tướng, như trong đại tổng trì đã nêu bày rõ và rộng.

Đã nói về Giác bảo (Phật bảo), tiếp theo là nói về Pháp, Tăng.

* Bản luận viết:

Cùng thể tướng thân kia

Biển chân như pháp tánh

Kho công đức vô lượng Tu hành đúng như thật.

* Luận giải thích: Trong một tụng này lại có hai môn. Thế nào là hai môn? Đó là: (1) Môn thể gồm thâu tất cả chúng thân. (2) Môn thông đạt chung về Pháp tạng, Tăng già.

Môn thể gồm thâu: Là thâu tóm hết tất cả các thân vô thường, lưu chuyển, sinh diệt của vô lượng chúng sinh. Như trong Bản luận nói “Thể tướng của thân kia”.

Môn thông đạt chung: Là do chúng thân như vậy nên thông hiểu chung về các Pháp tạng thâm diệu và tất cả những người tu hành như thật. Như Bản luận nói “Cùng… Biển chân như pháp tánh, Kho công đức vô lượng, Tu hành đúng như thật”. Nói “Vân vân” là gồm chung về ý lễ bái tôn kính. Luận sư đã dựa vào bao nhiêu Pháp – Tăng để lễ bái tôn kính, tướng ấy như thế nào?

* Tụng nêu:

Quy chung nơi mười bốn

Tăng mười và Pháp bốn

Hoặc bao gồm trên dưới

Tăng chúng có nhiều loại.

* Luận giải thích: Bồ-tát Mã Minh quy y chung nơi mười bốn xứ đức, vì Tăng có mười và Pháp có bốn, tất cả đều sai biệt.

Thế nào là mười Tăng? Vì mười địa có sai biệt.

Những gì là bốn Pháp? Vì Giáo – Lý – Hành – Quả đều sai biệt. Pháp nghĩa là Giáo pháp, đó gọi là tùy thuận căn cơ, như biển của tất cả Khế kinh đã tiếp nhận hết thảy chúng sinh. Tánh chân như nghĩa là Lý pháp, nơi thể tánh của tất cả các pháp là bình đẳng. Lìa các thứ hư vọng về giả. Dứt các thứ chấp trước về thật. Biển nghĩa là Quả pháp, đối với quả vị Diệu giác muôn đức viên mãn không có cùng tận, như biển lớn. Kho công đức vô lượng là Hành pháp, vì sáu độ vạn hạnh là quyến thuộc của phẩm tịnh, đều không thể nghĩ bàn, do nghĩa vượt quá số lượng. Như tức là mười loại chân như. Thật tu hành nghĩa là mười loại chánh trí. Chứng đắc lý chân như là ở nơi trí chân thật kiến lập danh xưng Tăng. Lý, trí hợp thông, chủ thể và đối tượng bình đẳng một vị, vì bình đẳng nên không tranh luận.

Vì sao dùng mạng để nêu lên mười phương như vậy? Vì muốn nêu bày chỉ rõ về mạng căn đã gồm thâu là rộng lớn, đầy đủ, không có biên vực. Vì sao lấy thân để nêu lên tướng ấy? Là muốn hiện bày chỉ rõ về bốn tướng đã làm tán loạn tất cả chúng sinh nay thảy đều thâu giữ, muốn khiến đạt được thân kim cương thường trụ bất động.

Do đâu tám Thánh không chỉ quy mạng nơi tự thân mà chính là nhận lấy chung tất cả thân mạng hiện có của vô lượng chúng sinh để quy y nơi Tam bảo? Do nhận biết sáng rõ tất cả chúng sinh đều bình đẳng, bình đẳng, chỉ một chân như không có sai khác. Thân mạng của chúng sinh và thân mạng của mình là cùng một vị một tướng không lìa nhau. Vì vậy tụng nói là Đẳng, chữ Đẳng có nghĩa rất sâu xa. Do đâu gồm thâu nhận lấy vô lượng thân mạng của tất cả chúng sinh quy y nơi Tam bảo, thành tựu tướng lễ bái cung kính (Hòa nam)? Do ba đời hết thảy chư Phật nơi mười phương thảy đều hoan hỷ. Ba đời hết thảy các vị Bồ-tát nơi mười phương thảy đều tán thán. Ba đời hết thảy các Pháp tạng trong mười phương luôn được lưu truyền khắp không hề đoạn dứt.

Bồ-tát Mã Minh chứng đắc địa Bất động, công đức nơi các địa dưới đều đã đầy đủ. Vì sao đối với các vị Tăng ở địa dưới thảy đều lễ bái cung kính? Do người là chủ thể quy kính đều không đồng với quả vị mình đạt được. Nếu tự mình quy y thì chỉ nên nói lễ bái cung kính bậc đã chứng đắc đủ địa Bất động và hai địa trên. Nếu như vậy thì vì sao không nhận lấy các địa trước? Vì không phải không có người quy y nên không nêu riêng, do từ trên xuống dưới đã cùng hiển hiện rõ. Lúc Bồ-tát của địa Pháp vân (Địa thứ mười) là người có thể quy y, thì nên nương dựa vào Tăng bậc nào? Đối nơi địa Diệu giác có Tăng chân thật nên không lỗi lầm. Nếu như vậy thì vì sao không nêu riêng? Vì từ dưới lên trên đã cùng được hiện bày rõ. Thế nên tụng nêu:

Hoặc bao gồm trên dưới

Tăng chúng có nhiều loại.

Đã nói về Pháp, Tăng, tiếp theo là nói về ý nghĩa căn bản.

* Bản luận viết:

Vì muốn khiến chúng sinh

Trừ nghi bỏ chấp tà

Khởi chánh tín Đại thừa

Phật chủng không đoạn dứt.

* Luận giải thích: Trong một tụng này tức có hai môn. Những gì là hai môn? Đó là: (1) Môn đoạn dứt chướng ngại trói buộc. (2) Môn liên tục giải thoát.

Trong môn đoạn dứt có bốn thứ sai biệt. Những gì là bốn? Đó là: (a) Môn tín tâm quyết định, vì khiến cho vô lượng chúng sinh đoạn trừ tâm nghi hoặc, phát khởi tâm tin kiên cố, quyết định hướng về chánh đạo Đại thừa thâm diệu. (b) Môn xa lìa tâm chán bỏ, vì khiến cho hết thảy chúng sinh… xa lìa tâm chán bỏ, tăng trưởng ý niệm được an vui, tinh tấn đối với chánh đạo Đại thừa thâm diệu. (c) Môn đối trị luận tà, vì khiến đối trị chín mươi sáu loại ngoại đạo lớn, cùng với chín vạn ba ngàn ngoại đạo quyến thuộc, bốn loại đại ma cùng ba vạn hai ngàn chúng ma quyến thuộc, đoạn trừ một ức bốn vạn sáu ngàn loại luận thuyết thế gian, hướng nhập nơi chánh đạo Đại thừa thâm diệu. (d) Môn trừ bỏ chấp trước, vì khiến cho tất cả hàng phàm phu, các hạng Nhị thừa cùng tất cả Bồ-tát, đoạn trừ năm thứ nhân kiến, chứng đắc năm loại đối trị, đoạn trừ hai thứ pháp chấp, chứng đắc hai loại đối trị, hồi hướng về chánh đạo Đại thừa thâm diệu. Như trong Bản luận nói: “Vì muốn khiến chúng sinh, Đoạn nghi bỏ chấp tà, Khởi chánh tín Đại thừa”.

Trong môn liên tục có ba loại sai biệt. Những gì là ba? Đó là: (a) Môn không đoạn dứt Đại giác, vì khiến tập thành nhân của vạn hạnh, trang nghiêm quả của bậc Đại giác, ngôi vi Pháp vương vô thượng không đoạn dứt. (b) Môn không đoạn mất Pháp tạng, vì khiến xuất hiện tiếng vang của Phạm âm vi diệu thù thắng, tuyên nêu biển cả của hết thảy Khế kinh, nên tám vạn bốn ngàn Pháp tạng không bị đoạn dứt. (c) Môn không đoạn mất Tăng già, vì khiến các hàng trước địa và trên địa tu tập đại đạo kiến lập cung điện của pháp giới chân như, hai Tăng chánh, hậu an trụ không bị đoạn mất. Như trong Bản luận nói: “Phật chủng không đoạn dứt”.

Tụng về chúng sinh nói đến phần hạn là thế nào? Là nhằm đối trị, đoạn trừ những gì? Kiến lập Tam bảo không đoạn dứt chăng?

* Tụng nêu:

Gồm chung người ba tụ

Vì chưa được viên mãn

Đối trị bốn thứ đoạn

Tạo lập ba không dứt.

* Luận giải thích: Bồ-tát Mã Minh duyên chung với ba tụ để làm cảnh giới. Vì sao? Vì chưa chứng đắc quả viên mãn. Nhưng môn ba tụ có ba loại. Những gì là ba loại? Đó là: (1) Trước hàng thập Tín gọi là tụ tà định, vì không thể tin nơi nghiệp, quả báo. Ba Hiền và mười Thánh gọi là tụ chánh định, vì quyết định an lập phần vị không thoái chuyển. Mười loại tâm tín gọi là tụ bất định, vì hoặc tiến lên, hoặc thoái mất chưa quyết định. (2) Trước hàng thập tín và mười tâm tín gọi là tụ tà định, vì đều không có căn thiện. Quả vị Đại giác vô thượng gọi là tụ chánh định, vì đã hoàn toàn đầy đủ. Ba Hiền và mười Thánh gọi là tụ bất định, vì đều chưa đến quả cứu cánh. (3) Trước hàng thập Tín gọi là tụ tà định, vì không có tâm vui cầu. Mười Thánh gọi là tụ chánh định, vì đã chứng đắc chân thật. Thập Tín và ba Hiền gọi là tụ bất định, vì chưa thể chính thức chứng đạt.

Đấy gọi là ba loại. Bồ-tát Mã Minh cần đến môn thứ nhất kia, vì muốn đối trị bốn thứ đoạn dứt, kiến lập nghĩa của Tam bảo không đoạn dứt. Những gì là bốn thứ? Đó là: (1) Nghi hoặc đoạn: Vì tâm do dự không thể quyết định được, nên đã đoạn mất chủng tử Tam bảo. (2) Yếm xả đoạn: Vì tâm tham ái hữu nên không thể vui thích pháp, nên đã đoạn mất chủng tử Tam bảo. (3) Tà kiến đoạn: Vì tâm vọng tưởng nên không thể có chánh kiến, vì thế đoạn mất chủng tử Tam bảo. (4) Định chấp đoạn: Vì tâm chấp thật có nên không thể lìa bỏ chấp trước, do vậy đoạn mất chủng tử Tam bảo.

Đấy gọi là bốn thứ đoạn dứt. Đã nói về ý nghĩa căn bản của Luận, tiếp theo là mở bày phần Thể tổng quát.

* Bản luận viết: Có pháp có thể khởi tín căn của Đại thừa, vì vậy phải nên nói rõ.

* Luận giải thích: Trong văn này có hai môn. Những gì là hai môn? Đó là: (1) Môn chủ thể nhập. (2) Môn đối tượng nhập. Môn chủ thể nhập: Là đối với lý của đối tượng được nêu giảng luôn khéo hướng vào. Môn đối tượng nhập: Là khéo vì pháp kia tạo nơi chốn nương dựa. Có pháp là nêu tổng quát về mười sáu pháp của môn chủ thể nhập. Có thể khởi tín căn là nêu chung về tướng tác nghiệp của môn pháp. Ma-ha-diễn là nêu chung về Thể của mười sáu pháp nơi đối tượng nhập cùng với Thể của Ma-ha-diễn là bất nhị. Tín quyết định để tâm tiến lên, căn sinh trưởng để thực hành pháp. Nếu để hội nhập nơi lý thì không ra ngoài hai thứ ấy, nên gọi là Tín căn.

Lại nữa, tín tức là thập tín, căn nghĩa là từ Trụ Mới phát tâm cho đến Địa Pháp Vân. Vì sao? Vì tín ban đầu không có căn thì tiến thoái tùy theo duyên, ví như hoa Ban-đa-già-y-ma. Tín về sau chuyển dần đến bất động kiên cố hơn hẳn, ví như cây Kiện-cưu-adi-lễ. Tín căn có bao nhiêu nghĩa, các tướng ấy như thế nào?

* Tụng nêu:

Đều có mười thứ nghĩa

Là trừng tịnh, hạ chuyển…

* Luận giải thích: Tín có mười thứ nghĩa. Thế nào là mười thứ? Đó là: (1) Nghĩa lắng sạch: Là có khả năng khiến cho tâm tánh thanh tịnh sáng rõ. (2) Nghĩa quyết định: Là có khả năng khiến cho tâm tánh thuần nhất kiên cố. (3) Nghĩa hoan hỷ: Là có thể khiến đoạn trừ các loại ưu não. (4) Nghĩa không chán bỏ: Là có thể khiến đoạn trừ tâm lười biếng. (5) Nghĩa tùy hỷ: Là đối với các hành tác thù thắng của người khác luôn phát khởi đồng tâm. (6) Nghĩa tôn trọng: Là đối với những người có đức không hề sinh tâm niệm khinh thường. (7) Nghĩa tùy thuận: Là thuận theo những gì thấy nghe, không hề trái ngược. (8) Nghĩa tán thán: Là thuận theo những thắng hành kia, luôn chí tâm xưng tán. (9) Nghĩa bất hoại: Là chuyên ở nhất tâm không vọng tưởng lầm lỗi. (10) Nghĩa ái lạc: Là có thể khiến thành tựu tâm từ bi. Đấy gọi là mười thứ nghĩa của Tín.

Căn có mười thứ nghĩa. Thế nào là mười thứ? Đó là: (1) Nghĩa hạ chuyển: Là có khả năng trừ bỏ kiêu mạn. (2) Nghĩa ẩn mật: Là có khả năng giảng giải lý thâm diệu. (3) Nghĩa xuất sinh: Là khiến sinh trưởng vô số những công đức. (4) Nghĩa kiên cố: Là thảy đều thâu giữ, không khiến thiếu mất. (5) Nghĩa tương tục: Là chuyển biến cùng lớn thêm, không có đoạn dứt. (6) Nghĩa xuất ly: Là nơi từng địa từng địa chuyển thắng và dần dần xa lìa. (7) Nghĩa tập thành: Là tu tập vô số các pháp trong đạo phẩm. (8) Nghĩa mậu vinh: Là dùng các hành đức để trang nghiêm rất đáng yêu thích. (9) Nghĩa cụ túc: Là trong quả vị Đẳng giác nhân hành đều viên mãn. (10) Nghĩa cao thắng: Là ở nơi quả vị Diệu giác là tối thắng và rộng lớn không gì có thể vượt qua. Đấy gọi là mười thứ nghĩa của Căn.

Chủ thể nhập và đối tượng nhập có nhiều thứ sai biệt, trong phần lập nghĩa tự sẽ làm rõ.

Đã nói về Thể tổng quát, tiếp theo là nêu bày về sự kiến lập.

* Bản luận viết: Nói rõ có năm phần. Những gì là năm phần? Một là phần Nhân duyên. Hai là phần Lập nghĩa. Ba là phần Giải thích. Bốn là phần Tín tâm tu hành. Năm là phần Lợi ích khuyến tu.

* Luận giải thích: Vì sao theo thứ lớp như thế? Vì giáo pháp xuất hiện là theo pháp như vậy. Nghĩa này là thế nào? Là muốn hiển bày chỉ rõ về thuốc hay, vị tốt chính là do đối tượng được đối trị là bệnh tật chướng ngại mà xuất hiện. Giáo pháp của chủ thể hóa độ nhất định là do đối tượng được đối trị theo căn cơ mà phát khởi. Trước bệnh không có thuốc, tức trước căn cơ không có giáo pháp. Do đó, đầu tiên lập phần Nhân duyên, vì muốn chỉ rõ ngọc báu Như ý tuy chỉ là một, nhưng là căn bản của tất cả các thứ báu. Pháp Ma-ha-diễn tuy chỉ là một, nhưng là thể tánh của Hằng sa pháp môn, uy thế mạnh mẽ như Đại Long mới là đối tượng thọ dụng. Người trí lợi căn mới là đối tượng lãnh hội.

Thứ hai là lập phần Lập nghĩa: Vì muốn hiển bày chỉ rõ tạng báu Ma-ni tuy gồm đủ vô lượng muôn thứ châu báu, nhưng mở ra hàng ngàn lớp cửa thì chúng rồng mới là đối tượng nhận biết rõ. Pháp căn bản của Đại thừa tuy gồm đủ vô biên ngàn nghĩa nhưng giải thích riêng giảng nói rộng thì hàng độn căn mới là đối tượng cần phân minh.

Thứ ba là lập phần Giải thích: Vì muốn hiện bày làm rõ tuy trong tai mắt thấy nghe về diệu thuật của trận mưa báu, trong tâm tư hiểu biết rõ về đức tròn đủ vô tận mà còn xuất hiện tướng lưỡi uy nghiêm, nhập môn không tranh nhau mà khai thông cả xưa nay, không tiếp cận hay cách xa Đàn việt. Đạt được Tạng báu Như ý không do đi lên cung điện đài cao. Tuy trong miệng lưỡi trì tụng từ ngữ tôn kính của giáo nghĩa mà nơi tâm tư quán xét rộng lược về lý sâu xa. Nên siêng năng gia hạnh thêm nơi thắng tấn mới đối với kim cương không khởi tin tưởng kiên cố. Đạt được Tạng báu pháp giới nhưng không do khế hợp với lý huyền diệu.

Thứ tư là lập phần Tín tâm tu hành: Tuy mở ra pháp có rộng lược, chỉ rõ về cửa ngõ tiến nhập, nhưng hàng chúng sinh khiếp nhược, nghe những pháp môn nêu giảng rộng, tức không thể tăng tiến tu hành. Hàng chúng sinh độn căn nghe các pháp môn nói tóm lược, thì không thể hiểu rõ nên sinh tâm chán lìa. Những loại chúng sinh như vậy, nếu gặp được duyên khuyến khích chỉ dẫn, tức dần dần tiến tu, đầy đủ nhân của trăm hành đạt đến quả của vạn đức. Nếu không gặp được duyên khuyến khích thúc đẩy thì càng ngày càng thoái chuyển xa hơn, đem Hằng sa phiền não vào nơi vô tánh. Bồ-tát Mã Minh nhìn thấy lợi ích này, nên hiện bày chỉ rõ lợi ích để khuyến khích chỉ dẫn tu hành. Do đó, sau cuối là lập phần Lợi ích khuyến tu.

Do nhân duyên gì mà không tăng không giảm chỉ lập ra năm phần như vậy?

* Tụng nêu:

Thâu nơi Đại Tổng Địa

Gồm năm mươi pháp môn

Vì vậy không tăng giảm

Chỉ kiến lập năm phần.

* Luận giải thích: Nơi mười vạn tụng trong Luận Đại Tổng Địa do Bồ-tát Mã Minh soạn thuật đã lập chung năm mươi môn, phán định, giải thích về các thứ giáo lý. Nay trong Luận này, lập năm phần pháp môn, mỗi pháp môn đều gồm thâu mười môn kia, vì vậy không tăng không giảm, chỉ lập năm phần.

Đó gọi là Luận kia đã kiến lập. Mười môn như đối tượng giáo hóa viên mãn v.v… là thuộc về phần Nhân duyên. Mười môn như một trăm sáu mươi thứ Ma-ha-diễn v.v… là thuộc về phần Lập nghĩa. Mười môn như an lập, tùy thuận quyết trạch v.v… là thuộc về phần Giải thích. Mười môn như tu tập, quyết định, hướng nhập v.v… là thuộc về phần Tu hành. Mười môn như khuyến thỉnh, chê trách, dẫn dắt v.v… là thuộc về phần Khuyến tu.

Đã nói về môn kiến lập, tiếp theo nói về môn nêu chương và phán thuyết.

* Bản luận viết: Đầu tiên là nói về phần Nhân duyên.

Hỏi: Có nhân duyên gì khiến tạo ra Luận này?

Đáp: Về nhân duyên này tức có tám loại. Những gì là tám? Đó là: (1) Nhân duyên tổng tướng. Nghĩa là nhằm khiến cho chúng sinh xa lìa tất cả khổ, đạt được an vui rốt ráo, không phải là cầu danh lợi và sự cung kính của thế gian. (2) Vì muốn giải thích về nghĩa lý căn bản của Như Lai, khiến các chúng sinh hiểu biết đúng đắn không sai lầm. (3) Vì khiến chúng sinh thành tựu căn thiện, đối với giáo pháp Đại thừa có thể đảm nhận được tín tâm không thoái chuyển. (4) Vì khiến cho những chúng sinh có căn thiện nhỏ yếu tu tập phát khởi tín tâm. (5) Vì nhằm chỉ rõ phương tiện để tiêu trừ nghiệp chướng xấu ác, khéo bảo vệ tâm ấy xa lìa ngu si kiêu mạn, ra khỏi các thứ lưới tà. (6) Vì nêu ra phương pháp tu tập chỉ quán, nhằm đối trị tâm sai lầm của hàng phàm phu, Nhị thừa. (7) Vì nêu rõ phương tiện chuyên niệm sinh ở trước Phật, tất định không thoái chuyển tín tâm. (8) Vì bày tỏ lợi ích để khuyến khích tu hành. Có những nhân duyên như vậy, nên tạo ra Luận này.

* Luận giải thích: Trong tám nhân duyên ấy, thì một nhân duyên đầu làm nhân duyên chính cho phần Lập nghĩa. Hai nhân duyên tiếp theo làm nhân duyên chính cho phần Giải thích. Bốn nhân duyên tiếp nữa tức làm nhân duyên chính cho phần Tín tâm tu hành. Một nhân duyên sau cùng thì làm nhân duyên chính cho phần Lợi ích khuyến tu. Trong một nhân duyên đầu tức có bốn môn. Nơi bảy nhân duyên sau mỗi nhân duyên đều có đủ ba môn.

Những gì là bốn môn? Đó là: (1) Môn giáo pháp của chủ thể hóa độ xuất hiện hưng khởi. (2) Môn chúng sinh của đối tượng hóa độ có phần hạn. (3) Môn xuất hiện hưng khởi tác nghiệp thiện xảo. (4) Môn trừ bỏ tranh luận, phỉ báng.

Những gì là ba môn? Đó là ba môn ở trước. Nay sẽ nêu ra tướng, theo thứ lớp giải thích riêng. Nhân duyên tổng tướng là nêu tổng quát môn giáo pháp của chủ thể hóa độ xuất hiện hưng khởi. Nghĩa là vì làm nhân duyên chính cho Thể chung của tám loại căn bản, nên nói là Nhân duyên tổng. Vì làm nhân duyên chính cho hai mươi bốn thứ phần tướng ly biệt, nên nói là Nhân duyên tướng. Đối với ba mươi hai thứ pháp tướng tổng biệt này, trong phần Lập nghĩa tự chúng sẽ nói rõ. “Nhằm khiến cho chúng sinh” là nêu tổng quát về môn chúng sinh của đối tượng được hóa độ có phần hạn. Nghĩa là gồm thâu mười ức tám vạn sáu ngàn loại chúng sinh thuộc tụ tà định, ba mươi loại chúng sinh thuộc tụ bất định, một trăm hai mươi loại chúng sinh thuộc tụ chánh định. “Xa lìa tất cả khổ, đạt được an vui rốt ráo” là nêu tổng quát về môn xuất hiện hưng khởi tác nghiệp thiện xảo. Nghĩa là duyên nơi ba tụ để làm cảnh giới, tuyên thuyết mở bày chỉ rõ về pháp yếu vi diệu, nhằm khiến cho hết thảy vô lượng chúng sinh xa lìa các khổ của sinh diệt, vô thường, đạt được an lạc của tổng tướng căn bản. “Không phải là cầu danh lợi và sự cung kính của thế gian”, là nêu tổng quát về môn trừ bỏ tranh luận, phỉ báng. Nghĩa là chúng sinh ngu tối dấy khởi nghi ngờ như vầy: Bồ-tát Mã Minh ở nơi vị là địa Bất động, chưa đến địa Pháp vân, mà duyên với các vị Bồ-tát ở địa trên để làm cảnh giới của đối tượng được hóa độ ấy, tức chỉ hiển bày sự thù thắng của chính mình, là cầu mong danh lợi… Chỉ có những lời nói hư giả không có nghĩa thật. Há có Bồ-tát ở địa dưới tức nên giáo hóa được Bồ-tát ở địa trên sao? Do đó, Bồ-tát Mã Minh vì nhằm trừ dứt những nghi vấn không tin như thế, nên tự thông tỏ mà nói: Tôi từ kiếp lâu xa đã thành tựu quả vị Chánh giác rồi, nhưng để hỗ trợ sự nghiệp giáo hóa tạo lợi ích cho quần sinh, vì làm viên mãn bản nguyện nên theo phương tiện thị hiện ở phần vị đang tu tập, không phải cho là vì mong cầu danh lợi v.v… mà nêu bày như vậy. Đã nói về Nhân duyên thứ nhất.

Nói Nhân duyên thứ hai là giải thích về nghĩa lý căn bản của Như Lai, tức nêu chung về môn giáo pháp của chủ thể hóa độ đã xuất hiện hưng khởi. Nghĩa là nhân duyên này có thể làm nhân duyên chính để hiển thị chánh nghĩa đối trị tà chấp, nên nói là nghĩa lý căn bản của Như Lai. Vì sao? Vì hết thảy chư Như Lai nơi ba đời trong mười phương, không có một vị Phật nào là không thuận theo một tâm căn bản làm thành hai môn với bảy thứ đối trị để thành tựu Chánh giác. “Khiến các chúng sinh” là nêu chung về môn chúng sinh của đối tượng được hóa độ có phần hạn. Nghĩa là gồm thâu mười ức tám vạn sáu ngàn loại chúng sinh thuộc tụ tà định. “Hiểu biết đúng đắn không sai lầm” là nêu chung về môn xuất hiện hưng khởi tác nghiệp thiện xảo. Nghĩa là duyên theo chúng sinh cuồng loạn thuộc tụ tà định để làm cảnh giới, tuyên thuyết, mở bày, chỉ rõ về pháp thâm diệu của chánh nghĩa để đối trị tà chấp, điều chỉnh vô số thứ hiểu biết sai lạc, phá bỏ hằng sa thứ kiến giải trái ngược, đoạn trừ chướng ngại bất tín của hạng Xiển-đề, đều khiến hướng nhập nơi đạo lớn của thập tín. Đã nói về Nhân duyên thứ hai.

Nhân duyên thứ ba là làm nhân duyên chính cho sự phân biệt phát khởi hướng về tướng của đạo. Đây gọi là môn giáo pháp của chủ thể hóa độ xuất hiện hưng khởi. Nghĩa là ba loại phát tâm. “Chúng sinh thành tựu căn thiện” là nêu chung về môn chúng sinh của đối tượng được hóa độ có phần hạn. Nghĩa là gồm thâu các chúng sinh thuộc phẩm thượng nơi thập tín – ba phẩm nơi thập giải – ba phẩm nơi thập hạnh – ba phẩm nơi thập hướng và ba phẩm nơi thập địa. “Đối với giáo pháp Đại thừa, có thể đảm nhận được, tín tâm không thoái chuyển” là nêu chung về môn xuất hiện hưng khởi tác nghiệp thiện xảo. Nghĩa là duyên với chúng sinh của hai tụ để làm cảnh giới, tuyên thuyết, mở bày, chỉ rõ về ba loại phát tâm, khiến vượt quá tự phần đạt được phần thắng tấn. Đã nói về Nhân duyên thứ ba.

Nhân duyên thứ tư là làm nhân duyên chính cho phần Tín tâm tu hành, gồm có bốn loại tín tâm và bốn loại tu hành. Đấy gọi là môn giáo pháp của chủ thể hóa độ đã xuất hiện hưng khởi. “Chúng sinh có căn thiện nhỏ, yếu” là nêu chung về môn chúng sinh của đối tượng được hóa độ có phần hạn. Nghĩa là gồm thâu được chúng sinh phẩm trung nơi năm tâm trước của vị thập tín. Vì đã đạt được năm tâm trước, tức không phải hoàn toàn không có căn thiện, nên nói là căn thiện nhỏ, yếu. Vì chưa được năm tâm sau nên không thể gồm đủ, tức không gọi là thành tựu. “Tu tập phát khởi tín tâm” là nêu chung về môn xuất hiện hưng khởi tác nghiệp thiện xảo. Nghĩa là có thể khiến thành tựu năm tín tâm sau. Đã nói về Nhân duyên thứ tư.

Nhân duyên thứ năm là môn sau cùng của phần Tín tâm tu hành tăng tiến. Lại nữa, nếu người tuy tín tâm tu hành, cho đến có thể tránh khỏi các chướng ngại, căn thiện tăng trưởng nên làm nhân duyên chính, đấy gọi là môn giáo pháp của chủ thể hóa độ đã xuất hiện hưng khởi. Chúng sinh trong đây đã gồm thâu được tâm đầu tiên của vị thập tín là chúng sinh phẩm hạ. Đấy gọi là môn chúng sinh của đối tượng được hóa độ có phần hạn. “Tiêu trừ nghiệp chướng xấu ác…” là nêu chung về môn xuất hiện hưng khởi tác nghiệp thiện xảo. Nghĩa là nêu ra các phương tiện như lễ bái, sám hối v.v… để tiêu trừ vô số biển nghiệp chướng. Đã nói về Nhân duyên thứ năm.

Nhân duyên thứ sáu là nói về phương pháp tu tập chỉ và quán, tức nêu chung về môn giáo pháp của chủ thể hóa độ đã xuất hiện hưng khởi. Nghĩa là làm nhân duyên chính cho môn tu hành chỉ và quán của phần Tín tâm tu hành. “Hàng phàm phu, Nhị thừa” là nêu chung về môn chúng sinh của đối tượng được hóa độ có phần hạn. Nghĩa là gồm thâu được chúng sinh phẩm hạ có hai tâm của vị thập tín. Tụ tà định gồm thâu hết thảy hàng Nhị thừa. “Đối trị tâm sai lầm” là nêu chung về môn xuất hiện hưng khởi tác nghiệp thiện xảo. Nghĩa là dùng hai luân thông hợp để đối trị những lỗi lầm do kiến chấp của hàng phàm phu, Nhị thừa. Đã nói về Nhân duyên thứ sáu.

Nhân duyên thứ bảy là nhân duyên sau cùng của phần Tín tâm tu hành. Lại nữa, chúng sinh mới học pháp này cho đến cứu cánh tức được sinh và trụ nơi tụ chánh định, nên làm nhân duyên chính. Đấy gọi là môn giáo pháp của chủ thể hóa độ đã xuất hiện hưng khởi. Chúng sinh trong đây đã gồm thâu được bốn tâm trước của vị thập tín, lại không thể đạt phần thắng tấn, nên là chúng sinh phẩm hạ. Nghĩa là trụ ở thế giới này, thành tựu tín tâm là hết sức sợ hãi. Đấy gọi là môn chúng sinh của đối tượng được hóa độ có phần hạn. “Tất định không thoái chuyển tín tâm” là nêu chung về môn xuất hiện hưng khởi tác nghiệp thiện xảo. Nghĩa là dùng diệu lực của duyên thù thắng để an lập tụ chánh định. Đã nói về Nhân duyên thứ bảy.

Nhân duyên thứ tám là làm nhân duyên chính cho phần bày tỏ lợi ích để khuyến khích tu hành. Đấy gọi là môn giáo pháp của chủ thể hóa độ đã xuất hiện hưng khởi. Chúng sinh trong đây đã gồm thâu mười ức tám vạn sáu ngàn loại các chúng sinh thuộc tụ tà định. Đó gọi là môn chúng sinh của đối tượng được hóa độ có phần hạn. “Vì bày tỏ lợi ích để khuyến khích tu hành” là nêu chung về môn xuất hiện hưng khởi tác nghiệp thiện xảo. Nghĩa là vì nhằm giảng nói về những công đức làm tăng trưởng sự vui thích mong muốn nên chỉ rõ những lỗi lầm tai họa khiến giác ngộ để lìa bỏ. Đã nói về Nhân duyên thứ tám.

Tất cả các giáo pháp đều gồm hết nơi phần Lập nghĩa. Tất cả các căn cơ của đối tượng được hóa độ đều gồm hết nơi phần Nhân duyên thứ nhất, vì sao phân ra ba phần để giải thích riêng, lập ra bảy nhân duyên để giải thích rộng như vậy? Vì muốn hiển bày chỉ rõ về lợi – độn, rộng – lược, tổng – biệt vốn chẳng đồng. Do đâu người của hàng Nhị thừa đã nhận lấy lần nữa về bốn xứ? Do muốn hiển thị chúng sinh thuộc hàng Nhị thừa là thấp kém nhỏ hẹp, phát tâm Bồ-đề hướng về đạo vô thượng là vô cùng khó khăn, không thể vượt quá các loại chúng sinh khác. Vì sao chúng sinh thuộc tu tà định còn lại chỉ nhận lấy nơi ba xứ? Vì muốn làm rõ các chúng sinh còn lại có những lỗi lầm nhưng nhẹ hơn so với hàng Nhị thừa. Do đâu người thuộc tụ bất định thì nhận lấy riêng nơi ba phẩm? Do muốn chỉ rõ chúng sinh thuộc tụ bất định, căn tánh ám độn, kém mỏng, phát tâm quyết định hướng về đạo vô thượng, là vô cùng khó, không thể vượt qua so với chúng sinh thuộc tụ chánh định. Vì sao người thuộc tụ chánh định không phân biệt ba phẩm mà gồm thâu chung hết thảy? Vì muốn hiển bày chỉ rõ chúng sinh thuộc tụ chánh định có những lỗi lầm nhưng nhẹ hơn so với chúng sinh thuộc tụ bất định.

Có nhân duyên gì không tăng không giảm nên chỉ lập thành tám loại nhân duyên? Vì sao theo thứ lớp như vậy?

* Tụng nêu:

Thâu chung Đại Tổng Địa

Có tám mươi nhân duyên

Pháp tu hành chuyển thắng

 Theo thứ lớp như thế.

* Luận giải thích: Trong mười vạn tụng nơi Luận Đại Tổng Địa do Bồ-tát Mã Minh soạn thuật, đã lập chung tám mươi nhân duyên để làm duyên do của Luận. Nay trong Luận này có tám loại nhân duyên, mỗi loại đều gồm thâu mười thứ nhân duyên của Luận kia, nên không thăng không giảm, chỉ lập tám loại. Do nghĩa ấy nên nói là Như vậy v.v… Chữ v.v… là gồm thâu chung tám mươi thứ nhân duyên kia.

Thứ lớp của nhân duyên nơi hành pháp là theo pháp như vậy. Nghĩa là loại trừ chướng ngại bất tín của hạng Xiển-đề thì được tâm của hàng thập tín. Loại trừ chướng ngại chấp ngã thì được tâm của hàng thập trụ. Loại trừ chướng ngại sợ khổ thì được tâm của hàng thập hạnh. Loại trừ chướng ngại lìa bỏ thì được tâm của hàng thập hồi hướng. Đoạn dứt mười thứ chướng ngại như tánh của hàng phàm phu v.v… thì chứng được mười thứ địa như địa Hoan Hỷ v.v…

Đã nói về tám nhân duyên. Tiếp theo là nói về bốn loại căn.

* Bản luận viết: Hỏi: Trong Khế kinh có đủ những pháp này, đâu cần phải nêu bày lần nữa? Đáp: Trong Khế kinh tuy có những pháp ấy, nhưng vì căn hành của chúng sinh không giống nhau, duyên thọ nhận lý giải đều riêng khác. Nghĩa là lúc Đức Như Lai còn tại thế, các chúng sinh thuộc hàng lợi căn, tức có thể vì họ thuyết giảng về người có sắc tâm hành nghiệp thù thắng. Viên âm đồng nhất diễn nêu thì dị loại cùng lãnh hội, vì vậy không cần đến Luận. Sau khi Đức Như Lai diệt độ, hoặc có chúng sinh có thể dùng tự lực nghe rộng mà nhận hiểu. Hoặc có chúng sinh cũng dùng tự lực nghe ít mà hiểu nhiều. Hoặc có chúng sinh không đủ tâm lực, nhưng nhờ vào luận rộng mà có thể hiểu biết. Tự có chúng sinh lại cho luận rộng văn nhiều là phiền phức, tâm ưa thích tổng trì, ít văn mà gồm thâu nhiều nghĩa, có thể nhận hiểu. Như vậy Luận này là muốn thâu tóm chung về vô biên nghĩa nơi pháp thâm diệu rộng lớn của Đức Như Lai, nên nói Luận này.

* Luận giải thích: Trong văn ở đây có hai môn. Những gì là hai môn? Đó là: (1) Môn nêu vấn nạn không khác với những điều đã nói. (2) Môn nêu rõ thời gian, phần vị để giải quyết nghi vấn.

Hỏi: Trong Khế kinh có đủ những pháp này, đâu cần phải nêu bày lần nữa? Tức là môn nêu vấn nạn. Nghĩa là trong một trăm Khế kinh như Quang Minh Đại Giác v.v… đã mở bày chỉ rõ về tất cả vô lượng Pháp tạng, tùy theo lượng căn cơ để thâu nhận lợi ích không có thiếu sót. Kẻ sĩ bậc trung đâu cần phải nhọc tạo ra Luận này, truyền bá lần nữa về pháp kia, lại không tăng thêm sức để hiển bày. Nay soạn thuật Luận này nêu giảng lại pháp kia, từng không có các sự việc như cầu được xưng tán chăng? Tin tưởng tôn kính rốt cùng là không đạt được hết diệu lý ấy. Đấy gọi là môn nêu vấn nạn không khác với những điều đã nói.

Đáp: “Trong Khế kinh tuy có những pháp ấy, nhưng vì căn hành của chúng sinh không giống nhau, duyên thọ nhận lý giải đều riêng khác”, là nêu chung về môn giải quyết nghi vấn. Đó gọi là Bồ-tát Mã Minh đã tự thông hiểu mà nói. Hết thảy giáo lý của chư Phật nơi ba đời tự nhiên thường trụ trong một vị bình đẳng, không có dời chuyển, không có khởi diệt, vì vậy tuy chỗ bày tỏ có sai biệt, văn nghĩa chẳng đồng, nhưng giáo pháp ấy chỉ là một vị, chỉ là bình đẳng, hoặc không phân chia, hoặc không riêng khác. Nhưng căn tánh của chúng sinh có dị biệt, lợi độn không như nhau. Tâm hành khác nhau, tức rộng lược chẳng giống. Căn cơ của đối tượng được hóa độ đã khác, thì người của chủ thể hóa độ không thể tự đồng, khiến thọ nhận tên gọi của giáo pháp đều khác, khiến lãnh hội nhân duyên của văn nghĩa đều riêng. Nghĩa là hoặc có chúng sinh dựa vào Già-đà-tu-lê-tỳ-la của Phật mà được hiểu rõ. Hoặc có chúng sinh dựa vào Già-đà-thi-tu-lê-tỳ-la của Bồ-tát mới được hiểu rõ. Do đó, vì hạng người này nên cần phải tạo luận.

Lại nữa, lúc Đức Như Lai còn ở thế gian, thì đối tượng được hóa độ là thanh tịnh, chủ thể hóa độ là viên mãn, với tám vạn bốn ngàn loại sắc, bốn loại tâm biến trí, mười loại tác nghiệp, mười loại thù thắng, sáu mươi tám Phạm âm trọn vẹn và tám mươi tám diệu âm, diễn giảng nơi một thời không có trước sau, vô lượng vô biên các chủng loại sai khác thảy đều lãnh hội. Hoặc có chúng sinh nhìn thấy sắc tướng vi diệu của Phật mà được hiểu rõ. Hoặc có chúng sinh tư duy về tâm niệm của Phật mà được hiểu rõ. Hoặc có chúng sinh quán xét mười nghiệp, mười sự thù thắng của Như Lai mà được hiểu rõ. Hoặc có chúng sinh lắng nghe Phạm âm, diệu âm viên mãn của Phật mà được hiểu rõ. Như vậy, bình đẳng sáng rõ thông đạt thì không cần đến Luận. Sau khi Đức Phật diệt độ, thì đối tượng được hóa độ tức tạp loạn, chủ thể hóa độ tức thiếu sót, cơ duyên của Kinh Luận khác, căn tánh rộng lược riêng. Căn nghĩa là bốn thứ căn, cơ duyên tức là cơ duyên của ba thừa. Những gì là bốn thứ căn? Đó là: (1) Căn tự lực mở rộng. (2) Căn tự lực tóm lược. (3) Căn không có sức phải dựa vào kẻ khác để mở rộng. (4) Căn không có sức phải dựa vào kẻ khác để tóm lược. Trong bốn thứ căn tánh như vậy, hai thứ đầu là chúng Tu-đa-la (Khế kinh). Hai thứ sau là chúng Ưu-bà-đề-da (Luận nghị).

Vì sao trong môn Nhân duyên thì đối tượng được hóa độ viên mãn, còn trong môn Căn tánh thì đối tượng được hóa độ lại nhỏ thiếu? Vì muốn hiển bày chỉ rõ ý lạc của Tăng đoàn là thanh tịnh không có giới hạn. Vì muốn làm rõ các loại chúng sinh thọ giáo, thực hành có phần hạn. Do nhân duyên gì mà xuất hiện hưng khởi hai lớp giáo pháp rộng lược? Tướng ấy là thế nào?

* Tụng nêu:

Vì bản nguyện hệ thuộc

Xuất hưng pháp môn này

Khế kinh Lăng Già Vương

Giảng giải hiện bày rõ.

* Luận giải thích: Do hệ thuộc nơi lực của nhân duyên, nên xuất hiện hưng khởi hai lớp pháp môn rất sâu xa. Vì sao? Vì ở trong Khế kinh đã thuyết giảng hiển bày phân minh. Đó là trong Khế kinh Lăng Già Vương đã giảng nói như vầy: Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi: Ta nhớ về vô lượng biển kiếp nơi quá khứ, hơn năm trăm đời làm Tiên nhân nhẫn nhục, ở chốn núi rừng chuyên tâm tu hành vô số các thứ pháp thanh tịnh như hạnh thiểu dục, tri túc, cùng bốn Thánh chủng. Lúc ấy, có một con rắn lớn từ trên đỉnh núi bò xuống, đến gần chỗ Ta, nghe được những điều Ta đọc tụng, tức thì gieo mình lễ bái sám hối. Xong rồi, dùng đầu xoáy vào đất, cung kính làm văn, nói kệ:

Con đời quá khứ

Tiên nhân nhẫn nhục

Trụ tại núi này

Sáu thời hành đạo.

Nhất thời sân giận

Sức của nhân duyên

Nay làm thân rắn

Thường chịu khổ lớn.

Nếu sau mạng chung

Được làm thân người

Con là đệ tử

Theo Ngài tu hành.

Lời Ngài đọc tụng

Con luôn tụng đọc

Vì vậy con nay

Khởi đại hổ thẹn.

Nói kệ này xong lập tức mạng chung, về sau được làm thân người tức là đệ tử của Ta. Bấy giờ, lời phát nguyện là cùng hỗ tương hệ thuộc. Nghĩa là Ta phát nguyện như vầy: Tôi nếu chứng đắc đạo quả vô thượng sẽ tuyên thuyết chín mươi Lạc-xoa nêu bày mở rộng về Khế kinh, tạo lợi ích cho chúng sinh có ý lạc rộng lớn. Tuyên thuyết mười Lạc-xoa, nêu bày tóm lược về Khế kinh, tạo lợi ích cho chúng sinh có ý lạc tổng trì. Tức đệ tử của Ta phát nguyện như vầy: Sau khi Thầy diệt độ, con sẽ tạo tác chín mươi bộ nêu giảng rộng về Ưu-bà-tát-đề-da, đem lại lợi ích cho chúng sinh có ý lạc rộng lớn. Tạo tác mười bộ, nêu giảng tóm lược về Ưu-bàtát-đề-da, đem lại lợi ích cho chúng sinh có ý lạc tổng trì. Vì nhân duyên này, nên nay Ta tuyên thuyết các biển Khế kinh. Do nhân duyên này, nên sau khi Ta diệt độ, đệ tử của Ta hiện tạo tác luận bàn về giáo pháp.

Đã nói về phần Nhân duyên. Tiếp theo là nói về phần Lập nghĩa. Danh tự của pháp môn trong phần Lập nghĩa, số ấy có bao nhiêu và tướng ấy là thế nào?

* Tụng nêu:

Có ba mươi ba loại

Mười sáu pháp sở nhập

Mười sáu môn năng nhập

Cùng không hai riêng khác.

* Luận giải thích: Danh số của pháp môn trong phần Lập nghĩa, gồm chung có ba mươi ba loại sai biệt. Những gì là ba mươi ba loại sai biệt? Đó là mười sáu pháp căn bản là đối tượng nhập và mười sáu môn là chủ thể nhập, cùng Ma-ha-diễn không hai, tất cả đều sai biệt. Vì sao Ma-ha-diễn trở thành mười sáu loại? Vì nơi Ma-ha-diễn căn bản đã chia ra tám loại. Trong ba nghĩa lớn của pháp giới nhất tâm đều chia làm hai loại. Vì sao môn chủ thể nhập trở thành mười sáu loại? Vì nơi pháp giới nhất tâm và ba nghĩa lớn đều có hai loại, hoặc đều chia ra hai loại môn. Đấy gọi là số căn bản.

Đã nói về pháp số. Tiếp theo là sẽ giải thích riêng.

* Bản luận viết: Ma-ha-diễn là tổng, nêu bày có hai loại. Những gì là hai loại? Đó là: (1) Pháp. (2) Nghĩa. Nói là pháp tức là tâm chúng sinh. Tâm ấy thì gồm thâu tất cả pháp thế gian và pháp xuất thế gian. Dựa vào tâm ấy để hiển bày chỉ rõ về nghĩa của Đại thừa (Ma-ha-diễn). Vì sao? Vì tâm ấy là tướng chân như, tức làm rõ Thể của Đại thừa. Do tâm ấy là tướng nhân duyên sinh diệt, nên có thể chỉ rõ về tướng dụng nơi tự thể của Đại thừa.

Nói là nghĩa tức có ba loại. Những gì là ba loại? Đó là: (1) Thể đại. Nghĩa là tất cả các pháp đều là một chân như bình đẳng không tăng không giảm. (2) Tướng đại. Nghĩa là Như Lai tạng gồm đủ vô lượng tánh công đức. (3) Dụng đại. Nghĩa là có thể phát sinh tất cả nhân quả thiện của thế gian và xuất thế gian. Là đối tượng hành hóa căn bản của tất cả chư Phật. Tất cả Bồ-tát đều nương nơi pháp này mà đạt đến địa Như Lai.

* Luận giải thích: Trong đoạn văn này có ba môn. Những gì là ba môn? Đó là: (1) Môn tổng thể căn bản của đối tượng nhập. (2) Môn biệt tướng của chủ thể nương dựa hướng nhập. (3) Môn thông đạt phép tắc bất động.

Hai thứ môn đầu có hai lớp, là trụ nơi tư duy nên quán xét. Ma-ha-diễn là tổng, tức là môn tổng thể căn bản của đối tượng nhập. Tức là trong Ma-ha-diễn căn bản có tám loại sai biệt. Những gì là tám? Đó là: (1) Ma-ha-diễn của một thể một tâm. (2) Maha-diễn của ba phần từ một tâm. (3) Ma-ha-diễn có vô lượng vô biên các pháp sai biệt nơi thể đại không tăng không giảm. (4) Maha-diễn tịch tĩnh không tạp loạn chỉ một vị bình đẳng nơi thể đại không tăng không giảm. (5) Ma-ha-diễn của Như Lai tạng gồm đủ công đức nơi tướng đại. (6) Ma-ha-diễn gồm đủ tánh công đức nơi tướng đại. (7) Ma-ha-diễn có thể phát sinh tất cả nhân quả của thế gian nơi dụng đại. (8) Ma-ha-diễn có thể phát sinh tất cả nhân quả thiện xuất thế gian nơi dụng đại.

Đấy gọi là tám loại. Tám loại pháp Ma-ha-diễn như vậy đều từ chủ thể hội nhập để kiến lập tên gọi. Nghĩa là dùng một Thể một tâm làm môn nơi đối tượng hướng nhập, nên gọi là Ma-ha-diễn một thể một tâm. Cho đến do có thể phát sinh tất cả nhân quả thiện của xuất thế gian nơi dụng đại để làm môn nơi đối tượng hướng nhập, nên gọi là Ma-ha-diễn có thể phát sinh tất cả nhân quả thiện của xuất thế gian nơi dụng đại. Ví như Chuyển luân Thánh vương. Nghĩa là như Luân vương thuận theo tướng bánh xe của mình để kiến lập tên gọi, pháp Ma-ha-diễn cũng lại như vậy, thuận theo tướng của môn để kiến lập tên gọi. Trong Khế kinh Đại Giác nói như vầy: “Đức Phật nói với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi: Hãy lắng nghe và khéo tư duy, ghi nhớ. Ta sẽ vì ông phân biệt giải nêu về tám loại thân pháp. Những gì là tám loại? Đó là: (1) Thân pháp hướng nhập một Thể. (2) Thân pháp của ba thứ tự hướng nhập. (3) Thân pháp hướng nhập Thể lớn của các pháp sai biệt không tăng không giảm. (4) Thân pháp hướng nhập Thể lớn của một tướng thuần tịnh, không xen tạp, không tăng không giảm. (5) Thân pháp hướng nhập Tướng lớn của Như Lai tạng gồm đủ công đức được hiển bày rõ. (6) Thân pháp hướng nhập Tướng lớn của tánh công đức viên mãn được hiển bày rõ. (7) Thân pháp hướng nhập Dụng lớn xuất sinh nhân quả của thế gian tự tại vô ngại. (8) Thân pháp hướng nhập Dụng lớn, xuất sinh nhân quả vi diệu của xuất thế gian tự tại vô ngại. Đấy gọi là tám loại, cho đến nói rộng”.

Bồ-tát Mã Minh đã chính thức gồm thâu văn ấy, vì vậy thuyết giảng Ma-ha-diễn là tổng. Tổng nói đến trong này là tổng thể ở trong hai xứ. Nghĩa là hướng lên trên và xuống dưới. Trong Luận Đại Tổng Địa đã chia ra tám mươi môn, giải thích rộng về pháp Ma-ha-diễn căn bản. Nay đều gồm thâu mười thành một loại, nên chỉ lập tám pháp. Do nơi nghĩa nào mà có tám loại nên biết? Biệt tướng của chủ thể nhập có tám loại. Tổng thể của đối tượng nhập có tám loại nên biết. Tướng pháp của tám thứ chủ thể nhập, đối tượng nhập hơn kém, rộng hẹp, tướng ấy là thế nào?

* Tụng nêu:

Bình đẳng, bình đẳng một

Đều không có sai khác

Vì gồm thâu các pháp

Cuối cùng không tạp loạn.

* Luận giải thích: Như vậy mười sáu pháp tướng của chủ thể nhập và đối tượng được nhập, đầy đủ khắp chốn, bình đẳng bình đẳng, một vị, một tướng đều không sai biệt. Vì sao? Vì đều gồm thâu các pháp hoàn toàn rốt ráo. Nếu như thế thì gốc ngọn cùng với chung riêng thảy đều trộn lẫn nên thành tạp loạn chăng? Chung cuộc thì gốc ngọn ấy không cùng tạp loạn, môn riêng chung kia trước sau chẳng phải là không có. Nhưng mỗi mỗi cùng riêng biệt thảy đều bằng nhau về lượng, nên nói là bình đẳng. Không phải cho là một pháp nên xưng là bình đẳng.

Đã nói về lớp thứ nhất. Trong bốn loại pháp thuộc lớp thứ hai đều có đủ ba môn. Những gì là ba môn? Đó là: (1) Môn quyết định của pháp căn bản đã nương dựa. (2) Môn căn bản đã gồm thâu phần ngọn có hạn lượng. (3) Môn kiến lập hai loại Ma-ha-diễn.

Nói là pháp nghĩa là tâm chúng sinh, tức là môn quyết định của pháp căn bản đã nương dựa. Nay cần phải dựa theo tụng chính về tổng trì để nêu bày làm rõ. Tướng ấy như thế nào?

* Tụng nêu:

Chúng là bốn chúng diễn

Sinh là bốn loại sinh

Là một pháp giới tạng

Khắp nơi tám xứ kia.

* Luận giải thích: Chúng có bốn loại. Những gì là bốn loại? Đó là: (1) Tất cả chúng Như Lai. (2) Tất cả chúng Bồ-tát. (3) Tất cả chúng Thanh văn. (4) Tất cả chúng Duyên giác. Đấy gọi là bốn chúng.

Sinh có bốn loại. Những gì là bốn loại? Đó là: (1) Noãn sinh. (2) Thai sinh. (3) Thấp sinh. (4) Hóa sinh. Đấy gọi là bốn sinh.

Số vượt hơn nên gọi là chúng, thọ sinh nên là sinh, là tâm của một pháp giới. Trong tám xứ kia đều hiện bày cùng khắp tròn đủ, không thể phân tích, không thể chia lìa, chỉ là một Thể, chỉ là một tướng. Do bốn loại chúng gồm thâu hết thảy các Thánh, vì bốn loại sinh gồm thâu tất cả các phàm, Luận sư Mã Minh vì làm rõ một tâm rộng lớn viên mãn, gọi là chúng sinh. Trong Khế kinh Thuận Lý giảng nói như vầy: “Bấy giờ, Đức Thế Tôn phóng ra ánh sáng lớn, hiển hiện thần lực xong, tức nói với Phật tử: Hãy lắng nghe kỹ cùng khéo tư duy ghi nhớ. Ta sẽ vì các ông phân biệt giải nói về một tạng pháp giới. Này thiện nam! Một tạng pháp giới đó là đối khắp các chúng Như Lai, các chúng Bồ-tát, các chúng Thanh văn, các chúng Duyên giác và các hàng phàm phu, không nơi nào là không thông suốt, không chốn nào là không đến được, không nẻo nào là không ứng hợp, vì vậy gọi là một tạng pháp giới”.

Nay gồm thâu văn này nên gọi là chúng sinh. Nơi sáu vạn kệ tụng trong Luận Bản Tạng của Bồ-tát Mã Minh đã phân ra mười loại môn giải thích riêng nêu giảng rộng. Nay lược gồm thâu nên chỉ nói là chúng sinh. Đã nói về môn quyết định của pháp căn bản đã nương dựa. Tâm ấy thì gồm thâu tất cả pháp thế gian và pháp xuất thế gian, tức là môn căn bản đã gồm thâu phần ngọn có hạn lượng. Tướng ấy như thế nào?

* Tụng nêu:

Là một tâm pháp giới

Thâu chung hai loại môn

Gọi thâu thế – xuất thế

Tạo pháp giới là pháp.

* Luận giải thích: Một tâm pháp giới gồm thâu chung tất cả pháp của môn sinh diệt, vì vậy gọi là gồm thâu pháp thế gian. Gồm thâu chung tất cả pháp của môn chân như, vì thế gọi là gồm thâu pháp xuất thế gian. Đều làm thành pháp giới nên gọi là pháp. Trong Khế kinh tự thể nêu bày như vầy: “Quảng Đại Thần Vương tức gồm thâu tất cả các loại vô minh, tất cả các loại pháp nhiễm, tất cả các loại phẩm pháp bạch tịnh. Lại gồm thâu tất cả các pháp thanh tịnh, tất cả các pháp vô ngại, tất cả pháp giải thoát, tất cả pháp lìa dứt, tất cả pháp đầy đủ, tất cả các pháp tịch tĩnh. Nhưng Quảng Đại Thần Vương không phải là pháp thế gian, không phải là pháp xuất thế gian”. Nay gồm thâu văn này nên gọi là gồm thâu. Trong tám vạn kệ tụng nơi Luận Quy Tông của Bồ-tát Mã Minh đã phân ra hai mươi môn, giảng giải phân minh tường tận. Trong đây chỉ tóm lược nên nêu bày như vậy.

Đã nói về môn căn bản gồm thâu phần ngọn có hạn lượng. Dựa vào tâm ấy để hiển bày chỉ rõ về nghĩa của Ma-ha-diễn (Đại thừa), tức là môn kiến lập hai loại Ma-ha-diễn. Tướng ấy như thế nào?

* Tụng nêu:

Nêu chung hai thứ môn

Nói dựa nơi tâm này

Nêu chung hai pháp gốc

Chỉ rõ Ma-ha-diễn.

* Luận giải thích: Nêu tổng quát về hai thứ môn của chủ thể nhập, nên nói là dựa vào tâm ấy. Nêu tổng quát về hai loại pháp của đối tượng nhập, nên nói là hiển bày chỉ rõ về nghĩa của Ma-hadiễn. Thế nào là hai môn? Đó là: (1) Môn tâm chân như. (2) Môn tâm sinh diệt. Thế nào là hai pháp gốc? Đó là: (1) Ma-ha-diễn của một thể. (2) Ma-ha-diễn của tự thể – tự tướng – tự dụng. Như vậy, hai loại pháp căn bản của đối tượng nhập, hoặc thuận theo chủ thể nhập để kiến lập tên gọi. Nghĩa là dùng Thể chân như làm môn của Ma-ha-diễn là đối tượng hướng nhập, nên gọi là Thể. Dùng tự tướng nơi tâm của Bản giác làm môn của Ma-ha-diễn là đối tượng hướng nhập, nên gọi là Tự. Vì môn chủ thể nhập có hai loại riêng, nên pháp căn bản của đối tượng nhập có hai loại cần nhận biết. “Vì sao”: Tức là lời thỉnh vấn. Nghĩa là do nơi nghĩa nào mà trong câu “Dựa vào tâm ấy” có đủ hai thứ môn. Trong câu “Hiển bày chỉ rõ về nghĩa của Ma-ha-diễn” có đủ hai loại pháp căn bản? Đáp: Tạo nên một tâm pháp giới thuộc môn chân như, tức là hiện rõ pháp Ma-ha-diễn của một thể. Tạo nên một tâm pháp giới thuộc môn sinh diệt, là có thể nêu rõ pháp Ma-ha-diễn của tự thể – tự tướng – tự dụng. Do nghĩa này nên biết đều có đủ hai môn, hai pháp.

Trong Khế kinh Đại Giác thuyết giảng như vầy: “Lại nữa, này Văn-thù-sư-lợi! Có hai loại pháp rất sâu xa vi diệu không thể nghĩ bàn. Những gì là hai pháp? Đó là: (1) Ma-ha-diễn của thể tướng bình đẳng. (2) Ma-ha-diễn của tự tướng tự nhiên. Nếu muốn chứng đắc hai loại pháp này, nên hành trì hai môn. Thế nào là hai môn? Đó là: (1) Môn không đoạn– không buộc. (2) Môn có đoạn – có buộc. Cho đến nói rộng”. Nay gồm thâu văn này nên nêu dẫn như vậy. Trong Luận Đại Tổng Địa đã chia ra tám loại môn, giảng nói phân minh và rộng. Đã nói về môn kiến lập hai loại Ma-ha-diễn.

Trong nghĩa của ba đại đều lược bớt hai môn đầu và lập một môn sau. Bồ-tát Mã Minh vốn hướng về ý lạc, tức nêu phần sau để gồm thâu phần đầu, phần giữa nên đã biện dẫn như vậy. Lại nữa, so với thứ lớp tiếp theo thì hiện rõ phân minh. Do pháp căn bản của hai tụng trên tức nên đưa đến ở đây.

1. Thể đại: Là nêu tổng quát về hai loại pháp căn bản của đối tượng nhập. Những gì là hai loại? Một là Ma-ha-diễn của vô lượng vô biên các pháp sai biệt, nhưng không tăng không giảm. Hai là Ma-ha-diễn tịch tĩnh không tạp loạn, chỉ một vị bình đẳng, không tăng không giảm. Nghĩa là tất cả các pháp đều là một chân như bình đẳng không tăng không giảm. Là nêu chung về hai loại môn riêng của chủ thể nhập. Những gì là hai loại? Nghĩa là như tên gọi của pháp căn bản thì môn chủ thể nhập cũng như vậy.

2. Tướng đại. Là nêu tổng quát về hai loại pháp căn bản của đối tượng nhập. Những gì là hai loại? Một là Ma-ha-diễn của Như Lai tạng gồm đủ công đức. Hai là Ma-ha-diễn có đủ tánh công đức. Nghĩa là Như Lai tạng gồm đủ vô lượng tánh công đức, là nêu chung về hai loại môn riêng của chủ thể nhập. Thế nào là hai loại? Đó là như tên gọi của pháp căn bản thì môn cũng như vậy.

3. Dụng đại. Là nêu tổng quát về hai loại pháp căn bản của đối tượng nhập. Thế nào là hai loại? Một là Ma-ha-diễn có thể phát sinh tất cả nhân quả của thế gian. Hai là Ma-ha-diễn có thể phát sinh tất cả nhân quả thiện của xuất thế gian. Nghĩa là có thể phát sinh tất cả nhân quả thiện của thế gian và xuất thế gian. Là nêu chung về hai thứ môn riêng của chủ thể nhập. Những gì là hai loại? Đó là như tên gọi của pháp căn bản thì môn cũng như vậy.

Về nghĩa của ba thứ đại thì phân riêng từng phần để giải thích, như trong phẩm Bản Địa của Luận Tổng Địa đã nêu giải phân minh.

Do đâu pháp Ma-ha-diễn bất nhị không có nhân duyên? Vì là pháp hết sức vi diệu, sâu xa, độc tôn, lìa mọi căn cơ. Vì sao lìa mọi căn cơ? Vì không có căn cơ nên đâu cần phải kiến lập hay không kiến lập. Pháp Ma-ha-diễn này là pháp của chư Phật đã chứng đắc chăng? Đối với chư Phật là có thể chứng đắc. Hỏi chư Phật đạt được hay không thì chư Bồ-tát, Nhị thừa và tất cả phàm phu cũng lại như vậy, vì cùng là trong biển tánh đức viên mãn. Vì sao? Vì lìa mọi thứ căn cơ, lìa các giáo thuyết.

Do đâu tám thứ pháp căn bản từ nơi nhân duyên khởi? Vì ứng hợp với cơ, thuận theo giáo thuyết.

Vì sao ứng hợp với cơ? Vì có căn cơ. Như vậy, tám thứ pháp căn bản, chư Phật đã đạt được chăng? Chư Phật đã đạt được. Nêu hỏi đối với chư Phật đạt được hay không thì chư Bồ-tát, Nhị thừa và tất cả phàm phu cũng lại như vậy, vì cùng là tu hành gieo trồng nơi biển nhân. Vì sao? Vì có căn cơ, vì có giáo thuyết. Do đâu pháp Ma-ha-diễn dựa vào môn chân như là đối tượng hướng nhập chỉ lập tên gọi Thể? Do đâu pháp Ma-ha-diễn dựa vào môn sinh diệt là đối tượng hướng nhập chỉ lập tên gọi của tự mình? Do trong môn chân như không có tướng khác, còn trong môn sinh diệt thì có tướng khác. Khác nghĩa là tất cả pháp thuộc phẩm bất thiện. Tự nghĩa là tất cả pháp thuộc phẩm thanh tịnh. Nếu đối tượng được đối trị là khác không có, thì chủ thể đối trị là tự không có, vì vậy chỉ nói thể không nói tự. Nếu như đối tượng được đối trị là khác đã có, thì chủ thể đối trị là tự cũng có, nên gọi là tự không chỉ là thể. Lại nữa, vì muốn hiện bày rõ Thể của một pháp giới là bình đẳng, bình đẳng không có riêng tư, vô lượng tánh đức tự nhiên vốn có, không phải đạt được nhờ nơi uy lực nào khác.

Lại nữa, tùy nghi an lập, không có cố định. Vì sao trong môn nêu bày riêng, một tâm biệt lập làm thành một mà ba đại hợp chung thành một, nhưng cùng đồng vì đều giảng giải về hai loại Ma-ha-diễn? Nghĩa của ba đại phù hợp mới thuận theo để có thể giảng giải về hai loại Ma-ha-diễn. Tên gọi của nghĩa đại là chung nơi ba loại, nên gồm làm một nghĩa, không có ý hướng riêng khác. Nay đã phân ra chỉ rõ về mười sáu pháp môn có hơn kém, rộng hẹp. Tướng ấy là thế nào?

* Tụng nêu:

Bình đẳng, bình đẳng một

Đều không có dị biệt

Vì gồm thâu các pháp

Rốt cùng không tạp loạn.

* Luận giải thích: Mười sáu pháp môn của chủ thể nhập và đối tượng được nhập là viên mãn, trọn đủ, bình đẳng bình đẳng, hiện bày khắp pháp giới không có sai biệt. Vì sao? Vì đều gồm thâu các pháp rốt ráo hoàn toàn, nhưng chung cuộc thì gốc, ngọn – chủ thể, đối tượng là không tạp loạn.

Đã nói về hai môn Tổng – Biệt là đối tượng hành hóa căn bản của hết thảy chư Phật. Tất cả Bồ-tát đều nhân nơi pháp này mà đạt đến địa Như Lai: Tức là môn thông đạt phép tắc bất động. Nghĩa là số chư Phật đời quá khứ nhiều như vi trần, số chư Phật đời hiện tại nhiều như vi trần, số chư Phật đời vị lai nhiều như vi trần, thảy đều nhân nơi ba mươi hai loại này, an lập theo phương tiện chuyên chở rất sâu xa, đến được địa vô thượng thanh tịnh. Tất cả Bồ-tát trong ba đời khắp mười phương cũng lại như vậy. Bồ-tát nói đến trong đây là đã nhận lấy chung tất cả chúng sinh trong ba tụ. Vì sao? Vì không có một chúng sinh nào mà không thông đạt nơi địa Như Lai.

HẾT – QUYỂN 1

Bài Viết Liên Quan

1579-2

Luận Du Già Sư Địa Quyển 63

LUẬN DU GIÀ SƯ ĐỊA Tác giả: Bồ tát Di Lặc giảng thuật, Bồ tát Vô Trước ghi Hán dịch: Đời Đường, Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ   QUYỂN 63 PHẦN NHIẾP QUYẾT TRẠCH: ĐỊA TAM MA HÍ...
1606-2

Đại Thừa A Tì Đạt Ma Tạp Tập Luận Quyển 06

ĐẠI THỪA A TÌ ĐẠT MA TẠP TẬP LUẬN An Huệ Bồ-tát tập hợp Tam tạng pháp sư Huyền Trang dịch Nguyên Hồng dịch tiếng Việt   QUYỂN 6 Phẩm 1 – 1: PHẨM ĐẾ TRONG QUYẾT TRẠCH PHẦN Lại nữa, quyết trạch lược nói...
Đại Tạng Kinh, Luận Tạng - TQ, Phật Giáo Tuệ Quang Việt Tạng

1505-Tứ A Hàm Mộ Sao Giải

TỨ A HÀM MỘ SAO GIẢI Tác giả: A La Hán Bà Tố Bạt Đà Hán dịch: Đời Phù Tần, Đại sư Cưu Ma La Phật Đề Việt dịch: Nguyên Huệ   QUYỂN THƯỢNG TỰA TỨ A-HÀM-MỘ SAO A-hàm-mộ, đời Tần gọi là Thú Vô....
1579-2

Luận Du Già Sư Địa Quyển 48

LUẬN DU GIÀ SƯ ĐỊA Tác giả: Bồ tát Di Lặc giảng thuật, Bồ tát Vô Trước ghi Hán dịch: Đời Đường, Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ   QUYỂN 48 Địa thứ 15: ĐỊA BỒ TÁT (Phần Bản...
1509-2

30. Phẩm Tam Thán Thứ Ba Mươi

LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ Tác giả: Bồ tát Long Thọ Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Hòa thượng Thích Thiện Siêu   GIẢI THÍCH: PHẨM TAM THÁN THỨ 30 (Kinh Đại Bát-nhã ghi: Phần 2, Phẩm Thọ Ký thứ 28) KINH:...
1509-2

31. Phẩm Diệt Tránh Thứ Ba Mươi Mốt

LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ Tác giả: Bồ tát Long Thọ Hán dịch: Pháp sư Cưu Ma La Thập Việt dịch: Hòa thượng Thích Thiện Siêu   GIẢI THÍCH: PHẨM DIỆT TRÁNH THỨ 31 (Kinh Ma-ha Bát-nhã ghi: Phẩm Hiện Diệt Tránh) (Kinh Đại Bát-nhã ghi:...