SỐ 1584/3
LUẬN QUYẾT ĐỊNH TẠNG1
Hán dịch: Đời Lương, Đại sư Chân Đế
Việt dịch: Cư sĩ Nguyên Huệ

 

QUYỂN THƯỢNG

Phẩm ĐỊA TÂM, phần 1

Trí tuệ thông đạt khắp

Nơi tịnh lại không trị

Cứu đời, Luận thế dứt

Đảnh lễ bậc Tối thắng.

Pháp như Ngài đã thuyết

Đạo địa tĩnh là đạo

Chưa hiểu ba pháp này

Thế chuyển như luân chuyển.

Thánh Tăng trụ nơi pháp

Vượt buộc, vượt chúng khác

Mười phần, tám phần, tám

Quả đạo và đạo quả.

Nếu các Đại sĩ phu muốn tạo Luận, đem lợi ích cho người không hiểu biết, cho kẻ kiến chấp điên đảo nghi ngờ, tức nói về lợi ích là từ chánh trí sinh. Nói chánh trí là xuất phát từ Luận Quyết Định Tạng: Vốn đã nói về địa, nay phân biệt rộng giải thích nghĩa của địa này, khéo đáp những vấn nạn về địa năm thức và địa tâm. Kinh nói: Thức A-la-da (A-lại-da) là căn bản của mọi chủng tử, làm sao nhận biết là nó. Đó là nói về Như Lai tạng, nên nơi Kinh Giải Tiết (Kinh Giải Thâm Mật) kệ viết:

Thức làm căn bản khắp

Sâu xa chảy tràn đầy

Không vì phàm phu nói

Sợ sinh khởi ngã kiến.

Uất-đà-nam nêu:

Chấp trì gốc phân minh

Căn bản chẳng phải việc

Thân thọ định không thức

Cũng chẳng phải khí dứt.

Do tám thứ nhân duyên này nên biết có thức A-lại-da. Nếu lìa thức gốc này mà có chấp trì, thì không có lý ấy. Chấp trì có năm thứ: Một là thức A-lại-da nhận giữ nghiệp của đời trước, lại từ nơi nhân hiện tại, sau đó sinh các thức. Như Đức Phật nói trong A-tỳ-đàm: Nhờ nơi căn trần, tâm, nghiệp, nên các thức được sinh. Hai là do thiện và bất thiện nên sáu thức được sinh. Ba là ở trong sáu thức, nếu có một thức vô ký, riêng nắm giữ chỗ thâu tóm duy trì, thì không có điều ấy. Bốn là các thức đều dựa nơi căn sinh, tùy sinh một thức mà căn có chấp trì, các căn khác thì không. Năm là các căn luôn chấp trì, nghĩa tức không như vậy. Vì năm nghĩa này, nhân nơi thức A-lạida, nên các căn gọi là có. Chấp trì gốc nghĩa là từ ban đầu các thức không được hợp sinh, cũng không có điều ấy. Nếu có người hỏi: Có thức A-lại-da, các thức đều sinh chăng? Đáp: Đúng vậy. Ông nếu nói không tức là lỗi lầm. Vì sao? Vì có nghĩa thật. Như A-hàm, hai thức cùng sinh. Lấy gì để nhận biết? Như có một người muốn được thấy nghe, cho đến nhận biết các thức, mỗi mỗi đều từ căn trần, tâm muốn không khác, căn trần không khác. Một thức được sinh, các thức khác nào có trở ngại gì. Đó là nghĩa thật. Phần sau A-hàm nói phân minh: Các thức không cùng giữ lấy cảnh là không rõ. Nếu cho tâm thức cùng với nhãn thức v.v… làm bạn để giữ lấy cảnh, tức là rõ ràng. Vì sao? Vì từng hành nơi các trần, sau đó mới truy xét nhưng phần nhiều không sáng rõ. Các thức không cùng hợp, ý duyên riêng, không như duyên hiện tức dễ sáng rõ. Các thức cùng hợp, nên biết chủng tử gốc cùng sinh. Nếu lìa thức A-lại-da, thì sáu thức như nhãn thức v.v… cùng làm gốc thì không có điều ấy. Vì sao nhận biết? Vì khi thức thiện diệt thì tâm bất thiện sinh. Thức bất thiện diệt thì tâm thiện lại sinh. Thiện, bất thiện diệt thì tâm vô ký sinh. Tâm của cõi dưới diệt thì thức của cõi giữa sinh. Tâm của cõi giữa diệt thì thức của cõi trên tức sinh. Thức của cõi trên cũng diệt thì tâm của cõi dưới trở lại sinh. Thức hữu lậu diệt thì tâm vô lậu sinh. Tâm vô lậu diệt thì hữu lậu trở lại sinh, nên biết sáu thức không cùng làm gốc. Như thứ lớp tâm diệt, ở trong vô số kiếp trở lại được sinh, nên biết thức A-lại-da dùng làm chủng tử gốc, chẳng phải là việc của các thức kia. Các thức kia không cùng hợp thì không có sự việc này. Vì sao? Vì ở đây có bốn sự việc: Một là sự việc của vật dụng. Hai là sự việc nắm giữ lấy thân. Ba là sự việc nói là ngã. Bốn là sự việc đối với trần cảnh. Bốn sự việc như thế niệm niệm cùng sinh. Nếu nói một thức ở trong một niệm nhận biết bốn sự việc thì không có điều ấy. Nói thân thọ nhận, nếu lìa thức A-lại-da mà có thân thọ nhận tức không có nghĩa ấy. Vì sao nhận biết? Cũng như có người hoặc thật tâm tạo tác hoặc không thật tâm tạo tác, trước hết cũng cần tư duy. Hoặc tâm định hoặc tâm không định, các thọ nơi thân có rất nhiều thứ sinh và chúng được sinh, nên biết là có thức A-lại-da. Có vô thức định cũng không có nghĩa này. Vì sao nhận biết? Nếu nhập định vô tưởng, thì người nhập định không có thức, vì sáu thức đều diệt, người này nên chết. Như Đức Phật đã nói: Nhập định không tâm nhưng thức không diệt. Nói chẳng phải là khí dứt. Nếu lìa thức A-lại-da mà có khí dứt, thì không có điều ấy. Vì sao nhận biết? Như hai người thiện và ác, khi sắp mạng chung, người thiện thì chân lạnh trên đảnh ấm, lúc trên đảnh lạnh thì mạng người ấy tức diệt. Người ác lúc chết thì từ trên đảnh lạnh đến chân ấm, lúc hơi ấm dứt thì người này mạng chung. Ý thức thường ở nơi thân, thức A-lại-da giữ gìn thân. Thức A-lại-da diệt thì thân tức lạnh liền không hay biết. Hai sự việc lạnh nóng này không do nơi ý thức, nên biết là có thức A-lại-da.

Uất-đà-nam nêu:

Cảnh giới dựa nhau khởi

Lại cùng làm nhân duyên

Được cùng tương ưng sinh

Cùng phiền não đều diệt.

Lược nêu bốn nghĩa, tức biết có sự việc của thức A-lại-da. Một loại hiện có cảnh giới diệt, là thức A-lại-da nhân nơi hai cảnh sinh: Một là ở bên trong giữ gìn sự việc. Hai là ở bên ngoài giữ gìn vật dụng, nhưng không thể phân biệt các tướng mạo. Ở đây giữ gìn bên trong, là chấp trước ngã kiến tà vạy, tập theo thế mạnh cùng căn, sắc, đồng thời chấp trì, tức là cảnh giới. Đây là hữu nơi cõi dục, cõi sắc. Trong cõi vô sắc chỉ có chấp trước ngã kiến tà vạy tập theo thế mạnh. Ở bên ngoài ngoài giữ gìn vật dụng, nhưng không phân biệt tướng mạo. Tức bên trong được thức A-lại-da giữ gìn, là gìn giữ cảnh giới bên ngoài. Ví như đèn giữ gìn tim đèn dầu ở bên trong mà bên ngoài có ánh sáng, sự việc của thức A-lại-da giữ gìn trong ngoài cũng lại như vậy. Cảnh giới này là rất sâu xa vi tế, như người đa văn trí tuệ ở thế gian cũng không thể hiểu rõ cảnh giới này: Là thường hằng nhưng có sai biệt. Thế nào là không khác? Là từ một niệm ban đầu trở đi, tới lúc bị cảnh giới nắm giữ, cho đến khi chết chỉ sinh một vị. Thức A-lại-da ở trong cảnh giới niệm niệm sinh diệt. Tại nơi dục giới giữ lấy cảnh nhỏ bé. Ở trong sắc giới giữ lấy cảnh rộng lớn. Nơi vô sắc giới, vô lượng không xứ, vô lượng thức xứ, giữ lấy vô lượng cảnh. Nơi vô sở hữu xứ giữ lấy cảnh vi tế. Nơi phi hữu tưởng phi vô tưởng giữ lấy cảnh sâu xa vi diệu. Do hai cảnh này, do vi diệu, do một vị, do niệm niệm diệt, do cảnh nhỏ bé, do cảnh rộng lớn, do cảnh vô lượng, do cảnh vi tế, do cảnh sâu xa vi diệu, nên biết là có thức A-lại-da.

Cùng dựa nhau khởi: Nghĩa là thức A-lại-da cùng với năm tâm số pháp (tâm sở) dựa nhau nên được sinh, là tư xúc, thọ, tưởng và tác ý. Năm đại địa này là năm pháp vi tế thuộc về báo. Người trí trong thế gian cũng không thể hiểu rõ. Đồng duyên một cảnh không có sai khác. Cùng thọ không khổ không vui và vô ký kết hợp. Bốn thứ còn lại cũng như vậy. Tâm số pháp (tâm sở) dựa vào nhau, do đồng báo dựa vào nhau, do vi tế dựa vào nhau, do đồng duyên một cảnh, do không khổ không vui dựa vào nhau, do vô ký dựa vào nhau, nên biết là có thức A-lại-da cùng nương dựa mà khởi.

Lại cùng làm nhân duyên: Nghĩa là thức A-lại-da và các thức khác cùng làm nhân duyên. Nghĩa này có hai: Một là chủng gốc (chủng tử). Hai là nương dựa. Thế nào là chủng gốc? Là các thức thiện, bất thiện, vô ký đều nhân nơi thức A-lại-da làm chủng gốc. Nương dựa là thức A-lại-da giữ gìn các sắc căn nên năm thức được sinh, không giữ gìn thì không sinh. Khi có thức A-lại-da thì ý thức được sinh nơi sáu thức. Hai sự việc là thức A-lại-da đều cùng làm nhân duyên. Một là hiện tại chuyển biến tăng trưởng chủng gốc. Hai là vị lai lúc sắp sinh khởi liền khiến thọ báo. Tăng trưởng chủng gốc là các thức sinh thiện, bất thiện, vô ký, niệm niệm huân tu, thức A-lại-da cũng lại như vậy. Vì sao? Vì sau khi sinh các thức dần tăng trưởng, thiện ác chuyển mạnh khiến người thọ báo. Có thức đối với thiện, bất thiện có sức mạnh nơi đời vị lai khiến thức A-lại-da thọ quả báo. Do chủng gốc, do nương dựa, do tăng trưởng, do khiến thọ báo, nên biết là có thức A-lại-da cùng với các thức làm nhân duyên.

Được cùng tương ưng sinh: Nghĩa là thức A-lại-da, hoặc cùng một thức tương ưng được sinh. Như nói ở tâm, tâm có ngã kiến và kiêu mạn làm tướng. Ở nơi có ý thức, nơi không có ý thức, thức A-lại-da luôn tương ưng sinh. Tâm ngã kiến và kiêu mạn này giữ lấy thức A-lại-da làm cảnh, nói là ngã, nói là có ngã làm tướng. Hoặc hai thức cùng sinh, đó là đối với ý thức. Hoặc ba thức cùng sinh, đó là đối với ý và ý thức. Ở trong năm thức, tùy theo đấy giữ lấy một thức. Hoặc bốn thức tương ưng sinh, ở trong năm thức giữ lấy hai thức. Cho đến ở nơi năm, sáu, bảy thức cùng sinh, do sáu trần hiện ở trước. Ý thức này dựa nơi tâm nên được lập. Nhân lúc tâm chưa diệt, ý thức không cởi bỏ sự trói buộc, nếu khi tâm diệt thì ý thức liền cởi bỏ. Ý thức có hai cảnh giới, là cảnh giới của tha trần và cảnh giới của tự trần. Tha trần là giữ lấy trần của năm thức làm cảnh. Tự trần là giữ lấy nơi pháp. Ý thức này đối với bảy thức còn lại có nghĩa khác, nên thức A-lại-da cùng với ba thọ và sáu thức tương ưng cùng sinh. Ba thọ là khổ, vui, không khổ không vui. Đối với các hàng trời, người, súc sinh, ngạ quỷ của cõi dục có một phần ít ba thọ cùng với tự thọ không khổ không vui cùng sinh. Nơi nẻo địa ngục, không lìa khổ thọ, nhờ nơi thức A-lại-da nên thọ cùng sinh. Địa ba thiền chỉ có lạc thọ, nhờ nơi thức A-lại-da nên thọ cùng sinh. Bốn thiền cho đến địa phi tưởng phi phi tưởng chỉ có thọ không khổ không vui, nhờ nơi thức A-lại-da nên thọ cùng sinh. Như vậy, trong sáu thức thì pháp thiện, bất thiện, vô ký, cùng với thức A-lại-da tương ưng cùng sinh. Lại, thức A-lại-da cùng với các thức tương ưng cùng sinh, cùng mượn tạm ba thọ và các pháp thiện, bất thiện, vô ký nơi các thức tương ưng nên được sinh, không thể lẫn lộn. Vì sao? Vì không đồng cảnh giới sinh. Cũng như nhãn thức cùng hợp sinh thì không lẫn lộn với mắt, thức A-lại-da cùng với các thức hợp sinh không được lẫn lộn cũng lại như vậy. Như các tâm số đồng là tâm pháp, có vô số tướng tương ưng hợp sinh, không có trở ngại nơi thức A-lại-da, nhưng cùng với bảy thức tương ưng hợp sinh cũng lại như vậy. Ví như nước chảy cùng với sóng là hợp sinh, không có trở ngại. Lại như gương sáng có các hình tượng là hợp sinh, không có trở ngại. Đối với thức A-lạida cùng với các thức tương ưng được sinh, không có trở ngại, cũng lại như vậy. Lại như nhãn thức, hoặc giữ lấy một sắc, một loại, một tướng, hoặc giữ lấy nhiều sắc, nhiều loại nhiều tướng. Nhĩ thức đối với thanh, tỷ thức đối với hương, thiệt thức đối với vị, thân thức đối với xúc cũng lại như vậy. Ý thức giữ lấy khắp vô số các tướng không có trở ngại. Phân biệt sáu thức về nghĩa là như vậy. Tâm giới như ở trước đã nói, đến lúc diệt cùng với bốn phiền não cùng sinh khởi xen lẫn. Ngã kiến, kiêu mạn, tham dục, vô minh, bốn phiền não này đối với địa định, bất định, ở trong pháp thiện, bất thiện, vô ký đều không có trở ngại, đó là pháp nhiễm ô vô ký. Vì thế, thức A-lại-da cùng với các thức tương ưng sinh rồi, lại cùng với ba thọ tương ưng hợp sinh, cũng cùng với các pháp thiện, bất thiện, vô ký tương ưng hợp sinh. Do nghĩa này nên biết là có thức A-lại-da tương ưng cùng sinh.

Cùng phiền não đều diệt: Nghĩa là thức A-lại-da tức là căn bản của tất cả phiền não. Làm sao nhận biết? Vì chúng sinh ở thế gian có thể khởi căn bản, có thể sinh năm căn và nơi sáu thức, cũng khởi căn bản về cõi nước, thế giới, tất cả nghiệp, khởi các nhân duyên, cũng là căn bản hợp cùng dẫn dắt quả báo. Làm sao nhận biết? Vì không thấy có chúng sinh nào không sinh khởi ba thọ. Cho nên Đức Phật nói chúng sinh lần lượt cùng làm duyên tăng thượng, vì thế thức A-lại-da là gốc của tất cả. Trong đời hiện tại là Thể của khổ đế, trong đời vị lai có thể sinh tập đế, đấy là căn bản của tất cả phiền não.

Hỏi: Nếu nói thức A-lại-da vì tất cả pháp mà làm căn bản, thì khi giải thoát phần thiện thông đạt phần thiện, các căn thiện do đấy cùng với tập đế nên có trở ngại chăng?

Đáp: Thức A-lại-da không làm căn bản của thông đạt phần thiện, giải thoát phần thiện. Các thiện ở thế gian được tăng trưởng là căn thiện thông đạt phần thiện chuyển càng sáng tỏ thù thắng. Do căn thiện thông đạt phần thiện chuyển càng sáng rỏ thù thắng, nên các thiện ở thế gian được quả báo cũng thù thắng. Đức Thế Tôn dựa nơi thức A-lại-da là chủng gốc (chủng tử) của tất cả, nên nói lời này: Nghĩa là nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới cho đến ý giới, pháp giới, ý thức giới. Trong thức A-lại-da có các thứ tánh, nên nói thí dụ về chủng tử tích tụ. Như vậy, thức A-lại-da là căn bản của tất cả phiền não, do tu pháp thiện nên thức này tức diệt. Nói tu pháp thiện, nghĩa là các phàm phu phát khởi tư duy thiện, giữ lấy các thức làm cảnh giới, tiến hành an tâm, ban đầu quán các đế. Nếu chứng Tứ đế được tuệ sáng của trí nhãn tức có thể phá bỏ thức A-lại-da. Nếu chưa thấy Tứ đế thì không thể phá bỏ. Vậy lúc nào có thể thấy thức A-lại-da tiến hành như thế? Nếu các Thanh văn nhập địa bất thoái, lại các Bồ-tát nhập địa bất thoái, có thể thông đạt pháp giới, thì có thể của thấy. Ở trong thức này tức thấy tất cả các tụ phiền não, ở trong, ở ngoài liền thấy thân mình bị phiền não trói buộc. Nơi bên trong thì thấy thân mình bị các khổ của phiền não thô ác nơi ba cõi trói buộc. Tất cả hành chủng thuộc phiền não tích tụ trong thức A-lại-da, nếu chứng đắc trí của cảnh chân như là do hành tăng thượng, do hành tu tập, đoạn được thức A-lại-da, tức chuyển tánh phàm phu, bỏ pháp phàm phu, thì thức A-lại-da diệt. Thức này diệt, nên tất cả phiền não diệt. Do đối trị được thức A-lại-da nên chứng thức A-ma-la. Thức A-lại-da là vô thường, là pháp hữu lậu, thức A-ma-la là thường, là pháp vô lậu. Vì được cảnh đạo của chân như nên chứng đắc thức A-ma-la. Thức A-lại-da là đối tượng truy đuổi của quả khổ thô ác. Thức A-ma-la không có tất cả quả khổ thô ác. Thức A-lại-da là căn bản của tất cả phiền não, không làm căn bản cho Thánh đạo. Thức A-ma-la thì không làm căn bản cho tất cả phiền não, chỉ làm căn bản cho sự chứng đắc Thánh đạo. Thức A-ma-la làm nhân nương dựa của Thánh đạo, không làm nhân sinh khởi. Thức A-lại-da đối với pháp thiện và vô ký không được tự tại. Lúc thức A-lại-da diệt thì có tướng mạo khác. Nghĩa là nhân bất thiện của phiền não nơi đời sau diệt. Do nhân diệt nên đối với năm thạnh ấm khổ của đời sau lại không được sinh. Trong đời hiện tại, vì nhân ác của tất cả phiền não diệt nên ấm phàm phu diệt, thân này tự tại tức liền như hóa, lìa bỏ tất cả quả báo thô ác. Đó là nhân duyên được thức A-ma-la, nên thọ mạng của thân này liền được tự tại. Nhân duyên của thọ mạng có thể diệt nơi thân, cũng có thể đoạn trừ mạng, diệt hết không còn gì, tất cả các thọ đều được thanh tịnh, cho đến như trong kinh đã nói rộng. Do tướng của tất cả phiền não, do nhập thông đạt phần thiện, do tu thiện tư duy, do chứng thức A-ma-la, nên biết thức A-lại-da cùng với phiền não đều diệt. Như vậy là phân biệt chân thật, giải thích nghĩa của tâm, ý, thức. Nhân nơi sự giải thích tâm ý thức này, ở trong ba cõi được nhận biết pháp của tất cả phiền não là các pháp thanh tịnh. Ngoài ra, nêu giảng về tâm, ý, thức, là nhằm giáo hóa các chúng sinh, vì các chúng sinh chưa có trí sâu xa, dễ sinh tin hiểu, nên chỉ nói về sáu thức.

Hỏi: Có người nào có thức A-lại-da nhưng không có sáu thức chăng? Có người nào có sáu thức nhưng không có thức A-lại-da chăng? Đáp: Ở đây có bốn trường hợp:

1. Như người lúc ngủ không có tâm, lúc tâm mê muội, lúc nhập định vô tưởng, lúc sinh nơi cõi trời vô tưởng, lúc ở quả vị A-nahàm nhập định diệt tận. Năm hạng người này thì có thức A-lại-da nhưng không có sáu thức.

2. Như A-la-hán, Phật-bích-chi, Bồ-tát bất thoái, Như Lai Thế Tôn. Bốn bậc này do có tâm xứ nên có sáu thức, nhưng không có thức A-lại-da.

3. Như hàng phàm phu, Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm. Bốn bậc này do có tâm xứ nên có sáu thức và cũng có thức A-lại-da.

4. Như các vị A-la-hán, Phật-bích-chi, Bồ-tát, Thế Tôn lúc nhập định diệt tận, hoặc lúc Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn vô dư, thì không có thức A-lại-da, cũng không có sáu thức.

Tất cả các pháp trong ngoài, mỗi pháp đều có tánh định, đối với tướng thì không động, vì sao từ mười tám giới chỉ nói có sáu thức? Là do có tánh định, ngoài ra các giới là căn, là trần, là bạn lữ, các thức này cùng ngày đêm mâu hậu la, la bà sát-na đi qua. Các thứ nhân duyên nơi các căn như mắt v.v…, các trần như sắc v.v…, tâm số làm bạn cho vô số duyên sinh, tùy theo xứ sinh khởi mà tên gọi không đồng. Như lửa thiêu đốt các vật, tùy theo chỗ thiêu đốt nên có các tên, là lửa cỏ, lửa gỗ, lửa phân. Cũng vậy, nhân nơi mắt nhân nơi sắc theo đấy thức được sinh, đều gọi là nhãn thức, cho đến ý thức cũng lại như vậy. Các giới như mắt v.v… từ đầu đến cuối đều là quả báo vô ký, có tướng khác, nhưng thức thì không như vậy. Thế nên phân biệt thức giới nhưng không rõ giới khác.

Nếu có Tỳ-kheo muốn hiểu biết thức tụ, tu tập hành này khiến tâm thanh tịnh, có nhiều thứ tướng mạo, có thể hiểu rõ tâm, lược nêu có ba: Một là ưa chấp trước nơi phiền não. Hai là nhiễm tâm tạo lỗi. Ba là phương tiện đoạn trừ Hoặc.

Thế nào là Tỳ-kheo nhận biết nơi phiền não khởi suy nghĩ như vầy: Tâm này từ lâu xa đến nay ưa thích chấp trước nơi phiền não, do ưa thích phiền não nên nếu như lại cứu tâm, đặt nơi xứ không dục tâm cũng bị dục dẫn dắt, không ưa tạm dừng, mau chóng trở lại nơi xứ dục. Như vậy xứ tham dục, xứ sân hận, xứ ngu si, xứ thùy miên, cho đến xứ phóng dật, giả như lại cứu tâm, đặt nơi xứ không phóng dật thì tâm cũng vẫn mau chóng thoái chuyển trở lại nơi xứ phóng dật. Như vậy là Tỳ-kheo nhận biết nơi phiền não.

Thế nào là nhận biết tâm nhiễm tạo lỗi? Tâm này có nhiễm, đã tự tổn hại, cũng lại tổn hại người khác. Đời này khởi ác, đời sau cũng như vậy. Theo các nhân duyên ác tạo tác ưu bi, khổ não, cho đến phóng dật có lỗi lầm tai họa, thọ vô số khổ cũng lại như vậy, nên biết tự tâm có các lỗi lầm tai họa.

Thế nào là nhận biết phương tiện đoạn trừ Hoặc? Là nhận biết nơi tự tâm có ưu bi khổ não như vậy, ta nay không nên theo tâm như thế để thọ nhận các khổ não, phải nên chế ngự tâm theo ta, ta không theo tâm. Suy xét như thế là nhận biết tâm có dục, đem tâm có dục đặt nơi xứ không dục, tức khiến tự tâm thấy rõ phước lợi, cho đến cứu tâm phóng dật cũng lại như vậy. Tu hành như thế, sẽ tích tập căn thiện. Lúc ấy, tâm này không còn các duyên khác, đối với các pháp thiện, tu tập tăng trưởng, được an trụ, ghét bỏ phiền não, thấy trước được tai họa, nên Tỳ-kheo tu tâm thanh tịnh. Do đã biết ưa chấp vướng phiền não, do đã biết tâm nhiễm là lỗi họa, do đã biết phương tiện đoạn trừ Hoặc, tức mau chứng được tâm vô lậu thanh tịnh vô thượng. Lại nhận biết riêng tâm cũng nói là chuyển tâm, nghĩa là giả danh. Lại nhận biết riêng tâm cũng nói là chuyển tâm, nghĩa là nhân khác. Sự đối trị tâm thiện có hai công đức. Lúc được công đức, đạt được quả thì tâm an lạc, tu tập pháp thiện tự tại vô ngại. Có ba thứ lỗi làm nhiễm đục nơi tâm: Một là tư duy không đúng đắn. Hai là kiết sử chưa đoạn trừ. Ba là hiện khởi phiền não.

Tỳ-kheo có ba xứ trụ, nhân nơi sáu hành có thể thọ nhận giáo pháp Phật. Những gì là ba xứ? Một là trụ nơi giải thoát. Hai là trụ nơi môn giải thoát. Ba là trụ nơi giải thoát đạt đến. Pháp của nhân duyên nhân nơi sáu hành: Một là không có hành khác. Hai là thâu giữ tâm tại một xứ. Ba là căn thiện được sinh. Bốn là suy xét để kiến đế, không có vị khác. Năm là không có tăng thượng mạn. Sáu là thọ dụng chính đáng tín thí.

Thí xả có hai loại: Một là thí của người thọ nhận. Hai là thí của người hành thí. Quả của thí cũng có hai: Một là quả báo được giàu có lớn. Hai là quả báo được vui vẻ, do cảm ứng dẫn đến. Quả ứng dẫn đến tức là pháp vị lai, không do chưa có, như thế nên sinh hành tướng. Thế nào là được trụ? Nếu pháp vị lai có hành tướng sinh, hoặc vượt qua nên sinh. Từ vị lai đã vượt qua nơi hiện tại, hết ở đây thì sinh kia, từ đời vị lai chung cuộc thì đời hiện tại thọ sinh. Nhân nơi pháp vị lai nên pháp của đời hiện tại sinh. Như thế, người trụ không có biến đổi. Nhân nơi pháp vị lai nên pháp hiện tại còn lại sinh. Đối với các pháp của đời vị lai và đời hiện tại chưa có nghiệp, thì ở trong đời hiện tại tức có sự sinh. Đã sinh đủ tướng nhưng nơi đời vị lai chưa có đủ tướng, tức ở trong đời hiện tại có đủ tướng nên sinh. Nếu tướng khác sinh, là do nhân của đời vị lai và tánh vị lai, tức nhân và tánh nhân. Do hai tánh này, do đã sinh tướng khác ở trong đời hiện tại và tánh của đời hiện tại, do tánh của quả, nên tướng khác sinh. Do sáu thứ pháp của đời vị lai này nên nghĩa không được sinh. Vì sao? Vì nếu chưa có xứ thì từ nơi xứ này vượt qua xứ kia, tức không có nghĩa ấy. Đã tự chưa sinh há lại có mất. Các pháp của đời hiện tại nếu nhân nơi pháp vị lai, thì pháp của đời hiện tại sinh, các pháp vị lai tức không nên chưa sinh. Hết thảy các pháp không có tướng động, do lìa tự tướng, không có nghiệp riêng. Vị lai, hiện tại nếu đồng có tướng, thì pháp trong đời hiện tại hoàn toàn riêng có nghiệp thì không có điều ấy, chỉ là nghiệp vị lai nhưng nay được sinh. Các hành thì không như vậy. Như Đức Phật nói các hành vô thường, thì thuyết kia tức phá. Nay diễn nêu về nghiệp vô thường, nếu như ông nói các hành nên thường. Phái Tăng khư đã nói: Pháp này chưa có nên nghĩa không được sinh. Các pháp đã sinh nghĩa không được diệt. Thuyết này nên là như vậy. Như Đức Phật đã nói: Pháp này chưa sinh tức nên thọ sinh, sinh rồi nên diệt. Nếu như ông nói thì nghĩa này tức không phải, vì các pháp này nếu đồng một tướng thì làm sao phân biệt? Hoặc có thể phân biệt tức là vô cùng chưa sinh được sinh. Há có tánh tướng nơi pháp vị lai, từ sắc cùng tương ưng, không riêng quả khác. Vị lai do tức là chưa có, pháp của đời hiện tại nói tức là quả, không có nghĩa ấy vì phải thành tựu. Có thuyết thật này nên có thể làm chứng tín, các pháp vị lai chưa có hành tướng. Nói chưa có, nhưng tức được sinh. Như pháp vị lai, thì quá khứ cũng như vậy. Thế nào là pháp hành của quá khứ? Là tướng diệt đã qua từ sinh. Những gì là pháp hành của hiện tại? Là tướng chưa diệt chưa qua từ sinh, chỉ vào lúc sinh là trụ. những gì là pháp hành của vị lai? Tức là nhân hiện có, chưa sinh tự tướng, chưa thọ thân mình.

Hỏi: Các pháp vị lai vốn đã không có nhưng có thể được thọ sinh. Vậy hoa đốm nơi hư không, con của Thạch nữ, sừng thỏ, vì sao không sinh?

Đáp: Ở đây là không có nhân sinh. Pháp hành của vị lai thì có nhân chánh sinh.

Hỏi: Nếu pháp vị lai có nhân chánh sinh, vì sao không được một thời hợp sinh?

Đáp: Do có nhân sinh nhưng đợi duyên không đồng. Các pháp hành này có duyên gần làm nhân tức có thể sinh, thế nên không hợp sinh.

Thế nào là duyên? Phật nói có bốn: Một là Nhân duyên. Hai là Thứ đệ duyên. Ba là Duyên duyên. Bốn là Tăng thượng duyên. Loại thứ nhất cũng là nhân cũng là duyên. Ba thứ sau chỉ là duyên, không phải nhân.

Thế nào là Nhân duyên? Là căn có sắc, có chỗ dựa, nên là thức. Tức hai thứ pháp này là chủng tử của tất cả. Chủng tử của tất cả sắc căn. Chủng tử của tất cả sắc pháp. Chủng tử của tất cả tâm tâm pháp. Hết thảy đều nương nơi sắc căn, cũng nương nơi thức, trừ sắc của bốn đại. Sắc của bốn đại này có hai thứ nương dựa: Một là bốn đại chủng. Hai là mười một thứ. Chủng tử này nối tiếp nương nơi các pháp đã nói, tức là nhân duyên. Nếu có chủng tử của sắc căn, tâm tâm pháp mà lại không có chỗ nương dựa sao? Nếu nhập định diệt tận, nhập định vô tưởng, sinh nơi trời vô tưởng, thì ở đời vị lai thức không thể sinh lại và gặp duyên nên có sinh. Do vậy sắc căn là nhân của tâm tâm pháp. Nếu có thức này nhưng không tùy theo sắc chủng, thì các phàm phu sinh nơi cõi vô sắc, thọ mạng hết, do nghiệp hết, từ nơi kia chết rồi, đến sinh ở cõi dưới, sắc này không chủng tử thì không thể sinh lại, gặp duyên nên sinh lại, vì thế các thức là căn bản của sắc. Từ đạo thế tục, nhập thiền định thứ nhất, sinh địa thiền thứ nhất. Cõi dục bất tịnh và các pháp tịnh đã phá, nhưng chủng tử đều chưa đoạn trừ. Vì sao? Vì từ thiền định thứ nhất sau đó trở lại thoái chuyển, khởi pháp bất tịnh, từ xứ thiền thứ nhất thoái chuyển sinh nơi cõi dục.

Đoạn có bốn thứ: Một là đoạn do xa lìa. Hai là đoạn do hủy hoại. Ba là đoạn do định. Bốn là đoạn do vĩnh viễn nhổ sạch gốc.

Thế nào là đoạn do xa lìa? Như có một người tham đắm dục lạc, vì nhằm đoạn trừ dục nên thọ giới lìa dục, kiên trì không phạm, khiến được tăng trưởng. Do tăng trưởng nên không còn tham đắm nơi dục. Nhân của dục là phiền não không còn sinh nữa. Đó gọi là đoạn do xa lìa.

Thế nào là đoạn do hủy hoại? Như một người có tưởng về lỗi lầm, tưởng về các thứ bất tịnh, như tưởng về máu bầm xanh nơi tử thi v.v…, do khéo tư duy nên hủy hoại được tham dục. Những thứ dục chưa đoạn hết thì không tùy theo chúng, đối với cảnh giới của trần tâm không tham đắm. Đó gọi là đoạn do hủy hoại.

Thế nào là đoạn do định? Như có một người tùy theo đạo thế tục lìa dục nhiễm, lìa sắc nhiễm, chứng được định tịch tĩnh, giữ tâm nối tiếp, đối với dục và sắc không còn tham đắm. Đó gọi là đoạn do định.

Thế nào là đoạn do vĩnh viễn nhổ sạch gốc? Là như Thánh nhân tu đạo xuất thế, lìa nhiễm ô nơi ba cõi chứng đắc đạo quả. Các phiền não căn bản trong ba cõi không còn sinh lại. Vì sao? Vì ở trong đời hiện tại đã chứng không dục, rốt ráo không thoái chuyển, đã sinh nơi cõi trên, quyết không thoái bộ trở lại sinh nơi cõi dưới. Ví như lúa mạch và các hạt giống gieo trong hư không cùng nơi đất khô nóng, thì vĩnh viễn không sinh, nhưng các hạt giống vẫn còn, nếu dùng lửa đốt thì đều cháy hết. Các phiền não căn bản đối với việc đoạn dứt cũng lại như vậy. Thánh nhân nếu nhập Niết-bàn vô dư, thì chủng tử thiện, vô ký này đều ẩn phục.

Hỏi: Nếu nói là ẩn phục tức không diệt hết, vì sao không sinh quả bảo?

Đáp: Do đã đoạn chủng tử bất thiện, nên nơi đời vị lai không thể sinh báo, cũng không thể tự sinh. Đó gọi là đoạn do vĩnh viễn nhổ sạch gốc.

Người có đủ trói buộc là tâm có sinh, có khổ, có vui, có không khổ không vui. Tất cả tâm này làm ba chủng tử là các pháp thiện, bất thiện, vô ký, cũng làm căn bản. Các vị hữu học có tâm thiện thế gian và tâm nhiễm ô, vô ký, lấy việc tu đạo đoạn trừ Hoặc nên đoạn từ chủng tử. Tâm thiện thế gian v.v… lại vì pháp khác mà làm căn bản. Hàng vô học thì đoạn trừ Hoặc đã hết, có tâm thiện thế gian, hoặc thuộc thế gian, hoặc xuất thế gian, và vô ký, do không lấy tất cả phiền não Hoặc làm căn bản, nên lấy tất cả pháp thiện và pháp vô ký làm căn bản. Như vậy, phân biệt các pháp căn bản, xứ này không nói thức A-lại-da, có xứ nói thức A-lại-da đều làm căn bản của các pháp thế tục. Tất cả các pháp xuất thế gian là pháp của đạo đoạn, do thức A-ma-la làm chủng tử. Như Đức Phật nói: Tỳ-kheo! Các A-la-hán vì pháp của tâm học dựa nơi bốn thiền, hiện trụ trong an lạc cũng từ tâm này. Ta nói thoái chuyển trở lại nơi mỗi mỗi xứ.

Hỏi: Nếu như thế, các A-la-hán đã vĩnh viễn đoạn trừ phiền não, vì sao phiền não nơi địa dưới lại sinh? Nếu không sinh lại vì sao bị thoái chuyển?

Đáp: Thoái chuyển có hai thứ: Một là thoái thất. Hai là thoái trụ. Thoái thất là hàng phàm phu. Thoái trụ là chung cho cả phàm và Thánh. Dựa nơi đạo thế tục, phiền não đã lìa, sau đó lại khởi, gọi là thoái. Thoái này là thoái thất, cũng là thoái trụ. Dựa nơi đạo xuất thế gian, phiền não đã đoạn, do tâm đắm chấp vào việc làm nên tâm không trụ. Do trung gian này tức không thể khởi hiện an lạc trụ, như trước sau cũng vậy, cũng không còn khởi các hoặc ở địa dưới, trụ xứ này là thoái, không phải là thoái của thoái thất. Các A-la-hán đã dứt hết tất cả Hoặc, nếu chưa đoạn chủng tử của pháp bất thiện, làm sao tâm A-la-hán khéo giải thoát, các lậu đã tận. Nếu chủng tử của pháp bất thiện đã đoạn, vì sao A-la-hán đối với tâm nối tiếp không chánh tư duy, há lại sinh nữa? Vì sao các Hoặc lại được sinh? Thế nên nương nơi đạo xuất thế gian đã đoạn dứt Hoặc, biết rõ là không thoái thất.

Đã nói về nhân duyên lại có hai thứ: Một là nhân sinh. Hai là nhân phương tiện.

Thứ đệ duyên: Nghĩa là các tâm số pháp theo thứ lớp nơi các pháp khác nên được sinh. Tâm số pháp này làm duyên cho sinh, một là thức tức là thức làm thứ đệ duyên, cũng gọi là ý, cũng gọi là ý nhập, cũng gọi là tâm giới. Thứ đệ duyên này lại có hai thứ: Một là đã diệt. Hai là dời xứ.

Duyên duyên: Nghĩa là năm thứ thức này dùng các trần như sắc v.v… làm duyên duyên. Lại đối với các nhập trong ngoài của tâm thức tức là duyên duyên. Duyên duyên này cũng có hai thứ: Một là dựa chứng. Hai là không dựa chứng.

Tăng thượng duyên: Nghĩa là các nhập bên trong như nhãn, nhĩ v.v… đồng thời phát sinh, cùng với các thức làm tăng thượng duyên, có thể khiến tâm tạo tác. Ở trong cảnh giới hoặc đồng thời sinh, thì tâm tâm số pháp lại cùng làm duyên. Quá khứ đã tạo nghiệp thiện và bất thiện, ở đời vị lai sinh ra quả báo như ý và không như ý, làm tăng thượng duyên. Ruộng, nước, phân làm tăng thượng duyên cho các hạt giống. Nhiều nghề nghiệp ở thế gian cùng các thứ công xảo đều làm tăng thượng duyên cho các trí. Tăng thượng duyên này lại có hai thứ: Một là không lìa. Hai là có không.

Nhân duyên này là có thể sinh, còn các duyên khác chỉ có thể tăng trưởng. Do hành duyên này cùng thời đồng đến, là chủng tử của hành có thể sinh các hành, thế nên các hành không đồng thời sinh. Do nương nơi bốn duyên nên nhận biết rõ về mười nhân, như nơi Địa Bồ-tát Đức Phật đã thuyết giảng. Duyên nơi hành quá khứ nên tâm được sinh. Duyên nơi hành vị lai tâm cũng sinh. Nếu hành quá khứ và vị lai không, thì pháp nào là tâm để tạo cảnh giới. Nói nhân nơi cảnh này, Phật thuyết là tâm sinh, do vậy tâm này tức không có cảnh.

Hỏi: Nếu tâm cảnh là không, thì lời Phật đã nói là rõ, đúng. Nhân nơi từng cặp đối nhau nên các thức được sinh. Từng cặp đối nhau như nhãn đối với sắc, nhĩ đối với thanh, cho đến tâm đối với pháp. Đây chính là Phật nói, vì sao không ngăn ngại?

Đáp: Đây là pháp trần, không vì năm thức để tạo cảnh giới. Đức Phật nói trần này gọi là pháp, duyên nơi tâm, duyên nơi pháp. Phàm nói tâm thức là do phương tiện sinh. Phật nêu bày nghĩa này lại nhằm làm gì? Do tâm thức ấy không lấy thức quá khứ làm cảnh giới, cũng không lấy các thức vị lai làm cảnh. Các thức quá khứ, vị lai thì pháp trần không gồm thâu. Nếu có pháp, tức có pháp tướng tụ. Nếu không có pháp tức không có pháp tướng tụ. Do tâm thức này tùy theo pháp có nên nghĩa của pháp có được giữ lấy. Tùy theo nghĩa không nên pháp của nghĩa không được giữ lấy. Vì nghĩa này nên tin biết các thức là không có gì làm cảnh. Nếu cho thức này không lấy hai thứ có – không làm cảnh giới, tức không thể giữ lấy hết thảy nghĩa của pháp. Nếu có người nói: Tâm thức không lấy có – không làm cảnh, thì người này tức ngăn ngại nghĩa Tất-đàn-đa.

Hỏi: Thức này nếu lấy pháp không làm cảnh, thì thức cũng nên là không chăng?

Đáp: Về quá khứ, vị lai thì không có thức, hiện tại thì có.

Hỏi: Nhãn thức không thể lấy không làm cảnh, thì tâm thức làm sao có thể lấy không?

Đáp: Do cảnh của ba đời. Lại nên nói rộng có năm thứ nghĩa. Do tâm thức hiện tại lấy không làm cảnh, như Đức Phật đã nói. Lìa nhập trong ngoài thì không có nghĩa của ngã. Ngã này là không, chẳng là phải pháp hữu vi, chẳng phải là pháp vô vi. Do đấy các thức tức lấy vô ngã làm cảnh giới. Đối với người có trí, nhận biết pháp tổng tướng, thì không ai là không tin. Đó là nghĩa thứ nhất.

Sắc, hương, vị, xúc, lìa bốn pháp trần này thì sự hiểu biết không thể đạt được. Các pháp như cung điện, giảng đường, xe cộ, thức ăn, y phục và các thứ khác đều nên là không, chẳng phải là pháp hữu vi, chẳng phải là pháp vô vi. Do đấy các thức lấy không có cung điện, giảng đường, xe cộ v.v… làm cảnh giới. Đối với người có trí nhận biết pháp tổng tướng, thì không ai là không tin. Đó là nghĩa thứ hai.

Các tà kiến này phỉ báng tất cả, cho là không nhân, không quả, không buộc, không mở, tức các pháp này là không. Nếu theo nghĩa lý có các pháp ấy thì chẳng phải là tà kiến. Sự thật này đều là không, nên đối với người tà kiến lấy không làm cảnh thì không thể không sinh thức. Đó là nghĩa thứ ba.

Lại, đối với các hành không có thường trụ. Không thường trụ này cũng chẳng phải là hữu vị, cũng chẳng phải là vô vi, nên các thức ấy cũng chẳng phải không lấy vô thường làm cảnh. Đối với người có trí nhận biết pháp tổng tướng, thì chẳng phải là không sinh thức, thường không có cảnh thức. Nếu không được sinh, thì đối với tất cả hành không thấy nơi thường là không có nghĩa. Nương nơi trí tuệ chân chánh thì không sinh chán lìa, không nhiễm cũng như vậy. Cũng không giải thoát, không được Niết-bàn. Nếu dùng nghĩa này thì các phiền não và hoặc của tất cả chúng sinh vĩnh viễn trói buộc, không giải thoát. Đó là nghĩa thứ tư.

Các hành vị lai chưa có nghĩa sinh, thì đâu có thể nói là diệt. Nhưng các Thánh nhân đối với các hành vị lai cùng đều quán xét về nghĩa sinh diệt. Đó là nghĩa thứ năm.

Do nghĩa này nên nhất định biết các thức lấy không làm cảnh. Như Đức Phật đã nói, nếu nghiệp quá khứ hoàn toàn không có, tức không có khổ thọ, lạc thọ. Nghĩa này là thế nào? Ở đời quá khứ, nghiệp thiện và bất thiện đã tạo đã diệt, đến đời vị lai thọ quả yêu thích không yêu thích. Hành ấy nối tiếp sinh ra chủng tử của nghiệp. Do nghĩa này nên Đức Phật đã nói có nghiệp quá khứ. Lại có hai nghĩa. Có những người nói không có chánh nhân là để ngăn chận chỗ chấp của họ. Lại có người nói: Có Tự Tại thiên, Phạm thiên, Đế thích, tự tánh, thần ngã, thời tiết, vi trần, nói nhân nơi pháp này nên chúng sinh khổ, vui thảy đều được sinh. Lại vì các người nói không có nhân, là để ngăn chận chỗ chấp của họ. Có nhiều người nói không có nhân cũng nói không có duyên. Vì các chúng sinh có tịnh và bất tịnh, các vật không theo nhân duyên như gỗ, đá v.v… Hoặc có tôn trọng, hoặc có khinh mạn, nên hiện sự việc này. Thế nên Đức Phật nói có hành quá khứ, các bậc Hiền Thánh không vướng mắc nơi xứ này, an lạc mà trụ. Đây là nêu bày về nghĩa gì? Do các hành quá khứ sinh quả nên có, các hành vị lai làm nhân nên có. Làm sao tin biết các hành hiện tại có ba tướng hiển hiện? Do quả quá khứ, do nhân vị lai, do tự tướng nối tiếp không đoạn tuyệt. Lại dựa nơi hai nghĩa hiện hai pháp này. Nghĩa là đối với hành quá khứ và hành vị lai, trừ bỏ chấp thật. Hoặc hành quá khứ và vị lai, tướng ấy là thật có, tức chẳng phải là quá khứ vị lai. Có người kiến không cho quá khứ vị lai không thì hiện tại cũng không. Như thế chấp này là đoạn kiến. Như Đức Phật đã nói: Có cảnh giới quá khứ vị lai, có cảnh giới hiện tại. Nghĩa này là thế nào? Do chủng tử nối tiếp đã sinh nơi quả, nên nói nghĩa này. Đó gọi là quá khứ. Chủng tử nối tiếp muốn sinh. Đó gọi là vị lai. Các quả của chủng tử hiện tại chưa đoạn, là cảnh giới hiện tại, nên nói ý này: Tỳ-kheo nhận biết đối với chủng tử nối tiếp, là vô lượng pháp, chẳng phải là một loại cảnh giới. Đó gọi là nhận biết cảnh giới. Vì sao? Vì từ các ấm như sắc v.v… là sinh, lão, trụ, diệt, lại không có pháp riêng khác, cũng chẳng phải là thật có. Các hành vị lai do ngăn chận thật có, nên không có sinh là đoạn nơi thật nghĩa. Làm thế nào nhận biết? Ở vị lai sinh đã tự chưa sinh, làm sao có thể sinh cùng sinh ở pháp khác. Các sinh của đời hiện tại cũng không thể sinh cùng sinh ở pháp hiện tại. Đây là nói tướng sinh, là các hành thành, là các hành sinh, là các hành khởi, là các hành hiện tại. Ở đây nêu rõ một nghĩa nhưng có nhiều tên gọi, lìa nhiều tên gọi này lại có tướng sinh. Các người có trí, không nói các tên gọi này dùng làm tướng sinh. Đối với các pháp ấy đều nhất định có nhân của chủng tử, đâu cần sinh riêng. Sinh này yếu kém lại là giả danh. Làm sao nhận biết? Phàm có sinh tức là hành sinh chăng? Có thể sinh hành chăng? Nếu sinh tự hành thì có thể sinh pháp hành, đối với chỗ có sinh tức pháp hành được khởi. Nghĩa này không đúng. Nếu có thể khởi, đó gọi là hành sinh, ở trong một hành nên có hai sinh, nghĩa là chủ thể sinh và các hành tự sinh. Điều này cũng không đúng. Như nói về nghĩa sinh thì ba nghĩa còn lại cũng như vậy.

Đối với nhân hiện tại, trước chưa có các hành khởi tướng, đó gọi là sinh. Không do trước là hành có tướng khác, tức gọi là lão. Khởi nhưng chưa diệt, tức gọi là trụ. Là sát-na sinh, là tướng hoại của các hành, đó gọi là diệt. Như bốn pháp này là tướng hữu vi, vì sao Đức Phật nói chỉ có ba tướng, nghĩa là sinh, diệt, trụ nơi tướng khác. Vì tất cả pháp hành đã hiện trong ba đời, từ đời vị lai chưa sinh được sinh, thế nên nương nơi đời vị lai thì sinh khởi này là tướng hữu vi. Do đây chưa sinh nên không thể chấp nơi xứ. Đã sinh rồi, thì đối với đời quá khứ thảy đều đã diệt. Nương nơi đời quá khứ, đây nói là diệt, là tướng hữu vi cũng không thể chấp trước. Do đã là quá khứ, nên nơi đời hiện tại chỗ hiện là trụ. Nương nơi đời hiện tại là tướng hữu vi, là xứ có thể vướng chấp. Vì trụ này cũng lại có khác, phần nhiều có lỗi lầm. Sinh ấy ở đây là không ai dám mong cầu. Như đối với điều an lành thì luôn có tướng không an lành đi theo, thế nên trụ và dị hợp làm một tướng. Do nghĩa này nên tướng của pháp hữu vi đã hiện trong ba đời. Nếu ba tướng này là chỗ suy lường của các bậc Thánh, thì vì sao ở trong các ấm Đức Phật quán xét tướng khởi diệt, dựa nơi pháp để trụ, lại không quán xét nơi tướng trụ dị. Sinh và trụ dị, hai thứ tướng này là chỗ hiện khởi, cho nên sinh và trụ dị, hai tướng này hợp nói làm một. Đối với biên khởi nói quán xét khởi trụ, một tướng còn lại đối với phần thứ hai an trí một biên.

Nói lời này là quán xét tướng diệt trụ, lại có nghĩa khác. Dựa nơi tướng này liền chứng không nhiễm, do nhàm chán khổ nên chứng đắc giải thoát, chỉ quán xét hai tướng là đối tượng tư duy. Do thấy vô thường nơi các pháp hành, nên sinh chán lìa. Đã nói là vô thường, thì vật chưa sinh nay sinh đó gọi là sinh. Sinh rồi tức hoại đó gọi là diệt, đều gọi là vô thường. Sinh lại có nhiều thứ, nghĩa là sát-na sinh, thọ sinh sinh, khởi sinh sinh, tâm khác sinh, không như ý sinh, như ý sinh, thượng trung hạ sinh, hữu thượng sinh, vô thượng sinh.

Sát-na sinh: Tức là trong từng sát-na, sát-na các hành sinh khởi, đó gọi là sát-na sinh.

Thọ sinh sinh: Tức là có đủ trói buộc hoặc không đủ trói buộc, theo xứ xứ bị đọa, ở trong xứ xứ ấy các ấm sinh khởi, đó gọi là thọ sinh sinh.

Khởi sinh sinh: Tức là từ lúc trẻ thơ cho đến khi là thanh niên, già cả, đó gọi là khởi sinh sinh.

Tâm khác sinh: Tức là dựa nơi các thứ duyên, các thứ thọ, các thứ thiện, các thứ đạo, hoặc chứng giải thoát chưa giải thoát, có vô lượng thứ tâm, đó gọi là tâm khác sinh.

Không như ý sinh: Tức là ở trong ba nẻo ác là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh thọ các khổ não, đó gọi là không như ý sinh.

Như ý sinh: Tức là ở nơi nẻo trời người, thọ nhận những an lạc, đó gọi là như ý sinh.

Hạ sinh: Tức là sinh nơi cõi dục. Trung sinh: Tức là sinh nơi cõi sắc. Thượng sinh: Tức là sinh nơi cõi vô sắc. Lại, lần thứ nhất thọ thai gọi là hạ sinh. Lần thứ hai, thứ ba thọ thai gọi là trung sinh. Lần thứ tư thọ thai gọi là thượng sinh. Lại, thọ nhận các quả xấu ác gọi là hạ sinh. Các pháp vô ký trừ khởi quả thiện gọi là trung sinh. Tất cả pháp thiện, tất cả quả thiện gọi là thượng sinh.

Hữu thượng sinh: Tức là từ cõi dục cho đến xứ bất dụng. Vô thượng sinh: Tức là xứ phi tưởng phi phi tưởng. Lại, hữu thượng sinh tức là A-la-hán từ lúc vào thai chưa đến thân sau cùng. Vô thượng sinh tức là một niệm của ấm sau cùng trong một sát-na.

Phân biệt về nghĩa già lại có nhiều thứ. Đó là thân già, tâm già, thọ mạng già, biến dị già, ấm dị già.

Thân già: Là tóc bạc, răng rụng, da chùng, mặt nhăn nheo, cho đến những thứ như trong kinh nói các tướng nơi thân có, đó gọi là thân già.

Tâm già: Là cùng với lạc thọ tương ưng nhưng sinh biến đổi khác. Tức như tâm thiện chuyển làm bất thiện, đối với vật yêu thích khởi xứ tham ái đắm chấp, lại sinh biến dị, là chỗ không có quả. Đó gọi là tâm già.

Thọ mạng già: Là ngày đêm từng sát-na la-bà, mâu-hậu-la v.v… đi qua, thọ mạng chuyển biến giảm thiểu, cho đến lần lượt tất cả đều chuyển gấp. Đó gọi là thọ mạng già.

Biến dị già: Là tất cả các thứ phú quý vinh hoa, không bệnh, sắc lực đều chuyển giảm ít dần, đó gọi là biến dị già.

Ấm dị già: Là sinh nơi nẻo trời người, ấm chuyển đổi tăng trưởng, từ xứ này mất sinh vào đường ác hoặc nơi chốn hạ tiện, đó gọi là ấm dị già.

Lại duyên riêng về một thứ già. Một già này trước đã nói là già nên liền được sinh. Thế nên các hành trong từng sát-na, sát-na đã sinh các thứ khác biệt, gọi là duyên riêng về một thứ già.

Phân biệt về nghĩa trụ cũng lại có nhiều thứ. Đó là sát-na trụ, nối tiếp trụ, dựa nơi duyên trụ, nhất tâm trụ, như pháp chế trụ.

Sát-na trụ: Tức là chỉ có lúc sinh là trụ. Đó gọi là sát-na trụ.

Nối tiếp trụ: Tức là tùy theo xứ đã sinh, các ấm, y phục, thức ăn, cho đến khi mạng hết. Lại nữa, khí thế gian bên ngoài cho đến khi kiếp tận. Đó gọi là nối tiếp trụ.

Dựa nơi duyên trụ: Tức là các thọ như khổ, vui, các pháp thiện, ác, mỗi mỗi đều duyên nơi hiện tại tùy theo đấy mà trụ giữ. Đó gọi là dựa nơi duyên trụ.

Nhất tâm trụ: Tức là người có tâm chánh định, trụ nơi định hiện tiền. Đó gọi là nhất tâm trụ.

Như pháp chế trụ: Tức là tùy theo cảnh giới đang ở có vua cai trị đất nước, thôn xóm, đối với bốn chủng tánh dựa theo sự việc trước đã chế mà trụ. Đó gọi là như pháp chế trụ.

Nghĩa vô thường cũng lại có nhiều thứ. Đó là hoại vô thường, biến dị vô thường, biệt ly vô thường, sẽ sinh vô thường, đi đến vô thường.

Hoại vô thường: Tức là các hữu đã có sinh tức liền có diệt. Đó gọi là hoại vô thường.

Biến dị vô thường: Tức là các hành khả ái sinh khởi không còn giống như trước. Đó gọi là biến dị vô thường.

Biệt ly vô thường: Tức là những vật đáng yêu thích bị phân tán ly biệt.

Ba thứ vô thường này, đối với đời vị lai đó gọi là sẽ sinh vô thường. Đối với đời hiện tại gọi là đi đến vô thường.

Thọ năm thứ dục lạc không thể tự giữ gìn, phút chốc suy tàn, ái biệt ly đến, suy nghĩ về việc này nên ưu sầu khổ não, cho đến như kinh nói vẫn không chịu nhàm chán. Đối với các pháp hành, những nhóm ngoại đạo cũng suy nghĩ đây là vô thường, cũng sinh nhàm chán, nhưng chỉ lìa nơi dục giới. Đối với các pháp hành phần sinh chán lìa, nếu các Thanh văn suy nghĩ đầy đủ, đây là vô thường, rốt ráo chán lìa, tức chứng được không nhiễm cho đến giải thoát.

HẾT – QUYỂN THƯỢNG

Pages: 1 2 3

CHÚ THÍCH

  1. Luận này (3 quyển) tương đương với Phần thứ 2, Phần Nhiếp Quyết Trạch, Đoạn 1 của Luận Du Già Sư Địa (100 quyển), từ quyển 51 –> 54. Do dịch trước, dịch trong thời kỳ tài liệu tham khảo ít, thuật ngữ Phật học chưa đủ, chưa chuẩn v.v… nên Luận này nhiều chỗ văn nghĩa không rõ, rất khó lãnh hội. Đối chiếu với các quyển 51 –> 54 nơi Luận Du Già Sư Địa để thấy bản Hán dịch này là hoàn toàn chưa đạt, chỉ có giá trị lịch sử – ND.