PHẬT-ĐẢNH TÔN-THẮNG ĐÀ-LA-NI
HT. THÍCH THIỀN TÂM dịch

 

Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni trong đại tạng có nhiều bản dịch, Hòa thượng đã chọn lọc hai bản dịch phổ thông và sự xê dịch giữ hai bản chẳng bao nhiêu. Cho nên quý vị dùng một trong hai bản dịch để thực hành trì niệm đều được, không gì trở ngại.

 

PHẬT-ĐẢNH TÔN-THẮNG ĐÀ-LA-NI (1)

Nam-mô ba ga pha tê. Sạt hoa tát răn, lô ky da. Bơ ra di, vi ti sắc tra da. Bút đà da, ba ga pha tê. Tát đi da tha !

Um ! Bút rum, bút rum, bút rum. Suýt đà da, Suýt đà đa. Vi suýt đà da, vi suýt đà da. Á sá ma, sá ma. Sa măn tá, phạ hoa sát. Sa phả ra na, ga ti, ga gạ na. Soa phạ hoa, vi suýt đi. Á vi chuân da, du măn. Sạt hoa tát thá ga đá. Sú ga da. Phạ ra, phạ ca nã. A mi rị tá, bi sá cu. Ma ha muýt đơ ra, măn đa ra, ba na.

Um ! Á hạ ra, á hạ ra. A du săn, đà ra ni. Suýt đà đa, suýt đà đa. Ga ga na, xoa phạ hoa, vi suýt đi. U sắc ni sá, vi ca da, vi suýt đi. Sá hạ sa ra, ra sa mi, săn tô ni tê. Sá ra hoa, tát thá ga đa. A hoa lô ki ni. Sạt hoa tát thá ga đa, mát tê. Sá tra, bá ra mi tá. Ba rị, bủ ra ni. Na sá, bủ mỉ bơ ra, đi sắc si tê. Sá ra hoa, tát thá ga đa, hất r| đà da. Đi sắc sá na. Đi sắc si tê.

Um ! Muýt dơ ri, muýt đơ ri, ma ha muýt dơ ri. Hoa di ra, ca da. Săn hạ đa nã, vi suýt đi. Sá ra hoa, ca ma, phạ ra na, vi suýt đi. Ba ra, đu ri ca ti, bi ri, vi suýt đi. Bơ ra ti na, hoa ra đá da, a dục suýt đi. Sa ma dã, đi sắc sá na, đi sắc si tê.

Um ! Ma ni, ma ni, mạ hạ ma ni. Á ma ni, á ma ni. Vĩ ma ni, vĩ ma ni, mạ hạ vĩ ma ni. Mát đi, mát đi, mạ hạ mát đi. Tát thá đá, bủ đa. Cu thi, vi ri suýt đi. Vĩ sa phổ ra, bút đi, vi suýt đi.

Um ! Hi hi. Dá ra, dá ra. Vĩ dá ra, vĩ dá ra. Sa ma ra, sa ma ra. Sa phạ ra, sa phạ ra. Sá ra phạ, bút đa. Đi sắc sá na. Đi sắc si tê. Suýt đi, suýt đi. Họa di ri, họa di ri, mạ hạ họa di ri. Á họa di ri. Họa di ra, gạ bi. Dá ra, gạ bi. Vĩ da ra, gạ bi. Họa di ra, rít họa lã, gạ bi. Họa đi rô, na ga tê. Họa di rô, na bà vê. Họa di ra, sam bà vê. Họa di rô, họa di rị na. Họa di rảm, hoa phạ, đô mạ mạ. Sá r| rảm, sá ra phạ, sát ta phạ năng. Tả ca da, bi ri, vi suýt đi. sất da, hoa phạ, đô mi, sát na. Sá ra phạ, ga ti, bi rị suýt đi. Sá ra phạ, tát thá ga đa, sất da mi. Sá ma, sa phạ, sát dăn tu. Sạt hoa, tát thá ga đa. Sá ma, sá phạ sa, đi sắc si tê.

Um ! Sất đi da, sất đi da. Bút đi da, bút đi da. Vi bút đi da, vi bút đi đa. Bồ đà da, bồ đà da. Vi bồ đà da, vi bồ đà da. Mô ca da, mô ca da. Vi mô ca da, vi mô ca da. Suýt đà da, suýt đà đa. Vi suýt đà da, vi suýt đà da. Sa măn tá, tát bi ri, mô ca da. Sa măn đá đa, sa mi, bi ri suýt đi. Sá ra phạ, tát thá ga đá, sam ma da, hất rị đà da. Đi sắc sá na, đi sắc si tê.

Um ! Muýt dơ ri, muýt dơ ri, mạ hạ muýt dơ ra. Mạn đà ra, bá na. Đi sắc si tê. Sóa ha .

Tiếng Phạn:

  1. 𑖡𑖦𑖺 𑖥𑖐𑖪𑖝𑖸
  2. 𑖭𑖨𑖿𑖪 𑖝𑖿𑖨𑖹𑖩𑖺𑖎𑖿𑖧
  3. 𑖢𑖿𑖨𑖝𑖰𑖪𑖰𑖭𑖰𑖬𑖿𑖘𑖯𑖧
  4. 𑖤𑖲𑖟𑖿𑖠𑖯𑖧
  5. 𑖝𑖟𑖿𑖧𑖞𑖯
  6. 𑖌𑖼_ 𑖥𑖿𑖨𑖳𑖽 𑖥𑖿𑖨𑖳𑖽 𑖥𑖿𑖨𑖳𑖽
  7. 𑖫𑖺𑖠𑖧 𑖭𑖺𑖠𑖧
  8. 𑖪𑖰𑖫𑖺𑖠𑖧 𑖪𑖰𑖫𑖺𑖠𑖧
  9. 𑖀𑖭𑖦 𑖭𑖦
  10. 𑖭𑖦𑖡𑖿𑖝 𑖀𑖪𑖥𑖯𑖭
  11. 𑖭𑖿𑖣𑖨𑖜 𑖐𑖝𑖰 𑖐𑖐𑖡
  12. 𑖭𑖿𑖪𑖥𑖯𑖪 𑖪𑖰𑖫𑖲𑖟𑖿𑖠𑖸
  13. 𑖀𑖥𑖰𑖬𑖰𑖽𑖓 𑖝𑖲𑖦𑖯𑖽
  14. 𑖭𑖨𑖿𑖪-𑖝𑖞𑖯𑖐𑖝
  15. 𑖭𑖲𑖐𑖝
  16. 𑖪𑖨 𑖪𑖓𑖡
  17. 𑖀𑖦𑖴𑖝-𑖀𑖥𑖰𑖬𑖸𑖎𑖹
  18. 𑖦𑖮𑖯-𑖦𑖲𑖟𑖿𑖨 𑖦𑖡𑖿𑖝𑖿𑖨-𑖢𑖟
  19. 𑖌𑖼_ 𑖁𑖮𑖨 𑖁𑖮𑖨
  20. 𑖁𑖧𑖲𑖾 𑖭𑖡𑖿𑖠𑖯𑖨𑖜𑖰
  21. 𑖫𑖺𑖠𑖧 𑖫𑖺𑖠𑖧
  22. 𑖐𑖐𑖡-𑖭𑖿𑖪𑖥𑖯𑖪 𑖪𑖰𑖫𑖲𑖟𑖿𑖠𑖸
  23. 𑖄𑖬𑖿𑖜𑖱𑖬-𑖪𑖰𑖕𑖧 𑖢𑖨𑖰𑖫𑖲𑖟𑖿𑖠𑖸
  24. 𑖭𑖮𑖭𑖿𑖨-𑖨𑖫𑖿𑖦𑖰 𑖭𑖽𑖭𑖲𑖟𑖱𑖝𑖰
  25. 𑖭𑖨𑖿𑖪-𑖝𑖞𑖯𑖐𑖝
  26. 𑖀𑖪𑖩𑖺𑖎𑖡
  27. 𑖭𑖨𑖿𑖪-𑖝𑖞𑖯𑖐𑖝-𑖦𑖝𑖰
  28. 𑖬𑖘𑖿-𑖢𑖯𑖨𑖦𑖰𑖝𑖯
  29. 𑖢𑖨𑖰𑖢𑖳𑖨𑖜𑖰
  30. 𑖟𑖫-𑖥𑖳𑖦𑖰 𑖢𑖿𑖨𑖝𑖰𑖬𑖿𑖘𑖰𑖝𑖸
  31. 𑖭𑖨𑖿𑖪 𑖝𑖞𑖯𑖐𑖝-𑖮𑖴𑖟𑖧
  32. 𑖀𑖠𑖰𑖬𑖿𑖘𑖡
  33. 𑖀𑖠𑖰𑖬𑖿𑖘𑖰𑖝𑖸
  34. 𑖌𑖼_ 𑖦𑖲𑖟𑖿𑖨 𑖦𑖲𑖟𑖿𑖨
  35. 𑖦𑖮𑖯-𑖦𑖲𑖟𑖿𑖨
  36. 𑖪𑖕𑖿𑖨-𑖎𑖯𑖧
  37. 𑖭𑖽𑖮𑖝𑖡 𑖢𑖨𑖰𑖫𑖲𑖟𑖿𑖠𑖸
  38. 𑖭𑖨𑖿𑖪-𑖎𑖨𑖿𑖦-𑖀𑖪𑖨𑖜 𑖪𑖰𑖫𑖲𑖟𑖿𑖠𑖸
  39. 𑖢𑖿𑖨𑖝𑖰𑖡𑖰 𑖪𑖨𑖿𑖝𑖿𑖝𑖯𑖧 𑖁𑖧𑖲𑖾 𑖪𑖰𑖫𑖲𑖟𑖿𑖠𑖸
  40. 𑖌𑖼_ 𑖦𑖲𑖜𑖰 𑖦𑖲𑖜𑖰 𑖦𑖮𑖯-𑖦𑖲𑖜𑖰
  41. 𑖀𑖦𑖲𑖜𑖰 𑖀𑖦𑖲𑖜𑖰
  42. 𑖪𑖰𑖦𑖲𑖜𑖰 𑖪𑖰𑖦𑖲𑖜𑖰 𑖦𑖮𑖯-𑖪𑖰𑖦𑖲𑖜𑖰
  43. 𑖦𑖝𑖰 𑖦𑖝𑖰 𑖦𑖮𑖯-𑖦𑖝𑖰
  44. 𑖝𑖞𑖯𑖝𑖯-𑖥𑖳𑖝
  45. 𑖎𑖺𑖘𑖰 𑖢𑖨𑖰𑖫𑖲𑖟𑖿𑖠𑖸
  46. 𑖪𑖰𑖭𑖿𑖣𑖲𑖘 𑖪𑖰𑖫𑖲𑖟𑖿𑖠𑖸
  47. 𑖌𑖼_ 𑖮𑖸𑖮𑖸
  48. 𑖕𑖧 𑖕𑖧 𑖦𑖮𑖯-𑖕𑖧
  49. 𑖭𑖿𑖦𑖨 𑖭𑖿𑖦𑖨
  50. 𑖭𑖿𑖣𑖨 𑖭𑖿𑖣𑖨
  51. 𑖭𑖨𑖿𑖪-𑖤𑖲𑖟𑖿𑖠
  52. 𑖀𑖠𑖰𑖬𑖿𑖘𑖡
  53. 𑖀𑖠𑖰𑖬𑖿𑖘𑖰𑖝𑖸
  54. 𑖫𑖲𑖟𑖿𑖠𑖸 𑖫𑖲𑖟𑖿𑖠𑖸
  55. 𑖪𑖕𑖿𑖨𑖱 𑖪𑖎𑖿𑖨𑖱 𑖦𑖮-𑖪𑖕𑖿𑖨𑖱
  56. 𑖀 𑖪𑖕𑖿𑖨𑖱 𑖪𑖕𑖿𑖨-𑖐𑖨𑖿𑖥𑖸
  57. 𑖕𑖧-𑖐𑖨𑖿𑖥𑖸
  58. 𑖪𑖰𑖕𑖧-𑖐𑖨𑖿𑖥𑖸
  59. 𑖪𑖕𑖿𑖨 𑖪𑖕𑖿𑖨-𑖐𑖨𑖿𑖥𑖸
  60. 𑖪𑖕𑖿𑖨-𑖄𑖟𑖿𑖐𑖝𑖸
  61. 𑖪𑖕𑖿𑖨-𑖄𑖟𑖿𑖥𑖪𑖸
  62. 𑖪𑖕𑖿𑖨 𑖭𑖽𑖥𑖪𑖸
  63. 𑖪𑖕𑖿𑖨𑖱 𑖪𑖕𑖿𑖨𑖰𑖜𑖰
  64. 𑖪𑖕𑖿𑖨𑖯𑖽 𑖥𑖪𑖝𑖲 𑖦𑖦
  65. 𑖫𑖨𑖰𑖨𑖽 𑖭𑖨𑖿𑖪-𑖭𑖝𑖿𑖪𑖯
  66. 𑖡𑖯𑖽𑖓-𑖎𑖯𑖧 𑖢𑖨𑖰𑖫𑖲𑖟𑖿𑖠𑖸
  67. 𑖭𑖨𑖿𑖪-𑖐𑖝𑖰 𑖢𑖨𑖰𑖫𑖲𑖟𑖿𑖠𑖸
  68. 𑖭𑖨𑖿𑖪-𑖝𑖞𑖯𑖐𑖝
  69. 𑖭𑖦 𑖫𑖿𑖪𑖭
  70. 𑖀𑖠𑖰𑖬𑖿𑖘𑖰𑖝𑖸
  71. 𑖭𑖨𑖿𑖪-𑖝𑖞𑖯𑖐𑖝-𑖫𑖿𑖓 𑖦𑖯𑖽
  72. 𑖭𑖦 𑖫𑖿𑖪𑖭 𑖧𑖽𑖝𑖲
  73. 𑖌𑖼_ 𑖭𑖰𑖟𑖿𑖠𑖿𑖧 𑖭𑖰𑖟𑖿𑖠𑖿𑖧
  74. 𑖤𑖲𑖟𑖿𑖠𑖿𑖧 𑖤𑖲𑖠𑖿𑖧
  75. 𑖪𑖰𑖫𑖺𑖠𑖧 𑖪𑖰𑖫𑖺𑖠𑖧
  76. 𑖪𑖰𑖤𑖺𑖠𑖧 𑖪𑖰𑖤𑖺𑖠𑖧
  77. 𑖦𑖺𑖓 𑖦𑖺𑖓
  78. 𑖪𑖰𑖦𑖺𑖓𑖧 𑖪𑖰𑖦𑖺𑖓𑖧
  79. 𑖫𑖺𑖠𑖧 𑖫𑖺𑖠𑖧, 𑖪𑖰𑖫𑖺𑖠𑖧 𑖪𑖰𑖫𑖺𑖠𑖧
  80. 𑖭𑖦𑖡𑖿𑖝 𑖢𑖨𑖰𑖦𑖺𑖓𑖧
  81. 𑖭𑖦𑖡𑖿𑖝-𑖨𑖫𑖿𑖦𑖰 𑖢𑖨𑖰𑖫𑖲𑖟𑖿𑖠𑖸
  82. 𑖭𑖨𑖿𑖪-𑖝𑖞𑖯𑖐𑖝-𑖭𑖦𑖧
  83. 𑖀𑖠𑖰𑖬𑖿𑖘𑖡
  84. 𑖀𑖠𑖰𑖬𑖿𑖘𑖰𑖝𑖸
  85. 𑖌𑖼_ 𑖦𑖲𑖟𑖿𑖨𑖱 𑖦𑖮𑖯-𑖦𑖲𑖟𑖿𑖨
  86. 𑖦𑖲𑖟𑖿𑖨-𑖢𑖟
  87. 𑖀𑖠𑖰𑖬𑖿𑖘𑖰𑖝𑖸
  88. 𑖭𑖿𑖪𑖯𑖮𑖯

 

  1. NAMO BHAGAVATE
  2. SARVA TRAILOKYA
  3. PRATIVISIṢṬĀYA
  4. BUDDHĀYA
  5. TADYATHĀ
  6. OṂ_ BHRŪṂ BHRŪṂ BHRŪṂ
  7. ŚODHAYA SODHAYA
  8. VIŚODHAYA VIŚODHAYA
  9. ASAMA SAMA
  10. SAMANTA AVABHĀSA
  11. SPHARAṆA GATI GAGANA
  12. SVABHĀVA VIŚUDDHE
  13. ABHIṢIṂCA TUMĀṂ
  14. SARVA-TATHĀGATA
  15. SUGATA
  16. VARA VACANA
  17. AMṚTA-ABHIṢEKAI
  18. MAHĀ-MUDRA MANTRA-PADA
  19. OṂ_ ĀHARA ĀHARA
  20. ĀYUḤ SANDHĀRAṆI
  21. ŚODHAYA ŚODHAYA
  22. GAGANA-SVABHĀVA VIŚUDDHE
  23. UṢṆĪṢA-VIJAYA PARIŚUDDHE
  24. SAHASRA-RAŚMI SAṂSUDĪTI
  25. SARVA-TATHĀGATA
  26. AVALOKANA
  27. SARVA-TATHĀGATA-MATI
  28. ṢAṬ-PĀRAMITĀ
  29. PARIPŪRAṆI
  30. DAŚA-BHŪMI PRATIṢṬITE
  31. SARVA TATHĀGATA-HṚDAYA
  32. ADHIṢṬANA
  33. ADHIṢṬITE
  34. OṂ_ MUDRA MUDRA
  35. MAHĀ-MUDRA
  36. VAJRA-KĀYA
  37. SAṂHATANA PARIŚUDDHE
  38. SARVA-KARMA-AVARAṆA VIŚUDDHE
  39. PRATINI VARTTĀYA ĀYUḤ VIŚUDDHE
  40. OṂ_ MUṆI MUṆI MAHĀ-MUṆI
  41. AMUṆI AMUṆI
  42. VIMUṆI VIMUṆI MAHĀ-VIMUṆI
  43.  MATI MATI MAHĀ-MATI
  44. TATHĀTĀ-BHŪTA
  45. KOṬI PARIŚUDDHE
  46. VISPHUṬA VIŚUDDHE
  47. OṂ_ HEHE
  48. JAYA JAYA MAHĀ-JAYA
  49. SMARA SMARA
  50. SPHARA SPHARA
  51. SARVA-BUDDHA
  52. ADHIṢṬANA
  53. ADHIṢṬITE
  54. ŚUDDHE ŚUDDHE
  55. VAJRĪ VAKRĪ MAHA-VAJRĪ
  56. A VAJRĪ VAJRA-GARBHE
  57. JAYA-GARBHE
  58. VIJAYA-GARBHE
  59.  VAJRA VAJRA-GARBHE
  60. VAJRA-UDGATE
  61.  VAJRA-UDBHAVE
  62. VAJRA SAṂBHAVE
  63. VAJRĪ VAJRIṆI
  64. VAJRĀṂ BHAVATU MAMA
  65. ŚARIRAṂ SARVA-SATVĀ
  66. NĀṂCA-KĀYA PARIŚUDDHE
  67. SARVA-GATI PARIŚUDDHE
  68. SARVA-TATHĀGATA
  69. SAMA ŚVASA
  70. ADHIṢṬITE
  71. SARVA-TATHĀGATA-ŚCA MĀṂ
  72. SAMA ŚVASA YAṂTU
  73. OṂ_ SIDDHYA SIDDHYA
  74. BUDDHYA BUDHYA
  75. VIŚODHAYA VIŚODHAYA
  76. VIBODHAYA VIBODHAYA
  77. MOCA MOCA
  78. VIMOCAYA VIMOCAYA
  79. ŚODHAYA ŚODHAYA, VIŚODHAYA VIŚODHAYA
  80. SAMANTA PARIMOCAYA
  81. SAMANTA-RAŚMI PARIŚUDDHE
  82. SARVA-TATHĀGATA-SAMAYA
  83. ADHIṢṬANA
  84. ADHIṢṬITE
  85. OṂ_ MUDRĪ MAHĀ-MUDRA
  86. MUDRA-PADA
  87. ADHIṢṬITE
  88. SVĀHĀ

 

PHẬT-ĐẢNH TÔN-THẮNG ĐÀ-LA-NI (2)

  1. Na mô Pha ga va tê
  2. Sạt va Sít rị Trai lô ki da
  3. Bơ-ra ti Vi ti sắt ta da
  4. Buýt đà da Pha ga va tê
  5. Tát dá tha
  6. Om ! Bơrum Bơrum Bơrum
  7. Suýt đà da Suýt đà da
  8. Vi suýt đà da Vi suýt đà da
  9. Á sá ma Sá ma
  10. Sa manh tá Vạ pha sát
  11. Sít phạ ra na Ga ti Ga hạ na
  12. Soa phạ va Vi suýt đi
  13. A bi sinh Ca tu măn
  14. Sạt va Tát tha ga tá
  15. Su ga ta
  16. Vạ ra Vạ ca na
  17. A mi rít tá Bi sái kê
  18. Mạ hạ Muýt đơ ra, Manh tra Ba ta da
  19. Om ! Á hạ ra Á hạ ra
  20. A dút Săn tạ ra ni
  21. Suýt đà da Suýt đà da, Vi suýt đà da Vi suýt đà da
  22. Săn suýt đà da Săn suýt đà da Hùm !
  23. Ga gạ na Soa phạ va Vi suýt đi
  24. U sắc ni sá Vi já da Vi suýt đi
  25. Sá hạ sít ra Ra sá mi Săn suýt đi tê
  26. Sạt va Tát tha ga tá A va lô ki ti
  27. Sá ta Ba ra mi tá, Vi ri Bu ra ni
  28. Sạt va Tát tha ga tá Mát ti
  29. Na sá Bu mi bơ-ra Đi sắc thi tê
  30. Sạt va Tát tha ga tá Sa ma da Hất rị đà da
  31. Đi sắc thá na Đi sắc thi tê
  32. Om ! Muýt đơ ri Muýt đơ ri
  33. Mạ hạ Muýt đơ ri
  34. Jít vạ la ti Jít vạ la ti Mạ hạ Jít vạ la ti
  35. Va ji ri Va ji ri Mạ hạ Va ji ri
  36. Va ji ra Cạ da
  37. Săn hạ ta na Vi suýt đi
  38. Sạt va Ca ma Vạ ra na Vi suýt đi
  39. Ba da Đu rít ga ti Vi ri Vi suýt đi
  40. Bơ-ra ti Ni vạ rị tá da A dút Suýt đi
  41. Sạt va Tát tha ga tá Sa ma da Hất rị đà da
  42. Đi sắc thá na Đi sắc thi tê
  43. Om ! Ma ni Ma ni Mạ hạ Ma ni
  44. A ma ni A ma ni Mạ hạ A ma ni
  45. Vi ma ni Vi ma ni Mạ hạ Vi ma ni
  46. Mát ti Mát ti Mạ hạ Mát ti
  47. Ma mát ti Sa mát ti
  48. Tát tha tá Phu ta
  49. Cô ti Vi ri Vi suýt đi
  50. Vi sít phổ ta Buýt đi Vi suýt đi
  51. Om ! Hi hi
  52. Já da Já da Vi já da Vi já da
  53. Sít ma ra Sít ma ra
  54. Sít vạ ra Sít vạ ra Sít vạ ra da Sít vạ ra da
  55. Sạt va buýt đa
  56. Đi sắc thá na Đi sắc thi tê
  57. Om ! Sít đi Sít đi Buýt đi Buýt đi
  58. Va ji ri Va ji ri Mạ hạ Va ji ri Á va ji ri
  59. Va ji ra Ga bê, Já da Ga bê
  60. Vi já da Ga bê
  61. Va ji ra Rít vạ lã Ga bê
  62. Va ji rô Na ga tê
  63. Va ji rô Na bà vê
  64. Va ji ra Sam bà vê
  65. Va ji rô Va di rị na
  66. Va ji răn Pha vạ tô Mạ mạ
  67. Sá ri răn Sạt va Sát toa Năn ca
  68. Cạ da Vi ri Vi suýt đi
  69. Sít dã Pha vạ tô minh Sát toa
  70. Sạt va thá
  71. Sạt va Ga ti Vi ri Vi suýt đi
  72. Sạt va Tát tha ga tá Sít dã mê
  73. Sá ma sa vạ Sít dăn tu
  74. Sạt va Tát tha ga tá Sá tri măn
  75. Sá ma sa vạ sa Đi sắc thi tê
  76. Om ! Sít đi da Sít đi da Vi sít đi da Vi sít đi da
  77. Buýt đi da Buýt đi da Vi buýt đi da Vi buýt đi da
  78. Bô đà da Bô đà da Vi bô đà da Vi bô đà da
  79. Mô ca da Mô ca da Vi mô ca da Vi mô ca da
  80. Suýt đà da Suýt đà da Vi suýt đà da Vi suýt đà da
  81. Sa manh tá Sá vi ri Mô ca da
  82. Sa manh tá da Sá mi vi ri Vi suýt đi
  83. Sạt va Tát tha ga tá Sa ma da Hất rị đà da
  84. Đi sắc thá na Đi sắc thi tê
  85. Om ! Muýt đơ ri Muýt đơ ri Mạ hạ Muýt đơ ri
  86. Mạ hạ Muýt đơ ra Manh tra Pa ta da
  87. Đi sắc thi tê
  88. Om ! Bơ-rum Hùm Soá-ha.

 

Trích một đoạn trong Kinh Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni:

Kẻ nào thường thọ trì đà ra ni này khi sắp tụng niệm dùng nước rửa tay, nước đó rơi xuống đất rưới nhằm các loài trùng kiến, các vật loại ấy đều được nhờ ảnh hưởng công đức sanh lên cõi trời. Cho nên các hàng Tì Kheo, Tì Kheo Ni, thiện nam, tín nữ nếu trai giới thanh tịnh, sáu thời thọ trì đà ra ni này, thì các tội tứ trọng, ngũ nghịch, thập ác cùng tất cả các tội nặng trong ba đời thảy đều được tiêu diệt, được chư Phật Bồ Tát xoa đầu thọ ký.

Bấy giờ đã quá nửa đêm, Diêm Ma La Vương, Hộ Thế Tứ Thiên Vương, Đao Lợi Thiên Vương, Dạ Ma Thiên Vương,Đâu Suất Đà Thiên Vương, Hóa Lạc thiên vương, Tha Hóa Tự Tại Thiên vương, Phạm Thiên Vương, Đại Phạm Thiên Vương… suất lãnh quyến thuộc trăm ngàn muôn ức, đem theo hương, hoa và các thứ trang nghiêm, đến nhiễu quanh bên hữu Phật 7 vòng, đảnh lễ nơi chân, rồi hiến dâng thức cúng dường. Lễ kính đã xong, lại thưa thỉnh rằng:

– Bạch đức Thế Tôn! Chúng con nghe Như Lai diễn thuyết môn Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni nên đến đây xin thỉnh thọ và tùy thuận lời dạy mà thủ hộ. Cúi xin đấng Thiên Nhơn Sư vì chúng con mà nói các pháp yếu về thần chú này, để cho sự thọ trì của chúng con được thông suốtthành tựu.

Đức Phật bảo vua Diêm Ma La và các vị thiên vương:

– Lắng nghe! Ta sẽ vì các ông mà giải thuyết:

* Nếu có chúng sanh nào bị khổ nạn, tội chướng cực nặng, không ai cứu hộ, nên chọn ngày trăng sáng, tắm gội, mặcy phục sạch sẽ, thọ bát quan trai giới, quỳ trước tượng Phật tụng đà ra ni này 1.080 biến thì tất cả tội nghiệp, chướng nạn đều tiêu diệt. Kẻ ấy sẽ được thanh tịnh giải thoát, được môn Tổng Trì Đà Ra Ni, biện tài vô ngại.

* Nếu kẻ nào tuy chưa trì tụng, mà chỉ nghe âm thanh của đà ra ni này lọt vào tai, tức liền thành hạt giống Phật. Ví nhưmột chút kim cang rớt xuống đất, tất lần lượt xuyên lọt đến nơi bản tế mới dừng, đất tuy dày không thể làm trở ngại.Thần chú này cũng thế, khi đã lọt vào tai, liền huân tập khiến cho lần lần thành quả chánh giác, phiền não tuy nặng cũng không thể ngăn che. Dù kẻ ấy bị đọa vào cõi Địa Ngục, Ngạ quỉ, bàng sanh cũng không bị nghiệp báo làm cho hạt giống đó tiêu mất, mà còn nương sức thần chú lần lượt tiến tu cho đến khi thành Phật.

* Nếu chúng sanh nào một phen nghe được Đà Ra Ni này, qua kiếp hiện tại sẽ không còn bị các tật bịnh và các sự khổ não, cũng không còn thọ thân bào thai, tùy theo chỗ hóa sanh hiện nơi hoa sen. Từ đó về sau, ngũ nhãn lần lần thanh tịnh, được túc mạng trí, kiết sử tiêu trừ, sẽ chứng quả vô thượng đẳng giác.

* Nếu có kẻ nào mới chết, hoặc chết đã lâu, có người tụng 21 biến đà ra ni này vào một nắm đất hoặc cát, rải lên thi hài, kẻ ấy sẽ được sanh về 10 phương Tịnh Độ. Như người chết thần thức đã bị đọa vào địa ngục, ngạ quỉ, bàng sanh, khi đất cát ấy dính vào hài cốt, cũng được thoát khỏi ác thú, sanh lên cõi trời.

* Nếu chúng sanh nào mỗi ngày tụng chú này 21 biến, ưng tiêu được sự cúng dường rộng lớn của tất cả thế gian, khi xả báo thân sẽ sanh về thế giới Cực Lạc, kẻ nào thường niệm tụng sẽ được tăng thọ mạng, hưởng sự vui thù thắng, tương lai sanh về 10 phương Tịnh Độ, nghe pháp mầu, được thọ ký, ánh sáng nơi thân chiếu tất cả cõi Phật, và chứng Đại Niết Bàn.

* Nếu muốn được oai lực tự tại, hành giả dùng các thứ bột như bột nếp, bột gạo v.v.. nắn thành hình người để 8phương hướng nơi đàn tràng, ngày đêm đối tám phương mà tụng chú, tất cả sẽ được như ý.

* Nếu nước lụt dâng, hướng về phương đó tụng chân ngôn này 108 biến cầu nguyện, thì nước sẽ rút lui.

* Nếu bị nạn vua, nạn quan, nạn binh, nạn giặc cướp, nạn khẩu thiệt, tụng chú này 21 biến vào năm thứ nước thơm, đem rưới trên đảnh Phật, các nạn sẽ tiêu diệt.

* Nếu chúng sanh nào tướng mạng yểu, muốn cầu sống lâu, nên chọn ngày trăng sáng, trai giới, tắm gội, mặc y phụcsạch, tụng chú này đủ 1.080 biến, sẽ được trường thọ, tất cả tội chướng đều trừ diệt.

* Nếu có người tụng chú này một biến vào lỗ tai của bất kỳ loài cầm thú nào, thì sanh loại ấy kiếp đó không còn thọ thân cầm thú, dù nó có nghiệp nặng sẽ bị đọa vào địa ngục, cũng được thoát ly.

* Nếu kẻ nào bị bịnh trầm trọng, chịu nhiều đau khổ, được nghe đà ra ni này, sẽ lìa bịnh khổ, tội chướng tiêu diệt. Cho đến các chúng sanh trong bốn loài nghe được chú này đều xả bịnh khổ, lìa thân bào thai, hóa sanh nơi hoa sen, tùy theo chỗ sanh, nhớ biết đời trước không quên mất.

* Nếu có chúng sanh nào vừa mới khôn lớn, đã tạo các thứ tội tứ trọng, ngũ nghịch, thập ác, cho đến lúc tuổi già, tự suy nghĩ biết mình do nghiệp ác này sau khi mãn phần sẽ đọa vào địa ngục A Tỳ, chịu sự khổ lớn trải qua nhiều kiếp, rồi xoay vần luân hồi trong 3 đường ác không ai cứu vớt. Người ấy nên chọn ngày rằm, tắm gội mặc y phục tinh khiết, dùng cái bát bằng vàng, bạc hoặc đồng, lượng chứa ước một thăng, đựng nước trong sạch để trước tượng Phật, thọ giới Bồ Tát, trì trai thanh tịnh. Nơi đàn tràng, mình đứng ở phương Đông hướng về tượng Phật ở phương Tây, đảnh lễ chí thành sám hối. Rồi tụng đà ra ni này 1.080 biến giữa chừng không gián đoạn, kế đó dùng nước ấy rưới bốn phương và trên dưới, nguyện cho tất cả đồng được thanh tịnh. Làm phép này xong, tất cả tội chướng đều được tiêu diệt, thoát khỏi nghiệp báo địa ngục tam đồ, vua Diêm Ma La buông tha, thần Tư Mạng vui đẹp, không sanh giận trách, trở lại chắp taycung kính, tùy hỉ ngợi khen công đức.

* Nếu muốn cứu độ người tội nặng, nên chọn ngày rằm, tụng chú này vào mật hoặc sữa 1.080 biến, rồi cho người đó ăn. Làm như thế, đương nhơn sẽ tiêu trừ tội chướng sanh về cõi lành, lần lượt tiến tu, chứng quả vô thượng đẳng giác.

* Nếu tụng 21 biến chân ngôn này gia trì vào tăm xỉa răng, rồi đem dùng có thể trừ bịnh đau răng, được mạnh khỏe,thông minh, trường thọ.

* Nếu muốn cứu độ tội khổ của loài súc sanh, nên gia trì chú này vào cát hoặc đất vàng 21 biến, rồi rải trên mình chúng và bốn phương, tội chướng của chúng nó sẽ tiêu diệt.

* Nếu có chúng sanh nào muốn được phước đức đầy đủ, muốn cầu tài bảo xứng ý, muốn cứu hộ mình và người nên khởi lòng lành, mỗi ngày phát nguyện sám hối, đối trước tượng Phật, kiết ấn tụng chú này bảy biến, tâm không tán loạn, mắt nhìn tượng Phật không di động, rồi đem công đức ấy hồi thí cho tất cả chúng sanh. Tác pháp và có tâm lành như thế, quyết định sẽ được như nguyện, tăng phước lộc trong hiện tại, cho đến cả những đời sau.

* Nếu hành giả ở nơi đàn tràng mỗi ngày ba thời, mỗi thời tụng chú này 21 biến gia trì vào chén nước sạch, rồi dùng tâm trân trọng bưng chén nước uống. Làm như thế sẽ tiêu trừ các bệnh, sống lâu trăm tuổi, giải mọi oán kết, tiếng nói thanh diệu, biện tài thông suốt, mỗi đời thường được Túc Mạng Thông, nhớ biết tiền kiếp. Nếu đem chén nước ấy rưới trong phòng nhà, cho đến chỗ chuồng trâu, ngựa, thì nơi đó sẽ được oai lực của chân ngôn giữ gìn an ổn, trừ các nạn: la sát, rắn, rồng. Như đem chén nước ấy, miệng tụng chú rưới trên đảnh người bịnh và cho bịnh nhơn uống, các thứ bịnh nặng sẽ tiêu trừ.

* Nếu muốn tiêu trừ các tai chướng, nên dùng vải lụa vụn năm sắc, kết làm cây phất trần. Kế đó tụng chú nơi cây phất, quét bụi nơi tượng Phật và kinh. Thường làm như thế, chướng nạn của mình sẽ tiêu, mà tội nghiệp của chúng sanh cũng được trừ diệt.

* Nếu bị nhiều khẩu thiệt, tai tiếng phát khởi, nên dùng châu sa hòa với bạch mật, hoặc đường cát trắng, tụng chú vào đó 21 biến, rồi đem thoa vào môi 100 tượng Phật. Làm như thế khẩu thiệt, tai tiếng sẽ tiêu trừ.

* Nếu vợ chồng chán ghét nhau, muốn được hòa thuận, tụng chú vào vải hay lụa 21 biến, đem may áo cho chồng hoặc vợ mặc, làm như thế, vợ chồng sẽ hòa thuận.

* Nếu người nam hay nữ bị ma quỉ khuấy rối, hoặc phần âm yêu đắm, quyến luyến không tha, nên giữ chánh niệm vừatụng chú vừa xoa khắp mình nạn nhân, kế đó lấy tay vỗ vào thân, ma quỉ liền bỏ chạy.

* Nếu người nữ không có ai đến cưới hỏi, nên dùng muối tốt sạch, tụng chú vào đó 108 biến, rồi đem cúng dường hiện tiền tăng, tất sẽ được như ý.

* Nếu chỗ ở có quỷ thần dữ khuấy rối, nên tụng chú vào thức ăn 21 biến rồi đem cúng thí cho ăn. Trong khi ấy lại nói: “Nay tôi cúng thí cho các vị, như không làm tổn hại chúng sanh thì tùy ý ở lại, nếu làm tổn hại thì phải mau đi nơi khác”. Nếu quỷ thần hung hãn không nghe lời, nên dùng nọc sắt dài 12 ngón tay, tụng chú vào đó 21 biến rồi đem đóng xuống đất. Làm như thế, các quỷ thần dữ phải chạy ra khỏi địa giới.

* Nếu có bệnh nhân bị tinh mị dựa vào, kẻ cứu hộ nên nhìn chăm chú vào mặt người bịnh mà tụng đà ra ni này, tinh mị sẽ xuất ra.

* Nếu có quỷ La Sát hoặc các loài quỷ dữ vào quốc giới gây đau bịnh, làm khủng bốnão loạn dân chúng, nên xưng niệm Tam Bảo, ngày đêm tụng trì chú này, kiết ấn Phật Đảnh Tôn Thắng rải khắp bốn phương, thì các tai nạn đều tiêu diệt, làm như thế, cũng cứu được chúng sanh thọ khổ ở tam đồ.

* Nếu muốn thí nước cho loài ngạ quỷ, tụng chú này vào nước sạch 7 biến, rồi rải khắp 4 phương, tâm tưởng miệng nói, cầu cho chúng được thọ dụng, thì các ngạ quỷ sẽ được uống nước cam lộ.

* Nếu người nào buôn bán ế ẩm, muốn được khách hàng chiếu cố, thường kiết ấn tụng chú này 21 biến, an trí tượng Phật nơi chỗ tinh sạch kín đáo mà cúng dường, tất sẽ được như ý.

* Nếu người nào mỗi ngày 3 thời, mỗi thời tụng chú này 21 biến, cung kính cúng dường, chí tâm thọ trì, vì người khác giải nói, người ấy sẽ được an vui, sống lâu, không bịnh, phát sanh trí huệ được túc mạng thông, khi lâm chung như ve thoát xác, liền được sanh về thế giới Cực Lạc, tai không còn nghe tiếng địa ngục, huống chi bị sa đọa. Kẻ ấy sẽ tuần tự tiến trên đường đạo quả cho đến khi thành Phật.