Bài Viết Lưu Trữ

Bộ Nghi Tự

Phật Thuyết Kinh Cha Mẹ Ân Trọng

Hán dịch: Tên người dịch đã bị thất lạc
Việt dịch: Tại gia Bồ-tát giới Ưu-bà-tắc Nguyên Thuận

 

Tôi nghe như vầy:

Một thuở nọ, Đức Phật ở trên núi Linh Thứu gần thành Vương Xá, cùng với chư đại Bồ-tát, hàng Thanh Văn quyến thuộc, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, tất cả trời người cùng thiên long quỷ thần cũng đều đến hội họp. Họ nhất tâm nghe Phật thuyết Pháp, chiêm ngưỡng Tôn nhan, và mắt không muốn rời một thoáng. Bấy giờ Đức Phật bảo:

“Ở thế gian này, ai cũng đều do cha mẹ sinh ra. Nếu không có cha thì chẳng thể chào đời. Nếu không có mẹ thì chẳng ai nuôi nấng. Cho nên lúc thác vào thai, thân mẹ cưu mang suốt mười tháng. Khi đến thời kỳ sanh nở, đứa bé lọt lòng mẹ và nằm trên lớp cỏ. Sau đó, cha mẹ dưỡng dục, đặt ở trên nôi, hay nâng niu ôm ấp. Có lúc cha mẹ u a làm trò vui, nó mỉm cười nhưng chưa nói được.

Khi nó đói và cần ăn, nếu không phải mẹ thì ai mớm cho. Khi nó khát và cần uống, nếu không phải mẹ thì ai cho bú. Dẫu lúc đang đói, mẹ vẫn nuốt đắng để mớm phần ngọt cho con. Khi ngủ, mẹ cam nằm ướt để chừa chỗ khô cho con. Nếu không phải thân thuộc thì sao tình thâm thế kia. Nếu không phải cha mẹ thì sao dưỡng dục dường ấy. Khi bồng con ra khỏi nôi, dẫu trong mười đầu ngón tay dính đồ bất tịnh của con, nhưng mẹ hiền vẫn không màng và chỉ biết hết mực chăm lo con cái. Trung bình mỗi em bé uống khoảng 840 lít sữa mẹ. Nếu kể ra ân tình của mẫu thân thì như trời cao lồng lộng. Than ôi! Chúng ta làm sao mà có thể báo đáp mẹ hiền?”

Ngài A-nan bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn! Chúng con phải làm thế nào để báo đáp ân đức này? Kính mong Thế Tôn hãy thuyết giảng.”

Phật bảo ngài A-nan:

“Ông hãy lắng nghe và khéo tư duy. Ta sẽ phân biệt giảng giải cho ông.

Ân đức của cha mẹ như trời cao lồng lộng. Nhưng nếu có người con nào hiếu thuận mà có thể vì cha mẹ làm phước và in Kinh điển, hoặc có thể chuẩn bị những cái khay đựng phẩm vật cúng dường mà dâng lên Phật cùng Tăng vào ngày rằm tháng Bảy, thời sẽ được quả báo vô lượng và như thế mới có thể báo đáp ân đức của song thân.

Nếu lại có ai biên chép và lưu bố Kinh này để mọi người có thể thọ trì đọc tụng, thì phải biết người ấy đã báo đáp thâm ân của cha mẹ. Là bổn phận làm con thì phải biết làm sao để có thể báo đáp hai đấng sinh thành.

Mỗi ngày cha mẹ đi ra ngoài làm việc. Thường là người mẹ múc nước giếng, nấu ăn, hay giã gạo. Dẫu đương lúc làm việc, người mẹ luôn lo lắng, rằng có lẽ con đang khóc hoặc mong ngóng mình trở về. Khi mẹ về nhà, con từ xa thấy mẹ tiến đến, nó lúc lắc cái đầu vui mừng ở trong nôi, hoặc lật bụng bò về hướng của mẹ. Khi ấy, người mẹ khom xuống, hai tay duỗi ra và lau rửa thân con. Rồi bế con lên, miệng mẹ u ơ, mở vạt áo để cho con bú. Khi mẹ thấy con, lòng mẹ vui sướng. Khi con thấy mẹ, lòng con mừng vui. Ân tình tương giao thắm thiết giữa mẹ với con thiêng liêng không gì sánh bằng.

Lúc lên hai lên ba, bé vui mừng khi chập chững biết đi. Nếu không có mẹ thì chắc nó sẽ không biết khi nào cần phải ăn.

Thỉnh thoảng cha mẹ được mời đi dự tiệc và có bánh thịt để ăn, nhưng họ lại không ăn mà cất mang về cho con. Trong chín của mười lần thì đứa con rất vui thích. Nhưng đôi lúc cha mẹ không mang gì trở về, nó ré la và giả vờ khóc lóc. Đó là đứa con bất hiếu ngỗ nghịch. Trái lại, đứa con hiếu thảo thì sẽ không như thế. Nó luôn hiếu thuận và hiền từ.

Đến lúc con cái khôn lớn, chúng có bạn bè chơi chung. Khi ấy, cha mẹ đầu chải tóc vuốt đầu cho con được thẳng thớm. Khi chúng muốn được áo đẹp để mặc, cha mẹ không màng mặc quần áo thô xấu, còn quần áo bông trắng tinh và mới đẹp thì dành cho con.

Rồi thì khi con cái bắt đầu ra ngoài để lo việc công hay chuyện tư, lòng của cha mẹ nghiêng nam ngược bắc, ý chạy đông rảo tây, và đầu họ xoay về hướng của con mình.

Khi đến tuổi lấy vợ, chúng kết hôn với con gái của một gia đình khác. Phu thê trò chuyện vui vẻ với nhau ở trong phòng riêng, còn cha mẹ thì ngày càng lánh xa. Thời gian trôi qua, mặc dù tuổi cha mẹ đã cao và khí lực suy yếu, nhưng từ sáng đến tối, chúng không hề đến thăm hỏi.

Hoặc có người cha góa vợ, người mẹ góa chồng. Họ đơn độc ở trong căn nhà trống rỗng và cảm thấy như là khách ở nhờ nhà người khác. Họ chẳng có ai quan tâm; lại không có quần áo để che rét lạnh và phải gặp các ách nạn khốn khổ. Khi đến tuổi già nua, sắc mặt của họ suy yếu, và trên thân phát sinh nhiều rận, khiến cả ngày lẫn đêm họ chẳng thể ngủ. Họ thường than thở rằng:

‘Đời trước đã tạo tội gì mà sinh ra đứa con bất hiếu như thế?’

Hoặc thỉnh thoảng cha mẹ gọi con đến, nhưng chúng trừng mắt giận giữ. Chẳng những thế mà ngay cả con dâu lẫn cháu nội cũng mắng chửi và rụt đầu cười khinh bỉ họ. Đó là một đứa dâu bất hiếu; cả chồng lẫn vợ cùng nhau tạo năm tội ngỗ nghịch.

Hoặc đôi lúc có chuyện khẩn cấp nên cha mẹ gọi con đến, nhưng chín của mười lần chúng không thèm để ý. Chúng hoàn toàn chẳng vâng lời và còn nổi giận chửi rủa:

‘Sao mấy người không chết mau đi, còn sống trên đời để làm gì?’

Khi cha mẹ nghe những lời này, lòng xót thương buồn bã, hai hàng nước mắt rơi xuống. Họ sụt sùi khóc lóc đến nỗi hai mắt sưng húp. Họ than rằng:

‘Khi còn thơ ấu, nếu không phải do cha mẹ thì ai nuôi con trưởng thành. Tuy cha mẹ đã sinh con ra, nhưng có lẽ không có còn hơn.'”

Phật bảo ngài A-nan:

“Nếu thiện nam tử thiện nữ nhân nào có thể vì cha mẹ mà thọ trì đọc tụng và biên chép Kinh Cha Mẹ Ân Trọng của Đại Thừa Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật, dẫu song thân của họ chỉ thấy hoặc nghe qua một lần từ một câu hay một bài kệ của Kinh này, thì năm tội ngỗ nghịch thảy đều tiêu diệt và đoạn trừ vĩnh viễn–một chút cũng chẳng còn. Họ sẽ luôn thấy Phật nghe Pháp và mau được giải thoát.”

Lúc bấy giờ ngài A-nan từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo lộ vai phải, hai gối quỳ, chắp tay ở trước Phật và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn! Kinh này tên là gì, và chúng con phụng trì như thế nào?”

Phật bảo ngài A-nan:

“Kinh này tên là Cha Mẹ Ân Trọng.

Nếu có chúng sanh nào mà có thể vì cha mẹ làm phước, in Kinh điển, đốt hương, thỉnh Phật, lễ bái, và cúng dường Tam Bảo, hoặc dâng thức ăn nước uống cho chư Tăng, thời phải biết người ấy đã báo đáp ân đức của song thân.”

Khi Đế-thích, Phạm Vương, trời, người, và hết thảy chúng sanh nghe Kinh này xong, họ đều vui mừng và phát Bồ-đề tâm. Bấy giờ, tiếng khóc của họ chấn động đại địa và lệ tuôn như mưa khi đầu đảnh lễ sát đất với lòng tín thọ. Sau đó, họ đảnh lễ với trán chạm sát chân của Phật và hoan hỷ phụng hành.

Phật Thuyết Kinh Cha Mẹ Ân Trọng

Bản dịch: 10/9/2013, hiệu đính: 10/9/2013

 

KINH NHÂN QUẢ THIỆN ÁC

Đức Phật giảng kinh Nhân Quả Thiện Ác
Việt dịch: Thượng tọa Thích Giác Quả

 

Tôi nghe như vậy: Một thời đức Phật đang lưu trú tại nước Xá Vệ, trong vườn cây của thái tử Kỳ Đà và  ông Cấp Cô Độc. Bây giờ, đại chúng gồm vô lượng Bồ-tát, trời, người đang ngồi xung quanh đức Phật. Đức Phật thuyết pháp, đại chúng nhất tâm lắng nghe.

Lúc ấy, ngài A-nan vì chúng sanh mà bạch đức Phật rằng:

Bạch Thế Tôn! Hiện tại trong thế gian có vô số chúng sanh, xét riêng về loài người thì có người đẹp, kẻ xấu; người mạnh, kẻ yếu; người giàu, kẻ nghèo; người khổ, kẻ sướng; người sang, kẻ hèn; tâm ý, ngôn ngữ sai biệt. Lại có người sống đến trăm tuổi chưa chết, kẻ ba mươi đã mất, người mười lăm tuổi đã yểu mạng, kẻ chết từ trong bào thai. Có người tướng tốt đoan trang mà nghèo hèn, có kẻ tương xấu thô tháo lại giàu sang. Có người cương nghị mà địa vị hạ liệt, có kẻ nhu nhược mà ở địa vị cao quý. Có người nghèo khổ mà sống lâu, có kẻ giàu vui mà lại chết sớm. Có người làm lành mà gặp tai họa, có kẻ làm ác mà được lợi lộc. Có người mập trắng mà đôi mắt gian xảo, có kẻ gầy đen mà đôi mắt lại hiền từ. Có người thấp lùn mà đầy đủ ý khí, có kẻ cao lớn mà bị người sai khiến. Có người con cháu đông đúc, có kẻ lại cô đơn một mình. Có người xa quê lang thang đói lạnh tiều tuỵ, có kẻ được vào cung vua cơm áo dư thừa. Có người nhỏ thì nghèo hèn, về già lại được giàu sang. Có người sự thật là vô tội mà lại bị nạn tù đày. Có người cha hiền con hiếu đàm luận nghĩa Kinh. Có người anh em chống nhau, tranh cãi, gây sự. Có người định cư nhà cửa đầy đủ phương tiện, có kẻ du cư không nhà trôi nổi khắp nơi. Có người ở trên cây như chim, ngủ trong hang như nai, sống như cầm thú. Có người ăn lông ở lỗ, không biết chữ nghĩa. Có người ngồi không mà hưởng phước báo, có kẻ rong ruổi làm khách không nhà. Có người thông minh sáng suốt, có kẻ ám độn ngu si. Có người phải buôn bán mới được tiền tài, có kẻ không làm mà của cải tự đến. Có người giàu mà xan tham keo kiết, có kẻ nghèo lại ưa thích bố thí. Có người nói phô hoà kính, có kẻ phát lời gai gốc. Có người được thương kính, có kẻ bị xa lánh. Có người làm lành bảo vệ chúng sanh, có kẻ sát sanh không xiết. Có người tâm niệm rộng rãi được nhiều người thân cận, có kẻ bỏn sẻn bị thiên hạ bỏ rơi. Có những anh em thường ghét nhau, có những chị em dâu thường hoà thuận. Có người thích nghe Kinh pháp, có kẻ nghe Kinh lại buồn ngủ. Có người vũ phu vô lễ, có kẻ chuộng học lễ nghĩa.

Ngưỡng cầu Thế Tôn giảng rộng về nhân quả, đại chúng nghe hiểu sẽ nhất tâm hành thiện.

Đức Phật bảo A-nan: Như ông đã hỏi, sở dĩ đời này mọi người thọ báo không giống nhau, bởi lẽ đời trước họ dụng tâm sai khác nên khi lãnh thọ có ngàn sai vạn biệt:

* Đời này, người tướng tốt đoan chánh là do đời trước đã nhẫn nhục mà được, kẻ tướng xấu thô tháo là do sân hận gây nên.

– Người bần cùng là do xan tham, người cao quý là do lễ bái, kẻ hạ tiện là do kiên mạn.

– Người cao sang là do cung kính Tam bảo, kẻ thấp hèn là do khinh khi Phật pháp.

– Người hung dữ là do đời trước làm lang sói, kẻ đen gầy là do che ánh sánh của Phật.

– Người không có con cái là do giết hại chim non, kẻ nhiều con là do bảo vệ mạng sống cho chúng sanh.

– Người sống lâu là do lòng từ bi, kẻ chết sớm là do thường sát sanh.

– Người giàu to là do thích bố thí, kẻ nhiều xe ngựa là do dâng cúng xe ngựa cho Tam bảo.

– Người thông minh là do thường học hỏi, tụng Kinh; kẻ ám độn là do xuất thân từ súc sanh.

– Người làm tôi tớ là do quỵt nợ, kẻ hiếu động là do đời trước làm khỉ, vượn.

– Người bị ghẻ lở là do phá hoại Tam bảo; kẻ tay chân to nhỏ, ngắn dài không đều là do trói chân tay chúng sanh.

– Người sáu căn đầy đủ là do đã vâng giữ giới luật, kẻ sáu căn không đủ là do phá giới.

– Người có môi dính nhau là do nếm thức ăn trước khi dâng cúng.

– Người có mặt ửng đỏ là do tiếc nuối ánh sáng của lửa.

– Người có mắt như chim sẻ là do đã may mắt chim ưng.

– Người câm là do phỉ báng Phật pháp.

– Người điếc là do không thích nghe giảng Pháp.

– Người mũi tịt là do đốt hương hôi cúng Phật.

– Người sứt môi là do xỏ mang cá.

– Người tóc cháy là do quay heo.

– Người vành tai sức là do đâm lỗ tai.

– Người thân hình như rắn là do mặc quần áo mỏng đường đột đến trước tượng Phật.

– Người da đen là do để tượng Phật ở mái hiên bị khói xông.

– Người khập khễnh là do thấy Sư trưởng mà không đứng dậy.

– Người lưng gù là do mặc quần áo mỏng mà xây lưng với tượng Phật.

– Người trán vồ là do thấy Phật không lễ bái mà lấy tay vỗ trán.

– Người cổ ngắn là do thấy bậc Tôn trưởng lại rụt cổ rồi lánh đi.

– Người đau tim là do châm chích thân thể chúng sanh.

– Người bệnh cùi là do cướp đọat vật dụng của kẻ khác.

– Người bệnh suyễn là do mùa đông mà cho kẻ khác ăn thực phẩm nguội lạnh.

– Người bị bướu cổ là do ăn lén, ăn vụng.

– Người hơi thở hôi là do chửi rủa kẻ khác.

–  Người nam căn khiếm khuyết là do đã thiến chó.

– Người lưỡi ngắn là do ở chỗ vắng mắng lén bậc Tôn trưởng.

– Người có tánh xấu là do đời trước làm rắn, bò cạp.

– Người dơ bẩn là do đời trước làm heo.

– Người thích nhảy múa là do đời trước làm diễn viên

– Người tham lam nhiều là do đời trước làm chó.

– Người thường sân hận, kén ăn là do đời trước điên  cuồng.

– Người có đôi mắt bất chánh là do đời trước thường nhìn lén vợ con kẻ khác.

Đức Phật dạy tiếp:

* Người tà dâm với vợ hay con của kẻ khác chết đọa làm vịt, nguỗng.

– Người tà dâm trong vòng thân tộc, chết đọa làm chim sẻ.

– Người tiếc nuối Kinh sách, che dấu trí tuệ không cho kẻ khác, chết làm mối, mọt.

– Người thích mang cung tên, đi xe ngựa, chết đọa vào các nước man-di([16]), biên địa.

– Người thích săn bắn, sát hại, chết làm loài lang sói.

– Người thích cài trâm, giắt hoa, chết làm chim chào mào.

– Người thích mặc áo quần dài, chết đọa vào các loài đuôi dài.

– Người nằm mà ăn, chết đọa làm loài heo.

– Người thích mặc áo quần sặc sỡ, chết đọa làm loài chim nhiều màu sắc.

– Người giả giọng kẻ khác, chết đọa làm loài vẹt.

– Người hay trêu chọc, đùa giỡn, chết đọa làm loài trăn có nọc độc.

– Người hay làm kẻ khác phiền não một cách vô lý, chết đọa làm sâu bọ độc hại.

– Người hay báo những tin xấu, chết đọa làm chim cú.

– Người hay nói lời gây nên tai họa, chết đọa làm chồn, cáo.

– Người hay khủng bố kẻ khác, chết đọa làm hươu nai.

– Người hay mang guốc gỗ vào điện Phật, chết đọa làm các loài bị đóng móng chân.

– Người hay hạ phong, chết đọa làm con bọ hung.

– Người hay dùng chày cối của chúng Tăng, chết đọa làm con bửa củi.

– Người hay bớt xén thức ăn của kẻ khác, chết đọa làm côn trùng mổ gỗ.

– Người ăn trộm nước của chúng Tăng, chết đọa làm cá rùa.

– Người làm bẩn đất chúng Tăng, chết đọa làm côn trùng ở cầu tiêu.

– Người trộm cướp hoa quả của chúng Tăng, chết đọa làm côn trùng ăn bùn đất. Trộm cắp tài sản của chúng Tăng, chết đọa làm loài bò, lừa kéo cối xay. Cưỡng đọat vật dụng của chúng Tăng, chết đọa làm chim bồ câu. Mắng chửi chúng Tăng, chết đọa làm côn trùng ở cổ con bò. Ăn rau cải của chúng Tăng, chết đọa làm sâu ở cấy nghễ. Ngồi trên gường  chúng Tăng, chết đọa làm con giun đất. Dùng những vật liệu lặt vặt của chúng Tăng, chết đọa làm con thiêu thân.

– Người mang trâm bằng xương vào chùa chết làm chim mỏ dài. Vào chuà, xoa son, bôi phấn, chết đọa làm chim mỏ đỏ. Vào chùa, mặc áo quần sặc sỡ, chết đọa làm chim màu vàng. Vợ chồng ngủ trong Chùa, chết đọa làm côn trùng có mào màu xanh. Ngồi duỗi chân ở Tháp Phật, chết đọa làm lạc đà. Mang giày dép vào Tịnh Xá, vào Tháp chết đọa làm con ếch. Nghe pháp nói xàm, chết đọa làm con chim trăm lưỡi. Làm ô uế Tỷ-kheo ni thanh tịnh, chết đọa vào địa ngục hầm sắt, có ngàn vạn vòng đao cùng chặt chém thân thể.

Bấy giờ, ngài A-nan bạch đức Phật: Như lời Thế Tôn dạy, tội chướng của con người thật là sâu nặng. Như vậy, người đến Chùa cần phải làm gì để có công đức?

Đức Phật bảo: Những người đến Chùa có hai thứ tâm niệm, một là tâm thiện, hai là tâm ác.

Thế nào là tâm thiện?

– Người đến Chùa nếu thấy Phật thì lễ bái, thấy Tăng thì cung kính, thưa hỏi nghĩa Kinh, thọ Giới, sám hối, bỏ tài vật phụng sự Tam bảo, hộ trì đại Pháp không tiếc thân mạng. Người như vậy bước một bước là đến thiện xứ, đời sau được quả báo như cây Đề-ca. Đây gọi là người lành tối thượng.

Thế nào là tâm ác?

– Người đến Chùa kề cạnh chúng Tăng để xin vật này, mượn vật nọ; hoặc tìm điều hay điều dở của chúng Tăng để phá hoại. Hoặc dùng thức ăn của chúng Tăng không biết xấu hổ, hay lấy các thứ bánh trái, rau cải, thức ăn giấu giếm đem về nhà. Những người như thế, chết đọa vào địa ngục viên sắt nóng, nước sôi, lò than, núi đao, rừng kiếm. Đây gọi là người ác tột cùng.

Đức Phật bảo A-nan: Hãy răn dạy hàng đệ tử đời sau của Ta, phải cẩn thận đối với Tam bảo, chớ phạm những lỗi lầm trên, hết lòng chí thành sùng bái, chớ sanh tâm thối lui. Nếu nghe lời Ta, khi ngài Di Lặc xuất thế chắc chắn sẽ được hoá độ.

Đức Phật lại dạy tiếp:

*  Đời này lột áo kẻ khác, chết đọa vào địa ngục giá lạnh, sau đó lại sanh làm loài tằm bị luộc rồi kéo tơ.

– Đời này không thắp đèn để chiếu sáng Kinh Tượng, chết đọa vào địa ngục đèn tối của Thiết Sơn.

– Đời này nấu, giết, chặt  đứt thân mạng của chúng sanh, chết đọa vào núi đao, rừng kiếm.

– Đời này đuổi bắt chim, chó hoặc săn bắn, chết đọa vào địa ngục cưa sắt.

– Đời này làm nhiều hạnh tà vạy, chết đọa vào địa ngục giường sắt, cột đồng.

– Đời này cưới nhiều vợ, chết đọa vào địa ngục cối xay bằng sắt.

– Đời này lấy nhiều chồng, chết đọa vào địa ngục rắn độc.

– Đời này nấu, thiêu gà; chết đọa vào địa ngục sông tro.

– Đời này nấu, thiêu vịt, heo; chết đọa vào địa ngục nước sôi.

– Đời này thiến chó hoặc heo, chết đọa vào địa ngục đá nhọn.

– Đời này uống rượu say sưa, cuồng loạn; chết đọa vào địa ngục uống nước đồng sôi.

– Đời này chặt đứt thân mạng chúng sanh, chết đọa vào địa ngục bánh xe sắt.

– Đời này trộm trái cây của chúng Tăng, chết đọa vào địa ngục nuốt viên sắt nóng.

– Đời này ăn thịt heo, chó; chết đọa vào địa ngục phẩn, tiểu.

– Đời này ăn cá sống, chết đọa vào địa ngục núi đao, rừng kiếm.

– Đời này làm mẹ kế hà khắc con chồng, chết đọa vào địa ngục xe đốt nóng.

– Đời này nói hai lưỡi gây rối loạn, chết đọa vào địa ngục cày sắt.

– Đời này ác khẩu mắng người, chết đọa vào địa ngục rút lưỡi.

– Đời này nói láo nhiều, chết đọa vào địa ngục đinh sắt.

– Đời này sát sanh để dâng cúng quỷ thần, chết đọa vào địa ngục chày sắt.

– Đời này làm phù thuỷ nói dối gạt người lấy của, chết đọa vào địa ngục núi đá.

– Đời này làm phù thuỷ cố tình gạt người, nói rằng, lên trời tìm linh hồn người chết; người chết đọa vào địa ngục chặt lưng.

– Đời này làm phù thuỷ dạy người sát sanh đề cầu  thần linh, cầu thần hoàng, thổ địa hay cầu quỷ mị.v.v đều là dối gạt kẻ ngu; chết đọa vào địa ngục búa chặt; bị ngục tốt chém, bị loài chim mỏ sắt móc mắt.

– Đời này làm phù thuỷ chôn cất người, đoán điềm họa phước, cát hung của dòng họ, an định vườn nhà, yểm chết trùng, trù tai họa dối gạt kẻ ngu lấy của. Những người như thế, chết đọa vào địa ngục sắt đồng, có nhiều chim thú dữ bu quanh thân thể, khoét móc da thịt, gân xương, thống khổ vô cùng.

– Đời này làm thầy thuốc đoán sai bệnh, gạt kẻ khác lấy của; chết đọa vào địa ngục kim châm, toàn thân phát cháy.

– Đời này phá hoại Chùa, Tháp, hành hạ Tăng Ni, bất hiếu cha mẹ, chết đọa vào địa ngục A-tỳ. Trước hết phải trải qua tám địa ngục lớn, một trăm ba mươi sáu địa ngục nhỏ, sau đó rơi vào địa ngục A-tỳ một kiếp, hai kiếp hay năm kiếp mới được thoát ra. Nếu may mắn được gặp thiện tri thức để phát tâm Bồ-đề, trái lại bị rơi vào địa ngục.

– Đời này phá Tháp, huỷ Chùa, dấu tài sản của Tam bảo để  tiêu xài, chết đọa vào địa ngục A-tỳ. Ra khỏi địa ngục thì làm thân súc sanh, như chim bồ câu, chim sẻ, vịt, le le, chim két, chim sẻ xanh, cá, rùa, khỉ, nai, hươu. Nếu được sanh làm người thì làm dâm nữ hay bị lại cái (bán nam bán nữ).

– Đời này ưu thích sân hận, chết đọa làm rắn độc, sư tử, cọp, sói, gấu, mèo rừng, chim ưng, diều hâu.

– Đời này ưu thích nuôi heo, gà; chết đọa làm cai ngục.

– Đời này ngu si, không hiểu đạo lý; chết đọa làm voi, heo, bò, dê, trâu, chí, rận, kiến, muỗi.v.v.Nếu được làm người thì bị điếc, mù, câm, gù, cụt, què, các căn không đủ, không thể nghe Phật pháp.

– Đời này kiêu mạn chết đọa làm côn trùng ở nhà xí, hoặc làm lạc đà, lừa, ngựa, chó ngao. Nếu được làm người thì làm tôi tớ, bần cùng, ăn xin, bị người khinh khi.

– Đời này làm quan ỷ thế lấy tài sản của dân, chết đọa vào địa ngục núi da, trăm vạn người lột da để ăn.

– Đời này ưa thích bắt kẻ khác đứng để chết, khi chết đọa làm voi trắng, chân thẳng không nằm ngủ được.

– Đời này phá trai, ăn ban đêm, chết đọa làm ngạ quỷ, trăm ngàn vạn năm không được ăn uống, khi bước đi đầu lóng chân bốc lửa.

– Đời này ưa thích ngồi loã hình, chết đọa làm loài cú vọ.

– Đời này giấu thực phẩm trai phạn để ăn lén, chết đọa vào địa ngục sắt nóng; nếu được làm người thì bị bệnh nghẹt yết hầu, chết yểu.

– Đời này lễ Phật không sát đất, chết đọa vào địa ngục treo ngược; nếu được làm người thường bị kẻ khác lường gạt.

– Đời này lễ Phật không chắp tay, chết sanh vào vùng biên địa, làm gì thì mất nhiều công sức mà chẳng có thu hoạch.

– Đời này chấp tay cao lễ Phật, chết đọa vào địa ngục bị trói, bị treo; nếu được làm người thường gặp tai nạn bất ngờ.

– Đời này chắp tay, chí tâm lễ Phật sát đất, chết được sanh chỗ tôn quý, có nhiều điều vui.

– Đời này nghe chuông không ngồi dậy, chết đọa làm con rắn thân dài lớn, bị các loài côn trùng rúc rỉa.

– Đời này bênh vực vợ (chồng), mắng chửi cha mẹ, chết đọa vào địa ngục bị cắt lưỡi.

-Đời này thêm nước vào rượu để bán, chết đọa làm côn trùng trong nước; nếu được làm người thì bị trướng, chết ngạt.

Đức Phật dạy tiếp:

*  Người thân thể cao to, mạnh mẽ mà sân hận khó bỏ là do đời trước làm lạc đà.

– Người thích đi, ăn nhiều, gặp chỗ nguy  hiểm không tránh là do đời trước làm ngựa.

– Người chịu được nóng lạnh mà tâm vô ký là do đời trước làm bò.

– Người cống cao không biết xấu hổ, nghĩ nhiều về luyến ái, không biết phải quấy là do đời trước làm lừa.

– Người thích ăn thịt, làm việc không sợ sệt là do đời trước làm sư tử.

– Người thân cao lớn, mắt tròn, thích đi chỗ vắng vẻ, ganh ghét vợ (chồng) con là do đời trước làm cọp.

– Người lông dài, mắt nhỏ, không thích ở một chỗ là do đời trước làm chim.

– Người tánh tình lật lường, thích sát hại chúng sanh là do đời trước làm chồn, cáo.

– Người mạnh mẽ, ít dâm dục, không yêu thương vợ (chồng) con là do đời trước làm lang sói.

– Người không thích mặc đẹp, thường  bắt kẻ gian, giận nhiều, ít ngủ là do đời trước làm chó.

– Người dâm ô, thường bàn chuyện người yêu là do đời trước làm chim két.

– Người thích ở chỗ đông đúc, lời nói phần nhiều làm phiền não kẻ khác là do đời trước làm chim bồ chao.

– Người thân nhỏ, tính dâm, tâm không ổn định, thấy sắc đẹp bị mê hoặc là do đời trước làm chim sẻ.

– Người có mắt đỏ, răng ngắn, khi nói hay khạc nhổ, khi ngủ nằm cuốn tròn là do đời trước làm rắn.

– Người nói phô thường nóng giận, không hiểu nghĩa hay phát lửa sân là do đời trước làm bò cạp.

– Người sống riêng lẻ, ăn nhiều, đêm ít ngủ là do đời trước làm mèo rừng.

– Người thường đục tường ăn trộm, tham tài, không có thân thuộc là do đời trước làm chuột.

Đức Phật dạy A-nan: Ta đã nói rằng, tất cả những khổ đau đều do hành động (nghiệp) của mười điều ác. Nghiệp ác nặng nhất thì đọa vào địa ngục, nghiệp ác trung bình thì đọa làm súc sanh, nghiệp ác nhẹ hơn thì đọa làm ngạ quỷ.

Trong đây:

+ Tội sát sanh đẩy đưa chúng sanh đọa vào địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Nếu được làm người thì bị hai thứ quả báo: một là chết yểu, hai là nhiều bệnh.

+ Tội trộm cướp đẩy đưa chúng sanh đọa vào địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Nếu được làm người thì bị hai thứ quả báo: một là nghèo hèn, hai là tài sản bị tịch thu, không tiêu xài được.

+ Tội tà dâm cũng bị đọa vào ba ác đạo (địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ). Nếu được làm người thì bị hai thứ quả báo: một là vợ (chồng) không trung thành, hai là vợ (chồng) tâm ý bất hoà, hay cãi lộn nhau.

+ Tội vọng ngũ cũng bị đọa vào ba ác đạo. Nếu được làm người thì bị hai thứ quả báo: một là thường bị phỉ báng, hai là thường bị nhiều người lường gạt.

+ Tội nói hai lưỡi cũng bị đọa vào ba ác đạo. Nếu được làm thân người thị bị hai thứ quả báo: một là quyến thuộc bị phá hoại, hai là quyến thuộc hung dữ.

+ Tội ác khẩu cũng bị đọa vào ba ác đạo. Nếu được làm người thì bị hai thứ quả báo: một là thường nghe tiếng dữ, hai là nói gì thường bị cãi lại.

+ Tội ỷ ngữ cũng bị đọa vào ba ác đạo. Nếu được làm người thị bị hai thứ quả báo: một là nói điều gì đúng cũng không được ai tin, hai là nói gì cũng không thông tình đạt lý.

+ Tội dâm dục cũng bị đọa vào ba ác đạo. Nếu được làm người thị bi hai thứ quả báo: một là tham của cải không biết chán, hai là ham muốn nhiều mà không được toại nguyện.

+ Tội sân nhuế cũng bị đọa vào ba ác đạo. Nếu được làm người thị bị hai thứ quả báo: một là thường bị kẻ khác moi móc, hai là thường bị kẻ khác não hại.

+ Tội tà kiến cũng bị đọa vào ba ác đạo. Nếu được làm người thì bị hai thứ quả báo: một là thường bị sanh vào gia đình tà kiến, hai là tâm thường siểm nịnh.

+ Các Phật tử! Đó là con đường mười tội ác, là nhân duyên hội tụ các điều đau khổ.

Bấy giờ, trong hội chúng có những người đã làm mười điều ác ấy, được nghe đức Phật dạy về những quả báo khổ đau ở địa ngục, đều rống khóc và bạch đức Phật rằng: Bạch Thế Tôn

chúng con phải làm những việc lành gì để tránh khỏi những khổ đau ấy?

Đức Phật dạy: Nên bảo tất cả chúng sanh cùng làm việc phước. Thế nào là việc phước?

*   Nếu chúng sanh nào, đời này làm đại Hóa chủ như lập Chùa, xây Tháp thì đời sau chắc chắn sẽ làm Vua thống lãnh vạn dân, đi đâu cũng được mọi người phục tùng.

– Đời này làm Thị Trưởng trung chánh, làm Duy na([17]) hay Luận chủ([18]) thì đời sau sẽ làm Vương thần, Tướng soái thống lãnh

cả châu bộ, đầy đủ mọi y phục, xe ngựa; các phương tiện cần thiết tự nhiên sung mãn.

– Đời này  hướng dẫn mọi người làm các công đức thì đời sau sẽ làm trưởng giả giàu sang, được tôn kính, mọi việc làm đều thuận tiện, không bị trái chống.

– Đời này thắp đèn và bảo vệ ánh sáng thì đời sau sẽ được sanh lên cõi trời Nhật nguyệt, thân thể phát chiếu ánh sáng rực rỡ.

– Đời này ưa thích bố thí với tâm từ bi và bảo hộ chúng sanh, thì đời sau sẽ ở chỗ nào cũng được giàu sang, y phục thực phẩm đầy đủ.

– Đời này ưa thích bố thí thực phẩm cho mọi người thì đời sau sanh ở chỗ nào, thực phẩm tự đến, sức khỏe và sắc đẹp hoàn hảo, thông minh biện tài, tuổi thọ dài lâu. Nếu bố thí cho súc sanh thì phước báo gấp trăm lần. Bố thí cho Nhất xiển-đề([19]) thì phước báo gấp trăm ngàn lần. Bố thí cho Pháp sư giảng pháp Đại thừa, trình bày những tạng bí mật của Như Lai, giúp đại chúng phát khởi trí tuệ thì hưởng phước báo vô lượng. Bố thí cho đức Phật, Bồ-tát thì hưởng phước báo vô tận. Lại nữa, bố thí cho ba đối tượng này cũng hưởng được phước báo vô cùng tận. Đó là: thứ nhất, chư Phật; thứ hai, cha mẹ; thứ ba, người bệnh. Chỉ cần bồ thí một bữa ăn, phước báo đã vô lượng rồi, huống gì thường xuyên bố thí phước báo làm sao cùng tận được.

– Đời này ưa thích tán thán, đọc tụng Kinh pháp sẽ được giọng nói hoà nhã, diệu hiền, ai nghe cũng hoan hỷ.

– Đời này ưa thích trì giới sẽ được sanh vào gia đình đoan chánh hoàn hảo.

– Đời này ưa thích đào giếng nơi công cộng, đặt nước uống dọc đường, trồng cây gây bóng mát; đời sau sẽ được làm Vua, đồ ẩm thực trăm vị tùy sở thích, muốn là có ngay.

– Đời này ưa thích in chép Kinh điển, phổ biến cho mọi người đọc, sẽ được sanh làm người biện tài, Phật pháp vừa nghe liền thông đạt, thường được chư Phật, Bồ-tát hộ trì. Đây là người tối thắng, thường làm thượng thủ.

– Đời này ưa thích làm cầu, làm thuyền đưa người sang sông, sẽ được sanh vào gia đình đầy đủ bảy vật báu, mọi người ai cũng cung kính, chiêm ngưỡng, vui mừng, đi đâu cũng được mọi người hộ vệ.

Đức Phật bảo A-nan: Như Ta đã nói nhân quả của từng vấn đề trong Kinh để khuyên chúng sanh đọc tụng, tu hành nhằm thoát khỏi khổ đau, tai nạn. Nếu ai nghe Kinh này mà khinh chê thì lưỡi người ấy rụng liền trong đời này.

Bấy giờ, ngài A-nan bạch đức Phật: Bạch Thế Tôn! Kinh này gọi là gì? Làm sao để tu tập?

Đức Phật bảo A-nan: Kinh này tên là Nhân Quả Thiện Ác, Cũng gọi là kinh Bồ-tát phát nguyện Tu Hành; cứ như vậy mà thọ trì.

Khi đức Phật giảng kinh này xong, trong hội chúng có tám vạn người phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, trăm ngàn người nữ chuyển thành nam tướng, một ngàn hai trăm người ác độc chuyển thành người thiện lương, chứng quả Vô sanh nhẫn, luôn được an lạc tự tại. Những người sau này khi chết được sanh về các Tịnh độ, làm bạn với chư Phật, Bồ-tát.

Đến đây, tất cả đại chúng trở về trú xứ của mình và thực hành lời dạy của đức Phật.

 

Chú Thích:

[16] Hán Việt Từ Điển-Nguyễn Văn Khôn, trang 576. Man-di là những kẻ mọi rợ, mán rợ, thô lỗ

[17] Còn gọi là Đô duy na, Duyệt chúng, Tư hộ, Tri sự la chức vụ quản lý, điều hành và lo các việc của đại chúng trong chùa.

[18] Tác giả của một bộ luận, là người thông đạt nghĩa lý.

[19] Từ Điển Huệ Quang, tập IV, trang 3269: Nhất xiển-đề-ca, Nhất-điên-ca, Nhất-xiển-đề-ca, Xiển-đề – Hán dịch là: Đoạn thiện căn,Tín căn bất cụ, Cực dục, Đại tham, vô chủng tính, Thiêu chủng – người mất hết căn lành, không có điều kiện thành Phật.

 

Kinh Thiện Ác Nhân Quả

Việt dịch: Hòa Thượng Thích Trung Quán

 

 

Thay Lời Tựa 

Khi nói đến nhân quả nghiệp báo thì không ít người trề môi cười nhạt, họ quan niệm những điều đó như là chuyện cổ tích, luân lý khuyên người, chớ chẳng thực tế, không dính dáng gì với dời sống văn minh tiến bộ ngày nay. Đâu biết rằng khắp cả cuộc sống nhân gian, ngay chính bản thân đời sống của họ, cũng như mọi người không thoát ngoài nhân quả. Đến cả khoa học phát minh ngày nay cũng được xây dựng từ nhân quả. Bình tâm suy nghĩ chín chắn, ta thấy thành quả của khoa học khởi đi từ nhân quả thực nghiệm. Sự thăng trầm của kiếp sống chúng sanh nhân loại liên quan mật thiết với nhân quả thiện ác.

Chúng ta thử lắng động tâm tư nghĩ kỹ về đời sống con người cho đến sự hình thành hành hoạt của vạn vật có gì vượt ngoài luật nhân quả ? Từ đứa bé chăn trâu, người nông phu cày sâu cuốc bẫm, kẻ buôn bán cho đến vị thẩm phán nắm luật thế gian cũng không thể vượt ngoài nhân quả thiện ác nghiệp báo. Chẳng khác nào nhân loại vạn vật không thể thoát ra ngoài không gian mà sinh hoạt, vượt ra ngoài lớp không khí mà sanh tồn. Giống như thế đó, nhân quả thiện ác nghiệp báo tuy vô hình vô tướng, nhưng chùm khắp chi phối toàn diện tất cả mọi sinh hoạt thịnh suy thăng trầm vinh nhục hạnh phúc khổ đau của muôn loài. Dù đó là Thánh nhân, là Trời, là Thần linh, Thượng đế (nếu thật có) cũng không thể thoát ngoài luật nhân quả thiện ác nghiệp báo chi phối. Có hạng người hoặc nông nổi tự hào, hoặc cuồng tín Thượng đế, hoặc si mê chủ thuyết vô thần chẳng tin nhân quả, từ đó tạo ra vô vàn tội ác khổ đau cho mình và người, gây cho đời nhiều cảnh huống thảm khốc, để rồi đời đời chuốc lấy sự nguyền rủa oán hờn, tiếp theo bị luật nhân quả nghiệp báo mà phải rơi vào cảnh khổ, thọ lấy đời sống tối tăm. Thế gian lắm cảnh sai biệt giầu nghèo, tốt xấu, vinh nhục, thịnh suy tất cả đều do nhân quả chi phối. Tạo nhân nào nhất định chịu quả đó, không sai sót. Cổ đức nói : “Thiên võng khôi khôi sơ nhi bất lậu”. Nghĩa là lưới trời lồng lộng, sợi lông xíu cũng không xót lọt. Thế nên, người tin sâu nhân quả là người tỉnh thức biết sống tiến bộ hướng lên quang lộ thánh thiện, biết nhìn rõ sự thật, biết nhận lấy trách nhiệm của mình.

Muốn rõ nhân quả thiện ác nhiệp báo như thế nào, xin mời quý vị dù là Phật tử hay không Phật tử, dù là tin Phật hay không tin Phật, thử lần lượt lật trang kinh với cõi lòng vô tư tĩnh lặng từ từ đọc kỹ, hy vọng giúp cho quý vị nhìn rõ hành hoạt và thân phận của muôn loài chúng sanh, rồi lắng lòng suy gẫm, để từ đó xây dựng chánh kiến hướng về nẻo thiện sống hiên hòa sáng sủa hơn, ngõ hầu phản tỉnh quán chiếu để tự cứu mình thăng hoa thánh thiện trong ánh sáng giác ngộ, rồi ra còn có cơ giúp độ gia đình, quyến thuộc bằng hữu và đồng thời đem lại an lạc cho chúng sanh.

Nhân quả thiện ác nghiệp báo không phải dành riêng cho người tin theo đạo Phật mà cho khắp tất cả những ai muốn có được đời sống hạnh phúc tiến bộ, tránh khỏi trầm luân khổ lụy đọa đầy. Nhân quả là một sự thật, là định luật muôn đời, chi phối khắp cả trời người chúng sanh muôn loại, được tuệ giác đạt đạo của đức Thích-Ca Mâu-Ni thấu suốt chân lý vũ trụ vạn hữu nói ra một cách rành rẽ, để cho muôn loại chúng sanh hiểu rõ, ngõ hầu tự giác tránh gây nhân ác để hướng quả lành, thăng hoa đời mình trong ánh sáng hiền lương thánh thiện, tiến lên đời sống giác ngộ giải thoát của chư Phật Thánh Hiền.

Để kết thiện duyên Bồ-Đề cho những ai có tâm ý hướng thiện, có chí nguyện tiến lên quả vị giác ngộ giải thoát vòng luân hồi sanh tử, nay Phật-Học-Viện Quốc-Tế phát nguyện in quyển kinh Thiện Ác Nhân Quả này, với sự phát tâm hiến cúng tịnh tài của quý Phật tử gần xa để cho ai nấy thấy rõ thân phận nghiệp báo của mội chúng sanh.

Xin thành tâm hồi hướng công đức đến Dịch-giả và tán thán công đức quý Phật tử đã phát tâm hiến cúng tịnh tài làm trợ duyên cho kính này tái bản. Tôi thành tâm tùy hỷ công đức và khắp nguyện pháp giới chúng sanh đều được an lành lợi lạc với tâm thức tỏ ngộ khi đọc kinh này.

Hoa-Kỳ,  mùa Phật-Đản  2540-1996.

THÍCH-ĐỨC-NIỆM

 

Niệm Hương

(Cầm ba cây hương quỳ trước bàn thờ Phật niệm hương) 

NAM-MÔ  THẬP-PHƯƠNG THƯỜNG TRỤ TAM-BẢO TÁC ĐẠI CHỨNG MINH.  (3 lần)

Nguyện thử diệu hương vân,
Biến mãn thập phương giới,
Cúng dường nhất thiết Phật,
Tôn pháp chư Bồ-Tát,
Vô biên Thanh-Văn chúng,
Cập nhất thiết Thánh-Hiền,
Duyên khởi quang minh đài,
Xứng tánh tác phật sự,
Phổ huân chư chúng sanh,
Giai phát Bồ-Đề tâm,
Viễn ly chư vọng nghiệp,
Viên thành vô thượng đạo.

Nam-Mô  Hương-Cúng-Dường Bồ-Tát  (3 lần) 

TÁN PHẬT

(Đứng dậy chấp tay ngang ngực, nhìn Phật thành kính tụng) 

Pháp-vương vô thượng tôn,
Tam giới vô luân thất,
Thiên nhơn chi Đạo-Sư,
Tứ sanh chi từ phụ,
Ư nhứt niệm quy y,
Năng diệt tam kỳ nghiệp,
Xưng dương nhược tán thán,
Ức kiếp mạc năng tận.

QUÁN TƯỞNG

Năng lễ sở lễ tánh không tịch,
Cảm ứng đạo giao năng tư nghì,
Ngã thử đạo tràng như Đế-Châu,
Thập phương chư Phật ảnh hiện trung,
Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền,
Đầu diện tiếp tục quy mạng lễ.

LỄ  PHẬT

Chí tâm  đảnh lễ : Nam-mô Tận hư không, biến pháp giới, quá, hiện, vị lai, thập phương chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trụ Tam-Bảo. (1 lạy) 

Chí tâm  đảnh lễ : Nam-mô Ta-Bà Giáo-Chủ Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật, Đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại-Trí Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-Tát, Đại-Hạnh Phổ-Hiền Bồ-Tát, Hộ-Pháp Chư Tôn Bồ-Tát, Linh-Sơn Hội-Thượng Phật Bồ-Tát.  (1 lạy) 

Chí tâm  đảnh lễ : Nam-mô Tây Phương Cực-Lạc thế giới đại-từ đại-bi A-Di-Đà Phật, Đại-Bi Quán-Thế-Âm Bồ-Tát, Đại-Thế-Chí Bồ-Tát, Đại-Nguyện Địa-Tạng-Vương Bồ-Tát, Thanh-Tịnh Đại-Hải-Chúng Bồ Tát. (1 lạy) 

KỆ TÁN HƯƠNG

Lư hương vừa ngún chiên đàn,
Khói thơm ngào ngạt muôn ngàn cõi xa
Lòng con kính ngưỡng thiết tha,
Ngưỡng mong chư Phật thương mà chứng minh,

NAM-MÔ HƯƠNG-VÂN-CÁI BỒ-TÁT. (3 lần)

 

CHÚ ĐẠI BI

NAM-MÔ  ĐẠI-BI HỘI-THƯỢNG PHẬT BỒ-TÁT

Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni.

Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô kiết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án tát bà ra phạt duệ. Số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. Bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà.

Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đa sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đa, na ma bà dà. Ma phạt đạt đậu. Đát điệt tha. Án a bà lô hê. Lô ca đế. Ca ra đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra. Ma hê ma hê rị đà dựng. Cu lô cu lô yết mông. Độ lô độ lô phạt xà ra đế. Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất Phật ra da, Giá ra gía ra. Mạ mạ phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê di hê. Thất na thất na. A ra sâm Phật xá lợi. Phạt ra phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra. Hô lô hô lô hê rị. Ta ra ta ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ bồ đề dạ. Bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế rị dạ. Na ra cẩn trì. Địa rị sắc ni na. Ba dạ ma na. Ta bà ha. Tất đà dạ. Ta bà ha. Ma ha tất đà dạ. Ta bà ha. Tất đà du nghệ. Thất bàn ra dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn trì. Ta bà ha. Ma ra na ra. Ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da. Ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ. Ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ. Ta bà ha. Ba đà ma yềt tất đà dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ. Ta bà ha. Ma bà lợi thắng yết ra dạ. Ta bà ha.

Nam mô hắt ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô kiết đế. Thước bàn ra dạ. Ta bà ha.

Án, tất điện đô. Mạn đa ra. Bạt đà da, Ta bà ha.

NAM-MÔ BỔN-SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT  (3 lần)

 

KHAI KINH KỆ

Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp,
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ,
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì,
Nguyện giải Như-Lai chơn thật nghĩa.

NAM-MÔ THẬP-PHƯƠNG THƯỜNG-TRỤ TAM-BẢO (3 lần)

PHẬT NÓI KINH
THIỆN ÁC NHÂN QUẢ

Chính tôi được nghe một thời đức Phật ở nước Xá-Vệ, tại vườn ông Cấp-Cô-Độc, rặng cây Thái-tử Kỳ-Đà.

Khi bấy giờ  đức Thế-Tôn thuyết Pháp, có vô lượng Bồ-Tát, trời, người đại chúng vây quanh, yên lặng một lòng nghe nhận. Lúc ấy A-Nan tôi vì chúng sanh nên bạch Phật rằng :

Kính lạy đức Thế-Tôn ! Nay thấy thế gian cùng một giống sanh trong đạo người, có người đẹp, kẻ xấu, người mạnh, kẻ yếu, kẻ nghèo người giầu, kẻ khổ người vui, kẻ sang người hèn, âm thanh bất đồng, ngôn ngữ khác nhau, có người sống lâu trăm năm chẳng chết, người ba mươi tuổi đã tử vong, kẻ mười lăm tuổi chết yểu, cho đến trẻ nhỏ bị bào thai đọa lạc. Có người đoan chánh, có kẻ bần hàn, có người xấu xí mà giầu sang, kẻ rất khỏe mạnh mà thấp kém, có người nhu nhược mà lên ngôi cao, có người khổ mà sống lâu, kẻ vui mà chết sớm, có người làm lành mà hay gặp nhiều điều khốn quẫn; kẻ làm ác lại gặp phước lợi, kẻ béo trắng lại mắt lác, kẻ xanh đen mà lại tươi đẹp, có người tuy lùn bé mà đủ ý chí cao thượng, có người tuy cao lớn mà phải làm đứa ở đê hèn, có người nhiều con trai con gái, có kẻ cô đơn một mình, có kẻ ly gia hương đói rét lang thang, có kẻ được vào cung vua ở triều ăn mặc tha hồ, có người lúc trẻ thì nghèo hèn đến lúc già lại giầu có sang, có người thực là vô tội lại bị bắt bớ giam hãm trong tù ngục, có nhà cha từ con, hiếu luận kinh giảng nghĩa, có nhà anh em bất hòa đấu tranh ngang trái, có người nhà cửa đàng hoàng gia sản đầy đủ, có kẻ không nhà không cửa nay đây mai đó, gửi thân nơi đất khách quê người, sống một cách phiêu lưu khốn cực, có người ở như tổ quạ hang hươu giống loài ly thú, cũng có hạng người ăn thịt sống uống máu tươi, mặc áo da lông không biết văn tự, có người an nhàn hưởng phước báo, có kẻ đi làm mướn không ai thuê, có người thông minh cao sáng, có kẻ dốt nát ngu si, có người kinh doanh mới được, có kẻ chẳng cầu tiền của tự đem lại, có kẻ giầu mà tham sẻn, có người nghèo lại rộng lòng bố thí.

Có người lời nói ngọt ngào, có kẻ tiếng nói ra như gai góc, có kẻ được nhiều người ái kính, có kẻ bị mọi người xa lánh, có người từ tâm nuôi mạng chúng sanh, có kẻ sát sanh không nương tay, có người khoan dung đại độ, lại đắc nhân tâm, có kẻ bị dân chúng bỏ rơi.

Có nhà nàng dâu mẹ chồng ghét nhau, có nhà chị em dâu vui vẻ hòa hợp. Có người ham nghe pháp ngữ, có kẻ nghe kinh buồn ngủ, có hạng vũ phu vô lễ, có người hiếu học văn trương, có kẻ hay bắt chước dáng điệu những loài súc sanh. Cúi xin đức Thế-Tôn nói rộng nhân quả cho đại chúng đây nghe mà nhất tâm hành thiện !

Khi bấy giờ đức Thế-Tôn bảo A-Nan tôi rằng : Như người hỏi ta chúng sanh thọ báo bất đồng là do đời trước dụng tâm khác nhau, vì thế cho nên muôn sai vạn biệt. Người đời nay được tâm thân đoan chánh, là do đời trước ở trong đạo người tu hành nhẫn nhục mà được.

Kẻ bị thân hình xấu xí, là do đời trước ở trong đạo người hay có tánh giận tức.

Người đời nay bị nghèo cùng, là do đời trước ở trong đạo người có tánh tham sẻn.

Người đời nay được cao quý, là đời trước hay lễ bái chư Phật mà được.

Người đời bị hà tiện, là do đời trước hay có tánh kiêu mạn.

Người to lớn, là do đời trước có tâm cung kính.

Kẻ bị lùn thấp, là do đời trước mạn Pháp.

Kẻ ngang tàng ương nghạnh, là do đời trước làm kiếp dê.

Kẻ bị đen xấu, là do đời trước che ánh sáng của Phật.

Kẻ bị cứng lưỡi, là do đời trước nếm trai thực cúng dường.

Kẻ bị đỏ mắt, là do đời trước sẻn tiếc ánh sáng.

Người đui mắt là do đời trước hay khâu mắt chim ưng.

Người đời nay câm ngọng, là do đời trước hay phỉ báng chánh Pháp.

Người đời nay điếc lác, là do đời trước chẳng vui nghe Pháp.

Người khuyết răng đời nay, là do đời trước ham ăn xương thịt.

Người tắc mũi đời nay, là do đời trước đốt hương bất hảo cúng dường Phật.

Người sứt môi đời nay, là do đời trước hay đâm thọc sâu thủng mang hoặc môi cá.

Người da vàng, là do đời trước hay cạo lông lợn.

Người căng tai, là do đời trước hay dùi thủng tai sanh vật.

Kẻ trần hình, là do đời trước hay mặc áo mỏng vào trong chùa đứng trước tượng Phật Bồ-Tát.

Người sắc đen đời nay, là do đời trước để tượng thờ Phật ở mái hiên làm khói xông tượng.

Người đời nay bị đi khèo chân, là do đời trước thấy bậc Sư-trưởng không đứng dậy.

Người đời nay bị lưng còng, là do đời trước mặc áo mỏng ra vào quay lưng vào tượng Phật.

Người bị trán thấp hoặc trớt, là do đời trước thấy Phật chẳng lễ lạy cầm tay gõ trán.

Người đời nay rụt cổ, là do đời trước thấy các vị Tôn-trưởng rụt đầu chạy trốn.

Người đời nay đau tim, là do đời trước hay đâm chém thân thể chúng sanh.

Người đời nay bị bệnh hủi, là do đời trước lừa gạt lấy tài vật của người ta.

Người đời nay bị bệnh ho xuyễn, là do đời trước ngày mùa đông gíá rét cho người thức ăn lạnh.

Người đời nay không có con, là do đời trước hay bắt các chim non giết thịt.

Người lắm con, là do đời trước hay nuôi dưỡng các sanh vật.

Người đời nay sống lâu, là do đời trước có từ tâm.

Người đời nay chết non, là do đời trước hay sát sanh.

Người đời nay giầu to, là do đời trước hay làm hạnh bố thí.

Người đời nay có xe ngựa, là do đời trước cúng dường Tam-Bảo bằng xe ngựa.

Người đời nay thông minh, là do đời trước ham đọc và tụng kinh.

Người đời nay ám độn, là do đời trước làm súc sanh.

Người đời nay làm tôi đòi, là do đời trước nghèo mà tham chứa dấu.

Người đời nay hay nhảy nhót xoay cuồng, là do đời trước làm kiếp khỉ.

Người đời nay bị bệnh hủi, là do đời trước phá hoại Tam-Bảo.

Người đời nay tay chân vặn vẹo, là do đời trước hay trói chân tay chúng sanh.

Người đời nay hay có ác tánh, là do đời trước làm kiếp rắn, rết, bọ cạp.

Người đời nay sáu căn được đầy đủ là do đời trước chuyên tâm giữ giới.

Người đời nay các căn tai, mắt, mũi, lưỡi, thân, ý không được đầy đủ là do đời trước phá giới.

Người đời nay hay ăn ở bẩn thủi, là do đời trước làm kiếp lợn.

Người đời nay hay ham múa hát, là do đời trước làm nghề múa hát ả đào, phường chèo tái sanh.

Người đa tham đời nay, là do đời trước làm kiếp chó đầu thai.

Người đời nay có búi thịt đeo lủng lẳng ở cổ (bìu cổ), là do đời trước hay ăn một mình (ăn vụng).

Người đời nay bị mồm hôi thúi, là do đời trước hay mắng chưởi, rủa, hỗn hào.

Người đời nay không có nam căn, là do đời trước hay thiến chó, lợn.

Người đời nay ngắn lưỡi nói ngọng, là do đời trước ngồi ở chỗ vắng hay mạ nhục mắng nhiếc các bậc Tôn-trưởng.

Người đời nay ham thông dâm với phụ nữ người ta, chết đọa làm loài ngan, vịt.

Người đời nay hay thông dâm với chính họ, thân chết đọa làm loài chim công, chim sẻ.

Người sẻn tiếc kinh thư che giấu trí tuệ không chịu nói cho người, chết đọa làm loài trùng ăn đất ăn gỗ (con mọt).

Người hay đeo cung tên súng đạn, cưỡi ngựa, chết đọa trong loài Lục-di (mường mán mọi rợ).

Người ham sát sanh, chết đọa trong loài lang thú (hổ, báo, chó sói).

Người hay đeo tràng hoa, chết đọa vào loài trùng tải trắng (tức sâu trùng mình có hoa).

Người hay mặc áo dài lượt thượt, chết đọa làm con trùng đuôi dài.

Người hay nằm ăn, chết đọa vào loài lợn.

Người ưa thích mạc áo sặc sỡ các sắc lòe loẹt, chết đọa làm loài chim loang lỗ.

Kẻ hay nhái tiếng người hoặc hài hước điệu người, chết đọa làm loài chim vẹt.

Kẻ hay chế diễu người, chết đọa làm loài trăn, rắn ác độc.

Kẻ hay làm buồn não người, chết đọa làm loài trùng ảo não.

Kẻ hay tuyên truyền điều ác làm cho người ta tin, chết đoạ làm loài chim cú, chim cắt.

Kẻ hay nói làm cho người ta bị ương họa tù tội, chết đọa làm loài thú dã hổ.

Kẻ hay làm cho người ta sợ hãi kinh khủng, chết đọa làm loài hươu, nai.

Người đời trước đi guốc dép vào chùa, đời nay sanh loài có móng như móng ngựa.

Người đời trước ham phóng hạ khí, đời nay làm loài trùng khí hàn.

Kẻ đời trước buộc người phải ăn dè sẻn, nghĩa là bớt phần ăn của người, đời nay làm con mọt gặm gỗ.

Người đời trước dùng cối giã của tang chúng, đời nay bị làm loài trùng gật đầu.

Làm thân cá giải đời nay, là do đời trước lạm dụng nước của chư tăng.

Làm bẩn nước chúng tăng, phải đọa làm loài trùng ở chốn bẩn.

Lấy trộm quả trái của chúng tăng, phải đọa làm loài trùng ăn bùn đất.

Loài trâu, lừa kéo cối nghiến, là do đời trước làm người ăn trộm của chúng tăng.

Đời trước cưỡng xin của chúng tăng, đời nay làm loài chim bồ câu trắng.

Đời trước nhục mạ chúng tăng, đời nay phải làm loài trùng ở cổ trâu.

Lạm ăn rau của tăng, phải đọa làm loài sâu ở các thứ rau đắng.

Bất kính ngồi giường của tăng, phải đọa làm loài lươn, loài lịch.

Lạm dùng các đồ vật của tăng, phải đọa làm loài thiêu thân.

Nhổ khạc trong đất chùa, đời nay phải đọa làm chim dài mỏ.

Mặc áo vằn khói, bôi phấn đánh môi son vào chùa, đời nay phải đọa làm chim mỏ đỏ.

Mặc áo mầu sặc sỡ vào chùa, đời nay đọa làm loài chim lệ.

Đời trước vợ chồng nằm ngủ với nhau ở trong chùa, đời nay phải đọa làm loài chim trùng Thanh.

Đời trước ngồi trên hoặc đạp vào tháp thờ Phật, đời nay phải đọa làm loài lạc đà.

Đời trước đi giầy dép vào chùa hoặc tịnh xá, đời nay phải đọa làm loài ếch, nhái, chuột bọ vân vân.

Đời trước nghe thuyết pháp mà nói chuyện làm ồn, đời nay bị làm loài chim bách thiệt.

Làm ô uế tịnh hạnh của tăng ni, chết đọa vào địa ngục Thiết-Quật, có trăm muôn vòng dao bay xuống một lần chém tan thân thể.

Khi đó A-Nan tôi bạch Phật rằng : “Lạy đức Thế-Tôn ! Theo như lời Phật nói phạm vào của chúng tăng thật là tội rất nặng, nếu như thế thì bốn chúng đàn việt làm sao đến chùa mà cung kính lễ bái được ?”

Phật nói : “Người đến chùa tăng có hai thứ tâm : một là thiện tâm, hai là ác tâm.

Thế nào là thiện tâm ? Người đến chùa tăng thấy Phật thì lễ bái, thấy tăng thì cung kính, thỉnh kinh hỏi nghĩa và thọ giới sám hối, bỏ tiền của ra xây cất chùa chiến, kiến lập Tam-Bảo, không tiếc thân mạng, hộ trì chánh Pháp. Những người như thế cất chân một bước tức là bước lên thiên đàng, đời vị lai hưởng phúc như cây Đề-Gia, đó gọi là người tối thượng thiện.

Thế nào là ác tâm ? Có những chúng sanh khi tới chùa, chỉ dòm ngó xin chúng tăng như là đòi mượn tiền mượn của, hoặc chỉ trích chư tăng, vạch tỏ những lỗi lầm chuyên chủ phá hoại mà thôi, hoặc ăn của tăng không có tâm hổ thẹn, nào bánh quả rau đậu, cắp mang về nhà, những con người như thế chết đọa vào địa ngục Thiết-Hoàn, vạc nước sôi, lò than, núi dao, rừng kiếm phải bị trừng phạt, đó tức là kẻ tối dạ ác nhân !”

Phật lại dặn A-Nan tôi rằng : “Phải răn bảo cho đệ tử của đời mai sau, khi đến chùa phải cẩn thận chớ phạm của Tam-Bảo, phải gắng sức tôn sùng thành thật, chớ có thoái tâm, nghe theo lời Phật, tới khi Ngài Di-Lặc xuất thế quyết định được độ thoát không nghi ngờ”.

Phật nói : Đời nay cướp lột áo của người ta, chết đọa vào địa ngục Hàn-Băng, sau đọa làm loài tầm bị người nung nấu kéo tơ.

Đời nay chẳng muốn đốt đèn soi kinh, cúng tượng, chết đọa vào địa ngục Hắc-Ám trong núi Thiết-Vi.

Đời nay làm kẻ đồ tể mổ giết chúng sanh, chết đọa vào trong địa ngục Đao-Sơn Kiếm-Thụ.

Đời nay ham đi săn bắn, huýt chó thả chim ưng làm mồi, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Thiết-Cứ.

Đời nay hay làm hạnh tà dâm, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Đồng-Trụ, Thiết-Sàng.

Đời nay chứa nhiều vợ, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Thiết-Khải.

Đời nay chứa nhiều chồng, sau khi chết đọa vào địa ngục Độc-Xà.

Đời nay hay thui luộc gà, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Hôi-Hà.

Đời nay hay cạo lông lợn, nhổ lông gà, sau khi chết đọa vào địa ngục Hoạch-Thang.

Đời nay hay hoạn thiến chó lợn, sau khi chết đọa vào địa ngục Tiêm-Thạnh.

Đời nay hay uống rượu say, sau khi chết đọa vào địa ngục uống nước đồng.

Đời nay hay cắt chém chúng sanh, sau khi chết đọa vào địa ngục Thiết-Luân.

Đời nay lấy trộm quả trái của tăng chúng, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Thiết-Hoàn.

Đời nay hay ham ăn ruột thịt chó lợn, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Phân-nước-giải.

Đời nay hay ăn gỏi cá, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Đao-Lâm Kiếm-Thụ.

Đời nay làm mẹ ghẻ cay nghiệt với con chồng, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Hỏa-Xa.

Đời nay hay nói lưỡi đôi chiều làm cho người ta ẩu đả nhau, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Thiết-Lê.

Đời nay hay nói đâm thọc mạ nhục người, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Bạt-Thiệt.

Đời nay hay nói dối, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Thiết-Châm.

Đời nay hay sát sanh cúng tế tà thần, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Thiết-Đối.

Đời nay làm bà đồng khi lên đồng, giả làm lời nói của quỷ thần để dối lừa người ta lấy tiền của, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Nhục-Sơn.

Đời nay làm bà đồng nhắm mắt nhìn xuống đất dối người lên trời lấy thần hồn, kẻ đó sau khi chết đọa vào trong dịa ngục Trảm-Yêu (chặt ngang lưng).

Đời nay làm bà đồng bảo người ta sát sanh cúng tế để cầu ông thần lớn hoặc họa ngũ đạo, Thổ-Địa, Thổ-Công, ông hoàng bà chúa, tất cả như thế đều là lừa dối kẻ ngu lấy tiền, sau khi chết đọa vào địa ngục Chước, bị quân ngục tuốt băm chém, mổ xẻ thân thể, lại bị con chim mỏ sắt mổ moi hai mắt.

Đời nay làm thầy bói phù thủy, ông đồng hoặc thầy địa lý chôn cất mồ mả, xem gia trạch, đoán cát hung, năm họ tiện lợi, an long giận mạch trấn át suy họa để lừa dối kẻ ngu lấy tiền, nói càn những điềm tốt xấu, các bọn người này sau khi chết đọa vào trong địa ngục Thiết-Đồng, có rất nhiều giống chim đậu trên mình kẻ đó để mổ móc thịt ăn, ray rỉa gân xương chịu khổ vô cùng.

Đời nay làm thầy thuốc lừa dối chữa bệnh người không lành để lấy tiền, sau khi chết đọa vào địa ngục Châm-Chích, toàn thân bị thiêu đốt.

Đời nay làm kẻ phá tháp phá chùa, lường gạt chư tăng, bất hiếu với cha mẹ, sau khi chết đọa vào đại địa A-Tỳ qua tám địa ngục lớn và các địa ngục nhỏ, một trăm ba mươi sáu sở, lâu một kiếp, hai kiếp, cho đến năm kiếp, rồi sau đó mới được ra, nếu gặp bậc thiện-trị-thức giáo hóa phát tâm bồ-đề, bằng không lại đọa địa ngục.

Phật nói : Làm thân người rất hôi thối dơ bẩn, đầy lòng giận tức khó gỡ bỏ, phải biết kẻ đó kiếp trước đã làm giống lạc đà nay được tái sanh.

Người hay đi đây đi đó ăn khỏe, không tránh nguy hiểm khó khăn, kẻ đó trước làm giống ngựa được tái sanh.

Người hay xông pha đi nắng đi rét tâm không ghi nhớ, kẻ đó trước làm giống trâu được tái sanh.

Người nói to hồm hỗm, không biết hổ thẹn, nhiếu ái niệm không phân biệt phải trái, kẻ đó trước làm giống lừa được tái sanh.

Người hay tham ăn thịt, làm gì cũng không sợ, kẻ đó trước làm giống sư tử được tái sanh.

Người thân cao lớn, mắt tròn, tánh hay lẩn tránh những nơi đồng ruộng và ghét bỏ vợ con, kẻ đó trước làm giống hổ được tái sanh.

Người lông trên mình dài, mắt nhỏ, không muốn ở yên một chỗ, kẻ đó trước làm giống chim được tái sanh.

Người có tánh phản phúc, lại hay sát hại sâu trùng, kẻ đó trước làm giống dã hồ mà tái sanh.

Người có lực khỏe mạnh cường tráng ít dâm dục, không yêu vợ con, kẻ đó trước làm giống chó sói mà tái sanh.

Người không ham mặc áo đẹp, tánh hay rình bắt kẻ gian phi và ít ngủ, đa sân nộ, kẻ đó trước làm giống chó mà tái sanh.

Người ham dâm dục và hay nói, lại được nhiều người yêu, kẻ đó trước làm giống chim vẹt mà tái sanh.

Người hay vui trong nhân chúng, lời nói nhiều phiền phức, kẻ đó trước làm loài chim yểng mà tái sanh.

Người thể vóc bé nhỏ ham dâm dục ý chẳng chuyên định, thấy sắc đẹp sanh tâm say mê, kẻ đó trước làm loài chim sẻ được tái sanh.

Người mắt có sắc đỏ răng ngắn, khi nói thì sùi bọt mép như xà bông, nằm thì cuộn mình lại, kẻ đó trước làm loài trăn rắn được tái sanh.

Người lời nói ra có tánh giận tức, không quan sát nguyên do ý nghĩa, miệng thở ra lửa độc, kẻ đó trước làm giống bọ cạp, rết, mọt gỗ được tái sanh.

Người hay ngồi một mình ăn, đêm ít ngủ, kẻ đó trước làm loài hồ được tái sanh.

Kẻ hay đào tường khoét vách ăn trộm, tham của đầy lòng oán giận không có tình thân sơ, kẻ đó trước làm loài chuột được tái sanh.

Phật nói : “Kẻ phá hoại chùa tháp, cất dấu của Tam-Bảo làm riêng của mình để ăn dùng, chết đọa vào địa ngục A-Tỳ, từ địa ngục được thoát ra lại đọa làm thân súc sanh, như chim bồ câu, chim sẻ, chim uyên ương, chim oanh vũ, chim thanh tước, cá, giải, khỉ, vượn, hươu, nai, nếu được làm người phải đọa thân hoàng môn hoặc con gái hai căn, không căn hay kẻ dâm nữ.

Làm người hay giận tức, chết đọa làm loài rắn độc, sư tử, hổ, báo, gấu bi, mèo, hồ, chim ưng, gà, nếu được làm người hay nuôi gà lợn, kẻ đồ nhi (mổ giết trâu lợn) kẻ săn bắn, kẻ chài lưới bắt cá và quân canh ngục.

Làm người gặp Phật pháp mà ngu si chẳng hiểu đạo, khi chết đọa làm loài voi, lợn, trâu, dê, trâu nước, rận, chí, ruồi, muỗi, kiến, các thân hình, nếu được làm người thì mù điếc câm ngọng, gù còng, các căn không đủ, không hay thọ giáo Pháp.

Làm người hay kiêu mạn, chết đọa làm loài bọ trong đống phân, hoặc làm lừa chở nặng, loài chó loài ngựa, nếu được sanh làm người phải đọa làm thân nô tỳ nghèo cùng ăn mày, bị mọi người khinh rẻ.

Làm người mà được chức vị quan quyền lại tham lấy của dân, chết đọa vào trong địa ngục Nhục-Sơn, lúc đó có trăm ngàn muôn quỷ thủ lại cắt thịt mà ăn.

Đời nay phá trai ăn đêm, sau khi chết đọa làm loài quỷ đói, trăm ngàn muôn năm không được ăn uống, lúc bước đi trên đầu phun ra lửa.

Đời nay ham cởi trần ngồi, sau khi chết đọa làm loài trùng hàn vọ.

Đời nay hay mang cắp đồ trai dư về ăn uống, chết đọa vào trong địa ngục Nhiệt-Thiết, sau khi  sanh vào cõi nhân gian mắc chứng bịnh yết hầu và chết non.

Đời nay lễ Phật đầu chẳng sát đất, chết đọa vào địa ngục Đảo-Huyền, sau khi sanh vào cõi nhân gian phần nhiều bị lừa dối.

Đời nay lễ Phật không chấp tay, sau khi chết sanh nơi biên địa, làm nhiều thu hoạch ít.

Đời nay nghe tiếng chuông không ngồi dậy, sau khi chết đọa vào trong loài trăn, thân to dài bị vi trùng moi rúc ăn.

Đời nay chấp hai tay vùng lại với nhau để lễ Phật, chết đọa vào địa ngục Phản-Phọc, sau sanh trong đạo người gặp nhiều việc ác.

Đời nay chấp tay mà năm thể rạp xuống đất chí tâm lễ Phật, đời sau thường được sanh vào nhà tôn quý thụ hưởng khoái lạc.

Người ưa giận và buồn phiền, là do đời trước có bệnh điên cuồng.

Người bị con ngươi lệch về một bên (mắt lắc), là do đời trước hay nhìn trộm phụ nữ.

Người đời nay bênh vợ mắng cha mẹ, sau khi chết đọa vào trong địa ngục Trảm-Thiệt.

Đời nay lấy nước đổ vào rượu rồi bán cho người ta, sau khi chết phải đọa làm loài trùng trong nước, khi sanh cõi nhân gian mắc chứng bệnh thủng và đoản khí mà chết.

Phật lại bảo A-Nan tôi rằng : “Như trên ta đã nói rất nhiều các sự đau khổ, đều do nghiệp thập ác mà ra, thượng là nhân duyên địa ngục; trung là nhân duyên súc sanh; hạ là nhân duyên ngạ quỷ.

Tội sát sanh khiến cho chúng sanh dọa vào địa ngục, ngã quỷ, súc sanh, sau được sanh làm người phải hai thứ quả báo : một là chết non, hai là nhiều bệnh.

Tội trộm cắp cũng khiến cho chúng sanh đọa địa ngục, ngã quỷ, súc sanh, sau được sanh làm người phải hai thứ quả báo : một là nghèo cùng, hai là chung của không được xài tự do.

Tội tà dâm cũng khiến cho chúng sanh đọa địa ngục, ngã quỷ, súc sanh, sau được sanh làm người phải hai thứ quả báo : một là vợ không trinh lương, hai là hai vợ tranh nhau không theo ý mình.

Tội nói dối cũng khiến cho chúng sanh đọa địa ngục, ngã quỷ, súc sanh, sau được sanh làm người phải hai thứ quả báo : một là phần nhiều bị người phỉ báng, hai là thường bị người ta lường gạt.

Tội lưỡng thiệt cũng khiến cho chúng sanh đọa địa ngục, ngã quỷ, súc sanh, sau được sanh làm người phải hai thứ quả báo : một là bị họ hàng phá hoại, hai là bị anh em họ hàng tệ ác.

Tội ác khẩu cũng khiến cho chúng sanh đọa địa ngục, ngã quỷ, súc sanh, sau được sanh làm người phải hai thứ quả báo : một là thường phải nghe tiếng ác, hai là có nói ra điều gì tranh cãi kiện tụng.

Tội ỷ ngữ cũng khiến cho chúng sanh đọa địa ngục, ngã quỷ, súc sanh, sau được sanh làm người phải hai thứ quả báo : một là nói phải chẳng ai tin, hai là lời nói không được rành rọt.

Tội tham dục cũng khiến cho chúng sanh đọa địa ngục, ngã quỷ, súc sanh, sau được sanh làm người phải hai thứ quả báo : một là tham tài không chán, hai là cầu nhiều không toại ý.

Tội sân giận cũng khiến cho chúng sanh đọa địa ngục, ngã quỷ, súc sanh, sau được sanh làm người phải hai thứ quả báo : một là thường bị người ta chỉ trích tội lỗi, hai là thường bị người ta làm não hại.

Tội tà kiến cũng khiến cho chúng sanh đọa địa ngục, ngã quỷ, súc sanh, sau được sanh làm người phải hai thứ quả báo : một là thường sanh vào nhà tà kiến, hai là tâm thường nịnh hót không được ngay thẳng. Các Phật tử nên biết nghiệp thập ác như thế, đều là mọi sự đau khổ, chứa chất một nhân duyên lớn.

Khi bấy giờ trong đại chúng, có người đã tạo nghiệp thập ác, nghe Phật nói khổ báo của địa ngục như thế, tự kêu khóc sợ hãi mà bạch Phật rằng:

“Lạy đức Thế-Tôn, đệ tử chúng con phải làm hạnh lành gì mà được thoát khổ ấy, cúi xin đức Thế-Tôn chỉ bảo cho ?”

Phật nói : “Các ngươi hãy giáo hóa cho hết thảy chúng sanh chung làm nghiệp phước, thế nào là tu phước ?

Nếu có chúng sanh nào đời nay làm một người Đại hóa chủ đứng ra xây cất chùa, tháp, tinh-xá, đời vị lai được phước làm quốc- vương thống lãnh vạn dân khắp nơi đều quy phục.

Đời nay làm Ấp vương trung chánh, duy na, luân chủ, đời sau sẽ được làm vương thần, phụ tướng, châu quận đầy đủ tôn sang.

Đời nay khuyến hóa nhiều người làm các việc công đức, đời vị lai sẽ được làm người trưởng giả giàu sang, mọi người kính nể bốn đường khai thông.

Đời nay hay đốt đèn nối sáng, đời sau sanh vào cung trời Nhật-Nguyệt Quang-Minh tự chiếu soi.

Đời nay hay làm việc bố thí và từ tâm nuôi dưỡng sanh mạng, đời sau sanh nơi giầu có ăn mặc tự nhiên.

Đời nay hay cho người thức ăn uống, đời sau nơi sanh bếp trời tự đem lại, sức lực đầy đủ, thông minh trí tuệ, biện tài, thọ mạng lâu dài.

Cho thức ăn loài súc sanh được bách bội báo, cho thức ăn kẻ nhứt-xiển-đề được ngàn bội báo.

Cúng dường thầy tỳ-kheo trì giới được vạn bội báo, nếu cúng dường các vị Pháp-sư lưu thông Đại-thừa giảng tuyên tạng bí mật của Như-Lai, khiến cho đại chúng khai thông tâm mắt được vô lượng báo. Cúng dường Bồ Tát, chư Phật thọ báo vô cùng. Cúng dường ba bậc người phước báo vô tận : một là chư Phật, hai là cha mẹ, ba là bệnh nhân. Một lần cúng món ăn mà được phước báo vô lượng như thế, nếu hay thường thường cúng dường thì phước ấy bao giớ cùng tận được ?

Đời nay xối nước tắm cho chúng tăng, đời sau sanh chốn áo mặc tự nhiên, có mọi người kính nể, thân hình đoan chánh, mặt mắt tươi đẹp.

Đời nay hay tán dương Phật và ham đọc tụng kinh Pháp, sanh thân đời sau tiếng nói hòa nhã nhiệm mầu, ai nghe tiếng cũng vui mừng.

Đời nay hay giữ giới, sanh thân đời sau đoan chánh oai nghi, là bậc tối thắng trong loài người.

Đời nay hay đào giếng hoặc để chum, để thùng nước cho người qua lại dùng, trồng cây bên đường cho người nghỉ mát, đời sau sanh xứ nào cũng làm nhân vương, trăm mùi ăn uống nghĩ tới là có đưa lại.

Đời nay hay viết chép kinh Pháp cho người đọc, đời sau sanh xứ nào miệng biện đa tài, học pháp gì, nghe qua một lần đã thấu hiểu, chư Phật Bồ-Tát thường thường gia hộ, là tối thắng trong loài người và thường làm bậc Thượng-Thủ.

Đời nay hay bắt cầu, hoặc chở thuyền cho người qua sông, đời sau sanh xứ nào đều có đầy dủ bảy báu, mọi người khen kính và chiêm ngưỡng, đi lại ra vào được người nâng đỡ.

Phật bảo A-Nan tôi rằng : Các chỗ trong kinh như ta nói nhân quả khuyên chúng sanh đọc tụng tu hành được qua khỏi khổ nạn, nếu nghe kinh này sanh lòng phỉ báng, kẻ đó ngay đời hiện tại, lưỡi sẽ bị rơi rụng.

Khi đó A-Nan tôi bạch Phật rằng : “Lạy đức Thế-Tôn, kinh này tên gọi là gì và khuyến phát thế nào cúi xin Ngài chỉ giáo”.

Phật bảo A-Nan tôi rằng : “Kinh này tên là Thiện-Ác Nhân-Quả, cũng gọi là kinh Bồ-Tát Phát-Nguyện Tu Hành, Thọ Trì Như Thế”.

Khi Phật nói kinh xong, trong chúng có tám vạn người, trời phát tâm A-nậu đa-la tam-miệu-tam bồ-đề và có trăm ngàn người con gái chuyển nữ thành nam. Một ngàn hai trăm ác nhân bỏ ý ác biết đời trước của mình. Vô lượng trời người được vô sanh nhẫn, thường được hưởng khoái lạc. Vô lượng thính giả sanh trong cõi Tịnh-Độ cũng được làm bạn với chư Phật Bồ-Tát. Hết thảy đại chúng về nhà làm phước, hoan hỷ phụng hành.

Phật nói kinh Thiên-Ác Nhân-Quả.  

 

MA-HA BÁT-NHàBA-LA-MẬT-ĐA TÂM-KINH

Quán-Tự-Tại Bồ-Tát, hành thăm Bát-nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách.

Xá-Lợi-Tử ! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức, diệc phục như thị.

Xá-Lợi-Tử ! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức, vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý ; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp ; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệt, vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệt vô lão tử tận ; vô khổ, tập, diệt, đạo ; vô trí diệc vô đắc.

Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-Đề tát đỏa y Bát-nhã ba-la-mật đa cố, tâm vô quái ngại vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-Bàn. Tam thế chư Phật, y Bát-nhã ba-la-mật đa cố, đắc A-nậu-đa-la tam-miệu-tam bô-đề.

Cố tri Bát-nhã ba-la-mật-đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.

Cố thuyết Bát-nhã ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết : Yết-đế yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng yết-đế, bồ-đề tát-bà-ha.   (3 lần)

BẠT NHỨT THẾ NGHIỆP-CHƯỚNG CĂN-BỔN ĐẮC SANH TỊNH-ĐỘ ĐÀ-LA-NI

Nam mô a di đa bà dạ, Đa tha dà đa dạ,
Đa địa dạ tha,
A di rị đô bà tỳ,
A di rị đa tất đam bà tỳ,
A di rị đa tì ca lan đế,
A di rị đa tì can lan đa,
Dà di nị dà dà na,
Chỉ đa ca lệ ta bà ha. (3 lần)

TÁN PHẬT

A-Di-Đà Phật thân kim sắc,
Tướng hảo quang minh vô đẳng luân,
Bạch hào uyển chuyển ngũ tu di,
Cám mục trừng thanh tứ đại hải,
Quang trung hóa Phật vô số ức,
Hóa Bồ-Tát chúng diệc vô biên,
Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh,
Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.

Nam-mô Tây-Phương Cực-Lạc Thế-Giới, Đại-Từ Đại-Bi A-Di-Đà Phật.

Nam-mô A-Di-Đà Phật. (108 lần)
Nam-mô Quán-Thế-Âm Bồ-Tát. (3 lần)
Nam-mô Đại-Thế-Chí Bồ-Tát. (3 lần)
Nam-mô Địa-Tạng-Vương Bồ-Tát. (3 lần)
Nam-mô Thanh-Tịnh Đại-Hải-Chúng Bồ-Tát. (3 Lần)

SÁM THẬP PHƯƠNG

Thập phương Tam-thế Phật,
A-Di-Đà đệ nhứt,
Cửu phẩm độ chúng sanh,
Oai đức vô cùng cực,
Ngã kim đại quy y,
Sám hối tam nghiệp tội,
Phàm hữu chư phước thiện,
Chí tân dụng hồi hướng.
Nguyện đồng niệm Phật nhơn,
Cảm ứng tùy thời hiện,
Lâm chung Tây phương cảnh,
Phân minh tại mục tiền,
Kiến văn giai tinh tấn,
Đồng sanh Cực-Lạc quốc,
Kiến Phật liễu sanh tử,
Như Phật độ nhứt thiết,
Vô biên phiền não đoạn,
Vô lượng pháp môn tu,
Thệ nguyện độ chúng sanh,
Giai cộng thành Phật đạo.
Hư không hữu tận, ngã nguyện vô cùng,
Hư không hữu tận, ngã nguyện vô cùng,
Tình dữ vô tình, đồng viên chủng trí.

TỨ HOẰNG THỆ NGUYỆN

Chúng sanh vô biên thề nguyện độ,
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

HỒI HƯỚNG

Phúng kinh công đức thù thắng hạnh,
Vô biên thắng phước giai hồi hướng
Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh,
Tốc vãng vô lượng quang Phật sát.
Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não,
Nguyện đắc trí tuệ chơn minh liễu,
Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ.
Thế thế thường hành Bồ-Tát đạo.
Nguyện sanh Tây-phương Tịnh-độ trung,
Cửu phẩm Liên-Hoa vi phụ mẫu,
Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh,
Bất thối Bồ-Tát vi bạn lữ.
Nguyện dĩ thử công đức,
Phổ cập ư nhứt thiết,
Ngã đẳng dữ chúng sanh,
Giai cộng thành Phật đạo.

TAM QUY Y

Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh,
thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng. (3 lần)
Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh,
thấu rõ kinh tạng, trí huệ như biển. (3 lần)

Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh,
thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. (3 lần)

Nguyện đem công đức này,
Hướng về khắp tất cả,
Đệ tử và chúng sanh,
Đều trọn thành Phật đạo.

 

NHÂN QUẢ LUÂN HỒI
TẠP  LỤC

THÍCH – THIỀN – TÂM

Ai nói luân hồi chuyện vẩn vơ,
Người, dê chuyển kiếp lẹ không ngờ (1)
Đốt lò hương hỏi niềm xưa cũ,
Nghe giọng triều âm tỉnh giấc mơ.

MẠNH PHU NHƠN

Điền-Canh-Dã, làm quan Đề-Đốc tỉnh Quảng-Tây, vợ là Mạnh phu nhơn, bẩm tánh hiền lương, nhưng chẳng may mất sớm. Khi Điền-Canh-Dã trên thuyền ngắm cảnh ở trấn Lương-Châu, đêm trăng ngồi một mình nơi nha dinh, bỗng mơ màng như vào mộng, thấy phu nhơn dung mạo cực đẹp, từ trên ngọn cây phơi phới bay xuống. Điền-Canh-Dã mừng rỡ cùng nhau hỏi chuyện hàn huyên như thuở bình sanh.

Phu nhơn bảo : “Thiếp vốn là một vị thiên nữ, do túc duyên đời trước nên nay làm bạn với tướng công, duyên trần đã mãn, lại trở về nơi cũ. Nay bởi còn chút duyên thừa nên mới đến viếng thăm”.

Điền-Canh-Dã hỏi : “Tôi kết cuộc ở quan tước nào ?”

Phu nhơn đáp : “Quan vị còn tăng, không phải chỉ chừng ấy mà thôi”.

Tôi thọ được bao lâu?

Đáp : Cơ trời khó nói, tướng công lúc chết không về nơi hương lý, không ở chốn quan nha, không tại quán dịch bên đường, cũng không mất giữa chiến trận, thời đến sẽ tự rõ.

Hỏi : “Sau khi tôi chết, còn được thấy nhau nữa chăng ?”

Đáp : “Việc này đều do tướng công, nếu cố gắng tu, khi sanh lên cõi trời tất sẽ được gặp, bằng không chắc sẽ khó hy vọng”.

Sau Điền-Canh-Dã đi chinh phạt giặc Miêu trở về già, yếu chết dưới trướng binh.

LAI-TINH-HẢI

Lai-Tinh-Hải còn có tên là Lai Phục, người ở Tam-Nguyên xứ Hiệp-Tây. Ông thi đỗ tiến sĩ vào khoa Đinh Mùi, niên hiệu Vạn Lịch. Cha ông là Lai-Thiếu-Sâm, tánh điềm đạm khiêm nhường cũng là một bậc tiến sĩ.

Khi ông Lai-Tinh-Hải chưa sanh, trong làng có một vị tăng pháp danh Lai Phục, dốt chữ, chỉ nhờ người dạy học thuộc lòng được phẩm Phổ-Môn và Bát-Nhã Tâm-Kinh, ngoài ra không biết chi cả. Cách làng hơn mười dặm, có khoảng sông cạn đầy cát, đến mùa mưa nước tràn ngập, người đi lại rất lấy làm khổ sở. Sư Lai Phục không hề nhọc nhằn, tự thân đứng ra đắp đường làm cầu, có ai quyên trợ cũng đều từ tạ. Do đấy, xa gần đều gọi sư là Phật Hòa-Thượng. Có người thấy sư khổ hạnh, dốt nát, gọi là Chuyết Hòa-Thượng (Hoà-Thượng quê vụng). Cũng có kẻ hiềm sư không chịu đi đám tụng kinh, nên gọi là Lại Hòa-Thượng (Hòa-Thượng làm biếng). Duy tiến-sĩ Lai-Thiếu-Sâm kính trọng sư, nên gọi là Hữu-Hạnh Hòa-Thượng.

Sư tánh không thích cầu cạnh người, Lai-Thiếu-Sâm biết ý, thỉnh thoảng đến chùa nghe sư tụng hai thứ kinh và cúng dường vải gạo cùng các thức ăn.

Một hôm Lai-Thiếu-Sâm đang ngồi ở thính đường xử việc chợt thấy Lai Phục đi vào. Lai-Thiếu-Sâm vội vã đứng lên đón rước, nhưng sư không đoái hoài đến, đi thẳng vào nhà trong ; kêu hỏi cũng chẳng đáp, Lai-Thiếu-Sâm đang lấy làm lạ, thì giây lát có tin truyền ra là phu nhơn sanh được một bé trai. Ông vội cho người đến chùa hỏi thăm, mới hay sư vừa hóa kiếp. Lai-Thiếu-Sâm biết sư đã thác sanh làm con mình, nên đặt ký danh là Lai Phục.

Thuở niên thiếu, Lai Phục cực thông minh, đọc rất nhiều sách, tinh cả nghề thuốc và bách công kỹ nghệ. Lớn lên thi đỗ đi làm quan các nơi, kẻ nghe biết đến cầu trị bệnh, cứu được rất nhiều người. Khi lớn tuổi, ông cáo bệnh về quê, thường nói với người rằng : “Ta vốn là kẻ xuất gia, đi trên đường hoạn lộ đã lâu ; e quên mất tánh bản lai, biết làm sao đây ?”

Lúc sắp chết ông lại nói : “Nay ta muốn trở về để nối thành công nghiệp cũ”. Nói xong liền qua đời.

HẠ-PHÙNG-THÁNH

Quan Tướng-Quốc đời Minh là Hạ-Phùng-Thánh, rong niên hiệu Sùng-Trinh, cùng gia nhân từ miền quê lên Kinh sư. Thuyền vừa đến mũi Tầm-Ngư, thuộc dòng Cửu-Giang, sóng to gió lớn chợt nổi lên. Hạ-Phùng-Thánh vội mặc triều phục, cầm hốt ra trước thuyền khấn vái. Khi ấy người trên thuyền thấy giữa hư không có vị thần mặc áo lục đỏ, xách xon quỉ đen liệng xuống nước, liền đó, sóng gió dừng lặng. Hạ-Phùng-Thánh cho thuyền ghé vào bờ, thiết lễ cúng nơi miếu Đại-Vương ở bên sông, để đáp ơn thần phù hộ. Do duyên sự này, từ đó về sau dân chúng càng tin tưởng, đem hương đèn, dê lợn dâng cúng nơi miếu mỗi ngày thêm nhiều.

Năm Sùng-Trinh thứ mười ba, Kỳ-Thân-Vương muốn phục hưng đạo tràng Quy-Ngưỡng, cho rước Tam-Muội-Quang luật sư vào đất Sở. Thuyền qua Cửu-Giang, Tam-Muội-Quang mơ thấy một vị áo mão trang nghiêm đến thưa rằng : “Tôi là Tống Đại-Vương, thủy thần ở sông Cửu-Giang. Kiếp trước tôi cùng Tam-Muội-Quang và Hạ-Phùng-Thánh, hai người là bạn đồng tu ở chốn thâm sơn. Tam-Muội-Quang không mê là chánh nhơn, nên đời nầy là bậc cao tăng. Hạ-Phùng-Thánh do phước duyên, lên đến ngôi Tể-Tướng. Còn tôi, vì một niệm sai lầm, trở thành vị thần hưởng huyết thực. Trước đây, Hạ-Phùng-Thánh bị con yêu nơi cây đại thọ ở mũi Tầm-Ngư nổi sóng muốn lật thuyền, tôi vì nghĩ đến tiền duyên nên ra tay giúp đỡ. Không ngờ do sự việc đó mà dân chúng sát sanh đến cúng tế ngày càng thêm nhiếu, e rằng tương lai tất bị đọa vào vô gián địa ngục. Ngày mai Tam-Muội-Quang đi ngang qua đây, xin ghé vào miếu, từ bi thọ lý cho. Lại xin công bố việc này cho bốn phương hay biết, để về sau dân chúng đừng sát sanh cúng tế nữa. Như thế, niềm hân cảm mối thâm ân sẽ vô hạn!: Sau khi tỉnh dậy Tam-Muội-Quang ghi nhớ và nhứt nhứt làm y theo lời.

Từ đó về sau, giang thuyền qua lại mũi Tầm-Ngư, quanh năm đều được yên ổn, kẻ lữ hành chỉ dùng trai thực quả cúng tế mà thôi. Chuyện này cùng với việc thần hồ Cùng-Đinh thác mộng cho vị sư con vua nước An-Tức cầu cứu độ, có phần tương đồng. (Trích lục Trì Bắc Ngẩu Đàm).

TĂNG CHUYỆN VỊ LÃO

Thế gian diễn hứa bi hoan sạ
Dục nhập tham thiền vạn kiếp không.

Thời Trung-Hoa Dân-Quốc cư sĩ Uông-Hiểu-Viên một hôm ra chợ, thấy vị lão tăng đứng ngó sững vào hàng thịt rưng rưng nước mắt, cư sĩ lấy làm lạ hỏi duyên cớ. Lão tăng đáp :

Câu chuyện rất dài xin lược thuật phần đại khái. Tôi nhớ được hai kiếp về trước. Đời thứ nhứt, tôi là một tên đồ tể. Hơn ba mươi tuổi mãn phần, hồn bị người bắt trói đưa đi. Minh-Quan trách là nghiệp sát nặng, cho quỷ áp giải đến Ty-chuyển-luân để thọ ác báo. Lúc bị xô xuống con sông đen tối, tâm thức tôi hoảng hốt mơ màng, thoạt tiên thật nóng như lửa đốt khó nhẫn, kế đó cảm hơi mát mẻ ; tỉnh ra thì mình đã sanh kiếp súc vật trong chuồng heo. Sau khi dứt sữa, thấy thức ăn không được sạch, lòng cũng biết nhàm gớm, nhưng vì đói quá gan ruột còn cào, nên bất đắc dĩ phải nhắm mắt nuốt vào. Sau lần lần thông tiếng nói của loài heo, thường cũng hỏi han nhau, trong đồng loại cũng có lắm kẻ nhớ biết kiếp trước của mình, xong không thể nói cho người hiểu được. Đại để đều nhận thức mình sẽ bị giết, nên có lúc rên rỉ, đôi mắt ướt, là tỏ dấu bi sầu. Loài heo thân thể thô nặng, vào mùa hạ rất nóng khổ, chỉ tìm vũng bùn nằm vùi mới đõ, xong cũng không thường có được. Bởi lông thưa và cứng, nên mùa đông lại khổ vì lạnh, thân thể giá buốt, thấy loài dê chó lông nhuyễn dày, hằng mơ ước, xem như loài thú tiên. Đến lúc bị bắt tự biết mình không khỏi, nhưng sợ quá nhảy chạy càn mong kéo hưỡn mạng sống được phút nào hay phút nấy. Khi bị trói rút bốn chân khiêng đi, dây khuyết đau đến tận xương. Lúc người bỏ lên xe chở về, thân hình cùng đồng loại chồng chất đè lên nhau, máu huyết ứ đọng, gần như muốn đứt. Khi đến nhà lò, bị liệng xuống đất, gan ruột tựa hồ tan nát. Nhìn thấy dao bén, chảo vạt để hai bên, lòng bắt đầu run sợ, không biết đến khi bị giết sẽ đau đớn như thế nào ?! Lúc thọt huyết, thân tâm sảng sốt rụng rời, thấy ánh dao chớp lên liền nhắm mắt không dám nhìn thẳng. Khi đồ tể ấn lưỡi dao vào cổ, rung lắc mạnh cho huyết chảy xuống bồn, ban đầu còn kêu la, sau chỉ rên nhỏ trong cổ họng cho đến máu chảy đến tắt hơi, sự đau khổ thật không thể hình trạng !

Bây giờ hoảng hốt mê ly như say như mộng, chừng tỉnh dậy thấy mình đã thành hình người. Minh-quan xét thấy kiếp trước còn có nghiệp lành, nên cho chuyển sanh làm người, tức là thân đời nay đây. Vừa rồi, tôi thấy loài heo bị giết thương nó đau đớn, nhớ lại kiếp trước mình đã chịu khổ độc, rồi tiếc cho người đồ tể này tương lai cũng bị nỗi khổ đó, ba mối niệm giao cảm, bất giác thương tâm không biết rơi lệ từ lúc nào !

Nói xong, quay mặt bỏ đi. Lúc ấy, người xung quanh nghe nói, chỉ trỏ bàn tán phân vân. Bác hàng thịt được biết câu chuyện, sanh lòng sọ hãi, từ đó về sau đổi nghề đi bán rau đậu. (Trích lục Phật-Học Chỉ-Nam).

THÁI-THÚ  HỌ NGƯU

Miền Tích-Châu, có Uông-Tả-Viên tiên sinh,biệt hiệu là Sĩ-Khang. Trong niên hiệu Gia-Khánh, Uông-Tả-Viên thi đỗ tiến-sĩ, được bổ làm huyện lịnh ở Tứ-Xuyên. Dưới quyền quản lãnh của tiên sinh có viên Thái-Thú họ Ngưu, vốn là hàng đồng niên và đã chiếm Á-Nguyên ở bản tỉnh.

Quan Thái-Thú nầy, bàn tay mặt là tay người, còn bên trái lại là móng ngựa. Ông nhớ rõ việc ba kiếp trước, tường thuật với tiên sinh rằng :

Đời trước tôi là một vị tướng, vì đánh giặc Miêu tàn sát quá nhiều, nên Minh-Quan phạt cho chuyển kiếp làm ngựa. Khi sanh ra đã đổi thành thân ngựa ở trong tàu, tự bị thưòng la ré nhảy cắn, không ăn mà chết. Minh-ty quở là cưỡng lệnh, đánh phạt, rồi cũng cho chuyển sanh làm ngựa như cũ. Lần này, vì sợ bị trách phạt, nên không dám cầu chết, khi lớn lên được một vị tướng quan chọn lựa để cỡi. Viên tướng này tánh tình nóng nảy hung bạo, nên thân mình thường bị roi vọt, trăm điều thống khổ.

Một hôm vị tướng đánh giặc thua quân địch đuổi theo rất gấp. Tôi chở chủ tướng bôn đào, thoạt chạy đến một khe núi rộng ước hơn trượng, bờ bên kia là đá nhọn dựng chập chồng. Lúc ấy tôi nghĩ : “Nếu nhẩy qua mình sẽ phải chết, xong chủ tướng có thể đào sinh. Như không vượt qua, tất chủ bị binh giặc theo giết”. Nghỉ xong, liều mình cố hết sức nhẩy qua khe núi, bụng bị đá nhọn đâm, rách ruột mà chết. Vị tướng nhờ đó mà thoát nạn.

Sau khi tôi chết, Minh-ty khen là trung nghĩa, hứa cho chuyển làm thân người lại là văn quan, lên đến bậc tứ phẩm. Trước kia lúc tôi sắp làm ngựa, quỷ tốt lấy da ngựa khoác vào mình ; đến khi trở làm người, lại lột da ngựa ấy đi. Nhưng vì tôi đã hai kiếp làm ngựa, da dính khắn vào thân, quỷ dùng dao lột da, đau đến tận xương tủy. Khi dao dọc đến móng lại càng đau đớn, không thể nhẫn, nhân mới lén lút dấu móng chân đàng trước. Quỷ tốt cũng không để ý phát giác. Chẳng ngờ vì duyên cớ đó, mà lúc chuyển sanh, bàn tay ta lại thành móng ngựa.

Kể chuyện xong, Thái-Thú bảo Uông-Tả-Viên rằng : “Lộc vị của tôi chỉ đến chừng này, mạng sống cũng chẳng còn bao lâu, đến ngày tháng ấy … sẽ từ trần”. Sau việc quả nhiên.

Dung Ai bút ký

GIẾT DÊ HẠI VỢ

Lưu-Đạo-Nguyên làm quan huyện tại Bông-Khê, lúc giải chức trên đường về ở trọ nhà họ Tần. Đêm ấy ông mộng thấy một thiếu phụ đến khóc thưa : “Tôi vốn là vợ của họ Tấn nhà này. Vì lỡ tay đánh chết người thiếp, nên bị Minh-Quan  xử phạt đền mạng, lại phạt làm dê. Nay tôi ở trong chuồng, sáng sớm sẽ bị giết để đãi ông. Tôi chết vẫn không tiếc, nhưng vì trong bụng hiện mang thai dê con. Nếu nó nhân đó mà chết theo, thì tội lỗi tôi càng thêm nặng”.

Lưu-Đạo-Nguyên đợi đến sáng thuật lại, thì dê cái đã bị giết. Cả nhà nghe nói khóc rống, nhét dê con trở vào bụng dê cái rồi đem đi chôn.

PHẠM DÂM TRẢ QUẢ

Trần-Sanh ở Động-Đình nhà rất nghèo, nên đen vợ và em trai đi di cư đến Châu-Kinh. Nơi đây thương khách tới lui tấp nập. Trần-Sanh tánh hay chiều chuộng nịnh bợ lại khéo mua bán, nên chẳng mấy năm gia tư có đến ngàn lượng vàng.

Một hôm ông bỗng vướng bệnh nằm liệt vài ngày, rồi chổi dậy bảo vợ cùng em rằng : “Ba người chúng ta kiếp trước đều là tu sĩ, chung nhau gian dâm một thiếu phụ, rồi giết người chồng. Kẻ cầm dao giết chính là tôi. Nay Minh-Vương cho quỷ đến bắt, oan trái tất phải đền trả. Bây giờ tôi đi trước còn hai người chắc cũng không thoát khỏi đâu !” Nói xong tự nhổ râu tóc, lấy dao cắt lưỡi mình ; lại dùng lấy hai ngón tay móc đôi tròng mắt lòi ra, giây phút liền tắt thở.

Cô vợ và người em mấy ngày sau cũng chết.

BẤT HIẾU ĐỌA LÀM HEO

Hầu-Nhị ở Kim-Đơn vốn là kẻ bất hiếu. Bà Mẹ đem gạo giúp đỡ người ăn xin, Hầu-Nhị trông thấy nổi giận đánh mẹ và đuổi ra khỏi nhà. Vợ con khóc lóc can gián, y cũng không nghe. Chẳng bao lâu khắp người Hầu-Nhị sanh ghẻ độc lở lói, hành hạ đau nhức cho đến lúc mãn phần.

nghịch bất hiếu nên bị trừng phạt đọa làm heo ở nhà Trương-Nhị nơi cửa Tuyên-Võ tại Kinh-Sư. Con nên qua đó mà chuộc mạng cha, nếu để trẽ e không kịp !”

Thức dậy đức con y theo lời tìm đến nhà Trương-Nhị, quả có heo nái vừa mới sanh ra mấy con heo con. Trong đó một heo con mình thú mặt người, có râu mép, trạng mạo giống cha mình. Đứa con thương khóc thuật lại duyên cớ, nguyện đưa ra mười vạn lạng xin chuộc đem về. Nhưng Trương-Nhị không nghe đem heo con ra giết.

Việc này xẩy ra vào niên hiệu Khang-Hy thứ 39 đời Thanh.

VÙI TRONG BẾP LỬA

Bên nhà một phú ông ở Hoa-Đinh có thân cây khô rất to. Ông sắp đốn, thì đêm lại mộng thấy một lão nhân dẫn nhiều người tới, xin hãy thong thả chậm lại ít hôm cho dời đi. Phú ông biết trong cây có vật lạ, sai người trèo lên nhìn xem, thì thấy cây đó bọng ruột. Trong bọng cây vô số rắn lạ nằm khoanh. Ông liền bảo đầy tớ chất củi đổ dầu đốt cháy cây ấy. Lúc đó hơi tanh hôi bay xa cả dặm, phú ông đắc ý vỗ tay cả người.

Không bao lâu, ban đêm thấy có đám lửa to bay vào nhà. Ông gọi gia nhân thức dậy đến cứu chữa, nhưng lại tịnh nhiên không có chi cả. Việc như thế xảy ra nhiều lần rồi đều lặng lẽ, cả nhà không thấy làm lạ. Đêm nọ đứa tớ gái trộm củi đem nấu đồ riêng, bỗng lửa cháy phát đỏ. Phú ông và tất cả gia nhân đều cho là trạng thái cũ, nằm nghỉ luôn không thức dậy. Nhưng lần này nhà cháy thật, cả gia quyến đều bị vùi thân trong lửa.

 

Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật

Hòa Thượng Thích Trung Quán Dịch

 

Lời Giới Thiệu 

Quyển “Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật” này là một bộ kinh rất có ý nghĩa và lợi lạc vô cùng nếu được thường xuyên tụng đọc, hoặc giảng giải huyền nghĩa đến mọi người tín tâm, khiến cho họ có được công năng chuyển hóa nghiệp chướng sâu dầy, trở nên nhẹ nhàng thanh thản, và phát tâm tinh tấn tu hành giải thoát.

Nay có nhân duyên được Tỳ kheo Ni Bồ Tát giới Như Ngộ, và các Phật tử phát tâm ấn tống kinh văn; tôi xin tùy hỉ tán thán công đức pháp thí này, và hướng nguyện mười phương Tam Bảo, chứng minh gia hộ cho tất cả những vị phát tâm ấn tống, phát nguyện thọ trì, kẻ thấy người nghe, đều được phát bồ đề tâm, tiêu trừ nghiệp chướng, thuận duyên phụng hành Phật sự, lợi lạc âm dương hữu tình.

Xin trân trọng giới thiệu quyển kinh này đến với thiện hữu tri thức, Tăng Ni Phật tử, để cùng nhau đồng xướng tụng kinh văn, cầu sám hối diệt trừ tội chướng từ vô thỉ kiếp mà phát lòng cầu chứng vô thượng bồ đề.

Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát Ma Ha Tát.

Tác đại chứng minh

Cẩn ghi
Hòa Thượng Thích Hiển Tu

 

Quyển Thượng

Phật nói Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt TộiTrang Nghiêm Thành Phật

Chính tôi được nghe: Một thời đức Phật ở thành Vương Xá, cùng với các Bồ Tát ba vạn sáu ngàn người, đều là các vị Nhất sinh bổ xứ, oai đức tự tại, nói rõ phương tiện của Như Lai; mật làm Phật sự, đều được thành tựu tạng oai đức của chư Phật đã kiến lập, thụ trì Đại thừa, thuyết pháp như sấm động, như sư tử gầm, danh thơm lừng mười phương, đức cao như Tu Di, trí sâu như biển cả, hàng phục chúng ma, dẹp yên ngoại đạo, khiến cho thanh tịnh; đầy đủ mọi lực, vô ngại giải thoát, an trụ không động, niệm, định, tổng trì, nhạo thuyết biện tài, tứ đẳng lục độ, vô lượng phương tiện, tất cả pháp nghĩa, đều đầy đủ hết, tùy thuận chúng sinh, quay xe bất thoái, chỉ trí hữu, vô, khéo giải pháp tướng, hiện vào ba cõi, năm mắt coi thấy, biết căn chúng sinh, oai đức vô lượng, trùm cả đại chúng, thiền định trí tuệ, dùng để tu tâm, tướng tốt nghiêm thân, mọi tướng đệ nhất, tâm như hư không, bỏ cả sắc đẹp, ở trong thế gian, suốt các pháp tính, trí tuệ vô ngại, khéo biết chúng sinh, đi lại các thú, đủ mọi tam muội, gần vô đẳng đẳng, trồng căn lành lâu, đã được trí tuệ, tự tại của Phật, đầy đủ thập lực, bốn vô sở úy, mười tám phép bất cộng, thông đạt các cõi lành, đóng mọi cửa ác đạo, coi chúng sinh bình đẳng, như coi con một, thị hiện sinh thân, ở trong năm thú, muốn độ chúng sinh, làm bậc đại y vương, ở trong sinh tử, khéo biết bệnh nhân, tùy bệnh cho thuốc, khiến chúng phục hành, lìa hẳn sinh tử, nếu ai nghe biết, đều được giải thoát, đầy đủ như thế! Vô lượng công đức, đã từng cúng dàng, vô lượng chư Phật, ở đời quá khứ, thấy rõ Phật tính, như các Như Lai, thường nói chúng sinh, đều có Phật tính.

Các vị đó tên là: Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Định Quang Bồ Tát, Long Thụ Bồ Tát, Quan Thế A? Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dược Thượng Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát, Sư Tử Hống Bồ Tát, Đà La Ni Bồ Tát, Bảo Tạng Bồ Tát, Thường Tinh Tiến Bồ Tát, Bất Hưu Tức Bồ Tát, Tín Tướng Bồ Tát, Vô Thắng Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, các vị Bồ Tát ma ha tát như thế ba vạn sáu ngàn người.

Lại có tám mươi muôn ức oai lực chư thiên, và Tỷ khưu, Tỷ khưu ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, Trời, Rồng, Dạ xoa, Nhân, Phi nhân v.v.. Vua Thích Đề Hoàn Nhân với vô lượng người cõi trời, đứng trên không trung rải các thiên hoa quý báu xuống như mưa, vô lượng âm nhạc, tự nhiên vang dội. Cõi trời Phạm, Ma, Tam bát, đốt hương mầu nhiệm, cúng dàng Như Lai, khói hương bay khắp mười phương vô lượng thế giới, nguyện đồng cúng dàng khắp mười phương tất cả chư Phật, cúng dàng mười phương tất cả chư Pháp, cúng dàng mười phương tất cả chư đại Bồ Tát. Các ông trời này, vì lợi như thế, mà cúng dàng chư Phật, để cầu đạo Đại thừa vô thượng.

Khi bấy giờ đức Thế Tôn, có vô lượng vô biên đại chúng vây quanh trước sau, Ngài đi về rừng Sa La, giữa ngày mười rằm tháng hai, tới lúc sắp vào Niết bàn, Phật dùng sức thần, tâm đại bi trùm che, tiếp độ chúng sinh, phát âm thanh lớn; âm thanh vang động mười phương, tùy theo tiếng của mỗi loài, để bố cáo cho chúng sinh biết rằng: Hôm nay Như Lai Ứng Chính Biến Tri, thương xót chúng sinh, che chở chúng sinh, nhiếp thụ chúng sinh, nhìn chúng bình đẳng, như coi con một, chúng không chỗ nương nhờ, ta vì làm chỗ nương nhờ, kẻ chưa thấy Phật tính, ta cho thấy Phật tính; kẻ chưa hết phiền não, ta cho dứt phiền não; kẻ không được an ổn, ta cho được an ổn; kẻ chưa được giải thoát, ta cho được giải thoát; kẻ chưa được an lạc, ta cho được an lạc; kẻ chưa lìa nghi hoặc, ta cho lìa nghi hoặc; kẻ chưa sám hối, sẽ được sám hối; kẻ chưa được Niết bàn, ta cho được Niết bàn.

Khi đó đạo tràng thanh tịnh bình chính, cát tường phúc địa, ngang dọc mười ngàn do tuần. Đức Phật thấy chốn đạo tràng bình chính thanh tịnh, Ngài dừng nghỉ bảo các Tỷ khưu rằng: “Ở nơi đây có thể thuyết pháp?”.

Khi đó A Nan Tỷ khưu bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế Tôn! Xưa Như Lai tính thường ham nơi rừng núi, nước chảy suối trong, vườn rừng hoa quả, ở nơi đây không có suối chảy, nước trong, vườn rừng, quốc độ, nhân dân, làng mạc, hôm nay Như Lai an cư thuyết pháp, người ở nơi xa lại đây đông đảo, mỏi mệt đói thiếu, tính mạng không yên, có thực có mạng, có mạng có thân, có thân có đạo, không thực không mạng, không mạng không thân, không thân không đạo, ở đây những việc không hợp ý như vậy, làm sao đức Thế Tôn lại thuyết pháp?”.

Khi bấy giờ Ngài Đại trí Xá Lợi Phất dùng trí lực Phật bảo ông A Nan rằng:

“Trước là vì pháp, không có quan niệm gì khác. Như Lai Thế Tôn chẳng những Thập lực, Vô sở úy; Như Lai Thế Tôn còn có vô lượng lực, nhất thiết vô sở úy trí tuệ vô lượng, oai thần vô lượng, kẻ không có chốn quy y, vì họ làm chốn quy y; kẻ chưa thấy Phật tính, khiến cho họ được thấy Phật tính; kẻ chưa ly được phiền não, khiến cho họ được lìa khỏi phiền não; kẻ chưa được yên ổn, làm cho họ được yên ổn; kẻ chưa được giải thoát, khiến cho họ được giải thoát; kẻ chưa được an lạc, khiến cho họ được an lạc; kẻ chưa được Niết bàn, khiến cho họ được Niết bàn. Đức Như Lai Thế Tôn, có vô lượng thần lực như thế, lo gì đức Như Lai, mà không tự nhiên? Tôi nhớ thuở xưa, Duy Ma Đại sĩ, Bồ Tát phương khác, Thanh Văn, Duyên Giác, oai lực chư Thiên, Long thần đại chúng, họp ở trong nhà, chưa từng thấy có thức ăn, khi đó tôi nghĩ rằng: Trong đại chúng bây giờ lấy gì mà ăn! Đại sĩ Duy Ma liền bảo tôi rằng: Thanh Văn trí nhỏ, hãy niệm chính pháp! Tại sao lại nghĩ y thực là mạng giường tòa trước như vậy? Duy Ma Đại sĩ khi nói lời đó, thì trời, người đắc đạo, tôi mang lòng hổ thẹn, tâm niệm của ông hôm nay cũng lại như thế!”.

Khi bấy giờ đức Như Lai bảo A Nan tôi rằng: “Thực đúng như lời ông Xá Lợi Phất nói! Nên niệm Đại thừa chớ niệm an thân!”. Nói rồi Ngài nhập Tam muội, dùng lực oai thần, từ đất mọc lên một bông kim hoa, hoa cao bốn mươi muôn do tuần, che khắp ba ngàn thế giới lớn, màng lưới lưu ly, che phủ trên hoa, ở dưới hoa có nhiều ao tắm quý báu, với hoa bình đẳng gọi là bát công đức, nước thơm tràn đầy, bốn bên bờ ao có rất nhiều hoa quý, như hoa: Ưu bát la, hoa Câu vật đầu, hoa Ba đầu ma, hoa Phần đà lợi, có vô lượng danh hoa như thế, để làm trang nghiêm cho ao. Nếu nhìn thấy kim hoa ao báu, sẽ được “pháp nhãn tịnh” huống là lại được vào trong tắm gội, nếu được vào trong tắm gội, sẽ được “thanh tịnh vô sinh pháp nhẫn”. Dưới kim hoa có tòa sư tử quý báu, tòa cao một trăm do tuần.

Đức Như Lai ngồi trên bảo tọa, những lỗ chân lông trên thân Ngài, từng chi tiết trên dưới đều phóng đại quang minh, bóng quang minh vàng đồng sắc với hoa, ánh vàng tuôn ra bốn phía; chiếu khắp mười phương tất cả cõi Phật; quang Phật ánh hoa chiếu đến đâu núi hang quốc độ cao thấp bằng phẳng thuần sắc vàng, không còn nhơ uế, địa ngục tan không, ngã quỷ giải thoát, trừ một hạng xiển đề và báng kinh Phương Đẳng. Như thần lực Phật cõi này và cõi khác đều một như nhau không có khác biệt. Mười phương chư Phật, thấy ánh quang ấy, đều khen đức Phật Thích Ca rằng: Hay thay! Hay thay! Đại từ Thế Tôn! Nay phóng quang minh, khác ánh quang thường, xưa kia phóng quang, chiếu về Đông phương trước, hôm nay phóng quang, một lúc phóng cả bốn phương, soi khắp mười phương, nên biết ánh quang này, ý muốn độ cho tất cả chúng sinh khổ não, khiến ra ngoài ba cõi, đến nơi đại Niết bàn.

Khi bấy giờ mười phương chư Phật, khác miệng cùng tiếng bảo Thị giả và chúng đại Bồ Tát rằng: “Thiện nam tử! Các ngươi nên biết, hôm nay trong nước thế giới Sa Bà Phật Thích Ca Mâu Ni Như Lai phóng đại quang minh, sẽ thuyết pháp mầu, độ chúng sinh khổ, các ngươi nên sang nước đó cúng dàng Phật, nghe kinh pháp, thỉnh hỏi chỗ nghi, chúng sinh nước đó, từ trước đến nay cương ác, dối trá không thực, không tin nhất thừa. Phật Thích Ca tâm từ rộng lớn, muôn phương tiện khéo, diễn ra ba thừa, độ thoát ba cõi. Tuy nói ba thừa thượng ngữ cũng thiện, trung ngữ cũng thiện, hạ ngữ cũng thiện, ý nghĩa sâu xa, thuần hậu đầy đủ. Phật Thế Tôn kia, trăm ngàn muôn kiếp, không thể gặp gỡ, nói ra kinh pháp, khó thể được nghe, các đại chúng kia, gặp thời chẳng dễ, chỗ Thích Ca sinh, kim hoa mầu nhiệm, không thể được thấy, vì thế các ngươi, hãy sang cõi kia, mà gặp đức Phật, thỉnh hỏi chỗ ngờ, được lợi ích mình, và lợi chúng sinh. Nói lời thế rồi, mười phương cõi Phật, mỗi mỗi đều có, mười ức Bồ Tát, từ tòa đứng lên, để làm lễ Phật, cùng nhau đi lại, mỗi mỗi Bồ Tát, đều có mang theo, trăm ngàn âm nhạc, mưa hoa báu nhiệm, đi đến chốn Phật, khi tới nơi rồi, nhiễu Phật bảy vòng, lễ dưới chân Phật, lui ngồi một bên, cùng nhau nói ra, khác miệng cùng tiếng, mà bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế Tôn! Chúng con hôm nay, muốn hỏi một điều, cúi xin Thế Tôn, vì chúng con nói, lợi ích chúng sinh!”.

Khi đó đức Phật, bảo các Bồ Tát Ma ha tát rằng: “Các Thiện nam tử! Nếu có nghi ngờ, nay cứ hỏi đi! Ta sẽ vì ngươi, quyết định nói rõ!”.

Các vị Bồ Tát, liền bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế Tôn! Đức Phật nước con, chỉ nói nhất thừa, tại sao Như Lai, lại nói tam thừa?”.

Khi đó Thế Tôn, dùng trí vô ngại, bảo các Bồ Tát, các ngươi hôm nay, vì lợi chúng sinh, hỏi ta nghĩa đó, nghe kỹ! Nghe kỹ! Các Thiện nam tử! Ví như một người, mà có ba tên, khi còn thơ ấu, gọi là tiểu đồng, lúc hai mươi tuổi, gọi là trung niên, quá tám mươi tuổi, gọi là lão niên, ta thuyết tam thừa. Cũng lại như thế, kẻ bé tâm nhỏ, là người Thanh Văn, ta thuyết Tiểu Thừa; vì người trung tâm, là bậc Duyên Giác, ta nói Trung thừa; vì đại Bồ Tát, tâm người đạo lớn, ta nói Đại thừa. Các Thiện nam tử! Các ngươi nghe đây, lý không hai cực, về cùng một nẻo, giải tuy khác luật, chung quy nhất quán, lý là nhất thừa, phân ra thành ba, Thanh Văn, Duyên Giác, đều nhập Đại thừa, như Đại thừa đó, tức là Phật thừa, cho nên tam thừa, tức là nhất thừa.

Khi thuyết pháp này, trong hội tất cả, mười ngàn Bồ Tát, được Vô sinh nhẫn, tám trăm Tỷ khưu, được quả La Hán, hai muôn người, trời, được pháp nhãn tịnh, tám trăm muôn người, phát tâm Bồ đề.

Khi đó Bồ Tát, ở mười phương lại, cùng nhau chắp tay, mà bạch Phật rằng: Chúng con hôm nay, nhờ sức Phật kia, lại tới cõi này, được thấy Thế Tôn, được nghe Đại thừa, xin cho chúng con, thụ trì kinh ấy, sau khi Phật diệt, ở quốc độ này, và cõi nước khác, gốc cây núi rừng, thần tiên cư xứ, thành ấp xóm làng, đồng không mộ địa, chùa, tháp, phòng Tăng, hội đông giảng pháp, chốn ở người tục, truyền bá kinh này, lan rộng khắp nơi, khiến cho không dứt, là vì cớ sao? Kinh này tồn tại, khiến cho đường ác, ngắt dứt lâu dài, sở dĩ như thế, từng nghe Phật nói, địa ngục chẳng ngăn, nếu tụng một câu, chư Thiên hoan hỷ, thường lại thân gần, tự nhiên tu thiện, nếu có người nào, nghe kinh Phương Quảng, vui mừng kính tín, viết chép đọc tụng, lễ bái thụ trì, xưng niệm trong kinh, một danh hiệu Phật, một tên Bồ Tát, hiện đời người ấy, an vui lành mạnh, không thấy tai ác, sau khi mạng chung, Bồ Tát chúng tôi, đến trước người đó, dẫn về nước tôi, cùng sinh một xứ, là bởi lẽ gì? Là vì người đó, thụ trì kinh này. Thụ trì kinh này, là trì thân Phật, người trì thân Phật, tức là Bồ Tát, vì thế người này, đồng học với tôi, bởi nhân duyên thế, thụ trì kinh này, nguyện sinh một chốn, không bỏ lìa nhau.

Trong khi bấy giờ, các Quỷ thần vương, Đại Phạm thiên vương, Tam thập tam thiên, Hộ Thế tứ vương, Kim Cương mật tích, chư Quỷ thần vương, Tán chỉ đại tướng, Na La Long vương. Nan Đà Long vương, Bà Nan Đà Long vương, A Tu La vương, Ca Lâu La vương, Đại Biện Thiên vương, Quỷ Tử Mẫu Thiên vương, Chư sơn quỷ thần, Thần vương, Thụ thần vương, Hà thần vương, Hải thần vương, Địa thần vương, Thủy thần vương, Hỏa thần vương, Phong thần vương, như thế vô lượng vô biên các Thần vương và chư Thiên đều từ tòa đứng lên, đầu mặt lễ dưới chân Phật, chắp tay cung kính, mà bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế Tôn! Chúng con từ nay, thường thường hộ trì, lời Thế Tôn nói, kinh Phương Quảng này, chỗ nào có kinh, Thần vương chúng con, thường ở tại trước, vì làm thanh tịnh, nếu ở trong tháp, hoặc ở trong phòng, ở nhà bạch y, hoặc ở chỗ không, nếu có người nào, đem tay bất tịnh, vỗ nắm kinh này, hoặc chẳng cung kính, đọc tụng kinh này, con khiến kẻ đó, đi đứng ngồi nằm, thân tâm chẳng yên, xứ xứ sợ hãi, vướng mắc ác sự, hiện thân phải chịu, đến khi mạng chết, vào trong địa ngục. Nếu người cung kính, thân tâm thanh tịnh, bưng đỡ kinh này, tắm rửa đốt hương, thụ trì đọc tụng, hoặc là viết chép, ghi nhớ không quên, nhớ kinh điển này, không làm việc ác, nếu hay như thế, Thần vương chúng con, vì kinh điển này, bảo hộ người đó, người đó nếu nằm, đứng trước người đó, không cho thấy ác, và cũng không cho, ác nhân ác thần, làm hại người đó, nếu là trụ xứ, giữ cho nhà cửa, nếu muốn đi lại, Thần vương chúng con, đi trước người đó, để mà dẫn đường, dùng gì cho nấy, đi trong bốn phương, không cho chướng ngại, thường thấy việc lành, tới khi mạng chung, được sinh lên trời, nhân thế gặp Phật, không mất Đại thừa.

Khi đó Thế Tôn, bảo các Bồ Tát, và Thần vương rằng: Như thế! Như thế! Đúng như người nói, như kinh điển này, không thể được nghe, phương chi được thấy, nếu muốn thụ trì, đọc tụng kinh này, phải tắm rửa sạch, mặc áo mới sạch, quét sạch phòng xá, treo phan lụa lọng, trang nghiêm trong nhà, đốt các hương thơm, như hương chiên đàn, hương bột, hương bôi, lễ bái sáu thời, đều từ một ngày, cho đến bảy ngày, trong thời gian đó, đọc tụng kinh này, chính tâm chính ý, chính niệm chính quan, chính tư duy, chính tư nghị, chính thụ trì, chính dụng hành, chính giáo hóa, ngày đêm sáu thời, lễ bái trong kinh, chư Phật Bồ Tát, mười hai bộ kinh, nếu hay như thế, lễ bái đọc tụng, tín kính nhất tâm, như trong kinh này, nói các tội nặng, đều trừ diệt hết, không còn ngờ gì, là bởi cớ sao? Kinh Đại Phương Quảng, mười phương chư Phật, theo đây tu hành, theo đây hộ trì, là mẹ chư Phật, làm vua mọi kinh, kho tàng diệu nghĩa, là đạo Bồ Tát, kinh điển Đại thừa, Phương Quảng thâm diệu, cũng như thế gian, có đủ sáu đại, không thể nghĩ bàn, những gì là sáu? Một là đại địa, hai là đại thủy, ba là đại hỏa, bốn là đại phong, năm là đại nhật, sáu là đại không, kinh như đại địa, đựng chỡ tất cả, tịnh uế tốt xấu; kinh như đại thủy, tẩy trừ tất cả, uế ác bất tịnh, các vẩn cấu nhơ, kinh như đại hỏa, cháy tiêu tất cả, phiền não uế ác, các vật bất tịnh, kinh như đại phong, thổi bay tất cả, trần cấu bất tịnh, kinh như đại nhật, phổ chiếu tất cả, các chỗ tối tăm; kinh như đại không, dung thụ tất cả, “vũ trụ thế giới”, hảo ác tốt xấu, kinh Phương Quảng này, là kinh Đại thừa, rộng lớn vô song, không thể sánh đối. Thượng đến Bồ Tát, trung đến thanh văn, hạ đến hữu hình, đều dung nạp hết, vì thế các ngươi, thụ trì kinh này, lưu bá kinh này, tín kính kinh này, thường khiến lũ ngươi, và các Bồ Tát, nhập trí tuệ Phật, thấy rõ Phật tính, sẽ khiến lũ ngươi, chư Thiên, Thần vương, và người thụ trì, đọc tụng kinh này, thường được thấy ta, và thấy tất cả, chư Phật vị lai, chuyển đại pháp luân, ngồi tràng Bồ đề.

Đương khi bấy giờ, ở trong đại chúng, có vị Bồ Tát, tên là Tín Tướng, từ tòa đứng lên, sửa sang áo mặc, lễ dưới chân Phật, mà bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế Tôn! Chúng con hôm nay, muốn hỏi một điều, cúi xin Thế Tôn! Nhủ lòng chỉ dạy, lời Thế Tôn nói, hay làm lợi ích, vô lượng chúng sinh!”.

Khi đó Phật bảo: “Tín Tướng Bồ Tát, hay thay! Hay thay! Này Thiện nam tử! Nếu muốn hỏi gì, thì cứ hỏi đi, ta sẽ vì ngươi, phân biệt giải thuyết, chỗ ngươi hỏi ta, làm đại lợi ích, vô lượng chúng sinh!”.

Tín Tướng Bồ Tát, liền bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế Tôn! Con nhớ thuở xưa, về đời quá khứ, đã vô lượng thế, có Phật Thế Tôn, tên là Bảo Thắng, nghe tên Phật ấy, chỉ có một lần, đều được sinh Thiên, sau chẳng bao lâu, trong nước nhà vua, Thiên Tự Tại Quang, trong cánh đồng rộng, có một ao lớn, nước đã khô cạn, ở trong ao có, mười ngàn cá lớn, bị ánh mặt trời, phơi thân nóng nhiệt, sắp vào cửa chết, có một Đại sĩ, tên là Lưu Thủy, nhìn thấy lũ cá, sinh tâm từ bi, cho nước ăn uống, được sống ít ngày, biết cá chẳng lâu, tất nhiên sẽ chết, vì cá xưng niệm, tên Phật Bảo Thắng, chỉ có ba lần, cá vừa nghe xong, bèn chết hết cả, được sinh lên trời, Đao Lợi thiên cung, bởi nhân duyên thế, nay xin Thế Tôn, vì đại chúng đây, và các chúng sinh, ở đời vị lai, nói tên chư Phật, và nghe danh hiệu, Thích Ca Thế Tôn, cũng được vô lượng, vô biên lợi ích, vô biên công đức, thường được giàu vui, được thấy Phật rồi, là tính nhân duyên, nên cầu nguyện đó, cúi xin nói cho, độ thoát trọng tội, do những giới cấm, chúng sinh mê hoặc”.

Khi đó Phật bảo, Tín Tướng Bồ Tát, Ma ha tát rằng: “Gã Thiện nam tử, nếu ta nói rộng, mười phương chư Phật, có những danh hiệu, trăm ngàn muôn kiếp, nói không thể hết, tất cả thứ nước, có thể biết được, số giọt của nó, danh hiệu chư phật, không thể biết hết, các núi Tu Di, biết được cân lạng, danh tự chư Phật, không thể biết hết, tất cả đại địa, có thể biết được, độ số của nó, danh tự chư Phật, không thể biết hết, hư không thế giới, có thể biết tận, biên bờ của nó, danh tự chư Phật, không thể biết hết, ta nay vì ngươi, lược nói danh tự, ba đời chư Phật, nếu ai được nghe, qua tai một lần, tới lúc mạng chung, cũng được sinh Thiên, nghe rồi tín kính, lại hay viết chép, xưng danh lễ bái, được diệt vô lượng, sinh tử trọng tội, được phúc vô lượng, người đó mạng chung, mười phương thế giới, tùy ý vãng sinh, cũng được thấy ta, và thấy chư Phật, vị lai hiền kiếp”.

Khi đó Thế Tôn, bảo đại chúng rằng: Các ngươi phải nên, chỉnh đốn y phục, chính tâm, chính thân, chính ý, chính niệm, và chính quán sát, muốn được nghe pháp, phải nên nhất tâm, kính lễ đức Phật, Tu Di Đăng Vương, kính lễ đức Phật Bảo Vương, kính lễ đức Phật Bảo Thắng, kính lễ đức Phật A Di Đà, kính lễ đức Phật Tỳ Bà Thi, kính lễ đức Phật Đa Bảo, kính lễ đức Phật Thích Ca Mâu Ni, kính lễ nhiếp trì nhất thiết pháp, kính lễ quá xưng lượng, kính lễ vô thí loại, kính lễ vô biên pháp, kính lễ nan tư nghị, kính lễ trụ lực, lực trung lực, kính lễ thập lực vô sở úy, kính lễ tam giới tôn, kính lễ nhất thiết đại đạo sư, kính lễ năng đoạn chúng kết phọc, kính lễ dĩ đáo ư bỉ ngạn, kính lễ dĩ độ chư thế gian, kính lễ vĩnh ly sinh tử đạo, kính lễ tam muội đắc giải thoát, kính lễ như không vô sở y, kính lễ chúng trung đại pháp vương, kính lễ phá hoại tứ ma chúng, kính lễ nhất tử đại từ phụ. Cúi xin đời đời gặp chư Phật, minh kiến Phật tính, đến đại Niết bàn, là vì sao? Vì hết thảy loài hữu hình đều có Phật tính. Đại chúng chắp tay mười ngón, dốc lòng nghe kỹ, nhất tâm cúng dàng.

Nghe ta nói ba đời!
Mười phương hiệu chư Phật,
Cho đến năm vô gián,
Hãy sinh tướng giải thoát,
Nếu người không căn lành,
Ta cũng vì nói cho,
Họ tự không thể hiểu,
Mầm sém tự bỏ đi,
Duy có chân thực còn,
Trừ bỏ tướng Tiểu thừa,
Chỉ còn có Đại thừa,
Trừ bỏ Nhị thừa ấy,
Chỉ còn có Nhất thừa,
Nếu kẻ không căn lành,
Không được nghe tiếng đó,
Từng cúng vô lượng Phật,
Nay được nghe tên Phật,
Nên biết thụ trì lấy.
Người thiểu phần giải thoát,
An trụ đất thanh tịnh,
Nay ở trong pháp ta,
Kinh hành làm việc Phật,
Thụ trì và đọc tụng,
Lễ bái danh hiệu Phật,
Bỏ lìa mọi việc ma,
Trừ diệt bốn trọng cấm.
Vô gián nhất xiển đề,
Người ấy đời vị lai,
Sẽ được thành Phật đạo.
Nếu người chẳng sinh tín;
Định đọa tam ác đạo,
Sinh tin chăm lễ bái,
Đương thấy vô lượng Phật;
Phải nên nhất tâm lễ,
Nguyện trừ vô lượng tội,
Cho nên nay kính tin.

Tất cả đại chúng, chắp tay nghe kỹ, nhiếp trì thân tâm, chớ cho động chuyển, năm thể rạp đất, nhất tâm nghe nhận.

Khi bấy giờ đức Thế Tôn xưng danh xướng rằng:

Nam mô Quá khứ vô lượng chư Phật,
Nam mô Nhị vạn Nhật Nguyệt Đăng Minh Phật,
Nam mô Tam vạn Nhiên Đăng Phật,
Nam mô Đại Thông Trí Thắng Phật,
Nam mô Thập Lục Tử Phật,
Nam mô Không Vương Phật,
Nam mô Đa Bảo Phật,
Nam mô Vân Tự Tại Đăng Vương Phật,
Nam mô Uy A? Vương Phật,
Nam mô Vô Số Quang Phật,
Nam mô Tư Thiện Phật,
Nam mô Phân Thân Chư Phật,
Nam mô Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật,
Nam mô Tịnh Hoa Túc Vương Phật,
Nam mô Tịnh Trang Nghiêm Vương Phật,
Nam mô Long Tôn Vương Phật,
Nam mô Vân Lôi A? Vương Phật,
Nam mô Vân Lôi Túc Chủ Hoa Trí Phật,
Nam mô Bảo Vương Phật,
Nam mô Sa La Thụ Vương Phật,
Nam mô Thượng Uy Đức Bảo Vương Phật,
Nam mô Quang Minh Vương Phật,
Nam mô Bách Ức Định Quang Phật,
Nam mô Quang Viễn Phật,
Nam mô Nguyệt Quang Phật,
Nam mô Chiên Đàn Hương Phật,
Nam mô Thiện Sơn Vương Phật,
Nam mô Tu Di Thiên Quan Phật,
Nam mô Tu Di Đẳng Diệu Phật,
Nam mô Nguyệt Sắc Phật,
Nam mô Chính Niệm Phật,
Nam mô Ly Cấu Phật,
Nam mô Vô Trược Phật,
Nam mô Long Thiên Phật,
Nam mô Bất Động Địa Phật,
Nam mô Lưu Ly Diệu Hoa Phật,
Nam mô Lưu Ly Kim Sắc Phật,
Nam mô Kim Tạng Phật,
Nam mô Viêm Quang Phật,
Nam mô Viêm Căn Phật,
Nam mô Địa Chưởng Phật,
Nam mô Nguyệt Tượng Phật,
Nam mô Nhật A? Phật,
Nam mô Giải Thoát Hoa Phật,
Nam mô Trang Nghiêm Quang Minh Phật,
Nam mô Hải Giác Thần Thông Phật,
Nam mô Thủy Quang Phật,
Nam mô Đại Hương Phật,
Nam mô Ly Hư Cấu Phật,
Nam mô Xả Yếm Ý Phật,
Nam mô Bảo Viêm Phật,
Nam mô Diệu Đính Phật,
Nam mô Dũng Lập Phật,
Nam mô Công Đức Trí Tuệ Phật,
Nam mô Tế Nhật Nguyệt Phật,
Nam mô Nhật Nguyệt Lưu Ly Quang Phật,
Nam mô Vô Thượng Lưu Ly Quang Phật,
Nam mô Tối Thượng Thủ Phật,
Nam mô Bồ Đề Hoa Phật,
Nam mô Nguyệt Minh Phật,
Nam mô Nhật Quang Phật,
Nam mô Hoa Sắc Vương Phật,
Nam mô Thủy Nguyệt Quang Phật,
Nam mô Trừ Nghi Minh Phật,
Nam mô Độ Khổ Hạnh Phật,
Nam mô Tịnh Tín Phật,
Nam mô Thiện Túc Phật,
Nam mô Uy Thần Phật,
Nam mô Pháp Tuệ Phật,
Nam mô Loan A? Phật,
Nam mô Sư Tử A? Phật,
Nam mô Long A? Phật,
Nam mô Xứ Thế Phật,
Nam mô Tự Tại Phật,
Nam mô Vô Lượng Thọ Phật,
Nam mô Vô Lượng Quang Phật,
Nam mô Vô Biên Quang Phật,
Nam mô Vô Ngại Quang Phật,
Nam mô Vô Đối Quang Phật,
Nam mô Quang Viêm Vương Phật,
Nam mô Thanh Tịnh Quang Phật,
Nam mô Hoan Hỷ Quang Phật,
Nam mô Trí Tuệ Quang Phật,
Nam mô Bất Đoạn Quang Phật,
Nam mô Nan Tư Quang Phật,
Nam mô Vô Xưng Quang Phật,
Nam mô Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật,
Nam mô Tướng Hảo Tử Quang Phật,
Nam mô Viễn Chiếu Phật,
Nam mô Bảo Tạng Phật,
Nam mô Vô Lượng A? Phật,
Nam mô Cam Lộ Vị Phật,
Nam mô Long Thắng Phật,
Nam mô Thắng Lực Phật,
Nam mô Sư Tử A? Phật,
Nam mô Ly Cấu Phật,
Nam mô Đức Thủ Phật,
Nam mô Diệu Đức Sơn Phật,
Nam mô Nhân Vương Phật,
Nam mô Vô Thượng Hoa Phật,
Nam mô U? Lực Vương Phật,
Nam mô Long Tự Tại Vương Phật,
Nam mô Sư Tử Y Vương Phật,
Nam mô Tự Tại Vương Phật,
Nam mô Phổ Quang Phật,
Nam mô Phổ Minh Phật,
Nam mô Chiên Đàn Hương Quang Phật,
Nam mô Đa La Ma Bạt Chiên Đàn Hương Phật,
Nam mô Hoan Hỷ Tạng Bảo Tích Phật,
Nam mô Thượng Đại Tinh Tiến Phật,
Nam mô Phổ Tịnh Phật,
Nam mô Ma Ni Chàng Phật,
Nam mô Ma Ni Chàng Đăng Quang Phật,
Nam mô Tuệ Cự Chiếu Phật,
Nam mô Hải Đức Quang Minh Phật,
Nam mô Kim Cương Lao Cường Phật,
Nam mô Phổ Tán Kim Quang Phật,
Nam mô Đại Cường Tinh Tiến Dũng Mãnh Phật,
Nam mô Dũng Mãnh Phật,
Nam mô Bi Quang Phật,
Nam mô Từ Lực Vương Phật,
Nam mô Từ Tạng Phật,
Nam mô Chiên Đàn Hốt Trang Nghiêm Thắng Phật,
Nam mô Hiền Thiện Thủ Phật,
Nam mô Thiện Giác Phật,
Nam mô Trang Nghiêm Vương Phật,
Nam mô Kim Sơn Bảo Cái Phật,
Nam mô Kim Hoa Viêm Quang Tướng Phật,
Nam mô Đại Cự Quang Minh Phật,
Nam mô Bảo Cái Chiếu Không Tự Tại Lực Vương Phật,
Nam mô Kim Hoa Quang Phật,
Nam mô Hư Không Bảo Hoa Quang Phật,
Nam mô Lưu Ly Trang Nghiêm Vương Phật,
Nam mô Phổ Hiện Sắc Thân Quang Phật,
Nam mô Bất Động Quang Phật,
Nam mô Hàng Phục Chúng Ma Vương Phật,
Nam mô Thiên Quang Minh Phật,
Nam mô Từ Tuệ Thắng Phật,
Nam mô Di Lặc Tiên Quang Phật,
Nam mô Thế Tịnh Quang Phật,
Nam mô Thiện Tịch Nguyệt A? Phật,
Nam mô Diệu Tôn Trí Vương Phật,
Nam mô Bảo Cái Đăng Vương Phật,
Nam mô Long Chưởng Thượng Trí Tôn Vương Phật,
Nam mô Nhật Nguyệt Quang Phật,
Nam mô Nhật Nguyệt Châu Quang Phật,
Nam mô Tuệ Phan Thắng Trang Nghiêm Vương Phật,
Nam mô Vô Cấu Tạng Phật,
Nam mô Quang Minh Tướng Phật,
Nam mô Kim Viêm Quang Minh Phật,
Nam mô Kim Diệm Quang Minh Tạng Phật,
Nam mô Sư Tử Hống Tự Tại Lực Vương Phật,
Nam mô Diệu A? Thắng Phật,
Nam mô Thường Quang Tràng Phật,
Nam mô Quan Thế Đăng Vương Phật,
Nam mô Tuệ Y Đăng Vương Phật,
Nam mô Pháp Thường Thắng Vương Phật,
Nam mô Tu Di Quang Phật,
Nam mô Tu Ma Na Hoa Quang Phật,
Nam mô Ưu Bát La Hoa Quang Phật,
Nam mô Cường Thắng Lực Vương Phật,
Nam mô Tuệ Lực Vương Phật,
Nam mô A Sơ Tỳ Hoan Hỷ Quang Phật,
Nam mô Vô Lượng Âm Thanh Vương Phật,
Nam mô Tài Quang Phật,
Nam mô Kim Hải Quang Phật,
Nam mô Sơn Hải Tuệ Tự Tại Thông Vương Phật,
Nam mô Đại Thông Quang Phật,
Nam mô Nhất Thiết Pháp Thường Mãn Vương Phật,
Nam mô Hiện Vô Ngu Phật,
Nam mô Quá Khứ Vô Lượng Phân Thân Chư Phật.

Nam mô Quá khứ nhất Phật, thập Phật, bách Phật, thiên Phật, vạn Phật, năng trừ vô lượng kiếp, dĩ lai sinh tử trọng tội.

Nam mô nhất ức, thập ức, bách ức, thiên ức, vạn ức, na do tha, hằng hà sa, vô lượng a tăng kỳ Phật.

Nếu người nào được nghe vô lượng a tăng kỳ danh hiệu chư Phật đời quá khứ, người đó được tám mươi muôn kiếp không phải đọa địa ngục khổ, vì thế nay kính lễ.

Người nhân vì lễ bái,
Chư Phật đời quá khứ,
Diệt tội được bản tâm,
Lại chẳng tạo mười ác,
Cùng với tội ngũ nghịch,
Thường được nghe chính pháp,
Đầy đủ đạo Đại thừa,
Cho nên nay kính lễ,
Chỉ trừ hai hạng người,
Một, báng kinh Phương Đẳng,
Hai, là hạng xiển đề,
Nếu người tâm thanh tịnh.
Chẳng phải nhất xiển đề,
Thường thấy vô lượng Phật,
Cho nên nay kính lễ,
Nếu có phạm trọng tội,
Và năm tội vô gián,
Mà lòng tin thanh tịnh,
Cũng được như pháp trụ,
Giai do cớ kính lễ,
Diệt trừ nghiệp thập ác,
Hẳn được giới Đại thừa,
Vì thế nên kính lễ.

Khi đức Phật nói danh hiệu chư Phật đời quá khứ, có mười ngàn Bồ Tát, được Vô sinh nhẫn, tám trăm Thanh Văn, phát thiểu phận tâm, năm ngàn Tỷ khưu, đắc đạo A La Hán, một ức người trời, được Pháp nhãn tịnh.

Nam mô Hiện Tại Vô Lượng Chư Phật,
Nam mô Thập Ức Vương Minh Chư Phật,
Nam mô Ly Cấu Tử Kim Sa Phật,
Nam mô Vô Lượng Minh Phật,
Nam mô Nhật Chuyển Quang Minh Vương Phật,
Nam mô Hương Tích Phật,
Nam mô Sư Tử Ức Tượng Phật,
Nam mô Sư Tử Du Hí Phật,
Nam mô Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Phật,
Nam mô Thiên Trụ Công Đức Bảo Vương Phật,
Nam mô Bảo Trang Nghiêm Vương Phật,
Nam mô Nan Thắng Phật,
Nam mô Tu Di Tướng Phật,
Nam mô Tu Di Đăng Vương Phật,
Nam mô Bảo Đức Phật,
Nam mô Bảo Nguyệt Phật,
Nam mô Bảo Viêm Phật,
Nam mô Bảo Nghiêm Phật,
Nam mô Nan Thắng Sư Tử Vương Phật,
Nam mô Đại Quang Vương Phật,
Nam mô Bất Động Phật,
Nam mô Dược Vương Phật,
Nam mô Trang Nghiêm Phật,
Nam mô Lâu Chí Phật,
Nam mô Nguyệt Cái Phật,
Nam mô Phổ Quang Phật,
Nam mô Bảo Vương Phật,
Nam mô Duy Vệ Phật,
Nam mô Thức Vương Phật,
Nam mô Tùy Diếp Phật,
Nam mô Câu Lâu Tần Phật,
Nam mô Câu Na Hàm Mâu Ni Phật,
Nam mô Ca Diếp Phật,
Nam mô Lôi A? Vương Phật,
Nam mô Ký Pháp Tạng Phật,
Nam mô Chiên Đàn Hoa Phật,
Nam mô Chiên Đàn Diếp Phật,
Nam mô Diệu Ý Phật,
Nam mô Vô Thượng Thắng Phật,
Nam mô Cam Lộ Cổ Phật,
Nam mô Tỳ Bà Thi Phật,
Nam mô Nhật Nguyệt Quang Minh Phật,
Nam mô Vô Thắng Phật,
Nam mô Cụ Túc Trang Nghiêm Vương Phật,
Nam mô Quang Minh Biến Chiếu Công Đức Vương Phật,
Nam mô Phá Hoại Tứ Ma Sư Tử Hống Vương Phật,
Nam mô Kim Cương Bất Hoại Phật,
Nam mô Lưu Ly Quang Phật,
Nam mô Tu Di Sơn Vương Phật,
Nam mô Tịnh Quang Minh Vương Phật,
Nam mô Thiện Đức Phật,
Nam mô Vô Lượng Quang Minh Phật,
Nam mô Đà La Ni Du Hý Phật,
Nam mô Thủ Lăng Nghiêm Định Tam Muội Lực Vương Phật,
Nam mô Thiện Kiến Định Tự Tại Vương Phật,
Nam mô Vô Thượng Công Đức Phật,
Nam mô Thần Thông Tự Tại Phật,
Nam mô Vô Sắc Tướng Phật,
Nam mô Vô Thanh Tướng Phật,
Nam mô Vô Hương Tướng Phật,
Nam mô Vô Vị Tướng Phật,
Nam mô Vô Súc Tướng Phật,
Nam mô Tam Muội Định Tự Tại Phật,
Nam mô Tuệ Định Tự Tại Phật,
Nam mô Tướng Giác Tự Tại Phật,
Nam mô Phổ Nhiếp Phật,
Nam mô Báo Đức Phổ Quang Phật,
Nam mô Thi Khí Phật,
Nam mô Tỳ Xá Phù Phật,
Nam mô Ca La Cưu Tôn Đại Phật,
Nam mô Câu Na Hàm Mâu Ni Phật,
Nam mô Ca Diếp Phật,
Nam mô Ý Lạc Mỹ Âm Phật,
Nam mô Hoan Hỷ Phật,
Nam mô A Sơ Phật,
Nam mô Tu Di Tướng Phật,
Nam mô Tu Di Đỉnh Phật,
Nam mô Sư Tử Âm Phật,
Nam mô Sư Tử Tướng Phật,
Nam mô Hư Không Trụ Phật,
Nam mô Vân Lôi Tự Tại Phật,
Nam mô Thường Diệt Phật,
Nam mô Đế Tướng Phật,
Nam mô Bất Phạm Tướng Phật,
Nam mô A Di Đà Phật,
Nam mô Phạm Tướng Phật,
Nam mô Độ Nhất Thiết Thế Gian Khổ Não Phật,
Nam mô Đa La Ma Bạt Chiên Đàn Hương Phật,
Nam mô Tu Di Tướng Phật,
Nam mô Vân Tự Tại Vương Phật,
Nam mô Hoại Nhất Thiết Thế Gian Phố U? Phật,
Nam mô Bách ức ngã Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam mô Hiện tại nhất Phật, thập Phật, bách Phật, thiên Phật, vạn Phật, hay trừ tội trọng từ vô lượng kiếp sinh tử tới nay.

Nam mô nhất ức, thập ức, bách ức, thiên ức, vạn ức, na do tha hằng hà sa đẳng vô lượng a tăng kỳ Phật.

Nếu người nào được nghe vô lượng a tăng kỳ danh hiệu Phật đời hiện tại, người đó sáu mươi muôn kiếp chẳng phải đọa vào địa ngục khổ, vì thế cho nên ngày nay cung kính lễ.

Người ta nhân lễ bái,
Hiện tại mười phương Phật,
Độ thoát các ác nghiệp,
Diệt trừ năm tội nghịch,
Thường ở đất thanh tịnh,
An trụ pháp Thích Ca,
Vĩnh ly bốn ác đạo,
Được thấy Phật Di Lặc,
Cùng được thấy ngàn Phật.
Vì thế nên kính lễ,
Lại thấy mười phương Phật,
Thường sinh thanh tịnh độ,
Được nghe đệ nhất nghĩa,
Biết rõ Như Lai thường.

Khi đức Thế Tôn nói danh hiệu chư Phật đời hiện tại, hai hằng hà sa vị Bồ Tát được nhập môn đà la ni, bốn mươi hai ức chư Thiên và nhân, đều phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Nam mô Vị lai Hiền Kiếp Vô lượng chư Phật.
Nam mô Di lặc Phật.
Nam mô Tịnh Thân Phật,
Nam mô Hoa Quang Phật,
Nam mô Quang Minh Phật,
Nam mô Hoa Túc Phật,
Nam mô Danh Tướng Phật,
Nam mô Diêm Phù Na Đề Kim Quang Phật,
Nam mô Pháp Minh Phật,
Nam mô Bảo Minh Phật,
Nam mô Phổ Minh Phật,
Nam mô Phổ Tướng Phật,
Nam mô Phổ Quang Phật,
Nam mô Sơn Hải Tuệ Phật,
Nam mô Mục Tại Thông Vương Phật,
Nam mô Bảo Trang Nghiêm Phật,
Nam mô Phất Sa Phật,
Nam mô Bách Ức Tự Tại Đăng Vương Phật,
Nam mô Bảo Tướng Phật,
Nam mô Hỷ Kiến Phật,
Nam mô Nhị vạn Quang Tướng Trang Nghiêm Phật,
Nam mô Tam vạn Đồng hiệu Phổ Đức Phật,
Nam mô Vân Lôi A? Vương Phật,
Nam mô Tứ vạn Bát Thiên Định Quang Phật,
Nam mô Bảo Nguyệt Vương Phật,
Nam mô Ly Cấu Quang Phật,
Nam mô Diệu Sắc Phật,
Nam mô Diệu Sắc Quang Minh Phật,
Nam mô Phá Nhất Thiết Chúng Nan Phật,
Nam mô Chúng Hương Phật,
Nam mô Chúng Thanh Phật,
Nam mô Thập Thiên Quang Minh Trang Nghiêm Phật,
Nam mô Bát Thiên Ức Trang Nghiêm Quang Minh Phật,
Nam mô Bảo Hoa Trang Nghiêm Phật,
Nam mô Thượng Thủ Đức Vương Phật,
Nam mô Tử Kim Quang Minh Phật,
Nam mô Ngũ Bách Thụ Ký Hoa Quang Phật,
Nam mô Na La Duyên Bất Hoại Phật,
Nam mô Hảo Hoa Trang Nghiêm Phật,
Nam mô Kim Cương Định Tự Tại Phật,

Nam mô Vị lai nhất Phật, thập Phật, bách Phật, thiên Phật, vạn Phật, hay trừ trọng tội sinh tử vô lượng kiếp đến nay.

Nam mô nhất ức, thập ức, bách ức, thiên ức, vạn ức na do tha hằng hà sa vô lượng a tăng kỳ Phật.

Nếu người nào được nghe vô lượng a tăng kỳ danh hiệu Phật đời vị lai, thì người đó khỏi đọa địa ngục khổ mười bốn vạn kiếp, vì thế cho nên ngày nay tôn kính lễ.

Người ta nhân lễ bái.
Chư Phật đời vị lai,
Ba chướng và năm nghịch,
Duy trừ nhất xiển đề,
Hết điều được trừ diệt,
An trụ trong Phật pháp,
Được thấy vô lượng Phật,
Thường được nghe chính pháp,
Vì thế nay kính lễ,
Người ta nhân lễ bái.
Tam thế thập phương Phật,
Diệt trừ tội quá khứ
Vị lai và hiện tại,
Đã tạo mười nghiệp ác,
Hiện nay được trừ diệt,
Vị lai thấy Phật tính,
Vì thế tin cho chắc,
Viết chép đọc tụng kinh,
Đời đời chốn sinh xứ,
Chẳng sinh ác tà kiến,
Thường chính được giải thoát,
Chẳng sinh tại biên địa,
Chẳng sinh ở ác quốc,
Chẳng thấy ác quốc vương,
Trong bốn ức muôn kiếp,
Chẳng đọa địa ngục khổ,
Vì thế nay kính lễ,
Diệt trừ mười nghiệp ác,
Được đại đà la ni.

Khi đức Phật nói danh hiệu chư Phật đời vị lai, năm trăm Bồ Tát trụ ngôi bất thoái, bảy trăm Tỷ khưu ni, đắc đạo A La Hán, sáu mươi hai ức chư Thiên và nhân dân, được pháp nhãn tịnh.

Nam mô tổng trì đại đà la ni thập nhị bộ kinh, tu đa la, kỳ dạ, thụ ký, già đà na, ưu đà na, ni đà na, a ba đà na, y đế viết đa già, sà đà già, tỳ phật lược, a phù đà đạt ma, ưu ba đề xá, trong đại tạng các Ba la mật. Nếu người nào được nghe mười hai bộ kinh, và các Ba la mật, mà đọc tụng lễ bái, tin ham thụ trì, người đó trong hai mươi muôn kiếp, không đọa địa ngục khổ, được túc mạng trí, vì thế nên nay kính lễ.

Khi nói danh mười hai bộ kinh, tám muôn năm ngàn Bồ Tát, đắc Kim cương tam muội, mười ức Thanh Văn phát tâm Đại thừa, mười ngàn Tỷ khưu, Tỷ khưu ni đắc đạo A La Hán, vô lượng trời, người, được pháp nhãn tịnh.

Nam mô Thập phương vô lượng chư đại Bồ Tát,
Nam mô Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát,
Nam mô Quan Thế A? Bồ Tát,
Nam mô Đắc Đại Thế Bồ Tát,
Nam mô Thường Tinh Tiến Bồ Tát,
Nam mô Bất Hưu Tức Bồ Tát,
Nam mô Bảo Chưởng Bồ Tát,
Nam mô Dược Vương Bồ Tát,
Nam mô Dược Thượng Bồ Tát,
Nam mô Dũng Thí Bồ Tát,
Nam mô Bảo Nguyệt Bồ Tát,
Nam mô Nguyệt Quang Bồ Tát,
Nam mô Mãn Nguyệt Bồ Tát,
Nam mô Đại Lực Bồ Tát,
Nam mô Vô Lượng Lực Bồ Tát,
Nam mô Việt Tam Giới Bồ Tát,
Nam mô Bạt Đà Bà La Bồ Tát,
Nam mô Di Lặc Bồ Tát,
Nam mô Bảo Tích Bồ Tát,
Nam mô Đạo Sư Bồ Tát,
Nam mô Đức Tạng Bồ Tát.
Nam mô Nhạo Thuyết Bồ Tát,
Nam mô Long Thụ Bồ Tát,
Nam mô Bảo Đàn Hoa Bồ Tát,
Nam mô Thượng Hạnh Bồ Tát,
Nam mô Vô Biên Hạnh Bồ Tát,
Nam mô An Lập Hạnh Bồ Tát,
Nam mô Tịnh Hạnh Bồ Tát,
Nam mô Đà La Ni Bồ Tát,
Nam mô Kim Cương Na La Duyên Bồ Tát,
Nam mô Thường Bất Khinh Bồ Tát,
Nam mô Túc Vương Hoa Bồ Tát,
Nam mô Hỉ Kiến Bồ Tát,
Nam mô Diệu A? Bồ Tát,
Nam mô Đức Cần Tinh Tiến Lực Bồ Tát,
Nam mô Vô Tận Ý Bồ Tát,
Nam mô Tịnh Tạng Bồ Tát,
Nam mô Tịnh Nhãn Bồ Tát,
Nam mô Phổ Hiền Bồ Tát,
Nam mô Diệu Đức Bồ Tát,
Nam mô Từ Thị Bồ Tát,
Nam mô Thiện Tư Nghị Bồ Tát,
Nam mô Không Vô Bồ Tát,
Nam mô Thần Thông Hoa Bồ Tát,
Nam mô Quang Anh Bồ Tát,
Nam mô Tuệ Thượng Bồ Tát,
Nam mô Trí Tràng Bồ Tát,
Nam mô Tịnh Căn Bồ Tát,
Nam mô Nguyện Tuệ Bồ Tát,
Nam mô Hương Tượng Bồ Tát,
Nam mô Bảo Anh Bồ Tát,
Nam mô Trung Trụ Bồ Tát,
Nam mô Chế Hạnh Bồ Tát,
Nam mô Giải Thoát Bồ Tát,
Nam mô Pháp Tạng Bồ Tát,
Nam mô Đẳng Quan Bồ Tát,
Nam mô Bất Đẳng Quan Bồ Tát,
Nam mô Vô Đẳng Bất Đẳng Bồ Tát,
Nam mô Định Tự Tại Vương Bồ Tát,
Nam mô Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát,
Nam mô Pháp Tướng Bồ Tát,
Nam mô Quang Tướng Bồ Tát,
Nam mô Quang Nghiêm Bồ Tát,
Nam mô Đại Nghiêm Bồ Tát,
Nam mô Bảo Tích Bồ Tát,
Nam mô Biện Tích Bồ Tát,
Nam mô Bảo Thủ Bồ Tát,
Nam mô Bảo Chưởng Bồ Tát,
Nam mô Bảo A? Thủ Bồ Tát,
Nam mô Thường Cử Thủ Bồ Tát,
Nam mô Thường Hạ Thủ Bồ Tát,
Nam mô Thường Thảm Bồ Tát,
Nam mô Hỷ Căn Bồ Tát,
Nam mô Hỷ Vương Bồ Tát,
Nam mô Biện A? Bồ Tát,
Nam mô Hư Không Tạng Bồ Tát,
Nam mô Nhiếp Bảo Cự Bồ Tát,
Nam mô Bảo Dũng Bồ Tát,
Nam mô Bảo Kiến Bồ Tát,
Nam mô Đế Võng Bồ Tát,
Nam mô Minh Võng Bồ Tát,
Nam mô Vô Duyên Quán Bồ Tát,
Nam mô Tuệ Tích Bồ Tát,
Nam mô Bảo Thắng Bồ Tát,
Nam mô Thiên Vương Bồ Tát,
Nam mô Hoại Ma Bồ Tát,
Nam mô Điện Đức Bồ Tát,
Nam mô Tự Tại Vương Bồ Tát,
Nam mô Công Đức Tướng Nghiêm Bồ Tát,
Nam mô Sư Tử Hống Bồ Tát,
Nam mô Lôi A? Bồ Tát,
Nam mô Sơn Tướng Kích A? Bồ Tát,
Nam mô Hương Tượng Bồ Tát,
Nam mô Bạch Hương Tượng Bồ Tát,
Nam mô Diệu Sinh Bồ Tát,
Nam mô Hoa Nghiêm Bồ Tát,
Nam mô Phạm Võng Bồ Tát,
Nam mô Bảo Trượng Bồ Tát,
Nam mô Vô Thắng Bồ Tát,
Nam mô Nghiêm Độ Bồ Tát,
Nam mô Kim Đế Bồ Tát,
Nam mô Châu Kế Bồ Tát,
Nam mô Quang Nghiêm Đồng Tử Bồ Tát,
Nam mô Trì Thế Bồ Tát,
Nam mô Thiện Đức Bồ Tát,
Nam mô Nan Thắng Bồ Tát,
Nam mô Chiếu Minh Bồ Tát,
Nam mô Hoa Quang Bồ Tát,
Nam mô Bảo Đàn Hoa Bồ Tát,
Nam mô Tát Đà Ba Luân Bồ Tát,
Nam mô Đàm Vô Kiệt Bồ Tát,
Nam mô Pháp Tự Tại Bồ Tát,
Nam mô Đức Thủ Bồ Tát,
Nam mô Bất Tuẫn Bồ Tát,
Nam mô Đức Đính Bồ Tát,
Nam mô Thiện Tú Bồ Tát,
Nam mô Thiện Nhãn Bồ Tát,
Nam mô Diệu Tý Bồ Tát,
Nam mô Phất Sa Bồ Tát,
Nam mô Sư Tử Bồ Tát,
Nam mô Sư Tử Ý Bồ Tát,
Nam mô Phù Giải Bồ Tát,
Nam mô Na La Duyên Bồ Tát,
Nam mô Thiện Ý Bồ Tát,
Nam mô Hiện Kiến Bồ Tát,
Nam mô Phổ Thủ Bồ Tát,
Nam mô Điện Quang Bồ Tát,
Nam mô Hỷ Kiến Bồ Tát,
Nam mô Minh Tướng Bồ Tát,
Nam mô Diệu Ý Bồ Tát,
Nam mô Vô Tận Ý Bồ Tát,
Nam mô Thâm Tuệ Bồ Tát,
Nam mô Tịnh Căn Bồ Tát,
Nam mô Vô Ngại Bồ Tát,
Nam mô Thượng Thiện Bồ Tát,
Nam mô Phúc Điền Bồ Tát,
Nam mô Hoa Nghiêm Bồ Tát,
Nam mô Đức Tạng Bồ Tát,
Nam mô Nguyệt Thượng Bồ Tát,
Nam mô Bảo Ấn Thủ Bồ Tát,
Nam mô Châu Đính Vương Bồ Tát,
Nam mô Lạc Thực Bồ Tát,
Nam mô Tuệ Kiến Bồ Tát,
Nam mô Đăng Vương Bồ Tát,
Nam mô Thâm Vương Bồ Tát,
Nam mô Hoa Vương Bồ Tát,
Nam mô Diệu Sắc Bồ Tát,
Nam mô Thiện Vấn Bồ Tát,
Nam mô Thiện Đáp Bồ Tát,
Nam mô Liễu Tướng Bồ Tát,
Nam mô Định Tướng Bồ Tát,
Nam mô Phát Hỷ Bồ Tát,
Nam mô An Trụ Bồ Tát,
Nam mô Phố Ma Bồ Tát,
Nam mô Tuệ Thí Bồ Tát,
Nam mô Cứu Thoát Bồ Tát,
Nam mô Tuệ Đăng Bồ Tát,
Nam mô Dũng Thí Bồ Tát,
Nam mô Trí Đạo Bồ Tát,
Nam mô Nguyện Tuệ Bồ Tát,
Nam mô Tứ Nhiếp Bồ Tát,
Nam mô Giáo Âm Bồ Tát,
Nam mô Hải Diệu Bồ Tát,
Nam mô Pháp Hỷ Bồ Tát,
Nam mô Đạo Phẩm Bồ Tát,
Nam mô Tổng Trì Bồ Tát,
Nam mô Từ Vương Bồ Tát,
Nam mô Đại Tự Tại Bồ Tát,
Nam mô Phạm A? Bồ Tát,
Nam mô Diệu Sắc Bồ Tát,
Nam mô Bảo Đàn Lâm Bồ Tát,
Nam mô Sư Tử Âm Bồ Tát,
Nam mô Diệu Thanh Bồ Tát,
Nam mô Diệu Sắc Hình Bồ Tát,
Nam mô Chủng Chủng Trang Nghiêm Bồ Tát,
Nam mô Thích Chàng Bồ Tát,
Nam mô Đính Sinh Bồ Tát,
Nam mô Minh Vương Bồ Tát,
Nam mô Đại Quang Bồ Tát,
Nam mô Sa Đề Bồ Tát,
Nam mô Mật Tích Bồ Tát,
Nam mô Hoa Diệm Bồ Tát,
Nam mô Thượng Thủ Bồ Tát,
Nam mô Phổ Hiện Sắc Thân Bồ Tát,
Nam mô Thần Thông Bồ Tát,
Nam mô Hải Đức Bồ Tát,
Nam mô Vô Biên Thân Bồ Tát,
Nam mô Vô Y Vương Tự Tại Bồ Tát,
Nam mô Ca Diếp Bồ Tát,
Nam mô Vô Cấu Tạng Vương Bồ Tát,
Nam mô Trì Nhất Thiết Bồ Tát,
Nam mô Cao Quý Đức Vương Bồ Tát,
Nam mô Lưu Ly Quang Bồ Tát,
Nam mô Vô U? Bồ Tát,
Nam mô Hải Vương Bồ Tát,
Nam mô Sư Tử Hống Bồ Tát,
Nam mô Đà La Ni Bồ Tát,
Nam mô Na La Duyên Bồ Tát,
Nam mô Tín Tướng Bồ Tát,
Nam mô Trì Địa Bồ Tát,
Nam mô Quang Nghiêm Bồ Tát,
Nam mô Quang Minh Bồ Tát,
Nam mô Đại Biện Bồ Tát,
Nam mô Từ Lực Bồ Tát,
Nam mô Đại Bi Bồ Tát,
Nam mô Y Vương Bồ Tát,
Nam mô Y Lực Bồ Tát,
Nam mô Y Đức Bồ tát,
Nam mô Phổ Tế Bồ Tát,
Nam mô Phổ Nhiếp Bồ Tát,
Nam mô Định Quang Bồ Tát,
Nam mô Phổ Quang Bồ Tát,
Nam mô Chân Quang Bồ Tát,
Nam mô Câu Lâu Bồ Tát,
Nam mô Thiên Quang Bồ Tát,
Nam mô Bảo Vương Bồ Tát,
Nam mô Di Quang Bồ Tát,
Nam mô Giáo Đạo Bồ Tát,
Nam mô Đạo Sư Bồ Tát,
Nam mô Đại Nhẫn Bồ Tát,
Nam mô Hoa Vương Bồ Tát,
Nam mô Hoa Tích Bồ Tát,
Nam mô Tuệ Quang Bồ Tát,
Nam mô Hải Tuệ Bồ Tát,
Nam mô Kiên Ý Bồ Tát,
Nam mô Thích Ma Nam Bồ Tát,
Nam mô Kim Quang Minh Bồ Tát,
Nam mô Kim Tạng Bồ Tát,
Nam mô Thường Bi Bồ Tát,
Nam mô Pháp Thượng Bồ Tát,
Nam mô Tài Thủ Bồ Tát,
Nam mô Sơn Quang Bồ Tát,
Nam mô Sơn Tuệ Bồ Tát,
Nam mô Đại Minh Bồ Tát,
Nam mô Tổng Trì Bồ Tát,
Nam mô Sơn Vương Bồ Tát,
Nam mô Đăng Vương Bồ Tát,
Nam mô Sơn Đính Bồ Tát,
Nam mô Sơn Chàng Bồ Tát,
Nam mô Sơn Vương Bồ Tát,
Nam mô Phục Ma Bồ Tát,
Nam mô Lôi Âm Bồ Tát,
Nam mô Vũ Vương Bồ Tát,
Nam mô Lôi Vương Bồ Tát,
Nam mô Bảo Luân Bồ Tát,
Nam mô Bảo Anh Bồ Tát,
Nam mô Bảo Thủ Bồ Tát,
Nam mô Bảo Tạng Bồ Tát,
Nam mô Bảo Minh Bồ Tát,
Nam mô Bảo Định Bồ Tát,
Nam mô Bảo A? Bồ Tát,
Nam mô Bảo Tràng Bồ Tát,
Nam mô Bảo Nghiêm Bồ Tát,
Nam mô Bảo Thủy Bồ Tát,
Nam mô Bảo Quang Bồ Tát,
Nam mô Bảo Đăng Bồ Tát,
Nam mô Bảo Hiện Bồ Tát,
Nam mô Bảo Tạo Bồ Tát,
Nam mô Lạc Pháp Bồ Tát,
Nam mô Tịnh Vương Bồ Tát,
Nam mô Đính Tướng Bồ Tát,
Nam mô Kim Quang Bồ Tát,
Nam mô Bảo Kế Bồ Tát,
Nam mô Thiên Quang Bồ Tát,
Nam mô Nguyên Hiểm Bồ Tát,
Nam mô Chiếu Vị Bồ Tát,
Nam mô Nguyệt Biện Bồ Tát,
Nam mô Nguyệt Quang Bồ Tát,
Nam mô Pháp Luân Bồ Tát,
Nam mô Quang Tịnh Bồ Tát,
Nam mô Thường Thí Bồ Tát,
Nam mô Phổ Đức Bồ Tát,
Nam mô Phổ Minh Bồ Tát,
Nam mô Thắng Tràng Bồ Tát,
Nam mô Nhu Âm Bồ Tát,
Nam mô Đức Viêm Bồ Tát,
Nam mô Tướng Quang Bồ Tát,
Nam mô Hải Nguyệt Bồ Tát,
Nam mô Hải Tạng Bồ Tát,
Nam mô Thắng Nguyệt Bồ Tát,
Nam mô Tịnh Tuệ Bồ Tát,
Nam mô Siêu Quang Bồ Tát,
Nam mô Nguyệt Đức Bồ Tát,
Nam mô Nhật Quang Bồ Tát,
Nam mô Kim Cương Bồ Tát,
Nam mô Viên Chàng Bồ Tát,
Nam mô Tôn Đức Bồ Tát,
Nam mô Hải Minh Bồ Tát,
Nam mô Hải Quang Bồ Tát,
Nam mô Chiếu Cảnh Bồ Tát,
Nam mô Tuệ Minh Bồ Tát,
Nam mô Công Đức Bồ Tát,
Nam mô Minh Đạt Bồ Tát,
Nam mô Mật Giáo Bồ Tát,
Nam mô Tu Na Bồ Tát,
Nam mô Sắc Lực Bồ Tát,
Nam mô Điều Phục Bồ Tát,
Nam mô A? Thân Bồ Tát,

Nam mô Nhất Bồ Tát, nam mô thập Bồ Tát, nam mô bách Bồ Tát, nam mô thiên Bồ Tát, nam mô vạn Bồ Tát, nam mô nhất bách vạn Bồ Tát, nhị bách vạn, tam bách vạn, tứ bách vạn, ngũ bách vạn, lục bách vạn, thất bách vạn, bát bách vạn, cửu bách vạn, thiên thiên vạn chư đại Bồ Tát Ma ha tát, hay trừ sinh tử tội nặng từ vô lượng kiếp đến nay.

Nam mô Nhất ức, thập ức, bách ức, thiên ức, vạn ức, nam mô vạn vạn chư đại Bồ Tát Ma ha tát, hay trừ sinh tử trọng tội từ vô luợng kiếp đến nay.

Nam mô Nhất na do tha, thập na do tha, bách na do tha, thiên na do tha, vạn na do tha, nam mô vạn vạn na do tha chư đại Bồ Tát Ma ha tát hay trừ sinh tử trọng tội từ vô lượng kiếp đến nay.

Nam mô nhất hằng hà sa, nam mô nhị hằng hà sa, nam mô tam hằng hà sa, nam mô tứ hằng hà sa, nam mô ngũ hằng hà sa, nam mô lục hằng hà sa, nam mô thất hằng hà sa, nam mô bát hằng hà sa, nam mô cửu hằng hà sa, nam mô thập hằng hà sa, nam mô bách hằng hà sa, nam mô bách ức vô lượng hằng hà sa chư đại Bồ Tát Ma ha tát, hay trừ sinh tử trọng tội từ vô lượng kiếp đến nay.

Nếu người nào được nghe tên Đại sĩ, các vị đại Bồ Tát Ma ha tát, thì người đó trong bốn mươi ngàn kiếp không đọa địa ngục khổ, không thuộc ngục tam giới, thường thuộc giải thoát vương.

Chẳng sinh biên địa,
Chẳng sinh ác quốc,
Chẳng thụ ác thân,
Chẳng sinh tà kiến,
Chẳng sinh họ hèn,
Chẳng sinh ngoại đạo,
Thân căn đầy đủ,
Thường nghe chính pháp,
Chẳng thụ cấm giới,
Thường được đầy đủ,
Đại thừa oai nghi,
Thường thấy Phật tính,
Cho nên nay kính lễ,
An trụ trong Phật pháp,
Đời sau thành Phật đạo.

Khi nói xong tên các đại Bồ Tát, có tám mươi tám ức thanh tịnh thiện nam, tín nữ, ngộ quả A Na Hàm, chín mươi tư ức chư Thiên được quả Tư Đà Hàm, bảy ngàn tám ức Tỷ khưu mất tâm, lại được bản tâm, và ngộ quả A La Hán, mười ức Bồ Tát, được đại đà la ni, đời vị lai thành Phật đạo.

Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám HốiDiệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật
Quyển Thượng Hết

 

Quyển Trung

Phật nói Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt TộiTrang Nghiêm Thành Phật

Không kiêu mạn, ba pháp lợi tự hiển hiện, bốn là dạy người pháp lành không cầu danh lợi, ấy gọi là bốn điều.

Thiện nam tử! Lại có bốn pháp lành khai pháp khí những gì là bốn? Một là thủ hộ chính pháp, hai là tự ích trí tuệ cũng ích cho tiền nhân, ba là thường hành pháp thiện nhân, bốn là chỉ dạy cho người cấu, tịnh, thanh, bạch, đó gọi là bốn.

Thiện nam tử! Lại có bốn pháp được nhân lực trước, chẳng mất căn lành, những gì là bốn? Một là thấy người ta thiếu chẳng cho đó là ngu, hai là đối với người hay sân nộ thường tu tâm từ, ba là thường nói các nhân duyên, bốn là thường niệm Vô thượng Bồ đề, đó gọi là bốn.

Thiện nam tử! Lại có bốn pháp chẳng do người dạy mà hay tự hành sáu ba la mật! Những gì là bốn? Một là thường dùng pháp thí, thí đạo cho người, hai là không nói tội hủy giới cấm của người, ba là khéo biết nhiếp pháp giáo hóa chúng sinh, bốn là hiểu suốt pháp sâu, đó gọi là bốn.

Thiện nam tử! Lại có bốn pháp hay xả thiền định hiện sinh cõi dục! Những gì là bốn? Một là tâm ấy nhu hòa, hai là hay được sức các căn lành, ba là chẳng bỏ tất cả chúng sinh, bốn là thường hay tu sức trí tuệ phương tiện, đó gọi là bốn.

Thiện nam tử! Lại có bốn pháp ở Phật pháp được không thoái chuyển! Những gì là bốn? Một là khỏi chịu vô lượng sinh tử, hai là thường hay cúng dàng vô lượng chư Phật, ba là tu hành vô lượng tâm từ, bốn là tín giải vô lượng Phật tuệ, đó gọi là bốn.

Thiện nam tử! Lại có bốn pháp không đoạn Phật tính! Những gì là bốn? Một là vì chúng sinh không lui bản nguyện, hai là chịu hạnh tín thí, ba là đại dục tinh tiến, bốn là thường hay thân tâm hành Phật đạo, đó gọi là bốn.

Bồ Tát Ma ha tát du hành ba cõi, hành mọi hạnh lợi ích chúng sinh, thường tu đạo xuất thế, không đoạn Phật tính.

Khi nói bốn pháp Đại thừa bốn vạn người trời, đều phát tâm Bồ đề, hai muôn năm ngàn người được Vô sinh pháp nhẫn, bốn vạn tám ngàn Bồ Tát được đạt pháp giới nhẫn thiện Phật tuệ.

Khi bấy giờ Phật bảo Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát Ma ha tát rằng: “Ngươi nên thụ trì kinh này!”.

Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế Tôn! Kinh này tên gọi là gì và phụng trì thế nào?”.

Phật dạy rằng: “Kinh này tên là Đại Thông Phương Quảng, hay phá cảnh giới ma, hoại quân ngoại đạo, tiêu trừ phiền não, giải thoát năm dục, tà kiến trói buộc, phá ngục ba cõi, buông các sinh tử, hướng về nhà Niết bàn, khô héo lâu được nhuần ích, là chủng tử chính nhân, mưa nhân duyên lớn, mưa pháp lục độ, làm cho mầm hoa Tam thừa chúng sinh được chồi nảy tươi tốt, thành tựu nhất thừa Bồ đề cực quả. Thiện nam tử! Ngươi hỏi tên kinh, ta nói như thế, ngươi nên thụ trì!”.

Khi đó Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế Tôn! Con từ đời quá khứ ở nơi vô lượng chư Phật, vô lượng hội xứ, trong vô lượng chúng, nghe thấy thảy pháp, thấy thảy sự, thấy thảy tướng, thấy thảy thừa, chưa từng được nghe pháp hiếm có, sự hiếm có, tướng hiếm có, Đại thừa hiếm có này, con xin thụ trì, khiến không đoạn tuyệt.

Lạy đức Thế Tôn! Như Lai thường trụ Pháp, Tăng bất diệt, chúng sinh trong ba cõi tự sinh tự diệt, không thấy Như Lai cùng với Pháp, Tăng, nói rằng diệt độ. Chúng con ngày nay nhờ oai thần của Phật du hành ba cõi, thuận theo thời nghi giả nói diệt độ. Lạy đức Thế Tôn! Chúng con cùng với tám muôn cửu viễn Tuệ pháp thân Đại sĩ lưu thông kinh này, khiến cho pháp giới chúng sinh thụ trì đọc tụng, tu hành đúng thuyết, một thời thành Phật, không dám phóng xả. Lạy đức Thế Tôn! Thiện nam tử! Thiện nữ nhân! Sau khi Phật diệt độ ở trong đời ác, nếu có ai thụ trì đọc tụng biên viết kinh này thì được bao nhiêu phúc?”.

Phật nói: “Thiện nam tử! Nếu người nào đem trân bảo đầy ba ngàn đại thiên thế giới, dùng để bố thí, chẳng bằng người được nghe tên kinh này, phúc đó còn thắng hơn trên, việc đó để lại, nếu người nào lấy mười ngàn thế giới, trong đó đầy trân bảo, đem dùng bố thí, chẳng bằng có người, nhiếp trì kinh này, phúc đó còn nhiều hơn kia, việc đó để lại, nếu người nào lấy mười phương thế giới, trong ấy đầy trân bảo, đem dùng bố thí, chẳng bằng có người biên viết kinh điển Đại Thừa Phương Quảng cho đến một chữ một câu, hoặc là một bài kệ, phúc đó còn nhiều hơn kia, việc đó để lại, tuy thí vô lượng quốc trân bảo, chẳng bằng chí tâm đọc tụng bài kệ, việc đó để lại, tuy thí trong mười ngàn thế giới đầy mạng chúng sinh, chẳng bằng chí tâm giải nghĩa một câu, vì người nói nghĩa một bài kệ, phúc ấy còn hơn kia, là vì lẽ sao? Bố thí tiền của thức ăn là thế gian bố thí, nuôi sống tính mạng, không ra khỏi thế gian, bố thí pháp Đại thừa để nuôi lớn đạo căn Bồ đề cho chúng sinh, hay nối tam thừa trí tuệ thường mạng. Thiện nam tử! Đọc trì kinh này, vốn là kẻ ác, nay là người lành; tuy là kẻ khổ, nay là người vui; vốn là triền phọc, nay là người giải thoát; tuy là người chưa được độ, nay là người được độ; tuy là kẻ vô trí, nay là bậc luận sư; vốn là kẻ hữu lậu, nay là người vô lậu; tuy là kẻ phàm hạnh, nay là người thánh hạnh; vốn là kẻ mất đạo, nay là người nhập thánh đạo. Thân tuy phàm phu, đọc trì kinh này, trí đồng thánh tuệ, căn bản tuy phiền não, đọc trì kinh này được cộng đồng Niết bàn với chư Phật Như Lai.

Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế Tôn! Như lời Phật nói đây, vốn là phạm hạnh, nay là thánh hạnh, vốn là phiền não, đọc trì kinh này, cộng đồng Niết bàn, với chư Phật Như Lai, phá giới, ngũ nghịch, phỉ báng chính pháp, đọc trì kinh này, đoạn trừ phiền não, cùng được Niết bàn, nghĩa ấy tuy rõ, cúi xin Thế Tôn, vì con diễn nói?”.

Phật dạy rằng: “Hay thay! Hay thay! Thiện nam tử! Ngươi nay hỏi hay! Ta sẽ đáp hay! Thiện nam tử! Tất cả chúng sinh bởi chẳng được gặp Phật, cho nên tà kiến, phạm giới, phỉ báng chính pháp, nếu Phật ở đời thì không phạm giới và phỉ báng chính pháp, là vì lẽ gì? Cũng ví như ông Trưởng giả chỉ có một con, nặng lòng yêu dấu, khi cha còn ở nhà, ngày đêm dạy bảo, việc ấy việc khác thuận theo; người con hiếu thuận ấy, là nhờ cha dạy bảo, nên không có trái phạm, khi cha đi xa, không có hẹn thời trở lại, người con quên mất, phạm nhiều tội lỗi, bởi không biết thời nào trở lại, nên tưởng là đã chết, bi thương kêu khóc! Lại tựa như khởi nghịch sầu não mất tâm, quên lời cha dạy xưa, giống như bất thuận, nói như báng pháp. Một thời gian lâu người cha ở phương xa lại trở về, đứa con vui mừng nhớ lời cha dạy trước, giữ gìn không trái phạm, bởi được thấy cha, tin rằng cha mình chưa chết, thì không thể cho rằng đứa con đọa tội nghịch, giữ lời giáo sắc của cha, thuận theo mà làm, chẳng phải là phỉ báng.

Thiện nam tử! Ông trưởng giả tức là Như Lai, đứa con tức là tất cả chúng sinh, khiến ấy, tức là giáo giới, đi xa tức là đi giáo hóa phương khác, không thấy cha tức là cho đã chết, sầu não tức là che tối, chẳng giữ tức là phạm giới, nói diệt tức là tội nghịch, vì mê lý tức là tội phỉ báng, đức Như Lai Thế Tôn du hóa nơi khác trở về, chúng sinh nhìn thấy bèn sinh lòng tin, biết rằng Phật chưa diệt, Phật vì chúng sinh thuyết pháp đem lại bổn tâm, chẳng thể gọi rằng phạm giới, bởi chẳng biết diệt, nên chẳng thể cho rằng đọa tội nghịch, thuận giáo, người hành theo đúng lý được giải ngộ, nên không thể cho rằng báng pháp.

Thiện nam tử! Người đọc trì kinh này tức hay tiêu trừ tội trọng các phiền não từ vô lượng kiếp sinh tử. Nghe tên kinh này, tức là được nghe tên Phật, được thấy kinh này tức là được thấy Phật, trì kinh này tức là trì thân Phật, hành kinh này tức là hành Phật sự, thuyết kinh này tức là thuyết Phật sự, giải kinh này tức là giải nghĩa Phật, nếu hành Phật sự khéo giải nghĩa Phật, con người như thế, vĩnh viễn không còn phiền não, là vì sao? Vì được gặp kinh, đoạn trừ phiền não.

Thiện nam tử! Bằng tám muôn kiếp, dùng làm một ngày, lấy ba mươi ngày làm một tháng, mười hai tháng làm một năm, đem số năm ấy, qua trăm ngàn ức kiếp được gặp một đức Phật, lại qua số đó được gặp một đức Phật, được gặp kinh này lại hơn số nói trên, được gặp kinh này, tức là được gặp mười phương ba đời chư Phật, vì thế người có trí hãy nên thụ trì, đọc tụng, biên viết và giải thuyết, hay trừ được trọng tội tà kiến vô minh phiền não kết lậu, trụ nơi phúc điền, và hay trừ được vô lượng cúng dàng của thế gian.

Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế Tôn! Ngài Bích Chi Phật còn chẳng hay tiêu được cúng dàng của thế gian phương chi kẻ phàm phu có thể tiêu được cúng dàng?”.

Phật nói: “Thiện nam tử! Bích Chi Phật không tiêu được cúng dàng lẽ đó không phải, tuy không hay thuyết pháp độ nhân, nhưng nhập thiền tam muội, từ tam muội trở dậy, khởi đại thần thông độ cho tất cả chúng sinh là tiêu được cúng dàng!”.

Khi bấy giờ Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế Tôn! Trong kinh có nói: kẻ tà kiến phá giới không được cùng ở một quốc độ, uống chung một nước sông, thuyết giới, Bồ Tát, sám hối, tự tứ, người đó đã lui mất thánh đạo, không được đứng vào số trong Tăng chúng, tại sao lại nói, được tiêu cúng dàng? Nếu tiêu được cúng dàng, tức là cùng với chư Phật, đồng hưởng ngôi Ứng Cúng, hơn ngôi La Hán và Bích Chi Phật, cúi xin đức Thế Tôn phân biệt nói rõ cho? Con nghe rồi, con lại vì chúng sinh giải thuyết như lời Phật dạy, khiến họ được giải thoát?

Phật bảo ngài Hư Không Tạng Bồ Tát rằng: Hay thay! Hay thay! Thiện nam tử! Ngươi hôm nay đầy đủ lòng từ bi, thương xót chúng sinh, mà hỏi việc này, vậy hãy nghe cho kỹ, nghe cho kỹ, và suy xét nhớ lấy cho khéo, ta sẽ vì ngươi phân biệt giải thuyết! Thiện nam tử! Cảnh giới của kinh này, không phải các vị Thanh Văn, Duyên Giác có thể biết và cũng không phải cảnh giới suy nghĩ của các ma, ngoại đạo, phàm phu, duy Phật có thể biết, ngươi cũng được đạt. Thiện nam tử! Ta thường hành đạo Bồ Tát, thuyết bố thí, hành bố thí, không quan sát tốt xấu, thành tựu ruộng phúc, mà nói rằng: bố thí cho loài súc sinh, được trăm phúc báo, bố thí cho kẻ xiển đề, được ngàn phúc báo. Thiện nam tử! Kẻ đoạn thiện căn, chết đọa vào hạng xiển đề, kẻ không thẹn hổ, chết đọa vào hạng súc sinh, súc sinh, xiển đề quả báo thục, thì có thể nhận cúng dàng, cho người trồng ruộng phúc, phương chi người đó, là nghĩa như thế, kinh Đại Thừa Đại Thông Phương Quảng có oai đức lớn không thể nghĩ bàn, hay khiến người phá giới, ngũ nghịch, phỉ báng chính pháp, tà kiến phiền não, được trừ diệt hết, năng thụ cúng dàng.

Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế Tôn! Chư Phật Như Lai bất khả tư nghị, kinh Đại Thông Phương Quảng, có lực oai thần cũng bất khả tư nghị, người thụ trì kinh công đức cũng bất khả tư nghị”.

Phật nói: “Phải rồi! Phải rồi! Ngươi nói rất đúng, được bất khả tư nghị, vô biên công đức”.

Khi bấy giờ đức Thế Tôn, bảo Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát Ma ha tát rằng: “Thiện nam tử! Ta nhớ thuở xưa đời quá khứ có kiếp gọi là Thanh tịnh, ta ở kiếp đó cúng dàng chín mươi hai ức na do tha đức Phật, bởi hành pháp Tiểu thừa có rất nhiều tội lỗi, phạm giới vô lượng, nên không thấy các đức Như Lai thụ ký cho ta, lại qua kiếp ấy, đến kiếp gọi là Nhạo Kiến, ta ở kiếp đó, cúng dàng bốn mươi hai ức chư Phật Như Lai, cũng không thấy các đức Như Lai ấy thụ ký cho ta, lại qua kiếp ấy, đến một kiếp tên là Phạm A?, ta ở kiếp đó, cúng dàng hai mươi hai ức chư Phật Như Lai, cũng không thấy các đức Như Lai ấy thụ ký cho ta, lại qua kiếp ấy, đến một kiếp tên là Tâm Hỷ, ta ở kiếp đó cúng dàng, tám mươi tư ngàn chư Phật Như Lai, cũng không thấy các đức Như Lai ấy thụ ký cho ta, lại qua kiếp ấy, đến một kiếp tên là Cứu Khổ, nước tên là Trang Nghiêm, đức Phật hiệu là Đại Thí Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri đầy đủ mười hiệu ta ở kiếp đó cúng dàng bốn mươi ức đức Phật, được nghe kinh này, dứt hết phiền não, tự mình chưa được thấy, khi đó ta đem tất cả các món cúng dàng mà dâng chư Phật, cũng không thấy các đức Như Lai ấy thụ ký cho ta. Thiện nam tử! Thuở xưa ta ở trong từng đó kiếp, cúng dàng nhần ấy chư Phật Như Lai, tôn trọng tán thán, được trừ phiền não, oai nghi cấm giới, đầy đủ hạnh Thanh Văn, tu phạm hạnh trong sạch, học hạnh bố thí, giữ giới tất cả và hạnh đầu đà, xa lìa kiêu mạn, sân huệ, ngu si, nhẫn nhục từ tâm, nghe như thế nào nói như thế ấy, chăm chỉ tinh siêng, tất cả chỗ được nghe, nhận giữ không quên, ở nơi xa vắng, vào các phép thiền định, khi ra thiền định, tùy nơi tuệ văn, đọc tụng suy xét, cũng không thấy các đức Như Lai thụ ký cho ta, là vì lẽ sao? Là vì thụ cấm giới hủy phạm rất nhiều, bởi đắm sâu pháp Thanh Văn, hạnh Nhị Thừa, vì không được nghe kinh Đại thừa Phương Quảng, bởi nghĩa đó các vị Bồ Tát Ma ha tát, nên xa lìa hạnh Nhị thừa, tu tập kinh điển Đại thừa Phương Quảng thời được thụ ký, dầu ta lấy một kiếp, dầu dứt một kiếp, mà nói danh hiệu Phật, cũng không thể hết được.

Thiện nam tử! Qua thời đó về sau, ta được gặp đức Phật Định Quang, Ngài vì vô lượng đại chúng nói kinh Đại thừa Đại Thông Phương Quảng, ta khi đó được nghe được thấy đức Phật, Ngài nói kinh này, ta thụ trì đọc tụng suy xét nghĩa lý, liền đắc pháp vô sinh nhẫn, ngay thời đó đức Định Quang Như Lai thụ ký cho ta, Ngài nói: “Đời sau ngươi được làm Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, đủ mười hiệu. Bởi vậy Thiện nam tử nên thụ trì kinh này, chóng chứng ngôi Phật quả, phương chi tiêu cúng dàng của trời, người. Thiện nam tử! Thế cho nên kinh điển Đại thừa là kho tàng báu có lực bố thí không thể nghĩ bàn; huệ thí, cho kẻ phá giới, bần cùng, theo phép này như châu báu.

Thiện nam tử! Đại thừa như biển lớn, Tiểu thừa như vết chân, Đại thừa như núi Tu Di, Tiểu thừa như tổ kiến, Đại thừa như nhật nguyệt, Tiểu thừa như ánh lòe, thừa này là Đại thừa, không thể nghĩ bàn, dung nạp tất cả chúng sinh, cũng như hư không, trong tất cả mọi thừa, thừa này là bậc nhất, Đại thừa này (là vô thượng thừa), Tiểu thừa có hạn lượng, không hay độ tất cả, duy có Vô thượng thừa, độ hết thảy chúng sinh, nếu hành theo vô lượng hư không Đại thừa này, hư không không có lượng, cũng không có hình sắc, Đại thừa cũng như thế, vô lượng, vô chướng ngại, tất cả chúng sinh nhờ ở Đại thừa, hãy quan sát tướng của thừa này, quảng bác dung nạp rất nhiều, trong vô lượng kiếp nói công đức của Đại thừa và hành theo của thừa này không thể cùng tận được, tất cả trong các thừa, Đại thừa này tối thắng, chí tâm thụ Đại thừa, được tới cây Bồ đề, không ràng buộc, không chướng ngại, vô thượng thừa này, thắng tất cả hạ liệt thừa, ngồi dưới cây đạo, quan sát mười hai duyên, thương xót chúng sinh nên thuyết kinh Đại thừa, mười phương các chúng sinh, nếu tu theo Đại thừa này, cũng không tăng giảm, dung thụ như hư không, Đại thừa chẳng nghĩ bàn, thần thông đại trí tuệ, ấy thế các chúng sinh, nên huân tu tập, tất cả chúng cõi trời, thiên ma và ngoại đạo, muốn trừ phiền não buộc, hãy quy y Đại thừa, đầy đủ sáu thần thông, ba minh, ba đạt môn, có thể dẹp ma và ngoại đạo, cùng các bọn tà kiến, Đại thừa tối thiết yếu, hay phá các phiền não, đầy đủ mọi căn lành, cho nên lực Đại thừa, kỳ thực khó nghĩ bàn, tất cả thế gian pháp, cùng với pháp xuất thế, pháp hữu học, vô học, nhiếp ở trong Đại thừa. Nếu có chúng sanh hành đạo ác, và thân gần kẻ tà kiến, ác trí thức, nên phải tránh xa ngay, quay lại quy Đại thừa. Nếu người chẳng ham cầu học Đại thừa, chẳng có thể phá được phiền não, muốn cầu giải thoát, hãy học Đại thừa. Nếu có đại nhân giải đại sự, nghe nói Đại thừa tâm hoan hỷ! Nên biết đó tức là người Đại thừa, được tâm vắng lặng đủ thần thông, đều bởi Đại thừa tự trang nghiêm. Nếu có người nào hành đại hạnh, đó là không đoạn giống Tam bảo. Nếu có người nào hướng theo pháp Đại thừa, người đó liền được vô lượng phúc, hay tới mười phương các thế giới, cúng dàng mười phương vô lượng Phật, như thế kinh Đại thừa Phương Quảng thế gian các thừa không thắng nổi, đầy đủ oai đức phá sinh tử, cho nên Đại thừa khó nghĩ bàn, được sắc lực, được tự tại, đầy đủ thành tựu pháp thân thường. Nếu ai nương theo Đại thừa này, người đó được hưởng vô thượng lạc, xả mình đem bố thí, tu đạo từ bi, cho nên được vô thượng thừa, trì giới tinh tiến tu phạm hạnh, hay dùng thần thông che nhật nguyệt, đều bởi tu hạnh Đại thừa đã từ lâu, nên tự tâm cần tu thường tinh tiến, người đó được Đại thừa. Nếu phải vô lượng khổ não báo, tu theo Đại thừa được trừ diệt hết, nếu hay an trụ điển Đại thừa, được hưởng khoái lạc như chư Phật, đầy đủ chính niệm thường tinh tiến, được tứ như ý thần thông lực, nương theo chính pháp và chân nghĩa, giai do từ lâu tu kinh Đại thừa, đầy đủ mười lực vô sở úy, ba mươi hai tướng đẹp rất trang nghiêm, kim cương tam muội nhất thiết trí, giai do từ lâu tu Đại thừa.

Thiện nam tử! Nếu người nào trì kinh Đại thừa này, từ một chữ, một câu, cho đến một bài kệ, được thoát hết các khổ nạn, trọn không đọa ác đạo, được đến chốn an lạc, ở đời ác sau này, nếu ai được bản kinh này, ta đều thụ ký cho, chắc chắn thành Phật đạo. Nếu trì kinh này, Phật thường gần người đó, người đó thường gần Phật, người đó hộ Phật pháp, chư Phật hộ người đó, được đại thần thông tuệ, hay chuyển đại pháp luân, độ các thú sinh tử, hay phá hoại ma quân, ta ở chỗ đức Phật Định Quang, nghe kinh phương tiện này, trụ nhẫn được thụ ký, hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Sau khi ta diệt độ, nếu ai học kinh này, ta thụ ký cho người đó, người ở đời vị lai, hay hiểu được nghĩa kinh, vì những người ngu mà nói, Phật tuy chẳng ở đời, chẳng đoạn ngôi Tam bảo, cũng như Phật hiện tại, vì sao? Vì ta từ vô lượng Phật, thụ trì kinh điển này, ở trong đời mạt kiếp, vì người mà diễn thuyết, ấy là được ba mươi hai tướng.

Khi bấy giờ Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế Tôn! Tất cả các đức Phật đều nói ba mươi hai tướng, nay Phật cũng nói ba mươi hai tướng, vậy nhân nghiệp gì mà được thành tựu, cúi xin đức Thế Tôn chỉ bảo cho?”.

Phật bảo Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát rằng: “Thiện nam tử! Như Lai thành tựu vô lượng công đức, cho nên được thành ba mươi hai tướng, dầu ta nói đến cùng kiếp cũng không hết, nay sẽ ta vì ngươi nói lược qua mà thôi: Như Lai chí tâm hộ trì tịnh giới nên được tướng lòng bàn chân bằng, tu hết thảy hạnh huệ thí, nên được tướng lòng bàn chân có ngàn vòng xoáy, chẳng lừa dối tất cả chúng sinh nên được tướng gót chân đầy đặn, hộ chính pháp nên được tướng ngón tay thon dài, không phá hoại người, nên được tướng tay chân có màng lưới giao tiếp, dùng mắt nhiệm mầu dâng thí nên được tướng tay chân mềm mại, đem món ăn trong sạch bố thí nên được bảy xứ đầy đặn, ham vui nghe pháp nên được tướng vế tròn trặn như con hươu, che giấu tội lỗi người nên được tướng mã âm tàng, tu pháp thập thiện nên được tướng trên thân mình như sư tử vương, thường đem thiện pháp giáo hóa chúng sinh nên được tướng khuyến cốt bình mãn, cứu giúp người khỏi sợ hãi nên được tướng cánh tay khuỷu tay tròn trặn, thấy người kiến tạo ngôi Tam bảo vui mừng giúp đỡ nên được tướng tay dài chấm gối, thường tu muôn pháp lành nên được tướng thân thanh tịnh, thường cho thuốc người có bệnh nên được tướng ăn vật gì đến cố tất hiện, thường phát trang nghiêm tu thiện pháp nên được tướng hàm sư tử, đối với tất cả chúng sinh một lòng bình đẳng nên được tướng bốn mươi hai cái răng, vui hòa hợp không tranh kiện nên được tướng răng kín, đem trân bảo bố thí nên được tướng răng bằng, thân, miệng, ý trong sạch nên được tướng hai răng bạch, giữ miệng bốn điều lỗi nên được tướng lưỡi rộng dài, thành tựu vô lượng công đức nên được tướng vị trung thành thượng vị, thường đem lời dịu dàng nói với chúng sinh nên được tướng phạm âm, tu tập từ tâm nên được tướng mắt nhỏ dài, chí tâm cầu đạo Vô thượng Bồ đề nên được tướng lông mi như ngưu vương, khen ngợi công đức của người nên được tướng bạch hào, cung kính cúng dàng cha mẹ, Hòa thượng, A Xà Lê sư nên được tướng nhục kế, ham thuyết pháp Đại thừa nên được tướng thân mềm mại, vui mừng giải tọa cụ nên được tướng kim quang minh, xa lìa việc xúm nhau nói chuyện thế gian nên được tướng mỗi mỗi chân lông sinh sắc xanh, vui chịu lời dạy răng của bạn lành Sư trưởng nên được tướng lông trên mình nhỏ mướt, chẳng đem việc ác gán cho chúng sinh nên được tướng tóc sắc tinh, thường khuyên chúng sinh tu tam muội nên được tướng viên mãn như Ni câu đà, sinh xứ nào cũng ham vui tạo tượng Phật nên được tướng sức như đại lực sĩ.

Thiện nam tử! Bồ Tát Ma ha tát thành tựu vô lượng công đức nên được ba mươi hai tướng như vậy.

Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế Tôn! Con quán các pháp đều không có tướng mạo, lại quán Như Lai cũng chẳng phải hạnh đó, sao Phật lại nói tu rộng mọi hạnh? Con quán chư Phật Pháp Tăng, khổ, tập, diệt, đạo, ngũ ấm, lục nhập, thập bát giới, mười hai nhân duyên, các ba la mật, nội ngoại nhân quả, không, vô, tướng, nguyện, chẳng thấy sinh ra, chẳng thấy diệt mất, như dối, như hóa, như bóng, như vang, như trăng dưới nước, như lông rùa, như sừng thỏ, như hoa trong hư không, như thạch nữ có con, như mặc áo bóng cỡi nhiều chim trắng, như có, như không, và lấy có không, chẳng có chẳng không, chẳng thường, chẳng đoạn, chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng trong chẳng ngoài, chẳng kiến, chẳng thức, do như hư không, tại sao Ngài nói ta tu các pháp? Con quán Như Lai cũng chẳng phải chúng sinh, thọ mạng, sĩ phu, cũng chẳng phải nhãn sắc, chẳng phải sắc tướng hành, chẳng phải tai, chẳng phải thanh, chẳng phải thanh tướng hành, chẳng phải mũi, chẳng phải hương, chẳng phải mũi hương tướng hành, chẳng phải lưỡi chẳng phải mùi tướng hành, chẳng phải thân, chẳng phải xúc tướng hành, chẳng phải ý, chẳng phải pháp, chẳng phải ý pháp tướng hành, chẳng phải thức, chẳng phải sắc, chẳng phải thức sắc tướng hành, chẳng phải sắc, chẳng phải khổ, chẳng phải sắc khổ tướng hành, chẳng phải ta, chẳng phải nguyện, chẳng phải hành, chẳng phải ấm, chẳng thực, chẳng hư, chẳng tụ, chẳng tán, chẳng ra, chẳng vào, thụ, tưởng, hành, thức cũng lại như thế, không đi, không lại, không có trụ xứ, không có tâm ý và ý thức, không có nghiệp thân, miệng, ý, chẳng một, chẳng hai, không có quá khứ, hiện tại, vị lai, chẳng cấu, chẳng tịnh, không có ta và chúng sinh, thọ mạng, sĩ phu, chẳng thường, chẳng đoạn, không sinh, không diệt, không tu, không hành, không xả, không thụ, rốt ráo thường trụ, sao Phật lại nói rộng tu mọi hạnh?

Khi bấy giờ đức Phật khen Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát Ma ha tát rằng: “Hay thay! Hay thay! Thiện nam tử! Ngươi ở thời quá khứ từng đã cúng dàng vô lượng chư Phật, đã thấu hiểu lâu nghĩa không của Đại thừa vô thượng, suốt biết muôn pháp đều quy không tịch, cũng như Phật rốt ráo thường trụ. Thiện nam tử! Ví như hạt châu lưu ly quý báu, tuy ở trong bùn trải qua ngàn năm, tính nó vốn trong sạch, ra khỏi bùn vẫn còn bản chất. Các người nay cũng như thế, thấu rõ pháp tướng tính vốn thanh tịnh, các ngươi tuy ở nơi ba cõi trong đám bùn lầy năm món ô trược giúp Phật để hoàng dương giáo hóa, cũng không bị bùn làm ô uế, bởi không bị ô uế nên hỏi ta nghĩa đó. Thiện nam tử! Hãy để ý nghe, ta nói cho biết! Tất cả muôn pháp, thực ra không có tướng mạo, có văn tự nên nói có pháp, trong pháp không có văn tự, trong văn tự không có pháp, vì lưu bá nên nói có văn tự, trong văn tự cũng không có Bồ đề; trong Bồ đề cũng không có văn tự, đệ nhất nghĩa đế, tuy không có văn tự, trong đạo thế tục nói có văn tự, chúng sinh, Phật tính, Vô thượng Bồ đề chẳng lìa văn tự. Thiện nam tử! Thực ra nói cho đúng, Như Lai vô tận vô sinh, chẳng tu, chẳng hành, lìa các sự tu hành thì không nhập chính vị, cũng chẳng thoái chuyển, nhất sinh, chẳng sinh cõi trời Đâu Suất Đà, chẳng từ đó mà hạ sinh nhân gian, chẳng ở đời, chẳng ở thai, tất cả các phát tâm không trụ trược, cũng chẳng nói ta đã qua khỏi sinh già bệnh chết, cũng chẳng nói trong bốn phương, mỗi phương đi bảy bước, cũng chẳng tự nói: Ta là bậc Vô thượng Tôn ở thế gian, chẳng ở trong cung, vui cùng thế nữ, chẳng tập những việc kỹ nhạc của thế gian, cũng chẳng học bàn mã giáo lực, muốn độ chúng sinh thị hiện lão nhân, vì hoại tham thân, thị hiện bệnh khổ, vì hoại tham thọ, thị hiện tử tướng, vì hoại tham dục và ngã, ngã sở, thị hiện Sa môn, vì khiến chúng sinh chẳng cầu thân Phạm Thiên, Đế Thích, cần cầu pháp xuất thế vô thượng, vượt ra cung thành thị hiện xuất ly ba cõi ràng buộc, và thị hiện chẳng phải quả tiền hậu, thị hiện không sân ái, ấy cho nên ba mươi hai tướng trang nghiêm cho thân. Vì chỉ cho chúng sinh ruộng phúc tốt lành, cắt bỏ chu la phóng xả anh lạc, cho ngựa trở về, phóng siển đà la, thị hiện xa lìa tất cả phiền não, hiện cắt bỏ râu tóc, thị hiện tham trược tất cả mọi pháp, thụ trì áo cà sa thị điều phục chúng sinh, từ nơi Uất đà gia la, tham hỏi thụ pháp, là thị hiện phá hoại tâm tự cao, sáu năm khổ hạnh, vì ngoại đạo, hiện thụ ăn uống, tùy pháp thế tục, hiện thụ dược thảo, thị việc tri túc, ngồi trên đệm cỏ, tỏ sự hoại kiêu mạn, chư Thiên, Long thần, tán thán cung kính, thị hiện quả báo công đức trang nghiêm, hàng phục ngoại đạo, tỏ sức dũng mãnh, tay phải chỉ xuống đất, tỏ lực tác phúc, đại địa chấn động, tỏ sự báo ân tu vô tướng, nguyện đắc đạo Vô thượng Bồ đề, thị hiện biết suốt các pháp tướng, quán pháp bình đẳng nên gọi là Phật, trí tuệ Phật không ai thắng nổi, thuyết pháp thiết yếu, biết Phật quá khứ, hiện tại, vị lai, theo nghĩa đó nên gọi là Như Lai, thấy biết rành rành những việc ba đời, pháp lành chẳng lành, nên gọi là Tát bà nhã, lời nói chân thật nên gọi là Thiên Nhân Sư, nếu học giả hay tác quán như thế, gọi đó là Bồ Tát, nếu tác quán khác chẳng thể gọi Bồ Tát, gọi là lừa dối tất cả chư Phật.

Thiện nam tử! Tất cả chư Phật chẳng xuất, chẳng nhập, chẳng sinh, chẳng diệt, vì độ chúng sinh xướng ngôn xuất thế, vì độ chúng sinh, xướng ngôn diệt độ.

Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: “Lạy đức Thế Tôn con thực biết pháp tướng lý không từ lâu, chư Phật Như Lai không xuất hiện, không diệt một, không sinh nơi vương cung, không tịch diệt dưới cây song thụ, tất cánh thường trụ, vì độ chúng sinh tu các hạnh khổ, mà nhập Niết bàn thực không động chuyển, chư Phật Như Lai, chân thực thường tồn, ứng thân ba cõi, hiện năm chưởng pháp thân, những gì là năm:

Một là Thực tướng pháp thân,
Hai là Công đức pháp thân,
Ba là Pháp tính pháp thân,
Bốn là Ứng hóa pháp thân,
Năm là Hư không pháp thân.

Sở dĩ gọi Thực tướng pháp thân, và công đức pháp thân là vì độ chúng sinh, ra công tích hạnh vạn thiện tròn đầy, nên gọi là Công đức pháp thân.

Pháp tính pháp thân, nghĩa là đạt ngộ tất cả pháp tướng, cùng tận nghĩa lý, từ cảnh mà giải tỏ nghĩa không, không giải viên mãn, từ cảnh mà được tên nên gọi là Pháp tính pháp thân.

Thế nào gọi là Ứng hóa pháp thân? Như Lai xuất thế ứng đủ năm cõi thiện ác hiện hết, cứu tế cho muôn vật, từ chỗ hóa vật được tên, nên gọi là Ứng hóa pháp thân.

Sở dĩ Hư Không pháp thân nghĩa là: Hư không vô biên, pháp thân cũng vô biên; hư không bất khả độ lượng, pháp thân cũng bất khả độ lượng. Thân của Như Lai cũng như cõi thái hư, vì độ chúng sinh, ứng hiện ra thân năm phận, nên biết rằng: Như Lai vô sinh vô diệt, các pháp cũng thế! Vì độ chúng sinh nên Phật hiện pháp hưng.

Khi bấy giờ Phật bảo Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát rằng: “Thiện nam tử! Ngươi với Như Lai cùng giải pháp tướng, tất cả cảnh giới không chướng không ngại!

Thiện nam tử! Đời vị lai có một kiếp tên là Thanh Tịnh, quốc tên là Khoái Lạc, nước ấy hết dùng các vị đại Bồ Tát luận nghĩa Đại thừa, qua không nghe thấy tên nhị thừa, huống chi là ác đạo. Ở kiếp đó ngươi được làm Phật hiệu là Thanh Tịnh Trang Nghiêm Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri. Phương lớn các phương khác đều tới nghe nhận kinh Đại thừa Đại Thông Phương Quảng. Cho nên tất cả chúng sinh nếu được nghe thấy tên Bồ tát Hư Không Tạng nên lễ bái cúng dàng sẽ được sinh sang thế giới Khoái Lạc kia, nên biết người đó chẳng qua mười đức Phật, khiến được thụ ký.

Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối
Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật
 
Quyển Trung Hết
Khể thủ Nhất tâm kính lễ.
Nguyện Sư trưởng, phụ mẫu pháp giới chúng sinh diệt tội thành Phật.

 

Quyển Hạ

Phật nói Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt TộiTrang Nghiêm Thành Phật

 

(Khi bấy giờ) Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, nhân Ngài Tín Tướng Bồ Tát vì tất cả chúng sanh và chính thân mình hỏi danh hiệu chư Phật, Đức Phật nói mười phương ba đời chư Phật, mười hai bộ kinh, và đại Bồ Tát Tăng xong, lại muốn đại sư tử hống; sư tử hống gọi là quyết định thuyết; quyết định thuyết tức là biết rõ Như Lai thường trụ bất (diễn) nói chúng sanh đều có Phật (tính), Thiên ma sợ hãi, ngoại đạo quy phục. (Khi bấy giờ có đức Như Lai phóng đại quang minh ra tướng lưỡi dài rộng) trùm khắp ba ngàn đại thiên thế giới, tất cả thế giới sáu chưởng chấn động; sáu chưởng chấn động, là đông dũng, tây một, tây dũng, đông một, nam dũng, bắc một, bắc dũng, nam một, trung dũng, biên một, biên dũng, trung một, thế gọi là sáu (chưởng chấn động các thế giới). Thiệt căn phóng đại quang minh, đại quang minh phổ chiếu; đại quang phổ chiếu là chuyển vô thường đem lại thường, chuyển bất tịnh đem lại tịnh, chuyển khổ đem lại vui, chuyển vô minh đem lại minh.

(Khi bấy giờ) hào quang của Phật chiếu đi tới đâu thì tất cả núi rừng quốc độ, sông ngòi, đại hải, núi thiết vi, địa ngục cao hạ đều bình chính thanh tịnh hết mọi uế ác, cũng như Ðông phương Thanh tịnh Trang Nghiêm Mãn nguyệt thế giới.

Khi bấy giớ Đức Phật Thích Ca phân thân chư Phật, từ nơi hư không hóa hiện hạ xuống, do như mưa hoa, từ đất hóa ra, do như mây mọc, đầy khắp hư không, không chỗ nào hở. Lúc đó các Đức Phật hóa đồng thanh nói: “Như Lai thường trụ bất diệt, tất cả chúng sanh đều có Phật tính, tất cả mọi pháp đều quy về không, vạn hạnh nhân quả đều quy nhất thừa”. Chúng sinh đều thấy, nói xong hốt nhiên bất hiện, duy chỉ thấy Đức Phật Thích Ca tại trên bản tòa.

Ðương khi bấy giờ tất cả đại chúng đều thấy hóa Phật. Sở dĩ thấy, là do lực oai thần của Đức Phật Thích Ca. Khi đức Từ phụ Thích Ca hiện sức thần thông oai đức, trong chúng có bốn mươi hằng hà sa vị Bồ Tát đắc pháp Vô sinh nhẫn, tám muôn Thanh Văn phát tâm Ðại thừa, mười ngàn Tỷ khưu đắc đạo A La Hán, một vạn tám ngàn Tỷ khưu ni đắc đạo A Na Hàm, bốn ức Ưu bà tắc đắc đạo Tư Ðà Hàm, mười ức Ưu bà di đắc đạo Tu Ðà Hoàn, vô lượng trời người được pháp nhãn tịnh, tự biết mạng trước, biết pháp hữu vi hết thảy vô thường.

Khi bấy giờ trong chúng Ngài Sư Tử Hống Bồ Tát Ma ha tát liền từ tòa đứng lên chỉnh y phục lễ kính dưới chân Phật mà bạch Phật rằng: “Lạy Ðức Thế Tôn! Như trên nghe nói danh Phật được diệt tội, nghe danh Pháp cũng được diệt tội, nghe danh Tăng cũng được diệt tội; vì Phật lực, vì Pháp lực, vì Tăng lực; như Phật lực nên cầu Phật, như Pháp lực nên cầu Pháp, như Tăng lực nên cầu Tăng, sao phải cầu ba? Như trên nói duy có nhất thừa! Chúng sanh thấy ba, Phật tự nói ba! Phương chi chúng sinh?”.

Phật bảo ngài Sư Tử Hống Bồ Tát Ma ha tát rằng: “Hay thay! Hay thay! Hỏi nghĩa ấy rất là hay! Lợi ích chúng sinh hãy nghe cho kỹ! Nghe cho rõ! Ta sẽ vì ngươi phân biệt giải thuyết. Chẳng những Phật lực, chẳng những Pháp lực, chẳng những Tăng lực, đều là chúng lực, Phật là chỗ chúng sinh trở về chốn cha mẹ, Bồ Tát tăng là chứng minh tri thức, đứa con mê là chúng sinh, nếu có tỉnh ngộ, tự sinh chán lìa, nên niệm lực nhiều, cầu ra khỏi ba cõi phiền não đại hải, kinh Phương Quảng là chiếc thuyền lớn. Thiện nam tử! Phật tức là Pháp, Pháp tức là Tăng, Tăng tức là vô vi, vô vi là không, vô vi không có tức là không, trong không, ngoài không, đại không, tiểu không, đều quy nhất không, không có không nào khác biệt. Thiện nam tử! Ngươi hỏi trên đây, nên cầu một, cần gì phải cầu ba! Thiện nam tử! Ví như có người sợ hãi hư không, đi khắp các nơi tìm chỗ ẩn thân, cũng chẳng thoát khỏi hư không. Thiện nam tử! Mười phương Phật nói và ta nói vạn thiện nhân duyên Tam Bảo tam thừa, chẳng qua có một, sơ, trung, hậu đều thiện, vì tất cả chúng sinh phân biệt nói thành ba, cho nên gọi là Nhất tướng Tam bảo!”.

Ngài Sư Tử Hống Bồ Tát thưa rằng: “Hay thay! Thật như lời thánh giáo! Con biết từ lâu, vì chúng sinh mà hỏi việc như thế!”.

Ngài Sư Tử Hống Bồ Tát Ma ha tát bạch Phật rằng: “Lạy Ðức Thế Tôn! Theo như lời Phật dạy không hai không ba, kinh Phương Quảng là mẹ chư Phật, Bồ Tát đại đạo, nhãn mục của học giả, tiếp dắt các tà kiến, cứu hộ kẻ mất tâm, dứt tâm ác đạo, khai Vô thượng Bồ đề môn, đưa các Thanh Văn đến các ngôi Ðại thừa, con xin đem chú “Ðại đà la ni”, để gìn giữ cho người đó, tịnh trì giới hạnh, tu học kinh này, hộ vệ người đó. Hoặc có người nào kính trọng kinh, mà tu hành bảy ngày, nếu ma ác muốn lại làm não loạn, con khiến cho các ma ấy không tự tiện làm ngang. Lạy Ðức Thế Tôn! Con hộ kinh này, khiến ở đời lâu tận Bồ đề tính!”.

Phật dạy: “Thiện nam tử! Ngươi hộ kinh này, tức là hộ Tam bảo, cũng hộ cho người hành giáo!”.

Khi đó Ngài Sư Tử Hống Bồ Tát ở trước Phật thuyết bài chú rằng:

Nam mô Phật đà, nam mô Ðạt ma, nam mô Tăng già, a đàn địa, đà la ni, đa đà ha, a già sà ni bà, tỳ tát bà đạt ma, ni bà tỳ y xá ma, đa tỳ bà xá na, tỳ ma la, tu bát ly đạt ma ni, già na bà lâu ni xoa dạ đa ma lệ, giá lệ, hầu lâu, hầu lâu, sư bệ đế, mạn đá la, mạn đá la sa ha.

Mỗi lần đọc trăm biến và nhiễu bảy vòng, bảy ngày như thế, mỗi ngày ba thời: trong bảy ngày không niệm kinh nào khác, để tâm Phương Quảng không cảnh gì khác.

Lạy Ðức Thế Tôn! Chú Ðà la ni này, tám trăm muôn ức chư Phật đã nói, con nay nói ra, nếu kẻ nào báng chú này, tức là báng chư Phật Như Lai. Ðã báng chú này, thì đời đời không thành đạo, không ra khỏi ba cõi, vì sao? Vì chú này hay khiến cho kẻ mất tâm lấy lại được bổn tâm. Chú Ðà la ni một lần nghe qua tai, viết chép lấy, không uống rượu ăn thịt, tự giữ trai giới, xa lìa sự hý luận, không vào quán chợ, thường hành tâm đại từ, quý việc tọa thiền, người đó hoặc từ vô lượng kiếp đến nay, ba chướng trọng tội, nghe chú này rồi chí tâm thụ trì, ngày ngày đọc tụng, niệm luôn không quên, người ấy được đến đạo Bồ đề không phải đọa tam đồ.

Phật bảo Ngài Sư Tử Hống Bồ Tát rằng: “Hay thay! Hay thay! Ngươi hay hộ ngôi Tam bảo, từ niệm chúng sinh, khiến ra ba cõi, thuyết chú như thế, làm đại lợi ích, vô lượng học nhân, khai mở đạo giáo, bạt trừ tà kiến. Thiện nam tử! Tất cả chúng sinh, nghe thấy tên ngươi và âm thanh chu ((trang 123 ,trong sách in “chu” nhưng con không biết có đúng không, theo con nghĩ phải là “chú” thì đúng hơn, con kính mong Thầy chỉ rõ)) này, tín kính chẳng hủy, người ấy hiện thế an ổn, tới khi mạng chung, thường thấy chư Phật, cũng được thấy ta, và thấy thân ngươi, cùng các Bồ Tát, tự biết được làm Phật, quyết định không nghi, tất cả thấy Phật tính, đều do tín thanh tịnh, muôn lành thành Phật đạo hội xả hết thảy ác”.

Phật nói: “Nếu có Thiện nam tử, Thiện nữ nhân nào, sau khi ta diệt độ, hoặc một ngày, hoặc một đêm, hoặc một thời, hoặc một niệm, lễ bái tam thế thập phương chư Phật, mười hai bộ kinh, chư đại Bồ Tát, lòng niệm Ðại thừa, suy nghĩ Ðệ nhất nghĩa, người đó một niệm bằng khoảng khảy ngón tay tất cả nghiệp thập ác, ngũ nghịch và báng kinh Phương Ðẳng, được tiêu diệt hết, không còn mảy may. Nếu Tỷ khưu, Tỷ khưu ni, Bồ Tát, Sa di, Sa di ni, hoặc mất bổn tâm, thân phạm bốn tội trọng, bát cấm, lục trọng, thập ác, ngũ nghịch, phỉ báng kinh Phương Ðẳng, nay nếu sinh lòng tín, lễ bái thập phương tam thế chư Phật danh hiệu, thì những nghiệp ác ấy được tiêu diệt hết, không còn mảy may”.

Phật vừa nói xong, khi bấy giờ Thiện Kiến vương tử cùng với ba ngàn người ở thời Đức Phật Ðịnh Quang, trong giây lát hốt nhiên tới chốn Phật, lễ kính dưới chân Phật đồng thanh bạch Phật rằng: “Lạy Ðức Thế Tôn! Chúng con hoặc từ vô lượng kiếp tới nay, tạo tác ác nghiệp, nói không thể hết, hoặc phạm thập ác, ngũ nghịch, hoặc báng kinh Phương Ðẳng, hoặc tạo vô lượng a tăng kỳ tội, cầu nương nhờ Như Lai, mười hai bộ kinh, và các Bồ Tát, giải bày sám hối, cúi xin hứa cho chúng con!”.

Phật dạy: “Hay thay! Hay thay! Lòng sợ khó sinh, căn lành khó phát, muốn sám thập ác, muốn sám ngũ nghịch, cho đến kẻ xiển đề muốn thấy Phật tính, nên như vậy tùy ý nói đi!”.

Khi đó ba ngàn người nghe từ âm của Phật, sửa sang y phục chắp tay làm lễ, chễ áo vai bên hữu, gối bên hữu quỳ, xuống đất nói rằng: “Lạy Ðức Thế Tôn! Chúng con hôm nay, quy mạng thập phương Phật, quy mạng thập phương Pháp, quy mạng thập phương Tăng, sau dập đầu quy mạng Ðông phương A Sơ Phật, quy mạng Nam phương Bảo Tướng, khể thủ Tây phương A Di Ðà Phật, quy mạng Bắc phương Diệu Thắng, khể thủ Thượng phương Hương Tích Như Lai, quy mạng Hạ phương Ức Tượng. Khể thủ Ðông phương Phổ Hiền Ðại sĩ, quy mạng Nam phương Trì Thế, khể thủ Tây phương Quan Âm Ðại sĩ, quy mạng Bắc phương Mãn Nguyệt, khể thủ Thượng phương Hư Không Ðại sĩ, quy mạng Hạ phương Kiến Ðức, khể thủ Bổn Sư Ðịnh Quang Như Lai, quy mạng vị lai Phật tính, khể thủ tha phương phân thân hóa Phật, quy mạng thầy Thích Ca của con ngày nay, khể thủ Ðại sĩ Duy Ma, Văn Thù, quy mạng A Nan, Ca Diếp, khể thủ xuất hiện từ đạo Thánh nhân, quy mạng hữu giáo sơ tâm. Khể thủ đại tạng thập nhị bộ kinh Phương Ðẳng chính điển, quy mạng chư dư kinh pháp, khể thủ bát phận Xá lợi hình tượng, quy mạng hiện hữu Phật sự, tứ phương Tứ vương Ðạo Lợi, Thích, Phạm tam thập tam thiên, hư không, thiên thượng, địa thượng, địa hạ, hữu chư sơn lâm thụ hạ, nhất thiết thần tiên, hữu đại thần túc, hữu thiên nhãn giả, hữu thiên nhĩ giả, nguyện xin nghe biết và chứng minh cho. Nguyện tất cả chúng sinh nếu chưa sám hối đều được diệt tội. Hãy nói như vầy: “Chúng con hoặc từ vô thủy thế giới cho đến thân ác ngày nay, rồ dại loạn tâm, vô lượng đảo kiến, phiền não ác nghiệp, không thể giải bày cho đủ, tạo tác nhiều tội, tự mình chẳng biết, ác tâm rỡ thịnh, chẳng thấy hậu thế, chỉ thấy hiện tại, ham tập phiền não, xa lìa căn lành, ác nghiệp ngăn cách, gần ác tri thức, ở bên Tỷ khưu làm phi pháp, ở bên Tỷ khưu ni làm phi pháp, ở bên cha mẹ làm phi pháp, hoặc là tự do dùng mảy vật của Tăng, ở bên ngũ bộ Tăng, hoặc làm thị phi, hoặc nói thế gian vô lượng ác nghiệp, hoặc giết căn lành Bồ đề chúng sinh, hoặc phỉ báng Pháp sư, chánh pháp nói phi pháp; phi pháp nói là chánh pháp, nói rằng Như Lai vô thường, Chánh pháp vô thường, Tăng bảo vô thường, chẳng ham tuệ, thí, tin theo tà pháp, vì thế ngày nay, vô lượng sợ hãi, vô lượng thẹn hổ, quy y Tam bảo, chư Phật từ bi, Phương Ðẳng, cha mẹ, Bồ tát, tri thức, nhận cho chúng con giải bày sám hối. Nguyện tiêu trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp cho đến ngày nay, lại nguyện từ nay không dám tạo tác.

Lạy Ðức Thế Tôn! Lũ chúng con hoặc từ vô lượng kiếp cho đến nay, tạo tác năm tội nghịch, hoặc phạm giới cấm của chư Phật đời quá khứ, hiện tại, vị lai, làm hạnh nhất xiển đề, ra lời nói thô ác, phỉ báng chánh pháp, tạo nghiệp trọng ấy, chưa từng cải hối, tâm không thẹn hổ. Hoặc phạm thập ác, ngũ nghịch mọi tội, tự biết định phạm, trọng sự như thế, bổn tâm không có chút gì sợ hãi thẹn hổ, lặng yên nhận vật cúng dàng, chưa từng phát lộ, đối với chánh pháp không có tâm hộ trì kiến lập, trong thời gian ấy hủy báng gièm chê khinh rẻ, nói nhiều lỗi ác. Hoặc nói không có Phật, Pháp, Tăng, những tội nặng vô gián, thập ác, ngũ nghịch đã tạo như thế, cho nên ngày nay vô lượng sợ hãi, vô lượng thẹn hổ, quy y Tam bảo; chư Phật từ bi, Phương Ðẳng, phụ mẫu, Bồ tát, tri thức nhận cho, chúng con giải bày sám hối, nguyện tiêu trọng tội sinh tử, từ vô lượng kiếp cho đến ngày nay, lại nguyện không dám tạo tác nữa.

Lại nữa, lạy Ðức Thế Tôn! Lũ chúng con hoặc từ vô lượng kiếp cho đến ngày nay, hoặc tứ đảo kiến, tứ trọng pháp, nói là Thâu lan gia, pháp Thâu lan gia nói là tứ trọng, phạm nói chẳng phạm, chẳng phạm nói phạm, tội nhẹ nói tội nặng, tội nặng nói tội nhẹ, tịnh nói chẳng tịnh, chẳng tịnh nói thấy tịnh, hoặc lại tà kiến, nói khen sách đời, chẳng kính kinh Phật, luận nghĩa mọi ác, chứa tám bất tịnh, thực là lời Phật, cho là lời ma, thực là lời ma, cho là lời Phật, hoặc lại tin nhận, thuyết của Lục Sư, hoặc làm lời nói như vầy: “Như Lai ngày nay vào Niết bàn, mất hẳn! Tam bảo vô thường, thân tâm khởi hoặc, vô lượng đảo kiến”. Cho nên ngày nay, vô lượng sợ hãi, vô lượng thẹn hổ, quy y Tam bảo, chư Phật từ bi, Phương Ðẳng, phụ mẫu, Bồ tát, tri thức, nhận cho lũ chúng con giải bày sám hối, nguyện tiêu trọng tội sinh tử từ vô lượng kiếp cho đến ngày nay, nguyện từ nay không dám tạo tác nữa.

Lại nữa, lạy Ðức Thế Tôn! Lũ chúng con hoặc từ vô lượng kiếp cho đến một thân hình này, hoặc phạm của chiêu đề Tăng, hoặc phạm của thập phương Tăng, hoặc phạm của hiện tiền Tăng, hoặc phạm của ngũ bộ Tăng. Cho đến của một vị Tỷ khưu, của tất cả đàn việt. Hoặc lại tự xưng ta đắc chánh pháp, tứ thiền tứ quả, bởi ác nghiệp nhân duyên bất thiện ấy, hoặc vốn xuất gia tạo tác bốn tội trọng, bát cấm, lục trọng, thập tam Tăng tàn, nhị pháp Bất định, tam thập Xả đọa, chín mươi tội Ðọa, bốn pháp Sám hối, chúng Ða học pháp, bảy pháp Diệt tránh, hoặc phạm như thế mỗi mỗi các giới, từ pháp Ðột cát la, cho đến Tứ trọng, hoặc lại Ngũ nghịch, phỉ báng chánh pháp, thậm thâm kinh điển, tạo hạnh nhất xiển đề, che đậy không sám, ngày đêm tăng trưởng. Từng nghe Phật nói: Nếu phạm Tứtrọng cho đến Ngũ nghịch hoặc báng chính pháp, nếu chẳng giải bày sám hối, quyết định đọa địa ngục, chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, không thể cứu hộ, sư tăng, phụ mẫu, chư Thiên, thế nhân cũng chẳng thể cứu, vì thế ngày nay, sợ hãi vô lượng, thẹn hổ vô lượng, con xin quy y Tam bảo, đời quá khứ Đức Phật Ða Bảo, đời vị lai ngàn Đức Phật, đời hiện tại, các Đức Phật Thích Ca phân thân lại đây, chư Phật từ bi, Phương Ðẳng, phụ mẫu, Bồ tát, tri thức, nhận cho chúng con giải bày sám hối, nguyện tiêu trọng tội từ vô lượng kiếp đến nay, phiền não chướng, nghiệp chướng, báo chướng, tứ trọng, vô gián, thập ác.

Lại nữa, lạy Ðức Thế Tôn! Chúng con ngày nay, vì tất cả chúng sinh và tự thân mình, trước mười phương chư Phật cúi xin sám hối. Tất cả chúng sinh từ vô lượng kiếp cho đến ngày nay, chẳng biết ân chư Phật phụ mẫu, chẳng giải tỏ thiện pháp, làm mọi nghiệp ác, tự cậy giòng họ và nhiều tài bảo, tuổi trẻ buông lung làm nhiều nghiệp ác, tùy tâm tạo tác không thấy tội lỗi, phàm phu vô trí che tối, làm hạnh ngu si, thân gần bạn ác, phiền não loạn tâm, nhân duyên năm dục, tâm sinh giận tức, chẳng biết chán đủ làm nhiều điều ác, thân gần kẻ bất chính, cho nên sinh tham sẻn ghen ghét, duyên vì nghèo cùng, tạo nên nhiều ác nghiệp, và lấy nữ sắc, gian dối làm ác, hệ thuộc ở người, thường thường sợ hãi, không được rảnh rang, phiền kết não nhiệt, tham dục khuể, si, nhiễu động thân tâm, khát ái thúc dục, tạo tác nhiều tội, thân, miệng, ý ác, ba nghiệp chồng chất, những tội như thế nay xin sám hối hết. Hoặc chẳng cung kính Phật, Pháp, Thánh Tăng, những tội như thế nay xin sám hối hết. Hoặc chẳng cung kính Bồ Tát, Duyên Giác, những tội như thế nay xin sám hối hết. Bởi vô trí cho nên phỉ báng chánh pháp, chẳng biết cung kính phụ mẫu sư trưởng, những tội như thế nay xin sám hối hết, bị ngu hoặc làm che nên kiêu mạn buông lung, nhân tham, sân, si, tạo tác ác nghiệp, những tội như thế nay xin sám hối hết. Con nay cúng dàng mười phương chư Phật, nguyện tất cả chúng sinh trụ ngôi Thập địa, cụ túc Như Lai chánh giác.

Khi bấy giờ Đức Phật bảo Thiện Kiến Vương tử rằng: “Hay thay! Hay thay! Ðại sĩ! Ðại sĩ! Tự xét thân mình bất thiện ác nghiệp, sinh lòng sợ hãi giải bày tội ác, lại vì chúng sinh sám hối mọi tội, như thế mới gọi là bậc Chân đại sĩ, tự mình xa lìa ác nghiệp, lại khiến chúng sinh xa lìa ác nghiệp, vì thế nên gọi ngươi là bậc Chân đại sĩ. Chẳng nguyện cho mình trước, lại nguyện cho chúng sinh được thành Chánh giác trước, do đó gọi ngươi là bậc Chân đại sĩ, Chân đại sĩ.”

Khi bấy giờ Thiện Kiến Vương tử cùng với ba ngàn người sám hối xong, đọc bài kệ khen Phật rằng:

Duy Phật một người, bậc đệ nhất,
Tam giới phụ mẫu trí nhất thiết,
Hết thảy các hàng không sánh bậc,
Cúi lạy Thế Tôn! Hiếm có sánh,
Phàm nhân ra ơn vì lợi mình,
Cầu báo đem của ra cấp thí,
Phật đại nhân từ, không việc đó,
Oán, thân, yêu, ghét lợi cho đều,
Ðại tinh tiến nhân, con quy mạng!
Phật Lưỡng Túc, tôn trọng tối thượng,
Trí tuệ nhãn nhân hay thấy biết,
Chư Thiên chẳng hiểu trí tuệ này,
Quá khứ, vị lai, chư Phật nay,
Hết thảy con đều rập đầu lễ,
Như thế con nay quy mạng Phật,
Cũng như cung kính hai Thế Tôn!

Khi bấy giờ mười phương chư Phật, liền vì Thiện Kiến Vương tử và ba ngàn người nói bài kệ dạy rằng:

Nếu muốn cầu Phật đạo,
Thường theo người đa văn,
Như thờ Thiện sư tướng,
Thành Phật cũng chẳng lâu,
Nếu trì giới thanh tịnh,
Gọi là thực Tỷ khưu,
Nếu người hay quán không,
Gọi là được tam muội,
Nếu người hay tinh tiến,
Là gọi người hành đạo,
Nếu có được Niết bàn,
Ấy gọi là thực vui!
Trì giới đại Sa môn,
Ðại giới thanh tịnh Ni,
Nửa tháng thường Bồ tát,
Kết tịnh hạnh khất thực,
Mặc áo Tăng già lê,
Áo bát mang theo mình,
Chư Thiên đều hoan hy!
Cung kính chắp tay lễ,
Ta khiến chư Thiên, nhân,
Ðể làm người hầu hạ,
Cũng như chư Thiên nhỏ,
Kính thờ Thiên Ðế Thích,
Ngày nay được hiện báo,
Vị lai chẳng khá lường,
Xuất gia giữ cấm giới.
Ấy là báo ân Phật,
Lại nữa Thiện Kiến Vương,
Trừ ta và Bồ Tát,
Thế gian hết mọi người,
Tâm sinh tín thanh tịnh,
Suốt biết mười phương Phật,
Thường trụ chẳng Niết bàn,
Pháp, Tăng cũng như vậy,
Những người như thế đó,
Ấy là báo ân Phật,
Lại nữa Thiện Kiến Vương!
Thế gian hết thảy người,
Tâm không phân biệt tướng,
Suốt biết đạo nhất thừa,
Quá khứ và vị lai.
Mười phương và hiện tại,
Chỉ có nhất Phật thừa.
Không hai cũng không ba,
Nếu hay phát ý ấy,
Tâm không tướng phân biệt,
Những người như thế đó,
Gọi là báo ân Phật.
Lại nữa Thiện Kiến Vương!
Nếu hay có một người,
Sau khi ta diệt độ,
Tâm thường sinh tín giải,
Ðều nói các chúng sinh,
Hết có Như Lai tính,
Những người như thế đó,
Cũng là báo ân Phật,
Nếu tu một niệm lành,
Chẳng cầu quả báo trời,
Hướng thẳng đạo vô thượng,
Cũng là báo ân Phật,
Lại nữa Thiện Kiến Vương!
Sau khi ta diệt độ,
Nếu hay có một người,
Giây phút đọc kinh này,
Kính trọng Phật, Pháp, Tăng,
Hiếu thuận cúng dàng sư,
Những người như thế đó,
Cũng là báo ân phật,
Nếu người bỏ một của,
Thức ăn uống áo mặc,
Phổ thí dâng đại chúng,
Cũng là báo ân Phật,
Lại nữa Thiện Kiến Vương!
Trong đời mạt pháp ta,
Có thể hóa một người,
Phút chốc nghe kinh này,
Lại hơn cúng dàng khác,
Trăm ức Bồ Tát chúng,
Như thế kinh Ðại thừa,
Mẹ Phật và Bồ Tát,
Niệm Phật kính kinh này,
Tôn trọng chư Bồ Tát,
Bình tâm không đây kia,
Cũng là báo ân Phật.
Lại nữa Thiện Kiến Vương!
Ai hay đời mạt pháp,
Nếu muốn báo ân Phật!
Một niệm tại thiền định,
Thắng hơn ba ngàn cõi,
Trong đầy hết mọi người,
Báng thiền hoại loạn chúng,
Như sát ba ngàn cõi,
Trong đầy hết thảy người,
Và các loài chúng sinh,
Báng thiền hoại loạn chúng,
Tội đó cũng như thế
Nếu người thấy tu thiện,
Phỉ báng chẳng chịu tin,
Ðoạn diệt giống Tam bảo
Chẳng gọi báo ân Phật.

Khi bấy giờ Thiện Kiến Vương tử và ba ngàn người ơn Phật dạy bảo xong, vui mừng kính lễ, lại thuyết bài kệ rằng:

Chúng con ngày nay
Cúi đầu quá khứ,
Vị lai, hiện tại,
Tam thế chư Phật,
Lại xin quy mạng,
Thích Ca Văn Phật,
Cúi đầu tám muôn,
Bốn ngàn pháp tạng,
Cũng lại quy mạng,
Các kinh pháp khác,
Khể thủ quá khứ,
Duy Ma, Văn Thù,
Cũng lại quy mạng,
Ða văn đại trí,
A Nan, Xá Lợi,
Khể thủ vô học,
Năm phần pháp thân,
Cũng lại quy mạng,
Thủy học sơ nhân,
Cúi đầu vừa xong,
Lại thuyết kệ rằng:
Chư Phật nói gì thực?
Gì ấy là bất thực?
Thực cùng với bất thực,
Hai việc bất khả đắc,
Như thế tướng chân thật,
Các pháp chẳng hý cợt,
Vì lân mẫn chúng sinh,
Phương tiện chuyễn pháp luân,
Các thánh từ nơi lại,
Phật bảo lại như thế,
Thực tướng và nơi đi,
Phật cũng thế không khác,
Chư thánh như thực ngữ,
Phật cũng nói như thực,
Bởi thế gọi là Phật,
Ða-đà-a-già-độ,
Giáp nhẫn tâm bền vững,
Cung tinh tiến lực mạnh,
Tên trí tuệ sắc nhọn,
Phá những giặc kiêu mạn,
Hợp nhận của trời, người,
Tất cả sự cúng dàng,
Vì thế gọi là Phật,
Lấy làm A-la-ha,
Chính trí khổ thực tướng.
Cũng thực biết khổ nhân,
Biết khổ tận thực tướng,
Cũng biết khổ tận đạo,
Chân chính giải bốn đế,
Ðịnh thực bất khả biến,
Cho nên trong mười phương,
Hiệu Tam Diểu Tam Phật,
Ðược tam minh mầu nhiệm,
Hạnh thanh tịnh cũng đủ,
Cho nên hiệu Thế Tôn,
Bệ-sà-giá-la-na,
Hiểu biết hết mọi pháp
Tự được diệu đạo pháp
Hoặc thời phương tiện nói,
Lòng nghĩ thương hết thảy,
Diệt trừ già, bệnh, chết,
Khiến đến chốn an ổn,
Bởi thế gọi là Phật.
Lấy làm Tu già đà,
Biết đời chốn nào lại,
Cũng biết đời tận đạo,
Vì thế gọi là Phật,
Là Lộ-ca-bệ-đà,
Thiền, giới, trí nhãn thảy
Vô cập huống xuất thượng,
Cho nên gọi là Phật,
Là A-lốc-đa-la,
Ðại bi độ chúng sinh,
Hòa lành dạy điều phục,
Cho nên gọi là Phật,
Phú-lâu-sa-đàm-diểu,
Trí tuệ không phiền não,
Nói tối thượng giải thoát,
Cho nên gọi là Phật,
Ðề-bà-ma-nâu-sá,
Tam thế động, chẳng động,
Tận và bất tận pháp,
Dưới đạo thụ biết hết,
Cho nên gọi là Phật.

Khi bấy giờ mười phương chư Phật, vào phép thần thông tam muội, tự rướn mình lên trên không trung, khác miệng cùng tiếng xướng lời như vầy: “Thiện Kiến Ðại sĩ và ba ngàn người, các ngươi nên biết: tội tính chẳng ở ngoài, chẳng ở trong, chẳng ở trung gian, tâm thực cho nên thiện lực thực, tâm giải cho nên tội tính giải, tuệ không cho nên tội tính không, tín lực cho nên phúc lực nhiều, nếu hay như thế mà sám hối, thời đã thấy ta, và thấy Phật Ða Bảo, và các phân thân. Sám hối diệt tội bởi thường thấy ta, ngày nay giáo hóa các Bồ Tát: sám hối như thế khiến ta và các phân thân, diệt độ Phật Ða Bảo hết thảy đều vui mừng! Mười phương hiện tại Phật, và quá khứ vị lai, cũng thấy cũng cúng dàng, cũng khiến được hoan hỷ! Theo thuận kinh Ðại thừa này được nhập Bồ đề môn”.

Phật bảo các đệ tử rằng: “Có tội muốn sám hối nên như Thiện Kiến Vương lễ tam thế Phật, và mười hai bộ tôn kinh, các vị đại Bồ Tát Tăng, nhất nhất tâm lễ, cũng như gặp thân ta, gặp tướng ta, thấy tướng ta, thấy một tướng Phật, hai tướng Phật, bảy tướng Phật, thấy trăm tướng Phật, ngàn tướng Phật, muôn tướng Phật, cũng như thấy vô lượng tướng Phật, như thế nhất nhất tâm lễ, người ấy vô lượng phúc đức, diệt trừ sinh tử trọng tội, trong a tăng kỳ kiếp, không phải đọa vào ba đường ác, an trụ ở Phật đạo, quyết định không còn nghi, vì thế nên sám hối mọi tội, chí tâm tin cho chắc, quyết định diệt trọng tội”.

Khi bấy giờ Thiện Kiến Vương tử cùng với ba ngàn người đồng thanh đọc bài kệ khen Phật rằng:

Thế Tôn đại từ bi,
Giòng Thích đại pháp vương,
Sư tử hống trong chúng,
Nhiếp khắp hết trong chúng sinh,
Coi chúng như con một,
Không kia cũng không đây,
Ðược thấy Vô Thượng Tôn!
Cho nên nay kính lễ.

Khi đó Đức Phật bảo Thiện Kiến Vương tử và ba ngàn người rằng: “Nếu hay giải bày tội lỗi sám hối không che giấu như thế là chân Bồ Tát, ngươi ở đời sau hẳn được làm Phật. Lại nữa Thiện nam tử! Khi ta diệt độ ở đời sau này ai hay trực tâm lễ kính mười phương chư Phật và mười hai bộ kinh cùng các vị Bồ Tát Tăng, đó là báo ân Tam bảo, diệt ngay được tội thập ác ngũ nghịch và báng kinh Phương Ðẳng, diệt tội xong, nếu hợp Tu Ðà Hoàn mà được độ, thì thụ cho quả Tu Ðà Hoàn; nếu hợp Tu Ðà Hàm mà được độ, thì thụ cho quả Tu Ðà Hàm; nếu hợp quả A Na Hàm mà được độ, thì thụ cho quả A Na Hàm, nếu hợp quả A La Hán mà được độ, thì thụ cho quả A La Hán; nếu hợp quả Bích Chi Phật mà được độ, thì thụ cho quả Bích Chi Phật; nếu hợp Bồ Tát mà được độ, thì thụ cho quả Bồ Tát. Trong kinh này các vị đại Bồ Tát Ma ha tát được Nhất sinh thực tướng, giai do lễ thập phương tam thế chư Phật; hoặc có Bồ Tát được Nhị sinh pháp giới, giai do lễ tam thế chư Phật; hoặc có Bồ Tát được Tất kính trí, giai do lễ tam thế chư Phật; hoặc có Bồ Tát được ngộ Ðệ nhất nghĩa đế, giai do lễ tam thế chư Phật; hoặc có Bồ Tát được Thủ lăng nghiêm tam muội, giai do lễ tam thế chư Phật; hoặc có Bồ Tát được Hư không tam muội, Trí ấn tam muội, giai do lễ tam thế chư Phật; hoặc có Bồ Tát được Bất thoái nhẫn, Như pháp nhẫn, Như pháp giới, giai do lễ tam thế chư Phật; hoặc có Bồ tát được Ðà la ni, đại niệm tâm vô ngại trí, giai do lễ tam thế chư Phật; hoặc có Bồ Tát được Sư tử hống tam muội, Kim cương tam muội, Ngũ trí ấn tam muội, giai do lễ tam thế chư Phật; hoặc có Bồ Tát được Bìnhđẳng tam muội đại từ đại bi a lốc đa la tam diễu tam bồ đề Phật hạnh, giai do lễ thập phương vô lượng tam thế chư Phật”.

Khi bấy giờ Ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ Tát Ma ha tát bạch Phật rằng: “Lạy Ðức Thế Tôn! Tất cả chúng sinh rồ dại loạn tâm tạo tác ác nghịch làm sao tự biết mà diệt tội?”.

Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: “Như trên đã nói, nếu người nào được nghe kinh điển Phương Quảng, lại được nghe danh hiệu mười phương ba đời chư Phật, mười hai bộ kinh, các đại Bồ Tát tâm sinh vui mừng vô lượng, tín kính sao tả thụ trì đọc tụng, thông lợi chốn không, tịnh, sửa sang một phòng thất, vảy nước hương thơm trên mặt đất, lấy phan lọng đẹp trang nghiêm ở trong, trước đốt hương thơm, nhiên hậu thỉnh Phật, tắm rửa bằng nước thơm không cứ nhiều ít, mặc y phục mới, mỗi lần đi nhà xí thì một lần tắm gội, đặt mô䴠tòa báu, tu lâu kinh này, biết suốt pháp tướng, không ngã kiến, nhân kiến, thỉnh mạng dâng lên, phân biệt xưng dương, đốt hương tốt quý, nhất tâm trừ loạn, nhớ chính, niệm chính, nhất tâm niệm Phật, ấy là các hành nhân, hòa hợp làm trên hết, nếu chẳng hòa hợp, tức giận tranh kiện nhau, chẳng gọi là sám hối, giận tức để lòng, trái với đạo pháp, tưởng niệm Ðại thừa, suy nghĩa đệ nhất, bảy ngày bảy đêm không được nằm ngủ, mỗi ngày ba thời đọc tụng kinh này, ngày đêm sáu thời đốt hương cúng dàng lễ bái sám hối, xưng niệm trong kinh, chư Phật Bồ Tát mười hai bộ kinh, tâm tâm bất loạn, tâm tâm chẳng lẫn, tâm tâm chẳng khác, tâm tâm thời tiến, tâm tâm nhật tiến, tâm tâm sinh tín, tâm tâm hoan hỷ, tâm tâm thứ lớp, tâm tâm nối liền, tâm tâm thâm trọng, tâm tâm bất ly, tâm tâm nghĩ tội, tâm tâm niệm Phật, tâm tâm niệm Pháp, tâm tâm niệm Tăng, tâm tâm niệm giới, tâm tâm niệm xả, tâm tâm niệm Thiên, người ấy, đọc tụng như thế, lễ bái như thế, chí tâm như thế, sám hối như thế, từ ngày đầu cho đến ngày thứ sáu, lại đem nước thơm vảy đất, nước thơm tắm gội, đốt các thứ hương thơm thâm tâm cúng dàng, do sự chí tâm, người đó sám hối chấn động mười phương. Ta khi bấy giờ cùng với vô lượng vô biên hằng hà sa chư Phật, vô lượng vô biên hằng hà sa Bồ Tát, tùy theo âm thanh vào trong thất nội, đồng tác chứng minh, như thế trong bảy ngày quyết định được diệt tội. Sở dĩ biết ấy! Kẻ phàm phu chưa hợp chân đế, phải lấy tướng trong mộng, nếu mộng thấy một tướng, tức là diệt được một tội, thấy năm mộng tức là diệt được tội ngũ nghịch, người đó đêm mộng thấy mình muốn qua sông lớn, đi trên một cái cầu lớn nên biết người đó quyết định được độ thoát, người đó hoặc khi mộng thấy mình cùng người tắm gội, trời mưa xuống mình, nên biết người đó quyết định được thanh tịnh, người đó hoặc khi mộng thấy mình vào trong đại hội với các vị Sa môn ngồi theo thứ tự, nên biết người đó là chân Phật tử, người đó hoặc khi mộng thấy mình vào trong tháp tự, nhìn thấy tượng Phật và Bồ Tát to lớn đẹp đẽ, nên biết người đó đã được chính môn, người đó hoặc khi mộng thấy mình được quả rồi tự ăn, nên biết người đó lại được quả báo.

Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: “Nếu Tỷ khưu, Tỷ khưu ni, Bồ Tát, Thanh tín sĩ, nữ, Sa di, Sa di ni, mất tâm lẫn loạn, thân phạm mỗi mỗi giới cấm, sám hối như trên, nếu không được diệt tội, thì không có lý, trừ không chí tâm!”.

Ngài Văn Thù Sư Lợi hỏi Phật rằng: “Lạy Ðức Thế Tôn! Khi hành pháp này có được nhiều người không?”.

Phật dạy rằng: “Từ một người trở lên, hai mươi người trở xuống, khi hành pháp này không được niệm các kinh nào khác, theo pháp hối này xong, từ sau không được tạo tác, đó gọi là hối pháp, rồi lại tác niệm như vầy: “Chúng ta từ ngày nay như chết được sống lại, ta phải trì giới, ta phải tinh tiến, ta phải đọc tụng kinh Ðại thừa Phương Ðẳng”. Người ấy khi đó nên nghĩ như vầy: “Từ ngày hôm nay mới kiên trì giới cấm, nguyện như kim cương”. Người ấy khi nghĩ như vậy thì Duy Ma Ðại sĩ với vô lượng Bồ Tát đứng ở trước mặt, vì làm Chứng thời, Ðại Ðức Phổ Hiền vì làm Yết ma, Ðại Ðức Ca Diếp vì làm Y chỉ”.

Phật bảo Ngài Văn Thù rằng: “Ðó là diệt tội, đó là giải thoát, đó là cụ giới, đó là đắc trụ!”.

Khi bấy giờ Ðức Thế Tôn lại bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma ha tát rằng: “Nếu người nào phạm tứ trọng, bát cấm, lục pháp, thập giới, tam quy, ngũ giới, bát cấm, thập thiện, mỗi mỗi giới luật cho đến ngũ nghịch và báng kinh Phương Ðẳng, trừ kẻ nhất xiển đề, nếu không sám hối phát lộ các tội người đó khi mạng chung quyết định phải đọa địa ngục A tỳ!”.

Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: “Lạy Ðức Thế Tôn! Thế nào gọi là A tỳ địa ngục? Cúi xin đức Như Lai vì tất cả chúng sinh nói nhân duyên hình trạng lớn nhỏ khổ vui thụ báo kiếp số nhiều ít?”.

Phật bảo Ngài Văn Thù rằng: “Vui thay! Vui thay! Hỏi nghĩa ấy hay! Nghe cho kỹ! Nghe cho kỹ! Và đại chúng hãy nhớ nghĩ cho khéo! Ta vì ngươi phân biệt nói rộng, thế nào gọi là A tỳ địa ngục; chữ A là vô, chữ tỳ là gián; gián vô tạm lạc, (không tạm vui chút nào) nên gọi là Vô gián. Chữ A là vô, chữ tỳ là giá; chữ A là vô, chữ tỳ là cứu; chữ A là vô, chữ tỳ là bất động; chữ A là cực nhiệt, chữ tỳ là cực não; chữ A là bất nhàn, chữ tỳ là bất trụ; chẳng trụ chẳng nhàn nên gọi là: A tỳ địa ngục. Chữ A là Ðại hỏa, chữ tỳ là Cực nhiệt mảnh hỏa nhập tâm nên gọi là A tỳ địa ngục”.

Phật lại bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát ma ha tát rằng: “Thiện nam tử! Ðịa ngục A tỳ ngang dọc rộng tám vạn do tuần, bảy lần thành sắt, trên có bảy lần lưới sắt, dưới có mười tám cách, vòng quanh bảy lần, đều là rừng dao, bảy lần trong thành ấy lại có rừng kiếm, dưới có mười tám cách, mỗi mỗi cách, tám muôn bốn ngàn lần, bốn góc thành có bốn con chó đồng lớn, mình nó dài lớn bốn mươi do tuần, mắt như điện quang, nanh như kiếm sắc, răng như núi dao, lưỡi như lưỡi câu sắt, móng như thiết xoa, đuôi như thiết mãng, tất cả các lỗ chân lông đều xì lửa dữ dội, cổ họng hôi thối, không thể đem vật hôi thối của thế gian mà tỷ dụ được. Bốn cửa ngục mỗi bên có mười tám quân ngục tốt, đầu như quỷ La sát, miệng như La sát, trên đầu có mười tám ngà, chân tay như sắt toẻ, bảy lần trong thành có vô số phướn sắt, đầu phướn lửa phụt lên như suối vọt, nước sắt chảy tràn trong thành A tỳ. Bốn cửa thành A tỳ, trên mỗi cửa có mười tám cái vạc bằng đồng, trong vạc nấu sắt, nước sôi sùng sục, trào lên chảy lai láng bốn cửa, tràn lan thành A tỳ, khoảng mỗi một cách có tám muôn bốn ngàn con mãng xà sắt lớn, nhả độc phun lửa, thân to dài khắp trong thành, nó kêu rống to như tiếng sấm sét, khi trời mưa. Trong thành đầy những viên sắt lớn, và có tám vạn ức ngàn việc khổ; khổ trong sự khổ, não trong sự não, đều tập hợp ở đây. Ðịa ngục A tỳ bốn phương đều có cửa ra vào, ngoài mỗi cửa đều có lửa cháy dữ dội, đông, tây, nam, bắc, giao suốt qua nhau tám muôn do tuần, tường sắt vây quanh, lưới sắt che khắp mặt đất, lửa ở trên táp xuống, lửa ở dưới bốc lên, bốn bên trên dưới chung quanh khổ sự nhất thời đều bốc khởi. Như trên đã nói: tứ trọng, bát cấm, phạm giới, ngũ nghịch và báng kinh Phương Ðẳng, nếu chẳng theo trong kinh này mà sám hối thẹn hổ, người đó khi mạng chung phải đọa địa ngục A tỳ nhanh như kẻ đại tráng sĩ giở tay, thân chật trong ngục, nhiệt não cấp bách, cấm khẩu không được nói, chỉ có giương mắt cấm khẩu, cấm khẩu giương mắt, tội người ấy chịu muôn ức dao bay tròn như vòng xoáy từ trên hư không bay xuống, chém suốt từ đầu sả xuống đến chân, tất cả sự đau khổ hơn nói trên đây gấp trăm ngàn muôn phần. Nếu phạm đủ bốn tội trọng, chịu đại khổ não đủ năm đại kiếp, tội bát cấm lại gấp bội, tội ngũ nghịch lại gấp bội, tội báng kinh Phương Ðẳng lại gấp bội; phỉ báng Tam bảo, ăn trộm của Tăng kỳ, làm nhơ phẩm hạnh Tỷ khưu, Tỷ khưu ni, báng thầy, hại thầy, nếu ngươi can phạm với mẹ, những người như thế lại gấp bội hơn trên, trừ một kẻ xiển đề đoạn diệt căn lành không bao giờ được thoát ngục A tỳ. Những tội nhân ấy trong khi chịu khổ, lửa dữ nhập tâm, ngất đi rồi chết, quân ngục tốt và quỷ La sát cầm gậy sắt đánh xuống đất quát to lên rằng: “Sống dậy sống dậy!”, tức khắc sống liền, trong một ngày một đêm muôn lần chết đi sống lại, chịu cực khổ não như trên đã nói. Kẻ đó từ nơi địa ngục A tỳ được thoát ra, bởi nhân duyên phá giới, ăn không của tín thí, lại phải vào mười tám địa ngục nhỏ, tức là: địa ngục Hàn băng, địa ngục Hắc ám, địa ngục Tiêu nhiệt, địa ngục Ðao luân, địa ngục Kiếm luân, địa ngục Hỏa xa, địa ngục Phí sì, địa ngục Lạm thang, địa ngục Hôi hà, địa ngục Kiếm lâm, địa ngục Thiết sàng, địa ngục Ðồng trụ, địa ngục Thiết cơ, địa ngục Thiết luân, địa ngục Thiết quật, địa ngục Thiết hoàn, địa ngục Tiêm thạch, địa ngục Ẩm đồng, mỗi địa ngục phải chịu tám trăm năm, nhiên hậu mới được ra, thường phải sinh nơi hạ xứ, trong năm trăm đời không biết ngôi Tam bảo, nếu gặp thiện tri thức được phát Bồ đề, nếu không gặp thiện tri thức lại đọa địa ngục.

Phạm tội Ðột Cát La nếu không sám hối, phải chịu tội khổ ở địa ngục tám trăm muôn năm, ngày tháng theo như cõi Tứ Thiên Vương. Tội Ba Dật Ðề gấp bội bằng hai, tội Tăng Tàn lại gấp bội hai. Những tội nhân trong khi chịu khổ ngoài ra không nói gì khác, chỉ kêu la rằng: “A ba ba, a cha cha, a la la, a bà ba”. Vì thế nếu có tội phải sám hối gấp, và quy y Tam bảo. Lại nữa, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma ha tát, nếu muốn được tiêu diệt tội mau chóng, theo như kinh này mà sám hối phát lộ, hành đạo bảy ngày mỗi ngày ăn một bữa, suy nghĩ chánh quán, nhớ niệm Như Lai khi thành Phật: Ðại nhân tướng, Giác nhân tướng, Bất động nhân tướng, Giải thoát nhân tướng, Quang minh nhân tướng, Mãn trí tuệ nhân tướng, Cụ túc chư ba la mật tướng, Thủ lăng nghiêm đẳng chư tam muội hải tướng. Bồ Tát Ma ha tát từ nơi Thắng ý từ tam muội trở dậy, vào phép thiền định Diệt ý; từ định Diệt ý trở dậy, lại nhập định Thủ lăng nghiêm; từ định Thủ lăng nghiêm trở dậy, nhập Tuệ cự tam muội; từ Tuệ cự tam muội trở dậy, nhập Chư pháp tướng tam muội; từ Chư pháp tướng tam muội trở dậy, nhập Quang minh tướng tam muội; từ Quang minh tướng tam muội trở dậy, nhập Sư tử âm thanh tam muội; từ Sư tử âm thanh tam muội trở dậy, nhập Sư tử phấn tấn tam muội; từ Sư tử phấn tấn tam muội trở dậy, nhập Hải ý tam muội; từ Hải ý tam muội trở dậy, nhập Phổ trí tam muội; từ Phổ trí tam muội trở dậy, nhập Ðà la ni ấn tam muội; từ Ðà la ni ấn tam muội trở dậy, nhập Phổ hiện sắc thân tam muội; từ Phổ hiện sắc thân tam muội trở dậy, nhập Pháp giới tính tam muội; từ Pháp giới tính tam muội trở dậy, nhập Sư tử vương tam muội; từ Sư tử vương tam muội trở dậy, nhập Diệt chư ma tướng tam muội; từ Diệt chư ma tướng tam muội trở dậy, nhập Không tuệ tam muội; từ Không tuệ tam muội trở dậy, nhập Giải không tướng tam muội; từ Giải không tướng tam muội trở dậy, nhập Ðại không trí tam muội; từ Ðại không trí tam muội trở dậy, nhập Biến nhất thiết xứ sắc thân tam muội; từ Biến nhất thiết xứ sắc thân tam muội trở dậy, nhập Quán tâm tướng tam muội; từ Quán tâm tướng tam muội trở dậy, nhập Bồ tát ma ha tát kim cương tam muội; từ Bồ tát ma ha tát kim cương tam muội trở dậy, nhập Kim cương đính tam muội; từ Kim cương đính tam muội trở dậy, nhập Nhất thiết hải tam muội; từ Nhất thiết hải tam muội trở dậy, nhập Nhất thiết đà la ni hải tam muội; từ Nhất thiết đà la ni hải tam muội trởdậy, nhập Nhất thiết Phật cảnh giới hải tam muội; từ Nhất thiết Phật cảnh giới hải tam muội trở dậy, nhập Nhất thiết chư Phật giải thoát, giải thoát tri kiến hải tam muội; từ Nhất thiết chư Phật giải thoát, giải thoát tri kiến hải tam muội trở dậy; nhiên hậu mới nhập vô lượng vô biên Chư tam muội hải môn; từ Chư tam muội hải môn trở dậy, nhập Tịch ý diệt ý tam muội; từ Tịch ý diệt ý tam muội trở dậy, nhập Kim cương tịch định đại giải thoát tam muội môn”.

Phật bảo Ngài Văn Thù rằng: “Sau khi ta diệt độ nếu Thiện nam tử, Thiện nữ nhân sinh một lòng nghĩ tín, nếu hay biên, viết, đọc, tụng một bài kệ: niệm tướng ấy, nhớ tướng ấy, quán tướng ấy, tín tâm thành tựu, khoảng một niệm trừ khử trọng tội sinh tử chín mươi ức na do tha hằng hà sa đẳng vi trần số kiếp vĩnh ly ám chướng, biết rõ Như Lai thường trụ bất diệt”.

Khi bấy giờ Ðức Thế Tôn vì tất cả đại chúng lại nói bài kệ rằng:

Lực sĩ các Quỷ thần.
Súc sinh Tượng vương ác,
Dâm nữ và Ác long,
Vô lượng kẻ ác nhân
Bà Tẩu, A Xà Thế,
Ðề Bà, Ương Quật Ma,
Thân tâm khởi tội nghịch,
Phải đọa ngục A tỳ,
Sinh tín lễ Tam thế,
Mười phương vô lượng Phật,
Thích Ca lâm Niết bàn,
Vì trụ vô lượng kiếp,
Người nước Ma Già Ðà,
Ðều phát tâm Bồ đề,
Giai do cung kính lễ,
Thập phương tam thế Phật,
A Nhã Kiều Trần Như,
Năm trăm Thanh Văn thảy,
Ðời sau thành Phật đạo,
Giai do cung kính lễ,
Thập phương tam thế Phật,
Ngoại đạo Bà la môn,
Thập tiên Ðại phạm chí,
Nay được A La Hán,
Vì xưa đời quá khứ,
Giai do cung kính lễ,
Thập phương tam thế Phật,
Tự ngộ nghĩa đệ nhất,
Trong mười phương Phật quốc,
Tất cả Bồ Tát chúng,
Vãng sinh Vô Lượng Thọ,
Giai do cung kính lễ,
Thập phương tam thế Phật,
Lại nữa Thiện Kiến Vương!
Ta xưa làm quốc vương,
Tên là Ðại Tiên Dụ,
Phật nhật khi chưa ra,
Cúng dàng người xuất gia,
Năm trăm Bà la môn,
Thức ăn uống áo mặc,
Phòng nhà và đồ nằm,
Ðầy đủ hai mươi năm,
Khi đó ta nói rằng:
Các thầy phát Bồ đề,
Những vị Bà la môn,
Tuy nhận sự cúng dàng,
Thực chẳng tín Tam bảo
Các thầy đáp ta rằng:
Thế gian không Bồ đề,
Và cũng không giải thoát,
Ta nghe lời nói ấy,
Vì hộ kinh Phương Ðẳng,
Tiêu diệt Bà la môn,
Mạng căn năm trăm người
Người đó mạng chung rồi,
Ðọa ngục A Tỳ liền,
Khi đọa địa ngục rồi,
Tức thời phát ba niệm:
Lễ kính tam thế Phật,
Kính tin kinh Phương Ðẳng,
Ðại sĩ Bồ Tát Tăng,
Khi phát ba niệm xong,
Tức thời thoát địa ngục,
Sinh sang Tam Lộ Cổ,
Thọ mạng mười tiểu kiếp,
Giai do sinh tín tâm,
Lễ kính thập phương Phật,
Những vị Bà la môn,
Mới báng đọa địa ngục,
Sau tin lại được ra,
Huống ngươi đại Bồ Tát,
Ðầy đủ lòng tàm quý,
Vốn mình thực không tội
Thực vì các chúng sinh,
Sám hối tứ trọng cấm,
Và tội ngũ vô gián,
Cho đến nhất xiển đề,
Nếu kẻ phàm phu nào!
Thân phạm tội như thế,
Mà hay sám theo đây,
Trừ diệt tứ trọng cấm,
Ngũ nghịch nhất xiển đề,
Sẽ được thành Phật đạo,
Chỉ trừ kẻ bất tín,
Nếu có lòng tín giải,
Cung kính lễ chư Phật,
Chẳng thành không có lý,
Khi đó Thiện Kiến Vương,
Cùng với ba ngàn người,
Ðồng thanh bạch Phật rằng:
Nếu chúng con thành phật,
Nguyện cho dòng sinh tử,
Cúi xin Thiên Nhân Tôn,
Vì con phân biệt nói:
Nếu có người thụ trì,
Viết chép và đọc tụng,
Công đức như thế nào?
Phật dạy Thiện Kiến Vương,
Ngươi nay nghe cho khéo,
Ta vì ngươi mà nói,
Nếu ai đem thất bảo,
Cúng dàng ngàn thế giới,
Thí cho hết mọi người,
Lại hay khéo thuyết pháp,
Ðược thành quả La Hán,
Chẳng bằng có một người,
Nghe tên chư Phật đây,
Cho đến một niềm tin,
Hoặc là lễ một thời,
Phúc đó lại hơn kia,
Phương chi viết, đọc, tụng,
Kính tin lễ bái ấy,
Công đức không thể lường,
Nếu ai hay viết chép,
Thụ trì và đọc tụng,
Phát tâm thời lễ bái,
Còn hơn xây chùa tháp,
Khắp trong ngàn thế giới,
Khi đó Ðại Ca Diếp,
A Nan, Xá Lợi Phất,
Hộ Pháp, Kim Cương Sĩ,
Các Phạm và Ðế Thích,
Chuyển Luân, Tứ Thiên Vương,
Ðầu mặt lễ chân Phật,
Ðồng thanh bạch Phật rằng:
Như Lai qua đời sau,
Chúng con sẽ lưu bá,
Giáo hóa các chúng sinh,
Hộ niệm người lễ bái,
Ðược tâm thường an ổn,
Hoặc phạm, phá trọng cấm,
Ngũ nghịch, báng Phương Ðẳng,
Khiến được Phật danh này,
Yên ở đất thanh tịnh,
Cũng như Thiện Kiến Vương
Ðời sau thấy Phật tính.

Khi bấy giờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo các đại chúng rằng: “Các ngươi nghe cho kỹ, ta vì các ngươi nói nguồn gốc nhân duyên, ta ở thời xưa quá vô lượng kiếp, chốn Đức Phật Diệu Quang được nghe tên mười phương ba đời Phật, lòng sinh vui mừng, chắp tay cúi đầu nghe nhận, nơi nơi chốn chốn ta giáo hóa vô lượng vô biên chúng sinh được nghe tên Phật. Khi bấy giờ trong chúng sinh chỉ có ba ngàn người cùng với ta một nghi pháp sinh lòng tin vô lượng, theo ta lễ bái danh hiệu chư Phật, nay hiện thấy ở mười phương đều thành Chánh giác”.

Phật bảo đại chúng: “Các Thiện nam tử! Muốn diệt trừ tội tứ trọng, tội vô gián, tội báng kinh Phương Ðẳng, tội nhất xiển đề, đều do tin tâm. Lại nữa, Thiện nam tử! Nếu kẻ nào không tin mà khinh rẻ chê bai chẳng kính, đó là phỉ báng mười hai bộ kinh,và báng Kim cương sắc thân, báng Ðại Sĩ Văn Thù Sư Lợi, báng thập phương chư Phật, kẻ đó quyết định đọa địa ngục không dối vậy, vì sao? Vì bất tín cho nên báng chánh pháp, báng bậc thượng nhân, báng hết thảy thập phương tam thế chư Phật quyết định phải đọa địa ngục. Tin danh hiệu Phật đây, và chí tâm lễ bái, nếu chẳng được trừ diệt tội thập ác, ngũ nghịch và tội báng kinh Phương Ðẳng, thì không có lý. Chỉ trừ một kẻ bất tín đoạn thiện căn nhất xiển đề. Các Thiện nam tử! Trăm ức Thích Ca mỗi mỗi phân thân trong các quốc độgiáo hóa chúng sinh, Phật Thích Ca sau cùng là thân ta vậy.

Ba ngàn người thuở bấy giờ, nay đều thành Phật. Trước ngàn người, Ngài Hoa Quang đứng đầu giữa ngàn người, Ngài Lâu Chí đứng đầu sau ngàn người, Ngài Di Lặc đứng đầu, vì thế các ngươi nên lễ kính danh hiệu thập phương tam thế chư Phật, đời mai sau các ngươi nên vì đại chúng khai diễn đạo giáo, rộng giúp cứu tế lũ quần manh dắt chúng ra ngoài ba cõi, yên lặng nhàn cư, ở chốn đạo tràng, như ta không khác”.

Khi bấy giờ Ðà La Ni Bồ Tát, liền từ tòa đứng lên sửa áo mặc chắp tay cung kính bạch Phật rằng: “Lạy Ðức Thế Tôn! Kinh này tên gọi là gì? Vâng giữ làm sao? Tu hành thế nào?”.

Phật bảo Ngài Ðà La Ni Bồ Tát rằng: “Thiện nam tử! Kinh này tên là “Ðại Thông Phương Quảng”, cũng gọi là “Sám hối trừ tội đắc phúc”, thụ trì như thế; cũng gọi là kinh “Tam thiên nhân trang nghiêm thành Phật”, thụ trì như thế; Quảng đại vô ngại thụ trì như thế; Phổ nhiếp tất cả, thụ trì như thế; Vô lượng tạng môn, thụ trì như thế; Kim cương bảo tạng, thụ trì như thế; Tế chư trọng cấm, thụ trì như thế”.

Ngài Ðà La Ni Bồ Tát bạch Phật rằng: “Lạy Ðức Thế Tôn! Theo như Phật nói, kinh này như thế, duy đại lợi ích, vô lượng chúng sinh, diệt tội thành Phật; kinh này tức là, mẹ của chư Phật, đạo của Bồ Tát, mắt của Thanh Văn, nhà của Trời, người, có những việc như thế không thể nghĩ bàn, chúng con xin thụ trì, trên trời, dưới trời, nơi nơi, chốn chốn, tuyên rộng lưu bá khiến cho không dứt được ở lâu cõi thế gian”.

Phật dạy: “Hay thay! Hay thay! Ðại sĩ như thế, tổng trì vô lượng tất cả đại tạng, ở đời mai sau, sẽ ngồi chỗ ngồi của ta, đi lối đi của ta!”.

Khi Phật nói kinh này rồi, vô lượng Bồ Tát trụ ngôi bất thoái, bất động, tám muôn Thanh Văn phát tâm Ðại Thừa, mười ngàn Tỷ khưu đắc quả A La Hán, tám muôn bốn ngàn trời, người đắc pháp Nhãn tịnh, trăm ngàn chúng sinh phát tâm A lốc đa la tam diễu tam Bồ đề.

Phật nói kinh xong, Kim hoa bảo trì hốt nhiên bất hiện, Phật thu quang minh lại, thế giới Sa Bà nơi cao chốn thấp, bất tịnh, uế ác lại như cũ, kẻ hành ác địa ngục, như cũ. Thuyết kinh xong Ngài đi về rừng Sa La, tất cả đại chúng đều hoan hỷ phụng hành.

Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối
Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật

Quyển Trung Hết
Khể thủ Nhất tâm kính lễ.
Nguyện Sư trưởng, phụ mẫu pháp giới chúng sinh diệt tội thành Phật.

 

Phật Nói Kinh Tượng Pháp Quyết Nghi

Việt dịch: Thích Chúc Hiền

 

Chính tôi nghe như vầy! Một hôm Đức Phật ở giữa hai cây Sa-la, bên bờ sông Bạt-đề. Ngài độ cho nguời đệ tử cuối cùng là Tu-bạt-đà-la xong. Khi đó,Các đại Bồ-tát, các đại đệ tử Thanh Văn, các đại Phạm Vương cùng trời, rồng, quỷ thần, các Quốc Vương.v.v…tất cả chúng sanh, ai nấy đều trang nghiêm, không tán loạn. Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo đại chúng: “ Đại-bát-niết-bàn đã nói xong,truớc đó, ta đã nói rõ muời phương các cõi nuớc Phật cho Bồ Tát Phổ Quảng. Giờ đây, trong chúng đây, các ngươi có điều gì còn nghi ngờ thì hãy mau hỏi. Pháp báu vô thuợng không bao lâu sẽ diệt.

Bấy giờ, nghe Đức Phật nói lời ấy, cả đại chúng không nén đuợc cơn xúc động, buồn tủi than khóc, chỉ có các bậc chứng đắc, giải thoát thì không còn vướng mắc đau buồn. Khi đó, trong chúng có một vị Bồ-tát tên là Thuờng Thí, nương vào oai thần của Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, cung kính chấp tay, huớng về Phật mà thưa rằng: “ Thưa Đức Thế Tôn!Có điều con muốn hỏi nhưng sợ làm phiền lòng Ngài, xin Đức Như Lai không cho đó là lỗi !” Phật bảo Thuờng Thí: “ Như Lai đã độ tám pháp ở thế gian, cần nghi ngờ gì?”. Bồ Tát Thuờng Thí cung kính thưa Phật rằng: “Thưa Đức Thế Tôn Như Lai! Vào đời sau, tất cả chúng sanh không còn nhìn thấy sắc thân của Đức Như Lai, không còn nghe giáo pháp chân thật. Vào đời vị lai, thời kỳ tuợng pháp, Pháp lành càng ngày càng suy yếu, Pháp ác càng ngày càng mạnh mẽ, lúc đó, nên dạy cho chúng sanh làm phuớc đức gì tốt nhứt?” Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Thuờng Thí rằng: “ lành thay! Lành thay! Thật rất đáng xót thương cho chúng sanh ở đời sau. Vì sao? Vì tất cả chúng sanh siêng năng khổ nhọc tu hành mà không gặp đuợc chánh lý, làm phước nhiều nhưng được phước báo rất ít.”

Này thiện nam tử! Trong đời vị lai, các tỳ kheo, tỳ kheo ni, Phật tử nam, Phật tử nữ, vua chúa, đại thần, trưởng giả, cư sĩ, Bà-la-môn.v.v… mà khinh rẻ giáo pháp ta, không có lòng chân thật kính tín Tam Bảo thì dù cho có làm phước thì cũng chỉ khéo cầu danh, cầu lợi, cầu hơn nguời khác mà thôi. Vì vậy, họ không có một tâm niệm xuất thế.

Này thiền nam tử! Vào đời vị lai,trong thời tượng pháp, xảy ra vô số các việc tai ương, xấu ác. Vì sao? Vì tất cả Tăng tục không biết luật lệ, phép tắc. Đàn việt thì mở hội thỉnh Tăng,nhưng lại sai nguời gìn giữ cửa nẻo, ngăn tỳ kheo không chấp nhận vào hội, hoặc giả có nguời nghèo cùng muốn vào xin ăn cũng không cho. Mở hội như thế chỉ là để ăn uống, chứ hoàn toàn không có phuớc lành gì. Lại có chúng sanh chỉ muốn riêng mình làm thiện mà không giáo hóa cho chúng sanh khác(tr5), thấy nguời khác làm thiện không chịu vui theo trợ giúp ít nhiều, bọn nguởi như thế phước đức kém cõi.

Lại có chúng sanh thấy chùa, tháp, hình tuợng cũ , cho đến kinh điển hư hoại cũng không chịu sửa sang, cho rằng đó chẳng phải do ta tôn tạo truớc kia nên đầu cần sửa chữa làm gì, thà rằng tự mình tạo dựng cái mới. Này thiện nam tử! Tạo dựng cái mới phước đức không bằng tu sửa cái cũ, tu sửa cái cũ phuớc đức rất nhiều.(tr-6)

Lại có chúng sanh thấy nguời khác gôm nhóm làm các việc phước lành, do vì muốn mình cũng được nỗi tiếng, nên đem gia sản ra để bố thí. Còn đến khi thấy nguời nghèo cùng, hay người già cô quạnh không nơi nương tựa đến xin thì lại mắn chửi, xua đuổi, không hề có một mảy may cứu giúp. Các chúng sanh như thế là do vì danh tiếng làm điên đảo mà làm thiện hay vì danh tiếng làm cho si cuồng mà tu phuớc, chứ không phải thực sự làm phuớc. Nguời như thế thật đáng thương xót! Sử dụng tài sản thật nhiều mà đuợc phuớc đức rất ít.

Này thiện nam tử! có lần ta bảo với đại chúng rằng: “Nếu có người ở trong A-tăng-kỳ, đem thân cúng duờng muời phương các Đức Phật, các vị Bồ-tát, và các vị Thanh Văn thì không bằng có người đem cho loài súc sanh một bữa ăn uống, phước của người này hơn nguời kia gấp vô luợng vô biên trăm ngàn vạn lần.

Này thiện nam tử! Trong các Kinh điển ta đã đề cập đến việc bố thí là muốn cho người xuất gia, tại gia tu tập tâm từ bi. Bố thí cho nguời nghèo cùng túng thiếu,nguời già cô quạnh không nơi nương tựa, hay kể cả bố thí cho loài chó đói. Các đệ tử của ta không hiểu ý ta nên chỉ chuyên bố thí kính điền mà không thí bi điền. Kính điền tức là Phật, Pháp, Tăng.(tr_8) Bi điền chính là những nguời nghèo, nguời già cô quạnh không nơi nương tựa, cho đến loài kiến. Hai loại ruộng phuớc này, thì Bi điền là hơn hết.

Này thiện nam tử! có nguời từ khi sanh ra cho đến lúc về già, suốt đời đem tài vật làm việc bố thí, lại có nhiều người không giống nhau, nghèo giàu sang hèn, hoặc tăng hoặc tục cùng tương trợ muốn giúp đỡ nguời khác nên thuờng xuất ra rất ít tiền của, gôm tập một nơi, tùy nghi bố thí cho nguời nghèo, nguời già cô quạnh không nơi nương tựa, hay nguời bị bệnh tật hiểm nghèo thì phuớc đức ấy rất lớn. Giả sử không có của bố thí nhưng trong từng tâm niệm muốn bố thí thì cũng được công đức không thể cùng tận (tr-9). Còn như chỉ riêng mình hành bố thí thì phuớc rất ít.

Này thiện nam tử! Trong đời vị lai, các đệ tử của ta thuờng ưa thích y phục đẹp, ăn những món ăn mùi vị ngon, ham cầu lợi duỡng, chất chứa tham lam, không tu tâm từ, chuyên làm việc sân giận, thấy nguời khác làm việc thiện ganh ghét cơ hiềm.

Tóm lại, những nguời ấy thuộc về tà mạng, dối gạt để mưu cầu danh lợi, nếu thấy có người bố thí cho nguời nghèo cùng xin ăn, thì sanh lòng sân giận, nghĩ như vầy. Nguời xuất gia đâu cần bố thí, chỉ tu thiền định, trí tuệ (tr-10), đâu cần làm những việc rối rắm vô ích. Nghĩ như vậy là quyến thuộc của ma. Nguời ấy mạng chung rơi vào địa ngục chịu khổ vô cùng, từ địa ngục ra lại rơi vào hàng ngạ quỷ thọ khổ không cùng. Từ ngạ quỷ ra, 500 đời sanh làm thân chó, thoát đuợc kiếp chó, 500 đời thuờng sanh vào chỗ nghèo hèn, luôn bị bệnh hoạn, đói khổ bức bách, không có lúc nào tâm được thong thả tự do. Vì sao? Do vì khi thấy nguời khác bố thí không sanh lòng tùy hỉ.(tr-11)

Này thiện nam tử! Ta nghĩ nay ta sỡ dĩ được thành Phật là do trải qua vô số kiếp làm việc bố thí, giúp đỡ các chúng sanh nghèo cùng khốn khổ. Muời phương chư Phật cũng từ bố thí mà đuợc thành Phật. Thế nên, trong hầu hết các kinh đều nói sáu Ba-la-mật thì bố thí là đứng đầu.

Này thiện nam tử! Ví như có người bị cụt hai chân, dẫu muốn đi xa cũng không thể đi đuợc. Tỳ kheo cũng như thế.(tr12) Dù trải qua hằng sa kiếp tu năm Ba-la-mật mà không tu bố thí thì cũng không đến được bờ bến bên kia Niết-bàn.

Này thiện nam tử! Không hành bố thí thì giới không thuần, giới không thuần thì không có tâm từ bi, không có tâm từ bi thì không thể nhẫn nhục, không nhẫn nhục thì không tinh tấn, không tinh tấn thì không thiền định, không thiền định thì không có trí tuệ, không có trí tuệ thì thuờng bị vô luợng khách trần làm cho phiền não. (tr13)

Này thiện nam tử! Pháp môn bố thí này ba đời chư Phật đều kính trọng. Thế nên, trong tứ nhiếp pháp(1) thì tài nhiếp (bố thí nhiếp) là hơn hết.

Này thiện nam tử! Ta có lúc khen ngợi trì giới, có lúc khen ngợi nhẫn nhục hoặc có lúc lại khen ngợi thiền định, hoặc có lúc lại khen ngợi trí tuệ, hoặc có khi khen ngợi hạnh đầu đà, hoặc có khi khen ngợi hạnh ít muốn biết đủ, hoặc có khi khen ngợi hàng Thanh Văn, hoặc có khi khen ngợi Bồ-tát. Đó là do tuỳ theo căn cơ của chúng sanh không đồng. (tr-14) Các ác tỳ kheo trong đời vị lai không hiểu ý của ta nên đều chấp ngã, từng thấy tuớng đó.Người như thế là phá hủy Pháp ta. Các ác tỳ kheo cũng ngồi diễn nói kinh pháp nhưng không thấu hiểu được thâm ý của ta, theo văn, chấp nghiã trái với chơn pháp thật tuớng vô thuợng, miệng thuờng tự khen nghiã lý mình nói điều hợp với ý Phật. Còn các Pháp sư khác thì dối làm mê hoặc Tăng tục. Nguời nói lời như thế mãi chìm trong biển khổ. Các ác tỳ kheo thấy các nguời khác tu thiền định thì lại nói rằng nguời này ngu si, giống như cây khô, không biết kinh luận nào để tu hành. Người nói lời ấy mắc phải tội báo trong nhiều kiếp. Các ác tỳ kheo vì danh lợi, cho nên luân phiên hủy nhục nhau, các ác tỳ kheo hoặc tu phước mà không nương vào kinh luận, tự theo tư kiến lấy trái làm phải, không phân biệt được tà chánh, huớng vào khắp Tăng tục mà nói lời rằng: “Thấy biết của ta là đúng”. Nên biết rằng người ấy chóng làm tiêu diệt giáo pháp ta. Các ác tỳ kheo cũng trì luật, nhưng, đối với tạng luật không thông hiểu nghiã lý sâu mầu, mà còn nói lời như vầy(tr-16): “Trong tạng luật, Đức Phật chấp nhận cho ăn thịt.”

Này thiện nam tử! Nếu ta giải nói nghiã ăn thịt là điều mà hàng Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ-tát điạ hạ còn mê mờ. Vì thế,Tỳ kheo phàm phu nghe vậy đem lòng chê bai. Tạng Luật chấp nhận việc ăn thịt là điều không thể nghĩ bàn. Này thiện nam tử! Ta từ khi mới thành đạo cho đến nay, có các đệ tử nơi nơi nhận ăn thịt. Người phàm phu thật sự thấy ăn thịt, lại có chúng sanh thấy các tỳ kheo thị hiện ăn thịt(tr-17). Lại có chúng sanh khi biết các tỳ kheo ăn thịt nhưng vào sâu vô luợng các các môn đối trị, vô luợng tỳ kheo đoạn thuợng phần phiền não(1), vô luợng tỳ kheo đoạn trung phần phiền não, vô luợng tỳ kheo đoạn hạ phần phiền não, độ thoát vô luợng chúng sanh, khiến vào Phật đạo. Việc giáo hóa của Như Lai không thể nghĩ bàn. Ta từ khi thành đạo cho đến nay, các đệ tử của ta chưa từng ăn thịt chúng sanh. Ta ở trong tạng luật chấp nhận ăn thịt(tr-18) là vì nhất định biết thịt ấy không từ bốn đại sanh, không từ thai sanh, không từ trứng sanh, không từ nơi ẩm thấp sanh, không do biến hóa sanh, cũng không hợp với thức, không hợp với mạng. Nên biết thế gian đều không có thịt này.

Này thiện nam tử! Các ác tỳ kheo trong đời vị lai ở các nơi giảng nói kinh luật, theo văn chấp nghiã, không biết những điều sâu kín ẩn tàng của Như Lai nói.

Này thiện nam tử! Đức Phật thị hiện ở đời mà khiến các đệ tử ăn thịt chúng sanh thì (tr-19) thật ra không có điều đó. Nếu ăn thịt thì sao gọi là bậc Đại Bi. Này thiện nam tử! Nay trong Pháp tịnh này có số chúng nhiều vô luợng nhưng mỗi nguời đều có cái nhìn khác nhau. Có nguời thấy Như Lai vào Niết-bàn, có nguời thấy Như Lai trụ một kiếp, có nguời thấy Như Lai trụ vô luợng kiếp, có nguời thấy Như Lai có thân cao sáu truợng, có nguời thấy thân nhỏ, có nguời thấy thân lớn, có nguời thấy báo thân ngồi trên biển Thế Giới Liên Hoa Tạng, hóa ra ngàn trăm ức Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp môn tâm địa. Có nguời thấy pháp thân đồng với hư không, không phân biệt, vô tuớng, không có ngăn ngại trùm khắp pháp giới.(tr-20) Có nguời thấy đất rừng Sa-la chỗ này đều là đất cát, cỏ cây, đá sỏi. Có nguời thấy chỗ này là vàng bạc bảy báu thanh tịnh trang nghiêm. Có nguời thấy chỗ này là chỗ tu hành của bà đời chư Phật. Có nguời thấy chỗ này là cảnh giới không thể nghĩ bàn của chư Phật.

Này thiện nam tử! Chư Phật ra đời, du hoá, dừng trụ mọi nơi thảy đều xa lìa tuớng thế gian, cũng không lìa thế gian mà hiển bày pháp thật tuớng. Giáo pháp của Đức Như Lai gồm thâu vạn Pháp (tr-21). Khi Đức Phật diễn thuyết một chữ, một câu, một tiếng có thể khiến cho tất cả chúng sanh tùy theo căn tánh chủng loại mà hiểu khác nhau. Pháp bất cộng của Như Lai chẳng phải là chỗ hiểu biết của các Thanh Văn, Duyên Giác. Như Lai dùng sức tự tại tùy theo căn cơ trình độ mà giáo hóa chúng sanh. Vào thời tuợng pháp, các ác tỳ kheo không hiểu ý ta, chấp vào sở kiến của mình mà diễn thuyết mười hai thể loại kinh (tr-22) Theo văn lấy nghiã tạo nên thuyết nhất định. Nên biết nguời này làm oan cho ba đời chư Phật, chóng làm tiêu diệt giáo pháp của ta. Này thiện nam tử! Các Đức Phật thuyết Pháp thường y vào hai Đế ( tục đế và chơn đế ), chỉ gần để nêu xa, mượn hình tuợng để hiển bày nghiã lý sâu mầu. Các ác tỳ kheo ở nơi nghiã này không thể hiểu rõ, bài xích không tin, theo tướng lấy nghiã nên phải chịu tai ương nhiều kiếp. (tr-23) Các tỳ kheo này cũng lại tự xưng là Pháp sư, ta là Luận sư, ta là Thiền sư, chính ba hạng học nhơn này làm tiêu diệt Pháp ta chứ không phải nguời nào khác. Ba hạng nguời này đua nhau nói lỗi, đua nhau bài xích. Ba hạng nguời này sa vào trong địa ngục giống như tên bắn.

Bấy giờ, Bồ Tát Thuờng thí cung kính thưa Phật rằng: “ Thưa Đức Thế Tôn! Các tỳ kheo đó khi nào mới thoát đuợc?”. Này thiện nam tử! Sau khi ta diệt độ khoảng ngàn năm Pháp ác dần dần dấy khởi.Sau một ngàn một trăm năm, các ác tỳ kheo, tỳ kheo ni đầy khắp Diêm phù đề, nơi nơi sung túc, nhưng, không tu đạo đức, đa số cầu tài vật, chuyên hành phi pháp, phần nhiều nuôi tám vật bất tịnh, chính họ không đủ mười đức mà nuôi hai hạng Sa-di ( Sadi và Sa-di ni), chính họ chưa đầy mười hạ lạp mà độ nguời làm Sa-di.Vì nhân duyên ấy, khiến cho mọi nguời thế tục coi rẻ Tam Bảo. Từ đó về sau, tất cả Tăng Tục đua nhau cất tháp xây chùa đầy khắp thế gian, chùa tháp, hình Tượng nơi nơi đều có, còn như ở núi sâu, đồng vắng hoặc ở ven đuờng, hoặc hang cùng ngỏ hẻm, những nơi xú uế, bị hư sụp đổ nát thì không người sửa chữa. Bấy giờ, Tăng Tục dù có xây chùa cất tháp cúng dường Tam Bảo, nhưng không sanh lòng cung kính, thỉnh Tăng đến ở Chùa nhưng lại không cúng dường cơm nuớc, y phục đồ nằm, thuốc thang, trái lại mượn cớ lấy xin đồ ăn của Tăng, không sợ một mai rớt vào ba đuờng khổ. (tr-26) Bấy giờ, hết thảy người tục, bất luận sang hèn chỉ muốn trong Tăng làm điều bất lợi, xâm tổn não loạn, không muốn ủng hộ. Bọn người như thế mãi đọa trong tam đồ.

Này thiện nam tử! Ở đời vị lai, hết thảy quan lại thế tục không tin tội phuớc, đánh thuế cuớp đoạt Tăng vật, hoặc thuế súc sanh, lúa gạo, kể cả vật nhỏ như tơ hào cũng đánh thuế nốt, hoặc sai sử những nguời phục vụ Tam Bảo, hoặc cởi trâu ngựa của Tam Bảo. Theo phép hết thảy quan lại thế tục không đuợc ức hiếp đánh đập súc sanh, cũng như những nguời phục vụ Tam Bảo, cho đến không được nhận sự lễ bái của nguời phục vụ Tam Bảo(tr-27)Nếu nhận sự lễ lạy đều bị tội họa, huống gì xua đuổi đánh đập. Báo cho các quan lại rằng nếu có thâu thuế thì hãy đề phòng lưới sắc, cẩn thận đừng thâu thuế tỳ kheo. Nếu ham thâu thuế nguời xuất gia thì chịu vô luợng tội lỗi. Này thiện nam tử! Đương thời, tất cả Tăng tục nếu gieo tạo phuớc lành thì nên bố thí cho những nguời già cô quạnh không nơi nương tựa, những nguời bần cùng đau ốm. Kế đến nên sửa chữa chùa tháp, hình tượng bị hư hoại, bất luận của mình hay của nguời (tr-28) tùy theo khả năng mà sửa chữa, thì công đức nguời đó không thể nghi bàn, chỉ nên sửa cái cũ, không cần tạo thêm cái mới. Này thiện nam tử! Vì cớ gì mà vào đời vị lai tất cả nguời tục coi rẻ Tam Bảo? Chính vì tỳ kheo, tỳ kheo ni không như Pháp, thân mặc pháp phục mà coi thuờng đạo lý, duyên vào trần tục, hoặc mua bán nơi chợ búa để làm kế sống, hoặc dong ruổi đó đây để buôn bán cầu lợi, hoặc làm nghề họa sư vẽ vời tinh xảo, hoặc coi tuớng nam nữ tốt xấu, ăn uống ca múa say sưa, bấn loạn, sáng tác âm nhạc, hoặc chơi vi kỳ(1), (2) lục bát.

 

Hoặc có tỳ kheo nói Pháp để mong cầu được ý người, hoặc tụng chú thuật để trị bệnh cho người khác, hoặc tu thiền nhưng không thể tự nhứt tâm đuợc, dùng pháp tà định xem coi tốt xấu, hoặc châm cứu, bốc thuốc để mong cầu áo mặc cơm ăn. Vì nhân duyên đó, khiến cho nguời đời đâm ra không kính trọng, chỉ trừ các vị Bồ Tát làm lợi ích cho chúng sanh.

Bấy giờ, Đức Thế Tôn lại bảo Bồ Tát Thuờng Thí rằng: “Này thiện nam tử!(tr-30) Vào đời vị lai, trong hàng tăng tục, có những người tạo lập hình tuợng ta và hình tuợng các vị Bồ Tát rồi đem bán mua đổi lấy tiền của để làm mưu kế sinh nhai, hết thảy Tăng tục không biết tội phuớc, bán mua hay nhận sự cúng dường cả hai đều mắc tội lỗi, trong năm trăm đời, thường bị nguời khác bán mua. Nầy thiện nam tử! Vào đời vị lai tất cả chúng sanh tạo lập hình tượng, đều không thành tựu đầy đủ các tướng tốt, hoặc tạc tượng bán thân, hoặc tạc tượng không đầy đủ tay chân, tai, mũi, mắt, miệng đều không giống, hoặc chỉ ảnh huởng sơ sài mà thôi, hoặc tạo chùa tháp mà không an trí hình tuợng. Nếu có chùa tháp, tượng Phật hư hoại thì không tu sửa. Bọn người như thế mắc vô lượng tội. Này thiện nam tử! Vào đời vị lai, các tỳ kheo.v.v… chỗ ở tự cùng nhau xuớng chế, ngăn cấm Tăng bốn phương, hợp làm hạn định bửa ăn, hoặc một ngày, mười ngày, hoặc năm, bốn, ba ngày, thậm chí một bửa. Các tỳ kheo ấy mạng chung đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh chịu khổ vô cùng.

Lại có tỳ kheo hoặc sa-di lấy đồ vật của chúng Tăng coi như mình có, tỳ tiện lấy dùng(tr-32),hoặc cùng bè bạn ăn uống phi thời.

Các tỳ kheo, sa-di ấy nhẫn đến một ngàn Đức Phật ra đời, họ mãi mãi không được nghe Pháp, thường qua lại trong Tam đồ, không thể sám hối.Nếu cùng với nguời ấy ở chung, làm các việc tác Pháp yết ma, Bồ Tát đều không thành tựu, đều phải mắc lấy tội báo.

Này thiện nam tử! Nếu có nguời phạm đủ bốn trọng, năm nghịch còn dễ cầu Sám hối, còn như xâm tổn một mảy tơ, một hạt gạo, ăn uống phi thời, tự do lấy dùng thì mãi chìm trong biển khỗ, không khi nào ra. Hoặc hiện đời chịu các suy não, nếu cùng nguời ấy ở chung, đem ngày mắc tội. Này thiện nam tử! Vào đời vị lai có những nguời đời không biết tội phuớc, vì cha ông hoặc bản thân mình mà tạo tượng Phật, kinh sách, tràng hoa đem bán cho nguời khác để nuôi vợ con thì không nên mua.(tr-34)

Khi ấy, quan lại nguời có thế lực bắt được người đó cần phải trừng phạt nặng nề, đuổi ra khỏi nước.

Này thiện nam tử! Vào đời vị lai, tỳ kheo, tỳ kheo ni, Phật tử nam, Phật tử nữ, vua chúa, đại thần hoàng hậu, hoàng phi trong cung, hủy phạm giới cấm, không biết hổ thẹn, không biết sám hối. Vì nhân duyên này, khiến cho giáo pháp ô nhiễm. Này thiện nam tử! Vào đời vị lai, các ác tỳ kheo, chấp chặc vào chỗ ở giống như người đời, giữ gìn phòng nhà của mình, không y theo thời hạn 3 tháng dời đổi một lần,(tr-35) thấy có tỳ kheo y bát tùy thân chỗ ở của họ đầy chín muời ngày thì lại dời đổi. Các ác tỳ kheo đều nói lời này: “Tâm tánh tỳ kheo ấy bất định, làm những việc rối rắm, cuồng loạn, mất trí, toan tính đổi dời.” Người nói lời ấy mắc phải tội báo vô cùng, vô tận. Này thiện nam tử! Vào đời vị lai, khi các pháp ác dấy khởi, hết thảy Tăng tục cần phải tu hạnh đại từ, đại bi, nhẫn chịu sự não hại của nguời khác, nên nghĩ như vầy: “Hết thảy chúng sanh từ vô thỉ cho đến ngày nay là cha, mẹ ta, hết thảy chúng sanh từ vô thỉ cho đến ngày nay đều là anh em, chị em, bà con, quyến thuộc của ta. Vì nghiã này, nên từ bi thương xót đối với tất cả chúng sanh, tùy tâm lực mà cứu giúp. Nếu thấy chúng sanh khốn khổ thì tạo các phương tiện chẳng tiết thân mạng. Khi ấy, nếu là bậc vua chúa, đại thần, hoặc là chủ thành ấp, xóm làng, hoặc trưởng giả có thế lực hoặc là Bà la môn.v.v… hoặc tỳ kheo có năng lực thì nên khuyên can khích lệ người ấy, đừng để họ lui sụt, (tr-37) trợ giúp thế lực cho họ đừng cho người ác làm cho họ phải khốn khó, đừng để cho người ác xâm đoạt tài vật của họ. Người trợ giúp như thế có công đức không thể nói hết. Khi ấy, có người nào khởi lòng thưong tuởng bố thí cho nguời nghèo cùng, trẻ mồ côi, nguời già cô quạnh không nơi nương nhờ, thậm chí bố thí cho cả loài kiến thì phước ấy rất mầu nhiệm. Này thiện nam tử! Nếu ta nói cặn kẽ về công đức của việc bố thí cho nguời nghèo cùng, trẻ mồ côi, hay nguời già bệnh tật không nơi nuong tựa thì cùng kiếp nói cũng không hết. Giờ Niết Bàn đã đến, nay ta chỉ nói sơ lược cho ông hiểu thôi.

Bấy giờ, tất cả đại chúng nghe Phật thuyết các loại tai biến vào cuối thời tuợng pháp trong đời vị lai(tr-38). Từng sợi lông trên người đều dựng đứng, không ngăn được dòng xúc động, ai nấy đều gào khóc thảm thiết!

Phật bảo đại chúng rằng: “Thôi đừng khóc nữa! các Pháp thế gian là như vậy. Có thiện ắt có ác. Có thạnh ắt có suy”. Phật bảo Bồ Tát Thuờng Thí rằng: “Hãy nên sắp xếp việc ấy, ông dùng tuớng gì Quán Như Lai, dùng tuớng gì Quán chúng sanh?” Bồ-tát Thường thí cung kính thưa Phật rằng: “Thưa Đức Thế Tôn! Con Quán Như Lai không từ mé trước, không đến bờ kia, không trụ khoảng giữa, chẳng có, chẳng không, chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng phải sắc, chẳng phải phi sắc (tr39), chẳng phải hữu vi, chẳng phải vô vi, chẳng thường chẳng đoạn, chẳng phải hữu lậu, chẳng phải vô lậu, giống như hư không, pháp tánh bình đẳng. Từ khi mới thành đạo cho đến Niết-bàn, trong khoảng thời gian ấy, không thấy Như Lai nói một câu Pháp, còn các chúng sanh thì thấy Như Lai có sanh có diệt, có nói Pháp, có độ người. Cảnh giới của Như Lai không thể nghĩ bàn, không thể dùng nhận thức mà biết đuợc, không thể dùng trí mà biết đuợc, vượt thoát ba đời mà chẳng lìa xa ba đời.(tr-40) Chỉ có Như Lai tự biết pháp này, con Quán như vậy, kính thưa Đức Thế Tôn! Con nay Quán tuớng tứ đại của chúng sanh như mây nỗi trên hư không, như khí nóng thì nóng, như thành Càn-thát-bà, như huyển như hóa, như thôn xóm ở trên không, như ảnh trong gương, như bóng trăng dưới nước, như tiếng vang trong hang trống, thọ tuởng hành thức đều như vậy. Kính thưa Đức Thế Tôn tướng tâm của chúng sanh không thể nghĩ bàn, chẳng phải chỗ hiểu biết của các Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ-tát địa hạ. Kính thưa Đức Thế Tôn! Tướng của chúng sanh chẳng đến, chẳng đi (tr41) chẳng có, chẳng không, chẳng phải trong, chẳng phải ngoài, đến thì không từ đâu đến, đi thì không đi về đâu, mà thường lưu chuyển, hư vọng thọ khổ, đều do vì chúng sanh từ vô thỉ cho đến ngày nay vướng mắc sâu vào ngã kiến, vì vướng mắc vào ngã cho nên làm tăng trưởng lòng khát ái, mười hai nhân duyên, chịu khổ đêm dài không có cùng tận. Tướng của chúng sanh xưa nay rỗng lặng. Do nhân duyên này, hàng Bồ-tát khởi lòng đại bi. Kính thưa Đức Thế Tôn! Tất cả nghiệp thiện, nghiệp ác của chúng sanh chỉ do tâm tạo, chứ không có pháp nào khác(tr-42). Con Quán tướng mạo của chúng sanh như thế.

Bấy giờ, Đức Phật bảo Bồ Tát Thuờng Thí rằng: “ tốt thay! Tốt thay! Ta rất vui khi nghe ông nói Pháp này. Những gì ông nói hôm nay, chư Phật cũng nói như vậy. Bồ-tát hành tứ nhiếp pháp, lục độ Ba la mật thì nên Quán tướng chúng sanh như thế.

Này thiện nam tử! Khi Bồ Tát bố thí không quán phước điền và phi phuớc điền. Nếu thấy chúng sanh nghèo khổ đều thí cho họ. Khi hành bố thí nên Quán như vầy: “Không thấy nguời nhận, không thấy người cho(tr-43), không thấy có vật để cho. Ba việc đều rổng không, bình đẳng, không hề có sự vướng mắc”. Vì sao? Vì tất cả các Pháp khi hành bố thí không có ta và cái của ta, không mong phưóc báo hiện đời, không mong hưỏng phước báo sung suớng trời nguời ở đời vị lai, chỉ vì chúng sanh cầu đại Bồ-đề, vì muốn cho vô luợng chúng sanh được an lạc cho nên hành bố thí. Vì muốn nhiếp phục các chúng sanh ác khiến cho họ trụ vào pháp lành mà hành bố thí. Lại Quán như vầy(tr-44). Tuớng cảnh giới Bồ-đề, tuớng cảnh giới chúng sanh cả hai đều rổng lặng, y vào văn tự cho nên thấy có độ chúng sanh đắc Bồ-đề. Còn trong pháp chân thật, không có đắc, không có chứng. Này thiện nam tử! Như nguời nằm mộng thấy đủ thứ chuyện, hoặc thấy mình bị quan lại trói giam vào ngục chịu các thứ khổ, sanh lòng lo buồn, sau được thoát khỏi, rồi lại mộng thấy làm vua có oai lực lớn, nghĩ như vầy.(tr-45) Ta đêm qua chịu khổ như thế, nay lại đuợc tự do huởng nhiều khoái lạc. Nghĩ như thế rồi, chợt tỉnh giấc, không còn biết việc khổ vui, nên việc nằm mộng chẳng phải có, chẳng phải không. Tất cả các pháp cũng lại như thế. Quán như thế gọi là chánh Quán. Khi nói pháp này, có vô số Bồ-tát đắc quả vị Phật. Vô luợng Bồtát được vào nhất sanh bổ xứ, vô luợng Bồ-tát, mỗi vị tùy theo sở tu của mình đều được sự thăng tiến. Vô lượng trời người đắc bốn đạo quả. Vô lượng Thanh Văn vào giai vị Bồ Tát, vô lượng tạp loại chúng sanh phát tâm Bồ-đề.

Này thiện nam tử! Vào đời vị lai. Nếu bốn chúng đệ tử được nghe kinh này, sanh lòng hoan hỉ thì sẽ đuợc vô luợng vô biên công đức. Phật bảo A-nan và đại chúng, các ông nên khéo thọ trì, cẩn thận đừng quên! Kinh này tên là Kinh Tượng Pháp Quyết Nghi, cũng gọi là Kinh Cứu Giúp Nguời Cô Độc, cứ như vậy mà thọ trì. Bấy giờ, đại chúng nghe những gì Phật thuyết, một lòng cung kính vâng lời đảnh lễ Phật rồi đi, ai nấy cũng đếu nhận chân được lẽ thật, lo chu toàn lễ trà tỳ, đất trời cảm động tiếc thương!

 

1)Vi kỳ: Là một loại cờ mà vào thời Xuân Thu Chiến Quốc,có Quan ghi chép về Vi Kỳ. Vào thời nhà Hán trong các vật chôn cất ở mộ phát hiện có bàn đá chế làm bàn cờ, đến đời Tuỳ thì truyền sang Nhật Bản, gần đây lại tryền đến các nuớc ở Âu Mỹ. Xưa kia trên bàn cờ có ngang dọc mỗi bên 11 đuờng. 15, 17 đuờng. Từ thời nhà Đương trở về sau ngang dọc mỗi bên 19 đuờng, giao nhau thành 361 điểm theo cách dùng thông thuờng thì con cờ màu trắng và con cờ màu đen đối nhau ( Hán Ngữ Đại Từ Điển, Quyển.3 thuợng, trang 651)

2) Lục bát.

 

Kinh Tuợng Pháp Quyết Nghi (hết)

Ventura, California,ngày 5 tháng 11 năm 2009 Thích Chúc Hiền (cẩn dịch)

 

PHẬT NÓI KINH THIÊN ĐỊA BÁT DƯƠNG

Hán dịch: Đời Đường, Pháp sư Nghĩa Tịnh
Việt dịch: Thanh Tâm

 

PHẦN THỨ NHỨT

TRONG PHÁP HỘI THÀNH TỰU

Tôi nghe như vầy: Thuở nọ, Phật ở trong một ngôi nhà rộng lớn tại ngoài thành Tỳ Gia Ly Đạt Ma, khai hội thuyết pháp. Có mười phương đàn việt đều theo tới nghe pháp và cả hàng Bồ tát cùng bốn chúng vây quanh đông đủ.

 

PHẦN THỨ HAI

MỞ BÀY CÁC VIỆC CHÁNH KIẾN

Khi ấy Bồ tát Vô Ngại cũng ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy đi tới trước Phật quì gối chấp tay mà bạch rằng: Ngưỡng bạch Đức Thế Tôn, chúng sanh ở trong cõi Nam Diêm Phù Đề này từ đời vô thủy tới nay cùng nhau sanh đổi qua lại nối tiếp hoài chẳng dứt, nhưng xét thấy trong nhân loại hạng người học thức thì ít, kẻ dốt nát thì nhiều; người tu hành niệm Phật thì ít, hạng mê tín chuyên cầu tà thần thì nhiều; người trì trai giữ giới thì ít, chúng lợi dưỡng phá giới thì nhiều; bực tinh tấn tu hành thì ít, hạng biếng nhác dải đải thì nhiều; người thông minh trí huệ thì ít, kẻ ngu si đần độn thì nhiều; người sống lâu thì ít, kẻ chết yểu thì nhiều; người tịnh tâm thiền định thì ít, kẻ vọng động tán loạn thì nhiều; người giàu sang thì ít, kẻ nghèo hèn thì nhiều; người nho nhã dịu dàng thì ít, kẻ cang cường hung dữ thì nhiều; người chân chánh ngay thẳng thì ít, bọn a dua nịnh bợ thì nhiều; người trong sạch thì ít, kẻ tham lam thì nhiều; người có tâm rộng rải bố thí thì ít, kẻ gian giảo bỏn xẻn thì nhiều; người tín cẩn thành thật thì ít, kẻ giả dối quỉ quyệt thì nhiều. Bởi vậy khiến nên tình đời thấp hèn bạc bẽo, luật pháp khắc nghiệt, sưu cao thuế nặng, trăm họ nghèo khổ, thời kỳ khuẩn bách, làm chẳng đủ sống. Nguyên do chỉ vì mê tín trái ngược, nên mới phải chịu những cảnh khổ dường ấy.

Cúi xin đức Thế Tôn mở lòng từ bi thương xót những kẻ tà kiến, diễn giải các pháp chánh kiến cho chúng nghe, khiến được tỏ ngộ, bỏ tà theo chánh, hầu thoát khỏi các nạn khổ kia. Phật khen: Ông luận như vậy hay lắm!

Này Bồ tát Vô Ngại, ông có tâm đại từ bi nên mới vì các người tà kiến kia mà cầu thỉnh Như Lai nói pháp chánh kiến, thật phước đức ấy không thể kể xiết. Ông nên chú ý nghe cho rõ và ghi nhớ lấy. Tôi nay vì ông mà phân rõ Kinh Thiên Địa Bát Dương này.

Kinh này không phải chỉ riêng tôi nói đâu, mà các đức Phật đời quá khứ đã nói; đời vị lai, chư Phật cũng sẽ nói và đời hiện tại, chư Phật đương nói.

Như trong khoảng trời đất, duy chỉ có con người là cao quí và khôn ngoan hơn muon vật. Luận về chữ Nhân  ấy là chân, vì tâm con người không hề tưởng quấy và tự mình chỉ làm những việc chân chánh. Bởi thế nên mới chiết tự chữ Nhân là người như sau: Nét phẩy bên trái là chân, còn nét mác bên phải là chánh, thường làm những việc chân chánh nên mới được gọi là người. Nên biết người hay mở rộng mối Đạo, còn Đạo khá làm cho con người thuần nhã. Phải giữ đúng theo qui tắc của người và Đạo thìsẽ làm nên đạo Thánh.

Phật lại kêu Vô Ngại Bồ tát mà nói: Thân người khó được mà nay tất cả chúng sanh đã được thân người rồi, sao không chịu tu nhân tích đức mà lại bỏ việc chân chánh, làm điều giả dối, gây biết bao nhiêu nghiệp ác để đến khi thân mạng chết rồi thần hồn phải sa đọa trong biển khổ, đau đớn trăm bề. Bằng hết thảy người đời nghe Kinh này, sanh lòng tin kính làm theo, không hề trái nghịch thì sẽ thoát khỏi hết tai nạn và được ra khỏi biển khổ, vì có các vị thiện thần gia hộ, không có việc chi ngăn trở, mà lại được sống lâu, không bao giờ chết yểu.

Nguyên do nơi tấm lòng tin chân chánh, nên mới được phước như vậy. Còn nếu ai biên chép Kinh này thọ trì đọc tụng, y theo chánh pháp mà tu hành thì công đức của người ấy vô lượng vô biên, không biết đâu mà tính kể cho xiết, đến ngày lâm chung người ấy sẽ chứng được quả Phật.

Phật lại bảo: Này Bồ tát Vô Ngại, như có người nào kiến thức sai lầm thường hay tin bậy, tất nhiên phải bị nạn tà ma ngoại đạo, các loài quỉ ly mị vọng lượng cũng như các loài chim cú chim ụt kêu lên những tiếng quái ác, lại thêm ác quỉ ác thần cùng tranh nhau đến làm náo loạn cả trong nhà, khiến cho xào xáo bệnh hoạn, sưng phù nhức nhối, chịu đủ chứng bệnh đau đớn khổ sở, không ngày giờ nào được yên ổn.

Bằng muốn hết tai nạn kia, cần phải thỉnh vị chân tu đạo đức giúp tụng Kinh này ba biến thì những hung thần ác quỉ ấy thảy đều tiêu diệt mà bệnh cũng khỏi ngay, thân thể lành mạnh, bình phục như xưa. Ấy là nhờ công đức tụng Kinh Bát Dương này mà được chuyển họa thành phước vậy.

Bằng có người nào quá nhiều dâm dục, sân độc, ngu si, tham lam, ganh ghét, nhưng khi nghe thấy Kinh này liền phát tâm chánh tín cúng dường, nguyện tụng ba biến thì các tật xấu kể trên thảy đều biến mất, rồi nhân đó phát tâm từ bi hỷ xả, sau sẽ chứng được quả Phật.

Lại nữa, Bồ tát Vô Ngại, bằng có thiện nam tín nữ nào muốn làm bất cứ công việc chi, trước cần tụng Kinh này ba biến, rồi sau mới làm, như: đắp nền xây tường, dựng nên nhà cửa, hoặc làm nhà phía nam, nhà phía bắc, xưởng bên đông, xưởng bên tây, nhà bếp, nhà khách, cửa ngõ, đào giếng, đóng cối xay, cối giã, làm kho tàng, chuồng trại nuôi các loài súc vật, v.v… Hoặc cất nhằm các phương hướng xung phạm tới Nhựt Du, Nguyệt Sát, Tướng Quân cùng Thái Tuế, Huỳnh Phan, Báo Vĩ, Ngũ Thổ (1), Địa Kỳ, Thanh Long, Bạch Hổ, Châu Tước, Huyền Vũ, hoặc phạm ngày giờ xung khắc như sáu ngày giáp (2), mười hai giờ địa chi (3) cùng là Thổ Úy, Phục Long. Tất cả hung thần ác quỉ cảm thấy oai lực của Kinh nên thảy đều ẩn trốn, lánh xa đi bốn phương, tiêu tan hình bóng, chẳng dám nhiễu hại nữa. Công việc làm được tốt lành, hưởng phước vô lượng.

Nếu có thiện nam tín nữ nào y theo lời Phật dạy mà thi hành thì sau khi xây cất nhà cửa xong rồi, tất nhiên gia đạo được bình an lâu dài, lại thêm giàu sang vinh hiển, chẳng cần nhọc sức mưu cầu mà tự nhiên cũng có của cải đem tới.

Như có người nào đi buôn bán phương xa, hoặc làm quan phó nhậm, cùng tùng quân nhập ngũ mà tụng Kinh Bát Dương này ba biến thì đều được an lành, nhà cửa hưng thạnh, bực người cao sang, con cháu vinh hiển, cha hiền con thảo, trai trung gái trinh, anh nhường em kính, vợ chồng hòa thuận, hết lòng hiếu kính phụng dưỡng song thân, các điều ước nguyện đều được thỏa mãn.

Bằng có người nào bị quan quyền giam giữ, hoặc bị giặc cướp bắt đi, nên để hết tâm thành tụng Kinh này ba biến thì tức khắc tai qua nạn khỏi.

Còn như có người thiện nam tín nữ nào thường thọ trì đọc tụng cùng giúp người biên chép Kinh Bát Dương này thì người ấy dầu rủi sa trong nước lửa cũng khỏi bị chìm đắm thiêu đốt, hoặc ở trong núi rừng có nhiều hùm sói thú dữ, chúng nó thấy bóng người tụng Kinh Bát Dương thì đều lánh xa không bao giờ dám hại đến tánh mạng, vì người ấy có các vị thiện thần theo hộ vệ, chẳng những thế mà sau còn chứng được quả Phật nữa.

Hoặc có người nào miệng lưỡi xảo quyệt hay nói gian dối, thêu dệt, đâm thọc, thô tục, mà người ấy tự biết lỗi chừa bỏ, chuyên đọc tụng Kinh này thì tiêu hết bốn lỗi trước, lại được tài biện thuyết không hề ngăn ngại, rồi sau cũng chứng được quả Phật.

Này các thiện nam tín nữ, phàm cha mẹ có tội, đến ngày lâm chung, chắc phải đọa vào địa ngục chịu trăm phần khổ não, nếu được con cháu thành tâm tụng Kinh này bảy biến thì cha mẹ thoát khỏi khổ ở địa ngục, thần hồn được sanh lên thiên đường, gặp phật nghe pháp, chứng được pháp nhẫn vô sanh trọn nên Phật đạo.

Phật lại kêu Bồ tát Vô Ngại mà nói: Kiếp quá khứ, dưới thời đức Phật Tỳ Bà Thi giáo hóa, có hàng nam nữ cư sĩ không hề tin bọn tà sư ngoại đạo mà chỉ tin theo Phật pháp, ra công biên chép Kinh Bát Dương và thường thọ trì đọc tụng Kinh này, muốn làm việc chi thì cứ làm, không cần bói toán, coi ngày lựa giờ chi cả, cứ giữ một lòng tin chân chánh, lại thường làm việc bố thí, cúng dường bình đẳng, nên mới được thân vô lậu, làm nên đạo Bồ tát, rồi sau chứng được quả Phật, hiệu là Phổ Quang Như Lai, thành bực Chánh Giác, kiếp tên Đại Mãn, nước gọi Vô Biên. Nhân dân trong nước ấy đều có tâm chánh tín, tu hành theo hạnh Bồ tát nên mới được hưởng phước báo tốt đẹp như vậy. Ấy cũng do oai lực trì tụng Kinh Bát Dương này.

Lại nữa Bồ tát Vô Ngại, trong cõi Diêm Phù Đề, chỗ nào có để Kinh Bát Dương này thì đều có tám vị Bồ tát, các vị phạm thiên vương cùng hết thảy thần linh đồng vây xung quanh ủng hộ Kinh ấy. Cho nên người trì tụng Kinh này cần phải sắm sửa hương hoa cúng dường như cúng Phật vậy.

Phật lại kêu Bồ tát Vô Ngại mà nói: Bằng có thiện nam tín nữ nào giúp các người đời, diễn nói Kinh này, giải rõ cho họ hiểu thấu được thực tướng, thông suốt lý cao sâu huyền diệu, thì liền biết được chân lý của tâm mình, tâm Phật và tâm Pháp. Hiểu biết được lý ấy rồi, tức nhiên trí huệ đầy đủ, sáu căn thanh tịnh.

Mắt thường thấy biết bao nhiêu là than sắc, song nhờ trí huệ liền nhận biết các than sắc ấy đều thuộc về lý không thật (giả tạm), mà cái không thật kia tạo nên thân sắc này, cho đến thọ tưởng hành thức cũng đều thuộc về lý không thật. Đó tức là Diệu Sắc Thân Như Lai.

Tai thường nghe biết bao nhiêu là thứ tiếng, song nhờ trí huệ liền nhận biết các thứ tiếng ấy đều thuộc về lý không thật, mà cái không thật kia tạo nên tiếng nói này. Đó tức là Diệu Âm Thinh Như Lai.

Mũi thường ngửi biết bao nhiêu là mùi hương, song nhờ trí huệ liền nhận biết các mùi hương ấy đều thuộc về lý không thật, mà cái không thật kia tạo nên mùi hương này. Đó tức là Hương Tích Như Lai.

Lưỡi thường nếm biết bao nhiêu là mùi vị, song nhờ trí huệ liền nhận biết các mùi vị ấy đều thuộc về lý không thật, mà cái không thật kia tạo nên mùi vị này. Đó tức là Pháp Hỷ Như Lai.

Thân thường cảm thấy biết bao nhiêu là sự đụng chạm êm dịu, song nhờ trí huệ liền nhận biết các sự đụng chạm êm dịu đó đều thuộc về lý không thật, mà cái không thật kia tạo nên sự đụng chạm này. Đó tức là Trí Thắng Như Lai.

Ý con người thường suy nghĩ phân biệt biết bao nhiêu là việc, song nhờ trí huệ liền nhận biết các việc ấy đều thuộc về lý không thật, mà cái không thật kia tạo nên các việc này. Đó tức là Pháp Minh Như Lai.

Bằng có thiện nam tín nữ nào thấy sáu căn đều hiển hiện trong nhân gian. Nếu miệng mình nói những điều lành thì nghiệp lành càng thêm nhiều, rồi sẽ làm nên Phật đạo. Còn miệng nói những điều độc ác thì nghiệp ác càng thêm nhiều, ắt phải đọa vào địa ngục.

Phật bảo Bồ tát Vô Ngại: Về chân lý của việc lành việc ác rất rõ ràng, chẳng nên không tin. Ông nên hiểu thân tâm con người, thật là pháp khí của Phật.

Cũng như 12 bộ Đại Tạng Kinh đã có từ đời vô thủy đến nay mà tụng hoài vẫn không hết và không hề hao tổn chút nào. Kinh tạng của Như Lai duy có những bực thức tâm kiến tánh mới tỏ biết mà thôi, còn các bực thinh văn, phàm phu làm sao hiểu thấu được.

Phật lại bảo Bồ tát Vô Ngại nữa rằng:

Bằng có người nào đọc tụng kinh này mà tỏ ngộ được thực tướng, tức biết thân tâm này chính thật là pháp khí của phật. Còn như người nào say mê đàng dục lạc, không tỉnh giấc mộng hồn, chẳng biết thân tâm mình là căn bổn của Phật pháp, chắc người đó phải trôi nổi trong sáu nẻo luân hồi, đọa đày trong ba đường dữ, đắm chìm liên mien trong biển khổ, không được nghe đến danh từ Phật pháp.

Lúc đó, có năm trăm vị thiên tử ở trong đại chúng nghe Phật thuyết pháp rồi đều chứng được pháp Nhãn Tịnh, rất đổi vui mừng, liền phát nguyện sẽ tu tới quả vị Phật.

 

PHẦN THỨ BA

GIẢI RÕ CHÁNH ĐẠO VỀ VIỆC SANH TỬ TẨN TÁNG

Bồ tát Vô Ngại lại bạch Phật rằng:

Ngưỡng bạch đức Thế Tôn, tất cả người đời đều lấy việc sanh tử là quan trọng, nhưng khi sanh chẳng lựa ngày, hễ tới giờ thì sanh; còn khi chết cũng không lựa ngày, hễ tới giờ thì chết, cớ sao việc tẩn liệm an táng lại phải chọn ngày lành giờ tốt rồi mới tẩn liệm an táng? Nhưng sau khi tẩn liệm an táng rồi thì chỉ thấy tai họa đem tới, phần nhiều con cháu thường nghèo hèn khốn khổ, chứ ít thấy giàu sang vinh hiển. Thỉnh cầu đức Thế Tôn mở lượng từ bi thương xót các người mê tối kia, giảng rõ chánh pháp nhân duyên sanh tử do đâu mà có, khiến cho họ được tỉnh ngộ trở về với chánh đạo, không còn làm những việc sai lầm như trước nữa.

Phật nói: Lành thay, tốt thay! Ông thật có lòng thương những người mê tối ấy mà cầu hỏi Như Lai về việc sanh tử cùng phép tẩn táng. Vậy ông hãy chú ý mà nghe, tôi nay vì ông mà nói rõ về chân lý của trí huệ và chánh pháp của đại đạo.

Luận về cái thể trời đất rộng lớn, còn mặt trời mặt trăng vẫn luôn tỏ sáng thì năm tháng ngày giờ đều tốt, không có chi là khác lạ cả.

Này Bồ tát Vô Ngại, xưa kia ông Nhân Vương Bồ tát có tấm lòng từ bi rộng lớn, thương xót người đời không khác nào cha mẹ thương con, nên mới giáng sanh xuống cõi trần làm vị nhân chủ, cũng như cha mẹ nhân dân.

Đó rồi mới thuận theo người đời mà dạy bày ra phong tục, làm lịch để biết tính năm tháng ngày giờ, ban truyền trong thiên hạ, cho biết mỗi năm có bốn mùa tám tiết, rồi còn phân ra những ngày trực bình, trực mãn, trực thành, trực thâu, trực khai, trực trừ, trực chấp, trực nguy, trực phá, trực định, trực bế, trực kiên. Những người ngu tối không biết xét theo chân lý mà dùng, lại nhè tin theo văn tự, nên không tránh được tai họa. Chẳng những thế, lại còn rước bọn tà sư về nhà vẽ bùa yểm trấn, nói năng hoang đàng, bày đặt cúng cầu tà thần, lễ tế ngạ quỉ. Làm như thế chỉ gây thêm tội lỗi, rồi tự mình phải chịu lo phiền khổ não.

Mấy người như vậy chẳng những gây tai họa cho mình mà còn mắc tội trái nghịch chánh lý của trời đất, thành thử không khác nào bỏ ánh sáng của mặt trời mặt trăng mà chui vào chỗ tối, trái hẳn với chánh đạo rộng lớn. Không những thế, lại còn thường kiếm coi kinh sách của tà sư ngoại đạo, đó mới thật là trái ngược vậy.

Phật lại kêu Bồ tát Vô Ngại mà nói: Ông nên khuyên những thiện nam tín nữ là lúc gần sanh, nên tụng Kinh Bát Dương này ba biến thì sẽ sanh được dễ dàng và rất tốt lành, đứa con ấy sẽ được thông minh trí huệ, đầy đủ phước đức, không sợ chết yểu. Còn trong lúc gần chết, cũng nên tụng Kinh Bát Dương này ba biến thì sẽ được tốt lành không có việc chi làm cho tổn hại cả.

Này Bồ tát Vô Ngại, ngày nào cũng tốt, tháng nào cũng tốt, cho đến năm nào cũng đều tốt cả. Chẳng có năm tháng ngày giờ nào mà không tốt. Bởi vậy, hễ lo việc tẩn liệm an táng rồi, nên tức thời tụng Kinh Bát Dương này bảy biến rất là tốt lành, không những vong nhân được hưởng phước rất nhiều mà con cháu cũng được giàu sang sống lâu, đến khi lâm chung đều nên Phật đạo.

Lại nữa Bồ tát Vô Ngại, như chỗ đất mai táng đó, chẳng cần phân Đông Tây Nam Bắc làm gì, thấy cuộc đất ấy được yên ổn, người đời bằng lòng vui thích thì quỉ thần cũng ưng thuận vui thích, nhưng cốt yếu phải tụng Kinh Bát Dương này ba biến rồi sẽ mai táng, xây cất phần mộ, tuyệt nhiên không có tai họa gì cả mà gia đình thân quyến lại giàu sang, thật rất tốt lành.

Khi đó, đức Thế Tôn muốn nhắc lại nghĩa trên, nên mới nói kệ rằng:

Ngày nào tính việc cũng đều tốt,
Giờ nào tẩn táng cũng đều hay,
Sanh tử cần phải tụng kinh này,
Thật rất tốt lành nhiều lợi ích.
Tháng nào cũng là tháng lành hết,
Năm nào cũng là năm tốt cả,
Tụng kinh rồi mới lo tẩn táng,
Muôn đời sung sướng hưởng vinh hoa.

Lúc ấy trong đại chúng có bảy ngàn muon người nghe Phật thuyết pháp xong, thì long dạ mở mang sáng suốt, bỏ tà theo chánh, vì nhờ nghe pháp của Phật dạy mà dứt hẳn lòng nghi hoặc, cùng đều phát tâm rộng lớn, nguyện sẽ tu đến bực Phật.

PHẦN THỨ TƯ

LUẬN VỀ VIỆC CƯỚI GẢ Ở ĐỜI

Lúc bấy giờ, Bồ tát Vô Ngại lại bạch Phật rằng: Ngưỡng bạch đức Thế Tôn, tất cả người đời đều lấy sự cưới gả làm nghĩa than tình, nhưng trước đó, họ còn so đôi tuổi coi có hợp, rồi mới chọn ngày giờ tốt, làm lễ cưới hỏi, nhưng sau ngày thành hôn, thường nhận thấy vợ chồng ăn ở hòa thuận, giàu sang, sống lâu thì ít; còn gặp cảnh nghèo khổ, sanh ly tử biệt thì nhiều.

Tất cả sự mê tín lựa chọn đó, tại sao kết cuộc lại sai khác như vậy? Ngưỡng cầu đức Thế Tôn dạy rõ về vấn đề đó để chúng tôi được hết sự nghi ngờ.

Phật nói: Các ông hãy chú ý nghe cho rõ lời ta giải đây. Luận trong trời đất về âm dương cần phải tương đối. Như mặt trời hợp khí âm, mặt trăng hợp khí dương, nước hợp âm, lửa hợp dương, trai hợp âm, gái hợp dương (4). Ấy là khí trời đất hòa hợp, nên hết thảy cỏ cây đều nương theo khí âm dương mà sanh sôi nẩy nở. Mặt trời mặt trăng xây vần thuận theo bốn mùa tám tiết, mưa nắng điều hòa, tất cả muôn loài mới tồn tại. Trai gái hòa hợp mới sanh sản ra con cháu. Đó là lẽ thường của trời đất, cũng là lý tự nhiên và cũng là vấn đề cần thiết ở đời vậy.

Này Bồ tát Vô Ngại, những hạng người thiếu học mê tối chẳng biết phân biệt tà chánh, nên tin theo thầy tà bày đặt bói toán để cầu sự tốt lành mà họ lại không chịu làm những việc lành, chỉ cứ gây ra toàn nghiệp ác! Chẳng những khi sanh tiền bị tai họa liên miên mà tới khi mạng chung, họ ít tránh khỏi sa đọa vào ba đường dữ là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Trong bọn họ, nếu ai được trở lại làm người thì rất ít, ít như chút đất dính nơi đầu móng tay; còn những người bị sa đọa vào ba đường dữ thì rất nhiều, nhiều như đất nơi đại địa vậy.

Lại nữa, Bồ tát Vô Ngại, những người được trở lại làm người tin theo chánh pháp tu hành chỉ có một số ít, ít như chút đất dính nơi đầu móng tay; còn hạng người mê tín, chuyên gây nghiệp ác thì lại rất nhiều, nhiều như đất nơi đại địa vậy.

Này Bồ tát Vô Ngại, nếu người đời muốn kết hôn nhơn, chẳng cần phải coi mạng thủy mạng hỏa khắc nhau hay bào thai niên mạng chẳng hợp làm chi, duy chỉ cần coi trong bộ sách Lộc Mạng (5) để biết rõ phước đức của đôi bên nhiều ít, rồi nương theo đó mà kết làm quyến thuộc, song đến ngày cưới, phải tụng kinh này ba biến rồi mới thành thân thì mọi việc đều tốt lành cả, nào cửa cao nhà rộng, hưởng cảnh giàu sang.

Còn con cháu đều làm nên danh phận, thông minh sang suốt lại thêm tài năng tột chúng, biết ăn ở hiếu thuận kính nhường, thật rất tốt đẹp, không hề có nạn thương vong yểu tử, phước đức đầy đủ. Tất cả về sau đều thành Phật đạo.

Khi ấy có tám vị Bồ tát nương nhờ oai thần của Phật mà chứng được phép Đại Tổng Trì (6) đều phát nguyện thường ở trong thế gian đồng sanh chung lộn với người đời, đem hết tài năng phá bọn tà giáo để lập lại nền chánh đạo, hầu cứu độ tất cả bốn loài (7) tu tới bực giải thoát.

Danh hiệu tám vị Bồ tát kể ra như sau:

1) Bạt Đà Bà La Bồ tát lậu tận hòa. (8)
2) La Lân Na Kiệt Bồ tát lậu tận hòa.
3) Kiều Việt Đẩu Bồ tát lậu tận hòa.
4) Na La Diên Bồ tát lậu tận hòa.
5) Tu Di Thâm Bồ tát lậu tận hòa.
6) Nhâm Kỳ Đạt Bồ tát lậu tận hòa.
7) Hòa Luân Điều Bồ tát lậu tận hòa.
8) Vô Duyên Quan Bồ tát lậu tận hòa.

Lúc đó, tám vị Bồ tát đều bạch Phật rằng: Ngưỡng bạch đức Thế Tôn, chúng tôi nhân trước kia nhờ được chư Phật truyền dạy cho phép thần chú đà la ni, nay chúng tôi định đọc thần chú ấy để ủng hộ những người thọ trì đọc tụng Kinh Bát Dương, tuyệt nhiên không có chi lo sợ. Vì thần lực của chú ấy khiến cho hết thảy những loài hung dữ không dám thương tổn đến những vị nào tụng kinh này.

Ngay lúc ấy, tám vị Bồ tát đồng ra đứng trước Phật mà tụng chú rằng:

A dà ni, a dà ni, a tỳ la, mạn lệ, mạn đa lệ, xà lê.

Ngưỡng bạch đức Thế Tôn, bằng có kẻ hung dữ nào muốn đến làm phiền vị đang tụng Kinh Bát Dương, hễ nghe chúng tôi đọc thần chú này, tức thì đầu kẻ ấy sẽ bể ra làm bảy mảnh như nhánh cây A lê vậy.

PHẦN THỨ NĂM

CHỈ RÕ VỀ TÊN KINH

Lúc bấy giờ, Bồ tát Vô Biên Thân liền từ chỗ ngồi đứng dậy đi tới trước Phật, quỳ gối chấp tay mà bạch rằng: Ngưỡng bạch đức Thế Tôn, duyên cớ nào tên Kinh lại kêu là Bát Dương? Thỉnh cầu đức Thế Tôn giải rõ cho chúng tôi được hiểu nghĩa lý, khiến cho tất cả được tỏ ngộ bổn tâm, thấu rõ tri kiến của Phật, hầu đoạn trừ hết lòng nghi hoặc.

Phật bảo Bồ tát Vô Biên Thân rằng: Lành thay lời ông vừa hỏi! Các ông hãy lóng nghe cho rõ, nay tôi sẽ vì đại chúng mà giải rõ nghĩa lý Kinh Bát Dương này.

Chữ BÁT có nghĩa là phân chia rành rẽ. Còn chữ DƯƠNG thì có nghĩa là giải rõ cái lý đại thừa thành phật. Hiểu thấu được lý ấy thì mới hay phân rành được nhân duyên của tám thức, không có chỗ nào là không thấu hiểu.

Phật lại nói: Dùng tám thức ấy làm bề ngang, còn chữ Dương Minh làm bề dọc. Ngang dọc phù hợp với nhau tức thành bộ kinh giáo, cho nên mới kêu là Kinh Bát Dương.

Tám thức ấy là:

1) Con mắt thấy liền nhận biết sắc tốt hay xấu.
2) Lỗ tai nghe liền nhận biết tiếng lành hay dữ.
3) Lỗ mũi ngửi liền nhận biết mùi thơm hay hôi.
4) Cuống lưỡi nếm liền nhận biết vị mặn hay lạt.
5) Cái thân đụng tới vật gì liền nhận biếtvật ấy mềm hay cứng.
6) Cái ý biết phân biệt tất cả mọi thứ.
7) Cái thức Hàm tàng chứa đầy đủ các thứ hột giống.
8) Còn thức A lại da thì bao trùm hết thảy.

Như vậy là phân chia rành rẽ cội gốc của tám thức, có chi đâu mà không thấu hiểu. Phải biết hai con mắt thật là Quang Minh Thiên, mà trong Quang Minh Thiên đó, liền hiện ra đức Nhựt Nguyệt Quang Minh Thế Tôn. Hai lỗ tai thật là Thinh Văn Thiên, mà trong Thinh Văn Thiên đó, liền hiện ra đức Vô Lượng Thinh Như Lai.

Hai lỗ mũi thật là Phật Hương Thiên, mà trong Phật Hương Thiên đó, liền hiện ra đức Hương Tích Như Lai. Cái cuống lưỡi thật là Pháp Vị Thiên, mà trong Pháp Vị Thiên đó, liền hiện ra đức Pháp Hỷ Như Lai.

Cái thân thật là Tỳ Lư Giá Na Thiên, mà trong Tỳ Lư Giá Na Thiên đó, liền hiện ra đức Thành Tựu Tỳ Lư Giá Na Phật. Người nào tự thấy trong tâm mình có Cảnh Tượng Phật thì liền hiện ra đức Phật Tỳ Lư Giá Na Quang Minh.

Cái ý thật là Vô Phân Biệt Thiên, mà trong Vô Phân Biệt Thiên đó, liền hiện ra đức Bất Động Như Lai. Cái tâm thật là Pháp Giới Thiên, mà trong Pháp Giới Thiên đó, liền hiện ra đức Không Vương Như Lai.

Cái thức Hàm tàng thật là Thức Thiên nên mới diễn nói ra Kinh A Hàm và bộ Kinh Đại Bát Nhã Niết Bàn. Còn cái thức A lại da thật là rộng lớn nên mới diễn nói ra bộ Kinh Đại Trí Độ luận và bộ Kinh Lăng Già luận.

Này Bồ tát Vô Biên Thân, ông nên hiểu: Phật tức là Pháp, mà Pháp cũng tức là Phật, hiệp lại làm một thể tướng liền hiện ra đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai.

Trong khi Phật nói Kinh Bát Dương này thì hết thảy núi sông đất bằng cùng sáu phương đều chuyển động và lại có ánh sang rực rỡ chiếu khắp trời đất lồng lộng mênh mông không thể kể xiết, tất cả những chỗ tối tăm đều đồng loạt tỏ sáng, cho đến tất cả địa ngục cũng đều tiêu mất, tất cả tội nhân đều được thoát khổ.

Khi ấy trong đại chúng, có tám muôn tám ngàn vị bồ tát đồng thời chứng quả Phật và cùng chung một hiệu là Không Vương Như Lai, kiếp kêu Ly Cấu.

Còn một vị Phật xuất thế độ đời bấy giờ tên hiệu là Vô Biên. Hết thảy nhân dân trong kiếp đó đều được quả vị Bồ tát. Vì những người ấy đồng cương quyết tu theo sáu pháp ba la mật, không có lòng phân chia ghen ghét, nên chứng được bực Vô Tranh Tam Muội (chánh định).

Có sáu muôn sáu ngàn vị tỳ khưu, tỳ khưu ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ đều chứng được pháp Đại tổng trì, nên hiểu thấu được lý nhứt thừa của Phật.

Cũng trong hội đó, có vô số hàng trời, rồng, quỉ dạ xoa, thần càn thát bà, thần a tu la, thần ca hầu la, thần khẩn na la, thần ma hầu la dà cùng hàng người và hạng không phải người đều chứng được pháp Nhãn Tịnh, dốc lòng tu hạnh Bồ tát.

PHẦN THỨ SÁU

LỜI PHÚ CHÚC

Phật kêu Bồ tát Vô Biên Thân mà nói: Bằng có người nào được làm quan thăng chức, cùng ngày dọn về ở nhà mới, phải trai giới thiết lễ tụng kinh này ba biến thì được lợi lộc rất lớn vì có các vị thiện thần theo ủng hộ, nên nội gia quyến đều được khương ninh trường thọ, phước đức đầy đủ.

Này Bồ tát Vô Biên Thân! Bằng có thiện nam tín nữ nào phát tâm tụng kinh này một biến thì cũng được phước như tụng hết thảy các bộ kinh một biến. Còn như biên chép kinh này một quyển thì công đức cũng bằng biên chép hết thảy các bộ kinh khác. Kể về công đức thì rất rộng lớn như cõi hư không, chẳng biết đâu là bờ bến mà đo lường được, rồi sau đó, các người ấy cũng đều được thành quả Phật.

Phật lại bảo Bồ tát Vô Biên Thân: Bằng trong chúng sanh, có người nào không tin chánh pháp của Phật, chấp tâm tà kiến, vừa nghe Kinh Bát Dương này đã buông lời phỉ báng, bảo kinh ấy không phải Phật nói.

Người ấy trong lúc sanh tiền phải mang bệnh cùi, lở lói đầy người, máu mủ cùng khắp, dơ bẩn tanh hôi, ai trông thấy cũng nhờm gớm.

Chẳng những thế mà bệnh còn hành cho tới ngày chết, rồi thần hồn phải đọa ngay vào Vô gián địa ngục. Cái ngục này quanh năm suốt tháng bốn bề đều có lửa cháy đỏ rực, trên táp xuống, dưới bốc lên, nóng như thiêu đốt. Lại còn bị quỉ sứ hành hình, lấy giáo nhọn đinh ba đâm nát thân thể, còn cho uống nước đồng sôi làm cho gân xương đều tan nát rã rời. Vì nghiệp báo chưa hết, nên lại được hoàn hình để chịu hành tội, một ngày một đêm chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần. Cứ đành phải chịu cực hình đau khổ như thế, không có giây phút nào ngừng.

Vì bọn đó không tin chánh pháp, phỉ báng chân kinh, nên mới bị quả báo như vậy!

Phật vì những người mắc tội đó, nên mới nói bài kệ này:

Thân này vốn tự nhiên mà có,
Năm vóc cũng tự nhiên đầy đủ,
Thân lớn cứ tự nhiên lớn lên,
Còn già vẫn tự nhiên già lần.
Sanh ắt tự nhiên phải sanh ra,
Chết hẳn tự nhiên phải chết mà,
Muốn cầu sống lâu cũng không được,
Mà mong chết sớm cũng không xong.
Sự khổ sự vui do mình tạo,
Điều tà điều chánh tự mình theo,
Định muốn khởi làm công việc chi,
Chí thành tụng kinh chẳng coi bói.
Ngàn đời muôn kiếp gieo giống lành,
Chứng đạo bồ đề chuyển pháp luân.

PHẦN THỨ BẢY

CHỨNG NGỘ LÝ NHIỆM MẦU

Khi Phật nói kinh này rồi, tất cả đại chúng đều khen xưa nay chưa từng được nghe pháp này. Nay Phật nói cho nghe pháp huyền diệu, nên tâm trí được mở mang trong sáng, vui mừng hớn hở đều hiện bày ra sắc tướng Phật mà chẳng phải tướng Phật vì là không chấp tướng. Thấu được chỗ tri kiến của Phật và tỏ ngộ chỗ tri kiến của Phật mà không chấp sự thấu hiểu và tỏ ngộ đó, và cũng không chấp một pháp nào cả. Như thế mới hiểu được cái vui của cõi niết bàn.

Khi ấy đức Thế Tôn muốn nhắc lại những lời mầu nhiệm trên, nên nói bài kệ này:

Thân tướng tốt, sáu căn trọn đủ,
Muôn ức người lành đã được sanh,
Hăng hái chuyên làm hạnh bố thí,
Làm người chẳng xẻn cũng không tham.
Phụ nữ được nghe pháp này rồi,
Phát tâm hớn hở rất vui mừng,
Ngày sau thoát khỏi thân phụ nữ,
Tái sanh ắt được làm nam tử.
Các thứ đao binh chẳng hại đặng,
Độc trùng thú dữ cũng lánh xa,
Quan quyền cho chí phường giặc cướp,
Muốn hại người đó cũng không xong.
Người đời trông thấy đều kính mến,
Trăm ngàn tai nạn đều tiêu hết,
Trước sau rốt ráo chẳng bị hại,
Trai gái ai ai tụng Kinh này,
Thì được phước đức như trên nói.

PHẦN THỨ TÁM

PHỤNG HÀNH THỦ HỘ

Khi bấy giờ, các vị Bồ tát cùng Bồ tát Di Lặc và bốn vị Đại thiên vương đồng bạch Phật rằng: Ngưỡng bạch đức Thế Tôn, chúng tôi cùng nhau phát nguyện ủng hộ Kinh Bát Dương thần chú và xin gắng sức cứu giúp bảo hộ những người nào chí thành tụng kinh này, dầu có mắc bệnh tật chi đi nữa, cũng khiến cho được lành mạnh hết. Rồi đó, các vị Bồ tát cùng ông Xá Lợi Phất và các vị tỳ khưu, tỳ khưu ni, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, hiệp với hàng trời, rồng, quỉ, thần, a tu la, và chuyển luân thánh vương đồng vui mừng đứng lên đảnh lễ Phật và nguyện để hết lòng tin làm theo chánh pháp của Phật đã dạy.

NGỢI KHEN KINH BÁT DƯƠNG

Kinh Bát Dương thật đạo chân chánh,
Ba đời chư phật nói rõ ràng,
Tám vị Bồ tát đồng tâm giúp,
Chư vị thần linh cũng vây quanh.
Đời trước tu, phát huệ thành Phật,
Đời này ai nghe đều tỏ ngộ,
Muốn làm việc chi tụng kinh này,
Đã là người lành không chết yểu.
Tôi nay nguyện độ khắp các loài,
Cầu nguyện điều chi đều thỏa mãn.
Từ trước tới nay bị võng thức,
Nên có thân rồi chịu gian nan,
Bốn đại, tham sân si thiêu đốt,
Sáu căn, mười triền sử buộc ràng.
Ầm ầm gió nghiệp thổi ép tới,
Núi vô minh chận trước lờ mờ,
Đắm mê dục lạc hồn chơi vơi,
Lửa tham sân đột nhiên lừng cháy,
Nghĩ nhớ ân ái biển sanh tử,
Lai láng đắm chìm dưới sóng tình,
Như rùa mù kiếm bọng cây trôi,
Như hột cải gieo khó trúng kim,
Phật ở trong thân đâu Phật khác,
Thánh hiền lập giáo sửa tâm người.

 

Nam mô A Di Đà Phật

v/v Lời Kêu Gọi Ủng Hộ, Trợ Duyên Ấn Tống Máy Nghe Pháp Âm Tịnh Độ

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

- Kính thưa quý Phật tử, thiện hữu tri thức!

"Pháp môn Tịnh Độ chính là pháp môn đặc biệt trong giáo pháp của cả một đời đức Như Lai, thích hợp khắp ba căn, thâu nhiếp trọn vẹn lợi căn lẫn độn căn. Bậc Đẳng Giác Bồ Tát chẳng thể vượt ra ngoài; tội nhân Ngũ Nghịch Thập Ác cũng có thể dự vào trong số ấy. Chẳng đoạn Hoặc nghiệp mà được thoát khỏi luân hồi; ngay trong một đời này chắc chắn lên cõi Phật. Chúng sanh đời Mạt căn cơ kém hèn, bỏ pháp môn này làm sao yên được?"

Lời dạy trên của tổ Ấn Quang quả thật là kim chỉ nam là chỗ nương tựa cho hàng hậu học chúng ta. Ở thời buổi mạt pháp nếu không nương vào Pháp môn Niệm Phật Đới Nghiệp Vãng Sanh thì lấy gì để ra ngoài sanh tử? Trong Đại Tạng Kinh có rất nhiều Kinh Tạng và Luận Tạng đã nói về sự lợi ích của Pháp niệm Phật, là phương tiện thuyền từ qua sông sanh tử. Tuy nhiên, không phải ai ai cũng thích hợp, bởi vì sao? Vì chưa gieo trồng được thiện căn nên không những không phát lòng Tin tuyệt đối vào Pháp môn phương tiện này của Chư Phật. Nghiệp thì dầy phước mỏng hầu hết ưa chuộng theo những thứ tà thuyết sai trái, không hiểu và nhận được rõ ràng đối với Pháp môn Tịnh Độ. Dù có thực hành nhưng không hiểu cốt lỗi, tôn chỉ của pháp môn nên thực hành không đúng như lời Phật, Tổ dạy. Còn hơn thế, vì không hiểu rõ ràng để có đủ lòng tin nơi pháp môn của mình đang tu học, sanh tâm thối lui đối với phát tâm ban đầu, trước những lời bày xích ở một nhóm người.

Một pháp môn mà ngay cả từ miệng vàng của Đức Thế Tôn còn phải bảo rằng: "Ta có thể ở trong đời đủ năm món trược thực hành tu tập để thành Bậc Vô Thượng Chánh Giác còn dễ hơn là nói ra pháp môn khó tin này (nan tín chi pháp)" (trích lược ý Kinh A Di Đà).

Chúng tôi với tâm nguyện hoằng truyền những lời dạy của Phật, Tổ để lợi ích cho mọi người nên tuyển tập hết tất cả những lời dạy, khai thị, thiển giải vô vàng quý giá, thành một tập để Ấn tống trong chương trình Ấn Tống Pháp Âm Tịnh Độ trước là để gieo duyên đến với những ai chưa có đủ duyên lành biết đến pháp môn này, và khai sáng trên bước đường tu học theo tông chỉ của bổn môn qua những Kinh Tạng nói về Pháp môn Tịnh độ, đặc biệt là chúng tôi trích tất cả những lá thư gởi, trả lời của tổ Ấn Quang dạy, khai thị cho người hậu học đang trên đường tu học.

Nhận thấy những nơi vùng sâu vùng xa không hội đủ phương tiện, truyền thông, internet để có thể nghe được lời vàng của bậc tổ sư trong bổn môn, được quý thầy ở những nơi vùng sâu vùng xa khuyến tấn và số đông Phật tử ngỏ ý là nên làm gì đó tạo duyên lớn cho hàng Phật tử ở nơi đây được nghe đến những lời quý báu của bậc chân tu thạc đức, hầu vững bước trên đường tu học, nương vào đại nguyện, đủ ba thứ tư lương, Tín-Hạnh-Nguyện mà thoát vòng sanh tử triền miên. Nên chúng tôi xin tha thiết kêu gọi chư thiện hữu, Phật tử đạo hữu gần xa, những ai có tâm hoan hỷ cùng chung chí hướng lợi mình hữu ích cho người cùng chung tay trợ duyên cho việc ấn tống máy nghe Pháp Âm Tịnh Độ.

Pháp Âm Tịnh Độ gồm có những Kinh và sách về pháp môn này, và những bộ luận nói về Nhân Quả, mà nổi bật nhất là quyển Pháp Uyển Châu Lâm của pháp sư Đạo Thế, sách này được tổ Ấn Quang nhiều lần khuyên nên đọc*. Chúng tôi cũng trích ghi âm hết tất cả các Thư Gởi và Thư Đáp ** của tổ Ấn Quang để làm kim chỉ nam trong đường tu qua lời khai thị, dạy của tổ trong tông môn.

Mong quý đạo hữu hoan hỷ giúp chúng tôi tạo duyên lành, gieo trồng thiện căn với Pháp môn mà chư Phật trong ba đời khắp mười Phương đều hộ niệm, hầu lợi ích cho mỗi chúng sanh, bằng cách khuyên tấn, giải thích cho con, cháu, cha, mẹ, ông, bà, bạn bè v.v.... hoan hỷ cùng chung đóng góp vào việc làm đầy ý nghĩa này, Bằng cách đóng góp đôi chút tịnh tài, 5 hoặc 10 ngàn cũng là trân quý vô cùng. Nếu bản thân của mỗi người có thể hiểu ý nghĩa qua việc làm này phát tâm hoan hỷ, cùng chung tay lăn chuyển bánh xe Pháp với tâm không nhiễm trước, trên tinh thần lợi mình lợi người tam luân thể không (tam luân không tịch ***) thì phước báu của việc làm này không thể so sánh được.

Nguyện do công đức này, tiêu trừ túc hiện nghiệp, tăng trưởng các phước huệ, viên thành thắng thiện căn, tất cả kiếp đao binh, các nạn như đói kém, thảy đều tiêu trừ sạch, ai nấy tập lễ, nhượng. Hết thảy người nghe kẻ thấy đồng sanh tâm hoan hỷ cùng người trợ duyên mỗi người đều gieo trồng dầy thiện căn trong pháp môn Tịnh Độ, thấm nhuần chánh pháp đồng trang nghiêm cõi Phật, đồng vãng sanh Cực Lạc.

Nam mô A Di Đà Phật!

Trân trọng,

Ban biên tập Tạng Thư Phật Học
https://tangthuphathoc.net

Ngày 14 tháng 09 năm Mậu Tuất, Phật lịch 2562 (nhằm ngày 22 tháng 10 năm 2018)

https://tangthuphathoc.net/thu-van-dong-tro-duyen-an-tong-may-nghe-phap-am-tinh-do/

Thanks for signing up. You must confirm your email address before we can send you. Please check your email and follow the instructions.
Chúng tôi tôn trọng sự riêng tư của bạn. Thông tin của bạn được an toàn và sẽ không bao giờ được chia sẻ.
Nam mô A Di Đà Phật!
×
×