SỐ 1581/10
KINH BỒ TÁT ĐỊA TRÌ1
Hán dịch: Đời Bắc Lương, Đại sư Đàm Vô Sấm
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN 1

XỨ PHƯƠNG TIỆN THỨ NHẤT

Phẩm thứ 1: CHỦNG TÁNH

(Đoạn thứ nhất có 18 phẩm)

Kính lễ tất cả Phật Thế Tôn

Quá khứ, hiện tại và vị lai.

Có mười pháp, nêu đầy đủ về đạo Bồ-tát thuộc Đại thừa. Những gì là mười? Một là trì. Hai là tướng. Ba là dực (hỗ trợ). Bốn là tâm tịnh. Năm là trụ. Sáu là sinh. Bảy là gồm thâu. Tám là địa. Chín là hành. Mười là an lập.

Thế nào gọi là trì? Bồ-tát từ chủng tánh lần đầu phát tâm cho đến tu tập hết thảy pháp Bồ-đề phần, đó gọi là trì. Vì sao? Vì Bồ-tát nương dựa nơi chủng tánh tất nhiên có thể nhận giữ đạo quả Chánh đẳng Chánh giác vô thượng, thế nên chủng tánh được gọi là tất định trì. Bồ-tát dựa vào sự phát tâm đầu tiên tu hành sáu Ba-la-mật: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí tuệ. Tu sáu Bala-mật này là công đức luật nghi, trí tuệ luật nghi, pháp phần Bồ-đề, cho nên lần đầu phát tâm gọi là phương tiện trì của hành Bồ-tát. Bồ-tát dựa nơi phương tiện hành tạo đầy đủ đạo quả Chánh đẳng Chánh giác vô thượng, cho nên phương tiện hành gọi là đại Bồ-đề trì. Người phi chủng tánh do không có chủng tánh, nên tuy có phát tâm, chuyên cần tinh tấn, tất không thể đạt rốt ráo đạo quả Chánh đẳng Chánh giác vô thượng. Vì vậy nên biết, tuy không phát tâm, không tu phương tiện hành, vẫn được gọi là chủng tánh trì. Nếu có chủng tánh Bồ-tát nhưng không phát tâm, không tu phương tiện hành, thì không thể mau chóng thành tựu đạo quả Chánh đẳng Chánh giác vô thượng. Có chủng tánh Bồ-tát, phát tâm Bồ-đề, siêng hành tinh tấn, tức có thể mau chóng thành tựu đạo quả Chánh đẳng Chánh giác vô thượng. Lại chủng tánh gọi là trì, còn gọi là nuôi lớn, gọi là nhân, gọi là nương dựa, gọi là thềm thang, gọi là dẫn đường, gọi là che chắn. Như chủng tánh, thì phát tâm, phương tiện hành cũng như vậy.

Thế nào là chủng tánh? Lược nêu có hai thứ: Là tánh chủng tánh và tập chủng tánh.

Tánh chủng tánh: Nghĩa là Bồ-tát đối với sáu nhập thù thắng, lần lượt nối tiếp cứ như vậy từ vô thủy đến nay, đó gọi là Tánh chủng tánh.

Tập chủng tánh: Nghĩa là nếu từ trước đến nay những gì đã đạt được từ tu thiện, gọi là Tập chủng tánh.

Lại, chủng tánh còn gọi là chủng tử, gọi là giới, gọi là tánh. Lại nữa, không tu tập thì quả nhỏ, quả xa. Tu tập thì quả lớn, quả gần. Bồ-tát thành tựu chủng tánh, vượt lên trên tất cả Thanh văn, Phậtbích-chi. Vì sao? Vì có hai thứ tịnh: Một là chướng phiền não tịnh. Hai là chướng trí tịnh. Chủng tánh của Nhị thừa thì chỉ chướng phiền não tịnh không phải chướng trí tịnh. Chủng tánh của Bồ-tát đầy đủ hai thứ tịnh, nên là tối thắng tối thượng trong tất cả.

Lại có bốn sự việc thù thắng đối với tất cả hàng Thanh văn, Duyên giác: Một là căn thù thắng. Hai là đạo thù thắng. Ba là phương tiện thiện xảo thù thắng. Bốn là quả thù thắng.

Bồ-tát thì tánh tự là lợi căn, Duyên giác là căn trung bình, Thanh văn thì căn yếu kém. Đó gọi là căn thù thắng.

Thanh văn, Duyên giác chỉ là tự độ, Bồ-tát thì không như vậy, vì tự độ và độ người. Đó gọi là đạo thù thắng.

Thanh văn, Duyên giác chỉ có thể hiểu biết về ấm, giới, các nhập, mười hai duyên khởi, là xứ phi xứ và bốn chân đế, Bồ-tát với phương tiện thiện xảo thảy đều nhận biết rõ tất cả pháp. Đó gọi là phương tiện thiện xảo thù thắng.

Thanh văn chứng đắc Bồ-đề Thanh văn. Duyên giác chứng đắc Bồ-đề Duyên giác. Bồ-tát chứng đắc Chánh đẳng Chánh giác vô thượng. Đó gọi là quả thù thắng.

Sáu Ba-la-mật là tướng chủng tánh của Bồ-tát, khiến các chúng sinh biết đó là Bồ-tát. Những gì là sáu? Là từ Bố thí Ba-la-mật cho đến Trí tuệ Ba-la-mật.

Bố thí Ba-la-mật gọi là tướng chủng tánh của Bồ-tát: Nghĩa là Bồ-tát tánh tự ưa thích bố thí, đối với người thọ nhận thì đem vật bố thí, bố thí bình đẳng không mệt mỏi. Đối với các tài vật hoặc nhiều hoặc ít, tâm luôn bình đẳng bố thí, hoan hỷ không hối hận. Nếu không bố thí thì tâm thường hổ thẹn, luôn vì người khác tán thán công đức bố thí, khuyến khích người khác hành bố thí, thấy có người bố thí thì tâm thường tùy hỷ. Đối với các bậc kỳ túc tôn quý là ruộng phước nên cúng dường, tức liền rời bỏ chỗ ngồi, cung kính dâng cúng. Nếu có người hỏi các việc như pháp của đời này đời sau thì thảy đều vì họ giảng nói. Nếu có người sợ hãi về các nạn như vua chúa, giặc cướp, nước lửa, tri thức ác, thì tùy theo sức mình có thể ban cho họ sự vô úy. Thọ nhận người gởi tài vật từng không sai trái. Nếu mắc nợ kẻ khác trọn không chống, giữ. Anh em phân chia tài sản luôn bình đẳng không hai. Đối với người quá tham đắm nơi các thứ vật báu thì chỉ dạy họ lìa tham. Đã dạy bảo người xa lìa, huống gì là tự mình tham đắm. Tánh đối với tài vật tốt đẹp đều có thể xả bỏ sự thọ dụng, vui tu thắng nghiệp nên quả báo lợi ích rộng nhiều. Đối với tất cả sự việc vui chơi như rượu, sắc, ca múa, hát xướng với vô số biến hiện thường sinh hổ thẹn, nên có thể nhanh chóng xa lìa. Được của cải châu báu lớn cũng không tham đắm, huống gì là lợi nhỏ như thế. Đó gọi là Bố thí Ba-la-mật là tướng chủng tánh của Bồ-tát.

Giới Ba-la-mật gọi là tướng chủng tánh của Bồ-tát: Nghĩa là tánh của nghiệp thân khẩu ý nơi Bồ-tát tự chúng là dịu dàng, không tăng hành ác, không ưa sát sinh, giả sử tạo nghiệp ác thì tâm sinh hổ thẹn, có thể nhanh chóng hối trừ không khiến tăng trưởng. Không dùng đao gậy khủng bố chúng sinh, thể tánh nhân hiền, thường mang tâm từ ái. Cung kính các bậc tôn trưởng, đón tiếp cúng dường. Khéo biết căn cơ thích hợp để tạo phương tiện thiện xảo. Khéo tùy thuận tâm người, nói năng luôn nở nụ cười, nét mặt vui tươi nhìn thẳng, ý trước là thăm hỏi. Biết ân và báo đáp ân, chỗ cầu tìm luôn ngay thẳng, không giả dối quanh co. Thọ dụng tài vật như pháp, không được phi pháp, tánh thường hoan hỷ, ưa tu các phước đức, thấy người tu phước hãy còn đem thân giúp đỡ huống là lại tự làm. Nếu có chúng sinh cùng nhau tàn hại, đánh trói, chê bai, mắng trách, có vô số những thứ khổ như vậy, Bồ-tát hoặc thấy hoặc nghe, tâm thường thương xót. Chú trọng đời này làm thiện để đời sau được vui. Đối với tội nhỏ tâm luôn lo sợ, huống gì là các thứ ác nặng mà không sợ hãi, cẩn thận.

Hoặc thấy người làm ruộng, buôn bán, chăn thả súc vật, thư số tính toán luôn khéo hòa giải những tranh cãi kiện tụng. Tìm kiếm của cải nên biết giữ gìn, tạo phương tiện có lợi để xả thí. Hôn nhân, hội họp, những việc như thế theo như pháp tất cùng đồng sự. Đối với các sự việc tranh cãi, gây gổ, khủng bố nhau, hoặc là mình hoặc là người, đều vô nghĩa, không có lợi ích, tất cả những việc như thế không nên đồng sự. Khéo có thể ngăn chận chế ngự mười nẻo bất thiện. Nếu vì người khác khiến phải tùy thuận lời giáo huấn kia, phải nên hỏi ý kiến của những bậc minh triết. Đối với các sự việc phải phế bỏ những thành tựu của mình để giúp họ, Bồ-tát chỉ giữ tâm thương xót bùi ngùi, không khởi oán hại, giả sử tạm thời dấy khởi tức liền tìm cách diệt trừ. Luôn tu lời nói chân thật, không dối gạt chúng sinh, không lìa sự gần gũi của kẻ khác và nói lời vô nghĩa, lời nói thường dịu dàng không thô ác. Đối với người giúp việc hãy còn không nói lời thô xẳng, huống gì là người khác. Đối với các công đức tâm thường ưa thích. Thấy người tu hành, tùy hỷ khen ngợi điều thiện. Hết thảy đồng như vậy, đó gọi là Giới Ba-la-mật là tướng chủng tánh của Bồ-tát.

Nhẫn nhục Ba-la-mật gọi là tướng chủng tánh của Bồ-tát: Nghĩa là Bồ-tát tánh tự hòa dịu, nếu gặp người khác không đem lại sự việc lợi ích, cũng không khởi tâm giận hại, không trở lại báo thù. Nếu người kia hối hận đến xin lỗi, liền nhận sự hối hận của họ, không ôm lòng kết hận, lại không nhớ tưởng điều khác. Hết thảy đồng như vậy, đó gọi là Nhẫn nhục Ba-la-mật là tướng chủng tánh của Bồ-tát.

Tinh tấn Ba-la-mật gọi là tướng chủng tánh của Bồ-tát: Nghĩa là Bồ-tát tánh tự tinh tấn, ngủ muộn sớm dậy, không ưa thích quen tham ngủ nghỉ nằm yên. Phàm làm việc gì đều tinh tấn, không buông bỏ, có thể khéo suy nghĩ, chính là khiến đạt được rốt ráo. Vừa mới lập nghiệp phải chắc chắn vững bền, việc nếu chưa thành trọn không bỏ dở, đối với đệ nhất nghĩa tâm không thoái mất. Không tự xem thường, cho là mình không thể thành tựu pháp kia. Đối với việc đã nhận làm phải mạnh mẽ gánh vác, hòa nhập nơi đại chúng, phá dẹp luận tà. Khéo có thể đáp lại tất cả câu hỏi khó. Các việc khổ khác đều có thể nhẫn nhục, sức phương tiện lớn trọn không lo hối, huống gì là việc nhỏ. Hết thảy đồng như vậy, đó gọi là Tinh tấn Ba-la-mật là tướng chủng tánh của Bồ-tát.

Thiền Ba-la-mật gọi là tướng chủng tánh của Bồ-tát: Nghĩa là Bồ-tát đối với pháp, đối với nghĩa, tánh khéo suy lường, không có các tưởng loạn. Hoặc thấy hoặc nghe về chốn núi rừng, hang đầm, cũng lìa các rối loạn, thuận theo sự yên lặng, liền sinh ý niệm: Đây là xứ an vui, là xứ xa lìa, tìm đến chỗ kia, sự tu học thêm chuyên cần. Tánh Bồ-tát là làm mỏng phiền não, ấm cái đều nhẹ nhỏ, xa lìa chỗ suy nghĩ lợi mình, không bị các thứ giác (tầm) xấu ác làm nhiễu loạn tâm, hoặc khi tạm khởi tức liền tìm cách diệt trừ. Đối với các chỗ oán ghét đều khởi tâm từ, huống gì là đối với người khác. Hoặc thấy hoặc nghe về các chúng sinh chịu khổ tức khởi tâm bi, tùy theo sức tạo phương tiện cứu giúp khiến họ được lìa khổ. Tánh ưa đem lợi ích an vui cho chúng sinh. Hoặc có quyến thuộc suy kém, tài sản vật báu bị mất mát, có người bị giết hại, bị bắt bớ giam cầm, xua đuổi, những khổ nạn như vậy Bồ-tát đều có thể an nhẫn. Có thể nhanh chóng thọ trì nghĩa sâu xa của các pháp. Niệm lực thành tựu, chỗ thọ nhận chỉ chuyên vào chân đế. Từ lâu xa tu gì đều có thể ghi nhớ, cũng khiến cho người khác nhớ nghĩ không quên. Hết thảy đồng như vậy, đó gọi là Thiền Ba-la-mật là tướng chủng tánh của Bồ-tát.

Trí tuệ Ba-la-mật gọi là tướng chủng tánh của Bồ-tát: Nghĩa là Bồ-tát đối với tất cả xứ minh, tất cả xứ trí đều sinh trí tuệ thành tựu, không ngu tối chậm chạp, không nhỏ kém, không ngu si, các xứ phóng dật đều có thể suy xét. Đó gọi là Bát-nhã Ba-la-mật là tướng chủng tánh của Bồ-tát.

Đó là tướng thô nơi chủng tánh của Bồ-tát, tôi đã lược nói. Các nghĩa thật khác, chỉ có Đức Phật – Thế Tôn mới có thể quyết định nhận biết. Chủng tánh Bồ-tát đầy đủ tánh công đức như vậy, nghĩa là thành tựu pháp bạch tịnh chân thật. Thế nên gọi là khó được, gọi là đặc biệt, gọi là không thể nghĩ bàn, gọi là bất động, gọi là vô thượng, gọi là trú xứ của Như Lai, tương ưng với chánh nhân.

Chủng tánh Bồ-tát thành tựu pháp bạch tịnh: Nghĩa là không bị bốn thứ phiền não làm nhiễm ô, nếu nhiễm ô thì pháp bạch tịnh không hiện tiền, hoặc sinh nơi nẻo ác. Chủng tánh Bồ-tát ở lâu trong sinh tử, hoặc bị đọa vào nẻo ác. Bị đọa nơi nẻo ác nhưng mau chóng được giải thoát, tuy ở nơi nẻo ác nhưng không thọ khổ lớn, như các chúng sinh khác rơi vào địa ngục. Nếu khổ não xúc chạm thân tức có thể chán lìa. Thấy người khác thọ khổ có thể khởi tâm bi. Chủng tánh như thế là nhân của đại bi, vì vậy Bồ-tát tuy rơi vào đường ác nhưng hơn hẳn tất cả chúng sinh trong các đường ác. Những gì là bốn thứ phiền não? Một là hành tập phóng dật từ lâu xa tạo lợi cho phiền nào. Hai là ngu si hành tập theo các tri thức ác. Ba là bị các bậc vua chúa, giặc cướp, oán địch bức bách không được tự tại khiến tâm mê loạn. Bốn là các thứ vật dụng không đầy đủ, thường lo lắng về thân mạng.

Chủng tánh Bồ-tát lại có bốn pháp khiến không chứng đắc đạo quả Chánh đẳng Chánh giác vô thượng. Những gì là bốn? Một là vốn không có thiện hữu là chư Phật, Bồ-tát, người khéo thuyết pháp. Hai là tuy gặp được thiện hữu là Phật, Bồ-tát, người khéo thuyết pháp, nhưng thọ học sai lầm. Ba là tuy gặp thiện hữu là Phật, Bồ-tát, người khéo thuyết pháp, thọ học không sai lầm, nhưng không siêng năng theo phương tiện, không nỗ lực tinh tấn. Bốn là tuy gặp thiện hữu là Phật, Bồ-tát, người khéo thuyết pháp, siêng tu phương tiện, nhưng căn thiện chưa thành thục, trang nghiêm chưa đầy đủ, từ lâu xa đến nay tâm không được điều phục. Bồ-tát tuy có chủng tánh của Bồ-tát nhưng nhân duyên không đủ, tức không thể thành tựu đạo quả Bồ-đề vô thượng. Lìa bốn pháp ấy, Bồ-tát mau chóng chứng đắc đạo quả Chánh đẳng Chánh giác vô thượng. Nếu không có chủng tánh của Bồ-tát, tuy có hành tất cả các phương tiên, cũng trọn không thể thành tựu đạo quả Bồ-đề vô thượng.

*********

XỨ PHƯƠNG TIỆN THỨ NHẤT

Phẩm thứ 2: PHÁT TÂM BỒ ĐỀ

Bồ-tát mới phát tâm là mở đầu của tất cả chánh nguyện, đều có thể thâu nhận tất cả chánh nguyện, vì thế chánh nguyện đầu tiên gọi là tự tánh nguyện. Bồ-tát phát tâm mở lời như vầy: “Ta phải cầu Bồ-đề vô thượng, an lập tất cả chúng sinh, khiến họ an trụ rốt ráo nơi Niết-bàn vô dư cùng đại trí của Như Lai”. Phát tâm cầu đạo Bồ-đề như vậy, cho nên mới phát tâm gọi là cầu hành Bồ-tát. Duyên vào Bồ-đề và duyên nơi chúng sinh để phát tâm cầu, vì thế mới phát tâm là có thể thâu nhận tất cả căn thiện Bồ-đề, là sự dẫn dắt vô thượng, là phương tiện thiện xảo tột cùng, là đầy đủ công đức, là hiền thiện hết mực, là rất chân thật, đối với tất cả chúng sinh đều bỏ hành ác, đối với chánh nguyện thế gian, xuất thế gian là trên hết, là cao tột. Như vậy nên biết, mới phát tâm có năm tướng: (1) Tự tánh. (2) Hành. (3) Duyên. (4) Đức. (5) Thắng.

Bồ-tát mới phát tâm gọi là độ. Các số Bồ-tát là Bồ-đề Đại thừa, thế nên mới phát tâm là thuộc về độ. Phát tâm ấy rồi, dần dần chứng đắc đạo quả Chánh đẳng Chánh giác vô thượng, do vậy mới phát tâm là căn bản của Bồ-đề. Phát tâm ấy rồi, thấy các chúng sinh thọ vô lượng khổ, lại khởi tâm bi nhằm độ thoát họ, vì thế mới phát tâm là chỗ nương dựa của đại bi. Nương dựa nơi mới phát tâm để kiến lập pháp phần Bồ-đề cho Bồ-tát, cùng những việc làm của chúng sinh là sở học của Bồ-tát, đều có thể tu tập, cho nên mới phát tâm là chỗ nương dựa cho việc tu học của Bồ-tát. Mới phát tâm như thế, gọi là thâu giữ, gọi là căn bản, gọi là nương dựa.

Bồ-tát mới phát tâm có hai loại:

  1. Xuất.
  2. Không xuất.

Xuất: Nghĩa là từ lúc mới phát tâm cho đến rốt ráo trọn không thoái chuyển.

Không xuất: Nghĩa là có thoái chuyển. Thoái chuyển có hai thứ: Một là thoái chuyển hoàn toàn. Hai là thoái chuyển không hoàn toàn. Thoái chuyển hoàn toàn: Nghĩa là đã thoái rồi trọn không khởi lại nguyện Bồ-tát. Thoái chuyển không hoàn toàn: Nghĩa là đã thoái rồi có thể phát khởi trở lại.

Bồ-tát mới phát tâm có bốn thứ duyên, bốn thứ nhân, bốn thứ lực:

Những gì là bốn thứ duyên?

1. Thiện nam thiện nữ nào, hoặc thấy hoặc nghe chư Phật, Bồ-tát có thần thông biến hóa không thể nghĩ bàn, những người kia thấy nghe rồi liền khởi suy nghĩ: Đó là việc lớn không thể nghĩ bàn. Có thể do các sự việc biến hóa như vậy được thấy nghe làm tăng thượng duyên, do đó ưa thích Đại trí của Đức Phật nên phát tâm Bồ-đề.

2. Tuy không thấy nghe những thần biến như trên, nhưng nghe người thuyết giảng pháp tán thán về Bồ-đề cùng Tạng Bồ-tát. Nghe rồi thì vui mừng, hoan hỷ tin thích. Do nghe pháp ấy làm tăng thượng duyên, tức ưa thích Đại trí của Đức Phật nên phát tâm Bồ-đề.

3. Tuy không nghe pháp, nhưng thấy tướng pháp diệt nên khởi suy nghĩ: Vô số chúng sinh sẽ gặp khổ lớn, Bồ-tát trụ thế tức có thể diệt trừ. Ta nay nên tu đạo Bồ-đề, hộ trì chánh pháp, vì các chúng sinh diệt trừ vô lượng khổ. Do việc hộ trì pháp làm tăng thượng duyên, vì thế ưa thích Đại trí của Đức Như Lai nên phát tâm Bồ-đề.

4. Không thấy pháp diệt, nhưng thấy vô số chúng sinh trong đời xấu ác bị mười thứ phiền não làm não loạn: Một là ngu si. Hai là không biết hổ thẹn. Ba là tham lam keo kiệt ganh tị. Bốn là khổ bức. Năm là nhiễm ô. Sáu là phiền não vây buộc. Bảy là hành ác. Tám là phóng dật. Chín là biếng trễ. Mười là không tin. Thấy rồi liền sinh suy nghĩ: Thế gian dấy khởi nhiều ô trược, ở trong đời xấu ác này hãy còn không thể phát nguyện về Nhị thừa, huống chi là có thể chí cầu Bồ-đề vô thượng. Ta nay nên phát tâm, cũng khiến cho người khác phát tâm. Do trong đời ô trược phát tâm rất khó được làm tăng thượng duyên, cho nên ưa thích Đại trí của Đức Như Lai mà phát tâm Bồ-đề.

Những gì là bốn thứ nhân?

1. Chủng tánh đầy đủ.

2. Được các thiện hữu là chư Phật, Bồ-tát gồm thâu.

3. Khởi tâm đại bi.

4. Nơi sinh tử khổ nạn đã hành khổ với vô lượng các khổ lâu xa như vậy, nên đối với chúng tâm không hề sợ hãi.

Chủng tánh đầy đủ: Nghĩa là từ vô thủy theo pháp là như vậy.

Thiện hữu gồm thâu: Nghĩa là có bốn việc: Một là thiện hữu không ngu không độn, tuệ sáng không tà. Hai là không dạy người phóng dật, cũng không đem các phương tiện phóng dật trao cho người khác. Ba là không dạy người hành ác, cũng không đem các vật dụng hành ác trao cho người khác. Bốn là hoàn toàn không ngăn đoạn những người có tin tưởng, mong muốn, thọ nhận, tinh tấn, phương tiện, công đức bậc thượng khiến họ thoái chuyển theo thấp. Cũng không đem các thứ tin tưởng, mong muốn, thọ nhận, tinh tấn, phương tiện, công đức bậc thấp trao cho người khác. Đó là đoạn ngăn Đại thừa vô thượng khiến học Nhị thừa. Đoạn tu tuệ trao cho tư tuệ, đoạn tư tuệ trao cho văn tuệ, đoạn văn tuệ trao cho phước nghiệp, đoạn giới trao cho thí. Đoạn ngăn những công đức bậc thượng như thế khiến những người kia thoái chuyển theo bậc dưới, đem các công đức bậc thấp trao cho khiến họ tu tập.

Khởi tâm đại bi có bốn việc: Một là hoặc có thế giới có xứ khổ não. Hai là hoặc có thế giới không có khổ não. Ba là Bồ-tát sinh nơi xứ có khổ não, thấy người thọ khổ, hoặc tự mình thọ khổ, hoặc thấy mình và người đều thọ khổ, hoặc thấy sinh tử dài lâu, thọ khổ không gián đoạn. Bốn là Bồ-tát nương vào chủng tánh của mình, tánh tự nhân hiền, đối với bốn cảnh giới khởi tâm bi hạ, trung, thượng.

Đối với sinh tử vô cùng khổ lớn luôn nối tiếp, tâm không hề sợ hãi, tức có bốn việc: Một là tánh an ổn, dũng mãnh. Hai là tuệ sáng chuyên tu tư duy. Ba là đối với Bồ-đề vô thượng khởi vui thích tăng thượng. Bốn là đối với các chúng sinh phát khởi tâm bi tăng thượng.

Những gì là bốn lực? (1) Tự lực. (2) Tha lực. (3) Nhân lực. (4) Phương tiện lực.

Bồ-tát tự lực phát tâm Bồ-đề, đó gọi là tự lực. Nhân nơi người khác nên phát tâm, đó gọi là tha lực. Trước hành tập Đại thừa tương ưng với căn thiện, nay chỉ thấy chút ít về Phật và Bồ-tát, hoặc nghe chút ít lời tán thán liền phát tâm, đó gọi là nhân lực. Ở trong đời hiện tại gần gũi thiện tri thức, nghe họ giảng nói pháp tức có thể tu các điều thiện, đó gọi là phương tiện lực.

Bồ-tát do bốn duyên, bốn nhân, do tự lực, do nhân lực nên phát tâm Bồ-đề kiên cố không động, quyết định rốt ráo. Nếu do tha lực, phương tiện lực nên phát tâm thì không kiên cố, động chuyển, không định.

Bồ-tát có bốn việc khiến thoái chuyển tâm Bồ-đề. Những gì là bốn? Một là chủng tánh không đầy đủ. Hai là tri thức ác thâu tóm. Ba là đối với các chúng sinh tâm bi mỏng và nhỏ. Bốn là đối với khổ nạn trong sinh tử sinh tâm sợ hãi.

Mới phát tâm kiên cố có hai việc, vượt ra ngoài thế gian, thù thắng kỳ diệu, là pháp chưa từng có: Một là đối với các chúng sinh khởi tưởng thân thuộc. Hai là không gồm thâu lỗi lầm của thân thuộc. Gồm thâu lỗi lầm của thân thuộc, tức là thọ nhận thân thuộc, nên tâm sinh ái giận.

Mới phát tâm kiên cố có hai việc, đối với các chúng sinh khởi tâm chân tịnh: Một là tâm an ổn. Hai là tâm vui thích. Tâm an ổn: Nghĩa là vì các chúng sinh nên trừ bỏ xứ bất thiện, đặt để họ nơi xứ thiện. Tâm vui thích: Nghĩa là đối với chúng sinh nghèo thiếu, không chốn nương dựa, có thể dùng các tâm nơi bốn nhiếp pháp để tạo lợi ích cho họ.

Mới phát tâm kiên cố có hai phương tiện: Một là phương tiện của tâm tịnh. Hai là phương tiện của đạo. Phương tiện của tâm tịnh: Nghĩa là tâm an ổn, tâm vui thích kia ngày ngày được tăng trưởng. Phương tiện của đạo: Nghĩa là tự mình ở nơi ngày đêm thành tựu đầy đủ pháp Phật, tùy theo lực ấy có thể nương vào phương tiện của tâm tịnh để tạo lợi ích an vui cho tất cả chúng sinh.

Mới phát tâm kiên cố có hai môn pháp thiện để nhập: Một là phương tiện tự lợi, phát tâm Bồ-đề. Hai là phương tiện lợi tha, diệt trừ các khổ.

Mới phát tâm kiên cố có hai việc, phát tâm thành đạo gồm thâu pháp thiện, vượt hơn hẳn tất cả các thiện đã gồm thâu: Một là nhân thắng. Hai là quả thắng. Nhân Bồ-đề kia đã tu tập pháp thiện, đó gọi là nhân thắng. Bồ-đề vô thượng đó gọi là quả thắng. Thù thắng đối với tất cả Thanh văn, Duyên giác, vì thế nhân quả của Bồ-tát đều thù thắng.

Mới phát tâm kiên cố có hai thứ lợi ích: Một là đã phát tâm này rồi, tức vì vô lượng chúng sinh làm phước điền tôn quý của tịnh thí. Hai là thâu giữ phước đức thuần tịnh để thành tựu phước tịnh, như hai thứ phước đức của Chuyển luân vương được bảo vệ. Do đó, khi ngủ hoặc thức không bị thú dữ, quỷ thần xấu ác não hại. Nơi xứ sinh sống ít bệnh, không bệnh. Hoặc khi thuyết pháp thân không mệt mỏi, tâm không quên mất.

Tánh chủng tánh nơi Bồ-tát khiến tánh ác của thân khẩu ý tự nhẹ mỏng. Đã phát tâm rồi lại càng nhẹ, ít. Nếu người khác sử dụng chú thuật không có hiệu nghiệm, Bồ-tát sử dụng thảy đều thần nghiệm, vì đã có thể thành tựu. Tùy thuận nhẫn thượng, tức có thể nhẫn chịu khi bị người khác não hại, cũng không não hại người khác. Thấy những người khác não hại nhau, tâm sinh thương xót, mọi thứ giận dữ, ganh ghét đều ẩn mất. Các thứ huyễn hoặc, giả dối, dua nịnh và những phiền não phẩm thượng thảy đều mỏng yếu. Giả như có khởi thì nhanh chóng trừ diệt. Ở tại trụ xứ không có các việc khủng bố, tranh chấp, đói khát, bị phi nhân xúc não. Các nạn như thế nếu chưa khởi thì không khởi, cho dù có khởi cũng liền tiêu diệt. Bồ-tát phát tâm nếu phải sinh nơi đường ác cũng chóng được giải thoát, thọ khổ nhẹ ít, mau sinh chán lìa. Đối với các chúng sinh khác có thể khởi tâm bi, luôn đem phước đức thuần tịnh để che chở, thành tựu vô lượng phước tịnh như thế.

*********

XỨ PHƯƠNG TIỆN THỨ NHẤT

Phẩm thứ 3: TỰ LỢI LỢI THA

Thế nào là hành Bồ-tát? Lược nêu về đối tượng học của các Bồ-tát, như học mà học, gọi chung là hành Bồ-tát. Bồ-tát ở nơi xứ nào để học? Xứ học có bảy. Những gì là bảy? Một là tự lợi. Hai là lợi tha. Ba là nghĩa chân thật. Bốn là lực. Năm là thành thục chúng sinh. Sáu là tự thành thục pháp Phật. Bảy là Bồ-đề vô thượng.

Thế nào là tự lợi lợi tha? Tự lợi lợi tha lược nêu có mười thứ: Một là thuần. Hai là cộng. Ba là an. Bốn là lạc. Năm là nhân gồm thâu. Sáu là quả gồm thâu. Bảy là đời này. Tám là đời khác. Chín là rốt ráo. Mười là không rốt ráo.

Thuần, cộng nơi tự lợi lợi tha có hai thứ: Một là thuần tự lợi. Hai là thuần lợi tha. Trái với đạo Bồ-tát là nên biết nên đoạn. Thuận với đạo Bồ-tát là phải nên tu học. Vì an lạc cho mình nên cầu tìm tài vật tự dùng. Vì pháp bí mật nên cầu kinh pháp Phật để thọ trì gìn giữ. Vì nhằm sinh lên cõi trời nên thọ trì các pháp như giới cấm, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Vì tham cầu quả báo thế gian nên cúng dường tháp Phật. Vì tham lợi nên khởi cầu tướng lợi. Vì lừa dối với kẻ khác nên không duyên, tự nói đủ các thứ công đức. Do tham thân dựa kẻ khác nên thâu nhận phi pháp, tự trụ nơi thiền lạc, xả bỏ chúng sinh. Đó gọi là thuần tự lợi, nên biết nên đoạn. Bố thí, nhẫn nhục, lấy tâm bi làm đầu, hồi hướng về Bồ-đề cùng muốn sinh thiên. Đó gọi là tự lợi cùng lợi tha, phải nên tu học. Trừ các thứ đã nói như thế, các thứ trái nhau với thuần tự lợi khác, đó gọi là tự lợi cùng lợi tha.

Người thuần lợi tha nhưng nếu theo tà kiến cho không nhân không quả, không có bố thí, lại phạm giới, trái đạo, vì người thuyết pháp, tự độ địa dưới, lại đem pháp tịnh của địa dưới trao cho người khác là nên biết nên đoạn. Bồ-tát xả thiền nguyện sinh vào cõi dục. Bồ-tát tự tại nơi mười phương thế giới biến hiện đủ các thứ, giáo hóa chúng sinh hành trọn vẹn theo lực, vô sở úy và pháp bất cộng của Như Lai, tạo lợi ích cho tất cả vô lượng chúng sinh. Đó gọi là thuần lợi tha. Trước đã nói hai thứ thuần tự lợi lợi tha, nên biết nên đoạn. Thuần lợi tha còn lại, phải nên siêng học. Trừ các thứ đã nói như vậy, các thứ trái nhau với thuần lợi tha khác, đó gọi là lợi tha cùng tự lợi.

An nơi tự lợi và lợi tha, lược nêu có năm thứ: Một là tướng vô tội. Hai là tướng thâu nhận. Ba là đời này. Bốn là đời khác. Năm là tịch diệt.

Bồ-tát đã gồm thâu căn thiện, hoặc nhiều hoặc ít, tu tập thành tựu, cũng đem những điều thiện ấy thành tựu cho chúng sinh để điều phục kiến lập, đó gọi là tướng vô tội.

Bồ-tát an nơi tự lợi và lợi tha, do lìa nhiễm ô, vui thích đạt các vật dụng tạo an lạc, trụ nơi thiền lạc tạo lợi ích cho mình và người, đó gọi là tướng thâu nhận.

Bồ-tát an nơi tự lợi và lợi tha, có đời này an ổn không phải là đời khác, có đời khác an ổn không phải là đời này, có đời này đời khác an ổn, có không phải đời này không phải đời khác an ổn. Bốn thứ thọ ấy có bốn thứ pháp thứ lớp theo chỗ ứng hợp kia. Những gì là bốn? Có pháp đời này thọ lạc, đời khác thọ khổ. Có pháp đời này thọ khổ, đời khác thọ lạc. Có pháp đời này thọ lạc, đời khác thọ lạc. Có pháp đời này thọ khổ, đời khác thọ khổ. Đó gọi là an nơi tự lợi lợi tha của đời này đời khác.

Niết-bàn cùng đạo Niết-bàn, phần Niết-bàn, pháp thế gian, pháp xuất thế gian, đó gọi là an nơi tự lợi lợi tha của tịch diệt.

Lạc nơi tự lợi lợi tha, lược nêu có năm thứ: Một là nhân lạc. Hai là thọ lạc. Ba là lạc đối trị khổ. Bốn là đoạn thọ lạc. Năm là lạc vô tội.

Nhân lạc có hai thứ: Một là nhân duyên của tình (căn) trần tiếp xúc nên lạc thọ sinh. Hai là yêu thích quả nghiệp của đời này đời sau. Đó gọi là nhân lạc.

Các khổ dứt rồi, suy nghĩ về ba thứ nhân lạc, thân tâm khởi sự thọ nhận. Đó gọi là thọ lạc. Thọ lạc có hai thứ là hữu lậu và vô lậu. Vô lậu là hàng hữu học và vô học. Hữu lậu là hệ thuộc ba cõi là dục, sắc và vô sắc. Tất cả ba cõi kia tùy theo chỗ ứng hợp với sáu nhập để phân biệt.

Nhân duyên của nhãn xúc cho đến nhân duyên của ý xúc sinh khởi, tương ưng với năm thức gọi là thân thọ, tương ưng với ý thức gọi là tâm thọ. Các thứ khổ não như lạnh nóng, đói khát đã khởi, chưa khởi, đối trị khiến dứt, dứt rồi nhận biết là lạc sinh. Đó gọi là lạc đối trị khổ.

Định diệt thọ tưởng, đó gọi là đoạn thọ lạc.

Lạc vô tội có bốn thứ: Một là lạc của sự xuất gia. Hai là lạc của sự xa lìa. Ba là lạc của tịch diệt. Bốn là lạc của Bồ-đề. Tin nhà không phải là nhà, xuất gia học đạo, giải thoát các nạn của tại gia, đó gọi là lạc của sự xuất gia. Đoạn trừ pháp dục ác bất thiện, chứng đắc thiền thứ nhất, đạt ly sinh hỷ lạc, đó gọi là lạc của sự xa lìa. Nhị thiền đứng đầu, giác quán (tầm tứ) dừng dứt, đó gọi là lạc của tịch diệt. Tất cả phiền não hoàn toàn diệt trừ, đối với tất cả pháp như thật nhận biết rõ, đạt an lạc, đó gọi là lạc của Bồ-đề.

Nhân lạc là nhân của lạc, chẳng phải là tự tánh. Thọ lạc chẳng phải là nhân của lạc nhưng là tự tánh. Lạc đối trị khổ chẳng phải là nhân của lạc, chẳng phải là tự tánh, nhưng là dứt khổ trừ khổ. Đoạn thọ lạc chẳng phải là nhân của lạc, chẳng phải là tự tánh, chẳng phải là trừ khổ, nhưng là thọ hiện có, là khổ chân thật, tùy khi trụ định là thọ diệt, thuộc về lạc vô tội. Sau cùng lạc của Bồ-đề. Tất cả phiền não của hiện tại, vị lai đều rốt ráo diệt, các thứ lạc vô tội khác, đối với chỗ tùy thuận kia, đó gọi là lạc vô tội.

Bồ-tát này đem lạc an ổn tạo lợi ích cho chúng sinh, chẳng phải chỉ nhận biết như thật về lạc an ổn. Tùy theo sức phương tiện chỉ dạy khiến đoạn trừ khổ. Nếu khổ nhưng về sau an, nghĩa là Bồ-tát kia tuy ưu não nhưng chính là cần phải tạo lợi ích, đó là Bồ-tát nương nơi phương tiện thiện xảo. Nếu lạc nhưng về sau không an, thì Bồ-tát kia tuy ưu não nhưng không muốn từ bỏ. Dùng lực của phương tiện, chủ yếu là nhằm đoạn trừ. Vì sao? Vì về sau tất được lạc.

Bồ-tát này muốn chúng sinh an, là muốn khiến được lạc. Ban cho chúng sinh kia an, là cũng muốn ban cho lạc. An là xứ của nhân.

Lạc là xứ của quả. Vì thế nên biết tạo lạc nơi chúng sinh tất trước là an. Bồ-tát kia yêu thích nghiệp quả nơi đời này đời sau là thuộc về nhân lạc, và các thứ lạc đối trị khổ, đoạn thọ lạc, lạc vô tội, quyết định lấy đó tạo lợi ích cho chúng sinh, cũng gọi là gồm thâu, cũng gọi là thọ lạc vô tội. Còn nhân lạc của căn trần đối xúc là nhiễm ô, có tội, không an ổn, là không đem lợi ích chỉ dạy khiến đoạn trừ. Nếu không phải nhiễm ô, vô tội, an ổn, thì lấy đó để tạo lợi ích cho tất cả chúng sinh, Bồ-tát cũng thường tùy theo sức tự hành. Đó gọi là an lạc nơi tự lợi lợi tha của Bồ-tát.

Nhân gồm thâu, quả gồm thâu nơi tự lợi và lợi tha, lược nêu có ba thứ nhân, ba thứ quả: Một là nhân báo quả báo. Hai là nhân phước quả phước. Ba là nhân trí quả trí.

Thế nào là báo? Báo có tám thứ: (1) Thọ mạng đầy đủ. (2) Sắc đầy đủ. (3) Chủng tánh đầy đủ. (4) Tự tại đầy đủ. (5) Tín ngôn đầy đủ. (6) Đại lực đầy đủ. (7) Người đầy đủ. (8) Lực đầy đủ.

Thọ mạng kia trụ lâu dài, đó gọi là thọ mạng đầy đủ. Dung mạo đoan nghiêm, đó gọi là sắc đầy đủ. Sinh nơi tộc họ sang quý, đó gọi là chủng tánh đầy đủ. Được nhiều của cải, nhiều chúng, nhiều quyến thuộc, đó gọi là tự tại đầy đủ. Nghe kiện đoán sự, tạo lập luật pháp, nhận trao gởi gắm đều theo đúng pháp, phàm lời nói ra đều được mọi người tin phục, đó gọi là tín ngôn đầy đủ. Có danh xưng lớn, phương tiện lớn, trí tuệ lớn, đủ các thứ kỹ nghệ cần thiết cho mọi người, được đại chúng cung kính tôn trọng khen ngợi, đó gọi là đại lực đầy đủ. Thành tựu pháp trượng phu, đó gọi là người đầy đủ. Ít bệnh ít não, có khả năng đảm nhận các việc, đó gọi là lực đầy đủ.

Thế nào là nhân của báo? Không sát hại chúng sinh, không làm tổn hại tâm, đó gọi là nhân của thọ mạng. Bố thí đèn sáng, vật tịnh, đó gọi là nhân của sắc. Lìa bỏ kiêu mạn, đó gọi là nhân của chủng tánh. Tuệ thí các thứ vật dụng, đó gọi là nhân của tự tại. Lìa bốn lỗi nơi miệng, đó gọi là nhân của tín ngôn. Thâu giữ các công đức, lập thệ nguyện lớn, cúng dường Tam bảo và các bậc tôn trưởng, đó gọi là nhân của đại lực. Vui pháp trượng phu, chán pháp nữ nhân, nói pháp trượng phu tạo lợi ích cho người khác, chỉ dạy khiến chán lìa pháp nữ nhân, đó gọi là nhân của người. Chúng sinh đã hành tác như pháp, tùy theo khả năng của mình đều đến trợ giúp, đó gọi là nhân của lực. Tám thứ như vậy, gọi là nhân của báo.

Lược nêu về nhân của báo có ba thứ thù thắng, khiến cho báo tăng thượng: Một là tâm tịnh. Hai là phương tiện tịnh. Ba là phước điền tịnh.

Tâm tịnh là mong cầu nơi Bồ-đề vô thượng luôn hồi hướng, căn thiện dần dần tăng trưởng, tin vui tu hành thuần thiện thắng diệu. Thấy người hành trì tâm sinh hoan hỷ, ngày đêm nhớ nghĩ, tùy thuận chánh pháp, theo giác theo quán. Đó gọi là tâm tịnh. Tu tập nơi đêm dài sinh tử luôn siêng năng tinh tấn không gián đoạn, lại đem pháp này truyền trao cho người khác. Thấy có người trao thì tùy hỷ khen ngợi. Thấy người thọ hành thì tùy thuận dẫn dạy. Cũng dùng pháp ấy để tự kiến lập. Đó gọi là phương tiện tịnh. Lược nêu phương tiện là chính thức khởi quả của phương tiện. Đó gọi là phước điền tịnh.

Thế nào là quả của báo? Bồ-tát thọ mạng đầy đủ, tu tập pháp thiện lâu dài, khiến các chúng sinh thành tựu căn thiện, đó gọi là quả của thọ mạng đầy đủ. Bồ-tát thân sắc đầy đủ, được đại chúng yêu thích, do đại chúng yêu thích nên đều cùng cung kính, vui nghe giảng nói, đó gọi là quả của sắc đầy đủ. Bồ-tát chủng tánh đầy đủ, được chúng kính trọng, cúng dường, tán thán, lời nói ra tất được thọ hành, không có trái phạm, đó gọi là quả của chủng tánh đầy đủ. Bồ-tát tự tại đầy đủ, nên bố thí khắp nơi, gồm thâu thành tựu chúng sinh, đó gọi là quả của tự tại đầy đủ. Bồ-tát tín ngôn đầy đủ, thường dùng ái ngữ, lợi ích, đồng sự, thâu giữ chúng sinh, giáo hóa khiến thành tựu, đó gọi là quả của tín ngôn đầy đủ. Bồ-tát đại lực đầy đủ, mọi sự tạo tác của chúng sinh đều có thể gánh vác, giúp đỡ, chúng sinh biết ân cùng đến quy ngưỡng, lời nói ra, dẫn dạy đều được vâng làm, đó gọi là quả của đại lực đầy đủ. Bồ-tát với thân người đầy đủ, thành tựu tướng nam nhi, có thể hành tác tất cả công đức pháp khí, đối với tất cả phương tiện, tất cả tri kiến đều đạt vô sở úy, nơi hết thảy thời luôn tự tại hành hóa, nơi tất cả chúng sinh qua lại đồng sự, như người giữa chốn đồng rộng, tùy ý không ngại, đó gọi là quả của người đầy đủ. Bồ-tát lực đầy đủ, có phương tiện tinh cần, phương tiện kiên cố, phương tiện mau chóng, tu thiện không chán, giáo hóa người không mệt mỏi, đó gọi là quả của lực đầy đủ. Bồ-tát đem tám thứ quả của báo này, tạo lợi ích cho chúng sinh, tự thành thục pháp Phật, tùy thuận công đức. Bồ-tát trụ nơi tám thứ quả của báo này, khiến các chúng sinh làm những việc nên làm, chúng sinh tùy theo sự chỉ dạy đều tu theo hạnh nguyện.

Nếu Bồ-tát tuy tự có lực nhưng các chúng sinh kia không theo thì không gọi là lợi tha. Nếu tự mình không có lực nhưng kẻ thọ giáo hóa thuận theo, cũng không gọi là lợi tha. Nếu tự có lực và người thọ giáo hóa thuận theo, hai thứ ấy đầy đủ, tức có thể gồm cả tự lợi, lợi tha. Bồ-tát đầy đủ hai pháp, là có thể tự hành pháp Phật, đem pháp của ba Thừa thành tựu cho chúng sinh, có thể tự hành đạt rốt ráo đạo quả Bồ-đề vô thượng. Chúng sinh đã thành thục khiến được giải thoát. Thế nên Bồ-tát trụ nơi tám thứ quả của báo này mới có thể tạo an lạc cho tất cả chúng sinh. Hết thảy chúng sinh nơi sinh tử vô cùng, từ xưa đến nay hoàn toàn không có nghĩa lợi cũng đều khiến họ đạt được phần thật của đại quả.

Thế nào là phước? Thế nào là trí? Bố thí Ba-la-mật, Trì giới Bala-mật, Nhẫn nhục Ba-la-mật, đó gọi là phước. Bát-nhã Ba-la-mật đó gọi là trí.

Thiền Ba-la-mật, Tinh tấn Ba-la-mật mỗi thứ đều có hai phần: Một là phần phước. Hai là phần trí.

Nương nơi thiền, tu bốn vô lượng, đó gọi là phần phước. Nương nơi thiền, tu ấm giới nhập, theo phương tiện thiện xảo, xứ phi xứ theo phương tiện thiện xảo, quán khổ tập diệt đạo, pháp thiện – pháp bất thiện, pháp hữu tội – pháp vô tội, pháp hạ – pháp thượng, pháp cấu – pháp tịnh, cho đến các duyên khởi đều có thể phân biệt quan sát như thật, đó gọi là phần trí.

Dựa nơi tinh tấn, tu hành thí, giới, bốn tâm vô lượng, đó gọi là phần phước. Dựa nơi tinh tấn, tu hành tuệ văn, tư, tu, phương tiện thiện xảo của ấm v.v… như trước, đó gọi là phần trí.

Phước trí như thế, lược nêu có sáu thứ, nói rộng thì vô lượng.

Thế nào là nhân của phước? Thế nào là nhân của trí? Nhân của phước, nhân của trí lược nêu có ba thứ: Một là xứ phương tiện nhằm nuôi lớn phước trí. Hai là tùy thuận duyên gần. Ba là vốn hành tập duyên gần của phước trí.

Không trụ nơi duyên điên đảo, trụ nơi duyên không điên đảo, gần gũi tri thức ác, thuyết giảng phước trí điên đảo, niệm điên đảo, thọ điên đảo, đó gọi là trụ nơi duyên điên đảo. Cùng với phần tịnh trái với phần này, đó gọi là trụ nơi duyên không điên đảo. Xứ phương tiện nhằm nuôi lớn phước trí, chướng không dấy khởi, đó gọi là gần. Ba nhân này không đủ thì phước trí không sinh.

Thế nào là quả của phước? Thế nào là quả của trí? Vì các chúng sinh nơi nẻo sinh tử vô cùng tận, trải qua đủ các khổ, nên Bồ-tát nương nơi phước, tùy theo đối tượng mong muốn kia để thâu giữ chúng sinh. Bồ-tát dựa nơi trí thâu nhận phước chánh theo vô số thứ phương tiện thiện xảo, vì các chúng sinh cho đến đạt được Bồ-đề vô thượng. Như vậy là lược nêu về phước trí có bốn thứ quả, nói rộng thì vô lượng.

Hoặc báo, hoặc nhân của báo, hoặc quả của báo, tất cả đều dựa nơi phước để sinh khởi. Phước thì dựa nơi trí khởi. Hai thứ này đầy đủ là tối thắng tối thượng để chứng đắc Bồ-đề vô thượng. Nếu phước trí không đầy đủ thì trọn không thể chứng đắc. Đó gọi là nhân gồm thâu quả gồm thâu nơi tự lợi lợi tha của Bồ-tát.

Thế nào là đời này – đời khác nơi tự lợi lợi tha? Hiện tu phước nghiệp đạt được tài sản như pháp, do nhân duyên thiện từ đời trước nên nay thọ quả báo, khéo có thể chuyển thiền trụ nơi an lạc của đời này, dựa nơi đời này để tạo lợi ích cho chúng sinh, dựa nơi các thiền nên có Niết-bàn hiện pháp như thật, thế gian, xuất thế gian đều hướng đến Niết-bàn hiện pháp, là pháp hữu vi, đó gọi là đời này đạt tự lợi. Tức dùng pháp ấy giáo hóa chúng sinh, đó gọi là đời này đạt lợi tha.

Đời khác, thân mạng, tài sản nơi cõi dục, cho đến sinh nơi thiền vô sắc, đời này ưu khổ, tư duy tu tập nhân kia, đó gọi là đời khác đạt tự lợi lợi tha.

Đời này hỷ lạc, tư duy tu tập nhân của thân mạng, tài sản, cho đến phần thoái chuyển của đời này, là chánh thọ thiền vô sắc. Đó gọi là đời này đời khác nơi tự lợi lợi tha.

Thế nào là rốt ráo – không rốt ráo nơi tự lợi lợi tha? Thân mạng, tài sản ở cõi dục, có nhân có quả, phàm phu thế tục tịnh, có nhân có quả, đó gọi là không rốt ráo nơi tự lợi lợi tha. Tất cả phiền não đã diệt trừ hoàn toàn, hành tám chánh đạo và nương vào đấy sinh khởi pháp thiện thế tục, đó gọi là rốt ráo nơi tự lợi lợi tha.

Rốt ráo, không rốt ráo có ba thứ: Một là tự tánh. Hai là thoái chuyển. Ba là thọ dụng quả tận. Tự tánh là Niết-bàn rốt ráo, tất cả pháp hữu vi là không rốt ráo. Tám chánh đạo là không thoái chuyển, là thọ dụng quả bất tận, là rốt ráo. Các pháp hữu lậu thiện khác là thoái chuyển, là thọ dụng quả tận, là không rốt ráo.

Đó gọi là mười thứ tự lợi lợi tha. Như vậy, lược nêu hoặc nói rộng, Bồ-tát phải nên tùy sức tu học, quá khứ đã học, vị lai sẽ học.

Tất cả mười thứ tự lợi lợi tha gọi là rốt ráo, không rốt ráo nơi tự lợi lợi tha.

*********

XỨ PHƯƠNG TIỆN THỨ NHẤT

Phẩm thứ 4: NGHĨA CHÂN THẬT, phần 1

Thế nào là nghĩa chân thật? Lược nêu có hai thứ: Một là pháp tánh thật. Hai là pháp tánh của tất cả sự.

Hai pháp tánh này dùng chủng loại phân biệt, lại có bốn thứ: (1) Đối tượng nhận biết của thế gian. (2) Đối tượng nhận biết của học. (3) Pháp xứ nơi đối tượng hành của trí làm tịnh chướng phiền não. (4) Pháp xứ nơi đối tượng hành của trí làm tịnh chướng trí.

Thế nào là nghĩa chân thật nơi đối tượng nhận biết của thế gian? Các việc ở thế gian thuận theo tục số, tri kiến đều đồng. Nghĩa là đất tức là đất, không phải là nước, không phải là nước, lửa, gió khác. Sắc, thanh, hương, vị, xúc, cho đến khổ, lạc cũng như vậy. Lược nói vật này, tức là vật này, không phải là vật kia. Như thế ý quyết định hiểu rõ tất cả sự xứ của đối tượng hành. Thế gian xưa nay đều tự nhớ tưởng nhận biết, không từ tu tập. Đó gọi là nghĩa chân thật nơi đối tượng nhận biết của thế gian.

Thế nào là nghĩa chân thật nơi đối tượng nhận biết của học? Như người trí ở đời, dựa nơi hiện trí, tỷ trí , cùng theo thầy nghe, suy xét để tu học, trí ấy quyết định về sự xứ nơi đối tượng hành kết tập kiến lập. Đó gọi là nghĩa chân thật nơi đối tượng nhận biết của học.

Thế nào là nghĩa chân thật của pháp xứ nơi đối tượng hành của trí làm tịnh chướng phiền não? Tất cả Thanh văn, Duyên giác, đối với trí vô lậu, hoặc phương tiện vô lậu, hoặc tùy theo trí thế gian sinh cảnh giới tu hành, ở trong duyên của trí kia, phiền não chướng được tịnh, chướng nơi đời vị lai rốt ráo không khởi. Đó gọi là nghĩa chân thật của pháp xứ nơi đối tượng hành của trí làm tịnh chướng phiền não. Đấy là bốn Thánh đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Quán bốn đế này nhập các tuệ như vô gián cùng sinh khởi trí tuệ như vô gián v.v… Thanh văn, Duyên giác thấy ấm lìa ấm, ngã không thể thủ đắc, các hành duyên khởi, sinh diệt hòa hợp, ấm cùng lìa ấm, tri kiến tu tập không có tánh nhân ngã. Đó gọi là nghĩa chân thật của pháp xứ nơi đối tượng hành của trí làm tịnh chướng phiền não.

Thế nào là nghĩa chân thật của pháp xứ nơi đối tượng hành của trí làm tịnh chướng trí? Đối tượng nhận biết của trí bị ngăn ngại, đó gọi là chướng. cảnh giới tu hành của trí kia bị chướng ngại, đã được trí giải thoát. Đó gọi là nghĩa chân thật của pháp xứ nơi đối tượng hành của trí làm tịnh chướng trí. Đấy là chư Phật, Bồ-tát nhập nơi pháp vô ngã, nhập rồi đạt thanh tịnh, đối với tất cả pháp xa lìa tự tánh của ngôn thuyết, tự tánh của giả danh, xa lìa các vọng tưởng, là cảnh giới tu hành của đại trí bình đẳng, là như thật đệ nhất, vô thượng vô biên, tất cả pháp chọn đều vĩnh viễn diệt trừ, không sinh khởi. Đó gọi là nghĩa chân thật của pháp xứ nơi đối tượng hành của trí làm tịnh chướng trí.

Lại, tướng chân thật kiến lập có hai thứ: Một là có tánh. Hai là không tánh.

Có tánh: Là kiến lập nêu bày tự tánh của giả danh. Từ lâu xa đến nay, thế gian chấp trước, tất cả nhớ tưởng căn bản là hư vọng. Đó gọi là sắc, thọ, tưởng, hành, thức; là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; là địa, thủy, hỏa, phong; là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; cho đến Niết-bàn. Như vậy thế gian giả danh có pháp tự tánh. Đó gọi là có tánh.

Không tánh: Là sắc giả danh v.v… cho đến Niết-bàn giả danh, không sự, không nương giả danh, chỗ dựa nơi tất cả đều không. Đó gọi là không tánh.

Như trên đã nói, có không là hai, cùng lìa tướng của pháp nên chỗ gồm thâu hai pháp là không có hai. Không hai, đó gọi là trung đạo. Lìa nơi hai biên, đó gọi là vô thượng. Chân thật như thế là cảnh giới nơi trí tịnh của Phật Thế Tôn, là chỗ nên tu học của các Bồ-tát. Nếu vị nào tu học, gọi là Bồ-tát của đại trí phương tiện, sẽ đạt được đạo quả Chánh đẳng Chánh giác vô thượng. Vì sao? Vì Bồ-tát cùng “giải thoát không” tương ưng. Ở trong sinh tử nhận biết như thật về sinh tử, không hành theo sinh tử vô thường nhưng sinh chán lìa, có khả năng thành tựu pháp Phật, tạo lợi ích cho chúng sinh. Nếu không nhận biết như thật về sinh tử, thì không thể lìa bỏ tất cả phiền não như tham, sân, si v.v… Nếu không lìa bỏ tức bị nhiễm ô, phải thọ nhận các sinh tử. Do tâm nhiễm ô, thọ nhận sinh tử, nên không thể thành tựu pháp Phật, tạo lợi ích cho chúng sinh. Nếu đối với các hành như sinh tử vô thường v.v… sinh chán lìa, thì Bồ-tát mau chóng chứng đắc Niết-bàn. Mau chóng chứng đắc Niết-bàn thì cũng không thể thành tựu pháp Phật, tạo lợi ích cho chúng sinh, làm sao có thể chứng đắc đạo quả Chánh đẳng Chánh giác vô thượng? Nếu Bồ-tát cùng với “giải thoát không” tương ưng, thì không sợ Niết-bàn, cũng không cầu Niết-bàn. Nếu Bồ-tát sợ Niết-bàn thì không thể hành đầy đủ đạo Niết-bàn. Vì sợ Niết-bàn nên không thấy công đức lợi ích của Niết-bàn. Không thấy công đức lợi ích của Niết-bàn nên mọi tín, lạc thanh tịnh thảy đều xa lìa. Nếu Bồ-tát cầu Niết-bàn, tu tập nhiều thì mau chóng Bát Niết-bàn. Mau chóng Bát Niết-bàn nên không thể thành tựu pháp Phật, tạo lợi ích cho chúng sinh. Nếu đối với sinh tử không nhận biết như thật, tức phải thọ nhận sinh tử dài lâu.

Nếu nhàm chán sinh tử thì mau chóng Bát Niết-bàn. Nếu sợ

Niết-bàn thì không thể hành đầy đủ đạo Niết-bàn. Nếu cầu Niếtbàn, tu tập nhiều, thì mau chóng Bát Niết-bàn, nên biết Bồ-tát ấy đối với đạo quả Chánh đẳng Chánh giác vô thượng không có phương tiện lớn. Nếu trong sinh tử đạt được nhận biết như thật, thì đối với sinh tử tâm không nhiễm vướng. Nếu đối với các hành như sinh tử vô thường v.v… không chán lìa, không mau chóng Bát Niết-bàn, không sợ Niết-bàn, tức có thể hành đầy đủ đạo Niết-bàn, thấy rõ về công đức lợi ích của Niết-bàn. Nếu không siêng cầu mau chóng đắc Niết-bàn, nên biết Bồ-tát ấy đối với đạo quả Chánh đẳng Chánh giác vô thượng có phương tiện lớn. Phương tiện lớn này dựa vào đệ nhất giải thoát không. Vì thế gọi là Bồ-tát tu đệ nhất giải thoát không, là phương tiện tối đại, nghĩa là hướng đến đại trí vô thượng của Như Lai.

HẾT – QUYỂN 1

Pages: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

CHÚ THÍCH

  1.  Kinh này (10 quyển) tương đương với phần Địa Bồ Tát (Địa thứ 15) từ quyển 35 đến quyển 50 nơi Luận Du Già Sư Địa (100 quyển). Do dịch trước, dịch trong hoàn cảnh tài liệu tham khảo còn thiếu v.v… nên bản Hán dịch này tuy vẫn có thể lãnh hội, nhưng nếu đối chiếu với phần tương đương nơi Luận Du Già thì ở đây rất nhiều đoạn, nhiều phần văn nghĩa không rõ, không đủ, hoặc dịch không sát, không đúng v.v… Nói chung, bản Hán dịch này chỉ có giá trị tham khảo (ND).